Tháng Năm 07, 2021, 03:38:40 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: 1 2 [3] 4 5 ... 13
31  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: GIỚI THIỆU SÁCH MỚI vào lúc: Tháng Mười Một 19, 2008, 03:24:53 PM
Ồ, cuốn sách anh khang đưa lên rất hay, cát cát rất thích.
Túc bái.
32  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: CHÚC MỪNG HOÀNG THẦN TÀI TRÒN MỘT TUỔI vào lúc: Tháng Mười Một 19, 2008, 03:23:33 PM
Cát cát tạ ân Hoàng thần tài diễn đàn là mảnh đất nuôi dưỡng niềm tin tâm thức của cát cát được phát sáng .Niềm tin này ví như việc đọc thần chú, như bí mật trong bí mật , như đức tin của mình ,như sự chứng nghiệm và cảm nhận.
Cầu mong trang HTT sẽ mang đến niềm cảm hứng tu học cho đa số .Cầu mong cho tất cả hữu tình được hạnh phúc .

Túc bái.
33  Nho Gia Tư Tưởng Học / KINH DỊCH - TỬ VI - NHÂN TƯỚNG - BÓI DÂN GIAN / Lục Nhâm Tướng Pháp. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 08:09:46 PM
Công thức:
{(Ngày âm + Tháng âm + Khắc định đi) - 2} : 6 lấy số dư tra vào bảng dưới đây :
*/ Khắc định đi là số giờ ta chọn để xuất hành :
- Từ 11h - 01h là khắc 1
- Từ 01h - 03h là khắc 2
- Từ 03h - 05h là khắc 3
- Từ 05h - 07h là khắc 4
- Từ 07h - 09h là khắc 5
- Từ 09h - 11h là khắc 6
*/ Kết quả lấy số dư tra vào bảng sau đây :
Số dư là 1 - Đại an : Mọi việc đều tốt đẹp, cầu tài đi về hướng Tây Nam. Nhà cửa yên lành. Người xuất hành đều bình an.
Số dư là 2 - Tốc hỷ : Vui sắp tới, cầu tài đi về hướng Tây Nam (?), việc quan nhiều may mắn, chăn nuôi thuận lợi, người đi có tin về.
Số dư là 3 - Lưu niên : Nghiệp khó thành, cầu tài mờ mịt. Kiện cáo nên hoãn lại. Người đi chưa có tin về. Mất của đi về hướng Nam tìm nhanh mới thấy, nên phòng cãi cọ miệng tiếng rất tầm thường. Việc làm lâu la nhưng làm gì đều chắc chắn.
Số dư là 4 - Xích khẩu : Hay cãi cọ gây chuyện, lý kém, phải nên phòng. Người ra đi nên hoãn lại, phòng người nguyền rủa(?), tránh lây bệnh.
Số dư là 5 - Tiểu cát : Rất tốt lành, đi đường gặp may mắn. Buôn bán có lời, phụ nữ có tin mừng, người đi sắp về nhà. Mọi việc đều hòa hợp, có bệnh cầu sẽ khỏi, người nhà đều mạnh khỏe.
Số dư là 6 - Tuyệt lộ : Cầu tài không có lợi hay trái ý, ra đi gặp nạn, việc quan phải đòn. Gặp ma quỷ cúng lễ mới an (?).
Sưu tầm. big grin
34  Nho Gia Tư Tưởng Học / KINH DỊCH - TỬ VI - NHÂN TƯỚNG - BÓI DÂN GIAN / Cần chú ý khi định giờ . vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 08:05:52 PM
Chắc các bạn thường nghe người ta nói giờ Tý, giờ Sửu, giờ Dần...Các Thầy hay căn cứ vào múi giờ để định

bạn phải hết sức cẩn thận trong các công cụ tra giờ trên Internet hiện nay cũng thế đa số căn cứ vào múi giờ như tuviblobal: Giờ Tý: 23 h -1h; Giờ Sửu: 1-3h; Giờ Dần 3-5H...Vậy là tháng nào cũng như tháng đó. Điều đó có đúng chính xác không?
Ngày xưa người ta căn cứ giờ dựa vào bóng người khi mặt trời chiếu ngắn hay dài, đứng bóng hay bóng ngã.
Các tháng 1,3,7,9 múi giờ giống nhau:
Tý: từ 0-2 h
Sửu : 2-4 h
Dần: 4-6h
Mão : 6-8h
....
Các tháng 2,8 giờ giống nhau
Tý: từ 0h10-2h10
Sửu : 2h10-4h10
Dần: 4h10-6h10
Mão : 6h10-8h10
....

Các tháng 4,6,10,12 giờ giống nhau
Tý: từ 23h50-1h50
Sửu : 1h50-3h50
Dần: 3h50-5h50
Mão : 5h50-7h50
....

Các tháng 5,11 giờ giống nhau
Tý: từ 23h40-1h40
Sửu : 1h40-3h40
Dần: 3h40-5h40
Mão : 5h40-7h40
....

Rõ ràng có sự khác nhau của múi giờ giữa các tháng với nhau. mấy người xem bói hay các Thầy định giờ rất nhiều người phạm sai lầm ở chỗ này huống gì các bạn xem giờ hay tìm lá số trên mạng Internet.

Trích lời huynh Khổng Tử.
35  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:34:17 PM
TÂM ĐỘNG

Sau khi được Ngũ tổ Hoàng Nhẫn trao y bát, Huệ năng đi về Nam Hải. Lúc qua chùa Pháp Tính, gặp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn, sư ghé vào.

Trong buổi giảng kinh, chợt lá cờ cắm trước cửa chùa bay phất phới. Một vị tăng kêu lên : “Cờ động”.

Vị tăng bên cạnh cãi :”Đó là gió động”.

Không ai chịu ai, tranh luận rất hăng. Huệ năng đến gần hai vị tăng, lắng nghe một lát rồi từ tốn nói : “Không phải cờ động, cũng không phải gió động, mà là tâm của hai vị đang động”.

Hai vị tăng nghe vậy, hốt nhiên đại ngộ.


(Theo Chan Gushi của Ma Trí)


Chân thành cám ơn loạt bài của huynh Phuocthong.
36  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:33:19 PM
Đến Long Đàm

--------------------------------------------------------------------------------

Thiền Sư Đức Sơn (780-865, thời Đường) là bậc đại sư gảing kinh thuyết pháp ở miền Bắc. Nhưng vì bất mãn với thuyết Giáo ngọai biệt truyền của Thiền Môn miền Nam, nên sư khăn gói mang bộ Thanh Long sớ sao do chính sư giảng giải kinh Kim Cang lên đường Nam hành, ý muốn “pháp chiến” một phen với các thiền sư Nam tông. Đến nơi, sư hỏi một bà lão rằng gần đây có vị cao tăng nào không. Bà lão chỉ đến thiền sư Long Đàm.

Đức Sơn tìm đến, vừa thấy Long Đàm đã hỏi ngay : “ Đây là nơi nào ?”

Long Đàm : “ Long Đàm ! “

Đức Sơn : “ Đã gọi là Long Đàm sao không thấy Rồng (Long) mà cũng chẳng thấy đầm (đàm) đâu vậy ? “

Long Đàm : “Thật khổ cho ngươi, ngươi đã đến Long Đàm rồi đấy !”

