Tháng Năm 10, 2021, 03:53:14 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1]
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Chuyện Linh Ứng Của Quán Thế Âm vào lúc: Tháng Năm 08, 2012, 08:41:58 AM
Chuyện Linh Ứng Của Quán Thế Âm


<a href="http://www.youtube.com/v/mGlvAs0kAnU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/mGlvAs0kAnU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


<a href="http://www.youtube.com/v/nWo2aywjzy8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/nWo2aywjzy8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


<a href="http://www.youtube.com/v/OLKyHZnN3wA&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/OLKyHZnN3wA&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/pnZ77GMHmOM&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/pnZ77GMHmOM&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHÁP THOẠI / Con có biết không - Rất hay và cảm động vào lúc: Tháng Ba 27, 2012, 08:12:36 AM
Con có biết không

<a href="http://www.youtube.com/v/M17VxMxCSh8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/M17VxMxCSh8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

3  Nho Gia Tư Tưởng Học / Y HỌC CỔ TRUYỀN / CUỐN SÁCH THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN vào lúc: Tháng Hai 10, 2012, 12:47:09 AM

    
 SÁCH THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

 Do Cụ Huỳnh Minh, một lương y biên khảo.

Quý vị truy cập vào trang web: http://quantheambotat.com/FolderChuaBinh/SachThuocYHocCoTruyen.htm


Xin nhấp vào các liên kết dưới để xem video chửa bệnh rất hay:
<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36


 
4  Nho Gia Tư Tưởng Học / Y HỌC CỔ TRUYỀN / Thuốc Thần Cho Bệnh "Gout" vào lúc: Tháng Hai 08, 2012, 09:38:00 AM
Thuốc Thần Cho Bệnh "Gout"
trích từ Hội Thân hữu Việt Nam www.vnfa.com
PHẠM HOÀNG CHƯƠNG
Một trong những giấc mộng lớn của tôi lúc thiếu thời là học được nghề thuốc đông y, châm cứu, bấm huyệt để chữa bệnh cứu đời, mà đức kém, không đủ nhân duyên gặp thầy dạy, chỉ xem xém có mấy lần thân cận học lóm quí nhơn , có bạn thân làm bác sỹ, đọc nhiều sách thuốc, biết qua loa để đủ sức tự chữa bệnh mình thôi.

Năm 1971, tôi mới sinh con trai đầu lòng , đang dạy học ở Phanrang. Nhân thầy châm cứu Thich tâm Ấn ở Saigon ra ghé chùa Tỉnh Hội chữa bệnh miễn phí cho đồng bào nửa tháng vào dịp hè, tôi tình nguyện theo giúp thày rút kim cho bệnh nhân hàng ngày lấy công đức, và xin dạy cho nghề châm cứu. Thầy nói phải có nhân duyên mới học được. Thày cho cuốn sách "Châm cứu học" do thầy biên soạn, giới thiệu tôi cho con trai là Cao xuân Quang ở lại Phanrang coi sóc Phòng châm cứu do thầy xây cất, rồi trở vào Saigon lo công việc. Quang tuổi Mùi, hơn tôi một tuổi, đã có 2 con. Tôi lân la tới phòng thuốc của Quang chơi, học được một ít về thuốc Bắc và các huyệt chính.

Tôi nhờ Quang châm cứu cho cô vợ hay mất ngủ. Hai đứa chẳng bao lâu trở thành bạn rất thân, và do môt nhân duyên huyền bí kỳ lạ nào trong tiền kiếp xa xưa không biết, mà vợ Quang lúc có mang đứa con thứ ba, cứ nằng nặc nhờ tôi nhận nuôi đứa bé trong bụng làm con, vì thày bói nói nó khắc tuổi cha mẹ, phải đem cho người tuổi Thân mới nuôi được . Bằng không, nếu cứ giữ đứa bé, trong 3 người cha mẹ và con, sẽ có một người chết.

Tôi vốn không tin những chuyện bói toán tuổi tác như vậy, nhưng cũng hứa cho chị yên lòng. Quả nhiên, thằng bé vừa đầy tháng, chưa kịp cho, thì chị đã lăn ra chết. Cùng một ngày, một giờ hôm đó, đứa con trai đầu của tôi bấy giờ đang nằm mê man vì biến chứng sởi ngoài bệnh viện Nhatrang cũng hấp hối qua đời.. Hai anh em tang gia bối rối, mạnh ai nấy lo, một bên chôn vợ, một bên chôn con. Quang khóc nức nở, còn tôi thi đau đớn khôn cùng. Quang nhờ tôi mang baby Cao xuân Minh còn đỏ hỏn về nuôi giùm, rồi gửi 2 đứa con lớn cho một người bạn khác trông coi, bươn chải đi làm ăn. Được một năm thì tôi sinh con khác, nên Quang cưới vợ kế, đem cu Minh và 2 đứa lớn về nhà, tập trung một chỗ cho tiện bề coi ngó.

Sau 1975, ở tù cải tạo về, sợ bị bắt đi kinh tế mới, tôi nhờ Quang xin cho 1 job trong Ty Y tế, chuyên trồng thuốc Nam, lương có 38 đồng 1 tháng, chỉ vừa đủ ăn sáng cho 2 ngày là hết. Khi vượt biên qua đến Mỹ năm 1984 thì tôi vẫn còn khỏe mạnh, đủ sức lao động và đi học lại kiếm sống. Năm 1990 bảo lãnh vợ con qua, mua nhà. Nhưng đến năm 1995 thì vợ tôi tự nhiên đang đi làm, bị sưng phồng lên một bắp chân và bàn chân mặt, phải đi cà nhắc bằng chân trái, tay chống gậy, mặt mày nhăn nhó đau khổ. Bạn tôi, bác sĩ Đệ, lắc đầu nói: "Thôi rồi, chị xui quá, bệnh này bên Mỹ gọi là rheumatism, không thuốc nào chữa được hết, nhiều ông bà già bị, đau nhức kinh niên cho tới chết" .

Tôi đưa bà xã qua Wesminster đi bác sĩ Quyết đông y, châm chích nặn máu ra đen bầm 2 ngày thứ bảy liền, chân bớt sưng, bệnh có thuyên giảm, nhưng vẫn còn đau. May sao bà trung tá Tài cho một bịch bột nghệ vàng xây nhuyễn mua ở Vietnam qua, khuyên nấu nước sôi, hay vo viên với mật ong uống sẽ hết. Theo tôi biết thì NGHỆ có tính chất sát trùng mạnh, trị lở và đau bao tử, lọc máu huyết, chữa lành vết thương không để lại vết sẹo. Nghệ hăng hăng khó uống, nhưng bà xã kiên trì uống luôn 1 tuần thì đi đứng trở lại bình thường, uống luôn 1 tháng thì tuyệt nọc tê thấp cho đến bây giờ 15 năm sau không hề trở lại.

Bác sĩ Đệ kinh ngạc lắc đầu, không tin ở sở học Tây y nữa. Thật là 1 phương thuốc thần, rẻ tiền mà công hiệu vô song. Một lấn khác, vì lười đánh răng ban đêm, một chiếc răng cửa dưới tôi bị nhiễm trúng, sờ ngón tay vô lắc xục xịch, tưởng như sắp rụng. Tôi hoảng quá, nhét đại một nhúm bột nghệ vô kẽ răng để sát trùng. Một ngày nhét nghệ vô răng 4 lần, được 2 ngày thì chao ôi, răng nằm cứng chắc yên vị, lắc không còn rung rinh nữa. Thật là phép màu. Từ đó tôi bắt đầu đánh răng bằng bột nghệ mỗi sáng. Răng miệng vàng khè, nhưng súc nước sạch thì chất vàng trôi hết, răng trắng như bắp non.

Có một dạo thất nghiệp, ưa thích nghề thuốc, tôi ghi danh college học một khóa ra làm nurse assistant, săn sóc các cụ già trong một nursing home ở Redlands. Thấy nhiều cụ nằm co quắp trên giường suốt tháng này qua tháng khác, da mỏng như giấy, nói năng lảm nhảm, bài tiết bừa bãi hôi thối, con cái trốn biệt,... mà rùng mình nghĩ đến chuỗi ngày cuối của đời mình. Ước chi chỉ sống 75 tuổi thôi mà khỏe mạnh minh mẫn, còn hơn 80, 90 mà quằn quoại đau khổ như thế.

Năm 2000, một sáng tôi ngủ dậy, thòng chân xuống thảm để đứng dậy thì cả 2 lòng bàn chân đau buốt nhói như kim chich. Kinh hoảng rút chân lên, không biết là bệnh gì. Lúc đó tôi 56 tuổi, công ăn việc làm đang thăng tiến khả quan, nhà mới mua. Nếu bệnh nặng phải vào nhà thương nằm lâu thì mất việc, bay cửa bay nhà, không biết tương lai đi về đâu. May sao chỉ đau có 1 ngày rồi êm, đi đứng lại bình thường. Không biết bệnh gì mà quái quỷ như vậy, cũng chả đi bệnh viện hỏi bác sỹ, vì có còn đau nữa đâu mà hỏi. Sau đó mấy tháng, một lần ngón chân thứ 3 bên mặt lại tự nhiên sưng vù lên, đỏ tím, đau lắm. Tôi tưởng là vô ý đánh rơi cái búa trúng mấy ngón chân lúc nào mà không nhớ, chắc gẫy xương mới đau dữ vậy, bèn đi nhà thương Kaiser rọi X-ray. Họ coi phim, nói không có sao cả, nhưng không biết tại sao sưng. Tôi nghĩ "hay là ăn cái gì độc, bị phong thấp". Cả tháng sau mới từ từ lành. Cũng coi thường. Nhớ má nói ông nội ngày xưa làm quan, chơi cô đầu mắc bệnh phong tình dây dưa, nên bà nội đẻ ba bốn người con đều chết non, sau gặp thày thuốc giỏi trị khỏi, mới sinh được ba và cô Khê. Chắc là chất độc còn, nên di truyền xuống đời cháu, lâu lâu bị sưng chân. Một lần khác, bà chủ nhà nấu món rau muống xào thịt bò non rất ngon, tôi ngon miệng ăn luôn 3 chén cơm, thế là cả 2 ngón chân cái sưng vù lên đỏ au,đau đớn, rồi sưng lan ra mắc cá và gót chân trái.

Đi dạy phải nhảy cò cò 1 chân, có khi chống gậy, đồng nghiệp ai nhìn thấy cũng lắc đầu thương hại. Check Internet thì biết là đây là triệu chứng bệnh "gout", tiếng Việt gọi là thống phong. Lớn tuổi thận yếu, lọc không hết chất độc của thịt cá, đồ biển, tôm mực, nên chất độc acid uric lẩn vào máu, chảy xuống chân, tụ vào các khớp ngón chân và mắc cá, kết thành thủy tinh bén nhọn gây đau buốt lên tới óc. Bác sĩ ở Kaiser nói bệnh này là bệnh "nhà giàu", ăn nhậu uống rượu thường xuyên mà gây ra, chỉ cho thuốc viên giảm đau, khuyên uống nước nhiều cho loãng chất acid, ngủ ghếch 2 chân lên vách tường cho chất độc khỏi tụ xuống chân.

Thuốc giảm đau có phản ứng phụ hại gan, nên tôi không dám uống nhiều, xin nghỉ dạy 2 ngày, chịu trận nằm nhà mấy ngày. Sưng 1 chân còn nhảy cà thọt, hay chống gậy. Nhưng sưng 2 chân thì chịu thua. Đau lắm, đau đến nỗi đi toilet phải chống 2 tay xuống đất, lết bằng mông đít tới bathroom. Thấy ở tiệm thuốc bắc quen có thày Tàu châm cứu tốt nghiệp Đại học Bắc kinh qua, tới xin anh chàng châm cứu, nặn máu độc ra, mỗi lần 40$. Anh này tiếng Anh không rành lắm, chỉ lắc ngón tay trỏ, nói: "No meat" (Không được ăn thịt) rồi im.

