Tháng Tám 03, 2021, 05:30:41 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Lễ - của Khổng Tử và Nho gia  (Đọc 22612 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 02:56:50 PM »

Chữ Lễ là một thành phần quan trọng trong triết học của Nho giáo. Nói của Nho giáo cũng không đúng vì nó có trước đó, và Khổng Tử lấy thuật làm tác để hệ thống và nâng tầm chữ Lễ. Về sau, các môn đệ của Nho gia, mỗi người tùy theo cái sở trường của mình và định nghĩa và phát huy lại chữ Lễ

Bên cạnh đó, các học phái khác như Mặc gia, Lão Trang, Dương chu, Pháp gia và Hàn Phi v.v vì cạnh tranh và khác nhau với Nho học mà cũng có ít nhiều phản bác chữ Lễ. Thế nhưng, chúng ta phải hiểu suyên suốt tư tưởng triết học của các học phái để từ đó mới có cái nhìn xuyên suốt. Tư tưởng của học phái nào, nhập thế, xuất thế, vô vi ra làm sao để từ đó mới thẩm định những lời phản bác ấy đúng hay sai. Ví dụ với tư tưởng vô vi, xuất thế, tự tại tuyệt đối của Trang Tử,  thì việc phản bác không cần Nhân - Nghĩa của Nho giáo là điều hiển nhiên. Kẻ hậu học bây giờ rất hồ đồ, dùng Lão Trang phản bác Nhân - Nghĩa Khổng Tử. Dùng Mặc học chỉ trích Lễ Nhạc của Khổng Tử là Kiến thủ, một trong năm ác kiến do nhà Phật định nghĩa

Google sẽ làm review toàn bộ về chữ Lễ, từ Khổng Tử cho đến các môn đệ tại Topic này

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, 8N, Yahoo, nguyenthuy, nhuocthuy
Logged
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 04:04:27 PM »

Phần I: Chữ Lễ của Khổng Tử

A- Theo sách Nho giáo trọn bộ - Trần Trọng Kim

Chữ lễ trước tiên chỉ dùng để nói cách thờ thần cho được phúc, tức là chỉ có nghĩa cúng tế, thuộc về đường tông giáo mà thôi. Sau dùng rộng ra, nói gồm cả những qui củ mà phong tục và tập quán của nhân quần xã hội đã thừa nhận, như: quan, hôn, triều, sính, tang, tế, tân chủ, hương ẩm tửu, quân lữ. Sau cùng chữ lễ lại có cái nghĩa thật rộng nói gồm cả cái quyền bính của vua và cái tiết chế sự hành vi của nhân chúng. Cái nghĩa ấy bao quát cả những việc thích hợp với cái lẽ công chính của đạo lý và lẽ thích nghi của sự lý. “Lễ giã giả, nghĩa chi thực giã. Hiệp chư nghĩa nhi hiệp, tắc lễ tuy tiên vương vị chi hữu, khả dĩ nghĩa khởi giã: lễ là cái thực của nghĩa. Hợp với các điều nghĩa mà hợp, thi lễ tuy tiên vương chưa đặt ra, nhưng cũng có thể lấy nghĩa mà khởi sáng ra được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX). Vậy lễ với lý và nghĩa là một, có thể lấy làm qui củ cho sự hành vi, có thể tùy thời mà thay đổi cho hay hơn, tốt hơn, không phải cố chấp lấy cổ lễ cựu tục làm hạn. Chữ lễ hiểu nghĩa rộng như thế mới đúng với cái tông chỉ của Khổng giáo. Tông chỉ ấy cốt nhất là hàm dưỡng những tình cảm cho thật hậu, để gây thành cái tập quán đạo đức cho đến bậc nhân.

Theo cái nghĩa rộng, chữ lễ đã định rõ trên kia, thì tác dụng của lễ có thể chia ra làm bốn chủ đích như sau này:

1. Chủ đích thứ nhất là để hàm dưỡng tính tình. Nguyên Khổng giáo vốn là cái học trọng tình cảm, cho nhân sự đều bởi tình cảm mà sinh ra. Vậy nên thánh nhân rất chú ý về việc gây nên nhiều tình cảm rất tốt, rất hậu, tức là gây thành cái gốc đạo nhân. Cái nghĩa tối cổ chữ lễ thuộc về việc tế tự vẫn quan hệ đến đạo đức. Vì việc tế tự có thể gây thành cái trạng thái có nhiều tình cảm rất hậu. [...]
Khổng giáo dùng lễ là cốt tao thành ra một thứ không khí lễ nghĩa, khiến người ta có cái đạo đức tập quán để làm điều lành, điều phải, mà vẫn tự nhiên không biết. Sách Lễ ký, thiên Đàn cung hạ chép chuyện người Chu Phong thưa với Lỗ Ai công rằng: “Khư mộ chi gian, vị thi ai ư dân nhi dân ai; xã tắc tông miếu chi trung, vị thi kính ư dân nhi dân kính: ở chỗ mồ mả, chưa dạy dân phải thương mà dân tự nhiên có lòng thương; ở chỗ xã tắc tông miếu, chưa dạy dân phải kính mà dân tự nhiên có lòng kính, ở chỗ mồ mả thì có cái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì có cái không khí tôn kính, ai đã hô hấp cái không khí ấy thì rồi tự hóa theo mà không biết. Khổng giáo dùng lễ tức là để gầy thành ra cái không khí đạo đức vậy.

2-Cái chủ đích thứ hai là để giữ những tình cảm cho thích hợp đạo trung. Gây thành ra những tình cảm rất tốt, rất hậu, là một điều rất trọng yếu của Khổng giáo. Nhưng cứ để cho tình cảm được tự do hành động thì thường sinh ra lắm điều chếch lệch, phi thái quá thì bất cập. Vậy nên phải lấy lễ mà khiến sự hành vi của người ta cho có chừng mực, để lúc nào cũng hợp với đạo trung. Khổng tử nói: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo: cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không có lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã.” (Luận ngữ: Thái Bá, XIII).
[...]
Khổng giáo thỉ chung làm việc gì cũng cần lấy đạo trung; nếu không có lễ để làm tiêu chuẩn cho sự hành vi thì biết thế nào là trung được. Vậy nên Khổng tử nói rằng: “Lễ hồ, lễ hồ, sở dĩ chế trung giã: lễ vậy ôi, lễ vậy ôi, để chữa cho vừa đạo trung vậy.” (Lễ ký: Ai công vấn, XXVIII).

Cái chủ đích thứ hai này quan hệ với cái chủ đích thứ nhất mật thiết lắm, vì là các tông chỉ Khổng giáo không những là khiến người ta phải có tình cảm rất tốt, rất hậu mà thôi, nhưng lại khiến những tình cảm ấy phải điều hòa cho hợp đạo trung. Đó là quan niệm tối trọng yếu trong Khổng giáo, bởi vì người ta có giữ được tầm tính cho công chính và làm việc gì cũng đắc kỳ trung thì mới là nhân được

3- Cái chủ đích thứ ba là định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự, trên dưới cho phân minh. Ở trong xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có người thân kẻ sơ, có việc phải việc trái, cho nên phải có lễ để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến người ta biết đường ăn ở cho phải đạo: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị, minh thị phi giã: lễ là để định thân sơ, quyết sự hiềm nghi, phân biệt chỗ giống nhau khác nhau, rõ lẽ phải trái”. (Lễ ký: Khúc lễ thượng, I). Lễ là cốt để phân ra trật tự, khiến cho vạn vật không có điều gì hồ đồ hỗn độn. “Phù lễ giả sở dĩ chương nghi biệt vi, dĩ vi dân phường giả giã. Cố quí tiện hữu đẳng, y phục hữu biệt, triều đình hữu vị, tắc dân hữu sở nhượng: lễ là dùng để làm cho rõ điều ngờ, biện bạch những điều vi ẩn, để làm sự phòng giữ cho dân. Cho nên người sang người hèn có bậc, y phục có phân biệt, có chỗ triều đình có ngôi thứ, thì dân mới có đức nhượng”. (Lễ kỷ: Phương ký, XXX).
[...]
Lễ dùng về phương diện phân tôn ti trật tự, tức là phép tắc để tổ chức luân lý ở trong gia đình, xã Hội và quốc gia vậy.

4-Chủ đích thứ tư là để tiết chế cái thường tình của người ta. Sách Lễ ký, thiên Nhạc ký nói rằng: “Nhân sinh nhi tĩnh, thiên chi tính giã. Cảm ư vật nhi động, tính chi dục giã. Vật chí tri tri, nhiên hậu hiếu ố hình yên. Hiếu ố vô tiết ư nội, tri dụ ư ngoại, bất năng phản cung thiên lý diệt hỹ: người ta sinh ra vốn tĩnh, đó là tính trời. Cảm với vật ở ngoài mà động, là cái muốn của tính. Vật đến thì cái biết của mình biết, nhiên hậu cái hiếu, cái ố, mới hình ra. Cái hiếu, cái ố mà không có tiết chế ở trong, cái biết của mình bị ngoại vật dẫn dụ, cứ thế mà không nghĩ lại, thì thiên lý tiêu diệt vậy”. Cứ theo Khổng giáo thì người ta bẩm thụ cái tính của Trời, cái tính ấy cảm xúc với ngoại vật mà động; tính động thành ra tình. Tình thì ai cũng có nhưng nếu không có cái gì để tiết chế, thì rồi bị ngoại vật làm cho đến mất cái thiên tính đi. Bởi vậy Khổng tử nói: “Phù lễ, tiên vương dĩ thừa thiên chi đạo, dĩ trị nhân chi tình: lễ là tiên vương vâng theo cái đạo của Trời để trị cái tình của người” (Lễ ký: Lễ vận, IX).

Khổng giáo vốn lấy tình cảm làm trọng, nhưng vẫn biết cái tình cảm của người thường mà không có hạn chế thì thành hư hỏng. Khổng tử nói: “Trung nhân chi tình hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm, vô cấm tắc dâm, vô độ tắc thất, túng dục tắc bại. Cố ẩm thực hữu lượng, y phục hữu tiết, cung thất hữu độ, súc tụ hữu số, xa khí hữu hạn, dĩ phòng loạn chi nguyên giã: cái thường tình của hạng người trung nhân, hễ có thừa thì xa xỉ, không đủ thì sẻn, không ngăn cấm thì dâm đãng, không theo tiết độ thì sai lầm, buông thả lòng dục thì hư hỏng. Cho nên ẩm thực phải có hạn lượng, y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có pháp độ, súc tụ phải có số thường, xe cộ và đồ dùng phải có ngữ có hạn, là để giữ phòng cái nguồn loạn vậy” (Khổng tử tập ngữ: Tề hầu vấn, XIII).

