Tháng Mười 25, 2021, 01:43:34 PM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 16
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Ngày Tận Thế vào lúc: Tháng Ba 09, 2013, 01:58:25 AM
KINH TĂNG CHI BỘ, CHƯƠNG BẢY, PHẨM MẶT TRỜI, Đức Phật dạy về ngày tận thế như sau:

Tôi nghe như vầy,

Một thời Thế Tôn ở Tỳ Xá Ly, tại rừng Am Ba Bà Li. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo:

"Này các Tỳ kheo".

Các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn:

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn".

Thế Tôn nói như sau:

Này các Tỳ Kheo, các hành là vô thường, không có kiên cố, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỳ Kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.

Này các Tỳ Kheo, núi chúa Tu Di dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, xuyên xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, thực vật, rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi và không còn tồn tại nữa, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi sau một thời gian rất dài, sẽ có mặt trời thứ hai hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, và không còn tồn tại nữa, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi sau một thời gian rất dài, sẽ có mặt trời thứ ba hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Da Mu Na, A Chi Ra Va Ti, Sa Ra Bu, Ma Hi, các con sông ấy sẽ bị khô cạn, bị khô kiệt, và sẽ không còn tồn tại nữa, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như A Nô Tát Ta, Si Ha Ba Ta Ta, Ra Tha Ka Ra, Kan Na Mun Đa, Ku Na La, Cha Đan Ta, Man Đa Ki Ni, các biển hồ ấy sẽ bị khô cạn, bị khô kiệt, và không có tồn tại nữa, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sẽ năm hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây Sa La, sáu cây Sa La, năm cây Sa La, bốn cây Sa La, ba cây Sa La, hai cây Sa La, và dần chỉ một cây Sa La. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, và dần đến nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, và dần chỉ đến mắt cá của người. Ví như này các Tỳ Kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu sẽ hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Tu Di, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Tu Di sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ Kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy sẽ hiện ra.

Này các Tỳ Kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chúa Tu Di bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Tu Di cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Tu Di, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Tu Di bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, khi quả đất lớn này và núi chúa Tu Di bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen, cho đến các hành là vô thường, không có kiên cố, không có an ổn như vậy. Nhiêu đó là vừa đủ để nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các hành. Ở đây, này các Tỳ Kheo, ai là người có thể nghĩ và tin rằng: "Quả đất này và núi chúa Tu Di sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, và sẽ không còn tồn tại nữa?", trừ những người đã được chứng kiến mà thôi.

Này các Tỳ Kheo, thuở xưa có Ðạo Sư Su Nết Ta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Khi ấy Ðạo Sư Su Nết Ta có hàng trăm người đệ tử và thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Su Nết Ta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Su Nết Ta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Ðâu-suất thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-lỵ, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-la-môn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.

Rồi này các Tỳ kheo, Ðạo Sư Su Nết Ta suy nghĩ như sau: "Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy nên tu tập tối thượng từ bi". Rồi bậc Ðạo sư Su Nết Ta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, vị ấy đã đi đến thế giới của Quang Âm thiên. Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại. Ba mươi sáu lần, vị ấy là Thiên chủ Sắc Ca. Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỳ kheo, Ðạo sư Su Nết Ta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?

Này các Tỳ kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới, Thánh định, Thánh trí tuệ, Thánh giải thoát.

Này các Tỳ kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới, Thánh định, Thánh trí tuệ, Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái, sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, và từ nay không còn tái sanh.

Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Vô thượng giới và định,
Trí tuệ và giải thoát,
Gô Ta Ma danh tiếng,
Giác ngộ những pháp này.
Ðức Phật với thắng trí,
Thuyết pháp cho Tỳ kheo,
Bậc Ðạo sư đoạn khổ,
Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.
2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / NAM TÔNG / Từ Chánh Niệm Đến Giác Ngộ - Cẩm Nang Người Tu Thiền vào lúc: Tháng Hai 18, 2013, 06:28:56 AM
Tên sách : Từ Chánh Niệm Đến Giác Ngộ - Cẩm Nang Người Tu Thiền
Tác giả : Ajahn Brahm
Dịch giả : Nguyên Nhật Trần Như mai
Ngôn ngữ : Việt
Số trang : 458
Nhà xuất bản : NXB Phương Đông
Năm xuất bản : 2009
Phân loại : Thiền
MCB : 12010000009726
Link Tải: http://199.91.152.145/1h3cjnpq3h8g/j883vjdg44gsavq/T%C6%AF%CC%80+CHA%CC%81NH+NI%C3%8A%CC%A3M+%C4%90%C3%8A%CC%81N+GIA%CC%81C+NG%C3%94%CC%A3.pdf

