Tháng Năm 07, 2021, 03:56:20 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: 1 [2] 3 4 ... 13
16  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: NGẦM... vào lúc: Tháng Mười Hai 26, 2008, 10:42:47 AM
Mẹ điên



Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.
Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.
Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.
Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

*
* *
Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.
Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.
Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.
Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

*
* *

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?
Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.
Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!"
Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.
Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.
Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.
Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..."
Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!"
"A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!" Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!"
Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!". Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

*
* *

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.
Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra."
Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.

*
* *

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.
Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác.
27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.
Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..." Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

*
* *

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"

Vương Hằng Tích - Trung Quốc
17  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: Cuộc Sống vào lúc: Tháng Mười Hai 26, 2008, 10:28:20 AM
Có một đứa bé sắp chào đời. Nó bèn hỏi Thượng Đế:

- Họ nói ngày mai Người sẽ đưa con xuống trần gian, nhưng làm sao con sống nổi ở đó khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?




Thượng Đế đáp:

- Trong số những thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ đợi con và săn sóc con chu đáo.

Đứa bé lại nài nỉ:

- Nhưng này con không phải làm việc gì ngoài ca hát và vui cười hạnh phúc chứ?

Thượng Đế đáp:

- Thiên thần của con sẽ hát cho con nghe và cũng sẽ tươi cười với con mỗi ngày. Con sẽ cảm nhận được tình thương của người dành cho con và con sẽ thấy rất hạnh phúc.

Đứa bé lại hỏi:

- Và làm sao con có thể hiểu được khi họ nói chuyện với con bằng một ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?

Thượng Đế trả lời:

- Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những ngôn từ nhẹ nhàng và đẹp đẽ nhất mà con chưa từng được nghe, đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dạy con biết nói.

- Con nghe nói chốn trần gian lắm kẻ xấu xa. Ai sẽ bảo vệ con?

- Thiên thần của con sẽ hộ trì con ngay cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của Người.

- Nhưng con sẽ rất buồn vì không còn được nhìn thấy Ngài nữa.

- Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và dạy con cách thức quay về với Ta dù rằng Ta luôn cận kề con.

Vào giây phút đó, ở nơi thiên đường ngâp tràn an lạc nhưng người ta vẫn có thể nghe thấy những tiếng gọi vang vọng từ cõi thế, và đứa bé vội vàng hỏi Thượng Đế:

- Thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con.

- Tên của Người không quan trọng, con chỉ đơn giản gọi Người là "Mẹ".

EDMOND DE AMICIS.
18  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: Góc Phố Đời Người. vào lúc: Tháng Mười Hai 25, 2008, 03:26:20 PM
Kỳ 8 - Vào đại học bằng đôi chân của mẹ.


(Dân trí) - Buổi đón tân sinh viên nhập học tại ĐH KHXH&NV Hà Nội vào sáng 5/9 rất tất bật, nhưng ai cũng để ý đến hình ảnh cậu sinh viên bám lấy tay mẹ, nhấp nhểnh từng bước vào tận phòng làm thủ tục.

Đó là cậu tân sinh viên “đặc biệt” của khoa Thông tin Thư viện, Nguyễn Hà Hải và người mẹ, cô Nguyễn Thị Tâm quê ở thôn Chợ, xã An Bình, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh).

Kỳ tích của mẹ và con

Hải lớn lên chưa một lần nhìn thấy bố, với em lúc đó điều này chưa phải là thiếu hụt lớn nhất vì em đang thắc mắc tại sao mình không thể không thể tự bước như các bạn. Thấy mẹ lắc đầu rồi khóc, nên Hải không hỏi nữa. Lớn hơn một chút, em biết thêm một nỗi thiệt thòi: “Mình là đứa trẻ không có bố”.

Biết nỗi đau của mẹ, Hải tự an ủi mình: “Chỉ cần có mẹ là đủ rồi!”. Đến tuổi đến trường, Hải được đi học vì bà ngoại em nói: “Mình có thể ngồi một chỗ nhưng ít nhất cũng phải biết đọc”.
Lên cấp 3, trường học cách nhà gần 5 cây số, Hải xin nghỉ học nhưng mẹ em nhất quyết không chịu. Thế là hàng ngày, trên chiếc xe lăn, người mẹ đã có tuổi lại đẩy xe đưa con đến trường.

Cơ thể Hải bị teo nhỏ, trong lượng chỉ hơn 30kg nhưng với người phụ có sức khỏe kém như cô Tâm quả là một gánh nặng. Từ 6 giờ sáng, cô đã dậy đẩy con đến trường cho kịp giờ học, rồi ngồi chờ trước cổng trường hết giờ tan học. Có những ngày Hải học hai buổi, cô Tâm lại đẩy con đi về hai lần như thế.





Nhiều hôm, cô Tâm mệt rã rời nhưng hai tay vẫn bám chặt vào thành chiếc xe lăn không dám thả vì sợ mình sẽ mình sẽ gục ngã. Tối về cô mệt rã người nhưng vẫn phải gượng dậy để chuẩn bị nấu ăn cho con, rồi còn lo cho mấy con lợn và đàn gà. Biết mẹ không dám nghỉ kể cả khi mệt nên nhiều hôm Hải phải nói dối mẹ là mình mệt không đi học nhưng thật ra là để mẹ được nghỉ.


Hải chỉ đứng được vài phút, chẳng thể làm được việc gì giúp mẹ, em chỉ còn cách phải học thật giỏi. Không hài lòng với thành thích học sinh tiên tiến của mình vì em nghĩ đó là “món quà động viên” của thầy cô, nên em mới quyết định thi đại học để “thử sức”.
Thi đỗ vào trường ĐH KHXH&NV Hà Nội thừa một điểm, Hải mới tin rằng mình không hề kém cỏi. Em chia sẻ: “Trước khi đi thi em đã quyết tâm phải đỗ, em phải thi cho cả mẹ. Kết quả đó có sự hy sinh của mẹ nhiều hơn”.

Con ở đâu mẹ ở đấy
Thi đỗ nhưng Hải không nghĩ mình sẽ đi học, một lần nữa mẹ em lại vực con trai đứng dậy: “Mẹ còn đi được thì con còn có thể đến trường”. Thế rồi hai mẹ con khăn gói lên Hà Nội với đồng lương hưu của cô Tâm đúng một triệu đồng/tháng.





(Dân trí) - Buổi đón tân sinh viên nhập học tại ĐH KHXH&NV Hà Nội vào sáng 5/9 rất tất bật, nhưng ai cũng để ý đến hình ảnh cậu sinh viên bám lấy tay mẹ, nhấp nhểnh từng bước vào tận phòng làm thủ tục.



Tân sinh viên Nguyễn Hà Hải và mẹ trong ngày nhập trường.
Đó là cậu tân sinh viên “đặc biệt” của khoa Thông tin Thư viện, Nguyễn Hà Hải và người mẹ, cô Nguyễn Thị Tâm quê ở thôn Chợ, xã An Bình, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh).

Kỳ tích của mẹ và con

Hải lớn lên chưa một lần nhìn thấy bố, với em lúc đó điều này chưa phải là thiếu hụt lớn nhất vì em đang thắc mắc tại sao mình không thể không thể tự bước như các bạn. Thấy mẹ lắc đầu rồi khóc, nên Hải không hỏi nữa. Lớn hơn một chút, em biết thêm một nỗi thiệt thòi: “Mình là đứa trẻ không có bố”.

Biết nỗi đau của mẹ, Hải tự an ủi mình: “Chỉ cần có mẹ là đủ rồi!”. Đến tuổi đến trường, Hải được đi học vì bà ngoại em nói: “Mình có thể ngồi một chỗ nhưng ít nhất cũng phải biết đọc”.
Lên cấp 3, trường học cách nhà gần 5 cây số, Hải xin nghỉ học nhưng mẹ em nhất quyết không chịu. Thế là hàng ngày, trên chiếc xe lăn, người mẹ đã có tuổi lại đẩy xe đưa con đến trường.

Cơ thể Hải bị teo nhỏ, trong lượng chỉ hơn 30kg nhưng với người phụ có sức khỏe kém như cô Tâm quả là một gánh nặng. Từ 6 giờ sáng, cô đã dậy đẩy con đến trường cho kịp giờ học, rồi ngồi chờ trước cổng trường hết giờ tan học. Có những ngày Hải học hai buổi, cô Tâm lại đẩy con đi về hai lần như thế.




Số phận khắc nghiệt với hai mẹ con Hải, nhưng chưa một lần họ bỏ cuộc.


Nhiều hôm, cô Tâm mệt rã rời nhưng hai tay vẫn bám chặt vào thành chiếc xe lăn không dám thả vì sợ mình sẽ mình sẽ gục ngã. Tối về cô mệt rã người nhưng vẫn phải gượng dậy để chuẩn bị nấu ăn cho con, rồi còn lo cho mấy con lợn và đàn gà. Biết mẹ không dám nghỉ kể cả khi mệt nên nhiều hôm Hải phải nói dối mẹ là mình mệt không đi học nhưng thật ra là để mẹ được nghỉ.


Hải chỉ đứng được vài phút, chẳng thể làm được việc gì giúp mẹ, em chỉ còn cách phải học thật giỏi. Không hài lòng với thành thích học sinh tiên tiến của mình vì em nghĩ đó là “món quà động viên” của thầy cô, nên em mới quyết định thi đại học để “thử sức”.
Thi đỗ vào trường ĐH KHXH&NV Hà Nội thừa một điểm, Hải mới tin rằng mình không hề kém cỏi. Em chia sẻ: “Trước khi đi thi em đã quyết tâm phải đỗ, em phải thi cho cả mẹ. Kết quả đó có sự hy sinh của mẹ nhiều hơn”.

Con ở đâu mẹ ở đấy

Thi đỗ nhưng Hải không nghĩ mình sẽ đi học, một lần nữa mẹ em lại vực con trai đứng dậy: “Mẹ còn đi được thì con còn có thể đến trường”. Thế rồi hai mẹ con khăn gói lên Hà Nội với đồng lương hưu của cô Tâm đúng một triệu đồng/tháng.




"Mẹ còn đi được thì con còn có thể đến trường".


Nhìn cô Tâm không ai nghĩ cô mới ngoài 50 tuổi, đầu bạc trắng, nét mặt khắc rõ những khổ đau, vất vả mà người phụ nữ này đã trải qua. Điều cô Tâm lo lắng nhất là chỗ ở: “Em nó được ở ký túc xá, nhưng còn mẹ, mẹ không thể không có con mà con cũng chẳng thế sống thiếu mẹ. Tôi đã trình bày hoàn cảnh để xin được ở cùng con, chẳng biết có được không”.
Mấy hôm nay, cô Tâm đã đi bộ khắp nơi tìm phòng trọ nhưng vẫn chưa chưa được. Đã đến nhập học nhưng con đường đến giảng đường của hai mẹ con còn quá gian nan.

Hải nói buồn rười rượi: “Sinh ra là em đã phải bám vào cánh tay của mẹ. Em mong mình chóng ra trường, kiếm được việc để mẹ yên lòng”.
Nhập học xong, hai mẹ con Hải đứng dậy nhấc từng bước đi nặng nhọc ra về. Nhìn cảnh đó, ai cũng cầu mong mẹ con họ sẽ vượt qua chặng đường dài phía trước.


Bài và ảnh: Hoài Nam (Theo Dân Trí)
19  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / HUYỀN THOẠI - LỊCH SỬ / Những chuyện lạ kỳ trên non thiêng Yên Tử vào lúc: Tháng Mười Hai 25, 2008, 03:11:45 PM
… Một đoàn du khách đến mấy chục người, toàn nam thanh nữ tú, lên đến chùa Hoa Yên, cười nói vô duyên, trai văng bậy bạ, gái cười hô hố, liền bị đau bụng quằn quại, không đi nổi nữa. Họ cứ cố lên mỗi bước, bụng lại đau hơn, cuối cùng phải xuống núi. Khi xuống đến chân núi, thì các cơn đau khủng khiếp chợt tan biến đâu mất. Đám người này hoảng hồn, không dám lên Yên Tử nữa.

Nếu so về địa hình, thì dãy Yên Tử và đỉnh Yên Tử, nơi đặt chùa Đồng chỉ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển, chưa phải là cao lắm. Nhưng, như các cụ bảo: Núi không cốt ở cao, vấn đề là trên núi có tiên ngụ; sông không cốt ở sâu, niềm thiêng ở chỗ dưới sông có rồng ở. Và, Yên Tử được xưng tôn là đệ nhất danh sơn miền Đông thổ, là một non thiêng, bởi nó là ngọn núi của tâm linh, của Phật và chỉ những người có căn cơ với thiền mới sống được.

Người có căn cơ đầu tiên và kỳ lạ nhất chính là đấng quân vương kiệt xuất Trần Nhân Tông. Người đã rũ bụi trần, bỏ long bào cùng với ngai vàng lấp lánh, kiệu hoa bóng lọng, người đẹp sớm chiều để khoác áo cà sa lên núi tu hành, đã đủ để chứng tỏ mảnh đất này thiêng liêng, cuốn hút ngài như thế nào.

Sự rũ bỏ tham, sân, si của ngài cao độ đến nỗi ngài coi cái chết như sự trở về, như một điều giản dị đến khó tưởng tượng. Ngài nằm nghiêng thanh thản trong rừng, tựa dáng sư tử nằm, ngóng về xa xăm, rồi "hóa" giữa đại ngàn hoang vu đến nỗi, khi cây trúc mọc xuyên qua người ngài, đệ tử mới phát hiện ra, để rồi dựng lại hình ảnh ấy bằng bức tượng đá gây cảm động cho muôn đời sau.

Phật hoàng Trần Nhân Tông từng có 19 năm tu rất khắc nghiệt. Di tích chùa Cầm là để tưởng nhớ tới việc ngài chỉ uống nước cầm hơi, không ăn uống gì. Trong chuyến xuyên rừng thăm thẳm trọn một vòng quanh dãy non thiêng, tôi đã được nghe kể và được thấy tận mắt rất nhiều những con người của thế giới Phật cứ như trong chuyện cổ tích. Họ đang thầm lặng tiếp bước con đường vị Phật tổ của mình.

Sư Thích Minh Tiến, Đạt ma Trí Thông, Thích Thanh Quý... đang từng ngày, từng giờ ăn quả vả, chuối rừng, uống nước cầm hơi, tu luyện trong mái đá giữa rừng già để mong được tìm thấy chính mình trong vòng luân hồi bể khổ. Tôi cũng được nghe những câu chuyện về những con người biến mất một cách kỳ lạ khi đang trên đoạn đường hành xác.

Chuyện rằng, từ những năm 80 của thế kỷ XX, trên sườn Đông Yên Tử, có một nữ tu vô cùng khổ hạnh. Khi đó, Yên Tử còn hoang vu, rậm rạp. Cỏ mọc bịt bùng bít hết lối đi. Vị nữ tu này ngày ngày đào măng và cũng chỉ ăn một bữa, rồi ngồi trong am tu thiền. Người ta kể, dáng bà thanh mảnh, mặc áo nâu sồng, đôi mắt sáng, hiền từ như một vị Bồ Tát. Rồi người đi rừng phát hiện ra bà.

Những câu chuyện đồn thổi về bà cứ ngày một lớn. Phật tử khắp nơi đổ về tôn bà như vị Thánh, theo hầu nhang khói. Rồi một ngày, bà đột nhiên mất tích, chẳng ai còn thấy bóng dáng bà trong cánh rừng hoang rậm. Người dân quanh vùng thì tin bà là đức Bồ Tát hiển linh.

Sau khi đã vặt đầy một rổ quả vả lẫn lá vả non thết đãi chúng tôi trong bữa cơm chiều, chú tiểu Hà (ở Ngọa Vân Am bên sườn Tây Yên Tử, thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang, nơi mà chúng tôi phải cuốc bộ ngót một ngày từ chùa Hoa Yên mới tới nơi) dẫn tôi đi tìm khu mộ tháp hoang phế, dưới bóng những cây thông khổng lồ.

Giữa cảnh rừng rú, không có đường đi, các nhà sư chỉ còn biết lấy mấy cây thông làm “la bàn” mà đi. Điều đặc biệt là cứ chỗ nào có thông khổng lồ, y rằng có vườn mộ tháp. Lâm tặc xả gỗ ầm ầm giữa rừng, nhưng lạ ở chỗ, chúng vẫn tha cho những cây thông mà gốc nó to đến mức 2-3 người ôm mới xuể ấy.

Có lần, chú tiểu Hà thật thà tâm sự với đám lâm tặc rằng: “Các anh tốt thật đấy, không nỡ đẵn mấy cây thông do Phật tổ trồng!”.

Nhưng đám lâm tặc cười và nói rất thật: “Thú thật với chú tiểu. Ngày trước, chúng tôi cũng hạ một cây thông lớn, xẻ thành từng khúc, cho trâu kéo. Nhưng trâu không sao kéo được những khúc thông ấy đi. Chúng tôi dồn hết sức lực để vần, thì khúc thông lăn đè chết trâu luôn. Thay 3 con trâu mộng khác thì chết cả 3 con. Sau vụ ấy, chúng tôi hoảng, phải làm lễ tạ rồi không dám động vào những cây thông ấy nữa”.

Vừa đi, chú tiểu Hà vừa kể cho tôi nghe về sư Cường:

Được nghe kể về những gốc thông bí ẩn, sư Cường đã một mình tìm đến dựng lều để hành xác dưới gốc thông bên vườn tháp mộ u tịch. Sư Cường ngoài 40 tuổi, dáng cao to. Có tài đóng đồ mộc, nên ông đóng cả một căn nhà nhỏ bằng gỗ dưới gốc thông và mấy chiếc ghế tuyệt đẹp. Nền nhà được ghép bởi những thân trúc rất trang nhã.

Ông cũng sống một cuộc đời đạm bạc, cũng ngày ăn một bữa cơm với quả vả, quả chuối rừng, rồi ngồi thiền từ sáng đến tối như các vị chân tu. Thế nhưng, được vài năm, đột nhiên sư Cường bỏ lại cả căn nhà giữa rừng hoang đi đâu mất, không một lời từ biệt. Đến cả người huynh đệ của sư Cường là thầy Trí Thông cũng không rõ thực hư thế nào. Mọi người chỉ biết rằng, trước ngày ra đi, sư Cường bỏ rất nhiều công sức khiêng một pho tượng vượt qua nhiều ngọn núi để cúng vào chùa Hồ Thiên.

Trong đại ngàn non thiêng Yên Tử còn có một di tích trong hệ thống chùa chiền, am tháp từ xa xưa bị bỏ quên, đó là chùa Ba Bậc. Chùa Ba Bậc nằm rất sâu trong rừng, giữa bốn bề những núi đá phô bày những hình thể kỳ dị.

Theo các nhà chân tu nhiều năm sống trên Yên Tử thì khu vực chùa Ba Bậc là nơi hội tụ nhiều linh khí, nên sản sinh ra nhiều kỳ hoa dị thảo. Trên đường đi qua, tôi được tận mắt thấy những loài cây cỏ, hoa lá rất kỳ lạ, mà tôi chưa từng biết đến bao giờ.

