Tháng Năm 18, 2021, 08:31:16 PM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 6
1  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / DÂN TỘC HỌC / [ebook] ẨM THỰC NGƯỜI VIỆT vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2014, 03:54:36 PM
Tôi mở ra chủ đề này không biết có phạm qui không. Vì chủ đề của tôi có những món ăn mặn, dĩ nhiên là không phù hợp tại diễn đàn này. Nhưng khía cạnh mà tôi đề cập về món ăn, dù là mặn hay chay nó cũng đều độc đáo đến mức trở thành triết lý của người Việt


1) GẠO - NƯỚC MẮM - RAU MUỐNG

Tác giả: Hoàng Trọng Dũng
Lời nói đầu
Từ bao đời nay, người ta vẫn coi nấu ăn là một trong những thiên chức của người phụ nữ Việt Nam. Và họ, người phụ nữ Việt Nam - trong vai trò người mẹ, người vợ - đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng thiêng liêng ấy trong một đất nước đói nghèo triền miên, gian khổ triền miên. Bằng lòng nhân hậu, tình thương yêu, bằng trí thông minh, phụ nữ Việt Nam đã sáng tạo ra nền ẩm thực Việt Nam đặc sắc.
Những món ngon tiêu biểu chính là những đứa con thành đạt của nền ẩm thực ấy. Đó là lý do để tôi xin gửi tặng cuốn sách nhỏ này cho họ - những người mẹ, người vợ, những người sẽ là mẹ, là vợ.
Đà Nẵng, Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10
H.T.D

MỤC LỤC
Phần Một: Từ bếp ngon ra
Phần Hai: Món ngon nhớ lâu
  Bánh tro mùng năm
  Bún bò Nam bộ
  Bún chiều
  Cá
  Cao thủ
  Co giãn
  Cơm rượu Sa Pa
  Em là cơm tấm thôi mà...
  Đặt tên
  Dưa cà...
  Hâm... nước mắm!
  Canh hến bánh tráng
  Hương vị vùng ven
  Lại... phở
  Mì Quảng - món ăn tiêu biểu ẩm thực Việt
  Mít non
  Nem, tré
  Ngạc nhiên mùa thu
  Nhỏ mà... lớn
  R...& R...
  Rắn biển...
  Rau hoa
  Rau muống đầu mùa
  Giải pháp cơm chay
  Ẩm thực duy mỹ
  Ăn kèm
  Ăn với người đẹp
  Chợ thời bão giá
  Ăn xổi...
  Bánh giò bánh gói...
  Hỏi ai bánh hỏi...
  Bánh sừng trâu
  Bánh tét ngày mưa
  Bánh xèo & mưa...
  Đa dạng bún - phong phú bún
  Bung...
  Cá diếc cá dưng
  Cá đối kho dưa
  Cơm chiên
  Cơm lành canh ngọt
  Cơm nắm muối vừng
  Cơm người ta...
  Đã ngon lại đẹp
  Đàn ông vào bếp
  Dĩa xôi đặc biệt
  Lên Giằng ăn cá chình
  Mặn mòi cá Mòi
  Mứt Tết ngày xưa...
  Ớt Hội An
  Thịt lam
  Thương nhớ lòn bon
  Mắm sò
  Mắm tôm
  Mắm rươi ao ước
  Súp Việt
  Rượu Việt
  Trà Việt
  Bếp Việt
2  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 11:56:00 AM
MAI ANH TUẤN: ĐỖ VỚT THI HƯƠNG, ĐÔ ĐẦU THI ĐÌNH!
Trong lịch sử thi cử Nho học của thời Nguyễn, chỉ có hai người đỗ Bảng nhãn (Phạm Thanh và Vũ Duy Thanh), 9 người đỗ Thám hoa (Mai Anh Tuấn, Phan Dưỡng Hạo, Hoàng Xuân Hiệp, Vũ Huy Dực, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao, Nguỵ Khắc Đản, Đặng Văn Kiều và Vũ Phạm Hàm). Không một ai được đỗ Trạng nguyên bởi vì lệ của triều đại này là như thế.
Thám hoa đầu tiên của thời Nguyễn là Mai Anh Tuấn, đỗ khoa Quý Mão, năm Thiệu Trị thứ ba (1843). Ông sinh năm Ất Hợi (1815) tại làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mất năm Ất Mão (1855) vì bị thổ phỉ giết hại tại Lạng Sơn, hưởng dương đúng 40 tuổi. Truớc khi bị giết hại, ông là quan Án sát tỉnh Lạng Sơn.
Dân gian truyền rằng: Người họ Mai ở Nga Sơn xưa có tục hằng năm cứ đến ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch là vào động Từ Thức để viếng tổ tiên. Năm Giáp Tuất (1814), thân mẫu của Mai Anh Tuấn cũng theo họ hàng nhà chồng vào động Từ Thức. Thắp nhang khấn vái, xong, bà thấy hơi mệt, liền lần ra gần cửa động ngồi nghĩ. Thế rồi, bà thiếp đi. Trong cơm mơ màng, bà bỗng thấy có một cụ già râu tóc bạc phơ, đưa cho bà một cái nghiên mài mực và nói:
-   Ta cho con cái nghiên mực này đem về để trẻ nhỏ dùng vào việc học.
Bà đưa tay ra, chưa kịp nhận thì mọi người trong họ cũng vừa từ trong động đi ra về nhà, bà đem chuyện này kể lại cho chồng. Chồng bà suy nghĩ một lúc rồi nói:
—   Đây hẳn là điềm tổ tiên ban phước cho mình, muốn con cái minh đỗ đạt, làm vinh hiển cho cả họ hàng nhà ta đây.
Nói rồi, hai người vui vẻ sắm sửa lễ vật trở lại động Từ Thức để tạ ơn tổ tiên. Hơn một năm sau, họ sinh hạ được một cậu con trai kháu khỉnh bụ bẫm, đặt tên là Mai Thế Tuấn. Mai Thế Tuấn lớn nhanh như thổi và sáng dạ lạ thường. Tròn một tuổi, Mai Thế Tuấn đã nói rất sõi. Lên bốn tuổi, Mai Thế Tuấn đã có thể nắm vững luật bằng trắc. Năm lên sáu, Mai Thế Tuấn được đi học. Đó là cậu học trò bé nhất trường làng nhưng sức học lại vượt trội hơn cả. Người trong thân tộc ai ai cũng nói rằng, mai sau, nhất định cậu bé này sẽ làm vẻ vang cho họ hàng làng nước.
Người xưa thường nói: “học tài thi phận”. Câu này có thể là sai với nhiều người, nhưng với Mai Thế Tuấn thì lại đúng. Năm Đinh Dậu (1837), Mai Thế Tuấn đi thi Hương, nhưng kết quả là cậu học trò nổi tiếng thần đồng này chỉ đậu vớt! Ai cũng lấy đó làm tiếc, nhưng Mai Thế Tuấn thì không nản. Ông vẫn miệt mài học tập, ngày cũng như đêm. Làng ông có khá nhiều đoạn tường bằng gạch, ngoài trát vữa, và quét vôi. Ông lấy bút viết chữ kín cả những bức tường ấy, cốt để có thể học vào bất cứ lúc nào, kể cả khi đi dạo trong làng. Thường thì bất cứ ai làm bẩn tường cũng đều bị la mắng, thậm chí là còn bị phạt, nhưng Mai Thế Tuấn thì không, bởi lẽ mọi người đều tin rằng, sẽ có ngày Mai Thế Tuấn làm vinh hiển cho làng.
Năm Canh Tí (1840), Mai Thế Tuấn lại vác lều chõng đi thi Hương lần thứ hai, và lần này thì ông đỗ thực sự. Năm ấy, ông 25 tuổi. Tuy nhiên, để bảo đảm chắc chắn hơn cho kì thi Hội, ông lại bỏ ra ba năm trời ôn luyện không ngừng. Khoa Quý Mão, năm Thiệu Trị thứ ba, Mai Thế Tuấn “lai kinh ứng thí", đỗ Đình nguyên, đệ nhất giáp, đệ tam danh (Thám hoa).
Trương truyền lúc bấy giờ, nhiều bậc đại khoa lấy làm tiếc, vì Mai Thế Tuấn đỗ Đình nguyên (tức đỗ đầu kì thi Đình), nhưng không được là Trạng nguyên đã đành, đến Bảng nhãn cùng chẳng được, cho nên đã đồng lòng dâng sớ lên Hoàng đế Thiệu Trị, xin cứu xét cho Mai Thế Tuấn. Và Hoàng đế Thiệu Trị đáp:
—   Trẫm biết văn tài của Mai Thế Tuấn hơn hẳn những người khác, song, các bậc tiên Đế đã định lệ như thế rồi, không thể làm khác được.
Tuy nhiên, để ghi nhận và khích lệ tài năng của Mai Thế Tuấn, Hoàng đế Thiệu Trị cho đối gọi tên ông là Mai Anh Tuấn. Ta quen gọi là Mai Anh Tuấn kể từ đó.
Ngày vinh quy bái tổ, dân làng hồ hởi ra đón ông. Lời đầu tiên mà Mai Anh Tuấn nói vói dân làng là:
—   Hôm nay tôi về để mua vôi quét lại tường cho dân làng đây!
Sau, nghe tin Mai Anh Tuấn bị thổ phỉ giết hại, dân làng vô cùng thương tiếc, bèn cùng nhau lập đền thờ, tôn làm thần, khói hương nghi ngút mãi.
Mai Anh Tuấn từng là một thần đồng, nhưng đời nhắc nhở tới ống mãi mãi không phái vỉ ông là thần đồng, mà vì ông là người có chí cả, biết nghiêm khắc tự rút bài học cho chính bản thân. Mới hay, bài học lớn nhất của mỗi cuộc đời chính là ở chỗ phải biết tự rút ra từ cuộc đời những bài học. Như Mai Anh Tuấn, như bậc đại khoa thuở nào... 


HẾT
3  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 11:54:04 AM
HOÀNG KIM SÁN: TỰ HỌC VẪN THỪA SỨC; ĐỂ... CHẤM THI CHO TIẾN SĨ!
Lịch sử giáo dục xưa nay vẫn thường cho thấy có ba hạng người nổi tiếng rất khác nhau. Một là những người đã có học vị cao lại còn có cả thực tài, trọn đời chỉ đốc chí đem tài năng của mình ra phục vụ xã hội. Tên tuổi của họ vĩnh tồn cùng sử sách. Hai là những người chỉ có học cho có bằng cấp để lẩy làm vinh hiển riêng, vốn liếng tri thức bất quá chỉ đủ để họ vượt qua được kì thi mà thôi. Họ nỗi danh nhờ ở sự tầm thường đáng sợ. Ba là những người vì hoàn cảnh hoặc sở nguyện riêng nên chỉ cần mẫn học hỏi chứ không hề tham gia thi cử, vì thế họ chẳng có bằng cấp gì đáng kể, nhưng, chính họ lại thực sự là những nhà thông thái, trí tuệ uyên bác hơn người. Họ nổi danh nhờ ở sự kính phục của thiên hạ. Trong số những người này, có Hoàng Kim Sán.

Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 17) thì tổ tiên Hoàng Kim Sán vốn người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, sau, không rõ vì lí do gì đã di cư đến huyện Phong Lộc, tình Quảng Bình. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 — 1765), thân sinh của Hoàng Kim Sán là Hoàng Văn Hoán rất nổi tiếng văn tài. Hoàng Văn Hoán từng được mời vào làm thầy dạy học trong phủ Chúa. Dưới thời trị vì của chúa Nguyễn Phúc Thuần, lợi dụng lúc Đàng Trong bị quân Tây Sơn tấn công quyết liệt, chúa Trịnh đã cho hơn ba vạn quân đánh thẳng vào Phú Xuân, Nguyễn Phúc Thuần vội vã chạy vào Gia Định lánh nạn, Hoàng Văn Hoán cũng rời phủ Chúa, dắt díu gia đình chạy đến Bút Sơn để mở trường dạy học, lấy đó làm kể sinh nhai.
Hoàng Kim Sán là con trai thứ hai của Hoàng Văn Hoán. Ngay từ thuở tấm bé, ông đã nổi tiếng thông minh. Chuyện kể rằng, lúc mới lên năm tuổi, ngày ngày, Hoàng Kim Sán vẫn thường theo cha đến trường, khi cha dạy học thì ông cũng ngồi nghe như tất cả những học trò khác. Thỉnh thoảng, ông lại lân la lần giở sách của học trò, hỏi và châm chú lắng nghe họ giảng giải từng chữ, từng câu một. Cứ như thế, đến năm lên mười tuổi, ông đã có thể làm thơ và ứng đối rất trôi chảy.
Một lần, Hoàng Văn Hoán mở tiệc chiêu đãi các bậc tao nhân mặc khách trong vùng. Tất cả vừa uống rượu vừa ngâm vịnh xướng hoạ với nhau. Hoàng Kim Sán cũng được cha cho ra hầu tiệc. Mọi người làm thơ vịnh Bút Sơn. Hoàng Kim Sán làm thơ hoạ lại. Bài thơ hoạ của ông có câu: “Vị dư thủ thự môn bảng" (nghĩa là: Vì ta viết lên đầu bảng cửa trời). Nhiều người khen câu này chứa khẩu khí của bậc có hoài bão lớn, nhưng, cũng có kẻ khó tính, mượn tích từ Kinh, Lễ, ra đề là Tịch thường trân (đấng Nho gia đại đức ung dung ngồi trên chiếu đợi người đến dâng lễ vấn kế), cốt lấy sự lắt léo để thử tài Hoàng Kim Sán. Chẳng dè, Hoàng Kim Sán hạ bút viết ngay một mạch. Bài viết của ông có câu: “Thúc Bạch nhất tòng nham huyệt bí; Cao Quỳ toạ thượng triển kinh luân ” (nghĩa là: bó Thúc Bạch, tức bó lụa người xưa dùng để làm lễ thỉnh người hiền tài, một lần mang tới hang núi là nơi đấng đại trí chọn là chỗ ẩn mình, ắt sẽ thấy có Cao Quỳ — nhân vật tượng trưng cho trí tuệ và đức độ cao khiết của đấng quân tử — đang ngồi giảng giải kinh luân). Đọc đến câu này, ai ai cũng phải phục tài của Hoàng Kim Sán.
Năm Hoàng Kim Sán hai mươi tuổi thì thân phụ của ông là Hoàng Văn Hoán cũng đã già việc giảng dạy học trò đều uỷ thác hết cho Hoàng Kim Sán. Và, ông đã tận tuỵ làm việc, xứng đáng với niềm tin cậy lớn lao của cha. Học trò nhiều người còn lớn tuổi hơn cả Hoàng Kim Sán, nhưng, không ai không một lòng nể phục.

Năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân và xuống lệnh tìm người hiền tài để bổ làm quan. Thể theo lời khuyên của cha già, Hoàng Kim Sán đã ra dự tuyển, ông vượt qua cuộc sát hạch ở địa phương một cách rất nhẹ nhàng, vì thế, được bổ làm quan. Năm 1804, Hoàng Kim Sán là Tri huyện của huyện Lệ Thuỷ (nay thuộc tỉnh Quảng Bình). Nhờ nổi tiếng có tài xử việc nhanh chóng và chính xác, lại sống giản dị và tham liêm, chẳng bao lâu sau, ông được thăng chức Thiêm Sự của bộ Lễ. Năm 1824, Hoàng Kim Sán được vua Minh Mạng bổ làm Thự Tham tri, quyền cai quản Bộ Hình. Và, chỉ một thời gian rất ngắn sau đó, ông lại được thăng làm Thượng Thư Bộ Hình. Dưới thời Minh Mạng, Hoàng Kim Sán còn được trao nhiều trọng trách khác, như Thượng Thư Bộ Binh kiêm Tống đốc Nam Định và Hưng Yên. Ông nổi tiếng là người rất thanh liêm, suốt một đời làm quan chưa từng nhận của ai một chút quà biếu. Bọn tham quan ô lại đương thời, hễ nghe tiếng ông là kinh hồn bạt vía.

Tuy nhiên, Hoàng Kim Sán nổi tiếng với đời lâu bền hơn cả có lẽ vẫn là có ý chí tự học không ngừng. Khi đã có quyền cao chức trọng, dẫu công việc luôn luôn bộn bề, Hoàng Kim Sán vẫn không xao lãng việc học. Trong lịch sử các vị vua chúa nước ta, có lẽ Minh Mạng là người thuộc hàng nổi tiếng khó tính nhất, thế nhưng, cũng chính nhà vua này, trong khoa thi Hội năm 1829, đã quyết định cử Hoàng Kim Sán làm quan chủ khảo. Đây là một quyết định rất táo bạo, bởi năm này, vua Minh Mạng cho đổi gọi một loạt học vị cũ (như Sinh đồ thì đổi gọi là Tú tài, Hương cống hay cống sĩ thì đổi gọi là Cử nhân) và đặt thêm học vị mới là Phó bảng hay Ất bảng... mà Hoàng Kim Sán chỉ là người tự học, chưa từng đỗ đạt ở bất cứ một khoa thi chính thức nào, chưa hề có trong tay một học vị cụ thể nào. Thành bại của khoa thi này có ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ chế độ giáo dục và thi cử Nho học của nhà Nguyễn sau đó. Đáp lại niềm tin cậy lớn lao đó, Hoàng Kim Sán đã cố gắng hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, ông đã thực sự chọn được những người có tài cho đất nước, được sử cũ hết lời khen ngợi. Theo ghi chép của sách Quốc Triều khoa bảng lục, thì khoa này Hoàng Kim Sán đã lấy đỗ những người cụ thể như sau:
—     Hoàng Giáp: một người (Nguyễn Đăng Huân).
—   Tiến sĩ: tám người (Bùi Ngọc Quỹ, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Tông, Trương Quốc Dụng, Phạm Thế Lịch, Ngô Thế Vinh, Phạm Quý và Trần Huy Phác.).
—   Phó bảng: năm người (Phạm Văn Hợp, Dương Đăng Dụng, Phan Văn Nhã, Nguyễn Thường và Trần Ngọc Dao).
Tổng cộng khoa này có tất cả mười bốn người đỗ từ Hoàng giáp đến Phó bảng. Trong số mười bốn người này, có những người về sau rất nổi tiếng, như Nguyễn Đăng Huân, Phạm Thế Hiến, Trương Quốc Dụng, Ngô Thế Vinh... Quả là quan chủ khảo Hoàng Kim Sán đã nghiêm cẩn chọn đúng người tài.
Ngoài trí tuệ uyên bác và đức thanh liêm, Hoàng Kim Sán còn là tấm gương của lòng hiếu thảo. Sách Đại Nam liệt truyện cho biết thêm rằng, sinh thời, vì biết thân mẫu của mình rất thích ăn chuối và mít, vì thế, cả đời ông, không bao giờ dám đụng tới hai thứ quả này. Mỗi khi có việc cần thưa trình với cha là Hoàng Văn Hoán, ông rất cung kính và nói năng nhẹ nhàng đến nỗi lúc đó không ai có thể nhìn thấy răng ông.
Năm 1832, Hoàng Kim Sán qua đời khi đang tại chức, hưởng thọ 57 tuổi. Vua Minh Mạng sai quan đến tận nơi tế lễ rất chu tất. Về sau, vua Minh Mạng từng nhiều lần than phiền về sự bất cập của trí tuệ các bậc đại khoa, nhưng với Hoàng Kim Sán, người chỉ một đời tự học, thì nhà vua luôn ca ngợi một cách chân thành.
Tài học của Hoàng Kim Sán, kính thay!

4  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 11:50:21 AM
NHỊN NHỤC NUÔI CHÍ ĐI HỌC VÀ ĐI THI
Phàm ở đời, bất cứ ai muốn thành công lớn cũng đều phải có chí lớn, mà chí lớn cũng phải được hun đúc từng ngày, nuôi dưỡng thường xuyên mới hi vọng là không bị mai một. Không ít trường hợp, vì quyết chí đạt cho bằng được mục tiêu cao cả và tốt đẹp của mình, người ta còn sẵn sàng nhịn nhục. Chuyện Uông Sĩ Đoan cũng có thể được coi là một ví dụ tiêu biểu của người xưa về vấn đề này. Ông Kính Phủ Nguyễn Án (1770 — 1815), trong Tang thương ngẫu lục viết rằng:
“Khi chưa đỗ đạt, ông Uông Sĩ Đoan ở rể tại một nhà giàu trong làng tôi (tức làng của Nguyễn Án — NKT) và đã sinh hạ được một người con trai. Người vợ của ông tính khí rất dữ dằn, hễ thấy bạn của chồng đến chơi là đuổi thẳng, lại còn lải nhải nói rằng:
—   Cái đồ... dài lưng tốn vài ăn no lại nằm chứ gì mà cứ nói năng ỏm tỏi ra chiều bắng nhắng thế.
Đến khi có khoa thi, ông sắm sửa để đi, nhưng người vợ keo kiệt, quyết không chu cấp lệ phí gì cả. Ông giận dỗi rồi vùng vằng ra đi, ai dè, bà ta đuổi theo, lột hết quần áo, khiến ông phải lội xuống ao để... núp. Bấy giờ, có một cô gái ở làng bên cạnh đang cùng với bà nội mang vải ra chợ bán, thấy cảnh ấy, liền nhờ bà nội tới hỏi xem đầu đuôi sự thể thế nào. Xong, cô xé vải tặng ông để ông đóng khố dùng tạm. Khoa ấy ông đỗ, liền cưới cô gái này làm vợ. Sau, ông làm quan trong triều đến hơn sáu mươi năm, thọ 99 tuổi. Người con gái này, sau là chính phu nhân của ông. Các quan Bồi Tụng là (Uông) Sĩ Lãng, (cũng tức là Uông Sĩ Điển — NK.T), Tri huyện của huyện cẩm Giang là (Uông) Sĩ Thiên, Lại Bộ Lang Trung là (Uông) Sĩ Trạch, đều do bà chính phu nhân này sinh ra.”.
Các tài liệu dã sử khác cho biết thêm, Uông Sĩ Đoan vốn gốc họ Giang, nhưng đến đời ông không hiếu vì lí do gì, đã đổi thành họ Uông. Chính Uông Sĩ Đoan là người khai mạch đại khoa cho dòng họ của mình. Chuyện ông đỗ đạt nói trên là đỗ Tiến sĩ, khoa Tân Sửu (1721). Thế là từ một kẻ “bạch diện thư sinh”, bị coi là cái đồ... “dài lưng tốn vải”, nhờ có chí mà Uông Sĩ Đoan đã trở thành một ông Nghè, và tất nhiên, ông Nghè thời ấy là... “dân chi phụ mẫu.”

Cô con gái nhà giàu - người vợ cũ của Uông Sĩ Đoan — chỉ thấy bát cơm trước mắt mà không thấy được cả một đồng lúa tốt mênh mông, chỉ thấy cái lưng dài của học trò mà không thấy được kho trí tuệ ở trong đầu của họ, song le, trách cô nào có ích gì? Có thế, cô mới là cô chứ. Người xưa nói rằng “yến trước an tri hồng hộc chí” (con chim sẻ làm sao biết được chí lớn của chim hồng hộc), là để chỉ những trường hợp đại loại như thế này.
Tương truyền, sau khi ông cưới cô gái đã hào phóng tặng cho minh miếng vải làm khố, bà vợ của ông liền chạy đến... kiếm chuyện. Cô vợ mới của Uông Sĩ Đoan nói:
—   Tôi chỉ lấy cái mà bà đã nhẫn tâm vất xuống ao chứ có giành gì của bà? Còn như áo mũ hiện giờ chồng tôi đang dùng là của vua ban, bà có giỏi thì cứ đến mà lột.
Vợ cũ của Uông Sĩ Đoan xấu hổ quá, bèn bỏ xứ mà đi, sau, không còn ai biết tung tích ra sao nữa. Nhưng thôi, chỉ để lại một chuyện này kể cũng đã quá thừa, tìm tung tích của bà, lỡ lại gặp thêm chuyện tương tự như thế này nữa, sợ lắm thay, ở đời, có những người nổi tiếng chẳng qua chỉ vì họ tầm thường, và chính vì càng tầm thường cho nên họ càng trở nên nổi tiếng. Hãy tránh xa.
Kẻ sĩ chân chính của đông tây kim cổ thường để lại cho đời những di sản phong phú khác nhau. Như Uông Sĩ Đoan, di sản đáng kính mà ông để lại chính là sự nhịn nhục để nuôi chí đi học và đi thi. Có phải ngẫu nhiên mà các con ông đều đại thành đạt đâu?

