Tháng Năm 06, 2021, 08:55:51 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Tăng huyết áp: Kẻ giết người thầm lặng  (Đọc 4503 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Bảy 15, 2010, 02:19:21 AM »

Chủ đề này chưa có bài viết nào. Xin tham gia vài bài. Có thể có một chút gì đó có ích.
Kính

Tăng huyết áp: KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG

( Tài liệu truyền thông và giáo dục sức khoẻ tim mạch cộng đồng. Sài Gòn7/4/2008. Tác giả: Thạc sỹ Đào Duy An)

Thay lời nói đầu

NGHỊCH LÝ! NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP VÔ TƯ-THẦY THUỐC TIM MẠCH TRĂN TRỞ.

    Hàng ngày, trực tiếp khám chữa bệnh tim mạch tại bệnh viện, chứng kiến nhiều cái chết thương tâm đáng ra cứu vãn tốt: chồng bỏ vợ, mẹ bỏ con, bạn bỏ bạn, người bỏ dở sự nghiệp…chỉ bởi không để ý căn bệnh mình đã mắc-TĂNG HUYẾT ÁP. Người bệnh hồn nhiên với bệnh này, nào là có chi đâu, huyết áp lên thì uống thuốc, uống thuốc hoài nóng người lắm, khỏi rồi…
    Thực ra, tăng huyết áp là bệnh lý mãn tính, tăng dần và nguy hiểm, gây ra 7,1 triệu người chết hàng năm, con số này tương đương 13% tổng tử vong và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật chung toàn cầu. Tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (một tỷ người mắc) sẽ tăng lên 29,2% (1,5 tỷ người bệnh) vào năm 2025. Tại Việt Nam, xu hướng bị tăng huyết áp tăng: tỷ lệ năm 1992 trên toàn quốc là 11,78%, năm 2002 ở miền Bắc là 16,3% còn ở Hà Nội là 23,2% và năm 2004 thành phố Hồ Chí Minh là 20,5%. Điểm đặc biệt là chỉ mới 19,1% người bị tăng huyết áp ở được khống chế, còn 80,9% (khoảng 9 triệu người bệnh Việt Nam) lơ lửng các mối hiểm nguy do tăng huyết áp gây ra.
    Thuốc sẵn có mà người bệnh tăng huyết áp vẫn chết và bị biến chứng hàng ngày nhiều và căn bệnh này nguy hiểm hơn dịch cúm gia cầm đang rộ lên thời điểm 2005.
    Tập tài liệu này mỏi mong gợi mở một số thông tin có ích cho người bệnh và những ai quan tâm đến tăng huyết áp ngõ hầu xoá bớt nghịch lý trên. Cái hôm nay đúng nhưng ngày mai cần phải xem lại; vì vậy, người viết không tránh khỏi lỗi bất khả kháng. Tài liệu tham khảo dừng lại ở mốc 15/12/2005 và sẽ phải cập nhật hàng năm vì lợi ích người bệnh.

1. Huyết áp là gì?

    Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Vậy, huyết áp là thứ phải tồn tại đương nhiên trong cơ thể con người giống như áp lực nước trong lòng mương, ống nước…
Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số:
(1) Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu hoặc ngắn gọn là số trên), bình thường từ 90 đến 139 mm Hg (đọc là milimét thuỷ ngân).
(2) Huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương hoặc ngắn gọn là số dưới), bình thường từ 60 đến 89 mm Hg.
Mỗi người phải luôn biết và nhớ hai chỉ số huyết áp của mình!

2. Tăng huyết áp là gì?

    Huyết áp tăng dần theo tuổi nhưng khi tăng tới mức gây nguy hại cho cơ thể mà ở mức này việc chữa trị có lợi hơn là hại thì gọi là tăng huyết áp.
    Tất cả sách giáo khoa và các hướng dẫn điều trị tăng huyết áp trên thế giới đều chọn ngưỡng gọi là tăng huyết áp đối với người từ 18 tuổi trở lên là khi người đó có ít nhất một trong hai số huyết áp  sau: (1) huyết áp tối đa >/= (đọc là lớn hơn hoặc bằng) 140 mm Hg và (2) huyết áp tối thiểu >/= 90 mm Hg. Như vậy, nếu con số huyết áp là 150/80, 130/100 hoặc 150/90 mm Hg sau nhiều lần đo thì gọi là tăng huyết áp.
    Một cách đầy đủ, tăng huyết áp là một hội chứng tim mạch tiến triển được khẳng định khi: (1) huyết áp đo tại cơ sở y tế >/= 140/90 mm Hg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ >/= 135/85 mm Hg hoặc (2) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim do tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.
Từ gọi thông dụng nhưng không đúng.
    Các vùng miền có các cách gọi khác nhau về tăng huyết áp như tăng xông, cao máu, lên máu, cao áp huyết.

3. Tăng huyết áp có triệu chứng không và nguy hiểm như thế nào?

Triệu chứng.

    Phần lớn tăng huyết áp không có triệu chứng. Các dấu hiệu nhức đầu, chóng mặt, choáng váng, buồn nôn, mửa, mỏi mệt…không phải là biểu hiện chỉ của mỗi tăng huyết áp.
    Khi có triệu chứng tăng huyết áp, thường lúc này đã là biến chứng hoặc tình trạng tăng huyết áp đã nặng.