TỪ CHÁNH NIỆM ĐẾN GIÁC NGỘ - CẨM NANG CỦA NGƯỜI TU THIỀN

NGUYÊN TÁC MINDFULNESS, BLISS and BEYOND

NGUYỄN NHẬT TRẦN NHƯ MAI dịch

NXB PHƯƠNG ĐÔNG


LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH


Xin mời độc giả đọc thật kỹ cuốn Cẩm Nang Tu Thiền này. Đây là một cuốn sách quý, đúc kết kinh ngiệm trên 25 năm giảng dạy Phật pháp và hướng dẫn hành thiền của Thiền sư Ajaham tại Úc và các nước Đông Nam Á.

Dù bạn là người mới bắt đầu thiền tập hay là một hành giả đã hành thiền nhiều năm mà vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn, thì đây chính là cuốn sách “gối đầu giường” của bạn.

Dù bạn chỉ muốn hành thiền để giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống chứ không có nguyện vọng tiến xa hơn, hay bạn là một hành giả ngiêm túc muốn đi theo con đường Thiền Định của Đức Phật để đạt được giác ngộ giải thoát, bạn sẽ thấy cuốn sách này mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho bạn. Với kinh nghiệm hướng dẫn hành thiền trên 25 năm. Thiền sư Ajahn Brahm sẽ giải tỏa nhiều thắc mắc, những chướng ngại mà thiền sinh thường mắc phải, để giúp bạn đạt được mục tiêu, nếu bạn kiên nhẫn thực hành theo đúng lời hướng dẫn của ngài.

Trong sách này, Thiền sư Ajahn Brahm trình bày phương pháp thực hành con đường Thiền định mà Đức Phật đã hành trì để đắc quả Giác Ngộ Giải Thoát. Ngài hướng dẫn từng bước thiền tập từ thấp đến cao, thật rõ ràng, mạch lạc và khoa học, dựa trên nền tảng Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Ānāpānasati) và Kinh Niệm Xứ (Santipatthāna) là hai bài kinh vô cùng căn bản và quan trọng, vẫn được xem là trái tim của Thiền Định Phật giáo. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều khám phá mới lạ về cuộc hành trình tâm linh tiến vào các tầng Thiền (Jhanas) qua kinh nghiệm tu chứng của Thiền sư mà từ trước đến nay ít có sách Thiền nào đề cập với đầy đủ chi tiết như thế.

Tôi đã có phước duyên được tu học Phật pháp và thực hành Thiền Định dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Ajahn  Brahm qua nhiều khóa tu thiền ẩn cư tại Melbourne và Perth  (Tây Úc). Với phong cách vui vẽ, cởi mở và óc hài hước đặc biệt của người Tây Phương, cùng với biện tài vô ngại, những buổi thuyết giảng Phật pháp của ngài luôn luôn thu hút đông đảo thin1g giả đến dự chật ních giảng đường, có khi lên đến hằng ngàn người, đa số trí thức và thanh niên sinh viên đủ các sắc tộc Á, Âu, Úc, Mỹ… Đây là điều hiếm thấy ở Tây phương.

Ai đã  từng đến dự các buồi giảng pháp của Thiền sư Ajahn Brahm đều không quên những tràng cười thoải mái của thính chúng mỗi khi nghe ngài kể những câu chuyện dí dõm, hài hước để minh họa bài giảng. Bởi thế, hiện nay ngài là một Thiền sư Tây phương danh tiếng được rất nhiều người ái mộ. Ngài đã được mời thuyết giảng Phật pháp và hướng dẫn hành thiền tại các trường đại học, các hội nghị thế giới, cũng như các đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo khắp nước Úc cũng như các nước Đông Nam Á và Tây Âu.

Thiền sư Ajahn Brahm là một biểu tượng của “an lạc và hạnh phúc trong buông xả tận cùng”. Hiện nay, ngài vẫn tiếp tục du hành khắp nơi để chia sẻ niềm an lạc ấy cho tất cả những ai muốn đi theo con đường Thiền Định của Đức Phật.

Bản thân tôi đã tu tập theo sự hướng dẫn của ngài và cảm nhận được nhiều lợi lạc và tiến bộ, nên đã phát nguyện phiên dịch cuốn sách này, trước là để cúng dường tạ ơn Tam Bảo, sau là để giới thiệu với độc giả Việt Nam một cuốn sách quý, với mong ước đem lại một luồng gió mới cho rừng Thiền hiện nay ở hải ngoại cũng như ở Việt Nam, để hành giả Việt Nam có dịp tiếp cận với phương pháp hướng dẫn Thiền tập của một Tiền sư danh tiếng của Tây Phương.

