Tháng Mười 25, 2021, 12:02:08 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH NGỤY TẠO  (Đọc 3408 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
vankhuc
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 52

Cảm Ơn
-Gửi: 9
-Nhận: 153


Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Sáu 21, 2011, 06:05:26 AM »

KINH NGỤY TẠO – Apocrypha

Tác giả Prof. KYOTO TOKUNO, Ph.D (hình trên)
Dịch sang Việt: PHẠM DOÃN

Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ APOCRYPHA – KINH ĐIỂN NGỤY TẠO để gọi văn học Phật giáo phát triển ở nhiều khu vực Á châu giả mạo những văn bản Phật giáo có gốc từ Ấn độ. Mớ bong bong của ngụy thư có nhiều nét chung, nhưng chúng không bao giờ thống nhất bằng cùng một kiểu mẫu (style) văn học hay cùng một nội dung.

Kinh điển ngụy tạo (Apocrypha) có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển.Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thày có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Một số kinh ngụy tạo tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng giác ngộ ở Ấn Độ hoặc là người được truyền thừa tuệ giác đó từ một dòng phái chính thức, ví dụ như trường hợp “các bộ Thánh Thư Quí Báu” (Gterma) của Tây Tạng cho là đã được dấu kín và rồi được khám phá lại bởi những người đủ cơ duyên. Một số kinh ngụy tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, ví dụ như trường hợp bộ “Tiền thân Đức Phật” (Jataka) của khu vực Đông Nam Á. Như vậy cái phân biệt kinh ngụy tạo với Phật học bản xứ là kinh ngụy tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Sự tạo ra các văn bản ngụy tạo có mối liên hệ với bản chất của các bộ kinh Phật thật trong từng mỗi truyền thống. Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

Những đặc điểm chung ở trên đem đến một chỉ dẫn cho chức năng và mục đích của kinh ngụy tạo: Tích hợp tư liệu Ấn Độ vào những nội dung bản địa – đó có thể là tôn giáo, văn hóa xã hội, hoặc chính trị – bằng cách ấy nó xóa bỏ ý niệm rằng làm đồng hóa Phật giáo rất khó hoặc là không thể. Tác quyền trong văn bản truyền thống chính thức được mặc nhiên công nhận và thông qua để làm cho tôn giáo địa phương trở thành dễ hiểu đối với con người đương thời của vùng đất mới, nơi Đạo Phật được đưa vào. Thực tế lịch sử cho thấy, một vài văn bản giả đã đóng vai trò làm nhân tố phát triển nền văn hóa Phật giáo cục bộ địa phương, khi nó trở thành một phần của văn bản trong hay ngoài của kinh điển thực. Không phải tất cả kinh giả chỉ thuần túy nhằm mục đích phổ biến Phật giáo. Ví dụ, vài kinh giả Trung quốc đều cố ý đồng hóa những phong tục và cách thực hành tôn giáo có tính cục bộ địa phương bằng cách mạo nhận đấy là giáo pháp của Đức Phật.. Những ví dụ đó cho thấy (sức mạnh từ) thẩm quyền của thánh điển đã khiến sản sinh ra mảng văn học vượt ra ngoài giáo pháp thực sự của Đạo Phật, đồng thời tạo ra một loại hình văn bản thể hiện những nội dung tôn giáo cục bộ địa phương.

Trong bộ sưu tập các kinh giả, phải nói “kinh dị” nhất là các kinh giả của Đạo Phật Đông Á. Các kinh này mạo nhận cấp bậc cao nhất của truyền thống Ấn Độ bằng cách tự nhận là lời nói của chính Đức Phật. Hiển nhiên khi kinh ngụy tạo mạo nhận là thánh điển, nó không thể không bị phát hiện bởi các nhóm bảo thủ hay tư do trong cộng đồng Phật tử. Trong thời kỳ trung cổ các kinh giả trở thành đối tượng bị khinh bỉ nhưng ngược lại chúng cũng đã trở nên công cụ và lực lượng vật chất làm biến đổi ý nghĩa của Phật giáo.

