Tháng Tám 03, 2021, 04:48:32 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3] 4 5 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Nhạc Thiền Yoga Ấn Độ .  (Đọc 40215 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Kasumi
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 90

Cảm Ơn
-Gửi: 355
-Nhận: 578



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Năm 26, 2013, 10:15:06 PM »

à Huynh Ongdia
nếu ví dụ có đá thủy tinh này thì sẻ có tác dụng gì vậy huynh .

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, SCC, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N
Logged

 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2013, 12:39:57 AM »

Yoga và các Tôn Giáo trên thế giới.
YOGA được xem như là môn tâm lý học ứng dụng vào các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Hoả giáo và Đạo giáo; ở một cấp độ thấp hơn, nó nuôi dưỡng sự phát triển niềm tin của người Pác-ci, và ảnh hưởng đến ba tôn giáo của người Sê mít là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Dưới một hình thức thoái hoá, nó cũng có vai trò trong huyền thuật và thờ cúng vật linh của các dân tộc được coi là sơ khai. Trong các dân tộc có nền văn hoá cao hơn, các lễ cầu đảo, đuổi quỷ, cầu nguyện, tụng chú, tham thiền, tụng kinh, lần chuỗi, kỷ thuật tâm linh hay nội quán...nói chung tất cả các hình thức nghi lễ làm cho con người cảm thông với các sức mạnh cao cả hơn, hoặc giải thoát khỏi cuộc sống trần gian, đều ít hay nhiều có đượm nét của YOGA.
 
Việc chuẩn bị điểm đạo cho các môn đồ trong thời kỳ thượng cổ, cũng như việc nhịn ăn, giữ tâm hồn trong
 sạch, thiền định, sám hối, thanh lọc cơ thể mà các môn đồ đã phải trải qua đều có ảnh hưởng của YOGA.
 Lịch sử tu hành ở Đông Tây hầu như không thể tách rời YOGA, khi những người cơ đốc đầu tiên sống trong sa mạc và núi non ở Ai cập và Trung Đông, tuân thủ ba nguyện ước [sống nghèo, trong sạch và vâng lời], họ đã khắc vào niềm tin một hình thức YOGA bắt nguồn từ các tu viện ở Ai Cập, Ba Tư và Ấn Độ. Ngày nay trong các nhà thờ ở La Mã, Hi Lạp cũng như Anh Quốc, việc thực hành YOGA xuất phát từ nguồn gốc tiền Cơ Đốc này và có một tầm quan trọng rất lớn lao. Trong tất cả các tu viện Cơ Đốc, nhất là dòng Tên, các kỹ thuật huấn luyện tâm linh cho các tu sĩ đều căn cứ vào YOGA, và ở các dòng tu Hồi giáo cũng như thế.

Thật là lý thú mà thấy rằng dòng tu khổ hạnh Hồi giáo [Sufism] nhìn nhận bốn giai đoạn phát triển tâm linh của môn đồ giống hệt các hệ phái cổ đại của Ấn giáo và Phật giáo. Bốn giai đoạn trên đường đạo của dòng tu đó là:
 1/ "HAST": triệt để tuân theo giáo huấn và luật lệ Hồi giáo.
 2/ "TAREGUT": có thể để qua một bên các quy tắc công truyền để chỉ nghĩ đến đại định, hỷ lạc.
 3/ "ARAFF": một trạng thái hiểu biết gần với thần cảm, tức nội quán của YOGA, mở các năng lực huyền bí.
 4/ "HAGEGUT": tình trạng thánh thiện như A La Hán. Mọi ham muốn, tham vọng, ý tưởng phàm tục phải bị vất bỏ, vì người đã thành thánh nhân. Bốn bức màn đã rơi xuống, giờ đây tự do liên lạc trực tiếp với vần thái dương thiêng liêng mà môn đồ chỉ là một tia sáng. Giai đoạn cuối cùng này được hoàn tất trong cô đơn, xa cách mọi người. Trong sa mạc, núi cao hay rừng sâu, người đạt đạo tìm thấy sự bình yên cho phép nhập định mà không bị ngoại cảnh làm gián đoạn.
 
Đối với YOGA Tây Tạng, trên đường đạo cũng có những bước tương đương như trên. Bước thứ nhất là tìm hiểu tinh thần các giáo huấn ghi chép trong Kinh sách công truyền. Bước thứ hai tìm hiểu các giáo huấn đó về mặt tâm linh, tức là thấy ý nghĩa bí truyền của chúng. Bước thứ ba thấy sự thật và bước thứ tư thể hiện sự thật đó. Giống như gieo hạt, nẩy mầm, lớn lên và ra hoa quả vậy.
 Trong sự tượng trưng huyền bí của các thi sĩ, người Ba Tư thuộc trường phái Omar Khayyam, cũng như trong hứng dục thần bí của các tu viện Cơ đốc, YOGA hiển bày dưới khía cạnh Bhakti. Giống như thế, nhưng dưới một hình thức khác, sự thờ phụng Isis và đứa bé Horus được biến thành thờ Đức mẹ đồng trinh và chúa hài đồng Giêsu.

1/ YOGA VÀ PHẬT GIÁO.
Mặc dù người ta cho rằng cơ bản của Phật giáo bắt nguồn từ YOGA. Ta cũng cần phải phân biệt YOGA Phật giáo với YOGA Ấn giáo và các hệ phái khác. Đối với nhà huyền học, sự khác biệt chỉ ở ngôn từ và kỹ thuật, chứ các điểm trọng yếu thì không khác.
Ta biết rằng YOGA hàm ý một sự hoà hợp một phần vào toàn thể, vi mô vào vĩ mô, tâm thức cá thể vào tâm thức vũ trụ được nhân cách hoá qua Đấng tối thượng hay Ishvara. Đối với Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, tập YOGA là để hợp nhất với Đấng tối thượng. Đối với Phật giáo, là hoà tan giọt nước vào biển cả, hay nói một cách khác, mục đích là vượt qua Samsara [thế giới hiện tượng] để đạt tới tâm thức siêu thế gian, thể hiện niết bàn.
Đối với các bậc đại hiền triết Ấn Độ cũng như với PATANJALI và các danh tăng Phật giáo, điều cốt yếu của YOGA là vượt qua vô minh mà hợp nhất với Đại trí. Chính trong ý nghĩa này mà sự giải thoát khỏi vô minh là giáo lý của Vedanta cũng như của Phật giáo, nó giống hệt nhau dù ta gọi nó là Mukti hay Nirvana. Chắc chắn rằng giáo lý cội rễ của tất cả các niềm tin chính yếu của nhân loại là có một ánh sáng bẩm sinh trong người, dù nó le lói trong tăm tối hay nó xoá tan bóng tối đi.
Trong nội bộ Phật giáo, việc ứng dụng YOGA có vài khác biệt rõ rệt giữa Nam Tông và Bắc Tông. Khác biệt quan trọng là giáo lý về tánh không [Sunyata]. Giáo lỳ này không được Nam Tông theo, mặc dù theo các nhà đại thừa  nó có trong kinh tạng Pali : Cula Sunnata và Maha Sunnata Sutta của Majjhima Nikaja. Một khác biệt nữa là YOGA Mật tông được Bắc Tông chấp nhận, nhưng bị Nam Tông bác bỏ. Khác biệt nhỏ ở tầm quan trọng của giáo lý cho rằng có những sức mạnh vô ngã siêu nhiên mà Đại thừa cổ suý qua tượng trưng của Tam Thân [tri-Kaya] vốn là ba ngôi bí truyền của Bắc Tông, đồng nghĩa với "cái đó" của Vedanta.
 Từ Tam Thân, như các giọt nước từ biển bốc hơi lên rồi trở về biển, tất cả các sự vật được sản xuất cấu thành vũ trụ rồi trở về đó. Trong Tam Thân, có tất cả các chư Phật thuộc mọi thời đại hợp nhất vô ngã mà nhân loại khó hiểu nổi. Đối với kẻ lữ hành đi theo con đường Đại thừa để giải thoát. Tam Thân là nơi quy y siêu việt đồng thời cũng là mục đích.
Một khác biệt nữa là giáo lý Đại thừa liên quan đến các vị bồ tát [Bodhisattva], những người đã đạt tới giác ngộ, có người hiện thân ở cõi trần, có người ở cõi thiên như Di lặc [Maitreya], vị Phật tương lai. Mặc dù kinh tạng Pali có đề cập tới Bồ tát, nhưng Nam Tông thấy rằng nên chú trọng đến Phật pháp hơn là cầu nguyện các Bồ tát hướng dẫn tâm linh.
Trong tâm trí tách rời các khác biệt ghi trên, ta có thể dẫn hình ảnh của Vedanta về nhiều con đường đi đến một điểm, hoặc triết lý trong "chí tôn ca" theo lời của Krishna [hiện thân của Đại trí vũ trụ" nói rằng con người tuỳ theo tâm tính mà chọn đường khác nhau, nhưng tất cả phải đều đưa tới giải thoát.
 