Đêm hôm ấy, Đức Sơn đứng trước thiền phòng của Long Đàm rất lâu, mãi đến khi Long Đàm bước ra nói :“ Đêm đã khuya lắm rồi, ngươi còn đứng đó làm gì !”

Trước lúc cáo từ Long Đàm, sư Đức Sơn ngóai lại nói : “Bây giờ bên ngòai tối như mực, tôi mới đến không biết phương hướng “

Sư Long Đàm bèn châm một ngọn nến đưa cho Đức Sơn. Khi Đức Sơn đưa tay ra toan tiếp lấy, Long Đàm liền thổi tắt. Lúc này Đức Sơn bỗng đại ngộ, liền quỳ xuống lạy tạ Long Đàm. Sư Long Đàm hỏi : “ Người đã thấy gì ?”

Đức Sơn : “Từ nay về sau, tôi chẳng còn hoài nghi lời của các thiền sư trong thiên hạ nữa “

Hôm sau, Đức Sơn mang bộ Thanh Long sớ sao vừa đốt vừa ca : “ Cùng chư huyền biện, nhược nhất hào trí ư thái hư, kiết thế khu cơ, tự nhất trích đầu ư cự hách” (Tận cùng biện luận siêu nhiên, như sợi lông thả giữa miền hư không, tận cùng cơ yếu thế nhân, như giọt nước giữa vô ngần đại dương)

Người ta nói : “ Nói cho cùng, kinh điển vẫn phân biệt tri thức. Thiên môn vô ngôn, chung quy là vô phân biệt tâm chứng ngộ. Đêm tối mù mịt, chấm nến rồi tắt, ý là “sau khi dập tắt ánh sáng bên ngòai, thì thiền qua trong lòng sẽ bừng dậy. Và Thiền quang ấy chính là chân ngã , cái gọi là ngôn ngữ văn tự, ý thức phân biệt đều chỉ như một giọt nước nhỏ nhoi giữa lòng đại dương mà thôi.


(Theo ChanGushi)
37  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:32:47 PM
Vô Đạo Tâm


--------------------------------------------------------------------------------

Văn Đạo là một du tăng, vì lòng ngưỡng mộ đạo phong của thiền sư Huệ Huân, nên không quản treo non lội suối, vượt ngàn dậm đến tham bái.

Văn Đạo : “Mạt học Văn Đạo vốn mộ đạo phong của ngài từ lâu. Nay tìm đến đây xin ngài mở lượng từ bi khai ngộ cho ! ”

Huệ Huân : “ Bây giờ trời đã tối, ngươi hãy tạm trú lại đây đã !”

Sáng hôm sau, khi Văn Đạo tỉnh giấc, đã thấy sư Huệ Huân đang nấu cháo. Lúc ăn, vì trong động thiếu bát, nên sư Huệ Huân với tay ra ngòai nhặt một chiếc đầu lâu nhỏ, múc đầy cháo đưa cho Văn Đạo. Khi Văn Đạo còn đang chần chừ không biết có nên tiếp lấy cái bát cháo đáng sợ đó hay không, thì sư Huệ Huân nói :

“ Người không có đạo tâm, không thực sự đến đây vì pháp. Người lấy sự phân biệt thanh tịnh – ô uế và yêu – ghét để xử sự tiếp vật. Như vậy thì làm sao có thể đắc đạo ?”.

Người ta nói :

Yêu-Ghét, Phải-Trái, Được-Mất, Sạch-Bẩn … đó đều lấy Tâm phân biệt mà nhận thức thế giới. Thiền gia cho rằng Đạo chân chính thì không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không ở sạch, không ở bẩn. Cho nên lòng phân biệt yêu-ghét, chối-nhận của Văn Đạo bị cho là Không Có Đạo Tâm.


(Theo ChanGushi) 
     
38  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:32:13 PM
Giẫy cỏ chém Rắn

--------------------------------------------------------------------------------

Có một học tăng mộ danh thiền sư Trí Thường, bèn tìm đến đạo tràng của sư tham bái.

Khi ấy sư đang giẫy cỏ, chợt trong cỏ rậm có một con rắn chạy ra, sư liền giơ cuốc giết. Vị học tăng nọ thấy vậy rất ngạc nhiên, bèn nói :

– Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ đạo phong từ bi của ngài, nhưng đến đây, chỉ thấy một tục nhân thô lỗ mà thôi.

Thiền sư Trí Thường nói :

– Như lời ông nói vậy thì ông thô tục, hay tôi thô tục ?

Vị học tăng vẫn không vui, hỏi lại :

– Cái gì là thô tục ?

Thiền sư giơ lưỡi cuốc lên, làm động tác chém rắn.

Vị học tăng không hiểu ẩn ý của thiền sư, nói :

– Điều huyền vi mà ngài nói, người ta không thể hiểu rõ !

Sư Trí Thường hỏi vặn lại :

– Nếu không dựa vào cách nói huyền vi như vậy, xin hỏi ông nhìn thấy tôi chém rắn bao giờ ?

Vị học tăng không khách khí nói luôn :

– Mới vừa đó thôi !

Thiền sư Trí Thường nghiêm giọng tiếp :

– Ông “mới vừa” không thấy được mình, sao lại thấy chuyện chém rắn làm gì ?
Cuối cùng vị học tăng mới tỉnh ngộ

Người ta nói :

Trong Phật môn, sát tinh là một trong những đại giới (điều cấm) mà lịch sử Thiền Tông từng có chuyện thiền sư Nam Tuyền chém mèo. Nhưng hành động bất ưng của sư Nam Tuyền là đại cơ đại dụng của cổ Phật, không thể lý giải chuyện giết mèo theo nghĩa hẹp thông thường mà nhạo báng đại đức của ông. Đó là việc lấy thủ làm thế, chém đứt vật dục và chấp trước của thường nhân để điểm hóa cho các để tử của ông.

Chuyện sư Trí Thường chém rằn cũng tương tự như vậy, nhưng vị học tăng thấy gió ngỡ mưa, cho nên mới cho rằng thiền sư Trí Thường không có lòng từ bi. Thực chất đó là hành động điểm ngộ cho vị học tăng :Không nên câu chấp vào những điều thấy, nghe và cảm giác thông thường. Thiền là phải đọan trừ thường tình, thường thức; tại sao cứ phải phân biệt chấp trước ngọai cảnh mà không nhìn lại chính mình ?


(Theo Chan Gushi)
     
39  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:31:41 PM
Nhặt Từng Chiếc Lá


--------------------------------------------------------------------------------

Thiền sư Đỉnh Châu cùng một sa di đi ngang qua sân chùa. Bỗng một cơn gió ào tới, lá trên cây rụng xuống ào ào. Sư cúi xuống nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong túi. Sa di thấy vậy bèn hỏi : “ Thiền sư không phải nhặt đâu, mỗi buổi sáng chúng ta đều sẽ quét dọn mà !”