Vì vậy mới theo thường tình của người ta mà đặt ra văn vẻ để giữ cho người ta khỏi làm bậy: “Lễ giả, nhân nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả giã”, lễ là nhân cái thường tình của người ta mà đặt ra tiết độ; văn vẻ, để làm cái ngăn giữ cho dân”. (Lễ ký: Phường ký, XXX). Nhưng cái tình của người ta thường ẩn khuất ở trong bụng không sao biết được, chỉ có dùng lễ thì mới ngăn giữ được mà thôi: “Ẩm thực, nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên; tử vong, bần khổ, nhân chi đại ố tồn yên. Cố dục ô giả, tâm chi đại đoan giã, nhân tàng kỳ tâm, bất khả trắc đạc giã; mỹ ác giai tại kỳ tâm, bất kiến kỳ sắc giã. Dục nhất dĩ cùng chi, xả lễ hà dĩ tai: cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ, bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố, là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở cả trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ lễ thì lấy gì mà biết được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX) [...]

Sự giáo hóa của lễ tinh vi lắm và có hiệu quả rất sâu xa: “Lễ chi giáo hóa giã vi, kỳ chỉ tà giã ư vị hình, sử nhân nhật tỉ thiện, viễn tội, nhi bất tự tri giă: sự giáo hóa của lễ rất cơ mầu, ngăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra, khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện, tránh xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI). Vì thế cho nên thánh nhân rất chuộng lễ: Phù lễ cấm loạn chỉ sở do sinh, do phương chỉ thủy chi tự lai giã: lễ là cấm sự loạn sinh ra, như đường đê giữ cho nước không đến vậy”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI). Người giàu sang biết lễ thì không dâm tà, không kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy. Người làm vua làm chúa có biết lễ thì mới biết trị nước yên dân. Nói rút lại: “Lễ chi ư chính quốc giã, do hành chi ư khinh trọng giã, thằng mặc chi ư khúc trực giã, qui củ chi ư phương viên giã: lễ đối với việc sửa nước cũng như cái cân đối với việc nặng nhẹ, cái dây đối với vật thẳng vật cong, cái qui cái củ đối với vật tròn vật vuông vậy”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI).

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, 8N, byphuong, Yahoo, nguyenthuy, nhuocthuy
Logged
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 04:07:38 PM »

Xét kỹ bốn cái chủ đích đã nói trên kia, thì biết rõ tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi, đủ chứng là tâm lý học của Khổng giáo sâu xa vô cùng. Hồ Thích Chi nói trong sách “Trung Quốc triết học sử” rằng: “Trong cái nghĩa rộng chữ lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái qui củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ là làm thì phải tội. Người làm điều trái lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử”. Lời ấy nói riêng vể cái chủ đích thứ tự thì rất phải lắm.

Dùng lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra, mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng lễ, chứ không trọng hình: “Phàm nhân chi tri, năng kiến dĩ nhiên, bất kiến tương nhiên. Lễ giả cấm, ư tương nhiên chi tiền, nhi pháp giả cấm ư dĩ nhiên chi hậu... Lễ vân, lễ vân, quí tuyệt ác ư vị manh, nhi khởi kính ư vi diểu, sử dân nhật tỉ thiện viễn tội nhi bất tự tri giã: phàm cái biết của người ta chỉ biết cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sai cái đã có rồi... Lễ vậy, lễ vậy, lễ quí là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Đại Đái Lễ ký: Lễ tế).

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, 8N, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
Logged
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười 23, 2013, 01:10:55 AM »

Chen ngang Topic của Huynh chút nhé
Có 1 sự hiểu lệch lạc từ chữ Lễ của Nho giáo sang Tiên học Lễ - Hậu học Văn của Việt Nam

- Mệnh đề này nguồn gốc từ đâu? Là phương châm của Nho gia Việt nam hay do Trương Vĩnh Ký phát biểu? Chỉ biết trên Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật số 31 (7.1973) bài Có nên vận dụng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không? của Giáo sư Nguyễn Lân
- Phạm trù của mệnh đề này đóng khung ở những nội dung nào?

Còn theo Nho giáo chính tông thì qui trình học tập của một con người bắt đầu từ đâu kết thúc ở đâu thì theo Tuân Tử như sau:
- Học bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu?
- Đáp: Phương pháp ấy là bắt đầu ở việc học kinh điển và chấm dứt ở việc học lễ
( Tuân Tử (Khuyến học): Học ô hồ thủy, ô hồ chung? Viết: Kỳ số tắc thủy hồ tụng kinh, chung hồ độc lễ)

Những kẻ hậu học hồ đồ đòi dẹp chữ Lễ, đòi dẹp khẩu hiệu Tiên học Lễ - Hậu học Văn mà nói chỉ biết nói, không biết rằng Lễ là một phạm trù triết học thật rộng lớn của học thuyết Nho giáo

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, google, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 23, 2013, 01:14:40 AM gửi bởi SCC » Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười 23, 2013, 03:40:38 AM »

Để rộng đường tham vấn, scc trích dẫn bài của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân với chủ trương dẹp bỏ Tiên học lễ - Hậu học văn như sau:
 Trích dẫn:
Đã đến lúc bỏ khẩu hiệu "Tiên học lễ..."

Cốt lõi mệnh đề “Tiên học lễ, hậu học văn” là nhấn mạnh việc trau dồi tư cách đạo đức bên cạnh việc học lấy tri thức và kỹ năng. Đây là một phương châm không riêng gì của giáo dục ở phương Đông. Nhưng cách diễn đạt lấy chữ “lễ” đại diện cho toàn bộ phương diện đạo đức thì rõ là một sự quy nạp quá lệch, tỏ ra cũ kỹ, lại rất dễ phát sinh hiểu lầm và bị lạm dụng.

Toàn bộ phương diện tri thức và kỹ năng mà người ta cần tiếp nhận trong sự học, đem gói vào chữ “văn” thì quả là sơ giản hóa đến mức khó chấp nhận.

Trong cuộc sống thường ngày, ngoài ý nghĩa lễ độ thông thường, “lễ” thường ám ảnh người ta ở một vài hàm nghĩa thông tục.Về phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục – đòi hỏi học trò phải vâng phục – điều mà học trò lớp trên càng khó có thể sẵn sàng thể hiện, do tư cách “người lớn” đang đậm dần lên ở các cô gái, chàng trai. Họ không thể “phục” nếu người thầy không thật giỏi và không thật có tư cách. Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp – nó có cái gì đó nặng nề hơn so với sự trả công thông thường.

Tôi biết là có bạn sẽ yêu cầu phải nêu những hàm nghĩa của “lễ” từ gốc, từ các kinh điển Nho giáo. Song đấy là lĩnh vực của giới nghiên cứu học thuật; người ngoài đời thường không đủ hiểu biết để tiếp cận như thế; họ chỉ hiểu và đụng chạm với “lễ” ở ý nghĩa thông tục mà thôi.

Cho nên, việc sử dụng lại khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt. Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm lấy từ nguồn thuần Việt. Và nếu không tìm được từ nguồn “thuần Việt”, thì nên tham khảo những nguồn có quy mô thế giới, chẳng hạn từ nguồn của tổ chức UNESCO.


[Những điểm nhận mạnh của tác giả - scc]
Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài.

Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này.

Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại.


Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.

Đọc nguyên bài tại đây:
http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/81786/khau-hieu--tien-hoc-le-----nen-cham-dut-.html

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, google, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười 23, 2013, 02:33:37 PM »

B- Theo sách Lịch sử triết học Trung Quốc – Tập I: Thời đại Tử học. Tác giả: Phùng Hữu Lan, Lê Anh Minh biên dịch
Về Lễ & Nhạc Luận Ngữ  chép:
- Lâm Phóng hỏi về gốc của Lễ, Khổng Tử nói: “Câu hỏi này trọng đại lắm. Lễ mà xa xỉ thì tiết kiệm còn hơn. Tang mà chỉ lo nghi thức thì đau buồn còn hơn“ (Luận Ngữ - Bát Dật)
- Cái dụng của Lễ là lấy hòa làm quí. Cái đạo của tiên vương nhờ hòa mà đẹp (Luận Ngữ - Học Nhi)
- Lễ ư? Lễ ư? Ngọc và lụa là lễ ư? Nhạc ư? Nhạc ư? Chuông và trống là nhạc ư? (Luận Ngữ - Dương chính – LAM chú: Khổng Tử phê bình sự thi hành lễ nhạc chỉ vụ vào hình thức.)
Trong đoạn kể trên, Khổng Tử giảng về Lễ và Nhạc đã chú trọng đến gốc của lễ và nguyên lý của nhạc, chứ không phải chỉ giảng về hình thức, tiết tấu mà thôi
[....]
Trực – Nhân – Trung – Thứ
Trên đây đã nói Khổng Tử chú trọng gốc của Lễ. Tử Hạ hỏi: “Kinh Thi nói: Miệng xinh chúm chím cười, long lanh mắt sáng ngời. Trên nền trắng vẽ màu sặc sỡ. Như vậy là có nghĩa gì?“. Khổng Tử đáp: “Nền trắng có trước rồi ta mới vẽ lên sau“. Tử Hạ: „“Tức là lễ có sau [Nhân và Nghĩa] chăng?“. Khổng Tử nói: “Bốc Thương à, trò là người phát khởi được ý ta, có thể cùng ta thảo luận về Kinh Thi rồi đó
Tử Hạ nhờ có câu“nền trắng có trước rồi ta mới vẽ lên sau“ mà hiểu rằng “lễ có sau“. Người ta tất phải có tính tình chân chính rồi sau mới thực hành lễ. Cũng như gái đẹp, trước phải cười duyên liếc khéo, rồi sau đó mới trang điểm cho đẹp. Nếu không, lễ chỉ là hình thức hư ngụy, đã không đủ quí mà còn đáng khinh. Vì thế, Khổng Tử nói:
-   Kẻ bất nhân thì theo lễ làm gì? Kẻ bất nhân thì theo nhạc làm gì? (Luận Ngữ - Bát Dật).
Người bất nhân không có tính tình chân chính, cho nên làm theo lễ nhạc chỉ là làm tăng thêm giả dối
-   Người quân tử lấy nghĩa làm bản chất, theo lễ mà làm, từ tốn mà nói năng, lấy trung tín mà làm nên việc (Luận Ngữ - Vệ Linh Công)
Vậy lễ và chất phác phải phối hợp với nhau cùng thi hành
[...]

Thời xưa, chữ lễ rất rộng. Ngoài ý nghĩa như hiện nay, chữ lễ còn bao hàm tất cả phong tục, tập quán, chế độ, chính trị, tổ chức, xã hội. Tử Sản nói: „“Lễ là qui phạm của trời, là chuẩn tắc của đất, là hành động của dân“. Sách Trang Tử, thiên Thiên Hạ chép: “Lễ dẫn dắt hành vi“. Hễ qui tắc nào liên quan đến hành vi của con người đều thuộc về lễ.[...]