Trong lúc phiên dịch, tôi đã nghĩ đến các bạn trẻ, nên đã cố gắng sử dụng càng ít thuật ngữ Phật học Hán Việt càng tốt, và cố gắng diễn đạt bằng thứ tiếng Việt trong sáng, dễ hiểu. Tuy nhiên, có nhiều thuật ngữ Phật học Hán Việt vốn đã được phổ biến rộng rãi và trở nên quen thuộc trong giới Phật tử Việt Nam, thì tôi vẫn tiếp tục sử dụng.

Mặc dù đã cố gắng hết sức chuyển đạt thật trung thành tư tưởng của tác giả bằng một văn phong dễ hiểu, chắc chắn tôi cũng không tránh khỏi vụng về sai sót, kính mong các bậc Thầy cùng quý vị thiện trí thức vui lòng chỉ giáo, để lần  sau in lại,  bản dịch sẽ được hoàn hảo hơn. Tôi xin chân thành cảm tạ.

Tôi xin thành kính tri ân tất cả những đạo hữu và thiện trí thức trong và ngoài nước hết lòng giúp đỡ về mọi mặt để cuốn sách này có thể đến tay người đọc.

Cuối cùng, nếu các hành giả Việt Nam đọc cuốn sách này, thực hành đúng theo lời hướng dẫn của thiền sư Ajahn Brahm và đạt được an vui, hạnh phúc, tiến đến giác ngộ giải thoát, thì xin hồi hướng công đức này đến tất cả pháp giới chúng sinh. Nguyện cầu tất cả chúng sinh đều được chia sẻ tuệ giác và niềm hỷ lạc của Thiền định Phật giáo.

Melbourne, mùa Đông, 2009

Nguyễn Nhật Trần Như Mai

 

MỤC LỤC

Đôi nét tiểu cử Thiền sư Ajahn Brahm
Lời giới thiểu của Jack Kornfield
Lời giới thiệu của người dịch
Lời cảm tạ của tác giả
Chữ viết tắt
Giới thiệu  tổng quát về Thiền định

Phần I : An Lạc của Thiền Định


1- Căn bản pháp hành thiền
Một nền tảng vững chắc sủ dụng bốn giai đoạn đầu tiên của thiền tập

2- Căn bản pháp Hành Thiền II
Ba giai đoạn cao cấp của thiền tập, trong đó hơi thở trở nên tuyệt đẹp.

3- Những chướng ngại tronh Hành Thiền I
Hai chướng ngại đầu tiên trong năm chướng ngại cản trở chúng ta tiến đến các trạng thái thiền định sâu hơn – tham dục sân hận

4- Những chướng ngại trong Hành Thiền II
Ba chướng ngại còn lại – hôn trầm thụy miên, trao hối và nghi

5- Phẩm chất của Chánh Niệm
Chánh niệm, người gác cổng, và làm thế nào để chúng ta có thể thành công trong hành thiền

6- Sử dụng sự đa dạng để tạo hứng thú cho hành Thiền
Những phương pháp hành thiền làm tâm vui thích, hết buồn chán và tạo hoan hỷ

7- Hơi thở tuyệt đẹp
Đạt đến những trạng thái thiền định thâm sâu – nhậpcác tầng thiền – và tuệ giác về giác ngộ

8- Bốn trọng tâm của Chánh Niệm / Tứ Niệm Xứ
Sử dụng Tứ Niệm xứ để đạt đến hạt báo châu trong lòng hoa sen

Phần 2 : Hỷ Lạc và Tiến Đến bờ Giác Ngộ


9- Nhập Sơ Thiền : Hỷ Lạc
Hơi thở  tuyệt đẹp khởi đầu cuộc hành trình

10- Nhị Thiền : Hỷ lạc tiếp nối Hỷ lạc
Định Tướng, cánh cửa tiến vào Định

11- Tam Thiền : Hỷ Lạc, Hỷ lạc, và Hỷ Lạc tiếp nối nhau
Làm thế nào để nhập Định, và cảm nghiệm nhập Định như thế nào

12- Bản chất của Tuệ Giác
Những gì cản trở chúng ta thấy sự vật đúng như thật. Tâm khám phá sự thật như thế nào sau khi được Định tăng cường uy lực

13- Tuệ Giác Giải Thoát
Tuệ giác làm thay đổi tất cả và đưa chúng ta đến kinh nghiệm làm giác ngộ

14- Giác Ngộ : Nhập Vào Dòng Thánh
Giác ngộ là gì, và cảm nghiệm đầu tiên về Niết Bàn – chứng quả nhậplưu

15- Tiến Đến Giác Ngộ Hoàn Toàn
Bốn giai đoạn giác ngộ, làm thế nào để biết một người đã giác ngộ

Kết luận : Buông xả đến tận cùng

Tầm quan trọng của buông xả, những dính mắc và trở ngại chúng ta có thể gặp, và làm thế nào để vun bồi an vui hạnh phúc  trong cuộc sống bận rộn của chúng ta.