Sư Đỉnh Châu điềm nhiên “ Không thể nói vậy được, chẳng lẽ quét dọn thì chắc sạch hết được sao ? Ta năng nhặt từng chiếc thế này, sẽ khiến cho mặt đất thêm sạch sẽ “

Sa di : “ Nhưng lá rụng nhiều như vậy, ông nhặt đằng trước, nó lại rụng đằng sau, vậy nhặt bao giờ cho hết “

Đỉnh Châu : “Lá không chỉ rụng trên mặt đất mà lá còn rụng trong tâm chúng ta. Ta nhặt lá rụng trong lòng ta hẳn có lúc sẽ sạch”

Ngày xưa, khi Phật Đà còn tại thế, có một đệ tử tên là Chu Lợi Bàn Đà Gia rất đần độn. Anh ta đọc một bài kệ được câu sau thì đã quên câu trước. Phật hỏi biết làm gì, anh ta nói biết quét sân. Phật bèn bảo anh ta khi quét sân hãy niệm câu “Phất trần tảo cấu” (quét bụi quét bặm) . Anh ta làm theo như vậy, một thời gian lâu và nghĩ bụng : Bụi bẩn bên ngòai thì dùng chổi mà quét, vậy còn bụi bẩn trong lòng thì phải dùng cái gì mà quét ?

Nghĩ được như vậy, là Chu Lợi Bàn Đà Gia đã bắt đầu trở nên thông minh rồi vậy.

Người ta nói : Thiền Sư Đỉnh Châu nhặt lá rụng chính là nhặt những vọng tưởng và phiền não trong tâm. Khắp sông núi bao la có biết bao nhiêu là lá rụng, làm sao có thể nhặt hết ? Nhưng lá rụng trong tâm thì nhặt được một chiếc lá, là bớt đi một chiếc. Chỉ cần Thiền giả an tâm thì lập tức thấy tất cả đại thiên thế giới. Và chỉ cần tâm an tĩnh thì ai ai cũng có thể nhặt hết được những chiếc lá rụng trong lòng mình.

(Theo Chan Gushi)
40  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / BÁCH NIÊN NHẤT MỘNG. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:30:58 PM
Thiền sư Đàm Dĩnh ở Kim Sơn vốn người vùng Chiết Giang, họ Khâu, hiệu là Đạt Quan. Năm 13 tuổi, ông xuất gia quy y ở chùa Long Hưng. Năm 18 tuổi, sư đến kinh đô, trú tại hoa viên nhà thái úy Lý Đoan Nguyện.

Một hôm Lý thái úy hỏi sư rằng :” Người ta thường nói tới địa ngục, vậy rốt cuộc nó có tồn tại hay chăng?”

Sư đàm Dĩnh đáp : “ Chư Phật Như Lai thuyết pháp, trong không mà lại có , như mắt thấy quầng sáng trong không trung, vậy tuy có mà lại không . Bây giờ thái úy đang ở trong hiện hữu (hữu) mà muốn tìm kiếm cái không hiện hữu (vô) , cũng như đưa tay vốc nước sông, là trong không mà có , điều đó quả là đáng buồn cười vậy. Ví như người trước mắt chỉ thấy lao tù thì trong lòng sao có thể thấy được thiên đường ? Vui vẻ hay lo âu đều nơi tâm, mà thiên đường hay địa ngục cũng ở giữa nhất niệm (suy nghĩ), thiện hay ác cũng đều sinh ra từ đó. Nhưng nếu thái úy đọan trừ (liễu) được tự tâm ấy, thì tự nhiên sẽ không còn nghi hoặc gì nữa “

Thái úy : “ Vậy như thế nào mới gọi là liễu tâm ?”

Sư : “ Đừng suy nghĩ đắn đo về thiện – ác “

Thái úy : “ Nếu không suy nghĩ đắn đo về thiện – ác, thì tâm biết nương tựa vào đâu ? “

Sư : “ Tâm không nương tựa vào nơi nào cả, như kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm “.

Thái úy : “ Vậy khi chết, người ta về đâu “

Sư : “ Chưa biết sinh, sao có thể biết tử “

Thái úy : “ Sinh thì tôi đã biết từ lâu rồi “

Sư : “ Vậy xin hỏi ngài : Sinh tử đâu tới ? ”

Khi thái úy còn đang trầm ngâm, thì sư Đàm Dĩnh thoi vào ngực mà nói : “ Chỉ tại suy nghĩ đắn đo ở đây (tâm) chứ còn gì nữa ? “

Thái úy : “ Hiểu rồi, chỉ mải mê muội mà không hay đã lầm đường lạc lối, phí thời gian “

Sư : “ Cuộc đời như là một giấc mộng (Bách niên nhất mộng)

Thái úy tỉnh ngộ, liền ngâm rằng :


Ba mươi tám tuổi
Mơ màng chẳng hiểu chi
Đến khi hiểu biết
Cũng nào khác vô tri
Nước sông cuồn cuộn chảy
Âm ỉ theo sườn đê,
Ngày nào sự khuất bóng
Như biển đông sóng về “


Người ta nói : “ Sinh từ đâu tới ? Tử đi về đâu ?

Đây là một vấn đề mà con người thường nghĩ tới, thậm chí đã trở thành đề tài nghiên cứu tìm tòi của nhiều người. Nhưng chưa ai có lời giải đáp thỏa mãn. Phật Thích Ca và các thiền sư xưa đã đưa ra nguyên lý, nhưng lại không giải thích cặn kẽ cho thường nhân thấu triệt. Thành ra căn nguyên của sinh mệnh từ ngàn xưa đến nay vẫn là vấn đề luôn được nhiều người quan tâm tranh luận. Kỳ thực, hình tướng của sinh mệnh tuy có thiên sai vạn biệt, song lý tình của sinh mệnh là : ” Tất cả đều bình đẳng ” . Nếu có thể hiểu rõ được các nghĩa lý của Phật giáo như duyên khởi tính không, tam pháp ấn, nghiệp thức và nhân qủa, thì vấn đề : Sinh từ đâu tới ? Chết về đâu ? không hỏi cũng có thể biết được vậy.


(Theo Chan Gushi – Trích trong Tạp chí Kiến thức ngày nay số 618)
41  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / HỌC VẤN NGƯỜI QUÂN TỬ. vào lúc: Tháng Mười Một 11, 2008, 07:28:38 PM
Quan niệm Nho giáo xưa chia con người ta thành hai hạng chính là quân tử và tiểu nhân. Để cho mọi cá nhân hoàn mỹ, nền văn hoá cổ đưa ra hàng loạt khái niệm quan trọng: nhân, đức, lễ, hiếu, nghĩa nhằm ràng buộc, chế ngự hành vi con người, mong muốn con người nhanh chóng được hoàn thiện.