Đồng thời, Khổng Tử chú trọng gốc của Lễ nên nói đến thẳng thắn (Trực). Nói đến thẳng thắn tức là nhấn mạnh sự tự do của tính tình cá nhân, nói đến lễ là nhấn mạnh sự ràng buộc của các ước lệ xã hội đối với cá nhân. Cái trước là ý tưởng mới của Khổng Tử, cái sau vốn là qui tắc có từ xưa. Bậc quân tử trong lý tưởng của Khổng Tử là người có thể lấy tính tình chân thật mà làm theo lễ.

[...] Nhân là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong tư tưởng Khổng Tử [...]  Người có lòng nhân là người có tính tình chân thật nhất và phát ra hợp lễ [...] Nhan Uyên hỏi về nhân, Khổng Tử nói: “Khắc kỉ phục lễ  (Kềm chế bản thân và theo lễ) là nhân. Một ngày khắc kỉ phục lễ thiên hạ trở về nhân“. Nhan Uyên hỏi : „“Xin hỏi đặc điểm của nhân?“. Khổng Tử nói: „“Cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nói, đừng nghe, đừng làm“ (Luận Ngữ - Nhan Uyên). „“Thẳng thắn mà không ham học [lễ] thì có cái tệ phiền nhiễu“ (Luận Ngữ - Dương Hóa). Cho nên nhân là tính tình chân thực của con người mà khi biểu lộ thì phải hợp lễ mới được

==============================
Về đề tài của huynh scc thì google chưa có nghiên cứu kỹ rằng Tiên học lễ - Hậu học văn là của Việt nam hay của Khổng Tử. Nhưng theo như bài post này thì với Khổng Tử, cần phải có nhân [ thẳng thắn, trung thực, chất phác...] trước rồi mới thi hành lễ. Tức là lễ có sau nhân và nghĩa. Nếu không, lễ chỉ là hình thức hư ngụy, đã không đủ quí mà còn đáng khinh

Vì vậy bảo rằng Tiên học lễ - Hậu học văn là của Khổng Tử - e rằng không đúng
Về câu khẩu hiệu này, nếu xét cho trẻ con thì nói rằng học lễ là học về hành vi[Lễ dẫn dắt hành vi - Trang Tử] . Vậy thì trẻ cũng cần phải học về hành vi trước khi học chữ thì đúng quá. Có điều, thầy cô giáo có đủ NHÂN để dạy trẻ về hành vi hay không. Lỗi xảy ra rồi thì lại đổ thừa tất tần tật cho Khổng Tử thì e là tiểu nhân quá.
Bài bác Khổng Tử vì Trung Quốc quá xấu thì không phải là Trí giả rồi. Tri thức là tài sản chung của nhân loại. Thế sao không nói vì Pháp  xâm lược VN mà mình tẩy chay toán học của René Descartes luôn đi. Khổng Tử là Khổng Tử và Trung Quốc là Trung Quốc, chúng ta tiếp thu tri thức từ Khổng Tử chứ không phải từ nhà nước Trung Quốc năm 2013

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, 8N, Yahoo, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 23, 2013, 02:40:23 PM gửi bởi google » Logged
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười 24, 2013, 01:45:52 AM »

Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử

Để tìm hiểu có phải qui trình đào tạo của Nho giáo là Tiên học lễ - Hậu học văn hay không, scc xin trích dẫn ra nội dung nói về công việc học của lớp trẻ theo Nho giáo như sau:

Trích dẫn
Đức Khổng Tử nói: Việc học rất để ý vào người thanh niên; bởi vì những người ấy tuổi còn non, sức còn mạnh, đường còn xa, quan hệ với xã hội tiền đồ nhiều lắm. Huống gì thì giờ người thanh niên, chính là ngày bắt đầu vào cửa học. Nếu đương lúc thanh niên mà lầm đường lạc lối thời bỏ uổng thì giờ, oan công đèn sách, chẳng đau đớn lắm hay sao! Nên đức Khổng Tử rất chú trọng vào hạng người ấy. Xem mấy tiết sau này:
Tử viết: đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn.

Đệ, nghĩa là em; Tử, nghĩa là con. Người đang thời giờ làm con em mà chưa đến thời giờ làm bậc cha anh, nên gọi bằng "đệ tử". Công việc học của người đệ tử thời nên thế nào? Tất phải khi vào trong gia đình có nghĩa vụ đối với cha mẹ mình cần phải có hiếu ("nhập tắc hiếu"), khi ra ở với xã hội có nghĩa vụ đối với đồng bào mình (là người anh em mình) thời cần phải đễ ("xuất tắc đễ"). Hiếu đễ, hai chữ ấy là cội gốc của việc học, ở với cha mẹ cho đúng với đạo lý, gọi bằng "hiếu", đối đãi với bậc anh lớp em cho đúng với đạo lý gọi bằng “đễ”. Đệ tử làm được hai việc ấy, là nền tảng làm người đã vững vàng rồi. Nhưng đến khi xử sự tiếp vật, lại khi đụng một việc giờ tất phải tiểu tâm cẩn thận, tiếp một người nào tất cung kính dịu dàng thế là gọi bằng "cẩn". Song sự cẩn đó, chẳng phải căng trí ở mặt ngoài mà xong đâu, tất phải có chân tình thật ý: hễ những lời phô tiếng nói ở trong lòng chân thật mà ra gọi bằng "tín". "Cẩn" với ”Tín" vốn đã tránh khỏi được nhiều điều lầm lỗi mà tư cách của một con người cũng đã khá khá. Nhưng đạo làm người, cốt yếu nhất phải có chữ "nhân". Vậy nên đối với quần chúng tất phải có tấm lòng bác ái, thương yêu khắp hết cả mọi người, thế là "phiếm ái chúng”. “Phiếm ái”, là thương yêu bằng một cách phổ thông. Tuy nhiên lấy nhân đạo mà đối đãi với loài người, vẫn nên rộng yêu cả quần chúng, nhưng ở trong quần chúng, tính cách thường hay khác nhau: có người nhân, có người bất nhân; người bất nhân kia ta không thể thân cận được, lại tất phải xét cho ra người nào là nhân giả thời ta thân cận mật thiết với người ấy. Vậy ở trong lúc "phiếm ái chúng" lai cần nhất là “thân nhân”. Thân nhân, nghĩa là "thân mật với người có đức nhân”. Đó là yêu người bằng một cách dặc biệt.

Như trên kia đã bày vẽ cho chữ "hiếu”, "đễ" ”cẩn" "tín" "phiếm ái”, "thân nhân", thảy có sáu chuyện: là nghĩa vụ với chức phận của đệ tử đã hơn được nửa rồi, nhưng mà chỉ hoàn thoàn thuộc về đức hạnh ở trên phương diện tinh thần mà thôi. Nếu có mặt tinh thần mà không có mặt tài nghệ, e còn thiếu kém về đường thực dụng, chẳng lấy gì đầy đủ về việc học của đệ tử. Vậy nên ngài dạy thêm rằng: "Hành hữu dư lực tắc dĩ học văn", nghĩa là làm những việc như trên kia mà, dụng hồi nào có thì giờ rảnh, ấy là sức dư, thời vô luận thì giờ nào, tất phải cần dùng lấy sức thừa ấy đổ sức vào công việc học văn. Học, nghĩa là học tập; Văn, nghĩa là thi thư với lục nghệ. Thi thư là sách kinh của các thánh nhân đời xưa; Lục nghệ, là sáu cái tài nghề như xạ là bắn, như cách bắn súng đời nay; ngự, là nghề đánh xe; thư, là nghề biên viết các thức chữ; số, là phép tính thuộc về số học; lễ, là các nghi tiết để ra làm việc giao tế; nhạc, là các món âm nhạc.

Chúng ta xem ở chương "Đệ tử" này có sáu việc như trên kia để vun trồng cái cội gốc bằng đức hạnh, lại có thi thư và lục nghệ để đào tạo cái tài cụ ra làm việc đời. Thánh nhân rất trông mong các bậc thanh niên, có thể, có dụng, có chất, có văn. Công việc học của thánh hiền đời xưa há phải như cách học của người đời ta bây giờ đâu! Chúng ta muốn bồi dưỡng thanh niên, xin trước để ý vào chương này, mà những người còn làm đệ tử cũng nên chú ý lắm.

Trích từ: Phan Bội Châu - Khổng học đăng - quyển thượng - Chương III: Kể cho kỹ những tầng thứ công việc học.

Luận: Theo tiêu chí  Khổng Tử thì phải dạy học trò nền tảng đạo đức trước với các bước cụ thể trình tự là Hiếu - Đễ - Cẩn tín - Phiếm ái - Thân nhân. Rồi sau đó mới dạy về Lễ. Ngày nay cái học mới thì bỏ hẳn qui trình dạy về chữ Nhân này, thậm chí thầy cô giáo lại càng mất nhân khi diễn ra trò mua bán điểm, chèn ép học thêm, chăn học sinh như chăn gà. Có chăng thì dạy đạo đức công dân xã hội chủ nghĩa dạy về đảng ta là giai cấp lãnh đạo (thế mà bảo Không Tử phân biệt giai cấp!!!)

Tuy qui trình học cũ của Khổng Tử không phù hợp với thời hiện tại nếu ôm khư khư như thế. scc nêu ra dẫn chứng này để tìm hiểu xem có đúng là Khổng Tử bắt học trò Tiên học lễ - Hậu học văn hay không
Nói về cái học cũ là nhằm nói về tư tưởng triết học về giáo dục của Khổng Tử để chúng ta nắm bắt mà biết kết hợp vì mãi đến nay Việt Nam vẫn lay hoay chưa có triết học giáo dục nào cả, cứ lẩn quẩn 1 chỗ năm nào cũng làm đề án cải cách giáo dục tiêu tốn tiền tỷ của dân rồi cuối cùng cứ phán bừa giáo dục định hướng xã hội chủ nghĩa...

Phan Bội Châu nói rằng:

Trích dẫn
Tác giả lại muốn cho người ta biết học cũ vẫn không phải trần hủ, mà học mới vẫn không phải phù hoa. Nếu học cho đến tinh thần thời ví như làm nhà: học cũ là nền tảng, mà học mới tức là tài liệu; hai bên vẫn có thể giùm cho nhau làm nên một tòa nhà hoa mỹ. Chẳng bao giờ không tài liệu mà làm nên nhà; và cần thứ nhất là chẳng bao giờ không nền tảng mà dựng được nhà. Tác giả viết bản sách này là muốn điều hòa học cũ với học mới; hai bên tương thành cùng nhau, mà quyết không tương phản.
Tác giả nói học cũ là nói chân triết lý của Á Châu từ thuở xưa; nói học mới là chỉ nói khoa học tối tân thiệt có ích với nhân sinh của thế giới bây giờ.
[...]
Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu! Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mối để hót gạt mề-đay kim khánh đâu!