Mối nguy hiểm.

    Tác hại của tăng huyết áp (biến chứng tăng huyết áp) xảy ra chủ yếu ở tim, não, thận, mắt, mạch máu.

1. Tại tim, tăng huyết áp gây:

-  Tim lớn (lâu ngày gây suy tim).
- Bệnh mạch vành gồm thiếu máu cơ tim im lặng, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và đột tử do tim.
 
Hình 2. Biến chứng nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp (nơi có mũi tên)

2. Tại não, tăng huyết áp gây:

- Cơn thiếu máu não thoáng qua.
- Suy giảm nhận thức  và sa sút trí tuệ.
- Đột quỵ (tai biến mạch máu não) gồm nhồi máu não (nhũn não) và xuất huyết não (chảy máu não, đứt mạch máu não).
- Bệnh não do tăng huyết áp (nôn mửa, chóng mặt, co giật, hôn mê…).
 
Hình 3. Tắc hoặc vỡ bất cứ mạch máu não nào đều là một trong những biến chứng  của tăng huyết áp tại não.

3. Thận: gây bệnh thận giai đoạn cuối và cuối cùng là suy thận.
 
Hình 4. Tổn thương mạch máu thận, cuối cùng gây bệnh thận giai đoạn cuối do tăng huyết áp (chỗ có mũi tên).

4. Mắt: gây mờ mắt, mù gọi là bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp.
 

Hình 5. Bệnh võng mạc do tăng huyết áp, hậu quả là mù (chỗ có mũi tên).

5. Mạch máu: tăng huyết áp gây phồng lóc động mạch chủ, vữa xơ động mạch, viêm tắc động mạch chân.
 
Hình 6. Động mạch xơ cứng, dày lên do tăng huyết áp, hậu quả là huyết áp càng tăng…(chỗ có mũi tên).

    Tất cả biến chứng này:
(1) về mặt sức khỏe làm bệnh nặng dần, tàn tật nhiều (62% đột quỵ và 49% đau thắt ngực do tăng huyết áp) và gây chết hoặc đột ngột hoặc từ từ hoặc chết sớm (tăng huyết áp gây giảm thọ từ 10 đến 20 năm)
(2) về mặt tài chính thì làm tăng chi phí điều trị.

(còn tiếp...)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Namcuctienong, thuankt, Daihongcat, tuanlong, Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy, zinzin04
Logged
 
 
 
Namcuctienong
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 9

Cảm Ơn
-Gửi: 16
-Nhận: 28



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Bảy 15, 2010, 04:36:14 AM »

Phải thường xuyên luyện tập cơ thể ,hay nhất là các pp thiền định để tầm soát hệ kinh mạch .Có thế ,triệu chứng thể loại bệnh này sẽ ít nguy cơ .Mến .

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Bảy 16, 2010, 01:23:21 AM »

Trích dẫn
Phải thường xuyên luyện tập cơ thể ,hay nhất là các pp thiền định để tầm soát hệ kinh mạch .Có thế ,triệu chứng thể loại bệnh này sẽ ít nguy cơ .Mến


Việc phòng và điều trị bệnh tim mạch và tiều đường có hai phương pháp: không dùng thuốc và có dùng thuốc. Có dịp sẽ trình bày sau.

Cám ơn Bạn nhiều
Kính

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Bảy 16, 2010, 11:26:26 AM »

Tại sao gọi tăng huyết áp là "Kẻ giết người thầm lặng"?

    Tiến triển tự nhiên tăng huyết áp như sau: vào độ 10-30 tuổi, huyết áp bắt đầu tăng, đầu tiên là tăng cung lượng tim, dần dần tăng huyết áp sớm vào tuổi 20-40 (lúc này lực kháng ở mạch máu ngoại vi nổi trội, có cơn huyết áp tăng nhưng người bị không biết) rồi đến tăng huyết áp thực sự ở tuổi 30-50 và cuối cùng là tăng huyết áp có biến chứng vào độ 40-60 tuổi. Tăng huyết áp tiến triển âm thầm trong 15-20 năm đầu; người bị tăng huyết áp vẫn sống và làm việc bình thường trong khi bệnh đang huỷ hoại cơ thể dần dần, gây ra cái chết gặm nhấm, cái chết huỷ hoại hoặc cái chết tức tưởi. Do đó, các nhà tim mạch học gọi tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng.

Nguyên nhân tăng huyết áp

1. Tăng huyết áp không rõ nguyên nhân (còn gọi là tăng huyết áp vô căn hoặc tiên phát, nguyên phát): 90%-95%.
2. Tăng huyết áp có nguyên nhân (tăng huyết áp thứ phát, mắc phải): 5%-10%.
Điểm khác biệt là tăng huyết áp có nguyên nhân thì chữa triệt để được, ví dụ tăng huyết áp do hẹp động mạch thận thì sau khi nong động mạch hẹp, huyết áp bình thường trở lại, không phải uống thuốc lâu dài.

Phát hiện tăng huyết áp như thế nào?

Chỉ bằng cách đi khám và đo huyết áp tại các cơ sở y tế.
    Thông thường phải qua vài đợt khám trong 1-2 tháng mới xác định được tăng huyết áp bởi gắn một chẩn đoán tăng huyết áp cho một người đồng nghĩa gắn một trách nhiệm sức khoẻ suốt đời cho người đó.
    Đo huyết áp ít nhất mỗi năm một lần khi bình thường và khi cảm thấy trong người khó chịu như chóng mặt, nhức đầu không giải thích được, uể oải.

