Tháng Năm 07, 2021, 02:16:43 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Tiến sĩ giấy  (Đọc 6005 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 05:59:05 AM »

Kính mời quí huynh đệ theo dõi những bài viết sau để thấy rõ năng lực thực sự của "QUÍ ÔNG" Tiến Sĩ nhà mình !

Hellas! How I can again my heroics time !!!

-------------
Ra mắt tư liệu Hán Nôm khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140603/ra-mat-tu-lieu-han-nom-khang-dinh-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-la-cua-viet-nam.aspx   


 (TNO) Cuốn “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông” là chứng cứ pháp lý khẳng định chủ quyền trên biển của Việt Nam.
 


Ngày 3.6, Viện hàn lâm khoa học xã hội VN đã giới thiệu cuốn sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông”.

“Đây là những chứng cứ hết sức có giá trị, cung cấp những căn cứ khoa học và pháp lý khẳng định chủ quyền với biển, đảo của Việt Nam”, PGS Đinh Khắc Mạnh, nguyên Viện trưởng Viện Hán Nôm, chủ biên cuốn sách cho biết.

Trong suốt 3 năm từ 2009-2012, 50 nhà nghiên cứu Hán Nôm đã triển khai thực hiện đề tài Thư mục Hán Nôm về biển đảo. Họ đã khảo sát toàn bộ kho sách của viện, tuyển chọn những đoạn ghi chép hoặc vẽ về biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử.

Chính vì thế, cuốn sách dày 500 trang “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông” đã được chờ đợi như một tiếng nói khoa học đối với hành động ngang ngược của Trung Quốc tại vùng biển Việt Nam.

Sách có những tư liệu Hán Nôm, bản đồ cổ in màu chứ không phải đen trắng như thường thấy. Kèm theo bản chụp văn bản là chứ Hán, phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa sang tiếng Việt. Những bản đồ mà giới nghiên cứu mới chỉ nhìn thấy bản đen trắng, giờ trong sách đã là bản in màu.

“Trong đó có 18 bản đồ, 17 bộ sử, hội điển. Chúng đều thể hiện sự nhất quán quản lý nhà nước Việt Nam trong lịch sử đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và vùng biển của Việt Nam ở biển Đông”, ông Mạnh nói.

Các tư liệu được công bố lần này được trích ra từ nhiều bộ sử như Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục. Chúng cho thấy việc thực thi chủ quyền trên biển từ rất sớm và liên tục của Việt Nam. Bên cạnh các bộ sử, còn có sách giáo khoa, sách dạy luân lý cũng nói về cương vực lãnh thổ, khẳng định rõ  Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Chính vì thế, việc công bố tư liệu theo ông Mạnh là để cho thấy Trung Quốc đã xuyên tạc lịch sử.

Cũng theo ông Mạnh, tư liệu bản đồ Trung Quốc in thời cận đại cũng như những năm đầu thế kỷ 20 thì biên giới Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. “Trong sách bậc tiểu học Trung Quốc, biên giới của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Chúng tôi mới sưu tập được một cuốn sách giáo khoa như vậy. Trong khi của ta từ thế kỷ 17 đã khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa rồi”.

**************

Công bố sách tư liệu Hán Nôm về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

Thứ năm, 03 Tháng 7 2014 04:23 T.S (tổng hợp) Thông tin
 
           Cuốn sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông” vừa được Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam công bố. Sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành, nằm trong chương trình nghiên cứu chung về biển Đông của hơn 50 cán bộ viện này trong hơn 10 năm qua.
 
 


Bìa cuốn sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông”

           GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cho biết: “Việc xác định biên giới, chủ quyền quốc gia là việc làm quan trọng hàng đầu, nhất là trong bối cảnh, tình hình như hiện nay, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép vào vùng đặc quyền quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta. Từ trước đến nay, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, đã có nhiều công trình, đề tài của các học giả nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển của nước ta ở biển Đông. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cũng đã sưu tầm tư liệu từ nhiều đơn vị khác nhau, được ghi chép bằng cả tiếng Hán Nôm và tiếng nước ngoài, thể hiện nhất quán, rõ ràng về vấn đề chủ quyền biển đảo này”.

           Đề tài nghiên cứu đã được nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, với bản thảo có độ dày khoảng 3.000 trang. Nhưng để phục vụ kịp thời công tác nghiên cứu, khai thác và phát huy hiệu quả của đề tài, 46 tư liệu Hán Nôm và 18 bản đồ có giá trị, được lựa chọn và in trong cuốn sách với độ dày 500 trang. Các tư liệu và hình ảnh bản đồ được thu thập từ kho tư liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và sưu tầm từ các địa phương. GS.TS Nguyễn Xuân Thắng khẳng định trong đó có nhiều tư liệu gốc lần đầu tiên được công bố qua cuốn sách. Đặc biệt, cuốn sách không chỉ đề cập tới chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà còn cả chủ quyền với các vùng khác thuộc biển Đông, cũng nằm trong vùng tranh chấp với Trung Quốc.

           Là người tham gia biên soạn cuốn sách, PGS Trịnh Khắc Mạnh, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chia sẻ: “Trong quá trình sưu tầm các tư liệu, bước đầu chúng tôi đã tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các cùng biển của Việt Nam ở biển Đông, gồm các loại văn bản như bản đồ, địa chí, lịch sử, văn bản hành chính, tạp văn, cùng nhiều loại tài liệu khác. Trong đó, có các tập bản đồ đáng chú ý là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” được soạn vẽ vào năm 1686, hay “Thiên hạ bản đồ”, “Thiên Nam lộ đồ” có những ghi chép quan trọng về Bãi Cát Vàng - tức Hoàng Sa”.

           Các bộ sử, địa chí, hội điển cũng được giới thiệu trong cuốn sách như “Đại Việt sử ký tục biên” do chúa Trịnh Sâm sai biên soạn vào năm 1775; “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn soạn và viết tự năm 1776; bộ “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1882… cho tới các tập châu bản triều Nguyễn. Các loại tư liệu này đều minh chứng, Nhà nước đã phái người ra quần đảo Hoàng Sa để đo đạc, cắm mốc, vẽ bản đồ mang về trình tấu triều đình và đặt đội hải thuyền mang tên Hoàng Sa, Bắc Hải thực hiện những chuyến ra khơi để quản lý biển đảo.

           Ngoài ra, cuốn sách còn bao gồm các tập thơ văn, tạp văn viết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những ghi chép của các nhà thơ, nhà văn trong những chuyến công cán về hiện trạng lịch sử địa lý lúc bấy giờ, điển hình là tập thơ “Đông hành thi thuyết” của Lý Văn Phức. Đồng thời, trong sách còn có những ghi chép từ cuốn “Khải đồng thuyết ước” do Phạm Vọng và Ngô Thế Vinh nhuận sắc. Đây là cuốn sách giáo khoa dạy các kiến thức về xã hội, địa lý, đề cập tới bản đồ ghi Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Điều đó cho thấy Nhà nước phong kiến Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc giáo dục ý thức coi trọng chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển ở biển Đông cho những thế hệ người Việt Nam.

           PGS Trịnh Khắc Mạnh khẳng định: “Đây đều là những tư liệu thuộc về Nhà nước Việt Nam quản lý, không chỉ có giá trị khoa học mà còn là căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của nước ta ở biển Đông. Các tư liệu, bản đồ cũng chứng tỏ trong lịch sử, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và Nhà nước Trung Quốc mới chiếm đoạt từ năm 1974. Sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng, chứ không thể nói một cách gian lận và trắng trợn như các nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay”.

           Dự kiến, những tư liệu, bản đồ trong cuốn sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở biển Đông” sẽ sớm được đưa vào sách giáo khoa, trong chương trình giảng dạy của giáo viên, để tuyên truyền nhận thức một cách sâu rộng hơn tới các em học sinh Việt Nam về vấn đề chủ quyền biển đảo.

T.S (tổng hợp)

http://baobinhduong.vn/newsdetails/1247ECEFB109/_Cong_bo_sach_tu_lieu_Han_Nom_ve_chu_quyen_Hoang_Sa_Truong_Sa_.aspx 


(xin xem tiếp phần đánh giá năng lực của "quí Ngài Tiên Sĩ" )


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 06:12:53 AM »

(tt)

Một cuốn sách cần phải xem lại


Về cuốn “ MỘT SỐ TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ CÁC VÙNG BIỂN CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG ” (nxb Khoa hoc Xã hội).

Xem thêm, cùng chủ đề: http://www.viet-studies.info/kinhte/GopYTuLieu_HSTS.pdf

Đọc “ MỘT SỐ TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
VÀ CÁC VÙNG BIỂN CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG ”


MỘT QUYỂN SÁCH CẦN PHẢI XÉT LẠI
 
Phạm Hoàng Quân

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-cuon-sach-can-phai-xem-lai

Lời dẫn

Bài viết này được điều chỉnh, bổ sung từ một bài góp ý đã gởi đến nhà xuất bản và cơ quan chủ trì biên soạn hôm 30 tháng Sáu năm 2014. Tác giả đã không nhận được một phản hồi chính thức nào sau ba tuần vừa qua. Quyển sách nêu trên tiêu đề hiện đã lưu hành ở vài hiệu sách tại Việt Nam, vì vậy, độc giả có thể xem bài viết này như là một bài điểm sách thông thường, tác giả mong nhận được những ý kiến trao đổi trên tinh thần nghiên cứu học thuật.





Gần đây Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội vừa xuất bản công trình của Viện nghiên cứu Hán Nôm, với chủ đề nêu khá rõ tại tên sách:
Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông (sau đây viết tắt là Tư liệu Hán Nôm về biển Đông), theo thông tin từ các bài báo đề cập hôm giới thiệu sách này (3/6/2014), hiện nó đang được chuyển ngữ sang tiếng Anh và tiếng Trung để phổ biến rộng đến cho giới nghiên cứu quốc tế.

Về tính chất, đây là loại sách tập hợp tư liệu gốc theo chuyên đề, nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu. Về nội dung, đây là tư liệu Hán Nôm của Việt Nam được ghi chép trong lịch sử, liên quan đến vấn đề miêu tả cương giới biển cùng những quần đảo, hải đảo trong vùng biển Đông. “Lời mở đầu” của PGS-TS Trịnh Khắc Mạnh -- thay mặt cho Ban biên tập (BBT) -- thấy có đoạn: “Đây là những tư liệu lịch sử, có giá trị khoa học, làm căn cứ pháp lý xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển ở Biển Đông”(tr.11), và với kết luận: “Căn cứ vào các tư liệu Hán Nôm, chúng ta có đủ bằng chứng có giá trị, chứng minh một cách thuyết phục về chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông là của Việt Nam, đây là những căn cứ vững chắc về lịch sử, về khoa học, và về pháp lý.” (tr.35), hai đoạn văn trên đây cho thấy tiêu chí sưu tập nhằm vào vấn đề xác quyết chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với biển Đông trong nội hàm các tư liệu được tuyển chọn.

Nếu như BBT tập sách chỉ dừng lại ở chừng mực cung cấp tư liệu cho giới nghiên cứu, cho việc nghiên cứu nhiều lĩnh vực – như tựa sách đã nêu- thì có lẽ không phải đặt vấn đề xét lại. Tuy nhiên, các nhận định và kết luận của TS Trịnh Khắc Mạnh về bộ sưu tập sử liệu này đã đặt vấn đề vào chỗ khó giải quyết cho các nghiên cứu về sau.

Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể một số điểm sai lầm, bất cẩn trong việc tuyển chọn tư liệu, để tiện theo dõi, tôi chia các việc cần xét làm 3 phần: thứ nhất là phần bản đồ, thứ hai là về các văn bản viết, thứ ba là bàn về tính khoa học của bộ sách.


A/ Bản đồ


Trong các bản đồ đưa vào sưu tập Tư liệu Hán Nôm về biển Đông, các bản đồ sau đây cần được nghiên cứu, phân tích thêm, và trước mắt là nên rút ra khỏi sách, gồm:



A.1. Bản đồ trong sách An Nam hình thắng đồ (số thứ tự 2, tr. 45 - hình bên). Trong bản đồ này, 3 chữ Bãi Cát Vàng nằm cạnh ngoài chân núi Sa Huỳnh (Sa Huỳnh Sơn), bản đồ không có đường phân cách đất liền với biển, biểu thị Bãi Cát Vàng nằm trên đất liền.