Trích từ: Mục Phàm Lệ - Phan Bội Châu - sách đã dẫn
 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
google, 8N, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 24, 2013, 01:49:10 AM gửi bởi SCC » Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười 24, 2013, 02:14:19 AM »

Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài.

Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này.

Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại.


Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.

Tri thức là tri thức, chính trị là chính trị. Nếu theo kiểu này thì Trung quốc và Ấn Độ cũng đang tranh giành biên giới và giới học giả Trung quốc cũng sẽ đề nghị tẩy chay Phật học vì Phật là người Ấn Độ. Và càng tẩy chay hơn nữa vì Phật chủ trương theo kiểu ngu dân, cấm chúng bay không được đấm đá nhau!!!

Hãy nghe Trần Trọng Kim nói về Nho giáo ở Việt Nam như thế nào:

Trích dẫn
Nước Việt Nam ta từ đời nhà Lý trở đi, nhờ có nho học đã sản xuất được bao nhiêu người trung nghĩa hiền lương, và người có tài cán, có tiết tháo, đủ làm vẻ vang cho nước nhà. Nay ta hãy kể lược qua những người có danh tiếng lớn trong các đời, để chứng rõ cái hiệu quả sự nho học ở nước Nam ta.
Trong đời nhà Lý sự học tuy chưa được mở mang cho lắm, nhưng bởi có nho học mà có những người như: Lý Đạo Thành, tôn thất nhà Lý, chịu cố mệnh của vua Thánh tông, giúp ấu chúa là Nhân tông, sửa sang việc chính trị, dự bị binh lương, làm cho nước ta thuở ấy có đủ thế lực, bắc chống với Tàu, nam đánh được Chiêm thành. Trương Bá Ngọc là một người nho học, cầm quân đi đánh giặc Nùng, giữ cho bờ cõi được yên trị. Sau ông lại giúp ấu chúa là Thần tông, làm một bậc danh thần trong nước. - Tô Hiến Thành là một nhà chính trị văn võ kiêm toàn, thường đi đánh dẹp lập được nhiều công. Ông chịu cố mệnh của vua Thần tông gìn giữ tự quân một cách rất trung thành, khiến kẻ tà nịnh không dám làm bậy. Ngoài những sự nghiệp đã làm về việc chính trị và võ bị, ông lại hết lòng lo việc mở mang văn học, thật là một bậc danh thần có phong thể chẳng kém người đời xưa bên Tàu. - Những người ấy tuy không phải là người học giả chuyên nghề luận đạo và làm văn, nhưng chính là người đem vái tinh hoa nho học mà thi thố ra ở công việc làm, cho nên ta có thể gọi là danh nho được vậy

Đến đời nhà Trần, nho học thịnh hơn đời nhà Lý và có nhiều nho giả chân chính, như Mạc Đĩnh Chi, tự là Tiết Phu, đỗ trạng nguyên đời vua Trần Anh tông (1293 - 1314). Ông người thấp nhỏ xấu xí, nhưng thông minh lạ thường, và làm quan rất thanh khiết. Khi ông sang sứ bên nhà Nguyên, thường lấy văn chương làm cho người Tàu phải phục. - Nguyễn Trung Ngạn, tự là Giới Hiên, đỗ hoàng giáp dời vua Trần Anh tông, có tài chính trị và giỏi biện luận. Có bộ sách Giới hiên toàn tập truyền ở đời. - Trương Hán Siêu, tự Thăng Am, làm quan đời Trần Anh tông và Trần Minh tông. Tính ông rất cương nghị và giỏi cả văn chương và chính trị. Lê Lạp, tự là Bá Đạt, làm quan đời vua Minh tông và Dụ tông, lấy sự làm sáng cái đạo của thánh nhân làm chức phận của mình. - Phạm Sư Mạnh, tự là Úy Trai, làm quan đời vua Minh tông và Dụ tông, có tài khí hùng mại và giỏi nghề văn chương. Có sách Hiệp thạch tập truyền ở đời. - Chu Văn An, người huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông bây giờ. Ông là một nhà đạo học có tiếng ở nước Nam ta. Trước ông ở nhà đọc sách và dạy học. Những người đã làm quan trong triều như bọn Lê Lạp và Phạm Sư Mạnh đều đến xin làm đệ tử. Vua Minh tông nhà Trần nghe tiếng, vời ông vào làm chức tư nghiệp ở Quốc tử giám. Đến khi vua Dụ tông lên trị vì, bỏ trễ việc triều chính, ông can ngăn không được, bèn dâng sớ xin chém bảy người nịnh thần, gọi là “thất trảm sớ”. Vua không nghe, ông liền thôi quan về nhà ở đất Chí Linh, tự hiệu là Tiều ẩn. Ông học rất rộng và bao giờ cũng giữ sư đạo rất nghiêm. Khi ông mất rồi vua Dụ tông cho tên thụy là Văn trinh, và đem vào tòng tự ở Văn miếu. Sách của ông làm, có bộ Tứ thư thuyết ước và bộ Tiều ẩn thi truyền ở đời.

Trong đời nhà Hồ có Lý Tử Cấu là một nhà ẩn dật cao sĩ; Võ Mộng Nguyên, sau ra làm quan với nhà Lê, nổi tiếng là người văn học đương thời.

Đời nhà Lê có Nguyễn Trãi, hiệu là ức trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng phúc, tỉnh Hà đông bây giờ, đỗ thái học sinh đời nhà Hồ. Ông học suốt kinh, sử, bách gia và thao lược binh thư. Khi nhà Minh sang chiếm cứ nước ta, ông theo giúp vua Lê Thái tổ làm bậc đệ nhất công thần nhà Lê. Lê Văn Linh là người nho học có trí thức cùng với Nguyễn Trãi giúp vua Lê Thái tổ lập được nhiều công. Về sau những người nổi tiếng là danh nho như: Bùi cẩm Hổ; - Nguyễn Thiên Tích; -Nguyễn Trực, đỗ trạng nguyên đời vua Thái tông; - Nguyễn Như Đổ đỗ bảng nhãn đời vua Thái tông; - Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên đời vua Thánh tông; - Đỗ Nhuận và Thân Nhân Trung đều đỗ đồng tiến sĩ đời vua Thánh tông. Hai người này cùng làm bộ Thiên man dư hạ tập, 100 quyển, nói về điển tích các đời. Sách ấy về sau mất mát đi, chỉ còn có mấy quyển truyện ở đời; - Lương Đắc Bằng đỗ bảng nhãn đời vua Hiến tông, sang sứ bên nhà Minh được bộ sách Thái ất thần kinh truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm đời nhà Mạc.

Đời nhà Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm, tự là Hanh Phủ, người huyện Vĩnh lại, đỗ trạng nguyên đời Mạc Đăng Doanh. Ông làm quan được tám năm đến chức Lại bộ tả thị lang thì xin về, làm nhà gọi là Bạch Vân am, tự hiệu là cư sĩ. Sau vua nhà Mạc phong cho chức Lại bộ thượng thư Trình quốc công. Ông học rất rộng và rất tinh Dịch lý, điều gì cũng biết trước. Ông không làm sách bàn về việc học, nhưng hay làm văn thơ bằng quốc âm, ngụ những ý nghĩa sâu xa. Văn của ông rất giản dị tự nhiên mà có lắm ý vị. Học trò của ông nhiều người thành đạt như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh đều là bậc vãn sĩ tàì giỏi, giúp nhà Hậu Lê trung hưng. Nguyễn Dữ, học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm và là một người dật sĩ, làm bộ sách Truyền kỳ mạn lục. - Giáp Hải hiệu là Tiết trai, đỗ trạng nguyên đời nhà Mạc, là một người giỏi văn chương và có tài chính trị.

Đời Hậu Lê trung hưng những người văn học trứ danh và có công nghiệp hiển hách rất nhiều. Song đây kể qua những người có danh vọng lớn. Trong khoảng Hậu Lê sơ diệp có: Nguyễn Mậu Nghi, là một bậc danh thần trong lúc trung hưng. - Phùng Khắc Khoan, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai. Ông theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, giỏi thuật số, nhưng không ra ứng thí ở triều nhà Mạc, rồi bỏ vào giúp nhà Lê ở Thanh hóa. Năm ông 53 tuổi xin đi hội thi, đỗ hoàng giáp. Sau ông sang sứ bên nhà Minh nổi tiếng có tài văn học, người trong nước thấy ông giỏi, thường gọi là trạng. - Lương Hữu Khánh, con Lương Đắc Bằng, có tài văn học, nhưng không ra ứng thí ở triều nhà Mạc, sau vào giúp nhà Lê ở Thanh hóa lập được nhiều công.

Trong khoảng Hậu Lê trung diệp, khi đã dứt được nhà Mạc, quyền bính trong nước thuộc về nhà Trịnh, những người nho học ra làm quan có tiếng lớn, là: Phạm Công Trứ, đỗ đồng tiến sĩ đời vua Lê Thần tông (1619 - 1643) làm đến chức Lại bộ thượng thư giúp chúa Trịnh, sửa đổi việc chính trị, nổi tiếng là người có tài kinh tế. - Nguyễn Công Hãng, đỗ đồng tiến sĩ đời vua Lê Hi tông (1676 - 1705) làm quan chức Tham tụng, giúp chúa Trịnh, có tiếng là người giỏi chính trị. - Lê Anh Tuấn, đỗ đồng tiến sì đời vua Lê Hi tông, cùng với Nguyễn Công Hãng giúp chúa Trịnh có trọng danh về văn chương và chính trị.

Đến Hậu Lê mạt diệp có Phạm Đình Trọng, đỗ đồng tiến sĩ đời vua Lê Ý tông (1735 - 1740). Ông là người nho học, tài kiêm văn võ, đánh giặc rất giỏi. Lê Quí Đôn, đỗ bảng nhãn năm Cảnh hưng đời vua Lê Hiển tông (1740 - 1786). Ông thông minh hơn người và trước thuật rất nhiều. Những sách của ông làm, có bộ Lê triều thông sử, 30 quyển; Quốc triều tục biên, 8 quyển; Danh thần lục, 2 quyển; Dịch kinh phu thuyết, 6 quyển; Thư kinh diễn nghĩa, 3 quyển; Quần thư khảo biện, 4 quyển; Liên châu thi tập, 4 quyển; Quế đường thi tập, 4 quyển; Toàn Việt thi tập, 20 quyển; Hoàng Việt văn hải, mấy quyển; - Âm chất văn chú, 2 quyển; Vân đài loại ngữ, 4 quyển; Kiến văn tiểu lục, 2 quyển.