Cần phải hiểu rõ các danh từ riêng quân tử và tiểu nhân thì mới biết xã hội xưa đã đề cao nhân cách cao đẹp trong cuộc sống biểu hiện qua tư duy biểu đạt, giáo dục và hành vi của bậc chính nhân quân tử. Con người ta đi trên đường đời cũng giống như người lữ khách nhìn thấy trước mặt rất nhiều lối rẽ phải lựa chọn. Nếu đi đường thẳng quang minh thì sẽ đến đích suôn sẻ, nếu đi đường cong queo sẽ lạc bước sa chân, vì thế người quân tử bao giờ cũng xác định chọn đường thẳng, còn kẻ tiểu nhân toàn chọn những đường gấp khúc ngoắt ngoéo. Hai danh từ chủ yếu trong các sách vở, ngôn từ, sinh hoạt cổ này thoạt đầu chỉ đề cập đến địa vị trong xã hội, về sau mở rộng nghĩa ra thành người quân tử luôn đàng hoàng, phẩm cách cao thượng. hiên ngang chính đại, vì nghĩa quên thân, kẻ tiểu nhân chí khí bạc nhược, hèn hạ cúi luồn, hám lợi bỏ nghĩa. Ngay cả trong những người có văn hoá giáo dục, cũng vẫn chia làm hai loại là nho quân tử và nho tiểu nhân Nho quân tử là người học và làm theo đạo thánh hiền, lo tư thân sửa mình để hoàn thiện nhân cách chứ không nghĩ học lấy bằng cấp chỉ cốt lấy nghề kiếm ăn. Người quân tử làm việc dựa vào sức mình là chính, làm sai điều gì trước hết phải tự trách mình rồi sửa mình, khi thấy việc thiện thì phải cố làm cho được thấy điều ác thì phải sợ hãi tránh xa. Muốn học làm quân tử cần phải thành thực, không bao giờ tự lừa dối mình mà làm hại sự hiểu biết của chính bản thân và biết giữ chất phác trong nội dung và văn hoá ngoài hình thức.

Đối với một người nhân nghĩa trung chính thì học vấn là điều tối quan trọng. Người quân tử bao giờ cũng muốn có đức' nhưng phải có học thì cái đức mới có giá trị bởi nhân, trí tín trực dũng, cương đều là đức tốt cơ bản để tư thân, nhưng nếu chỉ muốn đức mà không muốn học để hiểu lý lẽ hay dở, đúng sai thì rất sai lầm. Muốn nhân lại bị tình cảm chi phối, che mờ đi thành ra ngu tối. Muốn trí lại bị ham muốn phân tâm thành mông lung. Muốn tín lại cố chấp hẹp hòi đâm ra ích kỷ. Muốn trực lại bị nóng nảy khống chế đâm ra ngang ngạnh. Muốn dũng lại không kiềm chế được thành ra bạo loạn. Muốn cương nhưng cố bảo thủ kiểu gàn dở đâm ra ngông cuồng... hậu quả của việc có đức nhưng không có học vấn là vậy. Sự học cũng như việc trồng lúa, có cây lúa mọc lên không tốt, có cây mọc tốt lại không có hạt. Người đi học thì có người học mãi vẫn không giỏi, có người giỏi thì đức lại không ra gì, vì thế mà con người ta cần giáo dục bồi đắp, tu dưỡng đạt được cả tài và đức. Người đi học thì phải say mê thì mới mong tiến bộ, nhất là đừng vội đặt ra mục đích cầu danh, kiếm lợi thì kiến thức mới sâu sắc, chắc chắn.

Người quân tử phải chuyên tâm nghiên cứu mọi diều hay, điều tết trên lý thuyết và trong thực tế cuộc sống chứ không phải học vẹt, khoe mồm chỉ biết nghe qua tai rồi nói ra miệng lấy mẽ thì học kiểu gì cũng vô bổ. Khổng tử còn cho rằng: "Người quân tử có ba điều lo nghĩ không thể không xét đến. Trẻ mà không học thì khi lớn lên không có tài năng gì. Già mà không chỉ dạy người, khi chết rồi không ai tưởng nghĩ đến mình. Khi giàu có mà không đem của giúp người thì lúc cùng quẫn không ai giúp mình. Cho nên người quân tử lúc trẻ nghĩ đến tuổi già mà lo học, lúc già nghĩ đến cái chết mà lo dạy người, lúc thịnh nghĩ đến lúc suy mà lo giúp người". Sách Đại học xưa cũng dạy rằng: từ vua đến dân ai cũng phải lây tự sửa mình làm gốc vì kết quả học vấn là biểu hiện rõ nhất của phép tu thân. Muốn hoàn thiện mình, quan trọng nhất phải giữ được tâm và ý. Giữ được tâm cho chính tức là không bị chi phối và điều khiển của tức giận, sợ hãi, vui say. Còn khi tâm đã loạn thì mắt trông không thấy, tai nghe không hiểu, mồm ăn không biết mùi vị. Giữ được ý cho thành nghĩa là không bao giờ tự lừa dối mình, đối với mọi việc đều thành thực như như ghét mùi thối, yêu sắc đẹp. Nho giáo lấy thành ý là chìa khóa của phép tư thân. Khi đã biết cách sửa được mình thì biểu hiện đầu tiên là không làm điều gì bất thường, trái đạo, không dùng lời nói khéo mà hại đạo đức, không nóng nảy làm bậy, không bo bo tính lấy lợi ích của riêng mình, tuy ai cũng muốn có phẩm giá nhưng không được dựa trên danh lợi phi nghĩa. Đã là người quân tử thì không bao giờ thấy điều lợi mà bỏ việc nghĩa, nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quý thì đành chịu bần tiện còn hơn. Sách Luận ngữ nhận xét: "Quân tử lo nghĩ giữ đức hạnh, tiểu nhân chỉ nghĩ đến địa vị mình. Quân tử nghĩ sợ pháp luật, tiểu nhân chỉ nghĩ đến sự lợi lộc. Quân tử có tính cách trung hoà mà không a dua bè phái, tiểu nhân thích a dua bè phái mà không có tính dung hoà". Vì vậy mà trong mọi hoàn cảnh, người quân tử đều tím thấy niềm vui kể cả khi ăn gạo hẩm, uống nước lã, nằm đất. Ngoài ra, người quân tử có học vấn thật sự còn biết tuỳ vị trí và cảnh ngộ của bản thân để ứng xử cho đúng. Phú quý thì hành lễ theo cách phú quý, bần tiện thì hành xử theo cảnh bần tiện, gặp người hoang dã thì đối xử theo cách hoang dã, khi lâm nạn thì hành động theo cảnh ngộ hoạn nạn. Trong mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện đểu biết cách ứng xử cho thích hợp, đó là thành quả của học vấn, hiểu biết, giáo dục trong đối nhân xử thế của người quân tử, như Mạnh tử đã nói: “Người quân tử lấy đức nhân làm nhà ở, lấy đức nghĩa làm đường đi, lấy lễ làm cửa. Chỉ có mỗi người quân tử mới có thể đi đường ấy, ra vào cửa ấy mà thôi".