A.2. Bản đồ trong sách An Nam thông quốc bản đồ (số thứ tự 3, tr. 50-51). Giống trường hợp A.1.

A.3. Bản đồ trong sách Càn khôn nhất lãm (số thứ tự 6, tr. 70). Bản đồ ghi dòng chữ “Đại Trường Sa dĩ hạ” trên một bãi cát ven bờ biển, ở phía trong cửa biển An Hòa (An Hòa hải môn), trên bãi cát này có con đường được biểu thị bằng nét vẽ màu cam, con đường này nối liền bãi cát với chân núi Bàn Than (Bàn Than Sơn), cách vẽ như vậy cũng biểu thị Bãi Cát Vàng nằm trên đất liền gần như trường hợp A.1.

A.4. Bản đồ trong phần Đại Nam địa dư toàn đồ (số thứ tự 6, tr. 73 - hình bên). Bản đồ này tuy có vẽ một hòn đảo ngoài khơi và tiêu danh “Hoàng Sa”, nhưng xét trên tổng thể, thấy phía bắc đảo Hoàng Sa còn có hòn đảo lớn hơn được tiêu danh “Lý Nhân/ 里仁” và phía bắc đảo Lý Nhân là đảo Hải Nam, như vậy phải lý giải tổng thể này (Hải Nam- Lý Nhân- Hoàng Sa) như thế nào?, đảo Lý Nhân là đảo mang tên gì theo cách gọi ngày nay? Nhiều học giả Trung Quốc từ hơn 30 năm trước từng phân tích rằng, sử liệu Việt Nam gọi Hoàng Sa là để chỉ một đảo ứng với đảo Cây Dừa (Da Tử Đường) thuộc quần đảo Lý Sơn (Ngoại La Sơn). Như vậy, tên gọi Lý Nhân trên bản đồ có phải là do viết sai hay/hoặc là một tên gọi khác của Lý Sơn hay không?, và bản đồ này có nhiều khả năng được phía Trung Quốc vận dụng để củng cố luận điểm mà họ nêu ra từ 30 năm trước đây.

A.5. Bản đồ trong sách Giao Châu dư địa chí (số thứ tự 15, tr. 204-205). Giống trường hợp A.1.



A.6. Bản đồ trong sách Giao Châu dư địa đồ (số thứ tự 16, tr. 220-221). Giống trường hợp A.1.

A.7. Bản đồ trong sách Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (số thứ tự 17, tr. 227-228). Giống trường hợp A.1.

A.8. Bản đồ trong sách Quảng Thuận đạo sử tập (số thứ tự 32, tr.356-357). Giống trường hợp A.1.

A.9. Bản đồ trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (số thứ tự 37, tr.393-397). Giống trường hợp A.1.

A.10. Bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ (số thứ tự 37, tr.401). Giống trường hợp A.4.

Tiểu kết về phần A, liên quan đến các bản đồ

Xét qua 25 đơn vị bản đồ (gồm tập bản đồ và bản đồ phụ lục), thấy có đến 10 bản đồ cần phải nghiên cứu lại. Trong 10 bản đồ mà tôi nêu ra có những điểm bất lợi khi công bố chúng dưới góc độ xem nó như là những chứng cứ xác lập chủ quyền, tôi cho rằng cần có hướng lý giải thỏa đáng cho những bản đồ này trong trường hợp gặp sự phân tích phản biện. Một số trong 15 đơn vị bản đồ còn lại cũng không hẳn hoàn toàn có thể dựa vào, ở góc độ tập hợp tư liệu tuy tạm chấp nhận được, nhưng cần phải cân nhắc thật cẩn thận khi phân tích hoặc dẫn dụng chúng theo hướng hệ thống hóa, hoặc sử dụng chúng để thuyết minh cho hồ sơ chứng lý, bởi khi so sánh nhiều bản đồ trong số này, sẽ thấy chúng không có sự đồng nhất về các tên gọi hoặc vị trí địa lý, điểm đặc biệt cần lưu ý là địa danh Bãi Cát Vàng, ở bản đồ này nó nằm ven bờ hoặc trên đất liền, ở bản đồ khác nó lại ở ngoài khơi, ở địa đồ khác nó lại là một cửa biển chẳng hạn.


B/ Văn bản viết


Các sử liệu viết trong Tư liệu Hán Nôm về biển Đông phần lớn là những tư liệu đã được dịch ra Việt văn và đã ứng dụng từ 40 năm hoặc 20 năm trước như các tư liệu trong Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục, Hoàng Việt địa dư chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt sử ký tục biên, Bản quốc hải trình hợp thái (Hải trình chí lược), Việt sử cương giám khảo lược, tôi gọi số này là tư liệu cũ, trong số tư liệu cũ với những bản dịch cũ này tuy có một số lỗi dịch thuật còn chưa được điều chỉnh nhưng nhìn chung là không nghiêm trọng vì không làm sai ý chính của nguyên tác. Đối với số tư liệu cũ này, thấy BBT “Tư liệu Hán Nôm về biển Đông” chỉ thu thập những bản dịch Việt văn có sẵn và gắn thêm các trang ảnh chụp bản gốc tương ứng, đây là vấn đề khác và tôi sẽ trở lại vấn đề này trong dịp khác.

Một số tư liệu mới trong Tư liệu Hán Nôm về biển Đông, tức là phần việc có sự gia công điều chỉnh từ bản dịch cũ hoặc bản dịch đối với tư liệu mới của BBT, có khá nhiều sai lầm, thiếu sót, dưới đây là một số điểm:

B.1, Văn bản trong sách Địa dư lược chí (số thứ tự 12, tr.184-187). Văn bản này có hai lỗi lớn là vừa dịch không chính xác, vừa cắt ráp tư liệu một cách tùy tiện. Việc dịch không chính xác làm đảo ngược phương hướng bắc nam của đối tượng địa lý. Việc cắt ráp tư liệu từ hai đề mục “Vạn Lý Trường Sa” và “Thất Châu Dương” để nhập lại làm một nhằm hướng sử liệu thuận theo ý riêng là việc làm phản khoa học, thừa thãi và tai hại.

B.2, Văn bản trong sách Sử học bị khảo (số thứ tự 34, tr.366-369). Qua việc thu thập tư liệu trong sách Sử học bị khảo thấy BBT Tư liệu Hán Nôm về biển Đông làm việc rất lười biếng, sách này vốn có hai đoạn liên quan đến đảo Hoàng Sa, nhưng BBT chỉ thu thập một đoạn, trong khi hai đoạn này có liên quan khá mật thiết, cần phải sưu tập đầy đủ cùng lúc. Một sự trùng hợp là mẫu tư liệu có chữ Hoàng Sa trong trong cũng là đoạn văn bản có ghi nhận trong bảng Hướng dẫn tra cứu trong bản dịch Tư liệu Hán Nôm về biển Đông Sử học bị khảo của cụ Đỗ Mộng Khương (Nxb Văn Học, 1997), và đoạn văn mà BBT Tư liệu Hán Nôm về biển Đông bỏ sót cũng là đoạn văn mà bản dịch năm 1997 tuy có dịch nhưng đã bỏ sót từ “Hoàng Sa” trong bảng Hướng dẫn tra cứu, tức là BBT này chỉ dựa trên “bảng tra” chớ không chịu đọc sách cho kỹ.

B.3, Văn bản trong sách Việt Sử cương giám khảo lược (số thứ tự 45, tr.472). Việc ứng dụng văn bản này cũng có nhiều vấn đề phải xét lại, ở đây chỉ nói việc dịch sai ở chỗ đoạn văn quan trọng.

Văn bản gốc viết: “Ngoại La (Quảng Ngãi tỉnh Lý Sơn đảo) khai chu Vạn Lý Trường Sa giáp canh mão dậu bát canh đối Vạn Lý Thạch Đường cấn khôn dần thân bát cửu canh”. BBT Tư liệu Hán Nôm về biển Đông do không hiểu quy ước về phương hướng la bàn và cách tính thời gian trong văn từ hàng hải xưa nên dịch sai là: “Ngoại La (đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi) đi thuyền ra Vạn Lý Trường Sa khoảng 8 cung giờ gồm Giáp Canh Mão Dậu, đến Vạn Lý Thạch Đường khoảng 8,9 cung giờ gồm Cấn Khôn Dần Thân”, từ chuyên môn không có chữ “cung giờ”, và dịch ra Việt văn như vậy cũng không ai hiểu được văn bản này xác định cái gì. Trước đây, bản dịch cũ của cụ Đỗ Mộng Khương cho đoạn văn này như sau: “ở Ngoại La (đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi) cho thuyền đi muốn đến Vạn Lý Trường Sa theo kim giáp canh mão dậu 8 canh đến nơi. Muốn đến Vạn Lý Thạch Đường, theo kim cấn khôn dần thân 8,9 canh thì đến nơi.” (Nxb Văn hóa thông tin, 2009), bản dịch này tuy không sai nhưng cũng khó hiểu. Ý của đoạn văn này là hải hành theo hướng từ tây sang đông, đi từ 8 đến 9 canh giờ (mỗi canh giờ đi được khoảng 25-30 km) thì đến các địa điểm đang nêu.

Nếu muốn cho dễ hiểu và chuyển được sang tiếng Anh, thì có lẽ nên dịch rõ như sau: “Từ đảo Ngoại La (đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi) đến Vạn Lý Trường Sa đi theo hướng đông, đông bắc (ứng với 90-75 độ/ hệ la bàn nguyên vòng), khoảng 480 dặm (240 km) thì đến nơi. Muốn đến Vạn Lý Thạch Đường, theo hướng đông bắc (60-45 độ) khoảng 480- 540 dặm (240-270 km) thì đến nơi.”

Tiểu kết về phần B, liên quan đến các văn bản viết

Ở phần này, trước mắt tôi chưa thể nêu tất cả những khiếm khuyết của bộ sưu tập, trên đây chỉ điểm những chỗ sai đại diện cho 3 tình trạng sai lầm:

1/ không trung thực;

2/ thiếu sót;

3/ trình độ dịch thuật kém (tương ứng với B1, B2, B3).

Những sai lầm này có thể cho là nghiêm trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt chớ không riêng ở góc độ học thuật thông thường. Qua các lỗi sai nêu trên, thấy rằng BBT sách “Tư liệu Hán Nôm về biển Đông” yếu kém ngay cả ở mặt chuyên môn hẹp của họ là dịch thuật văn bản.

Ngoài tiêu chuẩn dịch thật, vấn đề quan trọng hơn là cách tuyển chọn tư liệu, việc tuyển chọn tư liệu cần phải cân nhắc cẩn thận vì đây sẽ là cơ sở nền tảng của nghiên cứu lập luận. BBT tập sách đã biểu lộ sự hạn chế về khả năng nắm bắt vấn đề một cách bao quát trong cách tuyển chọn tư liệu, vì không nắm vấn đề bao quát được nên họ không thể phân tích được bao nhiêu phần lợi và bao nhiêu phần hại trong cùng một mẩu sử liệu, lại càng không lường trước được các khả năng/tình huống chỏi nhau khi phối hợp nhiều mẩu sử liệu thành hệ thống.


C/ Bàn về tính khoa học

C.1/ Ngoài những chỗ dịch sai làm mất giá trị khoa học của tập sách đã nêu ở phần B, tôi nói thêm về văn phong của bản dịch và những chú giải tối cần thiết. Các đoạn văn dịch trong sách Tư liệu Hán Nôm về biển Đông nhìn chung quá lạc hậu, không theo nhịp tiếng Việt hiện đại, vì vậy nó không giúp ích được gì nhiều cho tình hình học thuật hiện nay với đa số người đọc, người nghiên cứu không thạo Hán Nôm, và những đoạn văn lù mù này sẽ được thể hiện bằng Anh ngữ ra sao? Về chú giải, toàn bộ tập sách không chú giải được những điều quan trọng, đơn cử như việc giải thích / chuyển đổi các đơn vị đo lường trong văn bản cổ sang đơn vị đo lường hiện nay.

C.2/ Trong sách có tuyển chọn nhiều tác phẩm không rõ xuất xứ, hầu hết các tác phẩm này lại thiếu bước nghiên cứu nội dung để phỏng định khoảng niên đại, mà đáng lý phải có. Điểm này thuộc phần việc văn bản học, việc xác định tạm niên đại cho tác phẩm là việc BBT có quyền làm và phải làm, đưa ra một nội dung mang tính chứng cứ mà không biết nó xuất hiện hồi nào thì e vô ích. Tôi nói việc xác định niên đại tạm cho tác phẩm là việc BBT có quyền làm và phải làm là vì các vị và cơ quan nơi các vị công tác độc quyền quản lý và khai thác các tác phẩm này, bởi vậy không ai có toàn văn văn bản tác phẩm để giúp các vị xác định niên đại tạm được.