Đời nhà Nguyễn vào khoảng sơ diệp có di nho nhà Lê như Phạm Quí Thích. Nguyễn Du đều là người có học thức rộng và có tài văn chương. Ở đời Minh mệnh có Lý Văn Phức là người học giỏi và có tài làm văn; - Nguyễn Công Trứ, có tài lỗi lạc hơn cả các quan triều Nguyễn, ông là một người quan văn mà đánh đống dẹp bắc lập được nhiều võ công. Ông đã giỏi nghề làm văn và lại có tài chính trị, ở đâu thì hết lòng mở mang việc nông phố, làm cho dân được nhờ rất nhiều, ở đời Tự Đức, có Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát nổi tiếng là người có học thức rộng và có tài làm văn thơ. Về sau lại có Nguyễn Khuyến ở làng Yên đổ, tỉnh Hà nam, cũng nổi tiếng là người giỏi thơ.

Những người nho học nổi tiếng về sử học ở các đời, thì ở đời nhà Trần có: Lê Văn Hưu làm bộ Đại Việt sử ký, 30 quyển; Hồ Tông Thốc làm bộ Việt sử cương mục, mấy quyển. Ở đời nhà Lê có Phan Phù Tiên, làm bộ Sử ký tục biên, 10 quyển, - Ngô Sĩ Liên, làm bộ sử ký toàn thư, 15 quyển; Võ Quỳnh, làm bộ Việt giám thông khảo, 26 quyển; Lê Hi làm bộ Sử ký tục biên, mấy quyển; - Nguyễn Nghiễm làm bộ Việt sử bị lãm, 7 quyển; - Ngô Thời Sĩ làm bộ Việt sử tiêu án, 10 quyển. Ở đời nhà Nguyễn có Phan Huy Chú làm bộ Lịch triều hiến chương, 49 quyển. Những nhà sở học ấy đếu là đại thủ bút ở nước Việt Nam ta vậy.
Trích từ: Trần Trọng Kim - Nho giáo trọn bộ -Thiên XX: Nho giáo ở Việt Nam

Luận: Các bậc danh Nho ấy đứng lên chống Tàu, là anh hùng dân tộc. Vậy lẽ ra Trung Quốc phải cấm truyền bá Khổng Tử vào Việt Nam mới phải!!!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
google, 8N, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười 25, 2013, 02:43:28 AM »

Tạm thời có thể nói tóm lại về Tiên học lễ - Hậu học văn
- Nguồn gốc: chưa rõ, nhưng được Nho gia Việt Nam chấp nhận và đề cao. Còn chính gốc thì Khổng Tử không có phát biểu như vậy
- Nội dung của mệnh đề này: trỏ đến việc giáo dục con trẻ và đóng khung đó là: Ưu tiên về đạo đức rồi mới đến kiến thức
- Luận: Vì đây là câu khẩu hiệu, câu mệnh đề nên ngôn ngữ cô đọng và giản lược. Lễ là trỏ đến hành vi (Lễ dẫn dắt hành vi - Trang Tử), Văn là trỏ đến kiến thức thực dụng trong đời sống . Mà hành vi là đối tượng của đạo đức. Hành vi là mục tiêu số một trong việc giáo dục con trẻ. Văn không phải ở phạm vi hẹp như Lại Nguyên Ân đã hiểu
Trích dẫn
Văn, nghĩa là thi thư với lục nghệ. Thi thư là sách kinh của các thánh nhân đời xưa; Lục nghệ, là sáu cái tài nghề như xạ là bắn, như cách bắn súng đời nay; ngự, là nghề đánh xe; thư, là nghề biên viết các thức chữ; số, là phép tính thuộc về số học; lễ, là các nghi tiết để ra làm việc giao tế; nhạc, là các món âm nhạc.- Phan Bội Châu

- Lễ không phải là sự cống nạp, qui phục, tuân phục vô điều kiện. Khổng Tử không bao giờ nói như vậy, hoàn toàn là không.

Sự lệch lạc của xã hội bây giờ khi đóng khung lễ là sự cống nạp, qui phục là chính do hậu quả của việc chạy theo con đường vật chất, xa rời tư tưởng của Thánh hiền. Cớ sao quay ngược lại đổ thừa lỗi do thánh hiền vậy. Thật là hậu sinh bất túc úy

Trần Trọng Kim đã than khóc gần một thế kỷ trước rồi:
Trích dẫn
Dẫu đến ngày nay là thời đại người ta đang say mê về cuộc tranh hơn tranh kém, đang xô đẩy nhau ở chỗ danh lợi, nhiều người còn mong mỏi sự bỏ cũ theo mới, thế mà ai là người biết nghĩ, ngắm thấy lòng người đơn bạc, cảnh đời khổ não, ngẫm nghĩ lại tiếc cái đạo của Khổng tử không thi hành khắp được mọi nơi.

- Hồ Quí Ly là hậu duệ đời thư 11 của một quan cai trị người Tàu, đã đứng lên chống lại Tàu. Ấy là do học được chữ Nhân, chữ Quân tử của Khổng Tử. Hơn 1000 năm đô hộ và đồng hóa người Việt nhưng Tàu khựa không làm được điều đó chính là nhờ tri thức của Khổng Tử vậy.
[/size]

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, dieunha, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười 25, 2013, 05:54:27 AM »

Về Tiên học lễ - Hậu học văn
Theo học giả Nguyễn Dư thì câu khẩu hiệu này thời xưa của Nguyễn Dư đã có thập niên 40 thế kỉ trước, còn xưa nữa thì chưa biết bắt đầu từ lúc nào:

Trích dẫn
Thật bất ngờ ! Đang lang thang, dạo chơi tại Nha Trang bỗng thấy câu " Tiên học lễ, hậu học văn " được chăng tại sân chơi của một trường học. Lâu lắm rồi mới thấy lại câu nói của thời xa xưa. Xưa ơi là xưa. Xa lắc xa lơ. " Tiên học lễ, hậu học văn " dắt tôi về thăm lại cái lớp năm trường tiểu học Quang Trung năm 1949-1950 ngoài Hà Nội.
Và thời điểm đó thầy cô dạy gì về câu khẩu hiệu này:
Trích dẫn
Buổi học đầu tiên, thầy Ân cầm thước chỉ vào câu " Tiên học lễ, hậu học văn " dán phía trên cái bảng đen. Rồi thầy giảng nghĩa. Cả lớp há hốc mồm ngồi nghe. Giảng xong, thầy gõ thước xuống bàn, dặn cả lớp :

- Ở nhà phải lễ phép với bố mẹ, ra đường phải lễ phép với mọi người. Học lễ phép trước, rồi mới học những cái khác. Nghe chưa?

Và Nguyễn Dư dựa vào lời của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục mà kết rằng ngày xưa cũng đã có kẻ xấu lợi dụng câu Tiên học lễ hậu học văn:
Trích dẫn
" Tiên học lễ, hậu học văn " ngày xưa đã bị nhiều người xấu lợi dụng.

- Người ta ở đời nhờ có cha mẹ sinh ra mình, lại phải nhờ có thầy dạy cho mình thì mình mới khôn biết việc này việc nọ, mới nên con người, cho nên học trò ở với thầy cũng như con ở với cha mẹ, ấy cũng là một mối luân thường của Á Đông ta.

Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở. Kìa như các bực đáng mặt mô phạm, có công dạy dỗ, có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành. Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trướng, gõ đầu năm ba đứa để hộ khẩu cho qua đời. Vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo, động một tí thì bổ cho đồng môn, nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy có việc mừng vui, nào khi thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là cái mọt của thiên hạ.

Mấy thầy khôn vặt, sinh sống bằng nghề bắt nạt học trò. Thật đốn mạt ! Con sâu làm rầu nồi canh.

Rồi tiếp tục băn khoăn, ra điều không hiểu về câu Tiên học lễ - Hậu học văn là như thế nào mà sao Nguyễn Công Hoan lại chửi vua, gọi vua Khải Định bằng :

Trích dẫn
Người ta không biết rõ Nguyễn Công Hoan hồi nhỏ được các thầy dạy dỗ ra sao. Đến lượt chính mình đi dạy học thì thầy Hoan dạy dỗ học trò những gì ? Người ta chỉ biết Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có tài, tác giả của rất nhiều truyện ngắn, truyện dài nổi tiếng.

Sau này Nguyễn Công Hoan có dịp viết hồi kí. Thể loại khác, bút pháp cũng đổi khác. Viết hồi kí Nguyễn Công Hoan hay dùng lối nói đốp chát thẳng thừng, có lúc quên cả " Tiên học lễ, hậu học văn ". Điển hình là một đoạn viết liên quan đến lịch sử nước ta :

- Khải Định là một thằng vô học, chỉ chơi bời. Năm 1919, nó đã " ngự giá Bắc tuần ".

Nó nghĩ ra cách ăn mặc rất ngộ nghĩnh : Vàng từ đầu đến chân.

Nón lợp vải vàng, có đính long ly quy phượng bằng vàng. Khăn vàng. Áo màu vàng, thêu kim tuyến, ngắn trên đầu gối.

Hai vai đeo ngù quan binh Pháp bằng vàng. Thắt lưng to bản giát vàng. Ghệt đính vàng. Giày tây da vàng, có gài cái sắt thúc ngựa bằng vàng. Tay đeo bốn chiếc nhẫn vàng mặt đá màu lớn.

Ra Hà Nội, nó ngồi cùng xe với toàn quyền Sa-rô. Mình cứ tưởng đống rơm, không biết là người.

(...)

Nó ra Bắc để ký nhường cho Tây Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng làm nhượng địa
".

Trong cùng cuốn sách, ở một trang khác Nguyễn Công Hoan lại viết "Ngộ nghĩnh nhất là bộ quần áo nó (chỉ vua Khải Định) mặc ra thăm Bắc Kỳ năm 1917, gọi là ngự giá Bắc tuần ".

Và cuối cùng bỏ lửng một vấn đề như sau:
Trích dẫn
Nhiều phụ huynh trẻ ngày nay bỡ ngỡ trước câu " Tiên học lễ, hậu học văn ". Ta đã mất nhiều thời gian, nhiều thế hệ mới phá bỏ được tàn tích của phong kiến. Bây giờ lại có người muốn đi giật lùi sao?

Không ai muốn đi giật lùi đâu. Phải tiến, phải " chồm lên phía trước " chứ. Miễn là đừng chồm như ngựa bất kham.