Cũng tại đây, nơi bắt nguồn con suối Vàng kỳ lạ, nước như màu mật ong. Tại nơi hội tụ linh khí này, mấy năm trước, người đàn ông tên Khiêm cũng lập thảo am, sống hoang biệt với thế giới. Ông Khiêm có quyết tâm rất cao trong suốt mấy năm trời. Nhưng rồi, một ngày, người ta không còn thấy bóng ông đâu nữa. Ông mất hút một cách kỳ lạ.

Nhân nói về Yên Tử, các nhà khoa học, các thiền sư tu hành đắc đạo ở Trúc Lâm đều khẳng định loài tùng cổ ở Yên Tử đã hút được linh khí trời đất nên sống trường sinh bất tử.

Mới đây, những người đi rừng đã phát hiện ra một con đường xích tùng cổ 700 năm tuổi trên núi Yên Tử, nơi mà Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông thường đi lên núi tu hành. Những cây tùng này cũng là do ông trồng, để vừa lấy bóng mát vừa tỏ rõ cốt cách quân tử.

Hiện ở Yên Tử có 3 loại tùng, gồm: thủy tùng (gỗ trắng), thanh tùng (gỗ xanh) và xích tùng (gỗ đỏ). Xích tùng là loại cực kỳ quý hiếm, chỉ còn tồn tại ở nước ta, vân nó như hoa mẫu đơn và đường kính thân cây rất lớn. Hiện ở Yên tử còn 274 cây tùng có tuổi thọ vắt qua 7 thế kỷ.

Sau một thời gian khám phá, các nhà khoa học phát hiện ra rằng, trên dãy Yên Tử, cứ ở đâu có bóng tùng, y rằng ở đó có am và mộ tháp. Các thiền sư xưa kia thường tu hành trong một chiếc am dưới gốc tùng, sau khi chết đi, thì tro cốt được quàn luôn ở mộ tháp, nằm giữa hai gốc cây tùng. Trong thời gian vừa qua, các nhà khoa học dễ dàng phát hiện thêm được nhiều am, tháp thông qua việc tìm bóng các cây tùng khổng lồ.

Hiểu được lý do vì sao các thiền sư thường tu hành và khi "hóa" cũng nằm dưới gốc tùng, mấy năm trước võ sư Bùi Long Thành đã cùng môn sinh lên Yên Tử luyện khí công với... gốc tùng.

Ông Lê Quang, Phó giám đốc TTQL Di tích - Danh thắng Yên Tử, kể: “Hôm võ sư Bùi Long Thành và môn sinh luyện công dưới gốc tùng, tôi tận mắt chứng kiến và thấy chuyện xảy ra vô cùng kỳ lạ. Các võ sinh bất động, người dính chặt vào thân cây tùng”.

Sau 30 phút “thụ khí” của “lão tùng”, võ sư Bùi Long Thành mới kể với ông Quang rằng, vùng đất Yên Tử là vùng đất tụ khí, những cây tùng này đã có 700 năm nạp một lượng khí của đất trời rất lớn. Khi các võ sinh luyện công, họ vừa được nạp linh khí của trời đất, lại được nạp “trường điện” mạnh mẽ của “lão tùng” nên mới xảy ra hiện tượng thân thể dính chặt vào thân cây như vậy.

Một ngày giữa năm 2007, khi đang lang thang ở suối Giải Oan, nơi thuở xưa các cung nữ trẫm mình, ông Lê Quang, Phó GĐ TTQL Di tích - Danh thắng Yên Tử gặp một cảnh tượng khá lạ: Mấy chục người đàn bà vừa quỳ vừa lạy, vừa khóc bên bờ suối. Trước mặt họ là một mâm đầy ăm ắp lễ vật và cạnh mâm lễ là một làn đựng đầy đá cuội. Khóc lóc và lạy xong, họ bê làn đá rải dọc suối.

Thấy khó hiểu, ông Quang liền hỏi tài xế lái xe thì được anh ta kể rằng, hồi đầu năm, chính anh chở mấy chục phụ nữ Lạng Sơn này về Yên Tử trẩy hội. Qua suối Giải Oan, chị em nào cũng nhặt đá cuội mang về, người nhặt nhiều thì cả chục hòn, người ít cũng 2 - 3 hòn.

Mọi người mang đá cuội về để kỳ cọ chân tay khi tắm, mong da dẻ được trắng đẹp như những... cung nữ. Nhưng không ngờ, sau ngày dùng đá cuội ở suối Giải Oan kỳ cọ, đêm nào họ cũng gặp... "ma" (?). Toàn là "hồn ma" của các cung nữ chết oan, dựng họ dậy đòi trả đá.

Điều lạ là tất cả những người mang đá cuội từ suối Giải Oan về đều bị như vậy và sau vài tháng mất ngủ thì ai cũng phờ phạc như người mất hồn. Ngay cả anh lái xe, lấy về cho vợ mấy viên cuội, cũng gặp cảnh tương tự. Sợ quá, những người này phải về Yên Tử làm lễ tạ tội rồi trả lại đá cho suối Giải Oan.

Bản thân ông Quang cũng để ý và được nghe, biết rất nhiều chuyện lạ ở suối Giải Oan. Nhiều cô gái có hoàn cảnh éo le như trót mang bầu bị ruồng bỏ, mắc AIDS, hoặc gặp cảnh trớ trêu, sau khi ngồi bên suối Giải Oan khóc lóc, tâm sự với các cung nữ, tự dưng thấy lòng thanh thản và tìm được cách giải thoát cho sự bế tắc trong cuộc đời mình(?).

Những câu chuyện huyền bí trên Yên Tử kể cả ngày không hết. Chính ông Quang đã từng được chứng kiến cảnh tượng một đoàn du khách đến mấy chục người, toàn nam thanh nữ tú, lên đến chùa Hoa Yên, cười nói vô duyên, trai văng bậy bạ, gái cười hô hố, liền bị đau bụng quằn quại, không đi nổi nữa. Họ cứ cố lên mỗi bước, bụng lại đau hơn, cuối cùng phải xuống núi. Khi xuống đến chân núi, thì các cơn đau khủng khiếp chợt tan biến đâu mất. Đám người này hoảng hồn, không dám lên Yên Tử nữa.

Ông Trần Trương, nguyên Trưởng BQL Di tích - Danh thắng Yên Tử cũng kể rằng, tại vườn tháp Huệ Quang có một chuyện rất lạ mà ông được chứng kiến. Sau khi đám công nhân làm xong nhà khách Yên Tử, thì rủ nhau lên lễ chùa Đồng. Khi đi qua vườn mộ tháp Huệ Quang, thấy một hòn đá nằm trên ngọn một tháp cổ, liền thách đố nhau ném trúng hòn đá đó. Một cậu vung tay ném trúng khiến hòn đá rơi xuống đất.

Lên đến chùa Đồng, đám công nhân này mới phát hiện thiếu một người, người đó chính là cậu thanh niên ném trúng hòn đá lúc nãy. Nhưng không ai lo lắng vì cậu ta cũng là người địa phương, không sợ lạc đường.

Sau mấy tiếng đồng hồ xuống núi, quay trở về khu tháp Huệ Quang, đám công nhân sửng sốt khi phát hiện ra cậu thanh niên ném đá lúc nãy đang ngồi xếp bằng tròn bên lăng mộ tháp, mặt áp vào tường, hai tay đặt lên đùi, hỏi chẳng nói, gọi chẳng thưa, lắc vai mãi không tỉnh, cứ ngồi bất động như khúc gỗ.

Đám công nhân sợ quá, liền báo BQL, rồi BQL lên chùa Hoa Yên mời thầy Diệu Nhàn xuống làm lễ sám hối. Một lát sau, cậu công nhân nghịch dại kia mới như chợt tỉnh, khóc nức nở, rồi xuống núi. Sau này, tôi gặp sư Diệu Nhàn, sư bảo, những chuyện kiểu như vậy diễn ra thường xuyên ở Yên Tử.

Từng là một thầy giáo, ông Lê Quang không mấy tin vào những chuyện huyễn hoặc, nhưng trong quá trình nhiều năm sống với Yên Tử, ông đã được chứng kiến tận mắt những chuyện khó tin xảy ra.

Lạ nhất là đoạn đường từ chùa Bảo Sái, qua An Kỳ Sinh lên chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử, từ xưa đến nay, chưa có vụ chết người do tai nạn nào cả, mặc dù đây là đoạn đường cực kỳ cheo leo, dốc dác, núi đá lô nhô, rất trơn. Nhiều trường hợp ngã rất mạnh, nhưng chỉ xước sát tay chân mà thôi.

Trong những ngày cao điểm, Yên Tử đón tới 7 vạn du khách, người hành hương chật kín mọi con đường, mà không xảy ra tai nạn chết người là một chuyện rất lạ. Thậm chí, hồi thi công chùa Đồng, đột nhiên mây đen kéo đến ngay trên đầu, sét đánh thẳng vào khu vực đang xây chùa khiến mọi thứ cháy đen, tróc hết cả nền chùa, nhưng lạ ở chỗ mấy chục người đứng đó mà không ai hề hấn gì, chỉ bị ù tai một lúc. Đám công nhân đều tin Phật tổ phù hộ nên tiếp tục làm việc, mà không sợ sấm sét đánh chết.

Nhưng lạ nhất là chuyện năm nào cũng có một cụ già chết ở đoạn từ chùa Một Mái lên chùa Bảo Sái và cái cách chết của họ cũng vô cùng bí ẩn. Mới đầu năm nay, có một cụ già 77 tuổi, quê ở Hải Phòng, nhất định bắt con cháu cùng đi lên Yên Tử. Bình thường cụ rất yếu, nhưng đến Yên Tử, cụ cứ đi bộ leo núi mà không cần đi cáp treo. Đi một mạch đến gần chùa Bảo Sái, cụ bảo con cháu giở đồ ra ăn. Ăn uống xong, cụ đi vào rừng, ngồi dựa vào gốc cây, nhắm mắt rồi “hóa”.

Cụ “hóa” một lúc rồi mà con cháu cứ tưởng cụ ngủ, vì khuôn mặt cụ rất thanh thản. Những câu chuyện tôi ghi được thật khó khẳng định chính xác đến mức độ nào, có thể do nhiều người sùng bái cõi Phật mà thêu dệt thêm. Nếu có các nhà khoa học về Yên Tử nghiên cứu và lý giải cụ thể thì hay biết mấy.

Rời non thiêng Yên Tử sau mấy ngày cuốc bộ trong rừng, chỉ được chén “đặc sản” vả luộc, chuối rừng dầm muối, tôi tưởng mình phải kiệt sức, nhưng lạ ở chỗ, tôi thấy lòng mình thanh thản lạ thường, không chút mệt nhọc.

Rất nhiều người chưa từng leo núi cũng thấy ngạc nhiên vì sức khỏe của mình khi hành hương về Yên Tử. Điều này cũng là một bí ẩn lạ thường.



Phạm Ngọc Dương


(Theo [url]http://antg.cand.com.vn[/url])
20  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: Một ý kiến cần lưu ý. vào lúc: Tháng Mười Hai 25, 2008, 03:04:18 PM
cám ơn bạn nhiều lắm , đây là  một ý kiến tuyệt vời và nếu HTT có một ban hộ niệm hoặc có chưa có điều kiện lập thì có thể có số đt của ban hộ niệm sinh hoạt ở trang nào đó , lưu cần khi có việc hậu sự cũng là hay .
Túc bái
21  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: Góc Phố Đời Người. vào lúc: Tháng Mười Hai 25, 2008, 02:58:53 PM
Đọc Góc Phố Đời Người của Bác ngư ông cát cát thực xúc động quá .Cho cát cát góp nhặt chút sỏi đá vào đây để khiến cho góc phố đời của bác ngư thêm phong phú nha .Những bài này đã giúp cho tận cùng sâu thẳm trong mỗi lương tâm của chúng ta ngày thêm thức tỉnh một chút .
Túc bái.



*********


Kỳ 7 - “Ông bụt” trên đỉnh Mồ Côi"



Người bộ đội phục viên cùng với mẹ già nhận nuôi 11 đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trên đỉnh Mồ Côi ở núi Cấm trong vùng Bảy Núi. Hy sinh hạnh phúc riêng tư, chỉ cần nhìn những đứa trẻ lớn lên từng ngày, khỏe mạnh, vui tươi, “ông bụt” đời nay đã thấy mãn nguyện

Vượt những con đường dốc dựng đứng uốn lượn quanh co, chúng tôi đến một căn nhà nằm trơ trọi trên đỉnh Mồ Côi thuộc núi Cấm (ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên - An Giang). Nghe có khách đến, một bé trai kháu khỉnh khoảng 3 tuổi chạy ra cửa đón. Cu cậu gọi vọng vào nhà: “Nội ơi, có người tìm nè!”.

Không vợ mà có tới 11 con!

Bà cụ chừng 70 tuổi, gương mặt phúc hậu nở nụ cười thân thiện, lật đật ra đón chúng tôi. Bà tên Võ Thị Ba, mẹ ông Nguyễn Tấn Bông, 43 tuổi, người cưu mang 11 đứa trẻ mồ côi ở đây. Cậu bé gọi bà nội khi nãy đứng lấp ló sau vách nhìn chúng tôi đầy vẻ tò mò. Bà Ba cho biết ngôi nhà trên đỉnh Mồ Côi này hiếm khi có khách. Bà dặn cậu bé: “Con vô điện thoại cho ba, nói có mấy chú dưới núi lên chơi”.

Chưa đợi bà nội dứt lời, cậu bé đã hấp tấp chạy vào nhà, nhấc điện thoại bấm số một cách thuần thục, liến thoắng: “Ba ơi, về gấp, có khách tới nhà nè!”. Bà Ba vẫy cậu bé lại, xoa đầu như khen ngợi, rồi quay sang chúng tôi, khoe: “Nó tên Nguyễn Sơn Tiền, tuy còn nhỏ nhưng rất lanh lợi và quậy nhất nhà”.

Chúng tôi theo bà Ba ra gian nhà rộng, thoáng mát phía sau, nơi có kê nhiều giường, võng và nôi. Vài đứa trẻ còn say giấc ngủ trưa chưa chịu thức. Đứa lớn hơn nằm đưa võng cho đứa nhỏ. Chiếc võng lắc đều, dây treo cọ xát vào thân cột vang lên từng hồi kẽo kẹt nghe thật êm đềm.

Có tiếng xe máy dừng trước cửa nhà. Bé Tiền vội chạy ra rồi reo lên: “A, ba về tới rồi! Có khách đến thăm kìa ba!”. Ông Bông cười tươi, bế cậu bé đi vào nhà. “Tôi chở thằng nhỏ đi chích thuốc. Mấy bữa nay nó cứ bị cảm, sổ mũi, ho hen hoài” - ông Bông chỉ cậu bé đi theo sau, giải thích.

Chúng tôi hỏi về những đứa trẻ, ông Bông nở nụ cười chất phác, nhận xét: “Chắc là số phận đẩy đưa, tôi và tụi nhỏ có duyên sống với nhau”. Ông Bông vốn là bộ đội phục viên. Năm 1987, khi vừa xuất ngũ, ông về công tác ở phường đội phường Bình Thủy, quận Bình Thủy - TP Cần Thơ. Đến năm 1991, cảm thấy không thích hợp với cảnh nhộn nhịp nơi thị thành, ông Bông dẫn mẹ lên núi Cấm tìm mua một mảnh đất 3 ha rồi cất nhà, làm rẫy sinh sống. Mảnh đất nằm trên đỉnh Mồ Côi ở núi Cấm này từ đó gắn chặt đời ông Bông với số phận của những đứa trẻ mồ côi bất hạnh mà ông nhận nuôi tới bây giờ.

“Trước đây, tôi đâu có dự tính nuôi trẻ gì, chỉ toàn chuyện tình cờ đưa đẩy thôi”- ông Bông cho biết. Thoạt tiên, vào năm 2001, trong lần về Cần Thơ thăm người chị họ sắp sinh con, ông Bông và mẹ gặp một phụ nữ sắp sinh không có tiền nhập viện, hoàn cảnh rất khó khăn. Khi đã có dấu hiệu sinh mà chị vẫn ngồi oằn mình chịu đựng ở ngoài băng đá của bệnh viện vì trong túi chỉ còn 30.000 đồng.

Ông Bông kể: “Chị ta đã đứng tuổi, thôi chồng, rời quê đến Cần Thơ làm phụ hồ. Ở đó, chị quen và chung sống với một người đàn ông làm chung. Khi biết chị có thai, người đàn ông đã bỏ đi không một lời từ biệt. Một thân một mình, chị sống lay lắt đầu đường cuối chợ, làm mướn, làm thuê chờ ngày sinh nở. Thấy hoàn cảnh chị tội nghiệp quá, mẹ con tôi liền đưa chị nhập viện, bỏ tiền trả chi phí sinh nở, thuốc thang... Sau khi sinh, chị ta nài nỉ mẹ con tôi nhận đứa bé làm con nuôi.

Thoạt đầu, tôi không chịu, phần vì chưa có vợ, phần vì cuộc sống trên đỉnh núi Cấm rất khó khăn. Song, thấy chị van xin quá nên tôi nhận lời nuôi giúp đứa bé một thời gian với lời nhắn nhủ khi nào muốn nhận lại con, chị cứ tìm đến núi Cấm để mẹ con đoàn tụ". Ẵm đứa bé về đỉnh Mồ Côi, ông Bông tất bật cùng mẹ chăm lo cho nó, rồi đặt tên là Nguyễn Sơn Ngọc, theo họ của mình. “Nuôi lâu ngày rồi mến tay mến chân, rốt cuộc tôi đã coi nó như con ruột của mình”- ông Bông thừa nhận.

Sau đó một năm, ngày nọ có một cuộc điện thoại từ một bệnh viện ở Cần Thơ gọi đến ông Bông. Cô y tá quen với ông Bông thông báo có một trẻ sơ sinh bị mẹ bỏ rơi. Mẹ con ông lại vội vã lên đường đi Cần Thơ ngay trong đêm tối, nhận đứa bé về nuôi dưỡng. Cứ như vậy, lần lượt đứa trẻ thứ 2, thứ 3, rồi cả thảy 11 đứa đã được ông Bông nhận nuôi. Mỗi cháu một hoàn cảnh khác nhau, nhưng cùng chung số phận bị cha mẹ bỏ rơi, tất cả đều được ông Bông làm khai sinh mang họ mình. Cách nay không lâu, bé Nguyễn Sơn Thành, vốn bị não úng thủy từ khi mới lọt lòng, đã qua đời sau khi được ông Bông nhận về chăm sóc suốt 3 năm.

Sống “mồ côi” để nuôi trẻ mồ côi

Thấy ông Bông và những đứa con nuôi quấn quýt bên nhau, ai cũng vừa thương mến vừa cảm phục. Không ít người đã ví ông như “ông bụt”, “ông tiên” trên núi Cấm, hiện thân cứu giúp những đứa trẻ bơ vơ, lạc loài. Càng lớn, đứa nào cũng lanh lợi, thông minh và rất ngoan.