Nếu ta xem xét loại YOGA thông thường ở Nam tông, ta thấy không có cầu khẩn hộ pháp, không có cầu xin đạo sư siêu nhân, không có quán tưởng bổn tôn Mật tông như ở đại thừa. Trong Rattana Sutta của Khuddaka Nikaya, Đức Phật được miêu tả ban huấn từ để cúng dường công đức xuất phát từ các hành động thiện lên chư thiên để được sự phù hộ của họ. Trong nhiều buổi lễ, người ta xin chư thiên chấp nhận công đức do sự tuân thủ giới luật. Việc tham thiền, quán tưởng và quy nhập của Nam tông đơn giản hơn Bắc tông, chú trọng đến trạng thái xuất thần, kết quả của sự tập luyện YOGA.
 
Các quán tưởng ở Nam tông lấy các đối tượng thông thường, không phức tạp như ở Mật tông. Chẳng hạn như tham thiền có hình tướng [Rupa] và không hình tướng [Arupa] với tổng số 40 đối tượng như sau.
 - TỨ ĐẠI [đất, nước, gió, lửa]
 - BỐN MÀU [xanh, đỏ, trắng, vàng] và không, thức.
 - BẤT TỊNH: Mười bất tịnh của thể xác con người, bộ xương là bất tịnh thứ mười.
 - TAM BẢO: [Phật, Pháp, Tăng] đạo đức, độ lượng, chư thiên, hơi thở, cái chết, xác thân, bình yên.
 - TỨ VÔ LƯỢNG TÂM: Từ, bi, hỷ, xả.
 - BỐN CÕI VÔ SẮC.
 - THỰC PHẨM VÀ THÂN TỨ ĐẠI.
 
Còn có tham thiền về ngũ uẩn [sắc, thọ, tưởng, hành, thức], sự tan rã của các vật phức hợp và ba đặc điểm của đời sống [vô thường, khổ não, vô ngã].

Nhiều bài kinh của Nam tông đề cập đến các đối tượng của tham thiền trên đây, chẳng hạn như Maha Satipatthana của Digha Nikaya, Maha Rahulovada và Anapanasati của Majjhima Nikaya v.v... Mật tông Tây Tạng cũng có những bản văn tương tự. "TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU NÀY NÓI LÊN SỰ ỨNG DỤNG YOGA VÀO PHẬT GIÁO".
 
2/ YOGA VÀ NIẾT BÀN.
 
Trong thời kỳ học hỏi và khổ hạnh, Đức Thích Ca Mâu Ni hẳn đã biết rõ giáo lý Sâm Khya cũng như công phu tu tập của YOGA. Arada Kalama có dạy cho Vacali một loại Sâm Khya tiền cổ điển và Udraka Ramaputra đã trình bày nền tảng và mục đích của YOGA. Nếu Đức Phật từ chối lời dạy của hai ông thầy này, đó là ngài đã vượt qua nó. Nhưng thực ra, Đức Phật hoàn toàn không có bác bỏ toàn thể truyền thống khổ hạnh và tham thiền của Ấn Độ, mà Đức Phật đã bổ túc thêm vào. Emile Senart viết: " CHÍNH TRÊN MẢNH ĐẤT YOGA MÀ ĐỨC PHẬT ĐÃ ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG; DÙ CHO NGÀI CÓ THÊM VÀO ĐÔI ĐIỀU MỚI MỚI MẺ ĐI CHĂNG NỮA, THÔNG QUA THIỀN ĐỊNH CỦA YOGA MÀ TƯ TƯỞNG CỦA NGÀI MỚI ĐƯỢC HÌNH THÀNH".
 
Thoạt nhìn thì Đức Phật bác bỏ chính thống giáo Bà-la-môn, truyền thống tư biện của Upanishad, cũng như vô số "tà giáo" khổ hạnh huyền bí đã được phát triển bên lề xã hội Ấn Độ. Tuy nhiên vấn đề cốt lõi của Phật giáo, "đau khổ và giải thoát khỏi đau khổ" vốn là vấn đề truyền thống ở Ấn Độ. Ta có thể hiểu rõ hơn lập trường có vẻ mâu thuẫn này, nếu ta nghĩ rằng Đức Phật muốn vượt lên các công thức triết học và phương pháp huyền bí đang thịnh hành lúc bấy giờ, nhằm giải thoát con người khỏi ảnh hưởng của chúng và mở "con đường" dẩn đến tuyệt đối. Nếu Ngài coi sự phân tích ý niệm về "bản ngã" của Sâm Khya và YOGA là của mình, vì cái "ngã" chẳng có liên hệ đến cái thực thể tạm bợ mà người ta gọi là "linh hồn". Đức Phật còn đi xa hơn nữa. Ngài phủ nhận khả năng thuyết về bất cứ nguyên lý tuyệt đối nào, cũng như khả năng có kinh nghiệm về chân ngã một khi con người chưa "giác ngộ". Cho nên Đức Phật bác bỏ định đề về sự hiện hữu của một "Purusha", một "Atman", hay một "braman", vì sợ nó làm thoả mãn tâm trí, ngăn cản người giác ngộ.
 
Nhìn sự việc gần hơn, ta thấy rằng Đức Phật bác bỏ các triết học và khổ hạnh đương thời vì chúng cấu thành một thứ màn che giữa con người và chân lý tuyệt đối. Chứ Ngài không có phủ nhận một chân lý tối hậu như thế, ở ngoài phạm vi các hiện tượng vũ trụ và tâm lý hoặc tinh thần, Ngài chỉ có tránh biện luận về vấn đề này mà thôi, nhiều bộ kinh có xác nhận như vậy.
 
<a href="http://www.youtube.com/v/O4ANzhM7ggY&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/O4ANzhM7ggY&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Niết bàn là tiêu biểu nhất cho tuyệt đối "Asams-Krta", tức là không phức hợp, không tăng, không giảm, siêu việt, ngoài phạm vi kinh ngiệm của con người. Nó không phải là đối tượng cuả hiểu biết trực tiếp như màu sắc, cảm giác... hay gián tiếp như tác động của nó như các giác quan, nhưng không vì thế mà cho rằng nó không có. Như kẻ mù không thể bảo rằng không có màu sắc. Ta chỉ có thể "thấy" Niết Bàn qua "con mắt thánh", tức là một "giác quan siêu việt", vấn đề đối với Phật giáo là chỉ đường, trao dồi phương tiện để có "giác quan" siêu việt đó để khám phá ra cái tuyệt đối.
 
Ta hãy nhớ lại thông điệp của Đức Phật nhằm vào sự đau khổ của con người cứ mãi sống trong vòng sinh tử triền miên. Đối với Ngài cũng như đối với YOGA , giải thoát chỉ có được sau những cố gắng của con người, hoà nhập cụ thể vào chân lý. Đây không phải là lý thuyết, hay khổ hạnh... mà phải là sự hiểu biết và kinh nghiệm "chân lý" đó, cả hai con đường đều có sự rủi ro, sự hiểu biết chỉ là tự biện, chỉ có kinh nghiệm mới có thể đưa tới giác ngộ.
 
Đối với Đức Phật, chỉ có giải thoát khi đạt đến Niết Bàn, tức là vượt qua mức độ kinh nghiệm của người phàm tục, và Đức Phật đã hoà nhập vào cái tuyệt đối đó. Nhưng Ngài lại ngần ngại không nói về cái tuyệt đối đó, vì ngài sợ đời sau không phản ảnh lại đúng chân lý đó. Sở dĩ Ngài không chấp nhận chân lý của các tín đồ Bà la môn là chính vì họ biện luận quá nhiều về cái "không thể diễn tả" được. Đối với Phật, "cho rằng Atman tồn tại thực sự vĩnh cửu là sai, bảo rằng nó không có cũng là sai" [Vasubhandhu], nhưng nếu ta đọc những gì Ngài nói về đấng giải thoát, người đạt tới Niết Bàn thì ta thấy giống hệt với Jivanmukta, người được giải thoát ngay trong đời nay ngoài Phật giáo.
<a href="http://www.youtube.com/v/KwgCDq5lTlE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/KwgCDq5lTlE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

 
Trong ý nghĩa này, Đức Phật tiếp nối truyền thống khổ hạnh huyền bí của Ấn Độ; Ngài tin vào sự "giải thoát ngay trong kiếp này", nhưng ngài không chịu mô tả. Tất cả những gì ta có thể nói được là đấng giải thoát không còn thuộc thế gian này nữa. Như lai đã được giải thoát khỏi thể xác, cảm giác, ý tưởng, ham muốn, hiểu biết. Người phàm phu không thể đo lường, không thể. thăm dò tư tưởng của Ngài được. Ta không thể cho rằng người ấy "có hay không có, vừa có vừa không có" [Samyutta Nikaya]. Đó cũng chính là câu "Neti! Neti" tức là không phải, không phải... danh tiếng của UPANISHAD     

From ADITI YOGA
Blog của Mai Văn Như về Yoga Vô cực.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Kasumi, SCC, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N, 80A - 8668
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 02, 2013, 12:42:03 AM gửi bởi ongdia » Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2013, 09:24:40 PM »

Nếu nói như vậy ,pháp môn này là bí mật ...tại sao người ta pót lên trên mạng những tư thế các động tác Tsa Lung , ngoài ra còn có bán đĩa DVD sách vở dạy trên mạng nửa cơ ..huynh ongdia  big grin

Hi huynh
Các đĩa DVD sách vở dạy Tsa Lung yoga  của các Đạo sư theo dòng phái Bonpa ... tập luyện học từ sách vở , đĩa DVD ra không biết có thành công ko. I don't know

Như Ongdia đã nói pháp môn này là bí mật ...càng đi sâu vào phải học các quán tưởng các luân xa trong  cơ thể ...rất bổ ích trong thực tập các pháp Phowa , Chenrizig Mahamudra, Simhamukha...