Như vậy kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc là hình ảnh thu tóm tất cả sự phức tạp xung quanh các vấn đề lịch sử, lí lịch và chức năng của nó bao gồm một lãnh vực rộng hơn trong kinh điển Phật giáo.
Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung Quốc được viết hầu như đồng thời với lúc khởi đầu các hoạt động dịch thuật kinh Phật vào giữa thế kỉ thứ 2 sau công nguyên. Theo ghi chép của Đại Tạng kinh Phật giáo, con số kinh ngụy tạo gia tăng liên tục qua các thế hệ cho đến ít nhất vào thế kỉ thứ tám. Các nhà làm danh mục phê bình kịch liệt các ngụy kinh, theo chuẩn mốc của họ, là “không có nguồn gốc rõ ràng” hoặc “đầy nghi vấn” hoặc lên án các ngụy kinh đã làm sói mòn sự toàn vẹn việc truyền bá kinh điển Phật giáo tại Trung quốc. Bất kể sự phối hợp của tập thể các nhà soạn danh mục, đồng thời với hội đồng của triều đình cố gắng loại bỏ các ngụy kinh bản xứ, mãi tận đến lúc kết tập cho lần in kinh lần thứ nhất (tại Trung Quốc) tức ấn bản của nhà Bắc Tống (971-983) thì việc tạo ngụy kinh mới giảm xuống rồi ngưng lại. Sự xuất bản các ngụy thư ở Trung quốc như vậy đã làm nên “hiện tượng” của thời kì gọi là “kinh điển viết dưới dạng bản thảo”. Khi những bản thảo viết tay có nguồn gốc địa phương lại có thể được chấp nhận là kinh và được xếp vào bộ thánh điển, thì giữa ngụy thư và kinh điển đã trở thành một phạm trù mơ hồ (không phân biệt được).

Khám phá của chuyên gia thời hiện đại về các kinh điển ngụy tạo cho thấy tính phức tạp và khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo kiến thức, cũng như khả năng làm nhái các văn bản Phật giáo, của tác giả các ngụy kinh. Thật không dễ dàng cho các chuyên gia thư mục xác định được tính chính thống của kinh điển. Phải có kiến thức rất rộng về Phật học mới có thể truy tìm những văn bản ngụy tạo đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những loại người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật giáo, nhất là người đó lại có thêm kỉ năng văn chương. Ngoài ra, trong nghiệp vụ đã có lúc phải cần đến sự thỏa thuận trong cẩn trọng, ví dụ trường hợp của Bộ Lịch Đại Tam Bảo Kí (Lidai Sanbao Ji – Record of the three Treasures) xuyên suốt các triều đại; 597- vì không có lí do khác hơn là một cuộc tranh cãi cần để tẩy uế bộ thánh điển sạch các yếu tố ngoại lai có thể làm Đạo Phật vướng vào sự chí trích của các đối thủ tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng.

Vì khi tranh luận trong việc loại bỏ các yếu tố ngoại lai ra khỏi thánh điển có thể đưa Đạo Phật vướng vào sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng. Bộ Lịch Đại Tam Bảo Chí đã thêm vào nhiều nguồn tư liệu về tác giả và dịch giả không có thực, nhằm mục đích làm các văn bản của nó giống như của một bộ kinh thực sự chính thống. Và một khi các thuộc tính giả mạo được chấp nhận bởi bộ Thư Mục của triều đình (the Da-Zhou kanding zhongjing mulu – Danh mục kinh tạng, công bố bởi nhà Đại Chu năm 695) thì truyền thống Trung quốc buộc phải nhận thêm rất nhiều các văn bản giả tạo kiểu như thế vào bộ Đại Tạng Kinh. Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (Kaiyuan Shijiao Lu Record of Sakyamuni’s teaching), soạn vào đời Khai Nguyên năm 730- được cho là hay nhất trong tất cả các bộ Danh Mục Đại Tạng – Bộ này chỉ trích cả hai bộ Đại tạng trước đó. Nhưng chính bộ Khai Nguyên cũng không thể loại trừ tất cả những điều không chính xác trong quá khứ, điều này một phần cũng do ảnh hưởng nặng nề của truyền thống. Kinh ngụy tạo là một ví dụ lý tưởng cho sự lệch lạc giữa sự vận động và thỏa hiệp đạt được trong quá trình hình thành ra một truyền thống tôn giáo (bản xứ). Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc một phần nhờ sự tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc.

Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ. Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Di (538-597) [1], người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó. Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc. Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.
Văn bản và nội dung

Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích vừa trần gian vừa tâm linh. Một số các nhà chuyên môn đã dự định thực hiện “phân loại hệ thống” (Typological classification) đối với tất cả các ngụy thư còn tồn tại, nhưng điều này sẽ còn khó khăn cho đến khi đã nghiên cứu toàn thể các ngụy thư và thấu hiểu các nội dung tôn giáo và văn hóa xã hội của chúng. Sau đây là những phê bình có chọn lọc về những nguyên cớ cho sự xuất hiện của các kinh giả tạo, điều này phản ánh cái cách mà giáo pháp của Đức Phật đã bị đóng khung và bị suy diễn.

Chúng ta bắt đầu bằng hai ví dụ kinh ngụy tạo từ học thuyết Đại Thừa ủng hộ một lý thuyết hay một cách thực hành không có phiên bản tương ứng trong Phật giáo Ấn Độ. Thứ nhất cuốn Khởi Tín Luận (Dasheng Qixin lun) tái tạo Phật giáo chính thống bằng cách tổng hợp ba khuynh hướng chính của học thuyết Ấn Độ: Tánh không (Sunyata), A Lại Da Thức (Alayavijnana) và Thai Tạng giới (Tatha Gatagarbha). Kinh này nhằm đặt ra một bản thể luận cho tâm trí con người, theo đó Tâm trí có thể đồng thời vừa vô minh vừa có giác tánh nội tại. Sau khi xuất hiện ở thế kỉ thứ sáu, bộ Luận Khởi Tín có lẽ đã trở nên ví dụ nổi bật của sự tác động của kinh ngụy tạo vào sự phát triển của hệ tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, vì nó đã trở nên chất xúc tác cho sự hình thành các học thuyết của các giáo phái (pháp môn) bản xứ như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền Tông (TQ). Văn bản ngụy thư cũng là ví dụ chủ yếu cho phương cách của một tác giả bản xứ chọn lọc phù hợp và tổng hợp một cách thông minh những văn bản Ấn Độ sao cho thích nghi hoàn hảo với bản chất tôn giáo Trung Quốc. Trường hơp thứ hai, cuốn Kinh Kim Cang Định (Jin’gang sanmei jing, Vajrasamadhi sutra) được tạo ra bằng sự pha trộn hỗn tạp tất cả các học thuyết Đại Thừa, nhằm cung cấp một nền tảng cho một hệ thống thực hành thiền và khẳng định hiệu quả giải thoát của hệ thống đó. Đây là một trong những những bản kinh lâu đời nhất của Thiền Tông của Trung Quốc và Đại Hàn, vì vậy có tính tiêu biểu lịch sử. Không giống trường hợp của các kinh ngụy tạo khác đã bàn đến trong bài viết này, một nghiên cứu cho rằng kinh này thực sự là tác phẩm của Đại Hàn từ thế kỉ thứ 7 (theo Buswell 1989). Bản ngụy kinh này, cùng với ngụy kinh tại Nhật bản đã đề cập ở phần trước, chính là thước đo cho mối liên hệ hữu cơ có được giữa Phật Giáo Trung Quốc với phần còn lại của Đông Á, và cũng cho thấy có sự kích động lan tràn của việc tạo tác kinh bản xứ ở khắp khu vực.

Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như Kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nổ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt. Cũng phải nói đến những vấn nạn phát sinh khi đặt để những trói buộc có tính thế gian lên tăng đoàn và tăng sĩ. Sự pha trộn giữa giáo pháp và các mối quan tâm trần tục chính là điểm tiêu biểu cho các kinh ngụy tạo, như ta sẽ thấy dưới đây.

