Tháng Mười Hai 08, 2021, 02:21:57 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 4
1  Á Đông Dưỡng Sinh Thuật / THỰC DƯỠNG - ẨM THỰC Á ĐÔNG / Re: Những Món Ăn Chay ... vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2011, 06:26:35 PM
Chết tôi ,fan ruột cuả cà tím .Chị Diệu 8 thật tinh ý .Chiiều này ra mart mua về làm ngay ,bụng lại réo ục vì thấy món ngon rồi .
2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GIỚI THIỆU NHỮNG BÀI VIẾT HAY TỪ 1 HÀNH GIẢ MẬT THƯÀ vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2011, 06:20:28 PM
( bài viết cuả tác giả Minh Hiển - source : internet )


16/7/2011
Mấy hôm nay, chẳng hiểu trong người có cái gì đó là lạ, khiến mình phải nghĩ lại về con đường. Nhiều khi tự thắc mắc, nhận Quán Đảnh nhiều quá để làm cái gì? Nhận Quán Đảnh để làm gì nếu không tu tập? Một quán đảnh có khi tu cả đời còn chưa chắc đã hoàn thành, đã thành tựu thì thọ nhiều quá có là một sự phí phạm hay không, có khi còn làm cho tính tham lam của bản thân mình mặc sức mà tràn lan. Cái quan trọng mà chúng ta quên, thường hay quên đó là mục tiêu chính yếu của thọ nhận quán đảnh, đó chính là tu tập. Lòng tham thôi thúc thọ nhận quá nhiều quán đảnh nhưng lại quên mất thứ chính yếu đó là tu tập. Có nhiều câu hỏi được đặt ra, chúng ta có thời gian cho 1 pháp tu hay không? Ít nhất là dành cho 1 pháp tu, bởi lẽ chúng ta còn sống trong thế gian, bận rộn nhiều thứ lo toan, nên kham nỗi 1 pháp tu đã là 1 sự may mắn. Đằng này, thọ quá nhiều như vậy nhưng chẳng kham nổi 1 pháp tu thì nên xem lại hành động, động cơ của bản thân. Chẳng biết các vị mà ta hay nhắc tới, các vị chạy long nhong, thọ cho nhiều quán đảnh, gặp cho nhiều Rinpoche, ... có nghĩ ra điều này hay không? Hay họ chỉ lo cái việc ngược chiều Nhân Quả đó là xin ban phước và xin thuốc của các Rinpoche. Quả thật, các Rinpoche ban phước thì sẽ có tác dụng đấy, thuốc của các Ngài là linh dược đấy, nhưng phải tự vấn lại xem cái Nghiệp của mình có nhẹ nhàng hay nặng nề để mà phước và thuốc của Rinpoche có thể tẩy trừ được chương ngại cho mình hay không? Nếu Nghiệp của mình là 1 tảng đá nặng nề thì e rằng chúng ta sẽ chìm 1 cách nhanh chóng vào lòng sông sâu. Tha lực, lực cứu độ bên ngoài tuy hiện hữu nhưng Nghiệp lực của mình vẫn là chính yếu. Đó mới là công bằng của vũ trụ. Thử hỏi kẻ ác gieo cho nhiều ác Nghiệp rồi đến thỉnh Rinpoche ban phước hay xin tí thuốc của các Ngài về uống rồi sẽ sạch trơn Nghiệp ác, bệnh tật, như vậy nó có công bình hay không. Lấy cái tâm niệm con người bình thường mà tự hỏi mình về vấn đề đó, đừng để lòng tham lung lạc mình. Khách quan mà ngẫm nghĩ lại xem, hành động của mình có lý hay không?

Quán đảnh cao cấp, ai cũng ham, nghe phát ham. Nhưng cái mà đáng lo lắng thì chẳng thấy ai hỏi tới. Có ai tìm hiểu kĩ lưỡng về các điều kiện để có quán đảnh cao cấp, phải giữ gìn nó như thế nào, những lỗi lầm nào có thể phạm phải, hậu quả ra sao? ... Không ai hỏi tới những điều này. Hễ nghe nói đó là quán đảnh cao cấp thì ùn ùn kéo tới, bất kể gia chủ có mời họ hay không. Họ vì quá tham lam nên chẳng cần mặc cả đến cái thứ gọi là sĩ diện, chẳng cần sĩ diện, chẳng cần tự trọng, chẳng cần gì hết ráo trọi, miễn là thọ được cái quán đảnh mang danh hiệu cao cấp là OK rồi. Mình thắc mắc thọ cái kiểu đó để làm gì? Để khoe khoan à? Hay để thi triễn thần thông? Hay để chiêu dụ thiên hạ? Cái quan trọng là họ vẫn chưa hiểu gì về cái quán đảnh mà họ ao ước được nhận vì chỉ nghe nó là cao cấp. Thật là tu hành một cách điên rồ! Tại sao các phái Tiểu Thừa hay cười cợt Mật Thừa cũng vì những hiện tượng xấu này. Những đám đông cuồng loạn, tham quán đảnh này chẳng bao giờ là hành giả mật tông thực thụ, họ chỉ là và mãi mãi là những kẻ cùng tử chạy rong, chỉ thích sưu tầm quán đảnh và chẳng bao giờ hiểu họ nhận để làm gì? Thái độ chạy ào vào nhà người ta và ngồi lỳ, ì cái mặt ra, có vẻ rất quyết tâm trụ ở lại cho dù gia chủ có đuổi họ ra ngoài thì họ cũng sẽ diễn vỡ kịch Chí Phèo ăn vạ mà ngồi lỳ chỗ đó mãi. Hay họ đang thi thố với chủ nhà, họ nghĩ rằng chủ nhà là người lịch sự nên không thể nào "đọ" lại cái thói bất lịch sự cùng tột của họ mà chịu thua, và để họ ngồi lại trong nhà. Mỗi khi nghĩ đến những con người này, tôi lại thấy tội nghiệp cho công sức của các Ban Tổ Chức các Pháp Hội, bởi lẽ, Pháp Hội nào cũng đông đúc và tốn kém nhiều tiền của nhưng phần lớn là những kẻ chạy rong sưu tầm Pháp này mà thôi, người thực thụ tìm kiếm Pháp Môn giải thoát thì có lẽ rất ít.

Những con người chạy rong sẽ chẳng có những ưu tư của tôi hôm nay, vì họ nào có biết gì về Samaya hay về những thứ khác có liên quan. Samaya kết nối vị Thầy với học trò, giữa các học trò với nhau trong đàn quán đảnh. Vì thế, cho nên các Rinpoche chân chính luôn yêu cầu học trò của mình phải tìm hiểu cho kĩ vị Thầy trước khi thọ Pháp. Vì nếu có hành động nào làm buồn lòng vị Thầy gốc của mình thì sẽ bị đứt giới nguyện Samaya. Bạn bè cùng đàn quán đảnh có làm gì buồn nhau cũng đứt giới nguyện Samaya. Cho nên, ngoài tìm hiểu vị Thầy ra, tôi nghĩ còn cần thiết để tìm hiểu những người bạn cùng đàn quán đảnh. Điều này tôi suy nghĩ đã lâu về trước. Khi thọ quán đảnh, kẻ này rũ người khác, người ban đầu thì tôi quen, nhưng bạn của họ thì tôi chịu thua. Tôi hoàn toàn mất kiểm soát về những người bạn qua trung gian nhiều người bạn, họ chung đàn quán đảnh với tôi, cũng có nghĩa là tự nhiên tôi phải kham chịu thêm vài chục đến vài trăm người mà tôi hoàn toàn chưa biết gì về họ ??? Nhiều khi chính cái lo lắng này mà tôi không dám thọ nhiều quán đảnh cao cấp. Ban đầu, cứ nói là quán đảnh cao cấp thì rất quan trọng, phải chọn lựa người có tu tập này nọ, nhưng cuối cùng thì ôi thôi, thượng vàng hạ cám, xàm xàm cám lợn, thứ nào cũng có. Nếu thọ xong mà họ đi xa xôi, cách chỗ tôi cho thật xa, để tôi chả có liên hệ gì với họ thì tôi cũng thấy nhẹ nhàng, vì lẽ có tiếp xúc là có đụng chạm, có đụng chạm là có nguy cơ làm buồn nhau, mà buồn nhau thì sẽ nguy hại tới Samaya. Còn chuyện đang xảy ra là những người thọ quán đảnh này chẳng có ai hiểu nhau nhiều nhưng lại cũng vẫn ở rất gần nhau, cho nên chuyện đụng chạm cứ thường xảy ra và chúng ta cứ lo lắng, lúc nào trên đầu cũng treo lơ lửng nỗi lo về cái Samaya tuy vô hình nhưng đáng sợ. Thế mà những kẻ chạy rong kia đã chưa đặt câu hỏi quan trọng về Thầy truyền quán đảnh nữa là, chứ nói chi tới cái chuyện họ quán xét xem các bạn đồng đàn thọ quán đảnh. Cái thái độ ham hố của họ khi không mời mà tới đã làm tôi thấy kì kì, đằng này họ càng làm tôi tội nghiệp cho họ khi họ quyết tâm làm mặt lỳ. Ôi thôi, chúng sanh vô minh quá sức! Mật tông có phải là chuyện chơi đâu mà họ cứ nhảy vào đùa giỡn thế này. Có lẽ họ chỉ nghe phong thanh rằng tu Mật Tông có nhiều quyền năng, mau thành Phật, đường tắt để thành Phật, trì chú để sai khiến quỷ thần, ... hay sao nên mới có những thái độ ham hố đến quá sức vô minh ngoài sức tưởng tượng của mình đến như vậy.

Có nhiều thứ vượt ngoài kiểm soát, có nhiều người được mời đến quán đảnh, kiểu người này que biết người kia rồi mời, chủ quan ý kiến của từng người. Tôi còn lạ gì những cái kiểu quan hệ bắt cầu này. Anh A hợp với anh B, anh B này có chơi với anh C, nhưng không có gì chắc chắn là anh A và anh C có thể hòa hợp với nhau. Việc này thì tôi có quá nhiều kinh nghiệm rồi, nên tập họp của những người cùng đàn quán đảnh lại khổ nỗi theo cái kiểu này. Trải qua nhiều quán đảnh rồi, lúc nào tôi cũng cứ lo lắng về cái Samaya. Nên thôi, có khi tôi sẽ không thọ quán đảnh nữa, hoặc là chờ khi nào tôi có dư sức để thắng được những mối quan hệ rối ren này, bỏ ngoài hết các thứ chi phối nhùng nhằng kiểu này để mà không còn sợ bị đứt Samaya nữa thì may ra mà tôi có cách tính khác.

Thực hành tu tập là quan trọng nhưng cũng cần phải xem xét đến hiểu biết về Giáo Lý. Nên phải biết chia thời lượng ra cho nhiều việc để mọi việc đều hoàn thành, đều cát tường.

Tôi từng nghĩ, cố gắng học giỏi anh ngữ và Tạng ngữ, để dành tiền để có dịp qua thẳng Nepal, thọ Pháp với các Rinpoche, rồi mạnh ai nấy về xứ, lo tu tập, tránh trường hợp các huynh đệ tỷ muội đồng đàn buồn phiền gì nhau, vì có ở gần nhau đâu thì lấy gì mà phiền với hà!

Lama thị giả nói rằng người ta cứ tưởng tu hành Mật Giáo dễ dàng, Lama nói thật không dễ dàng tí nào. Tiểu Thừa và Đại Thừa thì có lẽ dễ nhưng Mật Thừa thì không dễ như người ta tưởng đâu. Mỗi buổi trưa, ta ngồi nghe Lama vừa ăn vừa nói chuyện với Thầy, nghe và thu thập được kha khá thông tin bổ ích, nào là việc 2 nhóm của 2 vị Karmapa không hòa hợp với nhau, nào là việc các Rinpoche nào có liên quan đến chính trị, nào là các Rinpoche dòng Mũ Đỏ và nhất là các Rinpoche dòng Mindrolling thì chỉ thuần tu tập, chẳng liên quan gì đến chính trị, ... Một hôm, với khả năng ít ỏi của bản thân, nhân hôm nói chuyện về Hộ Pháp của Mũ Đỏthì ta nghe Lama kể về việc tu tập Mật Giáo. Lama nói nhiều người Ấn họ quan trọng Hộ Pháp của họ. Nhiều Phật tử cũng quan trọng Hộ Pháp, họ quên mất Đức Phật mà chỉ cần Hộ Pháp, chỉ cầu nguyện với Hộ Pháp. Lama nói rằng ông chỉ quan tâm duy nhất vào Đức Phật. D(ó là nơi đáng nương tựa. Và Hộ Pháp của Mũ Đỏ hầu hết đều là các vị Phật hóa thân. Cho nên, Pháp tu Hộ Pháp của Mũ Đỏ cũng là Pháp tu về Đức Phật nào đó. Nếu Hộ Pháp không là Phật và các hành giả chỉ nương dựa vào Hộ Pháp thì khi chết sẽ đi theo vị Hộ Pháp đó, và tất nhiên không biết đi đâu, chắc chắn là đi về cõi giới của Hộ Pháp đó.

Pháp tu phẫn nộ, Bổn Tôn là do Đức Phật hiện ra hình tướng phẫn nộ nhưng phát khởi từ lòng Từ Bi. Nếu hành giả tu tập pháp phẫn nộ mà không khởi tâm từ bi thì khi chết sẽ thành hình tướng phẫn nộ tương tự nhưng không phải là hòa nhập với bổn tôn mà lúc đó hành giả trở thành 1 loại ma quỷ hung tợn. Cho nên, việc tu tập các pháp phẫn nộ không đơn giản. Trước tiên, bao giờ các Rinpoche cũng yêu cầu mình tu Pháp nào phát triễn lòng từ bi cho thật nhiều. Trước khi đi vào pháp phẫn nộ bao giờ cũng là các Pháp hiền hòa.

Một câu chuyện về 1 lama, khi ông cúng Hỏa Tịnh về 1 Bổn Tôn phẫn nộ, ông ta dâng thức cúng vào lửa một cách mạnh bạo và thiếu tôn kính, hành động của ông chính xác là "quăng" vào lửa những thức cúng Hỏa Tịnh. Ông lặp lại nhiều lần như vậy. Tối hôm đó, ông chiêm bao thấy ông đang ngồi cúng Hỏa Tịnh như lúc sáng nhưng ông cắt đầu ông bỏ vào lửa cúng. Sáng hôm sau, ông hoảng hốt đem kể cho các lama khác nghe giấc mơ kinh hoàng của mình. Ông ta chết sau đó không lâu mặc dù ông ta còn khá trẻ. Thật là cẩn thận khi chưa tìm hiểu rõ ràng các Pháp Tu của Mật Tông, cho nên lời khuyên là nếu ai muốn trì chú thì hãy bắt đầu bằng những Thần Chú nhẹ nhàng và đầy từ bi như: Om Mani Padme Hum hay Om Ah Hung Benza Guru Pema Siddhi Hung hay Om Tare Tuttare Ture Soha ...

Rinpoche Minling Khenchen Sư Phụ dạy rằng nên tu tập step by step. Ngài dạy rằng đừng nhảy giai đoạn, nên từ từ mà tu. Phải có căn bản, nền tảng trước khi nghĩ đến các bước tiến xa hơn. Cất nhà cũng phải quan trọng cái nền nhà cho vững rồi mới cất lên cao bao nhiêu tầng cũng được. Ngài còn dạy rằng mọi người nên phấn đấu là một người tốt, một người tốt thật sự chứ không nói là người bình thường. Người bình thường thì chưa đạt, phải là một người tốt thật sự. Và hãy là một hành giả tu hành giỏi, nhưng cũng phải là một con người của đời trọn vẹn tốt các phận sự, sống ở đời tốt đẹp, tròn nghĩa vụ với gia đình, có ích cho chúng sanh, trong tu tập thì là hành giả tu hành tinh tấn, nghiêm túc. Đời đạo sóng đôi đều hoàn thiện. Đừng tách rời việc tu tập của một hành giả với việc là một thành viên tốt, có trách nhiệm trong 1 đoàn thể, tố chức. Bởi vì, chúng ta còn là người tại gia, và trong thời đại này cần rất nhiều nỗ lực cho đời sống nên lời khuyên của Sư Phụ vô cùng thiết thực.

Sư Phụ còn dạy rằng mỗi người có hoàn cảnh riêng, có tâm tính riêng, cho nên đừng đặt nặng sự cầu toàn, sự yêu cầu hoàn hảo, bởi vì rất khó mà đạt được. Càng cầu toàn thì càng đau khổ khi vấp phải quá nhiều sự thật đau lòng hiển hiện một cách tự nhiên bởi vì chúng vốn là như thế, chỉ vì tâm mình muốn tìm cái thứ gì đó cao xa mà thôi. Ngài yêu cầu chúng ta trung dung, giữ tâm trung đạo, đừng thiên về thái cực nào.

Chắc tới lúc bản thân phải "đóng cửa" lại để lo các thứ về bản thân, tất nhiên là có tu tập ở trong đó. Bao nhiêu năm nay bỏ thời gian vào nhiều thứ chưa thật sự mang đến an lạc, phải dùng thời gian ít ỏi còn lại vào những thứ gì thiết yếu hơn.
 
Con vô vàng tri ân và tôn kính đến Guru Khenchen Rinpoche !!!
3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / GIỚI THIỆU NHỮNG BÀI VIẾT HAY TỪ 1 HÀNH GIẢ MẬT THƯÀ vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2011, 05:56:31 PM
Trucmai rất thường lang thang tìm tòi trên net và tình cờ đọc được khá nhiều bài viết rất hay của kim hữu Minh Hiển ,dù chỉ biết qua cái tên nhưng kì thực Trucmai thực sự nể phục khả năng viết lách và lí luận trầm tĩnh ,nhạy bén ,sắc sảo và rất tinh tế từ vị này .Xin cho 1 lần cảm niệm công đức bạn đã chia sẻ những góp nhặt trí tuệ cho các hành giả Mật tông mở mắt ra trên bước đường tu tập và tích lũy thiện hạnh .Sau đây lần lượt spam lại các bài viết cuả bạn để diễn đàn thêm tài liệu nghiên cứu phong phú .


Đây là 9 điều mà rất lâu về trước vô tình mình thấy ghi trên 1 tờ giấy ép vào dưới tấm kính bàn ở nhà Đại Sư Huynh Nguyễn Văn Đông, giảng viên trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM.

Hôm nay, nhân dịp kiến bò vào chồng sách, nó chạy lung tung nên phải cực khổ mà sắp xếp lại và phát hiện ra nhiều giấy tờ, sách vở hay nằm khuất ở bên trong, vì bị các chồng cao to bên ngoài che mất tầm nhìn.

Chín Điều Ghi Nhớ:

1.   Nói những lời không thật chỉ có hại cho mình mà thôi.

2.   Chuyện thị phi của người khác, mình biết càng ít càng tốt.

3.   Người tài giỏi là người luôn khiêm tốn, càng tài giỏi thì càng khiêm tốn.

4.   Đừng kỳ vọng gì cả thì sẽ không bị phiền phức. Chúng ta chỉ kỳ vọng sự khai ngộ mà thôi.

5.   Chỉ cần buông bỏ tự ngã thì chúng ta trở nên vĩ đại. Nếu nghĩ mình vĩ đại thì chúng ta chẳng có gì là vĩ đại cả.

6.   Chúng ta nợ thế gian này rất nhiều nên mỗi khi cho ai đó một ít thì chỉ là để trả nợ chứ không phải là bố thí.

7.   Nếu chúng ta tham lam tài sản của người khác, cũng giống như chúng ta gánh lấy Nghiệp Chướng của họ.

8.   Bất kể chúng ta làm việc gì, dù đúng hay sai, nếu chúng ta làm không đúng chỗ hoặc không đúng lúc thì cũng đều vô ích.

9.   Đừng trách người về bất cứ điều gì, tất cả đều do chính mình tạo ra.
4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2011, 05:39:22 PM
Một bài viết giới thiệu về Kim Cang Thừa
Tác giả Nguyễn Thế Ðăng



Thứ tư, 10 Tháng 3 2010 22:52


1- Ðôi nét về ý nghĩa và lịch sử của Kim cương thừa

Kim cương thừa (Vajrayana), còn gọi là Mật thừa, cũng như mọi tông phái khác của Phật giáo, đều nhắm đến mục đích đạt đến trọn vẹn Phật tánh để thành Phật. Có thể nói rằng, tông phái nào không nhắm đến mục đích giải thoát, đạt đến Phật tánh, thì tông phái ấy không phải là Phật giáo đích thực.

Ngay trong tên gọi đã nói lên điều đó: Kim cương thừa, là con đường để đạt đến trí tuệ kim cương, Phật tánh như kim cương bất hoại, không ô nhiễm bởi phiền não sinh tử. Phật tánh ấy bản chất là sáng (như Phật A Di Ðà có nghĩa là Vô lượng quang), nên trong Kim cương thừa, tánh sáng đó được gọi tên là Tịnh quang (Clear light). Phật tánh ấy thể hiện trong ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, cho nên mục đích của Kim cương thừa là đạt đến ba thân ấy. Một ý nghĩa nữa là: Kim cương là sự kết hợp không thể phân chia của trí tuệ, tánh Không và Ðại bi.

Kim cương thừa còn gọi là Tantrayana. Tulku Pema Wangyal giải thích chữ Tantra như sau: "Kim cương thừa gồm các giáo pháp được biết dưới tên Tantra. Phần đông chúng ta đã quen với từ Phạn này: tan có nghĩa là một dòng, tra là cái giải thoát cho. Giải thoát cho dòng gì? Dòng tâm thức. Tantra là cái giải thoát cho dòng tâm thức bị nhiễm ô của chúng ta một cách rất nhanh chóng".

Theo sự giải thích của Tsongkapa thì Tantra có nghĩa là Phật tánh thể hiện trong ba phần nhân, hạnh, quả. "Nghĩa của tantra là tương tục, không đứt đoạn, có 3 phần: "căn bản" tức là Phật tánh, Như Lai tạng tánh; "con đường" là 4 kỹ thuật tiếp thông và chứng nghiệm nhờ vào hai giai đoạn phát triển và thành tựu; và tính Bất hoại tức là Vô trụ xứ Niết bàn (PhậtVajradhara: Kim Cương Trì), khuôn mẫu của Nhất như, hay là tương tục như là Quả" (The life and teaching of Naropa - Hebert V.Guenther).