Đỗ Hoàng Linh
Tạp chí Hà Nội ngàn năm

   
42  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Hỏi về các bậc ĐẠO SƯ ĐẠI THỦ ẤN. vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2008, 09:59:06 AM
Mong các hành giả Mật tông nào giới thiệu thêm về đề tài này.
Túc bái.
43  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Chuyện Ma Quỷ / Re: Series chuyện tâm linh ma quái sưu tầm. vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2008, 09:53:20 AM
Cô gái áo trắng

Tôi là người rất lỳ lợm, rất thích nghe chuyện ma và tôi củng rất muốn có một lần gặP ma để biết ma là thế nào ,và sự mong muốn của tôi đã trờ thành hiện thực . quê tôi ở một vùng quê nhỏ bé và hẻo lánh ở bình thuận , vùng đườc mệnh danh là vùng đất của thế giới bên kia , là nơi thường xuyên xảy ra sự gặp gỡ của những thành viên giữa hai thế giới. tôi là người sống ở đó từ nhỏ nên ma quỷ củng củng không có gì đáng sợ đối với tôi. Tôi đã được nghe mấy đứa bạn cùng trang lứa kể về sự gặp gỡ của chúng với người từ thế giới bên kia , không biết tụi nó có phô trương không mà tôi nghe rất khủng khiếp nên tôi không mấy gì tin vào lời bọn chúng. rồi vào một đêm nọ khi tôi và nhóm bạn đi chơi về lúc đó khoảng 11h30 tối , chúng tôi vẫn chưa chịu về nhà ngủ ,vì là nghỉ hè nên chúng tôi được đi chơi thoả thích. Tôi và tụi nó ngồi tại một ngã ba đường nơi mà thường sảy ra những vụ tai nạn giao thông khóc liệt , có những vụ tai nạn giao thông làm chết đến 5 , 6 người và mùi tanh của máu đến cả một hai tuần sau mới hết. Tụi tôi ngồi nói chuyện một lúc thì có mấy đứa cảm thấy buồn ngủ và bỏ về, đến khoảng 12h15 thì chỉ còn lại tôi và một đứa bạn khác nó tên là Thân nó củng là một thằng lỳ lợm không kém gì tôi, nhà nó ở sát nhà tôi nên tôi và nó rất thân nhau và đi đâu chơi thì chúng tôi vẫn đi với nhau. Lúc đó tôi và nó ngồi nói chuyện về mấy nhỏ con gái mà chúng tôi sẽ định cua , đang nói chuyện thì tôi cảm thấy như có ai đang lắng nghe chúng tôi , và cảm thấy lành lạnh mà lúc đó là mùa hè trời đất rất nóng nên tôi hỏi thằng Thân , Ê ! mày có nghe lạnh không ? Củng nghe hơi lạnh_ thằng Thân trả lời. nó lại hỏi tôi Có lúc nào chúng mình gặp ma không? mới nghe câu hỏi của nó tôi cảm thấy hơi sợ , nhưng tôi chưa bao giờ gặp ma nên tôi củng muốn gặp một lần cho biết. nhưng sao lại lúc này chứ? Nhưng rồi thì tôi và nó củng quên chuyện ma quỷ đi ,vì chúng tôi đang rất tập trung vào chuyện những đứa con gái xóm trên. rồi từ xa tôi thấy một nhóm người đi tới độ ba bốn người gì đó , tôi nói với thằng Thân mấy đứa nào sao chịu khó đi chơi nhỉ? Khuya vậy rồi thì con chơi với ai? Đâu _nó hỏi. tôi nói đằng kia kìa, nói nhìn lại nhưng nó nói có thấy gì đâu. Nó hỏi tôi ,mày buồn ngủ hả? không tụi nó đang đi tới chổ mình kìa. Nó quay lại nhìn và bây giờ thì nó củng thấy , Ê mấy nhỏ nào mà dám đi chơi về khuya vậy mày?_ thằng Thân hỏi tôi. Tôi nói , sao tao biết được nó tới đây thì biết là ai mà. Lúc đó mấy người đó cách chúng tôi cở vài chục mét, nhưng sao mấy người đó không đi nữa mà dừng lại. Thân nói với tôi tới chổ họ xem ai mày, ừh ! . tôi và nó đi tới gần chổ đó thì không thấy ai nữa, tôi hỏi nó có phải ma không mày? ừh chắc vậy_Thân trả lời. tôi và thân quay mặt lại thì thấy mấy người đó đang đi ở chổ mình ngồi hồi nảy, tôi nói họ kìa mình đi theo họ xem sao. Tôi và Thân đi nhanh đến chổ bọn họ nhưng không thể nào đuổi kịp họ, đi được một khoảng đến một cánh đồng nhỏ thì bọn họ chỉ còn một người, lúc đó tôi và Thân chạy nhanh đến chổ đó thì người đó dừng lại và nói không được đến đây. Tôi và Thân đứng ngay sau lưng người ấy , tôi đã kịp nhận ra người đó thật đáng sợ, nếu một mình tôi chắc tôi chết mất. người đó mặc một chiếc dài áo trắng , mái tóc đen mượt và dài đến lưng quần, đi hổng mặt đất khoảng 30cm… tôi không thể nhìn thấy mặt người đó, vì người đó chắc chưa sẳn sàng cho chúng tôi thấy mặt . sau khi nghe câu hỏi của người con gái đó tôi hỏi lại tại sao? Vì các người không thể vào nhà chúng tôi được , nhà tôi ở xa lắm các ngươi đừng đi theo nữa. lúc đó người tôi run lập cập , tôi không dám nói gì thêm nữa, lúc đó thằng Thân hỏi nhà cô ở đâu mà xa? Nhà tôi ở trong kia kìa , hai đứa tôi nhìn theo tay của người con gái đó, thì ra đó chính là những ngôi mộ mà cây cối đã che phủ um tùm. Sao cô lại ra đây? Tôi hỏi . chúng tôi đi kiếm thức ăn cho mẹ tôi đang bị bệnh ở nhà. cô gái nói :tôi phải về rồi ngày mai các người có thể vào nhà tôi chơi , nói song thì một làn gió nhẹ bay qua cô gái củng biến mất.
Tôi và thằng Thân quay về, đến nhà mà tôi vẫn còn sợ. sáng mai tôi gặp Thân và hỏi: mày dám vào nhứng ngôi mộ kia không? sợ gì mà không vaò. tối nay chúng mình vào nha_thân nói với tôi. Tôi gật đầu. đến tối nhóm bạn tụi tôi đi chơi về thì tôi với thằng Thân vào nhà lấy mấy cây nhang và ít trái cây mà chúng tôi đã chuẩn bị sẳn. tôi và nó đi đến chổ gặp người con gái ngày hôm qua thì có một làn gió lạnh thổi qua, tự dưng tôi rất sợ và cảm thấy hình như có ai đi theo chúng tôi. Thằng Thân củng cảm thấy vậy, nó liền nói :có phải cô ra đón chúng tôi không? Không thấy gì, đi được một khoảng tì nó hỏi lại. lần này sau khi vừa dứt lời thì trước mặt hiện ra một bóng trắng dẫn đường cho chúng tôi. Chúng tôi cứ theo bóng trắng đó đi đến chổ một ngôi mộ nhỏ, thì bóng trắng đó lại biến mất. tôi nghỉ đây chắc là mộ của cô gái đó nên chúng tôi đằt trái cây ra và thắp nhang tôi củng không quên thắp cho những ngôi mộ gần đó. Sau khi thắp song tôi và Thân định về thì cô gái đó lại hiện ra ngồi một bên ngôi mộ , chúng tôi làm liều ngồi suống đất nhưng cách cô ấy khoảng 6m hay 7m .nhưng tôi có thể thấy rõ đó là một cô gái rất thuỳ mị, và củng dễ nhìn …không như những con ma mà tôi được nghe kể. một lúc sau thằng Thân hỏi: nhà cô ở đây àh? Cô gái gật đầu, nó hỏi tiếp: sao cô lại ở đây? người ta cho tôi ở đây thì tôi ở đây, cô gái noi tiếp :nhà tôi ở một nơi rất xa đây, tôi và mẹ tôi và em gái tôi vào đây để sinh sống , nhưng chúng tôi lại không thể về nhà được , vì năm ngoái một người đã buộc chúng tôi ở đây . nói đến đó thì tôi nhớ lại ngày 23/6 năm trước ở đây xảy ra một vụ tai nạn giao thông làm chết 7 người và nhiều người phải đi cấp cứu , đó là vụ tai nạn lớn nhất trong năm , vì một nguyên nhân nhỏ đó là chiếc xe tải chở gạch ngói đang đi trên đường bổng nhiên nổ lốp và đâm sầm vào chiếc xê khách chạy đối diện làm hai tài xế và 3 người khách đều chết tại chổ và nhiều người đi cấp cứu , trên đường đi lại có hai người nữa chết .không biết vì số mệnh hay sao mà 3 mẹ con người con gái đều nằm lại ở đây, những cuộc điện tín bắt đầu gọi khắp nơi để tìm thân nhân , nhưng không thể nào tìm thấy thân nhân của 3 người này nên buộc lòng chính quyền phải chôn ở đây. Cô gái nói tiếp lúc đó tôi chỉ mới 19 tuổi em gái tôi 17 tuổi, vậy em gái cô đâu ?_tôi hỏi . kia là em gái tôi , và mẹ tôi chúng tôi ở đây không có gì để ăn nên mẹ tôi bị bệnh , tôi và em gái tôi phải đi kiếm thức ăn cho mẹ tôi , tôi nói với người con gái đó : cô yên tâm chúng tôi sẽ chăm sóc cho mẹ con cô, chúng tôi sẽ làm bất cứ gì cho mẹ con cô nếu chúng tôi có thể . một lời cảm ơn từ người con gái đó, rồi chúng tôi im lặng một hồi thì người con gái đó nói hai người hãy về đi , tôi rất cám ơn hai người đã vào thăm chúng tôi …nói song cô gái biến mất sau một làn gió nhẹ. Lúc đó đã gần 2h sáng rồi, tôi và thằng Thân ra về. về đến nhà lên giường ngủ mà tôi vẫn còn suy nghỉ tại sao lại có bi kịch như vậy trên đời chứ, và tôi rút ra được một điều là không phải ma quỷ là đáng sợ hoàn toàn , và con người củng vậy có kẻ xấu người tốt… rồi tôi chìm vào giấc ngủ. sáng hôm sau 8h30 tôi mới thức dậy đang ăn sáng thì thằng Thân sang va đem theo cây cuốc, nó nói sẽ đi vào những ngôi mộ kia làm vệ sinh ,sau khi ăn sáng song hai chúng tôi đem theo ít nhang rồi vào làm cỏ cho những ngôi mộ đó từ đó chúng tôi không bao giò gặp lại cô gái kia nữa.và cứ mỗt năm cứ vào ngày 23/6 thì chúng tôi lại đem trái cây nhang đèn vào thắp và làm cỏ cho những ngôi mộ đó. Cho đến nay chúng tôi vẫn thường xuyên vào làm vệ sinh những ngôi mộ đó, tôi đã là một sinh viên đang học ở tphcm nhưng mỗi lần về quê thì tôi cùng ban bè vào thăm những ngôi mộ đó. Sau hai tháng tôi không về quê, bây giờ về lại thì tôi nghe bạn tôi nói trong một dự án của nhà nước đã dời những ngôi mộ đó vào nghĩa trang, nhưng chúng tôi không biết là nghĩa trang nào nên chúng tôi không thể viếng thăm được, và tôi nghỉ bây giờ họ chắc củng được an nghỉ ở một nơi tốt rồi , củng không cần đến chúng tôi nữa. và từ đó đến nay tôi không bao giờ gặp lại cô gái ma đó nữa. đó là một kỷ niệm lần đầu tiên gặp ma của tôi, đến nay thì tôi củng không gặp ma lần nào nữa, chắc là để tồn tại trong đầu tôi một điều là ma củng như nguời có kẻ xấu kẻ tốt. nhưng tôi vẫn muốn gặp ma để tìm hiểu thêm về thế giới bên kia nữa . bạn có muốn như vậy không?...................... HẾT!
44  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Chuyện Ma Quỷ / Re: Series chuyện tâm linh ma quái sưu tầm. vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2008, 09:52:52 AM
Ma Đói

