Học Thuật Phương Đông

TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ => VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC => Tác giả chủ đề:: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2008, 11:36:12 PM



Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2008, 11:36:12 PM
GÓP PHẦN  SƯU TẦM “SẤM TRẠNG TRÌNH”  CHỮ HÁN

****


Trước nay, “Sấm Trạng Trình” thường được phổ biến dạng chữ Nôm rất nhiều, có cái thiệt mà cũng có cái giả, không biết đâu mà đánh giá.

Riêng các bài sấm bằng chữ Hán thì ít thấy, tuy nhiên giá trị của nó được đánh giá cao. Không biết loại   nầy có bao nhiêu bài, riêng tôi chỉ biết có 4 bài (hai bài đầu là hai đoạn trong quyển "Sấm Trạng Trình" thường thấy, còn hai bài sau không có trong quyển sấm nầy).

Nay xin nêu lên đây, huynh đệ nào biết thì xin vui lòng bổ sung thêm, để chúng ta cùng học hỏi chiêm nghiệm.

Thân.

NT

---------------------

*Bài 1:-

龍尾蛇頭起戰爭
杆戈處處動刀兵
馬啼羊腳英雄盡
申酉年來見太平

*Âm:-
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ động đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình

*Tạm dịch:-

Đuôi rồng đầu rắn khởi chiến tranh
Can qua khắp chốn loạn đao binh
Ngựa hí  dê  đá   (1) anh hùng hết
Thân Dậu bước sang mới thái bình.

*Chú thích (1):-
*Mã đề:-con ngựa hí vang, còn có nghĩa bắt đầu năm Ngọ.
*Dương cước:- con dê đá giò lái, còn có nghĩa cuối năm Mùi


*Bài 2:-

九九乾坤已定
清明時節花殘
直到羊頭馬尾
胡兵八萬入長安

*Âm:-

Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Trường An.

*Tạm dịch:-

Chín chín trời đất đã định
Vào tiết Thanh minh hoa tàn
Thẳng đến đầu dê đuôi ngựa
Binh Hồ tám vạn vào Trường An (ý nói kinh đô)

(CÒN TIẾP)


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2008, 11:38:26 PM
(tiếp theo)
*Bài  3:-
Bài nầy đọc được bằng hai cách, vì chữ Hán cổ đọc theo thứ tự  từ trên xuống dưới và từ phải qua trái.

*Cách 1:- Đọc từ trên xuống:-

寶玉君明天越阮
山中師道地南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

*Âm:-

Bửu ngọc quân minh thiên việt nguyễn
Sơn trung sư đạo địa nam tiền
Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên

*Chú thích từ:- (không dịch được)
-Bửu ngọc quân:- ông vua quí như viên ngọc báu
-Minh thiên:- ngày mai
-Việt:- vượt qua, nước Việt.
-Nguyễn:- họ Nguyễn
-Sơn trung:- trong núi
-Sư đạo:- ông thầy nói rằng
-Địa nam tiền:- trước phương Nam của đất
-Kỳ niên:- vào năm lạ kỳ
-Trạng:- tình trạng, ông Trạng nguyên
-Tái:- lần nữa
-Tân phục quốc:- mới phục quốc , làm mới lại đất nước.
-Hương xuất:- Mùi thơm bay ra
-Trình:- tâu lên, Trạng Trình
-Sanh:- sinh ra
-Tạo nghiệp:- làm nên sự nghiệp
-Yên:- vậy (tiếng đệm cuối câu)

*Cách thứ hai:- đọc ngang từ phải sang trái thành câu bốn chữ:-


寶山奇香
玉中年出
君師狀呈
明道再生
天地新造
越南復業
阮前國焉

*Âm:-
Bửu sơn kỳ hương
Ngọc trung niên xuất
Quân sư Trạng trình:-
Minh Đạo tái sinh
Thiên địa tân tạo
Việt Nam phục nghiệp
Nguyễn tiền, Quốc yên.

*Tạm dịch:-

Núi quí hương thơm lạ
Ngọc trong năm mà ra
Vua hỏi thì Trạng đáp:-
Minh Đạo lại  sinh ra
Trời đất sẽ đổi mới
Phục nghiệp nước Việt Nam
Trước :- Nguyễn;  sau :- Quốc vậy !

(có liên hệ đến Nguyễn Ái Quốc ?)

*Chú thích:- “Minh Đạo” :- là một học thuyết mang tính cách mạng, đổi mới, có nhiều mục tiêu canh tân cải tiến đất nước do Hồ Quí Ly chủ trương thời nhà Hồ. (Hồ Quí Ly cho chế tạo thuyền hai đáy, tiền bằng giấy v.v..)

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2008, 11:40:04 PM
(tiếp theo)

*Bài 4 :-

Bài nầy tôi được đọc hai lần. Lần đầu vào năm 1960, tại Tổng Thư Viện Quốc Gia (nằm phía sau Trường Petrus Trương Vĩnh Ký), phần văn khố lưu trử của báo “Nam Phong Tạp Chí” ( do Phạm Quỳnh chủ trươgn) in năm 1930, có cả chữ Hán, chữ Việt và dịch tiếng Pháp.
Lần thứ hai vào năm 1973 trên báo Tin Sáng (sau hiệp định Paris) có đăng lại bài sấm nầy và chú giải mấy ý hay hay.

* Bài nầy như sau:-

嗚呼世事似萍篷
南北何時鐵路通
猢隱山中毛盡白
鯨居海外血由紅
雞鳴玉樹天傾北
牛出藍田日正東
若待鷹來獅子尚
世閒盡享太平風



*Âm:-

Ô hô ! Thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông ?
Hồ ẩn sơn trung, mao tận bạch
Kình cư hải ngoại, huyết do hồng
Kê minh ngọc thụ, thiên khuynh Bắc
Ngưu xuất Lam điền, nhật chính Đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Thế gian tận hưởng thái bình phong

*Chú giải và gợi ý:-

-Ô hô :- tiếng than , than ôi !
-Thế sự:- việc ở đời
-Tự bình bồng:- như bèo trôi phiêu dạt (ý nói sự thay đổi nhanh chóng)
-“Nam Bắc hà thời thiết lộ thông ?”:- Đường sắt nối liền hai miền Nam Bắc chừng nào mới thông ? (hình như là 31-12-1976 ?)
-Hồ ẩn sơn trung:- Con chồn ẩn trong núi ( chữ Hồ 猢 là con chồn đồng âm với chữ Hồ 胡 là họ Hồ) (lăng HCT giống như quả núi vì xây toàn bằng đá, khánh thành sau khi khai thông đường sắt Bắc Nam)
-Mao tận bạch:- lông rụng trắng hết (Mao 毛:- lông, họ Mao) (xem lại năm mất của Mao Trạch Đông, sau khi khánh thành Lăng HCT)
-Kình cư hải ngoại:- Con cá kình ở ngoài biển
-Huyết do hồng:- máu chảy đỏ khắp biển
-“Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc”:- Khi gà gáy thì cây ngọc sinh ra, trời nghiêng mé Bắc.
(Ngọc thụ:- âm giống Gorbachev)
-“Ngưu xuất Lam điền, nhật chính Đông” :- con trâu xuất hiện nơi ruộng tốt, mặt trời mọc ở chính Đông. (Nhật Bản cho rằng họ là con cháu của Thái Dương Thần Nữ)
-“Nhược đãi ưng lai sư tử thượng”:- chờ lúc con chim ưng (ó, đại bàng) đến làm bạn với con sư tử (Lưu ý:- chim ưng là quốc huy của Mỹ; sư tử là quốc huy của Trung Quốc)
-“Thế gian tận hưởng thái bình phong”:- Thế gian hưởng trọn gió thái bình.

Bài nầy có nhiều ý sâu sắc và lạ, cần phối kiểm các sự kiện lịch sử  và liên kết chúng lại mới có chút ánh sáng. Để quí vị tư duy xem, tôi không dám bàn thêm (sợ trật lất ! )
Nhắc lại lần nữa, bạn nào biết bài khác xin post lên đây để chúng ta cùng học hỏi. Rất biết ơn !

NHƯỢC  THỦY



Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 31, 2008, 01:25:36 AM
*Ngoài ra, tôi có đọc phần có phiên âm Hán Việt, nhưng không có nguyên văn chữ Hán kèm theo nên không dám đưa lên.  Xin chép ra đây để các bạn tham khảo và góp ý:-

Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

Lê dân bảo bảo noản
Tứ hải lạc âu ca

Dục đức thánh nhân hương
Qua kiều cư Bắc phương
Danh vi Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh ngưu lang

Thượng đại nhân bất nhân
Thánh ất dĩ vong ân
Bạch hổ kim đai ấn
Thất thập cổ lai xuân

Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
Hỏa thôn đa khuyển phệ
Mục giả dục nhân canh
Phú quí hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Anh hùng vương kiếm kích
Manh cổ đổ thái bình
Nam Việt hửu Ngưu tinh
Quá thất thân thủy sinh
Ðiạ giới sĩ vị bạch
Thủy trầm nhi bắc kinh
Kỷ mã xu dương tẩu
Phù kê thăng đại minh
Trư thử giai phong khởi
Thìn mão xuất thái bình
Phân phân tùng Bắc khởi
Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh

Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

Thủy trung tàng bảo cái
Hứa cập thánh nhân hương
Mộc hạ châm châm khẩu
Danh thế xuất nan lương

Danh vi Nguyễn gia tử
Tinh bản tại ngưu lang
Mại dử lê viện dưỡng
Khởi nguyệt bộ đại giang
Hoặc kiều tam lộng ngạn
Hoặc ngụ kim lăng cương
Thiên dử thần thực thụy
Thụy trình ngũ sắc quang
Kim kê khai lựu điệp
Hoàng cái xuất quí phương
Nhân nghĩa thùy vi địch
Ðạo đức thực dữ đương
Tộ truyền nhị thập ngủ
Vận khải ngủ viên trường
Vận đáo dương hầu ách
Chấn đoài cương bất trường
Quần gian đạo danh tự
Bách tính khổ tai ương
Can qua tranh đấu khởi
Phạm địch tánh hung hoang

Ma vương sát đại quỉ
Hoàng thiên tru ma vương
Kiền khôn phú tai vô lương
Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng

Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết
Ðảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
Ta hồ vô phụ vô quân
Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành
Ðoài phương phước điạ giáng linh
Cửu trùng thụy ứng long thành ngủ vân

Phá điền thiên tử giáng trần
Dũng sĩ nhược hại mưu thần như lâm
Trần công nãi thị phúc tâm
Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
Tướng thần hệ xuất y chu
Thứ kỵ phục kiến Ðường ngu thi hành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia ./.