Chú thích

Tài liệu tham khảo

3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 07, 2013, 04:08:23 AM
32- ỨNG HÓA CHẲNG PHẢI CHÂN THẬT

“Tu-bồ-đề ! Nếu có người đem bảy báu đầy cả vô lượng vô số thế giới ra bố thí, và nếu có thiện nam thiện nữ phát tâm Bồ-đề thụ trì đọc tụng kinh này, vì người khác giảng nói, dù chỉ bốn câu kệ, phúc của người này hơn người trước.

Sao gọi là vì người diễn nói ? Là diễn nói mà không chấp tướng, y nhiên vững vàng chẳng chút động tâm.”


Phúc bố thí bảy báu tuy nhiều, nhưng không bằng người phát tâm Bồ-đề thụ trì bốn câu kinh này và vì người giảng nói. Phúc này hơn phúc bố thí kia trăm ngàn vạn ức, không thể ví dụ. Khéo léo dùng phương tiện thuyết pháp, quán sát căn cơ, ứng theo tâm lượng tùy trường hợp, đó gọi là vì người diễn nói. Với người nghe pháp, có rất nhiều đối tượng khác nhau, không nên đem tâm phân biệt, chỉ cần hiểu rõ cái tâm y nhiên vắng lặng, tâm không sở đắc, tâm không hơn thua, tâm không trông mong điều gì, tâm không sinh diệt, đó gọi là y nhiên bất động.

“Bởi vì sao ? Vì tất cả pháp hữu vi, như giấc mộng, như ảo hóa, như bọt nước, như bóng hình, như sương mai, như điện chớp. Phải có cái nhìn như vậy.”

Mộng là cái thân dối giả, huyễn là vọng niệm, bọt nước là phiền não, bóng hình là nghiệp chướng. Các nghiệp trên đây là pháp hữu vi. Chân thật thì lìa bỏ danh nghĩa hình thức. Giác ngộ thì không còn các nghiệp.

“Phật nói kinh này xong, trưởng lão Tu-bồ-đề cùng các Tì-kheo, Tì-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả trời, người, A-tu-la trong thế gian được nghe những điều Phật nói đều rất vui mừng tin tưởng, lĩnh thụ phụng hành.”


HẾT
4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 07, 2013, 04:05:11 AM
31- TRI KIẾN KHÔNG SINH

“Tu-bồ-đề ! Nếu có ai bảo rằng Phật nói ngã kiến nhân kiến chúng sinh kiến thọ giả kiến, Tu-bồ-đề ! Ý ông nghĩ sao, người ấy có hiểu nghĩa ta nói không ?

–Không, thưa Thế Tôn ! Người ấy không hiểu ý nghĩa Như Lai nói.

Bởi vì sao ? Thế Tôn nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thế gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh, kiến thọ giả kiến.”


Như Lai nói kinh này là để khiến chúng sinh tự giác ngộ trí tuệ Bát-nhã, tự tu hành quả Bồ-đề. Phàm phu không hiểu ý Phật liền cho rằng Như Lai nói có ngã kiến, nhân kiến v.v…, không biết Như Lai nói pháp Bát-nhã Ba-la-mật sâu xa vô tướng vô vi. Cái ngã kiến, nhân kiến, v.v…Như Lai nói, không như cái ngã kiến, nhân kiến v.v…của phàm phu nói. Như Lai nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đó là tri kiến về chân ngã. Nói tất cả chúng sinh có trí tuệ vô lậu, tính vốn đầy đủ, đó là tri kiến về nhân. Nói tất cả chúng sinh vốn tự không phiền não, đó là tri kiến về chúng sinh. Nói tất cả chúng sinh, tính vốn không sinh không diệt, đó là tri kiến về thọ giả.

“Tu-bồ-đề! Người phát tâm Vô thượng Bồ-đề, đối với các pháp phải biết như vậy, thấy như vậy, tin hiểu như vậy, mà không sinh pháp tướng.

Tu-bồ-đề ! Như Lai nói pháp tướng, tức chẳng phải pháp tướng, đó là pháp tướng.”