Chúng gọi ông Bông bằng ba, kêu bà Ba bằng bà nội nghe thật ngọt ngào. Trong 10 đứa, hiện Ngọc, Thanh và Hương đã đi học lớp 1. Cứ mỗi sáng sớm, ông Bông và mẹ lại tíu tít lo cho tụi nhỏ ăn sáng; rồi ông vượt đường rừng đưa 3 đứa trẻ tới lớp. Ông hãnh diện: “Đứa nào cũng ham học. Có hôm mưa như trút nước nhưng chúng vẫn bắt tôi phải đưa tới lớp”.
Đường xa, dốc núi đi lại khó khăn nhưng ông Bông phải đi chợ mỗi ngày mua thức ăn cho đàn con. Chúng tôi thắc mắc sao ông đã đứng tuổi mà không lấy vợ để tìm hạnh phúc riêng tư. Ông Bông bộc bạch: “Chắc tôi sẽ không lấy vợ mà ở “mồ côi” như thế này để nuôi tụi nhỏ.

Tôi rất sợ lấy vợ sinh con rồi không lo được cho tụi nhỏ, để chúng phải mồ côi thêm lần nữa. Nhìn thấy chúng lớn lên khỏe mạnh, tươi vui, tôi đủ mãn nguyện, hạnh phúc rồi”. Bà Ba góp chuyện: “Hôm trước, có một cô ở Sài Gòn tìm đến, bảo muốn kết tình chồng vợ với thằng Bông, nhưng nó không chịu, cứ đòi ở vậy nuôi tụi nhỏ”.

Chỉ những đám rẫy quanh nhà, ông Bông cho biết làm bao nhiêu, ông đều dành dụm để lo cho đám trẻ. Chợt ông trăn trở: “Tôi chỉ mong lo được cho các con đến ngày chúng trưởng thành. Chỉ sợ đến lúc nào đó, tôi không còn đủ sức nữa...


Bài và ảnh: QUỐC DŨNG
(Nguồn [url]http://www.nld.com.vn[/url]) 

 
22  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Re: Vầng Thái dương và những Pháp thoại sau cùng về Pháp môn Tịnh Độ vào lúc: Tháng Mười Hai 23, 2008, 07:11:12 AM

Đệ tử đang tìm nhặt những viên Xá Lợi ở lò thiêu Bình Hưng Hòa - TP. HCM.



HT. Thích Tịnh Hạnh - Phó Ban Trị sự THPG.TPHCM và Chư Tôn đức Tăng Ni đang kiểm chứng lại những viên Xá Lợi nhân tuần Tam Thất.



Xâu chuỗi Bồ Đề 108 hạt mà Hòa thượng hằng ngày dùng để lần niệm Phật, sau khi thiêu xong dưới sức nóng gần 1000 độ C, còn lại một hạt chuỗi không bị cháy và kết thành Xá Lợi (Phật pháp nhiệm mầu).





Những viên Xá Lợi của HT. Thích Ấn Nghiêm có đầy đủ màu sắc sáng long lanh, hiện nay được tôn thờ tại Chùa Xuân Thọ, TP. Phan Thiết, Bình Thuận.



TỪ BI MỞ NGÕ CHÂN NHƯ

Mới ba giờ sáng hôm sau (27/3/2005) thầy Quảng Lợi đã dậy sớm đón xe đò vào TP. HCM để cùng với Sư Minh Huệ ở Linh Quang Tịnh Xá đến lò thiêu Bình Hưng Hòa thương lượng công việc như đã dự định. Thế nhưng “đi không rồi lại về không”. Vì các nhân viên tại đây cho biết là tất cả đã thanh toán vệ sinh ngay trong chiều hôm đó, sau khi xong dịch vụ. Không thể nào tìm kiếm lại được.

Tôi nảy sanh một nghi vấn, có thể nào cái khối tròn màu trắng đục nói trên vẫn còn nằm lẫn trong hũ tro cốt của Ngài Ấn Nghiêm đã được tôn trí trong lòng tháp Hạnh Nguyện mà mọi người không biết không? Vì sao khi đoàn xe rước chiếc hũ này về chùa cho đến giờ làm lễ nhập tháp thì không một ai động tay đến chiếc hũ tráng men này cả. Trong khi đó thì phần tro cốt còn lại được dồn trong bọc vải vàng và được mở ra xem kỹ vì có lời dặn trước là: “Phải dùng chày giả nhỏ ra rồi mới đem rãi ngoài biển. Có vậy cá ăn mới không sợ “mắc cổ mà chết!” (có một số người mỉm cười khi nghe chuyện này, cho là ông sư già lo quá đáng, đến cả sự sống chết của cá dưới biển. Họ hỏi, vậy chứ hàng tỉ người trên thế giới ăn cá thì sao? Thắc mắc này nghe cũng hợp lý thế gian. Vì hợp lý thế gian nên người ta xem thường lý đạo, cho sự quan tâm trên là không thực tế. Mà đã không thực tế thì Đạo cũng chẳng có cơ sở để người ta tin. Đã không tin thì dù Phật pháp vi diệu đến đâu, có nói cũng hoài công!

Đến đây, tôi sực nhớ đã đọc trong quyển “Mười pháp giới không lìa một tâm niệm” giảng về sự linh ứng của chú Đại bi do cố Hòa thượng Tuyên Hóa (vị tổ sáng lập Tu viện Phật Thánh Thành vĩ đại ở San-Francico - Mỹ) kể lại câu chuyện đối đáp giữa Hòa thượng và một ông khách đến thăm chùa. Khách hỏi:

- Vì sao Hòa thượng xuất gia. Ngài chẳng đáp mà hỏi lại:
- Vì sao, ông không xuất gia? Nếu ông biết tại sao ông không xuất gia thì ông sẽ biết tại sao tôi xuất gia.Và nếu ông không biết vì sao ông lại không xuất gia thì ông cũng chẳng biết vì sao tôi lại xuất gia.
Cũng vậy, nếu chúng ta không biết vì sao mà mình lại không quan tâm đến sự sống chết của những con cá giữa đại dương thì mình cũng chẳng biết một chút gì về sư Ấn Nghiêm đã quan tâm đến chúng trước khi xả bỏ báo thân.

Trong năm điều thệ nguyện có tánh cách như giới luật căn bản của tất cả đoàn sinh Gia đình Phật tử, có một điều như sau: “Phật tử nguyện mở rộng lòng thương và tôn trọng sự sống”. Một em bé mới bước chân vào Đạo mà được giáo huấn như vậy, huống là một lão Tỳ kheo đã từng gội nhuần ánh sáng Phật giáo từ lúc thanh mi đến khi bạch phát.

Vậy câu hỏi trên kia: “Vì sao mà sư Ấn Nghiêm lại quan tâm đến sự sống chết của mấy con cá”, có chăng xuất phát từ tâm Đại bi bình đẳng của một vị Tăng “bất phàm” mà tư cách đã được thể hiện lặng lẽ trong cuộc sống Đạo thường ngày. Riêng đối với chùa Xuân Thọ, chắc chắn là Đại bi tâm đó đã trở thành “tăng thượng duyên” khiến cho Phật tử và môn đồ pháp quyến còn có thể lưu giữ được một phần nào tinh ba trí tuệ của vị chân sư quý kính. Luận về vấn đề này, tác giả Vĩnh Hảo đã có một đoạn viết rất chính xác trong bài “Đứng trên tất cả,” xin trích như sau:

“Chúng ta có một chìa khóa nhỏ để mở ra cái kho vô tận xứng đáng cho mình quy phục, nương tựa” - Chìa khóa đó là điểm chung mà hầu hết các vị chân Tăng đều có: tính cách vô ngã thể hiện trong nếp sinh hoạt hằng ngày.
Chân sư và tà sư theo quan niêm Phật giáo khác nhau ở chỗ đó. Họ có thể sử dụng những phương tiện giống nhau: tụng kinh, tọa thiền, giảng dạy Phật pháp, làm việc văn hóa, làm việc xã hội, từ thiện. Nhưng mục đích hành đạo của họ thì khác nhau: một bên thì có khuynh hướng diệt trừ bản ngã để hòa nhập vào thể tánh vắng lặng vô biên; một bên thì nuôi lớn bản ngã, đắp cao thành trì của ái dục và lợi danh tầm thường.

Thực ra, những vị chân Tăng ấy không phải là không có. Có khi họ ẩn thân ở một nơi đèo heo hút gió, mà cũng có khi họ sống rất gần gủi với chúng ta. Chỉ tại chúng ta thích chạy theo giá trị hời hợt của đám đông, cứ tưởng rằng hễ chân sư thì phải nổi tiếng nên không nhìn ra những vị chân sư rất bình phàm, chơn chất, giản dị, có khi chẳng có một mảy may tài năng, phép lạ, tiếng tăm, bằng cấp, hay danh vọng gì cả. Chỉ có chìa khóa duy nhứt: Tinh thần vô ngã mà Phật dạy từ 2500 năm trước - là có thể mở ra cho người môn đệ nguồn cảm hứng vô tận của giải thoát, giác ngộ. Tinh thần ấy đã đào tạo nên nhiều thế hệ chân Tăng cho nhiều Quốc gia, nhiều thời đại, cống hiến cho đời những bậc Thầy thong dong tự tại, đến và đi một cách lặng lẽ, không cột trói mình vào bất cứ thứ hình thức rườm rà huyễn mộng nào của cuộc đời…”

Quả thật, cuộc sống của các Ngài là cả một chuỗi dài hành thiện được kết nối bằng Từ Bi và Trí Tuệ của những bậc hiền giả chân tu.


Từ Bi mở ngõ chân như
Ánh vàng tỏa rạng thiên thu tuyệt vời
Từ dưới đất đến trên trời
Tiếng ca sáu nẻo luân hồi cất lên!

Viết tại Sanjose, mùa Vu Lan 2549, Ất Dậu – 2005
Quảng Tựu Đoan Thanh



23  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Vầng Thái dương và những Pháp thoại sau cùng về Pháp môn Tịnh Độ vào lúc: Tháng Mười Hai 23, 2008, 07:06:47 AM
Tôi trải chiếu dưới thềm gần gường Thầy Ấn nghiêm để dỗ giấc sau mấy đêm mất ngủ - Bây giờ là 1 giờ khuya rạng ngày 23/3/2005 (tức là ngày 14 tháng 2 âm lịch - Ất Dậu). Vừa mới thiếp đi một chút thì lại giựt mình ngồi dậy trông chừng vì những tiếng rên khẽ của Thầy.

Đêm rồi bịnh tình của Thầy càng lúc càng bức phá nặng với những cơn đau tưởng chừng như xé ruột. Gia huynh cứ nhìn tôi mà lắc đầu, cắn chặt môi, cố ém lại tiếng rên từ cổ họng, lâu lâu như không chịu nỗi mới mở miệng buông nhẹ tiếng “CHẾT” và lịm đi từng chặp.

Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến những cơn đau “thấu trời xanh” của người bị ung thư dạ dày. Huống chi gia huynh tôi lại còn mang thêm chứng đau tim nguy hiểm nữa. Sức chịu đựng của người tu hành quả thật phi thường. Thầy từ chối cả những viên thuốc giảm đau mà chỉ chấp nhận cho đưa dưỡng khí qua đường mũi để trợ hơi thôi.

Cơn đau từng chặp kéo dài trong khoảng một tiếng rưởi đồng hồ rồi cũng thưa dần sau những lần thanh tẩy tại chổ những cặn bã còn lại trong người qua các đường bài tiết. Thầy cũng đã từng chịu đựng những cơn đau thắt ruột như vậy để chạy đua với thời gian, hoàn tất việc giảng dạy và gửi gắm các đệ tử của mình.




Tại chùa Xuân Thọ “nho nhỏ xinh xinh” này có số Tăng chúng là sáu người từng theo thọ pháp Thầy Ấn Nghiêm với tư cách là Y chỉ sư. Hiện thời một là Đại đứcThích Quảng Lợi đang học tại Học Viện Phật giáo TP.HCM; một là Đại đức Thích Lệ Tâm đã tốt nghiệp Cao đẳng Phật học tại Cần Thơ; một là Đại đức Thích Hồng Nhã. Còn ba chú là Huệ Quang, Huệ Tâm và Huệ Nhứt hiện đang là Tăng sinh của trường Trung Cấp Phật Học TP.HCM.

Thầy Quảng Lợi đã có lần nói với tôi về những ưu tư của sư phụ mình đối với chúng đệ tử đang trong thời kỳ tiến tu với bao nhiêu vất vả giữa những môi trường mà ở đó đã sẵn kết chằng chịt những vọng động từ trong bản năng tam độc của con người. Thời đại nào cũng có những điều bất hạnh đó - Sư phụ Ấn Nghiêm nói - nhưng các thế hệ tiền bối thật sự may mắn gấp nhiều lần chúng ta. Các ngài rất ít khi phải đối diện với những hiện tượng ô trược, nhiễm trùng dày đặc từ nơi đô hội đến chốn thâm nghiêm. Nói cho cùng thế hệ của sư phụ khó tu hơn các vị Thầy, Tổ trước, nhưng lại dễ hơn các con bây giờ. Càng đi sâu vào thời kỳ mạt pháp lại càng khó tu khó đắc. Do đó sư phụ thương và lo nhiều cho các đệ tử của mình là vậy.

Từ lâu, Ngài cũng đã chắt chiu trích ra từ số tịnh tài hiếm hoi (do thân bằng quyến thuộc cúng dường riêng cho nhu cầu trị bịnh và di chuyển xe cộ của mình) để yểm trợ phần nào học phí của chúng đệ tử mà không phải đòi hỏi nhiều ở ngân quỹ vốn eo hẹp của chùa. Ngài còn khuyến khích chúng đệ tử ngoài việc tu học hằng ngày phải quán sát thân ngũ uẫn giả huyễn của mình, để xả ly ngũ dục và phải cố gắng tri túc theo lời Phật dạy để thăng hoa đời sống Tăng lữ trước mọi người.

. . .

Thầy Ấn Nghiêm thiếp đi một lần nữa sau cơn đau lúc ba giờ sáng, rồi lại tỉnh dậy sau đó hai tiếng đồng hồ giữa những hồi chuông công phu sớm của chư Tăng. Khi nhìn sang thấy tôi đã đổi chỗ nằm và đang phe phẩy chiếc quạt giấy trên sofa, Thầy đưa tay ra dấu muốn uống nước. Sẵn bình trà còn ấm, tôi rót nước đem lại và hỏi:
- Thầy đã đỡ chưa?
- Có khá hơn. Chú lấy ghế ngồi đây cho tôi nói chuyện này. Bây giờ mấy giờ rồi?
- Mới có năm giờ sáng. Còn sớm, Thầy ngủ tiếp đi.
- Phải hôm nay là 14 tháng 2 âm lịch không?
- Dạ phải.
- Vậy ngày mai là ngày Rằm tháng hai, vía Đức Thích Ca nhập Niết Bàn. Phải chi đi được thì đúng lúc quá.
- Sao Thầy cứ quan tâm đến cái chết làm chi vậy? Theo em thấy ngày nào lại chẳng được. Duyên nghiệp chưa buông thì làm sao Thầy đi được?
- Thì mơ ước một chút cho vui vậy mà. Biết đâu bữa nay tôi “tịch” thì sao?. Nói xong Thầy nhìn tôi mỉm cười. Tôi nói:
- Sáng nay, trông Thầy an nhiên quá. Chắc Thầy chưa thể gặp Phật được đâu. Em nghĩ là Đức A DI ĐÀ chưa chịu tiếp Thầy.
Tôi nói đùa và Thầy trả lời ngay:
- Rồi cũng gặp Ngài thôi. Chú biết không, mới hồi nảy đây tôi lại thấy mặt trời lần nữa. Nhưng lần này có đến hai mặt trời to lớn vô cùng, tỏa ánh sáng rực rỡ cả một vùng trời mênh mông bát ngát. A DI ĐÀ Phật, tôi có niềm tin vững chắc là hôm nay nhứt định sẽ vãng sanh.

Quảng Tựu tôi lúc này tư tưởng hơi lộn xộn, không cân bằng được cảm giác. Vừa thương buồn khi nghĩ đã gần đến lúc phải vĩnh biệt huynh đệ tình thâm, lại vừa có chút hỉ lạc vì dự biết gia huynh chắc chắn sẽ vãng sanh Cực Lạc, không uổng một đời công hạnh huân tu Tịnh Độ. Dầu vậy, do tánh hiếu kỳ nên lại muốn biết rõ ràng hơn về những gì Thầy đã thấy trong giấc mơ vừa rồi, Thầy nói ngay:

- Tôi thấy Mặt Trời mọc ở phương Đông, rồi thêm một cái nữa ở phương Tây. Rõ ràng hai mặt trời như hai quả cầu vĩ đại đang xoay tròn và tự chúng di chuyển vào hướng trung tâm cho đến khi ở sát cạnh nhau. Tôi thấy rõ từng tia sáng như ánh hào quang màu sắc đẹp lộng lẫy như cầu vồng phóng nhanh như chớp về phía tôi, tưởng chừng có thể nắm bắt được. Lúc đó, tôi cảm thấy mình thật nhẹ nhàng, khỏe khoắn, lại mát rượi như đang ở trong phòng có máy lạnh. Đặc biệt về phía Tây Nam của mặt trời, phía Tây bổng nhiên bùng lên ánh sáng chói chang rực rỡ lạ thường, có tiếng Đại hồng chung điểm theo. Tôi tỉnh dậy vừa lúc thấy chú đang nằm quạt bên ghế nệm. Té ra trời đã sáng và đến giờ chùa công phu sớm.

Tôi lắng nghe và nhớ rõ từng lời Thầy kể. Giọng nói tuy có khàn đục, hơi thở ngắn ngủi có khi phải ngừng lại giữa chừng để lấy hơi, nhưng từ miệng của vị giáo thọ chiếc lưỡi vẫn còn linh hoạt diễn bày niềm tin tuyệt đối của mình nơi pháp môn Tịnh Độ. Và Thầy hỏi tôi tiếp:
- Chuyện tôi kể nãy giờ chú nghĩ sao?
- Dạ hoàn toàn tin tưởng. Nhứt định Thầy sẽ vãng sanh.
- Nhưng tin ở lý hay ở sự? Nếu tin ở lý thì chuyện tôi kể, chú có thể bảo rằng đó là pháp “Duy Tâm Tịnh Độ” (theo lý giải của một số vị ở Thiền tông) là do bởi tôi thường quán tưởng về Tịnh Độ thì hào quang Tịnh Độ sẽ hiện ra trong tâm thức tôi qua giấc mơ, chớ thật sự không có Tịnh Độ, tức là cõi nước Cực Lạc của Đức Giáo chủ A DI ĐÀ. Còn như tin ở sự - thì tức là tin “vô điều kiện” vào lời Phật dạy trong kinh cho biết là thật sự có cõi nước Cực Lạc ở phương Tây. - Chú có tụng và có nhớ đọan kinh đó không?
- Dạ có đọc tụng nhưng không nhớ.
- Không nhớ cũng không sao. Miễn có đọc tụng thường xuyên là tốt. Đây, đầu tiên Kinh A DI ĐÀ có câu như thế này: “Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A DI ĐÀ.Kim hiện tại thuyết pháp”… Nhớ câu Kinh này rồi chớ gì? Vậy chú có tin không?
- Dạ lời Phật dạy trong Kinh phải tin chớ!
- Chưa chắc đâu. Tin như vậy có khi là chính mình tự cưỡng ép theo Kinh, chớ thực sự chưa tin lắm phải không? - Vì chính mình chưa từng đến xứ Cực Lạc hoặc là chưa bao giờ được “giác linh” nào trong số người thân yêu của mình đã chết về “báo mộng” là họ đã vãng sanh Tịnh Độ rồi. Như vậy thì cả hai thái độ tin bằng lối suy diễn và cưỡng ép đó đều là gượng gạo, không thích đáng với mục đích cầu sanh Tịnh Độ của mình. Phải chánh tư duy bằng trí tuệ kìa. Chú hiểu chưa?