*Xin chờ các bạn góp ý. Thân.NT


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ NÔM
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 31, 2008, 01:30:00 AM
Còn đây là phần "Sấm Trạng Trình" chữ Nôm thường được phổ biến:-

SẤM TRẠNG TRÌNH

Chương Nhất

1 - Vận lành mừng gặp tiết lành
2 - Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
3 - Một câu là một nhiệm màu
4 - Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5 - Trải vì sao mây che Thái ất
6 - Thủa cung tay xe nhật phù lên
7 - Việt Nam khởi tổ xây nên
8 - Lạc Long ra trị đương quyền một phương
9 - Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
10 - Một thời lại một nhiễu nhương nên lề
11 - Đến đinh Hoàng nối ngôi cửu ngũ
12 - Mở bản đồ rũ áo chấp tay
13 - Nhự đao phút chốc đổi thay
14 - Tập bát tử rày quyền đã nổi lên
15 - Đông a âm vị nhi thuyền
16 - Nam phương kỳ mộc bổng liền lại sinh
17 - Chấn cung hiện nhật quang minh
18 - Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
19 - Đoài cung vẽ rạng trăng thu
20 - Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
21 - Sáng cửu thiên ám vầng hồng nhật
22 - Dưới lẫn trên n( vẫn uống quen
23 - Sửa sang muôn việc cầm quyền
24 - Ngồi không ai dễ khẫng nhìn giúp cho
25 - Kìa liệt vương khí hư đồ ủng
26 - Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
27 - Trời sinh ra những kẻ gian
28 - Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài
29 - Áo vàng ấm áp đà hay
30 - Khi sui đấp núi khi say xây thành
31 - Lấy đạc điền làm công thiên hạ
32 - Được mấy năm đất lở giếng mòn
33 - Con yết ạch ạch tranh khôn
34 - Vô già mợ hội mộng tôn làm chùa
35 - Cơ trời xem đã mê đồ
36 - Đã đô lại muốn mở đô cho người
37 - ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
38 - Suốt vạn dân cưu giận nhân than
39 - Dưới trên dốc chí lo toan
40 - Những đua bán nước bán quan làm giàu
41 - Thống rủ nhau làm mồi phú quí
42 - Mấy trung thần có chí an dân
43 - Đua nhau làm sự bất nhân
44 - Đả tuần bốn bể lại tuần đầu non
45 - Dư đồ chia xẻ càn khôn
46 - Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
47 - Vội sang giàu giết người lấy của
48 - Sự có chăng mặc nọ ai đôi
49 - Việc làm thất chính tơi bời
50 - Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
51 - Xem tượng trời đả gia ra trước
52 - Còn hung hăng bạc ngược quá xưa
53 - Cuồng phong cả sớm liền trưa
54 - Đả đờn cửu khúc còn thơ thi đề
55 - ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết
56 - Để vạn dân dê lại giết dê
57 - Luôn năm chật vật đi về
58 - Âm binh ở giữa nào hề biết đâu
59 - Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
60 - Cũng một lòng trời chống khác nào
61 - Xem người dường vững chiêm bao
62 - Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
63 - Một góc thành làm tâm chứng quỷ
64 - Đua một lòng ích kỷ hại nhân
65 - Bốn phương rời rỡ hồng trần
66 - Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần
67 - Tiếc là những xuất dân làm bạo
68 - Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
69 - Nhân danh trọn hết đâu đâu
70 - Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
71 - Hùm già lạc dấu khôn về
72 - Mèo non chi chí tìm về cố hương
73 - Chân dê móng khởi tiêu tường
74 - Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
75 - Nội thành ong ỏng hư kinh
76 - Đầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
77 - Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
78 - Giữa hai xuân bỗng phá tổ long
79 - Quốc trung kinh dụng cáo không
80 - Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng
81 - Gà đâu sớm gáy bên tường
82 - Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
83 - Thủy binh cờ phất vầng hồng
84 - Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
85 - Đứng hiên ngang đố ai biết trước
86 - ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
87 - Ai còn khoe trí khoe năng
88 - Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
89 - Chưa từng thấy đời nào sự lạ
90 - Bổng khiến người giá họa cho dân
91 - Muốn bình sao chẳng lấy nhân
92 - Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
93 - Đả nên si Hoàn Linh đời Hán
94 - Đúc tiền ra bán tước cho dân
95 - Xun xoe những rắp cậy quân
96 - Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công
97 - Máy hóa công nắm tay dễ ngõ
98 - Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
99 - Thung thăng tưởng thấy đạo trời
100 - Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
101 - Cát lầm bốn bể can qua
102 - Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
103 - Quân hùng binh nhuệ đầy khe
104 - Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời
105 - Bấy gia+ý càng khốn thay ôi
106 - Quỉ ma chật vật biết trời là đâu ?
107 - Thương những kẻ ăn rau ăn giới
108 - Gặp nước bung con cái ẩn đâu
109 - Báo thù ấy chẳng sai đâu
110 - Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
111 - Xin những kẻ hai lòng sự chúa
112 - Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
113 - Cho nên phải báo trầm luân
114 - Ai khôn mới được bảo thân đời này
115 - Nói cho hay khảm cung rồng dấy
116 - Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117 - Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118 - Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
119 - Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
120 - Thì phụ nguyên mới chỗ binh ra
121 - Bốn phương chẳng động can qua
122 - Quần hùng các xứ điều hòa làm tôi
123 - Bấy gia+ý mở rộng qui khôi
124 - Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn
125 - Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
126 - Hoàng phúc xưa đã định tây phong
127 - Làu làu thế giới sáng trông
128 - Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ vương
129 - Rỏ sinh tài lạ khác thường
130 - Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
131 - Xem ý trời có lòng đãi thánh
132 - Đốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
133 - Chọn đầu thai những vì sao cả
134 - Dùng ở tay phụ tá vương gia
135 - Bắc phương chính khí sinh ra
136 - Có ông Bạch sĩ điều hòa hôm mai
137 - Song thiên nhật rạng sáng soi
138 - Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
139 - Đời này thánh kế vị vương
140 - Đủ no đạo đức văn chương trong mình
141 - Uy nghi trạng mạo khác hình
142 - Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
143 - Cùng nhau khuya sớm dượng nuôi
144 - Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
145 - Binh thơ mấy quyển kinh luân
146 - Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
147 - Ở đâu anh hùng hẳn biết
148 - Xem sắc mây đã biết thành long
149 - Thánh nhân cư có thụy cung
150 - Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
151 - Lại dặn đấng tú nam chí cả
152 - Chớ vội vàng tất tả chạy rong
153 - Học cho biết lý kiết hung
154 - Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
155 - Hễ trời sinh xuống phải thì
156 - Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
157 - Kìa những kẻ vội lòng phú quí
158 - Xem trong mình một thí đều không
159 - Ví dù có gặp ngư ông
160 - Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
161 - Xin khuyên đấng thời trung quân tử
162 - Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
163 - Âm dương cơ ngẫu ngô sinh
164 - Thái nhâm thái ất trong mình cho hay
165 - Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
166 - Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
167 - Võ thông yên thủy thần kinh
168 - Được vào trận chiến mới càng biến cơ
169 - Chớ vật vờ quen loài ong kiến
170 - Biết ray tay miệng biếng nói không
171 - Ngỏ hay gặp hội mây rồng
172 - Công danh choi chói chép trong vân đài
173 - Bấy giờ phỉ sức chí trai
174 - Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình
175 - Nặng lòng thật có vĩ kinh
176 - Cao tay mới gẫm biết tình năm nao
177 - Trên trời có mấy vì sao
178 - Đủ no biền tướng anh hào đôi nơi
179 - Nước Nam thường có thánh tài
180 - Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
181 - So mấy lời để tàng kim quỉ
182 - Chờ hậu mai có chí sẽ cho
183 - Trước là biết nẻo tôn phò
184 - Sau là cao chí biết lo mặc lòng
185 - Xem đoài cung đến thời bất tạo
186 - Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
187 - Nguôi lòng tham tước tham giàu
188 - Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
189 - Trẻ con mang mệnh tướng quân
190 - Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường
191 - Ai lấy gương vua U thủa trước
192 - Loạn ru vì tham ngược bất nhân
193 - Đoài phương ong khởi lần lần
194 - Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn
195 - Man mác một đỉnh Hoành Sơn
196 - Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
197 - ấy là những binh thù Thái Thái
198 - Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
199 - Phá điền đầu khỉ cuối thu
200 - Tái binh mới động thập thò liền sang
201 - Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
202 - Vẽ lại thêm hung kiệt mất mùa
203 - Lưu tinh hiện trước đôi thu
204 - Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
205 - Xem thấy những sương săm tuyết lạnh
206 - Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
207 - Thành câu cá, lửa tưng bừng
208 - Kẻ ngàn đông Hải người rừng Bắc Lâm
209 - Chiến trường chốn chốn cát lầm
210 - Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
211 - Sang thu chín huyết hồng tứ giả
212 - Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
213 - Đua nhau đồ thán quần lê
214 - Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
215 - Kẻ thì phải thủa hung hoang
216 - Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan
217 - Kẻ thì mắc thửa hung tàn
218 - Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình
219 - Muông vương dựng ổ cắn tranh
220 - Điều thì làm chước xuất binh thủ thành
221 - Bời bời đua mạnh tranh giành
222 - Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày
223 - Bể thanh cá phải ẩn cây
224 - Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
225 - Nào ai đã dễ nhìn U
226 - Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
227 - Cây bay lá lửa đôi ngàn
228 - Một làng còn mấy chim đàn bay ra
229 - Bốn phương cùng có can qua
230 - Làm sao cho biết nơi nào bảo thân
231 - Đoài phương thức có chân nhân
232 - Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
233 - Tìm cho được chốn được nơi
234 - Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình
235 - Bốn bề núi đá riễu quanh
236 - Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
237 - Hễ đông nam nhiều phen tàn tạc
238 - Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
239 - Bắc kinh mới thật đế kinh
240 - Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
241 - Chim hồng vỗ cánh bay cao
242 - Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
243 - Ai dễ cứu con thơ sa giếng
244 - Đưa một lòng tranh tiếng dục nhau
245 - Vạn dân chịu thủa u sầu
246 - Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
247 - Cấy cày thu đãi thời mùa
248 - Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
249 - Nhân ra cận duyệt viễn lai
250 - Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
251 - Xem tượng trời biết đường đời trị
252 - Gẫm về sau họ Lý xưa nên
253 - Dòng nhà để lấy dấu truyền
254 - Gẫm xem bốn báu còn in đời đời
255 - Thần qui cơ nổ ở trời
256 - để làm thần khí thủa nơi trị trường
257 - Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
258 - Sông Bảo Giang thiên định ai hay
259 - Lục thất cho biết ngày dày
260 - Phụ nguyên ấy thực ở dầy tào khê
261 - Có thầy nhân thập đi về
262 - Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh
263 - Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
264 - Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
265 - Ra tay điều chỉnh hộ may
266 - Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
267 - Lọ là phải nhọc kéo quân
268 - Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
269 - Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
270 - Lộ ngủ tinh trinh tượng thái hanh
271 - Ân trên vũ khí vân hành
272 - Kẻ thơ ký túy kẻ canh xuân đài
273 - Bản đồ chảng sót cho ai
274 - Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
275 - Vấn nền vương cha truyền con nối
276 - Dõi muôn đời một mối xa thư
277 - Bể kình tâm lặng bằng tờ
278 - Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
279 - Au vàng khỏe đặt vững chân
280 - Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ NÔM
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 31, 2008, 01:35:38 AM
(tiếp theo)