Nặn 2 lần thấy cũng không bớt gì lắm, nghe lời cô bán hàng, mua 1 loại cao dán của Nhật về dán chỗ sưng, một hộp 25$ có 20 hay 25 gói gì đó. Áp "túi chứa dược thảo hút chất độc" (giống như túi trà Lipton) này vào nhượng chân, hay dưới ngón sưng, rồi dán miếng cao lên dính chặt vào da để giữ khỏi xục xịch. Theo đông y, tất cả dây thần kinh, máu huyết gì cũng chạy xuống 2 lòng bàn chân, nên dán thuốc dưới 2 lòng bàn chân là trị bá bệnh, nhức mỏi, nhiễm độc, mất ngủ... Trời lạnh phải mang vớ ngủ là lý do đó, giữ cho lục phủ ngũ tạng yên ổn, khỏi ho,cảm,mất ngủ...Tối đi ngủ dán túi "trà"vào chân trắng tinh, nhưng sáng ngủ dậy thi túi "trà" hút độc ra bầm đen, nhớp nháp hôi hám, tháo vứt đi, dán miếng khác. Vậy mà bớt. Bớt đau, bớt sưng. Sau một tuần thì đi đứng bình thường.

Tình cờ nói chuyện bệnh "gout" với một người bà con ở San Jose, họ cũng bị chứng này, họ khuyên tới hiệu thuốc bắc trước Century Mall mua lọ thuốc dược thảo viên chỉ có 4$ của Trung quôc chế, tên là URI-pH formula. Mỗi lần ăn thịt bò hay sea food, phải đề phòng uống ngay 4 viên để chất acid uric theo đường tiểu mà ra ngoài, khỏi thấm vào máu. Thuốc này không phải trị, mà chỉ là ngừa. Tôi thấy đây không phải là thuốc mình mong đợi,cũng mua để dành phòng hờ. Tới các tiệm bán dược tháo hỏi, ai cũng lắc đầu nói bệnh này không có cách gì chữa khỏi hết, phải kiêng cữ ăn uống hay dùng thuốc giảm đau như Cochinchin... mà thôi. Họ giới thiệu thuốc dược thảo viên "Gout well" của bác sĩ Việt nam tên BA nào đó rất nổi tiếng, nhưng kết quả nghe nói cũng chậm.

Một hôm tôi mua được thứ mắm nêm nguyên chất, ăn với bánh hỏi rất ngon. Ngon miệng ăn liên tiếp 2 ngày thì sưng vù mấy ngón chân. Ngày sau 75, đạp xích lô sáng nào cũng điểm tâm bánh hỏi cuốn bánh tráng nướng chấm mắm nêm đâu có sao, mà bây giờ sanh chứng. Đi Kaiser, bác sĩ la."Trời ơi, sao lại ăn mắm nêm?" rồi lại cho toa thuốc giảm đau. Như vậy là mắm nêm độc hơn mắm nước. Lớn tuổi cơ thể yếu đi, nhạy cảm hơn, mới phân biệt thức ăn nào độc,thức nào lành. Nghỉ dạy nằm nhà mấy hôm, lôi "túi trà" Nhật và Korea ra dán. Mãi 10 ngày sau mới khỏi hẳn. Ngon miệng có mấy phút mà nó hành đau đớn điêu đứng cả 10 ngày, nửa tháng, thật là lợi bất cập hại.Thế là tôi tuyệt đối thề không ăn phở, thịt bò, hay mắm nêm nữa. Cũng chả thấy thèm nữa. Con chim đã bị tên bắn 1 lần, thấy bóng cái cung là sợ.

Năm 2003, tình cờ một bà cô họ ở Atlanta cho hay có ông thày châm cứu nổi tiếng trị nhiều bệnh nan y ở Carolina, hàng trăm bà con bệnh nhân Việt Hoa ở các vùng xa xôi miền Đông cuối tuần lái xe tới nhá thày nằm chữa trị ngủ lại đêm, kêt quả rất tốt. Cô bị cái bướu ở bắp tay, châm cứu điện có 2 lần mà xẹp hẳn.Thày không nhận thù lao, chỉ đặt cái thùng "phước sương", ai muốn cho bao nhiêu thì cho. Tiến này thấy gom lại mỗi năm về Vietnam cho cô nhi và chữa bệnh miễn phí làm phước. Tôi nghe, cứ ao ước được gặp thày một lần. Ngờ đâu, 'dream comes true'. Hai tháng sau, con gái tôi lấy chồng ở N.Carolina, tôi sang dự đám cưới , được con rể chở tới gặp thày. Té ra đây là thầy dạy võ cho con rể tôi trước kia, nên thày vui vẻ nhận lời chữa trị ngay, mặc dù lúc đó tôi đang khỏe mạnh bình thường. Thày có hai người con trai đều là bác sĩ, ở Florida và Georgia. Thày nói bệnh này chỉ cần chữa 1 lần là khỏi luôn ("one time-treatment"), rồi bắt tôi nằm xuống, châm điện vô 10 đầu ngón chân giựt tê tê, Nửa giờ sau, nằm sấp lại cho thấy để 1 cái "bàn ủi" trên vùng thận để hút chất độc cho thận khỏe trở lại, đủ sức lọc hết acid uric, khỏi phải lan vào máu chạy xuống chân.

Một hôm, ở San Jose, tôi đi tập thể dục ở Bally , tình cờ gặp một ông bạn già cũng bị "gout", kể chuyện thày Tâm. Ông nói có lần nó trở nặng, đau lên tới đầu gối, nằm không nhúc nhích được, lúc đó đang ở Việt nam , bác sĩ phải đâm kim vào giữa 2 khớp xương đầu gối, hút nước xanh lè ra mới bớt đau. Ông còn nói:

-Bệnh nặng có khi nó chạy lên háng thì vô phương cứu chữa...

Tôi rùng mình:

-Thôi, thôi, ghê quá, đừng nói nữa...

Ông xin số phone thầy Tâm. Một lần khác, tôi thu xếp về Viet nam cùng thời gian với thầy Tâm, để nhờ thầy chữa bệnh "vảy nến" cho người em trai út ở Saigon. "Vảy nến" là bịnh nan y, không lây, nhưng khắp người lốm đốm các vết đỏ chảy nước ngứa ngáy, lúc nào ra đường cũng phải mặc áo dài tay che kín, tây y bó tay, mà đông y cũng chưa có thuốc gì trị dứt. Có một dạo nó bị mất việc nằm nhà, buồn quá uống rượu liên tu, bị sưng gan, rồi chuyển qua vảy nến. Ờ nhà nghi là rượu chế ở VN bậy bạ, có pha thuốc xịt rày, nên chất độc mới sinh ra bệnh này. Tôi gửi thuốc đau gan của Phạm hoàng Trung về, báo cáo hình như bớt, thấy hết ngứa, nhưng vảy nến vẫn còn.Tôi đọc báo thấy thày X. ở Wesminster quảng cáo trị hết vảy nến, bỏ ra 500 bạc mua 4 lọ gửi về, trong uống ngoài ngâm, nó hậm hực báo cáo" tiền mất tật mang". Về Việt nam, ra Hà nội chơi, nghe đồn thuốc cao gia truyền, làm bằng cỏ quí mọc ở biên giới Hoa Việt, trị hết vảy nến của thày nào ở ngoại ô Hà nội , lặn lội mướn taxi đi, mua hơn 3 triệu bạc đem về bôi cho nó,chỉ nhạt màu hồng hồng chứ không lặn hết. Thày Tâm hỏi:

-Em bị bao lâu rồi?

-Dạ hơn 10 năm nay.

Thày bảo cởi áo quần xem, lắc đầu ái ngại nói "Tội nghiệp em, nặng quá, bao nhiêu vảy nến của thiên hạ tập trung vào một mình em. Châm cứu có thể hết , bệnh này tôi đã trị qua, nhưng cũng không dám hứa chắc,vì để lâu quá rồi". Thế là 2 anh em chở nhau từ Saigon lên Thủ đức mỗi ngày cho thấy châm. Gọi là "thủy châm", vì cắm kim vô thuốc mà châm. Thay đổi vị trí châm mỗi ngày. Được 13 ngày thì thày phải trở về Mỹ, nên không tiếp tục được, nhưng thật tình mà nói, các vết "vảy nến" nhạt trắng dần, không còn sần sùi nữa. Em tôi mừng lắm, tôi cũng mừng, nhưng về Mỹ lại được hơn nửa năm thì nghe báo cáo qua nói bệnh trở lại, có lẽ vì trị chưa đủ lâu để khỏi hẳn. Tôi cũng bó tay. Bệnh ở bên VN , mà thày bên Mỹ, lâu lâu mới về một lần, làm sao mà có hy vọng trị dứt.

Phần tôi, tưởng bệnh 'gout' thày Tâm chữa như vậy là tuyệt nọc, ai dè sau 2 năm khỏe mạnh, ăn uống cẩu thả trở lại, mấy ngón chân lại bị sưng. Đi khám ở Kaiser, bác sĩ nói đây không hẳn là "gout", mà là 1 dạng tê thấp, và cho thuốc giảm đau. Tôi không thèm uống, quen lệ ra tiệm mua cao Nhật và Đại hàn dán, sau 1 tuần thì hết. Có lần ăn sầu riêng, hay mực xào, nhượng bàn chân thịt cộm dày lên, nhưng chất độc chưa lan ra tới ngón cái vì chưa đủ nhiều và mạnh để làm sưng . Đứng trên 2 bàn chân, rõ ràng cảm thấy lòng bàn chân bên phải cộm lên, cấn cái khác thường. Lật đật lôi thuôc "túi trà" Đại hàn ra dán. Vài ba ngày thì trở lại bình thường. Anh Lương, bạn thi sĩ ở San Jose , ăn mực luộc quấn bánh tráng chấm mắm nêm, đau "gout "phải lết vô toilet; Tuấn, cháu họ tôi, ăn toàn mới 30 tuổi, ăn toàn hamburger và đồ Mỹ bò gà tôm nướng ở MacDonald và Sizzler, không ăn rau, cũng bị "gout", đau gần tháng trời phải nằm nhà, tôi đều chỉ mua thuốc cao Nhật dán,và tới thày Tâm châm cứu cho mau khỏi. Tuấn bị nặng, nên cứ dán 1 giờ là nước đỏ nhầy nhụa tuôn ra ướt đẫm chân, phải thay miếng khác, thày Tâm phải châm cứu 3 lần luôn 2 ngày liền mới bớt. Tôi thấy bệnh này , căn bản ở chỗ biết kiêng khem, ăn uống thanh đạm, không cần phải thuốc men, châm cứu, uống nước, dán cao... gì cả. Nhớ câu "Người ta tự đào huyệt chôn mình bằng hàm răng của mình"của nhà văn Pháp nào đó, rất là chí lý, hay câu của ông bà ta, "ngừa bệnh hơn chữa bệnh", là lời khuyên bổ ích còn quí hơn bất cứ thuốc men, yến sào, mật gấu, lộc nhung... nào hết.

Hè 2005, tôi 61 tuổi về hưu, lợi dụng bảo hiểm còn ba tháng cuối cùng, đi Kaiser khám đủ thứ trong người, soi ruột, thử máu, soi tim, gan, cholesterol, tiểu đường, áp huyết, tấc cả đều tốt hết, trừ chất acid uric trong máu khá cao. Không lo, vì tôi đã biết cách trị bệnh "gout" rồi.

