Tháng Năm 10, 2021, 04:33:20 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4] 5 6 ... 11   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: THẦN THÁNH TRUNG HOA-- 華 夏 諸 神  (Đọc 86756 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
giacatcan
...
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 244

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 193


Lãng Tử


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2008, 03:44:36 PM »

Đưa đĩa đây  cool

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen
Logged

Tôi đi tìm cái gì ???
 
 
 
huyencam
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 394

Cảm Ơn
-Gửi: 611
-Nhận: 972



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2008, 03:56:31 PM »

Sự zô ziên xộc thẳng lên não bộ anh ...đồ ăn cơm hớt  angry angry angry angry

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, dailuc
Logged

thích xì trum..ghét lão gà mên..yêu anh nào tên William..hí hí
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 07:00:45 AM »

(tiếp theo)
ĐỊNH  PHƯỚC  TÁO  QUÂN


東廚司命九靈元王定福神君

  灶神全銜是「東廚司命九靈元王定福神君」,俗稱「灶君」,或稱「灶君公」、「司命真君」、「九天東廚煙主」、「護宅天尊」或「灶王」,北方稱他為「灶王爺」,鸞門尊奉為三恩主之一,也就是廚房之神。玉帝敕號:「玉清輔相九天東廚司命灶王真君」。又號「東廚司命定福真君」或「九天司命護宅天尊」。東廚者:庖廚之稱也。
  灶神屬我國古老的神明,灶神之起源甚早,商朝已開始在民間供奉,及周禮以籲瑣之子黎為灶神等。秦漢以前更被列為主要的五祀之一,和門神、井神、廁神和中霤神五位神靈共同負責一家人的平安和幸福,是屬於家宅的神靈,故灶神在大小寺廟都沒有供奉,更沒有單獨建殿供灶神的。
  東漢孔安國《孔子十三世孫》中說:「灶神以平時錄人功過、上表於天、當祀之以祈降福祥。」於是灶神職責加重,除掌理東廚之外,負責稽察一家大小善惡。一般只是在灶上貼上一張灶君畫像,或在一塊木牌上,寫著「東廚司命定福灶君之神位」或「定福灶君」,兩旁貼上「上天言好事」、「下界保平安」。而灶神的畫像也型式各異,有的只是把灶君夫婦都畫在紙上,稱他倆為「灶王爺」及「灶王奶奶」;也有的只畫灶君一人,俗稱為「獨坐灶王」。
  在我國古代農村中,幾乎家家戶戶的灶上皆供有灶神的牌位,「民以食為天」,在農業社會裏,一個家庭往往三代同堂,甚至四代、五代同堂,一家大小每日三餐都要與灶打交道,焉可等閒視之?故連玉皇大帝都要派灶神下凡任「家事灶務管理」之職。治道教興起之後,道家仍沿其說,因灶神主掌九天生籍,故尊為「九天司命真君」也。
  每年農曆的八月初三是司命灶君的生辰,民間習俗賀灶君誕以素麵清茶,燒金點燭焚香祭拜即可。
  灶神是何許人?灶神的身世一直撲朔迷離,根據古代的椑官野史,至少有六、七種不同的說法:
  有說他的名字叫蘇吉利。
  有說他姓張名單字子郭,《酉陽雜俎》謂灶君:「名隗,如美女;又姓張,名單,字子郭;夫人名卿忌;一日,灶神名壤子也。」有民謠說:「灶神王爺本姓張,一碗清水三灶香。」
  有說灶君是三皇五帝中的炎帝神農氏,死後被玉帝封為灶神,《淮南子》上記載:「炎帝作火官,死為灶。」
  有說灶君是燧人氏,燧人氏發明鑽木取火。
  有說灶君是三皇五帝中的顓頊的兒子,《周記》上記載:「顓頊氏有子曰犁,為祝融,祀以為灶神。」
  也有說灶君本是天神之一,因疏於職守而被貶落凡間,在每個家庭的廚房司職,如偷懶就不可以返回天庭。
  灶神亦是中國民間人死後,轉變為神一個最明顯的例子。
  有傳說灶神的生前,非常的貧窮,甚至最後不得不把妻子賣掉,淪落成為乞丐,不過又得妻子濟助三餐,後來他覺得非常的羞愧,投入灶中燒死。其妻為紀念前夫,乃在灶頭立神位,朝夕祭祀,謊稱祭「灶君」。別人不察而仿傚之,漸漸成為習俗。


  也有傳說從前有對張姓夫妻,家貧又遇荒年,妻子不得己改嫁富人為妾。富人於饑荒年賑災濟貧,交予其妾料理,開賑當天,前夫亦有來領飯食,還沒輪到他,飯已派完。第二天,其女人命從後面起先派發食物,一樣也是沒輪到他,飯亦已派完。第三天,女人決定從中間派發食物,結果仍未見到前夫,原來他餓了幾天,已餓死了。女人悲傷之際竟尋短見,自縊殉情。玉帝聞知,深憐這對夫婦,於是對張氏為「灶神」,夫妻同管人間煙火事。
  又有傳說,灶神的脾氣不太好,因此民間恐懼灶神生氣,就採取收買政策,極盡奉承,據俞正變的《癸已尖稿》中,說灶神就是火神,而且是一位貴族小姐,有三十六個侍女護著她,這位小姐平時愛穿淡黃色的衣服,發起脾氣來就穿大紅衣服了,她曾做過玉皇大帝的廚娘,奉令回來人間服務,所以她有一肚子的委屈,稍有不愉快就要發脾氣,因此民間怕她,便盡量奉承。
  亦有傳說,灶君姓張名隗字子郭,人頗英俊,貌若美女,但其性情怠惰,好逸惡勞,嗜食美味,又十分好色。原在天庭當司廚,因偷窺王母娘娘待婢之美色,以致煮焦佳餚,乃被乏下凡在人間當灶君。人間下廚者皆女人,可儘讓他看個夠也。
  而灶君塑像大多形貌端正忠厚,臉容較肥胖,臉色很紅。這是有許多好東西吃,及掌管「火」的緣故。
  藉由死亡的轉化,灶神得以從死前的窮人,死後變成為送財招福的財神。「灶」在中國的古代社會中,除了代表原始民族對於火的崇拜之外,其也象徵了一家的興衰及財富的多寡,故就順理成章成為民間祈求財富的一種神祇象徵。
  灶神之所以受人敬重,除了因掌管人們飲食,賜於生活上的便利外,灶神的職責,是玉皇上帝派遣到人間考察一家善惡之職的官。灶神左右隨侍兩神,一捧「善罐」、一捧「惡罐」,隨時將一家人的行為記錄保存於罐中,年終時總計之後再向玉皇上帝報告。十二月廿四日就是灶神離開人間,上天向玉皇上帝稟報一家人這一年來所做所為的日子,所以家家戶戶都要「送灶神」。


  《敬灶全書》說,灶神「受一家香火,保一家康泰。察一家善惡,奏一家功過」,據說被灶神舉告者,大過則減壽三百天,小過也要折壽一百日。
  謝灶之期也分階層,關於何時謝灶,民間有所謂「官三」、「民四」、「鄧家五」,「官」指官紳權貴,習慣於年廿三謝灶。「民」指一般平民百姓,會在年廿四謝灶,「鄧家」即指水上人,會在年廿五舉行。但是民間百姓大部分會選擇年廿三謝灶,希望有貴氣,取其意頭。
  送灶神的供品一般都用一些又甜又黏的東西如糖瓜、湯圓、麥芽糖、豬血糕等,總之,用這些又黏又甜的東西,目的是要塞灶神的嘴巴,讓他回上天時多說些好話,所謂「吃甜甜,說好話」,「好話傳上天,壞話丟一邊」。另外,黏住灶神的嘴巴,讓他難開口說壞話。也有人用酒糟去塗灶君稱之為「醉司命」,意思是要把灶神弄醉,讓他醉眼昏花,頭腦不清,以使少打幾個小報告。因此,祭灶神象徵著祈求降福免災的意思。
  在祭灶君之時,擺齊供品,焚香祭拜,接著第一次進酒,此時要向灶君誠心禱告,完畢後再進行第二次進酒,進第三次酒之後,將舊有的灶君像撕下,連同甲馬及財帛一起焚燒,代表送灶君上天,儀式便順利完成。而焚燒一個用篾紮紙糊的馬,是作為灶神上天的坐騎,還要準備一點黃豆和乾草,作為灶神和馬長途跋涉所需的乾糧、草料。此外還要焚香、叩首,並在灶坑裡抓幾把稻草灰,平撒在灶前地面上,並喃喃叮嚀:「上天言好事,回宮降平安」之類的話,目的是祈禱灶王向玉皇上帝奏報這家一年來的種種善事,不要講壞話。
  送走神明後,可別忘了正月初四(一說除夕夜)把眾神接回來,此之謂「接灶」或「接神」。接灶神的儀式很簡單,只要在灶台上重新貼一張新的神禡,象徵灶神在天上作過客,又重新回來鎮守家中,監視善惡了。
  
  謝灶之日,按例不能早於十二月十四日。送行擇吉,大有學問。《易》曰,吉凶悔咎生乎動。在通勝宜忌欄看見「祭祀祈福」等日者,即可行之。又或日值天德、月德、三合、天喜等星,亦可。
謝灶祭品:
  琥珀財神香或檀香三枝(琥珀在燃燒時會發出極為香濃的松香味,供奉神靈最佳,據說香薰可傳至天庭)、燒酒三杯、紅燭二枝、紅茶三杯、筷子三對、碗三個、齋菜一碟、糖果八粒或一瓶麥芽糖、生果八個、片糖、燒肉(修佛者可免去此項,以戒殺生)、湯丸八粒(相傳灶君食湯丸後,會變得口齒不清,因此不可能在玉帝前作報告)、拜灶君金銀衣紙一份。
謝灶儀式:
  擺放祭品於灶君前,擺好供品及金銀衣紙(置於灶君前方);
  燃點紅燭拜三拜再插於燭台上;
  燃點琥珀財神香,檀香或長壽香,拜三拜插於香爐上;
  喃喃說些吉利話,合掌冥想謝「灶君」,誠心向其祈求所需的事情,
  如求健康長壽、生意興隆、財運亨通等吉利事情。
  在爐灶上洒少許糖,亦有擺顆湯丸代替;
  焚化金銀衣紙。
  平常可早晚上香,有些人夜晚才上香亦可。而灶君公最好供奉在廚房的南面,亦有既謂「東廚」即應坐東面。灶君是道家之神祇。供奉灶君,不能為了方便把灶君的神牌隨意擺放,應高過你才對,可得到保佑家宅飲食平安,身體健康。



  
Đông Trù Tư  Mệnh Cửu Linh Nguyên Vương
Định Phước Thần Quân

  
Táo Thần nếu gọi đầy đủ là :-「Đông Trù Tư  Mệnh Cửu Linh Nguyên Vương Định Phước  Thần Quân 」, tục xưng 「Táo Quân 」, hoặc xưng 「Táo Quân Công 」、「Tư  Mệnh Chân Quân 」、「Cửu Thiên Đông Trù Yên Chủ 」、「Hộ Trạch Thiên Tôn 」hoặc 「Táo Vương 」, miền BẮC  gọi Ngài là 「Táo Vương Gia 」.Người ở Đài Loan tôn Ngài là một trong ba “Ân chủ”,  là vị thần của nhà bếp. Ngọc Đế sắc phong cho Ngài là  :「Ngọc Thanh Phụ Tướng Cửu Thiên Đông Trù Tư  Mệnh Táo Vương Chân Quân 」. Lại có hiệu 「Đông Trù Tư  Mệnh Định Phước  Chân Quân 」hoặc 「Cửu Thiên Tư  Mệnh Hộ Trạch Thiên Tôn 」. Đông trù là chỉ chung cho tất cả các nhà bếp.

*Thờ Táo Thần là một tập quán có từ xa xưa của nước ta (TQ). Nó có nguồn gốc rất sớm, từ đời nhà Thương trong dân gian đã thờ phượng rộng khắp. Trong sách Chu Lễ đã ghi tên Ngài Tử Lê ở Dụ Tỏa là Táo Thần rồi. Đến đời Tần, Hán thì được đưa vào làm một trong đối tượng thờ phụng. Gồm:- Môn Thần(thần giữ cửa nhà), Tỉnh Thần (thần giếng), Xí Thần (thần nhà cầu), Thần Trung Lựu (giữ nhà) và Táo Thần. Năm vị thần linh nầy phụ trách việc gìn giữ sự bình an hạnh phúc cho một gia đình, thuộc về “thần gia đình”. Cho nên, tại các đình miếu không thờ Táo Thần, nên không thấy  miếu đình nào có chỗ thờ Táo Thần cả.

*Đời Đông Hán, ông Khổng An Quốc trong quyển “Cháu mười ba đời Khổng Tử” có viết :- “Táo Thần có chức trách ghi chép công và tội của người trong nhà để tâu lên thiên đình, thờ phụng Ngài để có phước lành”. Như vậy, nhiệm vụ của Táo Thần rất quan trọng, ngoài việc quản lý về bếp núc tức sự ăn uống để sống của con người , còn có thêm nhiệm vụ theo dõi việc thiện ác của con người nữa !
Đa số gia đình thường treo một tấm hình Ông Táo ngay trên vách bếp, hoặc  một bài vị bằng gổ viết “Đông Trù Tư  Mệnh Định Phước  Táo Quân Chi Thần Vị” hay “Định Phước táo Quân”. Hai bên có hai câu liễn:- Thượng thiên ngôn hảo sự--Hạ giới bảo bình an” (Lên trời tâu việc tốt—Xuống phàm hộ bình an). Hình ảnh Táo Thần tùy nơi mà vẽ khác nhau. Thường thì vẽ hình hai vợ chồng gọi là “Táo Vương Gia” (ông vua  táo) và “Táo Vương Nãi Nãi” (mẹ táo). Lại có những nơi chỉ họa một vị thôi, gọi là “Độc Tọa táo Vương” (một vua Táo ngồi).

*Ở nông thôn thưở xưa, nhà nào cũng có thờ Ông Táo, bởi vì “Dân lấy ăn làm trời” mà . Trong xã hội nông nghiệp, có những  nhà ba đời , bốn đời thậm chí năm đời cùng sống chung (ngũ đại đồng đường). Mỗi ngày có đến ba bửa cơm đều từ nhà bếp cung ứng, làm sao không giữ địa vị quan trọng cho được ?
Vì thế, NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ phải cho Táo Thần hạ phàm nhận nhiệm vụ “Quản lý việc bếp núc trong nhà” là đúng rồi !
Từ lúc Đạo giáo hưng thịnh, thì họ cho rằng Táo Thần ở trên Cửu Thiên  giữ sổ sách xuất sanh của con người , nên tôn là “Cửu Thiên Tư Mệnh Chân Quân”.
*Sinh nhật hàng năm của Tư Mệnh Táo Quân là ngày mùng ba tháng tám, dân gian có tục cúng Ngài bằng “mì chay và trà”, đốt giấy tiền vàng bạc.
Táo Thần là vị nào ? Thân thế của Ngài có nhiều truyền thuyết rất mê li hấp dẫn. Khảo cứu trong các sách từ xưa đến nay, có ít nhất là bảy truyền thuyết về “Vua bếp” . Có thuyết thì nói Táo Thần có tên là TÔ CÁT LỢI, thuyết nói là TRƯƠNG THIỆN tự TỬ QUÁCH . Còn trong sách “Dậu Dương Tạp Trở” thì nói :-“…ông tên là NGỖI, đẹp như con gái. Hoặc là ông họ Trương tên Thiện, tự Tử  Quách, vợ tên là KHANH KỴ, có khi gọi Ngài là NHƯỠNG TỬ. Trong ca dao dân gian có câu:-
“Táo Thần vương gia bổn tính Trương—Nhất uyển thanh thủy tam táo hương”
(ông Táo vốn là người họ Trương, cúng một chén nước ba cây hương)
*Có thuyết lại cho rằng , Ông Táo chính là Viêm Đế thuộc họ Thần Nông khi xưa, chết được Ngọc Đế phong làm Táo Thần. Trong sách “Hoài nam Tử” ghi “Viêm Đế giữ chức  Hỏa Quan, chết làm Táo Thần”.
Có thuyết thì nói Ngài là TOẠI NHÂN, bởi vì xưa kia Toại Nhân đã dạy người kéo cây lấy lửa.
Có thuyết nói Táo Quân là con trai của Chuyên Húc đời Tam Hoàng Ngũ Đế. Sách “Chu Ký” viết:- “Chuyên Húc có đứa con trai tên LY , tự Chúc Dung, được thờ làm Táo Thần”.
*Lại có thuyết nói rằng Táo Thần vốn là một thiên thần, vì không làm tròn bổn phận nên bị giáng xuống phàm trần, coi sóc việc bếp núc của  mỗi nhà , lần lựa bận bịu không thể trở về trời được.

Việc một người sau khi chết được trở thành “Thần” là một tiền lệ xưa nhất của văn hóa Trung Quốc.
Chuyện chép rằng, ngày xưa có một người quá nghèo, đến nổi phải cho  vợ con đi ở mướn  , sau đó trở thành người ăn xin của vợ con ba bửa cơm hàng ngày. Quá hổ thẹn nên ông ta nhảy vào lửa mà chết. Bà vợ tưởng niệm chồng bằng cách đặt một bài vị thờ ông ta ngay ở chỗ khuôn bếp, sớm chiều cúng kính. Có ai hỏi thì đáp là “thờ vua bếp”. Người đời bắt chước làm theo nên thành ra tập tục như ngày nay.
-Cũng có một truyền thuyết khác, thưở xưa có gia đình vợ chồng người họ Trương, vì nhà nghèo mà lại gặp năm mất mùa, bất đắc dĩ phải cho vợ cải giá (lấy chồng khác) làm thiêp cho một người giàu có. Ông nhà giàu nầy rất tốt bụng, thường hay tổ chức các  buổi “tế bần”, giao cho các tì thiếp phụ trách. Ngày đầu của buổi chẩn tế ấy, có mặt người chồng cũ đến xin, nhưng rủi thay đến thứ tự của ông ta thì đã hết cơm.Ngày hôm  sau bà vợ thay đổi cách phát cơm  là từ người cuối  phát tới , nhưng đến người chồng thì cũng lại hết cơm. Qua ngày thứ ba, bà vợ định thay đổi cách phát là phát từ ở giữa trước, nhưng chẳng thấy người chồng đâu cả. Bà vợ đi tìm, mới hay là người chồng đã chết ngày hôm qua rồi ! Quá đau xót, bà vợ liền tự ải theo. Ngọc Đế biết chuyện, thương cảm tình sâu nghĩa nặng của đôi vợ chồng nầy, nên phong cho họ Trương làm “Táo Thần”, cho vợ chồng cùng cai quản việc lửa khói của nhân gian.
*Cũng có truyền thuyết, Táo Thần có tánh tình không bình thường, cho nên phải hết sức thờ phụng Ngài mới  không bị quở phạt. Trong “Quí Dĩ Tiêm Cảo” có nói rằng, Táo Thần  là Thần Lửa, vốn là một vị tiểu thư quí tộc, có đến 36 người thị nữ theo hầu, bình thường thì cô chỉ mặc những quần áo màu lợt nhạt, nhưng khi cô tức giận ai đó, thì lại mặc quần áo đỏ chói. Cô trước kia đã từng làm đầu bếp cho Ngọc Đế, phụng lệnh Ngài cho xuống trần gian để phục vụ cho con người. Vì thế, cô hay bất mãn dễ nổi giận, dân gian phải hết sức thờ phụng để  tránh sự nổi cơn thịnh nộ của cô.
*Lại có truyền thuyết, Táo Quân họ Trương tên Ngỗi, tự Tử Quách, dáng người anh tuấn, dung mạo như mỹ nữ, nhưng lại có tính lười biếng, hay tìm chỗ trốn lánh ngơi nghỉ. Ăn thì phải có món ngon, lại rất hiếu sắc. Vốn là đầu bếp của thiên đình,
một hôm nấu cho Tây Vương Mẫu đãi tiệc, vì cứ mê nhìn ngắm sắc đẹp của những tiên nữ thị tỳ của Vương Mẫu nên để cháy mất món ăn , bị phạt giáng xuống trần gian làm Táo Quân, đầu bếp của trần gian toàn là đàn bà con gái, tha hồ cho Ngài nhìn !!!


*Đại đa số hình tượng Táo Quân đều rất trung hậu đoan chính, mặt mày to mập, có màu đỏ chói . Điều đó ngầm ý nói rằng Ngài thích ăn nhiều và coi về “lửa” nên mới như thế.

*Táo Thần được phong chức sau khi chết, lúc trước rất nghèo khổ, sau thành một vị thần tài hỗ trợ việc “tống tài chiêu phước” (đưa tiền góp phước).
Bếp ăn , từ ngàn xưa đã được người cổ đại sùng bái, sau trở thành biểu trưng của sự no ấm thịnh vượng của mỗi gia đình, là đà phát triển tất yếu của con người. Việc cầu Táo Quân ban cho phước lộc cũng là điều dễ hiểu thôi !
*Sở dĩ Táo Thần được nhân gian kính trọng là vì, ngoài bổn phận cung cấp thức ăn để nuôi sống con người, Ngài còn có chưc trách theo dõi sinh hoạt tốt xấu của người trong nhà nữa. Thế nên, Ngài có hai vị phụ tá, một vị là “Thiện Quán” (xem xét việc tốt), một vị là “Ác Quán” (xem xét việc xấu) của con người để ghi chép lại. cuối năm tổng kết cho Táo Quân về trình tấu với NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Ngày hai mươi bốn tháng chạp (12) thì Táo Thần sẽ lìa thế gian trở về thiên đình để tâu trình kết quả của mỗi nhà trong năm đó. Cho nên, dân gian có tục “Đưa Ông Táo” vào chiều ngày 23 tháng chạp.
*Trong sách “Kính Táo Toàn Thư” nói, “Táo Thần hưởng nhang khói của một nhà, gìn giữ sức  khỏe cho người trong gia đình, theo dõi việc thiện ác của nhà đó, tâu trình công hay tội của nhà đó” (thụ nhất gia hương hỏa, bảo nhất gia khang thái, sát nhất gia thiện ác,  tấu nhất gia công quá)  . Theo thuyết nói rằng, nếu bị Táo Thần cử tội lên thì NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ giảm thọ cho người đó, nếu nặng thì bị giảm thọ ba trăm ngày, nhẹ thì giảm thọ một trăm ngày.


(Táo Quân Đường)
*Việc cúng tiễn  Táo Thần dựa vào qui tắc : “Quan tam, dân tứ, đặng gia ngũ”.
Quan là chỉ cho những nhà quan chức quyền quí, tập quán cúng tiễn vào ngày 23.
Dân là chỉ cho bá tánh bình thường, cúng tiễn ngày 24.
“Đặng gia” là chỉ cho giới cao cấp thượng lưu, cúng tiễn ngày 25.
Nhưng thường  trong dân gian lại dùng ngày 23 để cúng tiễn,  là vì hy vọng “lấy hơi quan” để nhà mình được phát đạt.
-Phẩm vật để cúng tế Táo Thần thường là những thức vừa ngọt vừa dẽo như là:- dưa hấu, kẹo mạch nha, kẹo kéo, bánh da lợn…Dụng ý là để cho thức ăn còn dính vào miệng của ông Táo,  khi Táo Thần về trời chỉ tâu những điều tốt lành “ngọt ngào” của người nhà thôi ! Thế nên có câu:-
“Ngật điềm điềm—Thuyết hảo thoại” (ăn ngọt ngọt, nói việc tốt)
và  câu:- “Hảo thoại truyền thượng thiên—Hoại thoại đâu nhất biên” (Nói tốt trình lên trời, việc xấu tránh qua bên). Ngoài ra, cũng để “trám miệng” ông Táo, người ta cũng thường cho ông uống một loại rượu đặc sản,  dùng riêng cúng ông Táo, gọi là “Túy Tư Mệnh” ( ông Táo say). Mục đích là cho ông Táo say mèm, quên đầu quên đuôi, chẳng nhớ gì mà tâu trình !!! Do đó, cúng tế Táo Thần có ý nghĩa là “cầu phước tránh họa” vậy.

*Khi cúng tiễn Táo Quân, dọn bày phẩm vật ra, đốt hương để cúng, châm rượu lần thứ nhất, khấn vái cầu xin điều gì, tiếp theo châm rượu lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Xong, gở tấm tượng Táo Quân cũ xuống, kèm với hình con ngựa và giấy tiền vàng bạc đốt chung, hoàn thành lễ  đưa tiễn Táo Quân về trời. Cần nhớ là vì đốt con ngựa cho Táo Quân cỡi, thì phải nhớ kèm theo cỏ khô và đậu nành để làm thức ăn cho ngựa. Như vậy thì Táo Thần và ngựa đều có đầy đủ lương thực và thực phẩm cho cả hai, đủ sức đi về trời. Ngoài ra, cần nhớ khi đốt hình tượng ở ngoài trời xong rồi, phải nhặt lấy ít tro của đặt vào bình, mang đến trước bàn thờ ông Táo van vái:- “ Thượng thiên ngôn hảo sự--Hồi cung giáng bình an” (lên trời tâu việc tốt—trở về hộ bình an), đại khái là những lời vái như thế , ý cầu xin Ngài đừng tâu việc xấu và khi trở về phù hộ độ trì cho toàn gia đình được bình an may mắn, tránh khỏi những việc không hay cho gia đình mình.

*Sau lễ tiễn đưa ông Táo rồi, đến ngày mùng bốn tháng giêng phải nhớ làm lễ rước Ngài về. (có nơi cúng vào đêm giao thừa) gọi là lễ “Tiếp Táo” hay “Tiếp Thần” (đón thần Táo). Lễ nầy rất đơn giản, treo hình tượng mới của Táo Quân và  hình con ngựa mới, tượng trưng là Ngài đã  trở về đến nhà, trấn thủ trong gia đình để tiếp tục phù hộ và giám sát việc thiện ác.
*Việc đưa tiễn Ông Táo thì không nên làm trước ngày 14 tháng chạp, chọn được ngày tốt theo lịch Thông Thắng (ngày nào có ghi nên:- tế lễ, cầu phước là được. Hoặc là chọn ngày có Thiên đức, Nguyệt đức, Tam hợp, Thiên hỉ …)

*PHẨM VẬT CÚNG TẾ:- Gồm có:-

- 3 cây nhang trầm hương hoặc hổ phách (loại nhang nầy có mùi thơm đậm,cúng thần rất tốt, truyền thuyết nói rằng mùi thơm của nó có thể bay thấu lên trời)
- 3 chung  rượu hâm nóng (vì trời lạnh)
- 2 cây đèn cầy đỏ
- 3 chung hồng trà
- 3 đôi đũa
- 3 cái chén
- 1 dĩa rau
- 8 miếng mức hoặc một bình mạch nha.
- 8 dĩa trái cây hay đường miếng (phương đường)
- 1 khổ thịt luộc (nếu là Phật tử thì miễn cúng thịt, giới sát)
- 8 miếng xôi vị (thang hoàn 湯丸=?) (tương truyền khi ông Táo ăn xôi vị thì tiếng nói không còn trong trẻo, nên Ngài ngại không dám nói nhiều để tâu trình Ngọc Hoàng)
-  áo mão Táo Quân, giấy tiền vàng bạc , giấy  vàng khối …

*Nghi thức cúng:-

- bày phẩm vật trước bàn thờ Táo Quân.
- đốt đèn,  xá ba xá, cặm đèn lên bàn.
- đốt nhang, xá  ba xá cắm lên lư hương
-quì xuống chấp tay lên ngực, miệng khấn vái  ba ý:- cảm tạ ơn Ngài phù hộ suốt năm ----Kính tiễn Ngài về trời (đừng tâu việc xấu)---Khi trở về xin phù hộ sức khỏe dồi dào, công việc làm ăn thuận lợi v.v…  
- ở chỗ lư hương có đặt miếng đường hoặc miếng nhỏ xôi vị
- đốt  áo mão và giấy tiền vàng bạc như trên…
*Việc thắp hương cho ông Táo thường thì vào hai lần sáng chiều, có nơi chỉ thắp vào buổi chiều tối.
-Chỗ thờ Ông Táo tốt nhất là đặt vào vách tường phía Nam của nhà bếp. Có chỗ nói là “đông trù” nên đặt ở vách tường phía Đông.
-Táo Quân là vị thần gần gũi và rất quan trọng trong gia đình, cần phải thờ phụng nghiêm chỉnh, cúng bái thành tâm, chứ không nên xuề xòa bắt chước theo người cho có lệ. Nhất là đứng quá dễ dãi mua đại tấm bài vị thờ Táo Quân rồi đặt chỗ nào tùy thích thì không được.
-Bàn thờ Táo Quân phải ở chỗ khang trang, sạch sẻ, cao hơn đầu mình. Cung kính lễ bái theo ý “kỉnh thần như thần tại” thì Ngài Định Phước Táo Quân mới phù hộ độ trì cho bản thân  và gia đình được bình an mạnh khỏe, tăng long phước thọ.