Chương Nhì

281 - Vừa năm Nhâm Tý xuân đầu
282 - Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
283 - Quyển vàng mở thấy sấm trời
284 - Từ Đinh đổi đời chí lục thất gian
285 - Một thời có một tôi ngoan
286 - Giúp trong việc nước gặp an thái bình
287 - Luận chung một tập kim thời
288 - Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
289 - Trượng phu có chí thời coi
290 - Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
291 - Tài nầy nên đấng vẻ vang
292 - Biết chừng đời trị biết đường đời suy
293 - Kể từ nhân đoản mà đi
294 - Số chưa gặp thì , biết họa chép ra
295 - Tiếc thay hiền sĩ bao già
296 - Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
297 - Thử cho tay giúp ra dùng
298 - Tài này so cùng tài trước xem sao
299 - Trên trời kể chín tầng cao
300 - Tay nghe bằng một ti hào biết hay
301 - Hiềm vì sinh phải thời này
302 - Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời
303 - Hợp đà thay thánh nghìn tài
304 - Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
305 - Nói ra thì lậu sự đời
306 - Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
307 - Nói ra ám chúa bội quân
308 - Đương thời đời trị xoay vần được đâu
309 - Chờ cho nhân đoản hết sau
310 - Đến chừng đời ấy thấy âu nhiều nàn
311 - Trời xui những kẻ ắt gian
312 - Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
313 - Vua nào tôi ấy đã bày
314 - Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn
315 - Đua nhau bội bạn nghịch vi
316 - ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
317 - Tiếc tài gẫm được thời hay
318 - Đã sao như vậy ra tay sẽ dùng
319 - Tài trai có chí anh hùng
320 - Muốn làm tướng súy lập công xưng đời
321 - Khá xem nhiệm nhặt tộ trời
322 - Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
323 - Đi tìm cho đến đế cung
324 - Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
325 - Bảo nhau cương kỷ cho tường
326 - Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
327 - Chờ cho động đất chuyển trời
328 - Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
329 - Còn bên thì náu chưa xong
330 - Nhân lực cướp lấy thiên công những là
331 - Đời ấy những quỉ cùng ma
332 - Chẳng còn ở thật người ta đâu là
333 - Trời cao đất rộng bao xa
334 - Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
335 - Dù trai ai chửa biết tường
336 - Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
337 - Ý ra lục thất gian nay
338 - Thời vận đã định thời nầy hưng vương
339 - Trí xem nhiệm nhặt cho tường
340 - Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
341 - Vua ngự thạch bàn xa thay
342 - Đại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
343 - Gà kêu vượn hót vang lừng
344 - Đường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
345 - Nhân dân vắng mạt bằng tờ
346 - Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
347 - Vua còn cuốc nguyệt cày mây
348 - Phong điều vũ thuận thú rày an dân
349 - Phong đăng hòa cóc chứa chan
350 - Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
351 - Chính cung phương khảm vầng mây
352 - Thức thay thiên tử là nay trị đời
353 - Anh hùng trí lượng thời coi
354 - Công danh chấn ngại tìm đòi ra đi
355 - Tìm lên đến thạch bàn khê
356 - Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
357 - Nhìn đi nhìn lại cho tường
358 - Chửa có sinh vương đâu là
359 - Chẳng tìm thì đến bình gia
360 - Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
361 - Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
362 - Tả long triều lại có thành đợt vây
363 - Hữu hổ quấn khúc giang này
364 - Minh đường thất diệu trước bày mặt tai
365 - Ở xa thấy một con voi
366 - Cúi đầu quen bụi trông hồ sâu
367 - ấy điềm thiên tử về chầu
368 - Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời
369 - Song thiên nhật nguyệt sáng soi
370 - Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
371 - Đến đời thịnh vượng còn lâu
372 - Đành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
373 - Khuyên cho đông bắc nam tây
374 - Muốn làm tướng súy thì xem trông này
375 - Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
376 - Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
377 - Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
378 - Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
379 - Kìa cơn gió thổi lá rung cây
380 - Rung bắc sang nam đông tới tây
381 - Tan tác kiến kiều an đất nước
382 - Xác xơ cổ thụ sạch am mây
383 - Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
384 - Hưng địa tràng giang hóa nước đầy
385 - Một gió một yên ai sùng bái
386 - Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
387 - Con mùng búng tít con quay
388 - Vù vù chong chóng gió bay trên đài
389 - Nhà cha cửa đóng then cài
390 - Mầm sấm động hỏi người đông lân
391 - Tiếc tám lạng thương nửa cân
392 - Biết rằng ai có du phần như ai
393 - Bắt tay nằm nghĩ dông dài
394 - Thương người có một lo hai phận mình

395 - Canh niên tân phá
396 - Tuất hợi phục sinh
397 - Nhị ngủ dư bình

398 - Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
399 - Can qua xứ xứ loạn đao binh
400 - Mã đề dương cước anh hùng tận
401 - Thân dậu niên lai kiến thái bình

402 - Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
403 - Có một đàn xà đánh lộn nhau
404 - Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
405 - Lợn kia làm quái phải sai đầu
406 - Chuột nọ lăm le mong cản tổ
407 - Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
408 - Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
409 - Tìm về quê cũ bắt ngứa tàu

410 - Cửu cửu kiền khôn dĩ định
411 - Thanh minh thời tiết hoa tàn
412 - Trực  đáo dương đầu mã vĩ
413 - Hồ binh bát vạn nhập trường an

414 - Bảo Giang thiên tử xuất
415 - Bất chiến tứ nhiên thành
416 - Lê dân bảo bảo noãn
417 - Tứ hải lạc âu ca
418 - Dục đức thánh nhân hương
419 - Quá kiều cư bắc phương
420 - Danh vi Nguyễn gia tử
421 - Kim tịch sinh ngưu lang
422 - Thượng đại nhân bất nhân
423 - Thánh ất dĩ vong ân
424 - Bạch hổ kim đái ấn
425 - Thất thập cổ lai xuân
426 - Bắc hữu kim thành tráng
427 - Nam tạc ngọc bích thành
428 - Hỏa thôn đa khuyển phệ
429 - Mục giả dục nhân canh
430 - Phú quí hồng trần mộng
431 - Bần cùng bạch phát sinh
432 - Anh hùng vương kiếm kích
433 - Manh cổ đổ thái bình
434 - Nam Việt hữu Ngưu tinh
435 - Quá thất thân thủy sinh
436 - Địa giới sĩ vị bạch
437 - Thủy trầm nhi bắc kinh
438 - Kỷ mã xu dương tẩu
439 - Phù kê thăng đại minh
440 - Trư thử giai phong khởi
441 - Thìn mão xuất thái bình
442 - Phân phân tùng Bắc khởi
443 - Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
444 - Bảo sơn thiên tử suất
445 - Bất chiến tự nhiên thành
446 - Thủy chung tàng bảo cái
447 - Hứa cập thánh nhân hương
448 - Mộc hạ châm châm khẩu
449 - Danh thế xuất nan lương
450 - Danh vi nguyễn gia tử
451 - Tinh bản tại ngưu lang
452 - Mại dử lê viện dưỡng
453 - Khởi nguyệt bộ đại giang
454 - Hoặc kiều tam lộng ngạn
455 - Hoặc ngụ kim lăng cương
456 - Thiên dử thần thức thụy
457 - Thụy trình ngũ sắc quang
458 - Kim kê khai lựu điệp
459 - Hoàng cái xuất quí phương
460 - Nhân nghĩa thùy vi địch
461 - Đạo đức thực dữ đương
462 - Tộ truyền nhị thập ngũ
463 - Vận khải ngũ viên trường
464 - Vận đáo dương hầu ách
465 - Chấn đoài cương bất trường
466 - Quần gian đạo đanh tự
467 - Bách tính khổ tai ương
468 - Can qua tranh đấu khởi
469 - Phạm địch tánh hung hoang
470 - Ma vương sát đại quỉ
471 - Hoàng thiên tru ma vương
472 - Kiền khôn phú tải vô lương
473 - Đào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
474 - Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
475 - Đảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
476 - Ta hồ vô phụ vô quân
477 - Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành
478 - Đoài phương phước địa giáng linh
479 - Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân
480 - Phá điền thiên tử giáng trần
481 - Dũng sĩ nhược hải mưu thần như lâm

482 - Trần công nải thị phúc tâm
483 - Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
484 - Tướng thần hệ xuất y chu
485 - Thứ ky phục kiến đường ngu thi hành
486 - Hiệu xưng thiên hạ thái bình
487 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia

Hết


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: vankhuc trong Tháng Bảy 13, 2011, 02:11:35 AM
(tiếp theo)
*Bài  3:-
Bài nầy đọc được bằng hai cách, vì chữ Hán cổ đọc theo thứ tự  từ trên xuống dưới và từ phải qua trái.

*Cách 1:- Đọc từ trên xuống:-

寶玉君明天越阮
山中師道地南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

*Âm:-

Bửu ngọc quân minh thiên việt nguyễn
Sơn trung sư đạo địa nam tiền
Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên

*Chú thích từ:- (không dịch được)
-Bửu ngọc quân:- ông vua quí như viên ngọc báu
-Minh thiên:- ngày mai
-Việt:- vượt qua, nước Việt.
-Nguyễn:- họ Nguyễn
-Sơn trung:- trong núi
-Sư đạo:- ông thầy nói rằng
-Địa nam tiền:- trước phương Nam của đất
-Kỳ niên:- vào năm lạ kỳ
-Trạng:- tình trạng, ông Trạng nguyên
-Tái:- lần nữa
-Tân phục quốc:- mới phục quốc , làm mới lại đất nước.
-Hương xuất:- Mùi thơm bay ra
-Trình:- tâu lên, Trạng Trình
-Sanh:- sinh ra
-Tạo nghiệp:- làm nên sự nghiệp
-Yên:- vậy (tiếng đệm cuối câu)

*Cách thứ hai:- đọc ngang từ phải sang trái thành câu bốn chữ:-


寶山奇香
玉中年出
君師狀呈
明道再生
天地新造
越南復業
阮前國焉

*Âm:-
Bửu sơn kỳ hương
Ngọc trung niên xuất
Quân sư Trạng trình:-
Minh Đạo tái sinh
Thiên địa tân tạo
Việt Nam phục nghiệp
Nguyễn tiền, Quốc yên.

*Tạm dịch:-

Núi quí hương thơm lạ
Ngọc trong năm mà ra
Vua hỏi thì Trạng đáp:-
Minh Đạo lại  sinh ra
Trời đất sẽ đổi mới
Phục nghiệp nước Việt Nam
Trước :- Nguyễn;  sau :- Quốc vậy !

(có liên hệ đến Nguyễn Ái Quốc ?)

*Chú thích:- “Minh Đạo” :- là một học thuyết mang tính cách mạng, đổi mới, có nhiều mục tiêu canh tân cải tiến đất nước do Hồ Quí Ly chủ trương thời nhà Hồ. (Hồ Quí Ly cho chế tạo thuyền hai đáy, tiền bằng giấy v.v..)

(còn tiếp)
Thưa bác nhuocthuy.
Bài trên cái VK thấy còn có đổi một chút ở dòng thứ hai như sau:

Thứ 1
寶玉君明天越阮
山中師命地南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

Câu này sẽ biến thành
Sơn trung sư mạng địa nam tiền

Nếu đọc dọc từ trên xuống sẽ là:
Quân sư trạng trình
Minh Mạng tái sanh (Quân Sư Trạng TRình và Vua Minh Mạng tái sanh, )
Thiên địa tân tạo


Thứ 2
寶玉君明天越阮
山中師命道南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

Câu này sẽ biến thành
Sơn trung sư mạng đạo nam tiền.

