Tháng Năm 18, 2021, 07:33:43 PM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 6
1  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 28, 2014, 12:02:43 PM
1.- Thắc mắc thứ nhất của PT:_

Tôi nêu ra giả thuyết: Lễ là một khái niệm không hình thành một cách tự nhiên ở xã hội nhà Chu, không phổ biến đối với dân nhà Chu. Nó là một khái niệm từ một dân tộc khác, được người nhà Chu dịch lại với âm là lǐ.

Ghi chú: sự "không phổ biến" là biểu hiện của "không hình thành tự nhiên".


*Phần trả lời của tôi:-

Xin bạn vui lòng đọc bài sau:-

Chữ LỄ của Khổng Tử và công dụng của nó

****


Có thể khẳng định “lễ” là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc. “Lễ” được xem là một trong năm đức cơ bản nhất của con người (ngũ thường).

 Tuy nhiên bộ Kinh Lễ lại ra đời muộn nhất so với tất cả các kinh điển của Nho gia.
Niên đại xuất hiện của bộ kinh này cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi chưa thực sự được giải đáp.

Tuy vậy, có thể khẳng định rằng phạm trù “lễ” xuất hiện vào đầu thời kỳ nhà Hạ (khoảng 2205 – 1766 TCN), sau đó “lễ” trở nên hưng thịnh nhất vào thời kỳ đầu nhà Chu (khoảng thế kỷ XI TCN). Thời gian Kinh Lễ được ghi chép thành sách rất dài, có thể từ thời Chiến Quốc đến giữa thời Tây Hán.


như vậy là thắc mắc 1 của bạn đã giải đáp.

2.- Thắc mắc thứ hai:-

"Có cả một Kinh Lễ đàng hoàng chứ nào phải rải rác hả anhlam?"

vì bạn cứ đòi phải đích thân Khổng Tử viết, bàn bạc v.v... trong khi

"...Kinh Lễ

Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký ( 禮記  là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Học giả thời Hán là Đới Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại đơn giản hoá Đại Đới Lễ ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt lệnh, Minh Đường vị và Nhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi là Tiểu Đới Lễ ký. Đại Đới Lễ ký đến thời Tuỳ, Đường bị thất lạc quá nửa, hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đó Tiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện nay.
...."

cho nên muốn lấy chính tư tưởng của Khổng Tử thì phải tìm các sách khác có nói đến "Lễ" do đức Khổng nói mới đúng ý bạn.

3/- Bạn lại thắc mắc một chuyện không cần thiết:-

"Tôi nêu lại vấn đề đầu tiên là : cụ Khổng bàn về Lễ mà không định nghĩa. "

trong khi chúng tôi vẫn chưa vừa ý bạn đã nêu lên hàng chục định nghĩa rồi mà bạn không chịu.

Riêng bạn đã có câu định nghĩa:- "Chính cụ Khổng nói : Lễ giả, Lý dã (nếu sách chép lại đúng)" rồi mà cứ bày đặt nêu thắc mắc nầy nọ (chắc là để đánh đố mọi người chăng ?).


Bạn không có thái độ cầu học,tìm tòi ...một cách thành thật, có lẽ chỉ vào DD để "thử phổi" anh em thôi chăng ?

Vậy thì tôi xin lỗi phải nói  lời "VĨNH BIỆT" với bạn mà thôi.

Cầu chúc bạn nhiều sức khỏe để tha hồ "GÀ QUÈ ĂN QUẨN CỐI XAY".

Trân trọng.

2  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 28, 2014, 02:56:38 AM
Kính mong "kiến thủ lão sư" PT vui lòng xem tiếp:

Theo tài liệu :-


Phạm trù lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay

Của :-
Nguyễn Thị Lan Minh

Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS. ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn: TS. Lê Trọng Hanh
Năm bảo vệ: 2012

……………………
. Khổng Tử bàn về Lễ

1.2.1. Phạm trù Lễ

Trước Khổng Tử, kể từ thời Chu Công, Lễ đã có hai nghĩa: nghĩa cũ là tế lễ có tính chất tôn giáo, nghĩa mới là pháp điển phong kiến do Chu Công chế định, có tính cách chính trị, để duy trì trật tự xã hội. Sau dùng rộng ra ý nghĩa của Lễ chỉ cả phong tục tập quán và sau cùng qua thời Đông Chu nhất là từ Khổng Tử nó có một nội dung mới, nội dung luận lý chỉ sự kỷ luật về tinh thần: Người có lễ là người biết tự chủ khắc kỷ

Khổng Tử chủ trương tòng Chu, giữ pháp điển lễ nhạc của Chu Công thì tất nhiên rất trọng Lễ và buộc vua chúa phải trọng Lễ. Lễ để duy trì trật tự xã hội, có trật tự đó thì vua mới được tôn, nước mới được trị, nếu vua không trọng lễ thì còn bắt ai trọng nó được nữa.

Chính vì vậy trong việc trị nước cũng như tu thân học đạo, sửa mình để đạt đức “Nhân” thì “Lễ” là một trong những yếu tố được Khổng Tử rất mực coi trọng. Điều này được thể hiện rõ trong cuốn Luận ngữ.

…………………..

Sự giáo hóa Lễ của Khổng Tử rất sâu sắc. Trong Lễ ký đã viết “Lễ chi giáo hóa giã vi, kỳ chỉ tà giả ư vị hình, sử nhân nhật tỷ thiện, viễn tộ, nhi bất tự tri giã: sự giáo hóa của lễ rất cơ màu, khăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện tránh xa điều tội mà tự mình không biết”.


Kêt luân chương 1

Lễ là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa rất phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc; và cũng là một trong năm đức cơ bản nhất của con người trong thuyết “ngũ thường” của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Lễ là phạm trù xã hội tổng hợp, bao gồm những nghi thức trong tế lễ, những nguyên tắc về tổ chức và hành động chính trị, những chuẩn mực về tư tưởng và hành vi của con người nhằm bảo đảm trật tự và sự yên bình của xã hội phong kiến Tông pháp Trung Quốc đương thời.

Lễ còn được coi là đường lối chính trị gọi là “Lễ trị” xã hội có trật tự được xem là xã hội có lễ, con người có đạo đức được đánh giá là con người có lễ: Hiểu lễ là điều kiện để hiểu được thực chất các phạm trù và các khái niệm khác của học thuyết Khổng Tử.




(xin xem bản đầy đủ ở  file đính kèm. Như vậy là đủ rồi, không còn cần thiết để "lằng nhằng logic-logiec " gì nữa.)


萬拜大見守范勝老師 !萬萬萬萬萬萬…….


3  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 28, 2014, 02:29:47 AM
Bạn Phạm Thắng,

Bạn luôn luôn bám chặt (vì chịu ảnh hưởng của mấy vị "SƯ TỔ VIỆT NAM MỚI" khi nói:-

Tôi nêu ra giả thuyết: Lễ là một khái niệm không hình thành một cách tự nhiên ở xã hội nhà Chu, không phổ biến đối với dân nhà Chu. Nó là một khái niệm từ một dân tộc khác, được người nhà Chu dịch lại với âm là lǐ.

Ghi chú: sự "không phổ biến" là biểu hiện của "không hình thành tự nhiên".


Xin bạn vui lòng đọc bài sau:-

Chữ LỄ của Khổng Tử và công dụng của nó

****


Có thể khẳng định “lễ” là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc. “Lễ” được xem là một trong năm đức cơ bản nhất của con người (ngũ thường).

 Tuy nhiên bộ Kinh Lễ lại ra đời muộn nhất so với tất cả các kinh điển của Nho gia.
Niên đại xuất hiện của bộ kinh này cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi chưa thực sự được giải đáp.

Tuy vậy, có thể khẳng định rằng phạm trù “lễ” xuất hiện vào đầu thời kỳ nhà Hạ (khoảng 2205 – 1766 TCN), sau đó “lễ” trở nên hưng thịnh nhất vào thời kỳ đầu nhà Chu (khoảng thế kỷ XI TCN). Thời gian Kinh Lễ được ghi chép thành sách rất dài, có thể từ thời Chiến Quốc đến giữa thời Tây Hán.


•   Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật.
Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà ại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan.

Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ".

(xin xem tiếp ở:-
•   http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/chu-le-cua-khong-tu-va-cong-dung-cua-no   

4  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 28, 2014, 01:46:54 AM
Với anhlam.
Bài mà bạn trích của ông Nhân tử Nguyễn Văn Thọ dài quá, "phẫu thuật" một lúc chưa hết được ngay. Cái phần viết trên là của tác giả, nó chứa đựng ý tác giả nhiều chứ không hẳn là của cổ nhân. Hơn nữa lại có tham khảo cả mấy học giả châu Âu nên dễ bị lồng ý chủ quan của các học giả lắm.


Tức là nếu cụ Khổng không viết mà nói chuyện thì sẽ nói: Lí giả lí dã. Đố ai nghe mà hiểu? Hoặc giả qua thăng trầm thời gian mà cách đọc, cách nói thay đổi chăng? Nếu quả thực vậy thì phải thay đổi sao cho cách đọc càng lúc càng phân biệt những khái niệm khác nhau chứ? sao lại thay đổi đến mức không nhìn chữ thì nói không hiểu? Vậy họ giao tiếp bằng chữ hay bằng lời? Cho nên lý do ấy không thuyết phục.
Tôi nêu ra giả thuyết: Lễ là một khái niệm không hình thành một cách tự nhiên ở xã hội nhà Chu, không phổ biến đối với dân nhà Chu. Nó là một khái niệm từ một dân tộc khác, được người nhà Chu dịch lại với âm là lǐ.
Ghi chú: sự "không phổ biến" là biểu hiện của "không hình thành tự nhiên".