- Chính em lâu nay cũng như mọi người đều căn cứ vào Kinh sách, thấy Đức Thích Ca giới thiệu Tây phương Cực Lạc thế giới của Đức Di ĐÀ thì tin và thực hành theo. Vì các Ngài đều là bậc Chánh đẳng Chánh giác không lẽ dối gạt chúng sanh sao? Lại vừa sách vở xưa và nay cũng có ghi lại bằng chứng nhiều Phật tử đã vãng sanh qua pháp môn trì danh niệm Phật.

- Chú có tin lời Phật dạy: “Vạn pháp do tâm tạo không?”
- Dạ 100%
- Vậy thế giới Ta Bà mình đang sống đây đã biết là uế độ do tâm của chúng sinh hiện bày theo nghiệp lực chung (tức là cộng nghiệp) của tất cả mọi người, mọi loài. Đây là đất chúng ta tập trung để rồi chia nhau thọ nhận theo lịnh của ông Chủ Nghiệp Quả. Tốt xấu - lành dữ - nhiều hay ít là do tam nghiệp Tham Sân Si nặng hay nhẹ từ ngàn muôn kiếp vô minh. Thế thì trên đây mình đã thừa nhận uế độ Ta Bà này (do tâm tạo) là có thật trước mắt 100%, vậy tại sao lại không theo nguyên tắc đó mà thừa nhận thế giới Tịnh Độ Cực Lạc kia là có thật 100% ở phương Tây để nhắm đích mà về nơi “4 mùa hoa trái xinh tươi đất lành chim đậu”? - Xứ sở đó là cõi nước trang nghiêm, trong sạch toàn mỹ cho tất cả những ai lập hạnh tu theo pháp môn Tịnh độ, dùng tâm này niệm Phật để thành Phật, để rồi vị lai sẽ mang Tâm Phật đó để cứu độ chúng sanh khắp mười phương ba cõi - Lập hạnh như vậy tức là đã phát tâm Bồ đề (tức Tâm Phật).

Nói đến Phật tâm, Phật trí thì vô lượng, vô biên, vô ngại. Năm ngoái chú có gởi thư về cho tôi biết là các khoa học gia ở Mỹ đã dùng viễn vọng kính chụp hình được hàng ngàn thiên hà mới mọc ở một góc trời với những hình dạng khác nhau. Có cái hình tròn, có cái hình xoắn, có cái bầu dục, có cái hình trụ v.v.. đủ màu sắc, lớn nhỏ các cỡ. Thật ra thì điều này không phải là mới mẻ gì, mà chính trong kinh Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm từ 2500 năm trước Đức Thích Ca, Đức Phổ Hiền, Đức Quán Thế Âm đã từng nói đến là: trong vũ trụ hằng hà sa số thế giới có hàng trăm muôn ức mặt trời, mặt trăng. Lại có rất nhiều thiên hà mang hình dạng khác nhau: hoặc như hình nước xóay, hình xoắn ốc, hình bán nguyệt, hình trục bánh xe, hình bảo hoa xoay tròn, hình trái nấm v.v..

Chú biết không, những phát minh của khoa học ngày nay dù có mới mẻ đến đâu cũng chỉ là những cái thấy biết sau cái thấy biết tận gốc rễ của Chư Phật, BồTát. Những gì khoa học nói gần đây, chỉ là những “chiếc lá kiến thức” lẻ loi nằm trong bàn tay của Đức Phật, mà không thể nào so sánh được với cả "rừng lá trí tuệ” mênh mông của Ngài. Thế nên Tây Phương Cực lạc thế giới cùng với hằng hà sa Phật quốc khác cũng không nằm ngoài tri kiến Phật. Nếu chú tin được kiến thức trễ tràng của khoa học mới đây, thì đối với “Thánh trí vô tận nhiệm mầu” của Chư Phật và Bồ Tát xưa kia, chú lại càng phải hết dạ cúi đầu tín phục vạn lần hơn để từ đó mà hướng tâm huân tu giải thoát. Nên nhớ trong kinh Pháp cú có dạy: “Tâm dẫn đầu mọi pháp, Tâm làm chủ, Tâm tạo tác”.

Đến đây Thầy hỏi tôi:
- Có còn hỏi gì nữa không, kẻo không còn dịp hỏi nữa.
Tôi thành thật nói về cái tâm nhiều lúc vẫn còn tán loạn của mình. Nếu không trị dứt được làm sao vãng sanh.
Thầy nói:
- Tổ Thiên Thai ngày trước có dạy, người tu Tịnh độ cũng phải có ba thứ phước đó là:
1. Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng
2. Thọ trì tam quy ngũ giới
3. Phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả. Ngài gọi ba thứ trên là “Tán thiện”
Tán thiện là bỏ ác làm lành, đồng thời với ba món tư lương là Tín - Hạnh - Nguyện được gọi là “Định thiện”. Người có sẵn cả hai món Tán thiện và Định thiện này thì dù tâm mình có tán loạn cũng còn chỗ sở cầu sở đắc, ít ra thì cũng được đới nghiệp vãng sanh, không lo đọa vào đường dữ nữa.

Dường như để trấn an thêm cho tôi, Thầy nói tiếp: “Đừng nghĩ rằng niệm Phật mà vọng tưởng nhiều thì niệm hoài cũng vô ích. Xưa Ngài Linh Phong dạy, chỉ cần có tín tâm chuyên nhứt, nguyện lực chí thiết thì tuy còn vọng tưởng vẫn được Hạ phẩm hạ sanh. Vậy đừng nao núng, cứ siêng năng trì danh niệm Phật tất sẽ toại nguyện vãng sanh.”
Đã cảm nhận được triệu báo chia ly, hai chúng tôi đều thấy cần phải nói cho nhau nghe những điều chưa nói, để em học hỏi thêm và để anh dặn dò sách tấn. Thầy Ấn Nghiêm giảng giải cho tôi nghe hơn cả tiếng đồng hồ mà vẫn không để tâm gì đến sức lực của mình đang từng hồi suy kiệt.

Tôi có cảm tưởng đây là bài pháp cuối cùng về pháp môn Tịnh độ của bào huynh dành cho tôi như món quà tinh thần vô giá cho đứa em duy nhứt của mình vẫn còn ngây ngô trên đường giải thoát.

…………………

12giờ30 phút trưa cùng ngày 23/3/2005, chùa im lặng nghỉ ngơi. Tôi đang ngồi đọc sách bên bàn nước thì có tiếng Thầy gọi nhỏ: “Quảng Tựu, tôi mệt quá!” Tôi bỏ sách chạy lại nhìn Thầy đang thở gấp bằng miệng, mắt nhắm kín. Khi nghe tôi hỏi : “Thầy mới kêu Quảng Tựu phải không?”. Thầy chỉ mở mắt một giây nhìn tôi rồi khép lại như cũ. Tôi đưa ngón tay trước mũi để thăm dò hơi thở. Quả thật Thầy đang bị nghẽn và cố thở bằng miệng… Cơn hấp hối đến rồi, mạng căn của người chỉ còn là “Sợi chỉ mành treo chuông!”

Gia đình chúng tôi với các cháu vẫn chuẩn bị sẵn tư tưởng từ trước. Chúng tôi bình tĩnh chấp tay niệm lớn: Nam mô A Di Đà Phật, cốt để báo động cho mọi người. Lập tức Tăng chúng, Phật tử vội vã chạy đến. “Đồng thanh tương ứng” chỉ trong phút chốc tiếng niệm Phật đã vang lên. Quý Thầy vừa niệm Phật vừa đi chỉnh đốn lại y hậu để làm lễ hộ niệm. Tôi khoác vội chiếc áo tràng lam đem sẵn theo mình, quỳ xuống nói bên tai gia huynh những lời sau đây:

- Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật. Đây là lúc Hòa thượng Ấn Nghiêm thâu thần thị tịch nương vào hào quang vô lượng thọ của Như lai Giáo chủ Tây phương Cực lạc và oai lực Thánh chúng mười phương để thẳng bước về miền Tịnh độ. Toàn thể chúng Tăng đệ tử, môn đồ pháp quyến cùng Phật tử chùa Xuân Thọ xin thành tâm đảnh lễ Hòa thượng và nhứt tâm cầu nguyện Ngài cao đăng Phật quốc. Xin mãi ghi nhớ ân sâu hoằng truyền Chánh pháp, giáo dưỡng Tăng tín đồ tu học pháp môn Tịnh độ, kiến tạo thắng tích Già Lam để lại cho các thế hệ hậu lai được ân triêm công đức của Ngài. Cầu xin Hòa thượng sau khi đắc quả bất thối, xin Ngài hồi nhập Ta bà để cứu độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật.

Chư Tăng và Phật tử cùng hộ niệm với chúng tôi liên tục trong khi, nhìn lại Thầy, hai tay vẫn còn để trên bụng, môi mấp máy cử động như vẫn còn niệm Phật. Có tiếng thút thít nho nhỏ của ai đó đứng phía sau như đang khóc khiến tôi cũng bùi ngùi xúc động theo, nhưng rồi tự chủ được để nước mắt không rơi cho đến khi nhìn kỹ lại gia huynh thì đã thấy Người không còn nữa. Tự nhiên, đầu tôi nặng trĩu, mắt mờ đi, hồn như lạc vào vô thức và rồi một giọng nói sắc nhẹ vẳng vọng từ trước sân chùa: “Tượng Đức Quan Âm và tòa sen xong rồi” Tôi sực nhớ lúc nảy Thầy có bảo tôi ra xem lại Tôn tượng Đức Quan Thế Âm đã hoàn tất việc tu sửa chưa. Tôi đã bạch Thầy là họa sĩ và thợ sơn nói là sẽ làm xong trước hai giờ chiều nay. Bây giờ xong trước thời hạn nửa tiếng đồng hồ. Tòa sen là phần sơn sửa sau cùng. Mầu nhiệm thay, Thầy Ấn Nghiêm cũng vừa xả bỏ thân tứ đại. Như vậy, đây có lẽ là triệu báo kiết tường Thượng tọa Ấn Nghiêm đã được Tam Thánh trao cho Liên đài để tiếp dẫn về Tây phương Cực lạc.

Đại chúng vẫn không ngừng niệm Phật. Riêng tôi, tuy miệng niệm “Nam mô..” nhưng lòng vẫn ngẩn ngơ suy nghĩ về hiện tượng này, về cái “Có” hay “Không”của những sự kiện đã lần lượt xảy ra trong những ngày sau cùng của một vị Hiền Tăng.
Bỗng, Ôi chao là kỳ diệu, trước hàng chục cặp mắt mở lớn vì kinh ngạc của bao nhiêu người hiện diện đang lớn tiếng hộ niệm- Kìa thầy Ấn Nghiêm chấp hai tay đưa lên quá ngực xá ba xá chào mọi người, rồi bất thần ngửa hai lòng bàn tay đẩy mạnh về phía trước (như võ sĩ xuất chiêu), xong nhẹ nhàng trả tay về chổ cũ, lúc này kim đồng hồ chỉ đúng 1giờ 25 phút trưa ngày 14 tháng 2 âm lịch Ất Dậu, Phật lịch 2549 (dương lịch 23/3/2005). Mừng quá, mọi người đều như quên cảnh “Tử biệt sinh ly” đối với người Thầy thương mến, tôi nói lớn: - “chuông trống Bát Nhã, quý Thầy ơi!”. Thế là trống chuông vang rền Chánh điện ba hồi dài như không muốn dứt. Phật tử Phú Hải nghe tiếng chuông trống đoán biết Thầy Trụ trì đã vừa theo Phật, gọi nhau khăn áo lên chùa góp sức hộ niệm cung kính tiễn Thầy về miền Tịnh cảnh.

Hòa thượng chắp tay xá trước khi trút hơi thở cuối cùng.

Hồi tưởng lại, chỉ trong vòng năm phút mà hai hiện tượng hi hữu liên tiếp xảy ra, làm tôi cứ luẩn quẩn giẫm chân tại chỗ với bao nhiêu ý niệm “Có - Không, Không - Có ” về những gì đã hiển hiện trước mắt mọi người.

“Có - Không Có” hay ngẫu nhiên biến hiện? Mà dẫu cho là ngẫu nhiên biến hiện thì cái gì xúc tác để đưa đến cái gọi là biến hiện đó? Tôi tự hỏi: Mưa gió sấm chớp trên trời có là ngẫu nhiên không? - Tự trả lời: Không! Và nếu “không là ngẫu nhiên” tức là “có duyên cớ” mà 2 chữ “duyên cớ” đã bao hàm ý nghĩa “Có” rồi vậy:


Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không.
(Từ Đạo Hạnh )

Một viên sỏi, một mảnh ngói vụn quăng ra ngoài biển cả có thể làm rúng động cả bốn đại dương (Phật xưa nói như vậy và khoa học 2500 năm sau mới xác nhận được điều này).
Thế thì bốn đại dương vĩ đại dường nào mà còn bị rúng động một lần chỉ bởi một viên sỏi, một mảnh ngói. Đối chiếu nhau thì viên sỏi hoặc mảnh ngói chỉ là một “mảy may” không là gì cả so với bốn biển lớn.

Cũng thế, tôi tự hỏi: Vậy sau bao nhiêu công phu tu tập, lập hạnh dấn thân trên đường Bồ tát đạo, sự nghiệp được vun bồi từ trí tuệ của một vị Hiền Tăng giữa cuộc đời ô trược này lại không sánh được với cái “mảy may” của viên sỏi, mảnh ngói để làm rung động cả thế giới tâm linh huyền nhiệm hay sao? - Mà thế giới tâm linh huyền nhiệm nói ở đây tức là thế giới của Trí tuệ “Bất khả tư nghì”. Cho nên:


Trời người lặng im, bất khả thuyết ngôn
Đại đạo sáng soi thập phương tam thế!


THÀNH TỰU PHÁP THÂN

Tang lễ cố Hòa thượng Thích Ấn Nghiêm được ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận tổ chức trọng thể dưới sự điều hành tổng quát của Thượng tọa Thích Chơn Thành (Phó BTS), hiện diện chứng minh có Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh (ủy viên ban Trị sự Trung ương GHPGVN và là viện chủ Tổ đình Phật Bửu, Quận 3, TP.HCM).

Phòng Tăng chùa Xuân Thọ vừa là chỗ ở, vừa là phòng khách, cũng là nơi thầy Ấn Nghiêm làm Phật sự hàng ngày, nay được dọn lại làm linh đường để thờ phượng và tạm dùng tổ chức lễ tang cho người quá cố.
Việc tẩm liệm và các nghi thức sái tịnh nhục thân, sái tịnh Linh quan được hai Ngài viện chủ Linh Quang tịnh xá Thành hội Phật giáo TP.HCM và ngài viện chủ Hải Quang Phó Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận cử hành trong buổi sáng sớm ngày rằm tháng 2 âm lịch (24/3/2005), nhằm ngày vía đức Thích Ca nhập Niết Bàn (PL.2549)

Thượng tọa Từ Giang, viện chủ Linh Quang Tịnh xá Sài gòn cho chúng tôi biết nhục thân của cố Thượng Tọa Ấn Nghiêm khi tẩm liệm vẫn còn ấm và tứ chi vẫn mềm mại như lúc sống. Hiển nhiên là với những hiện tượng hi hữu như đã xảy ra trong thời gian thọ bịnh đến ngày xả bỏ “thân tứ đại” đã là điều kiện chính xác cho mọi người thấy rằng Ngài đã vãng sanh Tịnh độ.
Đến đây, tôi sực nhớ trong lần trước về thăm Thầy vào cuối năm 2004 thầy Ấn Nghiêm có tặng cho tôi quyển “Chú giải Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”. Thầy bảo: “Kinh này cư sĩ Như Hòa ở chùa Bửu Quang mới chuyển dịch ra Việt ngữ, chú đem về đọc thật kỹ phần 48 lời nguyện của đức Phật A Di Đà và cứ y theo đó mà quyết tâm công phu lập nguyện vãng sanh Tịnh độ với người ta”. Đây là một trong ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông. Chú phải lưu tâm tham cứu học hỏi, đừng xem thường.

Do đó, sau hai mươi mốt ngày tang sự cho Thầy xong, tôi về Mỹ giở kinh ra đọc cẩn thận, thấy đại nguyện thứ 13 của đức A Di Đà ghi trong chánh kinh như sau:

“Lúc tôi thành Phật, quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương vượt xa chư Phật, hơn hẳn quang minh của nhựt nguyệt ngàn vạn ức lần. Nếu có chúng sanh thấy quang minh của tôi chiếu chạm vào thân, không ai là chẳng an vui, từ tâm làm lành, sanh về cõi tôi. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh giác!”

Cũng trong phần này, ở phần giải có ghi: “Ngài Tịnh Ảnh bảo: nguyện thứ 13 này và nguyện thứ 15 “Thọ mạng vô lượng” là những nguyện “Nhiếp pháp thân”, vì các nguyện này nhằm để thành tựu pháp thân”.
Sách bình giải cho rằng hai nguyện ấy thể hiện các đức của chơn báo thân, còn cho rằng cả hai nguyện “Quang minh và Thọ mạng vô lượng” là “cái gốc Đại bi của phương tiện pháp thân”.

Phẩm Quang minh biến chiếu trong kinh này có chép: “Gặp được ánh sáng này, cấu diệt, thiện sanh, thân ý nhu nhuyễn. Nếu đang ở trong chốn tam đồ cực khổ mà được thấy quang minh này thì mọi sự khổ đều được ngưng nghỉ, chết đi đều được giải thoát”.

Quảng Tựu tôi xem xong thật sự vui mừng vô cùng vì với những lần thấy mặt trời ở phương Đông rồi phương Tây tỏa chiếu ánh sáng quang minh rực rỡ và mát rượi như máy lạnh trên thân mình trong những giấc mơ kỳ diệu mà thầy Ấn Nghiêm đã thuật lại cho tôi và các đệ tử của Thầy cùng nghe trước khi từ giã thế gian thì rõ ràng là Thầy được thọ ký giải thoát bởi đại nguyện thứ 13 của Đức Giáo Chủ A Di Đà Tây phương Cực lạc.”

NHỮNG HẠT SÁNG LONG LANH

Chiều hôm ấy, 26/3/2005 (ngày 17 tháng 2 ất Dậu) ba ngày sau khi thầy Ấn Nghiêm thâu thần thị tịch, chư Tăng cùng ban hộ trì và một số thân hữu, quyến thuộc chuẩn bị ghe ra cửa biển Phú Hải để rãi tro theo lời Thầy dặn trước khi nhắm mắt.