Nếu đọc dọc từ trên xuống sẽ là
Minh Mạng tái sanh
Thiên đạo tân tạo

Vankhuc.


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Bảy 13, 2011, 09:44:19 PM

Bài sấm "Bửu sơn kỳ hương" nầy do Ngài Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) công bố , phổ biến, trước đó chưa được nghe ai, sách vở nào nói.

-Phật Thầy tỏ ý ngầm Ngài là hậu duệ của Vua Quang Trung và Công chúa Ngọc Hân, nên không thể có câu "Minh Mệnh tái sinh" được . (vì hai bên Tây sơn và Chúa Nguyễn không cùng quan điểm với nhau).

-Học thuyết "Minh Đạo" là một học thuyết cải cách, đổi mới,  quan trọng của Nho gia đề xuất mà xưa kia Hồ Quý Ly đem ra ứng dụng có nhiều cái rất hay, chỉ tiếc là thời gian trị vì quá ngắn ngủi nên tác dụng và ảnh hưởng không lớn lắm. Có sự quan hệ giữa hai họ "Hồ" và "Nguyễn" từ trước khá phức tạp, cho nên ở đây là "Minh Đạo" thì logic hơn Minh Mạng.

-"Thiên địa tân tạo" mới có nghĩa "cách mạng, cải cách" đất nước Việt Nam do họ Nguyễn, chứ "thiên đạo tân tạo" thì không hợp với ngữ cảnh của bài thơ.

-Nói chung, sấm truyền rất xa xôi, mơ hồ, khó hiểu, có nhiều cách lý giải khác nhau, đôi khi chống trái nhau, chúng ta nên tiếp thu tất cả để suy nghĩ , phân tích, đánh giá kỹ lưỡng về mọi mặt...chứ không thể khinh suất , dễ dãi chấp nhận được.

Nên dè dặt, thận trọng với những bài , những câu "gọi là sấm" là thái độ khôn khéo nhất !

Trân trọng


Tiêu đề: Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN
Gửi bởi: quachlechan trong Tháng Ba 15, 2014, 03:52:44 AM
Bài viết rất bổ ích, xin cảm ơn Tác giả và Diễn đàn.
QLC


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 12:39:42 AM

SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP

 
(http://2.bp.blogspot.com/-VsGsxiIQQmk/UXKapZiEIyI/AAAAAAAAMCU/nQFJoO_I0kE/s1600/images+(1).jpg)

 

* NGUYỄN THIÊN THỤ
SƯU TẬP, CHÚ GIẢI

TÁI BẢN 2013
CÓ SỬA CHỮA & TĂNG BỖ
GIA HỘI
2011
***



LỜI NÓI ĐẦU



Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam, tôi đã thu thập một số sách, một số tài liệu, trong đó có Sấm Trạng Trình.


Xưa nay có rất nhiều bản khác nhau vì nhiều người sửa đổi. Không biết bản nào là bản chính, nên trước khi san định, nghiên cứu, chúng ta phải sưu tập tài liệu. Tại các thư viện Việt Nam nhất là tại Hà Nội có nhiều bản Sấm Trạng Trình chữ Nôm và các bản này cũng khác nhau. Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký” là gốc của bản Quốc ngư Hoàng Xuân và Thời Tập. Bản AB.444 Viện Hán Nôm gốc của bản quốc ngữ Mai Lĩnh.`

Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình. Tài liệu liên quan hiện có 20 văn bản, trong đó 7 bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội (trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và Thư viện Quốc gia Hà Nội. Trước 1975, tại miền Nam đã có khoảng 20 bản quốc ngữ, nay Hà Nội cũng in thêm vài bản. Bản tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ là Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 . Riêng tôi có một bản nôm.Từ lâu tôi đã có ý phổ biến nhưng chưa thực hiên được. Nay cơ duyên đã đến, tôi cố gắng y sao chép dần để trình chư vị . Tôi tuyển chọn những bản xưa nhất và đáng tin cậy để tái bản trong thư trang của tôi. Tôi tập hợp các bản lại và gọi là Sấm Ký Toàn Tập.

Năm 2010, tôi đã đăng tải vào Sơn Trung Thư Trang. Nay tìm thêm vài tài liệu, tôi phổ biến ấn bản 2011 để cống hiến quý độc giả.

Ottawa ngày 20 tháng 7 năm 2011

Nguyễn Thiên Thụ

(còn tiếp)


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 12:43:22 AM


(TT)


(http://kenhtrithuc.com/wp-content/uploads/image/nguyen%20binh%20khiem.jpg)
Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm

MỤC LỤC


LỜI NÓI ĐẦU

TỔNG QUAN

TỰ ĐIỂN SẤM TRẠNG TRÌNH

BẢN I * SƠN TRUNG

BẢN II * NGUYỄN VĂN SÂM

BẢN III *SỞ CUỒNG

BẢN IV. SỞ CUỒNG TẬP ĐẠI THÀNH

BẢN V * MAI LĨNH

BẢN VI * HƯƠNG SƠN

BẢN VII * HOÀNG XUÂN

BẢN VIII *HUỲNH TÂM

BẢN IX* TRỊNH VÂN THANH 1966

BẢN X * THỜI TẬP

BẢN XI* BẢN WIKISOURCE

BẢN XII * BẢN WIKIPEDIA

BẢN XIII*NGUYỄN QUÂN

BẢN XIV * PHẠM ĐAN QUẾ

BẢN XV * ĐÔNG NAM Á

BẢN XVI * MINH ĐIỀN 1948


PHỤ LỤC I * BẢN NÔM PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ
PHỤ LỤC II *BẢN MAI LĨNH
PHỤ LỤC III. GIẢNG XƯA
PHỤ LỤC IV* TỨ THÁNH

*** 
 
(http://3.bp.blogspot.com/-gtMraSTcnB8/TjWOhU-mjTI/AAAAAAAANPQ/SJ_sKtGVihg/s1600/Sam1.jpg)


(CT)


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 12:52:34 AM
(tt)

TỔNG QUAN VỀ SẤM KÝ
CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1585)

I. TIỂU SỬ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 ( 1491–1585) được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam.

Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.

Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi. Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính ...

Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.


Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời.

Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình".

Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (có tài liệu viết là "khả dĩ dung thân") nghĩa là "Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài". Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông.

Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh tại".

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương lọai chí: "Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở".

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài "Huyền cơ tham tạo hóa" (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa).
Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê Vũ Khâm Lân đã làm bia ở đền Trạng Trình và nói rằng danh tiếng Trạng :-

Như núi Thái sơn, sao Bắc Đẩu
Nghìn năm sau như vẫn một ngày.

II. THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI SẤM KÝ


Trong quan niệm của tôi, công việc của người sau là sưu tập, hiệu đính và chú thích tác phẩm của tiền nhân để bảo tồn văn hóa cũ. Việc này đòi hỏi người biên khảo, dịch thuật phải trung thực, khách quan, thấy sao nói vậy, biết gì nói nấy.

Tôi mong rằng sẽ có một nhóm người khảo cứu hết các bản nôm trong thư viện. Một nhóm người khảo cứu tất cả các bản quốc ngữ đã xuất bản. Riêng tôi chỉ phụ trách nghiên cứu một số bản quốc ngữ trong tầm tay.
Hôm nay tôi làm việc này thật ra là chưa được hoàn hảo vì kiến thức còn hạn chế. Hơn nữa không có trong tay các bản nôm và đầy đủ các bản quốc ngữ. Tôi chỉ làm được những gì trong khả năng hạn hẹp của mình.
Dẫu sao thì vạn vật vô thường, mục đích của tôi là cố lưu lại những vốn cũ của tiền nhân, và giúp bạn đọc một số tài liệu mà tôi đã thu thập và nghiền ngẫm hơn nửa thế kỷ. Làm được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Vì thích nghiên cứu cổ văn cho nên tôi đã tìm hiểu các tác tác phẩm cổ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhân dân ta ca tụng vì khí tiết thanh cao và tài thơ văn. Thi văn của Ngài có thơ chữ Hán và thơ Quốc Âm. Thơ Quốc Âm gồm có thơ nôm và Sấm Ký. Câu chuyện Nguyễn Hoàng và con cháu họ Trịnh tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm là chuyện thực, liên hệ đến lịch sử chứ không phải là giai thoại.

Tại thư viện Viễn Đông Bác cổ Hà Nội và Viện Khảo Cổ Sai gon đều có vài bản Sấm Trạng Trình bản nôm chép tay. Trước 1945, chúng tôi thấy các bậc cha chú đọc các bản Sấm Ký Quốc Ngữ. Trong khi vào Nam, tôi cũng mượn bạn bè các sách Sấm ký rồi chép lại vì trong thời gian chiến tranh, sách xưa đã tuyệt bản nên rất hiếm hoi, chỉ cho mượn trong thân hữu chọn lọc..

Sau 1975, xem danh mục thư viện thì thấy có tên sách, nhưng tôi không dám mượn vì e ngại công an theo dõi, và kết tội dùng sấm để "yêu ngôn hoặc chúng". Tôi chỉ âm thầm tìm kiếm, và thu thập được một số.

Tại miền Nam, Sấm Trạng Trình in bằng quốc ngữ từ sau 1945 cho đến 1975 cũng có gần hai chục quyển. Sau 1975, tại Hà Nội cũng có một vài quyển gọi là. Thư viện Viễn Đông Bác Cổ nay là thư viện khoa học Xã hội có gần 20 bản Sấm Ký nôm. Thỉnh thoảng có vài người giới thiệu sơ sài mà không trích dẫn câu nào. Nhà nghiên cứu không dám đi sâu vào sợ bị gán cho cái tội duy tâm thần bí, tuyên truyền phản động.

Ông Trần Văn Giáp chuyên về chữ Nôm, ông biên tập các nhan đề sách chữ Nôm và Hán thành bộ " Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm 2 quyển", nhưng ông không kê khai lấy danh hiệu một bản dù trong thư viện có hàng chục bản "Sấm Trạng Trình". Theo nguyên tắc nghiên cứu, ông cứ ghi tên sách, số hiệu sách nhưng ông có thể nói là sách ghi vậy nhưng e không phải của Nguyễn Bỉnh Khiêm. ............................   Ông phủ nhận sự hiện hữu của Sấm Trạng Trình. Ông viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm:

"Ông là người nổi tiếng học rộng, nghiên cứu dịch kinh, chuyên về lý học, tinh thông khoa tính Thái Ất, cho nên người ta lợi dụng cái học của ông truyền tụng nhiều câu sấm nói là của ông, để tuyên truyền và mê hoặc mọi người." (1)

Thiết tưởng con người ta trong xã hội có người không tin bói toán, không tin thần thánh, nhưng một số rất tin. Bói toán mà sai thì cũng đương nhiên vì đó là khoa học không chính xác, Ta cần xem thời tiết nhưng các bản tin thời tiết không phải lúc nào cũng đúng, nhưng không phải vì thế mà dẹp bỏ ngành thiên văn, khí tượng và nghiên cứu không gian. Đừng có theo tây phương vài năm, theo..... vài giờ mà cho mình là có óc khoa học.


..................

................