(Táo Quân Điện)

*NHƯỢC  THỦY  dịch
(từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, quanthanh, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, chonhoadong, phaolon, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 18, 2008, 01:22:29 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
buomhoa
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 72

Cảm Ơn
-Gửi: 154
-Nhận: 449


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 08:29:12 AM »

Bác NT ơi , đã nói xôi vị làm giọng Táo khàn nên không bẩm báo nhiều cho Ngọc hoàng vậy là do nhà gia chủ đó làm nhìu tội lỗi sợ cấp trên khiển trách chứ nhà nào ở hiềnlàm lành thì vô tư đi phải không bác ?  big grin Thức cúng cũng phức tạp quá hả bác , con coi tham khảo thôi chứ đó giờ con cúng đơn giản lắm . Ông Táo có có hai vị tả hữu hộ pháp nữa chuyện đi ghi chép dùm ổng những chuyện mình xử xự trong gia đình , mình cứ nghĩ là không ai thấy không ai hay chứ vẫn còn trời biết đất biết , ghi chép đâu đó để công thưởng tội là trừng . Chắc ăn vậy luôn . Nói sai chết liền .  laughing

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, laodongta
Logged
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 01:28:03 PM »

Các huynh đệ thân,
Đây là vì dịch đúng theo nguyên tác, là phong tục tập quán của người Trung Hoa, người Việt mình thì chắc không có ai làm như vậy cả. Nhưng nên xem để biết thêm chi tiết thú vị cho "vui cửa vui nhà".
Cái nào dùng được thì lấy, không dùng thì bỏ đi, đừng bận tâm làm gì !
Dù sao, cũng phản ánh " cá tính đa thần và hơi thực dụng, dung tục" của người Tàu, chỗ nào lợi dụng được thì họ làm, khỏi suy nghĩ nhiều.
Chúng ta tuyệt đối tin vào Luật nhân quả là chính, cứ theo đó mà sống tốt là được.
Thân mến.
Nhược Thủy

(xin xem tiếp Thổ Địa Công)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
PaM, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 11:52:43 PM »

(tiếp theo)

PHƯỚC  ĐỨC  CHÍNH  THẦN


福德正神

(土地公)

  土地公為土地的守護神,正式名稱是「福德正神」,民間俗稱有后土、社神、社公、伯公、土地或福神等,於市街、寺廟皆以「福德正神」尊稱。
  我國自古以農立國,一般百姓都非常重視土地,認為有土地才能栽種五穀,有了五穀才能生存,因此對土地常懷感謝之念,自然就產生一種崇拜的心理,於是創造出土地神來,把土地當做神明來敬奉了。周朝時以二十五家為一社,而封王立社未有土也,封王立社後供奉的神明就是土地公,每社要立社壇一所,供奉土地神,以祈五穀豐收。據傳后土是執掌九大州土地的總司神,而土地公則是歸於后土屬下的一個地方土神,凡是生前有德,死後皆可成為土地神。所以土地神又稱福德正神。古代的聚落叫做「社」,故稱土地神為「社公」,開始較為單純抽象,後來逐漸人格化,並形成了配偶社公、社母,又稱「土地公」、「土地婆」。是社稷、道義之神。土地公是所有神明中奉祀率,最高的一位神明。
  古時天地之神,均由歷代帝王或地方官員奉旨祭祀,稱之為春、秋二祭,民間百姓不得祭祀,古代的人對於土地常懷感謝之念,為祭祀土地公,因此發展出一種祭祀土地公的方式來區別於官方的春、秋二祭,以免冒犯天威。我國是個農業國家,農事與季節有很大的關係,古人在播種的時後,就會祭祀「土地公」祈求豐收,而在收成的時候也祭祀「土地公」,報告豐收,以謝「土地公」,前者叫「春祈」、後者稱做「秋報」。
  古人於「秋報」時向「土地公」祈求賜福賜福降祿,八月十五日,恰是五穀收成的時候,這一天,民間百姓都會祭祀「土地公」報告豐收,現今之「中秋節」可能就是「秋報」的遺俗,經過後人益事精華,而漸漸盛大起來。
  土地神崇奉之盛要歸功於明太祖的推動,據《琅玡漫抄》記載,太祖朱元璋出生之地就在一座小土地公廟裡,因此明朝土地廟數目特別多,以後各地相沿成習,土地廟就無所不在,由土地公造型可看出土地職司的神務類別,一般常見的多是銀髮白鬚的老者,造型如果手拄拐杖者就具守護的任務,手握元寶或如意者,就是土地財神。如有轄區內有人高中狀元進士(現今鄉長、縣長)土地公的神格也會水漲船高,頭上可加戴一頂官帽。
  在民間,除了將土地公視為地神之外,也視之為財神與福神,因為民間相信「有土斯有財」的觀念,因此土地公就被商家奉為守護神。據說他還能使五穀豐收並能鎮鬼神,因此,很多人就把土地公迎進家裡祭拜。一般家庭的廳堂五神中必有供奉土地公,家中沒有供奉土地公的,也在每月的初二、十六,在家門前設香案、燭台、供品祭拜。不過一般農家則是以每月的朔、望兩天,也就是初一和十五祭拜土地公。
        
土地公的神像一般為頭戴錢帽,帽沿兩條布須下垂抵肩,面龐圓而豐盈,兩眼微瞇,白髮白鬍鬚,笑容可掬,慈祥可親,身坐太師椅,右手執如意或執手杖,左手拿元寶,兩肩微聳,挺隆的圓弧肚腹特別明顯,兩腿分開自然下垂,在民眾的心目中永遠與「福」、「德」同義,給予人們可信託的希望感。
  民間對土地公的傳說很多,其一是:福德正神姓張名福德,生於周武王二年二月二日,自小聰穎至孝;三十六歲時,官朝廷總稅官,為官廉正,體恤百姓之疾苦,做了許多善舉。至周穆王三年辭世,享年一零二歲。死後三日容貌不變,有一貧戶以四大石圍成石屋奉祀,過了不久,即 由貧轉富,百姓咸信神恩保佑,乃合資建廟並塑金身膜拜,故生意人常祀之。亦有說在他死後,接任的稅官上下交征,無所不欲,民不堪命。
**這時,人民想到張福德為政的好處,念念不忘,於是建廟祭祀,取其名而尊為「福德正神」。
  另一傳說:商周時期某上大夫有家僕,姓張名明德。上大夫之幼女因在家鄉思父心切,由張僕陪同擬赴任所晤親,然而路途遙遠,半途天又降大雪,小女孩差點給凍死,幸張僕舍衣救幼主,自己反而被凍死。義僕死後,空中突然現出「南天門大仙福德神」八字,時人異之,咸認係上天賜義僕封號,上大夫亦感念張僕大恩大德,立廟以祀。至周武王時贈號后土,故土地公亦稱福德正神。
  亦有傳說秦始皇暴政,徵民建築萬里長城,孟姜女之夫韓紀郎受徵,不幸死於城下。孟姜女尋夫不遇,哭倒萬里長城,露白骨無數,無法識別。時一老翁稱:以妻血滴白骨,若白骨染血必為夫骨。並激其無法尋得,若尋得願為其守墓。孟姜女滴血尋找,終得夫骨,而老翁為其夫守墓,此為后土傳說由來。
  《禮記‧郊特性》:「家主中霤而國主社」(中霤謂土神)。
  《呂氏春秋‧孟冬記》:「是月也……大割,祠於公社及門閭,饗先祖五杞 」(五杞:木正句芒其祀戶,火正祝融其祀灶,土正后土其祀中霤:后土為社,金正蓐收其祀門,水正玄冥其祀井)。
  《白虎道義》云:「古者自天子下至庶民,皆得封土立社,以祈福報功,其所祀之神曰社,其祀神之所亦曰社」又云:「為天下求福報功,人非土不立,非穀不食,故封土立社,示有土地也」。「社,土地之神也。」因之后土就是社神、土神。
  《神異典‧社稷之神部總論》云:「先儒以社祭五土之神,五土者:一曰山林,二曰川澤,三曰丘陵,四曰墳衍,五曰原隰。明曰社者,所在土地之名也:凡土之所在,人皆賴之,故祭之也」,所以凡是土地所在就有社神,大至一國,小至地方,不論尊卑,無所不在,俗謂:「田頭田尾土地公」就是對社神親切的暱稱,蓋早期先民入台,開荒墾地,人與天爭,蓽路藍縷,乃有斯土,因之視土地公為隨時隨地的保護神。
  《孝經緯》說:「社,土地之圭也。土地闊不可盡敬,故封土地為社,以報功也」。
  《春秋左傳》云:「共工有子曰句龍,佐顓頊,能平九土,為后土,故封為上公,祀以為社」。
  《禮記.王制》所載:「天子社稜皆大牢,諸侯社稜小牢。」「王為群性立社,社,后土也,使民祀焉。」并蔬「后土,即社神也。」
  土地公為地方村社的守護神,管理某一地面、某一地段,故有莊頭莊尾土地公之俗語,以表處處皆奉之、人人皆祀之。生意人、農人奉祀更虔誠。土地公由地神變為人神,顯示中國人「天人合一」的多神觀念,極具包容性與親和力。雖然現今社會形態已有很大改觀,百業繁榮,一般生活安定,商店,工廠或一般家庭,依然篤信「土地公」,視「土地公」為福神,財神,於每年農曆二月初二日(春祈)與八月十五日(秋報)均勤拜土地公,對於土地感恩之心未嘗間斷。
  農曆二月初二是福德正神誕辰。


虎爺:

奉祀虎爺并沒有專廟,只隨主神洪奉,虎爺的主神有二:一為土地公,另一為保生大帝。
民間傳說,虎爺是土地公的屬下,虎經常跟隨土地公,按照土地公的命令采取行動,所以有土地公的廟宇,一般神桌下都供奉虎爺,是專供土地公騎用的老虎。信徒們相信老虎張著大嘴,可叼著財寶而來,因此,廣為人民所奉祀。特別是許多賭徒信奉極深,還有戲劇業者也非常尊崇。
但一般廟宇的虎爺,并不是供主神騎用的,而是做為鎮守廟宇的地神奉祀的,因為它有驅逐癘疫、惡魔以及鎮護廟宇的功用。又相傳,虎爺能治療小兒腮腺炎,當小兒患腮腺炎時,用金紙來撫摸虎爺的下頷,然后用這張金紙貼在小兒的患部,很快就能消腫痊癒。


 
*Dịch:-

Phước Đức Chính Thần

(Thổ Địa Công )

Thổ Địa là vị thần thủ hộ về đất đai nhà ở. Danh xưng chính thức của Ngài là “Phước Đức Chính Thần” . Trong dân gian còn xưng là “Hậu Thổ”, “Xã Thần”, “Xã Công”, “Bá Công”, “Thổ Địa” hoặc “Phúc Thần” . Ở các nơi thờ phụng ngoài trời hay Miếu Vũ thì tôn xưng là “Phước Đức Chính Thần”.
*Đất nước chúng ta (TQ) từ xưa lấy nông nghiệp làm gốc, cho nên trăm họ đều coi trọng đất đai, vì có đất mới có thể  sản xuất ra ngũ cốc để ăn mà sống. Vì thế, đối với đất đai có sự biết ơn rất lớn, từ đó, sinh ra tâm lý sùng bái và sáng tạo ra một vị thần đất để thờ phụng. Thổ Địa Công hiện hữu là như vậy.
*Đời nhà Châu, cứ 25 nhà thì gọi là một xã. Mà đã lập ra xã, thì hàm  nghĩa là đã có “đất”. Thế nên sau khi lập thành xã, thờ vị thần đất gọi là “Thổ Địa Công”. Mỗi xã lập ra một cái “đàn” để cúng Thổ Địa, cầu cho trúng mùa no ấm.
*Theo truyền thuyết thì Thần Hậu Thổ là vị chưởng quản hết tất cả đất đai chung cả nước, vậy Thổ Địa Công là vị coi sóc vùng đất nhỏ của địa phương nào đó. Phàm người  lúc sống mà có công đức với vùng đất nào đó, thì khi chết được phong làm Thần Thổ Địa. Sở dĩ Thổ Địa được tôn xưng là “Phước Đức Chính Thần” là vì lúc xưa, các tụ lạc gọi là “Xã” và gọi thần Thổ Địa là “Xã Công”. Lúc mới bắt đầu thờ thì còn rất là trừu tượng, về sau mới nhân cách hóa bằng hình ảnh hai vợ chồng, gọi là Xã Công và Xã Mẫu, cũng gọi là “Thổ Địa Công” và “Thổ Địa Bà”. Đó là vị thần tượng trưng cho đạo nghĩa của đất nước. Vì thế, Thổ Địa là vị thần đứng đầu trong hàng các thần được thờ cúng.
*Ngày xưa, việc cúng tế trời đất chỉ dành riêng cho vua chúa mới được cúng , gọi là “Xuân Thu nhị tế” (cúng vào  hai mùa Xuân Thu). Do đó, dân gian mới tạo ra hình tượng Thổ Địa Công để nói lên sự biết ơn đối với đất đai trồng trọt mà khỏi phạm vào luật cấm của vua quan.
Đất nước ta (TQ) theo nông nghiệp là chính, nên trước khi vào vụ trồng cấy, cúng vái Thổ Địa phù hộ cho trúng mùa, đến lúc thu hoạch thì cúng Thổ Địa để tạ ơn được mùa. Lần đầu cúng gọi là “Xuân kỳ”, lần sau cúng gọi là “Thu báo”.
-Ngày xưa, lễ  “Thu báo” thường là vào ngày rằm tháng tám, tức là lúc đã thu hoạch xong mùa vụ, vừa cúng tạ ơn trúng mùa, vừa cầu xin phước lộc với Ngài “Thổ Địa Công”. Có lẽ đây là nguồn gốc của Tết Trung Thu ngày nay vậy.
*Việc sùng bái Thổ Địa phát triển mạnh vào thời Minh Thái Tổ. Theo “Lang Nha Mạn Sao” nói rằng, Minh Thái Tổ sinh ra đời trong một cái Miếu Thổ Địa, cho nên thời nhà Minh, số lượng Miếu Thổ Địa tăng rất nhiều, không nơi nào là chẳng có .
*Việc tạo ra hình tượng Thổ Địa Công cũng nói lên được những nét đặc thù về chức trách của Ngài. Đó là một ông già râu tóc bạc trắng, tay cầm gậy tượng trưng cho sự gìn giữ đất, một tay cầm khối vàng hoặc ngọc như  ý, là nói đây là Thần Tài của vùng đất. Nếu nơi nào có được những người đỗ đạt trạng nguyên, tiến sĩ (ngày nay là hương trưởng, huyện trưởng) thì Thổ Địa nơi đây có thêm chiếc “mão quan”.
*Trong dân gian, ngoài việc thờ Thổ Địa Công làm thần đất, còn thờ thêm Tài Thần và Phúc Thần, vì dân gian tin rằng, hễ “có đất là có tiền”, do đó, Thổ Địa Công được các thương gia tôn làm “thần thủ hộ”.
Truyền thuyết nói rằng,Ngài ngoài chức trách giúp cho nông dân trúng mùa, còn thêm chức năng trấn yểm quỉ thần, giải trừ xua đuổi ác ma. Vì thế, dân gian hay đến miếu để thỉnh Ngài về nhà trừ tà ma yêu quái. Về sau mới phát triển dần đến việc mỗi nhà đều có thờ “Ngũ Thần” trong đó có Thổ Địa Công. Còn nhà nào không thờ Thổ Địa thì mỗi tháng vào ngày mùng hai và mười sáu. Bày hương án ra trước cửa cúng vái Thổ Địa Công, từ đó hình thành tập quán cúng Thổ Địa vào hai ngày sau ngày sóc (mùng 1) và ngày vọng (ngày rằm) (tức là ngày mùng 2 và ngày 16) (*Ngày nay trở thành  cúng cô hồn chiến sĩ-ND)
*Hình tượng thờ Thổ Địa thường là một vị đầu đội mão, hai bên mão có hai tua phủ xuống đến vai. Mặt vuông mà đầy đặn, hai mắt hơi híp, tóc bạc râu dài bạc, dáng dấp hiền hòa  dễ thương. Mình ngồi ghế “thái sư”, tay phải cầm ngọc như  ý hoặc cầm trượng, tay trái nắm “khối vàng”, hai vai là đầu và đuôi rồng thêu trên áo lộ ra, bụng to nổi lên rất đẹp, hai chân buông xuống theo thế tự nhiên. Trong ý tưởng của dân gian hai âm “phúc” (bụng) và “phúc” (trong phúc đức) là giống nhau, cho nên người ta dùng hình tượng “bụng to” để nói lên sự “được  phúc lớn”.

*Truyền thuyết về Thổ Địa Công rất nhiều :-

* Phước Đức Chính Thần  họ Trương tên Phước Đức, sanh vào ngày mùng hai tháng hai đời Chu Vũ Vương năm thứ hai. Từ nhỏ, tỏ ra thông minh và rất hiếu thảo. Đến năm 36 tuổi, làm quan thâu thuế của triều đình. Ông rất liêm chính, thương xót bá tánh khổ sở, nên đã tâu xin giảm nhiều hạng mục  thuế vụ, dân chúng rất sùng kính. Đến năm thứ ba đời Chu Mục Vương thì từ trần, thọ một trăm lẻ hai tuổi. Chết đã ba ngày mà mặt không đổi sắc, có một nhà nghèo kia đem bốn tảng đá lớn xây thành ngôi nhà bằng đá để thờ phụng ông. Chẳng bao lâu sau, nhà nghèo kia trở nên giàu có, mọi người đều tin là do thần ân hộ trì, nên chung lại mà xây thành Miếu Thờ , lễ lạy kim thân Ngài. Những người buôn bán thường đến cúng bái, được Ngài gia hộ nhiều may mắn. Vị quan thâu thuế thay Ngài rất tham lam, bóc lột nhân dân thậm tệ, ai nấy rất oán giận. Do đó, người ta tưởng nhớ đến lòng tốt của  Trương Phước Đức  thêm nhiều, và miếu thờ của Ngài trở thành Miếu Thờ “Phước Đức Chính Thần”.

*Lại có một truyền thuyết khác, vào đời Thương ,Chu, vị quan thượng đại phu ở triều đình, trong nhà có một tên đày tớ họ Trương tên Minh Đức. Người con gái nhỏ của quan đại phụ nhớ cha, nhờ người đày tớ họ Trương nầy ẳm đi thăm cha. Nhưng trên đường xa, ngày nọ bổng trời đổ tuyết xuống  rất nhiều, đứa con gái nhỏ sắp chết cóng, nhưng nhờ họ Trương xả thân lấy hết quần áo ủ ấm cho bé gái thoát chết, còn bản thân anh ta thì bị chết vì lạnh lúc quay trở về nhà. Khi người nghĩa bộc vừa chết, trên không trung bổng hiện ra tám chữ “Nam Thiên Môn Đại Tiên Phước Đức Thần”. Mọi người lấy làm kinh dị, cho rằng thiên đình đã phong chức cho người nghĩa bộc họ Trương . Còn vị quan đại phu cảm niệm ơn đức cứu mạng con mình, dã cho xây Miếu Thờ. Đến đời Chu Vũ Vương được người đời tặng là “Hậu Thổ”, cho nên Thổ Địa Công mới có danh hiệu “Phước Đức Chính Thần”. 
      
*Cũng có truyền thuyết nữa là, vua Tần Thủy Hoàng bạo ngược, bắt dân xây dựng Vạn Lý Trường Thành, người chồng của nàng Mạnh Khương tên Hàn Kỷ Lang cũng bị bắt đi làm xâu (sưu), chẳng may bị chết dưới thành. Nàng Mạnh Khương đi tìm xác chồng nhưng không gặp, liền khóc đến nổi lật cả tường thành lên, hiện ra vô số bộ xương người, không có cách nào biết được xương của ai. Có một lão ông xuất hiện bảo:-“Trích máu của người vợ nhỏ vào xương, nếu xương nào hút máu cực nhanh, thì đó là xương của chồng. Nếu tìm được xương của chồng cô rồi, tôi nguyện làm người giữ mộ”. Nàng Mạnh Khương nghe theo, quả nhiên nhận ra hài cốt của chồng, cùng ông lão đem chôn cất. ôn giữ lời hứa, ở mãi nơi đó  giữ mộ đến cuối đời. Từ đó có truyền thuyết về “hậu thổ” là vì thế.

*Trong sách “Lễ Ký—Giao Đặc Tính” có ghi:- “Người gia chủ là “trung lựu” , tức là người đứng đầu của “xã” (làng)” (Thần Trung Lựu tức là Thổ Thần).
*Sách “Lã Thị Xuân Thu—Mạnh Đông Ký” chép:- “Nầy là tháng tốt, từ công xã đến xóm ấp, hưởng “ngũ kỷ” của tổ tiên” (Ngũ kỷ gồm:- Mộc là thần Câu Mang, cúng để giữ nhà, Hỏa là thần Chúc Dung, cúng để giữ bếp, Thổ là Hậu Thổ, cúng thần Trung Lựu (hậu thổ tức là “xã”), Kim là thần Nhục Thu, cúng để giữ cửa, Thủy là thần Huyền Minh, cúng để giữ giếng)
*Sách “Bạch Hổ Đạo Nghĩa” nói rằng:- “Ngày xưa, từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng được phong đất để lập ra “xã”, lấy phước của người ấy mà báo công. Người mà không đất thì không thể lập ra “xã”, không có ngũ cốc thì chẳng có cái để ăn, cho nên phong đất lập “xã” ắt phải có Thổ Địa vậy” Hoặc :-“Xã tức là Thần Thổ Địa vậy”, Hậu thổ của người gọi là “Xã Thần” hay “Thổ Thần”.
*Trong “Thần Dị Điển—Xã  Tắc chi thần Tổng bộ luận” có nói:- “Bậc tiên nho cúng tế Thần Ngũ Thổ tại mỗi “xã”. Ngũ Thổ là:- một là rừng núi, hai là sông ngòi, ba là gò đống, bốn là sình lầy, năm là đồng bằng. Đời nhà Minh gọi “xã” tức bây giờ gọi Thổ Địa. Phàm ở chỗ có đất, người mới nương tựa được, nên phải cúng đất”. Cho nên, bất cứ nơi nào cũng phải có “Xã Thần”, bởi vì dù lớn như một nước, nhỏ như một địa phương, nếu chẳng luận đến tôn ti trật tự thì không thể tồn tại được”. Lại nói thêm :- “Đầu ruộng đuôi ruộng đều là của  Thổ Địa Công” để thể hiện sự tôn kính đối với thần xã. Thưở ban sơ, vị nào đến một nơi hoang vu để khai phá, cũng hết sức vất vả khổ sở và chịu nhiều hiểm nguy mới biến thành đất bằng, tạo nên làng xã. Những vị nầy rất xứng đáng được người sau tôn thờ làm Thổ Địa Công lắm vậy !
*Sách Hiếu Kinh Vĩ  nói:- “Thần xã tức là sao Khuê của đất đai. Đất đai ngày nay được rộng lớn chẳng thể không kính trọng người có công khai phá, vì thế phong Thổ Địa làm Thần Xã , là cách tưởng nhớ công ơn người trước vậy”
*Sách “Xuân Thu Tả Truyện” viết:-“Thần Cộng Công có người con trai tên Câu Long, giúp Chuyên Húc an định chín vùng đất, nên thành ra Hậu Thổ, lại phong làm Thượng Công, khi cúng tế thì gọi là Thần Xã”.
*Sách “Lễ Ký—Vương Chế” có viết:- “Cúng tế cho “xã” của vua làm cỗ lớn, cúng tế “xã” của chư hầu làm cỗ nhỏ.” Lại nói:- “Vua hợp nhiều người lại làm “Xã”. Xã là Hậu Thổ, để cho dân thờ cúng”. Vậy nói Hậu Thổ tức là nói vị thần của “Xã” vậy.
*THỔ ĐIA  CÔNG là thần thủ hộ của một địa phương làng xã, quản lý hết đất đai của mọi người mọi nhà. Nên tục ngữ nói “Trang đầu trang vĩ Thổ Địa Công” (đầu xóm cuối xóm cũng là đất của Thổ Địa). Vì thế, nơi nào cũng phải thờ kính, người người đều phải cúng. Từ người buôn bán  đến  nông dân…ai cũng hết sức thành tâm cúng tế Ngài.
Thổ Địa Công đã từ  “thần đất”  chuyển hóa thành “thần người”, biểu lộ tinh thần “Trời người hợp một” của người Trung Quốc, thành ra quan niệm có tính cách “đa thần”, dung hợp được chủ thể và khách thể một cách hài hòa.
Ngày nay, tuy xã hội đã có nhiều tiến bộ về khoa học, nhưng niềm tin về Thổ Địa Công vẫn không mất. Từ những nhà hàng lớn, hảng xưởng, công ty, tiệm quán đến từng nhà mọi người… đâu đâu cũng thấy có sự hiện diện của Thổ Địa Công. Bởi vì Ngài là Phước Thần, Tài Thần mang lại sự phồn vinh giàu có cho mọi người, niềm tin về Ngài có lẽ mãi mãi không bao giờ mất.
*Hàng năm vào ngày mùng hai tháng hia âm lịch (Xuân Kì) và ngày rằm tháng tám (Thu Kì) . chúng ta nên cúng tế Thổ Địa Công để cảm tạ ân đức của Ngài.

*Ngày vía chính thức của Phước Đức Chính Thần là ngày mùng hai tháng hai âm lịch.



Hổ Gia
(ÔNG  HỔ)


*Thờ Ông Hổ thì không cần phải có một miếu riêng, chỉ nương theo chỗ nào có thờ “Thần Chủ” (của Ông HỔ) thì thờ theo mà thôi.
Thần Chủ của Ông là hai vị:- Thổ Địa Công và Bảo Sanh Đại Đế  .
Theo truyền thuyết dân gian, Ông Hổ là thuộc hạ của Thổ Địa Công, thường đi theo và thừa hành mệnh lệnh của Ngài. Vì thế, ở nơi Miếu Thờ Thổ Địa, người ta làm bên dưới bệ thờ chính một chỗ để thờ Ông Hổ.
Người ta tin rằng khi Ông Hổ há mồm ra là có thể thu hút tiền bạc của cải về cho mình. Vì thế, mọi người rất thích thờ cúng Ông HỔ, nhất là người mê  cờ bạc và giới kịch nghệ.
Có nơi người ta cũng xây dựng riêng một miếu nhỏ hoặc hình tượng Ông Hổ ở phía trước ngôi Miếu Thờ nào đó, với ý là để ông bảo vệ ngôi miếu cùng khu trừ tà ma, yêu quái không cho đến gần.
Tương truyền, Ông Hổ có biệt tài trị chứng “sưng gò má” của trẻ con. Cách trị bệnh như sau:- Lấy một tờ giấy vàng bạc đại đến chỗ thờ Ông Hổ, áp tờ giấy vào dưới hàm cổ Ông Hổ, khấn vái tên tuổi đứa trẻ v.v… rồi đem tờ giấy ấy về đắp vào chỗ đau của đứa trẻ, sẽ nhanh chóng lành bệnh.