Khi mở bọc vải màu vàng để xem lại mớ tro cốt lấy từ lò thiêu đem về (một lần với hũ tro tráng men vừa an trí tối qua trong tháp Hạnh Nguyện) quý Thầy đã bất ngờ phát hiện được nhiều mảnh xương với nhiều hình dạng khác nhau, ở đó còn đọng lại những hạt sáng long lanh nhiều màu sắc. Rõ nhứt là khi có bóng điện rọi vào hoặc để dưới ánh sáng mặt trời. Xâu chuổi Bồ Đề của Thầy thường mang hằng ngày cũng cháy ra tro hết, duy chỉ có một hạt còn lại như để làm tin.

Đạo hữu Tâm Quả ngạc nhiên cầm một mảnh vụn dài bằng ngói tay trỏ màu trắng đục hỏi mọi người:
- Cái gì đây?
Không ai biết - Tôi nghi ngờ hỏi tiếp:
- Khi tẩm liệm có ai bỏ theo kính đeo mắt của Thầy không?
- Không, kính của Thầy còn đủ hai cặp, em để trên bàn thờ kia (Chú Quân người em họ của tôi) trả lời.
Không ai xác định được cái mảnh dài dài màu trắng đó là xương hay vật liệu gì khác mà chịu được sức nóng cả ngàn độ của lò thiêu điện. Với độ nóng này sắt thép còn phải chảy huống là kính mắt hay nhựa nylon.Tôi tính quăng đi, nhưng nghĩ thấy tiếc. Sau đó đem bỏ đại trên nóc hồ chứa nước trước phòng Tăng, định bụng là sau này sẽ tìm hiểu cho chín chắn rồi sẽ hay.

Mọi người tiếp tục công việc của mình chờ giờ ra ghe đi rãi tro. Tôi cũng đang phân vân chưa biết tính sao thì may thay, đúng lúc có hai vị Hòa thượng (Thích Tịnh Trí tọa chủ chùa Giác Hoa và Thích Chánh Đạo tọa chủ của một chùa ở Tánh Linh) bước vào thắp nhang phúng viếng thầy Ấn Nghiêm. Đợi hai vị lễ xong, chúng tôi đem sự việc trên trình bày. Các Ngài cầm từng mảnh xương đưa ngang tầm mắt, nhìn ngắm thật lâu, quan sát kỹ từng góc cạnh, trao đổi ý kiến với nhau rồi vui mừng nói lớn: “Đúng là xá lợi đấy, còn nghi ngờ gì nữa. Chỉ có bấy nhiêu đó sao?”
Lập tức tôi đi tìm lấy mảnh vật kỳ lạ khi nảy đã bỏ trên nóc hồ nước, trình hai vị Hòa Thượng ngay và xin cho biết ý kiến. Chúng tôi lại ngạc nhiên một lần nữa khi quý Ngài cùng kết luận: “Đúng rồi, cũng là xá lợi của ngài Ấn Nghiêm để lại đấy!” Bỗng nhiên tôi thấy mình như cây cỏ tạp bên gốc tùng, bách từ lâu mà không hay!

Không ngờ thầy Quảng Lợi cũng giật mình thưa:
- Bạch Hòa thượng, như vậy là con đã để thất lạc một viên xá lợi rất lớn của sư phụ con rồi.
Mọi người xôn xao, hai vị cao Tăng ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại thất lạc được?
- Mô Phật, khi nhân viên lò thiêu kéo máng tro cốt ra khỏi lò đổ vào mấy cái máng nhỏ thì đầu tiên con có thấy một khối tròn, bằng cỡ trái banh con nít chơi màu trắng đục, có những chỗ nổi cộm như trái mãng cầu. Con cầm lên nhìn lúc nó còn hâm hấp nóng. Tuy chưa bao giờ nhìn thấy xá lợi nhưng con sanh nghi và nói “chắc là xá lợi của Thầy đây!”, nhưng anh nhân viên của lò thiêu lại nói không phải. Anh ta nói đó là keo hóa học dán nắp áo quan, bị lửa đốt nóng nó chảy ra và kết lại thành một khối tròn như vậy. Không hiểu sao nghe anh ta nói vậy con lại tin theo và bỏ xuống máng. Lúc đó con thấy chú Tâm Diệu có chụp hình.
- Bạch Hòa thượng. Tâm Diệu nói:
- Con có thấy khối tròn trắng đục đó nằm trong máng tro của anh nhân viên đeo khẩu trang.Vì có Thầy Quảng Lợi đứng gần đó nên con có chụp một pose hình kỷ niệm cho Thầy, chớ con cũng không quan tâm đến cái khối tròn đó. Để mai đây con lấy film đi rọi hình thử coi. À thằng Sáng em con, nó đứng bên ngoài cửa kính nhìn vào, nó cũng thấy rõ là anh nhân viên sau đó lấy khối tròn giấu dưới góc cửa phía trong. Nó chỉ tình cờ thấy thôi chớ không biết là gì!

Cả hai vị Hòa thượng đếu lắc đầu tiếc nuối. Ngài Tịnh Trí nói:
- Có lẽ Phật tử Xuân Thọ không đủ nhân duyên thủ đắc, nên ổng chỉ cho thấy bấy nhiêu đây thôi.Thử cố gắng liên lạc trên đó tìm lại coi. Nếu tìm lại được thì quý hóa lắm đó, như bảo vật đó.

Sau khi tiễn chân nhị vị Hòa thượng ra về, tôi đề nghị thầy Quảng Lợi nên điện thoại gấp về TP. HCM , trình sự việc này với hai ngài Phật Bửu và Linh Quang để thỉnh ý, xem có thể nhờ ai liên hệ trước với lò thiêu để ngày mai mình lên gặp họ nhờ giúp tìm lại vật đã mất, nếu hữu duyên thì may ra… Tuy nhiên, việc trước mắt vẫn phải lo cho xong, lễ rãi tro ra biển cho kịp con nước chiều nay vì ghe đang chờ ngoài bãi.
....

24  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: CHÚC MỪNG HOÀNG THẦN TÀI TRÒN MỘT TUỔI vào lúc: Tháng Mười Hai 16, 2008, 09:08:26 AM
Nguyện một năm mới an bình đến với Hoàng thần tài chúng con.
Túc bái
Tiểu cát cát.
25  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Re: OAI LỰC CỦA CÂU NIÊM PHẬT. vào lúc: Tháng Mười Hai 16, 2008, 09:06:11 AM
Cõi Trời Đao Lợi thứ hai một ngày một đêm, ở nhân gian trải qua một trăm năm (một thế kỷ).

     Cứ như thế nhân lên đến cõi Trời thứ sáu là Tha Hóa Tự Tại Thiên, thì một ngày một đêm cõi Trời này, ở cõi nhân gian đã trải qua 16 thế kỷ, mà thọ mạng nhất định của hàng nhân thiên ở cõi Trời thứ sáu này một vạn sáu nghìn (16.000) năm . Đem thọ số trọn đời của người cõi Trời thứ sáu nàylà một vạn sáu nghìn năm mà so sánh với Viêm-Nhiệt địa ngục thứ sáu trong 8 đại địa ngục thì chỉ là một ngày một đêm của tội nhân trong địa ngục ấy .

Nói sơ lược như trên để thấy rõ chúng sanh trong cảnh luân hồi hưởng vui ở cõi nhân thiên chỉ là chốc lát, thọ kịch khổ trong địa ngục quá lâu dài. Hơn nữa trong các cõi Trời dù được hưởng thọ vui ngũ dục thắng dịu nhưng cũng còn cái khổ ngũ suy tướng hiện. Trong cõi người dù nói vui ấy chẳng qua là tương đối với tam ác đạo. Thực ra vui ít khổ nhiều, một điển hình rất rõ rệt, chúng ta vào trong các bệnh viện và các trại lao, trại cùi sẽ thấy cái kịch khổ trong ấy dường như cảnh địa ngục ngạ quỷ, thế có gì gọi là vui! Đây là chưa nói đến cảnh lao ngục của những tội nhân bị hành hình..

3-Tìm phương thoát khổ: Chúng ta vì si mê nên không thấy rõ sanh tử luân hồi trong tam giới, do đó từ vô lượng kiếp đến nay đã trải qua sanh tử không biết bao nhiêu lần ( điều này nên xem lại hai câu kinh văn đức Phật dạy trên) mà cứ sống say chết ngủ, khác nào những con phù du trên mặt nước mai sanh chiều chết, mà vẫn cho là an vui tự tại. Hôm nay có chút phước lành được làm thân người, dù không có phước duyên gặp Phật xuất thế, nhưng còn gặp được Chánh Pháp của Phật để lại, do đó mà được biết rõ lời vàng ngọc của Ngài đinh ninh dạy bảo.

Về sự sanh tử luân hồi quá lâu xa như trên đã diễn tả. Vậy chúng ta phải mau thức tỉnh tìm phương thoát khổ, nhưng muốn được thoát khỏi cái khổ luân hồi trong ba cõi cũng chẳng phải là việc dễ dàng, vì cần phải đoạn hai thứ phiền não Kiến tư, mà Kiến hoặc là thứ thô thiển nhậm lẹ dễ đoạn, nhưng đoạn được nó cũng rất khó khăn, khác nào ngăn chặn dòng nước từ 40 dặm chảy xuống, kiến hoặc mà còn khó đoạn dường ấy, huống chi Tư hoặc là một thứ vi tế lại ám độn khó đoạn gấp trăm nghìn lần. Vì thế Đức Bổn Sư Thích Tôn xuất hiện trong thế gian này, tùy cơ thuyết pháp 49 năm, giảng kinh hơn 300 hội. Pháp môn nhiều đến tám muôn bốn nghìn (84.000) trong ấy chỉ có pháp môn niệm Phật (Tịnh Độ) là một pháp tối thắng độc tôn. Tại sao vậy? Vì pháp môn này có hiệu lực làm cho tất cả chúng sanh mau thoát ly sanh tử luân hồi và thẳng tiến đến Phật quả. Vả lại luận về căn cơ thì gồm thu nhiếp cả ba căn: Thượng, Trung, Hạ.

Luận về phần hạ thủ công phu thì dễ thực hành, mà thành công cao nên nếu người nào có đủ lòng tin sâu, chí nguyện thiết, nhứt tâm niệm Phật thì chỉ trong một đời này bảo đảm 100% được thoát khỏi cái khổ sanh tử luân hồi vô cùng bất tận như đã nói trên. Cuối cùng tôi rất mong những người thiện căn vì lòng mong muốn thoát ly sanh tử luân hồi trong tam giới nên phát tâm Bồ đề khởi niệm tin sâu nguyện thiết nhất tâm trì Thánh hiệu của Đức Từ Phụ A Di Đà, cầu vãng sanh Cực Lạc, trên cầu thành Phật quả, dưới cứu độ chúng sanh, thì nơi tự mình chẳng những không phụ được thân này, vì có được thân người này rất khó như đất dính trong móng tay, mà cũng đền đáp thâm ân của Bổn Sư Thích Tôn và chư Phật trong sáu phương (nói 6 phương tức gồm đủ 10 phương) đồng đinh ninh dạy bảo khuyến hóa. Chúng ta và tất cả chúng sanh phát nguyện vãng sanh Cực Lạc.

      Toàn bài văn này tôi nương theo ý của lời Phật, Bồ Tát, chư Tổ thuật lại không có một lời nào thuộc về tự ý của kẻ phàm phu si ám này. Vậy mong quý vị đừng vì người hèn mà bỏ qua diệu Pháp.   

 

PHẬT HỌC VIỆN QUỐC TẾ XUẤT BẢN

PHẬT LỊCH 2543 – 1999
.                         

( source : quangduc.com)
26  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / OAI LỰC CỦA CÂU NIÊM PHẬT. vào lúc: Tháng Mười Hai 16, 2008, 09:05:12 AM
OAI ĐỨC CÂU NIỆM PHẬT

TT. Thích Trí Minh

 
 


    Người dòng Bà La Môn ở nước Thiên Trúc. Vào thời đại xa xưa, tại nước A Thâu Sa của xứ Thiên Trúc (vì nước Thiên Trúc vào thời cổ có 16 nước lớn) có một người dòng Bà La Môn (không thấy nói tên họ), anh chàng này bẩm tánh chân thật, nhưng ngu si vô trí lại khổ một nổi là tâm nhiễm ái thiên trọng, nên anh đối với vợ yêu thương quá mức, với tình chồng vợ không biết chán nhàm. Trái lại vợ anh chẳng những là người hiền lành, mà lại thông minh lanh lợi. Cô này sanh trưởng trong một gia đình kính tin Tam Bảo, riêng cô là người chẳng những với ngôi Tam Bảo sùng kính đến mức tối đa, lại rất am tường Phật lý, về việc tu hành thì cô chuyên về Pháp môn Tịnh Độ, trường trai niệm Phật. Cô thuê thợ làm một chiếc trống thuần hoàng kim. Mỗi ngày Cô quy định hai thời khóa niệm Phật khuya và tối, vì trong lúc ban ngày phải bận việc gia đình, trong thời gian này cô niệm Phật cũng chỉ nhiếp tâm thầm niệm mà thôi. Mỗi khi niệm Phật thì cô gõ trống thế cho mõ, như trên đã nói, chồng của cô đã quá đần độn lại quá yêu vợ không rời, nên lúc cô vợ đang cúng đánh trống niệm Phật, mà anh nắm lôi tay cô bảo đi ngủ, cô ôn tồn đáp: “Không được anh ơi! Nếu anh muốn em cùng đi ngủ thì mỗi tối đồng với em đánh trống niệm Phật cho xong mới cùng nhau đi ngủ”. Anh vì thương vợ nên sẳn sàng ưng thuận, có những lúc đang niệm Phật anh ta thúc hối đi ngủ thì cô ấy vẫn từ hòa nói, chưa đủ anh ơi! Niệm thiếu mang tội chết! Từ đây anh dòng Bà La Môn này cùng vợ niệm Phật không sót một đêm, trải qua thời gian ba năm, anh bị trọng bệnh rồi qua đời, nhưng vì tim vẫn nóng, nên không nhập liệm, trải qua năm ngày anh sống lại, bấy giờ anh đối với vợ khóc một cách thảm thiết dường như buồn tủi một việc gì?! Cô Phật tử vợ anh hỏi lý do, anh nói: ”Em ơi! Giờ đây anh không có một niệm muốn gần em nữa! Duy có tâm niệm lo tu là chăm niệm Phật để được về Tây Phương Tịnh Độ mà thôi! Vì sau khi anh chết bị ngục tốt dẫn vào Hoạch Than địa ngục (địa ngục này hành phạt tội nhân bằng cách nấu trong vạc dầu sôi), lúc ấy anh thấy tất cả tội nhân đương bị nấu trong vạc trồi lên chìm xuống, dường như nấu đậu, lại có tội nhân la khóc thảm thiết, trườn qua vành chảo mà muốn chạy ra, bị Ngục tốt dùng gậy đánh đập trúng chảo đồng đang nấu nghe tiếng cảng cảng và nó lại bắt quăng vào chảo, lúc ấy anh vô cùng kinh hồn khiếp vía sợ hãi, bỗng nhớ lại khi cùng em đánh trống vàng niệm Phật, hai tay chắp lại chí thành niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì lại chí thành niệm “Nam mô A Di Đà Phật” thì chảo dầu sôi tức khắc biến thành một ao nước mát có hoa sen đầy trong ấy, bao nhiêu tội nhân đều ngồi trên hoa sen, và thấy họ vui tươi không la khóc. Tất cả đều sanh về Tây phương Tịnh Độ. Ngục tốt tức khắc tâu với Minh Vương, Ngài liền đến chỗ chảo dầu sôi đã biến thành ao sen, vui mừng vô hạn, và tức khắc truyền lịnh phóng thích anh về dương thế, lại dạy bảo anh sau khi về dương thế phải siêng niệm Phật, đừng gần vợ nữa. Vì thế, anh giờ đây 100% không muốn gần em. Anh cũng muốn nói cho em được rõ, Minh Vương chẳng những vui vẻ truyền lệnh phóng thích anh về, mà Ngài còn nói:

Trên trời dưới trời                       

Không ai bằng Phật

Đức từ bi Ngài       

Cứu khắp quần sanh

Có những chúng sanh                 

Tạo nhiều tội ác

Đọa vào địa ngục                       

Chịu khổ cực hình

Chỉ nghe một câu                       

A Di Đà Phật

Dầu sôi lửa dữ                           

Tức khắc biến thành

Tất cả tội nhân                         

Đều được vãng sanh

Ao nước thanh lương ( mát mẻ)

Tây phương Cực Lạc             

Đức từ bi ấy

Hết sức cao cả                       

Con không thể gì

Dùng lời diễn tả                     

Chỉ có chí thành

Tánh mạng nương về           

Nơi đấng Lưỡng Túc                                         

( Phước đức trí huệ).

     Truyện này tôi thành kính y trong bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục thuật lại chữ Việt. Trong bộ sách này ghi lại  truyện vãng sanh có mấy ngàn, truyện anh chàng Bà La Môn là một truyện trong ấy (trong truyện này ai là người được vãng sanh? Tức là các tội nhân bị nấu chảo).

     Quý vị đọc truyện này có vài điểm nên lưu tâm:

_ Hành động của cô Phật tử (vợ anh Bà La Môn).

_ Niệm Phật đã ba năm mà bị đọa địa ngục.

_ Hành động của cô Phật tử trong truyện ngắn này, chúng ta nên tán thán, vì nếu cô ấy như những người khác, thì có nhiều thất bại. 

_ Gia đình không an vui, tại sao vậy? Vì khi cô đương niệm Phật mà bị chồng quấy rầy như vậy, theo như những người phụ nữ khác, sẽ nổi sân si la mắng rằng đồ khốn nạn, người ta đang trong giờ tu niệm mà nắm tay lôi kéo hối thúc đi ngủ. Trong khi ấy anh Bà La Môn chắc 100% không nhịn, vì dù anh là người đần độn vô trí, nhưng vẫn có tâm tự ái, hơn thế nữa là chồng thì bao giờ cũng ở trong thế thắng, nghĩa là người có quyền hơn vợ, đương nhiên anh sẽ chửi mắng và có thể xảy ra việc đánh đập là khác.

_ Không thể an tu. Vì như trên đã nói, thì làm sao an tâm mà tu niệm? Thế là đại sự của mình bị hỏng!

_ Không hướng dẫn chồng vào Phật pháp. Điểm này không cần dài dòng vì giữa hai bên đã bất hòa, đã chạm tự ái, tâm sân đã sùng sục nổi dậy, là vì ái với sân nó đi đôi không rời nhau, niệm đầu vì anh ấy quá yêu vợ và yêu trong trường hợp về nhục dục, mà không như ý thì đương nhiên lửa sân nổi dậy. Sơ lược ba điểm như trên, chúng ta thấy cô Phật tử trong truyện rõ là người khôn ngoan có trí lại gồm hiền từ.

