Tháng Mười Hai 08, 2021, 01:49:41 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRÍCH :- "SỰ TÍCH GIỚI LUẬT" của Ni Sư TRÍ HẢI  (Đọc 8518 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Một 14, 2011, 08:37:44 PM »

(tiếp theo)

DÙNG Y MỚI NGUYÊN


Phật ở Xá vệ chế giới. Nhóm "lục quần tỳ-kheo" (nhóm 6)  mặc y mới màu trắng đi đường, bị cư sĩ mỉa mai rằng trông giống các đại thần. Phật chế giới không được mặc y trắng, phải nhuộm các màu hoại sắc.

Ngũ phần thì nói y mới cần phải làm dấu cho dễ nhận, gọi là "điểm tịnh" ba chấm, như ngày nay ta thêu tên. Nguyên nhân như sau. Một hôm có đoàn Tỳ kheo an cư xong, về Xá vệ đảnh lễ Phật. Họ cùng với đoàn thương khách lúc đi qua một khu rừng, bị giặc cướp hết hành lý và y phục mang trên người (ngày nay gọi là trấn lột). Khi đoàn người đi ra cổng rừng, các quân canh thấy Tỳ kheo mất hết y bát, hỏi ra biết đã bị cướp.

 Biết vua Ba tư nặc mộ Phật, nếu để các Tỳ kheo về nói đã bị cướp thì vua sẽ trị tội họ không bảo vệ dân lành. Toán quan quân bèn nói cả đoàn người hãy ngồi lại, đợi họ đi truy lùng bắt bọn cướp. Sau một hồi săn tìm, bắt gặp bọn cướp giấu hàng trong một khu rừng lân cận, họ tịch thu hết tang vật đem về. Các thương gia đều mừng rỡ lấy lại được hàng hóa sau khi khai báo cho quan quân. Còn một đống vải vóc và y phục (tức những tấm vải để quấn quanh mình, tăng cũng như tục, theo cách phục sức của Ấn Độ) thì họ để ưu tiên cho các Tỳ kheo đến nhận. Tỳ kheo không thể phân biệt y của mình với vải mới của đoàn thương gia lấy trước. Những người buôn láu cá nhận hết các tấm y mới nhất, để lại toàn đồ cũ rách cho các Tỳ kheo. Biết mình hố, nhưng trước sự đã rồi các Tỳ kheo đành mang y rách tươm trở về vườn Cấp cô độc.

 Các cư sĩ hỏi: "Mùa an cư vừa xong, tại trú xứ an cư không có ai cúng gì hay sao mà chư đại đức ăn mặc tồi tàn thế kia về hầu Phật?".

Các Tỳ kheo thuật lại chuyện như trên. Những chư sĩ có người cảm phục, song cũng có người bĩu môi chê trách: "Tỳ kheo tự nhận là biết pháp biết luật, nhưng đến tấm y của mình khoác trên người mà cũng không nhận ra, thì làm ăn nỗi gì? Quả là những người chẳng được tích sự gì cả".

Nhân đấy Phật chế giới phải "điểm tịnh" để dễ nhận ra y của mình.

CỐ GIẾT SÚC SINH


Phật ở Xá vệ chế giới. Tôn giả Ca lưu đà di mỗi khi tọa thiền thường bị quấy rầy vì bầy quạ bay đến kêu ỏm tỏi.

Tức mình, ông bèn thủ sẵn một cái ná và một đống hột "bì lời" để bắn chim.

 Vốn có tài thiện xạ bá phát bá trúng, ông làm chết vô số quạ đang bay.

 Khi cư sĩ vào vườn thấy thây chim nằm ngỗn ngang hỏi ra mới biết do ngài bắn chết, họ chê bai Tỳ kheo thiếu tâm từ.

UỐNG NƯỚC CÓ TRÙNG


Phật ở Xá vệ chế giới uống nước ao hồ phải lọc kẻo làm chết nhiều chúng sinh.

Có hai Tỳ kheo sau mùa an cư về hầu Phật, đi đường quên đem đãy lọc nước.

Một ông vâng lời Phật dạy, thà chết không hủy phá giới Phật đã chế. Do vậy ông chết khát, và ngay lúc đó được sinh lên trời.

Vừa tái sinh vào thiên giới, ông biết được do nhân giữ giới mà được tái sinh thù thắng, nên vị trời này liền bay xuống rừng Kỳ đà đảnh lễ Phật, nghe Phật thuyết pháp và chứng quả.

Tỳ kheo kia uống nước ao xong, chôn bạn rồi tiếp tục lên đường. Khi đến nơi Phật, ông khoe. "Bạch Thế tôn, con nhờ phương tiện uống nước ao mà được gặp Phật. Tỳ kheo kia giữ chặt giới cấm nên chết mất".

Phật dạy: "Tỳ kheo kia đã gặp ta từ lâu. Ngay lúc Tỳ kheo kia chết, ông ấy đã được gặp Như lai do đức tinh thuần tịnh. Còn ngươi tuy thấy ta mà kỳ thực, xa cách ta muôn trùng".

----------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Một 14, 2011, 08:44:40 PM »

(tiếp theo)

CHE GIẤU TỘI NẶNG


Phật ở Xá vệ chế giới. Bạt nan đà chơi thân với một Tỳ kheo, kể cho nghe vị này các tội tăng tàn mà ông đã phạm, và dặn đừng cho ai biết.

Về sau hai người giận nhau, Tỳ kheo đem tội tăng tàn của Bạt nan đà nói giữa chúng tăng.