Có nhiều cái Ongdia cũng không ngờ ...giống như tìm được cái chìa khoá vậy.

<a href="http://www.youtube.com/v/c2wb2eAHqW0&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/c2wb2eAHqW0&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Kasumi, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N, 80A - 8668
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 04, 2013, 07:44:32 AM gửi bởi ongdia » Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2013, 08:07:15 PM »

YOGA... QUYỀN NĂNG VÀ PHÉP LẠ.



Khi nói đến phép lạ, chắc có nhiều người tỏ ra nghi ngờ và cho rằng các phép tàng hình, bay lượn trên không trung, hô phong hoán vũ, chỉ đá hóa vàng...chỉ là những chuyện bịa đặt của một số nhà văn giàu tưởng tượng. Nhưng người tập Yoga có lẽ không đồng ý, vì họ quan niệm rằng con người vốn sẵn có quyền năng vô biên, mà tập Yoga là khơi dậy nguồn quyền năng vô biên sẵn có này.
Mặc dù sau khi tập Yoga sẽ có phép lạ, mục đích của Yoga không phải là tìm phép lạ, mà là giải thoát con người khỏi vòng sinh tử, luân hồi. Các phép lạ nhiều khi lại là một trở ngại cho người tập Yoga. Nếu họ chưa thoát khỏi bản ngã thích được người ta tôn sùng hoặc kính trọng, thì phép lạ sẽ là những cám dỗ đưa họ đến các cuộc trình diễn và phô trương để tạo ra thanh danh hoặc danh tiếng... rồi từ đó có nhiều người trọng dụng, có tiếng tăm, nhiều tiền bạc...và nó sẽ đưa đến sa ngã cũng không xa lắm. Vì việc mãi mê chạy theo danh vọng sẽ làm mất nhiều thời giờ đáng lẽ dành vào việc tu thân. Vì vậy khi tập Yoga mà có những kinh nghiệm lạ thì nên coi chừng để tránh sa ngã.
Khi tập Yoga đến độ làm chủ được các giác quan, hơi thở và ý nghĩ, thì tự nhiên sẽ có phép lạ. Nhưng lòng ham muốn có phép lạ cũng giống như ngọn đèn treo trước gió. Ngọn đèn sáng nhờ tập Yoga mà có, có thể bị gió thổi tắt, làm cho người tập Yoga dễ sa ngã vào vực thẳm của sự ngu tối, và không thể đứng dậy để đi tiếp được nữa. Vậy nếu có phép lạ, người tập Yoga không nên dùng các phép ấy vào những mục đích ích kỷ hoặc làm giàu, tạo thanh danh, tạo thêm sự tín nhiệm để được tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, cũng cố địa vị. Cần cảnh giác, đừng để các phép lạ đó cám dỗ.
 
<a href="http://www.youtube.com/v/D-A_kek-iAA&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/D-A_kek-iAA&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


Các phép lạ thực ra chẳng có gì lạ cả, nó vẫn có trong mỗi con người chúng ta. Nó trở nên lạ là vì con người ta chạy theo văn minh vật chất, bị tiền bạc lôi cuốn, cám dỗ, nên chỉ biết có tiền mà không biết đến bản chất quý giá sẳn có ở trong mỗi con người.
Chúng ta hiện nay đứng trước hai ngã đường: Một bên là vật chất, với những danh vọng, tiền bạc, địa vị, uy quyền và hậu quả là sự tranh giành đấu đá lẫn nhau. Một bên là tinh thần với danh dự, liêm sỉ, hy sinh... và kết quả dĩ nhiên của nó là hạnh phúc lâu dài chung cho nhân loại. Con người sẽ tiến theo ngã nào, tùy thuộc vào vấn đề văn minh mà người ta ưa chuộng. VĂN MINH KHOA HỌC HAY VĂN MINH TÔN GIÁO?
 Về vấn đề tâm linh, người châu Á chúng ta thường tự phụ có một đời sống tình cảm dồi dào, và tinh thần sâu sắc... nhưng tiếc thay chúng ta chưa khai thác đúng mức đời sống tinh thần ấy. Ước mong rằng văn minh tôn giáo tiến triển kịp thời với đà tiến triển của văn minh khoa học, và con người không còn tranh giành, giết chóc lẫn nhau vì những tham vọng, mà hãy đến với nhau như anh em, không phân biệt màu da, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo... Thật mong lắm thay...mong lắm thay.

From ADITI YOGA
Blog của Mai Văn Như về Yoga Vô cực. 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Kasumi, SCC, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Sáu 10, 2013, 08:42:49 PM »

YOGA.

Đời người trên trần thế phải chăng chủ yếu là bất hạnh và đau buồn? Câu hỏi ấy xem ra ngay từ xa xưa đã ám ảnh các nhà tư tưởng Ấn độ. Câu trả lời của hầu hết các nhà thông thái kia là: ĐÚNGTHẾ! Theo truyền thốngẤn độ, tìmcách đạt đến trạng thái hoàntoàn giải thoát được những bất hạnh và đau buồn là công việc trọng đại của triết học Ấn độ. Trạng thái đó được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: Moksha, mukti, kaivalya, apararga, nirvana v.v... tuỳ theo từng trường pháikhác nhau nên cótên gọi khác nhau, còn triết học thì được gọi là tatvajnana hay darohana. Những từ trên có cùng mô tả một trạng thái như nhau hay không thì còn chưa rõ, song từ nào cũng nói đến sự giải thoát khỏi mọi tai ách.

Khái niệm cho rằng tai ách là yếu tố chủ đạo trong đời sống của con người, vốn rất phổ biến trong triết học Ấn độ, thực tế có thể xemnó là khởi điểmcủa các tiền đề triết học. Tai ách của con người xưa nay vẫn được chia ra thành ba loạisau đây.
1/ Điều kiện thể chất và trí tuệ của mỗi cá nhân, chẳng hạn như yếu tố sức khoẻ, bệnh tật, và những cảm xúc như sợ hãi, giận dữ, đau buồn, lo lắng v.v...
 2/ Tai ách của một cá thể nảy sinh bởi hành động tàn hại của một cá nhân khác, của súc vật, côn trùng v.v...
 3/ Tai ách không phải do một cá thể gây ra, thường là người ta không kiểm soát được như: Động đất, lụt lội, nạn đói kém, dịch bệnh v.v...

Bị tác động bởi ba thứ tai ách trên, người ta phải suy nghĩ và hành động theo cách nào để rồi rốt cuộc có thể khắc phục được chúng. Dĩ nhiên phản ứng trước tiên của người ta xuất phát từ lĩnh vực kinh nghiệm và dựa trên cảm giác phòng ngừa thông thường. Ví dụ, người ta làm việc để khỏi bị nghèo đói, uống thuốc để chữa bệnh, xây nhà cửa để ở, mở mang công nghệ, khuếch trương các trung tâm sản xuất v.v... để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp cho các thành viên trong xã hội. Ngoài ra người ta còn tham gia các tổ chức, các chính đảng, các tôn giáo, các môn phái, các phe nhóm khác nhau nhằm chế ngự nỗi sợ hãi trước hiểm hoạ. Bên cạnh những biện pháp có ý thức đó, nhất là khi chúng tỏ ra không đầy đủ hoặc không hiệu lực, họ bèn quay sang với tôn giáo, với các Guru, với các ông đồng bà cốt và các đạo trưởng, rồi họ phải bị chìm đắm trong ngâm nguyện, si mê, lễ bái...Tuy nhiên, nhìn chung cả hai cách kia đều không đủ sức xua tan hết các đau buồn một cách dứt điểm, giống như nhờ uống thuốc mà người ta tạm thời khoẻ mạnh, song có khi sau đó lại mắc vào các chứng bệnh khác. Nói tóm lai, các tổ chức tôn giáo và việc điều trị đều không thể làm cho người ta hoàn toàn có thể yên tâm, nên có thể người ta sẽ phải chạy hết thầy thuốc này đến thầy khác, hoặc tìm hết cách này đến cách khác.
Người ta nhiều khi khẳng định rằng với những tiến bộ lớn lao của khoa học có thể đem lại hạnh phúc cho con người, chẳng hạn người ta nghĩ rằng với đường lối đúng đắn, y học có thể giúp cho con người có khả năng muốn sống bao lâu cũng được, vật lý có thể mở đường cho họ qua không gian đến với các thiên thể, rằng chắc chắn sẽ có một ngày trong tương lai không xa con người có thể quản lý, có thể kiểm soát được hoàn toàn sức mạnh của thiên nhiên.
<a href="http://www.youtube.com/v/8wIsFaVk3WE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/8wIsFaVk3WE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Từ chỗ đó, nhiều người cho rằng khoa học là một công cụ cực kỳ mạnh mẽ trong bàn tay của con người, chẳng mấy chốc sẽ trừ hết các đau khổ và bất hạnh. Nhưng nói như vậy thì e rằng hơi quá đáng. Một điều hiển nhiên là các phát minh khoa học đã có những đóng góp khổng lồ, làm cho cuộc sống chúng ta trở nên đỡ vất vã hơn, song rõ ràng khoa học là quá trình thu thập và xử lý thông tin, mà một thông tin đơn thuần thì dù có được xử lý tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không và không thể diễn giải được nỗi khổ đau và bất hạnh của con người. Nếu vấn đề đó là hậu quả những sức mạnh của thiên nhiên hay xung quanh ta thôi, hẳn là khoa học có thể là công cụ thích hợp để khắc phục những tai ách đó.
 