Kim cương thừa còn gọi là Mật chú thừa (Mantrayana). Mật chú (mantra) có nghĩa là cái hộ trì, bảo vệ tâm để tiến đến giải thoát.

Mục đích của Kim cương thừa là đạt đến cái tri kiến của Phật: tất cả âm thanh đều là chân ngôn (tức là pháp âm Phật), tất cả hiện tượng đều là Niết bàn, tất cả chúng sanh đều là Phật. Ðó cũng là mục đích của Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông...

Trong lịch sử, Kim cương thừa xuất hiện gần như cùng lúc với Ðại thừa, là sự thực hành để thành tựu của Ðại thừa, như Thiền tông Trung Hoa là sự thực hành để thành tựu của Ðại thừa. Nagarjuna (Long Thọ, khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt) là luận sư vĩ đại số một làm hưng khởi Ðại thừa, cũng là một vị Tổ của Kim cương thừa. Ngài đã viết những giảng luận về Kim cương thừa, điều đó cho chúng ta thấy hầu như Ðại thừa và Kim cương thừa có cùng một lúc. Phái chính thống Prasangika Madhyamika của ngài Long Thọ là cột trụ cho mọi quan điểm về tánh Không của 4 phái Phật giáo Tây Tạng.

Cả hai trường phái Trung quán và Duy thức đều đóng góp rất nhiều vào việc phát triển Kim cương thừa. Cụ thể với Trung quán là tánh Không và với Duy thức là sự nghiên cứu những biến hiện của tâm thức, trở thành một lý thuyết cho sự quán tưởng và tương ưng (Du già) của Kim cương thừa.

Phát xuất từ Ấn Ðộ, Kim cương thừa được những đại sư nổi tiếng ở Nalanda như Shantirashita và Padmasambhava... truyền vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 8. Hầu hết kinh điển Phạn ngữ đã được dịch, và qua sự truyền trực tiếp, bởi thế Phật giáo Tây Tạng rất gần gũi với Phật giáo Ấn Ðộ vào thời kỳ Ðại thừa và Kim cương thừa ở Ấn Ðộ.

2- Ðường lối của Kim cương thừa

Kim cương thừa là sự tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, tâm để trở thành thân, khẩu, tâm của một vị Phật. Khi ba sự tịnh hóa ấy thành tựu, gọi là ba nghiệp tương ưng, tức là ba nghiệp tương ưng trọn vẹn với Phật tánh. Thân trở thành Hóa thân, khẩu trở thành Báo thân và tâm trở thành Pháp thân của Phật. "Mật thừa có 4 đặc tính: thứ nhất là pháp Du già tịnh hóa triệt để môi trường chung quanh; thứ hai là pháp Du già tịnh hóa triệt để thân xác; thứ ba là tịnh hóa triệt để mọi cảm thọ; thứ tư là pháp Du già tịnh hóa triệt để mọi hành vi. Bất cứ giáo lý nào chứa đựng bốn sự tịnh hóa ấy đều là Mật thừa" (Geshe Kelsang Gyatso).

Ðức Ðạt lai Lạt ma thứ 13 nói: "Ðối với những ai chưa thỏa mãn các pháp thực hành Hiển thừa, thì có 4 loại tantra: krya, charya, yoga và yoga tantra tối thượng. Tinh túy của bốn loại này là yoga tantra tối thượng hay là "phần tantra tối cao"; qua nó, sự giác ngộ viên mãn về Phật tánh rốt ráo có thể được hoàn thành chỉ trong một đời này. Ðể hoàn thành Phật tánh tròn đủ, người ta cần một con đường kết hợp cả hai mặt: phương tiện (năng lực) và trí tuệ (quán chiếu). Ðiều này tạo ra trạng thái đại hòa hợp của thân và tâm đã được tịnh hóa, đây là sự đạt đạo tối hậu. Trong các tantra tối thượng, "phương tiện" ám chỉ các yoga thân huyễn (illusory body) và "trí tuệ" để chỉ các yoga tịnh quang (clear light) (The practice of Kalachakra).

Sự tịnh hóa, thăng hoa, tương ưng ấy được thực hiện qua nhiều phương tiện, phương pháp, kỹ thuật.

* Thần chú (mantra): Bình thường, câu nói nào của chúng ta cũng tạo thành một tâm tương ứng. Như nói, tôi thương A lắm, tôi ghét B lắm. Lập tức, câu nói ấy tạo thành một trạng thái tâm thương và tâm ghét nơi ta. Thần chú cũng ảnh hưởng đến chúng ta theo cách ấy. Thần chú là những âm thanh, những tần số mà vũ trụ này tạo thành bằng những tần số rung động. Năng lượng là những rung động ở tần số rất cao. Vật chất là những rung động ở tần số cấp thấp. Khi khoa học nói: vật chất là năng lượng cô đặc, có nghĩa là tùy theo mức độ rung động mà có những thế giới từ thô đến tế. Vì thần chú là những rung động, nên nó có thể làm cho chúng ta tương ưng với những rung động vi tế, những năng lượng vi tế, những thế giới vi tế. Thần chú là những âm thanh do chư Phật, Bồ tát nói ra khi đang ở trong tam muội, trong cảnh giới tự chứng, trong tâm giác ngộ của các Ngài; nên khi trì chú, chúng ta cũng có thể tương ưng với tam muội ấy, cảnh giới ấy, tâm ấy của chư vị. Thần chú là cây cầu âm thanh bắc từ tâm thức thấp trược của chúng ta đến tâm cao sáng của chư vị giải thoát. Ngôn ngữ lại có tính cách thông tin, truyền đạt, khai mở, duy trì; thần chú cũng có tính cách thông tin, truyền đạt, khai mở, duy trì tâm giác ngộ như thế. Một ví dụ là muốn khai mở tình thương ở nơi ta bằng cách tiếp thông với tâm từ bi của Quán Thế Âm Bồ tát, chúng ta có thể trì chú Lục tự đại minh hoặc Ðại Bi của Ngài.

* Ấn (mudra): Kim cương thừa quan niệm thân tâm ta là một tiểu vũ trụ tương tự với đại vũ trụ bên ngoài. Như kinh nói: "Trong thân thể này có sự sinh thành thế giới, sự duy trì thế giới và sự hoại diệt của thế giới", sự tương quan mật thiết của thân tâm ta và thế giới là như vậy.

Ấn là những cách thế, xếp đặt thân thể (nhất là 5 ngón tay tượng trưng cho 5 đại) để có được một sự điều hòa đem lại một trạng thái tâm thức nào đó. Các hóa thần ôm ấp nhau thường thấy ở các hình ảnh Kim cương thừa cũng là một loại ấn (karma mudra). Ở đây chẳng có gì là dục tính. Sự ôm ấp âm dương ấy là sự kết hợp của phương tiện "dương" và trí tuệ "âm", sự kết hợp của Ðại lạc "dương" và tánh Không "âm". Sự kết hợp khách quan ấy còn phản ánh vào trong chính thân tâm của con người: khi quán tưởng các hình ảnh kết hợp âm dương ấy, những năng lực âm dương, bên tả và bên hữu trong thân thể sẽ kết hợp với nhau, tạo thành một sự bùng nổ năng lực rất cao.

* Mạn đà la (mandala): là một hình vẽ biểu thị vũ trụ, vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Theo Duy thức, vũ trụ chính là sự biến hiện của tâm ta, cho nên mạn đà la vừa biểu thị vũ trụ, vừa biểu thị tâm ta. Quán tưởng mạn đà la là quán tưởng vũ trụ, đồng thời quán tưởng tâm mình. Sự quán tưởng đó dựa trên tánh Không, nên vũ trụ vốn Không mà tâm ta cũng vốn không. Ở đây, chúng ta thấy Thiền tông cũng diễn tả về tâm và vũ trụ tương tự như vậy; tâm mở ra thì đầy khắp pháp giới, quy về thì nhỏ thành một điểm không thể thấy. Quán tưởng mạn đà la cũng bắt đầu từ một điểm trung tâm; từ đó nới rộng ra đến ngoại biên. Quán tưởng Kim cương thừa thường bắt đầu từ một chủng tử (bija) ở trung tâm lực trái tim, phóng ánh sáng đến tất cả chúng sanh và chư Phật trong mười phương thế giới, rồi ánh sáng và thế giới đó lại thu về trong chủng tử tự; sau cùng, cả chủng tử tự này cũng tan biến vào tánh Không bổn nhiên.

Mạn đà la là một đồ hình vũ trụ thu nhỏ. Theo lý thuyết cắt phần đồ hình khoa học hiện nay, nếu cắt một phần của tấm ảnh, một phần đồ hình biểu lộ toàn thể tấm ảnh. Mạn đà la là hình ảnh thu nhỏ của vũ-trụ-trong-bản-chất-giác-ngộ-của-nó, nên năng lực của vũ-trụ-trong-bản-chất-giác-ngộ đó cũng biểu hiện nơi mạn đà la. Cũng như một tượng Phật, tuy không phải là chính Ðức Phật, nhưng nó cũng mang một năng lực nào đó của giác ngộ. Bởi thế, trong những lễ quán đảnh, đệ tử nhập môn được đưa vào chiêm ngưỡng mạn đà la, để tiếp xúc với năng lực giác ngộ. Mạn đà la Kalachakra được đặt vĩnh viễn ở Bảo tàng New York, theo cảm tưởng của khách đến tham quan, cho một cảm giác an bình kỳ lạ (The wheel of time).

* Hóa thần (yidam, tiếng Anh: deity): Nói là thần theo lối nói bình dân, thật ra hóa thần là hóa thân của một vị Phật trong Kim cương thừa. Ví dụ Ðức Quán Thế Âm có nhiều hóa thân: Tara, Quán Âm 11 mặt... Kinh nói đến 32 tướng thân (Hóa thân) của Quán Thế Âm. Như thế, khi quán tưởng hóa thần tức là quán tưởng Hóa thân của một vị Phật. Cũng như nhìn thấy hình tướng của người nào, ta cảm thông với tâm người đó; nghe tiếng nói ai đó bên kia vách, ta cảm nhận được phần nào tâm người đó; khi quán tưởng hóa thần, chúng ta cũng tương ưng với tâm giải thoát của chư Phật. Khi trì thần chú, tức âm thanh của vị ấy, ta tiến gần đến "khẩu", "ngữ" của bậc giải thoát ấy. Những hóa thần có loại hiền lành, có loại dữ tợn để đối trị với tâm bệnh của hành giả.

Qua vài điểm trên với lời giải thích sơ sài, chúng ta thấy Kim cương thừa là sự thực hành của Ðại thừa với nhiều phương tiện, nhưng mục đích đều là đạt đến thực tại rốt ráo như Ðại thừa. Có điều Kim cương thừa nhấn mạnh đến năng lực, như khi Thiền tông biểu thị thực tại rốt ráo - tức là tánh Không - thì vẽ một vòng tròn trắng. Kim cương thừa cũng đồng ý với vòng tròn trắng đó, nhưng với Kim cương thừa thì vòng tròn trắng Không ấy chứa đầy năng lực. Chú ý đến phương diện năng lực của thực tại là một điểm rất đặc thù của Kim cương thừa. Vũ trụ là năng lực, như thế giới Hoa Nghiêm là sự giao thoa trùng trùng của ánh sáng và năng lực, như năng lực vũ trụ được gọi là Phật lực trong phẩm Như Lai thần lực của kinh Pháp Hoa. Bởi thế, những phương tiện thiện xảo của Kim cương thừa phần nhiều chú trọng đến năng lực, nhưng trong một hình thức cụ thể, do đó dễ thực hành và có nhiều hiệu quả.

3- Những đặc điểm của Kim cương thừa

Trong lời giới thiệu cuốn The practice of Kalachakra, Ðức Ðạt lai Lạt ma viết: "Tu hành tantra mạnh mẽ hơn sự tu hành tổng quát của kinh điển, vì một số lý do. Một trong số đó là tantra bao gồm cả hai yếu tố "phương tiện" và "trí tuệ". Trong con đường kinh điển, người ta thiền định về tánh Không, hay là tính cách và tự tánh của các hiện tượng trong ước nguyện đạt đến giác ngộ vì động lực đại bi. Thiền định về tánh Không là yếu tố trí tuệ, còn nguyện vọng Bồ tát là phương tiện. Tuy nhiên, trong con đường Kinh thừa này, hai yếu tố ấy không thể thực hiện đồng thời trong một tâm niệm bởi một hành giả ở mức độ bình thường. Trong con đường Mật thừa (Tantra), người ta quán tưởng mạn đà la và các hóa thần bổn tôn, và rồi tập trung vào tánh Không của chúng. Theo con đường này, phương tiện và trí tuệ sanh khởi đồng thời trong một tâm.

Trong Phật tánh, phương tiện và trí tuệ, thân và tâm, là một vị. Con đường tantra dùng động lực này ngay từ khởi điểm, và như thế làm phát sinh giác ngộ rất nhanh chóng. Tính cách đặc biệt của con đường tantra là nó đem một phương diện quan trọng của kết quả do thực hành - tính toàn diện của Phật tánh - vào trong cơ cấu của sự tu hành ngay lúc khởi đầu. Thiền định được tiến hành với trí tuệ soi thấu tánh Không, và chính cái tâm thức tập trung vào tánh Không này được phát sinh trong hình tướng của các hóa thần thủ hộ của mạn đà la. Ðây là đặc trưng của tất cả bốn loại tantra. Trong yoga tantra tối cao, nguyên lý này được vận dụng hơn nữa, hành giả sử dụng những mức độ vi tế nhất của những năng lực thân thể và của tâm thức, những mức độ mà người không tu hành không thể thâm nhập.

Ở đây, tịnh quang được dùng như nguyên nhân chất thể đặc biệt của Pháp thân Phật. Qua việc đem tịnh quang vào con đường tu hành, giác ngộ tức thời trở nên có thể. Kỹ thuật tối tinh tế này chỉ được tìm thấy trong yoga tantra tối cao".

Kim cương thừa sử dụng tất cả những gì mà con người có thể có được trong thân tâm mình để tiến bộ trên đường giải thoát. Bởi thế, có một câu nói nổi tiếng rằng: "Con người đã ngã té trên đất, hắn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy". Sự nhấn mạnh vào phương tiện, phương pháp, kỹ thuật là một đặc điểm của Kim cương thừa.

Những phương tiện đó với người không theo Kim cương thừa đôi khi có vẻ kỳ lạ, ví như quán tưởng mình là một vị hóa thần (deity) và thế giới chung quanh là một mạn đà la của hóa thần ấy. Thật ra, sự quán tưởng ấy có tác dụng rất mạnh để phá chấp ngã và chấp pháp: không có ngã, không có pháp là cốt tủy của Ðại thừa. Khi quán tưởng tự thân là hóa thần, có được sự kiêu hãnh kim cương (vajra pride), cái ngã sẽ tan biến vào chính tánh Không của hóa thần; và khi thấy thế giới bên ngoài là một mạn đà la, sự phân biệt ta-người, xấu-tốt, dơ-sạch, tăng-giảm... sẽ biến mất. Ðây là sự phá hủy các hình tướng thế tục, sự xuất hiện của thế gian do vọng tưởng kết thành - là những thứ mà kinh Kim Cương gọi là "phi tướng" trong câu kinh: "Kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai". Và vì là quán tưởng cho nên cả hóa-thần-ta và mạn-đà-la-thế-giới đều là tánh Không, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển... Dĩ nhiên, đây chỉ là một công dụng của việc quán tưởng hóa thần và mạn đà la, còn nhiều công dụng không thể nói hết đối với con đường Phật pháp. Và vì nhiều công dụng không thể nói trọn, nên Kim cương thừa được gọi là Mật.

Một phương tiện khác là nguyên lý tâm-khí bất nhị. Theo quan niệm này, một loại tâm bao giờ cũng cưỡi trên một loại khí nào đó. Tâm sân thì cưỡi trên khí sân. Khí là thân vi tế của tâm. Không có khí, tâm sẽ không có hình tướng, sẽ không hiện hành. Khi trong ta không có khí sân, tâm sân sẽ không có chỗ hiện hữu; dầu có muốn tưởng đến sân, nó cũng không hiện hành. Bởi thế, khác với các tông khác nhằm tịnh hóa tâm thức, Kim cương thừa còn nhằm đến sự tịnh hóa cái khí (winds). Một trong những công dụng của thần chú là: vì thần chú là một rung động đặc biệt và vi tế, nên nó là một phương tiện để tịnh hóa cái khí này, tịnh hóa khí cũng là tịnh hóa nghiệp, vì chủng tử nghiệp có "nhà ở" trong khí. Khí được tịnh hóa thì tâm cũng được tịnh hóa. Khí được tịnh hóa cùng cực thì tâm giải thoát. Khí là thân thể vi tế của chúng ta. Khí cùng với những hạt (drops) vi tế trong thân và hệ thống kinh mạch (channels) tạo thành thân thể vi tế (như có thân của giấc mộng, thân sau khi chết - thân trung ấm...). Thân vi tế này được tịnh hóa thì gọi là thân kim cương. Ở những chỗ kinh mạch đan nhau, thắt gút với nhau trên đường kinh mạch trung ương (central channel), gọi là các trung tâm lực hay luân xa (chakra). Cũng chính trong khí này và trong những luân xa mà nghiệp trú ngụ, gọi là khí nghiệp (karam winds). Tịnh hóa thân trong Kim cương thừa chính là tịnh hóa khí nghiệp này để xóa tan những ngăn che với ánh sáng của tánh Giác.

Thân thể vi tế bằng khí đó khi được tịnh hóa cùng cực sẽ thành thân huyễn (illusory body), thân trống không (empty body), thân kim cương và cuối cùng là Sắc thân (Rupa-kaya) hay Hóa thân của một vị Phật. Trong Kim cương thừa, khí là phương tiện ám chỉ illusory body, đây là cái mà các father tantra (như Guhyasamaja, Yamantaka...) thiên về. Còn tâm là "trí tuệ" ám chỉ clear light, đây là cái mà các mother tantra (như Kalachakra, Heruba...) thiên về. Trong các tantra tối cao, chính cái thân cùng cực vi tế và trong sạch này (illusory body) sẽ kết hợp với tâm tịnh quang để tựu thành giác ngộ; lúc ấy, thân này là Hóa thân của một vị Phật và tâm tịnh quang là Pháp thân. Danh từ chuyên môn gọi điều này là sự kết hợp không còn học hỏi nữa. Với Kim cương thừa, sự việc đó được diễn tả trong các hình vẽ bằng một vị hóa thần ôm người nữ của mình, tức là thân vi tế cùng cực sạch hết nghiệp kết hợp với tâm vi tế cùng cực, thân kim cương kết hợp với ánh sáng trí tuệ kim cương, xóa tan mọi che chướng đạt đến toàn giác.

Một trong những phân biệt khác của Kim cương thừa và Kinh thừa là theo quan niệm của Kim cương thừa, Kinh thừa là thừa nhân (cause vehicle) và Kim cương thừa là thừa quả (effect vehicle). Gọi Ðại thừa hiển giáo là thừa Nhân, vì sự tu hành của nó y cứ trên những nhân là sáu Ba la mật, hai thứ tích tập phước đức và trí tuệ... trải qua nhiều đời để thành tựu quả là Phật. Còn Kim cương thừa là thừa Quả, nghĩa là Kim cương thừa đặt nền tảng tu hành trên chính cái quả là Phật tánh vốn có nơi mỗi hành giả ngay tự bước khởi đầu. Thay vì con người là một vị Phật sẽ thành, thì ở đây người ấy vốn có Phật tánh, vốn tự là Phật; sự tu hành, tiến bộ chỉ là sự hiển lộ của Phật tánh sẵn có thôi. Sống ở trên Quả có nghĩa là một hành giả Kim cương thừa phải thấy thế giới này như thế giới của một vị Phật đã chứng, một Tịnh độ của Phật, phải thấy mình là một Hóa thân Phật, ăn uống, ngủ nghỉ đều là sự sinh hoạt của một vị Phật trong cảnh giới tự chứng của mình. Nói theo ngài Tangtong Gyalso (thế kỷ 14) khi dạy về pháp Quán Thế Âm: "Hành giả quán thấy toàn thể ngoại cảnh đều được quang minh chiếu soi. Tất cả những sự vật bình thường đều trở thành những vật phẩm trang nghiêm của cõi Tịnh độ Cực lạc, tất cả chúng sanh đều thành tựu viên mãn, thân họ là thân Quán Thế Âm, bất cứ họ nói gì đều là Lục tự chân ngôn, bất cứ họ nghĩ gì đều là hoạt dụng tự phát của tâm giác ngộ. Hiển nhiên, bản thân hành giả cũng được chuyển hóa như vậy. Nói một cách dễ hiểu hơn, tất cả những hiện tượng trong vũ trụ đều chuyển hóa thành những hình thái mà lẽ ra chỉ có thể có được nơi cảnh giới của một vị Phật giác ngộ".

Một đặc điểm nữa của Kim cương thừa là biến tất cả mọi sinh hoạt đời sống thành sự tu hành, thành con đường giác ngộ, lợi dụng tất cả cơ hội của đời sống để đạt đến Phật tánh; ví dụ lợi dụng giấc ngủ để thành tựu clear light của giấc ngủ, lợi dụng giấc mơ để thành tựu illusory body, lợi dụng cái chết để đạt đến clear light của cái chết... Có chín cách đưa những trạng thái của đời sống vào sự thực hiện Pháp thân, Báo thân, Hóa thân như vậy: hội nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái thức; hòa nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái ngủ; hòa nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái chết (Clear Light of Bliss, Geshe Kelsang Gyalso).

Cuộc sống sau lúc ngồi thiền cũng là một sự tu hành. Tsongkapa nói: "Khi đã thấy Lạc và tánh Không trong thiền định, thì trong đời sống sau thiền định, hành giả phải thấy sắc, thanh... là sự kết hợp giữa Lạc và Không, do đó suốt đời sống hàng ngày là một "xuất thần" liên tục (Six Yogas of Naropa).