Có loại kinh ngụy tạo đưa ra giới luật nhấn mạnh một cách đặc biệt vào giới cư sĩ. Loại kinh như thế gồm các kinh như Piluo sanmei jing – the Scripture of the absorption of Piluo, Tiwei Jing – The scripture of Tiwei và Chingjing Faxing Jing – the Scripture of pure religious cultivation. Các ngụy kinh này dạy hướng dẫn đạo đức cơ bản cho cư sĩ, như ngũ giới, thập thiện, sự quan trọng của cúng dường tất cả được dựng trong học thuyết của Nghiệp và Tái sanh. Năm giới cư sĩ được cho là điều kiện đủ để đạt tới giác ngộ của Phật, một con đường cực kì đơn giản vạch ra để động viên sự tham gia của cộng đồng cư sĩ vào thực hành Đạo Phật. Những giới đó còn thường được coi như tối cao hơn năm đức của Khổng Giáo, hơn sự rối rắm siêu hình của thế giới quan cổ đại của người Trung Quốc, kể cả hệ thống âm dương, ngũ hành và năm tạng của Y học Lão Giáo. Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

Luật nghiệp và tái sanh được đề cập ở trên là một chủ đề có khắp mọi nơi hay một hậu cảnh của kinh ngụy tạo. Văn bản được biết một cách phổ biến ví dụ như kinh Thập Điện Diêm Vương (the Shiwang Jing, the Scripture of the Ten Kings) minh họa giáo lý Đạo Phật Ấn Độ cho độc giả Trung Quốc bằng cách mô tả sự thanh tẩy sau khi chết. Sau khi chết, mỗi người phải lần lượt đi qua mười cửa địa ngục, mỗi địa ngục cai quản bằng một phán quan; số phận của của môt người sau khi chết tùy thuộc vào sự xét xử hành động của người đó lúc còn trên trần thế. Địa ngục kiểu phong kiến này là một sự đổi mới để phản chiếu cấu trúc chính trị-xã hội Trung Quốc. Ảnh hưởng rộng khắp của kinh này có thể được chuẩn hóa từ nhiều tranh ảnh, đá điêu khắc và tượng về Thập Điện Diêm Vương- với chuẩn mực trang phục, mũ mão truyền thống của các quan chức Trung Quốc- tất cả thấy ở nhiều nơi trong thời Trung cổ.

Các kinh ngụy tạo là sản phẩm ở những không gian và trong những thời gian đặc biệt, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có sự phê phán tình trạng tôn giáo đó, hay sư phê phán toàn thể xã hội, cả cấp quốc gia mà chính sách của nó đã thực hiện đối với Đạo Phật. Những phê phán như thế đã thường thể hiện trong khái niệm về thuyết Mạt Thế gọi là Thời Mạt Pháp truyền vào từ các nguồn Ấn Độ.. Kinh Nhân Vương (Renwang Jing, Humane King sutra) mô tả sự thoái hóa tất cả các tầng lớp xã hội, thiên tai, dịch bệnh, quyền kiểm soát đất nước, sự suy đồi biến dạng Đạo Phật, buông lơi giới luật của Phật tử. Giải pháp được đề xuất cho khủng hoảng này là sự hoàn thiện Tuệ giác (trí huệ bát nhã), cái được tin là có thể khôi phục trật tự tôn giáo xã hội và ngay cả bảo vệ được sự diệt vong của đất nước. Kinh được phổ biến rộng trong thời Trung cổ của khu vực Đông Á, đặc biệt là trong giới cầm quyền ít nhất cũng là vì nó cũng khẳng quyết về việc bảo vệ quốc gia. Kinh Tỳ kheo Nguyệt Quang (Shoulo biqiu Jing – Scripture of Bhiksu Shoulo) đưa ra một giải pháp khác cho thời Mạt Pháp: Nó tiên tri một đấng cứu thế xuất hiện, Nguyệt Quang, vào lúc khủng hoảng và suy đồi đã đến lúc cực điểm. Một thông điệp cứu thế như vậy dĩ nhiên không thể không có cội nguồn từ Phật Giáo Ấn Độ- giáo phái thờ phật tương lai Di Lặc là một ví dụ- nhưng sự đề xuất một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại có thể dễ bị giải thích như một sự lật đổ chính trị và là một thách thức cho nhà cầm quyền của chế độ thế tục. Kinh này là một kinh ngụy tạo đã bị thất lạc được tìm thấy tại Đôn Hoàng 1400 năm sau lúc có bằng chứng là nó được sáng tác.