Nguyên nhân tăng huyết áp

1. Tăng huyết áp không rõ nguyên nhân (còn gọi là tăng huyết áp vô căn hoặc tiên phát, nguyên phát): 90%-95%.
2. Tăng huyết áp có nguyên nhân (tăng huyết áp thứ phát, mắc phải): 5%-10%.
Điểm khác biệt là tăng huyết áp có nguyên nhân thì chữa triệt để được, ví dụ tăng huyết áp do hẹp động mạch thận thì sau khi nong động mạch hẹp, huyết áp bình thường trở lại, không phải uống thuốc lâu dài.

Những ai dễ bị tăng huyết áp?

Đó là người:
(1) Tuổi càng cao càng dễ bị tăng huyết áp: 3,3% ở độ 18-29 tuổi; 13,2% ở độ 30-39 tuổi; tăng dần đến 51% ở độ 60-74 tuổi; trung bình cứ tăng 10 tuổi thì tỷ lệ tăng huyết áp 5%.
(2) Nam giới hoặc phụ nữ sau mãn kinh.
(3) Có cha mẹ, anh chị em ruột bị tăng huyết áp.
(4) Uống rượu nhiều: ai uống hơn 60 g cồn mỗi ngày thì bị dễ tăng huyết áp gấp 1,5 lần người không uống.
(5) Béo phì.
(6) Người mắc một số bệnh nội khoa như rối loạn mỡ máu, đái tháo đường týp 2, hội chứng chuyển hoá.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tuanlong, Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy, zinzin04
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Bảy 18, 2010, 10:12:03 AM »

Chữa trị tăng huyết áp như thế nào?

Hai biện pháp: không dùng thuốc và dùng thuốc.

1. Biện pháp không dùng thuốc, gọi là thay đổi lối sống.

- Bỏ hoặc không hút thuốc lá:
- Ăn thanh tịnh: ăn lạt, ăn nhiều rau, ăn đủ lượng kali, ăn nhiều cá, ăn ít mỡ động vật.
 
Ăn nhiều rau quả có lợi cho sức khoẻ !

- Uống rượu bia ít và điều độ.
- Giữ cân nặng chuẩn.
- Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút, tuần 180 phút như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy, chơi bóng bàn.

Đi bộ nhanh là một phương pháp tốt.
.
-  Giữ bình thản.
Biện pháp thay đổi lối sống do người bệnh thực hiện.

2. Biện pháp dùng thuốc.

    Hiện nay có khoảng 300 loại thuốc chữa tăng huyết áp khác nhau và thầy thuốc sẽ căn cứ bệnh trạng cụ thể mà lựa chọn thuốc phù hợp nhất cho từng người. Mỗi viên thuốc có một số phận! Người bệnh không nên ỷ lại vào thuốc mà xem nhẹ hiệu quả thay đổi lối sống.
    Biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc đảm nhận, người bệnh tuyệt đối không tuỳ tiện điều chỉnh!
    Quyết định bắt đầu dùng thuốc khi huyết áp tối đa hoặc huyết áp tối thiểu >/=140/90mgHg
    Biện pháp không dùng thuốc là cách thức chữa trị đầu tiên, bổ trợ và song hành với cách chữa bằng thuốc.
Nơi chữa trị.
    Do tính chất mạn tính, tốt nhất người bệnh nên chữa trị tại nơi mình cư trú. Đợt cấp thời, người bệnh chữa trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa; sau đó tiếp tục chữa trị ngoại trú.

Lợi ích và thời gian chữa trị?

    Chữa trị làm giảm tối đa các biến chứng do tăng huyết áp, giảm chi phí và kéo dài tuổi thọ. Chữa trị càng sớm càng tốt!
Chữa trị tăng huyết áp là lâu dài.
    Không có khái niệm khỏi bệnh tăng huyết áp trừ phi những tăng huyết áp thứ phát như tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, nong được động mạch hẹp thì hết tăng huyết áp.

Liệu chữa khỏi tăng huyết áp không?

    Chỉ có khái niệm đã khống chế được tăng huyết áp vì đây là bệnh kéo dài trừ phi tăng huyết áp mắc phải thì chữa khỏi.
Khi nào huyết áp xuống tới mức an toàn?
    Khi con số tăng huyết áp < (đọc là nhỏ hơn) 140/90 mm Hg thì gọi là điều trị ổn, lúc này mối nguy hiểm đã giảm nhiều. Ngưỡng này cao thấp tuỳ bệnh kèm theo cụ thể, ví dụ đái tháo đường và bệnh thận giai đoạn cuối thì ngưỡng an toàn là <130/80 mm Hg.

Làm sao để chữa trị tăng huyết áp đạt mức tối ưu.

Kiên trì thay đổi lối sống và tuân thủ thầy thuốc!
    Hãy hỏi thầy thuốc khi có bất cứ thắc mắc và khó chịu nào về bệnh tật. Liên tục tìm hiểu về tăng huyết áp để việc chữa trị tốt hơn (qua thầy thuốc, phương tiện truyền thông: sách báo, tivi, đài). Người bệnh và thầy thuốc thân tình với nhau thì việc khống chế tăng huyết áp tốt hơn.