Tăng hỏi làm sao mà ông biết được, Tỳ kheo nói chính đương sự cho biết, nhưng vì lúc ấy đang chơi thân nên giấu giùm. Nay tức giận mới nói.

Phật nhân đấy chế giới, biết người ta phạm mà mình che giấu thì mình cũng phạm tội.

KHƠI LẠI TRANH CÃI

Phật ở Xá vệ. Nhóm 6 Tỳ kheo thường gợi lại những sự tranh cãi đã được tăng giải quyết xong; làm cho ai chưa cãi nhau khởi sự cãi, cãi rồi thì không chấm dứt được.

 
HẸN ĐI VỚI GIẶC

Phật ở Xá vệ, khi các Tỳ kheo từ Xá vệ đi Tỳ xá ly, có một đoàn buôn lậu xin hẹn cùng đi để lọt qua các trạm kiểm soát.

Tỳ kheo nhận lời cho đi chung. Khi quan quân truy lùng bọn buôn lậu để bắt, toàn bộ đoàn người đi cùng chuyến đều bị giải về kinh trị tội.

Quan tra hỏi các Tỳ kheo, "Khi hẹn nhau cùng đi, các vị có biết đây là bọn người buôn lậu không?"

Tỳ kheo đáp "Biết mới cho đi, vì chúng hi vọng khỏi bị bắt".

Căn cứ luật pháp, thì các Tỳ kheo ấy đáng tội tử hình, nhưng nhờ uy thế của Phật mà họ được thả. Phật chế giới, nếu biết là giặc thì không được cùng đi chung.



VÀO CỬA CUNG VUA

Phật ở Xá vệ, Tỳ kheo Ca lưu đà di một hôm vào cung vua sớm, trông thấy Mạt lợi hu nhân bị rớt y phục, về khoe ầm lên là "Tôi đã trông thấy tận mắt vật báu của vua Ba tư nặc". Chúng Tỳ kheo không hiểu đó là vật gì, nghe Ca lưu đà di kể mới hiểu ra, liền bạch Phật. Phật chế Tỳ kheo không được đi vào nội cung.

Phật dạy Tỳ kheo vào nội cung có mười điều hại.


1. Khi Hoàng hậu cười với Tỳ kheo, vua nghi giữa hai bên có tình ý.
2. Nếu sau đó Hoàng hậu có bầu vua sẽ nghi không phải con mình.
3. Nếu trong cung có mất vật gì quý báu, cũng nghi Tỳ kheo lấy.
4. Việc bí mật trong cung bị tiết lộ ra ngoài cũng nghi cho Tỳ kheo.
5. Khi vua bỏ con trưởng lập con thứ, thái tử sẽ nghi do Tỳ kheo xúi.
6. Khi thái tử giết cha để cướp ngôi, người ta sẽ nghi Tỳ kheo chủ mưu
7. Đại thần mất chức cũng nghi vì Tỳ kheo mà ra nông nỗi.
8. Quan nhỏ thành quan lớn (tàn ác) chúng sẽ nghi là do Tỳ kheo tiến cử.
9. Vua có đi chinh phạt nơi nào, người ta cũng nghi do ông Tỳ kheo thân cận vua bày đặt để làm khổ dân.
10. Vinh hoa phú quý dễ làm cho Tỳ kheo hoàn tục.


Phật kể xưa có Tỳ kheo bị tẩn xuất, sầu khổ đi lang thang gặp một con quỷ cũng đang bị Tỳ sa môn thiên vương trục xuất khỏi thiên giới, đang bay lơ lửng tìm cái ăn. Quỷ dụ tỳ kheo leo lên lưng mình, để thiên hạ chỉ  thấy người không thấy quỷ, sẽ tưởng Tỳ kheo có thần thông, cúng dường trọng hậu. Rồi khi được đồ cúng, Tỳ kheo cùng quỷ chia nhau. Tỳ kheo bằng lòng, leo lên vai cho quỷ mang đi. Trông thấy Tỳ kheo ngồi ngất ngưỡng giữa hư không, thiên hạ cho là thần thánh, đem phẩm vật cúng dường. Quỷ chở Tỳ kheo về lại chùa cũ, nơi ông ta bị tẩn xuất. Dân chúng thấy vậy trách chúng tăng không có mắt, nhè trục xuất một người đắc đạo như thế. Họ rước ông trở về chùa để lễ bái cúng dường. Sau đó đó mang Tỳ kheo lên vai đi ra gặp ngay Tỳ sa môn thiên vương cùng đoàn tùy tùng đang tuần hành trên không, quỷ hoảng hồn ù té chạy, hất Tỳ kheo té nhào xuống đất, bất tỉnh.

Do vậy, Phật dạy Tỳ kheo không nên dựa thế lực thần quyền vì khi quyền lực ấy trút đổ hay bị hạ bệ, Tỳ kheo cũng trút theo.

-------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Một 14, 2011, 08:51:17 PM »

(tiếp theo)

CẦM LẤY BÁU VẬT

Phật ở Xá vệ, có cư sĩ đi đường ngủ lại, sáng sớm ra đi bỏ quên một bao vàng.
Tỳ kheo đến sau trông thấy giữ giùm, với ý định sẽ trả lại khổ chủ.
Đang cầm thì chủ trở lui tìm, Tỳ kheo đưa ra. Ông ta kiểm lại số vàng và hô hoán lên là đã mất bớt một nửa. Tỳ kheo nói chưa hề động tới số vàng trong bao.