KHỔNG TỬ NÓI VỀ LỄ
***
Thưa bạn Phạm Thắng,

Đức Khổng không nói hoặc viết một chuyên đề về Lễ, mà Ngài chỉ nói, giảng rải rác trong các sách :- Đại học, Trung dung, Luận ngữ.

Riêng trong  Luận Ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ lễ. Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ động giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ. Chúng tôi xin tạm phân chia ý nghĩa của lễ trong Luận Ngữ theo những phạm trù sau:

- Thứ nhất, lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thể giúp tề gia, trị quốc. Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: "Lễ chi dụng, hòa vi quý. Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi. Hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã". [01]

- Thứ hai, lễ biễu hiện chính nền đạo đức. Theo Khổng Tử, căn bản của lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức. Ðạo nhân, đạo nghĩa (như thấy sau này nơi Mạnh Tử), đạo tín (tức chân thành), vân vân, là những đức tính căn bản của lễ. [02] Một người thiếu lễ, không thể là người quân tử.

Trung, hiếu thực ra chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi lễ là một phương thế biểu hiện những đức tính trên. [03]

- Thứ ba, lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùy theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp. Trong chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai, vân vân. Chính vì ngài nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ mà đa số nho gia đã hiểu lễ như là nghi lễ, nghi thức, hay quy luật ta phải theo khi cúng tế, khi tổ chức hôn lễ, khi tham gia vào việc công (làm quan, triều yết), khi sinh con đẻ cái, khi có tang, vân vân (quan, hôn, triều, sinh, tang, tế). [04]

- Thứ tư, ngay từ thời Khổng Tử, đã có một số nho gia theo lối nhìn thứ ba, đặc biệt chú trọng tới lễ, nhạc coi như là nghi lễ, nghi thức và nghi pháp. Ngay cả thầy Tử Lộ cũng đã hiểu nhầm Khổng Tử, khi thầy thấy Thầy mình hình như không giữ một số lễ nghi (chuyện Khổng Tử tiếp một phụ nữ). Cho tới thời Tuân Tử, và nhất là tới thời học trò của họ Tuân, nhất là thời Pháp gia, nho gia thường gắn lễ liền với pháp, như chúng ta thấy từ ngữ hay dùng: "lễ pháp" (tiếng Việt gọi trại đi là "lễ phép"), tức quy tắc mà ta bắt buộc phải theo. Thực ra, như chúng tôi muốn nhấn mạnh, Khổng Tử không nghĩ như vậy, bởi vì theo ngài lễ là cả một lối sống toàn diện, tức lối sống mà ta phải theo để có thể bảo tồn sự sống và xã hội. Thành thử, theo lễ, tức là theo cái lẽ phải, [05] hợp lễ là hợp với bản tính ta vốn có. Ngài từng nói: "Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo." [06]

Nói tóm lại, lễ trong Luận Ngữ mang hai bản chất: Lễ chi bản và lễ chi dụng. [07] Lễ chi bản nói lên lễ như là bản chất biểu tả một cách trung thực bản tính con người, trong khi lễ chi dụng nói lên tính chất công cụ của lễ trong công việc giữ gìn trật tự, cũng như giữ được sự cân bằng trong cuộc sống, trong những giao tiếp của con người.



CHÚ THÍCH

[01] Luận Ngữ, 1: 12 (Học Nhi). Chu Hi chú giải. Việt ngữ: "Công năng của lễ cốt ở thực dụng tạo ra hòa hợp là điểm quý nhất. Chính vì vậy mà các bậc tiên vương đã coi việc áp dụng lễ như là một sự cao quý, và giải quyết mọi việc lớn bé theo nghi lễ quy định. Nếu chỉ có tinh thần hòa hợp mà không có lễ thì khó mà thành công được." (Bản dịch của chúng tôi, dưa theo chú thích của Phó Bội Vinh).

[02] Luận Ngữ, 3:3: "Tử viết, "Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?" (Một con người mà thiếu đạo nhân (ái) thì làm sao mà có lễ? Một người mà thiếu lòng nhân (từ), thì làm sao mà hiểu nhạc?")

[03] Luận Ngữ, 3:4: "Lâm Phỏng vấn lễ chi bẩn. Tử viết, "Ðại tai vấn, lễ dữ kỳ xa dã, ninh kiệm. Tang, dữ kỳ dị dã, ninh thích" (Lâm Phỏng hỏi về cái nền căn bản của lễ, Khổng tử trả lời "Câu hỏi anh đặt ra thật quan trọng. Nói về lễ cách chung rườm rà xa xỉ, nên tiết kiệm hay hơn. Về tang lễ, nên tỏ lòng thành phân ưu hay hơn là bày vẽ quá đáng").

[04] Luận Ngữ, 2:5: "Tử viết, "Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ."

[05] Lẽ phải, lẽ trái được hiểu như lễ, gần giống như phép phải, phép trái. Có người giải thích lẽ giống như lý (lý lẽ) và không cho là lễ. Thực ra, nếu hiểu lẽ giống như lý, thì cái lý lẽ cũng có thể đọc là lý lý, hay lẽ lẽ. Nghe ra không ổn! Lý lẽ phải hiểu là cái lý và cái lẽ (lễ).

[06] Luận Ngữ (Thái Bá): "Thái dộ cung kính không có lễ nghĩa thì chỉ làm phiền phức, người cẩn thận nhưng không phải vì lễ nghĩa thì chỉ tỏ ra được cái tính lo sợ của mình, người có lòng dũng cảm nhưng chẳng theo lễ phép thì chắc sẽ làm loạn, mà người trực tính không trọng lễ thì hồ đồ."

[07] Luận Ngữ, (Học Nhi): hợp vi quý, và Luận Ngữ, (Hằng Linh Công).

5  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 25, 2014, 06:43:17 AM
(tiếp theo)


Nếu bạn cần tài liệu để tham khảo thì có thể đọc sách LỄ KÝ CHÍNH NGHĨA   có 36 quyển sau:- (xem giảng giải về LỄ trong 10  quyển đầu)

http://zh.wikisource.org/zh-hant/%E7%A6%AE%E8%A8%98%E6%AD%A3%E7%BE%A9


禮記正義


作者:鄭玄 孔穎達 東漢 唐
   
漢鄭玄註,唐孔穎達疏。《隋書•經籍誌》曰:「漢初,河間獻王得仲尼弟子及後學者所記一百三十一篇 獻之,時無傳之者。至劉向考校經籍,檢得一百三十篇,第而敘之。又得《明堂陰陽記》三十三篇、《孔子三朝記》七篇、《王史氏記》二十一篇、《樂記》二十三 篇,凡五種,合二百十四篇。戴德刪其煩重,合而記之為八十五篇,謂之《大戴記》。而戴聖又刪大戴之書為四十六篇,謂之《小戴記》。漢末,馬融遂傳小戴之 學。融又益《月令》一篇、《明堂位》一篇、《樂記》一篇,合四十九篇」云云,其說不知所本。今考《後漢書•橋元傳》云:「七世祖仁,著《禮記章句》四十九 篇,號曰橋君學」。仁即班固所謂小戴授梁人橋季卿者,成帝時嘗官大鴻臚,其時已稱四十九篇,無四十六篇之說。又孔《疏》稱《別錄》、《禮記》四十九篇, 《樂記》第十九。四十九篇之首,《疏》皆引鄭《目錄》,鄭《目錄》之末必雲此於劉向《別錄》屬某門。《月令目錄》云:「此於《別錄》屬《明堂陰陽記》。」 《明堂位目錄》云:「此於《別錄》屬《明堂陰陽記》。」《樂記目錄》云:「此於《別錄》屬《樂記》。」蓋十一篇今為一篇,則三篇皆劉向《別錄》所有,安得 以為馬融所增。《疏》又引元《六藝論》曰:「戴德傳《記》八十五篇,則《大戴禮》是也。戴聖傳《禮》四十九篇,則此《禮記》是也。」玄為馬融弟子,使三篇 果融所增,玄不容不知,豈有以四十九篇屬於戴聖之理?況融所傳者乃《周禮》,若小戴之學,一授橋仁,一授楊榮。後傳其學者有劉祐、高誘、鄭玄、盧植。融絕 不預其授受,又何從而增三篇乎?知今四十九篇實戴聖之原書,《隋誌》誤也。元延祐中,行科舉法,定《禮記》用鄭玄《註》。故元儒說《禮》,率有根據。自明 永樂中敕修《禮記大全》,始廢鄭《註》,改用陳澔《集說》,《禮》學遂荒。然研思古義之士,好之者終不絕也。為之疏義者,唐初尚存皇侃、熊安生二家(案明 北監本以皇侃為皇甫侃,以熊安生為熊安,二人姓名並誤,足征校刊之疏。謹附訂於此。)貞觀中,敕孔穎達等修《正義》,乃以皇氏為本,以熊氏補所未備。穎達 《序》稱:「熊則違背本經,多易茆義,猶之楚而北行,馬雖疾而去愈遠。又欲釋經文,惟聚難義,猶治絲而棼之,手雖繁而絲益亂也。皇氏雖章句詳正,微稍繁 廣。又既遵鄭氏,乃時乖鄭義。此是木落不歸其本,狐死不首其丘。此皆二家之弊,未為得也。」故其書務伸鄭《註》,未免有附會之處。然採摭舊文,詞富理博, 說《禮》之家,鑽研莫盡,譬諸依山腫墉,煮海為鹽。即衛湜之書尚不能窺其涯涘,陳澔之流益如莛與楹矣。


目錄


•   序
•   卷一•曲禮上第一
•   卷二•曲禮上第一
•   卷三•曲禮上第一
•   卷四•曲禮下第二
•   卷五•曲禮下第二
•   卷六•檀弓上第三
•   卷七•檀弓上第三
•   卷八•檀弓上第三
•   卷九•檀弓下第四
•   卷十•檀弓下第四