Một đặc điểm của Kim cương thừa là sự tích tập phước đức nhanh hơn so với Ðại thừa thông thường. Như chúng ta đã biết, Phật là bậc Lưỡng Túc Tôn, hai thứ tích lũy trí tuệ và phước đức đã trọn vẹn. Quá trình tích lũy phước đức đã đầy đủ rồi, thì có được Sắc thân Phật với 32 tướng chánh và những tướng phụ. Ðây là một quá trình mà theo Kinh thừa phải tu tập lâu dài nhiều kiếp. Với Kim cương thừa, sự tích lũy phước đức này có thể rút ngắn lại trong một đời bằng sự quán tưởng hóa thần (và những quán tưởng khác). Sự thiền định này tạo ra một tương tự về Sắc thân, nơi cư trú, tài nguyên và hoạt động của một vị Phật.

Một đặc điểm nữa của Kim cương thừa là việc chuyển hóa các phiền não tiêu cực (tham, sân, si...) thành Bồ đề. Ðây cũng là một chủ đề của Kinh thừa, nhưng ở Kinh thừa có tính cách lý thuyết hơn, như nói: Phiền não tức Bồ đề, tánh của tham sân si là Bồ đề... Chúng ta hãy xem một đoạn rút ngắn lời dạy của Padmasambhava về sự chuyển hóa sợ hãi bằng những chủ đề của Ðại thừa thông thường như tánh Không, như huyễn, bất nhị...

"Ðể cắt đứt sự chấp ngã và tin vào ma quỷ, hãy đến một nơi dễ sợ nhất cắm trại. Hãy bắt đầu với việc quy y Tam bảo, phát triển Bồ đề tâm và cầu xin bổn sư. Rồi sau một hồi lâu quán tưởng Từ bi và Bồ đề tâm đối với tất cả chúng sanh nhiều như hư không, mà trước hết là với ma quỷ của vùng ấy...

Thứ hai, để cắt đứt sự chấp ngã, hãy nhận biết rằng mọi đối tượng là không thực. Khi nhận ra mọi đối tượng là không thực, mọi ý niệm đều là vọng tưởng, mọi sự đều trống không, và cái thấy biết của con bấy giờ cũng như một giấc mộng, hay một ảo giác huyễn hóa, lúc ấy hãy đi ngủ trong một trạng thái Không - vô quái ngại, trong đó rốt ráo không có gì hiện hữu...

Thứ ba, để cắt đứt, hãy hiểu tánh bất nhị nhờ vào cái thấy vững chắc của giai đoạn thành tựu. Dùng sự sợ hãi, sự tin vào ma quỷ để nâng cao tính chất bất nhị. An trụ thư thả trong trạng thái bất nhị, trong đó thân và tâm là không hai, bạn và thù là không hai, chư Thiên và ma quỷ là không hai. Tóm lại, an trụ trong trạng thái nơi đó không có bất kỳ hiện tượng nhị nguyên nào. Nếu ma quỷ thực sự xuất hiện, hãy nhảy vào lòng ma quỷ và con sẽ đi xuyên qua nó không chướng ngại trong tánh Không bất nhị và không nền tảng. Cuối cùng, ma quỷ không có một thực thể nào.

Kết quả là, khi con hiện hữu thì các ma quỷ còn hiện hữu; khi con bình an thì các ma quỷ bình an; khi con giải thoát thì các ma quỷ được giải thoát; khi con được thuần hóa, các ma quỷ cũng được thuần hóa. Ma quỷ là ma quỷ của chính con, và cắt đứt nó làm cho con an bình. Thế nên, chính là một sự nâng cao, làm mạnh thêm trí huệ khi giáp mặt với một nơi chốn đáng sợ hơn là thiền định trong ba năm" (Advice from Lotus, Born).

Cuối cùng, trong Kim cương thừa cũng có những phương pháp chỉ dạy trực tiếp như Thiền tông với "bất lập văn tự, ngoại giáo biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Ðó là Ðại Ấn (Mahamudra) của phái Kargyu và Ðại Toàn Thiện (Maha-Ati) của phái Nyingma. Ðại Êẽn chính là tánh Không. Trong kinh Ðịnh Vương (King of Concentration Sutra), Ðức Phật nói: "Tánh của tất cả các pháp là Ðại Ấn". Dùng ấn tánh Không này ấn tất cả các pháp, kể cả tâm thức và tư tưởng, đưa tất cả trở về tánh Không để giải thoát".

Mức độ cao nhất của Ðại Ấn là chỉ thẳng thực tại. Shamar Rinpoche nói: "Loại Mahamudra thứ ba, Mahamudra cốt lõi thì không có gì chung với hai loại trước. Trong cách tiếp cận của Trung quán, sự tham cứu mãnh liệt thiết lập một niềm tin vững chắc trong tâm hành giả, dẫn người ấy thấu hiểu Ðại Ấn. Trong Mahamudra Mật thừa, anh ta dựa vào thiền định về hóa thần và cách thực hành Yoga. Nhưng ở đây không cần đến những việc đó.

Vị thầy đã giác ngộ và học trò sẵn sàng được giác ngộ. Nó là sự nhận biết trực tiếp về tâm bởi tâm, trực tiếp thiền định về Quả hơn là trải qua nhiều bước. Ðệ tử có thể nhận ra tâm mình và những biểu lộ của nó mà không dựa vào bất cứ phương pháp nào ở trên, đơn giản vì có người chỉ thẳng nó ra cho y; lúc đó, trí tuệ thông tỏ của y nhận ra cái y được chỉ cho. Với một số người, sự nhận ra ấy là tức thời. Ðây là phương pháp rất sâu xa, cao hơn hết mọi thứ, được Saraha, Tilopa và Milarepa truyền thụ" (The Change of Expression).

Còn Ðại Toàn Thiện có nghĩa là Phật tánh vốn sẵn đủ, vốn tự toàn thiện ở mỗi chúng ta, không cần chỉnh trị, sửa sang thêm bớt, không phải tu tập, chỉ cần thấy nó (kiến), tham thiền về nó (thiền định) và sống với nó (hạnh). Chúng ta thấy lời dạy của Padmasambhava cho đệ tử không khác gì "tức tâm tức Phật" của Mã Tổ:

Hãy nghe đây, Dorje Dudjom họ Nanam!
Cái có tên là "tâm sáng tỏ của giác ngộ"
Là vốn sẵn bên trong, bổn nhiên tự hữu và không có trung tâm, cũng chẳng có chu vi
Chớ sửa chữa, chỉnh trị nó, mà ở trong trạng thái tự thông tỏ và trống sáng tự nhiên
Không thay đổi, không làm biến chất, mà an trụ giải thoát trong tánh bổn nhiên!
Ở yên như thế, tâm con người thoát khỏi động niệm
Chính tâm ấy là Phật!

Với Ðại Ấn và Ðại Toàn Thiện, chúng ta có thêm những phương cách để làm phong phú thêm Thiền tông.

Qua vài điểm đại cương ở trên, chúng ta có thể có một cái nhìn khái quát về Kim cương thừa và cũng hiểu phần nào tại sao hiện nay Kim cương thừa là tông phái có ảnh hưởng lớn trong việc thâm nhập của Phật giáo vào Tây phương. Kim cương thừa cũng là một tông phái ít bị thay đổi so với Phật giáo Ấn Ðộ, cho nên còn mang những tinh túy của Phật giáo Ấn Ðộ./.
5  Á Đông Dưỡng Sinh Thuật / THỰC DƯỠNG - ẨM THỰC Á ĐÔNG / Re: Những Món Ăn Chay ... vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2011, 06:22:06 PM
Không ngờ là cô Diệu 8 cũng thích ăn chay ,sao nghe các anh chị nói cô chỉ ăn cơm với muối ớt vậy.  hee hee
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / TÌM HIỂU VỀ NGŨ BỘ THẦN TÀI vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2011, 06:02:08 PM
Ngũ Bộ Thần Tài
 Thiện Duyên VIỆT dịch

NGŨ BỘ THẦN TÀI TÂY TẠNG 5 VỊ JAMBHALA


Jambala (còn được gọi là Dzambala) là vị thần Tài Bảo và là một thành viên của gia đình Châu Báu (Bảo Bộ). Trong thần thoại của Hindu Jambhala còn được biết là Kubera. Ngài cũng được tin tưởng là một hóa thân của Quan Thế Âm, vị Phật của Lòng Bi Mẫn, hiện lộ là vị Phật ban phát tài bảo. Về sự hóa hiện của Quan Thế Âm, câu chuyện được khởi nguồn từ Lama Atisha, là một Lama đức cao vọng trọng của dòng truyền Gellug, khi ngài đang bộ hành ở Bồ Đề Đạo Tràng thì gặp một cụ già đang chết vì đói. Lama Atisha rất buồn vì sự thống khổ của cụ già. Lama Atisha lại không có dù chỉ là một chút thức ăn để bố thí cho cụ già, vì thế nên ngài lập tức cắt thịt của ngài để bố thí cho cụ già. “Làm sao tôi có thể ăn thịt của một vị tăng?” cụ già từ chối ăn miếng thịt đó. Lama Atisha đặt miếng thịt xuống, cảm thấy buồn và vô dụng quá thì một ánh sáng đột nhiên xuất hiện trước ngài. Đó là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, nói với Atisha: “Ta sẽ hóa hiện thành Jambhala, vị Phật của Tài bảo nhằm giúp đỡ những chúng sinh đau khổ. Ta sẽ làm vơi đi sự nghèo khổ để họ sẽ không còn bị sao lãng khỏi thực hành về thiện tâm.”

Mọi người đều muốn tiền bạc vật chất! Và như tất cả mọi người đều biết, khi ta giàu có, sẽ trở nên hết ích kỷ và phát triển được sự hào phóng dễ dàng hơn. Jambhala với lớp da màu vàng ròng của ngài tượng trưng cho sự tăng trưởng và phát triển chỉ trong khoảng thời gian ngắn, ngài còn có thể đem đến cho chúng ta của cải vật chất và giúp chúng ta thoát khởi nghèo đói. Tuy nhiên còn quan trọng hơn nữa, thực hành hay thờ cúng ngài còn có thể đem đến cho chúng ta lợi lạc về tâm linh và phát triển cá nhân để trở thành một người tốt hơn. Và cùng với tất cả chư Phật, thực hành về ngài có thể giúp chúng ta đạt đến giác ngộ tối thượng. Vì thế mục đích của việc thờ cúng hay thực hành về Jambhala là để loại trừ nỗi lo lắng của sự không đảm bảo về tiền bạc vì vậy hành giả sẽ không còn bị sao nhãng bởi sự nghèo đói và khánh kiệt. Con đường tốt nhất để thỉnh cầu sự giúp đỡ của Jambhala là thực hành liên tục việc cúng dường nước đến ngài.Nếu được, hãy cúng dường nước cùng với việc trì tụng thần chú của ngài, và rồi thực hành sẽ trở nên cực kì mãnh liệt.

Hình tướng ngài thấp, đầy đặn và mạnh khỏe, nó xuất phát từ thời mà mọi người đều tin tưởng rằng sự phốp pháp là biểu tượng của sự giàu có và quý phái, sang trọng. Nét mặt ngài tỏ ra kiêu ngạo và ngài ngồi trong tư thế vương giả. Hành động này như là một cảnh báo đến chúng ta rằng nếu chúng ta tiếp tục nhìn nhận cũng như hành xử theo một cách đầy kiêu ngạo trong những cố gắng để có được của cải vật chất, thì thay vào đó chúng ta chỉ tạo được ra sự nghèo nàn. Vì vậy hãy suy nghĩ! Liệu sự tham lam của chúng ta có làm tổn hại đến những người khác không?
Sự tự tại vương giả của hình tướng ngài chỉ ra rằng Dzambhala tự tại trước luân hồi – thông qua thực hành về ngài và những thành tựu đạt được, ngài cũng trì giữ tất cả tiền bạc, danh tiếng và của cải của toàn vũ trụ cùng với sự an lạc vĩnh cữu (chẳng còn trải qua kinh nghiệm đau khổ nữa). Ngài có thể khiến cho chúng ta trở nên rất thoải mái – ngài có mọi thứ mà chúng ta cần! Ngài chỉ cho chúng ta làm thế nào mà sự thực hành về ngài của chúng ta lại có thể dẫn chúng ta đến giác ngộ tối thượng, (nói theo một cách văn chương) là nơi mà chúng ta có mọi thứ chúng ta muốn. Cùng lúc đó, ngài đạp lên một vỏ ốc bằng chân phải với ý nghĩa rằng dẫu cho ngài đạt được tất cả sự giàu có vĩ đại này, ngài vẫn vượt trên nó và sẽ không để cho sự dây thừng của luân hồi trói buộc ngài nữa.

Dzambala cầm một trái cây (hoặc là một viên ngọc như ý rực lửa) trên tay phải của ngài nhằm biểu hiện rằng nếu chúng ta tuân theo thực hành của ngài, chúng ta có thể “sanh ra trái ngọt” từ những cố gắng để đạt đến những thành tựu tâm linh và giác ngộ. Trên tay trái của ngài, ngài cầm một con chồn, theo người Ấn Độ cổ nó đại diện cho điềm cát tường rằng những điều tốt lành sẽ đến. Con chồn nhả ra những viên ngọc thỏa mãn nguyện ước quý báu đẹp đẽ, và cả hai điều này khiến chúng ta thực hành Dzambhala với một hứa hẹn về tài bảo tức thời.
Sự ban phước của Dzambhala và giá trị của thực hành về ngài là rất rộng rãi. Hãy giữ một tấm hình hay tượng của ngài, hoặc là gửi tặng một tượng Dzambhala như một món quà sẽ đem lại lợi lạc cho mọi người, ở mọi nơi.

OM ZAMBALA ZALENDHRAYE SOHA (or SVAHA)

Không chỉ có một mà tới năm Jambhala tài bảo, mỗi vị đều có thần chú và thực hành để giúp loại trừ sự đói nghèo và tạo ra sự ổn định về kinh tế riêng.

Bạch Thần Tài


Bạch Thần Tài được sinh ra từ mắt phải của ngài Quan Thế Âm Bồ Tát, và cũng được biết như là một hiện thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Dựa theo kinh điển, thần chú của ngài có thể chặn đứng khổ đau, diệt nghiệp xấu và phát khởi Bồ Đề Tâm. Thần chú của ngài cũng có thể đẩy lui những tai họa và bệnh tật. Ngài cũng mang sự giàu có, phồn thịnh đến cho những chúng sinh trì tụng thần chú của ngài. Tên tiếng Tây Tạng là “Dzambhala Gapee” có nghĩa là Dzambhala Trắng (Bạch Thần Tài). Bạch Thần Tài cưỡi trên một con sư tử tuyết, dù cho một số họa sĩ họa ngài cưỡi trên một con rồng và trong tay trái của ngài cũng là một con chồn đang nhả ra những những trang sức và kim cương quý báu.
Thần chú của Bạch Thần Tài:

Om Padma Trotha Arya Zambhala Siddhaya Hum Phat




Hoàng Thần Tài


Hoàng Thần Tài là hóa thân của Bảo Sanh Phật. Ngài bảo vệ giáo pháp và nếu ai gọi tên ngài, ngài sẽ đến và giúp đỡ người đó. Nếu ai có vấn đề về tài chính hay bất cứ thứ gì, người đó có thể trì tụng thần chú của ngài và ngài sẽ đến và giúp đỡ. Tuy nhiên để nhận được sự gia trì của ngài người đó phải có Bồ Đề Tâm và thực hành Phật giáo một cách đúng đắn

Thần chú của Hoàng Thần Tài: OM ZAMBALA ZALENDHRAYE SOHA


Kubera Đen hay Jambhala Đen (Hắc Thần Tài)


Hắc Thần Tài (Jambhala Đen) là hiện thân của Phật A Súc Bệ, Kubera Đen còn được gọi là thủ lãnh của năm Jambhala và ngài được nói là sẽ ban cho mọi người của cải và sự hạnh phúc. Ngài cũng được biết đến như là một trong những vị tài thần của Hindu, Kubera. Những ai trì tụng thần chú của ngài sẽ đạt được sự giàu có và nếu ai có bất kì nguyện ước gì, ngài cũng sẽ hoàn mãn nó và đem đến hạnh phúc. Hắc Thần Tài có hai thần chú. Hắc Thần Tài thường đứng trên xác chết và cầm một con chồn ở trên tay trái và chén sọ (Kapala) trên tay phải. Ngài có màu đen.

Thần chú của Hắc Thần Tài.

Om Zambhala Dzamlim Dzaye Svaha 2. Om Indzali Mu Kan Dzamali Svaha


Hồng Thần Tài


Hồng Thần Tài là hiện thân của Vajrasattva. Ngài có 2 mặt và bốn tay và cầm con chồn tài bảo trên tay trái. Tên tiếng Tây Tạng của ngài là “Dzambhala Mapo” Nếu ai trì tụng thần chú của ngài một cách chân thành, người đó sẽ được ngài bảo vệ và sẽ phát triển sự giàu có và người đó có thể có một cuộc sống rất tốt và trở nên rất nổi tiếng. Ganapati Đỏ được thờ cúng như là Hồng Thần Tài (Ganapati là một hóa thân của Ganesha – thần đầu voi con trai của Shiva, cũng là một vị tài thần của Hindu)

Thần chú Hồng Thần Tài


Om Dzambhala Dzalim Dzaya Nama Mumei E She E , Om Dzachini Dzambhala Dzambhala Svaha !
6

Lục Thần Tài


Lục Thần Tài cũng là một thân hóa hiện của Phật A Súc Bệ, ngài có màu xanh dương. Lục Thần Tài đã từng thệ nguyện trước đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng ngài sẽ bảo vệ cho những ai trì tụng thần chú của ngài hay trì niệm hồng danh của ngài. Khi ai đó gặp khó khăn, tốt nhất là trì tụng thần chú của ngài một cách chân thành từ tận đáy lòng. Thần chú của Lục Thần Tài tương tự như Thần chú của Hoàng Thần Tài.
Thần chú Lục Thần Tài


OM ZAMBALA ZALENDHRAYE SOHA


Giờ các bạn đã có một hiểu biết ngắn gọn về năm Jambhala. Nếu các bạn muốn thờ cúng Jambhala trong nhà mình thì hãy tìm một tấm hình của bất kì Jambhala nào và đặt nó dưới that nước (thác nước sáu tầng). Hoặc là mỗi sáng tưới nước vào tượng Jambhala. Đặt tượng vào phương Nam/Tây phòng khách của bạn. Nếu bạn làm thế mỗi sáng, bạn sẽ kích hoạt được khu vực cát tường trong bạn và trong cuộc sống gia đình bạn.
Tại sao chúng ta phải cúng dường nước cho tượng Jambhala


Dựa theo kinh điển, nói lại rằng, khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang dạy về Kinh Đại Bát Nhã. Đề Bà Đạt Đa, người em họ ghen tỵ của Phật Thích Ca Mâu Ni, ném đá vào đức Phật, ngay lúc đó các vị Jambhala hiện ra trước đức Phật và bảo vệ đức phật. Và đá trúng vào đầu của Hoàng Thần Tài và Bạch Thần Tài và trúng vào bụng của Hắc Thần Tài. Đó là lý do tại sao Hoàng Thần Tài và Bạch Thần Tài cảm thấy hoan hỉ khi bạn tưới nước vào đầu các ngài. Nó xoa dịu nỗi đau của họ. Và cũng cùng lý do cho Hắc Thần Tài, nước có thể tưới vào bụng của ngài.

Thần chú của ngài là


Om Bay Xia Wa Na Ya So Ha


Lời cuối:
(dựa theo Tibet Art Blog-http://mydzi.blogspot.com)



Tỳ Sa Môn Thiên Vương


Tỳ Sa Môn Thiên Vương (Vaishravana là một trong tứ đại thiên vương là vị thống trị tại cõi trời phương Bắc. Ngài được biết đến là một Cát Tường Thiên Vương hay Người Thỏa Mãn Nguyện Ước. Người ta tin rằng, ngài là một trong những vị thỏa mãn nguyện ước mà chúng ta biết đến. Xung quanh ngài là tám vị Jambhala để hỗ trợ. Trong một kinh điển, nói rằng ngài là một thân hóa hiện của Phật Bảo Sanh, ngài có màu vàng. Tỳ Sa Môn Thiên Vương được biết đến trong tiếng Tây Tạng là “Namtose”


Do thọ nhận ân sâu từ bậc Đạo Sư Tubden Lungrik Jamtsho Rinpoche, thầy đã từ bi trao truyền các mật pháp cho Thiện Duyên cùng các Kim Cang Hữu, nên nay Thiện Duyên xin cúng dường đến thầy bài viết này.
Nguyện với công đức nhỏ nhoi này, xin hồi hướng đến thầy, kính mong thầy trường thọ và chuyển pháp luân không ngừng nhằm lợi lạc cho tất cả hữu tình đang còn chìm đắm trong bể sinh tử luân hồi.
Nguyện mong cho tất cả Kim Cang Hữu sớm thành tựu được các đại nguyện thế gian, xuất thế gian của mình. Nguyện mong cho tất cả chúng sinh luôn được an hưởng trong sự gia trì đầy ơn phước của Jambhala và sớm đạt đến giác ngộ ngay trong chỉ một đời.
Mọi sat sót đều là do người dịch, mọi công đức nguyện hồi hướng đến tất cả chúng sinh.

Thiện Duyên – Việt dịch


Tp.HCM 19/03/2010

7  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Sức khỏe cộng đồng / Re: THỊT CHUỘT CỐNG - LỰA CHỌN TỐT CHO SỨC KHỎE (!?) vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2011, 05:57:57 AM
Quá khủng khiếp, mô Phật.
8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 09, 2011, 06:20:31 PM
Hành Giả Vĩ Đại Nhất Của Tây Tạng Có Thể Dạy Ta Điều Gì Về Cuộc Đời

Đại Hành giả Tây Tạng Milarepa

Thanh Liên dịch Việt




Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và hỉ lạc. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện về sự chuyển hóa. Đây là một người đã nhận ra những lỗi lầm, sai sót của mình và đã xoay chuyển cuộc đời mình. Đây là một người đã trở thành một yogi (hành giả) vĩ đại nhất mà thế giới từng nhìn thấy.