Ai bảo người Pháp mê tín? Tại Pháp có mấy ngàn hay mấy chục ngàn thầy bói, và hàng chục người viết về Nostradamus, có ai cấm đóan hay chê bai dân Pháp? Ai bảo nước Mỹ dị đoan lạc hậu? Nghe nói người Mỹ có lúc đã dùng "thiền" để liên lạc với tàu vũ trụ đó sao? Trong chiến tranh Việt Nam khoảng 1970, một người Mỹ có đến hỏi giáo sư Bửu Cầm ở Sài gon:

"Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng là gì" Có phải có thủy chiến ngoài các đảo không?

( Trong khoảng 70-90, tôi thường đến thăm GS Bửu Cầm được thầy thuật lại việc trên) và gần đây ông Nguyễn Văn Hiệp có thuật việc CIA lấy cắp bản ghi chép của thiếu tướng Nguyễn Văn Chức về tiên đoán của ông đạo Nhỏ.

Người ta khoa học văn minh như thế mà còn nghiên cứu huyền học, dùng chiêm tinh còn chúng ta được kiến thức khoa học bao lăm, nhất là cái khoa học xuyên tâm liên và bèo hoa dâu mà lên mặt khinh thế ngạo vật ư?

Ở đâu cũng có kẻ gian dối. Đâu có phải vì bọn bán thuốc ê, vì bọn lang băm lấy cơm khô trộn mật làm thuốc mà ta đốt sách y, bắt nhốt và giết tất cả người hành y? Ví như có kẻ làm giả sấm ký, sửa đổi vài chữ, vài câu, vài đoạn, ta không nên vội vơ đũa cả nắm bảo là là hàng mạo hóa mà quăng đi hoặc đốt hết sấm ký. Trái lại,người nghiên cứu lại càng phải gia công nghiên cứu hơn, tìm hiểu, phân biệt giả chân, tốt xấu. Không thể dễ dàng phủ nhận cũng không nên vội vàng tin tưởng trước khi suy nghĩ và xem xét.

Tôi nghiền ngẫm Sấm ký từ lâu, chỉ hiểu vài đoạn. Sau khi xem Kim Cổ Kỳ Quan, Tứ Thánh của Bửu Sơn Kỳ Hương, tôi nhận thấy sức mạnh tâm linh của Phật giáo, của Lý học và Đạo học. Và quả là có phương pháp tu đạt đến cái nhìn xuyên suốt quá khứ vị lai và cũng có người có tài năng thấy trước. Tôi cũng đọc Toàn Thư trong đó có nhiều huyền bí và đúng. Tôi lại càng nghĩ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một bậc khải thánh chứ không phải là tầm thường cho nên tôi cố gắng tìm hiểu chứ không coi rẻ như các vị khác mang tâm sắt đá hoặc tâm dun dế.

Mình không hiểu vì mình bị vô minh che lấp chứ không phải ta thông minh mà sách nói vu vơ, và hiền thánh điên khùng. Trước khi khoa học tìm ra kính hiển vi và kính viễn vọng, đức Phật đã thấy những vật cực tiểu và những vật cực đại hay sao? Nay thì khoa học cho thấy ngoài Thái dương hệ của ta còn có nhiều Thái dương hệ khác. Mắt ta lòa chứ không phải thế giới đen tối, vạn vật hư vô như những ai đã kiêu căng chế nhạo. Sự thực các bạo chúa đã sợ khoa chiêm tinh và báo chí. Họ mượn danh khoa học để bịt miệng và che mắt nhân dân!

Một vài người phủ nhận Sấm Trạng Trình vì cho rằng những bản trên là do người sau chế tác. Người ta cho rằng văn chương trong đó rất mới, đời Mạc chưa có lối lục bát.

Nhận xét này khá đúng, có những bản Sấm ký, có những đoạn người sau ở triều Nguyễn chế tác hoặc thêm vào. Nhưng xem kỹ, các bản Sấm ký có đủ thể loại thi ca, có lục bát, song thất lục bát thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ thuyết, ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tràng thiên.

Thể lục bát là thể xưa trong ca dao, và cũng đã thể hiện trong các truyện xưa như truyện Trinh Thử, hoặc Gia Huấn Ca, còn song thất lục bát cũng là một thể khá xưa như Lê Đức Mao (1462-1529) , với bài Nghĩ bát giáp thưởng đào văn:

Xuân nhật tảo khai gia cát hội,
Hạ đình thông xướng thái bình âm.
Tàng câu mở tiệc năm năm,
Miếu Chu đối Việt, chăm chăm tấc thành.
Hương dâng ngào ngạt mùi thanh,
Loan bay khúc múa, hoa quanh tịch ngồi;"
Song thất lục bát tuyệt diệu như trên thì trước đó thơ lục bát tất cũng điêu luyện.



(ct)


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 01:41:57 AM

(tt)

III. CÁC BẢN SẤM KÝ

Chúng ta chưa có đầy đủ các bản nôm và bản quốc ngữ tại  Việt Nam. Ta chỉ có sơ lược một số tiêu biểu:

A. BẢN NÔM

Chúng ta có những bản in Kim Vân Kiều, Phạm  Công Cúc Hoa, , Tống Trân Cúc Hoa, Khâm Định Việt Sử...nhưng chưa thấy có quyển Sấm Trạng Trình bằng chữ in. Năm 1919, Pháp bãi bỏ nền Hán học cho nên tất cả những di sản Hán Nôm đều bị hủy bỏ bằng cách này hay cách khác. Người ta xé tứ thư ngũ kinh để nhóm bếp, để phết quạt, làm diều, làm giấy hút thuốc. Cái ngày ấy đã có những bà, những cô gánh  đôi bồ thu mua sách cũ. Sau này đốt phá tàn tích phong kiến nhưng những năm 1900, thực dân Pháp lại thu gom các sách cũ hoặc cho người sao chép các sách cũ. Do đó mà có Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Và trong cuộc thu mua hay lượm lặt này mà có Sấm Ký Trạng Trình, đó là những bản chép tay, không có bản in, có lẽ triều đình nào thì cũng coi Sấm Trạng Trình như những tên phản động cực kỳ nguy hiểm. Người ta không dám in ra, nhưng âm thầm sao chép và âm thầm đọc và bàn luận.

Sấm ký toàn chép tay trong thư mục Hán Nôm lưu trữ tại thư viện Hà Nội Khoa Học Xã hội (Viện Viễn Đông Bác Cổ) và Thư viện Quốc Gia Hà Nội thì hiện nay còn  khoảng 8 tài liệu chữ nôm sau đây có Sấm Trạng Trình  :

(1)-Bạch Vân Nguyễn Trình Quốc công lục ký 25 trang, ký hiệu VNB3
(2)-Trạng Quốc công ký: -2 quyển: VHV 1453/b - 36 trang; VHV 102; 32 trang.
(3)-Trình Quốc công sấm ký : 34 trang: AB345
(4). Trình tiên sinh quốc ngữ : 22 trang: AB444.
(5). Sấm ký bí truyền 34 trang; VHV 2261.
(6). Trình Quốc công ký và Phùng Thượng Thư ký trong quyển Thiên Nam ngữ lục ngoại ký  AB192.
(7). Sấm ký Trạng Trình trong quyển  Nhất tích thiên văn gia truyền VHV 1382.
(8). Bạch Vân Am Quốc Ngữ Thi. AB. 309, Viễn Đông Bác Cổ.



B. BẢN QUỐC NGỮ

Về các bản quốc ngữ, ta có một danh sách tạm như sau:

(1)-Bản quốc ngữ đầu tiên của Sở Cuồng trong Quốc Học tùng thư, Nam Ký xuất bản tại Hà Nội 1930; 53 trang, in tại nhà in Trịnh Văn Bích. Trong quyển Thư Mục Đông Dương (Bibliographie en l' Indochine ), quyển V, xuất bản ở Đông Dương năm 1935, ông Paul Boudet có ghi" Bạch Vân Am Thi Tập, văn thơ sấm ký của cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm , recueilli par Sở Cuồng, Nam Ký Thư quán, 1930, Impr Trịnh Văn Bích- Coll Quốc Học Tùng Thư.
(2)-Sấm Trạng Trình. Phụ trương Khoa Học huyền bí của Tiểu Thuyết Nhật Báo do Mai Lĩnh xuất bản năm 1939.
(3)-Đông Tây Tiểu Thuyết phát hành ở Nam Định, số Xuân 1940.
(4)-Sấm Ký, nhà xuất bản Đại La, Hà Nội 1945.
(5)-Sấm Trạng Trình của cư sĩ Minh Điền, nhà in Thái Bình, Saigon 1948.
(6)-Sấm ký của  Phó bảng Nguyễn Can Mộng, Bùi Xuân Tiến, Nam Ký Hà Nội, 1952.
(7). Sấm Trạng Trình. Hưng Long thư quán Hà Nội. 1952.
(8). Thiên Phúc Nguyễn Phùc Ấm.Lục Nhâm Bát Sát.Độn Thái Ất. Sấm Trạng Trình năm195?
(9)-Sấm Trạng Trình của Chu Ngọc Chi, Hưng Long, Hà Nội, 1954.
(10)-Trạng Trình của Phạm Văn Giao, Phạm Văn Tươi, Saigon, 1956
(11)-Trạng Trình Nguyễn Binh Khiêm, Thái Bạch, Sống Mới, Saigon, 1957.
(12)-Đông Nam Á. Sấm Trạng Trình Diễn Giải. SG, nhà in Rạng Động.1963.
(13). Nguyễn Duy Hinh. Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nostradamus .Dân Trí, Saigon; 1963.
(14). Hoàng Xuân. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Thi Tập. Anh Phương. SG,1963, tr.29-58.
(15). Thiệu Nghĩa Minh. Đại chiến thứ ba với Sấm Trạng Trình, Phương Thảo, Saigon, 1964.
(16)-Trịnh Văn Thanh. Sấm Trạng Trình; trong Thành Ngữ, Điển tích, Danh nhân từ điển , Saigon 1966.
(17)-Nguyễn Quân.  Bạch Vân Quốc Ngữ Thi của  Sống Mới, Saigon, 1974.
(18). Sấm Ký Nguyễn Bỉnh Khiêm.Tạp chí Thời Tập của Viên Linh, Saigon, 1974
(19). Huỳnh Tâm Sấm Ký Trạng Trình. Saigon, 196?
(20)-Nguyễn Khuê. Nguyễn Binh Khiêm qua Bạch Vân Am Thi Tập.TP.HCM, 1997.Sấm Trạng Trình, tr.383- 402.
(21)-Phạm Đan Quế. Sấm Trạng Trình. Saigon,1992
(22)-Sấm Ký Trạng Trình bản Wikisource 2010
(23)-Sấm Ký Trạng Trình. Wikipedia.2013.
(24). Sấm Trạng Trình. Giảng Xưa. Bửu Sơn Kỳ Hương năm?



Chúng tôi đã sưu tập được một số Sấm Ký nôm và Quốc ngữ , tuy chưa đầy đủ, song từ số tài liệu tương đối này, chúng tôi có thể phân loại về xếp đặt thành các dòng. Chúng tôi cố gắng đi tìm ý nghĩa các bản sấm ký dù rằng việc đó là việc khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ với tâm thành và tinh thần khách quan là tạm đủ. Chúng tôi không chú ý lắm về các từ ngữ nôm Việt dịch khác nhau, đọc khác nhau hoặc đúng sai.