Qua đầu 2006, hết bảo hiểm sức khỏe, một hôm nhân chạy tới lui giúp dọn nhà cho ông anh họ ở Wesminster, nhịn đói từ sáng đến 7 giờ tối mới đưa anh vào tiệm phở ăn. Ăn được 3 muỗng thì cắn trúng miếng ớt xanh cay, mùi hăng xông thẳng lên óc, tôi choáng váng tức bụng, ngộp thở, mới đứng dậy lần ra ngoài cửa để thở. Bỗng cả người xoay đi 1 vòng rồi té ngửa xuống đất, không còn biết trời trăng gì nữa. Khi mở mắt tỉnh dậy, thấy lố nhố ba bốn mặt người ta nhìn xuống, có tiếng hối chở đi cấp cứu. Tôi nghe ngóng thấy trong người bình thường, chống tay ngồi dậy, thấy mắc cá chân trái sưng vù đau lắm, bước vào tiệm soi gương thấy mặt trắng bệch. Bỗng thấy choáng váng chóng mặt, lảo đảo té xuống 1 lần nữa. Lần này tôi khô miệng, đòi uống nước trà. Một phút sau thì tự đứng dậy được, ngồi vào bàn, thấy tô phở lạnh ngắt, ớn không muốn ăn nữa. AI cũng nói là " tai biến mạch máu não" nhẹ. Một thanh niên ở đâu rất tốt bụng xin tình nguyện lái xe chở tôi về Riverside, sợ dọc đường đêm tối tôi lại xỉu trên tay lái thì xe tung chết. Tôi cảm động lắm, nhưng cám ơn, sợ phiền. Chân tôi sưng vù to và đau lắm, hình như là trật gân ở mắc cá lúc té không "control" được bàn chân, xoa dầu không ăn thua gì, đi phải chống gậy. Tuần sau tôi phải lên máy bay về VN ăn Tết, con trai tôi khuyên "delay" chuyến bay lại, "chân ba như vậy làm sao mà đi đứng, khiêng xách hành lý". Tôi kiên quyết cứ đi, máy bay họ cung cấp xe lăn và có người đẩy xe lên xuống ở các trạm. Cao xuân Minh, con nuôi tôi ngày xưa khi còn đỏ hỏn, bấy giờ là bác sĩ 34 tuổi, ra Tân sơn Nhứt đón,dìu tôi ra taxi.

-Chân chú sao vậy?

-Té, bị trật gân, 10 ngày rồi mà vẫn đau.

Minh nghi không phải trật gân mà là gẫy xương, bèn đưa tôi đi rọi X-ray, thì quả nhiên gãy xương thật, phải băng bột "casting" 1 tháng. Em trai tôi ở Úc, nghĩ là tôi bị "stroke" nhẹ, khuyên ãn uống cẩn thận, coi chừng cholesterol cao. Cholesterol tôi có 173, đâu có cao. Cô nha sĩ Thanh và bà sui gia tôi làm cho văn phòng bác sĩ đều quả quyết là tại lượng đường trong máu ( blood sugar) xuống quá thấp (vì từ sang tới tối không ăn uống gì), nên chóng mặt xây xẩm mà té. Chính cô mới có 40 tuổi mà trước kia cũng bị té 1 lần như vậy, không phải nghẽn mạch máu đâu. Chắc có lẽ đúng, vì từ nhỏ tới già, tôi ăn ngọt dữ lắm mà glucose trong máu vẫn thấp. Thì ra tùy tạng mỗi người, không phài hễ thèm ngọt là bị tiểu đường. Kinh nghiệm từ rày về sau sáng sớm phải lót lòng một chút gì, tách trà nóng, bát cháo gạo lứt, chén súp, hay trái chuối, đừng bao giờ để bụng trống.

Ở Việt nam về lại Mỹ, thấy thiên hạ dọa không có bảo hiểm sức khỏe coi chừng, lỡ đau, vô bệnh viện nằm mổ xẻ nhiều ngày, phải bán nhà , trả nợ tiền thuốc, tôi mua loại bảo hiểm rẻ tiền PPO cho 2 vợ chồng, có 160$ một tháng, nhưng cả 13 tháng trời chẳng ai đau bệnh gì cả, trừ một lần lỗ tai tôi kêu vo vo, tưởng "ear infection", đi bác sỹ, khám có 2 phút, nói tại mùa đông nên cảm cúm nó khiến như vậy, không sao, office charge hết 154$, mình phải trả trước, rồi chờ tiền "rebate"bảo hiểm gửi về sau. Giấy tờ, gọi phone tới lui lôi thôi, mà lâu lắc, chẳng thấy "rebate" đâu hết. Văn phòng bác sỹ chuyển hồ sơ qua Collection nhờ đòi, Collection đòi thêm tiền lời. Tôi bực mình, trả quách hết, rồi gọi cancel bảo hiểm. Sáu tháng sau mới thấy bảo hiểm gửi cho 50$ rebate. Tôi vẫn không nghĩ chuyện mua bảo hiểm khác, ỷ lại cung Tật Ách trong tử vi của 2 vợ chồng đều bị Triệt và có sao Thiên không, rất tốt. Thế là, bà xã hễ có bệnh, đi khám ở Nhơn Hòa trả tiền mặt, còn tôi được người bạn học cũ thời trung học làm bác sĩ giải phẫu ở Bolsa, kêu "hễ có đau gì cứ tới bệnh viện gặp tui, 4 ngày 1 tuần, tui sẽ lo cho ông, đừng ngại gì cả. Mình còn sống tới tuổi này, gặp nhau là quí rồi." Thế là tạm ổn, chờ 2 năm nữa 65 tuổi hưởng medicare. Tạm thời ăn uống rau cỏ thanh đạm, tập thể dục, đi bộ, bơi lội, hít đất thường xuyên là được rồi.

Tuổi già ngoài 60, cơ duyên lại khiến tôi quen được anh bạn độc thân võ sư, kiêm đông y sĩ, rất thân, cũng ở Wesminster, kêu tới nhà mỗi sáng chủ nhật dạy tập khí công, hít thở, gồng mình, để ngăn ngừa bệnh tật,không lấy tiền. Anh bấm huyệt, nắn gân, trị bệnh cho nhiều người bị tai biến mạch máu não, méo miệng, tê liệt, khỏi hẳn, tiếng đồn vang khắp nơi. Lại còn khuyên nên mua áo quần, mền gối, sản phẩm NEFFUL của Nhật có "negative ions" mặc , tuy đắt tiền, nhưng lọc sạch máu, kích thích, tái tạo tế bào, điều hòa hệ thống miễn nhiễm, trị nhiều chứng bệnh nan y. Tôi bấm bụng nhịn ăn mua hơn 2000 bạc áo quần pyjamas, mền, nón, vớ..Nefful. Kết quả rất khả quan, ngủ ngon, sáng sáng thân thể căng cứng, sinh lý sung mãn, không hắt hơi cảm mạo sổ mũi, mùa hè không thấy nóng, mùa đông không thấy lạnh. Lớp teviron 100% ở mặt trong quấn áo che chở thân thể ấm áp như 1 lớp"cửu dương thần công" vô hình bao bọc cơ thể, mặc quen ấm áp rồi không muốn cởi ra. Chưa hết, mới đây, em rể tôi lại tình cờ biết được một "clinic" trên đường nhỏ Dillow, phía sau tiệm"Dollar delivery",góc đường Bolsa, song song với đường Moran, cho bệnh nhân nằm giường massage FREE, có tia hồng ngoại tuyến đấm bóp , ngồi máy trị bệnh trĩ. Clinic này, do công ty chuyển tiễn Dollar Delivery bảo trợ,có dây nịt cắm điện hút mỡ bụng, có thau nước muối gắn cục điện giải, ngâm 2 bàn chân trong đó nửa tiếng đồng hồ, hút chất độc trong lục phủ ngũ tạng ra đen thui,màu cam, xanh đậm, đỏ, hay vàng khè... Mỗi màu tương ứng với một bộ phận trong cơ thể. Vàng là thận suy, đen là gan nhiễm độc, cam là thấp khớp ..v.v... Tôi tò mò theo em rể tới quan sát, nằm thử giường massage, thấy có chùm ngọc sáng đỏ rà rà từ dưới xương cụt theo xương sống lên đến ót rồi đi trở lại, kế đến cũng chùm ngọc đó châm cứu bằng tia sang hồng ngoại, nghe mấy người bệnh nằm bên kể nằm nhiều lần thì hết nhức mỏi, tê bại, méo miệng. Nửa giờ sau, qua ngâm chân trong thau nước coi có bệnh gì không. Cái món này thì phải trả tiền, 15$ ngồi nửa giờ. Thoạt đầu, mấy ngón chân tê tê, sau 30 phút, nước ra vàng, rồi biến ra màu cam, trên nước lềnh bềnh những miếng vàng lợn cợn như nước béo phở bò. Bà trông coi máy nói:

-Màu cam là chất độc ở các joints (khớp xương). Anh nói anh bệnh "gout" phải không, đúng là sau khi dán cao Nhật hút acid ra khỏi sưng, chất độc vẫn còn sót bám ở các joints, nên mới ra vàng cam. Còn mỡ vàng lềnh bềnh là "bad cholesterol" trong người anh tiết ra... .

Hai bà Mễ ngâm chân cạnh tôi, nước ra đen thui như bùn. Đó là chất độc trong gan. Có thể là bị "xơ gan", hepatitis B, C gì đó. Ngâm nhiều lần thì chất độc ra hết, nước sẽ nhạt màu dần. Thật là một lối trị bệnh khoa học thần kỳ. Ai thấy hiệu nghiệm, muốn mua giường, thau hút độc, belt tiêu mỡ bụng, đem về nhà xài khỏi tới đây, họ cũng order hàng cho.

Đúng là chịu khó sục sạo,"đường đi ở miệng", nghe đâu chữa hay cũng mò tới thì mới biết được nhiều điều bổ ích, giúp mình, giúp người... Có thử mới biết hiệu nghiệm hay láo khoét. Ngồi ở Nhân Hòa có 1 lúc, bô bô kể chuyện đi ngâm chân ra nước đen thui, mà có 2 ba người tới hỏi nhỏ xin địa chỉ Dollar Delivery ở đâu để đưa cha đưa mẹ tới chữa, thật là tội nghiệp. Còn cứ ngồi 1 chỗ ôm bệnh, bi quan, nghi kỵ chỗ này gạt, chỗ kia xạo, sợ " tiền mất tật mang", thì cứ "đau khổ vì bịnh trĩ" suốt đời. Chưa chết mà cũng như chết rồi. Nhớ câu châm ngôn "Có nhiều người không dám đi vì sợ gãy chân, nhưng nếu không đi thì có khác nào như đã gãy chân rồi." thật là hay.