Milarepa là ai?
Kẻ sát nhân

Milarepa sinh năm 1052 trong một gia đình giàu có ở xứ tuyết Tây Tạng. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ và bởi không có người cai quản điền trang, chú thím ngài đã chiếm đoạt toàn bộ di sản của ngài. Tràn ngập sự giận dữ và căm thù, chàng thanh niên Milarepa đi học huyền thuật và nhanh chóng trở về để giết hại những kẻ hãm hại gia đình mình. Trong thực tế, người ta nói rằng với sự căm thù, Milarepa sân hận tới nỗi đã giết chết 35 người trong ngôi làng của chú ngài trong đêm phục hận. 

Gặp gỡ Đạo sư

Không lâu sau những sự kiện khủng khiếp đó, cuộc đời của Milarepa bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh. Ngài đã đi tới một chốn vô cùng tăm tối và ngài nhận thức thật sâu xa rằng cuộc đời ngài hóa ra hoàn toàn lầm lạc. Ngài xấu hổ về con người mình và những gì ngài đã làm cho gia đình ngài. Ngài nhận thức được lỗi lầm trầm trọng ngài đã phạm.

Vì thế ngài bắt đầu làm những điều tốt lành. Trong quá trình chuộc lại lỗi lầm, Milarepa gặp Đạo sư Marpa, vị Thầy đã mang toàn bộ Phật pháp từ Ấn Độ về Tây Tạng. Để đưa về Tây Tạng những giáo lý này, Marpa đã phải chịu đựng những gian khổ lớn lao và người ta nói rằng không có Marpa thì Phật giáo sẽ không tồn tại ở xứ tuyết.

Giây phút Milarepa nhìn thấy Marpa lần đầu tiên thật là kỳ diệu. Truyền thuyết kể lại rằng Marpa ở ngoài đồng, bên một con đường, ngài uống một ly rượu và Milarepa đi ngang qua mặt ngài. Thoạt đầu khi Milarepa vừa nhìn thấy Marpa, toàn thể thế giới tĩnh lặng và lông tóc sau cổ ngài dựng đứng lên. Milarepa không biết người đàn ông đó là ai nhưng bởi mối nối kết mạnh mẽ từ những đời quá khứ, người ta nói rằng chỉ nhìn thấy Marpa là Milarepa đã kinh nghiệm một trạng thái thiền định sâu xa.

Marpa buộc Milarepa phải chịu những gian khổ lớn lao



 

Ngọn tháp cuối cùng của Milarepa ở quận Lhodrak (Tây Tạng), phía bắc biên giới Bhutan.


Milarepa đã tu học với nhiều Đạo sư Phật giáo nhưng dường như không vị Thầy nào có thể giúp đỡ được ngài. Trong trái tim của ngài, ngài biết ngài phải tu học với Marpa. Vì thế ngài quay trở lại để hỏi Marpa và khẩn cầu vị Thầy này giúp đỡ nhưng Marpa chỉ quở mắng và đuổi ngài đi. Mỗi lần Milarepa thỉnh cầu giáo lý thì Marpa chỉ giận dữ, đánh đập và tống cố ngài ra ngoài. Mặc dù vậy, cuối cùng Marpa nhượng bộ và đi tới một thỏa thuận với Milarepa:

“Hãy xây cho ta một ngọn tháp lớn và ta sẽ dạy Pháp cho ngươi,” Marpa nói.

Vì thế Milarepa bắt đầu làm việc. Ngài thâu thập những viên đá, các tảng đá và gỗ từ khắp mọi nơi. Sau nhiều tuần làm việc kiệt lực, Milarepa trở về gặp Marpa và nói với vị Thầy rằng ngọn tháp đã hoàn tất. Marpa tới kiểm tra công việc và khi nhìn thấy ngọn tháp, Marpa bắt đầu chửi mắng Milarepa, nói rằng Milarepa đã làm sai hoàn toàn và phải bắt đầu lại!

Sự việc này diễn ra chín lần nữa.

Ngọn tháp cuối cùng mà Milarepa xây dựng cao chín tầng và phải mất nhiều tháng để hoàn tất. Xin nhớ rằng việc này xảy ra trước khi có xe hơi, cần trục và máy trộn xi măng. Công việc này làm Milarepa bị thương và người ta nói rằng lưng ngài đầy những vết thương lở loét và giờ đây ngài thành một người gù lưng bởi phải vác những tảng đá. Nhưng ngài đã thực hiện điều Marpa yêu cầu và sự hiến dâng của ngài đối với Thầy Marpa không bao giờ lay chuyển. Ngài vô cùng khao khát giáo lý.

Khi ngọn tháp sau cùng được xây dựng xong, Milarepa ngần ngại trở về nhà của Marpa, nơi vị Thầy đang ban các giáo lý cao cấp cho vài hành giả khác. Milarepa phủ phục dưới chân Thầy và cầu xin giáo lý. Nhưng cũng như thường lệ, Marpa bảo Milarepa hãy ra khỏi nơi đó.

Hoàn toàn tuyệt vọng, Milarepa quyết định tự vẫn. Trong quá khứ, ngài đã giết chết 35 người và không có giáo lý của Đức Phật, ngài cảm thấy không thể làm những điều đúng đắn và không có cách nào để mang lại lợi ích cho những người đã chết đó. Vì thế ngài treo một sợi thừng trên cây và tròng giây quanh cổ. Ngài hít một hơi thật sâu và dốc hết nghị lực, và ngay khi ngài sắp bước vào cái chết thì Marpa tới gần và nói giờ đây Milarepa đã sẵn sàng được nhận những giáo lý tối thượng của Phật giáo. Thầy Marpa đã chấp nhận ngài là đệ tử.

Người ta nói rằng Marpa bắt Milarepa phải chịu những gian khổ này để giúp Milarepa tịnh hóa ác nghiệp và khiến ngài trở thành một bình chứa (pháp khí) thích hợp đối với các giáo lý. Không có những gian khổ này, tâm thức của Milarepa sẽ không được chuẩn bị và ngài sẽ tu tập không tiến bộ do bởi những ác hạnh trầm trọng của ngài trong quá khứ. Nhờ trí tuệ, Marpa biết rằng những công việc khổ nhọc sẽ làm lợi lạc cho Milarepa và giúp cho tân hành giả này tiến bộ nhanh chóng trên con đường.

 

 



Tu học với Marpa và thiền định trong các hang động

Sau đó Milarepa nhận lãnh tất cả những giáo lý của Marpa. Một đêm trong một giáo lý tuyệt mật, Marpa có một giấc mơ. Trong giấc mơ một vị Phật nữ tuyệt đẹp nói với ngài rằng Milarepa sẽ trở thành vị hộ trì dòng truyền thừa của ngài và vì thế hãy nỗ lực giảng dạy cho Milarepa. Do đó Marpa đã dạy cho Milarepa mọi sự mà ngài đã học ở Ấn Độ, giống như người ta rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác.

Khi Milarepa đã được giảng dạy đầy đủ, ngài từ giã mọi người và lên đường tới nơi hoang dã. Ngài nguyện sống đơn độc trong những hang động cho tới khi thành tựu giác ngộ và ngài không bao giờ vi phạm lời nguyện này. Đôi khi Milarepa bít lối vào hang để ngài không thể ra khỏi và thiền định ở đó hàng nhiều năm. Thực phẩm và nước uống được đưa vào cho ngài qua một khe nứt giữa các viên gạch.

 

Hang động ẩn tu của Milarepa tại Manang (Nepal)

Giác ngộ trong một đời

Các giáo lý Phật giáo nói rằng người ta có thể đạt được giác ngộ trong một đời nhưng điều đó vô cùng hiếm có. Hầu hết hành giả Phật giáo phải mất rất nhiều cuộc đời để tích lũy trí tuệ và công đức. Nhưng Milarepa đã làm được điều đó. Ngài nổi danh là người duy nhất trong lịch sử Tây Tạng thành tựu sự toàn giác trong một thân người, ngay trong một đời người. Và đó là lý do vì sao ngài là hành giả vĩ đại nhất trong mọi hành giả.

Đức Milarepa có thể dạy chúng ta điều gì trong cuộc đời
Milarepa nổi danh là một thi sĩ vĩ đại. Ngài thường lang thang quanh những miền quê, hát những bài ca và viết những bài thơ cho người dân địa phương. Tôi muốn chia sẻ với quý vị một vài bài thơ, giáo lý và trích dẫn nổi tiếng nhất của Milarepa với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại lợi lạc cho một người nào đó.

1. Hãy khiêm tốn

“Hãy ngồi ở chỗ thấp nhất, và các con sẽ đạt được vị trí cao nhất.” –– Milarepa

Milarepa nổi danh là rất khiêm tốn. Ngài không mặc gì ngoài một vài quần áo rách dơ bẩn và không bao giờ ngồi trên một Pháp tòa hay ghế cao. Ngài không có tu viện lộng lẫy, thay vào đó ngài chọn cách sống trong những hang động và núi non.

Nhiều bài ca của ngài nói về sự khiêm tốn. Milarepa thường nói về đức tính khiêm tốn giúp ta phát triển lòng bi mẫn và lòng yêu thương, trong khi sự kiêu ngạo khiến chúng ta cảm thấy mình tốt hơn và quan trọng hơn tất cả những người khác. Ngài thường quở trách những người dân địa phương kiêu ngạo, nói rằng sự cao ngạo là nguyên nhân của đau khổ bởi nó quá sức quy-ngã. Và khi quý vị kiêu ngạo và tự cao, các sự việc không theo ý muốn của quý vị, quý vị sẽ đau khổ.

2. Tỉnh giác về cái chết

“Cuộc đời thật ngắn ngủi, và thời gian của cái chết thì bất định; vì thế hãy chuyên tâm thiền định. Hãy tránh những hành vi sai trái và tích tập công đức trong khả năng tốt nhất của các con, dù phải trả giá bằng cuộc đời mình. Tóm lại, hãy hành động để các con không có lý do gì phải xấu hổ về bản thân mình; và hãy tuân thủ chặt chẽ quy tắc này.” – Milarepa

Một trong những chủ đề chính yếu trong các bài thơ và bài hát của Milarepa là cái chết. Dường như việc ngài là một kẻ sát nhân trong quá khứ đã lưu lại dấu vết trong tâm thức ngài và ngài luôn luôn tỉnh giác về việc cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng Milarepa đã sử dụng sự hiểu biết đó như một nguồn cảm hứng chứ không phải một lý do để tuyệt vọng. Thay vì lo lắng về cái chết, ngài đối mặt với những sợ hãi của ngài và sử dụng cái chết của ngài như động lực chính yếu để tu hành miên mật. 

Tôi thường cố khuyến khích các độc giả của tôi thực hành tương tự. Chúng ta không biết khi nào chúng ta chết nhưng ta biết rằng cái chết là một điều chắc chắn. Vì thế ta nên sử dụng cơ hội quý báu này để thành tựu các mục tiêu của ta và làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Đó là những gì Milarepa đã làm. Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian của ngài bằng cách liên tục tỉnh giác rằng thời gian có thể cạn kiệt. 

3. Tỉnh giác về sự vô thường

“Mọi theo đuổi thế gian chỉ có một kết thúc chắc chắn phải xảy ra và không thể tránh khỏi, đó là sự đau khổ. Mọi thâu đạt kết thúc trong tan tác; mọi tạo lập kết thúc trong hủy diệt; mọi gặp gỡ kết thúc trong chia ly; mọi sự sinh ra kết thúc trong cái chết.” – Milarepa

Một điều mà tôi mong ước cha mẹ tôi sử dụng thêm thời gian để dạy dỗ tôi là chân lý của sự vô thường. Hiểu rõ lẽ vô thường là một điều vô cùng hữu ích nhưng đáng buồn thay, đó lại là một điều mà hầu hết mọi người không bao giờ thực sự thấu hiểu.

Milarepa thường nói với mọi người rằng đừng quá dính mắc vào các sự việc bởi chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Những mối quan hệ, của cải, công việc, nhà cửa, xứ sở v.v.., tất cả sẽ biến mất như một cầu vồng. Sẽ chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Và nhờ thấu hiểu và tôn trọng chân lý này ta sẽ có thể vui hưởng cuộc đời nhiều hơn nữa. Những mối quan hệ của ta với thế giới trở nên hiện thực và lành mạnh hơn. Ta sẽ không mê mải bám chấp vào các sự việc khi ngăn cản chúng đừng chấm dứt. Khi thấu hiểu lẽ vô thường ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về các sự việc khi chúng hiện hữu ở đây.

4. Đừng bị lừa gạt bởi những phóng dật thế gian.

“Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng nghỉ. Đừng trì hoãn thực hành thiền định” – Milarepa

Tôi thích trích dẫn này. Trong thực tế, tôi dùng câu trích dẫn này làm nền màn hình máy tính của tôi. Tôi đọc nó khi cần nhắc nhở mình rằng có những điều khác đáng làm hơn là chỉ ăn, ngủ và làm việc.

Tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với châm ngôn này, cho dù chúng ta không là những hành giả. Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng dứt. Sẽ luôn luôn có một người nào đó hay điều nào đó ngăn trở những hy vọng hay giấc mơ của quý vị. Có thể đó là công việc, tiền bạc hay một vài chướng ngại khác nhưng ngay khi quý vị vượt qua nó, một chướng ngại mới sẽ xuất hiện.

Milarepa bảo chúng ta đừng lãng phí thời gian mà phải thuận thảo với nó. Sẽ luôn luôn có những phóng dật và vấn đề, nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải tiến tới. Điều này vô cùng quan trọng.

Sống và chết không hối tiếc.

“Tôn giáo của tôi không phải là đạo Phật. Tôn giáo của tôi là sống và chết không hối tiếc.” – Milarepa.

Đây luôn luôn là trích dẫn mà tôi yêu thích. Không chỉ riêng của Milarepa mà của mọi người, ở mọi nơi. Tôi đọc nó và cảm thấy hứng khởi trong việc làm một người tốt hơn và làm mọi sự tôi có thể khiến cho đời tôi ích lợi hơn và xứng đáng hơn. Tôi yêu quý trích dẫn đó bởi nó đánh mạnh vào cốt lõi của vấn đề và cho ta thấy việc đứng ở ngưỡng cửa của cái chết và hối tiếc về những điều mà ta từng làm (hay không làm!) trong tuổi thanh xuân thì khủng khiếp biết bao.

 

Những Bài Ca của Milarepa
Nếu quý vị thích thú trong việc nghiên cứu thêm nữa về đại hành giả này thì tôi hết sức khuyến khích quý vị đọc quyển sách nổi tiếng tên là Một Trăm ngàn Bài Ca của Milarepa. Đây luôn luôn là quyển sách tôi thích đọc nhất. Đó là một tuyển tập tuyệt vời gồm tất cả những bài thơ, bài hát và giáo lý của Milarepa.

Đó là một tác phẩm vô cùng súc tích. Đôi khi ngài hát về những điều như thể diễn ra sống động trong một hang động và quý vị cảm thấy như thể thực sự ở đó, ngay bên cạnh ngài. Những lúc khác ngài hát về lòng bi mẫn bùng cháy trong lòng ngài giống như một ngọn lửa và quý vị cảm nhận về điều gì đó như thể kinh nghiệm về lòng thương yêu đích thực.

Nói chung đó là một quyển sách thật đáng đọc. Quyển sách này từng hiện diện trong mọi gia đình ở Tây Tạng trong hàng trăm năm. Nó được đọc cho trẻ em khi chúng còn thơ ấu và sau đó được các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện.

Quý vị khó tìm được một người Tây Tạng nào không thể đọc thuộc lòng ít nhất một bài thơ của Milarepa.

Kết luận
Bài viết này sẽ không thể lưu hành mãi mãi. Tiểu sử của Milarepa có thể dạy chúng ta rất nhiều về việc chúng ta là ai và chúng ta có thể trở thành cái gì. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nó cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều có năng lực để chuyển hóa cuộc đời và hoàn cảnh của riêng mình. Chúng ta là chủ nhân số phận của chính mình.

Nguyên tác: “What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life”
http://www.thedailymind.com/happiness/what-tibets-greatest-ever-yogi-can-teach-us-about-living-life/

 
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Những Bài Kệ Kính Lễ Chư Phật và Bồ Tát vào lúc: Tháng Mười Một 09, 2011, 05:34:11 PM
KÍNH LỄ CHƯ PHẬT VÀ BỒ TÁT

Cùng các thần chú, được sắp xếp trong hình thức những bài nguyện

thích hợp cho các hành giả mọi cấp độ sử dụng


1.      Đạo sư Bi mẫn Thích Ca Mâu Ni



Nyingjé chenpö tsöden nyikmai zhing

  Với lòng đại bi Ngài đã chọn thế giới của những xung đột và suy hoại này,

 

Zungné mönlam chenpo ngagya tab

  Ngài đã lập năm trăm đại nguyện.

 

Pékar tar ngak tsentö chir mi dok

  Ngài được tán thán như một đóa sen trắng thanh khiết; tất cả những ai nghe đến danh hiệu của ngài sẽ không rơi trở lại vào luân hồi sinh tử - 

 

Tönpa thukjé chen la chaktsal lo

  Đạo sư tràn đầy từ ái và bi mẫn, con kính lễ ngài!

 

Lama tönpa chomdendé dézhin shekpa drachompa yang dakpar dzokpai sangyé pel gyalwa shakya tubpa la chaktsal lo   Chöto kyapsu chi-o

Guru, Đạo sư, Thế Tôn, Như Lai, A La Hán, Đức Phật toàn giác, Đấng Chiến Thắng Vinh quang, Đạo sư của dòng tộc Thích ca, con kính lễ và quy y ngài.

 

Teyatha  Om Muni Muni Maha Munayé Soha

 

2.      Đức Kim Cương Tát Đỏa Vinh quang

 


Mitok dorjé tapkyi yeshé ni

  Ngài là trí tuệ nguyên sơ của những phương tiện thiện xảo, trạng thái bất hoại vượt lên mọi ý niệm,

 

Mikmé sherab yum kyi ngang tu tok

  Đã chứng ngộ trạng thái của Bà Mẹ Vĩ đại, trí tuệ siêu việt vượt lên mọi sự quy chiếu;

 

Tukjé’i chetrak natsok chiryang tön

  Biểu lộ lòng bi mẫn của ngài trong vô vàn cách thế khác biệt.

 

Dorjé sempa ché la chaktsal lo

  Con kính lễ ngài, Đức Kim Cương Tát Đỏa vĩ đại!

 

     Om Vajra Sattva Ah

 

3.      Đức Amitayus, Phật Vô Lượng Thọ và Trí tuệ

 

Jikten drenpai tsowo tsepa mé

  Đức Phật Vô Lượng Thọ, đấng dẫn dắt lỗi lạc của chúng sinh trong thế giới này,

 

Dümin chiwa malü jompai pel

  Đấng vinh quang tiêu diệt mọi sự đe dọa của cái chết non yểu,

 

Gönmé dug ngel gyurpa nam kyi kyap

  Ngài là nơi nương tựa của tất cả những ai đau khổ, không được che chở -

 

Sangyé tsépamé la chaktsal lo

  Con kính lễ ngài, Đức Phật Vô Lượng Thọ!

 

Om Amarani Jivantiyé Soha

 

4.      Đức Phật Vô Lượng Quang Amitabha

 

Déchen zhing tu chö kyi khorlo kor

  Ngài Chuyển Pháp Luân trong Cõi Phật Cực Lạc,

 

Semchen nam la taktu tukjé zik

  Chăm sóc tất cả chúng sinh với lòng bi mẫn tràn trề,

 

Tamcha jizhin drowai tön dzepa

  Và hành động để làm lợi lạc chúng sinh như ngài đã hứa nguyện,

 

Nangta nyamzhak dzé la chaktsal lo

  Con kính lễ ngài, Đức Vô Lượng Quang, đấng an trụ trong thiền định!

 

Om Amidhewa Hrih

 

5. Đức Phật Ratnashikhin

 

Chomdendé dézhin shekpa drachompa yang dakpar dzokpai sangyé rinchen tsuktor chen la chaktsal lo   Chöto kyapsuchio

Thế Tôn, Như Lai, A La Hán, Đức Phật toàn giác, Đấng Chiến Thắng Vinh quang, con kính lễ và quy y ngài.

 

Teyatha Ratné Ratné Ratna Shi Khé Né Soha

 

6.      Đức Phật Dược Sư

 

Thukjé künla nyompai chomdendé

  Đấng Thế Tôn có lòng bi mẫn bình đẳng với tất cả chúng sinh,

 

Tsentsam thöpé ngen dro dug ngel sel

  Chỉ nghe danh hiệu ngài cũng đủ xua tan khổ đau của những cõi thấp,

 

Dugsum nésel sangyé menkyi la

       Đức Phật Dược Sư, Đấng chữa lành bệnh tật của ba độc,

 

Baidurya yi ö la chaktsal lo

Ánh sáng Xanh Da Trời, con kính lễ ngài!

 

Chomdendé dézhin shekpa drachompa yang dakpar dzokpai sangyé menkyi la baidurya ö kyi gyalpo la chaktsal lo   Chöto kyapsuchio

Thế Tôn, Như Lai, A La Hán, Đức Phật toàn giác, Đấng Chiến Thắng Vinh quang, Đức Phật Dược Sư, Vương quyền của Ánh sáng Xanh Da Trời, con kính lễ và quy y ngài.

 

Teyatha Om Bhaishajya Bhaishajya Maha Bhaishajya Bhaishajya Raja Samutgaté Svaha

 

7.      Đấng Bảo Hộ Di Lặc, Nhiếp Chính của Đức Phật

 

Cham chen méyi shédang pü shing sek

  Ngọn lửa từ ái vĩ đại của ngài thiêu rụi củi khô của lòng thù ghét

 

Yeshé ö kyi marik münpa sel

  Ánh sáng trí tuệ của ngài xua tan bóng tối vô minh

 

Chö kyi gyaltsap drowai gön gyurpai

  Nhiếp chính của Giáo Pháp, đấng bảo hộ của mọi sinh loài,

 

Ganden zhugpa dé la chaktsal lo

  Con kính lễ ngài, đấng an trụ trong cõi trời Đâu Suất!