Những vấn đề này có lẻ là bắt nguồn từ thế giới nội tâm của chúng ta, là thế giới quan riêng biệt của chúng ta. Thực sự đó là vấn đề phải tự hiểu mình và cách xử thế của mình trong đời sống hàng ngày, những lo lắng và ước vọng, niềm tin và hoài bão, những đam mê và xúc cảm, và nói cho cùng là những gì ta làm đối với những người xung quanh và môi trường bên ngoài. Bởi vậy, nếu ta không hiểu đến nơi đến chốn cách nhìn sự vật và phản ứng trước những điều diễn ra bên trong và xung quanh ta, sự thu thập đơn thuần các thông tin về thiên nhiên bên ngoài mà lại toan tính chinh phục nó thì sẽ chẳng đi đến đâu cả. Giả sử con người có đến được mặt trăng hay đến được một hành tinh xa xôi nào đó trong vũ trụ và sinh sống ở đó, hoặc giả những tiến bộ sắp tới của sinh học có cho phép người ta sống bao lâu cũng được, thì liệu những kiến thức đó có làm cho cuộc sống của con người hạnh phúc hơn và yên ổn hơn không? Niềm tin rằng nếu được thông tin đầy đủ chúng ta có thể chiến thắng được đau khổ và chiến tranh, chắc hẳn sẽ đưa ta vào ngõ cụt. Xin trích dẫn một đoạn kinh Sheuti: "Tri thức đôi khi còn nguy hiểm hơn sự ngu muội vì sự ngu muội đàng nào cũng đi vào bóng tối, còn những kẻ vênh vang với tri thức của mình thì rốt cuộc sẽ đi đến chỗ tối tăm hơn".
<a href="http://www.youtube.com/v/JWExEGH4f24&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/JWExEGH4f24&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Thực ra vấn đề không phải là chinh phục thiên nhiên bên người hay thế giới xung quanh, mà phải là chinh phục ngay chính bản thân mình, chế ngự được những đam mê, dục vọng, cảm xúc và những bất đồng quan điểm. Muốn được như vậy cần phải có một cái gì căn bản hơn những điều hoa học kỹ thuật hiện đại mang lại cho chúng ta, chỉ có thế sự khủng hoảng hiện tại của loài người trên khắp thế giới mới giải quyết được. "MUỐN ĐEM LẠI SỰ BÌNH AN CHO THIÊN HẠ, MỖI NGƯỜI PHẢI TỰ BÌNH AN TRƯỚC ĐÃ". Sự bình an bên trong và xung quanh mỗi người có lẽ là mục đích lớn lao nhất của YOGA.
 
Vì vậy YOGa là một phương pháp mang lại hiệu quả nhất cho những ai đang bị trăn trở bởi những ước vọng và khổ đau. YOGA xứng đáng được đề cao trong tất cả hệ thống triết học ở Ấn độ. Nó thực sự là phương thuốc mầu nhiệm để loại trừ những khổ đau và bất hạnh của con người. Đến đây ta hãy xem YOGA thực chất nó là gì, nó có thể đem lại điều gì để cải thiện cuộc sống của mỗi người trong chúng ta, cũng như những ý nghĩa gì mà thông qua YOGA ta có thể đạt được nhiều mục đích.
 
Từ "YOGA" nói chung được gọi là đồng nghĩa với sự tiếp thu và thể hiện sức mạnh siêu nhiên. Người ta quen nhìn nhận YOGA như một cái gì đó rất huyền bí, cao siêu mà một người bình thường khó có thể đạt được. Ngày nay người ta thường nghe ai đó tự xưng là YOGIS, họ biểu diễn các màn như đi trên than hồng, nằm ngửa cho xe lu cán qua người, hay uống axit đậm đặc v.v...đối với những dạng YOGA này, chắc chắn không thể đại diện cho YOGA truyền thống của Ấn độ cổ, xem ra có nhiều người khi khi nghe nói đến YOGA là họ lập lức nghĩ ngay đến các người này. Người ta còn cho rằng YOGA không phải là dành cho những người thường, rằng chỉ những ai dám ròng rã nhiều năm lánh đời hoặc một hang động nào đó để dụng công khổ luyện mới mong được thành tựu YOGA. Có nhiều người cho rằng đây là con đường đầy chông gai nguy hiểm, với những ai thiếu sự bền chí thì hãy tránh xa. Cũng lạ là những ý kiến cực đoan như vậy lại rất phổ biến ngay cả trên quê hương của YOGA. Thực chất nếu xét cho kỹ ta sẽ thấy những ý kiến trên đều ít nhiều có việc sai lầm. Tuy nhiên cái khó hiện nay là ở chỗ YOGA phần lớn nằm trong tay những người kém cõi, người ta đến với YOGA thường là họ không thành công trên các lĩnh vực khác. Tình trạng đáng buồn ấy chỉ có thể thay đổi một khi có những người thông minh, có đạo đức nghiên cứu vào lĩnh vực YOGA.
Từ YOGA có từ lâu, lâu hơn hệ thống triết học mang cái tên này. Lần đầu tiên từ "YOGA" được dùng đến là trong kinh Vệ Đà, nó có nghĩa là ràng buộc các vật vào với nhau. Từ này có nguồn gốc từ tiếng Phạn, "Jujir" có nghĩa là chấp lại, hoặc nối lại. Nhưng sau đó có một ý nghĩa khác được gắn vào thuật ngữ này, chữ "Yuj" có nghĩa là kiểm soát ý thức. Đến đây ta sẽ xem xét lại từng loại và từng định nghĩa của YOGA được tìm thấy trong các kinh sách Ấn độ cổ. Các định nghĩa đó rất nhiều nên ta chỉ có thể nêu ra một vài định nghĩa điển hình mà thôi. Trong kinh Kathopanishad định nghĩa YOGA là "MỘT TRẠNG THÁI TĨNH TẠI VÀ KIỂM SOÁT ĐƯỢC CẢM GIÁC VÀ Ý THỨC, KHI ĐẠT ĐƯỢC ĐIỀU ĐÓ NGƯỜI TA TRỞ NÊN HOÀN TOÀN TINH KHIẾT, SẠCH HẾT MỌI TỘI LỖI". Ý thức của chúng ta thường chạy theo những lạc thú của thế gian, trong khi đó ý thức của nhà YOGIS không bị các cảm giác chi phối bởi lẽ nó đã được giải thoát mọi sự ham muốn. Và làm thế nào để đạt được trạng thái đó, chúng ta hãy tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm. 
Trong kinh Shvetashvatara Upanishad đã mô tả những phẩm chất của một nhà YOGIS có thân thể sáng rực lên trong ngọn lửa YOGA, và nói rằng bệnh tật, tuổi già khó có thể đến với họ. Thân thể họ rất mềm mại và khoẻ mạnh, ý nghĩ của họ dứt bặt những ham muốn tầm thường của thế gian. Còn nhiều đoạn trong kinh sách YOGA có nói đến các phẩm chất này của các bậc thầy cao đức trọng. Những mô tả đó cho thấy rằng các nhà YOGIS là những người có thân thể và trí óc tinh khiết nhờ tập luyện YOGA. Bất kỳ những ai thực hành đúng các bài tập YOGA đều có thể chiêm nghiệm những hiệu quả mà YOGA đem lại. Thực tế nó là như vậy, bởi vì YOGA không phải dành riêng cho một vài người có duyên mai hay một bậc cao nhân nào đó, mà nó thực sự là một lợi ích rất lớn lao cho bất kỳ ai, chuyên cũng như không chuyên, tôn giáo hoặc không tôn giáo đều có thể thành công trên lĩnh vực YOGA.
<a href="http://www.youtube.com/v/QL7EtL73ZnE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/QL7EtL73ZnE&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Trong các kinh của tôn giáo, nhất là đối với Phật giáo, cuộc đời được xem như là "bể khổ trầm luân". Con người từ lúc sinh ra đời cho đến lúc chia tay rời khỏi thế gian đều phải chịu cảnh sống trong bể khổ ấy. Song ở trong kinh Yogavasista Yoga được nhắc đến như một cứu cánh để sang bên kia bờ khổ. Các hành giả YOGA là những người đã gạt bỏ được mọi sự ưu tư, phiền muộn và đã bước qua khỏi chỗ tối tăm mãi mãi.
 Ở trong kinh Gita, có ba định nghĩa về YOGA. Đây là một cuốn kinh có lẽ là rất phổ biến nhất trong các cuốn kinh nói về YOGA. Theo định nghĩa thứ nhất, YOGA là một trạng thái trung gian mà ở đó, sự đối kháng giữa thành công và thất bại không khác nhau mấy. Đối với những triết gia, thì quan điểm này có vẻ khá lạ lùng và nghịch lý. Người ta tự hỏi nếu một người nào đó mà coi thành công và thất bại cũng như nhau thì nó là cái giống gì? Thông thường con người ta luôn mong muốn được thành công và rất sợ thất bại, vậy thì một người tập theo YOGA họ có ý nghĩa thế nào đối với gia đình và xã hội nếu họ xem thành công hay thất bại đều cũng như nhau? Làm sao anh ta có thể sống trong một xã hội đầy bon chen này? Sự thật ra ý nghĩa này rất là thâm sâu, người tập YOGA đến một trình độ nhất định nào đó họ sẽ không còn kẹt trong vòng đối đãi, tranh chấp nhị nguyên, có nghĩa là "thành công cũng không mừng và thất bại cũng không buồn". Vì vậy mới có câu thành công và thất bại cũng như nhau là vậy đó.
 