5  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 11:46:58 AM
THẦN ĐỒNG ĐINH THÌ TRUNG
Một trong những thần đồng lừng danh của nước ta, sống vào nửa sau của thế kỉ thứ 18 là Đinh Thì Trung (1757 — 1776). Ông người huyện Đông Sơn (nay thuộc Thanh Hoá). Sách xưa cho hay rằng, khi ông vừa lên năm thì ở làng ông có cụ đồ đến mở trường dạy học. Lũ trẻ quanh vùng tới xin thọ giáo rất đông. Đinh Thì Trung tuy còn quá nhỏ nhưng vì đã học lóm được khá nhiều chữ, bởi thế, cũng được thân phụ dắt đến gặp cụ đồ. Bấy giờ, cụ đồ đang ngồi nhắm rượu một mình, thấy Đinh Thì Trung có đôi mắt rất tinh anh, lòng những mừng thầm, nhưng cũng cố thử xem sao, bèn nói:
—   Đây chỉ nhận dạy những đứa trẻ đã biết chữ và viết sơ qua về phép đối, nếu chưa biết đối cả một vế dài thì cũng phải biết đối nghĩa của từng chữ, liệu con có làm được không?
Đinh Thì Trung gật đầu một cách lễ phép nhưng cũng rất tự tin. Cụ đồ cầm li rượu đưa lên và đọc: tửu (nghĩa là rượu), Đinh Thì Trung liền đáp: đăng (nghĩa là đèn). Chữ tửu bên trái có bộ thủy (水) nghĩa là nước, còn chữ đăng ở bên trái có bộ hoả (火) nghĩa là lửa. Và, chữ đăng cũng có thể viết là (水丁) (bên trái bộ thuỷ, bên phải là chữ đinh, người họ Đinh cũng dùng chữ đinh này). Chữ của Đinh Thì Trung đối lại, có nghĩa là ngọn lửa sáng của dòng họ Đinh. Cụ đồ nghe xong thì phục lắm, nhưng vẫn cố thử thêm một lần nữa. Cụ đọc:
—   Tam xuyên (nghĩa là ba dòng nước)
Hai chữ này còn hàm ý chỉ ba người (cụ đồ và hai cha con Đinh Thì Trung), nhưng cái lắt léo là ở chỗ, chữ tam (三) nếu dựng đứng lên sẽ thành chữ xuyên (川). Đọc xong, cụ đưa mắt nhìn Đinh Thì Trung, Đinh Thì Trung cũng điềm tĩnh nhìn lại và đúng lúc bốn mắt nhìn nhau, ông đọc:
—   Tứ mục (nghĩa là bốn mắt).
Hai chữ này vừa tả được cảnh cụ đồ và Đinh Thì Trung nhìn nhau, lại vừa đối được cái ý lắt léo của cụ đồ. Bởi vì: chữ tứ (四) nếu đem dựng ngược lên sẽ thành chữ mục (目). Đến đây, thi cụ đồ bái phục quá, bèn nói với thân phụ của Đinh Thì Trung rằng:
—   Cậu bé này sáng dạ như thần, tôi không thể dạy hơn được, vậy, hãy mau đưa cậu đi xin học ở những lớp cao hơn.
Đinh Thì Trung liền được dẫn đến một trường khác. Khi ấy, học trò của trường này đang làm thơ, đề là Hán Vương như Huỳnh Dương. Thấy có người đang bí, Đinh Thì Trung liền cầm bút viết hộ hai câu:
Ba Thục an năng uất tịch cư
Huỳnh Dương bát nguyệt Hán Vương như

(Nghĩa là: Đất Ba Thục làm sao có thể dung thân qua đêm; Tháng tám, vua Hán đi Huỳnh Dương). Thầy đồ dạy ở trường ấy xem xong hai câu này thì kinh ngạc mà nói:
—   Thiên tài đến cỡ này rồi, còn đến đây xin học làm gì nữa!

Năm lên tám tuổi, Đinh Thì Trung đã học xong cả Ngũ kinh, Tứ thưBắc sử. Năm mười bốn tuổi, ông đỗ Hương cống (tức Cử nhân) và sau đó được vào học thêm tại Quốc Tử Giám. Bấy giờ, cả nước ai cũng biết tới tài học của Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726 - 1772). Họ cùng được tôn là tam hổ, tuy nhiên, tài học của Lê Quý Đôn và Hà Tông Huân vẫn có phần trội hơn. Trong các cuộc ngâm vịnh xướng hoạ, thơ văn của hai ông này luôn được xếp trên thơ văn của Lê Như Kì. Đinh Thì Trung biết tiếng tam hổ nên cũng muốn thủ sức, bèn tìm đến và chỉ giúp cho Lê Như Kì. Bởi lẽ này, Lê Như Kì có thơ văn trội hơn cả Lê Quý Đôn và Hà Tông Huân đến mấy lần ngâm vịnh xướng hoạ. Lê Quý Đôn, Hà Tông Huân và Lê Như Kì đều kính phục tài học của Đinh Thì Trung, cùng tôn chàng thanh niên chỉ mới đáng tuổi con cháu của mình làm thượng hữu (bạn ở bậc trên), còn người đời thì gọi chung cả bốn người là tứ hổ.

Năm 1775, cả Đinh Thì Trung và con của Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt cùng dự thi Hội. Rất tiếc là trong khoa thi này, hai người đã làm một việc chẳng hay, đó là đổi quyển thi cho nhau. Việc bị phát giác, Đinh Thì Trung bị đày ra ngoài Quảng Yên (nay thuộc Quảng Ninh). Nhân sự việc này, người đương thời có câu rằng: “Đinh Thì Trung tống phối, chấn Đông Hài chi văn ba”. Nghĩa là: Đinh Thì Trung bị đem đi đày (ở vùng ven biến Quảng Yên), làm tung cả sóng văn chương ở Đông Hải.
Sau, ông được tha, nhưng phải đi lính. Năm 1776, Đinh Thì Trung bị bắt trong khi đi đánh dẹp. Ông không chịu đầu hàng mà nhảy xuống sông tự tử. Năm ấy, ông mới 19 tuổi. Người đời thương tiếc, cho ông chính là kiếp sau của Vượt Bột (nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng) vậy.

6  TIN TỨC / TIN TỨC NÓNG HỔI / Re: Trung Quốc xâm lược Việt Nam. vào lúc: Tháng Bảy 03, 2014, 04:09:38 PM
Ôi trời, ngất! at wits' end at wits' end at wits' end
Dear em ngoisaobiec iu quí!





Vì qui nạp ngàn năm nay, chưa có một thể chế nào , một triều đại nào của TQ không nhăm nhe đồng hóa , o ép, xâm lược VN. Vì TQ là một đất nước có đạo Khổng, đạo quân tử, nhưng chưa có một nhà lãnh đạo TQ , hay 1 triều đại nào của TQ có những người quảng đại, tử tế , quân tử cả. Nhất là trong cách hành xử với Việt Nam xưa nay, họ không hề  có Nhân, lễ ,  Nghĩa, Trí , Tín . Họ ác độc ngay cả đối với nhân dân của họ như dã thú.
 

Đất nước của Khổng từ hơn 2000 năm trước vốn nó đã như thế. Và đến bây giờ nó vẫn thế. Cũng giống vậy, Ấn Độ hơn 2000 năm trước nó vẫn thế, bây giờ nó vẫn thế, nạn hiếp dâm giết người vốn xuất phát từ tư tưởng phân biệt giai cấp, người ở đẳng cấp trên có quyền hiếp, giết người ở giai cấp dưới.... Và trong đau thương hơn 2000 năm trước đó mới có Khổng Tử và Thích Ca hình thành như scc đã nói ở trên
Vậy thì, con cháu của ông bác học nào đó mà học dốt thì ta lại kết luận rằng ông ý cũng dốt. Có nên vậy không?





Nsb theo đạo Phật, không theo đạo Khổng. Nsb không coi những triết lý của Khổng Tử là một đạo. Theo Nsb , đó chỉ là một  tư tưởng trong xã hội theo một tiêu chuẩn nào đó, cách đối nhân xử thế, vai trò, trách nhiệm của từng người trong xã hội , gia đình. Có nhiều điều đúng. Nhưng có những điều Nsb thấy còn không đúng . Ví dụ như  đức tam tòng của người phụ nữ. Tại sao chồng chết thì theo con? Tại sao họ không được đến với một hạnh phúc mới nếu họ muốn ? Hay : " Vua xử thần tử, thần không tử , bất trung" , Vì theo đạo Phật, nên Nsb nghĩ phải dùng trí của mình mà tự mình suy xét. Vua mà như Trần Ích Tắc, cõng rắn cắn gà nhà , phản bội đất nước thì sao mà trung thành với ông vua đó được.
 

Trước nhất là tôn trọng quyền cá nhân của bạn, Archéo không có ý kiến. Thật ra thì ngay cả Phật lúc còn sống, Ngài cũng không nghĩ rằng Ngài sẽ là giáo chủ của một Đạo và Khổng Tử cũng thế. Về sau, Đạo mới được hình thành. Thiết nghĩ đến bây giờ, khi mà google phát triển, bạn cũng có thể tìm xem người ta định nghĩa Đạo là gì rồi. Về lịch sử thì Khổng Tử là người khai sinh ra hai từ Kẻ sĩ, tức là kẻ đi dạy mướn ý mà. Dùng nước bọt kiếm tiền, và bây giờ tất cả những giáo viên trên thế giới này phải tôn Khổng Tử và bên Âu thì tôn trường phái Sophist (Athens - Hi Lạp) làm ông Tổ nghề. Nhắc lại, để thấy rằng trước mắt người ta tôn Nho giáo là Đạo Thánh Hiền. Có cần thiết định nghĩa luôn hai chữ Thánh Hiền cho bạn hiểu không?. Bạn có vinh danh tri thức không, bạn có vinh danh hiền tài không, nếu có thì nghĩa là một phần gen của bạn đã bị nhiễm Khổng giáo rồi đó

Tiếp nữa, lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam có một thời kỳ mà Tam giáo đồng nguyên phát triển rực rỡ. Không phải cha ông ta dốt mà nâng tầm Nho học lên Nho giáo, càng không phải những nhà chân tu dốt mà hoàn quyện Lão-Phật-Nho thành Tam giáo đồng nguyên. Có thể là quyền của bạn, có thể là sự hiểu biết của bạn, có thể vì lòng hận thù Tàu khựa v.v mà bạn nói rằng Nho giáo không phải đạo
Phải chi vua Lý Thánh Tông sáng suốt như bạn thì ông ta đâu có mắc cái tội truyền Nho giáo vào Việt Nam vì cái tội xây Văn Miếu để thờ Khổng:
Trích dẫn
Vừa từ Chiêm Thành trở về, Lý Thánh Tông Hoàng đế đã khấn trương bắt tay vào công cuộc chuẩn bị đón đánh quân Tống, nếu chúng dám liều lĩnh tràn sang nước ta. Một kế hoạch có quy mô lớn, trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đã được Lý Thánh Tông Hoàng đế hoạch định. Và, lịch sử đã xác nhận rằng, những dự kiến chung của Lý Thánh Tông Hoàng đế về diễn biến phức tạp của tình hình chính trị đương thời là hoàn toàn đúng đắn. Thắng lợi trọn vẹn và vang dội của nhân dân ta trong cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Tống xâm lăng ở nửa sau thế kỉ XI, gắn liền với tầm nhìn chiến lược sâu sắc và biện pháp chuẩn bị đối phó rất hữu hiệu của Lý Thánh Tông Hoàng đế.
Cũng ngay sau khi vừa từ Chiêm Thành trở về, tuy rất bận rộn với vô số những công việc lớn nhỏ của quốc gia, Lý Thánh Tông Hoàng đế vẫn không quên chăm lo đến sự phát triến của văn hoá nước nhà. Chính Lý Thánh Tông Hoàng đế đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng Văn Miếu ở ngay giữa kinh thành Thăng Long vào năm 1070. Đây là một sự kiện rất quan trọng, đánh dấu bước tiến mới của quá trình truyền bá Nho giáo ở nước ta   
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=6652.msg54940#new

Tiếp nữa, những cái câu mà bạn học lóm như là Tam tòng Tứ đức, hay : " Vua xử thần tử, thần không tử , bất trung" là bạn chẳng biết gì cả. Ngay cả Phật đạo mà cũng bao lần thăng trầm ở Việt Nam, ấy là vì chính trị. Ở tại trang này, quản trị web site cũng đã ghi một Description ở Box Tôn giáo và Dân tộc:
Trích dẫn
Trải qua những thăng trầm của lịch sử dân tộc, ranh giới mong manh giữa Chính Trị - Tôn giáo nhập nhòe và Đạo đôi khi trở thành một công cụ chính trị. Sự tác động qua lại giữa Chính Trị - Tôn giáo theo chiều dài lịch sử đã làm thay đổi dòng chảy của Đạo, làm vẩn đục và quanh co uẩn khúc mà người đời sau khó biết đâu là mạch nguồn trong trẻo …

Phật cũng chỉ giảng Pháp 50 năm(hehe không nhớ chính xác), Khổng cũng giảng chừng ấy năm của một đời người. Bên Phật giáo cũng la trời vì ngụy kinh, Khổng giáo cũng thế. Nên trước khi bạn muốn khắng định ai sai ai đúng thì làm ơn tìm về nguồn gốc chân chính của những lời giảng của các vị. Ví dụ:

"Định Công vấn: Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà? Khổng Tử đối viết: Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung.
Định Công là vua nước Lỗ hỏi với đức Thánh rằng: Vua sai tôi, tôi thờ phụng vua, như thế nào là phải?
Đức Thánh thưa rằng: Vua với tôi thảy là người nào có chức phận người ấy, chỉ chung gánh việc nước mà thôi, vậy nên vua đối với tôi không có phép ỷ mình là quyền thế vua, nên đến lúc sai sử tôi, tất phải lấy lễ; nghĩa là, những việc không đúng với lẽ phải, không được sai sử tôi ấy là “quân sử thần dĩ lễ”. Tôi phụng thờ vua, chẳng phải kiêng nể ở quyền thế nơi vua, chỉ duy hết nghĩa vụ của mình là lo gánh việc nước- theo như nghĩa vụ mình mà thờ vua, cốt ở lòng ngay thẳng, nên phải “dĩ trung”, nghĩa là những việc gì không đúng đạo thẳng thời không đem ra thờ vua, ấy là: “thần sự quân dĩ trung”.
“Sử thần dĩ lễ”, là dựa vào lễ mà không dựa vào quyền; “sự quân dĩ trung” là cốt ở trung mà không cốt ở nịnh.