Đọc nguyên bài: http://chimvie3.free.fr/52/nddg117_TienHocLeHauHocVan.htm

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 25, 2013, 05:56:00 AM gửi bởi 8N » Logged
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười 26, 2013, 08:21:41 AM »

Trích dẫn
Nhiều phụ huynh trẻ ngày nay bỡ ngỡ trước câu " Tiên học lễ, hậu học văn ". Ta đã mất nhiều thời gian, nhiều thế hệ mới phá bỏ được tàn tích của phong kiến. Bây giờ lại có người muốn đi giật lùi sao?

Không ai muốn đi giật lùi đâu. Phải tiến, phải " chồm lên phía trước " chứ. Miễn là đừng chồm như ngựa bất kham.

Vâng, học giả Nguyễn Dư nói rằng đừng có ham tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc trên còn đường xhcn mà đạp đổ đi một ngôi nhà truyền thống mà tổ tiên ta đã gầy dựng qua 2000 năm.

Thế nhưng, Nguyễn Dư trích dẫn lời của Phan kế Bính về các thầy giáo làng bắt nạt trẻ con,và bảo rằng từ xưa người ta đã lợi dụng mệnh đề Tiên học lễ - Hậu học văn:
Trích dẫn
" Tiên học lễ, hậu học văn " ngày xưa đã bị nhiều người xấu lợi dụng.

- Người ta ở đời nhờ có cha mẹ sinh ra mình, lại phải nhờ có thầy dạy cho mình thì mình mới khôn biết việc này việc nọ, mới nên con người, cho nên học trò ở với thầy cũng như con ở với cha mẹ, ấy cũng là một mối luân thường của Á Đông ta.

Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở. Kìa như các bực đáng mặt mô phạm, có công dạy dỗ, có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành. Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trướng, gõ đầu năm ba đứa để hộ khẩu cho qua đời. Vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo, động một tí thì bổ cho đồng môn, nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy có việc mừng vui, nào khi thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là cái mọt của thiên hạ.


Mấy thầy khôn vặt, sinh sống bằng nghề bắt nạt học trò. Thật đốn mạt ! Con sâu làm rầu nồi canh.

Khổng Tử là người khai sinh ra cái nghề giáo hiện nay, gọi là Kẻ sĩ, trước đó trong lịch sử Trung quốc chưa từng xuất hiện tầng lớp kẻ sĩ này, mà chỉ có là Sĩ đại phu và quân sĩ thôi, không phải cái thứ "sĩ" mà hậu thế gọi chung chung trong cụm từ " Sĩ- Nông - Công - Thương". Ngay thời điểm của Khổng Tử không ít người phản đối cái thành phần Sĩ này vì chẳng chịu cày ruộng làm ra lúa thóc mà ăn cứ đi nhông nhông thuyết giảng để người ta cung phụng cho mà ăn. Sách Trang Tử chép lời Đạo Chích mắng Khổng Tử: "Mi bày ra lời lẽ này nọ, xứng láo đó là lời vua Văn, vua Vũ [...] Mi ba hoa nói bậy, không cày mà ăn, không dệt mà mặc, khua môi múa mỏ bày trò thị phi để mê hoặc các vua trong thiên hạ, khiến cho kẻ sĩ trong thiên hạ không trở lại bản tính được. Mi mượn cớ trọng hiếu đễ, nhưng cốt là để cầu phong hầu mà hưởng phú quí" ( Trang Tử - Đạo Chích)

Thời Khổng Tử đi dạy thế thì ai cho củ khoai củ mì, bát cơm manh áo Ngài đều nhận và dạy cho nhiệt tình. Nếu dạy mà không có phí lấy gì sống! Và khai sinh ra cái nghề giáo là vậy. Hôm nay, nghề giáo là nghề hắn hoi có cả bộ trưởng thứ trưởng giám đốc sở, trưởng phòng, hiệu trưởng hiệu phó, tổ trưởng chuyên môn quản lý mà còn phát sinh tiêu cực huống chi ngày xưa chủ yếu là tự phát, ai học thi không đậu làm quan thì về làng gõ đầu trẻ kiêm cơm kiếm cháo. Vậy sự tiêu cực đó là do tính chất tự phác, không ai quản lý, không hóa thành luật chứ lỗi không phải ở Tiên học lễ - Hậu học văn. Mà Phan Kế Bính viết thực trạng chứ không hề kết luận lỗi do Tiên học lễ - Hậu học văn. Nguyễn Dư thật cẩu thả với thiển ý của mình như vậy. Mà Phan Kế Bính viết như thế cũng là nhãn quan của Phan Kế Bính, ngay cả Khổng Tử còn bị chửi mắng kia,  chưa suy xét kĩ mà chèn thiển ý mình vào là vội vã

Xấp xỉ thời đại của Khổng Tử thì Phương Tây, bên xứ sở văn minh Athens - Hi Lạp cũng xuất hiện thành phần những nhà ngụy biện( sophits) đi rao bán thứ triết học của họ với tên gọi mĩ miều là "cẩm nang thành đạt". Họ đi đó đây rao giảng cho con cái các nhà quyền thế và nhận lại món tiền kếch xù chứ không phải khoai mì khoa lang như Khổng Tử và lớp kẻ sĩ đâu. Mà những nhà ngụy biện này rao bán thứ triết học tào lao mà Socrates lẫn Plato rất căm ghét so với với triết học của 2 ông. So sánh như thế để thấy rằng học phí của Khổng Tử và các kẻ sĩ vẫn rất rẻ

Còn vấn đề Nguyễn Công Hoan, nếu trên quan điểm của Khổng Tử thì một ông vua  đi bán nước của mình, không lo chu toàn cho dân trong nước thì đáng bị dân đem ra xử tử, chửi như Nguyễn Công Hoan vẫn còn nhẹ. Nguyễn Công Hoan không vô thức khi gọi vua Khải Định bằng nó đâu Nguyễn Dư ạ.

Một dẫn chứng sau đây, chứng minh rằng lễ của Nho giáo không phải là một sự tuân phục đến vô thức, hễ vua mà sai thì cũng không dám khinh miệt sao:


Trích dẫn
Mạnh Tử viết: Phi lễ chi lễ, phi nghĩa chi nghĩa, đại nhân phất vi.
Giả như có một việc gì theo thì tục vẫn cho là lễ, mà chiếu theo lẽ trời thời té ra chẳng phải lễ, đó là “phi lễ chi lễ” (phi lễ chi lễ) có một việc gì, theo về tập quán thường cho là nghĩa, mà chiếu theo đạo lí thời té ra việc ấy chẳng phải nghĩa, đó là “phi nghĩa chi nghĩa” (phi nghĩa chi nghĩa).
Hễ những việc gọi bằng lễ mà kì thực phi lễ, gọi bằng nghĩa mà kì thực phi nghĩa thời đại nhân chẳng bao giờ làm những việc ấy (Phi lễ chi lễ, phi nghĩa chi nghĩa đại nhân phất vi).

( Phan Bội Châu - Khổng học đăng hạ - Thiên: Mạnh Tử - Tiết thứ tám: ĐẠO “THIỆP THẾ QUAN NHÂN” CỦA THẦY MẠNH)

Mạnh Tử dạy hành lễ cũng phải hợp lẽ trời, vua bán nước thì hợp lẽ trời sao mà tất phải dùng lễ đối với vua. Google nói là đứng trên quan điểm của Nguyễn Công Hoan tại thời điểm đó để xét cho hành động vô lễ đó của ông. Còn tính chính xác của lịch sử về vua Khải Định google không dám mạn đàm

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, byphuong, Yahoo, nguyenthuy
Logged
 
 
 
google
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 29

Cảm Ơn
-Gửi: 280
-Nhận: 115


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười 28, 2013, 02:22:19 PM »

Quay trở lại chủ đề LỄ - Sở dĩ google phải đi gạn lọc lại, những gì của chính Khổng Tử nói và những gì của các môn đệ. Vì ngay cả Nho mà Khổng Tử cũng phân thành hai thành phần quân tử Nho và tiểu nhân Nho. Nhất là cái học về sau này của Tống Nho, Hán Nho, khi Nho giáo trở nên độc tôn và các môn đệ thêm bớt rất nhiều theo dạng ngụy thư. Phải tìm hiểu đúng gốc từ tưởng của Khổng Tử, chúng ta mới có thể tiếp cận được nguyên bản vấn đề. Trên tinh thần đó, Google dựa vào 2 tác giả đáng tin cậy của Việt Nam là Phan Bội Châu ( danh Nho cuối cùng Việt Nam) và học giả Trần Trọng Kim. Còn bên Trung Quốc thì Tiến sĩ Phùng Hữu Lan, sách của ông đã dịch ra và giảng dạy ở phương Tây.

C- Theo sách Khổng học đăng - Phan Bội Châu

Trích dẫn
Tử viết: nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?
Ngài nói rằng:
Người đã bất nhân thời có làm lễ mà làm sao nên lễ? Người đã bất nhân thời dầu có làm nhạc mà làm sao nên nhạc?
Chữ "lễ”, chữ "nhạc" ở đây, không phải như lễ nhạc quen nói ở đầu miệng ta đâu. Theo ở nơi lẽ trời mà bổ thêm vào tiết văn trật tự gọi là lễ; gốc ở đạo người mà biểu hiện ra ở nơi tiết tấu thanh âm thời gọi bằng nhạc. Vậy nên làm lễ làm nhạc, tất phải gốc ở lòng nhân mà tỏ rõ ra, vậy sau lễ mới nên lễ, nhạc mới nên nhạc. Nên đức Khổng Tử có bài nói rằng: Ví dầu người ta đã bất nhân thời lẽ trời đã mất hẳn, mà đạo người cũng chẳng có gì; nhưng cái lễ nhạc mà nó làm ra đó, chỉ thấy là ngọc lụa chuông trống mà thôi, có gì là lễ nhạc thiệt đâu? Nên Khổng Tử đã có câu nói rằng: "Lễ vân lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai; nhạc vân nhạc vân, chung cổ vân hồ tai!..“
Nghĩa là, gọi bằng lễ đó, há phải thấy ngọc lụa mà gọi bằng lễ đâu, gọi bằng nhạc đó há phải nghe chuông trống mà gọi bằng nhạc đâu!


Hữu tử viết: tín, cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã; cung, cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã; nhân, bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã.
[...] Giao thiệp với người, vẫn nên có thái độ cung kính. Nhưng thái độ ấy, phải theo đúng với lễ; chẳng phải gặp người nào, lúc nào cũng cung kính bướng mà được đâu. Hễ ta dùng thái độ cung kính cho đúng với nghĩa lý tức là lễ (cung cận ư lễ) thời chẳng bao giờ mắc lấy xấu thẹn (viễn sỉ nhục dã). Trái lại, cung kính người mà làm cách siểm nịnh a dua, để lấy lòng những kẻ quyền thế, ấy là trái với lễ đó rồi làm sao viễn được sỉ nhục ru? Chẳng phải thành ra người ty ô vô sỉ hay sao?