Trong lãnh vực nào cũng vậy, giáo dục, business, kỹ nghệ, cũng như y học..., tôi quan niệm phải "try everything", phải thử, phải "take risks", thì mới tìm ra chân lý nhiệm màu.Bài này chính yếu tôi nói về kinh nghiệm chữa bệnh "gout", để giúp những ai hằng đau khổ vì bệnh này, nhưng cũng lan man "lạc đề" ra một vài bệnh khác để làm thày lang vườn, "mách thuốc chữa bệnh", giúp ý kiến, tin tức, mẹo vặt, cho một số bà con tham khảo... Biết đâu chẳng những giúp được phần nào cho sức khỏe an lạc bà con đồng hương kiếp này, mà còn tạo nhân duyên lành cho mình kiếp sau được làm thày thuốc cứu đời, who knows?
Thêm một bài Thuốc trị bịnh Gout,
người gởi DQV [CANADA]. VIETDCORPORATION@aol.com
Nhan doc duoc mot bai viet cua mot vi trong website ve benh  "gout", toi xin chia se nhung gi biet duoc
ve van de nay voi moi nguoi, hy vong se giup duoc mot so nguoi, giai quyet duoc benh "gout" nay.
Ong "nhac gia" cua toi, bi gout cach day vai nam [nam nay ong 98 tuoi], hom do, ra tiem thuoc
chuyen ban "natural herbs Health food ", ong chu tiem la mot bac si "canadian doctor", nhung co kien
thuc ve herbs, chi cho mot chai Black Cherry Concentrate [474 ml], cong ty Bernard Jensen's, mua
ve cho "nhac gia" toi uong , sau khi uong duoc 4 ngay, thi chan[ngon chan] khong con thay dau nua.
va vai nam sau,  bi dau ngon chan tro lai, mua mot chai nhu vay, uong tiep , vai ngay la ong tro lai binh-
thuong, ong bac si nguoi canadian nay noi rang : benh "GOUT" , kho tri neu khong biet cach chua, nhung
de tri neu biet dung loai thuoc . [Black Cherry concentrate chi la mot loai nuoc trai cay, nhu nhung trai cay khac, nhung Black cherry co kha nang thai chat doc Puretine ra ngoai , theo nuoc tieu nhanh hon va huu-
hieu hon nhung loai trai cay khac.]. Hy vong se giup duoc mot so quy vi ve van de Gout voi kinh nghiem nay. Chuc moi nguoi luon vui manh.
Thêm một bài Thuốc trị bịnh Gout,
Người gởi: thuy ngai nguyen <ngainguyen4@yahoo.fr>
 Cam' on qui' vi. ve^` tai`lieu.  chua benh.  gout  .   Xin gop' y' nhu sau   :    toi  bi benh. gout   tu`lau nam  nay  ,  da dung`thuoc'  colchimax  ,   allotropine ,   zyloric  , cao dan' ,  cham cuu'  vv  ,  nhung   khong khoi?  .  Toi da tim`thay mot cuon' sach' : le guide familial  de  l'homeopathie  cua ?  Dr  Alain Horvilleur  , trong do' co' vi. thuoc' ten la` :   colchicum  autumnale  9ch  ,   dung`  nhieu`lan`thuoc' nay`va`kieng nhung mon'  an co' acide uric , uong' nhieu`nuoc' ,  thi`toi khoi? benh. lau dai` .   Kinh' chao` qui' vi. ,    Ngai

***Xin nhấp vào các liên kết dưới để xem video :

<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36
5  Nho Gia Tư Tưởng Học / Y HỌC CỔ TRUYỀN / KINH NGHIỆM CHỬA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON vào lúc: Tháng Hai 08, 2012, 09:36:15 AM
KINH NGHIỆM CHỬA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON

Cô Sue Dixon, một Phật tử người Úc, vướng phải căn bệnh hiểm nghèo, ung thư ngực, trong lúc dường như phải bó tay và hoàn toàn tuyệt vọng thì các Tăng sĩ Tây Tạng đã hướng dẫn phương pháp Thiền quán. Tuyệt vời thay, không lâu sau đó, cô bình phục và khỏe mạnh như xưa. Bài viết dưới đây, cô sẽ kể cho đọc giả biết quá trình loại bỏ bệnh ung thư như thế nào

Tôi quyết định viết về chuyện ung thư ngực (breast cancer) của tôi với hy vọng rằng nó có thể là lợi ích cho quý đọc giả là tôi hạnh phúc lắm rồi. Đó là một kinh nghiệm thâm thúy của bản thân vì nó giúp tôi chính thức chuyển đổi hướng đi của tôi trong cuộc sống và Phật pháp đã đóng một vai trò quan trọng dẫn dắt tôi trong hướng đi mới này.

Lần đầu tiên tôi phát hiện mình có một khối u ở bên ngực trái vào đầu tháng 7 năm 1990. Cuộc khám nghiệm cho thấy đó là loại ác tính. Tôi đau khổ vô cùng vì tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bị ung thư, vả lại gia đình tôi không có tiền sử về căn bệnh nan y này và tôi chỉ ở cái tuổi bốn mươi hai. Lúc đó, tôi chợt nhớ đến một bài báo đã đọc trên tờ MANDALA (báo của hội Phật Giáo Tây Tạng, ấn hành ở Hoa Kỳ bằng tiếng Anh từ năm 1975) nói về một phụ nữ mang bệnh ung thư, được Lạt Ma Zopa dạy rằng đó là dịp tốt để làm lợi ích cho người khác vì căn bệnh của mình. Nhờ đó mà tôi được an ủi và cảm thấy rằng mình cũng như một người có ích cho kẻ khác. Tôi có một cảm giác tràn ngập với những tội lỗi và tin rằng bằng một lý do một nào đó mà có lẽ tôi đã phải chịu một hình phạt ở ngày hôm nay vì những hành vi bất thiện vốn từng gây trong quá khứ.

Tôi có một cuộc phẫu thuật vào ngày 4 tháng 7. Năm tuần sau tôi trở về nhà và đi làm bốn ngày trong một tuần, đó là một công việc căng thẳng của một chuyên viên liệu pháp gia đình tại một Trung tâm sức khỏe tâm thần cộng đồng. Một tháng sau chồng tôi lại mổ ruột thừa và sau một tháng thì anh bị liệt. Tất cả những căng thẳng ấy đã vây lấy tôi. Đó là không kể đến làm một bà mẹ và ba đứa con ở tuổi thiếu niên. Năm kế đó, tôi vừa đi làm một tuần năm ngày và vừa đi học để lấy bằng Cao học.

Ngày 25 tháng 5 năm 1992, lần đi khám thường lệ ở bệnh viện. Bác sĩ phẫu thuật cho hay lá gan có nguy cơ lớn hơn trước và rồi chiếu X-quang lại khám phá ra ngực thứ hai cũng bị ung thư. Tôi rất giận dữ và gần như tuyệt vọng. Tất cả những đau đớn đã ập đến và tôi lại bệnh nặng thêm. Tôi bị căng thẳng ở nơi làm việc, không có hạnh phúc trong gia đình, tôi đã đầu hàng và cứ để bệnh ung thư này nghiền nát tôi.

Rồi vào một buổi chiều, tôi viết cho Thượng tọa Zopa (ngài đang ở Hoa Kỳ) một lá thư với nội dung đầy tuyệt vọng. Sau ngày đó tôi có một nội tâm rất mãnh liệt và biết là việc làm đó đúng như mong đợi của tôi, một tuần sau tôi nhận được thư hồi âm từ ông. Ngài Zopa có lời an ủi tôi, chỉ dạy tôi những phương pháp tập Thiền cần thiết và ngài cũng nhắc lại rằng tôi đang có cơ hội tốt để có lợi ích cho người khác.

Thầy của tôi là Thượng tọa Khensur Rinpoche ở Adelaide (Úc), cũng dạy cho tôi một số phương pháp đặc biệt trong việc sử dụng y học Phật Giáo. Ngài cũng nhắc nhở tôi phải cẩn thận trong việc ăn uống, tập Thiền, niệm hơi thở hàng ngày. Ngài cũng khuyên tôi đừng quá bi quan và buồn rầu mà hãy nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp và tôi sẽ sớm bình phục.

Tôi nghỉ làm việc ở Trung tâm liệu pháp và nhận ra rằng điều đó làm cho tôi khó chịu vì cá tính nghề nghiệp đã buộc chặt tôi trong nhiều năm qua. Vào tháng 12 năm 1992 tôi nhận thấy rằng nếu tôi hết bệnh ung thư và khỏe mạnh bình thường thì có lẽ tôi đã chấm dứt cuộc hôn nhân hai mươi bốn năm của mình rồi. Đây là một vấn đề bế tắc, một quyết định đau khổ và cũng là nguyên nhân làm cho cha mẹ tôi phải đau buồn.

Cũng trong thời gian đó, tôi theo học một chương trình nội trú ở trung tâm Gawler gần bang Melbourne. Anh Ian Gawler là sáng lập viên của trung tâm, một người tự khôi phục lại từ bên lề của cái chết vì bệnh ung thư xương (bone cancer) trong mười bảy năm trước khi nhờ phương pháp Thiền và ăn chay theo Đạo Phật. Trung tâm đã cống hiến một cơ hội ngàn vàng cho những người bệnh ung thư đến để chỉnh đốn cuộc sống của mình và bắt đầu thay đổi thói quen của lối sống theo "động cơ" trong quá khứ, học và hành Thiền niệm hơi thở, dùng những thức ăn bổ, khỏe và cố nhiên là thức ăn dành cho người bệnh.

Ở nơi đó, tôi nhận ra rằng tôi có được thuận lợi và tiến bộ đáng kể trong công việc chữa lành bệnh. Tôi thấy mình trở nên trầm lặng hơn, dễ chịu hơn, và chấm dứt những thói quen theo động cơ và tạo ra những khả năng thực sự để tự chữa bệnh cho mình.

Tôi trở về nhà và vẫn tiếp tục hành Thiền nhiều hơn nữa, từ một cho đến hai giờ mỗi ngày theo phương pháp thở, uống vitamin và nhiều loại thuốc bổ tổng hợp khác. Chồng tôi và tôi đã có sự giúp đỡ lẫn nhau thay vì sống ly thân. Tôi cũng có đi châm cứu và đến phòng tập thể dục ba lần trong mỗi tuần.

Đến đầu tháng 7 năm 1993, tôi đi siêu âm và kết quả cho thấy không có sự bất thường trong gan của tôi nữa, các khối u cũng đều biến mất. Tôi sung sướng như đã vứt bỏ một gánh nặng. Tôi liền tổ chức một bữa tiệc ăn mừng để cám ơn quý Thầy, quý bạn bè và gia đình đã an ủi và giúp đỡ tôi trong lúc bệnh. Thượng tọa Khensue Rinpoche đã nói với tôi thật là một điều kỳ diệu rằng tôi đã khỏi bệnh, một căn bệnh trầm trọng nhưng chỉ đối trị với những phương pháp đơn giản. Tôi cảm ơn ngài về sự chỉ dạy của ngài cũng như những người bạn đạo khác. Sau đó chúng tôi đi bách bộ ra ngoài, tôi nhìn thấy một cầu vòng sáng choang ở phía trước chúng tôi. Tôi đã nhận ra rằng cuộc hành trình của tôi chỉ nới bắt đầu.

Đạo Phật đã giúp tôi chữa bệnh bằng cách nào ?

Tôi hoàn toàn tin tưởng vào các vị Thầy đạo hạnh của tôi, cũng như các phương pháp Thiền của Phật pháp một cách tuyệt đối. Tôi tin rằng căn bệnh này là sự chín muồi của nghiệp có liên quan từ đời sống quá khứ và tôi chỉ nhìn nó như một sự thanh lọc hoàn toàn. Tôi cũng cho rằng đây cũng là một dịp may để loại bỏ chu kỳ của nghiệp vì nếu không thì nó sẽ được lập đi lập lại bằng chính nó. Một cách kỳ lạ, tôi cảm thấy bệnh ung thư của tôi lại làm cho tôi khỏe hơn lên.

Áp dụng y học Phật Giáo để chữa bệnh, trong đó vấn đề nhịn ăn, kiêng ăn và tập thở là những điều quan trọng hàng đầu đối với tôi. Tôi quán chiếu một tia sáng theo phương pháp thiền Kim cang để gột rửa đi những tế bào ung thư ở bên cửa miệng của tử thần, rồi tôi thấy mật hoa màu vàng phủ trùm cả cơ thể tôi, và như thế mà lá gan của tôi đã phục hồi trở lại. Tuy nhiên phải mất một vài tháng trước khi tôi có thể những khối u trong tôi bị tẩy sạch.