 Người kia vẫn khăng khăng bảo Tỳ kheo lấy trộm, đưa nhau đến quan xử. Việc đưa lên thấu vua Ba tư nặc, vua nói: "Nếu Tỳ kheo có làm mất của ngươi bao nhiêu vàng, cứ khai ra, ta sẽ cho lấy vàng trong kho hoàn lại cho ngươi, chớ có làm ồn náo não loạn vị ấy".

Người kia thấy vậy khai trong bao của y khi trước có đến hai ngàn lượng. Vua cho người vào lấy đủ số bỏ vào bao thì thấy cái bao của y không thể nào chứa nổi chừng ấy vàng. Có chứng cớ rõ ràng người ấy khai gian, vua bèn tịch biên tấc cả vàng và gia sản của y, vì tội đã vô ơn, lại còn khai man và vu khống.

Cư sĩ chê bai Tỳ kheo gây chuyện khiến cho kẻ kia bị phá sản. Do đó Phật chế giới cấm cầm bảo vật.

Một hôm, Mạt lợi phu nhân treo nơi gốc cây chuỗi trang sức quý giá bà đang đeo trước khi vào vườn Cấp cô độc đảnh lễ Phật. Khi về tới nội cung bà mới nhớ ra đã quên lấy lại xâu chuỗi; toan sai người đến tìm, nhưng nghĩ lại sợ nếu tìm không có, người ấy sẽ nghi là chúng tăng lấy, mang tội hủy báng tam bảo. Trong lúc ấy một Tỳ kheo đi dạo vườn trông thấy chuỗi ngọc, đâm nghi không dám cầm. Phật bảo lấy giữ giùm cho bà vợ vua, và chế lại giới này: "Trừ khi trông thấy của báu có chủ bỏ quên trong chùa, thì nên giữ giùm cho họ".

Lại có Tỳ kheo đến nghỉ nhờ tại một nhà thợ kim hoàn, chủ nhà quên cất vào tủ, cứ để vàng bạc la liệt mà giao phòng cho Tỳ kheo. Tỳ kheo không dám động đến của báu vì sợ phạm giới Phật chế, mà cũng không dám ngủ vì sợ trộm vào lấy mất. Ông ngồi thức suốt đêm để canh vàng cho chủ nhà. Về bạch Phật, Phật lại chế giới này, thêm câu "trừ tại chỗ mình ở nhờ" (ký túc xứ) nếu thấy báu vật mình biết có chủ, mà có thể bị trộm, thì nên lấy cất vào một nơi an toàn trước khi đi ngủ.

ĂN CÁC THỨ TỎI


Phật ở thành Tỳ xá ly (Vaisali) chế giới. Tỳ kheo ni Thâu la nan đà đến xin tỏi tại vườn tỏi của một thương gia.
Sau khi nhổ cho ni cô đủ số tỏi cần dùng, ông chủ ra đi, giao vườn tỏi cho người trông giữ.

Thâu la nan đà về chùa, các đệ tử xúm lại xin tỏi, cô chỉ họ tới vườn kia mà nhổ.

Chủ vườn tỏi chưa về, gia nhân không cho. Các ni cô về thưa lại, Thâu la nan đà cùng đám đệ tử kéo đến vườn. Cô bảo người giữ vườn, hãy để cho chúng ta nhổ tỏi vì chủ nhà ngươi là chỗ thân tình, đã bảo ta cần bao nhiêu cứ việc lấy đem về. Rồi cô cùng đám đệ tử thi nhau nhổ tỏi, bảo cái này nhổ cho Thượng tọa này, đại đức nọ, Ni bà kia... cuối cùng họ nhổ sạch cả vườn tỏi.

Các cư sĩ dị nghị, chê bai. Phật chế giới cấm dùng các thứ tỏi, nếu bị bệnh cần trị bằng tỏi thì phải bạch chúng mà ra ở riêng. Trong thời gian ăn tỏi không được tụng kinh lễ bái, ngồi nằm giường chúng tăng và xử dụng phòng vệ sinh của chúng.

Nhân đấy Phật kể, quá khứ xa xưa có một gia đình vợ chồng con cái thương yêu nhau da diết. Chẳng may người chồng chết sớm, để lại bà vợ và một bầy con túng thiếu.

Vì quá yêu thương vợ con, người chồng hóa làm con chim nhạn toàn thân bao phủ bằng những cọng lông bằng vàng, bay đến nhà cũ, mỗi ngày nhả xuống một cọng lông cho bà vợ bán nuôi con. Bà vợ sinh lòng tham, bắt con chim nhạn nhổ hết lông vàng. Sau vì hết vàng nên nó tái sinh thành chim nhạn lông trắng.

 Ân ái theo nhau nhiều đời như thế cho đến ngày nay, người chồng tái sinh làm chủ vườn tỏi và Thâu la nan đà là tái sinh của bà vợ ngày xưa, với bầy con là những đệ tử hiện nay của cô ấy.
--------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:20:49 AM »

(tiếp theo)

CHO NGOẠI ĐẠO ĂN

Phật ở Xá vệ chế giới.

Nhóm 6 Ni tự tay đem thực phẩm cho hai sa di đệ tử của Bạt nan đà một đã theo ngoại đạo, một hoàn tục.