Luôn tuân thủ chỉ định của bác sĩ!

Nhưng sai lệch thường gặp trong khi chữa trị tăng huyết áp

1.  Không chữa trị.
2.  Tự chữa trị, Tự mua thuốc.
3. Chữa theo lời bày biểu.
4.  Dùng thuốc nam, thuốc không rõ nguồn gốc và tính xác thực.
5. Chữa trị không chuẩn mực:
6. Dùng đơn thuốc cũ.
7. Mượn và cho mượn đơn thuốc.
8. Ngưng thuốc khi cảm giác khoẻ hoặc cho rằng bệnh đã khỏi.
9. Tự dùng thuốc khi thấy: mệt, chóng mặt hoặc huyết áp "lên".

Hậu quả của những sai lệch này là:

1.       Người bệnh ngộ nhận là mình đang được chữa trị đúng cách.
2.       Tạo ra bệnh do thuốc như tai biến do thuốc
Hệ luỵ là tăng huyết áp ngày càng nặng nề, chết người, phí tổn và mất lòng tin ở tiến bộ y học tim mạch.

Phòng ngừa tăng huyết áp

Thực hiện lối sống khoẻ mạnh.
    Mỗi người, hàng năm hãy đi đo tăng huyết áp ít nhất một lần và nhớ con số tăng huyết áp của mình!
    Tóm lại, tăng huyết áp là bệnh lý rất phổ biến, tiến triển âm thầm và liên tục, rút ngắn tuổi thọ 10-20 năm, gây chết người. Việc chữa trị là lâu dài, hiệu quả, an toàn và tiết kiệm nhất.



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tuanlong, Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy, zinzin04
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Bảy 20, 2010, 09:09:00 AM »

Cân nặng chuẩn:



          Phương pháp thông dụng nhất đã trở thành chỉ số quốc tế để đánh giá béo phì, đó là dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index). Theo bảng phân loại dành cho cộng đồng các nước châu Á thì người Việt Nam chỉ nên có BMI từ 18,5 đến 22,9.

         Béo phì là trạng thái dư thừa cân nặng do cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ, khi béo quá mức thì gọi là béo phì. Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá thừa cân và béo phì như: Đo lớp mỡ dưới da, đo tỷ trọng cơ thể, dùng các chất phóng xạ hoặc loại cân đặc biệt để đo tỷ lệ phần trăm mỡ trong cơ thể... Trong các phương pháp này, tính BMI là được nhiều tác giả công nhận.

BMI = Cân nặng/(Chiều cao)²

Trong đó: cân nặng tính bằng kg, chiều cao tính bằng m.

          Năm 2000, Cơ quan khu vực Thái bình dương của Tổ chức Y tế Thế giới (WPRO) đã phối hợp với Viện nghiên cứu béo phì quốc tế (IDI) đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á.

          Bảng phân loại thừa cân, béo phì ở người lớn theo BMI của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và của IDI&WPRO cho các nước châu Á như sau:

   
Phân loại     WHO BMI (kg/m²)     IDI&WPRO BMI (kg/m²)     
Cân nặng thấp (gầy)     < 18,5     < 18,5     
Bình thường     18,5 - 24,9     18,5 - 22,9     
Thừa cân     25     23     
Tiền béo phì     25 - 29,9     23 - 24,9     
Béo phì độ I     30 - 34,9     25 - 29,9     
Béo phì độ II     35 - 39,9     30     
Béo phì độ III     40          
Gầy độ I     17 - 18,4     17 - 18,4     
Gầy độ II     16 - 16,9     16 - 16,9     
Gầy độ III     <16     <16     

          Như vậy, theo Bảng phân loại dành cho cộng đồng các nước châu Á thì người Việt Nam chúng ta chỉ nên có BMI từ 18,5-22,9. Thông thường đối với các bạn gái trẻ, chỉ số BMI lý tưởng nhất là từ 18,5-20. Còn đối với phụ nữ trung niên và người lớn tuổi thì chỉ số BMI lý tưởng là 20-22.

          Ngoài ra bạn có thể tính nhẩm nhanh cân nặng của mình bằng cách:

+ Mức cân nặng lý tưởng: Số lẻ chiều cao (tính bằng cm) nhân 9 chia cho 10.

+ Mức cân nặng tối đa: Bằng số lẻ chiều cao.

+ Mức cân nặng tối thiểu: Số lẻ của chiều cao (tính bằng cm) nhân 8 chia cho 10.

Ví dụ bạn cao 160cm (1,6m) thì cân nặng lý tưởng là: 60 x 9 : 10 = 54kg. Cân nặng tối đa cho phép là: 60kg. Cân nặng tối thiểu là 60 x 8 : 10 = 48kg.

          Như vậy nếu cân nặng của bạn vượt quá số lẻ chiều cao, tức là bạn đã bị thừa cân, vượt càng nhiều thì béo phì càng nặng, tuy nhiên cũng không nên để cân nặng ít hơn mức tối thiểu.

          Ngoài ra, việc đánh giá sự phân bố mỡ thừa trong cơ thể cũng rất quan trọng trong dự báo các nguy cơ bệnh lý về tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường...