Ở đây ta có thể ghi nhận một điểm là, theo kinh Gita các hành giả YOGIS là người đã giác ngộ. Người đó không còn có gì cần phải đạt đến nữa, người đó đã dứt bặt những ham muốn. Dù rằng họ đã đạt tới cảnh giới đó nhưng không vì thế mà họ từ bỏ và trốn tránh chuyện thế gian, mà trái lại họ vẫn tiếp tục làm việc vì hạnh phúc của toàn xã hội. Họ vẫn sống và cống hiến, vẫn tiếp tục công việc nhưng không màng đến sự thoả mãn khi thành công.
 
Hầu hết chùng ta đều bị chi phối bởi cảm giác thoả mản trước sự thành công trong công việc của mình. Ta luôn luôn mong được thăng tiến trong địa vị và danh vọng, ta luôn luôn muốn mình trở thành người quan trọng và được mọi người kính nể. Nhưng đối với một nhà YOGIS, họ không bị ảnh hưởng bởi những điều đó, họ không bị xao động ngay cả trước một nỗi bất hạnh khóc liệt nhất. Điều này đã được diễn tả một cách rõ ràng và súc tích trong một định nghĩa khác về YOGA trong kinh Gita. YOGA được định nghĩa là một trạng thái không còn ưu tư, sầu muộn. Kinh Gita nói rằng "khi người YOGIS đạt đến trạng thái tột cùng đó, thì họ không còn điều gì lớn lao hơn cần phải đạt nữa."
 
 Tuy nhiên có thể nói rằng trong tất cả các định nghĩa trên, YOGA là một cái gì nó cao xa quá, khó có thể đạt được, có nghĩa là cái đích của YOGA ngoài tầm tay của người phàm phu. Cũng một khó khăn như thế được nói lên trong định nghĩa YOGA trong cuốn YOGA SUTRA của PATANJALI, một cuốn được xem là trước tác quan trọng nhất của triết học YOGA. PATANJALI cho rằng "YOGA là một trạng thái mà mọi ý nghĩa đều bị tịch diệt và ý thức được hoàn toàn đổi mới". PATANJALI còn khẳng định rằng YOGA có 8 phần, mà khi đã làm chủ được từng phần và đi đến toàn phần thì rốt cuộc sẽ đạt đến trạng thái ấy. Câu nói này là kim chỉ nam, là điểm tựu đem lại hy vọng cho mọi người, vì lẽ bất kỳ một người tập YOGA nào cũng đều có thể làm chủ được 8 phần của YOGA nhờ tập luyện theo một quy trình đúng đắn.
 
Bất cứ một người nào cũng có thể đến được cái đích của YOGA chỉ khi nào đã có hai phẩm chất quan trọng như trên làm khởi điểm.
 
1/ VAIRAGYA: Nghĩa là không tham vọng, đối ngược với RAGA là si mê. Ý nghĩa của VAIRAGYA là loại bỏ mọi ước muốn. Nhờ tuân thủ theo VAIRAGYA người ta mới giữ không cho đầu óc mơ tưởng tới những khoái lạc của thế gian, nhờ vậy mà đầu óc luôn luôn tĩnh tại, an lạc.
 
2/ ABHYASA; Có nghĩa là tĩnh tâm. Điều này có thể đạt được bằng những phương pháp khác nhau tuỳ theo căn cơ của mỗi người. Những cách này được biết dưới dạng các loại YOGA khác nhau, tuy có vẻ riêng biệt và khác nhau lúc ban đầu, song đều đưa đến một một đích chung đó là MUKTI.

From ADITI YOGA
Blog của Mai Văn Như về Yoga Vô cực. 
 
 


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Thiên Vương, Kasumi, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N, 80A - 8668
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 10, 2013, 08:48:05 PM gửi bởi ongdia » Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Sáu 13, 2013, 08:46:44 PM »

Sivananda Yoga.


Ngày nay, cuộc sống đô thị hiện đại với nhiều áp lực về công việc khiến nhiều người cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, thiếu sinh lực và sinh bệnh. Để giảm strees một số người tìm đến bác sỹ tâm lý, một số khác tìm đến các chất kích thích, chất gây ảo giác; để cải thiện sức khỏe một số khác lại tìm đến các phòng khám y khoa, trị liệu… Nhưng  họ đều không tìm thấy sự thanh thản, bình yên thực sự. Hiểu được điều đó, ngay từ năm 1957, Đại sư Swami Sivananda đã cử đệ tử chính của mình là Swami Vishnu-devananda mang những bài học và lối sống theo tinh thần Sivananda Yoga tới Mỹ để phổ biến rộng rãi những kỹ thuật và kiến thức Yoga cổ xưa và trên hết là thức tỉnh và giúp mọi người khỏi stress, thoát khỏi lối sống tiêu cực.
 
<a href="http://www.youtube.com/v/ZJWkQPoIZ04&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/ZJWkQPoIZ04&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Swami Vishnu-devananda là bậc thầy lỗi lạc nhất về Hatha Yoga, là người làm sáng tỏ Yoga một cách khoa học nhất, là người duy nhất đưa Yoga đến với tất cả mọi người bằng một lối tiếp cận mới mẻ, đơn giản nhưng sâu sắc nhất. Nếu bạn chỉ tập các tư thế Yoga, sẽ chỉ có tác dụng về thể chất nhưng nếu bạn tập kiểm soát hơi thở, bạn sẽ kiểm soát được tâm trí. Và khi có sự hợp nhất thân-tâm, lúc đó Yoga sẽ có tác dụng trị bệnh cho nên Sivananda đặc biệt chú trọng đến các bài tập điều hòa hơi thở.
 
Tất cả các bài tập của Sivananda đều kết hợp với hít thở và được sắp xếp có hệ thống theo một trình tự rất khoa học, tác động đến tất cả các luân xa chạy dọc khắp cột sống của cơ thể, từ luân xa cao nhất ở đỉnh đầu đến luân xa thấp nhất ở đốt xương cùng của cột sống. Điều này có tác động giống như thuật châm cứu để thanh lọc và tăng sức mạnh cho các kinh mạch trong cơ thể làm cho năng lượng tự do tuôn chảy không bị tắc nghẽn.
Thêm vào đó, trường phái Sivananda Yoga áp dụng phong cách sống có tính dinh dưỡng cao theo một hệ thống, tính dinh dưỡng này có tác dụng phục hồi cao cả về thể chất và tinh thần qua việc sử dụng những điều kiện có sẵn trong tự nhiên. Phương pháp khoa học này giúp nâng cao sức khỏe, tăng cường sinh lực để chống lại stress, giúp cho cơ thể luôn tươi trẻ, tràn đầy sức sống và đặc biệt là mang đến sự bình yên nội tâm. Đây chính là tinh thần sâu sắc của Sivananda Yoga.
 