Phần bài viết tới đây chỉ chạm đến một phần rất nhỏ câu chuyện về Kinh Phật Giáo ngụy tạo. Ngay cả khi đã được làm rõ, Kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hộ bản địa Trung Quốc. Tuy vậy chúng cũng cung cấp tài liệu vật chất cho các nghiên cứu liên văn hóa và nghiên cứu đối chiếu các thánh điển, các kinh trong các truyền thống tôn giáo khác nhau.
Chú thích của người dịch

[1] Trí Di (chữ Hán: 智顗; Wade-Giles: Chih-i; 538 – 597) được coi là Tổ thứ tư của Thiên Thai tông; đệ tử của Huệ Tư, Tổ thứ ba của Thiên Thai tông.
Ông tu trên núi Thiên Thai thuộc tỉnh Chiết Giang 22 năm cho đến khi mất để nghiên cứu Phật học. Tùy Dưỡng Đế đã ban cho ông danh hiệu Trí Giả, nên ông được người đời tôn xưng là Trí Giả đại sư hay Thiên Thai đại sư.
Hầu hết các sách tiếng Việt đều phiên tên ông là “Trí Khải“. Tuy nhiên tên đúng của ông phải là Trí Di. Encyclopædia Britannica (Từ điển Bách khoa Britannica) đã viết rõ về vấn đề này như sau, trong mục từ Chih-i:
Pinyin Zhiyi, also called Chih-k’ai Buddhist monk, founder of the eclectic T’ien-t’ai (Japanese: Tendai) Buddhist sect, which was named for Chih-i’s monastery on Mount T’ien-t’ai in Chekiang, China. His name is frequently but erroneously given as Chih-k’ai.
Source
[/color]

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Daihongcat, chanhnguyen, nhuocthuy, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Táo Ngọt
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 21, 2011, 06:13:31 AM gửi bởi vankhuc » Logged
 
 
 
Daihongcat
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 467

Cảm Ơn
-Gửi: 678
-Nhận: 3403


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Sáu 21, 2011, 12:59:24 PM »

cuộc sống luôn thay đổi và dịch chuyển thì kinh điển của Phật giáo cũng không nằm ngoài qui luật đó, luôn được thêm vào và phát triển cho phù hợp với thời thế.
Có lẽ đó cũng là một qui luật được viết trong "Kinh Dịch".

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, Thiên Vương, Ngoisaobiec, tadamina, Táo Ngọt
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Sáu 22, 2011, 12:19:47 AM »


-Có những người, cho tới ngày nay mà cứ mở miệng ra là:- chi, hồ, giả, dã .... đòi quay trở lại đời Nghiêu Thuấn...

-Có những người, cho tới nay mà cứ mở miệng là "Đạo khả dạo phi thường đạo" ....đòi sống trở lại thời Tam Hoàng Ngũ Đế...

-Có những người, cho tới nay mà cứ đòi đầu trần, chân đất (để đi họp PGQT), ngủ dưới gốc cây, ngủ ở bãi tha ma ...đòi sống vĩnh viễn ... ở trong rừng.

Họ là những người có những "bàn chân làm bằng đá" tạc dính vào quả núi "cổ đại vạn niên", nên không thể nào dở nổi lên, dù chỉ ...một cm.

Than ôi ! Dòng nước thì cứ chảy, thời gian thì cứ trôi, con người thì cứ tiến hóa ... mà có những người vì có "những bàn chân đá" nên đành phải ngồi lại bên ngọn núi ngàn năm.

Vậy mà cứ đòi "lên mạng internet" để đả kích những con người tiến bộ (khế thời, khế cơ, khế lý) là "lũ tu ngụy".

Sao không chịu ở yên trong núi sâu rừng thẳm, còn vác mặt ra ngoài "ánh sáng văn minh" nầy làm gì ? Hỡi những con người có "bàn chân đá" ???

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Daihongcat, quycoctu, dieunha, tadamina, nguyenthuy, dailuc, nhuocthuy, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Táo Ngọt
Logged
 
 
 
nhuocthuy
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Sáu 24, 2011, 01:50:45 AM »


Đây là một vấn đề hết sức tế nhị.