C.3/ Sưu tập tư liệu / sử liệu này đúng ra nên phân theo nhóm tư liệu, thí dụ như nhóm tư liệu bản đồ, nhóm tư liệu lịch sử, nhóm tư liệu văn học v.v. và cuối sách là các phụ lục tác phẩm xếp theo lịch đại, phụ lục tên tác phẩm xếp theo ký tự. Như vậy mới đúng tính chất sưu tập chuyên đề, đằng này, sách “Tư liệu Hán Nôm về biển Đông” lại dựa vào tên tác phẩm để xếp theo ký tự La tinh (như kiểu từ điển), khiến những tư liệu đồng dạng bị tản mát khó theo dõi.

C.4/ Cách xếp văn bản theo kiểu đối chiếu một trang nguyên văn cạnh một bản dịch khiến nội dung bị ngắt quãng, BBT có lẽ nghĩ rằng bày ra như vậy sẽ tiện cho người đọc dễ đối chiếu, nhưng đối với người đọc không rành Hán Nôm (đa số) thì bày ra cách nào cũng vô ích, thay vì bố trí văn bản gốc liên tục và nội dung dịch liên tục sẽ tiện theo dõi hơn. Việc trình bày màu mè diêm dúa và nhiều lỗi chính tả tiếng Việt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tính khoa học và lẽ ra không nên mắc phải.

Có ba vấn đề cần lưu ý đối với công trình nêu trên.

1/ Trước mắt, điểm sơ qua về tổng quan, tôi thấy rằng sách Tư liệu Hán Nôm về biển Đông đã đi ngược lại tình hình nghiên cứu và hoàn cảnh thực tiễn hiện nay. Giữa lúc giới nghiên cứu và cả các cơ quan chuyên trách của chính phủ đang cần có những công trình thật sự mang tính khoa học, trong nghiên cứu, trong lập luận phân tích và cả trong việc trưng bày tư liệu. Trong phạm vi tư liệu, hoặc phải kết tập toàn diện hoặc phải tuyển lựa tinh gọn đặc sắc, thì công trình này lại là một sưu tập hỗn tạp, hễ thấy mẩu tư liệu nào có dính đến các tên gọi Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa Chử, Hoàng Sa, Trường Sa… là đưa vào sưu tập mà không có bước phân tích cặn kẽ về sự tương thích địa lý.

2/ Ngoài việc lặp lại các tư liệu cũ đã ứng dụng mấy mươi năm qua- mà không chỉnh lý chú giải -- là công việc vô bổ, sách Tư liệu Hán Nôm về biển Đông còn đưa ra khá nhiều tư liệu bất lợi cho hệ thống sử liệu mang tính chứng lý của Việt Nam. Trong số này, có nhiều tư liệu đã được giới nghiên cứu Trung Quốc đọc ngay văn bản gốc Hán Nôm và phân tích những điều bất hợp lý của nó. Các tư liệu mới mà chúng tôi đề cập đa số là những bản đồ, các bản đồ này có thể là tư liệu dành để nghiên cứu tổng quan về địa danh, địa lý lịch sử, về kỹ thuật soạn vẽ, nhưng phải thấy rằng hầu hết các bản đồ không có tính khoa học, và sẽ rất khó khăn trong việc biện minh về những thiếu sót hoặc phản tác dụng của nó nếu như chúng ta cho rằng nó mang giá trị xác định chủ quyền.



3/ Xét về năng lực và trách nhiệm của nhóm tác giả, tôi cho rằng công trình này huy động lực lượng 50 người -- với 3 người đại diện đứng tên BBT là Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Tá Nhí và Trương Đức Quả -- qua hơn 3 năm thực hiện mà mức độ sai phạm nhiều đến vậy thì rõ ràng năng lực của họ không thể đảm đương nổi công việc tối quan trọng này. Thực hiện sưu tập khối tư liệu này, theo tôi đánh giá chỉ cần 3 người làm trong 1 năm. Về trách nhiệm, ai cũng thấy rằng đây không phải là một công trình phục vụ nghiên cứu học thuật thông thường, mà nó mang một tầm quan trọng đặc biệt, mặc dù không hẳn mọi sử liệu đều mang tính chứng cứ pháp lý, nhưng chúng phải được xử lý với tình huống có thể là chứng lý liên quan đến lợi ích quốc gia, trách nhiệm của những người thực hiện vì vậy không nhỏ.

Thay cho lời kết, nếu xem tình hình nêu trên như một hiện tượng, những sai sót khó bề chỉnh đốn đã xảy ra tại một cơ quan “tối cao” về chức năng nghiệp vụ, liệu có nên đặt vấn đề rằng phải làm như thế nào để cải tạo tình trạng quan liêu và lạc hậu trong học thuật quan phương -- riêng trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm -- ở Việt Nam hiện nay.

Cái Bè, ngày 19 tháng Bảy năm 2014.

Phạm Hoàng Quân


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 06:21:47 AM »

(tt)


Di họa của việc sử dụng sai mục đích “An Nam đồ” đối với việc nghiên cứu Hoàng Sa – Trường Sa


Tác giả: Phạm Hoàng Quân


***

Nguồn: Tuổi Trẻ cuối tuần


Có một “cuộc hội ngộ đòi chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa” của nhiều giới liên quan, do một cơ quan Nhà nước lần đầu tiên công khai tổ chức là một tín hiệu đáng mừng, dù muộn. Trên cơ sở bài viết của tác giả Xuân Thi đăng trên Sài Gòn tiếp thị ngày 18-3-2009, chúng tôi thấy có nhiều điểm sai trật cần phải góp ý, vấn đề liên quan đến tường thuật và trích ý kiến của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: “Phát hiện mới nhất của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, viện nghiên cứu Hán Nôm là một ví dụ điển hình. Ông cùng một số nhà nghiên cứu đã mất bốn năm để tiếp cận được ba trang tư liệu An Nam đồ đang nằm ở Bắc Kinh và một phần tại Đài Bắc (Đài Loan). ‘Tấm bản đồ có niên đại năm 1608 này do ông Đại Trung, phó tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nga hay đảo Hải Nam ngày nay soạn ra có tham khảo hệ thống bản đồ của Tiền Đại Khâm, một nhà địa chính học nổi tiếng đời Thanh. Trong này có ba trang ghi tên cửa biển Đại Trường Sa của nước ta như một minh chứng rõ ràng về sự thừa nhận của nhà Minh với chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’, ông Diện giải thích” (trang 34)[[1]]. Trong đoạn văn này có những điểm sai cần phải bàn như sau:


A. Sai về nhân danh, địa danh:


1.   Tác giả An Nam đồ tên Đặng Chung (鄧 鍾), đã viết sai thành Đại Trung.

2.   Châu Quỳnh Nhai (瓊 崖), tên hợp xưng của châu Quỳnh ở phía Bắc và châu Nhai ở phía Nam đảo Hải Nam, đã viết sai thành châu Quỳnh Nga.

3.   Học giả Tiền Đại Hân (錢 大 昕), đã viết sai thành Tiền Đại Khâm.


B. Xác định sai ngành học/địa hạt nghiên cứu:



Tiền Đại Hân (1728-1804) không phải là nhà “địa chính học” mà là một học giả kinh học, sử học, đỗ tiến sĩ năm 1751, làm việc ở Viện Hàn lâm, sau làm Học chính tỉnh Quảng Đông. Tiền Đại Hân đọc rộng và có thực học, khảo cứu tận gốc nhiều lĩnh vực như: nghĩa lý kinh sử, ngôn ngữ, khảo cổ, lịch pháp Trung-Tây, toán học, lịch sử địa lý, điển chương chế độ… ưu thế ở lĩnh vực sử học và phép khảo chứng, hiệu khám[[2]].

Lịch sử học thuật đời Thanh [và cho đến nay] ở Trung Quốc chưa có ngành “Địa chính học”, có thể tiến sĩ Diện muốn nói họ Tiền là nhà “Địa chính trị học/Political geography”, mà Trung Quốc gọi là “Địa duyên chính trị học” hoặc gọi “Địa lý chính trị học” (theo Từ Hải). Tuy nhiên, thuật ngữ Political geography chỉ mới được đề xuất năm 1917 bởi Johan Rudolf Kjellen và học giới Trung Quốc thì đến năm 1924 mới hiểu sơ bộ lý thuyết của ngành học này qua sách Thái Bình Dương địa duyên chính trị học của Karl Haushofer.


C. Sai về trục thời gian:



Đặng Chung, như tiến sĩ Diện phát biểu, là người soạn/vẽ An Nam đồ năm 1608 (đời Minh), không hiểu sao lại “có tham khảo hệ thống bản đồ của Tiền Đại Khâm, một nhà địa chính học nổi tiếng đời Thanh” (sic), chẳng khác nào ta nói: Phan Huy Chú soạn Lịch triều hiến chương loại chí có tham khảo một số sách của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện vậy!?

D. Sai về tọa độ địa lý:



Dùng địa đồ cổ Việt Nam để chứng minh Hoàng Sa – Trường Sa không thuộc chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử là một trong nhiều “mũi tiến công” của học giới Trung Quốc. Ngoài bức An Nam đồ – mà tiến sĩ Diện và đồng sự đã tốn nhiều năm để tiếp cận – theo chúng tôi biết, còn có 9 bức địa đồ An Nam/Việt Nam khác[[3]] được soạn/vẽ trong thời Minh-Thanh, việc này đã được phía Trung Quốc công bố ngày 20-9-1979 trên tập san Trung Quốc Khoa học viện đồ thư quán (Thư viện Viện Khoa học Trung Quốc) qua bài viết của Quách Vĩnh Phương với tiêu đề “Việt Nam sử tịch ký tải đích Hoàng Sa – Trường Sa quyết phi ngã Tây Sa – Nam Sa quần đảo” (Hoàng Sa – Trường Sa biên chép trong sử tịch Việt Nam không phải là quần đảo Tây Sa – Nam Sa của nước ta). [Việc này, chúng tôi đã tường thuật khá chi tiết trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển (Thừa Thiên - Huế) số 5 tháng 10-2008, trang 92-93 và 101-103].


Họ Quách cho rằng, 10 bức địa đồ cổ Việt Nam này tiêu danh Đại Trường Sa, hoặc Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa ở vị trí các cửa biển hoặc bãi cát ven bờ từ Quảng Trị đến Thuận Hóa. Họ Quách phối hợp các mô tả trong nhiều bộ sử thư và địa phương chí Việt Nam như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục [[4]]… để củng cố lý luận và đi đến kết luận đại ý rằng “quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà học giới Việt Nam ngày nay đề cập ứng với Đại Trường Sa và Tiểu Trường Sa mà các địa đồ cổ và sử tịch Việt Nam đã miêu tả, tức là chỉ các nơi ven bờ biển từ Quảng Trị đến Thuận Hóa”. Ngay trong đoạn văn mô tả của tiến sĩ Diện, chúng ta vẫn thấy từ “cửa biển” đứng trước địa danh Đại Trường Sa, và kiểm tra lại các bộ sử mà họ Quách đã nêu, quả thực, các địa danh Đại Trường Sa và Tiểu Trường Sa là những bãi cát ven bờ (xem lại chú thích số [4]).

Vấn đề đang nêu cần phải được xem xét và biệt biện cẩn thận, nên nhìn sự trùng hợp địa danh này gắn ở bối cảnh lịch sử. Trước mắt, cần phải có hướng nhận định rằng:

+ Một là: các địa đồ An Nam do người Trung Hoa thời Minh-Thanh soạn/vẽ chỉ mang tính ước lệ vì không trên cơ sở thực địa, không đáng tin cậy và tránh việc nhìn nhận hoặc đánh giá cao các địa đồ ấy;

+ Hai là: có sự trùng hợp các địa danh gần bờ biển với các hải đảo vì không thể loại trừ trường hợp người Việt Nam xưa lấy tên đã có trước từ đất liền đề đặt/gọi cho các quần đảo;

+ Ba là: về nguồn gốc, các địa danh Đại Trường sa, Tiểu Trường Sa để chỉ các dãi cát ven bờ đã xuất hiện trong sử thư Việt Nam từ thế kỷ 16, vẫn tồn tại trong nhiều sách được viết ở thề kỷ 19. Tuy nhiên, các địa danh được ghi nhận khác biệt so với địa danh 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa cũng được ghi nhận trong sử thư Việt Nam.