Vì vậy, người muốn tự lập, tất phải biết “lễ“. Ngài cũng đã thường có câu nói rằng:
Bất học lễ, vô dĩ lập.
"Lễ“ là cái đám đất vững vàng cho ta đứng. Nếu không biết "lễ", không dựa vào đâu mà lập được vậy (bất trì lễ, vô dĩ lập).


Bàn đến luân lí ở nơi quốc gia, xưa kia Nho giáo theo về đời chế độ quân chủ, nên luân lí quân thần vẫn là trọng lắm. Nhưng chỉ từ đời Tần trở xuống, một là vì cái độc quân chủ chuyên chế mà chế tạo ra vô số quân quyền; hai là vì cái tội Hán Nho xu siểm mà bày đặt ra vô số sách giả (ngụy thư), nên những câu quân quyền tuyệt đối mà họ lại niết tạo ra những lời đức Khổng Tử. Thậm chí như một thiên Hương Đảng, miêu tả những cái thái độ tôn quân đạt ư cực điểm. Chúng ta thử xem thiên ấy cho kĩ, có được mấy câu thật mấy thầy cao đệ chép ra đâu. Chẳng qua sau khi Tần đốt sách rồi, sách tàn thẻ nát, sứt ngược sứt xuôi, lũ Hán Nho nhân dịp ấy chắp vá vơ thêm cho đạt được cái mục đích siểm chúa cầu vinh, kì thực thời toàn cả thiên ấy chỉ một hai câu đúng mà thôi.
Tác giả xin chứng vào mấy câu thiệt lời đức Khổng Tử thời biết rõ được luân lí Khổng học đối với quân thần.
Tử viết: Sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã.
Ngài nói rằng: Hễ những kẻ thờ vua hết sức làm cho có lễ mạo, là những món người dung tục kia lấy đó làm cách siểm nịnh mà thôi (sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã), chứ theo như đạo sự quân thời chỉ cốt ở “trách nan trần thiện”, còn như lễ tiết ở bề ngoài thời có cần gì đâu.
Xem như bài này thời sự quân tận lễ, đức Thánh vẫn cho là siểm, có đâu như những việc chép ở thiên Hương Đảng, mà bảo rằng Khổng Tử làm như thế? Chẳng phải là oan cho đức Khổng Tử lắm hay sao?

Học giả phải biết chữ “lễ” ở trong bài này, khác với chữ “lễ” ở mọi nơi. Chữ “lễ” như “phục lễ” ở thiên Nhan Uyên, chữ “ước lễ” (thu thúc vào điều lễ) ở thiên Tử Hãn thời “lễ” là lẽ phải của trời; còn chữ “lễ” ở bài này thời chỉ là nghi tiết ở nơi hình thức mà thôi.
Thờ vua mà chỉ chăm chỉ ở nơi nghi tiết, chính là cách siểm nịnh của món tiểu nhân đó.

Định Công vấn: Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà? Khổng Tử đối viết: Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung.
Định Công là vua nước Lỗ hỏi với đức Thánh rằng: Vua sai tôi, tôi thờ phụng vua, như thế nào là phải?
Đức Thánh thưa rằng: Vua với tôi thảy là người nào có chức phận người ấy, chỉ chung gánh việc nước mà thôi, vậy nên vua đối với tôi không có phép ỷ mình là quyền thế vua, nên đến lúc sai sử tôi, tất phải lấy lễ; nghĩa là, những việc không đúng với lẽ phải, không được sai sử tôi ấy là “quân sử thần dĩ lễ”. Tôi phụng thờ vua, chẳng phải kiêng nể ở quyền thế nơi vua, chỉ duy hết nghĩa vụ của mình là lo gánh việc nước- theo như nghĩa vụ mình mà thờ vua, cốt ở lòng ngay thẳng, nên phải “dĩ trung”, nghĩa là những việc gì không đúng đạo thẳng thời không đem ra thờ vua, ấy là: “thần sự quân dĩ trung”.
“Sử thần dĩ lễ”, là dựa vào lễ mà không dựa vào quyền; “sự quân dĩ trung” là cốt ở trung mà không cốt ở nịnh.

Xem như bài này thời đức Thánh đối với đạo “quân thần”, vẫn song song cân ngang như nhau: một phương diện phải có chữ “lễ” thời một phương diện mới có chữ “trung”. Nói trái lại, quân mà “vô lễ” thời thần cũng “bất trung”, đó là lẽ đương nhiên. Ngụ ý của Thánh nhân là tương đối mà không bao giờ tuyệt đối.

(còn nữa)
-----------------------------------------------
Trở lại vấn đề của Nguyễn Công Hoan trong bài trước mà bàn rằng, với Khổng Tử thật sự là một xã hội dân chủ. Ngày nay người ta hay vin vào câu nói của ngài : Vua ra vua, cha ra cha, con ra con... mà vu khống ngài phân biệt giai cấp. Câu nói ấy hàm ý rằng ai làm vai trò gì phải làm đúng vai trò nấy trong lý thuyết Chính Danh. Thể như bài trên, vua muốn sai bề tôi thì vẫn phải dùng lễ, mà lễ là lẽ phải của trời. Vua phải làm đúng lẽ phải thì tôi mới nghe, mới phụng sự. Vua không làm đúng lẽ phải thì tôi không cần thiết phải vâng lời, ai có trách nhiệm công việc của người đó. Vua không được cậy quyền thế, và tôi không được nịnh vua, trung là phải trung đúng lễ, trung không đúng lễ gọi là nịnh
"Nói trái lại, quân mà “vô lễ” thời thần cũng “bất trung”, đó là lẽ đương nhiên". Thế thì không ngạc nhiên gì khi Nguyễn Công Hoa gọi vua Khải Định bằng NÓ như Nguyễn Dư đã thắc mắc

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, Yahoo
Logged
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười 29, 2013, 01:18:50 AM »



Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại.


Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.


Xin hỏi ông Ân mấy điều:
- Những ai nghiên cứu học thuật đều hiểu rằng, những gì khổng Tử phát biểu là của nho gia, nhưng ngược lại, những gì của nho gia (môn đệ) phát biểu thì không thể là của Khổng Tử. Tại vì sao phải nhấn mạnh điều này, vì càng về sau, cái học của nho gia bị chính trị lợi dụng, có lúc xa rời rất xa tiêu chí của khổng Tử đề ra. Là một nhà nghiên cứu học thuật, ông Ân không thể tự tiện phát biểu như thế
- Ông nói rằng chúng ta nên chứng tỏ và khắng định rằng đã thoát khỏi nền văn hóa Trung Hoa. Vậy thì xin hỏi ông là Việt nam đã có nền học thuật độc lập chưa, cho đến giờ phút này. Đến giờ phút này Việt nam vẫn là nô lệ học thuật và sẽ còn nô lệ mãi mãi chưa biết bao giờ có nền học thuật riêng của mình. Điểm danh của sự nô lệ này là: Về tôn giáo chúng ta vay mượn Phật học của Ấn Độ, Chúa học của phương Tây. Đạo mẫu Việt nam chỉ là tín ngưỡng chưa thể gọi là đạo vì không có giáo chủ với triết lý riêng của mình. Về giáo dục, xưa vay mượn nho giáo, nay vay mượn tây học. Vậy thì, chúng ta thoát thì thoát đi đâu? Ngay cả chính trị hiện tại, cũng là chủ nghĩa mà chúng ta vay mượn về

- Trên quan điểm cá nhân của ông, có thể ông không đồng ý chữ Lễ là khái niệm thay cho hai từ đạo đức, chữ Văn không thay cho lĩnh vực khoa học thực dụng đó là phụ thuộc vào nhãn quan cái sở học của riêng ông. Nhưng đề xuất bỏ Lễ, nâng lên thành tẩy chay văn hóa Khổng Tử, tức là đập bỏ luôn văn hiến ngàn năm của dân tộc ta rồi. Ông dựa vào quan điểm" Về phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục – đòi hỏi học trò phải vâng phục ....Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp" là quan điểm của kẻ thất phu, dựa vào đó mà đòi bỏ Lễ thì không thể là phát biểu của một người gọi là nhà phê bình văn học được

- Khổng Tử phải đứt ruột rời bỏ quê hương chôn nhau cắt rốn của mình là nước Lỗ, vì vua nước Lỗ không phải là người tốt nên khổng Tử bất phục. Tổ tiên Việt nam ta thừa kế tinh thần đó, đã đứng lên chống Tàu tại những thời điểm mà tàu không tốt. Nay ông đòi dẹp Khổng Tử, có phải là muốn dẹp đi tinh thần "bất phục" này chăng?

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, Yahoo, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 29, 2013, 01:22:30 AM gửi bởi SCC » Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười Một 01, 2013, 07:19:25 AM »


Ẩm thực, nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên; tử vong, bần khổ, nhân chi đại ố tồn yên. Cố dục ô giả, tâm chi đại đoan giã, nhân tàng kỳ tâm, bất khả trắc đạc giã; mỹ ác giai tại kỳ tâm, bất kiến kỳ sắc giã. Dục nhất dĩ cùng chi, xả lễ hà dĩ tai: cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ, bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố, là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở cả trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ lễ thì lấy gì mà biết được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX) [...].


Lễ là để tiết chế lòng dục, dẫn dắt hành vi. Mà cái ăn là một trong những cái đại dục của con người. Thế nên dân gian ta không ngẫu nhiên mà có thành ngữ: Miếng ăn - Miếng nhục

Xưa, Khổng Tử dù đói thế nào nhưng một bữa ăn không đúng lễ thì ngài không ăn. Hậu thế lắm người cho rằng ngài chảnh, tự cao tự đại...Nay, vì cái ăn không giữ lễ nên bác sĩ nhận phong bì bịnh nhân rồi xã hội bây giờ gào khóc lên đi tìm y đức, giáo viên thò tay nhận phong bì học trò rồi xã hội gào thét lên đi tìm giáo đức... Và hậu quả của việc xôi thịt hóa từ Lễ của Khổng Tử như sau đây:


Xấu mặt cảnh gào thét, tranh cướp đồ ăn khuyến mãi
Chưa khi nào văn hóa xếp hàng, ý thức tự giác ở nước ta lại xuống cấp như hiện nay. Cảnh tượng chen lấn, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để tranh giành, vơ vét thức ăn, hàng hóa hay thậm chí là hôi của giờ không phải là hiếm.

Hỗn chiến để ăn sushi miễn phí

Ngày 24/10 vừa qua, một cửa hàng sushi mới khai trương trên phố Đoàn Trần Nghiệp (Hà Nội) thông báo mở cửa tự do, mời khách ăn miễn phí. Vì thế, hàng nghìn người đã đổ về đây. Càng gần giờ ăn, số người đến càng đông, đông đến mức tràn xuống cả lòng đường, gây tắc đường. Một số người ào lên chen lấn, xô đẩy chỉ mong giành được phần ăn cho mình. Thậm chí, một số khách sẵn sàng nhảy vào bếp lấy thức ăn trong đó, rồi đứng ăn luôn, không cần phục vụ.