 

Om Mati Mati Smriti Soha

 

8.      Đức Tôn quý Quán Thế Âm

 

Chaktong khorlö gyurpai gyalpo tong

  Ngàn tay của ngài là ngàn Chuyển Luân Thánh Vương,

 

Chen tong kelpa zangpö sangyé tong

  Ngàn mắt của ngài là ngàn vị Phật của hiền kiếp này,

 

Kangla kangdül déla der tönpai

  Ngài giảng dạy phù hợp với nhu cầu của mỗi chúng sinh,

 

Tsünpa chenrezi la chaktsal lo

  Đức Quán Thế Âm tôn quý, con kính lễ ngài!

 

Om Mani Padmé Hung Hrih

 

9.      Đức Văn Thù tôn kính và cao quý

 

Shechai kha ying zabching yangpa la

  Khắp mọi phạm vi sâu thẳm và vô hạn có thể biết được,

 

Lodrö kyilkhor gyépai özer kyi

  Chiếu tỏa những tia sáng rộng lớn từ vầng dương thông tuệ của ngài,

 

Kyé gü marik münpai tsok selwa

  Xua tan bóng tối vô minh trong tâm thức của mọi chúng sinh,

 

Jetsün jampelyang la chaktsal lo

  Con kính lễ ngài, Đức Văn Thù!

 

Om Arapatsana Dhi

 

10.  ‘Đấng Điều phục Kim Cương’: Vajra Vidarana

 

Dézhin shekpa tamché kyi

  Năng lực và sức mạnh của tất cả chư Phật

 

Tutop chiktu düpai dak

  Được cô đọng trong một mình ngài,

 

Dorjé trowo’i kur tönpa

  Đấng hiển lộ thân tướng giác ngộ của sự phẫn nộ kim cương –

 

Nampar jom la chaktsal lo

  Đấng Điều phục Kim cương, con kính lễ ngài!

 

Namash Chanda Vajra Krodhaya   Hulu Hulu Tishtha Tishtha Bhandha Bhandha   Hana Hana Amrité Hung Phet

 

11.  Đức Vijaya Tôn quý, Thiên nữ của sự Chiến thắng

 

Pelden lhamo tönkai dawai dok

  Thiên nữ vinh quang có mầu sắc của vầng trăng thu,

 

Zhel sum chak gyé rabdzé zhiwai ku

  Với ba mặt, tám tay, ngài đẹp mê hồn và tịch lặng,

 

Yeshé  payé  tséyi chok tsölma

  Ngài ban những tặng vật siêu phàm gồm sự trường thọ và trí tuệ vô hạn –

 

Nampar gyalmai zhabla chaktsal lo

  Đức Vijaya tôn quý, con kính lễ ngài!

 

Om Amrita Ayurdadé Soha

 

12. Đức Tara Tôn kính và Cao quý 

 

Daki tsérab ngön né drub pai lha

  Bổn Tôn mà con đã thiền định trong vô lượng đời trước,

 

Tüsum sangyé kün kyi trinlé ma

  Ngài là hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại, và vị lai,

 

Rabkar zhel chik chak nyi chen dün ma

  Sắc trắng chói lọi, với một mặt, hai tay, và bảy con mắt,

 

Yumgyur utpal namla chaktsal lo

  Bà Mẹ của chư Phật, đấng cầm hoa sen xanh, con kính lễ ngài!

 

Om Taré Tuttaré Turé Soha

 

13. Lời Cầu nguyện Đạo sư, Hiện thân của Tất cả Chư Phật

 

Trülpai guru tsen gyé tang

  Trước tám hiện thân của Guru Rinpoche (Đức Liên Hoa Sanh),

 

Drub pai rigdzin chenpo gyé

  Tám Trì minh vương thành tựu vĩ đại,

 

Changsem nyéwai sé gyé tang

  Tám đại Bồ Tát, ‘những Trưởng tử Thân thiết’ của chư Phật,

 

Drupchen ka gyé lha tsok la

  Các Bổn tôn của tám sadhana vĩ đại (Kagyé)(1),

 

Sölwa depso chinkyi lop

  Con khẩn cầu ngài – xin ban truyền cảm hứng cho chúng con bằng những gia hộ của ngài!

 

Chi nang sangwai parché söl

  Xin xua tan mọi chướng ngại trong, ngoài và bí mật!

 

Sampa yizhin drub pa tang

  Xin đáp ứng mọi nguyện ước của chúng con!

 

Chok tang thünmong ngödrup tsöl

  Xin ban cho chúng con những thành tựu thông thường và siêu việt!

 

Om Ah Hung Vajra Guru Padma Siddhi Hung

 

14. Cuối cùng, Sự Hợp nhất Phẫn nộ của Hayagriva (Mã Đầu Quan Âm), Vajrapani (Kim Cương Thủ) và Garuda (Kim Xí Điểu)

 

Chokchü  gyalwa kün kyi ku sung thuk

  Các ngài là thân, ngữ và tâm trí tuệ của tất cả chư Phật khắp mười phương,

 

Cha khyung gyalpo tamdrin sangwai dak

  Garuda, Hayagriva và Thủ hộ của những Mật nhiệm vương giả

 

Rangzhin chiktu nyerten trowö tso

  Hiển lộ như một Bổn Tôn, lỗi lạc nhất giữa những bậc phẫn nộ.

 

Drenpé gekpung jomla chaktsal lo

       Chính tư tưởng của các ngài nghiền nát những thế lực gây chướng ngại – con kính lễ và tán thán các ngài!

 

Om Vajrapani Hayagriva Garuda Hung Phat

 

 

Gewa diyi nyurtu dak

  Nhờ công đức này, cầu mong con nhanh chóng thành tựu chứng ngộ

 

Seché gyalwa drup gyur né

  Của chư Phật và những trưởng tử Bồ Tát,

 

Drowa chik kyang malü pa

  Và bằng cách đó cầu mong con có đủ năng lực để dẫn dắt mọi chúng sinh

 

Deyi sala göpar shok

  Và an lập họ trong cùng trạng thái giác ngộ đó.

 

 

Jangchup semchok rinpoche

  Cầu mong Bồ đề tâm cao quý và tối thượng:

 

Makyépa nam kyépa tang

  Phát khởi nơi những người chưa sinh khởi;

 

Kyépa nyampa mépa yang

  Cầu mong Bồ đề tâm không suy tàn ở nơi nó đã sinh khởi;

 

Kongné kong tu pelwar shok

  Mà tiếp tục tăng trưởng, càng lúc càng xa rộng hơn!

 

 

Tong nyi tawa rinpoche

  Cầu mong cái thấy về tánh Không quý báu,

 

Matokpa nam tokpa tang

  Được chứng ngộ bởi những người chưa chứng ngộ nó;

 

Tokpa nyampa mépa yang

  Và khi cái thấy này đã được chứng ngộ, cầu mong nó không suy tàn;

 

Kongné kong tu pelwar shok

  Mà tiếp tục tăng trưởng, càng lúc càng xa rộng hơn!

 

Đối với tất cả quý vị đã thọ nhận giáo lý từ tôi và có một nối kết Giáo Pháp với tôi, tốt nhất là trì tụng những lời cầu nguyện và thần chú này mỗi ngày. Nếu không, hãy tụng bất kỳ bài nào quý vị muốn, đặc biệt là vào những ngày mồng 8, 15 và 30 âm lịch, và vào bốn lễ kỷ niệm trọng thể Đạo sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta. Mỗi khi quý vị làm như thế, lợi ích sẽ thật vô biên. Tôi, Zhadeupa Ngawang Chökyi Lodrö (Kyabjé Trulshik Rinpoche), một tu sĩ dốt nát của Đức Thích Ca Mâu Ni, xin chắp tay khẩn nài quý vị.

 

Shubham. Sarva Mangalam.




Bài Cầu nguyện Trường thọ cho Đức Kyabjé Trulshik Rinpoche

 

Séché gyalwai ridzin gyamtso yi

  Nhờ năng lực không vơi cạn của sự tương duyên, và lực gia hộ

 

Chinlap tenjung luwa mépai tü

  Của một đại dương Chư Phật và Bồ Tát hộ trì sự thấu suốt,

 

Drodül trülshik do ngak tendzin kyi

  Cầu mong gót sen của bậc điều phục chúng sinh, Bậc Đã Giải trừ Vô minh, bậc hộ trì giáo lý Kinh điển và Mật điển

 

Zhab pé takten dzétrin targyé shok

  An trụ kiên cố, và cầu mong Phật sự của ngài lan truyền thật xa rộng.

 

Jigdral Yeshe Dorje (Dudjom Rinpoche) đã biên soạn bài nguyện tha thiết này. Siddhirastu

 

 

Ngagyur kater dütsi gyamtso cher

  Kho tàng mọi phẩm tính của sự nghiên cứu, quán chiếu và thiền định không lỗi lầm

 

Trülmé tö sam gompai yönten ter

Của đại dương bao la chất cam lồ kahma và terma theo truyền thống Cựu Dịch,

 

Chökyi lodrö pop pai tu top pa

  Ngài đã đạt được năng lực dũng mãnh của Tuệ Pháp (Chökyi Lodrö),

 

Néten dorjé  dzin wang zhabten söl

  Trưởng lão Kim Cương Trì tôn kính và đại lực, cầu xin thọ mạng của ngài được kiên cố!

 

Lời cầu nguyện này nhận được ngữ gia trì của Đức Kim Cương Trì Dilgo Khyentse.

 

 

Nguyên tác: “Verses of Homage to the Buddhas & Bodhisattvas Together with their Mantras Arranged for Recitation by Practitioners of All Levels”

by Kyabje Trulshik Rinpoche

 

http://www.lotsawahouse.org/homage_buddhas_bodhisattvas.html

 

Tham khảo: “Homage to Buddhas and Bodhisattvas”, Second Edition – Padmakara

 

Chú thích:

(1). Kagyé hay Drubpa Kagyé (Tám Giáo lý Sadhana Vĩ đại) — thuật ngữ Kagyé ám chỉ tám bộ giáo lý hay những trao truyền Mahayoga được giao phó cho Đức Liên Hoa Sanh và tám Trì minh vương của Ấn Độ.

Trong tám Bổn Tôn chính yếu của mạn đà la Kagyé, có năm Bổn Tôn trí tuệ (trong đó Yamantaka tượng trưng cho thân giác ngộ của chư Phật, Hayagriva tượng trưng ngữ giác ngộ, Yangdak Heruka – tâm giác ngộ, Chemchok – những phẩm tính giác ngộ, và Vajrakilaya tượng trưng hoạt động giác ngộ của chư Phật) và ba Bổn Tôn thế tục.

(Theo http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Kagy%C3%A9)

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 09, 2011, 05:13:17 PM
Mục Đích Của Đời Người
Lama Zopa Rinpoche, Thanh Liên dịch

Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đích của cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái tim tốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác.

Như tôi đã nói trong một Pháp thoại trước đây, bạn nên hiểu rõ ý nghĩa của đời bạn, lý do bạn sống, mục đích của việc đã nhận được thân người quý báu vào lúc này, đặc biệt là sự tái sinh làm người cao quý này với tám sự tự do và mười điều thuận lợi – bạn nên hiểu rõ điều này, không chỉ một cách trí thức mà còn hiểu thật sâu xa khiến bạn chuyển hóa thái độ của bạn một cách thích đáng và sống cuộc đời bạn trong sự hòa hợp với mục đích đó. Mục đích đó là gì? Đó là sống cuộc đời bạn để làm lợi lạc cho những người khác.

Như thế, lòng bi mẫn là thiền định hay thực hành quan trọng nhất mà bạn có thể làm. Mặc dù những giáo lý của Đức Phật nói về hàng tỉ cách thiền định hay thực hành khác nhau mà bạn có thể trải cả cuộc đời mình để thực hành, nhưng đây chính là điều quan trọng nhất - làm lợi lạc người khác, sống cuộc đời bạn với một thái độ bi mẫn đối với người khác. Đây là mục đích thực sự của cuộc đời, là ý nghĩa của cuộc đời.

Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đích của cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái tim tốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác. Cho dù bạn chỉ có một phút để sống, chỉ còn lại một phút của thân người quý báu này, điều quan trọng nhất mà bạn có thể thực hành là lòng bi mẫn; ngoài ra không có gì khác.

Cũng hoàn toàn giống như thế nếu bạn có một trăm năm để sống, một ngàn năm, thậm chí một kiếp để sống. Để hoàn thành mục đích của cuộc đời bạn, bạn vẫn phải sống với lòng bi mẫn đối với những người khác, vì sự lợi lạc của những người khác.

Nếu bạn đang vui hưởng một cuộc đời hạnh phúc, đang kinh nghiệm lạc thú, thì để cuộc đời bạn không trống rỗng, trở nên lợi lạc, hữu ích cho những người khác, bạn nên thực hành lòng bi mẫn, sống cuộc đời bạn để làm lợi ích cho người khác. Nếu đời bạn không hạnh phúc, nếu bạn đang kinh nghiệm những vấn đề trong mối quan hệ, nếu bạn bị ung thư hay bệnh AIDS, nếu bạn tuyệt vọng, nếu đời bạn không thoải mái, cho dù bạn đang gặp đến hàng trăm hay hàng ngàn vấn đề – sức khỏe, mối quan hệ, những vấn đề liên quan tới việc làm – như thể bạn đang chết đuối trong vũng lầy của những vấn đề, bạn cũng nên thực hành lòng bi mẫn đối với những người khác. Nếu bạn có thể thực hành lòng bi mẫn vào những thời điểm như thế thì bạn vẫn làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa, lợi lạc cho người khác, hữu ích cho người khác, và nhờ đó – bằng cách làm lợi lạc cho người khác – bạn sẽ thường xuyên làm cuộc đời bạn mang lại lợi lạc cho bản thân bạn. Yêu thương người khác là cách thức tốt đẹp nhất để yêu thương bản thân bạn.

Yêu thương người khác có nghĩa là bạn đừng làm hại người khác, và không làm hại người khác là không làm hại bản thân bạn. Ngay cả trong phạm vi của sự bảo vệ, đây là cách tốt đẹp nhất để bảo vệ cuộc đời bạn. Cũng giống như thế, khi bạn làm cho người khác hạnh phúc, bạn mang lại hạnh phúc cho chính bạn. Nghiệp được tạo nên nhờ làm cho người khác hạnh phúc cũng làm cho bạn kinh nghiệm sự hạnh phúc; đó là loại nghiệp dẫn tới hạnh phúc. Cho dù bạn không mong muốn hạnh phúc nhưng một khi bạn đã tạo nên nguyên nhân của hạnh phúc thì hạnh phúc chính là kết quả.

Nếu bạn trồng một hạt giống trên mặt đất và hội đủ mọi điều kiện (duyên), chẳng hạn như đất, nước và nhiệt độ toàn hảo – mọi sự đều hội tụ và không có những trở ngại nào – thì cho dù bạn có cầu nguyện nhiều tới đâu để cây đừng mọc lên, nhưng nó vẫn sẽ phát triển. Chắc chắn là nó sẽ mọc lên bởi hạt giống được gieo trồng trên mặt đất đã gặp được mọi điều kiện cần thiết để phát triển; nhân và duyên đã gặp gỡ. Bởi nó là một sự duyên sinh nên việc bông hoa hay trái cây đó sẽ mọc lên là điều không thể tránh khỏi, cho dù bạn có cầu nguyện nhiều tới đâu để nó không mọc.

Tương tự như thế, nếu bạn sống cuộc đời hàng ngày của bạn với lòng bi mẫn, mang lại thật nhiều hạnh phúc cho người khác trong khả năng của bạn, thì kết quả tự nhiên là bản thân bạn sẽ kinh nghiệm hạnh phúc, bây giờ và trong tương lai – đó là kết quả tức thì, là sự an bình trong tâm trong đời này và kết quả lâu dài là hạnh phúc trong tất cả những đời sau của bạn. Tất cả những điều này là kết quả chắc chắn của việc mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho người khác.

Như vậy, bạn sẽ thâu hoạch được rất nhiều khi thương yêu người khác, quan tâm tới những chúng sinh khác như bạn làm cho bản thân bạn. Dù họ là những côn trùng hay con người thì họ cũng là những sinh loài giống như bạn – ước mong hạnh phúc và không mong muốn đau khổ. Giống như bạn cần tới sự giúp đỡ của người khác để giải trừ những vấn đề thì họ cũng cần điều đó. Giống như hạnh phúc của bạn tùy thuộc vào những người khác, hạnh phúc của họ cũng thế. Không chỉ có con người, mà cả đến những côn trùng cũng cần tới sự giúp đỡ của bạn. Việc họ giải thoát khỏi những vấn đề thì tùy thuộc vào bạn; hạnh phúc của họ tùy thuộc vào bạn.

Tại sao việc thương yêu người khác, quan tâm tới người khác như bạn làm cho bản thân bạn, không làm hại mà làm lợi lạc cho họ, lại là phương cách tốt đẹp nhất để chăm sóc bản thân bạn, quan tâm tới bản thân bạn? Đó là nhờ có một trái tim tốt lành, sự thương yêu người khác, làm lợi lạc người khác mà mọi ước muốn của riêng bạn đều được hoàn tất.

Nói chung, trong thế giới, khi những người khác nhìn thấy một người thiện tâm, có bản tánh bi mẫn, từ ái, họ nhận được những sự rung động tốt lành, một cảm xúc tích cực từ người đó. Ngay cả những người không quen biết gặp người đó trên đường, trong máy bay, trong các văn phòng hay cửa hàng, thì chỉ cái nhìn của người đó cũng đủ làm cho họ sung sướng, mỉm cười và muốn được trò chuyện. Do bởi trái tim tốt lành, những rung động tốt lành, cảm xúc tích cực của bạn, bạn làm cho người khác hạnh phúc. Ngay cả những biểu lộ trên khuôn mặt họ cũng thay đổi và phản ánh tâm thức hạnh phúc của họ. Cho dù bạn không phải trải nghiệm bất kỳ vấn đề gì thì những người khác cũng vẫn giúp đỡ bạn.

Khi bạn có một trái tim tốt lành đối với những người khác, tất cả những ước muốn hạnh phúc của riêng bạn đều được đáp ứng một cách ngẫu nhiên. Giống như một Bồ Tát, mặc dù động lực của bạn chỉ là hạnh phúc của người khác và bạn không trông chờ gì hạnh phúc của bản thân bạn, cho dù mọi sự bạn làm trong hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày được đặc biệt hồi hướng cho hạnh phúc của những người khác mà không có một niệm tưởng nào về hạnh phúc của riêng bạn, thì bản thân bạn cũng sẽ kinh nghiệm mọi điều hạnh phúc.

Nhờ chứng ngộ Bồ đề tâm, những thánh nhân - những vị Bồ Tát – sẽ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình vì người khác. Các ngài không nghĩ tưởng gì về hạnh phúc của riêng mình mà thay vào đó dùng mỗi giây phút để tìm kiếm hạnh phúc cho những người khác. Như thế điều gì sẽ xảy ra? Với Bồ Đề tâm, các ngài có thể phát triển trí tuệ tối thượng nhận ra bản tánh đích thực của cái tôi – bản ngã và những uẩn, sự kết hợp của thân và tâm là căn bản của cái được quy gán là cái tôi – và mọi hiện tượng khác.

Nhờ phát triển Bồ đề tâm và trí tuệ tối thượng, các ngài có thể tiệt trừ mọi lỗi lầm của tâm thức, nguyên nhân của mọi đau khổ – những ô nhiễm thô sơ, những lầm lạc của tham, sân và si, và những ô nhiễm vi tế, là những gì có tính chất của các dấu vết để lại trong dòng tương tục của tâm thức do những mê lầm.

Như vậy, đây là điểm đặc biệt của Bồ đề tâm, bởi với sự hỗ trợ của nó, bạn có thể phát triển không chỉ trí tuệ chứng ngộ tánh Không mà còn có thể ngăn cản những ô nhiễm vi tế và nhờ đó trở nên hoàn toàn giác ngộ, đạt được trạng thái toàn trí, tâm toàn giác, thấu suốt trực tiếp và không chút lỗi lầm, không chỉ nghiệp thô nặng mà cả mỗi nghiệp vi tế duy nhất của từng người trong vô số chúng sinh. Bạn sẽ nhận ra mọi đặc tính dị biệt, những ước muốn và mức độ thông tuệ của họ; thấu hiểu từng phương pháp độc nhất thích hợp với tâm thức của tất cả những chúng sinh khác biệt này vào những lúc khác nhau; và khám phá phương pháp thích ứng phù hợp với tâm của mỗi cá nhân chúng sinh vào những thời điểm khác nhau để dẫn dắt chúng sinh đó từ hạnh phúc này sang hạnh phúc khác, bằng đủ mọi cách để đạt được giác ngộ.

Như thế, Bồ đề tâm khiến cho trí tuệ của bạn hoạt động khiến nó có thể chiến thắng ngay cả những ô nhiễm vi tế, làm cho tâm bạn hoàn toàn giác ngộ.

Theo cách này, Bồ đề tâm khiến bạn trở thành một người dẫn đường hoàn toàn có phẩm tính, một bậc giác ngộ toàn hảo, và nhờ đó giải thoát vô số chúng sinh khỏi luân hồi sinh tử, đại dương của đau khổ, và mang họ tới hạnh phúc vô song của sự Toàn Giác.

Như thế sự thành tựu mọi phẩm tính giác ngộ vô biên này xuất phát từ đâu? Ngay cả những Bồ Tát Thập Địa cũng có những phẩm tính khó tin, không thể nghĩ bàn. Ngay một Bồ Tát Sơ Địa cũng có thể thiền định trong hàng trăm cách tập trung khác nhau, đi tới hàng trăm cõi tịnh độ khác nhau, khám phá cho chúng sinh hàng trăm giáo lý khác nhau. Tôi không nhớ chính xác, nhưng có khoảng mười một điều khác nhau trong đó các ngài có thể làm hàng trăm việc. Một Bồ Tát Nhị Địa có thể thực hiện một ngàn thiền định tập trung khác nhau, đi tới một ngàn cõi tịnh độ, khám phá một ngàn giáo lý khác nhau cho chúng sinh và v.v.. Cũng giống như thế, bởi các ngài tiến bộ càng lúc càng cao hơn qua các cấp độ (địa), các ngài thành tựu càng lúc càng nhiều hơn những phẩm tính không thể nghĩ bàn mà với chúng các ngài có thể làm lợi ích chúng sinh. Tôi không nhớ những thuật ngữ để chỉ địa thứ chín và thứ mười nhưng chư vị Bồ Tát sở hữu vô số phẩm tính không thể nghĩ bàn như thế.