_ Niệm Phật ba năm mà bị đọa. Sự việc này mới nghe qua, ai ai cũng phải có tâm nghi ngờ đối với lời vàng của đức Thế Tôn. Vì trong Kinh Ngài có dạy rõ “Niệm một câu A Di Đà Phật, sẽ tiêu diệt tội trọng trong đường sanh tử 80 ức kiếp”. Chỉ một câu mà còn có hiệu lực dường ấy, tại sao anh Bà La Môn kia mỗi đêm đều cùng vợ niệm Phật suốt 3 năm mà bị đọa? Nam Mô A Di Đà Phật! Xin quý vị bình tâm, tôi sẽ trong Kinh mà lược thích sự nghi ngờ ấy. Chúng ta nên biết tất cả pháp, thì tâm đứng đầu, tâm làm chủ, nếu dùng tâm ấy mà tạo nghiệp thì như bóng theo hình không bao giờ sai chạy. Thế mà anh Bà La Môn niệm Phật, bằng cách đọc Thánh hiệu Phật mà thôi, trong tâm tưởng hoàn toàn không có niệm. Tại sao? Vì dù anh suốt ba năm niệm Phật theo vợ, nhưng trong tâm bao giờ cũng nghĩ được vợ theo ý mình. Chuyện này tôi nói phớt qua, quý vị thừa hiểu nhiều, hơn nữa cũng không nên nói. Có điều chúng ta 100% nên lưu ý là, dù anh Bà La Môn ấy suốt ba năm không có một phút thành tâm niệm Phật, chỉ miệng đọc Thánh hiệu bằng cách bắt buộc theo lời vợ đã hứa (tức là cô Phật tử ấy bảo anh nếu muốn đi ngủ phải cùng em niệm Phật cho đủ), do sự đọc Thánh hiệu bằng cách bắt buộc ba năm, nó huân sâu vào tạng thức, thành hạt giống niệm Phật nằm mãi trong tâm, như hạt kim cương không bao giờ hư hoại, nên khi gặp duyên thì hạt giống sẳn có ấy nó phát ra rất mạnh mẽ, theo Duy Thức Học của Phật dạy gọi là chủng tử khởi hiện hành. Do vậy nên anh Bà La Môn khi bị ngục tốt dẫn vào ngục nước dầu sôi, thấy bao tội nhân đang bị hành hình đã vô cùng khiếp sợ, lại nghe tiếng đánh đập tội nhân cây côn trúng vào chảo kêu lản cảng thì trong tâm thức anh tức khắc nhớ lại tiếng gõ trống vàng niệm Phật với vợ khi ở dương thế, liền thành kính chấp hai tay lại mà niệm Nam Mô A Di Dà Phật thật lớn! Kính thưa quý vị, với câu niệm Phật của anh Bà La Môn lúc này có công năng tiêu tội trọng vô lượng vô biên kiếp chứ không phải chỉ trong 80 ức kiếp, vì câu niệm Phật lúc này của anh chẳng những chí thành mà tất cả tâm lực đều dồn hết vào đó, nên mới được kết quả vĩ đại như vậy. Ví dụ cho dễ hiểu, như nhà tối vạn vạn năm, mà đem ngọn đèn pha soi vào, thì tất cả sự tối tăm đều tan tức khắc. Vì lý do này, mà chảo dầu sôi đang sôi sùng sục, tức khắc biến thành ao nước mát mẻ đầy cả hoa sen, bao nhiêu tội nhân đều ngồi trên ấy.

     Ở đây chúng ta sẽ thấy rõ, cái công đức niệm danh hiệu Từ phụ A Di Đà của anh Bà La Môn không mất cũng vì vậy mà trong Kinh Phật dạy niệm Phật dù không chí thành cũng là nhân xa sẽ được giải thoát trong vô lượng kiếp về sau. Nói đến đây thuật giả nhớ lại, hay dùng bánh trái dụ trẻ con niệm Phật là chính ý ấy vậy. Còn việc tại sao do một câu niệm Phật của anh Bà La Môn mà tất cả tội nhân được ảnh hưởng lợi ích vĩ đại như vậy, điều ấy tôi xin dẫn một đoạn trong kinh Pháp Hoa ở Phẩm Phổ Môn quý vị sẽ rõ: Trăm ngàn vạn ức người, vì kiếm bạc, vàng, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, và những thứ quý báu cùng loại, nên ra biển cả; giả sử bị trận gió lớn trong bầu trời u ám thổi bạt thuyền tàu sa vào đảo quốc La Sát, trong những người ấy, nếu chỉ có một người trì niệm danh hiệu Quán Âm Đại Sĩ, thì những người kia cũng vẫn thoát được cái họa La Sát.

     Tiếp theo thuật giả thành kính y trong các Kinh. Kinh địa ngục, kinh Lâu Thán, Kinh A Hàm, Chánh Pháp Niệm Xứ, trang Thung Lục Bộ Sách lược thuật về nguyên nhân vì sao vua Diêm Vương tức trong truyện gọi là Minh Vương. Khi thấy tội nhân vạc dầu sôi biến thành ao nước mát và có nhiều hoa sen tội nhân ngồi trên đó. Ngài vui mừng đến tột độ tức khắc truyền lệnh phóng thích người Bà La Môn và cung kính thuyết kệ diễn tả đức từ bi cứu khổ ban vui của Đức Từ  Phụ Di Đà. Vì các Diêm Vương âm phủ đối với tất cả tội nhân quý Ngài đều có từ tâm với họ nên mỗi khi Ngục tốt bắt người dẫn đến liền truyền lệnh bảo Tàu quân đem bộ sổ ra xem, căn cứ theo lời khai của mỗi tội nhân phù hợp với trong ấy, gặp những người nào khi còn ở trên dương thế tu nhiều phước đức nhất là có tâm tin kính Tam Bảo ăn chay niệm Phật thì các Ngài vui mừng vô cùng. Trái lại gặp những tội nhân tạo nhiều tội ác thì các Ngài quở trách, nơi đây thuật giả xin dẫn nguyên văn chính cú của vua Diêm Vương đối với tội nhân quở trách như sau:

"Các ngươi may mắn.

Đã được thân người.

Mà chẳng lo tu.

Khác nào như người.

Đã đến núi báu (núi có vàng ngọc).

Mà về tay không.

Hôm nay đến đây.

Phải chịu cực hình

Là do các ngươi.

Tạo nhiều tội ác

Tự mình tạo tội

Thì tự thọ khổ

Đâu có người nào

Đem khổ đến cho

Giờ đây các ngươi

Kêu la than khóc

Mong cầu việc gì!

Ta đâu cứu được

Ta cũng không thể

Chịu thay các ngươi!"

     Như trên là nói qua Diêm Vương rất trọng Phật Pháp và rất thương kính người tu hành, mà nhất là ăn chay niệm Phật siêng làm các việc lành, lánh xa tất cả điều ác, việc ấy cứ xem trong ba câu chuyện ngắn Thuật giả dẫn trong Long Thơ Tịnh Độ sau đây thì rõ._ Phật tử Phòng Chữ Triều nhà Đường ở Trung Hoa, có một Phật tử tên Trần Chữ. Người này thành kính Tam Bảo, tu hành rất tinh tấn. Một hôm không hề bệnh hoạn gì bổng nhiên bị bạo tử, xuống Minh phủ yết kiến Diêm Vương. Diêm Vương tiếp đãi rất sùng hậu. Ngài phán rằng, căn cứ trong bộ sổ ghi tội phước thì Trẫm thấy khanh có một việc công đức rất lớn, là khuyên một người cao niên niệm Phật. Người ấy đã vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, khanh nương nhờ công đức ấy cũng chắc chắn được vãng sanh. Nên Trẫm mời khanh đến đây để được gặp nhau lần cuối cùng, và cũng có vài lời tán thán công đức vĩ đại ấy, vì khanh đã làm cho một người sẽ thành Phật, độ vô lượng hằng sa chúng sanh. Phòng Chữ sau khi nghe Diêm Vương ân cần tán dương công đức mình, anh nói một cách quả quyết rằng, kính tâu Diêm Chúa, con chân thành vạn tạ ơn Ngài đã chiếu cố gọi con đến đây, và có những lời dạy bảo quý hóa ấy. Con vô cùng cảm kích! Nhưng tâu Diêm Chúa, trước kia con có phát hai điều thiện nguyện: Một là trì tụng một vạn quyển Kinh Kim Cang, hai là đi Ngũ Đài Sơn chiêm bái Đức Đại Bi Quán Âm Đại Sĩ, vì vậy nên con chưa muốn vãng sanh Cực Lạc trong lúc này. Đức Diêm Vương phán rất quý hóa! Nhưng khanh nên biết với hai thiện nguyện ấy hoàn toàn không bằng sớm được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Vì được về cõi nước của Đức A Di Đà, chẳng những khỏi hẳn tất cả khổ thống trong sanh tử, mà sự tu hành đủ thắng duyên hơn ở cõi Ta Bà đến vạn ức lần. Hơn nữa, được diện kiến Đức Giáo Chủ cõi Cực Lạc, và hai Đại Thánh Quán Âm, Đại Thế Chí luôn hầu cạnh bên. Lúc bấy giờ khanh chẳng những được yết kiến lễ bái Phật A Di Đà mà lại được lễ bái Quán Âm, Đại Thế Chí lại được làm bạn với chư Thượng Thiện Nhân ở Lạc Bang. Nếu khanh ở lại cõi này đi chiêm bái, chẳng qua chỉ là Thánh tích của Quán Âm Đại Sĩ mà thôi. Những lời trên vừa tỏ bày và khuyến tấn đối với khanh đều là y theo Thánh giáo chứ không phải từ nơi ý kiến riêng của Trẫm, mong khanh nên nghĩ kỹ. Diêm Vương đã cạn lời huấn dụ như vậy mà ông cũng không vâng theo, nên Ngài cũng tùy thuận mà bảo Ngục tốt dẫn trở về dương thế.

     Đọc truyện này chúng ta thấy rõ khuyến người niệm Phật tu hành chẳng những được phước rất lớn, mà chính mình cũng được vãng sanh Cực Lạc, lại cảm động chốn u minh được Diêm Vương kính phục. Thế nên Đức Đại Từ Bồ Tát làm kệ thuyết minh về công đức khuyên người tu pháp môn niệm Phật như sau:

Nếu ai có thể

Khuyên được hai người

Tu hành niệm Phật

Như thế tức là

Bằng mình tự tu

Rất là tinh tấn

Nếu khuyên cho được

Mười người trở lên

Thì phước đức ấy

Vô biên vô lượng

Nếu mà khuyên được

Trăm người ngàn người

Làm được như vậy

Thật là Bồ Tát

Lại tiến lên thêm

Cho đến số vạn

Như vậy tức là

Phật A Di Đà.

_ Vua Diêm Vương khuyên bà lão tuổi đã 70 niệm Phật, ở tại xã Châu Lâm, huyện Kim Đàn, xứ Trân Giang. Bà này chết xuống âm phủ, nhưng chưa hết số phải trở về lại nhân gian. Trước khi bái biệt Diêm Vương để trở về chổ cũ, Diêm Vương khuyên bà lão: " Bà đã cao niên rồi, khi trở về dương thế lo tu phước đức sẽ được sanh đến cảnh giới an vui . Ngài lại hỏi bà niệm Kinh được không? Bà đáp: Thưa Đại Vương! Con không biết chữ tụng không được. Diêm Vương bảo không sao! Bà tụng kinh không được, chỉ thành tâm niệm Phật A Di Đà cho nhiều, đến kỳ mãn số sẽ về Tây phương Cực Lạc, không còn trở lại chốn này. Sau khi bà lão sống lại, bà thường nói với những người quen biết rằng: Tôi từ nào vô phước không ai chỉ dạy tu hành tụng kinh niệm Phật. Hôm nay nhân chết xuống âm phủ, vua Diêm Vương dạy tôi niệm Phật, do đó tôi biết đạo Phật không gì hơn. Đức Diêm Vương mà còn khuyên tôi niệm Phật, thì đâu nghi ngờ gì nữa.Từ nay tôi nguyện gác bỏ tất cả?7885;i việc, đói no không quản đến, con cháu nó có thương cho bữa đói bửa no gì cũng được. Bà từ đấy chuyên tâm niệm Phật, lại sống lâu 120 tuổi mới mãn phần. Khi bà sắp qua đời không bệnh khổ gì lắm, chỉ mệt không đi đứng được nhiều như ngày thường, rồi niệm Phật mà thoát hóa. Cứ theo truyện này thì thấy có hai điều đặc biệt. Một là bà lão chắc chắn được vãng sanh vì bà niệm Phật không bê trễ, chẳng những từ ngày xuống âm phủ rồi về nhân gian, mà lúc lâm chung chánh niệm hiện tiền. Hai là do niệm Phật mà thọ số rất cao, lại không bệnh khổ.

_ Thấy người sát sanh niệm Phật được phước.

     Trong bộ Quán Âm Linh Cảm Ký thuyết minh Diêm Vương khuyên người niệm Phật như sau: Ở tại Nhiêu Châu (Trung Quốc) có người tên Trịnh Lân coi về việc trong quân đội, chết xuống Âm phủ, nhân vì bắt lầm nên được thả về dương thế( giống với truyện hai trên). Trước khi bái biệt Diêm Vương, Ngài có mấy lời khuyên nhắc Trịnh Lân rằng: Anh về dương thế gắng sức làm lành, kiếp người quá ngắn ngủi như bóng câu( ngựa) qua kẽ hở, như đèn leo lét giữa gió, như sương mai đầu ngọn cỏ..

     Những việc lành thì có vô lượng, mà trong ấy công đức niệm Phật là lớn nhất. Vậy Trẫm khuyên anh cố gắng niệm Phật cho nhiều, khi tận số sanh được Cực Lạc không còn trở lại chốn Diêm Đài, lại bất luận lúc nào anh thấy người sát sanh thì anh chí thành niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát cầu nguyện cho chúng sanh bị giết sanh về Cực Lạc, dù chúng nó không được sanh Cực Lạc, thì cũng được thác sanh cảnh giới lành, anh được phước rất lớn. Căn cứ theo truyện này thì thấy rõ niệm Phật có ba điều lợi lớn: Một là đem công đức ấy tiến bạt cho tiên vong, hai là được phước, ba là được vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ.

     Giờ đây xin nói qua mấy ông chủ ngục và mấy chú A bàn đối với tội nhân thôi khỏi nói, vì mấy ổng họ ghét tội nhân hơn ghét kẻ oan gia, cừu thù, cọp dữ, rắn độc và xem rẻ như thú vật. Họ đã hành hạ chửi mắng đánh đập một cách tàn nhẫn, vậy mà họ không vừa lòng. Họ muốn làm sao cho các tội nhân bị đau khổ cho thật dữ, không một phút một giây được yên thì họ mới hả dạ. Thật không có chút từ tâm, thế nên trong văn cảnh thế nói: "Tàu quan bảo án một nhân tình, Ngục tốt trì xoa vô tiếu diện.." ( Tàu quan xử thét la chẳng vị, Ngục tốt hờn tay chùy tay xoa) có người thấy vậy mới hỏi mấy ổng rằng: Tất cả tội nhân nơi đây cùng mấy ông đồng là chúng sanh, tại sao quá nhẫn tâm tay đánh miệng chửi mà chưa đã giận hết tức là nguyên nhân nào? Mấy ổng đáp: "Ông trách chúng tôi cũng đúng, nhưng nếu mấy ông ấy mà ở vào trong hoàn cảnh như chúng tôi, thì mấy ông cũng vậy. Vì tất cả tội nhân họ đến đây chịu cực hình, trong lúc họ còn trên dương thế toàn là những người có thể tu tập pháp lành, là vì được thân người yên ổn, dù trong ấy cũng có sai khác nhau rất nhiều, là nghèo giàu, khổ vui, nhưng không có một phần nào như chốn hắc ám khủng khiếp này! Thế mà nó không có một chút thiện niệm, đừng nói là làm lành. Chúng nó bất hiếu với cha mẹ ông bà quyến thuộc, hủy báng Tam Bảo, không kính trọng Thánh Hiền, mạ nhục lục thân quyến thuộc. Với bậc Sư Trưởng thì họ ngạo mạn khinh chê, với tất cả người thì xảo trá quỷ quyệt gian tham lường gạt tìm đủ mưu mô hãm hại họ, miệng thì nói lời thô ác, nói lưỡi đôi điều, làm ly gián quyến thuộc của người, nói dối trá, nói thêu dệt. Tâm thì tham lam keo kiết chỉ muốn cho mình vàng đầy rương, bạc đầy tủ, lúa đầy kho, thấy người đói thiếu không lòi một xu, dù họ lâm vào tình trạng đến chết cũng mặc kệ, nhưng đây là việc thường. Còn có những kẻ tàn ác hơn nữa, giết người cướp của, sát hại thú cầm, trên không gian thì dùng lưới rập dùng súng ná, đất liền thì gài bẫy đào hầm, dưới nước thì chài lưới lờ dẹp đó đăn.. cho đến phá làng phá xóm đốt nhà cửa lương dân, hãm hiếp vợ con người làm cho mất tiết mất trinh, buông lung kết án gây thù với người. Chúng tôi chỉ nói sơ lược như vậy, nếu nói cho đủ thì không biết bao giờ cho cùng tận, những tội ác của những kẻ đã đến đây!Ông có biết không? Trong những giờ phút mà các tội nhân được thoát khỏi ngục hình, trên thì Đức Diêm Chúa, dưới thì chúng tôi vui mừng khôn xiết. Nên mỗi lần tội nhân được ra khỏi ngục, Diêm Vương Ngài đinh ninh dạy bảo khuyên răn một cách thống thiết rằng: Quý tội nhân! Từ ngày quý vị đến đây thọ tội, lòng Trẫm cũng buồn đau lắm, nhưng có biết làm sao! Vì quý vị tự tạo tội thì phải chịu khổ quả, không một ai thay cho, dù người chí thân như cha mẹ, anh em, chồng vợ.. Vậy hôm nay Trẫm xin nhắc quý vị luôn nhớ sự kịch khổ trong đây, thật không thể gì diễn tả! Trong thời gian qua quý vị đã nếm đủ rồi. Vậy trong giờ phút này, Trẫm mong quý vị ráng nhớ, đã ra được rồi đừng trở lại!!! Trẫm mong quý vị đừng tạo tội ác nữa nghe chưa?!

     Thế mà những tội nhân này, với lời Diêm Chúa khuyên răn dạy bảo, chúng vẫn như nước chảy lá môn, như đàn khảy tai trâu, không một niệm chừa bỏ. Mới ra khỏi chốn cực hình ngày này, chốc lát vẫn lại vào. Chúng sanh trong cảnh luân hồi thọ khổ xem như nhà ở của mình, mê muội không chút ngao ngán, không sợ đau khổ. Làm cho chúng tôi khổ cực vì họ, bởi ngày đêm đánh đập hét la hao hơi rát cổ, thân thể mệt mỏi, gân xương đau nhức. Việc này không phải một, hai ngày, mà phải trải qua kiếp này đến kiếp nọ. Vì duyên cớ ấy, ông bảo chúng tôi đối với tội nhân phải có từ tâm, sự thật không thể khởi từ tâm với chúng nó được mà trái lại chúng tôi còn muốn cho chúng nó đau khổ, càng thêm đau khổ, đau khổ cho đến mức tận cùng không thể chịu nổi. Vì chúng tôi có ác ý như vậy là mong tội nhân biết khổ, đau biết hổ thẹn, biết chán ngán đừng trở lại nữa! Nhưng mà chúng tôi thấy vô số tội nhân không một niệm chán khổ, không chịu tu thiện cầu về Niết Bàn, không chịu niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Với lờ?ật dạy, họ bỏ ngoài tai. Các tội nhân đã như vậy, thật như vật vô tri thì làm sao bảo chúng tôi khởi từ niệm với họ cho được?!