Một lần nọ, Phật và tăng chúng được quá nhiều thực phẩm do tín đồ dâng cúng; Đức Thế Tôn bảo A nan đem chia bớt cho các hành khất và lõa thể ngoại đạo đang đi theo sau tăng đoàn. Tình cờ một cô gái lõa thể ngoại đạo được tôn giả chia phần bánh gấp đôi kẻ khác. Bọn này la lên: "A con nhỏ xinh đẹp đã lọt vào mắt xanh của sa môn đẹp trai rồi. Nó được chia phần nhiều hơn chúng ta!".

Ngoại đạo thường theo đoàn đệ tử Phật để ăn thực phẩm dư thừa, vì họ không được đồ cúng. Một ni cô thấy một ông lõa thể ngoại đạo ốm đói, sớt bớt phần ăn của mình cho ông ta. Khi được hỏi ai cho đồ ăn, người này nói, "Nữ sa môn trọc đầu". Một lõa thể khác nghe thế bất bình, chê kẻ đồng đạo ấy không bằng con chó còn biết ơn người cho mình ăn.

Nhân những việc gây tai tiếng kể trên, Phật chế giới cấm Tỳ kheo ni tự tay đem thức ăn cho ngoại đạo, nếu cần thì để một nơi cho họ đến lấy.

Cho ngoại đạo ăn

Phật và đại chúng đi từ Câu tát la đến Xá vệ, giữa đường, cư sĩ cũng rất nhiều bánh đa (bánh tráng). Phật bảo A nan chia cho chúng tăng, còn thừa thì cho hành khất (thường đi từng đoàn theo sau đoàn khất sĩ, cốt chờ những dịp như vậy). Trong đám hành khất có một cô gái ngoại đạo lõa thể, dung mạo dễ coi, chìa tay ra xin bánh. Tôn giả A nan vô tình phát cho cô ta 1 cái bánh kép (2 cái dính liền). Những kẻ bàng quan bảo nhau, cô gái đã lọt mắt xanh của tôn giả rồi đó. Tôn giả nghe, lấy làm bực. Các Tỳ kheo bạch Phật, Phật chế giới cấm cho ngoại đạo ăn. Sau ngoại đạo khiếu nại, Phật thấy có lý, nên chế lại, rằng "Cấm cho ngoại đạo ăn, bằng cách cho tận tay".


ĐỂ NGƯỜI SAI SỬ

Phật ở Xá vệ, Nhóm 6 Ni phạm. Thâu la nan đà đến khất thực tại nhà một phụ nữ có con nhỏ đang khóc dai, mẹ dỗ hoài không nín. Thấy Tỳ kheo ni tới khất thực, bà ấy bảo: "Nếu cô có cách gì làm trẻ nín khóc, tôi sẽ cho đồ ăn. "Thâu la nan đà bế đứa trẻ vỗ về ầu ơ một lát, đứa bé nín khóc thật, khi ấy bà mẹ mới đem thực phẩm ra cúng.

Lần khác Ni chủ Đại Ái đạo đi qua, bà mẹ cũng đang gặp nạn con khóc, bèn gọi bà vào nhờ dỗ giùm. Ni chủ nói, "Đó không phải việc làm của sa môn".

Bà mẹ nói, "Thế sao hôm kia có người nữa sa môn như bà đã dỗ được thằng bé nín khóc?" Ni chủ trở về bạch Phật, Đức Thế Tôn chế giới.

---------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:24:49 AM »

(tiếp theo)

KHÔNG THƯA MÀ VÀO

Phật ở Xá vệ; có một Tỳ kheo ni giao thiệp rộng qua đời, ni chúng thiêu xác xong đem di cốt vào trong vườn Cấp cô độc mà xây tháp, ngày ngày thay phiên nhau đến thắp hương đốt trầm dâng hoa cúng nước, khóc lóc làm cho chúng tăng tọa thiền mất thanh tịnh. Cư sĩ các nơi trông thấy chỗ thờ trang nghiêm, không hay biết gì cũng bắt chước kéo nhau tới cúng dường lễ bái như lễ tháp phật. Một hôm một vị la hán khách tăng dẫn đồ chúng đi ngang vườn Cấp cô độc, trông thấy cảnh dập dìu ấy cũng tưởng là tháp thờ Răng Phật hay Móng tay Phật gì ấy, nên sì sụp lễ bái. Tôn gải Ưu ba li đang toạ thiền gần đấy thấy vậy lên tiếng: "Huynh có biết tháp ai đấy không mà lạy?".

Vị La hán vỡ lẽ ra là tháp của một ni cô, bèn bảo đệ tử tới đập phá, liệng ra ngoài cổng chùa. Trước khi cùng đồ đệ ra đi, ông đến bảo tôn giả Ưu ba ly hãy đề phòng, sắp có đại nạn. Quả nhiên lúc các ni cô canh giữ chạy về chùa ni trình bày tự sự, toàn thể ni chúng mang gậy gộc kéo đến. Tôn giả Ưu ba ly đang nhập định Diệt thọ tưởng, ngồi bất động như cái thây chết. Được các ni canh tháp cho biết do ông này mà tháp bị đập phá, các Tỳ kheo ni lấy đá chọi, gậy gộc quất túi bụi vào người tôn giả, nhưng ngài không hề hấn gì, vì đã dứt hết cảm giác trong lúc nhập định. Tỳ kheo ni hành hung tôn giả cho hả giận xong, kéo nhau về chùa. Khi tôn giả xuất định trở về trú xứ, các Tỳ kheo trông thấy y trên người ngài rách như xơ mướp, thân tàn ma dại, hỏi ra biết ngài đã bị các ni cô hành hung, họ tức giận bảo nhau: "Bất quá thì đừng cúng dường cung kính chúng ta cũng được rồi, làm gì mà đánh anh em một cách tàn nhẫn đến thế?"