*Nhược  Thủy  dịch
(từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])


(xin xem tiếp-- Tài Thần)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, quanthanh, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 22, 2008, 01:19:05 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Bảy 31, 2008, 07:46:35 AM »

(tiếp theo)

TÀI    THẦN


財   神

  「財神」之稱,出于《三教搜神大全》一書。
  財神,身穿金紅二色官袍,飽滿的身形,福氣的面相,和譪、慈祥的笑容,手執元寶、如意,寓意帶來財運,相信是民間信仰中最受歡迎的神,俗語說:「有錢能鬼推磨。」錢財雖是身外物,無錢郤是萬萬不能,老百姓決不會希望自己「成世窮」,錢財 當然不怕多,只會嫌少。追求財富是人類共同的愿望,尤其在貧窮的民間社會,財神原為物神,但是由于其賜人財帛,給人美好的生活,所以成了愿望之神,與喜、貴、壽、子等神一樣,成為福神。崇拜「財神」,希望能通過拜神而得到神保佑而發大財,因而財神多多益善,在俗信者心中,認為所拜的財神越多,財源就越廣。財神的種類很多,主要是物神人格化之后,有名的理財專家和富有的名人,都成了人們崇拜的財神,并且,特別地敬奉虔誠,常見的財神有文武之分。

*民間所供奉的財神不止一位,且有以下幾種:
  -文財神:福、祿、壽、喜、財、比干、范蠡。
  -武財神:關羽、趙公明。
  -正財神:趙公明。
  -偏財神:五路財神、土地公。

***文財神:

*文昌帝君:
「文昌帝君」,或稱「梓潼帝君」,是古人們崇拜自然神中的一位星主神祇,是北斗星之神。
《吏記.天官書》:「斗魁戴匡六星,曰文昌宮:三曰貴,四曰司命,五曰司中,六曰司祿。」《吏記索隱》注解謂北斗七星是「文昌宮」:「貴相星」司人間的文緒,「司命星」掌人們的壽考,「司中星」管人間的災禍,「司祿星」掌人間的財帛。因此,「文昌帝君」不但掌管功名,也兼任「財神」。至唐代,由於職掌「文緒」的功能轉移給「魁星爺(奎星)」,「文昌帝君」乃成為專職的文財神。

*財帛星君:
一說財帛為廿八星宿之一,其職責就是「司財」,古人早已崇拜。
「財帛星君」又稱「增福財神」,是位很有福像的大官人,白面,頭戴宰相帽,五流長發,身上紅袍玉帶,手常持「天官賜福」的詔書。他的來歷,大約即是道教三官之一的賜福天官,因為洪范五福,「一日壽,二日富。」北方書中的財神畫像,上面常題有「增福財神」字樣。
一說財帛乃太白金星,專門主宰人間財祿,樣貌祥和,錦衣玉帶,手執「招財進寶」金元寶,有求必應,最樂於助人間信男信女。供奉時,文財神面只可以向屋內,表示送財給宅內之人。否則就送財給屋外的人了。
*福祿壽三星:
福星象徵子女昌盛,一團和氣,福澤綿綿;壽星象徵健康長壽,無痛無災;祿星則主加官進爵,添財進祿,有求皆逐。雖然求財只求祿星,但自古以來,福祿壽三星已三為一體,故宜一齊供奉。如能福祿壽俱備,何樂而不為呢?供奉時,同財帛星君一樣,文財神面只可以向屋內,表示送財給宅內之人。

*比干:
《封神演義》:比干是殷商紂王的三大忠臣之一,妲己用人心做藥引子為借口,殺死比干。姜子牙封神時,認為比干「無心」,辦事自然公道,沒有私心,因此就封他做了財神。
而民間則傳說:趙公明的坐騎黑虎,用黑爪扒開了比干的肚子找心,因而把比干的肚子染黑了,所以即使沒有心的比干,也不再公正了;分給人的財富有時多,有時少,因此,世間也就有了貧富差距。

*范蠡:
《東周列國志》:范蠡幫助了越王勾踐中興復國,但范蠡亦明白勾踐此人只能共患難,不能共享富貴,所以急流湧退,到齊國隱居。
范蠡在齊國改姓,自稱鴟夷子皮,與兒子在辛勤工作幾年之後,累積了數十萬的資財,雖然齊王看重他的才能,想請他做宰相,但他卻散盡其財,來到名為陶的地方隱居,陶地居於天下之中,是商業貿易必經的通道,因此開始在此經商,沒有多少年,又變成了巨富,人稱「陶朱公」。
范蠡能聚財,但又不看重錢財,在必要的時候,甚至可以放棄所有的財富及榮華富貴,這表現了中國式的另類經營智慧,也使他因此成為中國民間信仰中,最具有氣度的財神;只有對財富有著大徹大悟的了解之後,才能夠聚財,也才能夠不被財富所帶來的虛幻假象所迷惑。范蠡之所以死後會成為財神,主要反映了中國人對財富的另一種思考,那就是對於財富虛幻特質本身的大徹大悟。

***武財神:


*趙公明:
或稱中路財神,農曆三月十五日誕辰。
《封神演義》所述,姜子牙並沒有封趙公明為財神,只封趙公明為「金龍如意正一龍虎玄壇真君」,統帥「招寶天尊蕭昇」、「納珍天尊晉寶」、「招財使者鄧久公」、「利市仙官姚少司」四位神仙,專司迎祥納福、商賈買賣。後來,民間認為趙公明手下所掌管四名與財富有關的小神,其分別是招寶、納珍、招財和利市,因而理所當然成為財神。到明代許仲琳所寫的一本書中,才確立趙公明成為中國財神地位。由於他的職責與迎祥納福有關,而他的使者又是招寶、納珍、招財、利市,因此自然受到民間普遍的喜愛與歡迎。民間又盛傳這四位神仙加上趙公明就是五路財神。
又因趙公明被射中兩眼及心窩而死,故民間說「財神爺無眼無心」,意思說財神爺是盲的,誰碰上誰就發大財,未必是好心才有好報也。現實之中也是善人未必富,富人未必善,上述說法是有一定理據的。
《搜神記》:趙公明屬瘟神,是天神下凡間取人性命的三位將軍之一,有時稱趙玄壇、趙元帥或趙將軍,掌管五方之氣的神祇。他的全銜很長:「高上神臂玉府大都督、五方巡察使、九州社令、都下提點、直殿大將軍、主領雷霆副元帥、北極侍御史、三界大都督、應元昭列侯、學士定命設帳使、二十八宿總管、上清正一支壇飛虎金輪執法趙元帥」。
而趙公明有稱「寒單爺」,是「流氓神」,生前早年是個無惡不做的地方惡霸,晚年痛改前非,並在元宵節時自願赤裸上身接受鄉民以爆竹轟炸,藉灼傷自己來贖罪並替鄉民承擔來年一切凶 厄,死後鄉民奉他為神祇。
*關公:
名關羽,或稱為關聖帝君或關聖大帝等。
其實,關公一般給人的印象,多半是《三國演義》中,重情重義的一名武將,其本身和財富其實一點關係都沒有,因此可算是一為被道德化的財神,他對劉備忠貞的態度,也可彰顯東方特殊的職業倫理。
關公之所以會成為人民心目中的財神,其實大約始於明清時代,當時由於資本主義的興起,一些職業公會或商會及行會,多半將關公視為是保護神和財神,而在這些大大小小不同的行會之間,為了聯絡彼此的情誼,也常成立各種財神會及祀關帝會,以增進彼此之間的共識與感情,當然這種財神會,對於各行各業一些規範的制定,都起著一定的制約作用。
另一種說法是,關公在生前即善于理財,且長于算數記帳,曾經發明簿紀法、日清簿等簿記,內中設有「原」、「收」、「出」、「存」四項,條理分明,被后代奉為會計專家,難怪也成為商人所敬奉的財神。
近代海外的華人社會對於關公的供奉,也是非常普遍的。從華人的眼光看來,關公首先代表中國民族文化的根源,是民族的保護神,也是道德秩序的維護者與象徵,其次的意義才是財神。


***偏財神:
  故名思義,由正統路徑以外獲得的財富,稱為偏財。


*土地公:

奉祀「土地公」為財神,主要原因是土地公掌管土地生養萬物之事,而早期社會以農為業的人很多,除了看天吃飯外,還要看地,據說土地公能使五穀豐收,也能使五穀欠收,所以農民很自然奉他為財神爺。而農家信仰土地公則報恩的情意甚濃,所以農家在二月初二這天,還會以土地公金系在竹枝上,把它插在田間,以奉獻給土地公,倒有春祈秋報丰收的意味。
農歷二月初二是「福德正神」誕辰,民間少不了有一番祀拜,而土地公正是信徒所奉的財神之一。
士地公之所以被敬為財神,主要是一般商人信仰「福德正神」能帶來平安與生意興隆。民間商家照例都在每月的初二、十六,准備四果、牲體祀拜土地公,即所謂的「做牙」,也稱為「迓福」,就是迎福接運的意思,祈求土地公賜予這項福份。
從古代農、商的信仰延伸迄今,土地公自然是位列財神之一,頗受民間尊奉。

*五路財神:


五路財神在民間有許許多多的說法,有人說他本名為何五路,有的人則認為,他是梁陳人,顧野王的第五個孩子,死後被封為五顯神,但是之後以訛傳訛,又被人誤說成是五路神。
另一種五路財神的說法是,五路財神並非一人,而是五個人,至於這五個人的說法,也可以分為二種:一種說法是指杜、尚、華、陳和孫等五人,是為同年同月同日生,有一天在杭州燒香巧遇,因此結拜為兄弟,五人還在天竺觀音寺求籤,結果得觀世音的幫助,經商致富,後來五人重修觀音寺還願,死後就被人們封為五路神。另一種說法,是指唐、劉、張、葛、李五人,這五人生前是江洋大盜,專門劫富濟貧,死後被世人建五哥廟供奉,之後又被稱之為五路財神,或是五顯財神。
在民間也有一種說法,那就是把趙公明和其手下的四名小神,合稱為五路財神。
而民間也盛行供奉五位家內的神明為五路財神,這五位神明分別是土地爺、馬王爺(或牛王爺)、仙姑、財神爺及灶王爺。

*利市仙官:
在民間的財神信仰之中,「利市仙官」往往只是一個配角,在大部份的情況下,他們很少被單獨來祭拜,多半是被畫於財神的二側,算是一位名符其實的「偏」財神。與上述的正財神不同,偏財神不一定是歷史上真實出現的人物。而「利市仙官」這一個稱呼,很可能只是宋元時代,民間的一種口頭用語,在以訛傳訛之後,才出現這麼一位財神。
「仙官」這種稱呼,或出自道教,而「利市」則很可能是從「利市三倍」這個諺語而來的。經過時代的演變,民間逐漸把「利市仙官」人格化及神格化,甚至也娶了老婆,稱之為利世婆官。到了明代,稱「利市仙官」為姚邇益,或稱為姚少司,而近來「利市仙官」則是民間的財神畫像中,不可獲缺的一個角色。

*招財童子:
習俗認為,招財童子是佛教中善財童子的前身。「善財」,其實本意為「善於理財」之意,不過後來民間將其世俗化之後,就和招財進寶扯上關係。
佛經上記載,善財童子出生時,有各種珍寶從房間中冒出來,於是相師為其取名為善財。善財雖有無數的財寶,但他卻認為萬物皆空,並且發誓要修行成佛,終於歷經千辛萬苦,通過了種種的考驗,最後終於實現了成佛的願望,後得觀音的教化成菩薩,現身童子,侍於觀音的左側。

*黑白無常:

「生無常,而死有分」,一般人對黑白無常的印象,大多是黑無常著黑衣,白無常著白衣上,如果一旦看到黑白無常二人,就表示自己陽壽已盡,應該準備後事了。但是,在民間的一些習俗和文化中,黑白無常也不一定是如此令人害怕的。有一種說法是,如果遇到了黑白無常,只要向其乞討一些東西,日後必定是大富大貴。而且在民間的一些地方戲劇表演裡也可以發現,有時黑白無常會以財神自居,並且在頭頂高高的帽子上寫著「一見生財」。
  
________________________________________
  
***時下亦流行拜以下財神:
黃財神:
  膚色金黃,右手持寶珠,左手持吐寶蒙鼠,右腳輕踏海螺寶;可求財得財。
*白財神:
  身穿天衣,右手持寶棒,左手持吐寶鼠,騎在碧龍之上;拜者求財得順境。
*黑財神:
右手持嘎巴拉顱器,左手持吐寶寶鼠;右腳曲,左腳伸直,站在蓮花月輪之上;可求取橫財。
*財富天王:
金身金黃,頭戴寶冠,右肩為日,左肩為月,財寶無盡,右手持寶傘,左手持吐寶鼠,坐伏地的獅頭上,拜者可令財運及事業轉順。
***財神的世俗化:
  財神在民間是一個晚出的神。中國人長期處於農耕社會,對於財富的追求比較淡薄,所以長期以來財神的觀念不明確,財富的職司被賦於許多神靈,甚至於可以說是一切神靈。到了唐代未葉,過年習俗中才出現了請祿馬和財馬。古代重祿,因為得功名獲官職,便有固定的俸祿,所以財富也包括在祿中,現在財與祿同出現在民俗中,說明中國人對財的重視開始上升。財馬,也就是財神的象徵。到了明代,財神的職司才明確定在幾個神祇的身上。
  自古以來,民間的觀念,多半是所謂「君子愛財,取之有道」,或是所謂的「重義輕利」等士大夫觀念。這種想法,是在古代的封建農業社會里洐生的,或許行得通。但隨著社會的變遷,逐漸由農業社會,轉變成為工商業的社會,不同的生活方式,改變人們不同的世界觀,進一步也和宗教信仰產生了關聯性,並從農神信仰,演變成財神信仰,這無疑是與整個社會下層的經濟生產方式有關係。
  除了經濟的變遷之外,財神信仰也和市民階級的興起有關,當新生活方式來臨的時候,自然有新興的信仰產生。所以,財神信仰也就應運而產生,並逐漸和宗教信仰脫離,在民間自成一格。
  中國傳統封建觀念,有所謂的「士、農、工、商」四大階級,在這四大分類中,商人是排名最後,也是古代人最瞧不起的一類人,而「奸商」一詞,也就成為人們對於從商者最大的眨抑。
  不過,透過財神的信仰,商人把財富的追求正當化,並且合理化「無奸不成商」的行為。另外,透過宗教觀念對於人們的灌輸,也可以改變人們對於傳統商人的看法,並將逐利變得正當且有規範可循,讓商業貿易正常運作,這是財神信仰對於社會最大的貢獻。



Tài    Thần

(ÔNG  THẦN  TÀI)


Danh hiệu 「 Thần Tài 」  , xuất phát từ sách 《Tam Giáo Sưu Thần Đại Toàn 》 .
Ngài mặc áo bào của quan, màu hoàng lim và màu đỏ, phủ hết thân mình. Mặt có nhiều phước khí, hòa ái, nở nụ cười hiền từ. Tay nắm vàng khối và ngọc  như  ý, hàm ý là mang về tài vận như ý. Đây là vị thần mà tất cả mọi người đều hoan nghênh, sùng bái.
Tục ngữ có câu:- “Hữu tiền năng quỷ thôi ma” (có tiền thì có thể bắt quỷ đẩy cối xay). Tiền tài tuy là vật ngoài thân, nhưng không có tiền thì chẳng làm được gì, trên đời chẳng ai lại mong muốn mình trở thành một tên “nghèo kiết xác” cả !  
Lẽ dĩ nhiên, trên đời không ai sợ có tiền nhiều, mà chỉ sợ có ít mà thôi . Sự mong mỏi tìm cầu tiền bạc là nguyện vọng chung của tất cả loài người, từ người giàu đến người nghèo. Thần Tài mới đầu là một “Vật Thần” (thần đồ vật), nhưng sau vì nếu cho ai tiền bạc, là cho họ sự sinh hoạt tốt đẹp, nên trở thành “Thần nguyện vọng”, ngang hàng với các vị :- Hỉ, Quí, Thọ, Tử Thần. Tài Thần trở thành “Phước Thần” là vì vậy.
Sùng kính Thần Tài , có nghĩa là mong rằng thông qua việc cúng bái Thần Tài, Ngài sẽ phù hộ  cho mình được phát tài lớn. Cũng dễ nhận ra rằng, những nơi có thờ Thần Tài thì càng ngày càng giàu thêm (do làm ăn phát đạt), nên người khác dễ đặt trọn niềm tin vào Ngài. Từ thành thị đến thôn quê, nơi nào cũng có sự hiện hữu của Ngài là điều tất yếu thôi !

*Thần Tài được chia ra làm hai hạng là “Văn Tài Thần” và “Vũ Tài Thần”.
Trong sự thờ cúng của dân gian chia ra như sau:-
-Văn Tài Thần:- ba ông Phước, Lộc, Thọ--Hỉ Thần—Tài Thần—Tỉ Can—Phạm Lãi.
-Vũ Tài Thần:- Quan Vũ—Triệu Công Minh
-Chính Tài Thần:- Triệu Công Minh
-Thiên Tài Thần:- Ngũ Lộ Tài Thần—Thổ Địa Công (thiên  偏 = lệch một bên)

I.- VĂN TÀI THẦN:-

1./ Văn Xương Đế  Quân:-

Còn gọi là “Tử Đồng Đế Quân”, là  thần Bắc Đẩu Tinh, một trong những tín ngưỡng về sao của người xưa.
* Sách “Lại ký—Thiên quan thư”  chép:- “Sao Khôi phò cho sáu sao Văn Xương, một gọi là Thượng tướng, hai gọi là Thứ tướng, ba gọi là Quí tướng, bốn gọi là Tư mệnh, năm gọi là Tư trung, sáu gọi là Tư lộc”.
*Sách 《Lại Ký   Sách  /  Tác ẩn 》chú giải  Bắc Đẩu Thất Tinh là 「Văn Xương Cung 」hay 「Quí  Tướng Tinh 」coi về  văn tự , 「Tư  Mệnh Tinh 」chưởng quản về tuổi thọ con người , 「Tư  Trung Tinh 」chưởng quản tai hoạ của con người , 「Tư Lộc Tinh 」chưởng quản về  tài bạch của con người . Do đó, “Văn Xương Đế Quân” không những chưởng quản về văn học mà còn đảm nhiệm chức năng “Tài Thần” nữa. Đến đời Đường thì chức năng về văn học đã chuyển hoàn toàn cho “Khôi Tinh Gia” (sao Khuê). Văn Xương Đế Quân thành ra đảm trách chức vụ “Văn Tài Thần”.

2./ Tài Bạch Tinh Quân :-

Có thuyết cho rằng Tài Bạch là một trong 28 vì sao , chức trách của sao đó là “Tư Tài” (quản lý tiền), được cổ nhân sùng bái.
“Tài bạch Tinh Quân” còn gọi là “Tăng Phước Tài Thần” có hình tượng là một vị đại quan, mặt trắng, đầu đội mão Tể Tướng, có năm chòm râu dài. Mình mặc hồng bào, thắt dây lưng Ngọc Đái. Tay thường cầm bảng “Thiên Quan Tứ Phước”. Về lai lịch của Ngài  là Tứ Phước thiên quan , thuộc về Tam Quan của Đạo Giáo, là chỗ mà sách Hồng Phạm gọi là Ngũ Phước “Nhất nhật thọ, nhị nhật phú” (ngày một thọ, ngày hai giàu). Còn trong các hình tượng về Tài Thần ở miền Bắc thường vẽ ông Thần Tài có thêm câu “Tăng Phước Tài Thần”.
-Có thuyết cho rằng Tài Bạch chính là Thái Bạch Kim Tinh, chuyên môn coi về tài lộc của nhân gian. Tướng mạo hiền hòa, mặc áo gấm thắt ngọc đái, tay cầm bảng “Chiêu tài tấn bửu”, tay cầm vàng khối. Có cầu tất có ứng, đây là sở vọng của tất cả thiện nam tín nữ. Khi cúng, phải đặt Văn Tài Thần quay mặt vô trong nhà, ý nói là “đưa tiền bạc vào cho người trong nhà”, nếu đặt sai (quay ra) thì tiền bạc sẽ theo ra ngoài hết !

3./  Phúc  Lộc Thọ Tam Tinh :-

Phúc tinh tượng trưng cho con trai con gái đều được thịnh vượng, có hòa khí tốt, hưởng phước lâu dài. Thọ tinh tượng trưng cho sức khỏe tốt và trường thọ, không đau không nạn. Lộc tinh thì mong cho chủ gia được thêm tài lộc, gia quan tấn tước, có cầu có ứng. Lẽ ra  thì cầu tài chỉ cần thờ ông Lộc, nhưng vì xưa nay ba ông Phúc, Lộc, Thọ là một chỉnh thể, không tách ra được. vã lại, nếu được cả ba thứ phúc, lộc, thọ thì chẳng phải là quá tốt hay sao ?
Cách cúng thì giống như cúng Tài Bạch Tinh Quân, tức là quay mặt vào nhà…

4./ Tỷ Can :-

Trong 《Phong Thần Diễn Nghĩa 》:Tỷ Can   là một trong ba vị trung thần hạng nhất của vua Trụ, bị Đát Kỷ mưu hại chết bằng cách bảo rằng phải cần “trái tim” người để làm thuốc cho vua. Khi Khương Tử Nha phong thần, nhận ra là ông Tỷ can không có trái tim tức là “vô tâm”. Mà đã vô tâm thì không có chuyện “tư tâm” (tâm riêng tư) cho mình, nên phong thêm chức vụ “Tài Thần”.
Trong dân gian lại có thêm truyền thuyết là vì xưa kia con cọp đen  của Triệu Công Minh cỡi , đã dùng móng của nó moi bụng Tỷ Can để tìm trái tim, nên bụng của ông biến thành màu đen, cho nên Tỷ can không tâm chẳng thể làm việc bình thường, lúc có lúc không, khiến cho việc ban phát tiền bạc của ông cho con  người không đều đặn, sanh ra  có  người  giàu, có người  nghèo là vậy !

4./ Phạm Lãi :-

Trong 《Đông Chu Liệt Quốc Chí 》:Phạm Lãi đã giúp cho  Việt Vương Câu Tiễn trung hưng phục quốc , nhưng ông cũng biết rằng, Câu Tiễn là người chỉ có thể “cùng chung hoạn nạn” chứ không thể “cùng chung phú quí”, nên gấp rút xin lui về dân. Sau đó, sang nước Tề để ẩn cư.
Phạm Lãi khisang nước tề, đã cải tên lại là “Chi Di Tử Bì”, cùng với con siêng năng làm việc nhiều năm trở thành người có tài sản thiên vạn. Vua tề vốn ngưỡng mộ ông, cho mời ông về triều làm Tể Tướng, nhưng ông quyết từ chối. Vì thế, ông lại phải bỏ hết tài sản tiền bạc mà  chạy trốn nơi khác. Ông nhận thấy nơi mới đến có đường giao thông thuận lợi cho việc  mua bán, nên  kinh doanh thương nghiệp. Chẳng bao lâu trở thành một “đại phú gia” xưng là Đào Chu Công.
Phạm Lãi có khả năng làm ra tiền dễ dàng, nhưng lại không quá coi trọng đồng tiền, dám từ bỏ tài sản một cách không tiếc nuối. Như vậy, đối với ông thì vinh hoa  phú quí chẳng phải là cứu cánh cho cuộc sống. Quan niệm nầy rất phù hợp với truyền thống “trọng nghĩa khinh tài” của người Trung Quốc. Do đó, Phạm Lãi được dân gian tôn xưng là “Văn Tài Thần”.


II.- Vũ Tài Thần :-

1.-TRIỆU CÔNG MINH :

Còn gọi là “Trung Lộ Tài Thần”, ngày vía là rằm tháng ba âm lịch (ngày sinh)
Trong “Phong Thần Diễn Nghĩa” thuật lại, thì Khương Tử Nha không có phong cho Triệu Công Minh là Tài Thần mà phong làm 「Kim Long Như Ý Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chân Quân 」, là Nguyên Soái , thống lãnh bốn vị tiên「Chiêu Bảo Thiên Tôn Tiêu Thăng 」、「Nạp Trân Thiên Tôn Tấn Bảo 」、「Chiêu Tài Sứ Giả Đặng Cửu Công 」、「Lợi Thị Tiên Quan Diêu Thiểu Tư  」
Những vị nầy  có chức năng ban phước lộc và điều lành tốt cho những người trong giới buôn bán, vì có những tên “đẹp” như:- Chiêu Bảo, Nạp Trân, Chiêu Tài, Lợi Thị, là những thuật ngữ rất tốt đẹp cho công việc mua bán kinh doanh. Mà những vị nầy lại là thuộc hạ của Triệu Công Minh, tất nhiên ông phải được tôn xưng là đúng thôi !
Đến đời nhà Minh, ông Hứa Trọng Lâm có viết quyển sách , trong đó chính thức nêu lên Triệu Công Minh là Tài Thần của dân Trung Quốc. Điều nầy được mọi người chấp nhận, vì những tên của bốn vị thuộc hạ của ông rất phù hợp với lòng mong mỏi của mọi người :- “chiêu bảo (gọi vật quí), nạp trân (thu vật báu), chiêu tài (gọi tiền về), lợi thị (buôn bán có lời). Từ đó, dân gian tôn bốn vị tiên nầy cộng với thủ lãnh Triệu Công Minh thành năm người, gọi là “Ngũ Lộ tài Thần”.
Thêm nữa, dân gian cho rằng Triệu Công Minh bị bắn trúng con mắt và thủng tim mà chết, nên gọi là “Tài Thần Gia Vô Nhãn Vô Tâm” (Ông thần tài không có tim không có mắt, tức là người mù), vì thế mới có chuyện thực tế là , có người tốt mà không giàu, người giàu chưa hẳn đều tốt v.v..Lý luận nầy xem ra cũng có chút ít cơ sở vậy !
*Trong sách “Sưu Thần Ký”, Triệu Công Minh thuộc về Ôn Thần (thần gây bệnh ôn dịch), là một trong ba vị thiên thần xuống trần gian để coi sóc về tính mạng con người, nên tôn xưng là “Triệu Huyền Đàn”, “Triệu Nguyên Soái” hay”Triệu Tướng Quân”, chưởng quản “khí” ngũ phương của các vị thần.
Danh hiệu của Ngài có rất nhiều, như là :-  :「Cao Thượng Thần Tí  Ngọc Phủ Đại Đô Đốc 、Ngũ Phương Tuần Sát Sứ 、Cửu Châu Xã Lệnh  、Đô Hạ Đề Điểm 、Trực Điện Đại Tương Quân 、Chủ Linh Lôi Đình Phó Nguyên Soái  、Bắc Cực Thị Ngự Sử 、Tam Giới Đại Đô Đốc 、ứng Nguyên Chiêu  Liệt Hầu 、Học Sĩ Định Mệnh Thiết Trướng Sứ 、Nhị Thập Bát Tú Tổng Quản 、Thượng Thanh Chính Nhất Chi Đàn Phi Hổ Kim Luân Chấp Pháp Triệu Nguyên Soái  」.

*Ngoài ra, Triệu Công Minh còn được gọi là “Hàn Đan Gia” là một “Thần Lưu Manh” vì lúc còn trẻ, ông đã gây  tạo không biết bao nhiêu là tội lỗi, làm những việc sái quấy không chừa gì cả.  Về sau, ông hối cải ăn năn , muốn chuộc lại tội lỗi đã gây  ra lâu nay. Ông cởi hết quần áo, tình nguyện vào đêm Nguyên Tiêu, để cho nhân dân đốt pháo trên thân ông tan nát, với tâm nguyện cầu mong cho làng xóm tránh khỏi những tai họa trong tương lai. Ông chịu chết như thế nên dân chúng cảm phục, tôn thờ ông làm thần.

2.- QUAN CÔNG :-

Tên là Quan Vũ, hoặc tôn xưng là Quan Thánh Đế Quân hay Quan Thánh Đại Đế  .
Sở dĩ, Ngài được nhân dân tôn thờ là nhờ trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã đề cao tinh thần trung hiếu tiết nghĩa của một võ tướng lừng danh. Thật ra thì giữa bản thân ông và tiền bạc chẳng có quan hệ gì đặc biệt lắm. Việc ông được ca tụng và thần thánh hóa là do sự trung trinh là chính, nói lên tinh thần cốt lõi của văn hóa Trung Quốc. Còn việc ông được gán ghép vào Tài Thần là do vào thời kỳ Minh Thanh, xã hội có nhiều thay đổi trong sinh hoạt, chủ nghĩa tư bản đã phát triển, một số Công Hội hoặc Thương Hội , Hành Hội đa số chọn Quan Công để thờ, vừa là Thần Bảo Hộ vừa là Thần Tài. Để hợp thức hóa, họ thành lập các hội quán mang tên  “Hội Quán Quan Đế” hay “Hội Quán Thần Tài” để dễ quan hệ bàn bạc công việc làm ăn.Sở dĩ các hội quán nầy tồn tại và phát triển nhiều là do lúc trước chưa có những qui chế, qui ước nên mạnh ai nấy kinh doanh theo ý nghĩ sáng kiến của cá nhân, từ khi có Hội Quán, mới đề ra những nội qui thống nhất, tránh được sự cạnh tranh thiếu lành mạnh ngày trước. Đó là nguyên do chủ yếu của việc thờ Quan Công làm Tài Thần.
Ngoài ra, cũng có thuyết nói rằng, thưở sinh tiền, Quan Công rất giỏi việc điều hành quản lý tiền bạc, đã từng phát minh ra “Nhật Ký Thu Chi” cho việc sổ sách kế toán được rõ ràng chính xác. Nội dung nó gồm các khoản “Nguyên” (gốc), “Thu”,   “Xuất”, “Tồn” ghi chép rõ ràng, cập nhật kịp thời. Vì thế, giới thương gia đời sau tôn Ngài làm Tài Thần là vậy.
*Thời cận đại, cộng đồng người Hoa ở hải ngoại rất tôn trọng và thờ kính Quan Công. Miếu thờ Ngài hiện diện khắp nơi có người Hoa trên thế giới. Thâm ý của họ là vì Ngài là đại biểu cho nguồn gốc văn hóa Trung Quốc, là vị Thần bảo Hộ của dân tộc, tượng trưng cho sự bảo tồn trật tự đạo đức  xã hội. Sau hết, Ngài còn là Thần Tài bảo hộ cho việc làm ăn sinh sống của cộng đồng người Hoa ở ngoài nước.