Như đã trình bày, cho đến hiện nay (2011- 2013) có lẽ đã có trên 20 bản Quốc ngữ khác nhau. Xét theo các câu trong các tập, chúng tôi tạm phân loại như sau:



 IV. PHÂN LOẠI CÁC BẢN QUỐC NGỮ:


Tuy có nhiều bản quốc ngữ, sự thật chỉ có vài bản chính thức chung  nguồn gốc   một bản nôm  mà do nhiều người phiên âm, hay chỉ là in lại. Để độc giả nhận rõ các bản đồng loại hay tương cận, chúng tôi làm bản tóm lược và phân loại:


A. LOẠI I. ĐẶC BIỆT

  SƠN TRUNG:

 Mở đầu

 1.Vừa năm Canh Tý (1) xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa long câu (2) nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất (3) gian

5.Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chưng (4) giữ nước dân an thái bình

Kết thúc

280. Tiên bảo cùng sấm mỗi điều chép ra.
Khuyên người Nam Việt trai hiền,
Ai xem cho biết để mà làm công.

B. LOẠI II.


1. SỞ  CUỒNG:


 Mở đầu:

(1). Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ (1) tập tành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

5. Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật (2) phù lên
(280). Càng  bền thế nước Vạn Xuân lâu dài.

Đoạn hai:
(281).Vừa năm NhâmTý xuân đầu...

(487. Đông Tây vô sự nam thành quốc gia.


2. WIKISOURCE 2010

Mở đầu

(1).Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
 Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao.

Đoạn hai:


Vừa năm Nhâm Tý xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian.

Bài 2 WIKISOURCE

CẢM ĐỀ

Thanh nhàn vô sự là Tiên,
Năm hồ phong nguyệt nổi thuyền buông chơi....
... 486 - Hiệu xưng thiên hạ thái b́ình
487 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.

(ct)


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 01:46:57 AM
(TT)

C. LOẠI III: CÁC BÀI THƠ, CÁC CÂU SẤM VỸ

Trong Phùng Thượng Thư Ký, chúng ta thấy có những bài thơ ngắn. Loại C và D cũng giống vậy nhưng C và D  phần lớn là sấm ngữ trong dân gian.

Bài 1. TRỊNH VÂN THANH

Mở đầu

  1- Thanh nhàn vô sự là tiên

Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi

 ....

15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Kết thúc

 259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.


2. HOÀNG XUÂN

Mở đầu

 1.Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hóa,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói tỏa...

Kết thúc

Bài 12

.Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân.
 Ðến thời thiên hạ vô quân,
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.



3.  HUỲNH TÂM


 Mở đầu


 Thanh nhàn vô sự là tiên,
 Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
 Cơ tạo hóa,
 Phép đổi dời,
 Ðầu non mây khói tỏa..

Đoạn hai:

Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Ðinh, Lê, Lý, Trần thuở trước.
Ðã bao lần ngôi nước đổi thay,


Kết thúc

Cơ tạo hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.


4. THỜI TẬP

Mở đầu

Thanh nhàn vô sự là tiên,
Nấm mồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hóa,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói tỏa..

Đoạn hai:

Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Ðinh, Lê, Lý, Trần thưở trước.
Ðã bao lần ngôi nước đổi thay,


Kết thúc

Cơ tạo hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.



5. PHẠM ĐAN QUẾ:

Mở đầu

Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
 
Đoạn hai:

1. Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.

Kết thúc

Cơ tạo hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.

Thấy sấm từ đây chép vào,

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.


(CT)


Tiêu đề: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 04, 2014, 01:49:43 AM
(tt)

D.LOẠI IV. CÁC CÂU SẤM KÝ NGẮN

1.NGUYỄN VĂN SÂM:


Bài này gồm các câu sấm ký ngắn được truyền tụng trong dân gian.

Mở đầu

 1. Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng

Kết thúc  bài thơ số XIV.


Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.

2.HƯƠNG SƠN


Gồm nhiều bài thơ

Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho.

Kết thúc

 Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây.

3. NGUYỄN QUÂN

Mở đầu

Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho.

Kết thúc

Hiệu xưng thiên hạ thái b́ình
107 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 05, 2014, 12:43:53 AM
(tt)

V. NHẬN XÉT CÁC LOẠI

1. LOẠI I.-  HỆ ĐẶC BIỆT :


  (1) BẢN SƠN TRUNG

Bản này  có nhan đề là TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ. Bản này thuộc loại đặc biệt, vì có bản nôm gốc tại gia đình cụ Nghè Bân là một thế gia vọng tộc,  và có thể là có liên hệ gần gũi với Trình Quốc công. Bản này đã có trên trăm năm nay mới có dịp xuất hiện có thể coi như bản chính thức và chân thực vì người phiên âm và nghiên cứu luôn tuân thủ sự thực. Để tiện cho việc tìm hiểu của độc giả, chúng tôi đã in theo các bản nôm.

Bản này ngắn nhất so với các bản. Các bản khác dài hơn có thể là người ghi chép các bản khác nhau của Trạng Trình hoặc một trong hai ba bản là của tác giả khác.

Bản này có nhiều điểm giống bản của Sở Cuồng.

Bản này là bản thứ hai của bản Sở Cuồng. Điều này cũng cho ta biết bản Sở Cuồng là bản chính. Và bản Sở Cuồng và vài bản khác vốn là hai bản mà chép chung trong một tập.

Bản Sở Cuồng ghi :"Vừa năm Nhâm Tí xuân đầu" trong khi bản nôm Trình Quốc Công ký ( bản Sơn Trung ) khi là "Vừa năm  Canh Tí xuân đầu".

Các bản ghi Giáp Tí, Nhâm Tí nhưng bản này ghi Canh Tí. Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 sinh 1491 và mất năm 1585. Canh Tí là năm 1540, Nhâm Tí là 1552; Giáp Tí là 1564. Năm Canh Tí là lúc ông 50 tuổi.

Bản Sơn Trung  dài 282 câu.  Nhưng chỉ giống bản Sở Cuồng 100 câu , từ câu 1 đến câu 100.
"Khuyên người Ðông Bắc Tây Nam'
100. Muốn làm tướng súy thì xem sấm này.

Từ câu 101 đến 282 thì không giống bản nào cả.

(2). NGUYỄN QUÂN

 Bản này thuộc hạng đặc biệt vì phần đầu giống hạng D nhưng phần sau, từ câu 41 trở đi có một số câu  giống hạng B Sở Cuồng. Nói tóm lại, bản Nguyễn Quân là thu gọn hai loại C và D. Có lẽ do người đời sau muốn đơn giản Sấm Ký Trạng Trình.

(3). MINH ĐIỀN:  Lấy loại B che  đầu và cuối để phần giữa chế tác .

-Sấm Ký  MINH ĐIỀN Mở đầu

(1).Vận lành mừng gặp tiết lành

Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu/

Một câu là một nhiệm màu/

Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao.


Kết thúc: 486 - Hiệu xưng thiên hạ thái b́ình/
487 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.

Bản này chỉ là xáo trộn các câu, các đoạn  để che đậy bản ý của tác giả nằm rải rác trong văn bản.

(4). GIẢNG XƯA BỬU SƠN KỲ HƯƠNG:


Mượn danh Sấm Trạng Trình mà nói lên tiên tri và ý tưởng của mình về tương lai đất nước. Loại này có đã lâu, có lẽ trước 1945.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 05, 2014, 12:48:17 AM
(tt)

B. DÒNG II.THƠ LỤC BÁT

Dòng này có các bản sau: SỞ CUỒNG, MAI LĨNH, ĐẠI LA,
WIKISOURCE, WIKIPEDIA

Loại này khởi đầu bằng câu:

Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ  tập tành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5. Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật  phù lên

và kết thúc bằng câu:

 Tướng thần hệ xuất y chu
Thứ ky phục kiến Ðường ngu thi thành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
487.Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .


C. DÒNG  III. CÁC CÂU SẤM VỸ NGẮN.

 Dòng này gồm có các bản sau: 

HOÀNG XUÂN, TRỊNH VÂN THANH, HUỲNH TÂM
THỜI TẬP,  PHẠM ĐAN QUẾ,  WIKISOURCE BẢN 2...

Ngoài phần mở đầu, phần chính gồm các câu sấm ký truyền tụng trong dân gian.

 Khởi đầu bằng:

Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hóa,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói tỏa..

Kết thúc bằng:

Cơ tạo hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

 Hoặc

Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân.
Ðến thời thiên hạ vô quân,
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.

Nội dung thu gom các câu sấm ký trong dân gian cho nên nhiều câu sấm ký khác nhau, dài ngắn khác nhau cho nên câu cuối  cũng khác nhau.

 Đặc biệt dòng Sấm Ký loại này là sau đoạn khởi đầu là những bài sấm ký ngắn được truyền tụng trong dân gian từ khởi đầu đến Nguyễn như:

 Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

129- Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành

Loại C và D giống nhau về kết cấu, và loại này cũng giống  Phùng Thượng Thư ký là gồm những câu sấm vỹ trong quần chúng.


D. LOẠI III.  CÁC CÂU SẤM NGỮ NGẮN.


Giòng này gồm các bản:

NGUYỄN VĂN SÂM, HƯƠNG SƠN

Loại này nội dung là các bài thơ, các câu sấm truyền trong dân gian từ khởi đầu cho đến nhà Nguyễn. Loại này  khác với loại hai,  có lẽ do người đời sau ghi chép các câu sấm ký mà tập thành. Loại này dài ngắn khác nhau, các câu sấm ký cũng khác nhau. Do đó câu kết   không giống nhau gồm các bản sau:

Loại này khởi đầu bằng câu:
 

 1. Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng

và Kết thúc bằng  bài thơ

Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.


 hoặc:

Hiệu xưng thiên hạ thái b́ình
Đông tây vô sự nam thành quốc gia.

Dòng Sấm Ký này gồm có bản Nguyễn Văn Sâm, bản này đáng tin cậy là không do các phe phái sau 1945 sửa đổi, nhưng bản nôm cũng không chắc là chính bản của Nguyễn Bỉnh Khiêm, mà là do các cựu nho đời Nguyễn ghi chép các câu sấm được dân chúng truyền tụng từ xưa cho đến đời Nguyễn, Cũng có thể do các cụ chế tác.
 
-Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong.
Nói về tương quan Trịnh Nguyễn

-Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
Nói về Nhà Tây Sơn

 -Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
 Nói về Nguyễn Ánh cầu viện Pháp nên mất nước vào tay Pháp.

Bản Nguyễn Văn Sâm và bản Hương Sơn là một gốc, nhưng bản Nguyễn Văn Sâm chép 14 bài thơ trong khi Hương Sơn có  26 bài mà có vài bài chép trùng nhau. 14 bài đầu hai bản giống nhau.



CHÚ Ý :

Chúng tôi chia bốn dòng Sấm Trạng Trình, nhưng dòng C và D có thể coi như cùng đồng loại vì nội dung là chép các câu sấm vỹ truyển tụng trong quần chúng. Tóm  lại chỉ có hai dòng phổ biến là dòng B đại biểu là bản Sở Cuồng. Dòng C mà đại biểu là bản Trịnh Văn Thanh, và dòng D đại biểu là bản  Hương Sơn.