Xem như bài này thời đức Thánh đối với đạo “quân thần”, vẫn song song cân ngang như nhau: một phương diện phải có chữ “lễ” thời một phương diện mới có chữ “trung”. Nói trái lại, quân mà “vô lễ” thời thần cũng “bất trung”, đó là lẽ đương nhiên. Ngụ ý của Thánh nhân là tương đối mà không bao giờ tuyệt đối."
trích từ: Phan Bội Châu - Khổng học đăng

Cũng nhắc thêm: Lễ ở đây không hiểu là lễ phép mà lễ là lẽ phải của trời mà theo Khổng thì ý dân là ý trời đấy. Vua mà không thuận theo lẽ phải của lòng dân thì thần ngu sao mà chết!





Đây là do lòng yêu nước, chí quật cường, đoàn kết của dân Việt xưa nay mỗi khi bị giặc phương Bắc xâm lược. Đó mới là NỀN.
 

Lý luận này của bạn hơi chuối một chút. Mỗi dân tộc đều có một nền học thuật riêng của họ, tất cả những giá trị anh hùng, mỹ nhân, yêu nước... được định nghĩa từ nền học thuật này. Chúng ta với cả ngàn năm Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, đã hình thành nên những hào kiệt đánh chèm bẹp mấy thằng tàu khựa. Ý của
Archéo là:
Trích dẫn
Với một nền Khổng đạo, Việt Nam đã bao nhiều lần đánh thắng giặc Bắc rồi.
Để nói rằng, Khổng không có xấu, không có mị dân Việt, không có lừa đảo chúng ta. Vậy nên đừng lỗ lên đầu Khổng nữa

Mệt, giải thích cho ngoisaobiec iu, mệt quá




7  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:30:33 AM
THIÊN TÌNH SỬ TUỔI18 CỦA TIẾN SĨ NGUYỄN BÁ DƯƠNG
Nguyễn Bá Dương, người làng Nguyễn Xá, huyện Thần Khê (nay làng ông thuộc huyện Tiên Hưng, tinh Thái Bình), ông sinh năm Canh Thân (1740), đỗ Hương cống (tức Cử nhân) năm Ất Dậu (1765) và đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất (1766), cùng khoa với Ngô Thì Sĩ (thân sinh của Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm).
Nguyễn Bá Dương rất chăm học và học giỏi, nhưng gia đình ông lại rất nghèo. Bởi kì vọng ở ông, cho nên, dẫu là nghèo đến độ ít có ai nghèo hơn, cha mẹ ông cũng cắn răng chịu đựng để nuôi ông ăn học. Đã thế, năm ông 18 tuổi, cha mẹ ông còn gởi ông lên kinh đô Thăng Long để học hành. Khi rời quê nhà đến kinh đô Thăng Long, hành lí của ông chẳng có gì đáng kể, ngoài tấm áo che thân.

Tuy nghèo như vậy, nhung, Nguyễn Bá Dương lại có tật ưa uống rượu, ông là khách uống chịu thường xuyên của một bà hàng rượu ở Kẻ Mơ (nay thuộc Hà Nội). Chẳng bao lâu, tiền uống chịu đã lên đến 900 đồng. Một hôm, ông bị bà chủ hàng rượu đón đường để đòi và mắng té tát ngay ở chỗ đông người. Bởi không sao trả được, ông đành đứng im chịu nhục mà thôi. Bấy giờ, có cô gái Kẻ Mơ, người cùng làng với bà chủ hàng rượu, thấy chuyện chẳng đẹp như thế, liền bỏ gánh xuống, lấy tiền lưng của mình ra trả hộ, xong là tất bật quẩy gánh đi ngay. Nguyễn Bá Duơng vội chạy theo và thành tâm cám ơn rồi xin được biết họ tên của cô gái, nhưng cô xua tay mà nói rằng:
—   Chẳng qua em thấy cậu là học trò, vì nợ tiền ruợu mà phải xấu hổ với một người đàn bà ở chốn người qua kẻ lại nên trả hộ chớ em đây chẳng mong báo đáp gì đâu.
Thấy cô dứt khoát từ chối, không cho biết địa chỉ và họ tên, ông bèn quay lại hỏi thăm ngay... bà hàng rượu. Lúc ấy, bà hàng rượu cũng đã nguôi giận, liền nói cho ông biết tất cả. Nguyễn Bá Dương lẩm nhẩm đọc lại cho đến khi thật thuộc mới chịu bỏ đi. Từ đó, ông bỏ rượu và dốc chí học hành. Như trên đã nói, năm 25 tuổi, ông đỗ Hương cống (tức Cử nhân) và năm 26 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ.
Sau khi đỗ đạt, bạn đồng khoa với ông lo sắm sửa đủ thứ, riêng ông thì vẫn cứ nằm khoèo ở nhà. Bấy giờ, có bà phu nhân đang làm bảo mẫu cho Quận Chúa (con gái của chúa Trịnh), vốn là người cùng huyện với ông, sai người đến tận nơi, nói là sẽ gả con hoặc cháu của bà cho ông. Bà giới thiệu cho ông đến mấy chục người cả con lẫn cháu để ông tuỳ nghi chọn lựa, nhưng, ông từ chối, chỉ xin cưới cô gái Kẻ Mơ, người đã hào hiệp trả món tiền rượu nọ cho ông thuở trước. Thế rồi ông cưới cô gái Kẻ Mơ thật. Người đương thời ai cũng khen, truyền tụng với nhau rằng, đó là duyên kì ngộ giữa một cô gái giàu lòng nhân ái và đoan trang với một chàng trai có tài và trọng nghĩa.

Sau, Nguyễn Bá Dương được bổ làm quan, được bạn đồng liêu khen là người thanh liêm và chính trực, ông dám xử phạt rất nặng cả người nhà của bà Chúa Chè (tức Đặng Thị Huệ, Chính Cung của chúa Trịnh Sâm) về tội ăn hối lộ.
Sách xưa cho rằng, ở tuổi 18, Nguyễn Bá Dương đã có đến hai sự nổi tiếng khác nhau, một là nát rượu, hai là thông minh. Nhưng, xét kĩ thì ông còn có sự nổi tiếng thứ ba nữa, đó là lòng trọng nghĩa và thiên tình sử nảy sinh từ lòng trọng nghĩa đáng quý ấy. Phàm là người ở giữa cõi trần thế, đã đến hoặc đã qua tuổi 18 rồi mà không biết trọng nghĩa, thì thông thái cũng bằng thừa mà thôi. Vả chăng, trọng nghĩa với đấng bề trên đã khó, trọng nghĩa với một cô gái thôn dã chưa một lần quen biết thì lại càng khó hơn. Thế ra, người ta lấy vợ thì thường chỉ là được vợ, còn Nguyễn Bá Dương lấy vợ, ngoài được vợ lại được thêm cả lòng người một thuở, kính thay! Hẳn nhiên là có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng lòng cương trực và đức thanh liêm của ông sau này, không thể nói là không có sự góp phần quan trọng của cô gái Kẻ Mơ. Người vợ đáng yêu nhất trong muôn thuở vẫn là người có công góp phần hoàn thiện nhân cách của chồng mình đó thôi. Ngẫm mà xem.

8  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:25:48 AM
THUỞ HÀN VÌ CỦA TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN KÌ
Người xưa từng dạy, đại ý nói rằng: kẻ đi học mà chỉ biết khoe giàu thì trí não chẳng thể khá, chỉ biết khoe sang thì tâm địa chẳng thể tốt, còn như gồm đủ cả hai thì vô tài thất đức là điều khỏi phải bàn. Các đấng đại hiền xưa nay đều thế cả, hoặc từ chốn bần hàn mà dốc chí đi lên, hoặc từ chốn cao sang nhưng luôn khép mình trong gia giáo, thoáng nhìn chẳng thể nào biết được.
Mới hay, trước khi học làm quan, phải cố học cho thành người học trò đàng hoàng. Thế gian muôn đời chỉ chê học trò dốt, có ai chê học trò nghèo đâu.


Đúng là chẳng những không chê mà còn khen, rất khen, rất phục tất cả những ai giàu ý chí và nghị lực vượt qua nghèo khó để học tập và vươn lên. Trong số những người được đời vừa khen vừa phục ấy, có Trạng nguyên Nguyễn Kì.
Thư tịch cổ cho hay, Nguyễn Kì sinh năm Mậu Dần (1518) tại xã Bình Dân, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân, huyện Châu Giang, tình Hưng Yên). Lúc đầu, Nguyễn Kì có tên là Nguyễn Thì Lượng. Gia đình Nguyễn Thì Lượng rất nghèo, hai bên nội ngoại đều phải vất vả làm lụng quanh năm suốt tháng mà vẫn không đủ ăn. Tuy thiếu thốn trăm bề nhưng dòng họ Nguyễn Thì Lượng rất chăm lo giữ đức, dân khắp vùng lúc bấy giờ ai ai cũng cảm mến.
Truyền thuyết kể rằng, cha mẹ Nguyễn Thì Lượng ăn ở rất hiền lành, họ kết hôn với nhau từ lúc còn rất trẻ nhưng mãi đến năm ngoài bốn mươi tuổi vẫn chưa có con. Một hôm, có thầy coi tướng qua làng, vừa thoáng trông thấy bà đã nói:
—   Ông bà tuy hiếm muộn nhưng con bà sẽ vô cùng quý hiển. Nhưng, muốn được như thế thì ông bà phải vào hầu của Phật.
Nghe vậy, hai ông bà liền phát từ tâm, được bao nhiêu tiền của, dù là rất ít ỏi, chưa đủ để lo toan đắp đổi mọi việc trong nhà, ông bà vẫn đem hết đi mua nhang, mua hoa để vào chùa lễ Phật. Cần mẫn hai năm như thế thì bà sinh hạ được một người con trai, đó là Nguyễn Thì Lượng.
Ngay từ lúc mới chào đời, Nguyễn Thì Lượng đã có gương mặt khôi ngô lạ thường. Hai ông bà quý con như vàng như ngọc, nhưng, nhớ đến lời thầy tướng thuở nào, khi Nguyễn Thì Lượng vừa lên ba, họ liền đem vào chùa, xin sư trụ trì ở đấy nhận làm con nuôi. Và, bắt đầu kể từ đó, Nguyễn Thì Lượng ở hẳn trong chùa, được sư thầy trụ trì nuôi dưỡng và dạy dỗ.
Năm Nguyễn Thì Lượng lên bốn tuổi, sư thầy trụ trì phát hiện ra một sự lạ, đó là nhờ chơi quanh quẩn trong chùa, Nguyễn Thì Lượng đã nghe và thuộc được rất nhiều bài kinh nhật tụng. Sư thầy liền thử đọc cho Nguyễn Thì Lượng nghe vài bài kinh kệ khác. Nguyễn Thì Lượng cũng học thuộc rất nhanh. Các bậc tu hành cùng Phật tử và thiện nam tín nữ đến chùa, ai ai cũng nói Nguyễn Thì Lượng là thần đồng. Sư trụ trì nhân đó cho đổi tên gọi Nguyễn Thì Lượng là Nguyễn Kì. (Chữ Kì này có nghĩa là kì lạ). Lại thấy Nguyễn Kì tuổi nhỏ mà mẫn tuệ khác thường như vậy, lớn lên ắt sẽ là lương đống của triều đình, sự nghiệp phò vua giúp nước nhất định sẽ lớn lao, cho nên, sư thầy trụ trì quyết định cho Nguyễn Kì đi học.
Nguyễn Kì được đưa tới trường, nhưng cũng chỉ được ăn, được mặc như tất cả những học trò nghèo khác, ấy là bởi sư thầy trụ trì sợ Nguyễn Kì được no đủ sớm quá sẽ sinh ra biếng nhác. Ngày ngày, cứ hễ hết giờ đi học là Nguyễn Kì lại phải làm đủ thứ việc, không bao giờ được ngơi tay, ấy là bởi sư thầy trụ trì sợ Nguyễn Kì chưa học được đức lớn của người xưa đã bị nhiễm thói hư ăn bám. Cũng như bao học trò khác, Nguyễn Kì phải học bài vào ban đêm, nhưng sư thầy trụ trì cũng không cho tiền mua dầu, ấy là để rèn cho Nguyễn Kì tính cần kiệm. Đêm đêm, Nguyễn Kì ngồi dưới điện thờ Phật, học bài dưới ánh sáng của mấy ngọn nến thờ, học đến bao giờ nến tắt mới đi ngủ. Sư thầy trụ trì thấy Nguyễn Kì chăm chỉ, liền dùng những cây nến lớn hơn để thắp trên điện thờ, Nguyễn Kì nhờ đó mà được học khuya hơn.
Đã thông minh lại có chí lớn, Nguyễn Kì học hành tấn tới rất nhanh, tiếng tăm của ông ngày một vang rộng. Năm Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hoà năm thứ nhất (1541), Nguyễn Kì đỗ Trạng nguyên. Năm đó, nhà Mạc lấy đỗ tất cả 30 người, gồm Trạng nguyên Nguyễn Kì, Bảng nhãn Phạm Công Sâm, Thám hoa Nguyễn Thế Lộc và bốn Hoàng giáp là Ngô Quang, Lê Củ Phương, Nguyễn Hoằng Diễn và Trương Hữu Phỉ, còn lại là Tiến sĩ.
Truyền thuyết kể rằng, ngày vinh quy bái tổ, nơi Nguyễn Kì dừng chân trước hết là nhà chùa. Ông thành kính thi lễ tạ ơn sư thầy trụ trì, xong thì cúng chùa đến mấy gánh nến, gồm toàn những cây có kích cỡ đại để như những cây trước đó sư thầy trụ trì đã thắp trước điện thờ Phật cho Nguyễn Kì học ké. Sư thầy cười hỏi:
—   Chẳng lẽ lại còn cò đứa trẻ khác đến đây ngồi học nữa sao?
Nguyễn Kì cung kính đáp:
—   Kính bạch sư thầy. Cũng một cây nến, nhưng trong tay con thì bất quá chỉ soi sáng được vài trang sách, vậy mà trong tay sư thầy thì lại đủ để soi sáng cho cả một đường đời. Con tin sẽ còn có nhiều học trò nhỏ đến cậy nhờ ánh sáng sư thầy ban cho.
Sau, Nguyễn Kì làm quan cho nhà Mạc, trải thờ hai đời vua là Mạc Hiến Tông (tức Mạc Phúc Hải: 1540 — 1546) và Mạc Tuyên Tông (tức Mạc Phúc Nguyên: 1546 — 1561). Sử chỉ chép ông được phong chức Hàn Lâm Viện Thị Thư, còn sau đó hoạn lộ ra sao không rõ, mất năm nào cũng không hay.
Nguyễn Kì, tên ấy, sự nghiệp ấy, xứng thay! 