Một phép quán khác quan trọng nữa là nhìn thấy ai đó đang bị đau đớn, hít vào một hơi thật sâu để xua tan đi những u tối trong tâm hồn và làm rộ ra viên kim cương, cái chính thực của mình. Và rồi thở ra với một luồng ánh sáng trắng từ viên kim cương ấy để đem vào cái mát mẻ và an lạc từ những nỗi đau đớn. Tôi cũng nguyện cầu cho tất cả mọi người bị vướng phải căn bệnh này sớm biết được phương pháp thiền quán này để họ bớt khổ đau.

Tôi có một niềm vui nhất định khi tập thiền. Qua giáo lý và thiền, tôi nhìn thấy rõ cách tồn tại hoàn toàn của tôi được quyết định bởi sự tỉnh thức và sự tự giữ lấy mình. Tôi bắt đầu thấy rõ mình lúc thức, lúc ngủ, cũng như lúc thoải mái hay lúc bực mình. Tôi bắt đầu nắm bắt được sự thật là nếu tôi khỏe lên thì có lẽ tôi lại phóng túng, phá vỡ mọi trật tự những cái sẽ đưa đến sự hoàn thiện, sự hạnh phúc. Thật khó cho chúng ta đạt được như ý trong khi vẫn cứ chạy theo cái lề thói cũ của mình. Điều đó đã liên quan đến cả cuộc sống lẫn trong mọi sinh hoạt hàng ngày của tôi. Chẳng hạn như việc sử dụng đồ đạc, trong tiếp xúc, những cái mà tôi không thích thì nay được thay đổi, bước đi với những bước chân thanh thản, nhẹ nhàng thay vì chạy rầm rầm... cũng như những việc lớn giống như tình trạng hôn nhân thoải mái nhưng không hạnh phúc nơi mà tôi đã dần dần bị xói mòn bởi sự giận dữ và xung đột.

Thật là điên cuồng để chạy theo những cái mỏng manh và huyền ảo của lợi danh và vật chất, để rồi lúc đối đầu với cái chết, chúng ta mới nhận ra rằng mình cũng giống như bao người khác, chỉ là sự sợ hãi, thất vọng và "ra đi" với hai bàn tay trắng trong nỗi niềm luyến tiếc những người mình thương, với những gì mình sở hữu. Tại sao chúng ta không biết chuẩn bị cho mình một cái gì đó cho ngày ấy? là một người bằng xương bằng thịt, tôi đã tuyệt vọng khi đối đầu với cái chết để trở nên một người biết thức tỉnh và biết lo tu học. Tôi rất mong quý đọc giả không giống như tình trạng của tôi.

Thế thì tương lai của tôi sẽ ra sao? Tôi cho rằng đang chờ xem thử những gì sẽ xảy ra. Nhưng tôi dám chắc là căn bệnh ung thư kia đã bị loại bỏ hoàn toàn nhờ "phương thuốc" Thiền thần diệu của Đạo Phật.

Hiện nay tôi đang bận rộn viết cho xong cuốn sách về phương pháp Thiền trị bệnh của Phật Giáo, nhưng tôi muốn nghe ý kiến cũng như muốn đối thoại với bất cứ những ai thắc mắc và quan tâm đến vấn đề này. Hoặc gởi thư cho tôi qua địa chỉ : Sue Taylor, P.O.Box 578 , Kingscote, SA 5223, Australia. Tel: 08.8559 3260
***Người sao chép xin gửi các bạn video Youtube về bệnh ung thư rất hay:
<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI. vào lúc: Tháng Hai 08, 2012, 09:33:36 AM
BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI.
Mẹ là người phụ nữ nông thôn thuộc xã hội cũ. Mẹ không biết chữ, không ăn chay, nhưng trong lòng mẹ luôn hiện hữu hình bóng của đức Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

Hồi tôi còn nhỏ, lúc đó làng tôi có rất nhiều người đến xin ăn, mẹ tôi sắm sửa một ít thức ăn đem đến tận tay cho họ, tuy rằng không nhiều nhưng có thể cứu đói tạm thời. Thời gian trôi qua như vậy, nhà tôi trở thành nơi dừng chân của những kẻ hành khất. Tôi còn nhớ, mùa đông năm ấy tuyết rơi trắng cả bầu trời, từng cơn gió lạnh thổi về buốt giá, một người phụ nữ dẫn con đi qua, người con vừa đói vừa lạnh, ngoài kia những bông tuyết vẫn rơi đều trên lá, cảnh vật như vô tình. Đến làng tôi, người phụ nữ kiệt sức ngồi tựa vào gốc cây bất động. Mẹ tôi đang ở nhà, bỗng nghe tiếng trẻ thơ từ gốc cây vọng lại, liền lật đật chạy đến chỗ có hai mẹ con và đưa họ về nhà. Một tay mẹ đốt cỏ sưởi ấm cho họ, một tay pha thuốc cho họ uống, mẹ còn tìm những bộ áo quần khô ấm cho họ mặc. Lúc đó có người hỏi mẹ tôi: “Bà làm như vậy là vì mục đích gì?” Mẹ trả lời ngay: “Không mục đích gì cả, tôi chỉ làm theo lương tâm mình mách bảo, có Bồ Tát Quán Thế Âm chứng giám là được”.

Sau năm 1958, những kẻ ăn xin đã bớt đi rất nhiều, nhưng thay vào đó là những người thợ sửa nồi, sửa giày từng đoàn kéo đến làng tôi. Mỗi lần đến như vậy, họ đều mở sạp hàng ngay trước mặt nhà tôi. Có khi đến bữa cơm không có chỗ ăn cơm, họ liền vào nhà tôi ăn. Mẹ tôi tiếp khách như thế nào thì đối đãi với họ như thế ấy. Khi đó tôi còn nhỏ, chưa hiểu mô tê gì ráo, nhưng vì những việc như vậy mà tôi hay thầm trách mẹ tôi. Mẹ biết và nói với tôi: “Con à, chúng ta mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau, họ đều có nỗi khổ tâm riêng, nhất là những người phải xa nhà rày đây mai đó. Anh con cũng như họ, tha phương cầu thực, người khác giúp đỡ anh con, bây giờ mẹ giúp đỡ họ thì cũng chính như giúp đỡ gia đình mình vậy”.
Mọi người trong làng đều nói mẹ tôi có tấm lòng Bồ Tát. Những lời nói đó thật không ngoa chút nào. Mẹ tôi đối với lân lí xóm giềng, bất kể ai gặp khó khăn đều hết lòng giúp đỡ.

Ở thập niên 1960, kinh tế trong làng gặp lúc túng quẫn, mọi người đói rách lầm than, mà nhà tôi được cái có mấy anh trai làm việc ở xa thường hay gửi tiền về nhà, nên kinh tế có phần đỡ hơn người khác. Tuy vậy, mẹ tôi không dám ăn, không dám xài, đem tiền cho người ta mượn hết, đến lúc nhà cần tiền để xài thì trong tay không còn một đồng nào. Nhưng mẹ tôi thà tự xoay xở chứ không bao giờ đến nhà người ta đòi nợ, trong lòng luôn nghĩ mọi người đang gặp khó khăn hơn mình.
Ngoài ra, mẹ còn dùng cây cỏ thuốc để chữa bệnh cho mọi người. Cứ đến mùa hè, bà con lối xóm đau đầu nghẹt mũi đều đến nhà tôi xin thuốc. Mẹ dù rất bận rộn, nhưng vẫn dành thời gian đi nhổ cây cỏ thuốc, đem về rửa sạch và phân ra từng loại rồi chế biến thành thuốc chữa bệnh. Tôi thường giúp mẹ giã và sao thuốc, giúp là giúp vậy chứ tôi chẳng biết thuốc gì là thuốc gì. Có một năm, ở nhà, tôi hỏi mẹ làm như thế để làm gì. Mẹ xoa đầu tôi nói: “Nói ra con cũng không hiểu đâu, làng trên xóm dưới cỏ cây đều khô trụi, lấy đâu ra thuốc mà uống?” May mà cuộc sống bây giờ điều kiện vệ sinh tốt, bệnh ghẻ lở bớt đi rất nhiều, hơn nữa bây giờ có thuốc tây rất công hiệu.

Mẹ ở nhà thường hay hỏi nhà nào gặp khó khăn, ai khổ đau, ai lầm lỡ, trên gương mặt mẹ lúc nào cũng biểu hiện sự lo âu, khắc khoải. Mãi cho đến bây giờ hình ảnh ấy vẫn còn khắc sâu trong đầu tôi. Mẹ làm như cuộc đời này tất cả nỗi khổ của người khác đều do mẹ tạo ra!
Mỗi lần nói xong một câu gì mẹ đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi còn nhớ, ở thời kỳ “Văn Cách”, mẹ thường nói với mấy anh em tôi: “Bây giờ là thời loạn, xấu tốt bất phân, các con nên làm việc thiện cho nhiều, tuyệt đối không làm kẻ ác nhân, làm ác nhân sau này ắt sẽ gặp ác báo”. Nhờ chúng tôi biết phận nên cũng chưa làm gì xấu xa, nếu không, mẹ tôi ở dưới cửu tuyền sẽ không yên lòng.

Mẹ không hiểu Phật pháp nhiều, không biết thiền, chỉ biết niệm Quán Âm Bồ Tát và A Di Đà Phật. Nhưng bà ngoại thì khác, bà là người đọc qua nhiều sách, thiên văn, địa lý cổ kim đều thông, đồng thời là người hướng Phật “Hành sở ứng hành, thọ sở ứng thọ, chư ác bất tác, chúng thiện phụng hành”. Mẹ tôi lúc nhỏ đã chịu ảnh hưởng của bà ngoại về đối nhân xử thế. Sau này tôi nghe mẹ tôi kể rất nhiều về những mẫu chuyện thiện ác nhân quả báo ứng, những câu chuyện này thời ấu thơ mẹ tôi nghe bà ngoại kể, vì thế mẹ thường nói với chúng tôi: “Phàm làm việc gì phải ngay thẳng vô tư, làm hết lòng bằng chính lương tâm của mình. Đừng bao giờ cho rằng người khác không biết việc của mình làm, tuy rằng có thể họ không biết, nhưng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát biết”.

Anh em tôi có ngày hôm nay là nhờ mẹ tảo tần hôm sớm nuôi nấng dạy dỗ. Ba tôi thì một đời lam lũ, là người nông dân hiền lành chất phát, chỉ biết an phận thủ thường. Mẹ tôi trừ việc lao động chân tay, còn giáo dưỡng chúng tôi trưởng thành. Mẹ không biết chữ, nên trong cuộc đời đã chịu nhiều cay đắng. Vì vậy, mẹ quyết tâm cho chúng tôi học hành đến nơi đến chốn. Cũng vì việc học của anh em chúng tôi mà mẹ phải bán đất bán ruộng không một chút do dự nào, nhưng nhà tôi ruộng đất chẳng là bao nên mẹ phải thức thâu đêm để may vá kiếm thêm tiền nuôi chúng tôi ăn học. Mỗi khi mùa đông đến thì tiếng cọc cạch của chiếc máy may cũ kỹ trong nhà tôi không bao giờ ngừng nghỉ. May mà sau này xã hội thay đổi, nếu không anh em tôi có thể sẽ không được đến trường đến lớp.