E. Vài gợi ý:


Việt Nam đã có rất nhiều sử liệu (triều Nguyễn) chắc chắn về chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, không cần thiết hoặc phải rất cẩn trọng trong việc thâu thập các cứ liệu mới, nhất là các cứ liệu mà học giới Trung Quốc đã/đang sử dụng và lý luận theo chiều hướng có lợi cho họ.

Nói cách khác, chỉ khi nào trông thấy địa đồ Việt Nam do người Trung Hoa xưa thực hiện mà trong đó có vẽ 2 quần đảo cụ thể, cách xa bờ, và tiêu danh Hoàng Sa – Trường Sa thì mới nên dựa vào để nghiên cứu, phân tích và đi đến kết luận. Nhận định hồ đồ của tiến sĩ Diện và đồng sự của ông ở Viện Hán-Nôm lặp lại sai lầm của ông Nguyễn Phúc Giác Hải hơn một năm trước đây trên báo Tiền phong (số ra ngày 10-1-2008[[5]]). Việc ông Giác Hải, chúng tôi đã phản ánh trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển (số 5, tháng 10-2008, trang 103). Một lần nữa, chúng tôi lưu ý các vị rằng, việc thừa nhận giá trị bức An Nam đồ hoặc các bức đồng dạng và sử dụng chúng như một phần chứng lý chủ quyền lịch sử Hoàng Sa – Trường Sa sẽ di họa khôn lường vì đã đi vào đúng hướng lý luận của học giới Trung Quốc.

Về việc sưu tầm tài liệu, nếu như kho sách cổ Trung Quốc của Thư viện Xã hội thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn còn nằm đâu đó ở các viện nghiên cứu thuộc Viện KHXH hiện nay (và được bảo quản cẩn thận) thì chúng ta còn có 4.640 tựa sách gồm 30.023 cuốn, cùng nhiều địa đồ và tranh ảnh các loại khác. Trong số đó có bức An Nam đồ in trong sách An Nam đồ thuyết của Đặng Chung hoặc nhiều bức khác được sao lại từ bức của Đặng Chung (niên đại trong khoảng Minh, Vạn Lịch 1573-1679) hoặc An Nam quốc đồ (1562) của Trịnh Nhược Tăng và nhiều bức đồng đại. Chúng nằm lẫn trong các sách thuộc bộ Trung ngoại địa dư đồ thuyết tập thành (ký hiệu P.121), đây là công trình sưu tập nhiều sách địa dư, địa đồ tập và địa đồ lẻ tẻ in thành bộ, do Đồng Khang Lư chủ trương, Thượng Hải Tích Sơn thư cục xuất bản năm 1894[[6]]. Tiến sĩ Diện và đồng sự có thể chỉ mất khoảng 1 tháng là sẽ có được nhiều bức để nghiên cứu một cách có hệ thống, và mặc dù, chúng không có giá trị pháp lý cho Nhà nước Việt Nam về vấn đề chứng cứ lịch sử Hoàng Sa – Trường Sa, nhưng sẽ cần cho học giới ở nhiều lĩnh vực khác.

Tóm lại, 5 điều sai lầm trong một đoạn văn khoảng 150 chữ nhằm diễn tả một cái nhìn phiến diện qua việc kê cứu cẩu thả và kết luận vội vàng, tác giả bài báo và tiến sĩ Diện nên chia nhau đính chính.

Các bài viết của học giới Trung Quốc trong việc phản bác các lý luận của học giới Việt Nam cho thấy họ rất chuẩn trong việc trích lục, dẫn nguồn, cũng như nhân danh, địa danh xưa nay ở Việt Nam đều được viết khá chính xác. Những yếu tố cơ bản được thể hiện một cách khoa học đã làm cho các luận văn của học giới Trung Quốc dễ khiến người đọc sa vào lưới ngụy biện của họ.
Nếu có một “cuộc chiến” giữa học giới Việt Nam và Trung Quốc về sử học quanh việc chủ quyền hai quần đảo, những bất cập vừa nêu cho thấy sự không cân sức là điều đáng phải lưu ý[[7]].


© 2009 Phạm Hoàng Quân

© 2009 talawas blog
________________________________________
[[1]] Xem toàn văn bài viết của Xuân Thi tại: http://www.sgtt.com.vn/Detail3.aspx?ColumnId=3&NewsId=48448&fld=HTMG\2009\0317\48448

[[2]] Trong thời gian giữ chức Hàn Lâm viện biên tu, Tiền Đại Hân phụng chỉ chỉnh lý các sách: Nhiệt Hà chí, Tục văn hiến thông khảo, Tục thông chí, Thanh nhất thống chí, Âm vận thuật vi. Sau thời gian làm Học chính Quảng Đông, về hưu (1775), soạn các sách: Nhị thập nhị sử khảo dị (xét về sự sai trật của 22 bộ sử), Đường thạch kinh khảo dị (xét về sự sai trật của các bản kinh khắc đá thời Đường), Kinh điển văn tự khảo dị (xét về sự sai trật chữ nghĩa trong các sách kinh điển), Nguyên sử thị tộc biểu (kê cứu về các dòng họ trong bộ sử nhà Nguyên), Nguyên sử nghệ văn chí (nghiên cứu về phần Nghệ văn chí trong bộ sử nhà Nguyên), Chư sử thập di (gom góp thông tin [để bổ túc] các bộ sử), Thông giám chú biện chứng (khảo xét về các chú thích trong bộ Tư trị thông giám), Tiềm nghiên đường văn tập…

[[3]] Những địa đồ thời Minh-Thanh thường được học giới Trung Quốc dẫn dụng, gồm:

- Việt Nam dư địa đồ thuyết, Quang Tự cửu niên, Thịnh Khánh Phất soạn, Quang Tự thập cửu niên, Lữ Điều Dương trùng đính, quyển 1, Quảng Ngãi tỉnh.
- Việt Nam địa đồ, Quang Tự nguyên niên, không rõ xuất xứ.
- Việt Nam tập lược, Quang Tự tam niên (1877), Từ Diên Húc soạn, Hùng Thức vẽ, quyển thủ dẫn “Việt Nam toàn đồ”.
- “An Nam đồ” trong sách Võ bị chí.
- Việt Nam quốc dư địa đồ, Lưu trữ tại Cố cung Bác vật viện, không rõ xuất xứ.
- An Nam đồ thuyết, Minh, Trịnh Nhược Tăng, quyển thủ “An Nam quốc đồ”.
- Minh An Nam đồ, Niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619), Quảng Đông, Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Đặng Chung hội chế. (Một cách gọi khác của An Nam đồ đang đề cập trong bài viết này).
- Địa đồ tổng yếu, Minh, Ngô Học Nghiễm, mục Tứ Di, bức 11 “An Nam đồ”.
- Hoàng Minh Chức Phương lưỡng kinh thập tam tỉnh địa đồ, Trần Tổ Thọ (Thụ), quyển hạ “An Nam địa đồ”.
- Dư địa yếu lãm, Minh, quyển thủ “An Nam đồ”.

[[4]] Các đoạn văn có đề cập địa danh Đại Trường Sa và Tiểu Trường Sa trong các sách mà Quách Vĩnh Phương đã trích dẫn để lập luận:
a. Việt sử lược (quyển 2)
Năm Kỷ Dậu, niện hiệu Thần Vũ năm đầu (1069).
Ngày Ất Sửu (23-3), vua sai bọn Đại Liêu ban Hoàng Kiện đánh cửa biển Nhật Lệ, thắng được.
Ngày Kỷ Tị (27-3), qua Đại Trường Sa.
Ngày Canh Ngọ (28-3), đến cửa biển Tư Dung (Tư Hiền, Nam Thuận Hóa). [trang 96-97].


Bản dịch Trần Quốc Vượng
Lời chú thích của Trần Quốc Vượng:
Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: Từ cửa Nhật Lệ đến cửa Minh Linh (cửa Tùng) có bãi Đại Tràng Sa; từ cửa Việt (Quảng Trị) đến cửa Tư Dung có bãi Tiểu Tràng Sa. Đó là những đồi cát trắng ở dọc bãi biển. [trang 132].
(Việt sử lược, NXB Thuận Hóa, 2005)

b. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển 2)

Năm Giáp Thân [Lý Thái Tông - Phật Mã], Minh Đạo năm thứ 3 [1044], Tống, Khánh Lịch năm thứ 4.
“Ngày Quý Mão [mùa Xuân, tháng Giêng] vua thân đi đánh Chiêm Thành,… Ngày Giáp Thìn, quân đi từ kinh sư, ngày Ất Tị, đến cửa biển Đại Ác. Ngày hôm sau nhờ thuận gió, trong một ngày qua hai bãi Đại Tiểu Trường Sa. Đến cửa biển Tư Dung, có con cá trắng nhảy vào thuyền…”. [trang 222].
Bản dịch của Cao Huy Giu
Chú thích của Đào Duy Anh:
Đại Tiểu Trường Sa: Bãi cát từ cửa Nhật Lệ đến cửa Tùng là Đại Trường Sa, bãi cát từ cửa Việt đến cửa Tư Hiền là Tiểu Trường Sa. [trang 342].
(Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH,
Hà Nội, 1967, tái bản 1972, tập 1)
Bổ chú (của PHQ):
Bản dịch Việt văn của Ngô Đức Thọ đối với đoạn văn này [in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), NXB KHXH, Hà Nội, 1998, tập 1] chỉ khác tên cửa biển Tư Khách (bản dịch Cao Huy Giu là Tư Dung); chú thích của Ngô Đức Thọ về Đại Tiểu Trường Sa giống nguyên văn chú thích của Đào Duy Anh.

c. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 3)

“Giáp Thân, năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 1 (1044). (Tống, năm Khánh Lịch thứ 4 )
Tháng Giêng, mùa Xuân. Nhà vua tự làm tướng đi đánh và thắng được nước Chiêm Thành…. Một ngày thuận gió, vượt qua bãi Đại Trường Sa và Tiểu Trường Sa, thẳng đến cửa biển Ô Long”.

Lời chú (trong nguyên tác)
+ Cửa biển Ô Long: ở phía Đông Nam huyện Phú Vinh, thuộc Thừa Thiên. Nhà Lý gọi là Ô Long; nhà Trần gọi là Tư Dung; nhà Mạc đổi là Tư Khách; nhà Lê gọi là Tư Dung, tức cửa biển Tư Hiền bây giờ [nhà Nguyễn].

+ Đại Tiểu Trường Sa: sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép rằng: Theo ven biển từ phía Nam của Nhật Lệ đến cửa Minh Linh gọi là Đại Trường Sa; từ phía Nam cửa Việt Hải đến của Tư Dung gọi là Tiểu Trường Sa.
Bản dịch của Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn,
Viện sử học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 1, trang 307-309)

d. Ô châu cận lục (quyển 1)

“Cửa Hải Nguyễn.
Cửa ở huyện Kim Trà. Từ các nguồn Kim Trà, Đan Điền đổ đến. Trước từ cửa Việt Khách đến cửa Tú Khách gọi là Đại Trường Sa.
Sang năm đầu niên hiệu Khai Đại nhà Hồ, sông Yên Lục vỡ, có lịnh cho quân Kinh đi bồi đắp, song cứ mùa tháng 8, tháng 9 vẫn bị nạn nước lụt. Qua niên hiệu Cảnh Thống (đời Lê Hiến Tông) sông lại vỡ to, nên gọi là Tiểu Trường Sa.
(Ô châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc, tập thành,

Bùi Lương phiên dịch, NXB Văn hóa Á châu, Sài Gòn, 1961, trang 19)

[[5]] Xem lại trên website của báo Tiền phong tại: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=107811&ChannelID=2

[[6]] Một kênh khác để tiếp cập sách An Nam đồ thuyết theo thông tin sau đây: An Nam đồ thuyết (1 quyển) Đặng Chung, người đời Minh soạn, Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 26 (1937), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán ảnh ấn bản (in chụp). Bản này dựa theo bản của Tạ Quốc Trinh tập lục từ bản sao của Thuật Cổ Đường dòng họ Tiền và được in trong Thiện bản tùng thư, Quốc lập Bắc Bình đồ thư quán.