9  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:23:36 AM
CHUYỆN CÁI ĐẦU CỦA VŨ ĐÌNH PHƯƠNG
Thời các chúa Nguyễn, tuy quy chế chưa thật chặt chẽ, thể lệ cũng chưa thật rõ ràng, nhưng, dầu sao thì các khoa thi Hương cũng đã được tổ chức khá nhiều. Bấy giờ, người đỗ chính thức ở trường Hương thì gọi là Hương cống hay Cống sĩ. Và một trong số những cống sĩ của giai đoạn lịch sử này là Vũ Đình Phương.

Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 5) cho biết Vũ Đình Phương người huyện Lệ Thuỷ (nay thuộc tình Quảng Bình), con trai của Vũ Đình Thế (đỗ cống Sĩ, làm quan đến chức Tri phủ). Ngay từ thuở thiếu thời, Vũ Đình Phương đã nổi tiếng thông minh, văn hay chữ tốt khó ai sánh kịp. Vào khoảng thời trị vì của chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 — 1648), Vũ Đình Phương dự thi Hương và đỗ thủ khoa. Năm ấy, ông mới 18 tuổi. Bấy giờ, ai cũng cho đó là bậc tuổi trẻ mà tài cao hiếm thấy. Theo lệ, tất cả tân khoa cống sĩ đều được vào bái yết Chúa, đồng thời được dự bữa tiệc do Chúa ban. Nhưng, vừa thoáng trông thấy Vũ Đình Phương, chúa Nguyễn Phúc Lan đã thất vọng. Lí do là: Vũ Đình Phương vừa nhỏ tuổi lại nhỏ con, đầu đã to mà mặt lại rỗ chằng rỗ chịt. Do không thể tự kiềm chế được, chúa Nguyễn Phúc Lan đã buột miệng mà nói rằng:
—   Tiếc là ngươi có tài mà không có tướng!
Nói xong, Chúa cho ông về, không bổ làm quan như các vị tân khoa khác. Vũ Đình Phương đành phải lẳng lặng về nhà. Để quên nỗi buồn, ông đóng của đọc sách. Trải nhiều năm liền, Vũ Đình Phương chẳng những uyên thâm về Nho học mà cả thiên văn, địa lí và binh thư... cũng rất thông hiểu. Tiếng tăm về tài học của ông ngày một vang xa. Dầu vậy, chúa Nguyễn Phúc Lan cũng chẳng chút đoái hoài đến ông. Ông sống bình thản và thầm lặng như một ẩn sĩ.

Thế rồi 32 năm sau, khi ông vừa 50 tuổi, Vũ Đình Phương... bất ngờ mà được dùng. Bấy giờ, chúa Nguyễn Phúc Lan đã mất, chúa Nguyễn Phúc Tần lên nối nghiệp (1648 - 1687). Ở Đàng Ngoài lúc này, Chúa cầm quyền là Trịnh Tráng (1623 — 1657). Để thử xem xứ Đàng Trong còn có người tài hay không, Trịnh Tráng đã sai sứ vào Nam. Sứ giả đem đến tặng chúa Nguyễn một cái trống lớn và một miếng ván dài chừng một thước (non 40 cm), trên ván ấy có ba chữ Hán (phiên âm) là Hồ bất thực. Cả ván lẫn chữ đều được sơn son thếp vàng rất đẹp. Chúa Nguyễn Phúc Tần và bá quan văn võ đều rất băn khoăn vì không sao hiểu nổi ý nghĩa của mấy chữ này, mà nếu không hiểu được thì cũng có nghĩa là bị hạ nhục. Và, phải đợi đến lúc này, người ta mới nhớ đến thủ khoa Vũ Đình Phương, người tài cao học rộng. Chúa Nguyễn Phúc Tần lập tức cho người về quê Vũ Đình Phương. Cũng phải vất vả lắm sứ giả của chúa mới tìm được nhà của ông, bởi vì, suốt mấy chục năm liền, dân địa phương quen gọi Vũ Đình Phương là ông cống Đầu (vừa có nghĩa là người đỗ đầu thi Hương, lại cũng vừa có nghĩa là ông cống sĩ có cái đầu rất to), mà quên mất cả tên thật của ông. Vũ Đình Phương tới nơi, cầm dùi đánh trống, chăm chú lắng nghe, xong thì cầm tấm ván nhỏ lên, lật đi lật lại rồi mỉm cười thưa:
—   Đây chi là cái trống thường, không có gì đặc biệt, họ chỉ cốt làm cho ta mất công suy nghĩ chơi vậy thôi.
—   Thế tấm ván nhỏ và mấy chữ trên đó là gì?
—   Ấy là họ thử xem ta có biết nói lái theo kiểu của người Bắc hay không mà thôi. Hồ bất thực nghĩa là cáo không ăn (hồ là cáo, bất là không, thực là ăn). Cáo không ăn thì cáo gầy, và cáo gầy nói lái theo kiểu của người Bắc là cây gạo. Đại để, họ muốn nói rằng đem cái trống này treo lên cây gạo mà đánh thì hiệu lệnh sẽ vang xa.
Chúa Nguyễn Phúc Tần nghe xong thì cả cười, ban thưởng cho Vũ Đình Phương rất hậu.
Ngay ngày hôm đó, bổ ông làm Kí lục Quảng Bình, kiêm chức Tham Mưu, cho được quản lĩnh hai vệ binh, đặt dưới quyền Tiết chế của Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Tiến, vượt sông Gianh đánh thẳng ra xứ Đàng Ngoài. Trong cuộc tấn công này, Vũ Đình Phương đã có nhiều ý kiến xuất sắc, được chủ tướng Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Tiến nghe theo.

Sau Vũ Đình Phương qua đời hưởng thọ 90 tuổi, được truy tặng hàm Thái Thường Tự Khanh. Sử cũ cho biết là ông không có con trai nối dõi, còn như con gái thì bao nhiêu người thì chưa tra cứu được.
Cuộc đời của Vũ Đình Phương là cuộc đời của một nhân tài, chỉ tiếc là ông sinh vào thời đất nước loạn li, càng tiếc hơn nữa là chúa Nguyễn Phúc Lan nhìn người sao mà hời hợt quá. Chúa chỉ thấy gương mặt rỗ chằng rỗ chịt mà không thấy được trí tuệ ngời sáng. Chúa chỉ thấy một người to đầu mà mình thấp chớ chẳng thể thấy được hoài vọng lớn. Tạo hoá sinh ra hai con mắt và hai lỗ tai ở gần ngay trí não để thấy là nghĩ, nghe là nghĩ, nghĩ thật nhanh, nghĩ thật thấu đáo. Ai đó chỉ thấy và nghe mà không hề nghĩ, thì... có khi thần kinh và trí não của họ nếu có cũng nằm ở vị trí khác. Lạy Chúa, không rõ sinh thời, trí não của chúa Nguyễn Phúc Lan ngụ ở chỗ nào!

10  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:18:57 AM
NGUYỄN QUỐC TRINH PHẪN CHÍ MÀ THÀNH TÀI

Nguyễn Quốc Trinh nguời làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì (nay là thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội), sinh năm 1625, mất năm 1674, hưởng dương 49 tuổi. Ông là anh của Tiến sĩ Nguyễn Đình Trụ (đỗ khoa Bính Thân, 1656), bác của Tiến sĩ Nguyễn Đình Bách (đỗ khoa Quý Hợi, 1683) và Thám hoa Nguyễn Đình Ức (đỗ Khoa Canh Thìn, 1700).
Nguyễn Quốc Trinh đỗ Trạng nguyên khoa Kỉ Hợi, năm Vĩnh Thọ thứ hai, đời vua Lê Thần Tông (tức là năm 1659), tiếng tăm lừng lẫy một thời, tuy nhiên, ít ai ngờ rằng vị Trạng nguyên này, mãi đến năm 17 tuổi vẫn còn gần như mù chữ.
Dã sử chép rằng, chẳng may cha mẹ đều qua đời sớm, mấy chị em Nguyễn Quốc Trinh phải sống nương nhờ ở ông bà nội. Gia cảnh tuy rất nghèo khó, nhưng ông bà nội Nguyễn Quốc Trinh bao giờ cũng nhân ái với mọi người và luôn luôn giữ đức trong sạch. Có lần, cụ nhặt được một gói vàng lớn, liền tìm đến trả lại cho người mất. Người ấy mừng quá, bèn lấy một nữa số vàng ấy kính biếu, gọi là để tạ ơn. Nhưng, cụ cười và nói:
—   Nếu ham của thì tôi đã lấy cả gói chớ lấy nữa gói mà làm gì? Phàm cái gì không phải do minh làm ra, cho dẫu là một mảy may, tôi cũng quyết không màng đến.
Người được trả của vốn là một thầy địa lí, thấy tạ ơn bằng vàng không xong, liền cất công tìm giúp cho cụ một huyệt tốt ở ngay trong làng. Cụ vui vẻ nhận. Từ đó, mọi chuyện lạ mới bắt đầu. Tương truyền sau khi cụ mất, anh rể của Nguyễn Quốc Trinh (là một vị Tiến sĩ) đến lo sửa từ đường cho gia đình ông. Thấy Nguyễn Quốc Trinh đã 17 tuổi rồi mà học hành chẳng đâu vào đâu, bèn nói khích rằng:
—   Bên nội nhà em liệu có ai đứng ra cáng nổi các việc cho tổ tiên, đại loại như thế này không?
Nguyễn Quốc Trinh nghe vậy thì lấy làm tức, bèn quyết chí học hành cho bằng được mới thôi. Sau ngày tu sửa từ đường, lúc nào người ta cũng thấy Nguyễn Quốc Trinh miệt mài học tập. Ngày ra đồng, ông cũng mang theo sách, vừa làm vừa lẩm nhẩm học. Hễ quên thì lại mở sách ra xem. Đêm về nhà, không bao giờ ông chịu đi ngủ trước canh ba. Nhờ sáng dạ lại cần mẫn hơn người, Nguyễn Quốc Trinh học hành tấn tới rất nhanh. Ông thường nói với em ông là Nguyễn Đình Trụ rằng:
—   Ta quyết phải học và đỗ cao hơn anh rể mới được.
Sau khi đỗ Hương cống, đến khoa thi Hội năm Bính Thân (1656), hai anh em cùng đi thi. Vào đến kì làm bài thứ tư, chẳng dè, ông quên hẳn một đoạn của cổ thư, không sao làm được nữa. Em ông là Nguyễn Đinh Trụ nói:
—   Em nhớ, để em giúp cho.
Nguyễn Quốc Trinh nghiêm mặt trả lời:
—   Có ai muốn đỗ Trạng nguyên mà lại đi xin chữ bao giờ.
Khoa ấy, quả nhiên em ông đỗ Tiến sĩ, còn ông thì chịu hỏng. Khoa Kỉ Hợi (1659), ông lại đi thi và lần này thì đỗ Trạng nguyên thật. Thế là, anh thì Trạng nguyên, em thì Tiến sĩ, cùng xuất thân từ một cửa nhà nghèo, người đời ai cũng cho là hiếm thấy.