Tôi nhớ, hồi còn đi học, mẹ sợ chúng tôi thi không được lên lớp, nên mỗi khi kỳ thi đến, tôi thấy mẹ đối trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đốt hương lâm râm cầu nguyện, mong sao cho chúng tôi vượt qua kỳ thi dễ dàng. Lúc đó tôi còn nói với mẹ mê tín như vậy thì được ích gì, mẹ liền mắng tôi: “Đừng nói tầm bậy! Tâm thành tắc linh. Con nói không có ích gì, vậy tại sao có người học giỏi nhưng thi rớt lên rớt xuống? Con không tin thì thôi, chứ mẹ thì tin lắm!” Nói ra cũng lạ, tôi học thì dốt đặc cán mai, mà hồi đó từ cấp Ι thi lên cấp ΙΙ rất khó, từ cấp ΙΙ lên cấp ΙΙΙ càng khó hơn. Toàn huyện chỉ có một hai trường cấp ΙΙΙ, mỗi trường chỉ lấy có hai lớp, nhưng tôi may mắn được lọt vào một trong hai trường đó, đây có lẽ là lời cầu nguyện của mẹ tôi đã làm động lòng đến trời cao?

Mẹ xa chúng tôi đã tám năm, thọ 88 tuổi. Mẹ ra đi thật nhẹ nhàng, chẳng đau ốm gì. Ngày nay, lúc nào nhớ mẹ, tôi đem chuyện Quán Thế Âm Bồ Tát và mẹ kể cho con mình nghe. Bây giờ nghĩ kỹ lại, những việc làm của mẹ tôi lúc còn tại thế hình như phảng phất đâu đó hình bóng của đức Quán Thế Âm. Mẹ tuy mù mờ về Phật pháp, nhưng trong lòng mẹ luôn nghĩ về điều thiện, cho nên những việc mẹ làm vừa phù hợp với Phật lý, vừa thắm đượm tình người. Đây gọi là “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”; đồng thời cũng chính là nguyên nhân để chúng tôi nhớ sâu sắc về mẹ.


***Người soạn mong quý vị xem các video clip về Đức Quán Thế Âm bên dưới:
<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36



7  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / CHUYỆN HUYỀN BÍ - XƯA & NAY / LINH HỒN VÀ CÕI ÂM vào lúc: Tháng Hai 08, 2012, 02:05:08 AM
LINH HỒN VÀ CÕI ÂM
Linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết có hay không ? Sau đây bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA). Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh của con người, GS Tâm đã kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng : sự sống sau cái chết là có thực !
Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đắng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ.
Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết, nhưng hơi nhiều hơn mọi người.
Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.
Tôi đã hiểu được cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng … để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng ngày chán và các loại sách viết Huyên Thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.
Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri : “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.
Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bầu víu.
Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5 năm 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời VNCH).
Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời VNCH) làm hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện …). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn tìm mộ gia đình. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá”, của Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh chính trị và Bí thư Đảng uỷ Quân khu 1.
Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim…
Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.
Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nh ẻ ?
oOo
Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ tôi cùng đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành), không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy.
Khi đến nơi, hai anh em tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên : Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có vong tên … thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp tập đi vào…
Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt Sùi.
Tôi sốt ruột đi hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà mình về thì người ta gọi vào.
Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhào tôi là hỏi thật ngớ ngẩn !
Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà ngồi trước cửa đứng lên nói to : “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngan cùng với vài ba chức người đứng dậy ra về.
Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).
Sáng hôm sau chúng tôi trở lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai anh em đang làm. Mẹ tôi giãy n ảy lên : “Đến chỗ ma quỷ ! Tao không vào đâu !”. Chúng tôi lại đành phải mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày hôm trước.
Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng) mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi : “Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu ?” (Cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ : “Mo ơi, Cậu về gọi mo đấy !”. Mẹ tôi hốt hoảng em tôi đứng bật dậy chạy theo, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình.
Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rải, trống rỗng. Ngoài cái được trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là tiền thưởng), thì không hay có bàn thờ trang trí gì khác của một cái am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dua như các cô gái Hà Nội, mặt hoa da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông người trên chức. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé! “.
Thế cũng tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên ai thưa thì giơ tay : “Dạ, con đây (đây em hay, cháu đây …)”. Và người đó nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời : “Dạ, đúng vậy …” có vẻ cung kính lắm.
Có một chuyện cười ra nước mắt. Vong gọi : “Thằng Thanh đâu ?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy : “Dạ, con đây !”. Vong nói : “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tiu với con Mai ở cùng cơ quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh (chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo nhau ra.
Bỗng cô Phương nhìn chấm chấm vào mẹ tôi để rồi kêu lên : “Mo ơi! Côn Cửa mở đây ! Thắng đây ! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất lúc chưa đầy một tuổi.) Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi ! Con tôi … Nhưng con mất khi mới được tám tháng… … “.
Vong nói qua miệng cô Phương : “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mo và hai anh đến, nhưng con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói : Mo già yếu, còn anh Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về với con đây “.
Rồi quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói : “Hai anh chẳng nhớ gì đến em. Hai anh chỉ nhớ Cậu thôi !”. Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.
Quay trở lại mẹ tôi, cô Phương nói : “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Mo sao lại đặt tên con là Bùi Tất Thắng ? “.
Mẹ tôi luống cuống : “Tại bố con đấy ! Hồi đó mới giải phóng Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nên bố con cao hứng, đã đặt tên con là Tất Thắng “. (Hồi đó cả nhà trách bố tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng Tất còn có nghĩa là hết, tức là chết. Nên nó mới mất sớm.. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết Nhưng tôi. có biết ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông ấy biết con người như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.)
Vong em tôi nói tiếp qua cô Phương : “Thôi, Mo đã khắc tên trên bia mộ con rồi !”. Đúng thế. Tên em tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa trang Bất Bát.
Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương nắm tay mẹ tôi, rồi nói : “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà lắm … “. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ tôi : “Bà diện lắm ! Mới đi có thể mà áo đỏ… “.
Trời ơi ! Sao bố tôi biết nhanh thế ? Trong gia đình đã có ai biết chuyện tôi mua xấp vải nhung đỏ về VN may áo cho mẹ tôi !? Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi Thanh Hóa ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ này để có áo cho mẹ kịp mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm một câu đùa yêu tiếp : “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!”.
Mẹ tôi rên rỉ : “Cái gì ông cũng biết ! Đúng rồi ! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi nhăn nheo quá, sợ thằng con trai cả của ông nói với bạn bè “. (Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay biết gì, thế mà bố tôi cũng biết !) “
Rồi cô Phương quay sang tôi : “Tâm ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi) Chuyện của nó mới xảy ra trước khi tôi về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được ! )
Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương : “Tao là Bùi Văn Khánh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây! “.
Tôi vội thưa : “Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh” (cô Hai là chị ruột bố tôi. )
Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khánh, chứ không phải là Khanh”.
Rồi quay sang mạng mẹ tôi : “Chị về làm dâu nhà tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị chỉ về quê nội có một lần ! Mẹ tôi sợ hãi chống chế : “Gia đình con ở Hà Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh – Thanh Hoá, nên đi lại khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà “.
Cứ như thế trong 90 phút vui buồn, khóc lóc …
Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá. Đáng nhẽ thẳng về Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý bầu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm hở muốn gặp cô Phương.
Cô Phương vui vẻ cho biết thêm : “Cụ ông lại vừa về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”.
Lại thêm một ngạc nhiên : Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào tôi cũng muốn bố mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình.
Ngày hôm đó là ngày trọng đại của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi Âm. Dù cho sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm đó vẫn không thể chơi cai được, nếu không nói là tuyệt đối được chấp nhận.
Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây rất khó khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại. Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng nào đó mà ta biết không, ta tạm gọi là “Linh hồn” , trong một thế giới nào đó mà ta cũng biết không, tạm gọi là “cõi âm” (để phân biệt với cõi Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi chết” (“Cuộc sống sau death “).
Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm 2005. Khi đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói nhỏ với tôi : “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi một cách bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh.
Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô Bằng, cô Thảo, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng. Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng … Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh … làm việc ở các cơ quan khác nhau.
Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau : “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn như từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn “.
***Xin mời quý vị xem các video Youtube rất hay cảm động:
<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36
8  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HỌC / Truyện về tu bụi vào lúc: Tháng Hai 07, 2012, 02:04:31 PM
                                       TRUYỆN VỀ TU BỤI.