[[7]] Khi bài này viết xong vào tối 18-3-2009, chúng tôi được đọc thêm bài viết của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện trên báo Lao động ngày 19-3-2009 [xem tại: http://www.laodong.com.vn/Home/Hai-ban-do-quy-khang-dinh-chu-quyen-Viet-Nam-o-Truong-Sa-va-Hoang-Sa/20093/130720.laodong], tuy nhiên, những sai lầm quan trọng vẫn giống như những sai lầm trong bài viết của Xuân Thi mà chúng tôi vừa phân tích ở trên đây.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 06:25:29 AM »

(tt)

Trần Đại Vinh:

GÓP Ý CHO CÔNG TRÌNH "TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ CHỦ QUYỀN VN"


http://xuandienhannom.blogspot.com/2014/07/tran-ai-vinh-gop-y-cho-cong-trinh-tu.html
 

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 - 4 (110 - 111) - 2014 vừa đăng bài viết của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh (Huế) từ trang 116 đến trang 126, nhan đề: "Góp ý bổ cứu cho công trình "Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông".

Bài viết góp ý cho cuốn sách do một nhóm các nhà chuyên môn gồm các vị Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Tá Nhí, Trương Đức Quả ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm biên soạn dựa trên 3.000 trang bản thảo Thư mục Hán Nôm về Biển, Đảo Việt Nam do 50 cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện từ năm 2009 - 2012.  Sách được in tại Nxb. Khoa học Xã hội và đã được giới thiệu trang trọng trong một cuộc họp báo rất hoành tráng vào ngày 3.6.2014. (Xem thêm ở đây).

Trang Viet-studies của GS Trần Hữu Dũng (Hoa Kỳ) vừa đăng tải bản PDF bài viết này, tại đây: http://viet-studies.info/kinhte/GopYTuLieu_HSTS.pdf

Vì trang Viet-studies thường bị chặn ở Việt Nam, chúng tôi scan để đăng tải lại, trước là để rộng đường tham khảo bàn luận, sau là để "các soạn giả tiếp thu để sửa chữa và hoàn thiện công trình, ngõ hầu mọi tư liệu lịch sử khẳng định về chủ quyền của quốc gia có giá trị xác tín hơn" như mong muốn tha thiết, chân thành của tác giả Trần Đại Vinh.

--------   

*Quí vị có thể tải bản PDF  đính kèm bên dưới.



(ct)

* GOP_Y_HOANG_SA-16243-55963-2-PB.pdf (691.09 KB - download 312 lần.)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 27, 2014, 01:28:40 AM gửi bởi dieunha » Logged
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 06:36:59 AM »

(tt)

Bao nhiêu bản đồ thì đủ?


Tháng 7 24, 2014


http://www.procontra.asia/?p=4661


Phạm Thị Hoài



***

Người ngoại đạo như tôi, sống ở thời Google Map, đứng trước những tấm bản đồ cổ phương Tây, chữ Latinh hẳn hoi, thường chỉ ngắm chứ không thực sự hiểu. Giống như xem những chiếc răng, hộp sọ, lưỡi rìu mấy ngàn năm gì đó trong bảo tàng. Còn bản đồ cổ, châu Á, lại chữ Hán, trông như tranh của Hans Hartung đè lên Tề Bạch Thạch trong tinh thần “Phẳng chung thủy“, thì chịu, hoàn toàn phải nhờ giới chuyên môn thuyết trình.

Từ nhiều năm nay cứ thỉnh thoảng lại có một tấm bản đồ cổ chứng minh chủ quyền biển đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam được phát hiện. Tôi vốn nghĩ sơ sài rằng mọi bản đồ trong lịch sử đều chỉ có hiệu lực đến một thời điểm lịch sử nhất định. Có lẽ không một nước nào ngày nay trên trái đất còn giữ đúng lãnh thổ được vẽ vào thế kỉ 18, huống gì ở thuở nhân loại chưa biết đến các khái niệm quốc gia dân tộc và chủ quyền quốc gia theo nghĩa chúng ta đang dùng. Đảng của ông Sam Rainsy không thể mang bản đồ của Vương quốc Khmer ra đòi Việt Nam và Thái Lan trả đất. Tôi không biết Dải Gaza từng được đưa vào bản đồ của bao nhiêu nước khiến số phận nó phải long đong khốn khổ thế, song tôi chắc chắn rằng nếu Putin cho phát hành toàn thế giới bản đồ Đại Nga bao gồm cả Sao Hỏa thì một trăm năm sau chủ quyền của nước Nga trong vũ trụ vẫn không hề được chứng minh. Nếu Công hàm Phạm Văn Đồng có hiệu lực pháp lí thì mọi bản đồ trong lịch sử đều chỉ còn giá trị nghiên cứu.

Nhưng thật lạ là tôi vẫn mừng, mỗi lần các nhà nghiên cứu Việt Nam đưa ra một bản đồ làm bằng chứng. Không phải vì tôi yêu nước. Tôi xa lạ với tinh thần ái quốc. Nếu phải có tinh thần ấy, thậm chí tôi không chắc chắn rằng Tổ quốc của tôi hiện là đâu, cố hương Việt Nam hay nước Đức, nơi tôi sống hạnh phúc và đồng thời là công dân. Tôi mừng, có lẽ chủ yếu vì thiện cảm và sự ủng hộ đương nhiên dành cho một nước nhỏ, yếu về hầu hết mọi phương diện, gần như vô vọng trong cuộc đương đầu với một đại cường quốc đầy ắp tham vọng bá quyền. Nếu hải quân Việt Nam không thể thắng trên biển thì vẫn còn một an ủi là trên giấy, học giả Việt Nam không thua.

Song mừng không dễ. Năm năm trước, một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra trên trang talawas xung quanh một tấm bản đồ từ đời Minh mới được phát hiện, An Nam đồ. Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã dội một gáo nước lạnh vào sự hoan hỉ về bằng chứng lịch sử “đanh thép” đó. Ông vạch ra nhiều nhầm lẫn trong việc đọc và thẩm định tấm bản đồ này, đồng thời cảnh báo rằng “việc thừa nhận giá trị bức An Nam đồ hoặc các bức đồng dạng và sử dụng chúng như một phần chứng lý chủ quyền lịch sử Hoàng Sa-Trường Sa sẽ di họa khôn lường vì đã đi vào đúng hướng lý luận của học giới Trung Quốc” mà ông bác bỏ. Tôi hoàn toàn được học giả độc lập này thuyết phục. Vụ An Nam đồ lắng xuống.

Đầu tháng Sáu vừa rồi, cuốn sách đồ sộ Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam ra mắt, kết quả làm việc 5 năm của 50 nhà nghiên cứu. Không một cơ quan học thuật nào của Việt Nam có thể có nhiều phương tiện và chức năng nghiệp vụ hơn. Truyền thông lại hân hoan. Song một bài “Góp ý bổ cứu” của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh trên một tạp chí nhỏ rất ít người đọc của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên-Huế và nhất là bài phê bình của ông Phạm Hoàng Quân trên trang Diễn Đàn (Paris) khiến vụ An Nam đồ dường như sống lại toàn tập. Tất cả những điều nhà nghiên cứu này từng cảnh báo 5 năm trước vẫn còn nguyên.



Sự não nề đặc trưng của các câu chuyện Việt Nam là: muôn thuở không có gì thay đổi.


Căn cứ vào hai bài viết rất thuyết phục nhưng chỉ có thể xuất hiện bên lề đó, giới chuyên môn đứng đầu quốc gia hiện ra như những nhà nghiên cứu quan liêu, lười biếng, tùy tiện, bất cẩn, phản khoa học, thiếu trung thực, thậm chí thiếu cả năng lực dịch thuật, và có vẻ khá dốt nát. Ông Quân đề nghị rút hẳn 10 trong 25 đơn vị bản đồ khỏi tập sách, 15 đơn vị còn lại cũng thiếu độ tin cậy vững chắc để có thể phục vụ hồ sơ chứng lí vô điều kiện.

Bao nhiêu bản đồ thì đủ bảo vệ Hoàng Sa-Trường Sa?
Câu trả lời của giới học thuật quan phương dường như là: càng nhiều càng tốt, bất chấp độ khả tín và bất chấp nguy cơ phản tác dụng vì rơi đúng vào cái bẫy luận điểm ngụy biện của phía Trung Quốc.

Trừ ông Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một lời trần tình về sự tham gia tương đối hạn chế của mình vào thành tích bảo vệ chủ quyền nêu trên, những người chịu trách nhiệm công trình không hề lên tiếng.

© 2014 pro&contra
_____________

Bài liên quan:


(phải có thủ thuật mới xem và  tải được)


Phạm Hoàng Quân: “Di họa của việc sử dụng sai mục đích An Nam đồ đối với việc nghiên cứu Hoàng Sa-Trường Sa”, talawas 22/3/2009

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-cuon-sach-can-phai-xem-lai

Trần Đại Vinh: “Góp ý bổ cứu cho công trình Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông“, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3-4 (110-111) 2014

http://xuandienhannom.blogspot.com/2014/07/tran-ai-vinh-gop-y-cho-cong-trinh-tu.html

http://viet-studies.info/kinhte/GopYTuLieu_HSTS.pdf


Phạm Hoàng Quân: “Một cuốn sách cần phải xem lại”, Diễn Đàn 20/7/2014
http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-cuon-sach-can-phai-xem-lai 

(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
dieunha
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 480

Cảm Ơn
-Gửi: 4602
-Nhận: 1572


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Chín 26, 2014, 06:41:40 AM »

Xin mượn lời người xưa để :

"ÔN CỐ NHI TRI TÂN"

--------------------

Vịnh tiến sĩ giấy

Nguyễn Khuyến





I

Rõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

II

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
Nét son điểm rõ mặt văn khôi. (3)
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời! (4)
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!


Chú giải:


1. Hoa man: người thợ làm nghề hàng mã.
2. Giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ trở lên.
3. Văn khôi: đầu làng văn. ở đây chỉ người có đỗ đạt cao.
4. Hời: giá rẻ.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, Yahoo, nhuocthuy, mavuong, nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười 13, 2014, 02:14:37 AM »

Về đôi câu đối Thủ tướng tặng GS Vũ Khiêu


*Hoàng Tuấn Công


http://tuancongthuphong.blogspot.com/2014/09/ve-oi-cau-oi-thu-tuong-tang-gs-vu-khieu.html
 



Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng Mừng thọ GS Vũ Khiêu


Thư của ông Hoàng Minh Tuyển (hmtuyenvkttv@gmail.com) gửi Tuấn Công thư phòng: “Tôi là Hoàng Minh Tuyển, Phó ban liên lạc họ Hoàng Việt Nam. Tuy chưa một lần gặp anh nhưng tôi thường vào Thư Phòng và  rất thích các bài viết (....) Chúng tôi đang băn khoăn về câu đối Thủ Tướng tặng cho cụ Vũ Khiêu không biết dịch thế nào cho phải:


Sơn Hà Linh Khí Tại
Kim Cổ Nhất Hiền Nhân

Xin anh cho biết câu đối này có chỉnh không? Hình như sai luật đối? Về nghĩa có vẻ hơi bị đề cao quá phải không anh?
Nhân đây cũng đề nghị anh cho biết ý nghĩa đôi câu đối “Triết gia trong cách mạng, Nghệ sĩ giữa anh hùng” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng tặng GS Vũ Khiêu.
Mong anh cắt nghĩa thấu đáo. Cảm ơn anh nhiều.


***

HTC: Cảm ơn ông Hoàng Minh Tuyển đã quan tâm đến chuyện chữ nghĩa của Tuấn Công thư phòng.

Thưa ông, thú thực ban đầu chúng tôi cũng không tin có một đôi câu đối như vậy tặng GS Vũ Khiêu. Sau khi tìm hiểu mới thấy báo chí có đưa tin chính thức, kèm ảnh với lời chú thích “Ngày 17/9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tặng hoa, chúc mừng Thượng thọ Giáo sư Vũ Khiêu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng Giáo sư Vũ Khiêu câu đối "Sơn Hà Linh Khí Tại - Kim Cổ Nhất Hiền Nhân". Ảnh: Đức Tám – TTXVN -Thể thao văn hóa.vn).