Nói chung, bên PG Nam Truyền không bao giờ chấp nhận PG Bắc Truyền, phủ định tất cả kinh điển đại thừa, cho tất cả đều là "ngụy kinh" (tức không phải do Phật nói).

Nhưng cốt tủy của đạo Phật là gì ?

-Là làm lợi ích chúng sanh, giúp chúng sanh giác ngộ và giải thoát.

Lịch sử của các nước theo PG Bắc Truyền từ hai ngàn năm qua đã thực hành tốt đẹp tư tưởng giải thoát của Phật. Như vậy, nếu phủ định PG BT thì đạo Phật còn được gì ?

Quan trọng nhất của tư tưởng PG phát triển là:-

1.- Nâng cao từ Phật lịch sử ở Ấn Độ lên thành Phật Pháp Thân cho tương thích với tư tưởng "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật"

2.- Đề cao tinh thần "tứ y" và ba khế hợp "Khế thời = hợp thời đại, hợp xã hội lúc đó"; "Khế  cơ = hợp căn cơ, trình độ chúng sanh", "khế lý = đúng chân lý". Như vậy, đạo Phật mới có thể thích nghi, tồn tại và phát triển được đến ngày nay. Tại sao lại phủ định PGBT ?

Những vị tôn túc như HT TMC ... có phê phán thì cũng "có giới hạn" , chỉ có những người "quá tả" mới tuyên bố phủ định mà thôi.

Tại sao khoa học tiến bộ thì được đề cao, mà tư tưởng PG tiến bộ thì lại phê phán, phủ định ?

Than ôi ! Những bậc vĩ nhân PG đã mang lại sinh khí cho PG, cho nhiều dân tộc, cho nhiều đất nước suốt hai ngàn năm qua, hóa ra đều là những "tội đồ Phật giáo" cả hay sao ?

Hãy bình tỉnh suy gẫm lại xem !

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Daihongcat, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, quycoctu, Thiên Vương, Ngoisaobiec, Táo Ngọt
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
Daihongcat
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 467

Cảm Ơn
-Gửi: 678
-Nhận: 3403


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Sáu 24, 2011, 09:40:03 AM »

Phật giáo phải chịu thất bại ở chính nơi đã khai sinh ra là Ấn Độ.
Chỉ khi qua TQ, TL... thì Phật Giáo mới phát triển rực rỡ...
Qua mỗi một nước thì kinh điển cũng phải thay đổi và phát triển cho phù hợp.
Thiền tông Việt Nam cũng nằm trong trường hợp đó.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, Thiên Vương, Ngoisaobiec, nhuocthuy, Táo Ngọt
Logged
 
 
 
Ham_vui
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 236

Cảm Ơn
-Gửi: 332
-Nhận: 1205


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Sáu 25, 2011, 12:21:23 PM »

laughing Trước lúc viên tịch Bụt có nói tất cả giáo pháp của Ngài chỉ là phương tiện dùng để qua sông, mà phàm đã là phương tiện thì khi dùng, mỗi vị phải điều chỉnh cho phù hợp với thể trạng của mình, như vậy đâu nói là ngụy tạo được.
Giống như người đi xe đạp người cao to thì cứ để nguyên xe mà chạy còn người thấp bé thì phải hạ yên thấp xuống, chứ để nguyên chống chân ko tới dễ té lắm.Và vậy thì đâu thể nói người hạ yên xe thấp xuống là ngụy tạo xe.
He... he...Cái ông KYOTO...này có xe mà ko chịu sử dụng cứ đứng nhìn săm soi coi nó còn zin hay ko thiệt là mắc cười wá. Người ta đã chạy rần rần qua sông rồi...ông ơi!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Thiên Vương, Ngoisaobiec, nhuocthuy, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, anhlam, dieunha, Daihongcat, Táo Ngọt
Logged

NAMO GURU DEVA DAKINI HUM
 
 
 
Thiên Vương
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 993

Cảm Ơn
-Gửi: 7983
-Nhận: 13332


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Sáu 25, 2011, 02:23:54 PM »







   Có lẽ nhờ xem bài của bạn Ham Vui thì mọi người ở đây mới thấy, biết rằng bài này là của ...1 người Nhật viết....; chứ không phải của "những người có bàn chân đá" theo lời Bác Ma Vương, hay thậm chí của cả " Phật Giáo Nam Truyền " theo lời của Bác NT.