- Thưa sư ông, tôi mất công đội đàng than dạ đi tìm thầy học Đạo mà công uổng danh hư. Gặp thầy không nghe nói chuyện từ bi trí tuệ gì cả mà toàn là những chuyện nhảm nhí chả đâu vào đâu. Thử hỏi thầy, thầy để Đạo của thầy ở đâu mà không nói cho ai biết vậy?
Thầy Tiều lại cười rung cả đôi vai. Thầy làm bộ tìm quanh không thấy rồi lắc đầu hỏi lại người khách:
- Không thấy. Không thấy Đạo đâu cả. Cái Đạo mà quý hữu đang tìm nó giống cái gì mà lại lôi kéo quý hữu mạnh đến như thế? Quý hữu có thể cho tôi biết rõ Đạo như thế nào, rồi biết đâu tôi cũng có thể giúp quý hữu một tay để tìm ra nó?
Người khách vẫn còn cái giọng giận dữ, nói gằn từng tiếng lúc đầu, rồi thao thao về sau. Ông ta nói như đọc thuộc lòng Tam quy, Ngũ giới, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo... rồi Tánh không, Duyên khởi mỗi lúc một hăng. Cuối cùng, có lẽ vì sợ hụt hơi, ông ta tạm ngưng lại, rồi thở phào và kết luận một cách đầy kiêu hãnh:
- Đó, thầy nghe không? Đấy mới đúng là Chánh Đạo!
Thầy Tiều vỗ tay:
- Hay lắm. Hay lắm! Nhưng quý hữu vừa đọc cái gì mà nhiều thế?!
Người khách nói như gắt:
- Thì kinh chứ gì nữa. Tôi vừa nói về Đạo mà. Ối thiên địa quỷ thần ơi, tôi nói Đạo đến dàng trời như thế mà thầy còn hỏi là tôi nói gì thì không biết thầy còn tỉnh táo hay không? Bây giờ đến lượt thầy nói về Đạo đi nha!
- Đạo gì?
- Thì đạo Phật của thầy chứ có đạo gì vào đây nữa.
- Hình như quý hữu đã nói hết rồi. Mà thật tình thì tôi có đạo gì đâu để mà kể!
Người khách cười mũi, vẻ bực bội:
- Thầy nói như chuyện đùa. Đầu tròn áo vuông thế kia mà lại nói không theo đạo nào là nghĩa làm sao?
Thầy Tiều vẫn không dứt cái giọng vui đùa:
- Ý tôi nói là cái đạo Phật theo cách suy nghĩ của quý hữu đó mà.
- Đạo Phật trong tôi không giống đạo Phật của thầy. Cũng được. Nhưng người đi tu như thầy mà nói về Đạo sẽ hay ho và cao siêu hơn kẻ phàm phu như tôi nhiều. Sao thầy không thuyết pháp cho người ta nghe với?
Trầm giọng, thầy Tiều nói với người khách:
- Đạo là con đường để đi, không phải là chuyện trầu cau, trà nước để nói cho nhiều quý hữu ạ.
Người khách tỏ vẻ không bằng lòng:
- Đạo Phật nằm trong tam tạng kinh điển, đạo Chúa nằm trong kinh thánh, đạo Nho nằm trong tứ thư ngũ kinh... chứ có đạo nào nằm giữa đường, giữa sá đâu mà thầy nói vậy. Muốn hiểu đạo hay muốn biết lối nào mà đi thì phải có người giảng đạo hay chỉ đường vạch lối chứ đâu có vớ vẩn kiếm đạo ngoài đường được, thưa thầy.
Thầy Tiều vẫn vui vẻ:
- Nói đạo, cầu đạo mà không hành đạo thì chẳng bao giờ thấy đạo.
Khách đắn đo một chút rồi hỏi:
- Xin mạo muội hỏi thầy là thầy đang tu với ước mong sẽ đạt thành quả vị gì sau nầy?
Thầy Tiều cười:
- Thành gì cũng được! Miễn là cầm chắc mình đang làm việc tốt. Gieo nhân lành thì gặt quả tốt thôi.
- Vậy thì đi tu để làm gì?
- Để tìm cách giải phóng cho mình khỏi bị sự cột trói của chính mình và của người khác.
- Thầy nói nghe thật lạ tai. Tu theo Phật là phải buộc mình trong giới luật của nhà Phật chứ làm gì có chuyện "giải phóng" tự do theo ý mình muốn?
- Đạo của Phật và giới luật của nhà Phật là cái phao để mình nương theo đó cho khỏi chìm trong khi ráng sức bơi qua bờ bên kia. Đến bờ mình mong muốn rồi thì nghiêng mình cảm tạ và buông phao để đi tự do trên bờ bến mới chứ chẳng lẽ cứ ôm phao hoài như thế!
- Nói thì dễ nhưng biết bao giờ mới bơi được qua sông?
- Càng buông hết càng nhẹ, càng thảnh thơi thì càng bơi nhanh hơn. Vừa bơi vừa bị vướng, vừa cố quay lại níu kéo vô số vật trên bờ bến cũ thì có khi hết một đời chưa rời bến được, nói chi đến việc qua được bờ bên kia.
- Bờ bên kia có phải là cõi Phật không?
- Tôi thấy bờ bên kia nhưng chưa qua thì làm sao tôi biết được.
Ông khách lắc đầu:
- Đang mang kiếp làm người mà cất công đi tu để mong "thành gì cũng được" là tu lỗ vốn. Tôi tình thật hỏi thầy là quả thật thầy không muốn thành Phật hay sao?
- Tại sao tôi đang là tôi như thế nầy lại phải tìm mọi cách để biến mình thành một người khác. Tôi là tôi, Phật là Phật. Vì cớ gì tôi phải xóa bỏ chính tôi để lo tu cho thành Phật?
- Vì Phật là đấng giác ngộ.
- Giác ngộ là gì?
- Là thành Phật.
- Bằng cách nào?
- Tu.
- Làm sao tu?
- Đến chùa và ăn chay niệm Phật để cầu Phật.
- Đức Phật trong ý nghĩ của quý hữu đã nhập Niết bàn cách đây hơn hai nghìn mấy trăm năm rồi. Đi tìm Phật ở chùa sẽ không bao giờ gặp đâu. Chùa không có Phật.
Cao giọng bất bình, ông khách hỏi lại:
- Chùa là nơi để thờ Phật mà sao lại không có Phật?
Vẫn thản nhiên, nhà sư trả lời:
- Đúng. Chùa chỉ là một ngôi nhà để thờ tượng Phật. Thờ có nghĩa là vọng Phật hay hướng Phật chứ không phải là nuôi Phật. Nên đó chẳng phải là nơi có Phật.
- Vậy Phật ở đâu?
- Phật không phải là ông thần ban phước hay giáng họa từ trên trời hiện xuống. Phật không phải là một đấng thần linh dắt ta đến chốn Niết bàn. Ta ở trong Phật. Phật ở trong ta. Mỗi ta đều có Phật và mỗi Phật đều có ta. Câu nói khẳng định đầu tiên của đức Phật tương lai với cuộc đời là: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn!” Trên trời, dưới đất chỉ có ta làm chủ chính ta. Khi tự mình tìm thấy được tính Phật trong chính mình là thành Phật.
- Thế còn pháp khí và chư tăng ni thì sao?
- Tất cả đều là những phương tiện tốt hơn để đi tìm tính Phật.
- Thầy nói vậy thì chả lẽ chẳng có ai dắt dẫn mình đến cõi Phật hay sao?
- Cõi Phật ở ngay trong lòng quý hữu. Vậy nên ngoài quý hữu ra, không ai đủ sức làm cho cái tính Phật trong quý hữu hiển lộ. Ai cũng có thể thành Phật trong chính mình, chứ không ai thành Phật trong người khác hay phải biến thành người khác mới thành Phật cả.
- Phải bắt đầu từ đâu để có thể làm cho tánh Phật trong ta hiển lộ?
- Quét những lớp bụi mờ mỗi ngày trong kiếp sống hiện tiền và tích lũy từ bao kiếp trước. Quét mỗi khắc, quét mỗi canh, quét mỗi ngày không bao giờ ngưng nghỉ. Coi chừng lá rụng nhiều hơn lá quét và bụi bám dày hơn bụi lau. Quét dọn siêng năng không bằng ngưng xả rác.
- Phủi bụi hay tu?
- Tu là phủi bụi!
- Tu bụi?
- Vâng, có lẽ phải thế thôi. Tu bụi trước đã, tu đạo sau. Không tu bụi thì làm sao lau sạch được bụi để sáng mắt, thấy đường mà đi.
- Làm sao để lau bụi bên trong, bụi trong định kiến và tâm hồn?
- Là im lặng, định tâm để nhìn sâu, nhìn thẳng vào trong chính mình. Chỉ có ánh sáng mới xua được bóng tối. Chỉ có trí tuệ mới xua được vô minh. Vô minh chính là lớp bụi trong ta. Càng nói, càng phân tích lý luận, càng không hiểu. Bụi trần gian khó chùi sạch nhất là bụi đóng trong đầu mình.
Sau câu nói đó, thầy Tiều im lặng trong khi ông khách vẫn nhấp nhổm ngồi không yên.
Ông khách vẫn còn ấm ức và muốn thách thức với thầy Tiều và tất cả các người đang lui tới trong chùa. Ông khách xuất thân là một nhà tu cởi áo hoàn tục. Với kiến thức sẵn có mà ông ta được học bao năm ở nhà chùa, cộng thêm với nỗ lực dùi mài đọc sách, ông hết sức tự hào với cái kho kinh điển trong đầu mình. Không ai xua đuổi ông ta ra khỏi chùa. Chính sự mê mờ không muốn tu để giải thoát mà chỉ muốn tu như một lối đầu tư lời nhiều lỗ ít đã làm ông ta mất kiên nhẫn, sớm chán nản với nếp sống tu hành kham nhẫn đã đưa ông khách xa dần với đời tu sĩ. Thêm vào đó, lòng kiêu căng, ngã mạn không muốn thua ai, đã lôi kéo ông khách ra nhảy múa giữa đời nên chiếc chìa khóa tâm linh của ông để mở cổng chùa cũng mất. Không vào lại được cửa nhà chùa, ông ta đâm ra hận đời, hận mình, hận người. Ông ta quyết trả thù đời bằng cách chu du đến nhiều nơi có chùa chiền, tu viện để thách đố, đấu lý với các nhà sư. Ông ta muốn xem vì cớ gì mà ông ta không ở lại chùa được, trong khi những người cùng tuổi với ông vẫn còn đang tu học thuần thành và nghiêm cẩn. Sự cố chấp và lòng ganh tỵ đã làm cho ông khách xem chốn chùa chiền là một đấu trường của hý luận hơn là một môi trường tu hành.
Quay về phía người khách và những người đang im lặng chăm chú theo dõi cuộc đối thọai, thầy Tiều mời mọi người tham gia ngồi tĩnh tâm như thường lệ.
*** Xin mời xem các video Youtube rất hay dưới đây:

<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI vào lúc: Tháng Hai 06, 2012, 06:57:22 AM
BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI
Thiện Long – Hàn Long Ẩn dịch
.
Mẹ là người phụ nữ nông thôn thuộc xã hội cũ. Mẹ không biết chữ, không ăn chay, nhưng trong lòng mẹ luôn hiện hữu hình bóng của đức Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

Hồi tôi còn nhỏ, lúc đó làng tôi có rất nhiều người đến xin ăn, mẹ tôi sắm sửa một ít thức ăn đem đến tận tay cho họ, tuy rằng không nhiều nhưng có thể cứu đói tạm thời. Thời gian trôi qua như vậy, nhà tôi trở thành nơi dừng chân của những kẻ hành khất. Tôi còn nhớ, mùa đông năm ấy tuyết rơi trắng cả bầu trời, từng cơn gió lạnh thổi về buốt giá, một người phụ nữ dẫn con đi qua, người con vừa đói vừa lạnh, ngoài kia những bông tuyết vẫn rơi đều trên lá, cảnh vật như vô tình. Đến làng tôi, người phụ nữ kiệt sức ngồi tựa vào gốc cây bất động. Mẹ tôi đang ở nhà, bỗng nghe tiếng trẻ thơ từ gốc cây vọng lại, liền lật đật chạy đến chỗ có hai mẹ con và đưa họ về nhà. Một tay mẹ đốt cỏ sưởi ấm cho họ, một tay pha thuốc cho họ uống, mẹ còn tìm những bộ áo quần khô ấm cho họ mặc. Lúc đó có người hỏi mẹ tôi: “Bà làm như vậy là vì mục đích gì?” Mẹ trả lời ngay: “Không mục đích gì cả, tôi chỉ làm theo lương tâm mình mách bảo, có Bồ Tát Quán Thế Âm chứng giám là được”.

Sau năm 1958, những kẻ ăn xin đã bớt đi rất nhiều, nhưng thay vào đó là những người thợ sửa nồi, sửa giày từng đoàn kéo đến làng tôi. Mỗi lần đến như vậy, họ đều mở sạp hàng ngay trước mặt nhà tôi. Có khi đến bữa cơm không có chỗ ăn cơm, họ liền vào nhà tôi ăn. Mẹ tôi tiếp khách như thế nào thì đối đãi với họ như thế ấy. Khi đó tôi còn nhỏ, chưa hiểu mô tê gì ráo, nhưng vì những việc như vậy mà tôi hay thầm trách mẹ tôi. Mẹ biết và nói với tôi: “Con à, chúng ta mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau, họ đều có nỗi khổ tâm riêng, nhất là những người phải xa nhà rày đây mai đó. Anh con cũng như họ, tha phương cầu thực, người khác giúp đỡ anh con, bây giờ mẹ giúp đỡ họ thì cũng chính như giúp đỡ gia đình mình vậy”.
Mọi người trong làng đều nói mẹ tôi có tấm lòng Bồ Tát. Những lời nói đó thật không ngoa chút nào. Mẹ tôi đối với lân lí xóm giềng, bất kể ai gặp khó khăn đều hết lòng giúp đỡ.

Ở thập niên 1960, kinh tế trong làng gặp lúc túng quẫn, mọi người đói rách lầm than, mà nhà tôi được cái có mấy anh trai làm việc ở xa thường hay gửi tiền về nhà, nên kinh tế có phần đỡ hơn người khác. Tuy vậy, mẹ tôi không dám ăn, không dám xài, đem tiền cho người ta mượn hết, đến lúc nhà cần tiền để xài thì trong tay không còn một đồng nào. Nhưng mẹ tôi thà tự xoay xở chứ không bao giờ đến nhà người ta đòi nợ, trong lòng luôn nghĩ mọi người đang gặp khó khăn hơn mình.
Ngoài ra, mẹ còn dùng cây cỏ thuốc để chữa bệnh cho mọi người. Cứ đến mùa hè, bà con lối xóm đau đầu nghẹt mũi đều đến nhà tôi xin thuốc. Mẹ dù rất bận rộn, nhưng vẫn dành thời gian đi nhổ cây cỏ thuốc, đem về rửa sạch và phân ra từng loại rồi chế biến thành thuốc chữa bệnh. Tôi thường giúp mẹ giã và sao thuốc, giúp là giúp vậy chứ tôi chẳng biết thuốc gì là thuốc gì. Có một năm, ở nhà, tôi hỏi mẹ làm như thế để làm gì. Mẹ xoa đầu tôi nói: “Nói ra con cũng không hiểu đâu, làng trên xóm dưới cỏ cây đều khô trụi, lấy đâu ra thuốc mà uống?” May mà cuộc sống bây giờ điều kiện vệ sinh tốt, bệnh ghẻ lở bớt đi rất nhiều, hơn nữa bây giờ có thuốc tây rất công hiệu.