III.-  Thiên Tài Thần :

Còn gọi là “Tư Nghĩa”, vì là cách kiếm tiền ngoài con đường chính thống mà có, nên gọi là : “Thiên Tài” (tiền bạc lệch một bên). Gồm có:-   
  
1.- Thổ Địa Công :-

Việc thờ phụng “Thổ Địa Công” làm Thần Tài chủ yếu là  do Ngài chưởng quản đất đai, phương  tiện để sinh dưỡng muôn vật. Bởi vì, ngày xưa trong xã hội nông nghiệp thuần túy, con người ngày ngày ăn cơm xong là ra ruộng đất làm việc, lòng luôn mong mỏi được mùa vụ. Việc trúng hay thất vụ là quyền ban thưởng hay trừng phạt của Thổ Địa Công, nên phải thờ phụng Ngài để được phù hộ là lẽ tất nhiên. Sự báo đáp của nông dân đối với Ngài rất đậm đà tình cảm vừa kính trọng vừa thân thiết, thể hiện bằng hành động đem treo những “Thổ Địa Công Kim” (vàng khối bằng giấy tiền) la liệt ở ruộng vườn để cúng Thổ Địa. Mỗi năm hai lần vào Xuân Kỳ và Thu Báo (xem bài Thổ Địa Công).
*Ngày mùng hai tháng hai âm lịch là ngày đản sanh của Phước Đức Chính Thần, dân gian nơi nào cũng hết sức cầu bái cúng tế Ngài, nói lên ý nghĩa dân gian xem Ngài là vị Thần Tài hạng nhất rồi !
*Một ý khác nữa là, sở dĩ Thổ Địa được tôn là Thần tài là bởi vì niềm tin vào Ngài là vị “Phước Đức Chính Thần”, có thể mang lại sự bình an và “sinh ý hưng long” (mua may bàn đắt). Thương gia theo lệ, hàng tháng vào ngày mùng hai và mười sáu, sắm sửa bông trái để tự cúng tạ Ngài. Ý nghĩa việc cúng nầy là hai điều :- “Tố Nha” (làm mai mối rước khách) và “Nhạ Phước” (tiếp đón điều phước) do Thổ Địa Công ban cho. Từ nông chuyển  qua thương, cũng vẫn giữ nguyên sự tôn kính Ngài  là việc bình thường.

2.- Ngũ Lộ Tài Thần :-

Trong dân gian có nhiều thuyết nói về Ngũ Lộ Tài Thần. Một thuyết nói Ngài tên là Hà Ngũ Lộ, một thuyết nói rằng Ngài là con thứ năm của Dã Vương triều đại nhà Lương hay Trần. Khi chết được phong làm “Ngũ Hiển Thần”, bị người đời đọc trại ra thành Ngũ Lộ Thần. Một thuyết khác thì nói, Ngũ Lộ Thần không phải là tên của một người, mà là tên hiệu chung cho cả năm người . Nói về năm người thì cũng có hai giả thuyết:
-một cho rằng tên của năm người là “Đỗ, Thượng, Hoa, Trần, Tôn”, là năm người sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm.Ngày nọ năm người tình cờ gặp nhau ở Hàng Châu, rồi đốt hương kết làm anh em bạn bè nhau. Năm người nầy hợp tác làm ăn với nhau, đến Miếu Quan Âm cúng bái khẩn nguyện phù hộ, được đức Quan Âm giúp cho công việc làm ăn thuận lợi, nên về sau năm người xây dựng một ngôi Chùa Quan Âm đồ sộ để tạ ơn. Sau khi chết, năm người nầy được tôn làm “Ngũ Lộ Tài Thần”
-một thuyết khác nói rằng, tên của năm người là “Đường, Lưu, Trương, Cát, Lý”, lúc sinh tiền là năm tên “giang dương đại đạo” (cướp ở sông biển), nhưng lại đem số tiền cướp được phân phát hết cho dân nghèo các nơi. Sau khi chết, được nhân dân xây miếu thờ, xưng tụng năm người là “Ngũ Lộ Tài Thần” hay “Ngũ Hiển Tài Thần”.
*Có thuyết thì  lấy Triệu Công Minh và bốn vị thủ hạ tôn làm “Ngũ Lộ Tài Thần” như trên đã nói.
*Trong dân gian lại tôn Ngũ Lộ Tài Thần là các vị:- Thổ Địa Công, Mã Vương Gia (hay Ngưu Vương Gia), Tiên Cô, Tài Thần và Định Phước Tao Quân.

3.- Lợi Thị Tiên Quan :-

Trong tín ngưỡng về Thần tài của dân gian, thì “Lợi Thị Tài Thần” ít được lưu ý và không có nguồn gốc hay truyền thuyết nào đáng ghi. Nói về phương diện nầy, chúng ta cầ lưu ý nhiều đến các vị “Chính Tài Thần” hơn vì có nguồn gốc và lịch sử hay truyền thuyết, còn “Lợi Thị Tiên Quan” thì xếp vào “Thiên Tài Thần” thì không nhất định phải có lịch sử. Xét cho cùng, thuật ngữ “lợi thị” (Q Đ: lì-xì) là câu cửa miệng của mọi người, nhất là giới thương buôn đời Tống, Nguyên. Từ đó, biến thể dần thành ra “Lợi Thị Tài Thần” vậy thôi !
Từ “Tiên Quan” là thuật ngữ của Đạo Giáo, còn từ “Lợi Thị” có lẽ xuất phát từ câu ngạn ngữ “Lợi thị tam bội” (chợ lời gấp ba) , rút lại là lợi thị mà thôi. Trải qua nhiều thời đại,dần dần dân gian đã nhân cách hóa và  thần thánh hóa một “câu nói” thành ra nhân vật “lão bà” thành ra “Lợi Thế Bà Quan” (quan bà làm lợi cho đời). Đến đời Minh, tôn xưng  “Lợi Thị Tiên Quan” thành “Diêu Nhiễu Ích” (tên người, họ Diêu là con cháu vua Thuấn) hay “Diêu Thiểu Tư”. Gần đây, thì được dân gian tưởng tượng vẽ ra hình để thờ. Đó là sự chuyển hóa tự nhiên của tính sùng bái “ngẫu tượng” lâu đời của người Trung Hoa vậy.

4.- Chiêu Tài Đồng Tử  :-

Theo tập tục cho rằng tiền thân của “Thiện Tài Đồng Tử” (phò đức Quan Âm) trong Phật Giáo,  chính là “Chiêu Tài Đồng Tử”. Hai chữ “thiện tài” thực ra có nghĩa là “thiện ư lý tài” (khéo léo việc quản lý tiền bạc). Nhưng dân gian đã thế tục hóa dần, thành ra có liên hệ đến “Chiêu tài tiến bảo”.
Trong Kinh Phật chép:- “Khi Thiện Tài Đồng Tử sinh ra, trong phòng bổng nhiên xuất hiện nhiều đồ vật quí giá, vì hiện tượng đó nên đặt tên Thiện Tài. Nhân vật Thiện Tài nầy tuy có vô số đồ vật quí báu, nhưng ông ta sớm nhận ra muôn vật đều không, chỉ phát lời thệ nguyện tu thành Phật đạo. Trải qua ngàn cay muôn đắng của các cuộc thử nghiệm, ông đã thành Phật theo đúng nguyện vọng, là nhờ Phật Quan Âm giáo hóa thành Bồ Tát, hiện ra thân đồng tử, đứng ở bên trái  của đức Quan Âm.

5.- Hắc Bạch Vô Thường :-

Thế gian thường hay nói câu:- “Sanh không biết kỳ nhưng chết thì có thời hạn”. Quan niệm về Hắc Bạch Vô Thường  là Hắc Vô Thường mặc áo đen, Bạch Vô Thường mặc áo trắng. Một khi nhìn thấy hai ông quỷ nầy thì chắc chắn dương số đã hết, chuẩn bị lo việc hậu sự là vừa !
Nhưng trong dân gian cũng có truyền tụng một giai thoại lý thú khác là, Hắc Bạch Vô Thường không hẳn hoàn toàn mang ý nghĩa chết chóc cho con người đâu, trái lại còn mang đến những lợi lộc “phi thường” là đàng khác. Họ bảo:- “Khi nhìn thấy hai vị Vô Thường nầy, cố gắng đừng sợ hãi, mà theo khẩn khoản năn nỉ xin cho kỳ được “bất cứ một vật gì”. Nếu được, thì chắc chắn về sau sẽ trở thành “đại phú quí” !
Không biết thực hư thế nào nhưng người ta lại thấy trên bàn thờ của những đoàn hát kịch nghệ, có thờ hai vị vô thường nầy chung với Thần Tài. Đặc biệt  là trên mão của hai vị vô thường có viết câu “Nhất Kiến Sinh Tài” (một lần gặp là có tiền).

IV.- NHỮNG HÌNH TƯỢNG THẦN TÀI ĐANG ĐƯỢC THỜ PHỤNG:-

1./HOÀNG TÀI THẦN:- Da có màu hoàng kim, tay phải cầm bảo châu, tay trái cầm “con chuột nhả ra ngọc báu” (thổ bảo mông thử), chân phải đạp nhẹ lên đống bảo vật ốc biển. Hiệu nghiệm là “Cầu tài liền  được tài”.

2./-BẠCH TÀI THẦN:- Mình mặc thiên y (áo trời) , tay phải cầm châu báu, tay trái cầm “con chuột nhả ra ngọc báu” (thổ bảo mông thử). Cỡi con rồng xanh biếc. Người cúng lạy sẽ được thuận lợi trong việc cầu tài.

3./-HẮC TÀI THẦN:- Tay phải cầm khí cụ tên “Ca ba lạt lô” (?), tay trái cầm “con chuột nhả ra ngọc báu” (thổ bảo mông thử). Chân phải co lại, chân trái duỗi thẳng, ngồi trên “mặt trăng có hình hoa sen”. Hiệu nghiệm về “cầu hoạnh tài”.

4./-TÀI PHÚ THIÊN VƯƠNG:- Thân sắc vàng, mặc áo hoàng kim, đầu đội mão quí. Vai phải có mặt trời, vai trái có mặt trăng, có  tài bảo vô tận. Tay phải cầm cây dù báu, tay trái cầm “con chuột nhả ra ngọc báu” (thổ bảo mông thử). Ngồi trên đầu con sư tử. Hiệu nghiệm là chuyển biến tài vận và sự nghiệp từ khó khăn trở thành thuận lợi.


V.- SỰ THẾ TỤC HÓA THẦN TÀI:- 
 
Tài Thần là một vị thần xuất hiện sau nhất của tín ngưỡng dân gian, bởi vì trong xã hội nông nghiệp xưa của Trung Quốc, nhu  cầu về tiền bạc ít được cho là quan trọng. Cho nên trải qua thời gian dài, quan niệm về Thần Tài không nổi bật so với những vị Thần khác (như Thần Đất chẳng hạn). Đến cuối đời nhà Đường, mới thấy xuấ hiện hai hình tượng là “lộc mã” (ngựa lộc) và “tài mã” (ngựa tiền). Đời xưa người ta trọng về “lộc” nhiều hơn, bởi vì khi có được công danh hay quan tước , là có những bỗng lộc nhất định rồi. Như thế là tiền bạc đã nằm trong “lộc”.
Ngày nay, hai quan niệm về “tài” và “lộc” mới tách biệt ra. Và “tài” được xem trọng dần lên. Hình tượng “tài mã” đã nói lên sự thăng tiến về “tài” trong quan niệm quần chúng. Sau đời Minh thì Thần tài mới chính thức hiện diện trong danh sách các vị thần minh.
*Từ xưa đến nay, quan niệm dân gian đa số cho rằng “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo” (cách kiếm tiền của người quân tử là phải phù hợp với đạo đức). Hoặc mạnh hơn “Trọng nghĩa khinh lợi (tài)” (xem cái nghĩa nặng hơn cái lợi (tiền)) của những sĩ đại phu thường nói. Sở dĩ có sự thay đổi về quan điểm nhận thức đối với tiền, là vì xã hội đã biến chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp thương nghiệp. Phương thức sinh hoạt thay đổi dẫn đến  quan niệm thay đổi là điều tất yếu. Từ coi trọng “Nông  Thần” chuyển sang coi trọng “Tài Thần”. Sự kiện nầy chứng minh “hạ tầng kinh tế” chuyển đổi “thượng tầng tinh thần” là thế !
*Ngoài yếu tố thay đổi về phương thức kinh tế, tín ngưỡng về Tài Thần còn do thay đổi về sinh hoạt đời  sống. Nhu cầu trao đổi về tiền trở nên cụ thể và phổ biến khắp mọi nơi, nảy sinh ra tín ngưỡng Tài Thần của tâm lý dân gian, không phải xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo như các vị thần khác.
*Quan niệm phong kiến truyền thống nêu lên giai tầng xã hội là “Sĩ, Nông, Công , Thương”, trong đó “Thương” được xếp sau chót. Điều đó cho thấy sự xếp loại giá trị về người làm nghề  mua bán bị đánh giá thấp. Thuật ngữ “gian thương” không phải bây giờ mới có , mà đã hình thành từ thưở xa xưa rồi, thể hiện tính châm biếm mỉa mai nghề “thương” rất rõ.

*Giá trị cống hiến của tín ngưỡng về Thần Tài chỉ thực có giá trị khi mọi người hiểu thấu đáo về những nhân vật tiêu biểu của Tài Thần, đều là những người có đạo đức, có thiện tâm. Từ đó, xóa bỏ quan niệm “Vô gian bất thành thương” (không gian lận thì không thành mua bán).
Được vậy, chúng ta mới có được một xã hội mà sinh hoạt mậu dịch thương mại phát triển song song với đạo đức chân chính, với sự tiến bộ theo hướng tốt lành của con người.

*Nhược  Thủy  dịch
(từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])

(còn tiếp )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quanthanh, PaM, SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac, phaolon
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 22, 2008, 01:47:44 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
PaM
Khách
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Bảy 31, 2008, 08:38:22 AM »

Đa tạ bác NT . Pam vừa in Thần thánh TRung Hoa ra thành sách đọc đây.
Kính bác.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, dailuc
Logged
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Bảy 31, 2008, 09:07:11 AM »

Cám ơn PaM ,
Tài liệu nầy thực ra là trước nay chưa có vị nào chịu khó dịch, nên tôi cố gắng làm, giúp cho người sau có tài liệu tham khảo để biết thêm nhiều chi tiết, sự kiện, nhất là "DANH HIỆU" của những vị nầy.
*Có lẽ tôi sẽ thông qua phần của các vị khác , ít phổ biến ở Việt Nam như:-
-Thái Âm nương nương.
-Chú Sanh nương nương
-Quảng Trạch Tôn Vương
-Nam Cực Tiên Ông (bài nầy không có gì hay)
-Viêm Đế
-Khai Chương Thánh Vương
-Hỏa Đức Tinh Quân
-Đông Nhạc Đại Đế
-Thanh Thủy Tổ Sư
-Tam Sơn Quốc Vương
-Lữ Đồng Tân
-Thương Hiệt
-Tam Thái Tử
-Nguyệt lão
-Pháp chủ công
-Tế Công Phật sống
-Khôi Tinh
-Hòa Hợp Nhị Tiên
-Môn Thần
-Thất Nương Má Má
-Sàng Má
v.v...

vì những nhân vật nầy người Việt ít biết và ít thờ.
Tôi sẽ dành thì giờ để dịch quyển "Gia Cát bí bản thần số" gồm 384 quẻ của Khổng Minh có lẽ cần hơn.
Sau nầy, lúc nào thuận tiện, tôi sẽ dịch thêm những phần vừa nêu cho trọn quyển sách.
Thân mến.

*Nhược  Thủy

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Tám 01, 2008, 11:06:45 AM »

(tiếp theo)

THÀNH  HOÀNG


(Hộ Quốc Thành Hoàng)

城隍

  城隍兩字原意為護城河,「城」指城郭,「隍」指沒有水的護城壕,有水稱池,無水稱隍,所以城隍原指城郭河溝而言。
  由於「城隍」對地方的安全意義重大,故「城隍」逐漸神格化,成為「保衛城池之神」、「護城之神」,其任務是在天災、兵亂時保護城池和居民的,是城市的守護神,後來又隨時代俗流所影響,漸漸加重他的職事,如:祈雨、求晴、招福、穰災等等,無形中兼管地方冥籍,賞善罰惡,為冥府派駐陽間之地方冥吏。在民眾心目中,城隍爺是陰間的司法官,可以彌補人間司法的漏洞,因此備受百姓崇祀。原始崇拜認為,凡與人們日常生活有關的事物都有神在。城池在過去擔負起人們的身家性命及財產的安全,有大功於民,當然受到百姓的崇拜。
  由此可見,「城隍爺」是城市居民的膜拜對象,而土地公及神農氏則是農民的膜拜對象。由此可知,「城隍爺」是城市出現以後才產生的神祇,故他的年紀及輩份要比「土地公」、「神農大帝」小的多。但「土地公」管理範圍小,「城隍爺」管理範圍大,因而責權方面則比「土地公」大(城管鄉)。
  正式專祀「城隍爺」,應始於北齊。當時戰亂頻繁,「城池」極易得失,地方守護神的權力、威望、神通等等自然極其重要,「城隍」的地位因而大大提高了。到唐朝愍帝時,全國各城市普遍有了城隍廟之建築,並予以敕封。
  到明太祖朱元璋執政後,依人間之行政區域劃分而分等級敕封:掌管全國者封為「天下都城隍」,其職爵級為王;掌管一省封為「都城隍」,爵級亦為王(京師城隍為明靈王);掌管一府封為「府城隍」,爵級為公;掌管一州者封為「州城隍」,爵級為侯,稱「靈應侯」、或「綏靖公」;掌管一縣者封為「縣城隍」,爵級為伯,稱「顯佑伯」。從此,民間對城隍爺之崇拜就普及到全國每個角落。傳統上,每個地方的縣城中心座南朝北,都建有一座城隍廟,城隍爺端坐其中,掌管一縣的大小事情。到清朝時,有些較大的市鎮也建了城隍廟。
  城隍爺既為幽冥界的地方官,自然設有許多部門及屬僚,以掌司法及警察。一般城隍爺下設六部司:延壽司、速報司、糾察司、獎善司、罰惡司、增祿司,通常稱為「六官」,或稱「六神爺」,他們的職司和官名相同。除司之外,還有文、武兩判官及牛爺、馬爺、枷爺、鎖爺等四爺。此外還有范無救、謝必安兩將軍,一般稱之為謝七爺、范八爺,協助城隍爺懲奸除惡。
  「城隍」既是「神職」,城隍爺與其他神靈不同,並非由一人專任,民間傳說中常說及某地某人生前正直高尚,死後被玉帝任為某城城隍,說明一個道理:城隍爺必須是正直無私者,貪贓枉法徇私者無資格成為地方尊神。而「城隍爺」絕大多數是文人打扮。城隍廟有以下的門聯:
  「別看我廟小神小,不來燒香,瞧瞧;
   那任他官大勢大,若要作惡,試試。」
  「任憑你無法無天,到此孽鏡高懸,還有膽否?
   但知我能寬能恕,且把屠刀放下,回轉頭來。」
  清朝時地方官赴任之際,都會先到當地的城隍廟來參拜,告知城隍自己的到任。許多地方官對於不肯認罪的犯人,會將之帶到城隍廟去,要求於神前立誓。也有地方官遇到難以判決的疑案時,也會在夜裏自行到城隍廟參籠(圓夢),請求城隍在睡夢中給予指示,由此可見城隍爺在古代的司法體系中扮演的重要角色。
  城隍爺因為是陰間的地方官,因此在中國的三大鬼節(清明、中元、十月朔)都有城隍出巡的事,稱為「巡查」、「迎神」又叫「出會」,據說可保閤境平安。





(Miếu Thành Hoàng ở Thượng Hải)

________________________________________
* 七爺八爺:

七爺、八爺是城隍等寺廟不可或缺的要角。凡是城隍出巡賽會,必為行列的最前端。七爺八爺又叫長爺短爺(高爺矮爺),又叫黑白無常鬼,習慣上又稱為謝、范二將軍,從祀在城隍廟,專押解人犯去神祗前審判。
七爺姓謝,名必安,因為他身高臉黑,所以有長爺及黑無常的稱呼。八爺姓范,名無救,因為他身矮臉白,所以又稱為短爺及白無常。
據說,他們都是中國福建閩縣人,自幼結義,情同手足。有一天,相偕走至南台橋下,天將下雨,七爺要八爺稍待,回家拿傘,豈料七爺走后,雷雨傾盆,河水暴漲,八爺不愿失約,竟因身材矮小,被水淹死,不久七爺取傘趕來,八爺已失蹤,七爺痛不欲生,吊死在橋柱。閻王爺嘉勛其信義深重,命他們在城隍爺前捉拿不法之徒。
另傳范、謝兩位將軍是唐朝人,安祿山叛變,唐明皇遠避西蜀,張巡、許遠死守睢陽。張巡派范、謝兩將出城求援,謝必安受擒,被吊死城頭,范無救不慎溺水而死。後來睢陽城兵疲糧盡,而告失守,張巡、許遠死後被封為城隍爺,范、謝兩人就成為身旁的護衛將軍。
有人說,謝必安,就是酬謝神明則必安,范無救,就是犯法的人無救。

* 陰陽司公:

陰陽司公,是城隍爺的部下,全身一分為黑白兩部分,陰森可怖的樣子,產生除惡安良的震攝作用。
陰陽司公掌管民間善惡功過,兼管陰府鬼魂,因而他在民間信仰中,是一位獎善懲惡、賞罰分明的神,對心存為非作歹、欺善精私的不良分了,自然發生了嚇阻作用。
他那一半白一半黑的臉孔、神熊萬丁,使人不寒而懍,心生畏懼,他能查出你一生的操守功過,亞懲惡罰,使人們做一個恪守倫理首德的其長的百姓。陰陽司公大都禮祀在城隍廟,也有一部分寺廟,單獨配祀陰陽司工。

* 文判官、武判官:

「文判官」負責調查人民品德善惡和夭壽,并作成判決書。「武判官」就是在文判官判決之后,負責執行犯人應得的罪行。
文判官,通常是溫文儒雅的樣子,大筆一揮,許多鬼魂的命運,就從此設定。武判官,手執狼牙棒,一副要痛懲惡人的模樣
  
*DỊCH:-

THÀNH  HOÀNG
  
Hai chữ THÀNH  HOÀNG , nghĩa đen là cái hào  bao quanh để hộ vệ một cái thành. “Thành” là chỉ cho thành quách, “Hoàng” là cái  hào không có nước để hộ vệ cho thành. Có nước thì gọi là “trì” (ao), không có nước thì gọi là “Hoàng”. Như vậy, xuất xứ hai chữ Thành Hoàng là có ý nói đến sông rạch bao quanh thành quách.
Do “thành hoàng” có ý nghĩa trọng đại đối với sự an toàn của một thành (tức là  một địa phương), nên Thành Hoàng  dần dần được thần cách hóa , trở thành “Thần bảo vệ thành trì” hay là “Thần hộ vệ thành”. Nhiệm vụ của Thành Hoàng  là bảo hộ thành trì và cư dân khi bị thiên tai hay loạn lạc, là Thủ Hộ Thần của thành thị. Về sau , trải qua nhiều thời đại, Thành Hoàng  được gán thêm những nhiệm vụ khác như:- cầu mưa, cầu  tạnh ráo, ban phước, giải trừ tai nạn v.v…Vô hình trung trở thành ông quan vô hình cai quản địa phương, có thể thưởng thiện phạt ác, là ông quan do Minh Phủ phái đến dương gian để cai quản dân tình.
*Trong con mắt cùa dân chúng, Thành Hoàng  Gia là  vị Pháp Quan của cõi âm, có thể bổ sung cho những thiếu sót của Pháp Quan dương thế. Do đó mà được bá tánh sùng kính thờ phụng.
Điều sùng bái trước tiên là tất cả những gì liên quan đến sinh hoạt của dân chúng địa phương đều có thần chứng giám, tỏ biết hết. Thành Hoàng  cũng có khả năng bảo hộ tính mệnh và tài sản của dân làng. Như thế chẳng phải là có công lớn với nhân dân, đáng được mọi người tôn thờ cúng kính sao ?
*Từ đó, ta có thể nhận ra rằng, Thành Hoàng  Gia là đối tượng sùng bái của cư dân thành thị, Thổ Địa Công, Thần Nông là đối tượng sùng bái của nông dân. Điều nầy cho phép ta rút ra kết luận là Thành Hoàng  thành hình do dân thành thị mà có. Nếu xét về mặt niên kỷ, thì Thành Hoàng  có tuổi kém hơn Thổ Địa Công và Thần Nông rất xa. Nhưng phạm vi quản lý của Thổ Địa Công lại nhỏ hơn của Thành Hoàng  , vậy thì ta có thể nói rằng quyền hạn và chức trách của Thành Hoàng  lớn hơn của Thổ Địa.
*Lịch sử cho thấy, thuật ngữ Thành Hoàng Gia chính thức có từ thời Bắc Tề. Đó là giai đoạn đang chiến loạn dữ dội, “thành trì” rất khó bảo vệ, thành thử quyền lực, uy vọng và thần thông của Thần Bảo Hộ trở nên hết sức trọng yếu. Địa vị của Thành Hoàng  lần lần trở nên được đề cao thêm. Đến thời kỳ vua Mẫn Đế đời Đường, thì cả nước đâu đâu cũng xây dựng Miếu Thành Hoàng  , lại được nhà vua sắc phong tử tế.
*Đến thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương chấp chánh, thì cứ theo cách tổ chức hành chánh của đất nước mà sắc phong. Ví dụ:- coi sóc cả nước thì phong làm “Thiên Hạ Đô Thành Hoàng”, có chức “Vương”, coi sóc một tỉnh thì phong làm “Đô Thành Hoàng”, cũng ở chức “Vương” (Thành Hoàng  của kinh sư là Minh Linh Vương), coi sóc một Phủ thì phong làm “Phủ Thành Hoàng”, có chức “Công”, coi sóc một châu thì phong làm “Châu Thành Hoàng”, có chức “Hầu”, xưng là “Linh Ứng Hầu” hoặc “Tuy Tĩnh Công”, coi sóc một huyện thì phong làm “Huyện Thành Hoàng”, có chức “Bá”, xưng là “Hiển Hữu Bá”.
*Từ đó, sự sùng bái Thành Hoàng   trong dân gian được phổ biến rộng khắp nước. Bất cứ Huyện thành nào trong nước, cũng xây một Miếu Thành Hoàng, tọa Nam triều về Bắc. Trong miếu có vị Thành Hoàng  đoan tọa, chưởng quản mọi việc lớn nhỏ trong toàn huyện. Đến đời nhà Thanh thì phát triển xây miếu Thành Hoàng  tại các thành phố lớn.

*Thành Hoàng Gia đã là một vị quan địa phương thuộc U Minh Giới, dĩ nhiên phải có nhiều cơ quan và thuộc hạ giúp việc, kể cả tư pháp và cảnh sát nữa. Theo truyền thống, các bộ ty của Thành Hoàng  gồm có:-

-Diên Thọ Ty (coi về tuổi thọ)
-Tốc Báo Ty (báo cáo nhanh)
-Củ Sát Ty (quan sát theo dõi)
-Tưởng Thiện Ty (ban thưởng người, việc lành)
-Phạt Ác Ty (trừng phạt kẻ, việc ác)
-Tăng Lộc Ty (ban cho phước lộc)

Thông thường xưng là “Lục Quan” hoặc “Lục Thần Gia”. Chức năng và danh xưng của các Ty nầy tương đồng với thế gian.

Ngoài các Ty, còn có hai  “Phán Quan Văn”  và “Phán Quan Võ”, cùng với  “Ông Ngưu”, “Ông Mã”, “Ông Gông Cùm”, “Ông Xiềng Xích” là bốn vị “Gia Gia”. Bên cạnh còn có hai vị Tướng Quân có vai trò quan trọng tên là “Phạm Vô Cứu” (có tội miễn xét xử) và “Tạ Tất An” (cúng tạ được bình an) mà dân gian tôn xưng là Tạ thất gia và Phạm bát gia, hai vị nầy làm trợ lý cho Thành Hoàng  trong việc trừng gian trừ ác.

Thành Hoàng là một chức vị thuộc về “ Cấp Thần”. Những vị Thành Hoàng  nầy có khả năng khác nhau, không ai giống ai cả. Vì sao thế ? Bởi vì truyền thuyết của dân gian nói rằng, ở vùng A có nhân vật B, khi sống là người chính trực cao thượng, lúc chết được phong làm Thành Hoàng  thì đã đành. Cũng có những vị tham quan ô lại nhưng có công phục vụ, làm lợi  cho vua chúa lúc bấy giờ, khi chết cũng được nhà vua phong cho làm Thành Hoàng . Về hạng Thành Hoàng  thứ hai nầy, đaso61 đều bị các văn nhân khinh bỉ.coi thường , thậm chí còn viết câu đối để mắng chữi là khác. Ví dụ ở một  ngôi miếu Thành Hoàng  kia, có tương truyền những câu đối sau:-

   「Biệt khán ngã miếu tiểu thần tiểu , bất lai thiêu hương , tiều tiều ;
   Na  nhậm  tha quan đại thế đại , nhược yếu tác ác  , thí thí . 」

(Đừng thấy miếu nhỏ thần nhỏ, chẳng đến đốt hương, rình rình…
Ngày kia thành quan lớn thế lớn, kẻ nào làm ác, thử thử …)

*Chú giải:- hai câu nầy dùng lối “đồng âm dị nghĩa” để chơi chữ. Đọc sơ qua thì không thấy gì, nhưng những chữ “tiểu” “đại”, “tiều tiều”, “thí thí” nầy lại đồng âm với những chữ có nghĩa thô tục:- đi tiểu, đi đại, đánh rắm v.v..—ND)

*Hai câu khác :-

「Nhậm bằng nễ vô pháp vô thiên , đáo thử nghiệt kính cao huyền , hoàn hữu đảm phủ ?
 Đản  tri ngã năng khoan năng thứ , thả bả đồ đao phóng hạ , hồi chuyển  đầu lai . 」

(Nếu quả ông là  người không trời không phép nước, hãy đến trước đài cao Nghiệt Cảnh, ông dám hay không?  
-Nhưng biết rằng (chúng) tôi hay khoan hồng hay tha thứ, mau buông đao đồ tể, quay đầu lại ngay đi ! )

*Triều nhà Thanh, mỗi khi một vị quan lại đến nhậm chức tại địa phương nào, việc trước tiên là đến Miếu Thành Hoàng để khấu bái Ngài phù hộ.
Một số địa phương có lệ là nếu có một người nào bị  nghi ngờ phạm tội, mà người đó không chịu nhận, thì phải đến Miếu Thành Hoàng lập thệ lớn là được tin tưởng vô tội.
Vài nơi khác thì khi ông quan cai trị vùng đó, gặp một vụ án mà không thể tìm ra thủ phạm, ông ta đích thân đến lễ bái Thành Hoàng  để cầu xin Ngài báo mộng  cho biết thử phạm.
Xem thế, đủ thấy sức mạnh niềm tin của quần chúng đối với Thành Hoàng  là hết sức mạnh mẽ và to lớn đến chừng nào !