•   卷十一•王制第五
•   卷十二•王制第五
•   卷十三•王制第五
•   卷十四•月令第六
•   卷十五•月令第六
•   卷十六•月令第六
•   卷十七•月令第六
•   卷十八•曾子問第七
•   卷十九•曾子問第七
•   卷二十•文王世子第八
•   卷二十一•禮運第九
•   卷二十二•禮運第九
•   卷二十三•禮器第十
•   卷二十四•禮器第十
•   卷二十五•郊特牲第十一
•   卷二十六•郊特牲第十一
•   卷二十七•內則第十二
•   卷二十八•內則第十二
•   卷二十九•玉藻第十三
•   卷三十•玉藻第十三
•   卷三十一•明堂位第十四
•   卷三十二•喪服小記第十五
•   卷三十三•喪服小記第十五
•   卷三十四•大傳第十六
•   卷三十五•少儀第十七
•   卷三十六•學記第十八
•   卷三十七•樂記第十九
•   卷三十八•樂記第十九
•   卷三十九•樂記第十九
•   卷四十•雜記上第二十
•   卷四十一•雜記上第二十
•   卷四十二•雜記下第二十一
•   卷四十三•雜記下第二十一
•   卷四十四•喪大記第二十二
•   卷四十五•喪大記第二十二
•   卷四十六•祭法第二十三
•   卷四十七•祭義第二十四
•   卷四十八•祭義第二十四
•   卷四十九•祭統第二十五
•   卷五十•經解第二十六
•   卷五十•哀公問第二十七
•   卷五十•仲尼燕居第二十八
•   卷五十一•孔子閒居第二十九
•   卷五十一•坊記第三十
•   卷五十二•中庸第三十一
•   卷五十三•中庸第三十一
•   卷五十四•表記第三十二
•   卷五十五•緇衣第三十三
•   卷五十六•奔喪第三十四
•   卷五十六•問喪第三十五
•   卷五十七•服問第三十六
•   卷五十七•間傳第三十七
•   卷五十八•三年問第三十八
•   卷五十九•深衣第三十九
•   卷五十九•投壺第四十
•   卷五十九•儒行第四十一
•   卷六十•大學第四十二
•   卷六十一•冠義第四十三
•   卷六十一•昏義第四十四
•   卷六十一•鄉飲酒義第四十五
•   卷六十二•射義第四十六
•   卷六十二•燕義第四十七
•   卷六十三•聘義第四十八
•   卷六十三•喪服四制第四十九




Xin thành thật cảm ơn bạn Phạm Thắng đã bỏ công ra xem hết những phần trên.

Chúc bạn vui vẻ sinh hoạt trong diễn đàn nầy.


anhlam
6  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 25, 2014, 06:38:23 AM
(tiếp theo)


B.- TÁC DỤNG CỦA LỄ VỚI  CUỘC SỐNG:-

Mục đích của Lễ là:


- Dạy dân cho biết nhân luân, biết hiếu, biết kính.[16]
- Nuôi dưỡng những tính tốt.
- Ngăn chặn những tính xấu.
- Điếu hòa đời sống tình cảm tâm tình.
- Xác định tôn ti, thiện ác, thị phi.
- Đem lại hòa hợp, ngăn chặn sự chia rẽ, loạn lạc.
- Đào luyện cho con người ngày một thêm thanh lịch, thêm nhân cách.[17]



 Lễ quy định những luật thiên nhiên chi phối đời sống con người, quy định nhân luân, quy định thuần phong mỹ tục, cho nên tất nhiên phải chú ý đến gia đình.


«Lễ có mục đích đem lại sự hoà thuận cho mọi người.»


«Lễ nghĩa quy định những gì hay, những gì phải cho con người, nên rất cần yếu đối với con người. Nó dạy cho con người biết làm sao để trở nên đức hạnh thực sự, làm sao để hà thuận với người. Nó giúp cho xương thịt con người trở nên cứng cát, rắn chắc, dạy con người cách nuôi người sống, chôn kẻ chết, thờ thần minh. Nhờ lễ như là một cửa lớn mà con người tìm ra được thiên đạo, sống thuận với nhân tình. Vì thế mà thánh nhân cho rằng cần phải biết lễ. Quốc phá gia phong, nhân tâm ly tán, chính là vì con người đã không còn biết sống theo những định luật của trời đất, của nhân sinh…» 

Lễ Ký cho rằng muốn sống cho hay cho phải, mọi người phải biết cách cư xử cho đúng ngôi, đúng vị của mình.

Vua phải phân,
Thần phải trung
Cha phải khoan từ
Con phải hiếu thảo
Anh phải hẳn hoi
Em phải kính thuận
Chồng phải đường hoàng,
Vợ phải nhu thuận
Người lớn phải thi ân,
Người nhỏ phải vâng phục.


Cho nên thánh nhân nếu muốn trị thất tình con người, tu thập nghĩa, giảng dạy chữ tín, tài bồi chữ hoà, đề cao sự nhường nhịn, loại trừ sự tranh đoạt, mà không dùng Lễ thì lấy gì mà trị người?»

(trích sách Lễ Ký)

------------------------------------
Kinh Lễ

Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký ( 禮記  là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Học giả thời Hán là Đới Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại đơn giản hoá Đại Đới Lễ ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt lệnh, Minh Đường vị và Nhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi là Tiểu Đới Lễ ký. Đại Đới Lễ ký đến thời Tuỳ, Đường bị thất lạc quá nửa, hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đó Tiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện nay.

Toàn bộ Kinh Lễ được viết bằng tản văn, không chỉ miêu tả chế độ lễ nghi đương thời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài ra có giá trị về văn học rất lớn. Đại Học và Trung Dung, hai cuốn sách kinh điển của Nho giáo, chính là hai thiên trong Kinh Lễ.

Khổng Tử hiệu đính lại Kinh Lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ).

Nội dung

•   Khúc lễ thượng (hai thiên)
•   Khúc lễ hạ (hai thiên)
•   Đàn cung thượng
•   Đàn cung hạ
•   Vương chế
•   Nguyệt lệnh
•   Tăng Tử vấn
•   Văn Vương thế tử
•   Lễ vận
•   Lễ khí
•   Giao đặc sinh
•   Nội tắc
•   Ngọc tảo
•   Minh đường vị
•   Tang phục tiểu ký
•   Đại truyện
•   Thiếu nghi
•   Học ký
•   Nhạc ký
•   Tạp ký thượng
•   Tạp ký hạ
•   Tang đại ký
•   Tế pháp
•   Tế nghĩa
•   Tế thống
•   Kinh giải
•   Ai Công vấn
•   Trọng Ni yên cư
•   Khổng Tử nhàn cư
•   Phường ký
•   Trung dung
•   Biểu ký
•   Truy y
•   Bôn tang
•   Vấn tang
•   Phục vấn
•   Gian truyện
•   Tam niên vấn
•   Thâm y
•   Đầu hồ
•   Nho hành
•   Đại học
•   Quan nghĩa
•   Hôn nghĩa
•   Hương ẩm tửu nghĩa
•   Xạ nghĩa
•   Yến nghĩa
•   Sính nghĩa
•   Tang phục tứ chế





7  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 25, 2014, 06:28:17 AM
Xin bạn Phạm Thắng vui lòng bỏ chút ít thì giờ ra , bình tỉnh, nhẫn nại .... đọc kỹ mấy ý kiến sau:-

http://nhantu.net/BienKhaoTongQuat/LeNghiaLiemSi.htm

A.- ĐỊNH NGHĨA  “LỄ”:-

LỄ (禮)

Lễ là một danh từ rất bao quát, hàm súc rất nhiều ý nghĩa.

1) Lễ trước hết là một danh từ chung bao quát mọi định luật thiên nhiên chi phối vạn vật quần sinh. (Ensemble des lois naturelles)
2) Lễ là nghi lễ, là tất cả các bổn phận con người đối với trời đất, tổ tiên (Céremonies, rites religieux, rituel, céremonial).
3) Lễ là tất cả các quy luật chi phối sinh hoạt tâm thần con người. (Lois morales)
4) Lễ là tất cả các các tổ chức chính trị xã hội (organisation politique et sociale) có thể đem đại hòa, đại thuận đến cho nhân quần.
5) Lễ là những cách cư xử tiếp nhân, đối vật thanh lịch, khéo léo (Bonnes manières, convenances, décence, bonne conduite, bonne tenue, courtoisie, bienséance, politesse).
6) Lễ là phong tục, tập quán hay nói đúng hơn là tất cả những gì gọi là thuần phong mỹ tục (Usages et coutumes, tradition).[3]



Gần đây các học giả Âu Châu, như Escarra,[4] như Needham[5] đã tìm hiểu sâu xa về chữ Lễ.

Các ông cho thấy rằng dân Trung Hoa cũng như các dân tộc khác, xưa nay thường sống theo hai bộ luật.

Một là theo bộ luật tự nhiên, do Hóa công đã ấn định. Bộ luật này được gắn liền vào với tính chất vạn hữu nhân quần. Bộ luật này chi phối vạn hữu từ các vì tinh tú trên trời, đến con người nơi gian thế.

Trung Hoa gọi những định luật tự nhiên là Lễ.


Hai là theo bộ luật nhân tạo, do chính quyền lập ra. Bộ luật này vì là nhân tạo, nên có khi hợp lý có khi không hợp lý và thường có tính cách gò bó, khô khan, cứng cỏi không uyển chuyển như những định luật tự nhiên.

Trung Hoa gọi những định luật tự nhiên này là Pháp, hay Pháp luật.[6]

Từ khi đức Khổng ra đời cho đến khi các Nho gia chân chính sau này, nhất nhất đều chủ trương dạy con theo nững định luật tự nhiên, theo những định luật tâm lý, nhân sinh, tức là phải theo Lễ.