Họ quyết định từ nay cấm cổng không cho bất cứ bà ni nào bén mảng vào vườn Cấp cô độc. Ni chủ Đại Ái Đạo đến thăm Phật cũng bị từ chối không cho vào vườn. Nhiều ngày không thấy bà di mẫu đến thăm, Đức Thế Tôn hỏi tôn giả A nan mới biết đã xảy ra cợ sự.

Ngài bèn nhóm tăng chế giới: Từ nay chư ni muốn vào chùa tăng phải bạch trước để xin phép.

Vị tăng giữ cổng nên hỏi, "Các cô không mang theo dao búa gậy gộc đấy chứ?". Khi họ trả lời là "không" mới cho vào.

ĂN XONG ĂN NỮA

Phật ở Xá vệ, có cư sĩ đến thỉnh ni chúng hôm sau về nhà thọ trai. Đêm ấy cả nhà cư sĩ thức để làm các thứ cúng dường. Hôm sau gặp ngày lễ hội, chùa được thập phương mang nhiều đồ đến cúng, chư ni ăn trước ở chùa xong mới ôm bát đến nhà cư sĩ thọ thực. Vì đã no bụng nên họ không thể ăn thêm gì nhiều; cư sĩ thấy họ ăn một cách thờ ơ nên lấy làm buồn bã. Những vị thiểu dục quở trách và bạch Phật. Phật chế giới, đã nhận mời ăn thì không được ăn trước.

HƯƠNG LIỆU XOA THÂN

Phật ở Xá vệ; Nhóm 6 Ni phạm; cư sĩ nghe mùi thơm của hương liệu (nước hoa, v.v.) toát ra từ thân thể các ni cô, chê bai là "giống như dâm nữ". Vì ở đời, kẻ xức nước hoa là cốt để dụ cho người khác phái ngửi mùi thơm mà bị thu hút đến nơi mình; đôi khi vì thế mà họ nổi tâm xấu và có phản ứng bất lương. Phật cấm.

 
DẦU MÈ XOA THÂN

Phật ở Xá vệ. Nhóm 6 Ni phạm. Thoa "Dầu mè" cũng như ngày nay xức kem dưỡng da vậy; đều là những kiểu cách làm dáng của bọn ăn không ngồi rồi, dư tiền lắm của xưa cũng như nay, luôn nghĩ cách trau chuốt cái thây xú uế.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:27:02 AM »

(tiếp theo)

HỌC NGHỀ BÓI TOÁN

Phật ở Xá vệ chế giới; Nhóm 6 Ni phạm. "Thuật số" là một trong những tà mạng Phật cấm. Ngay cả phật tử tại gia còn không được sống bằng nghề bói toán, huống chi xuất gia.

DẠY NGHỀ BÓI TOÁN

Như trên. Lục quần Tỳ kheo ni dạy cho cư sĩ cách coi hướng đất, ngày giờ tốt xấu, v.v., bị Phật cấm.

"Chánh pháp niệm xứ" quyển 48 nói xuất gia có 13 việc chướng ngại hành đạo.

1. Nói nhiều.
2. Chữa bệnh.
3. Hội họa.
4. Đờn ca xướng hát làm thơ ngâm vịnh.
5. Chiêm tinh (xem thiên văn).
6. Đoán điềm triệu (bói toán).
7. Tham ăn ngon.
8. Ưa của báu (vàng bạc, đá quý, chơi đồ cổ, sưu tập tem cò, v.v.).
9. Thân cận quyền quý.
10. Hi vọng được mời.
11. Không cầu học chánh pháp.
12. Xã giao rộng.
13. Ở chung với người xấu.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:30:22 AM »

(tiếp theo)

TÁM PHÁP HỐI QUÁ


Tám pháp "hối quá" dịch âm là Ba la đề đề xá ni, dịch nghĩa là "Đối tha thuyết" hay "Hướng bỉ hối" là khi phạm thì cần đối trước một vị khác mà sám hối về việc quấy mình đã làm để được thanh tịnh. Tám pháp ấy là không bệnh mà do lòng tham ăn, đi xin một trong tám thứ: Tô, dầu, mật, đường tán, sữa, lạc, cá, thịt.

Cả tám pháp đều do Lục quần Ni phạm đầu tiên, bị cư sĩ chê bai, Phật chế giới.

Trong tám thứ, ba thứ tô, sữa, lạc đều là những thực phẩm chế biến từ sữa. (Sữa tươi từ bò cái gọi là nhũ, từ nhũ có lạc, từ lạc có sinh tô, từ sinh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ). Cùng với đường, mật, dầu thành sáu thức ăn có tính chất dinh dưỡng cao, người xuất gia chỉ nên xem như thuốc chữa bệnh. Cá, thịt thì liên hệ đến sinh mạng của loài khác, dù nói gì đi nữa (như nói nguyên thủy Phật cho phép ăn năm thứ tịnh nhục, vân vân) thì ăn vào cũng thương tổn tâm từ, mắc nợ máu thịt khó mà giải thoát. Trừ phi bị bệnh kinh niên cần phải ăn, hoặc không có thực phẩm nào khác, thì không nói. (Như ở Tây tạng, trên núi cao rất ít rau cỏ mọc được, tu sĩ hầu hết theo đại thừa giáo mà không ăn chay. Khi sang Tây phương, ngài Dalai Lama, vị Phật vương xứ Tây tạng lưu vong, một hôm trông thấy người ta đang cắt cổ gà để thết đãi, ngài từ chối dùng dĩa thịt gà hôm ấy mặc dù không có món ăn nào khác ngon hơn. Từ đấy ngài ăn chay hoàn toàn như người Trung Quốc và Việt Nam, nhưng sau 12 tháng ngày lâm bệnh vàng da rất nặng, bác sĩ bảo ngài phải kiêng sữa, đậu phụng và phải trở lại ăn cá thịt mới khỏi bệnh. Tuy không trường trai được, mà ngài vẫn luôn tán thán việc ăn chay là hoàn toàn hợp lý, và cứ đến mỗi kỳ đại lễ của Tây tạng và khi nhập thất thì ngài lại dùng chay).