Vì ông yêu cầu cắt nghĩa “thấu đáo” nên chúng tôi cũng xin trả lời cặn kẽ như sau:


-Về mặt hình thức: đây là bức “Trung đường liên” (中堂聯). Tức hình thức câu đối viết vào một tấm biển lớn hình vuông hoặc chữ nhật, đặt ở vị trí trang trọng giữa phòng khách, (phân biệt với "Doanh liên" 楹聯 -câu đối treo hai bên cột trụ). Xem ảnh thấy rõ phía dưới bức “Trung đường liên” là tượng bán thân của GS Vũ Khiêu. Như vậy, đôi dòng chữ "Sơn Hà Linh Khí Tại - Kim Cổ Nhất Hiền Nhân" giống như lời đề từ, lời bình cho bức tượng cụ Vũ Khiêu vậy.

Chúng tôi gọi "Trung đường liên" là căn cứ vào hình thức trình bày. Nhưng, xét đến thể loại, có lẽ chỉ nên gọi đây là bức "Trung đường" (dạng bức trướng) thì đúng hơn. Vì như ông Hoàng Minh Tuyển đã tinh ý nhận xét, hình như “sai luật đối” hoặc đối “không chỉnh”. Tuy nhiên, đây là đôi câu đối Thủ tướng tặng GS Vũ Khiêu-một bậc thầy về cổ văn, chúng ta chẳng thể hồ đồ kết luận. Bởi vậy về mặt thể loại, chúng tôi thử đưa ra mấy cách phân tích và loại trừ như sau:

Sơn-Hà Linh-Khí Tại
Kim-Cổ Nhất Hiền-Nhân


Những từ có gạch nối là từ ghép, không thể tách rời nhau. Nếu xếp vào diện danh từ đối với danh từ thì “sơn hà” có thể đối với “kim cổ”. Hai vế chỉ có hai từ "tại" và "nhất" là từ đơn. Theo luật “đối lời”, trước tiên muốn đối được, chúng phải đứng đối xứng với nhau ở vị trí giữa vế nọ với vế kia. Tuy nhiên, chữ “tại” đứng cuối vế đầu, chữ “nhất” đứng giữa vế sau nên không thể có chuyện đối được. Tiếp đến, hai chữ “linh khí” ở vế đầu không thể đối với chữ “nhất” ở vế hai, vì một đằng là từ ghép (linh khí), một đằng là từ đơn (nhất); một đằng là danh từ, một đằng là số từ đóng vai trò làm tính từ trong câu. Như vậy, ta thấy rằng: hai chữ “linh khí” ở vế thứ nhất không tìm được “đối” (thủ) ở vế thứ hai. Vế trên còn sót lại chữ “tại” ở vị trí cuối cùng cũng chẳng biết “đối đáp” với ai, vì ở vế dưới hai chữ cuối cùng là từ ghép “hiền- nhân”.

Như vậy, xét yêu cầu phải đối từng cặp từ, đối ý, đối lời, bằng trắc đối nhau...thì hai câu "Sơn Hà Linh Khí Tại - Kim Cổ Nhất Hiền Nhân" hoàn toàn không đối và không phải là câu đối.

Phải chăng, ý tác giả: "sơn hà" với "kim cổ" là đối lời, còn "linh khí tại" với "nhất hiền nhân" là đối ý? Tuy nhiên, cách đối này chỉ phù hợp với dạng câu đối phú dài dằng dặc có khi tới mấy chục chữ. Ví như câu đối của Tam Nguyên Yên Đổ khóc vợ, mỗi vế có tới 34 chữ:

-Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc;

-Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm”

Trong đó: “Nhà chỉn cũng nghèo thay” và “Bà đi đâu vội mấy” là đối ý, có thể chấp nhận được trong thể loại câu đối phú. Tuy nhiên, người hay chữ không lạm dụng đối ý nhiều. Bởi vậy ta thấy số chữ còn lại của cụ Nguyễn Khuyến dù “cách cú” nhưng xét từng chữ đều vừa đối ý vừa đối lời rất chỉnh; thành ngữ, từ láy, bằng trắc đối nhau chan chát rất tài tình.

Trong khi câu đối "Sơn Hà Linh Khí Tại - Kim Cổ Nhất Hiền Nhân" hai cặp từ “sơn hà” với “kim cổ” chỉ là đối “cưỡng”. Mỗi vế còn lại 3 chữ: “linh khí tại” và “nhất hiền nhân” gọi là “đối” với nhau chẳng qua do mỗi cụm từ đảm nhận một ý mà thôi.

 Nói thế hóa ra Thủ tướng đã tặng, và Nhà nghiên cứu văn hóa GS Vũ Khiêu-Chuyên gia câu đối, phú, văn tế, chúc văn... đã nhận món quà Mừng thọ Trăm tuổi là một đôi câu đối thất luật? Theo tôi, chưa đủ căn cứ để kết luận như vậy. Vì sao? Vì rất ít khả năng tác giả kém tới mức soạn đôi câu đối mỗi vế 5 chữ mà rốt cuộc chỉ có hai cặp từ tạm đối được với nhau. Bởi vậy, có thể đây vốn chỉ là hai câu ca ngợi GS Vũ Khiêu chứ tác giả không có ý làm câu đối. Việc nó “bỗng” trở thành đôi “câu đối” là do người trình bày. Thế rồi người viết bài, đưa tin cứ ngỡ (hoặc căn cứ vào thông tin của Ban tổ chức?) một (hoặc hai) câu văn chia làm hai vế, trình bày theo chiều dọc, hai bên “đối xứng”, mỗi bên có số chữ bằng nhau là “câu đối”.


 Nếu vậy, sai sót là do khâu biên tập của các báo: Thể thao văn hóa, Đại đoàn kết, Tạp chí Sông Hương...khi đồng loạt đăng bài, ảnh, kèm chú thích “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng Giáo sư Vũ Khiêu câu đối "Sơn Hà Linh Khí Tại - Kim Cổ Nhất Hiền Nhân".



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 13, 2014, 02:35:09 AM gửi bởi mavuong » Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười 13, 2014, 02:26:06 AM »

(tt)

Về nội dung: Tuy không được thấy nguyên văn chữ Hán, nhưng chúng tôi đoán (gọi là đoán, nhưng có thể nói là chính xác tới 99,9%, vì khó có chữ khác lọt vào đây) mặt chữ như sau:

山河靈氣在,

 今古一賢人


= Sơn hà linh khí tại,

Kim cổ nhất hiền nhân.

 Trước tiên, căn cứ từ điển, chúng tôi xin giải nghĩa từng từ như sau:

*Vế đầu trong câu:

-Sơn hà 山河= núi sông (ở đây được hiểu như đất nước, giang sơn)

-Linh khí 靈氣, Đào Duy Anh giải nghĩa: “Cái khí thiêng”. Hán ngữ đại từ điển (Tàu) đưa ra mấy nghĩa đáng chú ý: 1.Thông tuệ hoặc tú mỹ đích khí chất (có khí chất thông tuệ và đẹp tốt); 2.Tiên nhân đích khí chất (có khí chất của người tiên); 3.Chỉ mỹ hảo đích danh thanh (ý chỉ người có thanh danh tốt đẹp lắm)

-Tại 在 : ở; còn; còn sống.

*Vế sau trong câu:

-Kim cổ 今古: từ xưa tới nay.

-Nhất 一: đứng đầu; một; duy nhất.

-Hiền nhân 賢人: bậc tài đức kiêm toàn.

Sau đây là một số cách hiểu:

1.Cách hiểu thứ nhất: Sơn hà linh khí tại = Khí chất tốt đẹp của GS Vũ Khiêu sẽ còn mãi với núi sông; Kim cổ nhất hiền nhân = GS Vũ Khiêu là hiền nhân đứng đầu trong các bậc hiền nhân từ xưa tới nay (nhất hiền nhân = hiền nhân đứng đầu, đứng nhất).

2.Cách hiểu thứ hai: Sơn hà linh khí tại = Khí thiêng của non sông đất Việt chung đúc nên con người GS Vũ Khiêu (Hoặc: Khí thiêng của non sông Việt Nam vẫn còn đây-trong con người cụ Vũ Khiêu); Kim cổ nhất hiền nhân = Từ xưa tới nay, chỉ có một người đáng gọi là hiền nhân, đó là cụ Vũ Khiêu (nhất hiền nhân = chỉ có một người là hiền nhân)




1.Về cách hiểu thứ nhất:


- Theo chúng tôi, nội dung bức trướng phù hợp với “cung bái” (kính viếng), hơn là "cung hạ” (kính mừng). Vì sao? Vì chỉ với người đã khuất, người ta mới nói ra cái ý như "Kiều rằng: những đấng tài hoa, Thác là thể phách, còn là tinh anh". “Tinh anh” hay “linh khí” chỉ có thể tồn tại mãi mãi một khi nó lìa khỏi “quán trọ” “thể phách”. Các bức hoành phi trên bàn thờ, người ta cũng hay dùng những câu như: “Hạo khí trường tồn” (Khí chất tốt đẹp còn mãi trường tồn) “Anh thanh như tại” (Thanh danh đẹp tốt vẫn như lúc còn sống) để xưng tụng, tưởng nhớ người đã khuất. Hoặc đôi câu đối thờ: “Vạn cổ đan tâm minh nhật nguyệt, Thiên thu nghĩa khí tráng sơn hà” (Muôn thuở lòng son cùng nhật nguyệt, Ngàn năm nghĩa khí tựa sơn hà). Ở đây “Sơn hà linh khí tại” có thể được hiểu: dù (cụ, ông, ngài) đã chết nhưng tài năng, đức độ, sự nghiệp vẫn còn sống mãi với non sông đất nước. Chết mà như còn sống vậy!
Chúng ta có thể ví dụ trong văn cảnh khác. Khi Bác Hồ còn sống, có thể hô: “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Nhưng chỉ sau khi mất, người ta mới (có thể) đưa ra câu khẩu hiệu: "Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Hoặc khi Bác còn sống, thiếu nhi hát: “Ngày ngày chúng cháu ước mong, Mong sao Bác sống muôn đời...” [1] Nhưng các cháu không thể hát mừng: “Bác còn sống mãi với non sông đất nước, Bác còn sống mãi với đàn cháu yêu thương...” [2] khi thực tế Bác vẫn còn sống và đang đi thăm các cháu.

Nói tóm lại, với bất cứ người nào, khi đang còn sống, dẫu muốn đề cao đến mấy cũng không ai nói "gở", ca ngợi là ông (cụ, ngài...) vẫn đang “còn sống” với (như) cái gì đó. Thế nên, trong Truyện Kiều, đoạn Từ Hải chết đứng, Nguyễn Du mới viết: "Khí thiêng khi đã về thần, Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng". Linh khí sống mãi với núi sông tức đã về cõi “bất tử”, về với tổ tiên, với cát bụi và thế giới cỏ cây, phiêu du mây nước rồi. Còn nếu muốn chúc thọ thì chúc sống lâu trăm tuổi, sống lâu muôn tuổi, trăm năm có lẻ, thọ như tùng bách...như ta vẫn thường nghe.

Đến đây, có bạn đọc sẽ nói rằng: cụ Vũ Khiêu năm nay đã 100 tuổi, đằng nào mà chẳng đến lúc...Câu đối hay như vậy, mừng trước để Cụ đọc, sau này thờ luôn cũng chẳng sao. Người ta vẫn đóng thọ đường, xây dựng sinh phần trước đấy thôi. Đây cũng là một ý tốt. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nguyên tắc chưa chết thì chưa thắp hương, chưa phúng viếng. Thậm chí đã chết nằm đó rồi, nhưng chưa phát tang thì cũng chưa thể bái lạy, khấn vái.

- Vế thứ hai "Kim cổ nhất hiền nhân" (Từ xưa cho tới nay, cụ là bậc hiền nhân đứng đầu) cũng là cách xưng tặng dành cho người đã chết. Vì sao? Tục ngữ Việt Nam có câu "Bảy mươi chưa què chớ khoe rằng tốt" (Xưa, bảy mươi là "ngấp nghé miệng lỗ"-Nhân sinh thất thập cổ lai hy). Tục ngữ gốc Hán cũng nói rằng "Cái quan định luận" (蓋棺定論), nghĩa là sau khi đậy nắp quan tài lại, (sau khi chết) mới có thể bàn luận đúng sai, hay dở về một con người nào đó. Đến đây, có bạn đọc lại nói rằng, cụ Vũ Khiêu nay đã ở tuổi 100, con người, sự nghiệp  của Cụ đã rõ, đánh giá, tôn vinh lúc này cũng là được rồi. Tuy nhiên, dù bất thành văn nhưng cũng là luật. Nhà tu hành khổ hạnh “Đã được ba tháng ba năm” nhưng “Còn một ngày nữa mà không hoàn thành” (vì phạm giới) thì cũng không thể nào đắc đạo. Con người ta có khi xấu nay, tốt mai hoặc tốt nay xấu mai. Nhiều trường hợp đã “cái quan” rồi, đã “định luận” rồi, vậy mà có khi hàng trăm năm sau đang còn phải “luận định” lại. Bởi vậy, nếu câu "Kim cổ nhất hiền nhân" không dành cho người đã chết thì cách xếp thứ bậc, ca ngợi người sống như vậy cũng là trái.