Chủ trương Lễ trị này cũng còn được gọi là Nhân trị.

Chủ trương Lễ trị hay Nhân trị có thể toát lược như sau:

Muốn sống một đời sống cá nhân, gia đình, quốc gia hay xã hội hạnh phúc, ý nghĩa, đầm ấm, hòa hợp, cần phải biết rõ định luật thiên nhiên chi phối vạn vật, chi phối sinh hoạt cá nhân và đoàn thể.

Muốn tìm cho ra những định luật thiên nhiên cần phải:

Biết quan sát ngoại cảnh.
Biết tâm lý.
Khảo lịch sử, phong tục.

Dựa theo lẽ phải.[7]

Có vậy mới suy ra được hoạt động, cư xử lý tưởng. Những định luật thiên nhiên chi phối con người có thể quy kết lại thành 3 đề mục:

1) Con người sinh ra đời cần phải biết thích ứng với hoàn cảnh. Chẳng những thế lại còn phải biết lợi dụng hoàn cảnh để mà sống cho vui, cho mạnh.
2) Mặt khác, con người sinh ra đời còn có nhiệm vụ truyền giòng giống.
3) Những nhiệm vụ chính yếu nhất của con người là phải tiến hóa để tiến tới chân, thiện, mỹ.

Suy ra ta sẽ có những tiêu chuẩn, những định tắc sau đây để hướng dẫn hành vi, sinh hoạt của ta.


1) Phải biết vệ sinh, phải biết hiếu sinh.
2) Phải lo cho có một dòng dõi hoàn hảo, lành mạnh.

3) Phải lo gia tăng sinh lực, trau dồi tình cảm, mở mang trí tuệ, nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, vươn mãi lên theo hướng chân, thiện, mỹ.

Vậy cái hay là cái gì làm cho đời sống ta thêm mạnh, thêm sướng, thêm trật tự, thêm an lạc, thêm hòa hợp,thêm văn minh, thêm tiến bộ.
Cái dở là cái gì làm cho đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia trở nên rối loạn, bệnh hoạn, vô lý.

Nói cách khác, cái gì làm ta sống xứng đáng với danh nghĩa con người, cái gì nâng cao giá trị con người, nâng cao phẩm cách con người, khiến con người tiến về phía tinh thần, trở nên thanh cao là hay.
Cái gì làm con người trở nên cục cằn, ti tiện, gian manh, tàn ác, trở nên thoái hóa giống như muông thú là dở.[8]

Thánh quân, hiền phụ xưa khi lập ra lễ, lập ra những định tắc nhân luân đã dựa trên những tiêu chuẩn thiên nhiên hết sức chắc chắn.

1) Vì thấy trời đất liệt bày lẽ tôn ti trật tự, nên các Ngài minh định rằng xã hội này cần phải có tôn ti trật tự, mới có thể sống thái bình hoan lạc, vì thế nên các Ngài đã minh định phận vụ cho mỗi hạng người.[9]

2) Các Ngài minh định rằng con người cần phải theo định luật tự nhiên thì mới có thể có đời sống hay, đẹp; mà đã nói đến định luật thì phải nói đến tiết độ. Cho nên các Ngài suy ra rằng con người không thể sống một cuộc đời buông thả, nhưng làm gì cũng có một chừng mực, tiết độ.[10]

3) Các Ngài minh định rằng con người sinh ra ở đời cần phải nhân nhượng lẫn nhau, kính trọng lẫn nhau, mới có thể đi đến chỗ đại hòa, đại thuận.
Nếu phàm gặp trường hợp bất đồng ý kiến nào, người xưa cũng cố điếu đình, nhân nhượng để đi đến cỗ ý hiệp tâm đầu tránh mọi chuyện đổ vỡ. Chính vì thế mà ta thường hay nói: Lễ nhượng.[11]

4) Các Ngài cũng chủ trương rằng muốn được lòng người khác, con người ta phải luôn luôn khiêm cung, nhún mình, trọng người. Chính vì thế mà khi nói đến Lễ, ta thường liên tưởng đến hai chữ Lễ phép, Lịch sự.[12]

5) Các Ngài cũng thường quan niệm rằng thuần phong, mỹ tục chính là kinh nghiệm của tiền nhân. Chúng gói ghém tất cả những cách thức tốt đẹp để đối phó với mọi hoàn cảnh, để giải quyết mọi công việc, vì thế cần phải bảo trọng.[13]

Tóm lại nếu mọi người trong một quốc gia xã hội biết giữ LỄ là :

- Sống theo những định luật tự nhiên.
- Không tự do buông thả.
- Biết lo trau dồi tâm thần cho một ngày một nên cao khiết, trang nghiêm.
- Nhường nhịn nhau kính trọng lẫn nhau, lịch sự tử tế với nhau.
- Sống theo điều hay lẽ phải thì sẽ đem đến cho mình một đời sống xứng đáng, sẽ tạo cho quốc gia xã hội một quang cảnh hạnh phúc, đầm ấm, hòa hợp.[14]

Mới hay Lễ chi phối mọi hành vi cử chỉ của con người, những cách giao tiếp của con người. «Lễ không cho phép đi quá trớn, quá giới hạn, mực thước đã qui định, không cho phép xâm phạm quyền lợi của người khác, vũ nhục, khinh khi hay sàm sở với người khác.» [15]




Hiểu Lễ là những định luật tự nhiên, là những cử chỉ, những cách đối đãi đẹp đẽ mà muôn thế hệ đã lọc lõi, lưu truyền lại trong các nếp sống hay đẹp của dân gian, ta sẽ thấy thánh hiền Đông Á xưa đã có chủ trương hoàn toàn phù hợp với chủ trương của các bậc thượng nhân, thượng trí mọi nơi, mọi đời trên thế giới.

Aritote cũng đã phân biệt hai loại lề luật:

- Lề luật trời hay lề luật tự nhiên.
- Lề luật người hay lề luật nhân tạo.[18]

Cicéron cũng cho rằng: Luật tự nhiên chính là luật trời, cố sức dạy con người làm điếu hay tránh điều dở.[19]

Âu Châu xưa cũng cho rằng: Luật nhân tạo kém vua chúa; luật thiên nhiên hơn vua chúa. Vua chúa mà dạy làm điều gì trái với luật tự nhiên thì dân chúng có quyền chống đối.[20]

Thánh Thomas cũng cho rằng lề luật thiên nhiên chính là thiên lý, chính là sự khôn ngoan của trời hướng dẫn mọi hoạt động mọi biến chuyển.[21]
Luật con người làm ra chỉ đúng là luật khi nào phù hợp với lề luật thiên nhiên, còn nếu chúng đi ngược lại với luật thiên nhiên thì không còn phải là luật nữa.[22]

Hiểu Lễ là những định luật tự nhiên giúp con người sống xứng đáng với danh nghĩa con người, sống hòa hợp với mọi người, đoàn kết với mọi người, ta mới hiểu rõ ràng được những câu sau đây của Lễ ký và Tứ thư:

«Con chim anh vũ tuy biết nói nhưng vẫn là chim. Con khỉ con vượn tuy biết nói nhưng vẫn là cầm thú, nên nếu con người không biết lễ thì tuy biết nói cũng vẫn là có lòng cầm thú.

«Cầm thú, vì không biết lễ nên mới có sự loạn luân, chung chạ.

«Cho nên thánh nhân lập ra lễ để dạy dân, để con người biết theo lễ mà ăn ở khác với loài vật.» [23]

Lễ là điều gì hợp lý.[24]

Lễ nghĩa là đầu mối của con người.[25]


Cho nên lễ phát nguyên từ trời, có tầm hoạt động lan khắp trần gian, bao quát vạn sự biến chuyển theo thời, thích ứng với mọi nghề nghiệp, hoạt động con người. Nơi tâm con người lễ giúp làm nảy nở các đức tính tự nhiên. Trong hành vi con người lễ bao quát mọi cách thức tặng dữ, trao đổi, mọi hành động, mọi phép lịch sự, xã giao, mọi vấn đề ăn uống, quan hôn, táng tế, bắn cung, đánh xe, yết triều, thăm hỏi29]

Các Pháp gia xưa như Hàn Phi Tử (chết năm 232, năm thứ 15 Tần Thủy Hoàng), Thương Ưởng (chết năm 338) (làm tướng quốc đời vua Tần Hiếu Công) đã có một đời dùng luật pháp nghiêm minh để trị dân, nhưng cuối cùng đếu thất bại, vì đó gò bó miễn cưỡng, vô nhân đạo không phù hợp với tâm lý con người.

Âu Châu ngày nay cũng đề cao Pháp trị, cũng dùng những lề luật hình pháp bên ngoài để trị dân, cũng dùng những thủ đoạn để thằng thúc, nhuyễn hoặc dân, chỉ bắt bẻ dân trên những hình thức bên ngoài, chỉ cần dân tuân theo những thể chế, qui ước bên ngoài mà thả lỏng lòng dục của dân, mặc cho các tính xấu của dân tha hồ phát triển, miễn sao là dân khéo léo tránh né được con mắt dòm hành của pháp luật, của các nhà cầm quyền, thế là đủ.