Người phát tâm Bồ-đề phải thấy tất cả chúng sinh đều có Phật tính, phải thấy tất cả chúng sinh vốn tự đầy đủ giống trí vô lậu, phải tin rằng tất cả chúng sinh tự tính vốn không sinh diệt. Tuy thực hành tất cả trí tuệ phương tiện lợi ích chúng sinh mà không có tâm phân biệt năng sở. Miệng nói pháp vô tướng mà tâm có năng sở, tức chẳng phải pháp tướng. Miệng nói pháp vô tướng, tâm thực hành hạnh vô tướng, mà tâm năng sở diệt, đó là pháp tướng.
5  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 07, 2013, 04:04:50 AM
30- LÝ TƯỞNG VỀ HỢP NHẤT

“Tu-bồ-đề ! Nếu có thiện nam thiện nữ đem ba ngàn đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần, ý ông nghĩ sao, các vi trần ấy nhiều không ?

–Rất nhiều, thưa Thế Tôn ! Bởi vì sao ? Nếu các vi trần ấy là thật có, Phật đã chẳng nói là các vi trần.

Bởi vì sao ? Phật nói các vi trần, tức chẳng phải vi trần, đó mới là vi trần.”


Phật nói ba ngàn đại thiên thế giới để ví dụ cho tính của tất cả chúng sinh như số vi trần trong ba ngàn thế giới. Vi trần vọng niệm trên tính của tất cả chúng sinh, tức chẳng phải vi trần. Nghe kinh pháp hiểu ngộ đạo lý, trí tuệ giác ngộ thường chiếu soi, thẳng đến Bồ-đề mỗi niệm không dừng trụ, thường ở trong thanh tịnh. Như thế là vi trần thanh tịnh, gọi là các vi trần.

“ –Thưa Thế Tôn ! Ba ngàn đại thiên thế giới Như Lai nói, tức chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới.”

Nói ba ngàn là ước về lý mà nói, tức là vọng niệm tham sân si mỗi thứ đều đủ ba ngàn. Tâm là gốc của thiện ác, có thể là phàm, cũng có thể trở thành thánh. Động tĩnh của tâm không thể lường được, rộng lớn vô biên, nên gọi đại thiên thế giới.

“Bởi vì sao ? Nếu thế giới là thật có, đó là tướng hợp nhất. Như Lai nói tướng hợp nhất, tức chẳng phải tướng hợp nhất, đó gọi là tướng hợp nhất.”

Trong tâm sáng rõ, không gì hơn hai pháp từ bi và trí tuệ. Do hai pháp này được Bồ-đề. Nói tướng hợp nhất, là tâm còn sở đắc. Tức chẳng phải tướng hợp nhất, là tâm không có sở đắc. Đó là tướng hợp nhất. Tướng hợp nhất , là không được lấy giả danh mà luận bàn thật tướng.

“Tu-bồ-đề ! Tướng hợp nhất, là chân lý không thể dùng ngôn ngữ giảng nói, mà kẻ phàm phu thì tham đắm vào sự tướng.”

Thành tựu Phật quả Bồ-đề do hai pháp từ bi và trí tuệ. Đây là chân lý không thể nói hết, vi diệu không thể diễn tả bằng ngôn từ. Thế nhưng phàm phu tham đắm vào văn tự, sự tướng, không tu hai pháp từ bi trí tuệ. Nếu
không thực hành hai pháp này mà cầu Vô thượng Bồ-đề, làm sao đạt được ?
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 07, 2013, 03:56:35 AM
29- UY NGHI VẮNG LẶNG

”Tu-bồ-đề ! Nếu có ai nói Như Lai nào đến, đi, ngồi, nằm, người đó không hiểu ý nghĩa ta nói.

Bởi vì sao ? Như Lai nghĩa là không từ đâu đến, cũng không đi đâu, mới là Như Lai.”


Như Lai là chẳng phải đến, chẳng phải chẳng đến, chẳng đi, chẳng phải chẳng đi, chẳng ngồi, chẳng phải chẳng ngồi, chẳng nằm, chẳng phải chẳng nằm. Trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng vắng lặng, tức là Như Lai.
7  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 05, 2013, 12:49:02 AM
28- KHÔNG NHẬN, KHÔNG THAM

“Tu-bồ-đề ! Nếu Bồ-tát đem bảy báu đầy khắp thế giới như cát sông Hằng ra bố thí, và lại có người biết tất cả các pháp là vô ngã, thành tựu nhẫn lực, thì công đức vị Bồ-tát sau hơn vị Bồ-tát trước.

Bởi vì sao ? Tu-bồ-đề ! Vì chư Bồ-tát không nhận phúc đức.

Tu-bồ-đề bạch Phật : –Thưa Thế Tôn ! Vì sao Bồ-tát không nhận phúc đức ?