“Hiền nhân, quân tử” là khái niệm của Nho gia, một danh xưng chưa bao giờ có giấy chứng nhận. Hán ngữ Đại từ điển (Tàu) định nghĩa “Hiền nhân: Tài đức kiêm lược đích nhân 德才兼备的人” (Người có tài và đức gọi là hiền nhân) Từ điển tiếng Việt định nghĩa “hiền nhân”: người có đức lớn, tài cao theo quan niệm thời trước. Hán Việt từ điển, mục từ “Hiền” (賢) Đào Duy Anh giải nghĩa: “Người có đức hạnh, tài năng”, nhưng phần trích dẫn từ ngữ, hai chữ “hiền nhân” 賢人 lại chỉ được giải thích là: “Người có đức”. Tài đến mức nào, đức lớn đến mức nào thì được gọi là hiền nhân? Không có sách nào quy định. Tuy nhiên, trong suy nghĩ của chúng ta, hiền nhân tất phải là bậc tài cao, đức lớn; hình ảnh, nhân cách, tài năng, tư tưởng của họ có ảnh hưởng quan trọng tới nhân quần, tác động lớn tới thời đại.


Ở đây chúng tôi xin không bàn đến chuyện GS Vũ Khiêu có phải là "hiền nhân" hay không. Nhưng nếu nói rằng GS Vũ Khiêu đứng đầu trong các bậc hiền nhân từ xưa tới giờ (Kim cổ nhất hiền nhân) e rằng không còn là chuyện “đề cao quá” như ông Hoàng Minh Tuyển nói nữa, mà là phạm thượng! Vì sao? Xin lấy một ví dụ nhỏ để liên tưởng: Trong bài thơ “Bác ơi”, Tố Hữu viết: “Bác đã lên đường theo tổ tiên, Mác-Lê-nin thế giới Người Hiền”. Bài thơ này đã được đưa vào chương trình giáo khoa phổ thông. Vậy“Cứ trong ý tứ mà suy”, Hồ Chủ tịch, Mác-Lê-nin là những “người hiền”, những “người hiền tiền bối” và là bậc thầy vĩ đại của cụ Vũ Khiêu. Thế mà cụ Vũ Khiêu lại được tôn xưng là “Cổ kim nhất hiền nhân”, đứng đầu “thế giới người hiền” từ xưa tới nay, chẳng phải là “phạm thượng” lắm sao?
Trong văn chương hay thực tế có một số danh xưng như “Thiên hạ đệ nhất kiếm”, “Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân”, “Thăng Long đệ nhất kiếm”... nhưng “nhất” ở đây là “nhất” trong một phạm vi, thời điểm (không gian và thời gian) nhất định nào đó. Nếu nói ai “nhất” từ cổ chí kim là điều cực khó. Đặc biệt “nhất hiền nhân” một khái niệm khó đo đếm, so sánh lại càng không có cơ sở.

Phải chăng, tác giả muốn nói: nước Việt có nhiều  hiền nhân, nhưng chỉ có GS Vũ Khiêu là "nhất hiền nhân" vì Cụ đang minh mẫn ở 100 tuổi, lại được phong Anh hùng, được Giải thưởng Hồ Chí Minh, xưa nay chưa ai từng có?



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 13, 2014, 02:35:37 AM gửi bởi mavuong » Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười 13, 2014, 02:30:34 AM »

(tt)

2.Về cách hiểu thứ hai:



Sơn hà linh khí tại = Khí thiêng của non sông Việt Nam chung đúc nên con người GS Vũ Khiêu. Hoặc Khí thiêng của non sông Việt Nam vẫn còn đây-trong con người cụ Vũ Khiêu); Kim cổ nhất hiền nhân = Từ xưa tới nay, chỉ có một người đáng gọi là hiền nhân (đó là cụ Vũ Khiêu).

Cách hiểu này có vẻ không “sái”, phù hợp với “cung hạ”. Tuy nhiên, căn cứ vào chữ nghĩa vẫn không tránh khỏi "phạm thượng". Vì sao? Vì ý thứ nhất “Khí thiêng của non sông Việt Nam chung đúc nên con người GS Vũ Khiêu” khiến người ta liên tưởng đến lời điếu văn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch...” Phải chăng, vốn ý tác giả muốn dùng từ "nguyên khí" nhưng nó lại thành "linh khí": Sơn hà nguyên khí tại (Cụ Vũ Khiêu là nguyên khí, hiền tài của quốc gia, sơn hà) ?

Ý thứ hai: Từ xưa tới nay, chỉ có một người đáng gọi hiền nhân là Cụ (Vũ Khiêu). Kiểu tôn xưng “vô tiền khoáng hậu”, đứng trên tất cả các bậc hiền nhân này càng không ổn.


Riêng câu “Kim cổ nhất hiền nhân” theo chúng tôi còn có thể hiểu theo cách thứ 3: Người thông hiểu chuyện cổ kim, xưa nay nhất chính là bậc Hiền nhân Vũ Khiêu. Và cách thứ 4: Từ cổ chí kim, chỉ có bậc hiền nhân mới đáng gọi là tôn quý. Tuy nhiên, 2 cách hiểu, nhìn nhận, đánh giá này càng không có cơ sở.

Như vậy, tuy chữ nghĩa "sờ sờ" ra đó, nhưng chữ có nghĩa đen, nghĩa bóng; có nghĩa gốc, nghĩa ngọn; lại có chơi chữ, chiết tự, “ý tại ngôn ngoại” nên chúng tôi chẳng dám chủ quan ấn định một cách hiểu duy nhất nào đó. Ngược lại đã thử tìm hiểu, xem xét dưới nhiều góc độ để tìm ra một cách hiểu hợp lý, tích cực nhưng xem ra vẫn chưa thấy ổn với cách hiểu nào. Có lẽ do kiến thức hạn hẹp của mình nên cách hiểu hay, hiểu đúng của tác giả câu đối chúng tôi chưa thể nhìn ra?


***

Về đôi câu đối: “Triết gia trong cách mạng, Nghệ sĩ giữa anh hùng”, mà ông Hoàng Minh Tuyển hỏi. Theo chúng tôi, đây là đôi câu đối Nôm rất chỉnh, có nhịp điệu, đối nhau chan chát, nghe rất hay, và có thể hiểu: GS Vũ Khiêu là một Triết gia Cách mạng; là một Nghệ sĩ Anh hùng.

Tuy nhiên, "rằng hay thì thật là hay", nhưng nghe...có vẻ không đúng và ... “hở miếng”. Vì sao ? Vì:

-GS Vũ Khiêu là người có nghiên cứu về triết học chứ không phải là, (chính là) "Triết gia"-Nhà triết học. Vì Nhà triết học phải là người đề xuất học thuyết, tư tưởng, chứ không phải là Nhà nghiên cứu về học thuyết, tư tưởng của Nhà triết học nào đó. "Triết gia" chính là cách gọi tắt "Triết học gia"-Nhà triết học. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giải nghĩa: “Triết gia-nhà triết học-các triết gia Hi Lạp cổ đại”.

Có lẽ, ý tác giả đôi câu đối muốn dùng chữ “triết nhân” chăng? (triết 哲 với nghĩa người hiền trí, có trí tuệ thông minh, sáng suốt, như: hiền triết, tiên triết...). Đào Duy Anh giải nghĩa: “Triết nhân: người hiền trí”. Hán ngữ đại từ điển:“哲人: 智慧卓越的人” (Triết nhân: trí tuệ trác việt đích nhân -Triết nhân: người có trí tuệ trác việt). Như vậy, nếu có chăng, GS Vũ Khiêu chỉ có thể được gọi là “triết nhân” chứ không thể là “triết gia” (Đây chỉ là ví dụ về cách sử dụng chữ nghĩa. Chúng tôi không có ý cho rằng GS xứng đáng được gọi là triết nhân )                                                                                                                                                                                                             
-GS Vũ Khiêu là Nhà nghiên cứu văn hóa, chứ không phải “Nghệ sĩ”. Vì GS không chuyên sáng tác, cũng chẳng biểu diễn môn nghệ thuật nào. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Nghệ sĩ: 1.người chuyên hoạt động [sáng tác hoặc biểu diễn] trong một bộ môn nghệ thuật. nghệ sĩ nhiếp ảnh-tâm hồn nghệ sĩ;2.danh hiệu thường dùng để gọi diễn viên hay ca sĩ có tài năng xuất sắc”. Phải chăng, ý tác giả muốn nói: GS Vũ Khiêu là một “Anh hùng” mang tâm hồn, phong cách “Nghệ sĩ”?

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng, hai từ “trong” và “giữa” trong đôi câu đối “Triết gia trong cách mạng, Nghệ sĩ giữa anh hùng” hơi tối nghĩa và thiếu chặt chẽ. Nó khiến người ta có thể hiểu thành:

-“Triết gia trong cách mạng = GS Vũ Khiêu chỉ xứng đáng là một “Triết gia” trong (số) những người làm chính trị, cách mạng.

- Nghệ sĩ giữa anh hùng = GS là một “Nghệ sĩ” đứng giữa  hàng ngũ những người “Anh  hùng” chứ không phải bản thân GS là “Anh hùng”. Hoặc: GS chỉ đáng được gọi là “Nghệ sĩ” trong hàng ngũ những người “Anh hùng” mà thôi. Như thế hóa ra, “Triết gia” hay “Nghệ sĩ” ở đây đều hoàn toàn “nghiệp dư” hay sao? Nếu bỏ hai từ “trong” và “giữa” đi, đôi câu đối sẽ chặt chẽ, dễ hiểu, kín kẽ hơn (dù có vẻ không hay): Triết gia Cách mạng; Nghệ sĩ Anh hùng (Triết gia làm Cách mạng, Nghệ sĩ lại Anh hùng)
 Văn giống võ ở chỗ: câu chữ, quyền cước tung ra dù mạnh mẽ, đẹp mắt đến mấy nhưng sơ hở, thiếu kín kẽ, thì kể như chưa hay, chưa giỏi.

Trở lại với vấn đề đang bàn. Ông Hoàng Minh Tuyển quan tâm tới đôi câu đối và chữ nghĩa Thủ tướng tặng GS Vũ Khiêu là có lý. Bởi chuyện tôn xưng tên tuổi, danh hiệu của Nhà nước với một cá nhân không đơn giản biểu hiện tình cảm mà còn thể hiện tôn ty trật tự trong xã hội. Đặc biệt đối với những người có danh vọng; hình ảnh, tên tuổi của họ có ảnh hưởng trong xã hội lại càng không thể khinh suất. Chẳng phải ngẫu nhiên mà cách nay hơn 500 năm, chỉ là chuyện xưng hô trong triều đình, quân doanh thôi, nhưng vua Lê Thánh tông từng phải chấn chỉnh: “Sắc Lễ bộ yết bảng cho trăm quan và các quân rằng: Kể từ nay, nếu không phải là bậc túc nho danh vọng, tuổi cao đức lớn thì không được gọi bừa là "tiên sinh". (Đại Việt sứ ký toàn thư-Bản kỷ thực lục-Quyển VIII-Kỷ nhà Lê).

       Danh quá kỳ thực dễ gây nên sự huyễn hoặc và gieo mầm loạn. Bản thân người được tặng, nếu có liêm sỉ cũng sẽ không dám nhận. Bởi vậy, ông Mạnh tử mới nói rằng: “Thanh văn quá tình, quân tử sỉ chi - 聲 聞 過 情 君子 恥 之 (Danh quá thực tình là điều người quân tử lấy làm hổ thẹn) Thế nhưng, một điều khó hiểu là tại sao GS Vũ Khiêu vẫn mãn nguyện ngước nhìn "mười chữ vàng" vấn vít trên nền vân mây cùng đôi rồng chầu phía trên bức tượng đồng của chính ông?