- Nếu mỡ phân bố đều toàn thân: mặt, cổ, vai, ngực, bụng, mông, đùi thì gọi là béo phì toàn thân.

- Nếu mỡ tập trung nhiều ở vùng eo thắt lưng và bụng thì gọi là vóc người có dạng “hình quả trứng”, đây là kiểu béo phì “trung tâm”, béo phì “phần trên” hay béo kiểu “đàn ông”, kiểu béo phì này có nhiều nguy cơ bệnh tật.

- Nếu mỡ tích tụ nhiều ở vùng quanh mông, háng và đùi thì gọi là béo kiểu “quả lê” hay béo phì “phần thấp” kiểu “đàn bà”. Kiểu béo phì này ít gây nguy cơ bệnh tật hơn.

Người ta dùng chỉ số eo/mông hay Waist Hip Ratio (WHR) để đánh giá sự phân bố mỡ trong cơ thể:

WHR = Vòng eo (cm) / Vòng mông (cm).

Vòng eo: đo ngang rốn.

Vòng mông: đo ngang qua điểm phình to nhất của mông.

          Nếu WHR của nam giới lớn hơn 0,95 và của nữ lớn hơn 0,85 thì có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim.

          Như vậy việc thường xuyên theo dõi cân nặng sẽ giúp bạn biết được tình trạng sức khỏe của mình, vì béo quá và gầy quá đều không tốt cho sức khỏe. Để có sức khỏe tốt phòng ngừa các bệnh lý về tim mạch và tiểu đường, bạn cần luôn giữ cho mình có một cân nặng lý tưởng và thân hình cân đối.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Tsunami, byphuong, Ngoisaobiec, tuanlong, nhuocthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 20, 2010, 09:21:35 AM gửi bởi Duy Thuc » Logged
 
 
 
Tsunami
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 180

Cảm Ơn
-Gửi: 2121
-Nhận: 2058


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Bảy 20, 2010, 06:41:56 PM »

Con Tsunami kính cảm ơn chú. Bài viết có giá trị quá  applause

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, Ngoisaobiec, Duy Thuc, nhuocthuy
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Bảy 23, 2010, 07:32:06 AM »

Cám ơn các bạn nhiều. Thực sự đây chỉ là có định hướng một tý, vào internet tìm kiếm, sao chép, dán vào và chỉnh sửa đôi tý thôi mà big hug
Thân

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, nhuocthuy
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tám 08, 2010, 10:25:58 PM »

26% người trưởng thành Việt Nam bị mỡ trong máu cao

         Khoảng 26% người Việt Nam ở lứa tuổi 25-74 bị rối loạn lipid máu, tức mỡ trong máu cao. Ở hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM, tỉ lệ này lên đến 44%.

          PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng, cho biết về đề tài khoa học cấp nhà nước, lần đầu tiên điều tra về rối loạn lipid máu ở người trưởng thành Việt Nam vừa được Viện Dinh dưỡng hoàn tất.

          Theo TS Nguyễn Thị Lâm, rối loạn lipid máu liên quan nhiều đến bệnh tim mạch, có thể dẫn đến vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp... Nếu người bệnh không nhanh chóng điều chỉnh chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực nhằm điều chỉnh chỉ số lipid máu (tỉ lệ lý tưởng là xung quanh 5,2 mmol/lít).

          Bà Lâm cũng thông tin các điều tra về khẩu phần ăn người Việt những năm gần đây cho thấy bữa ăn của người Việt Nam có tỉ lệ chất béo khá cao, nhưng tỉ lệ rau xanh, trái cây, cá - những thức ăn tốt cho sức khỏe - lại chưa đảm bảo khuyến nghị (500gam rau xanh/người/ngày, trái cây theo nhu cầu).

          Người Việt Nam cũng có xu hướng ăn mặn và đây là thói quen liên quan đến tăng huyết áp.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/394351/26-nguoi-truong-thanh-Viet-Nam-bi-mo-trong-mau-cao.html

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, nhuocthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 09, 2010, 02:07:38 AM gửi bởi Duy Thuc » Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Tám 09, 2010, 02:06:59 AM »

   Rối loạn mỡ trong máu

          Rối loạn mỡ trong máu là bệnh lý có tăng thành phần mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ bảo vệ cho cơ thể. Mỡ trong máu hiện diện dưới 2 dạng chính là cholesterol và triglycerid.

          Thực tế cholesterol không phải là chất hoàn toàn gây hại cho cơ thể. Chúng ta không thể sống được nếu không có cholesterol. Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Ngoài ra gan còn dùng cholesterol để sản xuất ra acid mật giúp ta tiêu hóa thức ăn.

          Cholesterol và Triglycerid có 2 nguồn gốc:

               * Thứ nhất: từ thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng...chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể.

               * Thứ nhì: do gan tạo ra chiếm đến 80%. Gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ những chất khác như đường, đạm.

          Điều này lý giải tại sao nhiều người không ăn mỡ, trứng như những người ăn chay trường lâu năm hoặc những người ốm vẫn bị rối loạn mỡ trong máu. Họ bị rối loạn mỡ trong máu do việc rối loạn tạo cholesterol ở gan.