*Thành Hoàng Gia là vị quan cõi âm của địa phương, theo truyền thuyết thì vào các ngày Thanh Minh, Trung Nguyên (15/7), Hạ Nguyên (15/10), Thành Hoàng Gia sẽ đi “tuần tra”, nên dân gian tổ chức các buổi lễ “Nghênh Thần” hay “Xuất Hội” để cúng bái Thành Hoàng  , sẽ được Ngài ban phước lộc và bảo hộ bình an.



(Miếu Thành Hoàng ở Đài Trung)
________________________________________

*Thất Gia Bát Gia

Các Miếu thờ Thành Hoàng  đều không thể thiếu hai vị Thất Gia và Bát Gia. Bởi vì, mỗi khi Thành Hoàng  xuất hội, thì hai vị nầy phải đi trước để sắp đặt công việc. Thất Gia, Bát Gia còn gọi là Trường Gia, Đoản Gia (Cao Gia, Nụy Gia), cũng gọi là hai quỷ Hắc Bạch Vô Thường . Tập quán dân gian thì tôn xưng là “Tạ Tướng Quân và Phạm Tướng Quân”, có nhiệm vụ bắt giải các phạm nhân đưa đến trước mặt Thành Hoàng  để Ngài phán xét.
*Thất  Gia họ Tạ tên Tất An, có thân cao, gò má đen, cho nên dân gian gọi là Hắc Vô Thường. Bát Gia họ Phạm tên Vô Cứu, vì thân hình lùn thấp, gò má trắng nên dân gian gọi là Bạch Vô Thường.
Cũng theo truyền thuyết nói rằng, hai vị nầy là người ở Huyện Mân tỉnh Phước Kiến, kết bạn thân từ lúc nhỏ, tình như thủ túc. Một hôm, hai người có việc đi đến cầu Nam Đài để sang sông, thì bổng nhiên có mưa lớn đổ xuống. Thất Gia bảo Bát Gia đứng ở dưới chân cầu đợi ông chạy về nhà lấy dù. Bát Gia giữ lời hứa, dù mưa to nước lũ dâng lên nhưng không bỏ đi, thân hình lùn thấp nên bị nước cuốn trôi mất. Thất Gia mang dù đến , không thấy Thất Gia biết là ngộ nạn, nên giữ lời thề nguyện “đồng sanh đồng tử” khi kết bạn ngày xưa, nhảy xuống sông chết theo. Diêm Vương thương sự trung tín và thủy chung của hai người, phong cho hai người làm bộ hạ Thành Hoàng .
*Một thuyết khác thì nói, hai vị tướng quân Phạm , Tạ là người ờ triều đại nhà Đường. Khi có loạn An Lộc Sơn , vua Đường Minh Hoàng chạy trốn đến Tây Thục. Tướng Trương Tuần và Hứa Viễn tử thủ giữ thành Tuy Dương, sai họ Phạm và Tạ xuất thành đi cầu viện. Tạ Tất An bị bắt và bêu đầu trên thành địch, còn Phạm Vô Cứu bị chết trôi. Thành Tuy Dương bị thất thủ, Trương Tuần và Hứa Viễn được phong làm Thành Hoàng Gia, còn Phạm, Tạ thì phong làm Hộ Vệ cho Thành Hoàng .
*Có người lại giải thích, “tạ tất an” là bị bệnh cúng tạ Thành Hoàng  thì được lành, còn “phạm vô cứu” là đã gây tội thì không người nào cứu được !



*Âm Dương Ty Công

Âm Dương Ty Công , là bộ hạ của THÀNH  HOÀNG  gia, thân thể tự chia ra hai phần đen và trắng, hình dạng khiến trông thấy phải khiếp sợ, mà tạo ra tác dụng trừ điều ác giúp điều lành. Âm Dương Ty Công coi sóc về thưởng công hay trị tội của dân gian, cùng quản lý các hồn ma quỷ trong  địa phương mình. Trong tín ngưỡng dân gian, Ngài rất gần gũi với con người, nhất cử nhất động của bất cứ ai cũng đều biết. Từ niềm tin đó, con người mới sợ không dám làm điều xấu sợ Ngài trừng phạt,  mà cố gắng làm việc lành tốt để được Ngài ban thưởng.



*Tướng lạ của Ngài là gò má bên trắng bên đen, thần khí mạnh mẽ khiến người nhìn thấy không lạnh mà run, lòng sanh e dè sợ sệt. Sự hiện diện của Ngài góp phần duy trì đạo đức tốt đẹp và hạn chế bớt những hành động sái quấy của dân gian.
Đa số thì Âm Dương Ty Công được thờ chung trong Miếu Thành Hoàng  . Một số nơi có xây miếu riêng để thờ.



*Văn Phán Quan 、Vũ Phán Quan


「Văn Phán Quan 」phụ trách đúc kết hành động , việc làm thiện ác của nhân dân và tuổi thọ của mỗi người, sau đó, ghi chép thành sổ sách, gọi là “Phán Quyết Thư”.「Vũ Phán Quan 」thì căn cứ vào phán quyết của Văn Phán Quan để thực hiện việc trị tội kẻ ác.
Tướng dạng của Văn Phán Quan thì nho nhã, tay cầm bút và sổ sách định đoạt mệnh vận của hồn ma quỷ. Vũ Phán Quan tay cầm “lang nha bổng” (gậy răng sói) , mặt mày dữ dằn thể hiện năng lực  phạt ác trong dân gian.

*Nhược  Thủy  dịch
(từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])

*Có thể tham khảo về Nghi Thức cúng Đình (tức cúng Thành Hoàng ) ở các đình Miền Nam, mẫu lá sớ cúng Đình, nghi thức Đại Bội v.v… ở địa chỉ sau:-

*Link Nghi thức cúng thần Đình:-
[url]http://www.hoangthantai.com/forum/index.php?topic=588.0[/url]

*Link Nghi thức xây chầu hát bội cúng Đình:-
[url]http://www.hoangthantai.com/forum/index.php?topic=589.0[/url]




Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 22, 2008, 08:22:17 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Tám 02, 2008, 01:24:02 AM »

(tiếp theo)

THÁI   TUẾ


(Thái Tuế năm Mậu Tí)

太歲

  據我國傳統習俗認為,在每一個年頭,都會有一位神明掌權當年的一切凡間事務,而這位在那年當值的神明,就稱之為太歲,而太歲共有六十位之多,即可於所謂六十花甲年輪值。由於太歲大多是武將出身,故在道教的稱謂上全部賦予「大將軍」的封號。而每位太歲都神情有別,手執法器亦有所不同,暗示了該年的流年運程。如太歲持筆,代表該年有政治變動;若持槍執劍,則表示該年要奮發圖強。
  太歲為道教神名,相傳為天界凶神,源出於古代的天體崇拜,與歲星有一定的關係。古人以天干地支紀年,甲子起至癸亥,共六十年為一循環,是為六十甲子神,又稱六十元辰,各神皆有姓名,道教稱太歲為「大將軍」。公元 1190年,歲次庚戌,金章宗瑞聖皇太后久病不癒,禱於丁卯元辰,果癒,乃命建丁卯瑞聖殿於北京,供奉丁卯元辰,人稱「順星」,及供奉六十位太歲,為求流年順利,每年正月初八日定為「順星節」。而「攝太歲」這個習俗,在民間開始廣泛流傳了。
  後於明永樂年間敕建北京白雲觀瑞聖殿,至清初全真龍門派第七代宗師王常月改瑞聖殿為元辰殿。
  太歲又稱太歲星君,太歲就是天上的木星,因為木星每十二個年繞太陽運行一次,所以古人稱木星為歲星或太歲。太歲又稱太歲星君,或者歲君,它既是星辰,也是民間奉祀的神祇。
  從秦、漢時起,太歲就作為凶神受人敬畏,有「抵太歲凶,負太歲亦凶」之說。人們認為太歲所在的方向為凶方,不可向太歲,所謂可背不可向,且在太歲方不可動土,遷徙或婚嫁,否則就算是在太歲頭上動土,必招禍殃。元明以後,被列入祀典,歲時奉祀,祈禱輔國安民。
  「太歲當頭坐,無喜恐有禍。」犯太歲的人可能會流年不利,或百事不順,事業多困厄,身體多病變,為求心安理得,人們都會到供奉太歲的廟宇,作個太歲福來化解,亦可在家中拜太歲,以求平安順事,工商興盛,財運享通,萬事如意。
  「攝太歲」的歷史源遠流長,「太歲」一詞早在商朝已出現。相傳紂王的一位妃子姜氏,身懁六甲時被紂王拋棄,其後孩子長大成人,為母報仇大義滅親,協助周文王討代紂王有功,被姜太公封為「治德太歲」。及後東漢劉秀起義成功,晉封多名戰將為「二十八宿太歲」,之後道家陸續晉封有德之士為「太歲」達六十位之多。太歲的人形偶像化則始見於宋朝。
  而拜太歲必須在農曆正月十五日前完成,且非日日都可拜,最好挑選良辰吉日。
  除了拜太歲外,事主亦可配戴一些古玉或是大歲符來化解。
  太歲除了顯示流年大運外,也可影響個人運程。若個人的生肖與流年太歲有所不合,則謂之犯太歲,會對該年的運程有所影響,故習俗以攝太歲來消災化解。

北京白雲觀內元辰殿,殿內所供奉的不是甲子元辰星君,而是供奉太歲,及斗姆元君、左輔、右弼。據道藏-元辰章醮立成曆,所登載的有六十甲子元辰星君,及左右從官各一,總計一百八十。另道藏還登載有北斗元辰六十星君,同樣也有左右從官各一,總計也是一百八十。
  風水學說認為,值年太歲所臨的「太歲方」是凶方,不宜興工與動土,否則便是「太歲頭上動土」,自惹禍殃。何為「太歲方」:

  子年--在北方。
  丑年--在東北。
  寅年--在東北。
  卯年--在東方。
  辰年--在東南。
  巳年--在東南。
  午年--在南方。
  未年--在西南。
  申年--在西南。
  酉年--在西方。
  戍年--在西北。
  亥年--在西北。

(Điện thờ Thái Tuế)

Thái Tuế

*Theo phong tục  truyền thông của nước ta (TQ), tin rằng  mỗi năm đều có một vị thần minh coi sóc về mọi sự việc của trần gian. Vị thần cai trị một năm đó gọi là Thái Tuế. Có tát cả là 60 vị Thái Tuế tương ứng với 60 năm của một “hoa giáp” (chu kỳ 60 năm của âm lịch).
Thần Thái Tuế đại đa số là võ tướng xuất thân, nên trong Đạo giáo gọi tất cả là “Đại Tướng Quân”. Nhưng mỗi vị Thái Tuế có một phong cách khác nhau, nên việc chấp pháp cũng khác nhau. Từ đó nảy sinh vận trình của mỗi  năm sẽ khác nhau.Ví dụ như, Thái Tuế cầm bút thì  năm đó có những biến động về chính  trị; nếu là Thái Tuế cầm kiếm thì năm đó có nhiều loạn lạc , diễn biến về vũ lực.
Thái Tuế là  tên gọi của thần theo Đạo Giáo, tương truyền là những hung thần của thiên giới. Tín ngưỡng nầy có  xuất xứ  từ sự sùng bái các sao của người đời xưa. Năm âm lịch thành hình do sự phối hợp giữa 10 can và 12 chi, bắt đầu  từ “Giáp Tí” đến cuối 60 năm là “Quý Hợi”(một chu kỳ). Như vậy sẽ có 60 vị Thái Tuế, còn gọi là “Lục thập nguyên thần” hay “Lục thập đại tướng quân”.
  
*Năm 1190 là năm Canh Tuất, bà Hoàng Thái Hậu Thụy Thánh , mẹ của Kim Chương Tông bị bệnh lâu ngày không khỏi, nên  tổ chức “cầu đảo” trị bệnh cho mẹ. Vua cho xây dựng “Đinh Mão Thụy Thánh Điện” (bà mẹ tuổi Đinh Mão) ở Bắc Kinh. Mục đích là cúng bái vị Thái Tuế năm Đinh Mão gọi là “Lễ Thuận Tinh”, nên Hoàng Thái Hậu được lành bệnh. Vì thế, sau đó  cúng bái luôn 60 vị Thái Tuế, cầu cho những năm kế tiếp cũng được tốt lành . Mỗi năm vào ngày mùng tám tháng giêng, đều có tổ chức  “ Thuận Tinh Tiết ” (lễ Tết cúng sao). Từ đó, trong dân gian lưu hành rộng rãi việc “cúng sao” mỗi năm.
*Về sau , đời Vĩnh Lạc nhà Minh cho xây dựng Điện Thụy Thánh Bạch Vân Quán ở Bắc Kinh. Đến đầu đời Thanh, vị Đại Tôn Sư thứ bảy của phái Toàn Chân Long Môn cải danh hiệu lại là “Nguyên Thần Điện”.
*Thái Tuế còn gọi là Thái Tuế Tinh Quân. Về khoa thiên văn, sao Thái Tuế chính là Mộc Tinh trên bầu trời. Chu kỳ của sao Mộc quay quanh Mặt Trời là mười hai năm. Cho nên người xưa gọi sao Mộc là Tuế Tinh hay Thái Tuế, sau phát triển thành Thái Tuế Tinh Quân hay Tuế Quân. Như vậy, tín ngưỡng thờ phụng  Thái Tuế có nguồn gốc liên hệ đến  các sao trên bầu trời.
*Từ đời Tần, Hán , Thái Tuế được xem là một “hung thần” mà mọi người kính sợ. Có câu :- “Để Thái Tuế hung, phụ Thái Tuế diệc hung” (mạo phạm đến Thái thì bị điều hung, mà nương tựa vào Thái Tuế cũng không hay). Do đó, dân gian tin rằng phương hướng của Thái Tuế là hung phương, cho nên không hướng về phương Thái Tuế, chỉ có thể quay lưng lại là tốt. Không nên động thổ vào phương hướng Thái Tuế của năm đó, nếu phạm sẽ gặp rất nhiều điều không hay. Từ sau đời Nguyên, Minh thì Thái Tuế được cho ghi vào danh sách thờ cúng của triều đình và dân gian để mong cầu “nước yên dân ổn”.
*Câu nói phổ biến : “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỉ khủng hữu họa” (Gặp Thái Tuế chận đầu, nếu không có hỉ sự, tất phải gặp họa). Người mà vận niên phạm Thái Tuế, thì trăm việc không thuận, sự nghiệp bị khó khăn, thân thể đau ốm hoặc bị tai nạn. Muốn cho “tâm an thuận lý” thì người ta đến các Miếu Thờ Thái Tuế để cúng bái, mong nhờ phước lực của Ngài hóa giải điều xấu. Nếu thờ cúng Thái Tuế tại nhà, thì cầu mong được bình an thuận sự, công thương hưng thịnh, tài vận hanh thông, vạn sự như ý.
* Sự kiện gọi là “Nhiếp Thái Tuế” (nắm giữ Thái Tuế) có một lịch sử khá lâu đời. Thuật  ngữ Thái Tuế đã xuất  hiện từ đời nhà Thương . Tương truyền, vua Trụ có một vị  vương phị là Khương Thị, khi có mang thì bị vua Trụ biếm truất, Sau đứa con lớn lên, vì mẹ mà báo thù. Y đã theo Chu Văn Vương mà phạt Trụ thành công, được Khương Thái Công (Tử Nha) phong  làm “Trị Đức Thái Tuế” (trong truyện Phong Thần thì nói hoàng hậu Khương Thị bị móc mắt, còn hoàng tử Ân Giao được phong thần làm Thần Thái Tuế--ND).
*Đến đời Đông Hán, Lưu Tú khởi nghĩa thành công, phong cho các chiến tướng công thần làm “Nhị thập bát tú Thái Tuế”.
*Về sau, có ngài Lục Tục của Đạo Gia xưng tặng những người có đức độ là “Thái Tuế”, được cả thảy là 60 vị.
*Việc ngẫu tượng hóa (thần tượng hóa) Thái Tuế có hình dạng người, thấy lần đầu vào triều đại nhà Tống.
*Động tác “Bái Thái Tuế” (an vị Thái Tuế) phải làm trước ngày rằm tháng  giêng, chọn ngày lành giờ tốt mà thờ.
Ngoài việc “Bái Thái Tuế”, còn phải đeo một miếng cổ ngọc hoặc dán phù Thái Tuế để hóa giải xấu ác.
Thái Tuế ngoài việc thể hiện vận trình chung  của lưu niên năm đó, còn ảnh hưởng đến mệnh vận của cá nhân. Nếu sinh tiêu (tuổi) của người nào không hợp với lưu niên Thái Tuế, gọi là “phạm Thái Tuế”, thì vận trình năm của người đó không tốt, phải dùng phương pháp “Nhiếp Thái Tuế” để hóa giải.
*Trong nội điện của Điện Nguyên Thần ở Bạch Vân Quán Bắc Kinh, không những thờ 60 vị Thái Tuế mà còn thờ Đẩu Mẫu Nguyên Quân và Tả Phù , Hữu Bật. Căn cứ vào sách Đạo Tạng trong chương Nguyên Thần liệt kê 60 vị Thái Tuế, cùng với tả hữu tổng cộng thành một trăm tám mươi vị, do số 60 nhân 3 mà thành.
*Phong thủy  học cho rằng , phương  Thái Tuế của mỗi lưu niên là hung phương, tối kỵ hưng công động thổ. Có câu:-
“Thái Tuế đầu thượng động thổ, tự nặc họa ương” (trên đầu Thái Tuế mà động thổ là tự chuốc lấy  tai họa).
*Phương Thái Tuế  lưu niên liệt kê ra như sau:-
 

 -Năm  Tí      --   tại Bắc phương .
- Năm    Sửu    --   tại đông bắc .
- Năm  Dần   --   tại đông bắc .
- Năm  Mão  --   tại đông phương .
- Năm  Thìn  --   tại đông nam .
- Năm  Tỵ     --   tại đông nam .
- Năm  Ngọ   --   tại nam phương .
- Năm  Mùi   --   tại tây nam .
- Năm  Thân  --   tại tây nam .
- Năm  Dậu   --   tại tây phương .
- Năm  Tuất  --   tại tây bắc .
- Năm  Hợi   --   tại tây bắc . 

(Cúng Thái Tuế)

*Nhược  Thủy  dịch
(từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 22, 2008, 08:09:06 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Tám 02, 2008, 01:45:33 AM »

*PHỤ  LỤC:-

DANH SÁCH THÁI TUẾ 60 NĂM
CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI


******

1.- 仙里五雷 顯應壇-殷雷鎮宅 -- 中宮秘符

               ******

甲子金辨
乙丑陳才
丙寅沈興
丁卯耿章
戊辰趙達
己巳郭燦
庚午王清
辛未李素
壬申劉旺
癸酉康志
甲戌訾廣
乙亥吳保
丙子郭嘉
丁丑汪文
戊寅曾光
己卯龔仲
庚辰章德
辛己鄭祖
壬午陸明
癸未魏仁
甲申方傑
乙酉蔣嵩
丙戌白敏
丁亥封濟
戊子鄭堂
己丑潘佑
庚寅鄔桓
辛卯范寧
壬辰彭泰
癸巳徐斝
甲午章誠
乙未楊賢
丙申管仲
丁酉康傑
戊戌姜武
己亥謝燾
庚子盧超
辛丑湯信
壬寅賀諤
癸卯皮時
甲辰李誠
乙巳吳遂
丙午文哲
丁未繆丙
戊申喻志
己酉程實
庚戌猊秘
辛亥葉堅
壬子丘德
癸丑林朴
甲寅張朝
乙卯萬清
丙辰辛亞
丁巳易彥
戊午黎卿
己未傅儻
庚申毛梓
辛酉石政
壬戌洪克
癸亥盧程


2.- 歲君解厄--延生法懺
       *******
道藏輯要
甲子金辯
乙丑陳林
丙寅沈興
丁卯耿章
戊辰趙達
己巳郭燦
庚午王清
辛未李熹
壬申劉玉
癸酉康忠
甲戌詹廣
乙亥伍保
丙子郭嘉
丁丑汪文
戊寅曾光
己卯方仲
庚辰董德
辛己鄭祖
壬午陸明
癸未魏仁
甲申方傑
乙酉蔣崇
丙戌白敏
丁亥封濟
戊子鄭鏜
己丑潘佑
庚寅鄔柏
辛卯范寧
壬辰彭泰
癸巳時斝
甲午章嗣
乙未楊賢
丙申管仲
丁酉唐傑
戊戌姜武
己亥謝燾
庚子盧超
辛丑楊信
壬寅賀諤
癸卯皮時
甲辰李成
乙巳吳遂
丙午文祈
丁未繆丙
戊申俞昌
己酉程寶
庚戌倪秘
辛亥葉堅
壬子邶德
癸丑朱雍
甲寅張朝
乙卯萬清
丙辰辛亞
丁巳易彥
戊午黎卿
己未傅儻
庚申毛粹
辛酉石政
壬戌洪克
癸亥盧經


3.- 道教 神仙畫集
      *****

甲子金辨
乙丑陳材
丙寅耿章
丁卯沈興
戊辰趙達
己巳郭燦
庚午王濟
辛未李素
壬申劉旺
癸酉康志
甲戌施廣
乙亥任保
丙子郭嘉
丁丑汪文
戊寅曾先
己卯龍仲
庚辰董德
辛己鄭但
壬午陸明
癸未魏仁
乙酉蔣崇
甲申方傑
丙戌白敏
丁亥封濟
戊子鄒鐺
己丑傅佑
庚寅鄔桓
辛卯范寧
壬辰彭泰
癸巳徐單
甲午章詞
乙未楊仙
丙申管仲
丁酉唐傑
戊戌姜武
己亥謝太
庚子盧秘
辛丑楊信
壬寅賀諤
癸卯皮時
甲辰李誠
乙巳吳遂
丙午文哲
丁未繆丙
戊申徐浩
己酉程寶
庚戌倪秘
辛亥葉堅
壬子丘德
癸丑朱得
甲寅張朝
乙卯萬清
丙辰辛亞
丁巳楊彥
戊午黎卿
己未傅黨
庚申毛梓
辛酉石政
壬戌洪充
癸亥虞程


4.- 北京--白雲觀
     *****

甲子金赤
乙丑陳秦
丙寅沈興
丁卯耿章
戊辰趙達
己巳郭燦
庚午王清
辛未李素
壬申劉旺
癸酉康志
甲戌誓廣
乙亥伍保
丙子郭嘉
丁丑汪文
戊寅曾光
己卯伍仲
庚辰重德
辛己鄭祖
壬午路明
癸未魏明
甲申方公
乙酉蔣耑
丙戌向般
丁亥封濟
戊子郢班
己丑潘佑
庚寅鄔桓
辛卯范寧
壬辰彭泰
癸巳徐舜
甲午張詞
乙未楊賢
丙申管仲
丁酉唐傑
戊戌姜武
己亥謝壽
庚子盧起
辛丑湯信
壬寅賀諤
癸卯皮時
甲辰李成
乙巳吳遂
丙午文折
丁未繆丙
戊申俞志
己酉程寅
庚戌化秋
辛亥葉堅
壬子卸德
癸丑林簿
甲寅張朝
乙卯方清
丙辰辛亞
丁巳易彥
戊午妙黎
己未傅稅
庚申毛倖
辛酉文政
壬戌洪范
癸亥盧程


5.-  黃曆
   *****
甲子金赤
乙丑陳素
丙寅沈興
丁卯耿章
戊辰趙達
己巳郭燦
庚午王清
辛未李素
壬申劉旺
癸酉康志
甲戌誓廣
乙亥吳保
丙子郭嘉
丁丑汪文
戊寅曾光
己卯伍仲
庚辰重祖
辛己鄭德
壬午路明
癸未魏仁
甲申方公
乙酉蔣耑
丙戌向敏
丁亥封齊
戊子郢班
己丑潘信
庚寅鄔桓
辛卯范寧
壬辰彭泰
癸巳徐舜
甲午張詞
乙未楊賢
丙申管仲
丁酉康傑
戊戌姜武
己亥謝壽
庚子盧起
辛丑湯信
壬寅賀諤
癸卯皮時
甲辰李成
乙巳吳遂
丙午文折
丁未僇丙
戊申俞志
己酉程寅
庚戌化秋
辛亥葉堅
壬子邱德
癸丑林簿
甲寅張朝
乙卯方清
丙辰辛亞
丁巳易彥
戊午姚黎
己未傅悅
庚申毛倖
辛酉文政
壬戌洪范
癸亥虞程


6.-  元辰章醮 立成曆
       (道藏)
       *****
甲子王文卿
乙丑龍季卿
丙寅張仲卿
丁卯司馬卿
戊辰季楚卿
己巳何文昌
庚午馮仲卿
辛未王文章
壬申侯博卿
癸酉孫仲房
甲戌展子江
乙亥龐明公
丙子邢孫卿
丁丑趙子玉
戊寅虞子卿
己卯石文陽
庚辰尹佳卿
辛己陽仲公
壬午馬子明
癸未呂威明
甲申扈文長
乙酉孔利公
丙戌車元昇
丁亥張文通
戊子樂石陽
己丑范和卿
庚寅楮進卿
辛卯郭子良
壬辰武稚卿
癸巳史公來
甲午衛上卿
乙未杜仲陽
丙申朱伯眾
丁酉藏文公
戊戌范少卿
己亥鄧都卿
庚子陽仲叔
辛丑林衛公
壬寅丘孟卿
癸卯蘇他家
甲辰孟非卿
乙巳唐文卿
丙午魏文公
丁未石叔通
戊申范伯陽
己酉成文長
庚戌史子仁
辛亥左子行
壬子宿上卿
癸丑江漢卿
甲寅明文章
乙卯戴公陽
丙辰霍叔英
丁巳崔巨卿
戊午從元光
己未時通卿
庚申華文陽
辛酉邴元玉
壬戌樂進卿
癸亥左石松

TÊN THÁI TUẾ      60 NĂM

1.-   THEO PHÁI NGŨ LÔI HIỂN ỨNG ĐÀN
            (Tiên Lý Ngũ Lôi  Hiển Ứng Đàn -
        Ân  Lôi Trấn Trạch  Trung  Cung Bí Phù )


GIÁP TÝ       KIM BIỆN
ẤT SỬU       TRẦN TÀI
BÍNH DẦN    THẨM  HƯNG 
ĐINH MÃO    CẢNH CHƯƠNG
MẬU THÌN    TRIỆU ĐẠT
KỶ TỴ       QUÁCH XÁN
CANH NGỌ    VƯƠNG THANH
TÂN VỊ       LÝ TỐ
NHÂM THÂN    LƯU VƯỢNG
QUÝ  DẬU   KHANG CHÍ
GIÁP TUẤT    TƯ  QUẢNG
ẤT HỢI       NGÔ BẢO
BÍNH TÝ    QUÁCH GIA
ĐINH SỬU    UÔNG VĂN
MẬU DẦN    TĂNG  QUANG
Kỷ MÃO    CỦNG TRỌNG
CANH THÌN    CHƯƠNG ĐỨC
TÂN TỴ       TRỊNH TỔ
NHÂM NGỌ    LỤC MINH
QUÝ  VỊ       NGUỴ NHÂN
GIÁP THÂN    PHƯƠNG KIỆT
ẤT DẬU       TƯỞNG TUNG
BÍNH TUẤT    BẠCH MẪN
ĐINH HỢI    PHONG TẾ
MẬU TÝ       TRỊNH  ĐƯỜNG
KỶ SỬU       PHAN HỮU
CANH DẦN       Ổ  HOÀN
TÂN MÃO    PHẠM NINH
NHÂM THÌN    BÀNH THÁI
QUÝ  TỴ      TỪ GIẢ