Sau khi đỗ đạt, ông làm quan, trải thăng dần lên đến hàm Á Khanh, chức Bồi Tụng, Nguyễn Quốc Trinh từng được cử đi sứ sang Trung Quốc và từng được triều đình tin cậy, giao cho việc biên soạn chính sử của quốc gia. Sinh thời, ông là người rất cương trực và thanh liêm. Bạn đồng liêu thường nói, ấy là nhờ ông được thụ bẩm một nền gia giáo rất tốt đẹp. Tiếc thay, vào tháng 5 năm 1674. ông bị giết hại bởi cuộc nổi loạn của kiêu binh. Triều đình thương tiếc, truy tặng ông chức Binh Bộ Thượng thư, tước Từ Quận Công, lại ban cho tên thuỵ là Cương Trung và phong cho làm Thượng Đẳng Phúc thần.
Vì sao Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh không được hưởng phúc lâu dài? cắt nghĩa điều này, dân gian có lời bàn về ngôi huyệt mà thầy địa lí đã tìm hộ cho cụ nội tổ của ông như sau: Ngôi đất ấy hình tựa như cái khánh bằng gỗ và huyệt nằm ngay giữa cái khánh gỗ ấy. Tiếng khánh ấy mà đã vang lên thì muôn người sẽ về tụ họp, tức là đại phát đến Trạng nguyên. Hiềm một nỗi, gỗ làm khánh thì không bền, chết khi đang ở tột đỉnh vinh quang là chí phải.
Thế đấy. Nhưng biết làm sao được. Xưa mà!

11  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:16:55 AM
HOẠN LỘ CỦA TƯỚNG CÔNG ĐINH VĂN TẢ

Đinh Văn Tả sinh năm Tân Sửu (1601) tại Hàm Giang, nay, đất làng quê ông thuộc huyện Cẩm Giang, tỉnh Hải Dương. Dã sử cho hay, thuở thiếu thời, Đinh Văn Tả tuấn tú và thông minh khác thường, võ công cũng rất tinh thông, chỉ tiếc là ông hay giao du với đám vô lại, thành ra bị coi là kẻ có tài mà thất đức. Sách Tang thương ngẫu lục chép rằng:
Trước làng ông ở có một con sông to, rộng ước chừng hơn một dặm, ông thường ra đó bơi lội, lâu ngày thành thói quen. Một hôm, ông cùng lũ bạn ra bờ sông ngồi uống rượu, chợt nghe bên kia bờ sông có tiếng chiêng cúng đình vang lên, bèn khích nhau thử xem ai có tài vượt sông sang bên kia lấy trộm cái chiêng mang về. Ông nhận lời, và ngay đêm ấy, bơi sang bên kia sông lấy trộm chiêng. Trên đường trở về, ra đến giữa sông, ông đấm cho chiêng kêu vang, khiến dân làng bên kia sông phải thức dậy đuổi theo, nhưng không kịp nữa, đành quay về. Sau, ông phạm tội, phải giam ở ngục Đông Môn.
Bấy giờ là lúc đang chiến tranh ở biên thuỳ phía Nam, chúa Trịnh sai các tướng cho quân đắp ụ ở trước lầu Ngũ Long để luyện tập bắn súng, ông cùng bọn tù nhân có việc phải đi qua. Ông đứng lại xem rồi cười mà nói rằng:
—   Bắn có thế mà cũng sai. Chẳng hiểu triều đình dùng bọn họ để làm gì?
Người lính tức giận, đưa súng cho ông, bắt phải bắn trúng, ông lấy một khẩu súng lớn, áp má bắn luôn mấy phát liền, trúng hết cả ba cái đích. Người lính lấy làm lạ và cảm phục lắm. Các tướng võ sai ông bắn lại cho họ xem. Ông bắn tiếp, phát nào trúng phát ấy. Việc này đến tai Chúa, Chúa bèn tha tội cho ông và bắt làm lính đi đánh ở phương Nam. Quan quân đóng giữ trên núi, địch vừa tới đánh là họ đã tháo chạy, chỉ mình ông ở lại núp trong bụi rậm, đợi cho quân địch tới gần, chĩa súng bắn tới tấp. Địch tưởng có mai phục, bèn sợ hãi tháo lui. Quan quân quay lại đánh, khiến địch phải thất bại.
Sau nhiều lần lập công, ông được phong tới tước Quận Công, nhưng ông giao trả lại hết sắc phong để xin xoá trên trong sổ tội nhân. Lập thêm nhiều chiến công nữa, ông được phong tới hàm cực phẩm.
”.
Sách trên còn cho biết thêm rằng, vào năm 80 tuổi, Đinh Văn Tả bị bệnh nặng. Chúa Trịnh lúc bấy giờ là Trịnh Sâm đã thân đến tận nơi để thăm. Khi nghe Chúa hỏi về nguyện vọng, ông nói:
—   Nếu có thể được, xin cho tôi được làm phúc thần ngay lúc này. Được hưởng ân huệ ấy của Chúa thì tôi dẫu có nhắm mất cũng chẳng còn có gì để tiếc nuối nữa.
Chúa Trịnh Sâm ưng thuận, liền sai người tuyên đọc sắc phong ngay tại giường bệnh, nhưng chẳng bao lâu sau thì ống khỏe mạnh, sống thêm được mấy năm nữa mới mất.
Như Đinh Văn Tả, tuổi trẻ mà đã quen thói bê tha rượu chè, lại còn dám cả gan ăn trộm chiêng đình của làng bên cạnh, thì tội ấy, quả đúng là ... tày đình! Nhưng xét cho cùng thì dẫu từng đi ăn trộm, Đinh Văn Tả cũng không phải là kẻ sống bằng nghề ăn trộm. Chút nho nhỏ này xem ra cũng rất đáng để cho đời lưu tâm.

Ông là người có tài. Thoạt tiên, ông chinh phục tất cả tướng sĩ của triều đình bằng tài bắn súng, sau, ông chinh phục tướng sĩ của triều đình bằng sự quả cảm và ứng phó thông minh trước tình huống éo le của trận mạc. Mới hay, những người được đời biết tiếng tài ba, trước hết là bởi họ thực sự có tài, và sau đó là bởi tài năng của họ có điều kiện để nảy nở. Nếu chẳng có thời loạn, ai dám bảo là Đinh Văn Tả sẽ là... Đinh Văn Tả như sử sách đã nói tới ở trên!
Hoạn lộ của Đinh Văn Tả khởi đầu bằng sự bất ngờ nhưng kết thúc lại bằng sự hẳn nhiên: thời ông, người cỡ như ông, được phong tới tước Quận Công là chí phải. Tiếc thay, người ban sắc phong lại là chúa Trịnh Sâm. Đinh Văn Tả có tài cầm quân, còn chúa Trịnh Sâm thì có tài... ban sắc, hậu thế chỉ còn biết vừa cười vừa gạt nước mắt mà khen Chúa rằng: Tài! Rất tài! Chẳng hay là nếu biết trước điều này, tướng quân Lộc Quận Công Đinh Văn Tả có dám bước lên hoạn lộ hay không.

12  TIN TỨC / TIN TỨC NÓNG HỔI / Re: Trung Quốc xâm lược Việt Nam. vào lúc: Tháng Bảy 02, 2014, 05:10:06 AM





 Mà cái đạo Khổng ( Nsb không có đọc làm gì cho mất thời gian), bây giờ thấy người Việt đang bàn chuyện : thoát Khổng" " Thoát Trung" đầy cả  kìa cụ ( Các nước văn minh không có đạo Khổng, nhưng sao họ nhân hậu tử tế thế, mà cái anh chúng coong này có hẳn 1 ông Khổng mà sao ác độc , đổi trắng thành đen, " tiền hậu bất nhất " thế không biết???.


Người ta đang xì xầm bàn tán Thoát Khổng, Thoát Trung gì đấy thì thật ra là ám chỉ thoát khỏi Sư phụ 16 vàng 4 tốt ấy đi. Nói thẳng ra thì không dám nói cứ dấm dấm dúi dúi thụt thò kẻ trộm rồi lại tìm cách đổ lỗi lên đầu Khổng. Tội cho Khổng quá. Thật là một nền văn hóa đổ thừa đã được hình thành tại VN

Với một nền Khổng đạo, Việt Nam đã bao nhiều lần đánh thắng giặc Bắc rồi. Và từ thời Pháp thuộc xã hội VN đã bắt đầu li khai Khổng đạo cho đến thời xã hội chủ nghĩa này thì Khổng đã thăng lâu rồi, thoát cái gì nữa. Mà một khi đã mất Khổng thì quân tử cũng chẳng còn, còn lại tiểu nhân cho nên bây giờ cứ dấm dấm dúi dúi thụt thò...và đổ thừa trở thành văn hóa

13  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Sáu 12, 2014, 03:53:22 AM
GIA GIÁO CỦA TIẾN SĨ NGUYỄN ĐĂNG MINH
Nguyễn Đăng Minh là người làng Hoài Bão, huyện Tiên Du (nay là thôn Hoài Bảo, xã Liên Bão, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Khoa Bính Tuất (1646), triều đình Lê Chân Tông chỉ lấy đỗ một Thám hoa và 16 Tiến sĩ, thì Thám hoa là Nguyễn Đăng Cảo và một trong số 16 Tiến sĩ là Nguyễn Đăng Minh (em ruột của Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo). Đương thời ai cũng cho là hiển vinh hiếm thấy. Tuy nhiên, hiển vinh trong khoa bảng của dòng họ Nguyễn Đăng không phải chỉ có vậy. Xin lấy gia đình Nguyễn Đăng Minh làm ví dụ: Khoa Quý Sửu (1673), con trưởng của Nguyễn Đăng Minh là Nguyễn Đăng Tuân đỗ Tiến sĩ. Mười năm sau, khoa Quý Hợi (1683), đến lượt con thứ của Nguyễn Đăng Minh là Nguyễn Đăng Đạo (cũng tức là Nguyễn Đăng Liên) đỗ Trạng nguyên.