Tất cả những phẩm tính không thể nghĩ bàn này của con đường Bồ Tát, tất cả những phẩm tính vô biên của thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh của Đức Phật xuất phát từ cội gốc là sự từ bỏ bản ngã và tư tưởng tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, và sự phát triển trái tim tốt lành, tư tưởng chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chúng sinh. Tất cả mọi phẩm tính đó xuất phát từ cội gốc này. Mọi phẩm tính tốt lành vô biên của Đức Phật, của Pháp, con đường của Bồ Tát, và của Tăng, những bậc thánh và thậm chí những Bồ Tát bình thường, đều xuất phát từ tư tưởng quý báu phi thường, Bồ Đề tâm như ý – sự từ bỏ bản ngã và tâm quy-ngã, và sự phát triển lòng yêu thương chỉ dành cho người khác. Tất cả những phẩm tính đó đều xuất phát từ tư tưởng này.

Những bậc có thể làm được điều này chứng ngộ sự thành tựu tuyệt hảo nhất. Các ngài từ bỏ bản ngã, từ bỏ cái tôi, nhưng các ngài đạt được sự thành tựu tuyệt hảo, thành công vĩ đại nhất. Các ngài không chỉ tìm ra sự giải thoát vĩnh cửu khỏi chu kỳ của sự chết và tái sinh và mọi vấn đề mà nó mang lại, chẳng hạn như sự tái sinh, sự già, bệnh, những vấn đề thuộc cảm xúc và mọi khó khăn khác của cuộc sống mà chúng ta kinh nghiệm, mà các ngài cũng đạt được sự giải thoát vĩnh cửu, tự do vĩnh cửu, hạnh phúc vĩnh cửu cho bản thân mình, và có thể mang lại hạnh phúc bao la như bầu trời cho vô số chúng sinh. Tất cả những điều này xuất phát từ cội gốc là Bồ Đề tâm, tâm linh thánh cao quý nhất, sự từ bỏ cái tôi, thương yêu người khác.

Chúng ta có thể hiểu được điều này chân thật ra sao bằng cách đọc những bản văn thuật lại những câu chuyện tiền thân của Đức Phật và cuộc đời của những Bồ Tát khác, nhưng ta cũng có thể thấu hiểu một trái tim tốt lành thì như ý ra sao đối với hạnh phúc của bạn, từ các gương mẫu của những cuộc đời bình thường của những con người bình thường trong thế giới – những người mà tâm họ bi mẫn hơn trong bản chất ra sao, những người có thiện tâm, có những đời sống thoải mái hơn.

Chẳng hạn như, nếu bạn đang kinh nghiệm những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư và v.v.., nhưng bạn có một trái tim tốt lành, tâm bạn sẽ hạnh phúc và an bình bởi mối quan tâm chính không phải là cho bản thân bạn mà là cho người khác; mối quan tâm của bạn được dành cho chúng sinh. Nhờ đó tâm bạn được an bình. Cho dù bạn đang hấp hối nhưng tâm bạn không bị xáo trộn vì mối quan tâm của bạn là dành cho người khác chứ không phải cho bạn. Ngay cả vào lúc cuối đời bạn, giây phút chấm dứt đời người của bạn, kinh nghiệm của bạn về cái chết là một kinh nghiệm hạnh phúc bởi thái độ của bạn là thái độ quan tâm tới người khác, chứ không phải cho cái ta, không phải là tâm thức tự yêu thương mình, tâm quy-ngã.

Mặc dù các sự việc không tiến triển với bạn, bạn gặp nhiều trở ngại, cuộc đời bạn gặp rắc rối, nhưng tất cả những điều này không làm bạn lo lắng, tâm bạn không bị quấy nhiễu, luôn luôn vui vẻ và an bình, bởi ưu tiên hàng đầu trong đời bạn là hạnh phúc của những người khác. Điều bạn quan tâm nhất là người khác, chứ không phải bản thân bạn. Đó là mục đích của bạn. Thái độ này mang lại rất nhiều an bình và hạnh phúc cho đời sống hàng ngày của bạn, đem lại cho bạn rất nhiều sự hài lòng. Mặc dù những người khác gây nên cho bạn những vấn đề, làm phiền bạn, nhưng nó không gây rắc rối cho bạn; tâm bạn vẫn an bình và hạnh phúc.

Đặc biệt là với một trái tim tốt lành, lòng bi mẫn đối với người khác, bất kỳ khi nào một vấn đề xuất hiện bạn cũng kinh nghiệm nó vì người khác, nhân danh chúng sinh khác. Nếu bạn kinh nghiệm hạnh phúc, bạn kinh nghiệm nó cho người khác. Nếu bạn vui hưởng một đời sống xa hoa, bạn hồi hướng nó cho người khác. Và nếu bạn trải nghiệm một vấn đề, bạn trải nghiệm nó cho người khác – để người khác thoát khỏi những vấn đề và có mọi hạnh phúc cho tới sự Giác ngộ, sự an bình và hỉ lạc hoàn toàn viên mãn. Khi ước muốn những người khác có mọi hạnh phúc, bạn kinh nghiệm những vấn đề nhân danh họ.

Điều đó đem lại cho bạn sự hài lòng và hoàn thành thật phi thường, nhưng không chỉ có thế. Nếu bạn có thái độ đó, cho dù bạn trải nghiệm bao nhiêu vấn đề chăng nữa, khi bạn gặp mỗi vấn đề bạn có cảm tưởng như bạn đã khám phá một kho tàng quý báu. Bạn coi nó như một cơ hội phi thường để hồi hướng bản thân bạn cho người khác; một dịp may to lớn để trải nghiệm những đau khổ của người khác, giống như chư vị Bồ Tát thực hiện, giống như Đức Phật đã làm, giống như Đức Jesus Christ đã làm để nhận vào mình những đau khổ của người khác.

Mặc dù những người khác có thể thấy vấn đề đó không thể chịu đựng nổi, nhưng đối với bạn, là người có thái độ này, thì nó không là một điều thật phiền nhiễu, bạn không thấy nó đặc biệt khó khăn, hầu như bạn rất thoải mái về điều đó – do bởi trái tim tốt lành và thái độ thuần tịnh của bạn đối với cuộc đời. Điều này làm cho toàn bộ cuộc đời của bạn trở nên thật thoải mái, thật hạnh phúc.

Trái tim bạn không trống rỗng, không rỗng tuếch, nhưng tràn ngập sự hài lòng, đầy ắp niềm vui. Theo cách này, cho dù bạn gặp nhiều khó khăn nhưng bạn sống cuộc đời bạn với niềm vui. Bạn vui hưởng những vấn đề; thậm chí bạn vui hưởng cái chết của bạn. Cho dù điều gì xảy ra thì bạn cũng vui hưởng nó với Bồ đề tâm, tư tưởng thương yêu người khác. Những gì mà người bình thường có thể thấy là không đáng ao ước thì người có trái tim tốt lành, có thái độ yêu thương người khác lại thấy là thật đáng ao ước bởi người ấy có thể làm cho những vấn đề trở nên lợi lạc cho người khác. Người có trái tim tốt lành, có tâm bi mẫn, tư tưởng thương yêu người khác, thái độ Bồ đề tâm, sẽ làm cho vấn đề trở nên hữu ích, lợi lạc cho người khác. Theo cách này, kinh nghiệm về những vấn đề của người này trở thành một nguyên nhân của hạnh phúc của tất cả chúng sinh – không chỉ hạnh phúc nhất thời mà là hạnh phúc của sự Giác ngộ viên mãn, tối thượng. Bồ đề tâm làm cho kinh nghiệm về những vấn đề của người ấy trở thành một nguyên nhân cho hạnh phúc của mọi sinh loài. Làm cách nào? Bằng cách chuyển hóa những vấn đề thành con đường dẫn tới Giác ngộ.

 

Trích trong nguyên tác: “Teachings from the Vajrasattva Retreat” 
by Lama Zopa Rinpoche

http://www.lamayeshe.com/index.php?sect=article&id=243&chid=644

 

11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 08, 2011, 08:12:52 PM
Tác giả : Bạch Nga (Lozang Ngodrub) Choden Rinpoche


Thọ Dụng Tinh Chất - Chulen

Choden Rinpoche

Lozang Ngodrub dịch

Người Trung Hoa nói rằng tôn giáo là độc dược. Tuy nhiên, lúc đầu, họ nói rằng nếu bạn có thể hành trì Pháp mà không cần nương tựa vào người khác để có thực phẩm hay y phục, thì bạn có thể tu tập. Họ cho rằng bạn là kẻ ăn bám nếu bạn sống bằng thực phẩm của người khác, nên nhiều hành giả đã quyết định rằng pháp tu Thọ Dụng Tinh Chất, tức Chulen, (không cần thực phẩm) là phương pháp tốt nhất, và họ có ý định nhập thất trong những nơi ẩn dật trên núi.

Khi hành trì Chulen, bạn cần có sự chỉ giáo, những chỉ giáo đúng đắn. Lúc đầu, tôi không có được điều này, nhưng cuối cùng, sau khi thỉnh cầu rất nhiều lần, một vài người trong chúng tôi đã nhận được chỉ giáo và tôi đã nhập thất trong ba tháng.

Tôi đã muốn tiếp tục hành trì này trọn đời. Công phu tu tập diễn tiến khả quan và tôi cảm nhận được nhiều năng lực và chánh niệm. Tuy nhiên, sau ba tháng, người Trung Hoa đến và nói rằng việc nhập thất này đúng là một sự phê phán đối với chính quyền của họ. Họ cho rằng pháp thiền này là một sự sỉ nhục cho đất nước và chúng tôi đang đưa ra thông điệp rằng chính quyền không thể cung cấp thực phẩm cho chúng tôi. Tựu chung là chúng tôi đang hạ thấp người Trung Hoa, rằng đây là một hình thức tinh vi của một cuộc cách mạng. Thế là chúng tôi phải chấm dứt hành trì Chulen.

Có ba loại Chulen: Chulen hoa, Chulen đá và Chulen nước. Với Chulen hoa, có một loại dược phẩm bào chế từ nhiều loại hoa khác nhau. Bạn uống ba viên: một viên buổi sáng, một viên buổi trưa và một viên buổi tối. Đó là tất cả những gì bạn dùng trong ngày và như thế là đủ. Thế rồi, khi bạn quen dần, bạn chỉ cần uống một viên là đủ. Và khi bạn đã hoàn toàn quen thuộc với điều này thì bạn không cần ăn gì cả. Bạn chỉ áp dụng sự quán tưởng và hấp thụ trực tiếp những tinh chất này vào trong người bạn. Năng lượng này tự nó đã đầy đủ để giúp cho bạn sống.

Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí, đất, nước, lửa và không gian. Bạn hấp thụ những tinh túy này vào thân mình. Bằng cách thực hành này, bạn không cần phải phụ thuộc vào thức ăn nguyên chất nữa.

Đối với các hành giả tu tập Pháp, một cuộc nhập thất Chulen giúp bạn bớt tốn thời gian. Bạn sẽ không tốn thời gian để tìm thức ăn và nấu nướng, nghĩa là bạn sẽ có nhiều thời gian hơn để thực hành Pháp, đặc biệt là khi bạn nhập thất trong một hang động. Bạn không cần nhờ một thí chủ chu cấp thức ăn cho bạn. Hơn hữa, Chulen giúp cho tâm bạn vô cùng sáng suốt. Nó hỗ trợ năng lực cho việc tham thiền. Lợi ích thứ  hai là nó kéo dài thọ mạng, giảm thiểu tóc bạc và nếp nhăn của bạn. Nó cũng khiến cho gương mặt và thân hình bạn tươi đẹp hơn.

Lợc ích tốt nhất là hiện nay, chúng ta đang tích lũy quá nhiều nghiệp tiêu cực liên quan đến thực phẩm như chấp thủ, giết hại, quá nhiều nghiệp xấu, và với hành trì Chulen, tất cả những điều này sẽ chấm dứt.
12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 07, 2011, 10:05:09 PM
AN TRÚ NƠI CÔ TỊCH LÀ THỰC HÀNH CỦA MỘT BỒ TÁT - Dilgo Khyentse Rinpoche

Tác giả : Dilgo Khyentse Rinpoche /Thanh Liên



AN TRÚ NƠI CÔ TỊCH
LÀ THỰC HÀNH CỦA MỘT BỒ TÁT
Dilgo Khyentse Rinpoche

Khi từ bỏ những nơi chốn không thuận lợi, những cảm xúc hỗn loạn dần dần phai nhạt;
Khi không có những phóng dật, các hoạt động tích cực phát triển một cách tự nhiên;
Khi sự tỉnh giác trở nên trong trẻo hơn, niềm tin nơi Giáo Pháp tăng trưởng –
An trú nơi cô tịch là thực hành của một Bồ Tát.
 

Khi bạn sống ở một nơi cô tịch, những cảm xúc tiêu cực của bạn dần dần giảm bớt, sự tự chủ và tiết chế của bạn tăng trưởng.

Chính Gyalse Thogme đã nói:

Ở một nơi cô tịch,
Không có kẻ thù để đánh bại,
Không có người thân để bảo vệ,
Không có người trên để tôn kính,
Không có thuộc hạ để chăm nom.
Vì thế, ngoài việc điều phục tâm mình,
Bạn sẽ phải làm điều gì khác ở đó, hỡi những người trì tụng Mani?1
Không bị quấy rầy bởi bằng hữu và người thân, không bị xáo trộn bởi nhu cầu kiếm sống bằng việc thương mại hay canh tác đất đai, bạn sẽ có thể nhất tâm tập trung vào thực hành tâm linh sâu xa và vì thế thực hiện sự tiến bộ tâm linh với thân, ngữ và tâm bạn. Tâm bạn sẽ trở nên tự chủ, tĩnh lặng, trong trẻo và tràn đầy sự xác quyết về chân lý của Giáo Pháp. Đây là lý do vì sao tất cả các bậc hiền triết trong quá khứ đã sống ở nơi hoang vu, trong chốn cô tịch, những vùng núi non có lợi cho thực hành tâm linh. Như Shantideva đã nói:

Và như thế, nhàm chán bởi dục vọng và khao khát của ta,
Giờ đây ta hãy vui thú trong chốn cô tịch,
Ở những nơi mọi tranh chấp và xung đột ngừng dứt,
Sự thanh bình và tĩnh lặng của rừng xanh.2
Và cũng có nói:

Không bị dính mắc vào lợi dưỡng, hãy giống như gió, hãy giống như chim.
Sống nơi hoang dã, giống như một con thú nhút nhát.
Hành động đúng đắn, bạn sẽ an trụ thanh thản.
Nếu bạn muốn hoàn toàn tập trung vào Giáo Pháp thay vì bị đong đưa liên tục đó đây bởi những con sóng tham muốn và ganh ghét, hãy từ bỏ chúng và đi tới một nơi cô tịch. Hãy xoay tâm bạn vào trong, nhận biết những khiếm khuyết của bạn, thoát khỏi chúng, và phát triển mọi phẩm tính tốt lành cố hữu của bạn. Hãy hài lòng với lượng thực phẩm đủ để nuôi sống, quần áo đủ để che thân, và thực hành của bạn sẽ tiến bộ từng ngày, từng tháng và từng năm.

Một khi bạn thoát khỏi mọi điều kiện làm sao lãng, thực hành của bạn sẽ mang lại cho bạn sự tiến bộ dọc theo con đường. Đó là lý do vì sao mọi yogi (hành giả) trong quá khứ đã lang thang từ nơi cô tịch này tới một nơi cô tịch khác. Ngay cả một tháng duy nhất ở một nơi yên tĩnh và hiu quạnh cũng đủ để sự thù hận của bạn được thay thế bằng ước muốn làm lợi lạc chúng sinh, và sự bám luyến vào bằng hữu được thay thế bằng một cảm xúc mãnh liệt về sự vô thường và cái chết cận kề.

Như Đức Atisha đã nói: “Các sao lãng làm hại thực hành của bạn cho tới khi bạn đạt được sự kiên cố. Hãy sống trong cảnh cô tịch nơi rừng rậm và núi non. Thoát khỏi những hoạt động rối loạn, bạn sẽ có thể hoàn toàn hiến mình cho việc thực hành Giáo Pháp, và bạn sẽ không hối tiếc vào lúc chết.”

Và Drom Tönpa3 nói: “Thời đại suy đồi này không phải là lúc để một người bình thường giúp đỡ những người khác ở bên ngoài, nhưng đúng hơn đó là lúc để sống trong những nơi cô tịch và tu tập lòng từ và bi của Bồ đề tâm.”4

Sự mê lầm và những tập khí mạnh mẽ tới nỗi vào lúc đầu việc thực hành Pháp dường như rất khó khăn; nhưng những khó khăn này sẽ dần dần lắng dịu. Một khi bạn đã thấu hiểu điểm cốt yếu của các giáo lý, bạn sẽ không còn phải trải nghiệm sự gian khổ hay khó khăn với giáo lý. Những cố gắng của bạn sẽ mang lại cho bạn niềm vui. Cũng giống như việc phát triển bất kỳ thiện xảo nào – bởi bạn quán triệt những điểm trọng yếu, vấn đề càng lúc càng dễ dàng hơn, sự xác tín của bạn càng lúc càng phát triển, khả năng và nỗ lực của bạn tiếp tục tăng trưởng.

Mọi thiền định hay quán chiếu bạn đã thực hiện sẽ chẳng bao giờ bị lãng phí. Lợi lạc mà nó mang lại sẽ hiện diện trong dòng tâm thức của bạn vào lúc bạn chết, và nó sẽ giúp bạn tái sinh ở một nơi Giáo Pháp nở rộ, thân cận một vị Thầy tâm linh chân chính. Đời này sang đời khác, bạn sẽ tiến triển từ một hành giả tầm thường tới một hành giả trung bình, và từ một hành giả trung bình tới một hành giả xuất sắc. Tinh túy của việc học tập là quán chiếu, và tinh túy của sự quán chiếu là thiền định. Khi bạn tiến càng lúc càng sâu vào ý nghĩa của giáo lý, những phẩm chất phi thường của Giáo Pháp sẽ càng lúc càng rõ ràng hơn, giống như mặt trời rực rỡ hơn khi bạn bay lên cao hơn nữa.

Dấu hiệu cho thấy bạn đã hoàn toàn hấp thu được việc học Pháp của bạn là bạn trở nên an bình tự bản chất. Dấu hiệu của việc bạn đã hấp thu được việc thiền định của bạn là bạn thoát khỏi những cảm xúc che chướng (phiền não chướng). Bởi việc học tập dẫn đến sự quán chiếu và quán chiếu chuyển hóa thành thiền định, việc bạn mê say những hoạt động dối gạt của đời này sẽ suy giảm và thay vào đó bạn sẽ khát khao Giáo Pháp.

Mọi sự bạn làm phù hợp với Giáo Pháp, dù nó có vẻ nhỏ bé hay tầm thường, sẽ mang lại lợi lạc. Như Kinh Hiền Ngu nói:

Đừng xem thường những thiện hạnh nhỏ bé,
Nghĩ rằng chúng khó có thể mang lại lợi lạc;
Bởi từng giọt từng giọt nước
Cuối cùng có thể làm đầy một chiếc bình khổng lồ.
Tương tự như vậy, cho dù bạn chỉ thực hành mỗi ngày một giờ với niềm tin và sự hứng khởi, những phẩm tính tốt đẹp sẽ phát triển một cách vững chắc. Việc thực hành đều đặn làm cho tâm bạn chuyển hóa dễ dàng. Từ việc chỉ nhận ra chân lý tương đối, cuối cùng bạn sẽ đi đến một sự xác quyết sâu xa nơi chân lý tuyệt đối.

Chướng ngại chính yếu của việc phát triển những phẩm tính như thế là sự sao lãng (phóng dật). Sao lãng có thể xảy ra trong từng giây phút. Nếu bạn để thời gian trôi qua một cách vô ích, vào lúc chết bạn sẽ hối tiếc rằng bạn đã không thực hành Giáo pháp. Nhưng đến lúc ấy thì quá trễ, và sự hối tiếc của bạn sẽ chẳng giúp ích được gì. Bây giờ là lúc bạn đi tới một nơi hẻo lánh và đưa những giáo huấn bạn đã nhận từ vị Thầy của bạn vào thực hành. Như thế mỗi khoảnh khắc của đời bạn sẽ trở nên quý giá và ý nghĩa, đưa dẫn bạn càng lúc càng xa rời sinh tử và tiến gần đến sự giải thoát hơn nữa.

Chú thích:

1. Người trì tụng Mani (mani pa): người trì tụng Mani, thần chú của Đức Quán Thế Âm, Đức Phật của lòng Bi mẫn. Ở đây, “những người trì tụng Mani” được dùng như một thuật ngữ đầy trìu mến để chỉ các hành giả Giáo Pháp.

2. The Way of the Bodhisattva (Nhập Bồ Tát Hạnh), trang 121.

3. Drom Tönpa Gyalwai Jungne (‘brom ston pa rgyal ba’i ‘byung gnas, 1004-1064): đệ tử người Tây Tạng thân thiết nhất của Đức Atisha, người đã ở với vị Thầy này mười tám năm. Ngài sáng lập tu viện Reting (rwa sgreng) nơi ngài an trú và giảng dạy bảy năm trước khi thị tịch ở tuổi sáu mươi.