Vì thế nên thế giới ngày nay đã trở nên thác loạn. Cá nhân thác loạn vì có thể sống buông thả vô kỷ cương; gia đình thác loạn, sự tương kính tương thân trong gia đình dần dần mất đi; xã hội thác loạn, vì giá trị con người đã mất, vì lòng trọng kính thương yêu nhau cũng chẳng còn.
Cho nên ngày nay bàn về Lễ tức là muốn kêu gọi mọi người chúng ta hãy sống một cuộc đời hẳn hoi, chừng mực theo lẽ phải, xứng với danh nghĩa cao quý của con người, cổ súy tình tương thân, tương nhượng, tương, kính, cố gắng bảo tồn những thuần phong mỹ tục, những nề nếp đẹp đẽ của tiền nhân, để xã hội quốc gia đi đến chỗ đại hòa đại thuận.[30]



CHÚ THÍCH VỀ NGUỒN GỐC TRÍCH DẪN:-


…Hỗn độn nguyên khí ký phân, khinh thanh vi thiên tại thượng, trọng trọc vi địa tại hạ, nhi chế lễ giải pháp chi nhi lập tôn ti chi vị dã. (Khổng Đĩnh Đạt) 5 Couvreur, Li Ki, I, p.527, notes)

Khi nguyên khí đã phân, thì khí thỉnh thanh ở trên thành trời, khí trọng trọc ở dưới thành đất, nên người lập ra lễ, phỏng theo đó mà lập ra thứ vị thấp cao:

…Phù Lễ giả sở dĩ chương nghi, biệt vi, dĩ vi dân phường giả dã. Cố quí tiện hữu đằng, y phục hữu biệt, triều đình hữu vị, tắc dân hữu sở nhượng. (Lễ Ký, Phương Ký, XXX)

Lễ là dùng để làm cho rõ điều ngờ, biện bạch những điều vi ẩn, để lâm sự phòng giữ cho dân. Cho nên người sang, người hèn có bậc, y phục có phân biệt, chỗ triều đình có ngôi thứ, thì dân mời nhường nhịn lẫn nhau.

[10] Phù Lễ giả, tiên vương dĩ thừa thiên chi đạo, dĩ trị nhân chi tình. (Lễ ký, Lễ vận, IX) : Lễ là tiên vương vâng theo cái đạo của trời để trị cái tình của người.

-Lễ hồ, lễ hồ, sở dĩ chế trung dã. (Lễ ký, Ai công vấn). Lễ để điều chế cho vừa đúng mức.

-Trung nhân chi tình hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm vô cấm tắc dâm vô độ tắc thất túng dục tắc bại. Cổ ẩm thực hữu lượng y phục hữu tiết, cung thất hữu độ, súc tụ hữu số xa khí hữu hạn dĩ phòng loạn chi nguyên dã. (Khổng Tử tập ngữ: Tế Hầu vấn, XIII) (Cf. Trần Trọng Kim. Nho giáo I, 117).

[11] Thị dĩ quân tử cung kính, tốn tiết, thoái thượng dĩ minh lễ. (Lễ ký, Khí lễ, I). Vì thế nên người quân tử cung kính, sống cho có chừng mực, tiết độ, nhún mình, nhường người để làm sáng tỏ chữ Lễ…L’idéal suprême du Kiun Tseu (quân tử) est, en toutes circonstances de faire preuve, d’une juste mesure, d’une modération rituelle, qui se traduit par le gout du compromis, des concessions réciproques, de la cote plus ou moins taillée. Abuser de son avantage invoquer «son droit» sont des choses mal vues en Chine.

Le grand arrt est de céder sur certains points, afin de réserver une monnaie d’échange pour obtenir des avantages ailleurs. Toute la philosophie chinoise est incluse dans cette notion de Yang (Nhượng) céder, faire preuve de modération…(Jean Escarra, Le Droit chinois, pp.17, 18)

-sở dĩ trị ái nhân, Lễ vi đại; sở dĩ trị Lễ Kính vi đại. (Lễ Ký Ai công vấn, XXIV, 9). Muốn cho mọi người yêu thương nhau, cần nhất là Lễ. Muốn có Lễ cần nhất là Kính.

[12] Phù Lễ giả, tự ti nhi tôn nhân. (Lễ ký, Khúc Lễ thượng, I, 25. Người biết lễ tự nhún mình để trọng người.

[13] Quoi qu’il en soit, cet enseignement confucéen de la suprématie des rites surr la loi traduisant des notions longuement élaborées, depuis des oigines dans la conscience du peuple chinois demeure vivance…(Jean Escarra, Le Droit chinois, p.19)

…Il y a là des textes qui reflètent intensément ce qu’il y a de permanent dans la civilisation chinoise et qui à ce titre, sont un précieux complément des lois civiles récemment promulguées. (Ibid. 162)

-La conception du droit traduit fondamentalement des notions qui se sont élaborées, à l’aube d’une civilisation, dans la conscience des hommes qui ont peuplé la Chine. (Ib p.78).

[14] Tứ thể cử chính, phu cách sung doanh, nhân chi phì dã. Phụ tử đốc, huynh đệ mục, phu phụ hòa, gia chi phì dã. Đại thần pháp, tiểu thần liêm, quan chức tương tự quân thần tương chính, quốc chi phì dã.

Thiên tử dĩ đức vi xa, dĩ nhạc vi ngự, chư hầu dĩ lễ tương dữ, đại phu dĩ pháp tương tự, sĩ dĩ tín tương khảo, bách tính dĩ mục tương thủ, thiên hạ chi phì dã. Thị vị đại tuận. (Lễ ký, Lễ vận VII)

[15] Lễ bất du tiết, bất sâm vũ bất hiếu áp. (Lễ ký, Khúc lễ, Tiết I, câu 10)

[16] Tử viết: Chế độ tại lễ, văn vi tại lễ, hành chi ký tại nhân hồ! (Lễ ký, Trọng Ni yến cư, XXV). Lễ quy định mực thước phải giữ, hành động hay đẹp phải theo, nhưng giữ được là tùy nơi người.

- Thị cố thánh nhân tác, vi Lễ dĩ giáo nhân, sử nhân dĩ hữu lễ, tri tự biệt ư cầm thú. (Lễ ký, Khúc lễ I).

[17] Tử viết: …Quân tử lễ dĩ sức tình (Lễ ký, Tăng tử vấn). Người quân tử lấy lễ làm đẹp tâm tình.

- Phù lễ, tiên vương dĩ thừa thiên đạo, dĩ trị nhân chi tình. (Lễ ký, Lễ vận IX). Lễ là tiên vương vâng theo cái đạo của trời, để trị cái tình của người.

- Lễ giả nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả dã. (Lễ ký, Phường ký, XXX). Lễ là nhân cái thường tình của người ta mà đặt ra tiết độ, văn vẻ để làm cái ngăn giữ cho dân.

- Phù Lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị minh thị phi dã (Lễ ký, Khúc lễ thượng, I). Lễ là cốt để ohân ra trật tự, khiến cho vạn vật kông có điều gì hồ đồ, hỗn độn.

- Phù Lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị minh thị phi dã (Lễ ký, Khúc lễ I). Lễ cốt để định thân sơ, tránh hết lẫn lộn, nghi ngờ, phân biệt cái gì giống nhau, cái gì khác nhau cho thấy rõ cái nào là phải, cái nào là sai…

- Nhân hữu lễ tắc an, vô lễ tắc nguy, cố viết: lễ giả bất khả bất học dã (Lễ ký, Khúc lễ, I). Người có lễ sẽ bình an, không có lễ sẽ nguy, cho nên nói lễ cần phải được học hỏi vậy.

- Lễ khí, thị cố đại bị. Đại bị thịnh đức dã. Lễ thích hồi tăng mỹ chất (Lễ ký, Lễ khí VIII). Lễ cốt là để rèn luyện con người. Lễ giúp con người đi đến chỗ thành toàn, đi đến chỗ nhân đức, hòan thiện. Lễ giúp con người sửa nết xấu, mở mang tính tốt.

[18] Political justice is of two kinds one natural (physicon) and the other conventional (nomikon) …(Nicomach, Eth.V,VII, tr. Rackham p.295. - Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Vol 2, p.520.)

[19] Cicérron (-106 te-43) of course, reflection this, saying: «Natualem legem divinam esse censet (Zeno), eamque vim obtinere recta imperantem prohibentemque contraria.» De Natura Deorum, I, 14 (tr. Brooks, p.30). -Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, p. 534.

[20] Positiva lex est infra principantem sicut lex naturalis est supra. (Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, P.538)

[21] Lex Oeterna nihil aliud est quam summa ratio divinae sapientine secun dum quod est diectiva omnium actuum et motionum.

(Summa.I.(2). Q.93 at.I.- Joseph Needham Science and Civilisation in China, Volume 2, p. 538.

[22] Every law framed by man bears the nature of a law in the extent to which it is derived from the Law of Nature. But if on any point it is in conflict with the Law of Nature, it at once ceases to be a law; it is a mere corruption of law. (Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, p. 538).

[23] Anh Vũ năng ngôn, bất ly phi điểu. Tinh tin năng ngôn bất ly cầm thú. Kim nhân nhi vô lễ, tuy năng ngôn, bất diệt cầm thú chi tâm hồ? Phù duy cầm thú vô lễ cố pụ tử tụ ưu. Thị cố thánh nhân tác, vi lễ dĩ giáo nhân, sử nhân dĩ hữu lễ, tri tự biệt ư cầm thú. (Lễ ký, Khúc lễ thượng).

[24] Tử viết: Lễ giả, Lý dã. (Lễ ký, Trọng Ni yến cư. XXV)

[25] Cố Lễ nghĩa dã giả nhân chi đại đoan dã. (Lễ ký, Lễ vận VII)

[26] Cố Lễ tất bản ư thiên, động nhi chi địa, liệt nhi chi sự, biên nhi tòng thời, hiệp ư phân nghệ. Kỳ cư nhân dã viết dưỡng, ký hành chi dĩ hóa lực, từ nhượng, ẩm thực, quan hôn táng tế, sạ ngự, triều sinh. (Lễ ký, Lễ vận, VII).

[27] Cố Lễ Nghĩa dã giả, nhân chi đại đoan dã. Sở dĩ giảng tín tu mục, nhi cố nhân coơ phu chi hội, cân hài chi thúc dã. Sở dĩ dưỡng sinh tống tử, sự qui thần chi đại đoan dã. Sở dĩ đạt thiên đạo, thuận nhân tình chi đại đậu dã. Cố duy thánh nhân vi tri lễ chi bất khả dĩ dĩ dã. Cố hoại quốc táng gia, vong nhân, tất tiên khứ kỳ lễ. (Lễ ký, Lễ vận, VII).