Tu-bồ-đề ! Bồ-tát làm các phúc đức mà không tham đắm nên nói không nhận phúc đức.”


Thấu triệt tất cả pháp, không có tâm năng sở, gọi là nhẫn. Người như vậy được phúc đức hơn phúc đức người bố thí bảy báu ở trước. Bồ-tát làm việc phúc đức không vì mình, vì lợi ích tất cả chúng sinh nên nói không nhận phúc đức.
8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 05, 2013, 12:46:46 AM
27- KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT

“Tu-bồ-đề ! Nếu ông nghĩ rằng Như Lai không tu đầy đủ các tướng tịnh hạnh mà được Bồ-đề, thì này Tu-bồ-đề, ông chớ nên nghĩ như vậy. Chớ nghĩ rằng Như Lai không tu đầy đủ các tướng thanh tịnh mà được Bồ-đề.

Tu-bồ-đề ! Nếu ông nghĩ rằng người phát tâm Vô thượng Bồ-đề nói tướng các pháp là diệt mất, thì chớ nghĩ như vậy ! Bởi vì sao ? Vì người phát tâm Vô thượng Bồ-đề không nói tướng các pháp là diệt mất.”


Tu-bồ-đề nghe nói chân thân là lìa tướng, liền cho rằng không tu ba mươi hai tịnh hạnh cũng được Bồ-đề. Phật bảo Tu-bồ-đề chớ nên nói Như Lai không tu ba mươi hai tịnh hạnh cũng được Bồ-đề. Nếu ông nói không tu ba mươi hai tịnh hạnh cũng được Bồ-đề, tức làm dứt mất chủng tính Phật, không có chỗ như vậy.
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 05, 2013, 12:36:25 AM
25- HÓA ĐỘ VÀ KHÔNG CHỖ HÓA ĐỘ

“Tu-bồ-đề ! Ý ông nghĩ sao ? Các ông chớ nên bảo rằng Như Lai có ý nghĩ : Ta phải độ chúng sinh.

Tu-bồ-đề ! Chớ nên có ý nghĩ như vậy. Bởi vì sao ? Vì thật chẳng có chúng sinh nào Như Lai độ. Nếu nói có chúng sinh Như Lai độ, tức Như Lai có ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.”


Tu-bồ-đề có ý nghĩ cho rằng Như Lai có tâm niệm độ chúng sinh. Phật muốn phá bỏ tâm nghi ngờ đó, nên nói chớ nghĩ như vậy. Tất cả chúng sinh vốn tự là Phật, nếu nói Như Lai độ chúng sinh thành Phật, tức vọng ngữ. Vì vọng ngữ cho nên tức là ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Câu này là để trừ cái tâm niệm có ngã sở. Tuy tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nhưng nếu không nhân chư Phật thuyết pháp, không do đâu giác ngộ được, không dựa vào đâu tu hành thành tựu Phật đạo.

“Tu-bồ-đề ! Như Lai nói có ngã, tức chẳng phải có ngã, mà phàm phu cho là có ngã.

Tu-bồ-đề ! Phàm phu, Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, đó gọi là phàm phu.”


Như Lai nói có ngã, ngã đó là tự tính thanh tịnh, là ngã của thường, lạc, ngã, tịnh, không như cái ngã tham sân, vô minh, hư vọng không thật của phàm phu. Cho nên nói phàm phu cho là có ngã. Có ngã, nhân, là phàm phu. Không sinh ngã, nhân, tức chẳng phải phàm phu. Tâm có sinh diệt là phàm phu. Tâm không sinh diệt tức chẳng phải phàm phu. Không hiểu ngộ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là phàm phu. Hiểu ngộ Bát-nhã Ba-la-mật-đa tức chẳng phải phàm phu. Tâm có năng sở là phàm phu. Tâm không năng sở tức chẳng phải phàm phu.
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 04, 2013, 12:55:12 AM
24- PHÚC VÀ TRÍ KHÔNG THỂ SO SÁNH

“ Tu-bồ-đề ! Nếu có người đem bảy báu chất đầy như các núi chúa Tu-di trong ba ngàn đại thiên thế giới ra bố thí, và có người thụ trì đọc tụng giảng nói cho người khác, dù chỉ bốn câu kệ trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật này, thì phúc đức người này so với người trước, gấp trăm ngàn vạn ức lần, cho đến toán số thí dụ không nói hết được.”