GIÁP NGỌ    CHƯƠNG THÀNH
ẤT VỊ       DƯƠNG HIỀN
BÍNH THÂN    QUẢN TRỌNG
ĐINH DẬU    KHANG KIỆT
MẬU TUẤT    KHƯƠNG VŨ
Kỷ HỢI       TẠ ĐÀO
CANH TÝ    LƯ SIÊU
TÂN SỬU    THANG TÍN
NHÂM DẦN    HẠ NGẠC
QUÝ  MÃO   BÌ THỜI
GIÁP THÌN    LÝ THÀNH
ẤT TỴ       NGÔ TOẠI
BÍNH NGỌ    VĂN TRIẾT
ĐINH VỊ       MÂU  BÍNH
MẬU THÂN    DỤ CHÍ
Kỷ DẬU       TRÌNH THỰC
CANH TUẤT    NGHÊ BÍ
TÂN HỢI    DIỆP KIÊN
NHÂM TÝ    KHÂU ĐỨC
QUÝ  SỬU    LÂM PHIÊU
GIÁP DẦN    TRƯƠNG TRIỀU
ẤT MÃO    VẠN THANH
BÍNH THÌN   TÂN Á
ĐINH TỴ    DỊCH NGẠN
MẬU NGỌ    LÊ KHANH
KỶ VỊ       PHÓ THẢNG
CANH THÂN    MAO TỬ
TÂN DẬU   THẠCH CHÍNH
NHÂM TUẤT    HỒNG KHẮC
QUÝ  HỢI    LƯ TRÌNH




2.-  THEO PHÁI  TUẾ QUÂN GIẢI ÁCH
DIÊN  SINH PHÁP SÁM -- ĐẠO TẠNG TẬP YẾU

Giáp Tí  Kim Biện
Ất Sửu Trần Lâm
Bính Dần Thẩm Hưng 
Đinh Mão Cảnh Chương
Mậu Thìn Triệu Đạt
Kỷ Tỵ Quách Xán
Canh Ngọ Vương Thanh
Tân Vị Lý Hy
Nhâm Thân Lưu Ngọc
Quý Dậu Khang Trung
Giáp Tuất Chiêm  Quảng
Ất Hợi Ngũ Bảo
Bính Tí Quách Gia
Đinh Sửu Uông Văn
Mậu Dần Tăng  Quang
Kỷ Mão Phương Trọng
Canh Thìn Đổng Đức
Tân Tỵ  Trịnh Tổ
Nhâm Ngọ Lục Minh
Quý Vị Nguỵ Nhân
Giáp Thân Phương Kiệt
Ất Dậu Tưởng Sùng
Bính Tuất Bạch Mẫn
Đinh Hợi Phong Tế
Mậu Tí  Trịnh Thang
Kỷ  Sửu Phan  Hữu
Canh Dần    Ổ Bá
Tân Mão Phạm Ninh
Nhâm Thìn Bành Thái
Quý  Tỵ  Thời Giả


Giáp Ngọ Chương Tự
Ất Vị Dương Hiền
Bính Thân Quản Trọng
Đinh Dậu Đường Kiệt
Mậu Tuất  Khương Vũ
Kỷ  Hợi Tạ Đào
Canh Tí  Lư Siêu
Tân Sửu Dương Tín
Nhâm Dần Hạ Ngạc
Quý Mão Bì   Thời
Giáp Thìn  Lý Thành
Ất Tỵ   Ngô Toại
Bính Ngọ Văn Kỳ
Đinh Vị Mâu  Bính
Mậu Thân Du Xương
Kỷ Dậu Trình Bảo
Canh Tuất  Nghê   Bí
Tân Hợi Diệp Kiên
Nhâm Tí   Bì  Đức
Quý  Sửu Châu  Ung
Giáp Dần Trương Triều
Ất Mão Vạn Thanh
Bính Thìn    Tân    Á
Đinh Tỵ   Dịch Ngạn
Mậu Ngọ Lê Khanh
Kỷ  Vị Phó Thảng
Canh Thân Mao Tuý
Tân Dậu Thạch Chính
Nhâm Tuất  Hồng Khắc
Quý  Hợi Lư Kinh





3.-  THEO PHÁI  ĐẠO GIÁO  -- THẦN TIÊN HOẠ TẬP

Giáp Tý Kim Biện
Ất Sửu Trần Tài
Bính Dần Cảnh Chương
Đinh Mão Thẩm Hưng
Mậu Thìn Triệu Đạt
Kỷ Tỵ Quách Xán
Canh Ngọ Vương Tế
Tân Vị   Lý  Tố
Nhâm Thân Lưu Vượng
Quý Dậu Khang Chí
Giáp Tuất  Thi Quảng
Ất Hợi Nhậm Bảo
Bính Tí  Quách Gia
Đinh Sửu Uông Văn
Mậu Dần Tăng Tiên
Kỷ Mão Long Trọng
Canh Thìn Đổng Đức
Tân Tỵ  Trịnh Đản 
Nhâm Ngọ Lục Minh
Quý   Vị Nguỵ Nhân
Giáp Thân Phương Kiệt
Ất Dậu Tưởng Sùng
Bính Tuất  Bạch Mẫn
Đinh Hợi Phong Tế
Mậu Tí  Trâu Đang
Kỷ  Sửu Phó Hữu
Canh Dần    Ổ Hoàn
Tân Mão Phạm Ninh
Nhâm Thìn   Bành Thái
Quý  Tỵ    Từ  Thiện

Giáp Ngọ Chương Từ
Ất Vị Dương Tiên
Bính Thân Quản Trọng
Đinh Dậu Đường Kiệt
Mậu Tuất  Khương Vũ
Kỷ  Hợi Tạ Thái
Canh Tí  Lư Bí
Tân Sửu Dương Tín
Nhâm Dần Hạ Ngạc
Quý Mão Bì Thời
Giáp Thìn  Lý   Thành
Ất Tỵ  Ngô Toại
Bính Ngọ Văn Triết
Đinh Vị Mâu  Bính
Mậu Thân Từ Hạo
Kỷ Dậu Trình Bảo
Canh Tuất  Nghê   Bí
Tân Hợi Diệp Kiên
Nhâm Tí  Khâu Đức
Quý  Sửu Châu Đắc
Giáp Dần Trương Triều
Ất Mão Vạn Thanh
Bính Thìn    Tân    Á
Đinh Tỵ   Dương   Ngạn
Mậu Ngọ Lê Khanh
Kỷ  Vị Phó Đảng
Canh Thân Mao Tử
Tân Dậu Thạch Chính
Nhâm Tuất  Hồng Sung
Quý   Hợi    Ngu Trình



4.-  THEO PHÁI  BẮC KINH   BẠCH VÂN QUÁN
                                     
Giáp Tí  Kim Xích
Ất Sửu Trần Tần
Bính Dần Thẩm Hưng
Đinh Mão Cảnh Chương
Mậu Thìn  Triệu Đạt
Kỷ  Tỵ   Quách Xán
Canh Ngọ Vương Thanh
Tân Vị    Lý  Tố
Nhâm Thân Lưu Vượng
Quý  Dậu Khang Chí
Giáp Tuất  Thệ Quảng
Ất Hợi Ngũ Bảo
Bính Tí   Quách Gia
Đinh Sửu Uông Văn
Mậu Dần   Tăng Quang
Kỷ   Mão Ngũ Trọng
Canh Thìn   Trọng Đức
Tân Tỵ    Trịnh Tổ
Nhâm Ngọ Lộ Minh
Quý   Vị Nguỵ Minh
Giáp Thân Phương Công
Ất Dậu   Tưởng Xuyên
Bính Tuất  Hướng Ban
Đinh Hợi Phong Tề
Mậu Tí  Dĩnh Ban
Kỷ Sửu Phan Hữu
Canh Dần ổ Hoàn
Tân Mão Phạm Ninh
Nhâm Thìn  Bành Thái
Quý  Tỵ  Từ Thuấn

Giáp Ngọ Trương Từ
Ất Vị Dương Hiền
Bính Thân Quản Trọng
Đinh Dậu Đường Kiệt
Mậu Tuất  Khương Vũ
Kỷ  Hợi Tạ Thọ
Canh Tí  Lư Khởi
Tân Sửu Thang Tín
Nhâm Dần Hạ Ngạc
Quý  Mão Bì Thời
Giáp Thìn  Lý Thành
Ất Tỵ   Ngô Toại
Bính Ngọ Văn Triết
Đinh Vị   Mâu Bính
Mậu Thân Du Chí
Kỷ   Dậu   Trình Dần
Canh Tuất   Hoá Thu
Tân Hợi Diệp Kiên
Nhâm Tí   Tá Đức
Quý   Sửu Lâm Bộ
Giáp Dần  Trương Triều
Ất Mão Phương Thanh
Bính Thìn    Tân     Á
Đinh Tỵ    Dịch Ngạn
Mậu Ngọ Diệu Lê
Kỷ   Vị Phó Thuế
Canh Thân Mao Hãnh
Tân Dậu Văn Chính
Nhâm Tuất  Hồng Phạm
Quý  Hợi Lư Trình



5.- THEO PHÁI   HOÀNG  LỊCH

Giáp Tí  Kim Xích
Ất Sửu Trần Tố
Bính Dần Thẩm Hưng
Đinh Mão Cảnh Chương
Mậu Thìn  Triệu Đạt
Kỷ Tỵ  Quách Xán
Canh Ngọ Vương Thanh
Tân Vị     Lý Tố
Nhâm Thân Lưu Vượng
Quý  Dậu Khang Chí
Giáp Tuất   Thệ Quảng
Ất Hợi Ngô Bảo
Bính Tí   Quách Gia
Đinh Sửu Uông Văn
Mậu Dần Tăng Quang
Kỷ  Mão Ngũ Trọng
Canh Thìn  Trọng Tổ
Tân Tỵ  Trịnh Đức
Nhâm Ngọ Lộ Minh
Quý  Vị Nguỵ Nhân
Giáp Thân Phương Công
Ất Dậu Tưởng Xuyên
Bính Tuất  Hướng Mẫn
Đinh Hợi Phong Tề
Mậu Tí  Dĩnh Ban
Kỷ  Sửu  Phan Tín
Canh Dần    Ổ Hoàn
Tân Mão Phạm Ninh
Nhâm Thìn  Bành Thái
Quý  Tỵ    Từ Thuấn


Giáp Ngọ Trương Từ
Ất Vị Dương Hiền
Bính Thân Quản Trọng
Đinh Dậu Khang Kiệt
Mậu Tuất  Khương Vũ
Kỷ  Hợi Tạ Thọ
Canh Tí   Lư Khởi
Tân Sửu Thang Tín
Nhâm Dần Hạ Ngạc
Quý  Mão Bì Thời
Giáp Thìn  Lý Thành
Ất Tỵ    Ngô Toại
Bính Ngọ Văn Triết
Đinh Vị Lục Bính
Mậu Thân Du Chí
Kỷ  Dậu Trình Dần
Canh Tuất   Hoá Thu
Tân Hợi Diệp Kiên
Nhâm Tí   Khưu Đức
Quý  Sửu Lâm Bộ
Giáp Dần Trương Triều
Ất Mão Phương Thanh
Bính Thìn   Tân     Á
Đinh Tỵ  Dịch Ngạn
Mậu Ngọ Diêu Lê
Kỷ  Vị Phó Duyệt
Canh Thân Mao Hãnh
Tân Dậu Văn Chính
Nhâm Tuất  Hồng Phạm
Quý  Hợi Ngu Trình



6.-  THEO PHÁI  NGUYÊN THẦN CHƯƠNG TIÊU
             LẬP THÀNH LỊCH (Đạo Tạng )

Giáp Tí Vương Văn Khanh
Ất Sửu  Long Quý  Khanh
Bính Dần Trương Trọng Khanh
Đinh Mão Tư  Mã Khanh
Mậu Thìn  Quý  Sở Khanh
kỷ  Tỵ  Hà Văn Xương
Canh Ngọ Phùng Trọng Khanh
Tân Vị Vương Văn Chương
Nhâm Thân Hầu Bác Khanh
Quý Dậu Tôn Trọng Phòng
Giáp Tuất  Triển Tí  Giang
Ất Hợi Bàng Minh Công
Bính Tí  Hình Tôn Khanh
Đinh Sửu Triệu Tử  Ngọc
Mậu Dần Ngu Tử Khanh
Kỷ  Mão Thạch Văn Dương
Canh Thìn  Doãn Giai Khanh
Tân Tỵ Dương Trọng Công
Nhâm Ngọ Mã Tử Minh
Quý  Vị Lữ Uy Minh
Giáp Thân Hỗ Văn Trường
Ất Dậu Khổng Lợi Công
Bính Tuất  Xa Nguyên Thăng
Đinh Hợi Trương Văn Thông
Mậu Tí  Nhạc Thạch Dương
Kỷ  Sửu Phạm Hoà Khanh
Canh Dần Chử Tiến Khanh
Tân Mão Quách Tử Lương
Nhâm Thìn  Vũ Trĩ Khanh
Quý  Tỵ     Sử Công Lai

Giáp Ngọ    Vệ Thượng Khanh
Ất Vị             Đỗ Trọng Dương
Bính Thân   Châu Bá Chúng
Đinh Dậu    Tàng Văn Công
Mậu Tuất    Phạm Thiếu Khanh
Kỷ  Hợi     Đặng Đô Khanh
Canh Tí  Dương Trọng Thúc
Tân Sửu     Lâm Vệ Công
Nhâm Dần    Khâu Mạnh Khanh
Quý  Mão     Tô Tha Gia
Giáp Thìn     Mạnh Phi Khanh
Ất Tỵ     Đường Văn Khanh
Bính Ngọ     Nguỵ Văn Công
Đinh Vị Thạch Thúc Thông
Mậu Thân   Phạm Bá Dương
Kỷ Dậu  Thành Văn Trường
Canh Tuất   Sử Tử Nhân
Tân Hợi   Tả Tử Hành
Nhâm Tí    Tú Thượng Khanh
Quý Sửu    Giang Hán Khanh
Giáp Dần    Minh Văn Chương
Ất Mão   Đái Công Dương
Bính Thìn   Hoắc Thúc Anh
Đinh Tỵ    Thôi Cự Khanh
Mậu Ngọ   Tùng Nguyên Quang
Kỷ Vị     Thời Thông Khanh
Canh Thân   Hoa Văn Dương
Tân Dậu    Bính Nguyên Ngọc
Nhâm Tuất    Nhạc Tiến Khanh
Quý  Hợi     Tả Thạch Tùng

*NHƯỢC  THỦY  tổng hợp

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, lethuytienac, phaolon, hieuhuekhanh
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Tám 02, 2008, 01:57:30 AM »

*PHỤ  LỤC:-

KINH  MINH  THÁNH

(của Đức Quan Thánh Đế Quân)

*****


A.- PHẦN NGUYÊN TÁC TIẾNG HOA:-

NGHI THỨC KHAI KINH
TỤNG KINH MINH THÁNH


告文式

恭維
聖   帝,浩氣凌霄,丹心貫日,扶正統以彰信義,威震九州,完大節而篤忠貞,靈昭千古,伏魔蕩寇,屢代徵其奇勳,覺世牖民,寰宇披其明訓,運協皇圖,德覆黎庶,弟子某,於某年月日,敬為某事,叩許每日虔誦(終生奉行),明聖經寶訓,由誦而入,以熟為歸,由講而明,以知為要,踐履其於篤實,心地務求光明,伏冀鑒佑,無任沾恩之至,謹告。
文昌應化張仙寶誥(宜虔誠三叩首,誦此誥三遍)
    志心皈命禮
    桂香上殿,文昌左宮,七十二化之法身,百千萬劫之運數,育嗣天下,演教人間,金彈竹弓隨身帶,孤辰寡宿滅行蹤,扶小子而衛通關,蔭閨房而護難產,聰明日益,痘疹減消,難癒者祈之便癒,難痊者禱之必痊,大悲大願,大聖大慈,九天輔元開化,靈應張仙大帝,七曲毓聖天尊。
靈官王天君寶誥(宜虔誠三叩首,誦此誥三遍)
    志心皈命禮
    先天主將,一旡神君,都天糾察大靈官,三界無私猛烈將,金睛赤髮,號三五火車雷公,鳳嘴銀牙,統百萬貔貅神將,飛騰雲霧號令雷霆,降雨開睛,驅邪治病,觀過錯於一十二年,受命
玉   帝,積功勳於百千萬種,誓佐祖師,至剛至勇,濟死濟生,方方闡教,處處開壇,豁落猛帥,三五火車,大靈官,王天君,雷聲普化天尊。
周將軍寶誥(宜虔誠三叩首,誦此誥三遍)
    志心皈命禮
    扶天勇將,察地猛神,鐵鬚銀齒,黑面朱唇,精忠特立,勁節驚人,稽查善惡,糾察凡塵,冥冥顯赫,處處遊巡,鋤奸鋤惡,救世憂民,忠臣義士,扶彼超伸,乖兒逆子,不勝怒瞋,維持世教,匡正人倫,斬妖護法,大道常存,最靈真宰,最顯神君,護朝護國,剛直忠勇大天尊。
關聖太子寶誥(宜虔誠三叩首,誦此誥三遍)
    志心皈命禮
    靈侯太子,文經武緯,匡王護國,德義巍巍,忠孝節義,全受全歸,奇勳早建於西蜀,異略素著於北魏,大忠大孝,至仁至勇,補造化之不足,佐
聖   帝以立功,護朝護國,盡孝盡忠,九天威靈顯化大天尊。
聖帝寶誥(宜虔誠三叩首,誦此誥三遍)
    志心皈命禮
    太上神威,英文雄武,精大義,高潔清廉,運協皇圖,德崇演正,掌儒釋道教之權,管天地人才之柄,上司三十六天,星辰雲漢,下轄七十二地,冥壘幽酆,秉註生功德,延壽丹書,執定死罪過,奪命黑籍,考察諸佛諸神,監制群仙群職,高證妙果,無量度人,萬靈萬神,至上至尊。
伏   魔大帝,關聖帝君,大悲大願,大聖大慈,真元顯應,忠孝祖師,
昭   明翊漢大天尊,旻皇高上帝。(虔誦三遍,然後誦下文真經)
聖帝新寶誥
   志心皈命禮
    精忠大義,雄武英文,在三分國祚之時,漢賊豈容兩立,建萬世人臣之極馨香自足千秋,精靈充塞於古今,至剛至大,折願挽回夫劫數,存道存人,御宇蒼穹,任十八天皇而繼統執符金闕,渾三千世界於括囊,孰主宰,孰綱維,赫赫大圜在上自東西,自南北,隆隆祖氣朝元,作聖賢仙佛之君師,三十六天誕登大寶,主升降隆污之運會,十萬劫普渡慈航,佛證蓋天,恩覃曠劫,大悲大願,大聖大慈,
太   平開天,普度皇靈,中天至聖,仁義古佛,玉皇大天尊,玄靈高上帝(三稱九叩)

 

關聖帝君降筆真經
 
 
吾是漢關聖帝,敕諭大眾聽聞。
世上不齊等事,全憑一點真心,
正直光明不屈,死生順逆當分。
吾嘗下遊漢季,結盟皇叔三人。
桃園名重千古,單刀秉燭於今。
寄曹明來明去,吞吳為漢亡身。
上帝憐我忠耿,獨敕宣化幽明。
令我日遊天下,鑒別忠佞紛紛。
一切貪殘奸巧,還償果報斤斤。
最戒讀書文士,並及官宦軍民,
第一休欺父母,切莫圈套鄉鄰。
貧富先交朋友,朋友乃是五倫。
信心內外平等,何妨蹇難災迍。
曹操無底深險,現今受罪幽冥。
孔明只緣忠義,幽冥群奉為神。
直心直受真福,巧計巧來禍因。
有過昭如日月,無私天地同群。
果然兒女不誑,到處鬼怕神欽。
設計偷覷女色,自己帷薄宣淫。
弄手誆騙財物,輩輩嫖賭淪侵。
比比爭能爭勝,往往越賤越貧。
快快收心猛省,休休愈墮愈深。
三生輪迴惡趣,千載唾罵難禁。
筆尖添減情罪,舌劍反誅滿門。
尤恨毒心狼婦,花言啜哄鄉親。
唆夫罵公罵婆,令我一見生瞋,
泥像揮刀剖腹,分斬母子平均。
可喜平人孝悌,朝夕買辦糧薪。
霎時風行泥馬,駝回萬里窮軍。
欲求長生育子,急宜戒殺放生。
不食牛犬等肉,可免牢獄囚刑。
男女遵奉吾語,遇難我自降臨。
戰場驅逐鬼魅,刀光雷雨血淋。
護國百折不改,助爾加爵策勳。
富貴永昌奕世,眉壽永無災侵。
如有毀法妄想,斗秤欺哄愚氓,
不許生身人世,阿鼻地獄呻吟。
那時悔過已晚,急早配服法文。
回頭諸惡莫作,勉力眾善奉行。
(真經誦至此止。誦畢三叩首,起身調息後,再朗誦下文明聖經。)   

 
    
KINH  MINH  THÁNH  CHÚ GIẢI

( CHU TỬ SAN ĐỊNH NGỌC TUYỀN KINH BỔN )

【經序第一】

帝君曰﹕『天地無私,善惡昭彰。順天者存,逆天者亡。神道設教,藉以此傳。』吾當言 明聖經三字;
『明』   者如同日月普照乾坤無物不到,使我心性常懷不昧靈臺潔淨,打掃如同寶鏡一般明心鑒性。
『聖』   者昭然也。參天化育,千古忠肝義膽,萬載聖神,先聖後聖其揆一也。
『經』   者常也。所言無非人生日用,常行道理,可以流傳萬古,人能恭敬身心,時時不忘乎根本,刻刻常存乎孝悌,謹敬

         這個心田勿貪勿淫是也。故曰﹕『明聖經』。
    
漢,漢壽亭侯,略節桃園經,
書於玉泉寺,夜夢與凡人,
萬經千典有,吾經未舉行,
著爾傳塵世,不可視為輕。

太上老君三界靈,眾聖五嶽雷電神,
五湖並四海,日月斗星辰,
天下城隍聽號令,萬方土地各遵行,
萬聖朝真均奏議,普天之下盡頒行,

於是救苦大仙,太上真君,
太白金星,公同註解,
覆奏明章,行於四海,
皇圖鞏固,萬民永賴。   

【原始第二】

吾乃紫微宮裡朱衣神,協管文昌武曲星,
祇因張仙無主轄,敕令隨吾為從神,
檢點少男與少女,或損陰騭絕子孫,
送生催生及難產,魅妖傷殘瘢痘疹,
如有焚香諷誦者,轉禍為祥顯聖靈。

今有塑畫吾像者,側立張仙持彈弓,
鑒知戰國侵凌亂,命我臨凡救萬民,
玉皇賜我名和姓,子胥五轉做忠臣,
臨潼解釋諸侯難,絕卻奸秦并國心,
楚無道,酒荒淫,
昭關過此難,吳越動刀兵,
道吾一生為孝子,數世作忠臣,
敕令我管錢塘事,晝夜領潮行。

漢室多奸黨,改姓下凡塵,春秋丈夫志,
生長解梁城,指關為我姓,
下界又稱臣,幼而離鄉,壯而出任,
大丈夫以四海為家,何患乎吾無兄弟,
入桃園睹兩人奇異,請問英雄何處,
雄糾糾朗曰張飛,貌堂堂溫言劉備,
出身投地今逢主,須待挽天河水來蕩滌,誠哉龍虎風雲會,宰牛馬昭告天地,結義匡扶漢室。

破黃巾,誅董卓,呂布斃,
劫寨剿曹奸,賺入空營內,
雁侶散徐州,攜嫂無存地,
減燭張遼謀,破壁雲長義,
降漢不降曹,忠臣不事二,
封漢壽亭侯,印無漢重鑄,
三日華筵,曹瞞美意,
顏良文醜統兵圍,
敢對立功,可酬曹歸計,
封金卻印三辭操,挈眷尋兄一點忠,
千里尋兄添義氣,五關斬將有威風,
離合英雄乾坤內,相逢兄弟古城中。

智尚雖高無決勝,運籌固識少經綸,
三謁茅廬,臥龍晏起,
大夢誰先覺,平生我自知,
草堂春睡足,窗外日遲遲,
未出茅廬,三分已定,
孔明原是廣慧星,即是前朝嚴子陵,
此生諸葛亮,再宋朱文公,
輪迴三世相,永不下凡塵,
鼎足三分嫌地窄,江山今換許多人。

大哥已在清虛府,關某今掌三天門,
三弟四川為土穀,每起忠良護國心,
在宋易姓岳飛將,在唐改諱曰張巡,
輪迴三轉皆忠烈,上帝封為護國神,
小可兵戈不差汝,大難危邦再下塵。

天下城隍皆將相,正直為神古至今,
為人忠孝感天地,豈在持齋佛顯靈,
飲食衣服休華美,隨著隨餐莫厭憎,
禽獸一切皆性命,無故自食宰生靈,
一切化生皆活命,何苦張弓捕網尋,
草木花果休折採,嚴冬零落發陽春,
萬物悉含天地化,依時生長與人靈,
爾能遵守惜萬物,福有攸歸禍不侵。
勿謂善小而不作,勿謂惡小而可行,
天網恢恢分曲直,神靈赫赫定虧盈,
孝悌忠信人之本,禮義廉恥人之根,
爾能聽吾行善事,定有祥雲足下騰。
吾受三天門掌握,萬神啟奏我先聞,
善者紀錄加官爵,惡者遭殃絕子孫,
報應遲速時未到,昭彰早晚禍福臨,
休道天高無耳目,虧心暗室有遊神,
敬神如在須誠敬,不可狂言褻聖明。


【力學第三】

吾素覽春秋,幼觀孔孟,
唯以孝弟為先,修身治國為本。
異端蜂起,兵戈傷殘民命。
十餘年甲不離身,刀無潔淨。
夜無穩睡三更,日不飽餐一頓。
東戰西征,百戰而江山纔定。
白了鬚鬢星星,力倦馬羸刀鈍。
費盡赤膽忠心,換得箇封侯金印。

到如今亂臣賊子,捕風捉影。
奸貪讒佞,結黨欺良,言無一定。
不思禮義廉恥,孝弟忠信,
事每胡行,屢圖僥倖。
篡君位,戮忠臣,好貨財,淫美色,殺人縱性。
只顧爽心樂事,豈曉得後來報應。
古今好事多磨,毋勉強苟求捷徑,
如彩雲琉璃,鮮花明月。
人不知機,如鋼刀快缺,
妄動橫行,造下了些冤孽。
遠則幾年,近則數月,
報應無差,法難漏洩。

如人未遭逢,各有時節,
當思守命由天,安貧樂業。
如百藝倉卒成功,其物焉能精潔。
草木不能培植,難長許多枝葉。
五穀少用耕鋤,苗雖秀而不實。
文臣十載寒窗,方朝金闕。
武將百戰臨危,始得公侯並列。
吾乃日月精忠,乾坤大節,
天崩我崩,地裂我裂。

【道貌第四】

又奉
上帝加御敕,掌握凡間善惡人。
萬國九州皆敬服,道吾忠義獨稱尊。
塑形畫像乾坤內,如我英雄有幾人。
火龍燒赤兔,水獸鍊青鋒。
臥蠶眉八字,丹鳳目雙睛。
五龍鬚擺尾,一虎額搖身。
精忠沖日月,義氣貫乾坤。
韜略期孫臏,機謀勝范增。
鬚長義更長,面赤心尤赤。
英雄氣蓋世,燭殘刀破壁。
封庫印懸樑,爵祿辭不受。
偃月刀磨仍快,嘆兄弟不再。
臥蠶眉鎖未開,恨江山幾改。
亙古功名難比並,三天門下封元帥。
稽首頓首。

上帝敕令各部將帥,
經傳下界,抄錄諷誦如在。
人能遵行,繫玉腰金,官居千載。
能全一事,崢嶸三代。
欽承法旨,會集諸神施行。

【節訓第五】

著忠良,竭力匡衡,孝順無改。
廉潔不亂心田,節義臨危不敗。
忠孝廉節之章聽解。
君使臣以禮,臣事君以忠,
日用朝廷祿,當思補報功。
報國臣之本,惜卒將之宏。
不飾文臣過,不滅武將功。
紀錄文華殿,舉劾建章宮。
丹心如赤日,位必至三公。
秦檜世為犬,岳飛四帥中。

為人子,孝為先,孝順兩字緊相聯。
勿使惱怒常使歡,暖衣飽食毋饑寒。
病醫藥必自煎,即須嚐過獻親前。
夜不解衣,朝不食,時時刻刻在身邊。
爾能孝順爾子孝,點點滴滴看簷前。
大舜孝,帝位傳,二十四孝極周全。
在生不供奉,死後祭靈前。
不孝子,惹災愆,虎唅蛇咬病相纏。
官刑牢獄遭充配,水火之災實可憐。
或是懸樑刀毒死,不孝之人苦萬千。
速速改,莫遲延。
世人孰無過,改之為聖賢。
人無過,篤行全。

廉生畏,潔生嚴。
細檢點,避疑嫌。
希賢希聖由天命,學禮學詩聽自然。
卻周粟,隱山川,
為人似玉無瑕玷,立志如同鐵石堅。
守己祿,莫徇偏,損人利己子孫冤。
廉者不受嗟來食,志士不飲盜之泉。
辭俸原憲潔,畏金楊震廉。
坐懷不亂柳下惠,閉戶無容魯仲連。
鶂食怎如螬李美,瓜祭何勝菜羹甜。
俸祿只堪供禮儀,舉家食費僅盤桓。
百篢抬回失節物,滿箱裝裡昧心錢。
笞杖徒流誰不怕,勸爾抬頭看上天。
縱容男僕如狼虎,謀占軍民地與田。
勢敗運衰參訐告,拔塚平房冤報冤。
婦男窮極為娼盜,恨殺當初惡要錢。