Chính vì vậy, từ đó đến nay đã có rất nhiều Học viện, Thiền viện, Trung tâm Yoga được thành lập theo trường phái Sivananda ở khắp nơi trên thế giới và Trung tâm Siva Yoga là một trong số đó.

From Sivananda Yoga  Vietnam.

<a href="http://www.youtube.com/v/aTLG8DCGoHI&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/aTLG8DCGoHI&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Thiên Vương, SCC, Kasumi, Ngoisaobiec, Archéo, Yahoo, 8N, 80A - 8668
Logged
 
 
 
Kasumi
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 90

Cảm Ơn
-Gửi: 355
-Nhận: 578



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2013, 02:11:16 PM »

à Huynh Ongdia
 Kasumi thắc mắc hỏi 1 chút ... Tại sao Ongdia toàn là pót lên các bài chú Ấn Độ
không phải  nhạc thiền Yoga vậy . I don't know

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, Ngoisaobiec, Archéo, SCC, Yahoo, 8N
Logged

 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Sáu 17, 2013, 02:53:13 AM »

à Huynh Ongdia
 Kasumi thắc mắc hỏi 1 chút ... Tại sao Ongdia toàn là pót lên các bài chú Ấn Độ
không phải  nhạc thiền Yoga vậy . I don't know

Ongdia cám ơn huynh thắc mắc về câu hỏi này ...bất cứ ai đó cứ xem như là bài chú hoặc là nhạc thiền nhưng đối với Ongdia như là đang  tấm trong dòng nước suối Cam Lồ vậy .

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Kasumi, Archéo, SCC, Yahoo, 8N
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Sáu 17, 2013, 07:51:14 PM »

Luyện tập Yoga .


...Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng, Chủ tịch Hội Dinh Dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết việc luyện tập Yoga sẽ hỗ trợ cho việc chăm sóc Thân-Tâm toàn diện. Bà nói:
“Yoga là một hệ thống rất sâu, chắc chắn nó có liên quan đến việc chăm sóc cả thân lẫn tâm. Những động tác Yoga giúp cho sự mềm dẻo trong cơ thể và thải độc. Chúng ta thấy những động tác Yoga kết hợp rất nhiều, vừa thở vừa duỗi người thả lỏng toàn thân (stretching), và đồng thời nó luyện cả tâm nữa, chứ không đơn thuần chỉ là những động tác của thân. Nhưng hệ thống của Yoga thì rất nhiều, cho nên các bạn sẽ thấy có nhiều loại Yoga đa dạng, khác nhau.”         
Vị chuyên gia sức khoẻ này cũng giải thích về Yoga như sau:

“Trước hết chúng ta phải hiểu từ Yoga là gì. Yoga đúng nghĩa của nó là connection, tức là nối kết, hay là union, hợp nhất. Cho nên hệ thống Yoga thật ra rất phức tạp. Mức thấp nhất đó là Yoga của thân, các tư thế của thân, các asana, tập luyện thân, dùng tâm trí điều khiển thân. Mức độ thứ hai của Yoga là nối kết thân với tâm trí của mình. Và mức độ cao hơn của Yoga là nối kết tâm trí với linh hồn của mình.”

Thiền và Yoga vốn phát xuất từ Phương Đông, là liệu pháp hữu hiệu để giúp giải toả được phần nào những căng thẳng trong đời sống hằng ngày. Điểm cốt lõi của Yoga và Thiền định rất đơn giản, đó là giúp con người tìm thấy chân hạnh phúc. Nhiều người cho rằng Yoga là hình thức tập trung tinh thần ở mức thấp, còn Thiền định là trạng thái ý thức rất cao độ, hoàn toàn tập trung tâm ý vào một vấn đề gì đó.

Ông Nguyễn Hạnh, một người có quá trình luyện tập Yoga và Thiền trên 10 năm tại Trung tâm Thực tập Chánh Niệm ở Quận Fairfax, thuộc Tiểu bang Virginia, nói rằng quá trình tập luyện này đã giúp ông luôn giữ được trạng thái cân bằng trong cuộc sống. Ông này giải thích về điểm khác biệt và những sự tương đồng giữa Yoga và Thiền như sau:

“Điểm tương đồng giữa Yoga và Thiền là cả hai phương pháp đều có mục đích huấn luyện để phục cái tâm lăng xăng, bất an, náo động trong mình. Sự khác biệt giữa Yoga và Thiền là, Yoga dùng những tư thế của thân thể trong lúc tập để giúp mình định tâm, cho cái tâm yên lại. Trong khi người tập thiền thì dồn sự chú ý của mình vào những ý nghĩ xảy ra trong đầu, những cảm xúc, những lời nói, những động tác của cơ thể để quan sát, theo dõi, và huấn luyện cái tâm của mình.

Do đó người tập Yoga thì thân thể họ khoẻ mạnh hơn so với người tập Thiền, nhưng ngược lại đối với người tập Thiền vì trực tiếp chú ý tới những hoạt động của tâm và cách vận hành của tâm nên người tập Thiền thì họ có thể đi sâu vào khả năng huấn luyện và để phục tâm của mình thuần thục hơn.”   


Swami Sita, theo cách gọi của Hệ phái Yoga Sivananda cũng có nghiã là thầy Sita, với trên 30 năm thực hành và giảng dạy về Yoga và Thiền bà hiện đang phụ trách Sivananda Yoga Farm ở Grass Valley Tiểu bang California. Bà cũng vừa tổ chức một trung tâm đào tạo các giáo viên Yoga tại Thành phố Hố chí Minh. Theo Thầy Sita, Yoga không đơn thuần là một phương pháp luyện tập thể lực. Bà nói:
“Yoga không phải là một hệ thống chỉ học về vấn đề sức khoẻ thân thể, không phải chỉ là tập thể dục không thôi. Nếu nghĩ như vậy là có quan niệm sai về Yoga. Yoga cổ điển gồm có những buổi tập, những tư thế tập cùng với hơi thở thư dãn một cách rất điều hoà. Trong hệ thống của chúng tôi có 12 tư thế căn bản, rồi sau đó còn có những phút để thư dãn.”   
Nhiều người thắc mắc phải luyện tập Yoga như thế nào. Swami Sita giải thích thêm:
“Trong Yoga có những thế và khi tập Yoga không phải chạy từ thế này sang thế nọ cho nóng người, đổ mồ hôi. Không phải như vậy, đó là tập thể dục. Tập Yoga đúng thế là làm đều đều, từ từ, tập với ý niệm rõ ràng, không vội vàng, không nhảy từ chỗ này sang chỗ nọ mà theo hệ thống từ thế này sang thế nọ, như vậy thì năng lượng của mình sẽ chảy điều hoà. Đại khái mình cần hiểu khi mình có tinh thần tích cực, năng lượng điều hoà, tâm lý sẽ sáng sủa. Lúc đó tự nhiên mình sẽ khỏe mạnh. Yoga cho rằng tinh thần khoẻ mạnh trước rồi mới đến khỏe mạnh về thể xác sau.”           
Khi hỏi, Yoga có mang lại những lợi ích cho sức khoẻ hay không. Bà nói:
“Yoga toàn diện hay là Yoga cổ điển sẽ tốt cho thân thể, tinh thần và tâm linh, tức là những lợi ích rất toàn diện. Vì theo Triết lý của Yoga thì con người không chỉ đơn thuần là một thân thể, con người còn có tinh thần, tâm linh để học những bài học trong cuộc đời, tức là va chạm với những vấn đề về tinh thần, mà ở mỗi người mỗi khác. Thành ra cơ thể bị căng thẳng, từ đó năng lượng bị bí, nếu không để ý hay không biết cách tập cho thư dãn thì cơ thể dễ sinh bệnh, chẳng hạn như các bệnh về tiêu hoá, bệnh gan, hay bệnh về tinh thần, bệnh thở, nhiều loại bệnh. Mà bây giờ bác sĩ biết rằng có nhiều loại bệnh mà cái cốt là do stress gây ra vì tinh thần bị căng thẳng, dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực chứ không tích cực.”

Bà đưa ra lời khuyên:
“Mình đem vấn đề Yoga vào trong đời sống của mình, chứ không phải là một cái gì đặc biệt bên ngoài. Vì mỗi ngày mình đều thở thì mình phải biết cách thở đàng hoàng, nếu lúc nào mình cũng suy nghĩ thì phải biết suy nghĩ tích cực, lúc nào cũng phải có thư dãn.” 
Cũng theo bà, mục đích của việc luyện tập Yoga là giúp khai mở đầy đủ những tiềm năng sẵn có trong mỗi cá nhân, bởi vì con người đang sở hữu một kho tàng hạnh phúc to lớn ở bên trong, và cũng không cần thiết phải trẻ trung và mềm dẻo để có thể luyện tập Yoga.


Sivananda Yoga @Ho chi minh city.

“Muốn tập Yoga không khó, chỉ cần đi học một tuần hay một tháng, thì sau đó sẽ có những thói quen tốt, rồi mình sẽ nhập những thói quen tốt đó vào đời sống hàng ngày của mình, thì lúc đó mình sẽ thấy mình sẽ từ thay đổi cho đời sống mình tốt đẹp hơn.”   