Núi Đại Thiết vi cao rộng hai trăm hai mươi bốn vạn dặm. Núi Tiểu Thiết vi cao rộng một trăm mười hai vạn dặm. Núi Tu-di cao rộng ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Lấy đó gọi là ba ngàn đại thiên thế giới. Đứng về lý mà nói, mỗi vọng niệm tham sân si đều đủ một ngàn. Những núi như vậy đều gọi là Tu-di. Đem số bảy báu ấy bố thí, công đức đạt được vô lượng vô biên, nhưng tất cả đều là nghiệp nhân hữu lậu, nên theo lý thì không giải thoát. Bốn câu trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật tuy ít nhưng theo đó tu hành thì sẽ thành Phật. Phải biết phúc đức thụ trì kinh có thể làm cho chúng sinh chứng được Bồ-đề. Vì vậy mà nói không thể so sánh.
11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 04, 2013, 12:52:03 AM
23- TỊNH TÂM THỰC HÀNH THIỆN PHÁP

“Lại nữa, Tu-bồ-đề ! Pháp ấy bình đẳng , không cao không thấp, nên gọi Vô thượng Bồ-đề. Đem cái tâm không ngã, không nhân, không chúng sinh, không thọ giả, tu tất cả thiện pháp thì đạt được Vô thượng Bồ-đề.”

Pháp Bồ-đề này, trên từ chư Phật, dưới đến hạng sâu bọ cũng đều có hạt giống trí, y như Phật không khác, cho nên nói bình đẳng không cao thấp. Vì Bồ-đề là không hai, nên chỉ cần lìa bốn tướng, tu tất cả thiện pháp, tức được Bồ-đề. Nếu không lìa bốn tướng mà tu tất cả thiện pháp, thì lại càng tăng thêm tâm nhân, ngã, muốn giải thoát cũng không do đâu chứng được. Nếu lìa bốn tướng, tu tất cả thiện pháp thì có thể giải thoát. Tu tất cả thiện pháp là đối với tất cả các pháp, tâm không nhiễm trước; đối với tất cả các cảnh, tâm không dao động; đối với pháp xuất thế, không tham đắm, không chấp trước, không say mê. Trong tất cả mọi nơi, thường thực hành phương tiện, tùy theo chúng sinh làm cho chúng hoan hỷ tin phục, vì chúng nói chính pháp khiến giác ngộ Bồ-đề, như vậy mới gọi là tu tất cả thiện pháp.

“Tu-bồ-đề ! Nói thiện pháp, Như Lai bảo chẳng phải thiện pháp mới là thiện pháp.”

Tu tất cả thiện pháp, mong cầu được quả báo, tức chẳng phải thiện pháp. Lục độ, vạn hạnh, dũng mãnh thực hành đầy đủ mà tâm không cầu báo đáp, đó là thiện pháp.
12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 04, 2013, 12:46:22 AM
22- KHÔNG ĐƯỢC MỘT PHÁP NÀO

“Tu-bồ-đề bạch Phật : –Thưa Thế Tôn ! Phật được Vô thượng Bồ-đề có phải là lúc không có gì gọi là đạt được chăng ?

Phật bảo : Đúng như vậy, đúng như vậy !

Tu-bồ-đề ! Đối với pháp Vô thượng Bồ-đề, ta chẳng có tí gì gọi là đạt được. Đó mới là gọi Vô thượng Bồ-đề.

Tu-bồ-đề nói : –Hết cái tâm sở đắc, tức là Bồ-đề.

Phật bảo : Đúng như vậy, đúng như vậy ! Đối với Bồ-đề, ta thật không có tâm mong cầu, cũng không có tâm nghĩ mình đạt được, như thế nên được gọi là Vô thượng Bồ-đề.
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 04, 2013, 12:42:31 AM
21- KHÔNG NÓI PHÁP, KHÔNG PHÁP ĐỂ NÓI

“Ông chớ nói Như Lai có ý nghĩ này : Ta sẽ thuyết pháp. Chớ có ý nghĩ như vậy. Bởi vì sao ? Nếu ai nói Như Lai có thuyết pháp tức phỉ báng Phật, không hiểu điều ta nói.

Tu-bồ-đề ! Nói thuyết pháp tức không có pháp nào để nói, đó mới là thuyết pháp.”


Phàm phu nói pháp, tâm có sở đắc, nên Phật bảo Tu-bồ-đề rằng Như Lai thuyết pháp , tâm không sở đắc. Phàm phu nói pháp là đem cái tâm phân biệt hiểu biết ra mà nói. Còn Như Lai nói hay im lặng đều như thật. Lời nói ra, như vang ứng tiếng, tác dụng tự nhiên không dụng tâm. Không phải như phàm phu đem tâm sinh diệt ra mà nói. Nếu nói Như Lai thuyết pháp có tâm sinh diệt là phỉ báng Phật. Kinh Duy-ma nói : Thật sự thuyết pháp là không giảng nói, không chỉ bày, nghe pháp là không nghe không nhận được.
Hiểu rõ vạn pháp vắng lặng, tất cả ngôn từ đều giả lập. Từ nơi tính không, dũng mãnh tạo ra tất cả ngôn từ, diễn nói các pháp vô tướng vô vi, dắt dẫn người mê thấy được bản tính, tu chứng Vô thượng Bồ-đề, đó gọi là thuyết pháp.