[28] Tử viết: Đạo chi dĩ chính, tế chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách. (Luận Ngữ, Vi Chính II, 3).

[29] Liêm Khê tiên sinh viết: “Cổ thánh vương chế lễ pháp, tu giáo hóa, tam cương chính, cửu trù tự, bách tính đại hòa, vạn vật hàm nhược…hậu thế lễ pháp bất tu, chính hình hà vẫn, túng dục bại độ, hạ dân khốn khổ…(Cận tư lục 0.9, tr. 1a).

[30] Lễ chi dụng hòa vi quý. (Luận ngữ, Học nhi I).

[31] Nghĩa giả nghi dã. (Trung Dung chương XX, Lễ ký chương XXVIII, Trung Dung, tiết II, câu 6).

[32] Hà vị nhân nghĩa: Phụ từ, tử hiếu, lương huynh, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung, thập giả vị chi nhân nghĩa…Cố thánh nhân sở dĩ trị nhân thất tình, tu thập nghĩa, giảng tín, tu mục, thượng từ nhượng, khử tranh đoạt, xả lễ hà dĩ trị chi? (Lễ ký, Lễ vận)

[33] Tề Cảnh Công vấn chính ư Khổng Tử. Khổng Tử đối, viết: «Quân nhân, thần thần, phụ phụ, tử tử». Công viết: «Thiện tai! Tín như quân bất nhân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chi?» (Luận ngữ, Nhan Uyên XII, II).

[34] Tề Cảnh Công vấn chính ư Khổng Tử. Khổng Tử đối, viết: «Quân nhân, thần thần, phụ phụ, tử tử». Công viết: «Thiện tai! Tín như quân bất nhân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chi?» (Luận ngữ, Nhan Uyên XII, II).

[35] Tử viết: «Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẫm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú tha quy, ư ngã như phù vân.» (Luận ngữ, Thuật nhi, VII, 15)

[36] Nhân giả nghĩa chi bổn dã, (Lễ ký, Lễ vận, VII, tiết IV, II) Lý giả nghĩa dã. (Lễ tang phục tứ chế, 13)

[37] Cố Lễ Nghĩa dã giả…sở dĩ đạt thiên đạo, thuận nhân tình chi đại đâu cả. (Lễ ký, Lễ vận VII).

[38] Cảm vấn: «Hà vị hạo nhiên chi khí?» Viết: «Nan ngôn dã. Kỳ vi khí dã chí đại chí cương; dĩ trực dưỡng chi nhi vô hại, tắc tắc hồ thiên địa chi gian. Kỳ vi khí dã, phối nghiã giữ đạo; vô thị, nỗi dã. Thị tập nghĩa sở sinh dã. Phi nghĩa tập nhi thủ chi dã.» (Mạnh Tử, Công tôn Sửu, chương cú thượng, 2)

Dám hỏi thầy: Sao gọi là khí hạo nhiên?

- Khó giải lắm. Cái khí rộng lớn, bao la, cứng cỏi vững vàng lắm. Nếu mình thuận theo lẽ thẳng mà bồi dưỡng nó, đừng làm tổn hại nó thì nó sẽ lan ra khắp trong khoảng trời đất này. Cái khí ấy phối hợp với việc nghĩa việc đạo băng không nó sẽ hư hoại đi.

Mình cần phải làm nhiều việc hợp nghĩa, cái khí hạo nhiên ấy mới sinh ra; chẳng phải làm một việc nghĩa rời rạc, mà thâu đoạt được cái khí lực ấy. Nếu mình làm việc quấy bậy chẳng thuận với lương tâm thì cái khí ấy phải hư hoại vậy…


(còn tiếp)
8  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / le vào lúc: Tháng Chín 24, 2014, 12:57:20 AM
Xin được đóng góp 2 ý nhỏ:-

1/-Mấy năm gần đây, có phong trào "đề cao tinh thần dân tộc" một cách hàm hồ, vơ đũa cả nắm, cho hễ cái gì hay, tốt, đẹp .... đều là "CỦA NGƯỜI VIỆT" . Ví dụ:-

-Kinh Dịch là của người Việt.
-Lục Tổ Huệ Năng là người Việt.
-Người Việt là "TỔ TIÊN" của các tộc người châu Á (Xem “Trao đổi với ông Hà Văn Thùy"

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/dien-dan38/trao-doi-voi-ong-ha-van-thuy-ve-%E2%80%9Cnguon-goc-nguoi-viet-nguoi-muong%E2%80%9D

-Bạn Phạm Thắng cũng là một thành viên trong nhóm nầy (cái gì cũng cố Việt hóa cho bằng được, bất chấp đúng sai, phải trái).

....
2/- Trong khoa Tử Vi, có khái quát chia ra 4 trường hợp về sự tương quan giữa "cung tam hợp tuổi" và "cung tam hợp mệnh" :-


-cùng thế tam hợp
-cung mệnh trước cung tuổi.
-cung mệnh sau cung tuổi
-cung mệnh đối kháng cung tuổi.

Nét đặc thù nổi bật nhất của trường hợp 4(đối kháng)  là :-

"Bất cứ nghe ai nói gì, xem cái gì, đọc cái gì ..." dù Đúng hay Sai, việc trước tiên là "CÃI CỰ LẠI ĐÃ" mọi việc tính sau.

-thường bảo thủ chấp chặc ý kiến của mình , nhà Phật cho là "kiến thủ" đấy, cho nên đọc, xem qua loa, chưa nắm vững ý người nói, viết, đã cho là "SAI RỒI"

-nói  quá dài .... mà người nghe không biết muốn nói cái gì, tức là "mắc bệnh hay nói" !

-Bạn Phạm Thắng có thể lấy làm tiêu biểu cho nhóm cự cãi nầy, xin bạn vui lòng cho biết tứ trụ của bạn để anh em có thêm bài học cụ thể, quí báu.

Thành thật cảm ơn bạn.
9  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC / Re: Trọn bộ ebook bộ NẾP CŨ - TOAN ÁNH vào lúc: Tháng Bảy 01, 2013, 07:08:33 AM

Download BHBV không được SCC ơi !


Vui lòng cho xin đường link khác.

Thành thật cám ơn.
10  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: AI ĐÁNG SỢ vào lúc: Tháng Sáu 13, 2013, 12:34:26 PM

Nỗi khổ vì chồng có tính đàn bà




Chồng bạn tôi là một người có học hành tử tế, công việc ổn định, mức lương khá và vóc dáng lại cao ráo, đẹp trai. Chẳng riêng tôi mà hầu như những người hàng xóm đều cảm thấy ghen tị với Huệ vì đã may mắn “sở hữu” một người chồng như thế.

Qua một thời gian chung sống, sự lục đục mới bắt đầu phát sinh và mọi người đều bất ngờ khi Huệ bế con bỏ về nhà mẹ đẻ, và khóc lóc nhất định đòi ly hôn, mặc cho mẹ đẻ, bạn bè khuyên bảo thế nào cô cũng nhất mực nói bỏ chồng chứ không thể sống nổi.
Thì ra, mâu thuẫn bắt đầu từ những điều rất nhỏ nhặt trong cuộc sống tưởng chừng như không có gì đáng để nói.

Tuấn không bồ bịch, không rượu chè, không nghiện ngập, luôn chăm chỉ làm ăn vun vén cho gia đình. Thế nhưng chỉ khi sống chung Huệ mới hiểu ra, chồng mình không quảng đại, phóng khoáng như vẫn tưởng.

Cả hai cùng là viên chức nhà nước, cuộc sống tuy không giàu có nhưng chẳng đến nỗi nào. Vậy mà Huệ thỉnh thoảng có chút ít biếu bố mẹ, Tuấn cũng càu nhàu đến cả tháng, cằn nhằn rằng Huệ không chăm chút đến gia đình.

Tuấn có cô em đang học đại học. Đôi khi Huệ cho em chút ít để cuộc sống sinh viên đỡ vất vả hơn. Tưởng rằng Tuấn sẽ tự hào lắm vì có được người vợ chu đáo với gia đình nhà chồng, mhưng anh mặt nặng mày nhẹ nói cô “hoang phí”, “vung tay quá trán”.
Chuyện tài chính trong nhà do Tuấn giữ cả. Các bữa ăn đều được lên sẵn thực đơn để không thừa một xu. Đến mấy tháng Huệ không có một bộ quần áo mới, bớt chút tiền lương của mình ra mua cũng phải nói dối là chị gái tặng…

Có lần Tuấn khoe mua được mớ cá ở một chợ cóc trong ngõ, còn bảo Huệ lần sau cứ vào đó mua cho rẻ, xa hơn cũng chẳng đáng bao nhiêu, chứ mua trên đường đi làm về thì đắt đỏ. Huệ ăn miếng cơm mà lòng thấy mặn chát. Tiện đường đi làm chợ búa luôn còn về nhà cho sớm, chứ chui vào trong xó tắc đường biết bao giờ mới xong bữa cơm.

Hôm trước bố mẹ và em chồng qua chơi. Số tiền Tuấn để lại chẳng đủ để đi chợ, Huệ sang hàng xóm vay tạm một ít làm cơm, thế mà về nhà Tuấn mắng Huệ té tát: “Đi vay để đổ vào mồm, cô không thấy nhục sao”. Ức đến phát khóc, nhiều đêm không ngủ được, Huệ trách mình lấy phải ông chồng sao quá căn cơ.