Nguyễn Đăng Minh được đại phước của trời ban cho chăng? Xét sự nghiêm cẩn răn mình của chính ông mới hay là ông và các con của ông không rạng danh mới lạ, chứ để tiếng thơm cho muôn thuở thì có gì là lạ đâu. Xin theo sách Công dư tiệp kí (quyến 3) của Tiến sĩ Vũ Phương Đề và một vài bộ dã sử khác, lược kể về Tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh như sau:
Suốt đời, Nguyễn Đăng Minh luôn bày tỏ sự đặc biệt cung kính đối với anh mình. Ông không bao giờ cãi lại hay làm bất cứ điều gì trái ý anh. Khi ông còn nhỏ, mọi người khen ông vừa ngoan vừa lễ độ, nhưng đến khi ông đã đỗ Tiến sĩ, đã thuộc hàng cao niên, có người thấy thế thì chê ông rằng:
—   Cớ gì cứ phải sợ anh và nhút nhát như thế?
Ông điềm tĩnh đáp:
—   Trên thì các quan, dưới thì trăm họ, ai nghe tên anh tôi là Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo cũng đều cung kính, tôi may mắn được trời cho làm em, lại may mắn được anh thương yêu mà tận tình dạy bảo, thế thì bảo không giữ lễ với anh làm sao được?
Với con trai trưởng là Tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuân, ông nói năng rất thận trọng, thoạt nghe, cứ tưởng là ông đang nói chuyện với một vị quan lớn trong triều chứ không phải là đang nói chuyện với con. Có kẻ biết, tìm cách khích bác ông, ông nói:
—   Con tôi đã làm rạng danh cho cả gia tộc, trọng con cũng chính là trọng cả gia tộc vậy. Vả chăng, trong nhà không biết trọng nhau, bảo người ngoài trọng mình thế nào được?
Đối với con thứ là Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, ông càng bày tỏ sự quý trọng đặc biệt hơn. Mỗi khi Nguyễn Đăng Đạo cung kính chấp tay vái chào thì ông luôn nở nụ cười đôn hậu và khiêm nhượng đáp:
—   Không dám! Không dám!
Đến thăm con ở tư dinh, bao giờ ông cũng từ tốn thưa gửi với lính gác cổng rồi điềm đạm ngồi chờ chứ không cậy thế mà đi thẳng vào ngay. Ra đường, nếu tình cờ gặp con, ông tránh hẳn sang một bên để nhường đường. Có kẻ lấy làm lạ, hỏi rằng:
—   Tại sao lại phải làm như thế?
Ông cười đáp:
—   Đó là bậc Khôi nguyên của thiên hạ mà trời sai xuống đầu thai vào nhà tôi, dám đâu tôi lại không cung kính?
Sinh thời, Nguyễn Đăng Minh sống rất đạm bạc và giản dị. Với dân, ông thường dùng đức để thu phục, hầu như không dùng quyền để bất tuân theo. Xin được trích dịch nguyên văn một đoạn trong sách Công dư tiệp kí để minh chứng:
“Phần mình, ngày thường ông vẫn đi giày cũ, mặc áo cũ, ít khi dùng đến xe ngựa. Có người chẳng biết ông là quan, lỡ xúc phạm đến, ông cũng chẳng hề để tâm. Một hôm, ông từ trong triều đình ra về, khi đi qua hàng thịt ở Cửa Nam, một người hàng thịt thấy ông có dáng vóc giống y tên xã trưởng còn nợ tiền thịt, bèn níu lại để đòi. Ông phân trần mãi, hắn cũng không nghe, cứ lôi xềnh xệch về nhà rồi đem trói vào cột cửa trước nhà. Lúc ấy bỗng có quan Phó Đô Sử là Nhữ Đình Hiền, cũng vừa trong triều về ngang qua. Ngày thường, (Nhữ Đình Hiền) vẫn kính trọng ông như bậc cha chú của mình, nên thấy ông bị trói thì lập tức xuống cáng, đỡ ông dậy và hỏi duyên cớ vì sao. Ông cứ tình thực mà nói lại. Nhữ Đình Hiền liền sai lính bất trói tên hàng thịt giải đi, còn mình thì nhường cáng cho ông. Tới nhà mình, Nhữ Đình Hiền liền mời ông ngồi và xin phép vào trong để thay quần áo. Nhưng, cũng ngay lúc đó, ông đứng dậy, cởi trói cho tên hàng thịt và nói:
—   Ngươi hãy tìm lối mà trốn mau. Ta cũng đi đây.
Nhữ Đình Hiền thay áo xong, trở ra thì chẳng thấy ông đâu và tên đồ tể cũng đã mất dạng, sai người nhà chạy đi mời ông lại nhưng không kịp, đành ngồi than thở mà thôi.”
Hoá ra, cái gốc trong gia giáo của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh chính là giữ lễ và trọng đức. Có được cái gốc vô giá ấy là có được tất cả. Ngẫm mã xem. 

14  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Sáu 12, 2014, 03:51:23 AM
LỘC KHÊ HẦU ĐÀO DUY TỪ - NHÀ BINH PHÁP LỪNG DANH CỦA THẾ KỈ 17
Đào Duy Từ (1572 — 1634) sinh trưởng ở xứ Đàng Ngoài nhưng lại tạo lập sự nghiệp ở xứ Đàng Trong. Sinh thời, ông được Sài Vương Nguyễn Phúc Nguyên tôn làm thầy, ông là tác giả của bộ Hổ Trướng Khu Cơ, là nhà binh pháp lừng danh nhất lịch sử nước nhà thế kỉ 17.

Sách xưa cho biết, Đào Duy Từ là người làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn (nay là xã Vân Trai, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá). Ngay từ lúc còn tấm bé, Đào Duy Từ đã nổi tiếng thông minh, qua tuổi thiếu niên, ông đã nổi tiếng là người thông minh và uyên bác kì lạ. Đến tuổi đôi mươi, sức học của Đào Duy Từ đã khó có ai sánh kịp. Trịnh Nguyễn diễn chí chép rằng:
“Cha mẹ mất sớm nhưng nhờ bẩm tính thông minh, tuổi mới hai mươi mốt mà ông đã thông hiểu kinh sử cổ kim, các sách kinh điển của Nho gia như Ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu — NKT), Tứ Thư (gồm Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử — NKT), cho đến Bấc sử (sứ Trung Quốc — NKT), Bách gia chư tử (sách của các nhà tư tường nối bật ở Trung Quốc thời Đông Chu — NKT) và Tam giáo (Nho, Phật, Đạo — NK.T), Cửu lưu (Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm dương gia, Mặc gia, Tạp gia, Danh gia, Tung hoành gia, Nông gia — NKT) rồi văn chương, thi phú,... tất cả đều tinh xảo. Nếu không phải là bậc có tài xuất quỷ nhập thần hoặc là những đấng trí giả có tài phò vua giúp nước thì quyết không thể sánh nổi với ông. Người đương thời nhân đó, khen ngợi mà gọi ông là Gia Cát tái sinh (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng sống lại — NKT).
Nghe tin triều đình (vua Lê, chúa Trịnh Tùng — NKT) sắp mở khoa thi để chọn người hiền sĩ, Đào Duy Từ thu xếp hành trang hăm hở định ngày lên đường ứng thí. Nhưng, Khảo quan ở trường thi, theo đúng luật định, rằng những ai là con của những người làm nghề hát xướng, thì dẫu thông hiểu kinh sử đến đâu cũng không được đi thi để rồi mong đỗ đạt mà liệt vào hàng cống cử (tức Cử nhân — NKT), nên không cho Đào Duy Từ tham dự (Đào Duy Từ là con của kép hát Đào Tá Hán, hành nghề ở đất Thanh Hoá — NKT). Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ đành nuốt hận trở về, ngày đêm nung nấu ý chí tìm kế lập thân. Chuyện này ông giấu kín, cả đến anh em, họ hàng cũng không ai hay biết.
Nghe đồn, chúa phương Nam là Thuỵ Quân Công (chỉ Nguyễn Phúc Nguyên, tức chúa Sãi hay chúa Phật — NK.T) thường rộng ban ân đức, phong độ không khác gì vua Thuấn, vua Nghiêu, chính sách cầu người hiền tài thì phỏng theo thời Đường (thời trị vì của vua Nghiêu—   NK.T), thời Ngu (là thời trị vì của vua Thuấn — NKT), danh tiếng vang khắp nơi, hào kiệt ở khắp đâu đâu cũng tìm đến, đã thế, xứ ấy lại mưa thuận gió hoà, thiên hạ giàu có, cảnh tượng như có đấng đế vương mới dấy lên, tương lai ắt sẽ thành nghiệp lớn... cho nên, Lộc Khê Hầu tin là nếu vào đó, công danh của mình sẽ chẳng mấy chốc mà được như Trương Tử Phòng thuở xưa về với Hán, như Ngũ Tử Tư về với nhà Ngô... mai sau dẫu có thể nào cũng không uổng phí một đời. Và, nói là làm..

Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 3) chép rằng:
“Đào Duy Từ quyết chí vào Nam. Đến Vũ Xương, ở hơn một tháng mà vẫn chưa có ai biết ông là người thế nào. Nghe đồn ở Quy Nhơn có quan Thám Lí là Trền Đức Hoà đang rất được Chúa tin yêu, ông bèn vào Quy Nhơn và nương thân làm nghề đi ở chân trâu cho một gia đình phú ông ở xã Tòng Châu. Một hôm, gia đình phú ông ấy đật tiệc, mời các danh sì tới để uống rượu và ngâm thơ. Chiều ấy, Đào Duy Từ cho trâu về sớm rồi cầm roi chân trâu đứng ở phía trước, cùng các danh sĩ bàn luận cổ kim kinh sử. Thấy ông thông hiếu sâu sắc, đám tiệc phải kinh ngạc. Phú ông lấy làm lạ, bèn đem việc ấy thưa với quan Thám Lí Trần Đức Hoà.
(Trần) Đức Hoà nói chuyện với (Đào) Duy Từ, thấy (Đào) Duy Từ học rộng, biết nhiều thì đem lòng yêu quý, bèn mời đến dạy học rồi gả con gái cho. (Đào) Duy Từ thường ngâm bài Ngoạ Long Cương, Trần Đức Hoà nghe được liền nói: (Đào) Duy Từ là Ngoạ Long (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng — NK.T) đấy chăng.”.

Hai sách nói trên cho biết khá tỉ mỉ thêm rằng, một lần vào phủ chúa, Thám Lí Trần Đức Hoà đã đưa bài Ngoạ Long Cương của Đào Duy Từ cho Chúa xem. Lập tức, chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai đưa Đào Duy Từ tới yết kiến. Để thử, chúa Nguyễn Phúc Nguyên liền mặc áo trắng, đi hài xanh, ra đứng ở cửa nách để đợi. Vừa thoáng trông thấy, Đào Duy Từ liền dừng lại, có ý muốn quay gót trở ra. Chúa biết, liền vào mang mũ áo chỉnh tề ra đón. Bấy giờ, Đào Duy Từ mới chịu lạy chào. Sau một lúc đàm đạo, thấy Đào Duy Từ quả thật uyên bác hơn người, chúa Nguyễn Phúc Nguyên liền ân cần nói:
—   Sao khanh đến với ta muộn thế?
Nói xong, liền phong ngay cho Đào Duy Từ chức Nha Uý Nội Tán, tước Lộc Khê Hầu, quyền quản quân cơ trong ngoài và tham dự chính sự, đồng thời, tôn kính gọi Đào Duy Từ là Thầy, thường mời vào phủ để bàn luận các việc. Với chúa Nguyễn, Đào Duy Từ đã có mấy công lao lớn, được sử sách xưa ghi lại như sau:
-   Một là: Soạn sẵn các câu ứng đối cho mọi tình huống, giúp sứ giả của chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Lại Văn Khuông hoàn thành xuất sắc chuyến đi Đàng Ngoài. Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 3) chép: “Lại Văn Khuông đến Đông Đô, chúa Trịnh Tráng cho triệu vào để hỏi, Lại Văn Khuông biện bạch trôi chảy, không chịu khuất, khiến chúa Trịnh Tráng cũng phải sợ tài, bèn tiếp đãi Lại Văn Khuông rất hậu. Lại Văn Khuông bèn đem mâm đồng đựng vàng và lụa dâng lên, xong là thừa dịp đi ngay, về phía chúa Trịnh Tráng, đến lúc mở đáy mâm ra, thấy có một đạo sắc và một tấm thiếp, trên ghi mấy chữ: Mậu nhi vô dịch; Mịch phi kiến tích; Ái lạc tâm thường; Lực lại tương địch. Chúa Trịnh Tráng đưa cho các quan xem, nhưng chẳng ai hiểu gì cả, duy chỉ có quan Thiếu Uý là Phùng Khắc Khoan thì giải theo lối Hán tự chiết ngữ mà nói rằng, đó chẳng qua là bốn chữ Dư bất thụ sắc (Ta không nhận sắc). Chúa Trịnh Tráng giận lắm, sai người đuổi theo thì Lại Văn Khuông đã đi xa rồi. Chúa Trịnh Tráng muốn đem quân vào đánh, nhưng lúc ấy đất Cao Bằng và Hải Dương loạn lạc, đành thôi. Lại Văn Khuông về đến nơi, chúa (Nguyễn Phúc Nguyên) mừng mà nói rằng:
—   Đào Duy Từ đúng là Tử Phòng, là Khổng Minh ngày nay vậy.
Nói rồi, ban thưởng cho hai người rất hậu, lại còn cho Lại Văn Khuông được thăng chức Cai Họp.”

—   Hai là: Vạch kế hoạch và trực tiếp chỉ huy việc xây dựng luỹ Trường Dục và luỹ Nhật Lệ. Lũy Trường Dục nối núi Trường Dục với bãi Hạc Hái, cò tầm quan trọng vố cùng đặc biệt ở phía bắc xứ Đàng Trong. Luỹ Nhật Lệ nối cửa biến Nhật Lê với núi Đâu Mâu. Luỹ này cũng gọi là luỹ Thầy. Cùng với luỹ Trường Dục, luỹ Nhật Lệ đã góp phần bảo vệ vững chắc vùng tiếp giáp với Đàng Ngoài của họ Trịnh.

—   Ba là: Kén chọn và giới thiệu người hiền tài cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Bình sinh, Đào Duy Từ là người biết kính trọng và tận dụng tài năng của người khác, cho dẫu đó là người trẻ tuổi hơn mình rất nhiều. Trong số những người được ông tiến cử, nổi bật hơn cả là danh tướng Nguyễn Hữu Tiến (sau được phong là Thuận Nghĩa Hầu) và danh tướng Đào Duy Từ (sau được phong là Chiêu Nghĩa Hầu).