“Lúc bấy giờ Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật rằng : –Thưa Thế Tôn! Liệu có chúng sinh trong đời vị lai nghe pháp này phát sinh lòng tin chăng ?

Phật bảo Tu-bồ-đề : Những người ấy không phải chúng sinh, cũng chẳng phải không phải chúng sinh.

Bởi vì sao ? Tu-bồ-đề ! Chúng sinh là gì ? Như Lai bảo không phải chúng sinh, đó là chúng sinh.”
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 03, 2013, 12:31:35 AM
20- RỜI BỎ SẮC TƯỚNG

“Tu-bồ-đề ! Ý ông nghĩ sao ? Có thể đem sắc thân đầy đủ mà cho là thấy Như Lai không ?

–Không, thưa Thế Tôn ! Không nên đem sắc thân đầy đủ mà cho là thấy Như Lai. Bởi vì sao ? Vì Như Lai nói biết sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, đó mới là sắc thân đầy đủ.”


Ý Phật sợ chúng sinh không thấy Pháp thân mà chỉ thấy ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp, thân vàng rực rỡ mà cho đó là chân thân của Như Lai. Để trừ mê chấp này nên hỏi Tu-bồ-đề rằng có thể lấy cái tướng sắc thân đầy đủ mà xem đó là Như Lai không. Ba mươi hai tướng không phải là sắc thân đầy đủ. Trong đủ ba mươi hai hạnh thanh tịnh mới là sắc thân đầy đủ. Hạnh thanh tịnh tức là sáu Ba-la-mật. Trong năm căn thì tu sáu Ba-la-mật. Trong ý căn thì tu định và tu tuệ. Đó gọi là sắc thân đầy đủ. Chỉ yêu suông ba mươi hai tướng của Như Lai, trong không thực hành ba mươi hai hạnh thanh tịnh, tức chẳng phải sắc thân đầy đủ. Không yêu sắc tướng Như Lai, tự mình giữ hạnh thanh tịnh cũng được gọi là sắc thân đầy đủ.

“Tu-bồ-đề ! Ý ông nghĩ sao ? Có thể đem các tướng đầy đủ mà cho là thấy Như Lai không ?

–Không, thưa Thế Tôn ! Không nên đem các tướng đầy đủ mà cho là thấy Như Lai. Bởi vì sao ? Vì Như Lai nói biết các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, đó mới là các tướng đầy đủ.”


Như Lai là Pháp thân vô tướng, không thể thấy bằng con mắt thịt, con mắt tuệ mới thấy được. Chưa đầy đủ sáng suốt của con mắt tuệ thì sinh các tướng ngã, nhân rồi lấy đó xem ba mươi hai tướng, cho đó là Như Lai, nên không gọi là đầy đủ. Mắt tuệ sáng suốt, không sinh tướng ngã, nhân, chính trí sáng suốt thường chiếu soi, đó là các tướng đầy đủ. Ba độc chưa tiêu hết, mà nói thấy chân thân Như Lai, chắc chắn không có lý như vậy. Cho dẫu có thể trông thấy, đó chỉ là hóa thân chẳng phải Pháp thân chân thật vô tướng.
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / SỬ / Re: Linh Ứng Kinh Kim Cang Bát Nhã vào lúc: Tháng Hai 03, 2013, 12:28:21 AM
19- PHÁP GIỚI THÔNG HÓA

“Tu-bồ-đề ! Ý ông nghĩ sao ? Nếu có người đem bảy báu đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới ra bố thí, do nhân duyên này, người ấy được phúc nhiều không ?
 
–Đúng vậy, thưa Thế Tôn ! Do nhân duyên này người ấy được phúc rất nhiều.

Tu-bồ-đề ! Nếu phúc đức là có thật, Như Lai đã không nói được nhiều phúc đức. Vì phúc đức là không nên Như Lai nói được phúc đức nhiều.”


Phúc do bố thí bảy báu không thể thành tựu quả Phật Bồ-đề, cho nên nói không. Nói là nhiều, vì nó vô số không có giới hạn, nếu có thể vượt qua thì không gọi là nhiều.
Trang: [1] 2 3 ... 16
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.115 seconds với 20 câu truy vấn.