Nhiều người lấy cả khay đồ ăn nhưng chỉ ăn một miếng rồi bỏ, trong khi nhân viên cửa hàng phải ra chợ mua gấp để phục vụ khách.


Dòng người chật cứng tại nhà hàng sushi

Sự việc đã gây xôn xao trong dư luận. Hành động chen lấn, xô đẩy của những người tham gia sự kiện được xem là thiếu văn hóa và rất đáng xấu hổ.

Gào thét tranh cướp suất ăn 100.000 đồng

Trước đó, năm 2012, một clip được cho là quay tại một nhà hàng trên quận 3, TP.HCM trong chương trình giảm giá "Buffet size khủng giá 100.000 đồng" được đăng tải lên mạng đã tạo nên cơn sốt trong cộng đồng. Không chỉ gây sốc bởi kiểu giành giật các món ăn trên bàn tiệc buffet, những thực khách trong đoạn clip còn khiến cư dân mạng phải choáng váng vì tiếng gào thét, la ó như để tăng thêm "hương vị" phản cảm cho bữa tiệc này. Mỗi khi nhân viên của nhà hàng đặt những món ngon lên như tôm, hàu thì cảnh tượng lại càng hỗn độn, các thực khách xô đẩy nhau để bốc đồ cho bằng được.


Tranh cướp suất ăn buffet 100.000 đồng

Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, đây là cảnh thường gặp ở các bữa tiệc buffet ở Việt Nam.

Giành nhau từ chiếc áo mưa

Bây giờ ở Việt Nam, chuyện một đám đông trở nên điên cuồng vì một vài món lợi cỏn con đã trở thành điều bình thường.

Chiều 12/9/2013, Đại sứ quán Hà Lan tổ chức chương trình phát tặng áo mưa miễn phí cho người qua đường tại cửa của UBND quận Ba Đình. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau khi đại diện người Hà Lan có những lời chúc tốt đẹp tới người dân xung quanh, không khí thay đổi nhanh chóng và trở nên hỗn loạn. Mọi người tranh giành nhau, ai cũng cố gắng lấy nhiều nhất những món quà thiện chí về tay mình. Có người còn trèo lên cả sân khấu để cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán. Có những lúc, diễn giả gần như phải “hét” lên: “Đề nghị mọi người không tranh giành, nếu không, chúng tôi sẽ dừng chương trình ngay lập tức!”.


Người dân Thủ đô chen lấn, xô đẩy nhau để tranh giành những chiếc áo mưa miễn phí do Đại sứ quán Hà Lan phát tặng

Chỉ 35 phút sau khi chương trình bắt đầu, 3.000 chiếc áo mưa đã được lấy sạch. Sự kiện này đã để lại những hình ảnh rất xấu của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Giẫm đạp lên nhau mua hàng giảm giá

Những ngày khuyến mại của các siêu thị hay trung tâm điện máy, người ta xếp hàng và chen lấn từ sáng sớm để mua hàng giá rẻ. Vì quá đông đúc, người ta còn giẫm đạp lên nhau.

Đầu tháng 1/2011, hàng nghìn người đổ về siêu thị Media Star, nằm trên đường Nguyễn Trãi (Hà Đông, Hà Nội) mua hàng giảm giá khiến cảnh tượng nơi đây lộn xộn và nhốn nháo. Hệ thống thang máy phải ngừng hoạt động vì quá tải.


Cảnh hỗn loạn tại siêu thị Trần Anh

Trước đó, năm 2010, hàng nghìn người dân đã đổ xô đến Media Mart Mỹ Đình, Hà Nội để mua hàng khuyến mãi “khủng”. Từ sáng sớm, bãi gửi xe của siêu thị này đã chật cứng. Sau khi lễ khai trương kết thúc, khách hàng chen nhau ùa vào siêu thị để tìm cơ hội nhận quà tặng. Người người chen lấn, xô đẩy nhau khiến siêu thị này rơi vào tình trạng quá tải.

Vào năm 2009, hàng trăm khách hàng chen lấn xô đẩy để giành phiếu giảm giá trong chương trình khuyến mại của công ty điện tử Trần Anh (Hà Nội). Cảnh hỗn loạn diễn ra nhiều giờ đồng hồ khiến không ít người ngất xỉu.

Bỏ mặc người gặp nạn để hôi của

Thấy người đi đường gặp tai nạn, bị cướp giật tiền, hàng hóa rơi đổ... nhiều người đã không ra tay cứu giúp mà còn lợi dụng lúc lộn xộn để "hôi của".

Sự việc xảy ra gần đây nhất là trường hợp anh Vũ Trường Chính (42 tuổi, ngụ quận Phú Nhuận, TP.HCM - là giám đốc chi nhánh Tổng công ty Xây dựng Miền Nam). 9h15 sáng 16/10, anh đi xe máy về hướng quận 1, mang theo 50 triệu đồng (tiền mệnh giá 500.000 đồng) bỏ vào túi quần bên phải cùng với chiếc ĐTDĐ iPhone 5, đến ngân hàng để nộp vào tài khoản.

Trong lúc anh đang chờ đèn đỏ ở giao lộ Bà Huyện Thanh Quan - Võ Văn Tần thì bất ngờ từ phía sau, anh bị 4 thanh niên thò tay móc cọc tiền. Mặc dù vậy, anh Chính vẫn cố gắng quăng xe chạy theo giằng co bọc tiền với tên cướp. Trong lúc hỗn loạn, bọc tiền rớt xuống đường bay tung tóe. Thấy vậy, nhiều người đi đường không giúp đỡ anh còn dừng lại nhặt tiền, lên xe chạy mất.

Nạn nhân chỉ gom được 30,5 triệu, còn 19,5 triệu đồng bị người đi đường lấy mất.


Lợi dụng xe bị lật, nhiều người dân gần đó tranh thủ ra "cướp" trái cây

Ngày 8/7, hàng chục người dân sống dọc Quốc lộ 1A, đoạn qua thị trấn Thiên Tôn (Hoa Lư, Ninh Bình) đã kéo nhau ra múc xăng mang về khi thấy chiếc xe container chở hàng chục ống bê tông và xăng dầu gặp nạn lật ngửa giữa đường. Sự việc khiến giao thông bị ùn tắc cục bộ hàng tiếng đồng hồ.

Trước đó, vào chiều ngày 15/3, tại vòng xoay ngã 3 Vũng Tàu, TP.Biên Hòa (Đồng Nai), một chiếc xe tải chở nhớt không may bị lật. Ngay lật tức, hàng chục người đã cầm can nhựa đổ ra hiện trường xe tải lật để 'hôi của' dẫn đến tình trạng kẹt xe làm nhiều người đi đường bức xúc.

Ngày 24/5/2012, tại Quốc lộ 9 (đoạn thôn Lương Lễ, xã Tân Hợp, Hướng Hóa, Quảng Trị), xe container BKS 57K kéo rơmóc va chạm khiến xe ôtô chở 25 tấn măng cụt từ cửa khẩu Lao Bảo bị lật. Hàng trăm người dân sống trên tuyến đường này đã tranh nhau ra cướp.

Tương tự, ngày 28/7/2011, trên tuyến quốc lộ 1A đoạn qua xã Đại Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình), một chiếc xe tải chở hoa quả đang lưu thông bất ngờ bị lật. Vụ lật xe khiến toàn bộ thùng hàng chứa hoa quả đã bị đổ tung tóe giữa đường. Nhân lúc này, hàng trăm người dân đã lao vào, tranh giành lấy hoa quả rơi ra, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng.

Tối ngày 20/6/2011, nhiều người dân ở khu chợ Vinh (TP.Vinh, Nghệ An) thấy ngọn lửa bùng cháy từ các gian hàng bán lưới, thuốc bắc, đồ nhựa, chiếu cói. Lợi dụng hỗn loạn, kẻ gian chạy vào 'hôi của' gây lộn xộn khiến công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn.

Chiều 16/6/2011, một người đàn ông đi xe máy đến đoạn vòng xoay ngã 5 An Dương Vương (Q.5, TP.HCM) thì bị 2 tên cướp đi xe máy từ phía sau giật giỏ xách. Trong lúc giằng co, giỏ xách của người đàn ông bị rách và số tiền để trong giỏ bị bay ra đường. Lợi dụng tình cảnh lúng túng của nạn nhân, nhiều người ào ra giữa đường lượm các tờ tiền bị rơi.

Hạnh Nguyên(tổng hợp)
Theo Vietnamnet ( Tờ báo phát động phong trào bỏ Lễ)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, Jiro
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2013, 04:03:26 AM »

Chẳng biết hỏi ở đâu, thôi hỏi ké ở đây vậy.

Nhân chuyện bão Hải Yến tàn phá Philipin. Các nước hỗ trợ nhân đạo rất nhiều, trong lúc bão đang tràn vào Việt Nam thì Việt Nam cũng gồng mình lên cứu nạn cho nước bạn 100K usd hàng hóa. Thế nhưng, đám con cháu của Khổng Tử vỗ ngưc xưng bá xưng hùng bấy lâu nay thì im như thóc. Và giờ đây mới dám rụt rè cho 100K usd. Lập tức dân tình phản đối rằng không nên viện trợ cho kẻ thù địch, dân chúng ta còn đói, nhiều trẻ em vẫn chưa đủ ăn đủ mặc..

Trích dẫn
"Trung Quốc có rất nhiều khu vực nghèo khó cần sử dụng tiền viện trợ", một người ký danh C_Q77 viết trên phần ý kiến độc giả của Thời báo Hoàn Cầu, "Nhiều trẻ em Trung Quốc còn đang đói và không đủ quần áo mặc, tại sao chính phủ (Trung Quốc) phải giả vờ làm người tốt với các nước khác khi người dân nước mình còn khổ."

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Hoan-Cau-TQ-nen-giup-Philippines-luc-nay-de-giu-the-dien-quoc-te/325021.gd

Nhân chuyện này lại nhớ đến chuyện kinh điển trong sách Nho. Có người hàng xóm qua bạn xin củ hành nắm dưa hay nước mắm gì đấy, mà nếu bạn không có thì từ chối là không có đừng ra vẻ đạo đức, người tốt mà lại chạy sang nhà hàng xóm khác xin đem về cho lại người vừa xin bạn. Khổng Tử dạy như thế rồi, nên ngày nay hậu duệ của ngài phản ứng như thế. Có đúng vậy không?

Xin được giải đáp

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, nguyenthuy
Logged
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.603 seconds với 25 câu truy vấn.