—   Bốn là: Trên cơ sở tham khảo để kế thừa những tinh hoa khoa học quân sự cổ đại của Trung Quốc và của tổ tiên ta, đặc biệt, trên cơ sở phân tích và tổng kết một cách thiên tài tất cả những hoạt động quân sự của thời đại mình, Đào Duy Từ đã tiến hành biên soạn binhh pháp. Ông không phải là tướng trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc, nhưng Đào Duy Từ thực sự là một nhà chiến lược có tầm vóc lớn, nhà binh pháp lừng danh nhất thế kỉ 17 của dân tộc ta. Bộ binh pháp mà Đào Duy Từ để lại cho hậu thế có tên gọi là Hổ trướng khu cơ.

Truớc Đào Duy Từ hơn ba trăm năm, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cũng từng biên soạn binh pháp. Với Binh thư yếu lược, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã có công xây dựng nền tảng lí luận quân sự vững chắc cho cuộc chiến đấu quyết liệt, chống quân xâm lược Mông — Nguyên thiện chiến và khét tiếng tàn bạo. Với Binh thư yếu lược Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã có công khai sinh nền khoa học quân sự nước nhà. Tuy nhiên, bởi nhiều lí do lịch sử khác nhau, bộ Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn nay không còn nguyên vẹn nữa. Công tác thẩm định văn bản đối với tác phẩm vô giá này gặp rất nhiều khó khăn.
Khác với Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ hiện vẫn còn lưu giữ được gần như nguyên vẹn. Đọc Hổ trướng khu cơ ai ai cũng có thể dể dàng nhận thấy Đào Duy Từ vừa có trình độ lí luận rất uyên thâm lại vừa có vốn hiểu biết thực tiễn rất phong phú. Ông không chỉ giỏi về chiến lược, chiến thuật mà còn nắm vững kĩ thuật chế tạo cũng như sử dụng các loại vũ khí và trang thiết bị quân sự.
Năm 1634, Đào Duy Từ qua đời, hưởng thọ 62 tuổi. Đào Duy Từ bị chế độ vua Lê chúa Trịnh Đàng Ngoài chối bỏ, nhưng lại được chúa Nguyễn của Đàng Trong ân cần tiếp nhận. Mới hay, đấng chân tài bao giờ cũng là đấng chân tài, sớm muộn thế nào cũng sẽ được đời biết đến và trọng dụng, ôi, phải chi thời Đào Duy Từ chẳng phải là thời loạn li!

15  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Re: TRÔNG LẠI NGÀN XƯA - NGUYỄN KHẮC THUẦN vào lúc: Tháng Sáu 12, 2014, 03:47:19 AM
CHIÊU VŨ HẦU NGUYỄN HỮU DẬT - MỘT TÀI NĂNG NỔI BẬT CỦA XỨ ĐÀNG TRONG
Có thể gọi Nguyễn Hữu Dật (1604 —1681) là một danh tướng hoặc một nhà thiên văn, lại cũng có thể gọi ông là một văn thần xuất sắc. Tài năng của ông bộc lộ rất sớm và trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nay xin theo Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 3) mà lược kể về ông như sau:

Nguyễn Hữu Dật là con của Tham Tướng Chưởng Cơ Nguyễn Triều Văn, vốn người huyện Tống Sơn (Thanh Hoá). Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Trấn thủ đất Thuận Hoá (vùng tương ứng với miền đất từ phía nam Hà Tĩnh đến hết tỉnh Thừa Thiên — Huế ngày nay), nhằm tạo lập cơ đồ riêng cho mình, Nguyễn Triều Văn là một trong số những người đầu tiên đi theo. Đến đất phương Nam, Nguyễn Triều Văn định cư tại vùng nay thuộc huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Và, Nguyễn Hữu Dật chào đời tại đó.
Sử cũ chép rằng:
Lúc mới được vài ba tuổi, khi chơi với lũ trẻ cùng trang lứa, (Nguyễn Hữu) Dật thường bày trận giả, cờ xí và đội ngũ đàng hoàng, xong, còn tự nhận mình làm tướng. (Nguyễn) Triều Văn thấy thế thì mừng thầm, cho là con mình ngày sau ắt sẽ thành người tài, bèn quyết cho đi học. Ông may gặp được dị nhân, dạy cho binh phép, vì thế, (Nguyễn Hữu) Dật tiến tới rất nhanh.”.
Khoảng hơn mười tuổi, Nguyễn Hữu Dật đã nổi tiếng thần đồng, võ nghệ đã cao cường mà văn chương chữ nghĩa cũng khó có ai bì kịp. Năm Kỉ Mùi (1619), lúc vừa mới 15 tuổi, Nguyễn Hữu Dật đã được chúa Nguyễn Phúc Nguyên bổ làm Văn Chức. Đó là vị quan văn trẻ tuổi nhất của chính quyền họ Nguyễn lúc bấy giờ. Năm Quý Hợi (1623), do tâu việc trái với ý chúa, Nguyễn Hữu Dật bị chúa Nguyễn Phúc Nguyên bãi chức. Trở về nhà, thay vì buồn nản, ông lại dốc chí học tập, vì thế đúng ba năm sau, năm Bính Dần (1626), Nguyễn Hữu Dật lại được phục chức. Lần này, chỉ trong vòng một khoảng thời gian rất ngắn, ông đã được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin cậy và yêu quý, khen ông là người thông thái về phép tắc chính trị, cho nên, tuy vẫn bổ ông làm Văn Chức, nhưng thăng quyền được dự bàn các việc cơ mật của phủ Chúa. Bấy giờ, trong số những người được quyền dự bàn các việc cơ mật của phủ Chúa, không một ai mới ngoài hai mươi tuổi như ông.

Năm Đinh Mão (1627), tức là năm vừa 23 tuổi, một bước ngoặt mới trong cuộc đời làm quan của Nguyễn Hữu Dật bắt đầu. Từ đây, cuộc nội chiến lâu dài và quyết liệt giữa họ Trịnh với họ Nguyễn đã diễn ra, Nguyễn Hữu Dật được chuyển sang ngạch quan võ. Dưới đây là bản lược kê mấy sự kiện liên quan đến cuộc đời làm quan võ của Nguyễn Hữu Dật:
—   Năm 1627: Nguyễn Hữu Dật được trao chức Giám chiến. Thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, chức Giám chiến là chức chịu trách nhiệm thông báo thường xuyên và trung thực về mọi diễn biến của chiến trường cho chúa, đồng thời, chuyển đạt nhanh chóng và chính xác các mệnh lệnh của chúa đến chiến trường. Ngoài ra, Giám chiến cũng có quyền được cùng với tướng cầm cờ Tiết chế (tướng tổng chỉ huy) bàn các việc về quân cơ.
—   Năm 1631: Nguyễn Hữu Dật được cùng với Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ đi chỉ huy việc đắp luỹ Nhật Lệ (cũng tức là Luỹ Thầy). Đây là một công việc rất khó khăn, trực tiếp liên quan đến thành bại của chúa Nguyễn trong toàn bộ quá trình chống đỡ lâu dài với họ Trịnh sau này. Và, Nguyễn Hữu Dật đã hoàn thành xuất sắc công việc được giao.
—   Năm 1633: Vì là người có kinh nghiệm chỉ huy đắp lũy, Nguyễn Hữu Dật được chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cầm quân đi đắp luỹ Trường Sa. Ông đã hoàn thành công việc trước thời hạn. Cũng năm ấy, chúa Trịnh Tráng cho quân tràn vào đánh chúa Nguyễn lần thứ hai. Nguyễn Hữu Dật đã chỉ huy quân đắp luỹ, đánh cho quân chúa Trịnh một trận tơi bời ở ngay phía ngoài luỹ Trường Sa (Quảng Bình).
—   Năm 1648: Chúa Nguyễn (lúc này là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần) đã thăng Nguyễn Hữu Dật làm Cai Cơ (là chức võ quan thuộc hàng cao cấp). Khi ấy, Nguyễn Hữu Dật 44 tuổi. Ngoài chức Cai Cơ, chúa Nguyễn Phúc Tần còn thăng Nguyễn Hữu Dật làm Kí lục dinh Bố Chính (Quảng Bình). Kí lục là chức cũng thuộc hàng cao cấp của quan văn. Bố Chính là vùng tiếp giáp với đất đai của họ Trịnh, nếu không phải là người vừa có tài, vừa được chúa Nguyễn tin cậy, quyết không thể nhận một lúc hai chức lớn như thế.
—   Năm 1655: Lần đầu tiên, chúa Nguyễn cho quân vượt sông Gianh tràn ra đánh thẳng vào đất đai của họ Trịnh. Năm này, Nguyễn Hữu Dật được trao chức Đốc Chiến. Với chức này, quyền ông chỉ dưới Tiết Chế Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến mà thôi.
—   Năm 1661: Nguyễn Hữu Dật được thăng làm Chưởng Cơ. Đây là chức võ quan cao cấp, trên cả Cai Cơ. Năm ấy, ông 57 tuổi. Bấy giờ, tổng số người được thăng đến chức này đếm không quá mười đầu ngón tay.
—   Năm 1664: Tức là năm vừa tròn 60 tuổi, Nguyễn Hữu Dật được thăng đến tột đỉnh của ngạch võ quan: Chưởng Doanh Tiết Chế. Cũng năm này, ông được phong tước Chiêu Vũ hầu.

Viết về Nguyễn Hữu Dật, sử cũ không bao giờ quên kể chuyện tài coi thiên văn của ông. Xin được theo bộ sách đã nói ở trên mà lược thuật lại hai trong số nhiều lần coi thiên văn đặc biệt của ông.
Lần thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Đinh Dậu (1657). Bấy giờ, Nguyễn Hữu Dật đang gữ chức Đốc Chiến, tham gia chỉ huy lực lượng quân chúa Nguyễn tiến đánh ra tận Nghệ An. Đó là những ngày nắng ráo, quân chúa Trịnh bí mật tập kết ở Đồng Hôn (Nghệ An), tình thế rất nguy cấp. Nghe quân do thám báo lại, Tiết Chế Nguyễn Hữu Tiến cũng không khỏi lo lắng, nhưng Nguyễn Hữu Dật lại nói, đại ý rằng:
—   Tôi đã xem thiên văn, biết ngày Quý Hợi là ngày 25 tháng này thế nào cũng sẽ có mưa to lụt lớn. Giặc đóng nơi luỹ thấp, ta chỉ cần chờ đến ngày đó đốc quân ra đánh thì nhất định sẽ phá được.
Ngày 25, quả nhiên mưa như trút, nước dâng lênh láng khắp nơi, quân chúa Nguyễn chỉ dùng sức ít mà cũng cản phá được. Nguyễn Hữu Tiến phải khen Nguyễn Hữu Dật tính giỏi như thần!
Lần thứ hai xảy ra vào mùa thu năm 1658, cũng tại Đồng Hôn (Nghệ An). Lúc này, cuộc tranh chấp luỹ Đồng Hôn đang diễn ra rất quyết liệt, cho nên Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến rất lo. Nguyễn Hữu Dật liền cười mà nói đại ý rằng:
—   Tôi xem thiên văn, biết đến ngày Mậu Thìn tức là ngày 11 tháng này thế nào cũng có mưa to lụt lớn. Hãy chờ đến ngày này sẽ cất quân, nhất định sẽ thắng lớn.
Ngây 11, quá nhiên có mưa to, và một lần nữa, quân của chũa Trịnh lại bị đại bại. Từ đó, tiếng tăm về tài xem thiên văn của Nguyễn Hữu Dật ngày một lan xa.
Mùa xuân năm Tân Dậu (1681), Nguyễn Hữu Dật bị bệnh mà qua đời, hưởng thọ 77 tuổi. Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần truy tặng ông là Tán thị Tĩnh Nạn Công thần. Đặc Tiến Phụ Quốc, Thượng Tướng Quân, Cẩm Y Vệ, Tả Quân Đô Đốc phủ, Chưởng Phù Sự, Chiêu Quận Công và ban cho tên thuỵ là Cần Tiết.

Vì sao Nguyễn Hữu Dật nhiều tài đặc biệt như thế? Tất nhiên là bởi nhiều lí do khác nhau, tuy nhiên, tác giả bài viết này xin được tiết lộ một trong những lí do đó: ông là hậu duệ của Nguyễn Trãi, là thân phụ của hai danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh và Nguyễn Hữu Hào! Cả nhà ông, cả dòng họ ông có rất nhiều người giỏi, chớ có phải riêng mình ông đâu.

Trang: [1] 2 3 ... 6
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.187 seconds với 20 câu truy vấn.