Nói tóm lại, có ba giòng sấm ký phổ biến  là bản Sở Cuồng, Trịnh Văn Thanh và Hương Sơn.

Bản Sở Cuồng và Hương Sơn đáng tin cậy vì có bản nôm bảo đảm. (Bản Hương Sơn có bản nôm Nguyễn Văn Sâm, bản Sở Cuồng có bản nôm Trình Quốc công ký của Sơn Trung mặc dầu chưa đầy đủ, chờ ngày  thái lai, vạn sự sẽ kiết tường.)

-Sấm Ký  WIKISOURCE ,  gồm hai bản, bản thứ nhất thuộc dòng Sở Cuồng, bản thứ hai thuộc dòng Hoàng Xuân, Trịnh Vân Thanh.
 



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 05, 2014, 12:58:10 AM

(tt)

VI. CÁC ĐOẠN GIỐNG NHAU TRONG CÁC BẢN

A. GIỐNG NHAU ĐOẠN DÀI

1. BẢN SỞ CUỒNG & PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ


 Bản Sở Cuồng từ câu 1 đến  câu  280 giống bàn Phùng Thượng Thư Ký từ câu 188 cho đến 464  mặc dầu khác biệt một vài chữ .

2. BẢN SỞ CUỒNG & TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ

 Bản Sở Cuồng ghi :"Vừa năm Nhâm Tí xuân đầu" trong khi bản nôm Trình Quốc Công ký ( bản Sơn Trung ) ghi là "Vừa năm  Canh Tí xuân đầu".

 Bản Trình Quốc Công ký dài 282 câu.  Nhưng chỉ giống bản Sở Cuồng 100 câu , từ câu 1 đến câu 100.

Ta có thể nói bản Sở Cuồng là tổng hợp bản Phùng Thượng Thư Ký và Trình Quốc công ký ( bản nôm Tiến sĩ Nguyễn Văn Bân) mặc dầu có vài đoạn, vài câu khác nhau.

B. GIỐNG NHAU VÀI CÂU

3. SỞ CUỒNG  VỚI CÁC BẢN KHÁC:

 Bản Sở Cuồng cùng hệ với bản Mai Lĩnh, Đại La, Wikisource. Wikipedia. Nếu so sánh với các bản giòng C (Hoàng Xuân, Trịnh Vân Thanh, Huỳnh Tâm,Thời Tập, Phạm Đan Quế, Wikisource 2, Nguyễn Văn Sâm,  Hương Sơn, Nguyễn Quân),  ta thấy giữa các bản này có những đoạn giống nhau.
 

 Kìa cơn gió thổi lá rung cây
380.Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
Tan tác Kiến kiều An đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây
Sơn Lâm nổi sóng mù Thao cát
Hưng Địa tràng giang Hóa nước đầy
385. . Một gió một Yên ai sùng Bái
Cha con người Vĩnh Bảo cho hay.

SỞ CUỒNG ĐOẠN I, 379- 386
TRỊNH VĂN THANH câu 61-68.
PHẠM ĐAN QUẾ:  câu 11-15


Đoạn trên chỉ giống với các bản hệ C mà không giống với hệ D.


410.Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an.

SỞ CUỒNG ĐOẠN II. 410-413
HOÀNG XUÂN :151-154.

HƯƠNG SƠN XXI, tr.64)
PHÙNG THƯỢNG THƯ

Đại Minh, An Nam triều hội.
160. Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia.(12)

-Thủy binh cờ xí vừng hồng.. .
Bắc binh sang có việc gì chăng?...
 Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán...
(ML 83; HS 12)

PHÙNG THƯỢNG THƯ

265. Gà đâu gáy sớm bên tường
Chẳng yêu thì quái ( cũng) bất tường chẳng không.
Thủy binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh bát ngát (tấp nập) như ong kéo hàng (SC.84)
Ðứng (ngọ ngang ) hiên ngang đố ai biết trước

270. Ấy Bắc binh sang việc dĩ chi (gì) chăng ?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ, tưng bừng đòi nay


 Bảo Giang thiên tử xuất
 Bất chiến tự nhiên thành


SỞ CUỒNG  ĐOẠN IV.417-418.

ĐOẠN V. 442.  Phân phân tùng Bắc khởi
Nhiễu nhiễu xuất Ðông chinh
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

HOÀNG XUÂN; 215- 218

PHÙNG THƯỢNG THƯ, 172-175



Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu tự đông chinh,
Bửu giang thiên tử xuất
175. Bất chiến tự nhiên thành.(14)

HƯƠNG SƠN XXV

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành

HƯƠNG SƠN

 51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành


Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
Hỏa thôn đa khuyển phệ
Mục giả dục nhân canh


SỞ CUỒNG, 426-429


 Bắc hữu kim thành tráng
 Nam tạc ngọc bích thành

( AP,214; ML 426-427, HS, 9-10- 25)

TRỊNH VĂN THANH 227-228

HOÀNG QUÂN 213-214
 


Thủy trung tàng bảo cái....
Đông Tây vô sự nam thành quốc gia.

(ML 446-487; HS, 26)

 -Uy nghi dung mạo khác mình
 Thác cư một góc kim tinh phương đoài

(AP 125, ML 141)

-Phá điền đầu khỉ cuối thu. . . Tái binh mọi giống thập thò liền sang.

(HS.16;ML 199)

-Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh.
 . .kiến thái bình.

(ML 398; HS 24, AP 171)

-Bách tính khổ tai ương... Đông tây vô sự nam thành quốc gia.

(ML467-487; HS 26)

-Bắc phương chính khí sinh ra/ Có ông Bạch xỉ (sĩ) điều hòa hôm mai.

(ML 135; HS16 )

-Man mác một lĩnh Hoành Sơn/Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù

( ML 195; HS 16)

-Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh/ Sông Bảo giang thiên định ai hay.

(ML 125, 257; HS 17 )

Bắc kinh mới thật đế kinh/ Giấu thân chưa dễ giấu danh đục nào.

(ML 238; HS 16)

Quần hùng binh kéo đầy khe/ Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời.. .

Thương những kẻ ăn rau, ăn giới.

(ML 103; HS 16 )

Canh tân ( niên) tàn phá/ Tuất hợi phục sinh

(ML 395; HS 18)

Ma vương sát đại quỷ/ Hoàng thiên tru ma vương/Kiền khôn phú tái khôn lường
Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết/ Đảo Hoành sơn tam liệt ngũ phân.

(ML 475; HS 26 )

-Phân phân đông (tùng ) bắc khởi.. Bất chiến tự nhiên thành

( ML 443; HS 26)

-Tộ trường nhị thập ngũ/ Vận khải ngũ diên trường

(ML 462; HS 26)
 
-Xem ý trời có lòng khải thánh/ Dốc sinh ra điểu đỉnh hộ mai.

(AP 131, ML 131, HS 16)

-Có thầy Nhân Thập đi về/ Tả phù hữu trì cây cỏ thành binh.

AP 231, (ML 261; HS 17)

-Phú quý hồng trần mộng,
Bần cùng bạch phát sinh

(AP209, ML 430; HS 25)

4. SO SÁNH CÁC BẢN KHÁC


Nước Nam thường có thánh tài/Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường.
(HS. 1; AP:105)

-Nực cười những lũ bàng quan/Cờ tàn lại muốn toan đường đấu xe
(AP 125; HS 26)


-Thái nguyên cận Bắc đường xa
(AP 123; HS 14; HS 14)

2. Các câu được giải thích để tuyên truyền:

(1). Thấy đâu bò đái thất thanh/ Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng sai.(HS 14)

Một bản giải thích:

Ở Bắc Kạn có khe Bò Đái.


Một bản ghi:

Nghệ An Bò Đái thất thanh.

Một bản khác ghi:

Nam Đàn Bò Đái Thất thanh.

Trong quyển La Sơn Phu Tử, Hoàng Xuân Hãn có trích thơ Nguyễn Thiếp, bài Gặp người đánh cá ở sông Phù Thạch, HXH nói đến câu ca dao

Đụn sơn phân giái/ Bò Đái thất thanh/ Đông Thành sinh thánh.

Huyện Đông Thành ở phủ Diễn châu, còn Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh ở huyện Nam Đàn, phủ Anh Đô. Chính trong bài thơ trên, Nguyễn Thiếp viết:

"Núi Liệt lở, Song Ngư nước cạn, /Sấm người xưa đánh lẫn dân ngu (tr.62)

Chữ Hán tên là Lao Tuyền, HXH nói tên tục là Bò Đái không biết có đúng không ,vì Lao Tuyền là Khe Bò mà thôi.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 05, 2014, 01:05:18 AM
(TT)

VII. TÍNH CHẤT CÁC BẢN

Nhìn chung, các bản có chung một vài điểm sau:

1. Tính bí mật:

Sấm Ký mang tính cách bí mật thuộc phạm vi quốc cấm, phải cất kín cũng như Kim Cổ Kỳ Quan, Tứ Thánh, chỉ bàn bạc với người thân mà thôi. Thái độ của nhân dân đối Sấm Ký khác với Lục Vân Tiên và truyện Kiều. Ấy cũng bởi ngày xưa các nho sĩ dùng Sấm ký để chống triều đình , chống Pháp, mà bọn tay sai cũng dùng sấm ký vu oan giá họa cho dân lành cho nên quan quân đã bắt bớ dân chúng, và người ta phải cất giấu các tài liệu này.

2. Tính thiếu chân thực:


Thói quen của ta là tự tiện sửa chữa, thêm bớt các bản chính cho nên truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương đã bị tam sao thất bản.. Nhiều người sau này sửa sấm ký hoặc bóp méo văn nghĩa cho vừa khuôn khổ quyền lợi của phe nhóm họ. Riêng Sấm Ký Trạng Trình thì số phận gay go hơn, người ta phải giấu nó trong buị tre, hoặc trong mái nhà dưới lớp tranh, rơm rạ. Vì vậy mà dễ bị hư hao, mối mọt. Thực ra một số nhà cách mạng chống Pháp đã chế tác các câu sấm vỹ. Người ta bảo rằng chính cụ Phó bảng Nguyễn Can Mộng là người loan truyền những tin tức thất thiệt trong văn học như cụ đã viết ra văn tế cá sấu mà bảo là văn tế cá sấu của Nguyễn Thuyên. Người ta cũng bảo rằng chính cụ sáng tác ra câu :"Giữa năm hai bảy mười ba,/Lửa đâu mà đốt Tám Gà trên mây. (Wikisource)

  Theo Nguyễn Đăng Mạnh, MỘT SỐ NGƯỜI đã  dùng tử vi, sấm ký chế tạo hàng mạo hóa để lừa bịp dân chúng   trong khi  chính họ cũng như  ông Trần Văn Giáp kết tội  người ta lợi dụng cái học của ông( Trạng Trình )  truyền tụng nhiều câu sấm nói là của ông, để tuyên truyền và mê hoặc mọi người.Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận quần chúng. (4)

Dòng sấm ký loại C đáng nghi ngờ là chế tác sau này.  Tại Miền Nam, Ông mang tên Phạm Văn Giao, Thái Bạch, là người nằm vùng cũng như Trịnh Văn Thanh chế tác Sấm để tuyên truyền cho cộng sản qua câu:"  Đầu can Võ tướng ra binh  / Ắt là trăm họ thái bình âu ca.