Ghi chú số (1)

     Mấy ông A-bàn nói tội nhân dưới địa ngục ngày hôm nay ra khỏi, chốc lát, lại rơi vào, là một sự thật 100% chứ không phải vì giận ghét mà nói như vậy. Xin quý vị lưu ý Thuật giả sẽ nói rõ điều này, vì một ngày đêm dưới địa ngục lâu dài ngoài sức nghĩ tưởng của chúng ta. Như trong kinh luận thường nói, ngày đêm ở cõi Trời (ở đây Thuật giả dẫn các cõi Trời ở Dục giới rất lâu đối với ngày đêm ở nhân gian. Vì ở cõi Trời Tứ Thiên Vương một ngày đêm bằng ở nhân gian 50 năm. Cho đến một ngày đêm ở cõi Trời thứ 6 là Tha Hóa Tự Tại bằng 1.600 năm ở nhân gian. Thế là chúng ta thấy hai nơi nhân gian và Thiên Thượng đã khác nhau quá nhiều rồi. Giờ đây Thuật giả y theo kinh Quán Phật Tam Muội thì, một ngày đêm ở địa ngục A Tỳ bằng ở nhân gian là 60 tiểu kiếp. Mà một tiểu kiếp ở nhân gian là 1680 vạn năm (16.800.000 năm) mà tội nhân nơi đây (ngục A Tỳ) đời sống của họ trọn một đại kiếp. Niên số của một đại kiếp ở nhân gian là 1.344.000.000 (một tỷ ba trăm bốn mươi bốn triệu năm). Có điều nên lưu ý là, thọ số của tội nhân ở ngục A Tỳ một đại kiếp tức là tính theo đại kiếp dưới địa ngục không phải ở nhân gian. Vì nếu tính theo nhân gian thì một ngày đêm trong địa ngục A Tỳ đã 3/4 của một đại kiếp. Vì một đại kiếp là 80 tiểu kiếp. Nói cho rõ thêm thì, một ngày đêm trong địa ngục A Tỳ là 60 tiểu kiếp, tức là đã trãi qua 3/4 của một đại kiếp ở nhân gian. Một đại kiếp là 80 tiểu kiếp. Về con số của đại kiếp hay tiểu kiếp ở nhân gian hay âm phủ đồng nhau. Nghĩa là một đại kiếp thì 80 tiểu kiếp, nhưng chỉ khác nhau ở điểm ngày dưới địa ngục A Tỳ, khác với nhân gian, như trên đã nói: Một ngày đêm ở ngục A Tỳ là 60 tiểu kiếp ở nhân gian.

     Thuật giả nói đi nói lại là vì sợ quý vị không lưu tâm đến điểm này thành, sai chi hào ly, thất chi thiên lý, hay tục ngữ có câu "Sai một con toán thì bán cái nhà".Nam Mô A Di Đà Phật.

Kính thưa quý vị! Mỗi khi Thuật giả nhớ đến việc này, trong tâm cảm thấy kinh hoàng khủng khiếp, rởn óc cả người, muốn nhịn ăn bỏ ngủ để chuyên tâm niệm Phật cho kịp. Vì nếu lần lựa qua ngày mà lọt vào trong khám lớn ATỳ thì vạn vạn lần nguy to. Biết như vậy mà không thực hành được cũng là một điều đại tàm quý đáng buồn, đáng trách. Tại sao các vị Diêm Vương đối với tội nhân có tâm đại từ như mẹ hiền đối với con thơ? Các Ngài thốt ra những lời khuyên dạy tội nhân bằng một màu sắc từ bi đáng ái kính như vậy. Vì mười vị Diêm Vương trong mười điện ( mười điện thế gian gọi là 10 cửa ngục) toàn là chư Phật Bồ Tát hóa hiện không phải phàm phu. Sau đây xin nêu danh hiệu của mười vị Diêm Vương trong mười điện, đồng thời cũng nêu rõ Thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát thị hiện làm mười vị Diêm Vương hóa độ tội nhân trong địa ngục, để quý vị càng rõ đức Diêm Chúa khi thấy các tội nhân đang bị khổ não cực hình trong chảo dầu sôi, mà nghe cảm Thánh hiệu của Đức A Di Đà Như Lai Giáo Chủ Tây Phương Cực Lạc liền biến thành ao hoa sen, tất cả tội nhân đều an tọa trên đó. Ngài mừng đến cực độ lập tức phóng thích anh chàng Bà La Môn và khuyên anh về trần gian lo tu niệm, lại dùng kệ tán dương đức từ bi cao cả có một không hai của đức Từ Phụ A Di Đà.

Quý vị A Bàn họ nói tội nhân ra khỏi địa ngục chốc lát lại vào. Thuật giả xin tạm dùng một việc khác làm ví dụ để quý vị dễ hiểu. Mỗi ngày lúc sáng điểm tâm, trước khi đi làm, quý vị bảo cháu bé năm tuổi ra trước cửa ngõ mua cho má một ly cà phê và nửa ổ bánh mì đem vào cho mau, theo Thuật giả nghĩ thời gian này có thể lâu hơn thời gian của mấy ông A Bàn nói về sự ra vào của tội nhân ở địa ngục.

     Đây là danh hiệu của mười vị Diêm Vương trong mười điện ở Minh Đồ.

Đệ nhất điện – Tần Quảng Minh Vương

Đệ nhị điện _ Sơ Giang Minh Vương

Đệ tam điện _ Tống Đế Minh Vương

Đệ tứ điện _ Ngũ Quan Minh Vương

Đệ ngũ điện _ Diêm La Minh Vương

Đệ lục điện _ Biến Thành Minh Vương

Đệ thất điện _ Thái Sơn Phủ Quân Minh Vương

Đệ bát điện _ Bình Đẳng Minh Vương

Đệ cửu điện _ Đô Thị Minh Vương

Đệ thập điện _ Chuyển Luân Minh Vương

     Tiếp theo đây nêu rõ Thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát thị hiện làm Diêm Vương để lợi ích chúng sanh ở Minh Giới.

_ Bất Động Như Lai: Đức Như Lai này khi ở Minh Đồ thì thị hiện làm Tần Quảng Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ nhất các vong linh.

_ Thích Ca Như Lai: Ở Minh Giới thị hiện làm Sơ Giang Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ hai cho các vong linh.

_ Văn Thù Đại Sĩ: Vị đại sĩ này thị hiện làm Tống Đế Minh Vương ở Minh Giới, để coi về lễ cúng tuần thất thứ ba các vong linh.

_ Phổ Hiền Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này thị hiện làm Ngũ Quan Minh Vương ở địa ngục, chủ coi về lễ cúng thất thứ tư cho các vong linh.

_ Địa Tạng Đại Sĩ: Vị Đại sĩ này khi ở trong địa ngục thị hiện làm Diêm Ma (cũng gọi là Diêm La) Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất thứ năm cho các vong linh.

_ Di Lặc Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào trong địa ngục làm Biến Thành Diêm Vương, chủ coi về lễ cúng tuần thất thứ sáu cho chư vong linh.

_ Dược Sư Như Lai: Đức Như Lai này biểu hiện thân hình vào Minh Giới làm Thái Sơn Phủ Quân Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần thất thứ bảy cho các vong linh.

_ Quán Âm Đại Sỹ: Vị Đại sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh Đồ làm Bình Đẳng Minh Vương, chủ coi về tuần bách nhật cho các vong linh.

_ Đại Thế Chí Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh Đồ làm Đô Thị Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần tiểu tường cho các vong linh.

_ A Di Đà Như Lai: Vị Như Lai này biểu hiện thân hình vào chốn địa ngục làm Ngũ Đạo Chuyển Luân Minh Vương để coi về lễ cúng đại tường cho các vong linh.

Như trên là thành kính y trong Kinh Thập Vương nêu Thánh hiệu Chư Phật Bồ Tát biểu hiện thân hình làm mười vị Diêm Vương để tế độ chúng sanh trong Minh đồ. Đây chỉ lược nêu danh mà không giải thích, vì quá rộng, lại ở đây cũng không phải cần điều ấy, mà chỉ cần rõ 10 vị Diêm Vương là chư Phật Bồ Tát thương xót chúng sanh trong chốn u đồ mà thị hiện thân hình làm Diêm Vương để tế độ đó thôi. Có một điều quan trọng nhất là chúng ta đã có thân này, thì không ai mà lại chẳng có cha mẹ ông bà quyến thuộc, thế nên trong những lễ thất tuần.. phải hết lòng thương nhớ thâm ân của cha mẹ ông bà mà lo tạo phước hồi hướng cầu nguyện. Nếu thật hành như vậy thì chẳng những trọn hiếu đạo cá nhân mình, mà chư Phật Bồ Tát cũng rất hoan hỉ.

     Đồ biểu ghi về điểm đồng dị ngày, tháng, năm, tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp của nhân gian và địa ngục A Tỳ.

_ Nhân gian và địa ngục A Tỳ. (1)

1 tháng = 30 ngày

1 năm = 12 tháng

1 tiểu kiếp = 16.800.000 năm

1 trung kiếp = 336.000.000 năm

1 đại kiếp = 1.344.000.000 năm

_ Ngày, tháng, năm, tiểu, trung, đại kiếp của địa ngục A Tỳ. (2)

1 ngày = 60 tiểu kiếp của nhân gian

1 tháng = 1.800 tiểu kiếp của nhân gian

1 năm = 21.600 tiểu kiếp của nhân gian

1 tiểu kiếp =

1 trung kiếp = đại kiếp =

     Biểu số (1) là nói về điểm tương đồng nhân gian và địa ngục A Tỳ. Nghĩa là ở nhân gian 1 tháng là 30 ngày, 1 năm là 12 tháng cho đến một đại kiếp là 1.344.000.000 năm. Ở địa ngục A Tỳ cũng vậy, hoàn toàn không khác nhau ( trong đây riêng nói địa ngục A Tỳ, các địa ngục khác cũng vậy, nghĩa là 1 tháng là 30 ngày).

Biểu số (2) nói về điểm tương dị của nhân gian và địa ngục A Tỳ nghĩa là:

1 ngày đêm ở địa ngục A Tỳ bằng 60 tiểu kiếp ở nhân gian,

1 tháng dưới địa ngục A Tỳ bằng 1.800 tiểu kiếp ở nhân gian,

1 năm ở dưới địa ngục A Tỳ bằng 21.600 tiểu kiếp ở nhân gian.

     Đây là chỉ lấy 1 ngày, 1 tháng và 1 năm dưới địa ngục A Tỳ để so sánh sự sai khác với nhân gian. Còn tiểu, trung, đại kiếp con số quá lớn, Thuật giả kém về toán học, nên không tính được. Vậy xin quý vị nương theo một ngày, 1 tháng và 1 năm để tính tiểu, trung đại kiếp nhơn lên cho biết sự sai khác của hai nơi nhân gian và địa ngục A Tỳ.

      Nam Mô A Di Đà Phật

      Kính thưa quý vị! Thuật giả nhận thấy 27 trang giấy này có nhiều khuyết điểm vậy xin quý vị khi đọc cảm thông cho! Vì thâm ý của Thuật giả chỉ mong đem lại sự lợi ích về việc tu hành được thoát khổ sanh tử, vãng sanh Cực Lạc là điểm chính.

      Những trang giấy này Thuật giả chẳng những không viết được một chữ, mà chỉ tự nói ra và nhờ một Phật tử viết lại để nghe qua vậy thôi. Thế nên rất nhiều khuyết điểm. Rất mong thông cảm hỉ xả cho!

 

 

Về Thuyết So Sánh Công Đức Niệm Phật của Tuân Thức Đại Sư

     Trong kinh Đại Bát Niết Bàn thuyết minh rằng: Giả sử có thiện nam tín nữ nào phát nguyện trong thời gian một tháng, thường đem y phục và các thức ăn uống cúng dường cho tất cả chúng sanh ( tất cả chúng sanh không phải riêng chỉ cho nhân loại mà toàn thể chúng sanh trong lục đạo đều gồm trong ấy, vả lại không phải riêng chỉ cho chúng sanh trong một quốc độ nào, lại riêng nói một đạo trong sáu đạo là bàng sanh tức là súc sanh, súc sanh do người nuôi mà mệnh danh như thế, bàng sanh thì đúng hơn vì hình nó đi ngang đội trời mà đi, súc sanh chỉ số ít mà thôi. Như trong kinh Lâu Thán, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ thì bàng sanh chủng loại sai khác không đồng nhau gồm có 40 ức, lại còn có các vi tế côn trùng bò bay cựa động số ấy nhiều không thể nói được, đều thuộc trong bàng sanh, lớn nhất là chim đại bàng, kim sí điểu và cá ma kiệt, cho đến nhỏ nhất như con kiến riện, con mạt cũng nhiếp trong bàng sanh. Lại còn những thứ nhục nhãn không thấy như vi trùng trong không khí, vi trùng trong nước, thiên nhãn mới thấy? Tại sao chỉ nói đến bàng sanh đạo? Vì chúng sanh các đạo khác chư Thiên, quỷ, thần v.v.. nhục nhãn nhân loại không thấy được) công đức này rất lớn, nhưng không bằng có thiện nam tín nữ nào, phát tâm chí thành niệm Phật trong một niệm. Chúng ta đem công đức bố thí rất lớn nói trên mà so sánh với công đức niệm Phật trong một niệm, thì công đức bố thí chỉ bằng một phần trong 16 phần mà thôi.

     Giả sử có thiện nam tín nữ nào dùng vàng đúc hình người rồi dùng xe ngựa vận tải đem đi bố thí, cho đến dùng các vật quý báu khác mỗi thứ đủ số 100, cũng đem toàn bộ đi bố thí, công đức này rất lớn, nhưng không bằng công đức của thiện nam tín nữ nào phát tâm dở chân đi một bước đến chỗ Phật.

      Giả sử có thiện nam tín nữ đem xe voi lớn vận tải hết tất cả trân bảotrong nước Đại Tần, và dùng chuỗi anh lạc đủ số 100 đem đi bố thí, cũng không bằng có thiện nam tín nữ phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật.

      Nếu có thiện nam tín nữ dùng tứ sự ( tứ sự: 1- Thức ăn; 2- Y phục; 3- Đồ nằm; 4- Thuốc thang) cúng dường cho tất cả chúng sanh trong tam Thiên đại Thiên thế giới, công đức này rất nhiều, nhưng vẫn không bằng có thiện nam tín nữ phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật, công đức của các tiện nam tín nữ đó vô lượng vô biên không thể dùng toán số ví dụ mà xác định được.

( Như trên là thuộc về Kinh Văn. Sau đây là lời phổ khuyến của Đại Sư. Tôi (lời của Đại Sư) thành kính khắp khuyên tất cả thiện nam tín nữ Phật tử tại gia có tín tâm đối với Tam Bảo ( trong đây Đại Sư chỉ khuyên nhắc hàng Phật tử tại gia vì hàng Phật tử xuất gia với việc đi đến Phật đường là việc hằng ngày) mỗi ngày trong lúc sớm mai mặc y phục chỉnh tề, giữ tâm thanh tịnh, đi đến Phật đường ( tức là chỗ thờ Phật), một lòng thành kính chiêm ngưỡng lễ bái Phật như thấy tôn dung của Phật sống không khác. (Liên tông Thập Tam Tổ thường dạy, khi lễ Phật phải một lòng thành kính xem Phật Bồ Tát mình đang đảnh lễ như Phật Bồ Tát thật, đừng nghĩ là tượng vàng, đồng, giấy v.v.. tức là tương tự với lời dạy của Tuân Thức Đại Sư) đừng cho một ngày nào thiếu sót. Nếu vì quá bận rộn về việc công hay việc tư cũng cần phải lưu tâm tạm vào Phật đường, đốt hương cúng dường, hai tay chấp lại chí thành cung kính xá Phật ba xá, đoạn lui ra đi làm việc. Nếu những vị có thời giờ rãnh rỗi, thì không hạn định trong lúc sớm mai, mà mai chiều hay tất cả thời đều có thể đến Phật đường làm các Phật sự như lạy Phật, tụng kinh, sám hối cho đến cúng dường hoa hương, hay lau chùi bàn Phật, tượng Phật v.v.. Quý vị nên nhận chân thân người khó được, Phật Pháp khó gặp, cơ hội thuận tiện lại còn khó hơn, vì sự vô thường không nhất định, giờ trước còn khỏe mạnh, giờ sau chẳng biết thế nào.. Xin quý vị xem kỹ đoạn Kinh Văn trên nói về công đức niệm Phật trong một niệm, và dở chân đi một bước đến Phật đường còn thù thắng đến dường ấy, huống chi mỗi niệm mỗi niệm đều niệm Phật, mỗi bước mỗi bước đi đến chỗ Phật, hay là nhiễu Phật niệm Phật, thì tội chướng được tiêu diệt, công đức được tăng trưởng thật không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời luận bàn cho cùng được.

     Lời phụ: Nguyên đề bài văn này là so sánh công đức niệm Phật của Tuân Thức Đại Sư.

      Đại phàm nói so sánh thì phải đem việc này so sánh với việc khác, như thế tại sao chỉ nói so sánh công đức niệm Phật không thấy nói đem công đức gì để so sánh? Sự việc này chúng ta không nên thắc mắc, cứ đọc Kinh Văn của Đại Sư đã trích dẫn thì biết. Nghĩa là, Kinh Văn có nói rõ là đem công đức bố thí để so sánh với công đức niệm Phật, và đem công đức bố thí để so sánh với công đức phát tâm dở chân đi một bước đến Phật.

      Trong đây có điều nên lưu ý là, phát lòng thành kính niệm Phật trong một niệm, và phát tâm cất một bước đi đến Phật, là để thấy rõ niệm Phật quá ít, cũng như cất chân đi đến Phật chỉ một bước, mà công đức dường ấy. Thì mỗi niệm đều niệm Phật, và mỗi bước đều để tâm đi đến Phật, thì công đức ấy làm sao diễn tả cho cùng. Sự việc này trong lời khuyến tấn Đại Sư có nói rõ, ở đây Thuật giả chỉ nhắc lại cho quý vị lưu ý mà dụng tâm niệm Phật trong mỗi niệm, và dù gần hay xa cũng gắn đi cho tới chỗ Phật, đừng sợ nhọc tâm nhọc sức mà sanh lười nhác chỉ niệm vài ba trăm câu rồi nghỉ, hay đi vài trăm bước sợ mỏi chân. Như thế thì với công đức vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn kia không gặt hái được phần nào, và trong đây nói đi đến chỗ Phật không nhất định như thờ Phật trong nhà, đi vài chục bước thì tới, nếu từ nhà đến Chùa thì không nhất định là bao nhiêu bước. Công đức phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật, cũng gồm nhiếp trong công đức niệm Phật. Nên ở đề mục chỉ nói so sánh công đức niệm Phật là đủ và có điều chúng ta nên ý thức là trong bài văn nói sự so sánh công đức niệm Phật này, nói việc phát tâm đi đến Phật là thuộc về việc sau khi Đức Thế Tôn đã nhập diệt. Thế nên lời khuyến tấn của Tuân thức Đại Sư có nhấn mạnh những vị bận rộn việc công tư cũng nên lưu tâm vào Phật đường v.v..