Nếu không bệnh mà ăn các thứ trên, thì có thể sinh bệnh thừa chất đường, chất mỡ (gọi là chứng thừa cholestérol trong máu, gây ra nhiều chứng khó chữa như xơ cứng động mạch, tiểu đường, v.v...). Hoặc nếu may mắn không bệnh (vì lá gan còn hoạt động tốt) thì người cũng mập phì rất khó coi. Thứ nữa là ăn quen chất béo ngọt thì sinh cái tật tham vị ngon, đưa đến tình trạng đọa lạc biết ngày nào mới ra khỏi biển khổ sinh tử?

---------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:34:04 AM »

(tiếp theo)

TÁC PHONG THUYẾT PHÁP

Gồm 20 điều, từ 52-59 và 86-92

Từ 52-59 là tám trường hợp không được nói pháp cho những người không bệnh mà có tác phong thiếu cung kính như sau:

Vắt áo lên vai, quấn áo nơi cổ, người đang che đầu, người đang trùm đầu, hai tay chống nạnh, chân mang dép da, chân mang guốc gỗ, người đang cưỡi ngựa.

Từ 86-92 là bảy trường hợp nói pháp không đúng phép tắc, khi người nghe không bị bệnh hoạn gì:

Người ngồi mình đứng, người nằm mình ngồi; người ghế mình không, ngồi cao ngồi thấp, đi trước đi sau, kinh hành cao thấp, đạo và phi đạo.

Từ 96-100 là năm trường hợp cấm thuyết pháp vì người nghe thiếu cung kính không bỏ xuống những khí giới đang mang như sau: Cầm gậy, cầm kiếm, cầm mâu, cầm dao, che dù.



Kính tháp và tượng Phật

Gồm 26 điều cấm, từ 60-85 như sau:

Ngủ trong tháp Phật, cất giấu của cải, mang dép da vào, cầm dép da vào, dép da nhiễu tháp, đi ủng vào tháp, mang giày ủng vào, cầm giày ủng vào, ăn uống xả rác, khiêng thây đi qua, chôn thây nơi tháp, đốt thây nơi tháp, hướng tháp đốt thây, bốn phía hôi tháp, giường áo người chết, đại tiểu gần tháp, hướng tháp mà tiểu, bốn phía xông hơi, ảnh Phật vào cầu, tháp Phât xỉa răng, hướng tháp xỉa răng, nhiễu tháp xỉa răng, khạc nhổ hỉ mũi, hướng tháp hỉ khạc, duỗi chân trước tháp. Tượng Phật phòng dưới mình ở phòng trên.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:39:46 AM »

(tiếp theo)

PHÁP DIỆT TRÁNH  "Như thảo phú địa tì ni"


Phật ở Xá vệ, các Tỳ kheo nhân một việc nhỏ mà gây gổ chia thành hai phe cãi nhau không dứt (một bên là phe của một thượng tọa luật sư, phe kia của Luật sư), Phật can không được cuối cùng ngài phải bỏ vào rừng an cư với một con voi chúa, có bầy khỉ dâng trái cây mỗi ngày. Cư sĩ sau đó không đến vườn Cấp cô độc để cúng dường nữa vì vắng Phật, chúng tăng bèn lên rừng thỉnh Phật trở về. Phật dạy hai phe hãy giảng hòa bằng pháp "Như thảo phú địa" (trải cỏ che lấp) là một cách xí xóa tất cả cho nhau, vì hai bên đều có lỗi.

Nhân đấy Phật kể câu chuyện để chứng minh những kẻ oan gia nhiều đời mà cuối cùng còn sống với nhau được, tại sao Tỳ kheo lại không hòa nhau để tu học.


Ngày xưa giữa vua Phạm Chí và vua Trường Sinh có mối thù từ nhiều đời kiếp. Vua Phạm Chí cất quân sang đánh chiếm nuớc của vua Trường sinh, bắt vua và hoàng hậu đem đi xử trảm. Thái tử còn nhỏ được người trung thần ẵm mang đi thoát được, mai danh ẩn tích trở thành một trẻ bụi đời kiếm sống bằng nghề hát rong. Một hôm đi ngang hoàng cung bấy giờ đã bị vua Phạm Chí chiếm đoạt, nghe giọng hát hay, hoàng hậu của vua Phạm Chí bèn gọi đứa trẻ vào cung để mua vui. Đứa trẻ được hoàng hậu yêu mến, cho ở luôn trong cung cấm. Một hôm xâu ngọc quý của hoàng hậu không cánh mà bay mất. Nhà vua, hoàng và đình thần đều nghi đứa bé ăn cắp, vì ngoài nó ra không người nào được vào ra trong cung. Khi bị bắt, đứa trẻ bèn nhận tội ngay không chối cãi. Hỏi cung, nó khai ra thêm bốn người liên lụy trong vụ này là thái tử, quan tể tướng, ông tỷ phú trong thành, và nữ danh ca được yêu chuộng nhất. Cả bốn người đều bị bắt vào tù. Quan tể tướng hỏi: "Này con, tại sao con biết rõ là ta không lấy, mà lại khai ẩu?".