Tôi tốt nghiệp trường Sỹ Quan CTCT Đà Lạt vào đầu mùa Thu 73 với cấp bậc Thiếu Úy! Được cử về đại đội 23 CTCT thuộc sư đoàn 23 BB. Trang trại của đại đội nằm sau lưng Tiểu Khu Đắc Lắc và kế bên một nghĩa trang Quân Đội! Bên kia đường, đối diện với nghĩa trang là một xóm nhà dân thuộc khu Trần Hưng Đạo! Trại tôi gồm có 3 dãy nhà dài dùng làm văn phòng và kho chứa các tài liệu! Chúng tạo hình chữ U với đáy dựa về hướng nghĩa trang! Ở dãy nhà này có một gian được ngăn làm hai buồng cho các sỹ quan độc thân ở hoặc sỹ quan trực ngủ qua đêm! Cuối dãy là một nhà bếp nhỏ dùng để phục vụ cho các sỹ quan và hạ sỹ quan độc thân của đại đội!

Tôi là sỹ quan độc thân duy nhất trong đơn vị nên chiếm một căn phòng cho mình. Cơm nước đã có nhà bếp lo; quần áo thì cuối tuần đưa ra tiệm giặt ủi thế là xong! Cuối tuần tôi hay lang thang ra phố uống cà fê, rồi ghé vào rạp Thăng Long xem chiếu bóng! Thành phố Ban Mê Thuột (BMT) nhỏ lắm, đi vòng vòng chừng nửa tiếng là lại về chổ khởi hành rồi! Có năm rạp hát cả thảy, nhưng tôi thích xem ở rạp Thăng Long vì ở đó chiếu phim của Mỹ hay Pháp, còn các rạp khác chỉ toàn phim kiếm hiệp Hồng Kông mà tôi chúa ghét! Thỉnh thoảng có ngày nghỉ, tôi thường đến ngồi dầm tại quán cà fê "Mây Hồng" bên hông trường trung học Tổng Hợp BMT để ngắm các tà áo dài xanh của các cô nữ sinh sau giờ tan trường!

Tuy BMT và Pleiku cách xa nhau hơn trăm cây số, nhưng hai thành phố gần giống như nhau, cũng bé như nhau, có sương mù, có gió lành lạnh! Tôi thấy bài hát của Phạm Duy về em gái Pleiku má đỏ môi hồng cũng có thể áp dụng cho cái xứ "Buồn Muôn Thủa" này!