Mẹ ở nhà thường hay hỏi nhà nào gặp khó khăn, ai khổ đau, ai lầm lỡ, trên gương mặt mẹ lúc nào cũng biểu hiện sự lo âu, khắc khoải. Mãi cho đến bây giờ hình ảnh ấy vẫn còn khắc sâu trong đầu tôi. Mẹ làm như cuộc đời này tất cả nỗi khổ của người khác đều do mẹ tạo ra!
Mỗi lần nói xong một câu gì mẹ đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi còn nhớ, ở thời kỳ “Văn Cách”, mẹ thường nói với mấy anh em tôi: “Bây giờ là thời loạn, xấu tốt bất phân, các con nên làm việc thiện cho nhiều, tuyệt đối không làm kẻ ác nhân, làm ác nhân sau này ắt sẽ gặp ác báo”. Nhờ chúng tôi biết phận nên cũng chưa làm gì xấu xa, nếu không, mẹ tôi ở dưới cửu tuyền sẽ không yên lòng.

Mẹ không hiểu Phật pháp nhiều, không biết thiền, chỉ biết niệm Quán Âm Bồ Tát và A Di Đà Phật. Nhưng bà ngoại thì khác, bà là người đọc qua nhiều sách, thiên văn, địa lý cổ kim đều thông, đồng thời là người hướng Phật “Hành sở ứng hành, thọ sở ứng thọ, chư ác bất tác, chúng thiện phụng hành”. Mẹ tôi lúc nhỏ đã chịu ảnh hưởng của bà ngoại về đối nhân xử thế. Sau này tôi nghe mẹ tôi kể rất nhiều về những mẫu chuyện thiện ác nhân quả báo ứng, những câu chuyện này thời ấu thơ mẹ tôi nghe bà ngoại kể, vì thế mẹ thường nói với chúng tôi: “Phàm làm việc gì phải ngay thẳng vô tư, làm hết lòng bằng chính lương tâm của mình. Đừng bao giờ cho rằng người khác không biết việc của mình làm, tuy rằng có thể họ không biết, nhưng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát biết”.

Anh em tôi có ngày hôm nay là nhờ mẹ tảo tần hôm sớm nuôi nấng dạy dỗ. Ba tôi thì một đời lam lũ, là người nông dân hiền lành chất phát, chỉ biết an phận thủ thường. Mẹ tôi trừ việc lao động chân tay, còn giáo dưỡng chúng tôi trưởng thành. Mẹ không biết chữ, nên trong cuộc đời đã chịu nhiều cay đắng. Vì vậy, mẹ quyết tâm cho chúng tôi học hành đến nơi đến chốn. Cũng vì việc học của anh em chúng tôi mà mẹ phải bán đất bán ruộng không một chút do dự nào, nhưng nhà tôi ruộng đất chẳng là bao nên mẹ phải thức thâu đêm để may vá kiếm thêm tiền nuôi chúng tôi ăn học. Mỗi khi mùa đông đến thì tiếng cọc cạch của chiếc máy may cũ kỹ trong nhà tôi không bao giờ ngừng nghỉ. May mà sau này xã hội thay đổi, nếu không anh em tôi có thể sẽ không được đến trường đến lớp.

Tôi nhớ, hồi còn đi học, mẹ sợ chúng tôi thi không được lên lớp, nên mỗi khi kỳ thi đến, tôi thấy mẹ đối trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đốt hương lâm râm cầu nguyện, mong sao cho chúng tôi vượt qua kỳ thi dễ dàng. Lúc đó tôi còn nói với mẹ mê tín như vậy thì được ích gì, mẹ liền mắng tôi: “Đừng nói tầm bậy! Tâm thành tắc linh. Con nói không có ích gì, vậy tại sao có người học giỏi nhưng thi rớt lên rớt xuống? Con không tin thì thôi, chứ mẹ thì tin lắm!” Nói ra cũng lạ, tôi học thì dốt đặc cán mai, mà hồi đó từ cấp Ι thi lên cấp ΙΙ rất khó, từ cấp ΙΙ lên cấp ΙΙΙ càng khó hơn. Toàn huyện chỉ có một hai trường cấp ΙΙΙ, mỗi trường chỉ lấy có hai lớp, nhưng tôi may mắn được lọt vào một trong hai trường đó, đây có lẽ là lời cầu nguyện của mẹ tôi đã làm động lòng đến trời cao?

Mẹ xa chúng tôi đã tám năm, thọ 88 tuổi. Mẹ ra đi thật nhẹ nhàng, chẳng đau ốm gì. Ngày nay, lúc nào nhớ mẹ, tôi đem chuyện Quán Thế Âm Bồ Tát và mẹ kể cho con mình nghe. Bây giờ nghĩ kỹ lại, những việc làm của mẹ tôi lúc còn tại thế hình như phảng phất đâu đó hình bóng của đức Quán Thế Âm. Mẹ tuy mù mờ về Phật pháp, nhưng trong lòng mẹ luôn nghĩ về điều thiện, cho nên những việc mẹ làm vừa phù hợp với Phật lý, vừa thắm đượm tình người. Đây gọi là “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”; đồng thời cũng chính là nguyên nhân để chúng tôi nhớ sâu sắc về mẹ.


***Người soạn mong quý vị xem các video clip về Đức Quán Thế Âm bên dưới:
<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36



10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / HUYỀN DIỆU CHÚ ĐẠI BI vào lúc: Tháng Hai 06, 2012, 06:54:30 AM
HUYỀN DIỆU CHÚ ĐẠI BI
Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma-Ha Ca-Diếp, A-Nan... cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan "Như thế tôi nghe" cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và Đức Thế Tôn đã được ghi lại ở trong kinh.
Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, muốn cho "chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu" mà nói ra Thần Chú này.
Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: Vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai. Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: "Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay". Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với Ngài A Nan ở trong kinh, "tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh".
Kinh và Thần chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà-Phạm-Đạt-Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như : Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,..

 Sự linh nghiệm, hiển linh của chú Đại Bi từ lâu đã được dân gian Việt Nam nói riêng, dân chúng khắp nơi trên tòan cõi phương Đông nói chung hiểu là “thần chú của Phật Pháp”. Sự linh ứng của chú Đại Bi thật diệu kỳ: cứu khổ cứu nạn con người không bị ma quỷ, kẻ ác hãm hại; bảo vệ con người trước những khó khăn mà con người phải đương đầu gánh vác; Trị cho con người những thói tật cả về tâm bệnh lẫn thân xác; Có sức chuyển hóa vũ trụ biến tạo nên cát tường từ nghiệp chướng; Hóa giải chứơng duyên, ngang trái; Hóa thân Bồ Tát, giúp con người có sức mạnh vô biên tự mình tháot khỏi ách ngục hình của tha nhân;…Đã có hàng ngàn câu chuyện truyền tụng về sự huyền diệu của chú Đại Bi có thật trong dân gian và do đó, con người đến với chú Đại Bi như tìm đến một cứu cánh lúc tai nàn.
 
Nói chung, công năng của chú Đại Bi là làm cho chúng sinh tiêu trừ được khổ nạn, đem đến cho con người sự vui tươi và có khả năng chữa lành tâm bệnh lẫn thân xác, năng lực của chú có thể hóa giải cả nghiệp chướng trái duyên, hóa giải tội báo. Thần lực của chú Đại Bi thật vô song.
   Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc, không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc. Tuy nhiên, để Thần chú phát huy được oai lực của nó, khi trì tụng ta phải tự mình quán chiếu tại sao ta lại rơi vào cảnh khổ mà người khác lại không, và tại sao Thần chú lại có công năng cứu khổ? Giáo lý của nhà Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi việc trên cỏi đời này không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tất cả những đau thương bất hạnh mà ta phải gánh chịu trong kiếp sống hiện tại: gông cùm tù tội, bệnh hoạn, nghèo hèn,... là kết quả của những ác nghiệp mà ta đã gây nên từ bao kiếp trước hoặc trong kiếp này, nay đến lúc ta phải trả. Sở dĩ Thần chú Đại Bi có khả năng đưa ta vượt qua khỏi cơn khổ nạn vì công năng siêu tuyệt của nó là Phá Ác Nghiệp Chướng
Hãy đến với Mẹ Quan Âm thông qua chú Đại Bi. Hãy niệm tụng với lòng THÀNH KÍNH TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI VÀ TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG TÒAN VẸN. Hãy đứng thẳng hoặc ngồi ngay ngắn trước khi niệm Chú Đại Bi, đó là thân nghiệp được thanh tịnh. Miệng tụng kinh không nói lời gian trá. Tâm thanh tịnh không để ý tán lọan. Ngoại cảnh lắng trong là khế ngộ nguồn tâm, diệu nhập pháp lý. Chân ngôn được phát ra như ngọc tìm dưới đáy nước trong. Vẻ trong sáng của ngọc được hiển bày vào tâm nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa, thật là huyền nhiệm.
Xin xem các liên kết dưới đây để thấy sự nhiệm mầu của Chú Đại Bi
<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

http://phapthi.net/showthread.php?t=36


11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / LINH ỨNG QUAN THẾ ÂM VÀ TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI TRỊ BỆNH UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH KHÁC vào lúc: Tháng Một 06, 2012, 09:02:34 AM
LINH ỨNG QUAN THẾ ÂM VÀ TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI TRỊ BỆNH UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH KHÁC

Một công năng khác của Thần chú là cứu khổ. Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc, không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc

Đây là người thật việc thật kể về sự nhiệm mậu của Chú Đại Bi

1/ Anh Lương Tấn Trung pháp danh Chúc Gíác, kỷ sư , nhà nghiên cứu khoa học , giảng viên,
Anh Trung đã kể rõ trong Chương trình Phập pháp nhiệm mầu , chuyện thật đời mình rất hay
ĐT của anh Trung là   08-38395343 - 0908558569
2/ Cháu Nguyễn quỳnh Anh Đoan còn nhỏ bị mắc bệnh ung thư tủy sống thời kỳ 3 (Di căn) , nhờ cháu và gia đình tha thiết trì tụng Chú Đại Bi mà khỏi bệnh ung thư
Xin nhấp vào hai liên kết dưới để xem video :

<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: Thần chú của Đức Phật Thích Ca dùng chữa bệnh ung thư vào lúc: Tháng Một 06, 2012, 09:01:27 AM
LINH ỨNG QUAN THẾ ÂM VÀ TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI TRỊ BỆNH UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH KHÁC

Một công năng khác của Thần chú là cứu khổ. Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc, không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc

Đây là người thật việc thật kể về sự nhiệm mậu của Chú Đại Bi

1/ Anh Lương Tấn Trung pháp danh Chúc Gíác, kỷ sư , nhà nghiên cứu khoa học , giảng viên,
Anh Trung đã kể rõ trong Chương trình Phập pháp nhiệm mầu , chuyện thật đời mình rất hay
ĐT của anh Trung là   08-38395343 - 0908558569
2/ Cháu Nguyễn quỳnh Anh Đoan còn nhỏ bị mắc bệnh ung thư tủy sống thời kỳ 3 (Di căn) , nhờ cháu và gia đình tha thiết trì tụng Chú Đại Bi mà khỏi bệnh ung thư
Xin nhấp vào hai liên kết dưới để xem video :

<a href="http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5xJS9mqcu7A&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

<a href="http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/5XCwjqYQ_KU&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

Trang: [1]
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 2.358 seconds với 21 câu truy vấn.