          Cholesterol và triglyceride được mang đi trong máu nhờ kết hợp với một chất có tên là lipoprotein. Lipoprotein là tập hợp những khối tạp gồm mỡ và đạm trong máu dùng cho việc chuyên tải cholesterol và triglycerides. Có nhiều loại lipoprotein:

                    +  loại có tỉ trong cao có thên là HDL (high density lipoproteine)
                    +  loại có tỉ trong thấp có tên là LDL (low density lipoproteine)
                    +  loại có tỉ trọng rất thấp có tên là VLDL (verylow density lipoproteine)

          LDL, HDL có chức năng vận chuyển cholesterol và VLDL có chức năng vận chuyển triglyceride trong máu.

          Cholesterol kết hợp với LDL được ký hiệu là LDL-c là dạng cholesterol gây hại cho cơ thể chúng vận chuyển cholesterol vào trong máu thấm vào thành mạch máu chúng có vai trò quan trọng trong quá trình hình mãng xơ mỡ động mạch.

          Cholesterol kết hợp với HDL được ký hiệu là HDL-c là một dạng cholesterol có lợi cho cơ thể chúng chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang cholesterol dư thừa ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan. Sự tăng triglyceride trong máu quá cao cũng góp phần thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch.

          Trong cơ thể luôn có sự cân bằng giữa 2 quá trình gây hại và bảo vệ. Cho nên khi ta dùng từ tăng cholesterol hay tăng mỡ trong máu để chỉ tình trạng này là không chính xác mà ta phải gọi là rối loạn mỡ trong máu có nghĩa là có tăng thành phần gây hại và giảm thành phần bảo vệ. Đôi khi không có tăng thành phần gây hại nhưng có giảm thành phần bảo vệ thì vẫn gọi là rối loạn mỡ trong máu.

          Như vậy khi muốn phát hiện sớm có bị rối loạn mỡ trong máu hay không ta cần làm những xét nghiệm gì ? Xét nghiệm đầy đủ để đánh giá tình trạng mỡ trong máu gồm 4 thành phần:

          * Cholesterol toàn phần
          * LDL-cholesterol viết tắt là LDL - c
          * HDL-cholesterol viết tắt là HDL - c
          * Triglycerid

          Trong bốn thành phần xét nghiệm có đến ba thành phần gây hại là cholesterol toàn phần, LDL - c và Triglyceride chỉ có một thành phần bảo vệ là HDL - c.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tuanlong, nhuocthuy, zinzin04
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Tám 22, 2010, 09:53:15 AM »

Tác hại của tình trạng rối loạn mỡ trong máu.

1. Giải phẫu vi thể thành động mạch gồm có 3 lớp:

          - Lớp ngoài cùng (tunica adventitia): bao gồm các mô liên kết.

          - Lớp giữa (tunica media): được tạo bởi những tế bào cơ trơn và mô đàn hồi.

          - Lớp trong (tunica intima): cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào nội mạc.

          -  Khoang rỗng bên trong trơn láng là nơi dòng máu chảy qua.

 

     

2. Xơ vữa động mạch

          Khi có sự rối loạn mỡ trong máu kéo dài thì trong động mạch sẽ có 2 tiến trình đồng thời xãy ra.

          - Mỡ trong máu, canxi thấm vào lớp giữa làm cho lớp giữa bị xơ hoá mất đi tính đàn hồi của tế bào cơ trơn và sợi đàn hồi, làm cho mạch máu bị xơ cứng: quá trình xơ hoá.

          - Mỡ, canxi và các thành phần khác trong máu tạo thành mãng bám trong lòng động mạch: quá trình tạo vữa


Xơ vữa động mạch

           Xơ vữa động mạch là bệnh tác động đến động mạch (cũng như tĩnh mạch nếu nó được phẫu thuật di chuyển đến nơi khác để làm chức năng của động mạch). Về mặt đại thể, nó có biểu hiện là thành mạch máu trở nên "xơ cứng" bởi các sang thương được gọi là mảng xơ vữa phát triển trong thành mạch. Mảng bám này được tạo ra bởi mỡ, cholesterol, canxi và những chất khác có trong máu.



Mạch máu bình thường và mạch máu bị hẹp do xơ vữa

          Theo thời gian, mảng bám sẽ cứng dần lên và làm hẹp động mạch  giảm lượng máu giàu oxy đến nuôi dưỡng các cơ quan và những bộ phận khác của cơ thể, nó cũng có thể vỡ ra và trôi theo dòng máu làm tổn thương các mô và cơ quan bên dưới dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề bao gồm: cao huyết áp, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc thậm chí có thể tử vong.


[url]http://www.youtube.com/watch?v=EQVEdFSlUGU[/url]

Video minh họa quá trình xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim

[url]http://www.youtube.com/watch?v=M_fo6ytlmD0[/url]

Video minh họa nhồi máu não

          Nhiều nghiên cứu về rối loạn mỡ trong máu trên thế giới cho thấy khi cholesterol toàn phần tăng cao hơn 240 mg% thì nguy cơ bị bệnh mạch vành tim tăng lên 2 đến 3 lần. LDL - c tăng cao thì tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.

          Triglyceride tăng cao nhất là ở bệnh nhân bị tiểu đường thì nguy cơ xơ mỡ động mạch cũng cao hơn và HDL - c giảm thấp cũng tăng các nguy cơ tai biến về mạch máu và xơ mỡ động mạch.