   Giáo sư Kyoto Kotuno là 1 vị học giả có bằng tiến sĩ, dĩ nhiên bằng này ở Nhật chắc không đến nỗi như là bằng tiến sĩ "giấy" của nhiều người có tiền, có quyền ở VN, nên ta có thể xem là 1 học giả thật sự của nền giáo dục văn minh, của xã hội có khoa học phát triển hiện đại nhất nhì trên thế giới.  Vì vậy những gì ông viết chắc chắn không phải là theo tư tưởng của ...những người cổ hủ, lạc hậu, chậm tiến hay nói như Bác Ma Vương là "những người có bàn chân đá" ...cho được, phải không mọi người?


   Các nhà khoa học có cái hay là ...trắng thì nói trắng, đen thì nói đen...hoàn toàn không bị ảnh hưởng hay tác động của các quyền lực chính trị, tôn giáo....v...v...nào cả.  Và nhờ làm việc với tinh thần như vậy mà ...khoa học ngày càng phát triển rực rỡ như chúng ta đều thấy!


   Còn Phật Giáo tiến bộ hay phát triển rực rỡ như một số bạn nhìn nhận ở đây thì chúng ta cần phải xét lại có thật là ...phát triển hay không!...


   Muốn thế ta phải đứng trên 1 lập trường mà nhận định về sự phát triển.  Với Phật Giáo thì dĩ nhiên lập trường đó là ...sự giác ngộ, sự giải thoát...chứ không phải là ...sự tăng trưởng về con số. 


   Bởi trong 1 ruộng lúa, lúa cho hạt chắc tốt, no tròn, chín đều theo mỗi vụ mới thật sự là ...phát triển.  Còn 1 ruộng lúa to lớn bạt ngàn, rộng gấp ngàn vạn lần ruộng lúa cũ, nhưng có cỏ dại xen lẫn vào mà dù biết người ta vẫn không thèm nhổ đi, khiến cho cây lúa tuy vẫn phát triển nhiều về số lượng, nhưng chất lượng thì yếu kém vô cùng, đến nỗi không có lấy được 1 hạt no tròn, chín tốt như thực trạng "Phật Giáo Phát Triển" ngày nay chư tăng nhiều tiền, nhiều quyền thì có, chứ các vị hoàn toàn giác ngộ, thật sự tu hành theo lời Phật dạy thì không thấy tồn tại ở đâu cả!  Có lẽ vì vậy mà Bác Ma Vương cho rằng việc đi họp Phật Giáo Quốc Tế của chư tăng thì quan trọng hơn là việc tu hành đầu trần, chân đất, chỉ biết lấy sự trau giồi phẩm hạnh, điều phục nội tâm...v...v...làm câu thực hành như Phật dạy.


   Cũng vì vậy mà sư Thích Phước Tiến trong 1 bài giảng đã "nhiệt tình" giảng rằng, ngày xưa Phật không cho chư tăng đi xe.  Vì xe do súc vật kéo nên đi xe như vậy là tổn đức từ bi.  Nên người ta thấy sư nào đi xe thì chê trách là đúng.  Còn bây giờ sư ...tự lái xe, đi máy bay còn được nữa là đi xe.  Ai mà chê trách thì tôi không đồng ý chút nào, vì các phương tiện này đều do ...động cơ...kéo chứ không phải người hay vật kéo.  Vì thế mà chẳng phạm tội lỗi gì cả!  Đại khái là vậy.


   Đây là 1 vị tỳ khưu thọ đủ cụ túc giới rồi mà còn phát biểu 1 điều mà 1 người thọ Bát Quan Trai giới cũng không dám nói.  Bởi vì việc Phật không cho chư tăng dùng xe thì Sư TPT chỉ nói được 1 nửa phần phụ.  Nửa phần chính yếu mà Sư không biết là...nằm trong sự điều phục thân tâm, tránh đam mê sự thỏa mãn nhu cầu bản thân mà sinh ra tham luyến với trần đời, vật chất.  Một người quen sống tiện nghi, thì không làm sao có thể hành trì việc tu hành tiết chế, điều phục thân tâm cho được.  Đó là lý do tại sao mà Phật có giới ...không cho nằm ngồi giường êm, nệm ấm, ghế cao lộng lẫy...v..v..