     Tiện đây soạn giả xin y trong kinh Hiền Ngu kính dẫn một đoạn nói về việc Trưởng giả Cấp Cô Độc phát tâm đi chiêm bái đức Bổn Sư Thích Tôn khi còn tại thế cũng tương tự như trong kinh Niết Bàn đã nói trên. Sau đây là Kinh Văn:

     Tu Đạt nghe nói một việc (việc ấy thuộc Kinh Văn ở trên) quý hóa, vui mừng bủn rủn chân tay một lòng tin kính, mong cho chóng sáng, để đến yết kiến Phật. Vì lòng thành kính thiết tha có thần cảm ứng, đương nửa đêm tối trời mà ông tự thấy ánh sáng tỏ soi khắp mặt đất như ban ngày, lòng hoan hỉ khôn xiết! Đứng dậy đi sang nước La Duyệt Kỳ để yết kiến Đức Thế Tôn, vừa ra khỏi thành gặp ngôi miếu thờ thiên thần, ông bước vào làm lễ, tự nhiên quên mất tâm khát vọng Phật, lại thấy tối om, sợ mãnh thú ác quỹ, ông định trở về thành chờ đợi sáng sẽ đi.

      Cũng may ông có người bạn thân, chết được sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, thấy ông hối hận trở về, liền xuống bảo rằng: "Cư sĩ! Ông chớ e ngại nữa! Đi yết kiến Phật được phúc đức vô biên, ví nay được một trăm cỗ xe chở châu báu, không bằng cất chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn, còn được lợi gấp muôn ngàn.Cư sĩ! Ông đi yết kiến Phật, chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này được một trăm con voi chở châu báu, cũng không bằng rời chân một bước để đi yết kiến đức Thế Tôn còn được lợi ích khôn kể.

     Cư sĩ! Ông nên đi chớ ngần ngại nữa, chính như ông có được vàng bạc châu báu, đầy cõi Diêm Phù chăng nữa, cũng không bằng dời chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn, còn được lợi trăm muôn ngàn triệu.

     Cư sĩ! Ông nên đi chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này ông được vàng bạc châu báu đầy bốn thiên hạ, cũng không bằng cất chân một bước đi viếng đức Thế Tôn, còn được lợi ích gấp trăm muôn ngàn triệu kể trên.

      Muốn Khỏi Tam Tai Phải Gấp Niệm Phật

     Tam Tai trong Tam Tạng Thánh giáo nói có hai thứ: 1- Đại tam tai, 2- Tiểu tam tai, nhưng đại tam tai ít nói đến, mà thường nói là tiểu tam tai. Với đề mục muốn khỏi tam tai trong bài này là chính nói về tiểu tam tai.

     Tiểu tam tai ở trong tiểu kiếp. Tiểu kiếp là một trong 20 tiểu kiếp của thời kỳ trụ. Thời kỳ trụ là một trong bốn thời kỳ (thành, trụ, hoại, không) của một đại kiếp. Mà 20 tiểu kiếp trong thời kỳ trụ hiện tại thuộc về tiểu kiếp thứ 9. Trong tiểu kiếp này có bốn đức Phật xuất thế. Thánh hiệu bốn đức Phật ấy như sau:

Một là, Câu Lưu Tôn Phật. Khi ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân loại giảm đến sáu vạn tuổi. Nghĩa là từ 84.000 giảm còn sáu vạn.

Hai là, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. Khi ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân loại giảm còn bốn vạn tuổi.

Ba là, Ca Diếp Phật. Khi Ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân loại giảm còn hai vạn tuổi.

Bốn là, Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi Ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân loại giảm đến 100 tuổi. Hiện nay đức Bổn Sư Thích Ca của chúng ta nhập diệt đã 2540 năm, thì thọ mạng của nhân loại còn chỉ 75. Nhưng hiện tại cũng có những người sống đến 80 hay nhiều hơn nữa, đây chỉ là thiểu số mà thôi. Vì theo trong kinh nói, nhân loại ở châu Diêm Phù không nhất định về đời sống, nên có lắm người mới sanh thì chết, hoặc 2, 3, 4, 5.. cho đến 30. 40, 50 tuổi.. không nhất định, không như nhân loại ở Bắc Câu Lô Châu thọ số nhứt định 1000 tuổi, sự việc này không phải phần chính của bài này, xin gác qua.

     Giờ đây xin nói vào phần chánh là tiểu tam tai. Trong tiểu kiếp thứ 9 này. Như trên đã nói, hiện tại thọ mạng của nhân loại còn 75 tuổi. Cứ 100 năm giảm 1 tuổi, giảm đến 30 tuổi thì có tai nạn đói khát phát sanh. Tai nạn này trải qua thời gian bảy năm bảy tháng bảy ngày. Trời không mưa một hạt, thế là quả đất khô thành bột, ngũ cốc hoàn toàn không trồng tỉa được, đến nổi không có một cọng cỏ, chúng ta thử tưởng tượng nhân loại làm sao sống còn?! Vì lí do này trong một ngày một đêm bị chết đói vô số không thể nói được. Bởi nhân duyên này, nhân loại bấy giờ có những người sanh tâm cực nhàm chán với tội ác, thiện niệm phát sanh, do vậy mà tai nạn đói khát chấm dứt. Từ đây nhân loại giảm đến lúc 20 tuổi thì có tai tật dịch (bệnh dịch, bệnh thời khí) phát sanh, trải qua bảy tháng bảy ngày nạn dịch tiếp tục lan tràn nhân loại bị bệnh ấy hoành hành chết gần hết, cái thảm kịch này không sao tả xiết! Do dó có những người cực chán cho cái khổ bệnh dịch hành hung, nên khởi niệm lành thì nạn thời khí chấm dứt. Từ đây thọ số con người giảm đến 10 tuổi thì nạn đao binh nổi dậy, do ác tâm của nhân loại lúc này quá mãnh liệt, nên gặp nhau như kẻ thù địch lập tức giết hại, lại do nghiệp lực của ác nghiệp, khiến cho tất cả cỏ cây trên quả địa cầu đều thành gươm giáo đụng đến là chết. Tai nạn đao binh này trải qua bảy ngày đêm, nhân loại chết vô số. Bởi đó, có những người thấy vậy sanh tâm cực chán, trước kia thấy nhau như kẻ thù địch, giờ đây ngược lại vừa thấy nhau như mẹ hiền thương con thơ, có người ôm nhau hôn rồi tự nói chúng ta ngu si quá, ác độc quá, giết hại lẫn nhau gần hết, giờ đây phải thương nhau như cha mẹ thương con, để mà sống còn đừng giết hại nhau nữa, nên tai nạn đao binh đình chỉ, và ngang đây (nhân loại 10 tuổi) thì thời kỳ kiếp giảm đã hoàn toàn chấm dứt. Trở lại đến thời kỳ kiếp tăng, cũng cứ 100 năm tăng lên một tuổi, tăng mãi cho đến tám muôn bốn ngàn (84.000) tuổi.

     Thuật giả đã y kinh mà lược thuật về tam tai như trên chúng ta thấy rõ. Chúng sanh trên thế giới tu tập pháp lành thì tuổi thọ tăng, lại đời sống an lành. Trái lại tạo ác nghiệp thì tuổi thọ giảm, đời sống chịu nhiều đau khổ, đây là luật nhân quả, mà cũng là pháp duyên sanh, nó tự nhiên như vậy. Không phải do một đấng thiêng liêng tạo hóa nào làm ra. Mà là do nghiệp chúng sanh chiêu cảm. Chúng ta biết rõ cái kịch khổ ấy rồi, thì phải làm sao để tránh hay thoát hẳn cái khổ ấy, chỉ trong hiện đời? Thuật giả xin thưa, muốn chắc chắn thoát hẳn khổ ấy, có một con đường duy nhất là thành kính tin lời Phật huyền ký. Dưới đây thể văn chỉnh cú:

Thật vì sanh tử

Phát lòng Bồ đề

Tin sâu nguyện thiết

Nhất tâm niệm Phật

Xem cái kịch khổ

Sanh tử luân hồi

Như lửa cháy đầu

Cùng với cái khổ

Của tiểu tam tai

Nó cũng gần bên

Ngày cũng niệm Phật

Đêm cũng niệm Phật

Đi đứng nằm ngồi

Không rời Phật hiệu

Thật hành như thế (1)

Cho đến thời kỳ

Vô thường nó đến

Từ Phụ Di Đà

Cùng với Thánh chúng

Đồng đến trước mặt

Tiếp về Tây Phương

Ở trong lúc này

Đối với cái khổ

Sanh tử luân hồi

Vĩnh viễn thoát ly

Chừng ấy cái tên

Của tiểu tam tai

Không còn nghe đến

Huống là thật sự

Chịu cái khổ ấy

Chúng ta đã được

Về Cực Lạc rồi

Ở tại nơi đây,

Đủ mọi thắng duyên

Không các chướng ngại

Một mặt tiến tu

Chứng vô sanh nhẫn

Nương thuyền từ nguyện

Trở lại Ta bà

Và cũng phân thân

Trần sát mười phương

Cứu vớt chúng sanh

Đồng về An Dưỡng

Cuối cùng Thuật giả

Một lòng thành kính

Hy vọng nhân loại

Khắp trên thế giới

Đây là nói chung

Toàn thể Phật tử

Trong giới xuất gia

Cũng như tại gia

Đây là nói riêng

Là người có trí

Đừng có lầm lẫn

Cho khổ là vui

Nói cho rõ hơn

Đừng cho sanh tử

Là cảnh an vui

Đến kỳ tam tai

Khổ không nói được

Dù cho gặp lúc

Nhằm thời kỳ tăng

Tuổi thọ nhân loại

Tám muôn bốn ngàn

Hưởng vui tự nhiên

Nhưng cũng vẫn còn

Trong vòng sanh tử!

Ghi chú (1)

     Đây là nói những vị rảnh rỗi, trái lại những vị bận rộn vì việc sanh nhai, cũng gắng nhín chút thì giờ mỗi ngày hai thời, tối trước khi đi ngủ và sáng mai khi mới thức dậy lạy Phật niệm Phật phát nguyện hồi hướng trong 30 phút nếu quá bận thì khi mới thức dậy tu theo pháp thập niệm rất gọn cũng được vãng sanh, chỉ cần dụng tâm chí thành thì có kết quả vãng sanh. Dù là phẩm thấp cũng thoát luân hồi, xin cố gắng. Đừng để trôi qua đời sống con người. Một khi sa vào ác đạo khổ không nói được chừng ấy ăn năn cũng chẳng ích gì.

     Kính thưa quý vị! Trong tam tạng Thánh giáo, đức Phật dạy về việc tu hành có 84.000 pháp môn, nhưng tóm tắt lại chia ra làm hai loại: Một là tự lực, hai là tha lực.

_Một là về tự lực, phải trãi qua ba cái vô số kiếp mới chứng Phật quả, vả lại ở trong ba vô số kiếp ấy, khi thăng khi trầm chứ không phải một mặt đi thẳng tới, vì thế trong Kinh Luận có khẳng định sự tu hành tiến được một bước, thối lùi vạn bước.

_Hai là về tha lực, ý nghĩa của môn tha lực nầy như trong thể văn chỉnh cú đã nói, nhưng đây là việc thuyết minh về việc hành trì.

     Ngoài ra như trong Kinh Luận tán dương về đặc điểm của tha lực thường dùng, ví dụ như người đi thuyền gặp nước xuôi lại trương buồm theo chiều gió thuận, người què mà được ngồi trên xe kim luân của Thánh Vương, con trùng ở trong cây tre 100 đốt mà đục ngang để ra khỏi v.v.. Tu theo pháp môn niệm Phật chóng thoát sanh tử luân hồi cũng tương tự như vậy.

     Ở đây Thuật giả thành kính nêu lên hai pháp môn tự lực và tha lực để quý vị tự chọn lựa và khỏi nghĩ rằng khuyên người chuyên tu theo pháp môn Tịnh độ là thuộc về thiên kiến.

 

HAI CÂU KINH VĂN

Phiên âm:

Quá khứ sanh tử thạch kiếp nan cùng

Vị lai luân hồi giới thành mạt tận.

Dịch nghĩa:

Sự sanh tử thời quá khứ dùng thạch kiếp

Thí dụ cũng không cùng

Việc luân hồi thuở vị lai đem giới thành

Thí dụ vẫn chẳng hết (Kinh Bồ Tát Anh Laϣ Bổn Nghiệp).

Lược thích: Chia làm ba đoạn.

1- Chữ kiếp

2- Hai câu kinh văn

3- Tìm phương thoát khổ

1/ Chữ? kiếp: là tiếng nói tắt từ kiếp ba của tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là phân biệt thời tiết, chính là chỉ cho thời tiết quá lâu xa rộng lớn ( trường huyễn quảng đại) không thể dùng năm tháng ngày giờ thông thường trong thế gian mà tính biết cho được nên cũng gọi là đại thời.

2/ Lược thích hai câu Kinh văn: Hai câu kinh văn đã dịch nghĩa như trên, ai đọc qua cũng hiểu không cần giải thích. Tuy nhiên cũng nên nói sơ lược ý nghĩa, nghĩa là hai câu Kinh văn ấy chính là từ kim khẩu của Bổn Sư Thích Tôn tuyên thuyết. Đức Phật Ngài dùng Phật nhãn thấy rõ sự sanh tử luân hồi của tất cả chúng sanh về thời gian quá khứ thì vô thỉ vô thỉ, về thời gian vị lai thì vô chung vô chung, tức là không có đầu mối cũng không có kết cuộc. Nên Đức Phật Ngài quá thương xót chúng sanh, sanh tử tử sanh ở trong cảnh luân hồi vô biên bất tận như thế, mà vẫn không hay không biết. Vì lí do ấy nên Ngài dùng hai thí dụ: Thạch Kiếp, Giới Thành, để chúng sanh nương theo đó mà biết tự mình chìm đắm trong sanh tử đã quá lâu xa, phải mau tỉnh ngộ tầm đường giải thoát.

Thạch kiếp: Nói cho đủ là Bàn thạch cùng với Giới tử thành mà thí dụ cho ý nghĩa của kiếp sanh tử luân hồi quá lâu xa. Giờ đây trước tiên giải thích Từ Bàn thạch kiếp.

Bàn thạch: tức là chỉ cho tản đá rất to, nghĩa là dụ như tản đá vuông vức 40 dặm, có một trượng phu nam tử trường thọ vô biên vô số (đây là thí dụ chứ không ai thọ số lâu dài như vậy) cứ mỗi một trăm năm đến nơi tảng đá ấy dùng chiếc thiên y rất mềm mịn phất lên tảng đá ( cũng có chỗ gọi là núi đá) lớn nói trên một cái, cứ làm mãi như vậy chừng nào tảng đá mòn hết, nhưng kiếp sanh tử của chúng sanh cũng không cùng. Nên trong Kinh văn nói Thạch kiếp nan cùng.

Giới tử thành kiếp: Như trên đã nói tản đá vuông vức 40 dặm, giờ đây Giới tử thành kiếp cũng như thế. Nghĩa là có một thành quách rộng lớn 40 dặm trong ấy hoàn toàn không chứa đựng một vật gì ngoài hạt cải ra, dĩ nhiên là trong đại thành ấy chỉ chứa toàn là hạt cải (giới tử). Cũng như trên, nghĩa là cứ mỗi một trăm năm có một nam tử trượng phu trường thọ đến nơi đại thành chứa hạt cải lấy đi một hạt, chừng nào hạt cải trong thành ấy hết, nhưng kiếp luân hồi của chúng sanh vẫn chưa hết. Nên trong Kinh văn gọi là Giới thành mạt tận.

_ Như trên đã lược thích ý nghĩa hai câu kinh văn thì chúng ta thấy rõ sự sanh tử luân hồi của chúng sanh ngoài đức Phật ra không một ai thấy được tường tận như vậy. Chúng ta cũng nên biết Phật dùng hai thí dụ ấy để chỉ rõ sự sanh tử luân hồi trường viễn không thể gì nói cho cùng. Nhưng đức Phật đã nhấn mạnh "thạch kiếp nan cùng"- "giới thành mạt tận" là cốt để cho chúng ta thấy rõ sự sanh tử luân hồi theo tỷ dụ đức Phật đã dạy lâu xa như thế cũng chưa chấm dứt. Nghĩa là phỏng sử có Bàn thạch 40 dặm, cùng với Giới tử thành 40 dặm, lại cũng có trượng phu nam tử trường thọ thực hành công việc như trên, chừng nào tản đá mòn và hạt cải trong đại thành kia hết. Nhưng kiếp sanh tử luân hồi chúng sanh cũng vô cùng bất tận ( đây là Thạch kiếp Giới tử thành thứ hai).

_ Chúng ta cũng nên hiểu thâm ý của đức Phật dùng thí dụ để nói lên sự sanh tử luân hồi của chúng sanh trong tam giới vô cùng bất tận như thế để làm gì? Đương nhiên là muốn cho chúng ta đối với luân hồi sanh tử nên sanh tâm ghê sợ mong cầu thoát ly.

Trái lại dù nghe thấy lời Phật dạy mà vẫn vui ở trong sanh tử không một niệm chán nhàm, sợ hãi thì thực có thể gọi là người sắt đá, nếu là người huyết nhục thì ai cũng phải rùng mình rởn óc. Tại sao thế? Vì chúng sanh luân hồi trong tam giới hưởng vui nhân thiên trong chốc lát, thọ khổ trong tam đồ quá lâu dài. Sự việc này muốn biết rõ thì nên xem trong các Kinh Luận như Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, Luận Câu Xá v.v..

     Tuy nhiên ở đây xin nói lược: Như trong Luận Câu Xá thuyết minh về niên số của cõi người, cõi Trời và địa ngục như sau:

Một ngày một đ
27  TIN TỨC / Phật tử Chân Tâm / Re: Thương em quá Chuẩn ơi vào lúc: Tháng Mười Hai 16, 2008, 09:03:32 AM
Nam Mô Địa tạng Vương Bồ Tát Ma Ha tát ! Cầu nguyện hương hồn em sớm siêu thoát .

Tiểu cát cát.
28  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: Bát Đại Hộ Pháp vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2008, 05:38:47 PM
Đa tạ huynh đệ dày công góp sức.
Túc bái
Tiểu cát cát.
29  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: CHIA BUỒN vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2008, 05:21:03 PM
Thật đau đớn và xót xa cho người bạn Sen của chúng ta , cát cát nguyện ơn Tam bảo và chư Hộ pháp gia niệm cho bạn Sen sớm quy về Tịnh quốc tiếp tục tu học.

Nam mô Đại nguyện Địa tạng Vương Bồ Tát Ma ha tát.
 NTLP.
30  Nho Gia Tư Tưởng Học / KINH DỊCH - TỬ VI - NHÂN TƯỚNG - BÓI DÂN GIAN / Re: KINH DỊCH LÀ CỦA NGƯỜI ÂU LẠC. vào lúc: Tháng Mười Một 19, 2008, 03:48:31 PM
Một số tai liệu dùng để tham khảo cho biết thôi mà, vẫn còn cục bộ lắm.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 13
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.291 seconds với 20 câu truy vấn.