[url]http://www.youtube.com/watch?v=HlAV2qEHbHE[/url]

Video minh họa quá trình xơ vữa động mạch và nhồi máu não

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
zinzin04, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 22, 2010, 11:30:32 AM gửi bởi Duy Thuc » Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Tám 25, 2010, 12:36:02 PM »

Điều trị rối loạn mỡ trong máu

         Để điều trị rối loạn mỡ trong máu chúng ta có thể dùng 2 phương pháp điều trị không dùng thuốc và điều trị có dùng thuốc

          Điều trị không dùng thuốc có tác dụng như phòng ngừa rối loạn mỡ trong máu:

          Trong phần điều trị không dùng thuốc nếu thực hiện tốt có thể giảm được 15%-20% cholesterol toàn phần. Điều trị không dùng thuốc gồm ba phần cơ bản sau đây:

          1. Ngừng hút thuốc là, không uống quá nhiều rượu.

          2. Thay đổi thói quen ăn uống.

          3. Tập thể dục thể thao

          Ngừng thuốc lá là việc làm cần thiết quan trọng với bệnh nhân rối loạn mỡ trong máu, thuốc lá là yếu tố góp phần làm thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch và làm tăng cholesterol gây hại LDL. Uống rượu quá nhiều dễ bị tăng Triglyceride hơn.

          Trong chế độ ăn uống  cần lưu ý 3 vấn đề :

          1. Nếu bị béo phì hay dư cân nặng cần thiết phải giảm cân. Nên giảm ăn nhiều chất béo: gần như giới hạn ăn tất cả các loại chất béo như dầu, kem, mỡ, bơ... Chất béo ăn vào hàng ngày không quá 30% nhu cầu năng lượng của cơ thể.

          2. Giảm ăn mỡ bảo hòa: Mỡ bảo hòa có trong thành phần mỡ heo, bò, gà, bơ, phô-mai, crem, chocolate, dầu dừa, cũng cần lưu ý là shortening và margaring là những chất thường được sử dụng trong chế biến các loại kem làm bánh cũng làm tăng cholesterol trong máu.

          3. Giảm cholesterol trong bữa ăn hàng ngày: đừng ăn quá 300mg cholesterol mỗi ngày. Tránh ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như sữa toàn phần, Crem, trứng, phủ tạng động vật như gan, lưỡi, thận...

          Ngoài việc kiêng cử trong ăn uống thì việc tập thể dục thể thao sẽ góp phần tăng tác dụng của việc kiêng ăn. Bác sĩ điều trị sẽ đề nghị bà con hình thức tập thể dục chơi thể thao phù hơp với sức khỏe của từng người.

          Tập thể dục thể thao nhịp nhàng dưới các hình thức: đi bộ chạy bộ, đạp xe đạp... ở mức độ không gắng sức là phù hợp.

          Tập đủ thời gian và thường xuyên: đây là điều không dễ dàng, mỗi lần tập cố gắng đủ 30-45 phút ít nhất tập thường xuyên 3 lần trong 1 tuần

          Nếu bạn bị béo phì, dư cân nặng và không tập thể dục nhiều năm nay nên quyết tâm luyện tập, lúc đầu tập ít sau tăng dần cố gắng tập đều đặn. Lúc đầu có thể thấy mệt, buồn ngủ vào buổi sáng sau tập nhưng bạn sẽ quen dần và thấy khỏe hơn.

          Duy trì và phát triển vận động: cố gắng xây dựng thời khóa biểu tập thể dục thể thao. Coi đó như là một thú vui. Bà con có thể xây dựng nhóm cùng tham gia chương trình tập thể dục thể thao.

          Điều trị có dùng thuốc:

          Sau khi áp dụng chế độ điều trị không dùng thuốc trong 3 đến 6 tháng mà vẫn không cải thiện được tình trạng rối loạn mỡ trong máu đặc biệt là LDL - c còn cao thì bác sĩ sẽ cho dùng thêm thuốc hạ mỡ trong máu. Bà con nên dùng dưới sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ vì thuốc ngoài tác dụng hạ mỡ trong máu còn gây nhiều tác dụng phụ khác.

          Hiện nay có nhiều nhóm thuốc hạ mỡ trong máu: nhóm Fibrate, nhóm Statin, nhóm Resin, nhóm Niacin. Mỗi nhóm có tác dụng hạ mỡ theo những cơ chế khác nhau. Việc lựa chọn sử dụng loại nào phù hợp trong điều trị cho bệnh nhân sẽ do thầy thuốc chuyên khoa quyết định.

          Cần lưu ý là hầu hết các thuốc hạ lipid máu đều có tác dụng phụ nhất định cho cơ thể. Cho nên cô bác không nên tự dùng thuốc mà không có chỉ định và theo dõi của bác sĩ.