人之節,如竹又如月,
廣大與高明,圓容更清潔。
一生直不彎,挺挺欺霜雪。
一勁參天秀,舞風弄明月。
娥英泣竹林,點點斑皆血。
即如蘇武杖,數有十二節。
李陵污其奸,蘇武敬其烈。
仲升使西域,三十六國卻。
節義全,神聖悅。
或掌天曹事,或補城隍缺。
或生公與侯,富貴千年業。
亂臣並賊子,每把忠良滅。
一見虛歡喜,心口各相別。
心藏丈八矛,意存三尺鐵。
舌下有龍泉,殺人不見血。
貪酷剋奸讒,自殞兒孫絕。
吾未吃長齋,吾不信異說。
地獄即城隍,三寶光日月。
救濟急難人,就是解冤結。
此四節,忠孝廉節,詳明甚切,
後列二十四劫:

擎天頂地猛勇神,捧日舉月普照神,
列宿張星明朗神,移星換斗剝量神,
騰雲駕霧飛度神,驅雷掣電威烈神,
呼風喚雨擾攘神,綴露殞霜溥沸星,
飛沙走石截路神,翻江搗海五湖神,
崩山頹嶺鐵甲神,凍水開冰結化星,
焚炎逐火流光星,開花結果嬌媚星,
長禾秀穀益惠星,抽芽綻葉發育星,
枯木涸澤摧竭神,走獸飛禽捕捉星,
魚蝦蟹鱉踴躍星,飛跳諸蟲纏擾星,
作文制字文昌星,興兵佈陣武曲星,
考正歲時測運星,造作工藝巧作神,

眾星聽令,各回本部,變化發生,
稽首神明,無極眾聖,不可思議功德。

【經驗第六】

值年值月將,值日值時神,
夜差黑煞帥,日令皎潔兵,
往來細鑒察,不得漏毫分。
會同家宅神,著令司命君,
如有虔誦男和女,速速報知聞。

家宅供此經,妖魅化為塵,
船舟奉此經,風波即刻平,
行人佩此經,路途保安寧,
書生看此經,不久步青雲,
婦人誦此經,二女五男成,
若為亡化念,亡化早超生,
若為父母念,父母享遐齡,
焚香高誦念,其福即來臨,
日念三五遍,或誦百千聲,
人能鈔印送,諸疾不相侵,
諸神皆歡喜,宅舍並光明,
或賜福與壽,或蔭兒與孫,
凶事化為吉,福祿壽重增。
斗口王天君,欽奉,漢室,漢壽亭侯。

關聖大帝敕令(嘉慶十五年正月二十四日)
大帝曰:吾曾言,
日在天上,心在人中,心者萬事之根本,
儒家五常,道釋三寶,皆從心上生來。
仁莫大於忠孝,義莫大於廉節,二者五常之首。
聖人參贊化育者,此而己。
仙佛超神入化者 此而已。
自有天地以來,這個無極太極之理,渾然包羅古今長懸,諸帝王聖賢仙佛,萬經千典,只是明此理,成此事而已。

吾係紫微垣中,火之正氣。
火,離明象也,故主文昌。
火,又烈性也,故主武曲。
文主仁,仁首忠孝,武主義,義首廉節。
惟是舉天下萬世皆為聖賢仙佛,此有晝無夜有陽無陰,絕無之理也。
自戰國以來,吾出世匡君救民,不得已以公善之心望世,此桃園經之所以現身說法也。

奈何世之人,真性不密,邪僻用心,見吾平常之言,不曰聖人不出此驕矜語,則曰聖人不出此淺近語。
嗚呼,是必欲吾重作五經,待世之智愚賢不肖,皆盡讀之乎。
不獨此也,現在身列文儒,亦妄行指駁。
吾因周子,凜凜持誦多年,只得註解明白。
如再有擅行詆毀者,輕則令瘟火滅之,
重則命周倉斬之,毋悔。

明聖經,本係夢與玉泉寺僧,僧醒而傳述。
首句漢漢,上一漢字乃代名,即大漢也。
漢壽亭,係地名也。
其先囑咐人人誦此經者,是以效驗歆動人心也。
中言精忠沖日月,義氣貫乾坤,即孟子所謂塞乎天地也。
曰面赤鬚長者,即大學所謂心廣體胖,孟子所謂睟面盎背也。
至投胎轉劫之說,儒者不言,不知釋道兩門,並非無據。
試歷查古今,借屍還魂,靈殼轉寄,異物入胎,豈少也哉。
吾言在列國,在漢,與在唐宋之言實非誑也,諸君試對核之。

再四章言忠,文武臣僚,皆當敬體,則是三代以上之臣也,夔龍伊皋其人也。
言孝,則曰不解衣不食,則侍膳寢門,文王其人也。
滴水還源,孫又效子,則子孫保之,大舜其人也。
說到二十四孝,古今昭如日月,格天地,動鬼神,豈非確然可據者哉。

廉在周禮,以六計為定,實從義字中生,故為愚昧者痛斥。
而廉泉盜水,舉一二而以括之也,節如竹,竹有筠也。
如月,月有度也,非筠則溷,非度則昏。
古今大節不踰者,於義殆盡。

後遣諸神鑒察,以使速應,吾亦大費婆心。
以我為驕,我固不辭,以我為淺。
我亦不辭,但願人人從此驕言淺言作去,一一果自信於心中,然後探元妙之理,入上聖之班,吾亦不怪,而且快然也。

將此語著靈官,傳世知之,為此述告周宰人等,一心體此,以心印心。
心在人中,日在天上,欽哉勿忽。    
明聖經註證
王天君曰:張仙非唐之張公名巡,乃黃帝錫以弧矢為張之張仙也。
大帝目空一切,固是天性。故云徒上智者無決斷,徒運籌者欠經綸,
  以啟下文之意,必賴 文星孔明也。再二十四位神將,乃
大帝所遣,如有誠心,呼之即來,聽法師之命。並將此諭,傳與周宰君
 及與事人等知之。二月二十五日 王天君奉
大帝命特誥。

(明聖經誦至此止)   

*XIN XEM TIẾP PHẦN PHIÊN ÂM HÁN VIỆT
(chưa có bản dịch)

*Nhược Thủy sao lục
 


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 23, 2008, 01:07:46 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Tám 02, 2008, 02:15:03 AM »

*PHỤ  LỤC:-

KINH  MINH  THÁNH

(của Đức Quan Thánh Đế Quân)

*****

B.- PHẦN PHIÊN  ÂM  HÁN  VIỆT:-

明聖經

MINH  THÁNH  KINH



*Cáo Văn Thức

Cung Duy

Thánh  Đế , hạo khí lăng tiêu , đan tâm quán nhật ,
Phù chính thống dĩ chương tín nghĩa , uy chấn cửu châu , hoàn đại tiết nhi đốc trung trinh , linh chiêu  thiên cổ .
Phục ma đãng khấu , lâu  đại chuỷ  kỳ cơ  huân . Giác thế dũ dân , hoàn vũ phi kỳ minh huấn .
Vận hiệp hoàng  đồ , đức phúc lê thứ , đệ tử …………………………… mỗ , ư ……..mỗ …….niên …..nguyệt…. nhật , kính vị ………………………mỗ sự , khấu hứa mỗi nhật kiền tụng (chung sinh phụng hành ), Minh Thánh Kinh Bảo Huấn . Do tụng nhi nhập , dĩ thục vi qui  , do giảng nhi minh , dĩ tri vi  yếu .
Tiễn phúc kỳ ư đốc thực , tâm địa vụ cầu quang minh .Phục kí  giám hữu , vô nhâm  triêm ân chi chí .

Cẩn Cáo .

“Văn Xương Ứng Hoá Trương Tiên Bảo Cáo”
(nghi kiền thành tam khấu thủ , tụng thử cáo tam biến )    

*Chí tâm qui mệnh lễ :-

Quế hương thượng điện , Văn xương tả cung , thất thập nhị hoá chi pháp thân , bá thiên vạn kiếp chi vận số .
Dục tự thiên hạ , diễn giáo nhân gian , kim đàn  trúc cung tuỳ thân đái , cô thần  quả tú diệt hành tung .
Phù tiểu tử  nhi vệ thông quan , ấm khuê phòng nhi hộ nạn sản , thông minh nhật ích , đậu chẩn giảm tiêu , nạn dũ giả kỳ chi tiện dũ , nạn thuyên giả đảo chi tất thuyên .
Đại bi đại nguyện , đại thánh đại từ , Cửu Thiên phụ nguyên khai hoá , linh ứng Trương Tiên đại đế , thất khúc Dục Thánh Thiên Tôn .

“Linh Quan Vương Thiên Quân Bảo Cáo”
 (nghi kiền thành tam khấu thủ , tụng thử cáo tam biến  )

*Chí tâm qui mệnh lễ :-

Tiên thiên chủ tướng , nhất kí   thần quân , đô thiên củ sát đại linh quan , tam giới vô tư mãnh liệt tướng .
 Kim tình  xích phát , hiệu tam ngũ hoả xa lôi công , phượng chuỷ ngân nha , thống bá vạn tì  hưu thần tướng .
Phi đằng vân vụ hiệu lệnh  lôi đình , giáng  vũ khai tình , khu tà trị bệnh , quan  quá thác  ư nhất thập nhị niên , thụ mệnh :
NGỌC    ĐẾ
Tích công huân ư bá thiên vạn chủng  , thệ tá tổ sư , chí cương chí dũng , tế tử tế sanh  , phương phương xiển giáo , xứ xứ khai đàn .
Khoát lạc  mãnh soái  , tam ngũ hoả xa , Đại Linh Quan , Vương Thiên Quân , Lôi Thanh Phổ Hoá Thiên Tôn .

“Chu Tướng Quân Bảo Cáo”

 (nghi kiền thành tam khấu thủ , tụng thử cáo tam biến  )    


* Chí tâm qui mệnh lễ :-

Phù thiên dũng tướng , sát địa mãnh thần , thiết tu ngân xỉ , hắc diện châu thần . Tinh trung đặc lập , kính tiết kinh nhân , khể tra thiện ác  , củ sát phàm trần .
Minh minh hiển hách , xứ xứ du tuần , sừ gian sừ ác  , cứu thế ưu dân .
Trung thần nghĩa sĩ , phù bỉ siêu thân , quai nhi nghịch tử  , bất thắng nộ sân .
Duy trì thế giáo , khuông chính nhân luân , trảm yêu hộ pháp , đại đạo thường tồn . Tối linh chân tể , tối hiển thần quân , hộ triều hộ quốc , cương trực trung dũng đại thiên tôn .

“Quan Thánh Thái Tử  Bảo Cáo”
(nghi kiền thành tam khấu thủ , tụng thử cáo tam biến  )



*Chí tâm qui mệnh lễ :-

Linh Hầu thái tử  , văn kinh vũ vĩ , khuông vương hộ quốc , đức nghĩa nguy nguy . Trung hiếu tiết nghĩa , toàn thụ toàn qui , kỳ huân tảo kiến ư Tây Thục , dị lược tố trước  ư Bắc Nguỵ , đại trung đại hiếu , chí nhân chí dũng , bổ tạo hoá chi bất túc , tá :-
THÁNH ĐẾ
dĩ lập công , hộ triều hộ quốc , tận hiếu tận trung , cửu thiên uy linh hiển hoá đại thiên tôn .

“Thánh Đế Bảo Cáo”
(nghi kiền thành tam khấu thủ , tụng thử cáo tam biến  )    



*Chí tâm qui mệnh lễ :-

Thái Thượng thần uy , anh văn hùng vũ , tinh đại nghĩa , cao khiết thanh liêm ,
Vận hiệp hoàng  đồ , đức sùng diễn chính , chưởng Nho  Thích  Đạo giáo chi quyền , quản thiên địa nhân tài chi bính .
Thượng ty tam thập lục thiên , tinh thìn vân hán , hạ hạt thất thập nhị địa , minh luỹ u phong .
Bỉnh chú sanh  công đức , diên  thọ đan thư , chấp định tử tội quá , đoạt mệnh hắc tịch .
Khảo sát chư Phật chư Thần , giám chế quần Tiên quần chức  ,
Cao chứng diệu quả , vô lượng độ nhân , vạn linh vạn thần , chí thượng chí tôn .
Phục    Ma đại đế , Quan Thánh Đế Quân , đại bi đại nguyện , đại thánh đại từ , chân nguyên hiển ứng , trung hiếu tổ sư ,

Chiêu  Minh Dực Hán Đại Thiên Tôn , Mân Hoàng Cao Thượng Đế .

 (kiền tụng tam biến  , nhiên hậu tụng hạ văn chân kinh )


Thánh Đế Tân Bảo Cáo
   
*Chí tâm qui mệnh lễ :-

Tinh trung đại nghĩa , hùng vũ anh văn , tại tam phân  quốc tộ chi thời , Hán tặc khởi dung lưỡng lập . Kiến vạn thế nhân thần chi cực hinh hương tự túc thiên thu , Tinh linh sung tái  ư cổ kim , chí cương chí đại , chiết  nguyện vãn hồi phù kiếp số , tồn đạo tồn nhân , ngự vũ thương khung , nhậm  thập bát thiên hoàng  nhi kế.
Thống chấp phù kim khuyết , hồn tam thiên thế giới ư quát nang , thục chủ tể , thục cương duy , hách hách đại viên tại thượng .
Tự đông tây , tự nam bắc , long long tổ khí triều nguyên .
Tác Thánh Hiền Tiên Phật chi quân sư , tam thập lục thiên đản đăng đại bảo ,
Chủ thăng giáng  long ô chi vận hội , thập vạn kiếp phổ độ Từ Hàng ,
Phật chứng Cái Thiên , ân đàm khoáng kiếp ,
Đại bi đại nguyện , đại thánh đại từ ,
Thái    bình khai thiên , phổ độ hoàng  linh , trung  thiên chí thánh , nhân nghĩa cổ phật , Ngọc Hoàng  Đại Thiên Tôn , Huyền Linh Cao Thượng Đế .
                                                        (tam xưng  cửu khấu )


 
Quan Thánh Đế Quân Giáng  Bút Chân Kinh
 
 
Ngô thị Hán Quan Thánh Đế , sắc dụ đại chúng thính văn .
Thế thượng bất tề đẳng sự , toàn bằng nhất điểm chân tâm ,
Chính trực quang minh bất khuất , tử sanh  thuận nghịch đương phân  .
Ngô thường hạ du hán quí , kết minh hoàng  thúc tam nhân .
Đào viên danh trọng  thiên cổ , đơn đao bỉnh chúc ư kim .
Ký Tào minh lai minh khứ , thôn ngô vị hán vong thân .
Thượng đế liên ngã trung cảnh , độc sắc tuyên hoá u minh .
Lịnh ngã nhật du thiên hạ , giám biệt trung nịnh phân phân .
Nhất thiết tham tàn gian xảo , hoàn thường quả báo cân cân .
Tối giới độc thư văn sĩ , tịnh cập quan hoạn quân dân ,
Đệ nhất hưu khi phụ mẫu , thiết mạc khuyên  sáo hương lân .
Bần phú tiên giao bằng hữu , bằng hữu nãi thị ngũ luân .
Tín tâm nội ngoại bình đẳng , hà phương kiển nạn tai truân .
Tào Tháo vô  để thâm hiểm , hiện kim thụ tội u minh.
Khổng Minh chỉ duyên trung nghĩa , u  minh  quần phụng vi  thần .
Trực tâm trực thụ chân phước , xảo kế xảo lai hoạ nhân .
Hữu quá chiêu  như nhật nguyệt , vô tư thiên địa đồng quần .
Quả nhiên nhi nữ bất cuống , đáo xứ quỷ phạ thần khâm .
Thiết kế thâu khư  nữ sắc , tự kỷ duy bạc tuyên dâm .
Lộng thủ cuống  biển  tài vật , bối bối phiêu  đổ luân xâm .
Tỉ  tỉ  tranh năng tranh thắng , vãng vãng việt tiện việt bần .
Khoái khoái thu tâm mãnh tỉnh , hưu hưu dũ đoạ dũ thâm .
Tam sanh  luân hồi ác  thú , thiên tải  thoá mạ nan câm  .
Bút tiêm thiêm giảm tình tội , thiệt kiếm phản tru mãn môn .
Vưu hận độc tâm lang phụ , hoa ngôn chuyết  hống hương thân  .
Toa phu  mạ công mạ bà , lịnh ngã nhất kiến sanh  sân ,
Nệ tượng huy đao bội  phúc , phân  trảm mẫu tử  bình quân .
Khả  hỉ  bình nhân hiếu đễ , triêu  tịch mãi biện lương tân .
Sát  thời phong hành nê  mã , đà hồi vạn lý cùng quân .
Dục cầu trường  sanh  dục tử  , cấp nghi giới sát phóng sanh  .
Bất thực  ngưu khuyển đẳng nhục , khả  miễn lao ngục tù hình .
Nam nữ tuân phụng ngô ngữ , ngộ nạn ngã tự giáng  lâm .
Chiến trường khu trục quỉ  mị  , đao quang lôi vũ huyết lâm  .
Hộ quốc bách chiết  bất cải , trợ nhĩ gia tước sách huân .
Phú quí  vĩnh xương dịch thế , mi  thọ vĩnh vô tai xâm .
Như hữu huỷ pháp vọng tưởng , đẩu xứng khi hống ngu manh ,
Bất hứa sanh  thân nhân thế , A-Tỳ  địa ngục thân ngâm .
Na thời hối quá dĩ vãn , cấp tảo phối phục pháp văn .
Hồi đầu chư ác  mạc tác , miễn lực chúng thiện phụng hành . 

( Cáo văn  tụng chí thử chỉ . Tụng tất, tam khấu thủ , khởi thân điều  tức hậu , tái lãng tụng hạ văn Minh Thánh Kinh )   

(Phần cáo văn tụng đến đây là hết. Tụng xong, lạy ba lạy, đứng dậy nghỉ cho khỏe, rồi tiếp theo tụng phần chánh văn sau đây:-

*CHÁNH  VĂN

MINH THÁNH  KINH

【Kinh tự -- đệ nhất 】

Đế Quân viết ﹕" Thiên địa vô  tư , thiện ác chiêu chương . Thuận thiên giả tồn , nghịch thiên giả vong . Thần đạo thiết giáo , tịch dĩ thử truyền . " Ngô đương ngôn  Minh Thánh Kinh tam tự :-
" Minh "    giả như đồng nhật nguyệt phổ chiếu càn  khôn vô  vật bất đáo , sử ngã tâm tính thường hoài bất muội linh đài khiết tịnh , đả tảo  như đồng bảo kính nhất ban  minh tâm giám tính .
" Thánh "    giả chiêu nhiên dã . Tham thiên hoá dục , thiên cổ trung can nghĩa đảm , vạn tải  thánh thần , tiên thánh hậu thánh kỳ quĩ  nhất dã .
" Kinh "    giả thường dã . Sở ngôn vô  phi nhân sanh nhật dụng , thường hành đạo lý , khả  dĩ lưu truyền vạn cổ , nhân năng cung kính thân tâm , thời thời bất vong hồ căn bản  , khắc khắc thường tồn hồ hiếu đễ , cẩn kính
         Giá cá tâm điền vật tham vật dâm thị dã . Cố viết ﹕" Minh Thánh Kinh " .     
*Hán , Hán Thọ Đình Hầu , lược tiết Đào Viên Kinh ,
Thư ư  Ngọc Tuyền Tự , dạ mộng dữ phàm nhân ,
Vạn kinh thiên điển hữu , ngô kinh vị cử hành ,
Trước  nhĩ truyền trần thế , bất khả  thị vi khinh .

Thái Thượng Lão Quân tam giới linh , chúng thánh Ngũ Nhạc Lôi Điện Thần ,
Ngũ hồ tịnh tứ hải , nhật nguyệt đẩu tinh thìn ,
Thiên hạ thành hoàng thính hiệu lệnh , vạn phương thổ địa các tuân hành ,
Vạn thánh triều chân quân tấu nghị , phổ thiên chi hạ tận ban hành ,

Ư  thị cứu khổ đại tiên , Thái Thượng Chân Quân ,
Thái Bạch Kim Tinh , công đồng chú giải ,
Phúc tấu minh chương , hành ư  tứ hải ,
Hoàng đồ củng cố , vạn dân vĩnh lại .
   

【Nguyên Thuỷ-- Đệ Nhị 】

Ngô nãi tử vi cung lý châu  y  thần , hiệp quản văn xương vũ khúc tinh ,
Kỳ nhân trương tiên vô  chủ hạt , sắc lệnh tuỳ ngô vi tùng thần ,
Kiềm  điểm thiếu nam dữ thiếu nữ , hoặc tổn âm chất tuyệt tử  tôn ,
Tống sanh thôi sanh cập nạn sản , mị  yêu thương tàn ban đậu chẩn ,
Như hữu phần hương phúng tụng giả , chuyển  hoạ vi tường hiển thánh linh .

Kim hữu sóc  hoạ ngô tượng giả , trắc lập trương tiên trì đàn  cung ,
Giám tri chiến quốc xâm lăng loạn , mệnh ngã lâm phàm cứu vạn dân ,
Ngọc Hoàng tứ ngã danh hoà tính , Tử  Tư ngũ chuyển  tố trung thần ,
Tâm đồng giải thích chư hầu nạn , tuyệt khước gian tần tịnh quốc tâm ,
Sở vô  đạo , tửu hoang dâm ,
Chiêu quan quá thử nạn , Ngô Việt động đao binh ,
Đạo ngô nhất sanh vi hiếu tử  , số thế tác trung thần ,
Sắc lệnh ngã quản tiền đường sự , trú dạ lãnh  trào  hành .

Hán thất đa gian đảng , cải tính hạ phàm trần , Xuân Thu trượng phu  chí ,
sanh trưởng Giải Lương thành . Chỉ  QUAN  vi ngã tính , hạ giới hựu xưng  thần , Ấu nhi ly hương , tráng nhi xuất nhậm ,
Đại trượng phu  dĩ tứ hải vi gia , hà hoạn hồ ngô vô  huynh đệ ,
Nhập Đào Viên đổ lưỡng nhân kỳ dị , thỉnh vấn anh hùng hà xứ ,
Hùng củ củ lãng viết Trương Phi , mạo đường đường ôn ngôn Lưu Bị ,
Xuất thân đầu địa kim phùng chủ , tu đãi vãn thiên hà thuỷ lai đãng địch , thành tai long hổ phong vân hội , tể ngưu mã chiêu cáo thiên địa , kết nghĩa khuông phù Hán thất .

Phá Hoàng Cân , tru Đổng Trác , Lữ Bố tệ  ,
Kiếp trại tiễu Tào gian , khiêm  nhập không doanh nội ,
Nhạn lữ tán Từ Châu , huề tẩu vô  tồn địa ,
Giảm chúc Trương Liêu mưu , phá bích Vân Trường  nghĩa ,
Hàng Hán bất hàng Tào , trung thần bất sự nhị ,
Phong Hán Thọ Đình Hầu , ấn vô  hán trùng chú ,
Tam nhật hoa diên , Tào man  mỹ ý ,
Nhan Lương,  Văn Xú thống binh vi ,
Cảm đối lập công , khả  thù Tào qui  kế ,
Phong kim khước ấn tam từ thao , khiết  quyến tầm huynh nhất điểm trung ,
Thiên lý tầm huynh thiêm nghĩa khí , ngũ quan trảm tướng hữu uy phong ,
Ly hợp anh hùng càn  khôn nội , tương  phùng huynh đệ cổ thành trung .

Trí thượng tuy cao vô  quyết thắng , vận trù cố thức thiểu  kinh luân ,
Tam yết mao lư , Ngoạ Long án  khởi ,
Đại mộng thuỳ tiên giác , bình sanh ngã tự tri ,
Thảo đường xuân thuỵ túc , song ngoại nhật trì trì ,
Vị xuất mao lư , tam phân  dĩ định ,
Khổng Minh nguyên thị Quảng Tuệ Tinh , tức thị tiền triều Nghiêm Tử  Lăng ,
Thử sanh Gia Cát Lượng , tái Tống   Châu  Văn Công ,
Luân hồi tam thế tướng , vĩnh bất hạ phàm trần ,
Đỉnh túc tam phân  hiềm địa trách , giang sơn kim hoán hứa đa nhân .

Đại ca dĩ tại Thanh Hư Phủ , Quan mỗ kim chưởng Tam Thiên Môn ,
Tam đệ Tứ Xuyên vi Thổ Cốc , mỗi khởi trung lương hộ quốc tâm ,
Tại Tống dị tính Nhạc Phi tướng , tại Đường cải huý viết Trương Tuần ,
Luân hồi tam chuyển  giai trung liệt , Thượng Đế phong vi Hộ Quốc Thần ,
Tiểu khả  binh qua bất sai nhữ , đại nạn nguy bang tái hạ trần .

Thiên hạ thành hoàng giai tướng tướng , chánh  trực vi thần cổ chí kim ,
Vi nhân trung hiếu cảm thiên địa , khởi tại trì trai phật hiển linh ,
Ẩm thực,  y  phục hưu hoa mỹ , tuỳ trước,  tuỳ xan mạc yếm tăng ,
Cầm thú nhất thiết giai tính mệnh , vô  cố tự thực  tể sanh linh ,
Nhất thiết hoá sanh giai hoạt mệnh , hà khổ trương cung bộ võng tầm ,
Thảo mộc hoa quả hưu chiết  thái , nghiêm đông linh lạc  phát dương xuân ,
Vạn vật tất hàm thiên địa hoá , y thời sanh trưởng dữ nhân linh ,
Nhĩ năng tuân thủ tích vạn vật , phước hữu du qui  hoạ bất xâm .
Vật vị thiện tiểu nhi bất tác , vật vị ác tiểu nhi khả  hành ,
Thiên võng khôi khôi phân khúc trực , thần linh hách hách định khuy doanh ,
Hiếu đễ trung tín nhân chi bản  , lễ nghĩa liêm sỉ nhân chi căn ,
Nhĩ năng thính ngô hành thiện sự , định hữu tường vân túc hạ đằng .
Ngô thụ tam thiên môn chưởng ác , vạn thần khải tấu ngã tiên văn ,
Thiện giả kỷ lục gia quan tước , ác giả tao ương tuyệt tử  tôn ,
Báo ứng trì tốc thời vị đáo , chiêu chương tảo vãn hoạ phúc  lâm ,
Hưu đạo thiên cao vô  nhĩ mục , khuy tâm ám thất hữu du thần ,
Kính thần như tại tu thành kính , bất khả  cuồng ngôn nghệ  thánh minh .



【Lực Học-- Đệ Tam 】

Ngô tố lãm Xuân Thu , ấu quan  Khổng Mạnh ,
Duy dĩ hiếu đệ vi tiên , tu thân trị quốc vi bản  .
Dị đoan phong khởi , binh qua thương tàn dân mệnh .
Thập dư niên giáp bất ly thân , đao vô  khiết tịnh .
Dạ vô  ổn thuỵ tam canh  , nhật bất bão xan nhất đốn .
Đông chiến Tây chinh , bách  chiến nhi giang sơn tài định .
Bạch liễu tu mấn  tinh tinh , lực quyện mã luy đao độn .
Phí tận xích đảm trung tâm , hoán đắc cá phong hầu kim ấn .
* Đáo như kim loạn thần tặc tử  , bộ phong tróc ảnh .
Gian tham sàm nịnh , kết đảng khi lương , ngôn vô  nhất định .
Bất tư lễ nghĩa liêm sỉ , hiếu để trung tín ,
Sự mỗi hồ hành , lâu  đồ kiểu hạnh  .
Toản quân vị , lục trung thần , hảo  hoá tài , dâm mỹ sắc , sát nhân sỉ  tính .
Chỉ  cố sảng tâm lạc  sự , khởi hiểu đắc hậu lai báo ứng .
Cổ kim hảo  sự đa ma , vô miễn cưỡng cẩu cầu tiệp kính ,
Như thể vân lưu ly , tiên  hoa minh nguyệt .
Nhân bất tri cơ  , như cương đao khoái khuyết ,
Vọng động hoành  hành , tạo hạ liễu ta oan nghiệt .
Viễn tắc kỷ niên , cận tắc số nguyệt ,
Báo ứng vô  sai  , pháp nan  lậu tiết .

Như nhân vị tao phùng , các hữu thời tiết ,
Đương tư thủ mệnh do thiên , an bần lạc  nghiệp .
Như bá nghệ thương tốt thành công , kỳ vật yên năng tinh khiết .
Thảo mộc bất năng bồi thực , nan  trưởng hứa đa chi diệp .
Ngũ cốc thiểu  dụng canh sừ , miêu tuy tú nhi bất thực .
Văn thần thập tải  hàn song , phương triều kim khuyết .
Vũ tương  bách  chiến lâm nguy , thuỷ đắc công hầu tịnh liệt .
Ngô nãi nhật nguyệt tinh trung , càn  khôn đại tiết ,
Thiên băng ngã băng , địa liệt ngã liệt .