Nó bảo: "Vì quan thông minh, đa mưu túc trí, thế nào cũng tìm ra manh mối vụ này".

Thái tử cũng hỏi nó một câu tương tự, nó đáp, "Tại vì ngài là con vua, vua sẽ không nỡ giết. Không lẽ cha mà lại đi giết con?".

Ông tỷ phú vào tù gặp nó, bứt đầu bứt tai bảo: "Trời đất quỷ thần ơi, sao cháu nỡ nào khai oan cho bác vậy?"

Thì nó tỉnh bơ đáp rằng: "Tại vì bác có thể bỏ tiền ra chuộc mạng để khỏi ở tù".

Và khi cô ca sĩ khóc lóc hỏi nó, "Em ơi, tại sao em nỡ vu khống cho chị lấy xâu chuỗi ngọc trong khi chị chẳng biết ất giám gì?"

Nó trả lời: "Vì thiên hạ đều hâm mộ chị, nên thế nào người ta cũng tìm cách đưa vụ này ra ánh sáng càng sớm càng tốt, để cứu chị thoát nạn lao tù".

Quả nhiên sau đó một người đầu đảng khét tiếng tài danh về nghề trộm cướp được đưa vào khám đường đối chất. Gặp nó, người chuyên nghề trộm cướp hỏi: "Trong cung, ngoài đức vua, hoàng hậu và bé ra, còn có con vật nào được ra vào không?"

- "Có một con khỉ thường theo chơi với hoàng hậu".

Kẻ trộm nổi danh đi về, rồi trở lại đem theo vào nội cung một bầy khỉ. Ông cũng xin cho đem con khỉ của hoàng hậu đến. Sau khi mượn tạm những xâu chuỗi của các cung nữ đang đeo, y phân phát cho mỗi con khỉ một chuỗi, rồi tự đeo vào cổ một xâu. Cả bầy khỉ đều làm theo y, con nào cũng tròng chuỗi trang sức vào cổ. Con khỉ của hoàng hậu trông thấy liền bắt chước đi lấy xâu chuỗi ngọc quý nó đã ăn cắp ra đeo. Thế là nội vụ đã ra manh mối.

Khi nhà vua hỏi tại sao nó không lấy cắp mà chịu nhận tội, lại khai thêm những người vô tội khác. Nó trả lời, "Con chỉ là một tên bụi đời, dù con có nói mình không lấy cũng chẳng ai tin. Con không có chứng cớ gì để minh oan nếu không nhận tội sẽ bị vua trừng trị. Do vậy con cứ nhận đại, rồi khai thêm mấy người mà con biết có bị tống vào ngục cũng không sao. Họ là những người danh tiếng, có thể nhờ họ mà người ta sẽ ra công điều tra vụ án này". Vua công nhận thằng bé thông minh, và từ đấy càng thêm yêu mến, cho hầu cận luôn bên mình.

Một hôm theo vua đi săn lạc giữa rừng sâu, cậu bé bây giờ tuổi đã thành niên, đang canh cho vua ngủ. Thấy nhà vua ngủ say li bì, cậu tuốt gươm khỏi vỏ toan giết để báo thù cho cha, nhưng bỗng nhớ lời cha dặn: "Lấy oán báo oán, oán ấy chất chồng; lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan" cậu tra gươm vào vỏ. Đúng lúc ấy, nhà vua trở dậy kể lại giấc chiêm bao: "Vừa rồi ta mộng thấy con vua Trường Sinh đến báo mối thù giết cha ngày trước". Cậu bé liền thú thực với vua tông tích của mình, vốn là thái tử. Nhà vua cảm động, trả lại ngai vàng cho thái tử con vua Trường Sinh, lại gả con gái cho chàng. Mối thù giữa hai nhà từ đấy chấm dứt, hai nước láng giềng trở thành bạn hữu.

-------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:44:02 AM »

(tiếp theo)

Nhận ăn tại nhiều nhà (1 lần):


Phật cùng 1250 Tỳ kheo du hành đến nước A na tần lâu có một bà la môn chở nhiều xe thực phẩm để cúng dường, khi nào chư tăng không xin được gì, vì họ đang đi qua một vùng đói kém. Khi đoàn lữ hành đến biên giới nước A na tần lâu, thì dân chúng ồ ạt thiết cúng. Bà la môn Sa nâu không biết làm gì với thực phẩm còn lại, xin đổ giữa đường cho Đức Phật và tăng chúng dẫm lên để chứng cho lòng thành của ông, trước khi ông từ giã (vì sự đi theo không cần nữa). Phật bảo ông nấu tất cả đồ khô còn lại ấy, thành một thứ cháo thập cẩm, cúng dường chư tăng dùng sáng trước khi đi khất thực. Từ đấy, dân mộ đạo khi được biết Phật cho phép ăn cháo trước khi đi khất thực, bèn chia nhau nấu các thứ cháo nêm ngon lành để cúng. Một vị đại thần cũng thi đua cầu phước, làm một bữa ăn thịnh soạn để cúng tăng. Vì chư Tỳ kheo trước đã dùng cháo, nên lúc đến phó trai tại nhà vị đại thần, không thể nào ăn thêm được. Gia chủ rất phiền não vì cớ ấy, bạch Phật. Phật chế giới cấm ăn trước khi đến nhà cư sĩ thọ thực. Về sau có người bị bệnh đến nhà một cư sĩ thọ trai nhưng không ăn được một thứ gì, mà cũng không dám nhận thực phẩm tại nhà khác sau đó. lại có khi một nhà cho ăn không no. Rồi lại có khi, đã nhận lời mời ăn tại một nhà, sau đó lại có nhà vừa cúng thực phẩm, vừa cúng y. Nếu giữ lời hứa ăn tại nhà đầu tiên thì không có y. Phật bèn chế thêm là trừ những trường hợp đặc biệt ấy.