Chúc thọ, mừng tặng quà sao cho có ý nghĩa, mãn nguyện người trao, vui lòng, hợp ý người nhận, trên dưới trông vào đều ngợi khen là việc khó. Mừng tặng bằng chữ nghĩa lại càng khó hơn. Có vẻ như hai đôi câu đối Thủ tướng tặng GS Vũ Khiêu “trục trặc” trong khâu nào đó chăng?


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười 13, 2014, 02:33:47 AM »

(tt)

Đến đây, chắc hẳn sẽ có “kẻ chê, người cười” HTC rằng: nói người khác "phạm thượng" nhưng bản thân mình còn "phạm thượng" hơn! Điều này không phải không có lý. Tuy nhiên, câu chuyện chữ nghĩa với ông Hoàng Minh Tuyển và bạn đọc khiến tôi nhớ đến một câu chuyện chữ nghĩa khác. Lê Thánh tông là ông vua nổi tiếng hay chữ. Thơ văn của ông gồm cả chữ Hán và chữ Nôm: Thiên Nam dư hạ, Sĩ hoạn trâm quy, Xuân vân thi tập, Hồng Đức quốc âm thi,... Ông có những vần thơ Nôm tinh tế, mẫu mực, cổ kính mà rất hiện đại như: “Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc, Sườn núi chim gù ẩn lá xanh”. Thế nhưng có một triều thần dám thẳng thừng chê văn thơ của ông là "phù hoa, vô dụng" (xưa tội này có thể bị chém đầu). Người đó là Nguyễn Bá Ký!


          Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Quốc tử giám tế tửu kiêm Văn minh điện đại học sĩ Nguyễn Bá Ký chết. Trước đó, Bá Ký cho rằng vua làm văn không chú ý tới kinh, sử, dâng sớ khuyên can. Vua dụ rằng: "Trẫm vừa xem hết tờ sớ, ngươi bảo là trẫm không chú ý kinh sử, lại chuộng lối học phù hoa, vô dụng, chỉ ngụ ý ở ngoài mây khói. Nếu ta ưa chuộng văn hoa, không lấy gốc kinh, sử thì còn sách nào nữa? Ta tự xét mình, xét lời ngươi nói, thì trong bốn chữ "phù hoa vô dụng" kia, thực đã gồm cả lòng trung rồi, thế mà ta lại làm văn mà biện lại, thì ta thực có lỗi. Lúc ấy, người đã kịp thời can ngăn, chẳng vì thế mà giữ ý".


Đến đây chết, vua sai Tư lễ giám quan Phạm Hổ đem sắc đến dụ rằng: "Ngươi thờ vua trung thành, giữ mình chính trực, sớm tối ở bên ta, nay được 6 năm, lúc thoi thóp rồi mà lòng trung vẫn chưa thôi!" (Đại Việt sử ký toàn thư-Bản kỷ thực lục, Quyển XII-Kỷ nhà Lê).

Câu chuyện này góp phần giải thích tại sao, Lê Thánh tông không chỉ là ông vua giỏi mà còn được tôn là vị Minh Quân. Ông là vua sáng nên có nhiều tôi hiền. Và dù Bá Ký chê thế nào, Lê Thánh tông vẫn là một trong những ông vua hay chữ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Tôi chẳng dám ví mình giống như Quốc tử giám tế tửu kiêm Văn minh điện đại học sĩ Nguyễn Bá Ký. Nhưng có lẽ khi mải bàn chuyện chữ nghĩa đã không tránh khỏi tội “phạm thượng”, "khi quân" như Bá Ký. Tuy nhiên, ngày xưa, Bá Ký chẳng những không bị mất đầu mà còn được ngợi khen có lòng trung, thì ngày nay câu chuyện chữ nghĩa của Tuấn Công thư phòng có đến tai Thủ tướng và GS Vũ Khiêu, tôi tin rằng, dẫu không được khen ngợi thì các vị cũng chẳng nỡ trách phạt.


Cuối cùng chúng tôi dám mong sẽ được GS Vũ Khiêu-Bậc thầy về cổ văn, hoặc chính tác giả câu đối Chúc thọ GS giảng giải tường tận những chữ nghĩa mà chúng tôi và độc giả còn băn khuăn, chưa biết hiểu thế nào cho đúng, cho hay!


Như vậy, trong khả năng kiến thức hạn hẹp, chúng tôi đã cố gắng giải thích. Nếu phải thất vọng, mong ông Hoàng Minh Tuyển và bạn đọc thông cảm cho, và tiếp tục quan tâm đến chuyện chữ nghĩa của Tuấn Công thư phòng.

                                     
    HTC Thanh Hóa 28/9/2014

Chú thích:

-[1] và [2] Lời các Bài hát Thiếu nhi, ca ngợi Hồ Chủ tịch.


HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười 13, 2014, 02:40:54 AM »


Bằng tiến sĩ y Việt Nam không được thế giới công nhận



(LĐO) Quang Duy - 6:53 PM, 25/08/2014

http://laodong.com.vn/xa-hoi/bang-tien-si-y-viet-nam-khong-duoc-the-gioi-cong-nhan-237373.bld


 Các bệnh viện luôn cần những bác sĩ có năng lực khám chữa bệnh thực sự giỏi.



Việc 200 triệu lấy được bằng tiến sĩ y khoa của PGS.TS Đàm Khải Hoàn – ĐH Thái Nguyên đang được làm rõ. Xét cho cùng, vụ việc này cũng chỉ góp thêm minh chứng sống động cho sự gian dối, nạn xính bằng cấp. Và vấn nạn ấy đáng báo động hơn khi nó đang xâm nhập vào giới y khoa - lĩnh vực liên quan trực tiếp sức khỏe, sinh mạng con người .


Thạc sĩ, tiến sĩ không bằng bác sĩ chữa bệnh giỏi

Năm 2009, Hà Nội từng đưa ra mục tiêu đến năm 2020, 100% cán bộ diện UBND TP quản lý có trình độ trên đại học, trong đó ½ đạt trình độ tiến sĩ. Tiếp nữa, đề án 911 của Bộ GDĐT cũng đặt  mục tiêu đến năm 2020 có  20.000 TS phục vụ đổi mới giáo dục. Trong đó gần nhất năm 2014, tỷ lệ đào tạo TS sẽ tăng khoảng 7% và chỉ tiêu thạc sĩ (Th.S) tăng 5% so với chỉ tiêu năm 2013. Thế nhưng mục đích của một nghiên cứu TS nhằm tìm những điều mới, có tính đột phá, được ứng dụng... lại không được đi kèm với  những con số “chỉ tiêu” để phấn đấu như trên.

Trong một lĩnh vực y khoa, liệu người có tấm bằng TS có khiến anh ta thực hiện việc khám chữa bệnh tốt hơn? GS – TS Nguyễn Thanh Liêm, TGĐ BV đa khoa quốc tế Vinmec cho biết: “Một bác sĩ có bằng TS cũng được, nhưng quan trọng hơn là anh ta có năng lực khám chữa bệnh thực tế hay không. Nhiều người đi sang Mỹ giới thiệu là TS này, kia đã được đáp lại bằng ánh mắt thờ ơ. Vì họ không biết rằng ở Mỹ không coi trọng TS bằng bác sĩ. Người Mỹ ít làm TS, và nếu muốn người ta có thể có bằng TS trước khi trở thành BS.

TS nhiều khi ở lĩnh vực chuyên sâu quá, làm việc ở các viện nghiên cứu, các labo chưa chắc đã đáp ứng được nhiệm vụ ở BV là khám chữa bệnh giỏi. Vậy thì ở BV huyện cứ cần thạc sĩ, ở tuyến tỉnh cứ cần nhiều TS như hiện nay để làm gì?”
Và câu hỏi cần đặt ra là ai nên đi học TS, ai học chuyên môn để khám chữa bệnh, chứ không nên đổ dồn làm TS để làm gì.
 

 Các bệnh viện luôn cần những bác sĩ có năng lực thực tế khám chữa bệnh giỏi.


http://laodong.com.vn/Uploaded/nguyenthihang/2014_08_25/IMG_5783_CXZL.JPG.ashx?width=660

Bằng TS ở Việt  Nam quá … đơn giản

Theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam có hơn 13 nghìn bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 Thái Lan, 1/6 Malaysia, và 1/10 Singapore. Thêm một so sánh, Việt Nam có khoảng 9 nghìn GS và PGS, 24 nghìn TS và hơn 100 nghìn Th.S, nhưng số ấn phẩm khoa học cả nước trong vòng 15 năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của ĐH Tokyo  và 1/2 ĐH quốc gia Singapore.

Những con số biết nói trên đã cho thấy hàm lượng khoa học thực sự của tấm bằng Th.S, TS ở Việt Nam ra sao. Trao đổi với báo Lao Động, một lãnh đạo ngành y tế đã khẳng định: “Bằng TS ở Việt Nam đi ra nước ngoài không được công nhận vì nó quá… đơn giản”.

GS Nguyễn Thanh Liêm là người đã được thế giới biết đến với cụm công trình nghiên cứu về nội soi nhi khoa, điều trị nhiều bệnh như thoát vị cơ hoành, phình đại trạng, không có hậu môn bẩm sinh… ở trẻ em. Thế nhưng, ở VN người ta biết đến ông từng là GĐ BV Nhi TƯ và nay là BV Vinmec nhiều hơn là một người  nghiên cứu khoa học. Bởi ở VN, việc nghiên cứu khoa học trong y khoa cũng chưa được coi trọng. Các nghiên cứu sinh khi làm đề tài phải tự trang trải mọi chi phí.

Trong khi đó, họ vẫn phải đi làm, kiếm tiền để trang trải cho cuộc sống. Vì thế, người thầy hướng dẫn thấy học trò vài năm liền vất vả chạy ngược chạy xuôi như thế, vặn vẹo một hồi cũng cho đỗ. Thường hội đồng sẽ chấm một câu: “Đề tài đạt yêu cầu trong điều kiện Việt Nam”. Ai cũng vui, thầy vui vì đã giúp được trò, trò cũng hỉ hả vì đã có tấm bằng thuận bổ nhiệm, lên lương, thăng chức sau này.
Báo chí đưa tin: "Sau khi nghe thông tin về PGS Hoàn từ báo chí, cán bộ giảng viên trường ĐH Thái Nguyên đã rất bất bình, vì một cá nhân mà khiến uy tín của trường bị hủy hoại. Đây là những thông tin không có lợi, khiến xã hội hiểu nhầm về nhà trường”. Đó là phản ứng tất yếu của trường. Nhưng có lẽ trong suy nghĩ, ai cũng hiểu: Chắc hẳn có việc xuê xoa khi chấm luận văn tiến sĩ tồn tại bao lâu nay, thì mới có việc “nhờ mấy vị trong hội đồng xét duyệt nghiên cứu sinh giúp đỡ cho qua” như PGS Hoàn nói?

Trước sự việc này, Ban Giám hiệu trường ĐH Thái Nguyên cho biết: “Khi có kết luận, nếu PGS Hoàn có sai phạm, sẽ kiên quyết xử lý để bảo vệ uy tín của nhà trường”. PGS Hoàn có thể bị “xử lý”.  Và Thứ trưởng Bộ GD - ĐT Bùi Văn Ga có thể mạnh tay: “Trường ĐH Thái Nguyên phải báo cáo về công tác đào tạo TS, nếu có nghi vấn Bộ sẽ vào cuộc thanh tra và xử lý nghiêm khắc các vi phạm”.
Song, điểm cuối của sự việc này cũng sẽ chỉ “nhạt’, và bình thường như vậy nếu không đặt trong bối cảnh bối cảnh sính bằng cấp, không coi trọng thực lực như hiện nay để quyết tâm đổi mới quan niệm về đào tạo và tuyển dụng. Nếu không, sẽ còn tiếp diễn nhưng vụ việc tương tự về việc mua bằng cấp với giá hàng trăm triệu, khiến dư luận ồn ào một lúc rồi lại tan như bọt biển. Và việc số TS tăng, số các luận văn mất hàng trăm triệu mới có để rồi xếp xó vì vô nghĩa và lãng phí sẽ không có hồi kết.
 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, SCC, HocThuatPhuongDong, Jiro
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 13, 2014, 02:43:48 AM gửi bởi mavuong » Logged
 
 
 
Jiro
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 22

Cảm Ơn
-Gửi: 122
-Nhận: 99


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười 17, 2014, 09:44:17 PM »

Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.296 seconds với 24 câu truy vấn.