【Đạo Mạo-- Đệ Tứ 】

Hựu phụng
Thượng Đế gia ngự sắc , chưởng ác phàm gian thiện ác nhân .
Vạn quốc cửu châu giai kính phục , đạo ngô trung nghĩa độc xưng  tôn .
Tố hình hoạ tượng càn  khôn nội , như ngã anh hùng hữu kỷ nhân .
Hoả long thiêu xích thố  , thuỷ thú luyện thanh phong .
Ngoạ tàm mi  bát tự , đan phượng mục song tình .
Ngũ long tu bãi vĩ , nhất hổ ngạch dao  thân .
Tinh trung xung nhật nguyệt , nghĩa khí quán càn  khôn .
Thao lược kỳ Tôn Tẫn , cơ  mưu thắng Phạm Tăng .
Tu trường  nghĩa cánh trường  , diện xích tâm vưu xích .
Anh hùng khí cái thế , chúc tàn đao phá bích .
Phong khố ấn huyền lương , tước lộc từ bất thụ .
Yển nguyệt đao ma nhưng khoái , thán huynh đệ bất tái .
Ngoạ tàm mi  toả vị khai , hận giang sơn kỷ cải .
Cắng cổ công danh nan  tỉ  tịnh , tam thiên môn hạ phong nguyên soái  .
Khể thủ đốn thủ .

Thượng Đế sắc lệnh các bộ tướng soái  ,
Kinh truyền hạ giới , sao lục phúng tụng như tại .
Nhân năng tuân hành , hệ  ngọc yêu kim , quan cư thiên tải  .
Năng toàn nhất sự , tranh vinh tam đại .
Khâm thừa pháp chỉ , hội tập chư thần thi hành .


【Tiết Huấn-- Đệ Ngũ 】

Trước  trung lương , kiệt lực khuông hành , hiếu thuận vô  cải .
Liêm khiết bất loạn tâm điền , tiết nghĩa lâm nguy bất bại .
Trung hiếu liêm tiết chi chương thính giải .
Quân sử  thần dĩ lễ , thần sự quân dĩ trung ,
Nhật dụng triều đình lộc , đương tư bổ báo công .
Báo quốc thần chi bản  , tích tốt tướng chi hoành .
Bất sức văn thần quá , bất diệt vũ tướng công .
Kỷ lục văn hoa điện , cử hặc kiến chương cung .
Đan tâm như xích nhật , vị tất chí tam công .
Tần Cối thế vi khuyển , Nhạc Phi tứ soái trung  .

Vi nhân tử  , hiếu vi tiên , hiếu thuận lưỡng tự khẩn tương  liên .
Vật sử  não nộ thường sử  hoan , noãn y  bão thực  vô cơ hàn .
Bệnh y dược  đáo tất tự tiễn , tức tu thường quá hiến thân  tiền .
Dạ bất giải y , triêu bất thực , thời thời khắc khắc tại thân biên .
Nhĩ năng hiếu thuận nhĩ tử  hiếu , điểm điểm trích trích khán diêm  tiền .
Đại Thuấn hiếu , đế vị truyền , nhị thập tứ hiếu cực chu toàn .
Tại sanh bất cung  phụng , tử hậu tế linh tiền .
Bất hiếu tử , nặc  tai khiên , hổ cáp xà giảo bệnh tương  triền .
Quan hình lao ngục tao sung phối , thuỷ hoả chi tai thực khả  liên .
Hoặc thị huyền lương đao độc tử , bất hiếu chi nhân khổ vạn thiên .
Tốc tốc cải , mạc trì diên  .
Thế nhân thục vô  quá , cải chi vi thánh hiền .
Nhân vô  quá , đốc hành toàn .

Liêm sanh uý , khiết sanh nghiêm .
Tế kiểm điểm , tỵ nghi hiềm .
Hi  hiền hi  thánh do thiên mệnh , học lễ học thi thính tự nhiên .
Khước chu túc , ẩn sơn xuyên ,
Vi nhân tự ngọc vô  hà điếm , lập chí như đồng thiết thạch kiên .
Thủ kỷ lộc , mạc tuần  thiên , tổn nhân lợi kỷ tử  tôn oan .
Liêm giả bất thụ ta lai thực  , chí sĩ bất ẩm đạo chi tuyền . 
Từ bổng  nguyên hiến khiết , uý kim dương chấn liêm .
Toạ hoài bất loạn liễu hạ huệ , bế hộ vô  dung lỗ trọng liên .
Nghịch thực  chẩm như tào lý mỹ , qua tế hà thắng thái khương điềm .
Bổng  lộc chỉ  kham cung  lễ nghi , cử gia thực  phí cận bàn hoàn .
Bá cống đài  hồi thất tiết vật , mãn sương  trang lý muội tâm tiền .
Xuy trượng đồ lưu thuỳ bất phạ , khuyến nhĩ đài  đầu khán thượng thiên .
Sỉ  dung nam bộc như lang hổ , mưu chiếm quân dân địa dữ điền .
Thế bại vận suy tham kiết cáo , bạt chủng  bình phòng oan báo oan .
Phụ nam cùng cực vi xương  đạo , hận sát đương sơ ác yếu tiền .

Nhân chi tiết , như trúc hựu như nguyệt ,
Quảng đại dữ cao minh , viên dung cánh thanh khiết .
Nhất sanh trực bất loan , đĩnh đĩnh khi sương tuyết .
Nhất kính tham thiên tú , vũ phong lộng minh nguyệt .
Nga Anh khấp trúc lâm , điểm điểm ban giai huyết .
Tức như Tô Vũ trượng , số hữu thập nhị tiết .
Lý Lăng ô kỳ gian , Tô Vũ kính kỳ liệt .
Trọng Thăng sử tây vực , tam thập lục quốc khước .
Tiết nghĩa toàn , thần thánh duyệt .
Hoặc chưởng thiên tào sự , hoặc bổ thành hoàng khuyết .
Hoặc sanh công dữ hầu , phú quí  thiên niên nghiệp .
Loạn thần tịnh tặc tử  , mỗi bả trung lương diệt .
Nhất kiến hư hoan hỉ  , tâm khẩu các tương  biệt .
Tâm tàng  trượng bát mâu , ý tồn tam xích thiết .
Thiệt hạ hữu long tuyền , sát nhân bất kiến huyết .
Tham khốc khắc gian sàm , tự vẫn nhi tôn tuyệt .
Ngô vị ngật trường  trai , ngô bất tín dị thuyết .
Địa ngục tức Thành Hoàng , tam bảo quang nhật nguyệt .
Cứu tế cấp nạn nhân , tựu thị giải oan kết .
Thử tứ tiết , trung hiếu liêm tiết , tường minh thậm thiết ,
Hậu liệt nhị thập tứ kiếp :

Kình thiên đỉnh  địa Mãnh Dũng Thần , Bổng  nhật cử nguyệt Phổ Chiếu Thần ,
Liệt tú trương tinh Minh Lãng Thần , di tinh hoán đẩu Bác  Lương  Thần ,
Đằng vân giá vụ Phi Độ Thần , khu lôi xiết điện Uy Liệt Thần ,
Hô phong hoán vũ Nhiễu Nhương  Thần , chuế  lộ vẫn sương Phọc Phí Tinh ,
Phi sa  tẩu thạch Triệt Lộ Thần , phiên giang đảo hải Ngũ Hồ Thần ,
Băng sơn đồi lãnh  Thiết Giáp Thần , đống thuỷ khai băng Kết Hoá Tinh ,
Phần viêm trục hoả Lưu Quang Tinh , khai hoa kết quả Kiều Mị  Tinh ,
Trưởng hoà tú cốc Ích Huệ Tinh , trừu nha điện  diệp Phát Dục Tinh ,
Khô mộc hạc  trạch Thôi  Kiệt Thần , tẩu thú phi cầm Bộ Tróc Tinh ,
Ngư hà giải miết Dũng Dược Tinh , phi khiêu chư trùng Triền Nhiễu Tinh ,
Tác văn chế tự Văn Xương Tinh , hưng  binh bố trận Vũ Khúc Tinh ,
Khảo chánh  tuế thời Trắc Vận Tinh , tạo tác công nghệ Xảo Tác Thần ,

Chúng tinh thính lệnh , các hồi bổn bộ , biến hoá phát sanh ,
Khể thủ thần minh , vô  cực chúng thánh , bất khả  tư nghị công đức .


【Kinh Nghiệm-- Đệ Lục 】

Trị niên trị nguyệt tướng , trị nhật trị thời thần ,
Dạ sai hắc sát soái , nhật lệnh giảo khiết binh ,
Vãng lai tế giám sát , bất đắc lậu hào phân  .
Hội đồng gia trạch thần , trước  lệnh tư  mệnh quân ,
Như hữu kiền tụng nam hoà nữ , tốc tốc báo tri văn .

Gia trạch cúng thử kinh , yêu mị  hoá vi trần ,
Thuyền châu  phụng thử kinh , phong ba tức khắc bình ,
Hành nhân bội thử kinh , lộ đồ bảo an ninh ,
Thư sanh khán thử kinh , bất cửu bộ thanh vân ,
Phụ nhân tụng thử kinh , nhị nữ ngũ nam thành ,
Nhược vi vong hoá niệm , vong hoá tảo siêu sanh ,
Nhược vi phụ mẫu niệm , phụ mẫu hưởng hà linh ,
Phần hương cao tụng niệm , kỳ phước tức lai lâm ,
Nhật niệm tam ngũ biến , hoặc tụng bá thiên thanh ,
Nhân năng sao ấn tống , chư tật bất tương  xâm ,
Chư thần giai hoan hỉ  , trạch xá tịnh quang minh ,
Hoặc tứ phước dữ thọ , hoặc ấm nhi dữ tôn ,
Hung sự hoá vi cát , phước lộc thọ trùng tăng .
Đẩu khẩu Vương Thiên Quân , khâm phụng , Hán thất , Hán Thọ Đình Hầu .

Quan Thánh Đại Đế sắc lệnh (Gia Khánh thập ngũ niên chính nguyệt nhị thập tứ nhật )


********
Đại Đế viết :Ngô tằng ngôn ,
Nhật tại thiên thượng , tâm tại nhân trung  , tâm giả vạn sự chi căn bản  ,
Nho  gia ngũ thường , đạo thích tam bảo , giai tùng tâm thượng sanh lai .
Nhân mạc đại ư  trung hiếu , nghĩa mạc đại ư  liêm tiết , nhị giả ngũ thường chi thủ .
Thánh nhân tham tán hoá dục giả , thử nhi kỷ .
Tiên Phật siêu thần nhập hoá giả  thử nhi dĩ .
Tự hữu thiên địa dĩ lai , giá cá vô  cực thái cực chi lý , hồn nhiên bao la cổ kim trưởng huyền , chư đế vương thánh hiền Tiên Phật , vạn kinh thiên điển , chỉ  thị minh thử lý , thành thử sự nhi dĩ .

Ngô hệ Tử Vi viên trung  , hoả chi chính khí .
Hoả , ly minh tượng dã , cố chủ văn xương .
Hoả , hựu liệt tính dã , cố chủ vũ khúc .
Văn chủ nhân , nhân thủ trung hiếu , vũ chủ nghĩa , nghĩa thủ liêm tiết .
Duy thị cử thiên hạ vạn thế giai vi Thánh Hiền Tiên Phật , thử hữu trú vô  dạ, hữu dương vô  âm , tuyệt vô  chi lý dã .
Tự chiến quốc dĩ lai , ngô xuất thế khuông quân cứu dân , bất đắc dĩ dĩ công thiện chi tâm vọng thế , thử Đào Viên Kinh chi sở dĩ hiện thân thuyết pháp dã .

Nại Hà thế chi nhân , chân tính bất mật , tà tịch  dụng tâm , kiến ngô bình thường chi ngôn , bất viết thánh nhân bất xuất thử kiêu căng ngữ , tắc viết thánh nhân bất xuất thử thiển  cận ngữ .
Ô hô , thị tất dục ngô trùng tác ngũ kinh , đãi thế chi trí ngu hiền bất tiếu , giai tận độc chi hồ .
Bất độc thử dã , hiện tại thân liệt văn nho  , diệc vọng hành chỉ bác .
Ngô nhân Chu Tử  , lẫm lẫm trì tụng đa niên , chỉ  đắc chú giải minh bạch .
Như tái hữu thiện hành đề  huỷ giả , khinh tắc lệnh ôn hoả diệt chi ,
trọng  tắc mệnh Chu Thương trảm chi , vô hối .
-Hậu khiển chư thần giám sát , dĩ sử  tốc ứng , ngô diệc đại phí bà tâm .
Dĩ ngã vi kiêu , ngã cố bất từ , dĩ ngã vi thiển  .
Ngã diệc bất từ , đản nguyện nhân nhân tùng thử kiêu ngôn thiển  ngôn tác khứ , nhất nhất quả tự tín ư  tâm trung  , nhiên hậu tham  nguyên diệu chi lý , nhập thượng thánh chi ban , ngô diệc bất quái , nhi thả khoái nhiên dã .

Tương  thử ngữ trước  linh quan , truyền thế tri chi , vi thử thuật cáo chu tể nhân đẳng , nhất tâm thể thử , dĩ tâm ấn tâm .
Tâm tại nhân trung  , nhật tại thiên thượng , khâm tai vật hốt .

(Minh Thánh Kinh tụng chí thử chỉ )

(HẾT CHÁNH VĂN)
*****
*CHÚ  GIẢI:-

-Minh Thánh Kinh , bản hệ mộng dữ Ngọc Tuyền Tự tăng , tăng Tỉnh Nhi truyền thuật .
-Thủ cú Hán hán , thượng nhất Hán tự nãi đại danh , tức đại hán dã .
-Hán Thọ Đình , hệ địa danh dã .
-Kỳ tiên chúc phó nhân nhân tụng thử kinh giả , thị dĩ hiệu nghiệm hâm động nhân tâm dã .
-Trung  ngôn :-“ Tinh trung xung nhật nguyệt , Nghĩa khí quán càn  khôn” , tức Mạnh Tử  sở vị tái  hồ thiên địa dã .
-Viết diện xích tu trường  giả , tức Đại Học sở vị tâm quảng thể bàn  , Mạnh Tử  sở vị tuý diện áng bối dã .
-Chí đầu thai chuyển  kiếp chi thuyết , Nho  giả bất ngôn , bất tri Thích Đạo lưỡng môn , tịnh phi vô  cứ .
-Thí lịch tra cổ kim , tá thi hoàn hồn , linh xác chuyển  kí  , dị vật nhập thai , khởi thiểu  dã tai .
-Ngô ngôn tại Liệt Quốc , tại Hán , dữ tại Đường Tống chi ngôn thực phi cuống dã , chư quân thí đối hạch chi .

-Tái tứ chương ngôn trung , văn vũ thần liêu , giai đương kính thể , tắc thị tam đại dĩ thượng chi thần dã , quì  long y cao kỳ nhân dã .
-Ngôn hiếu , tắc viết bất giải y  bất thực  , tắc thị thiện tẩm môn , văn vương kỳ nhân dã .
-Trích thuỷ hoàn nguyên , tôn hựu hiệu tử  , tắc tử  tôn bảo chi , đại thuấn kỳ nhân dã .
-Thuyết đáo nhị thập tứ hiếu , cổ kim chiêu như nhật nguyệt , cách thiên địa , động quỉ  thần , khởi phi xác nhiên khả  cứ giả tai .

-Liêm tại chu lễ , dĩ lục kế vi định , thực tùng nghĩa tự trung  sanh , cố vi ngu muội giả thống xích .
-Nhi liêm tuyền đạo thuỷ , cử nhất nhị nhi dĩ quát chi dã , tiết như trúc , trúc hữu quân dã .
-Như nguyệt , nguyệt hữu độ dã , phi quân tắc hỗn , phi độ tắc hôn .
-Cổ kim đại tiết bất du  giả , ư  nghĩa đãi tận .
    
*Minh Thánh Kinh chú chứng:

Vương Thiên Quân viết :Trương Tiên phi Đường chi Trương công danh Tuần , nãi Hoàng Đế tích dĩ Hồ Thỉ vi Trương chi Trương Tiên dã .
Đại Đế mục không nhất thiết , cố thị thiên tính . Cố vân đồ thượng trí giả vô  quyết đoán , đồ vận trù giả khiếm kinh luân ,
  Dĩ khải hạ văn chi ý , tất lại  Văn Tinh Khổng Minh dã . Tái nhị thập tứ vị thần tướng , nãi
Đại Đế sở khiển , như hữu thành tâm , hô chi tức lai , thính pháp sư chi mệnh . Tịnh tương  thử dụ , truyền dữ Chu Tể Quân
 Cập dữ sự nhân đẳng tri chi .

*** Nhị nguyệt-- nhị thập ngũ nhật  

Vương Thiên Quân phụng

Đại Đế mệnh đặc cáo .

*NHƯỢC  THỦY
sao lục phiên âm, hồi hướng cho tất cả chúng sinh được thấm nhuần ân đức của Ngài QT ĐQ.
(đầu Thu năm Mậu Tí--2008)





Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 23, 2008, 01:10:16 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #59 vào lúc: Tháng Tám 05, 2008, 02:02:05 AM »

*PHỤ  LỤC:-

CÁCH CÚNG THÁI TUẾ TẠI NHÀ MỖI NĂM

拜太歲

 太歲除了顯示流年大運外,也可能影響個人運程。若個人的生肖與流年太歲有所不合,則謂之犯太歲,會對該年的運程有所影響,故習俗就以攝太歲來消災化解。而犯太歲,也因個人與太歲的生肖有別,大致可分三種:
沖太歲:
有沖擊、對抗之意;交戰相沖,亦稱反吟。力最強。即個人所屬生肖,與流年太歲生肖相沖,即是「沖太歲」。沖太歲者,表示流年運程可能會顯得反復奔波,周邊環境或有變化,有機會搬遷或轉工,做生意或工作倍覺辛勞。凡事宜小心謹慎。
值太歲:
亦稱伏吟,力稍弱。即個人所屬生肖與流年太歲生肖相同,即是「值太歲」。值太歲者,表示流年運程可能會遇到不少煩惱,可能是悲亦可能有喜,一般可能禍福參半,煩惱之中,宜努力爭取,全力以赴。
刑太歲:
有刑律、刑傷之意;抵觸相刑,力更輕。即個人所屬生肖,與流年太歲生肖相刑,即是「刑太歲」。刑太歲者,表示流年運程可能會受到一定的影響。容易受到是非纏身,凡事以忍為佳,切記不可作擔保人,留意文件合約細節,以免惹上官非。
無論是犯刑、沖、破、害者,皆受到流年太歲的影響,可能會有官非糾纏、仕途阻滯、投資失利、情緒波動、人事不和及感情離合等影響,嚴重者或會有意外血光之災等情況出現,即古語說︰「逢太歲之年,無喜必有禍。」但與八字喜神相合者,則不受影響。


Cúng Thái Tuế

Thái Tuế ngoài việc thể hiện vận trình chung  của lưu niên năm đó, còn ảnh hưởng đến mệnh vận của cá nhân. Nếu sinh tiêu (tuổi) của người nào không hợp với lưu niên Thái Tuế, gọi là “phạm Thái Tuế”, thì vận trình năm của người đó không tốt, phải dùng phương pháp “Nhiếp Thái Tuế” để hóa giải. Việc “không hợp” nầy có ba tính chất chính:-

1/- Xung Thái Tuế :có tính đối kháng, tấn công , đánh nhau, còn gọi là “phản ngâm” (theo phong thủy). Đặc điểm của nó là :- trắc trở khó khăn triền miên, bôn ba vất vả đối phó, làm việc gì cũng không thuận lợi. Gặp trường hợp nầy phải hết sức cẩn thận và hạn chế phạm vi hoạt động, đừng mở mang thêm cái mới.

2/-  Trị Thái Tuế :Phong thủy gọi là “phục ngâm”, sức phá hoại kém hơn trên một chút. Gọi là “Trị Thái Tuế”  khi tuổi mình trùng với địa chi của năm đó. Tính chất của nó:- phiền não kéo dài, ít có thuận lợi suông sẻ. Họa phước mỗi thứ phân nửa, lúc đặng lúc thất. Phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt tìm cách vượt qua khó khăn mới được.

3/- Hình Thái Tuế :có ý nói về hình luật hoặc thương tật. Tuổi và năm rơi vào trường hợp “lục hình” với nhau (xem bảng lục hình). Tính chất:- thị phị khẩu thiệt, tai bay vạ gió, việc đến ngoài ý muốn. Kỵ việc bảo lãnh giùm người, lưu ý các hợp đồng ký kết… dễ động đến cửa quan.

Dù là xung, trị hay hình Thái Tuế, nói chung là tác dụng của nó rất phiền phức, lăng nhăng rắc rối đủ chuyện. Công việc gặp trở ngại, nặng thì có thể dẫn đến  lưu huyết, chết chóc là khác.
Câu nói phổ biến:- “Phùng Thái Tuế chi niên, vô hỉ tất hữu họa” ( gặp năm phạm Thái Tuế, nếu không có “hỉ sự” (cưới gả, sinh con …) thì ắt gặp tai họa. Nói thế, nhưng cũng còn tùy vào bát tự ngũ hành của mỗi tuổi mà có ảnh hưởng năng nhẹ khác nhau.

家中攝太歲

  除入寺廟攝太歲外,在家中也可做到,論誠心當然不及入寺廟參拜。
  如時間不許可,或寺廟太過擠迫,每每要速戰速決,有應誠意不足,故選擇在家中參拜。因家中較為方便,所以祭品必須一應俱全,不可草草了事。
  準備一個全新的香爐、酒杯三個、筷子三對、衣紙包括太歲衣、元寶、大光寶、轉運寶牒、貴人衣、大悲咒、金銀及壽金。
  祭品除燒肉及雞之外、還需要片糖、糖果、糕餅、紅棗及水果,亦可加入齋菜。
  首先可為太歲設神位,以視尊敬,在一張大小適中的紅紙上書寫當年太歲的名稱,建議買一本民曆書,用隨書附送的太歲鎮宅符,或複印本網頁提供的太歲鎮宅符。安奉太歲星君,可安在廳堂、神佛同位、灶君神位,選清潔安靜之處,門口或窗前向當天均可,放好香爐之後,將太歲符直貼在牆上。
  太歲衣當中有一張太歲帖文,拜祭前須在帖文上書寫犯太歲者的姓名及出生日期。
  將祭品整齊排列於棹上,便可開始參拜。
  首先誠心上香,並向太歲祈求:「□□太歲大將軍,信男/信女□□□,今年流年本命犯煞星,現向太歲仙師諴心祈求,保佑衰氣災劫盡去,化險為夷,年年行好運,身體健康……」。
  也可在安奉太歲符的時候唸三次的恭請太歲星君咒,咒曰:
奉請三星照令符,天上日月來拱應,南斗北斗推五行,唵佛顯靈敕真令,八卦祖師其中形,玉旨奉令太歲□□年,值年□□星君到此鎮,七星五雷護兩邊,六甲神將到宮前,六丁天兵守後營,天宮賜福神共降,招財進寶聚當明,弟子一心三磕拜,拜請太歲星君保安寧,鎮宅光明人尊敬,閤家平安萬事興,保命護身且鎮宅,值年太歲來降臨,急急如律令。
  稟告完畢,待香燭燒至一半時,將金銀衣紙拱手向太歲鞠躬,然後在聚寶盆內燃燒,最後將三杯酒水輪流撒在地上,拜太歲的儀式就完畢了。
  誠懇者,可於每月十五日及太歲星君生辰七月十九日供奉祭祀之,敬謝平安。
  但記住年尾一定要還神,酬謝神恩保佑。可於農曆十二月廿四日早上,宜用鮮花、果品、清茶、壽金,拜謝太歲星君一年來的關心照顧平安。祭祀完畢取下太歲星君符令同壽金三百一齊焚化之,即萬事大吉。
  玉器,自古以來已是皇室飾物和祭祀法器,也具有開運化煞的作用。大家可配帶自己所屬生肖玉鏈墜,或選擇依五行相合之其他配合自己的生肖鏈墜。


PHÁP “ NHIẾP THÁI TUẾ” TẠI NHÀ

Ngoài việc đến các Miếu Vũ thờ Thái Tuế để làm lễ cúng giải, ta có thể làm tại nhà những động tác hóa giải khác, tuy không bằng đến Miếu Vũ, nhưng cũng đở nhiều.
Nếu làm tại nhà, thì phải chuẩn bị phẩm vật cho thật đầy đủ, chứ không thể đơn sơ, qua loa được. Cúng an vị Thái Tuế vào ngày mùng 9 hoặc rằm tháng giêng, nếu nhằm vào hai ngày nầy mà kỵ tuổi (tứ xung) của người cúng thì chọn từ mùng một đến mùng chín, ngày nào tam hạp với tuổi mình thì cúng.Nên chọn buổi sáng thì tốt hơn buổi chiều.

A.- PHẨM VẬT CÚNG:-
-nhang , đèn
-một lư hương mới.
-ba chun trà.
-ba chun rượu.
-ba đôi đũa.
-quần áo bằng giấy của Thái Tuế.
-vàng giấy nguyên khối  (hai thứ lớn, nhỏ) (người Hoa gọi là nguyên bảo)
-bài vị thờ Thái Tuế (viết vẽ sẵn bằng giấy hồng đơn (đỏ)theo mẫu hàng năm)
-bài chú để đọc (theo mẫu)
-giấy tiền vàng bạc đại.
-một quyển “Chú Đại Bi”
-gà luộc hoặc thịt heo quay.
-đường miếng
-năm chè, ba xôi
-bông, trái cây
  
B.-CÁCH CÚNG:-

Trước tiên đặt bài vị Thái Tuế vào chỗ thích nghi (bàn thờ ông  bà, bàn thờ ông Táo, trước cửa hoặc cửa sổ hướng ra ngoài trời …cũng được) . Mặt sau bài vị có ghi tên tuổi của người cúng. Bài chú để đọc  in hoặc viết sẵn (theo mẫu, chỉ đổi tên Thái Tuế mỗi năm khác đi thôi). Sắp đặt phẩm vật cúng lên bàn cho thứ lớp.Đốt ba cây hương, xá ba xá, quì xuống khấn nguyện: tên họ, tuổi, chỗ ở, vái Thần Thái Tuế …phù hộ độ trì  tai qua nạn khỏi, bình an mạnh khỏe, gặp được vận may v.v…. Cắm nhang, lạy ba lạy.

*Đọc bài chú  sau ba lần:-

“Phụng thỉnh tam tinh chiếu lệnh  phù ,
Thiên thượng  nhật nguyệt lai củng ứng ,
Nam đẩu bắc đẩu thôi ngũ hành ,
Úm (án) Phật hiển linh sắc chân lệnh ,
Bát quái tổ sư kỳ trung hình ,
Ngọc chỉ phụng lệnh  Thái Tuế   ………(1)…………niên ,
Trị niên ……(2)………..Tinh Quân đáo thử trấn ,
Thất tinh ngũ lôi hộ lưỡng biên ,
Lục giáp thần tướng đáo cung tiền ,
Lục đinh thiên binh thủ hậu doanh ,
Thiên cung tứ phước thần cộng giáng  ,
Chiêu tài tiến bảo tụ đương minh ,
Đệ tử ….(3)…….. nhất tâm tam khải  bái ,
Bái thỉnh Thái Tuế Tinh Quân bảo an ninh ,
Trấn trạch quang minh nhân tôn kính ,
Hợp gia bình an vạn sự hưng  ,
bảo mệnh hộ thân thả trấn trạch ,
Trị niên Thái Tuế lai giáng  lâm ,
Cấp cấp như luật lệnh  .


*CHÚ THÍCH:- (1) tên của năm cúng
(2) tên vị thần Thái Tuế của năm cúng
(3) tên người cúng

Đọc xong lạy ba lạy. Chờ nhang lụn hơn phân nửa, đốt giấy tiền vàng bạc, y phục Thái Tuế,  (đem cái thau nhôm để trước bàn thờ mà đốt, tưới rượu vào chỗ đốt giấy cho cháy phừng lên) . Như vậy là xong phần an vị Thái Tuế.
*Hàng ngày đốt nhang vái nguyện. Hàng tháng cũng sắm bông, trái cây cúng  Thái Tuế vào ngày rằm và ngày vía Thái Tuế ( 19 / 7 ).
*Cuối năm, làm lễ kính tiễn Thái Tuế vào ngày 24 tháng chạp (12). Dùng phẩm vật như trên để cúng. Khấn nguyện tạ ơn Thái Tuế Tinh Quân đã phù hộ suốt năm được tai qua nạn khỏi v.v…Chờ nhang tàn hết mới đem bài vị Thái Tuế xuống để đốt chung với giấy tiền vàng bạc. Dọn dẹp bàn thờ, không đốt nhang nữa.
*Nếu được, thỉnh một miếng “Ngọc Bội” bằng đá quí để đeo, hóa giải sát khí. Nhớ dùng ngọc có màu sắc tương sanh với bổn mạng mới tốt.

*NHƯỢC  THỦY dịch


*Mẫu bài vị Thái Tuế năm Mậu Tí (2008) :- Mậu Tí niên Thái Tuế DĨNH  BAN Tinh Quân.
  (xin xem file attach)

* MẪU BÀI VỊ THÁI TUẾ NĂM MẬU TÍ.doc (68.5 KB - download 470 lần.)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, dailuc, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Một 19, 2009, 10:49:03 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 3 [4] 5 6 ... 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.393 seconds với 24 câu truy vấn.