Biệt chúng thực

Cấm vắng mặt trong các bữa ăn đông chúng. Để bà Đạt đa là kẻ đầu tiên phạm điều này. Sau khi mưu hại Phật, tiếng ác đồn khắp. Lợi dưỡng không còn, Đề bà dùng dư đảng đi khất thực từng nhà, gọi là "biệt chúng thực". Việc khất thực riêng nhóm như vậy trở thành một dấu hiệu muốn ly khai với đại chúng (Đoàn thể), nên Phật cấm ăn biệt chúng, nghĩa là tụ họp nhau 4 người trở lên mà ăn. Về sau có người bị bệnh, được mời ăn riêng, không dám. Có thí chủ thiết trai và dâng y sau mùa an cư, cũng không dám. Có người đi đường, bạn đồng hành mời ăn, cũng không dám, để đi một mình đằng sau bị cướp... Phật nhân đây chế thêm, trừ trường hợp đặc biệt như vậy, đi đường, đi phó trai... thì có thể ăn biệt chúng.

---------------------

Uống rượu

Không được uống bất cứ thứ nước nào có men.

Tôn giả Sa gia đà xin ngủ nhờ nhà một bà la môn. Ông này chỉ còn căn phòng thường bị một con rồng quấy phá. Tôn giả nói không sao.

Nửa đêm, con rồng xuất hiện, nổi giận thổi tắt hết đèn. Tôn giả lúc ấy đang nhập định bèn thổi mạnh hơn. Rồng hết hơi chịu thua. Tôn giả thâu kẻ chiến bại vào bình bát đưa cho chủ nhà.

Vua Kausambi hay tin, dặn người bà la môn mời tôn giả đến thọ trai tại hoàng cung khi vị này trở lại. Nhà vua cho thiết những món ăn và ngay cả rượu - cái mà chư tăng chưa bao giờ khất thực được. Kết quả là tôn giả chập choạng trở về Tinh xá nôn oẹ tùm lum, chim và quạ tranh nhau mổ những đồ thổ ra đó, chúng làm ồn đến nỗi Đức Phật phải quở "Đồ ngu! Thắng con rồng lớn mà thua con rắn nhỏ!" và chế giới cấm nếm rượu.

----------------------

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
« Sửa lần cuối: Tháng Một 15, 2011, 07:49:45 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Một 15, 2011, 07:48:53 AM »

(tiếp và hết)

LÀM HẠNH BẤT TỊNH

Lúc Phật ở Xá vệ, có ngài Tu đề na (Sudina) làm hạnh bất tịnh với vợ cũ.

Nguyên Tu đề na con nhà giàu, đã có vợ, nghe Phật thuyết pháp bèn năn nỉ cha mẹ bất đắc dĩ phải để cho ông đi tu. Không bao lâu, gặp mùa đói kém Phật cho phép chúng tỷ kheo tản mát đi khất thực các nơi.

Tu đề na dẫn một đoàn tăng chúng về thôn nhà khất thực.

 Cha mẹ nhân cơ hội ấy năn nỉ Tu đề na hoàn tục, Tu đề na không chịu; cha mẹ lại năn nỉ Tu đề na ở lại với vợ cũ một đêm để ông bà có cháu bế cho vui cửa vui nhà, hơn nữa khi chết còn có người cúng cơm, thờ tự.
Tu đề na cuối cùng phải xiêu theo.

Nhưng khi trở lại trong tăng chúng, ông cảm thấy bứt rứt, hối hận, khổ sở.
Các tỷ kheo bạn tới hỏi thăm, ông nói thật, và cùng đi đến Phật kể rõ sự tình.
 Phật quở trách đủ thứ và dạy đó là việc không đáng làm, phi phạm hạnh.

 Nhân đấy Phật chế giới.

Lời bàn:

Tội ba la di còn dịch là: "tha thắng", là để cho cái khuynh hướng khác, không phải mình (tự) thắng lướt, làm cho mình không còn là mình nữa.

Chính đây là nguồn gốc của mọi pháp tu và giới luât Phật chế: khiến cho con người đừng đi lạc xa cái "tánh thường" của mình, nếu lỡ đi xa một chút thì phải nhớ mà quay trở lại.
Khi Phật chưa chế giới thì chưa gọi là "phạm", thế nhưng sau khi Tu đề na làm hạnh bất tịnh thì tự thấy hổ thẹn khổ sở.

 Điều đó chứng tỏ tánh thường của chúng ta vốn tự thanh tịnh, không xen lẫn dâm dục, nên khi làm cái sự gì khác (tha) với tánh thường ấy, thì tâm tự thấy khó chịu.

HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.133 seconds với 25 câu truy vấn.