Hai vợ chồng làm lụng tiết kiệm để xây được cái nhà, Huệ quý trọng công lao của Tuấn lắm. Thế nhưng ông chồng thuộc hàng “tôi yêu nhà tôi lắm, yêu hơn cả vợ tôi”. Chiều qua lúc Tuấn đi làm về, Huệ ra đỡ cặp, áo treo giúp vào mắc, không được ánh mắt cám ơn thì chớ, hứng ngay cái sẳng giọng của chồng: “Sao không phủi áo ở ngoài trước khi treo. Làm thế khác gì mang bụi vào nhà!”.

Không muốn to tiếng sợ con gái tủi thân, Huệ lẳng lặng vào nấu cơm, vừa nấu vừa khóc không may làm đổ nồi canh xuống bếp. Tuấn chạy ngay lại, chưa hỏi han xem vợ có sao không đã buông lời: “Mất toi đi nồi cá”. Để mặc chồng với nồi cá, Huệ chạy vào phòng khóc nức nở, gói ghém đồ đạc tính đưa con về bên ngoại ít ngày cho đỡ u uất, ai ngờ vô tình tìm thấy cuốn sổ nhỏ của chồng trong hộc tủ: “Ngày 20/7, Huệ tiêu quá 30.000 đồng. Ngày 6/8 uống cà phê hết… xăng xe hết… còn lại là….”.

Như giọt nước tràn li, Huệ lôi ngay con về nhà mẹ không kịp để nó ăn cơm tối, trong lòng trào lên cảm giác ghê sợ về người chồng quá chi là… đàn bà!.

“Đến nước này con đành chia tay thôi. Đó là cách giải thoát duy nhất”
– Huệ nói với mẹ. Giờ cô hiểu rằng không ai mang “dùi đục chấm mắm cáy” đi hỏi vợ, tự trách mình sao không tìm hiểu kỹ trước khi tiến đến hôn nhân.

Người phụ nữ nào cũng mong lấy được một tấm chồng “cho đáng tấm chồng”. Bản tính đàn ông cần mạnh mẽ, vị tha, quảng đại, phóng khoáng, lo toan gánh vác những việc lớn chứ đâu chỉ chi li “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành”.

Cuộc sống gia đình không bao giờ hạnh phúc được khi trong nhà luôn “thừa” một người đàn bà và “thiếu” một người đàn ông, theo đúng nghĩa.


http://laodong.com.vn/doi-song/noi-kho-vi-chong-co-tinh-dan-ba/82394.bld
11  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / AI ĐÁNG SỢ vào lúc: Tháng Sáu 13, 2013, 11:58:38 AM



Đàn ông mang tính đàn bà

***

"Cái lão ấy tính tình như đàn bà"... đó là một câu nói quen thuộc mặc nhiên được người ta công nhận như một định nghĩa về một phẩm chất có vẻ "yếu kém" của đàn ông. Người nào bị nhận 3 chữ "tính đàn bà" đó thì lấy làm xấu hổ, còn kẻ nói ra thì coi như một sự giễu cợt hay chê trách.

Với các đấng mày râu, như vậy là một sự sỉ nhục, rõ ràng ta oai phong như vậy, đi lại đĩnh đạc, ăn to, nói lớn, đầy mạnh mẽ và nam tính... Thế nhưng rút cục thì thế nào? Đâu đó, một VIP ngự xế hộp hay chú "cửu vạn" ngồi lề đường vẫn sẽ bị nhận một câu gọn lỏn: "Cái đồ đàn bà"! Ức thật!

Nhưng cái sự "ức" này hóa ra lại là sự nhầm lẫn, mà là nhầm to, nhầm chết người. Bởi lẽ, các đấng đại trượng phu không thể ngờ rằng, khi họ nhận được câu ví "y như đàn bà" thì lại là một lời khen không thể tốt hơn được. Nếu nói "tính đàn bà" là một phẩm chất thì trước hết cần phải định nghĩa chính thức ba chữ "tính đàn bà". Tính đàn bà là sao nhỉ?

Làm một cuộc trắc nghiệm rõ ràng với 5 người đàn ông để xem họ định nghĩa thế nào về tính đàn bà? Câu trả lời là im lặng và cười trừ. Vậy thử đi lướt vài tính đàn bà xem sao: Đơn cử người ta nói là: "Cha ấy cẩn thận như đàn bà" hay "cha ấy tỉ mẩn như đàn bà!". Thế tỉ mẩn, cẩn thận là xấu hay sao? Vậy thì phải cẩu thả thì mới đúng là đàn ông, mới là tốt? Lại còn có câu "ủy mị như đàn bà", cái này cũng phải bàn cãi.

Thông thường có câu "nước mắt đàn ông" để nói lên sự hiếm hoi, một sự đau khổ rất lớn. Nhưng thực tế, cứ soi gương và nhìn sang bên cạnh thì tỷ lệ đàn ông khóc cũng tương đối.

Theo thống kê thì trong cuộc đời mình, cứ 1 năm, trung bình mỗi một năm đàn ông khóc khoảng 3,7 lần, một con số bất ngờ chăng? Vậy thì các ông tự đếm lại số lần khóc của mình đi đã. Đấy là chưa kể, khối người đàn ông được mệnh danh là "mít ướt", lại có người khóc như mưa như gió hết lần này đến lần khác cho những chuyện cũng chẳng đâu vào đâu và một số kha khá những ông thuộc loại "lệ tửu", nghĩa là cứ uống một chút men vào là khóc, nước mắt chứa chan, lã chã...

Yếu đuối như đàn bà! Đất nước chúng ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đằng sau những gian khổ, sự mất mát, hy sinh về tuổi xuân và xương máu của người lính nơi trận mạc là sự chờ đợi của những người phụ nữ. Phu nhân của Tôn Trung Sơn - Tống Khánh Linh - đã có câu đúc kết rằng: "Chiến tranh đi qua lấy đi rất nhiều sinh mạng của đàn ông, còn với phụ nữ thì nó để lại những vết thương không bao giờ lành lại được và đau đớn suốt cuộc đời họ". Nếu để đàn bà đi đánh giặc, chẳng hiểu có bao nhiêu đấng trượng phu nuôi con, nuôi mẹ, lao động và chiến đấu, nhìn tuổi xuân sắc trôi qua, đè nén những ham muốn rất đỗi bình thường, chính đáng và chờ đợi? Nếu cuộc chiến tranh được đo bằng xương máu thì sự chờ đợi tính bằng hơi thở, từng đêm lạnh, từng ngày tháng... Ôi đàn bà! cái thuộc tính chờ đợi, thủy chung của họ mới đáng kính làm sao?

Chi li như đàn bà! Cái thằng cha ấy đếm củ dưa hành, đo lọ nước mắm như đàn bà! Quan điểm ấy có vẻ mâu thuẫn với câu: "Bà ấy hoang tàn lắm". Kể ra cũng lạ, chi li có gì là xấu? Cứ đếm dưa hành, cứ đo nước mắm nhưng biết chi tiêu đúng lúc, tiêu đúng chỗ chẳng hơn là cái thói "bán giời" của Thúc Sinh sao? Lắm điều như đàn bà thì hẳn rồi. Nhưng cứ thử ra quán cà phê ngồi mà quan sát, sẽ thấy độ buôn của các quý ông chẳng kém gì các bà, các cô. Còn về độ lượng thì thử so sánh đi nào. Nếu đối phương có tình ý ở bên ngoài. Các bà có thể rộng lượng mà bỏ qua cho các vụ mèo mỡ, còn các ông? Rõ ràng là sẽ không thể chịu đựng được bộ sừng dẫu có đẹp như bộ sừng của một chú tuần lộc. Kết cục, một cuộc chia li là nhãn tiền. Nếu phải nói một câu chuyện cho ra nhẽ, thường là đàn bà đi thẳng trực diện vấn đề, không vòng vo, còn các ông thì luôn chọn cách "đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt" rốt cục thì vẫn lòi cái đuôi hồ li... Còn dũng mãnh, cứ thử động đến chồng, con, gia đình họ mà xem, họ sẽ cho biết "đàn bà dễ có mấy tay" ngay lập tức! Và nếu biết các quý ông biết mềm mỏng như các bà, con đường công danh chắc chắn sẽ bằng phẳng hơn rất nhiều!

Vậy thì tính đàn bà cũng tuyệt vời đấy chứ? Họ căn cơ cho túi tiền của chung. Họ cẩn trọng và tỉ mỉ chăm sóc cho gia đình, chồng con. Họ nhẫn nại và thủy chung. Họ biết tha thứ, biết yêu thương. Rất thẳng thắn và dám đối diện, dám chịu trách nhiệm. Những tính tiêu cực ư? Nói nhiều? Ủy mị? Một chín một mười mà thôi! Vậy thì đấng mày râu nào đó được nhận một câu "tính đàn bà" thì hãy lấy làm hãnh diện vì đó là một lời khen và một nhắc nhở đến các ông tự hoàn thiện mình. Lẽ dĩ nhiên, đừng có đi lại như đàn bà, bởi cái nguẩy mông, vung tay của họ là trời phú. Dĩ nhiên cũng đừng phục sức lòe loẹt, đeo đầy người trang sức cho dù đắt tiền đến đâu bởi đó là chỉ là những phụ kiện để thu hút kẻ khác giới, ở đàn ông, sự thu hút không phải là sắc đẹp mà là trí tuệ.

(Theo Đẹp)

Việt Báo (Theo-Ngoisao)

http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Dan-ong-mang-tinh-dan-ba/50741678/430/
12  TIN TỨC / Phật tử Chân Tâm / Rớt nước mắt bé 9 tháng tuổi chỉ còn da bọc xương . vào lúc: Tháng Sáu 10, 2013, 12:56:36 PM
Rớt nước mắt bé 9 tháng tuổi chỉ còn da bọc xương .