Mấy ngày đầu mới về đơn vị, tôi phải lo các thủ tục giấy tờ, lo dọn dẹp chổ ăn chổ ngủ, rồi lại phải nhậu mấy chầu với các sỹ quan đàn anh trong đơn vị ! Tôi mệt nhoài người nên đêm về ngủ như chết! Tuần sau mọi việc đã đâu vào đấy rồi thì những sự việc lạ bắt đầu xảy ra, gây cho tôi sự chú ý! Vào nửa đêm 30, trời tối đen! Gió thổi thì thào mang theo cái lạnh cao nguyên xuyên qua các kẻ hở của vách ván vào tận trong phòng! Tôi co rúm người trong chiếc chăn nhà binh! Bổng tai tôi nghe tiếng reo hò, tiếng đánh nhau hòa lẫn cùng với tiếng gió phía sau dãy nhà! Tôi tự nghĩ sao ai lại đánh chửi nhau vào giờ này kìa! Tôi hiếu kỳ mở cửa bước ra xem! Ngoài trời vắng lặng, chỉ có tiếng côn trùng rả rích và ánh sáng của mấy con đom đóm lập lòe đó đây! Tôi bước tới vọng gác trước cổng hỏi người lính canh:

_ Anh có nghe thấy gì không?
_ Không! Không có gì xảy ra cả !


Tôi trở về phòng tự trấn an, có lẽ mình tưởng tượng ra mà thôi! Rồi như các chàng thanh niên trẻ khác tôi lăn ra ngủ say cho tới tiếng kẻng báo thức nổi lên với lăn xuống giường chuẩn bị cho một ngày làm việc mới! Ddêm sau, tiếng con cú mèo (có nơi gọi là chim heo) kêu éc éc trong nghĩa trang sau nhà làm tôi thức giấc! Và tôi lại nghe tiếng hò hét, tiếng chửi nhau, rồi tiếng đánh nhau vang dội sau nhà ! Tôi lần xuống giường, ghé mắt vào kẻ hở trên vách nhìn về hướng nghĩa địa, chẳng có ai cả ! Tiếng động cũng im bặt ! Chỉ có một con cú mèo đậu trên đỉnh của cái tháp "Tổ Quốc Ghi Ơn", và mấy con đom đóm bay vờn vờn trên các ngọn cỏ bông lau mọc ven rào của nghĩa trang!
Tôi không nghĩ là mình nghe lầm hay tưởng tượng ra! Lần này là lần thứ hai tôi nghe mà! Tôi đợi một lát nhưng chẳng có gì xảy ra nữa!
Trở về giường tôi trằn trọc nghĩ về điều này và tự nhủ là nhất định phải tìm hiểu sự việc này!


Sáng hôm sau tôi hỏi một sỹ quan trong đại đội về việc này, anh ta hơi biến sắc nhưng cố đổi giọng nói:

_ Làm gì có chuyện đó!

Xong anh ta quay qua chuyện khác! điều đó chỉ làm cho tôi thêm nghi ngờ mà thôi! Tôi hỏi một vài người lính họ cũng ởm ờ và lảng qua chuyện khác!
Hình như mọi người cố tránh nói về sự kiện này! Không thỏa mãn với bạn đồng ngũ, tôi quyết mang chuyện này đi hỏi những người dân quanh đây!
Cuối tuần đó khi mang quần áo bỏ giặt ủi, tôi bắt chuyện với bà chủ tiệm. Bà ta chừng khoảng 40, người Quảng nên giọng nói hơi khó nghe, nhưng tôi hiểu hết các điều bà nói! Khi nghe tôi hỏi về sự việc tôi trải qua hai đêm liền, bà ta trầm giọng trả lời:

_ Ông mới về nên không biết thôi, chứ ở đây ai cũng rành về mấy con ma ở chổ trại ông ở hết trơn! Mấy ông lính cũng biết rành hết chứ! Có lẽ mấy ổng không muốn ông hoang mang hay sợ nên họ giấu ông đó!!
_ Xin thím kể cho tôi nghe đi! Tôi không sợ đâu!
_ Ddược rồi nếu ông không sợ thì tui kể đầu đuôi cho ông nghe!

"Chuyện này bắt nguồn từ năm 68 lận! đêm 30 Tết năm đó VC đánh vào thị xã BMT, chúng tổng tấn công vào
hầu hết các căn cứ quân sự và hành chánh trong thị xã! Từ phi trường Phụng Dự đến bộ chỉ huy trung đoàn 45 tại cây số 5, cả đến bộ chỉ huy sư đoàn 23, luôn cả tiểu khu Đắc Lắc lẫn Tòa Hành Chánh tỉnh, và cả kho đạn Mai Hắc Đế nữa! Tuy hầu hết lính đã đi phép Tết, những người còn lại vẫn chiến đấu rất dũng cảm! Họ đẩy lùi mọi cuộc xung phong của VC vào các căn cứ của họ! Vài tuần sau khi tàn cuộc chiến, bọn VC để lại mấy ngàn xác chết quanh vòng rào các căn cứ quân sự Xác chết sình thúi rất ghê tởm! Lính công binh phải dùng xe ủi để đào các hố lớn làm mồ chôn tập thể cho các xác chết này! Tui biết vài chổ như một ở Trung Tâm Tình Thương, một ở trại Mai Hắc Đế, và một chổ ở cạnh bên nghĩa trang quân đội! Tui không biết mấy ông lớn nghĩ sao mà lại cho cất trại lính ngay trên cái mồ tập thể đó! Tui nói cái trại của ông đó, ông Thiếu Úy à!

Từ khi có ngôi mộ tập thể đó dân chúng sống dọc theo nghĩa địa bắt đầu bị quấy phá! Lúc đầu thì họ chưa biết gì hết! Thỉnh thoảng đêm đến có vài người ăn mặc rách rưới gỏ cửa xin cơm ăn, nhưng riết rồi người ta nghi ngờ vì toàn là người lạ mặt nói đặc tiếng Bắc không thôi! Họ nghi là ma nên không mở cửa cho ăn nữa! Nhưng rồi bọn ma đói đó làm tới! Không cho thì chúng quậy! Nhà nào còn cơm nước thừa qua đêm đều bị quậy thiu vữa hết! Bà con sợ mấy con ma này nên kẻ thì xin bùa về treo trước cửa, người thì lấy nước phép về rẩy khắp nhà trước khi đi ngủ! Bọn ma càng ngày càng lộng hành! Chúng kéo nhau nhát những người đi chơi khuya về! Riết rồi chẳng ai dám đi ngang nghĩa địa vào ban đêm nữa! Bà con mời thày cúng về nhờ mấy người lính chôn trong nghĩa trang quân đội gíup họ xua đi bọn ma đói kia! Từ đó bà con không còn bị phá nữa, nhưng những người nhẹ vía sống gần đó vẫn thường nghe tiếng la hét đánh nhau vào những đêm tối trời! Có lẽ hồn của các anh lính chận đánh bọn ma đói mò đi kiếm ăn! Một vài người trong trại ông cũng nghe tiếng la ó đó mà! Ddó là lý do mà không có ai chịu ở trong trại của ông hết, họ sợ nên mướn nhà riêng để ở hết trơn!"

Tôi về trại đem chuyện này nói lại với anh nhà bếp, anh ta ngập ngừng một chút rồi nói:

_ Chuyện này có thiệt đó Thiếu Úy ạ ! Ông mới về nên chúng tôi không dám nói sợ ông hoang mang!