4. Xem The Words of My Perfect Teacher (Lời Vàng của Thầy Tôi), trang 237.

Thanh Liên trích dịch từ nguyên tác:
“The Heart of Compassion – The Thirty-Seven Verses on The Practice of a Bodhisattva” by Dilgo Khyentse Rinpoche
13  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Một bài viết rất đáng đọc vào lúc: Tháng Mười Một 07, 2011, 09:52:07 PM
TỪ VỤ BUDDHA BAR & GRILL, BUDDHA SPA VÀ FUNKY BUDDHA:
Xây Dựng Một Dòng Chính Văn Hóa

 

Mấy lúc gần đây trong nước đã nổ ra ba vụ xúc phạm nặng nề tới hình ảnh của Đức Phật và Phật Giáo nói chung, khiến gây phẫn nộ nơi hàng Phật tử. Đó là việc lợi dụng lòng Từ Bi, Hỉ Xả của Phật Giáo và trào lưu đang hướng về Phật Giáo trên toàn thế giới, nhất là Thiền, một vài người làm ăn đã dùng tên Phật và hình ảnh Phật (Buddha) cho cơ sở thương mại không đứng đắn của họ: Đó là Buddha Bar & Grill ở Sài Gòn và tệ hại hơn nữa Buddha Spa và Funky Buddha ở Hà Nội. (1)

Đóng góp ý kiến của chư tăng và Phật tử khắp nơi - trong lẫn ngoài nước thật nhiệt tình. Cuối cùng hai trong ba chủ quán nói trên đã ý thức được việc làm không thích hợp của mình ra thông báo xin đổi tên. Đây là điều đáng mừng. Thấy sai mà biết sửa chữa là tốt. Tuy nhiên còn chủ quán rượu Funky Buddha thì chưa thấy nói gì. Ngay từ lúc đầu, trên tinh thần Từ Bi, Hỉ Xả, tôi đã không nghĩ rằng chủ nhân hai quán nói trên là những người xấu, cố tình nhục mạ Phật Giáo, nhưng họ đã hành động một cách thiếu suy nghĩ, lợi dụng tên tuổi của Phật và uy danh của Phật Giáo cho mục tiêu câu khách mà không cần lý tới hậu quả và tác hại của nó. Cộng thêm với rất nhiều chuyện chướng tai gai mắt, lai căng khác đang diễn ra hằng ngày, cho thấy xã hội truyền thống đang bị thách thức bởi chủ nghĩa cá nhân phóng túng, buông thả, ích kỷ, tự do quá trớn nhập cảng từ Âu-Mỹ. Đó là trào lưu của thế hệ mới chỉ nghĩ đến việc làm sao cho nổi tiếng, sao cho kiếm được nhiều tiền, không cần biết tới giá trị đạo đức, truyền thống dân tộc, không nghĩ tới người khác…mà tôi nghĩ rằng khuynh hướng này đang bùng phát trong xã hội.

Do nhu cầu Đổi Mới Kinh Tế và gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Việt Nam hiện nay đang là cửa ngõ giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng “ngoại lai” giống như một đợt Sóng Thần, không những do ngoại nhân, Internet, phim ảnh, báo chí đem tới mà còn do ngay chính hằng triệu con dân Việt Nam ở ngoại quốc đem về: Đó là hằng chục ngàn cô gái lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn, hằng trăm ngàn công nhân trong chương trình Hợp Tác Lao Động ở các quốc gia Đông Âu, Liên Xô cũ, thậm chí ở cả các quốc gia Ả Rập, ấy là chưa kể số lượng du học sinh từ các quốc gia Tây Âu, Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ, Trung Quốc v.v…Nhưng đông đảo nhất và có thể tạo nên một cuộc đổi thay văn hóa có tính cách lịch sử đó là những gì mà 1,600,000 người Việt ở Hoa Kỳ đem về Việt Nam.

Những cô gái quê nghèo, thiếu học lấy chồng Đại Hàn đã bỏ đạo của tổ tiên để theo Tin Lành và khi trở về thăm nhà, đã không quỳ lạy bàn thờ ông bà và làm nhiệm vụ cải đạo ngay cha mẹ và anh em ruột thịt của mình, gây đau đớn cho cả gia đình và ngỡ ngàng bà con lối xóm. Ngay cả công nhân làm việc ở Nga, một số cũng cải đạo theo Tin Lành và khi về nước đã tham dự cuộc tụ họp ở Mỹ Đình với Tuyên Ngôn Thuộc Linh “ đầy khiêu khích và ngạo mạn” mà một số website Phật Giáo trong nước có đề cập tới. Còn đối với số công nhân làm việc tại các quốc gia Ả Rập có ai cải đạo sang Hồi Giáo hay không thì tôi không rõ. Tuy nhiên tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất, lớn nhất - không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo (cải đạo) mà còn tác động tới muôn mặt của xã hội như: tập quán, nếp sống gia đình, cách thức suy nghĩ, làm ăn, quan niệm sống, vui chơi giải trí, y phục, ngôn ngữ. Nó đang tấn công vào nền văn hóa cổ truyền của một đất nước trước đây đã “bế quan tỏa cảng” một thời gian rất dài. Đó là những gì mà 1,600,000 người Việt ở Hoa Kỳ và khoảng 250,000 người Việt ở Úc đem về Việt Nam.

Có thể nói Hoa Kỳ ngày nay đang là một “siêu đế quốc” thống trị nhân loại về nhiều mặt. Đồng đô-la Mỹ là đơn vị tiền tệ được lưu hành và dự trữ khắp thế giới. Vũ khí của họ thì khỏi nói. Hoa Kỳ là nước có nhiều căn cứ quân sự và binh sĩ đóng ở ngoại quốc nhất. Hoa Kỳ là nước phóng nhiều vệ tinh, trạm không gian vào vũ trụ mà chúng ta không biết trên đó họ chứa, cất dấu những gì. Hoa Kỳ có nền kỹ nghệ điện ảnh áp đảo. Những phim mà họ đóng ra được cả thế giới xem hoặc mua về xem. Còn kỹ nghệ ca nhạc thì họ hoàn toàn vô địch. Ca sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ được cả thế giới ngưỡng mộ. Điệu nhạc, bài hát nào gọi là “top hit” lập tức được cả thế giới nhái theo và hát đi hát lại. Chỉ nội kỹ nghệ điện ảnh và ca nhạc không thôi Hoa Kỳ đã tác động tới đầu óc cả tỷ thanh niên, thiếu nữ trên hành tinh này. Về thời trang, quần áo thì khỏi chê. Các tài tử điện ảnh, ca sĩ nhạc Pop, nhạc Rap, cầu thủ đánh bóng rổ… ăn mặc như thế nào, kiểu cọ đầu tóc, quần áo hở bụng, hở ngực, hở vú ra sao, xâm trổ, vẽ mặt, đeo khoen ở môi ở mũi ở lưỡi như thế nào…lập tức cả trăm triệu trai gái kể cả các bà đã luống tuổi cũng bắt chước theo. Về thể thao họ cũng thống trị nhân loại. Còn về lãnh vực truyền thông thì Hoa Kỳ bá chủ thiên hạ. Các hãng thông tấn AP, UPI, Yahoo News đều của Hoa Kỳ. Từ Nam Cực cho tới Bắc Cực. Từ đỉnh Hy Mã Lạp Sơn cho tới các quốc gia nhỏ bé ở Phi Châu, hải đảo. Từ Trung Đông cho tới Á Châu… đâu đâu cũng có thông tín viên của họ. Những tin tức nóng bỏng hàng đầu về những vấn đề trọng đại của thế giới đều do các hãng này loan đi. Dĩ nhiên khi nắm đầu được truyền thông như thế họ có thể uốn nắn tin tức và từ đó xoay chuyển lề thói suy nghĩ, tác động đến cách quyết định, hành xử, cách nhận định đúng-sai, bạn-thù của chúng ta. Còn Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) thì có cả trăm thổ ngữ được tiếp vận đi toàn thế giới, đủ sức để tuyên truyền cho Hoa Kỳ và nhào nặn đầu óc của nhân loại.

Thế nhưng bên cạnh những cái nhất và vĩ đại đó Hoa Kỳ là nơi có nhiều thứ nhố nhăng, dâm ô, đồi trụy, khùng điên và xấu xa nhất. Mới đây, một bà mẹ 48 tuổi ở  Tiểu Bang South Carolina đã giết hai con trai, người chồng cũ và bà mẹ kế để lấy tiền bảo hiểm nhân thọ. Nói thế có người sẽ vặn hỏi: Nếu vậy tại sao Hoa Kỳ vẫn là siêu cường thống ngự nhân loại? Xin thưa sở dĩ Hoa Kỳ chưa xụp đổ là vì - dù có những thứ nhố nhăng, đồi trụy và xấu xa đó nhưng Dòng Chính (Mainstream) vẫn đủ mạnh để cuốn đi những mặt tiêu cực. Một ngày nào đó nếu Dòng Chính suy yếu thì chính là lúc “người khổng lồ” ngã quỵ. Nó giống như một con sông nhiều rác rưởi, nếu dòng nước mạnh thì vẫn đủ sức cuốn trôi đi. Nhưng một lúc nào đó rác rưởi quá nhiều, dòng sông bị nghẹt cứng và trở thành nước tù hãm, hôi thối và dòng sông chết. Có thể nói không một thế lực nào có thể đánh gục nước Mỹ, mà nước Mỹ chỉ tự hủy diệt mình mà thôi. Tiến trình hủy diệt giống như sự xụp đổ của Đế Quốc La Mã năm xưa. Khi cách biệt giàu nghèo gia tăng, công nhân thất nghiệp, sinh viên ra trường không kiếm được việc làm, sưu cao thuế nặng, chi phí quốc phòng tốn kém, trợ cấp xã hội quá cao, đem quân đi đánh khắp nơi, công khố trống rỗng, nợ nần không trả được, các đại công ty làm ăn bất chính như: thổi phồng lợi tức để bán cổ phiếu sau đó cổ phiếu tụt dốc khiến người mua trắng tay, nhận tiền bail out cứu nguy của chính phủ chia nhau xài qua hình thức phần thưởng công ty gọi là “bonus” rồi khai phá sản, khuynh hướng đồi trụy, tội phạm gia tăng, chủ nghĩa cá nhân phóng túng khiến đất nước suy yếu, chính quyền bất lực, một số tiểu bang vì muốn sinh tồn có thể tách ra. Đó là lúc Hoa Kỳ xụp đổ.

Như đã nói ở trên, từ một thuộc địa của Anh, Hoa Kỳ trở thành một siêu cường, dĩ nhiên là đất nước họ có rất nhiều cái hay cái đẹp. Nhưng những cái tốt đẹp này nó tiềm ẩn mà phải là người có trình độ giáo dục, phải theo dõi và hòa nhập và dòng sinh hoạt chính của Hoa Kỳ, phải đọc lịch sử Hoa Kỳ, văn hóa Hoa Kỳ mới thấy. Có thể nói, hầu hết những gì mà người dân ở các quốc gia khác bắt chước đều là cái xấu của Hoa Kỳ. Giả dụ một cô gái không có học ở Việt Nam với đôi chút nhan sắc, sang đây, chỉ cần tới tiệm bán giày dép, quần áo như Macy’s, rồi vào tiệm uốn tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ, thì cô ta đã “lột xác”. Và chỉ trong một tuần lễ, cô ta có thể học được cách vẽ môi, vẽ mắt, vẽ mặt, những gì đang diễn ra trên đường phố và những điệu nhún nhảy của Mỹ. Nhưng để có bằng AA Degree (Cán Sự) thì ít ra phải học Anh Văn 6 tháng rồi vào Đại Học Cộng Đồng 2 năm. Còn cử nhân (BA, BS) thì tối thiểu 5 năm. Nhưng để hiếu biết về truyền thống văn hóa, nhân cách Hoa Kỳ thì có khi phải mất 20, 30, 40 năm, mở mắt cho to và chịu khó học hỏi mới thấy. Đó là tinh thần làm việc siêng năng, đầu óc sáng tạo, tinh thần trọng pháp, sự đóng góp thiện nguyện, tham gia cộng đồng, thái độ khiêm tốn lịch sự và biết chia xẻ của người Hoa Kỳ.

Dĩ nhiên khi người Việt đem văn hóa Mỹ về Việt Nam thì sản phẩm tùy theo trình độ mỗi người. Đối với những người lớn tuổi trước đây ở Việt Nam đã có văn hóa cao, dù ở Mỹ, Úc, Pháp, Đức bao lâu, khi về Việt Nam họ không bao giờ đem những cái nhố nhăng, lai căng ra khoe. Họ không phải là thành phần “áo gấm về làng”. Điều mà họ mong muốn là đóng góp vào nền văn hóa, giáo dục, kinh tế, khoa học, y khoa của đất nước. Còn đời sống thì họ vẫn mộc mạc, khiêm tốn như xưa bởi vì trước đây họ đã “sống trên nhung lụa”. Thế nhưng những gì mà họ đóng góp cho đất nước lại chỉ gói gọn trong khuôn viên đại học, tầng lớp trí thức, chứ không tràn lan ra ngoài xã hội. Những gì mà họ mong muốn chuyển hóa đất nước ít ra phải mất năm, mười năm chứ không chỉ một sớm một chiều. Còn đối với thế hệ trẻ trưởng thành ở Mỹ đã tốt nghiệp đại học, đã đi làm, thì không cần phải nói, người trong nước cũng đã thấy con người và cung cách làm việc của họ như thế nào. Cái nguy hại nhất là những gì mà thành phần ít học và “áo gấm về làng” đem về.

Có thể nói phần lớn những gì mà thành phần này du nhập vào Việt Nam đều là những thứ a dua, bắt chước, nhố nhăng, bèo bọt của xã hội Hoa Kỳ chứ không phải là những gì làm nền tảng để xây dựng một xã hội tốt lành. Đây cũng là điều dễ hiểu vì họ ngay tình không biết và thâm tâm họ nghĩ đây là “cái hay, cái đẹp, cái văn minh, cái nhất thế giới của Mỹ ”. Và tất cả những thứ này đã tác động ngay và mạnh mẽ đến người trong nước. Nguyên do dễ hiểu bởi vì người dân đa số nghèo quá và thiếu hiểu biết. Khi thấy người Việt từ ngoại quốc về thì nhìn với ánh mắt  thán phục và thèm khát. Xin nhớ cho một nền văn hóa tồi tệ nhưng kinh tế mạnh vẫn có thể áp đảo một nền văn hóa tốt nhưng nghèo. Tôi có người em gái mới định cư vào Mỹ cách đây vài tháng cho biết ở Việt Nam bây giờ cũng có nguời tổ chức Lễ Halloween (Lễ Con Ma) và Valentine (Ngày Tình Yêu). Đúng là chuyện rởm đời! Ở đâu thì có lễ hội đó. Lễ hội phát xuất từ cuộc sống của dân gian mà đi lên. Chẳng hạn ngày xưa chưa có đèn điện, đất nước lại sống về nông nghiệp cho nên con người mới trân quý Chị Hằng cho ánh sáng về đêm cho nên mới có Tết Trung Thu, mới có Hát Hội Trăng Rằm, mới có Gạo Trắng Trăng Thanh. Vì đất nước ta nhỏ luôn luôn bị giặc Phương Bắc xâm chiếm, đô hộ cho nên toàn dân mới quý trọng các vị anh hùng đánh đuổi ngoại xâm, từ đó mới có đền thờ Bà Trưng, Bà Triệu, Thánh Gióng, Đức Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ v.v…và các anh hùng liệt sĩ. Ở Mỹ làm gì có chuyện đó. Rồi thì đất nước triền miên khói lửa, giặc giã, đói kém, tù tội, binh sĩ hy sinh ngoài mặt trận, dân lành oan thác.. cho nên vì lòng từ bi, lân mẫn mà có Tháng Bảy Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân và Cúng Cô Hồn. Vì dân Việt coi trọng nguồn gốc “Cây có cội, nước có nguồn” cho nên mới có tục lệ thờ cúng tổ tiên, Vu Lan Báo Hiếu, chảy Hội Đền Hùng. Còn ngày Tết gia đình tụ hội để tưởng nhớ về ông bà nội ngoại, sau đó vui chơi, thăm bè bạn, đi chùa lễ Phật cầu phước cho con cháu, chứ không phải chỉ tụ tập ở Times Square, New York rồi la ó để “Count-down chào đón New Year”. Xin nhớ cho tôn giáo thế nào thì văn hóa thế đó. Văn hóa thế nào thì lễ hội như thế. Cái đẹp ở chỗ này chưa hẳn đã đẹp ở chỗ khác. Cái được chấp nhận ở chỗ này chưa chắc được ưa chuộng ở chỗ kia. Xin đừng lai căng, bắt chước. Xin đừng đem về những rác rưởi xã hội của người ta. Hiện nay tại Mỹ người ta đang khổ vì Lễ Halloween và ngày lễ này cũng từ từ phai nhạt. Nguyên do là vì trong Lễ Halloween trẻ em, người lớn thường hóa trang thành những tên cướp biển, con ma, quỷ Dracula đeo mặt nạ, miệng đầy máu, cầm dao giả, súng giả đi xin kẹo ban đêm hay đi lang thang ngoài đường hoặc vào các quán rượu (Bar) đã khiến gây ngộ nhận là ăn cướp giả trang, năm nào cũng có người bị bắn chết. Vả lại trong tình hình nước Mỹ đang điên đầu với kế hoạch chống khủng bố, ăn mặc giả trang như thế khác nào giúp cho bọn xấu lợi dụng để giết người, cho nên người Mỹ bắt đầu “sợ” Lễ Halloween trong khi một số “Việt kiều rởm” lại rước về đất nước của mình.

Tuy nhiên những gì đề cập trên đây chỉ  là những thứ “lẻ tẻ” không đáng sợ. Điều đáng lo nhất là cái đầu óc bị nhiễm “vi khuẩn xấu ”. Đó là tinh thần vọng ngoại, cá nhân chủ nghĩa phóng túng, quên cội quên nguồn, khinh chê văn hóa dân tộc, chạy theo “kinh tế thị trường”, tìm đủ mọi cách làm giàu mau chóng mà không cần biết tới Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Khi có chút của cải rồi thì “ trưởng giả học làm sang” sống sa hoa phung phí, chỉ biết có mình, không hề biết chia xẻ hoặc dửng dưng trước khổ đau của người khác. Tôi nghĩ rằng cái bảng hiệu Buddha Bar & Grill ở Sài Gòn, Buddha Spa và Funky Buddha ở Hà Nội kia, cùng với rất nhiều những thứ nhố nhăng khác, chính là sản phẩm ngoại lai du nhập vào từ những bèo bọt của văn  hóa xứ người và đầu óc “kinh tế thị trường”chạy theo lợi nhuận.

Khi cánh cửa bị khép kín lâu ngày bỗng dưng mở toang, khiến cái xấu lẫn cái tốt ùa vào. Do thiếu chuẩn bị, thiếu gạn lọc, thiếu một dòng chính văn hóa đủ mạnh để “cuốn đi rác rưởi” hai bên bờ, chúng ta phải trả một giá rất đắt ngày hôm nay. Dù nói trời nói đất gì đi nữa, một quốc gia không có một nền văn hóa dòng chính mà để xã hội phô bày ra một kiểu cách “bát nháo” trong cuộc sống thì không được thế giới kính nể. Nếu những cái xấu cứ tiếp tục được nuôi dưỡng và lan tràn thì đến một lúc nào đó sẽ tạo ra một xã hội vô tổ chức, hư đốn, rồi dẫn tới bạo động, dù luật pháp có nghiêm khắc thế nào cũng bất lực. Bởi vì khi đó, chính luật pháp cũng bị hư đốn theo. Năm xưa Lê Ngọa Triều đã dùng vạc dầu, hổ báo ăn thịt người, róc mía lên đầu nhà sư, mà đất nước vẫn cứ loạn triền miên và phải đợi tới Lý Công Uẩn thay thế, dùng đức để trị dân, đất nước mới thái bình thịnh trị.

Nói như thế không có nghĩa là phiền trách. Hai chữ “phiền trách” không có trong kinh điển nhà Phật. Đạo Phật không bao giờ chủ trương than thân trách phận hay chấp nhận định mệnh cay đắng, mà Đạo Phật chủ trương trực diện với khổ đau, sắn tay áo lên, lao vào để giải quyết. Đức Phật không ngồi trên Cung Trời rồi sai phái một đứa con hay một sứ giả xuống Cõi Ta Bà này tuyên phán rằng nhân loại hãy cứ cầu nguyện và tôn thờ Ngài rồi sẽ có tất cả. Mà Đức Phật đã đích thân thị hiện (sinh vào) vào cõi trần lao này, tự tu, tự chứng rồi phát nguyện độ tận chúng sinh. Trên tinh thần đó thì câu hỏi đặt ra là ai sẽ làm công việc lao vào chốn trần lao, bụi đời này để cứu độ chúng sinh, nói khác đi trong mặt trận bảo tồn và xây dựng văn hóa?

Có ba trụ cột vừa là nhân tố xây dựng và là điểm tựa cho nền văn hóa, đó là: Chính quyền, tôn giáo và trí thức.

1) Vì nắm quyền lực trong tay, ấn định chính sách giáo dục, chính quyền có đầy đủ phương tiện để định hướng, xây dựng và hỗ trợ cho việc hình thành, phát huy một dòng chính văn hóa cho dân tộc. Trường học chính là môi trường giáo dục văn hóa bậc nhất của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên vai trò quan trọng nhất của nhà cầm quyền là phải tự biến mình thành gương mẫu cho toàn dân. Kỳ vọng của quần chúng đối với chính quyền không gì hơn Cần, Kiệm, Liêm, Chính và Thượng Tôn Luật Pháp. Chỉ cần giữ gìn được những tiêu chuẩn đạo đức công quyền đó thôi thì chính quyền đã trở thành “phụ mẫu chi dân”, nói gì dân cũng nghe và làm theo.