Ánh mắt lờ đờ, mệt mỏi của bé như cố nhìn gương mặt thân thương của người mẹ đã mang nặng đẻ đau ra mình.

Gần 9 tháng sau ngày chào đời cũng là quãng thời gian đằng đẵng, bé Nguyễn Hoàng Tấn Dũng vật lộn với tử thần.

Cơ thể bé giờ chỉ còn da bọc xương do phải truyền không biết bao nhiêu thuốc đặc trị, kháng sinh, nhưng cha mẹ bần hàn khiến hy vọng sống của bé càng mong manh.

Ôm cuốn hồ sơ theo dõi bệnh án dày cộp trên bàn, bác sĩ Trình Thị Ngà, khoa Hô hấp cho biết:

'Bệnh nhi được chuyển đến điều trị tại BV Nhi Đồng 2 từ ngày 30/10/2012 với nhiều chứng bệnh phức tạp như: Viêm phổi, loạn sản phổi, đa dị tật, tim nằm bên phải, suy dinh dưỡng nặng'.

Ngồi bên giường bệnh của con, chị Hoàng Thị Thuận (27 tuổi) gạt nước mắt:

'Do điều kiện kinh tế 2 vợ chồng rất khó khăn nên khi mang thai thằng bé em vẫn phải cố gắng đi làm những công việc nặng như cạo mủ cao su, làm cỏ vườn cây điều…

Đến tháng thứ 7 của thai kỳ khi trong người thấy mệt mỏi, em đến viện kiểm tra thì bác sĩ yêu cầu phải nhập viện vì tim thai không bình thường'.

Chị Thuận được chuyển từ BV Đa khoa Bình Phước xuống BV Từ Dũ. Tại đây, bác sĩ đã yêu cầu mổ khẩn cấp để bắt con.

Ca vượt cạn thành công nhưng ngay lập tức bé phải chuyển vào khu dưỡng nhi vì cân nặng chỉ được 1,6kg.

Bên cạnh đó, cơ thể cháu còn có nhiều dị tật như không có lỗ tai bên phải, chân ngắn chân dài, tim nằm bên phải.
Hơn 1 tháng cháu mới được xuất viện về nhà nhưng chỉ 3 ngày sau, bé bị lên cơn khó thở nên gia đình lại tức tốc thuê xe chuyển thẳng xuống BV Nhi Đồng 2 cấp cứu.

Tại đây, bé Dũng đã phải nằm trong khoa Hồi sức hơn 6 tháng vì cơ thể suy kiệt cùng những chứng bệnh khác liên tiếp hành hạ.
Không chịu đầu hàng với số phận, cháu đã kiên cường vật lộn với tử thần và đang từng bước giành lại ưu thế về mình khi đã cai được máy thở và chuyển ra khoa Hô hấp.

Mỗi lúc trở mình, gương mặt nhăn nheo lại hằn lên vẻ đau đớn bởi việc nằm 1 chỗ quá lâu đã khiến vùng mông, lưng của cháu bị lở loét…
Nhìn cháu cong queo trên giường bệnh, rên không thành tiếng, ai cũng nhói lòng.

Theo thống kê sơ bộ của bệnh viện, hiện số tiền điều trị cho bé lên đến 299 triệu đồng nhưng gia đình mới chỉ đóng tạm 23 triệu đồng.
Để có tiền trang trải cho việc điều trị của con, anh Hữu Thắng đã chạy khắp nơi vay mượn nhưng khốn nỗi gia cảnh anh 'rách nát' nên 'chẳng ai dại mà ném tiền qua cửa sổ'.


Hiện, anh đang để vợ con lại viện còn anh về nhà đi làm công nhân cạo mủ với tiền lương hơn 3 triệu đồng/tháng để gửi xuống nuôi con.
Họ đang cố bấu víu vào sự giúp đỡ của ông bà ngoại nhưng gia đình ngoại cũng khó khăn nên việc điều trị sắp tới của bé Dũng không biết sẽ đi về đâu.

Cháu bé đáng thương đang rất cần sự trợ giúp của những tấm lòng hảo tâm.

Mọi đóng góp xin gửi về: Chị Hoàng Thị Thuận, Phòng cấp cứu khoa Dịch vụ Hô hấp, BV Nhi Đồng 2, TP HCM. Điện thoại: 01644.930.585

ad [ Ớt Phượng ]

 

13  TIN TỨC / Phật tử Chân Tâm / Re: Thân tặng ngoisaobiec vào lúc: Tháng Năm 23, 2013, 12:51:57 PM
(tặng ngoisaobiec)





Hãy cứ …






Hãy cứ sống bằng lời yêu chân thật
Dù cuộc đời không là những giấc mơ
Có đôi khi đời tàn nhẫn vô bờ
Vẫn phải sống để tập lòng kiên nhẫn

Hãy cứ yêu bằng trái tim thành khẩn
Dù tình người chỉ quanh quẩn lợi danh
Và con tim nhiều khi phải tranh dành
Khi thất bại , hãy yêu thêm lần nữa

Hãy cứ vui bằng cõi lòng chan chứa
Dù chuyện buồn đang xảy đến quanh ta
Niềm vui kia chớ nên để nhạt nhòa
Nó sẽ giúp ta thêm lòng dũng cảm

Hãy cứ tin đời không là sầu thảm
Lấy sức mình xây dựng một niềm tin
Dù người đời cười chê cứ làm thinh
Niềm tin sẽ giúp ta tròn mơ ước

Hãy thứ tha những gì tha thứ được
Bởi trong lòng đã mở cửa từ bi
Để trong ta còn chỗ trống khắc ghi
Những tốt đẹp đời thường luôn sẵn có

Hãy cứ nhìn những cuộc đời gian khó
Để nhủ rằng ta còn có điều may
Và quanh ta vạn vật sẽ đổi thay
Ta hạnh phúc vì vận đời đưa đẩy.


(st)
14  TIN TỨC / Phật tử Chân Tâm / Re: Thân tặng ngoisaobiec vào lúc: Tháng Năm 21, 2013, 01:49:43 PM

NHỚ VÀ THƯƠNG





Đã lâu rồi  vắng bóng    của ngoisao
Cái trò đời gần nhau nên hết nhớ
Mà hết nhớ dù nhà thơ trăn trở
Cũng không tài nào viết nổi một vần thơ
Cho đến hôm nay khi xa cách đợi chờ
Nỗi nhớ lại tràn lên như ngày đầu hẹn gặp
Mà bây giờ ta  chỉ cần việc chắp
Nhớ và thương cũng thành một bài thơ
Ngoisao ơi ! Ta thật  cũng chẳng ngờ
Nỗi nhớ hôm nay lai tha thiết vậy
Mà cụ thể như là nhìn thấy
Những tháng năm  mình từ thiện  cùng nhau
Lúc vui buồn cũng như lúc ốm đau
Cùng nhau sẻ chia cùng nhau cố gắng
Thời gian càng trôi lòng  càng da diết
Nhưng khi gần đâu nào biết Sao   ơi!
Khi chợt xa mỗi đứa một phương trời
Ta mới thấy thế nào là nỗi nhớ
Nơi đất Bắc  Sao  nhớ  ta  sâu đậm
Nơi đất người ta  nhớ bạn nhớ  Sao
Ta  nhớ mọi người,  nhớ nước nhớ non
Nỗi nhớ chung quy trong vòng tròn khép  kín
Ta  nhớ nhau,  nhớ  anh em bịn rịn
Ta nhớ nhau hoài  và  nhớ lắm Sao ơi
Nhớ đến bao giờ hai đứa một nơi
Trong vòng tay không còn khoảng nhớ
Chỉ còn lại hương vị nồng hơi thở
Và nụ cười  xua tan nỗi nhớ thương./.



*anhlam
15  TIN TỨC / Phật tử Chân Tâm / Re: Thân tặng ngoisaobiec vào lúc: Tháng Năm 18, 2013, 02:26:33 AM
*Thân gởi chị  ngoisaobiec:-





Con người sống trên đời này thường đi tìm hoàn hảo và hạnh phúc, nhưng đâu biết rằng hạnh phúc ở ngay xung quanh ta, luôn hiện hữu gần xa trên thế gian này. Cũng vậy, muốn tìm giác ngộ và an lạc của tự tâm các bạn đừng tìm ở chân trời gốc biển xa tít nào cả, mà hãy xoay về thực tại, xoay về bản tâm của chính mình. Lòng thường thương xót mọi người, buông bớt các duyên, siêng tu Giới, Định, Tuệ, khi đủ duyên sẽ cảm nhận được chân lý thâm sâu vi diệu của vũ trụ vạn hữu ở từng bước chân của chúng ta.

Trong cuộc đời này, buồn vui, thành bại của một người không phải là do người khác đem lại mà là do chính bản thân mình có cái nhìn tích cực hay không. Nếu nhìn thế giới bằng ánh mắt bi quan thì thế giới sẽ ảm đạm. Nếu nhìn thế giới bằng con mắt lạc quan, chúng ta sẽ thấy thế giới đầy hạnh phúc và có rất nhiều điều đáng để cho ta học hỏi. Sự thật buồn vui hay đau khổ vốn dĩ không có ranh giới phân biệt rõ rệt, mà chỉ do sự cảm nhận trong lòng bạn mà thôi.

Khi các bạn đến với cõi đời này chỉ là hai bàn tay trắng, khi ra đi cũng vậy mà thôi. Nếu chúng ta sống có hạnh phúc và đem hạnh phúc ấy chia sẻ cho nhiều người, thì khi ra đi ra sẽ được an lạc. Nếu chúng ta sống không có ý nghĩa và đem lại nỗi buồn cho mọi người, thì khi ra đi ta sẽ đau khổ!



Sự chọn lựa xin dành cho các huynh đệ !
[/size]

Trang: [1] 2 3 ... 6
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.221 seconds với 20 câu truy vấn.