Tập Yoga không đơn giản như tập thể dục, vì bạn sẽ khám phá được những cảm nhận của cơ thể, kể cả tinh thần, tâm hồn mà trước kia mình không nghĩ là mình có, một cảm giác rất lạ. Cứ mỗi ngày các bạn tập cũng những tư thế tương tự như vậy thôi. Mà mỗi ngày các bạn sẽ có những cảm giác khác hơn, sâu hơn, rất lạ. Thì đó mới chính là Yoga các bạn ạ.

 Chị Ngọc Phượng cũng đưa ra lời khuyên cho mọi người nên luyện tập Yoga vì nó có tác dụng tăng cường sức khoẻ cho người tập. Chị nói:
 “Nếu nói tuổi nào cần tập Yoga, theo như mình nghĩ thì đó là ở độ tuổi trung niên trở đi, vì họ sẽ làm tươi mới lại (refresh) cơ thể và tinh thần, nên rất tốt. Nhất là đối với phụ nữ đến tuổi tiền mãn kinh, hoặc đã mãn kinh rồi thì rất cần tập Yoga. Tình hình ngoài xã hội hiện giờ rất căng thẳng, mọi việc làm người ta phải quyết định rất nhanh. Con người quá căng thẳng, đến mức không chịu nổi nữa. Thành ra ở thời điểm hiện nay nếu như không biết tới Yoga thì sẽ thật là uổng phí.

Có thể nói nếu may mắn chúng ta sẽ gặp được Yoga. Yoga giúp chúng ta cải thiện cả về tinh thần lẫn thể chất. Khi tâm hồn các bạn thanh thản thì nó cũng giống như một trang giấy trắng thì sẽ dễ dàng tiếp nhận những kiến thức, khả năng của các bạn sẽ sáng suốt hơn rất nhiều, xử lý mọi tình huống một cách mạnh dạn và thoải mái hơn. Yoga rất khoa học, khi thực hành nó sẽ đưa các bạn đến khả năng thực tiễn.

Thế giới của chúng ta hiện giờ có thể nói là một thế giới khủng hoảng, chúng ta cần có niềm tin trong chính mình. Vì vậy khi tập Yoga các bạn sẽ cảm thấy mạnh hơn rất nhiều, tự tin hơn, sẽ không bị xao động bởi bên ngoài. Thành ra các bạn hãy refresh lại vì chúng ta có khả năng đó nếu các bạn muốn làm mới mình qua hơi thở và qua những tư thế mà nó có khả năng khơi dậy nguồn năng lượng tiềm ẩn từ bên trong mỗi con người. Tại sao các bạn không đến với Yoga. ”

Yoga là một chế độ luyện tập mang lại cho người tập một sức khoẻ dẻo dai, một diện mạo khoẻ khoắn, trẻ trung, một tâm hồn thư thả để tiến lên bậc cao hơn là Thiền định được dễ dàng. Vì vậy người ta thường thực hành Yoga trước khi bước vào tập Thiền định.

From Googlenet
 

<a href="http://www.youtube.com/v/baL8xKD3lgg&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/baL8xKD3lgg&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


 coffee

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Kasumi, Archéo, SCC, Yahoo, 8N, 80A - 8668
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Sáu 19, 2013, 11:50:31 PM »

Thiền và Thở.
Câu hỏi đặt ra là vì sao bệnh viện mở ra ngày càng nhiều mà lúc nào cũng “quá tải”? Vì sao con người bây giờ tiện nghi dồi dào mà đau ốm triền miên? Vì sao bệnh nhiễm gia tăng và bệnh do hành vi lối sống ngày một phát triển trong khi khoa học y học tiến như vũ bão? Rõ ràng sức khỏe không phải là chuyện của y tế. Sức khỏe là chuyện của mỗi người, của mọi người. Đời sống càng tiện nghi, nhu cầu vật chất càng được thõa mãn thì con người càng xa lạ với tự nhiên, với chính mình. Stress chính là nguyên nhân của 60-90% bệnh lý đưa người ta đến bác sĩ. Mà bác sĩ thì chỉ chữa được cái đau chứ không chữa được cái khổ, chữa được cái bệnh, chứ không chữa được cái hoạn.
 Thiền có thể góp phần giải quyết căn cơ. Nhưng thiền là gì? Cách nào? Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, một nhà minh triết – Đức Phật- bảo đừng vội tin, cứ đến nếm thử đi rồi biết. Đến và nếm thử. Đến là thực hành. Làm đi, đừng nói nữa. Đừng “hí luận” nữa. Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình cảm nhận, tự mình thể nghiệm để cảm nhận, không thể nhờ ai khác.

Hãy bắt đầu từ việc đơn giản nhất mà cốt lõi nhất: Đó là Thở. Và là Thở bụng. Ô hay, thở phải bằng ngực chứ, phổi nằm ở ngực kia mà? Phổi nằm ở ngực, nhưng thở nằm ở… bụng. Cứ nhìn một em bé đang ngủ say mà xem! Cứ nhìn một người bình thường đang ngủ yên mà xem! Chỉ có cái bụng là phình lên xẹp xuống, còn cái ngực thì… im re. Thật vậy, khi cái ngực mà khò khè, cò cử thì đã bị bệnh rồi. Nói khác đi, cách thở sinh lý, thở thiên nhiên, thở bình thường nhất chính là thở bụng. Người khỏe thì luôn thở bụng nên thở bụng làm cho ta khỏe. “Bí quyết” nằm ở chỗ đơn giản nhất đó. Các phương pháp khí công, dưỡng sinh, yoga, thiền… đều bắt đầu bằng tập thở bụng. Tại sao phải tập? Bởi không biết tự lúc nào con người lại xa rời cái nguồn gốc tự nhiên của mình, bày ra thở ngực, cũng như thay vì ăn những thức ăn lành mạnh sẵn có trong thiên nhiên thì bày đặt chế biến đủ kiểu cho nó hư đi! Do vậy, thở phải được rèn tập trở lại. Về sinh lý, cơ hô hấp chính của ta là cơ hoành, cơ vắt ngang giữa bụng và ngực chớ không phải cơ gian sườn hay cơ cổ. Khi các cơ gian sườn, cơ cổ mà ráng sức phì phò thì đã bệnh rồi!
 Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là THỞ. Kinh viết “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn…”. Tóm lại, là luôn quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Nhưng khi đọc câu “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra…” có thể gây nhầm lẫn, bởi ai mà chả biết thở cơ chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận được (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa. Đó mới là điều cốt lõi! Nhận thức, ý thức, cảm nhận, ấy chính là niệm (nhớ), là quán ( quan sát, suy tưởng) về sự thở, về hơi thở. Nhờ đó mà một mặt, ta giải thoát tâm ta khỏi những vướng mắc lăng xăng, một mặt ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống và từ đó, buông bỏ bao nỗi lo toan, sợ hãi của kiếp nhân sinh để có cuộc sống có sức khỏe và hạnh phúc.
 Câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở thì có gì hay? Sao lại không chọn các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở là tốt nhất, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo dõi, hoàn toàn ngoài ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp. Khi mệt, ta mệt “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”! Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt.

 Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng cách quán sát hơi thở để tự kiểm sóat cảm xúc và hành vi của mình. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai. Bởi vì thở là thở trong hiện tại. Ở đây và bây giờ.
 Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi thức giấc!Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái nhẹ nhàng sảng khóai đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt?).
 Phổi ta như một cái máy bơm, “phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn vào, lấp đầy phổi và các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổi sẽ đẩy khí ra. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không (0=zéro), thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng. Như chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe ngon trớn chạy ở số không, không tốn nhiên liệu! Đó chính là giai đoạn “Prana”. Pra có nghĩa là trước và Ana là thở vào ( trước thì thở vào cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga, khí công, cũng như y học Đông phương nói chung đã nói đến Prana từ thời cổ đại. Trong yoga có “pranayama” là kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không còn phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở sẽ tự kiểm soát! Đến một lúc nào đó, khi vào sâu trong thiền định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa. Hơi thở nhẹ gần như ngưng bặt. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Có thể nói đến một phương pháp thiền tập- tạm gọi là “Pranasati” chăng?- tức đặt “niệm” vào quãng lặng, và thực chất cũng không còn cả niệm, một sự “vô niệm” hoàn toàn chăng? Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện xảo) cho biết có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn tập mà khoảng lặng ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người… Tiến trình hô hấp vẫn diễn ra, sâu trong các tế bào, nhưng ở mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, tiêu thụ năng lượng tối thiểu và do vậy nhu cầu sản xuất năng lượng không còn đòi hỏi nữa, các tế bào ở trong trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng, “nghỉ ngơi”!
 Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi: ngồi thiền. Rồi nào kiết già, bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải ngồi, không nhất thiết phải kiết già, bán già. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được. Người Nhật, người Tây Tạng có cách “ngồi” thiền riêng của họ, người Tây phương có cách khác hơn, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi ích hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho hoạt động các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân bớt mỏi rất nhanh. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để trị liệu rất có hiệu quả sự mỏi mệt, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy đáng kể!
 Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền. Ta dễ có khuynh hướng chiều theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực- và nhất là do tuổi tác- dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi hoàn toàn và uống thuốc theo toa bác sĩ chừng mươi ngày sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Bởi nguồn gốc sâu xa hơn của đau cột sống, đau thắt lưng lại là do stress, nếp sống căng thẳng phải chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”! Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay tivi thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về cột sống. Một người đi chùa lạy Phật mà tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi “xì” ra một bên, chèn ép gây đau. Do vậy, giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dụng bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.
 Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân,“buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai thành phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lỏng là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó- mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là “xả hơi”! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì ta cần “xả hơi”! Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ ( tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn, giúp chữa nhiều thứ bệnh hoạn một cách hiệu quả.
 Cơ thể ta có khoảng trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy ( để kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt-hóa) nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động. Nhưng oxyt-hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm cho cơ thể mau mệt mỏi, mau già nua! Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt-hóa thành rỉ sét ngay. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.
 Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn (bột, đạm, dầu mỡ)… vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu trên sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thấy sống lâu hơn và trẻ lâu hơn!
 Các nghiên cứu y sinh học cho thấy các nhà sư có thể làm giảm nhu cầu oxygen đến 40% trong lúc thiền. Lúc đầu các nhà khoa học nghĩ thiền chắc cũng giống như ngủ hay nghỉ ngơi tích cực, nhưng thật ra khác hẳn! Thiền khoảng 30-40 phút thì mức lactate trong động mạch giảm, phenylalanine tăng 20%, giảm các họat động hệ giao cảm trên bề mặt da, giảm nhịp tim và hô hấp đáng kể.
 Cortisol và ACTH cũng giảm, do đó, không bị stress; trong khi Arginine và Vasopressin, được coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ gia tăng đáng kể. Nhiều nghiên cứu ngày càng sâu hơn về beta-endorphin, corticotropin, melatonin, DHEA… hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền trên nhiều mặt… trong tương lai.
 Những năm gần đây, nhờ có các phương tiện như PET (positron emission tomography) hay SPECT (single photon emission tomography) và fMRI (functional magnetic resonance imaging) để đo hoạt động tưới máu não, cho thấy một số vùng được tưới nhiều hơn vùng khác, chứng minh thiền khác với giấc ngủ, mà đó là một trạng thái tỉnh giác an tịnh (state of restful alertness). Kỹ thuật fMRI cho thấy hoạt động tưới máu não gia tăng ở vùng liên quan đến sự chú ý (vùng lateral prefrontal và parietal), cũng như gia tăng ở vùng kiểm soát tự động, tỉnh thức (pregenual anterior angulate, amygdala, midbrain và hypothalamus). Nhưng nói chung, tưới máu não trong thời gian thiền rõ ràng là giảm một cách đáng kể, chỉ tập trung vào một số vùng nhất định như đã nêu trên. Điều này cho thấy thiền giả không tiêu hao nhiều năng lựơng cho các hoạt động vỏ não.
 Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp tục nhưng rõ ràng thiền có khả năng làm giảm stress, giảm huyết áp và tạo sự sảng khoái, là yếu tố của sức khỏe, của chất lượng cuộc sống. Thiền ngày càng trở nên một kỹ thuật trị liệu hiệu quả trong y sinh học, nhất là lĩnh vực tâm lý trị liệu, nên đã có nhiều ứng dụng thực tiễn trong y khoa.
 
Nghiên cứu về lâm sàng cho thấy thiền giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân, giảm lo âu, trầm cảm, giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung. Người hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác. Học sinh cấp 2 có thực tập thiền trên 2 tháng, có kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, thói quen làm việc, cải thiện hành vi (giảm xung đột, hung hăng), tự tin hơn, có khả năng hợp tác và quan hệ tốt hơn với người khác. Thiền giúp làm giảm cân, giảm béo phì, giảm nghiện thuốc lá, rượu, các chất ma túy nói chung.
<a href="http://www.youtube.com/v/Ady1NKZBtHk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/Ady1NKZBtHk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

 Bầu khí quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm – tức là khi có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất- thì cũng chẳng khác biệt! Với người anh em đơn bào đó thì ta cũng đang cùng hút chung một bầu khí, cùng bú chung một “núm vú” vũ trụ, cùng với muôn loài khác nữa! Các sinh vật cùng chia sẻ một cách…bình đẳng, không phân biệt và theo nhu cầu như vậy. Ta hút lấy oxy của không khí, lại tạo ra carbonic; trong khi cây cỏ hút carbonic lại tạo ra oxy. Con thằn lằn, con tắc kè, con ễnh ương… cũng phình ra xẹp vào như ta vậy. Bầu khí quyển vẫn không thay đổi, không thêm bớt. Nhưng chính con người có thể làm hại môi trường sống của mình mà không hay nếu cứ theo đà hủy diệt sự sống của thiên nhiên và muôn loài trên hành tinh xanh này!
 Hãy nương tựa chính mình. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?
 
From http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/thi%e1%bb%81n-va-th%e1%bb%9f/
(Tủ sách Phật học TỪ QUANG, Chùa Xá Lợi, Tập 1-2012)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Kasumi, Ngoisaobiec, Archéo, SCC, Yahoo, 8N, 80A - 8668
Logged
 
 
 
Kasumi
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 90

Cảm Ơn
-Gửi: 355
-Nhận: 578



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Sáu 23, 2013, 03:24:08 AM »

Cho Kasumi tò mò hỏi 1 chút ...từ ngày huynh học Tsa Lung yoga  Ông Địa cảm giác thấy thế nào , kasumi muốn hiểu biết thêm .

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, Ngoisaobiec, Archéo, SCC, Yahoo, 8N
Logged

 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Sáu 26, 2013, 12:22:37 AM »

rất khỏe huynh à...giống như Cửu Dương Chân Kinh  >đả thông kinh mạch vậy, phải ngồi kiết già mà hít thở .




<a href="http://www.youtube.com/v/sbB6r4p6BJk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/sbB6r4p6BJk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


<a href="http://www.youtube.com/v/BESrdlf-cPg&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/BESrdlf-cPg&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, TV, Kasumi, Archéo, SCC, Yahoo, 8N
Logged
 
 
 
Kasumi
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 90

Cảm Ơn
-Gửi: 355
-Nhận: 578



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Sáu 27, 2013, 07:53:58 AM »

Nếu nói như vậy , chỉ cần coi clip video này luyện tập những động tác tsa lung  yoga

 cũng được phải không huynh ? Ông Địa bụng bự sao ngồi kiết già mà hít thở được  big grin

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, ongdia, Archéo, SCC, Yahoo, 8N
Logged

 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Bảy 05, 2013, 12:17:54 AM »

Nếu nói như vậy , chỉ cần coi clip video này luyện tập những động tác tsa lung  yoga

Như huynh đã biết giáo lý về Tsa  Lung là trọng tâm của Mật Tông và nhất là của sáu pháp Du Già Naropa. Nếu huynh học trong video clip này cũng không có gì kết quả ...Đây Là Khí Công nội công Mật Tông Tây Tạng - Tsa Lung yoga này nếu không có sự chỉ dẫn tận tình và tường tận của một yogi, đặc biệt là trong lĩnh vực Khí công và Nội công....nếu ko biết cách thở thì  dẫn đến Tẩu Hỏa Nhập Ma .

*đây là 1 tấm hình 1 Tulku của 1 người bạn thân Tây Tạng cách đây 20 năm tặng cho Ongdia.Ánh sáng Kim Cang ... Ko có sử dụng photoshop đâu nha.

 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Kasumi, SCC, Yahoo, Ngoisaobiec, 8N, 80A - 8668
Logged
 
 
 
Kasumi
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 90

Cảm Ơn
-Gửi: 355
-Nhận: 578



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Bảy 06, 2013, 12:51:16 PM »

Khí Công nội công Mật Tông Tây Tạng - Tsa Lung yoga này nếu không có sự chỉ dẫn tận tình và tường tận của một yogi, đặc biệt là trong lĩnh vực Khí công và Nội công....nếu ko biết cách thở thì  dẫn đến Tẩu Hỏa Nhập Ma .

Hi huynh

Kasumi nghe đến triệu chứng Tẩu Hỏa Nhập Ma này , Kasumi giật mình thiệt  rolling on the floor

xin huynh Ongdia giải thích Tẩu Hỏa Nhập Ma là gì ..mở mang trí tuệ cho Kasumi 1 chút  big hug
 


 


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, ongdia, Ngoisaobiec, 8N
Logged

 
 
Trang: 1 2 [3] 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.265 seconds với 25 câu truy vấn.