........................................................................................


   Trở lại vấn đề, phải chăng vì tư tưởng người Việt ta thường...quá cố chấp...(không biết mà tin người ta gọi là mê tín, đã biết mà còn cố tình hiểu sai để rồi tin theo sự sai ấy TV gọi là ...quá cố chấp) như vậy mà người TQ thản nhiên sản xuất tiền giả rồi tuồn qua cho người Việt chúng ta xài.  Không chừng họ bảo nhau:" Người Việt dễ lắm, cứ có ảnh chủ tịch HCM trên tiền là được rồi (cũng như kinh sách, cứ bảo là đây là lời Phật nói, cứ thêm câu:"như thị ngã văn...", thì ai mà dám phản bác.  Không khéo lại còn bị người ta chửi cho là ...cái đồ hủy báng Phật Pháp...ấy chứ!), bao nhiêu họ cũng xài hết cả.  Không cần thiết phân biệt thật giả làm gì.  Nhất là lấy 10 ngàn mua được 1 triệu, lợi to như thế thì lo gì tiền giả làm ra không ai xài chứ! "

  Người TQ làm hàng giả rất nhiều, nhưng nước tiêu thụ hàng giả nhiều nhất có lẽ phải xếp VN lên hàng đầu vì hình như ở đây không cần có sự thanh lọc!  Không biết có phải vậy không các bạn? :-)


...Thân ái,
-Thiên Vương-


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Daihongcat, Táo Ngọt, vankhuc
Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Sáu 25, 2011, 03:22:12 PM »








  Người TQ làm hàng giả rất nhiều, nhưng nước tiêu thụ hàng giả nhiều nhất có lẽ phải xếp VN lên hàng đầu vì hình như ở đây không cần có sự thanh lọc!  Không biết có phải vậy không các bạn? :-)


...Thân ái,
-Thiên Vương-







Thưa thầy đúng ạ. TQ làm hàng giả siêu hạng, ví dụ giày adidas, nhìn bề ngoài thì giống lắm, cũng 3 sọc, màu mè thì y xì . Nhưng khi đi vào mới biết là giả. Ấy là người sành điệu đi mãi adidas chính hiệu rồi nên cảm nhận được cái sự giả rõ ràng. Còn như dân thường thì thấy hàng hiệu cứ mua đi đã, giá rẻ. Chẳng bao giờ được đi  giày adidas thật nên khi đi adidas giả, đâu có biết là giả ạ big grin. Thôi thì cứ đi, còn hơn đi đất thầy nhì.
 Một học giả người Nhật lại có bằng tiến sĩ Nhật thì rất đáng kính trọng, và đáng tin- Không giống các vị tiến sĩ giấy của Việt Nam.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Daihongcat, Táo Ngọt, vankhuc
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 25, 2011, 03:26:45 PM gửi bởi Ngoisaobiec » Logged
 
 
 
nhuocthuy
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Sáu 25, 2011, 09:54:36 PM »

Xin lỗi tất cả quí vị,

Như chúng tôi đã nói, đây là một vấn đề hết sức lớn và tế nhị, nhiều bậc tôn túc của chúng ta đã bàn bạc và ... không đưa đến kết quả nào cả.

Vậy thì, có lẽ chúng ta cũng không nên mất công làm một chuyện "không cần thiết" là Bàn về Kinh ngụy hay không, mà vần đề là "đường lối , phương pháp tu đó có thực sự mang lại lợi ích là sự an lạc, giải thoát ... hay không mà thôi.

Ai có duyên với cách thức, đường lối nào thì cứ chọn mà thực hành, hà cớ gì mà lại nói chuyện thực giả một cách không cần thiết ở đây .

Xin cho phép chúng tôi dừng topic nầy ở đây.

Thành thật xin lỗi và cám ơn.

Nhược Thủy


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, anhlam, dieunha, Ham_vui, Daihongcat
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.126 seconds với 25 câu truy vấn.