          Người mắc bệnh tiểu đường cần lưu ý bệnh tiểu đường (Đái tháo đường) là một bệnh thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hoá của cơ thể, cùng với nguyên nhân chính là do lượng đường trong máu cao hơn so với bình thường (bình thường lượng đường trong máu khoảng 3,9 – 6,4mmol/lít), bệnh thường kèm theo những rối loạn khác trong đó phải kể đến rối loạn chuyển hoá lipid máu mà chủ yếu là hàm lượng triglyceride tăng cao, làm cho tỉ lệ mắc các bệnh về tim mạch tăng gấp 4 lần, tỉ lệ mắc bệnh xơ vữa tăng lên gấp 10 lần so với người bình thường. Vì thế khi mắc bệnh tiểu đường nếu có kèm thêm tình trạng rối loạn chuyển hoá lipide máu thì nên điều trị một cách triệt để cả việc đưa lượng đường trong máu cố gắng trở về giới hạn bình thường, kiểm soát đường trong máu thật chặt chẽ

          Kế hoạch lâu dài

          Khi cơ thể đã xảy ra vấn đề rối loạn mỡ trong máu  nên có kế hoạch lâu dài. Nên thực hiện tốt việc điều trị không dùng thuốc. Việc dùng thuốc phải dưới sự kiểm soát của bác sĩ, vì các thuốc hầu hết đều có hại cho gan và gây nhiều tác dụng phụ khác. Điều quan trọng khác là hầu hết các thuốc này khá đắt tiền và thời gian điều trị có thể kéo dài trong nhiều năm. Thông thường sau khi điều trị ít nhất sau ba tháng chúng ta mới thấy được kết quả

          Rối loạn mỡ trong máu không  gây tác hại tức thời nhưng tác hại về lâu về dài của bệnh thì rất nguy hiểm và hầu như không điều trị được nên việc phòng ngừa và phát hiện sớm là rất quan trọng.



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, zinzin04
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Tám 31, 2010, 03:44:00 AM »

Giảm muối, giảm huyết áp
         

         Thói quen ăn mặn là một trong những nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp. Vì thế, phòng ngừa và điều trị cao huyết áp luôn phải đi kèm với chế độ ăn uống điều chỉnh ít muối.


        Ban đầu việc này có thể khó áp dụng, nhưng dần dần cơ thể bạn sẽ quen với mùi vị mới nhạt hơn. Vài lưu ý sau có thể giúp ích cho bạn khi muốn giảm muối trong các bữa ăn.

        Tránh thức ăn chế biến sẵn hoặc thức ăn đóng hộp

        Chỉ một phần nhỏ lượng muối chúng ta ăn vào là từ thức ăn do chúng ta tự chế biến, trong khi 80% lượng muối lại đến từ các loại thức ăn chế biến sẵn hoặc đóng hộp. Cách tốt nhất để giữ chế độ ăn ít muối là tự chế biến thức ăn. Khi đó, bạn có thể tùy ý không nêm thêm muối vào thức ăn, vì một số loại thực phẩm như bánh mì hoặc phô mai bản thân đã chứa nhiều muối. Nếu cần thiết phải sử dụng rau củ đóng hộp, bạn nên xả sơ với nước cho bớt muối.
 

        Chú ý đọc thành phần của thực phẩm

        Hầu hết phần giới thiệu thành phần của các loại thực phẩm làm sẵn hay đóng hộp thể hiện lượng muối trong một đơn vị đo lường nhất định, chứ không phải là trong một khẩu phần ăn. Ví dụ, trên nhãn các loại súp thường ghi thành phần muối cho một tách súp, chứ không phải cho một khẩu phần. Bạn cũng nên đọc nhãn của các loại gia cầm chưa được chế biến vì nhiều công ty đã tiêm muối vào gia cầm để bảo quản.

        Lưu ý rau củ đông lạnh

        Nếu bạn không thể sử dụng trái cây và rau củ tươi hãy cân nhắc việc thay thế bằng các loại rau củ đông lạnh. Rau củ đông lạnh có nước sốt và làm sẵn cho các bữa ăn thường chứa nhiều muối nhưng các loại đậu hay cà rốt thì không có muối.

        Bạn cũng cần cẩn thận với những quảng cáo thức ăn ít muối vì thường những quảng cáo này không đúng sự thật.

        Bớt ăn ở quán xá, nhà hàng

        Để chế biến thức ăn được đậm đà, món ăn ở các quán ăn, nhà hàng thường chứa một lượng muối khá nhiều. Nếu có thể, bạn hãy tự làm bữa trưa mang theo, vừa đảm bảo vệ sinh vừa điều chỉnh được lượng muối sử dụng.

        Đa dạng hóa việc nấu ăn với các loại gia vị và dược thảo

        Hãy thử thêm tỏi, chanh hay dầu ô-liu vào các món ăn để tăng hương vị. Hãy lên kế hoạch thử một loại rau củ hoặc trái cây mới mỗi tuần.

        Gia giảm dần lượng muối và khuyến khích cả nhà cùng tham gia

        Nếu bạn có thói quen ăn mặn, việc cắt giảm lượng muối đột ngột sẽ tạo cảm giác không ngon miệng. Trong khoảng một tuần đầu, bạn chỉ nên giảm phân nửa lượng muối, sau đó tiếp tục giảm dần cho đến mức cuối cùng khẩu vị bạn có thể chấp nhận được.

        Bạn cũng nên khuyến khích mọi người trong nhà cùng tham gia việc điều chỉnh lại chế độ ăn uống để tạo một bầu không khí vui vẻ và củng cố tinh thần cho người buộc phải giảm muối. Thêm vào đó, việc làm quen với chế độ ăn ít muối sẽ rất tốt cho sức khỏe của mọi người.
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.169 seconds với 25 câu truy vấn.