2) Về vai trò của tôn giáo thì Phật Giáo chính là tiêu biểu cho dòng chính văn hóa dân tộc, nhưng  trước thực tại này Phật Giáo phải làm gì? Trước hết quý sư, ni phải là mẫu mực về phẩm hạnh và tu chứng bản thân. Mà muốn trở thành gương mẫu, theo Hòa Thương Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ thì không ngoài Giới-Định-Huệ. Giữ gìn được Giới-Định-Huệ thì trở thành thánh tăng, nói gì đại chúng cũng nghe và khi đó chư tăng, ni trở thành trụ cột đạo đức của đất nước. Xa lìa Giới-Định-Huệ thì sa đọa, uy tín không có và gốc Phật Giáo lung lay, nói chi việc giáo hóa chúng sinh, xây dựng văn hóa. Là người con Phật, dùng con mắt Tuệ quán chiếu vào cuộc sống và thế giới ngày hôm nay, chúng ta phải thương xót chúng sinh mới phải. Chưa bao giờ loài người phải đối phó với những thử thách nghiêm trọng như vậy. Dân số thì gia tăng, tài nguyên thì lần hồi khô kiệt, lương thực thiếu kém, động đất, sóng thần, lụt lội, bão tố triền miên khiến tốn kém và tổn thất sinh mạng, kinh tế đình trệ trong khi đó thì nhu cầu của con người mỗi lúc mỗi gia tăng- nhu cầu thiết thực thì không nói gì - mà trong đó còn có cả nhu cầu phù phiếm nữa. Buổi sáng thức dậy là cả những căng thẳng, toan tính, lo âu về cuộc sống khiến không còn chủ định được nữa. Trong khí đó những “cơn bão cám dỗ ngoại lai” ào ào thổi tới như muốn xô ngã, như muốn lôi kéo đất nước và chúng sinh vào con đường vô định. Nhìn ra ngoài xã hội, những người giàu thì giàu quá khiến tạo nên sự thèm khát, từ đó tìm đủ mọi cách để ngoi lên. Thử hỏi trong bối cảnh đó văn hóa, đạo đức còn duy trì được không? Có phân tích được như thế thì mới thấy chúng ta không thể oán trách hoặc kết tội chúng sinh. Ngày hôm nay, chư tăng ni không thể chỉ ngồi Thiền, tụng kinh niệm Phật, lên non Nhập Thất để tìm sự giải thoát cho bản thân mình mà phải sắn tay áo lao vào xã hội để giúp đời. “Phật Giáo đồng hành cùng dân tộc” ngoài việc giữ nước, nổi trôi theo vận nước, còn có nghĩa là cùng chia xẻ và giúp giải quyết những khó khăn của đất nước, của cộng đồng dân tộc. Ngoài những việc tốt lành mà chư tăng ni đã làm trong nhiều năm qua, các ngài phải làm sao, nói sao cho người giàu có dám bỏ tiền bạc ra làm phước thiện, xây bệnh viện, trường học và cấp học bổng cho học sinh nghèo. Phải làm sao cho đất nước có nhiều ông Cấp Cô Độc như thời Đức Phật tại thế. Tinh thần đóng góp thiện nguyện “Dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người” là dòng chính của văn hóa dân tộc. Phải nói làm sao cho các bà, các cô ăn không hết của, bớt tiền son phấn, quần nọ áo kia, giày dép đắt tiền, chơi bời hoang phí để giúp đỡ những cô nhi, quả phụ, trẻ em khuyết tật: Đó là dòng chính của văn hóa dân tộc. Phải nói làm sao để những người đang hãnh tiến vì của cải, coi người như cỏ rác hãy biết khiêm tốn và biết câu “lá lành đùm lá rách”: Đó là dòng chính của văn hóa dân tộc. Hãy nói làm sao để những kẻ ở trong thương trường đang “ăn gian làm dối” biết xấu hổ: Biết xấu hổ là dòng chính của văn hóa dân tộc. Hãy nói làm sao để những người đang chạy theo thói đời trưởng giả, nếp sống ngoại lai biết nhìn lại xem mình là ai – là Việt là Tây là Tàu hay là Mỹ? Biết nhìn lại mình, nhận biết được nguồn gốc của mình là dòng chính của văn hóa dân tộc. Phải nói làm sao để những người nghèo đừng tự ti mặc cảm mà phải tự tin, hy vọng rồi theo con đường đạo đức để vươn lên: Tự tin và tuân thủ đạo đức xã hội là dòng chính của văn hóa dân tộc. Phải nói làm sao để những người đang hành nghề bán buôn tại những khu du lịch đừng có lối “chặt chém” cướp tiền du khách. Giá cả minh bạch, thuận mua vừa bán là dòng chính văn hóa của bất cứ quốc gia nào. Hãy nói làm sao để những kẻ đang dùng tên tuổi và hình ảnh của những bậc tôn kính cho dịch vụ làm ăn không đứng đắn biết đó là sai trái để sửa chữa. Có lỗi mà biết sửa chữa là dòng chính của văn hóa dân tộc. Hãy nói làm sao để quý thầy cô, các bậc cha mẹ dạy dỗ con cái đừng nói năng thô bỉ, tục tĩu và biết kính trọng mọi người. Biết kính trên nhường dưới là dòng chính của văn hóa dân tộc. Hãy nói làm sao để người lớn, trẻ em đừng phóng uế bừa bãi. Biết giữ gìn vệ sinh đường phố, bảo vệ thú vật cây cỏ, bầu trời, biển hồ sông suối. Bảo vệ thiên nhiên, tôn trọng của công đó là dòng chính của văn hóa dân tộc.

3) Còn đối với hàng ngũ trí thức, trách nhiệm cũng vô cùng nặng nề. Cái quý trọng nhất của trí thức là đóng góp sự hiểu biết của mình cho sự phát triển của đất nước, làm đẹp, làm sáng, làm cao thượng thêm cuộc đời như Cụ Nguyễn Công Trứ nói “Phù thế giáo một vài câu thanh nghị”. Dĩ nhiên trí thức cần có cuộc sống đầy đủ nhưng lý tưởng của trí thức không phải là quyền lực, của cải mà Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là một gương sáng tuyệt vời khiến các Vua Mạc, Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh phải vấn hỏi về những vấn đề trọng đại của đất nước. Vì có phương pháp khoa học, có đầu óc quan sát tinh tế và nhìn xa trông rộng (viễn kiến) cho nên trí thức cần mạnh dạn đóng góp vào mọi vấn đề của đất nước như: đạo đức, văn hóa, xã hội, kinh tế, quốc phòng. Phương thức làm việc của trí thức là nghiên cứu rồi đưa ra giải pháp giống như một ông bác sĩ chẩn bệnh rồi cho thuốc. Người trí thức chân chính không kết tội ai. Thật khôi hài nếu ông bác sĩ la mắng bệnh nhân “tại sao thế này, tại sao thế kia” khi bệnh nhân tới xin trị liệu. Ngoài ra trí thức không phải là chính trị gia. Chính trị gia hoạt động nhằm mục đích tranh đoạt chính quyền để lãnh đạo đất nước. Trí thức chân chính không lệ thuộc vào đảng phái nào. Tại Hoa Kỳ, nếu trí thức thuộc Đảng Cộng Hòa sẽ chỉ trích bất cứ chính sách nào của Đảng Dân Chủ, dù chính sách đó tốt đẹp và ngược lại. Trí thức chân chính chỉ vì lợi ích chung mà nói. Trí thức là khối óc (Think Tank) của dân tộc. Đất nước không có trí thức giống như cá sống trong ao tù. Đất nước có trí thức giống như rồng gặp mưa bay lên trời. Ở Hoa Kỳ trước những vấn đề đối nội, đối ngoại gay go, người ta thường phỏng vấn những chuyên viên thượng thặng, tức những nhà thức giả về vấn đề này. Ở đâu cũng vậy, khi trí thức lên tiếng thì quần chúng lắng nghe. Việt Nam hiện nay, do nhu cầu Đổi Mới, gia nhập Cộng Đồng Thế Giới và vì tốc độ phát triển quá nhanh, yếu tố ngoại lai đủ loại lùa vào như một cơn bão, truyền thống văn hóa Việt đang bị thách thức nghiêm trọng. Xây dựng và củng cố một dòng chính văn hóa để đất nước tiến lên mà không mất gốc không hỗn loạn, đẹp mà dễ thương đó cũng là trách nhiệm của trí thức đương thời.

Kết luận:

Văn hóa chính là sự gạn lọc của của trí tuệ, kinh qua lịch sử, cùng với tôn giáo như bóng với hình. Hồi Giáo có văn hóa Hồi Giáo. Thiên Chúa Giáo có văn hóa Thiên Chúa Giáo. Phật-Lão-Khổng có văn hóa Tam Giáo đi kèm không thể nhầm lẫn và cho thấy nét đặc thù của mỗi dân tộc. (2) Khi đất nước loạn ly, văn hóa suy đồi. Khi đất nước bị nô lệ, văn hóa bản địa tiêu vong, nếu sống sót thì cũng “lai căng, hổ lốn”. Khi đất nước tự chủ, thái bình, thịnh trị và có “minh quân” thì mọi thứ đều hưng thịnh, văn hóa dân tộc sán lạn và là dòng chính cho mọi hình thái cư xử, sinh sống của xã hội. Có thể nói văn hóa chính là “bộ óc” quyết định mọi sinh hoạt của con người. Ví dụ: Một người “có văn hóa” thì ăn nói lễ độ, biết giữ gìn vệ sinh chung, biết bảo bọc truyền thống dân tộc, kính trọng các nơi tôn nghiêm, biết giá trị lịch sử, biết thế nào là giới hạn của mọi vấn đề, cao hơn nữa là biết thương yêu, chia xẻ và khiêm tốn. Còn người “thiếu văn hóa” thì ăn nói thô bỉ, cộc lốc, phóng uế bừa bãi, không biết giữ vệ sinh chung, nhố nhăng, lai căng, không biết tôn kính các nơi chốn trang nghiêm, không biết giá trị lịch sử, không biết quý trọng truyền thống dân tộc, không biết thế nào là giới hạn, không biết yêu thương, không biết chia xẻ và thường kiêu ngạo.

Trong bài viết “Sự Cường Thịnh Của Một Quốc Gia Theo Đức Phật” phổ biến vào Tháng 6, 2010 tôi đã viết “Khi mà những kẻ côn đồ, dao búa, những kẻ sống thác lọan, trụy lạc, những kẻ trọc phú, những kẻ vô phẩm hạnh mà được TV, báo chí tới phỏng vấn, bốc lên như một thứ “role model”  khuôn mẫu cho mọi người vươn tới - thì đó là một xã hội hư đốn đồi trụy, một xã hội không còn coi học vấn và phẩm hạnh là những gì tôn quý.”  Vậy muốn xây dựng một đất nước hùng cường và toàn dân trên dưới một lòng thì phải xây dựng một dòng chính văn hóa. Cao nhất của văn hóa là Tinh Thần Dân Tộc, Sự Hiểu Biết, Lễ Độ và Lòng Nhân Đạo. Một đất nước sẽ vô cùng hùng mạnh nếu mọi người có ý thức, lễ độ, có tinh thần trách nhiệm, biết chia xẻ và đùm bọc lấy nhau. Một đất nước - dù là siêu cường - cũng sẽ bị hủy diệt nếu mọi người sống trong tinh thần ích kỷ. Thế nhưng muốn xây dựng được một dòng chính văn hóa như thế chúng ta phải có một cái gì, tức phải có Vốn. Người Do Thái thông minh và có tinh thần đoàn kết tuyệt vời. Tân Gia Ba phát triển nhờ tinh thần kỷ luật. Nhật Bản vừa có kỷ luật vừa có tinh thần tự sỉ (biết xấu hổ và tự sát khi phạm lỗi lầm nghiêm trọng). Hoa Kỳ có tinh thần, sáng tạo, trách nhiệm và trọng pháp. Lào, Miến Điện, Kampuchia, Thái Lan, Tích Lan có lòng kính ngưỡng Tam Bảo không nơi nào bằng. Còn Việt Nam chúng ta có gì ?

Đào Văn Bình

(California Tháng 11, 2011)
14  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Đại Hồng Cát ' story / Re: Nơi tận cùng cuộc sống (phần 2) vào lúc: Tháng Mười Một 07, 2011, 09:35:11 PM
Một thể loại chuyện kiếm hiệp vừa dịu dàng vừa quyết liệt, cảm giác đọc như cắn hạt dưa ngày Tết, cắn mãi không biết dừng ở chỗ nào, và cũng chẳng muốn dừng. Tôi thấy tôi thật may mắn. May mắn tôi là người tu hành, may mắn tôi ở cách Vn nưả vòng trái đất, may mắn mọi thứ hấp dẫn tôi chỉ trong những chuyện kể thế này, còn không thì tôi nhất định phải yêu cho bằng được cái ông văn sĩ viết kiểu lãng đãng gây chết người.
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / GÓP NHẶT TRÍ TUỆ. vào lúc: Tháng Mười Một 07, 2011, 09:02:57 PM
LỊCH SỬ KIM CANG THỪA


Khamtrul Rinpoche Jigme Pema Nyinjadh khai thị



Con đường đạt đến giải thoát giác ngộ nhiều vô số ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình chúng sinh. đức Phật đã tùy theo căn cơ của chúng sinh tuyên thuyết vô lượng giáo pháp không thể tính đếm nhằm một mục đích dẫn dắt chúng sinh đạt giác ngộ.

Theo Tantra Mahayoga, giáo pháp xuất phát từ tâm trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật sẽ tùy theo căn cơ của chúng sinh lãnh hội lợi ích khác nhau.

Trong đạo Phật chia ra nhiều thừa: Thanh Văn Thừa, Duyên giác thừa và Đại thừa. Đại thừa lại được chia thành hai thừa: 1. Nhân thừa (Hiển giáo) – chú trọng tới sự thực hành công hạnh sáu Ba La Mật, 2. Quả thừa hay Kim Cương Thừa, con đường hợp nhất đại hỷ lạc và tính không.

Kim cương thừa có bốn thứ lớp Tantra: Kriya Tantra, Carya Tantra, Yoga Tantra và Annutarayoga Tantra. Cũng như tất cả mọi dòng sông đều hội tụ về biển, bản chất của giáo pháp tất cả các thừa đều hội tụ trong giáo pháp Mahamudra. Bởi vậy, Mahamudra, Prajnaparamita (Bát nhã Ba La Mật), Madhyamika (Trung luận) và Zogpa Chenpo v.v… xét về mục đích tối thượng đều không khác.

Trong giáo pháp Mahamudra, có Căn bản Mahamudra, Đạo Mahamudra và Quả Mahamudra. Căn bản Mahamudra là bản chất bất nhị, hợp nhất của hết thảy vạn pháp; Đạo Mahamudra trong truyền thừa Drukpa là Sáu Pháp Yoga của Naropa và những khai thị về những thứ lớp thiền định của Mahamudra; còn Quả Mahamudra là sự chứng ngộ tự tính tâm và chính đẳng chính giác.

Theo lịch sử Kim Cương thừa, một lần vị vua Indrabodhi của Odiyana miềm Tây Varanasi đã nhìn thấy rất nhiều Arahat bay thẳng trên bầu trời về phía phương Đông. Thấy tò mò và kinh ngạc, ông đã hỏi vị tể tướng là Dawa Zangpo xem những người đó là ai. Vị tể tướng đã thỉnh tâu rằng đó là đệ tử của đấng giác ngộ Sidhartha và họ đang tới thành phố Varanasi nơi đức Phật chuyển Pháp luân. Ngay khi nghe danh hiệu đức Phật, trong lòng vị vua tự nhiên trào dâng một niềm hỷ lạc và tín tâm vô bờ, ông nghĩ rằng nếu đệ tử của đức Phật có được những khả năng thần thông như vậy thì chắc chắn đức Phật cũng có tâm đại từ bi vô lượng và pháp thần thông vi diệu. Khi đó, vị vua ngay lập tức quỳ gối xuống, hướng về phương Tây và đỉnh lễ, cầu nguyện thỉnh đức Phật tới cung điện của ông vào trưa ngày hôm sau. Đức phật đã nghe thấy lời thỉnh cầu của vị vua. Ngày hôm sau, Ngài và các đệ tử, những bậc có thần thông siêu việt đã từ Varanasi bay thẳng tới hoàng cung.

Vị vua đã cung đón đức Phật với lòng kính ngưỡng vô bờ và thỉnh ngài ban cho giáo pháp giải thoát luân hồi khổ đau. Mặc dù đức Phật đã biết những gì mong muốn trong tâm vị vua, nhưng ngài vẫn khuyên vị vua hãy từ bỏ tất cả mọi thứ, của cải, ngôi báu, gia đình v.v… để xuất gia tu hành, chỉ khi đó ngài mới ban cho vị vua giáo pháp giải thoát. Vị vua đáp lại: “Kính bạch đức Phật toàn tri! Tâm chúng con còn đầy năm độc nhiễu hại, nhất là ái dục, chúng con không thể từ bỏ những vui thích của giác quan được. Xin ngài rủ lòng từ bi khai thị con đường giải thoát luân hồi khổ não nhưng không phải từ bỏ những đối tượng của giác quan”. Đức Phật biết rằng vị vua đã tích lũy được vô số công đức, tâm đại từ bi và trí tuệ, bởi vậy là người có thể đảm trách bổn phận hoằng dương chính pháp Kim Cương thừa, Đức Phật Thích ca Mâu ni từ Hóa thân thị hiện Báo thân A Súc Bệ Phật, hiển lộ Mandala về Guhyasamja (Tantra cha) và khai thị cho vị vua giáo pháp Kim Cương Thừa.

Vị vua đã được thuyết giảng để chứng ngộ tự tính Phật trong vạn pháp, bởi vậy ông có thể quán tự thân và bốn người con trai là năm đức Phật thiền na, quán năm hoàng hậu là năm minh phi, còn các quan đại thần trong triều là các Bồ Tát nam và Bồ Tát nữ. Tất cả phàm thân của họ đều chuyển hóa thành sắc thân cầu vồng và ngay lập tức đều giác ngộ. Thông qua giáo pháp giải thoát, toàn bộ thần dân trong thành phố cũng đều thành tựu sắc thân cầu vồng. Vùng đất đó trở thành sa mạc khô cằn và tại đây hình thành nên một hồ thiêng nơi Nagas (Long Vương) trú ngụ.Đệ tử của đức Phật, Vajrapani là một Arhat Kashyap đã ghi chép lại tất cả giáo pháp của đức Phật vào Những Bộ kinh điển và ban giáo pháp cho Nagas tại hồ, và Nagas thậm chí cũng tu tập Kim cương thừa và thành tựu giác ngộ. Nơi này sau đó trở thành Ugyen Khadroe Yul (miền đất của các Dakini). Sau đó, Vajrapani đã hiện thân là Drang Song Ugjin và ban giáo pháp Kim Cương Thừa cho chúng sinh có duyên pháp và vô số trong số họ đã đạt giác ngộ giải thoát. Bởi vậy, truyền thừa khởi nguồn từ đức Phật Shakyamuni (Thích-ca), truyền xuống đức Vajrapani, Sarha, Lohipa, Dinggipa, Lodroe Rinchen, Nagarjuna, Mataki, Thanglopa, Shinglopa, Kanari, Dombipa, Binasa, Lawapa, vua Indrabodhi đời thứ II (có ba vị Indrabodhi trong lịch sử Kim Cương Thừa) và truyền xuống tới Tilopa và Naropa và trải qua chư tổ sư truyền thừa không gián đoạn cho tới tận ngày nay.

Truyền thừa được tôn xưng là truyền thừa Kim Cương Thừa. Truyền thừa gần hơn được bắt đầu từ đại thành tựu giả Tilopa, Ngài không chỉ thụ nhận giáo pháp từ những đạo sư trong hình tướng loài người mà đón nhận trực tiếp từ đức phật Kim Cương trì trong cõi tịnh độ Akanishta(Sắc cứu kính thiên). Bởi vậy Phật Kim Cương Trì chính là Pháp thân của đức Phật Thích ca. Kinh điển Kim cương thừa đã đề cập trước khi đức Phật Shakyamuni giáng sinh trong cõi Sa bà, Ngài đã giác ngộ trong cõi tịnh độ Akanishta trong Pháp thân Phật Kim Cương Trì, sau đó thị hiện Sắc thân là Thái tử Siddharta và tiếp tục thực hành mười hai công hạnh lợi tha. Bởi vậy theo quan điểm của Đại thừa, Thái tử Siddharta chính là Bồ Tát ngôi thập địa, còn từ quan điểm của Kim Cương thừa, đức Phật Shakayamuni đã giác ngộ trước khi Ngài đản sinh là Thái tử Sidharth. Bởi vậy truyền thừa giáo pháp mà Tilopa thụ nhận từ đức Phật Kim Cương Trì, truyền xuống Naropa, qua các chư tổ sư truyền thừa và tiếp tục tới tận ngày nay được gọi là truyền thừa siêu việt.Truyền thừa thứ ba trong Kim Cương thừa là Truyền thừa Linh kiến Thanh tịnh. Truyền thừa này dựa trên nền tảng giáo pháp được trao truyền bởi chư tổ sư truyền thừa theo linh kiến thanh tịnh của các ngài. Lấy ví dụ, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa Tsangpa Gyare, người sáng lập truyền thừa Drukpa, đã có linh kiến về bảy đức Phật và ngài đã được thụ nhận trực tiếp những khai thị cốt tủy từ Bảy vị Phật. Tương tự như vậy, Pháp Vương Gyalwang Kunga Palior đời thứ II đã có linh kiến về đạo sư Liên Hoa Sinh và thụ nhận trực tiếp giáo pháp Dzongpa Chenpo từ Guru Rinpoche. Tất cả đều được tôn xưng là Truyền thừa Linh kiến Thanh tịnh. Bởi vậy, trong truyền thừa Drukpa, quan kiến hay nền tảng là Mahamudra và phương tiện thể nhập tự tính vạn pháp hay Mahamudra là con đư ờng Sáu Pháp Yoga của Naropa và pháp tu của hành giả dòng truyền thừa là Sáu Pháp Vị Bình Đẳng và quả là Bảy Khai thị Nhân duyên. Giáo pháp tu tập thâm diệu nhất của truyền thừa Drukpa là Guru Yoga, đây là pháp tu tập chứng ngộ tất thảy vạn pháp là Thượng sư và thấu hiểu rằng Thượng sư vốn bất khả phân với tự tính tâm của chính mình.
  ( thuvienhoasen)
Trang: [1] 2 3 4
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.42 seconds với 20 câu truy vấn.