Ngay cuối tuần đó tôi đi mướn một căn nhà nhỏ ở sau Ty Ngân Khố thuộc khu Trần Hưng Đạo, nhà cũng gần trại của tôi! Từ đó tôi chỉ ở lại trại vào những đêm trực mà thôi! Tuy thế âm thanh của những tiếng reo hò đó vẫn ám ảnh tôi cho đến ngày nay!!!!

45  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Chuyện Ma Quỷ / Re: Series chuyện tâm linh ma quái sưu tầm. vào lúc: Tháng Mười Một 10, 2008, 09:52:24 AM


Gửi vào: 8/18/2008 5:40:09 PM

KNTL - Chúng tôi cho trích giới thiệu bài báo “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA) đã đăng trong Giai phẩm Thời luận số Xuân Mậu Tý 2008. Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh con người, GS Tâm đã rất kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng: sự sống sau cái chết là có thực!


LINH HỒN VÀ CÕI ÂM
Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đàng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ.

Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết, nhưng hơi nhiều hơn mọi người.

Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Tôi đã được hiểu cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng... để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng và chán ngấy các loại sách viết huyên thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.

Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri: “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.

Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bấu víu.

Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5, 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời Việt Nam Cộng Hoà). Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời Việt Nam Cộng Hoà) do hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện...). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn gia đình tìm mộ. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá” của Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh chính trị và Bí thư Đảng uỷ Quân khu 1. Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim...

Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.

Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ?

* * * * *

Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ tôi đi cùng, lấy cớ đưa mẹ đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trước khi rời Hà Nội, mẹ con tôi ghé lại tiệm may áo dài. Tôi mang từ Mỹ về xấp vải nhung đỏ để may cho mẹ một áo dài mặc trong lễ Cửu Tuần Đại Thọ sắp tới.

Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành), không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy.

Khi đến nơi, hai anh em tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên: Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có vong tên... thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp tấp đi vào...

Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp các khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt sùi.

Tôi sốt ruột đi hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà mình về thì người ta gọi vào.

Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhạo tôi là hỏi thật ngớ ngẩn!

Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà ngồi trước cửa đứng lên nói to: “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngán cùng với vài ba chục người đứng dậy ra về.

Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).
Sáng hôm sau chúng tôi trở lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai anh em đang làm. Mẹ tôi dẫy nảy lên: “Đến chỗ ma quỷ! Tao không vào đâu!”. Chúng tôi lại phải đành mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày hôm trước.
Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng) mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi: “Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu?” (cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ: “Mợ ơi, Cậu về gọi mợ đấy!”. Mẹ tôi hốt hoảng đứng bật dậy chạy theo em tôi, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình.

Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rãi, trống rỗng. Ngoài cái bệ trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là tiền thưởng), thì không có bàn thờ hay trang trí gì khác của một cái am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dúa như các cô gái Hà Nội, mặt hoa da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông trên chục người. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé!”.

Thế cũng tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên ai thì giơ tay thưa: “Dạ, con đây (hay em đây, cháu đây...)”. Và người đó nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời: “Dạ, đúng vậy...” có vẻ cung kính lắm.
Có một chuyện cười ra nước mắt. Vong gọi: “Thằng Thanh đâu?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy: “Dạ, con đây!”. Vong nói: “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tịu với con Mai ở cùng cơ quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh (chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo nhau ra.

Bỗng cô Phương nhìn chằm chằm vào mẹ tôi rồi kêu to lên: “Mợ ơi! Con của Mợ đây! Thắng đây! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất lúc chưa đầy một tuổi.)
Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi! Con tôi... Nhưng con mất từ hồi mới... tám tháng...”.

Vong nói qua miệng cô Phương: “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mợ và hai anh đến, nhưng con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói: Mợ già yếu, còn anh Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về đây với con”.
Rồi quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói: “Hai anh chẳng nhớ gì đến em. Hai anh chỉ khấn Cậu thôi!”.

Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.

Quay trở lại mẹ tôi, cô Phương nói: “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Sao Mợ lại đặt tên con là Bùi Tất Thắng?”.
Mẹ tôi luống cuống: “Tại bố con đấy! Hồi đó Cụ Hồ mới về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nên bố con cao hứng, đã đặt tên con là Tất Thắng”. (Hồi đó cả nhà trách bố tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng. Tất còn có nghĩa là hết, tức là chết. Nên nó mới mất sớm. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết. Nhưng tôi có biết ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông biết con người ấy như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.)
Vong em tôi nói tiếp qua cô Phương: “Thôi, Mợ đã khắc tên con trên bia mộ rồi!”.
Đúng thế. Tên em tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa trang Bất Bạt.

Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương nắm tay mẹ tôi, rồi nói: “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà lắm...”. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ tôi: “Bà diện lắm! Mới đi may áo đỏ...”.
Trời ơi! Sao bố tôi biết nhanh thế? Trong gia đình tôi đã có ai biết chuyện may áo đỏ của mẹ tôi đâu! Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi Thanh Hoá ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ để may áo cho mẹ kịp mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm một câu đùa yêu tiếp: “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!”.

Mẹ tôi rên rỉ: “Cái gì ông cũng biết! Đúng rồi! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi răn reo quá, sợ thằng con trai cả của ông nó ngượng với bạn bè”. (Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay biết gì, thế mà bố tôi cũng biết!)”
Rồi cô Phương quay sang tôi: “Tâm ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi. Chuyện của nó mới xảy ra trước khi tôi về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được!)
Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương: “Tao là Bùi Văn Khanh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây!”.
Tôi vội thưa: “Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh” (cô Hai là chị ruột bố tôi.)

Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khanh, chứ không phải là Khánh”.
Rồi quay sang mắng mẹ tôi: “Chị về làm dâu nhà tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị chỉ về quê nội có một lần!”.
Mẹ tôi sợ hãi chống chế: “Gia đình con ở Hà Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh - Thanh Hoá, nên đi lại khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà”.
Cứ như thế trong 90 phút vui buồn, khóc lóc...

Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá. Đáng nhẽ về thẳng Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý báu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm hở muốn gặp cô Phương.

Cô Phương vui vẻ cho biết thêm: “Cụ ông lại vừa về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”.

Lại thêm một ngạc nhiên: Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào bố tôi cũng muốn mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình.
Ngày hôm đó là ngày trọng đại của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi Âm. Dù cho sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm đó vẫn không thể chối cãi được, nếu không nói là được tuyệt đối chấp nhận.

Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây rất khó khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại. Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng nào đó mà ta không biết, ta tạm gọi là “Linh hồn”, trong một thế giới nào đó mà ta cũng không biết, tạm gọi là “cõi Âm” (để phân biệt với cõi Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi chết” (“Life after deth”).

Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm 2005. Khi đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói nhỏ với tôi: “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi. Một cách bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh.
Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương - cô Bằng, cô Thao, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng.

Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng...

Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh... làm việc ở các cơ quan khác nhau. Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau: “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn nhủ từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn”.

VIỆT LINH Sưu tầm và giới thiệu
Trang: 1 2 [3] 4 5 ... 13
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.132 seconds với 20 câu truy vấn.