..................

...................

.................(lược bớt)


3.Tính không thống nhất:


Có thể một người viết mà chia ra nhiều đoạn, do viết nhiều thời gian khác nhau. Có thể là do nhiều bản của nhiều người khác nhau mà người sau chép chung làm một tập. Như bản Mai Lĩnh ít nhất là hai tập khác nhau.

Một số là thu thập nhiều bài sấm ký khác nhau cho vào một tập như bản Thiên Phúc Nguyễn Phúc Ấm do Hương Sơn xuất bản trước 1954, cho nên trong đó có nhiều bài thơ.

Có thể do nhiều gốc khác nhau. Cũng có kẻ cắt vài đoạn bỏ vào cái khuôn của mình để mập mờ đánh lận con đen trong chính sách tuyên truyền dối trá của họ. cũng có thể do phương cách làm việc chưa khoa học, nghĩ đến đâu, viết đến đó, nhiều khi trùng hợp, cái trước nói sau, việc sau nói trước.

Cũng có thể người ta tráo đoạn trước ra sau, đoạn sau lên trước để giữ bí mật, như đoạn cuối bản Mai Lĩnh : "Đào Tiềm xử sĩ... nam thành quốc gia" nhưng trong bản Hương Sơn lại nằm gần cuối, dưới câu kết còn có 24 câu nữa (Phân phân đông bắc khởi.. . Gió mây ta lại đi về gió mây). Cũng có thể do sao chép lầm lẫn hay do trí nhớ lẫn lộn. Bài Phùng Thượng Thư ký từ  câu 188 giống đoạn đầu của bản Sở Cuồng.

Sự kiện này gây khó khăn cho người nghiên cứu.

4. Tính mơ hồ:

Các bản có chỗ thần diệu nhưng cũng có chỗ mơ hồ, giống các bản của Sư Vải Bán Khoai, Huỳnh Giáo chủ và Thanh Sĩ. . . chỉ nói Tí , Sửu ,Dần, Mẹo.  . . rất mơ hồ trong khi các bản Kim Cổ Kỳ Quan và Tứ Thánh thì rõ ràng hơn.



(CT)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 06, 2014, 01:37:35 AM

(tt)

V. CÁC VẤN ĐỀ CẦN THẢO LUẬN


A. CÁC TỪ NGỮ


1. Quốc hiệu Việt Nam.

Bản Mai Lĩnh 1939 ở gần đoạn đầu có câu: Việt Nam khởi tổ gây nền,/ Lạc Long ra trị đương quyền một phương (câu 7-8). Đời Nguyễn nước ta có quốc hiệu Việt Nam. Sấm Trạng trình cách nhà Nguyễn mấy trăm năm sao lại ghi Việt Nam? Ai đó sửa lại hay ngày xưa cụ Trạng đã biết mấy trăm năm sau quốc hiệu là Việt Nam?

Tự điển Wikipedia giải thích về Quốc hiệu Việt Nam:

Quốc hiệu Việt Nam (越南) chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của lãnh thổ nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa; nhà Thanh đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804. Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn.

Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải ở Hà Nội cho biết:


Khi nghiên cứu tập sấm này, đến bản AB 444 trong kho sách của Viện Hán Nôm, tôi bất đồ tìm thấy hai chữ Việt Nam ngay trong những dòng đầu tiên: Việt Nam khởi tổ xây nền. Theo quan niệm chính thống, hai chữ Việt Nam không được phép có mặt trước năm 1804, trong khi cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống cách ta 500 năm. Vấn đề đặt ra là có thật hai chữ Việt Nam đã được dùng cách đây hơn 500 năm để chỉ tên gọi đất nước? Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm còn những ai đã dùng danh xưng Việt Nam? Liệu có những bằng chứng khảo cổ về vấn đề này? Song lúc đó không có điều kiện tiếp xúc với bản gốc nên phải tạm gác lại. Đến 1980, khi được tiếp xúc với bản gốc, tôi đã dành hơn 20 năm nay để nghiên cứu. . . .

Sau khi đọc được bản gốc Sấm Trạng Trình, tôi đã khẳng định được hai tiếng Việt Nam đã được sử dụng từ thế kỷ 15. Song bản sấm này được truyền lại qua những bản chép tay, cũng không ai dám chắc tác giả là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi liền chuyển qua tra cứu thơ văn của cụ để so sánh. Thật bất ngờ, hai tiếng Việt Nam được cụ nhắc tới bốn lần: Trong tập thơ Sơn hà hái động thường vịnh (Vịnh về núi non sông biển) đã đề cập tới. Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng Giáp Hải, cụ có viết: "Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại, Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam"; còn trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến, "Tiền đồ vĩ đại quân tu ký / Thùy thị công danh trọng Việt Nam".

Dẫu sao, đó cũng mới chỉ là những văn bản chép tay. Để khẳng định thêm, tôi đã đi tìm trong bi ký (bài ký trên bia đá). Nhờ một số nhà khoa học Viện Hán Nôm, tôi đã tìm ra trong bia trùng tu chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh) năm 1664, phần bài Minh có câu Việt Nam cảnh giới, Kinh Bắc thừa tuyên. Sau đó là bia trùng tu chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ, bia chùa Cam Lộ (Hà Tây), năm 1590, Chân Việt Nam chi đệ nhất. Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là tấm bia Thủy Môn Đình ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ tám (1670), có câu : Việt Nam hầu thiệt trấn bắc ải quan (Cửa ải phía Bắc Việt Nam). Đây là tấm bia có niên đại muộn hơn song nó có danh tính người soạn, hơn nữa đây là một mệnh quan triều đình, là phát ngôn chính thức.

Cho đến nay, sau tôi một số nhà nghiên cứu khác đã phát hiện tổng số 12 bia có hai tiếng Việt Nam.
Tất cả đều có niên đại thế kỷ 16, 17. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ có danh xưng Việt Nam năm 1752. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng, sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất.

http://cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=3755&/Ai-dat-quoc-hieu-Viet-Nam-dau-tien.csv (http://cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=3755&/Ai-dat-quoc-hieu-Viet-Nam-dau-tien.csv)

Như vậy, chúng ta có thể nói rằng từ thế kỷ 15, người Việt Nam đã dùng danh hiệu Việt Nam, Nam Việt, nước Nam, Đại Việt để chỉ nước ta. Và cũng có thể Trạng Trình ở thế kỷ 16 đã biết ở thế kỷ 19, nước ta chính thức mang quốc hiệu Việt Nam.

2. Thánh:

Các bản đều nói thánh nhân hay thánh vương tức là nói người làm vua như nói về Lê Hoàn "Lê gia xuất thánh minh"chứ không có nghĩa là bậc thánh như Khổng Tử, Mạnh tử. . . Vua thì có người hiền kẻ ác chứ không phải hoàn toàn là người nhân đức.

3. Hoàng giang, Bảo Giang. Thầy Nhân Thập:


Các bản đều có danh từ này: nhiều người giải thích khác nhau



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 06, 2014, 01:42:36 AM
(tt)


VI. KẾT LUẬN

Xét bản Sơn Trung và Nguyễn Văn Sâm có gốc bản nôm cho nên đó là bản chính thức. Hai bản này cho biết có thể có it nhất hai bản nôm do Trình Quốc công soạn cả hai hoặc một bản do người khác. Bản Phùng Thượng Thư ký cho biết ngoài Trình quốc công soạn sấm ký còn có Phùng Thượng thư.

Về các bản quốc ngữ, sau khi nghiền ngẫm khoảng 20 bản, tôi thấy quanh đi quẩn lại chỉ có ba phiên bản chính, được nhiều người sử dụng :

-Mai Lĩnh/   Sở Cuồng
-Hoàng Xuân / Trịnh văn Thanh/ Huỳnh Tâm/
-Hương Sơn.


Trong ba bản, theo thiển kiến, bản Mai Lĩnh tức bản Sở Cuồng là đáng tin cậy nhất. Hai bản kia có lẽ chỉ là ghi chép những câu sấm truyền trong dân gian. Đây cũng chỉ là giả thuyết chờ sau này ai đó nghiên cứu thêm nhiều bản nôm thì rõ hơn.

1. Mai Lĩnh:

Bản Mai Lĩnh chính là bản đầu tiên là bản Sở Cuồng in năm 1930


2.Hương Sơn:

Đoạn kết giống Mai Lĩnh 2:Sau một thời gian sống với cộng sản ( Ta hồ vô phụ vô quân), nước ta sẽ thái bình như thời hoàng kim.

3.Anh Phương:

Đoạn kết giống Mai Lĩnh 1: sau này có " thầy Nhân Thập" về cứu nước.

Các bản Sở Cuồng, Mai Lĩnh và Sơn TRung có liên quan đến Phùng Thượng Thư Ký. Bản này có chú thích của Tiền nhân trước 1937 là năm cụ Nghè Bân mất. Các bản khác cũng chỉ thêm thắt và xáo trộn bản chính. Theo quyển Phùng Thượng Thư Ký, chủ yếu sấm ngữ là nói về giai đoạn Lê Mạc cho đến Trịnh Nguyễn và qua nhà Nguyễn. Như vậy có lẽ sấm không đi vượt thời gian 1945, hay 1954 là năm nhà Nguyễn mất.

Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian

(Sơn Trung ,4)

Chữ rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
Thì phụ nguyên mới chổ (trổ) binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
Bấy giờ mở rộng qui khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn.

(SC, 117-124)

Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian

(SC,483-84)

Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành,
Ðông A nhật xuất,
Dị mộc tái sinh.
Chấn cung xuất nhật,
Ðoài cung vẩn tinh.
Phụ nguyên chì thống,
Ðế phế vi đinh.
Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.

(Anh Phương, 7-16)

205.Kể từ đời Lạc Long Quân,
Ðắp đổi xoay vần đến lục thất gian.

(Anh Phương, 205-06)



Nói chung, đa số nói về các sự lịch sử cho đến cuối nhà Nguyễn năm 1945. Tuy nhiên, nhiều nhà biên khảo cho rằng Sấm Trạng Trình có giá trị lâu dài. Việc này cũng tùy văn bản, như bản Anh Phương:

嗚呼世事似萍篷
南北何時鐵路通
猢隱山中毛盡白
鯨居海外血由紅
雞鳴玉樹天傾北
牛出藍田日正東
若待鷹來獅子尚
四方天下太平風

(= 世閒盡享太平風)







" Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch,
Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Ðông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong (1)

"(95-102)


(1) Bản khác:- “Thế gian tận hưởng thái bình phong”

Bài này đưa ra nhiều vấn đề. Thời Lê mạt, Nguyễn sơ, nước ta chưa có đường sắt và xe lửa. Pháp khởi công làm đường sắt năm 1881 đầu tiên đi từ cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn dài 13 km. Chuyến tàu đầu tiên khởi hành ở Việt Nam là vào ngày 20 tháng 7 năm 1885. Trong chiến tranh từ 1945 cho đến 1975,  thực hiện tiêu thổ kháng chiến, phá cầu, phá đường, đắp mô, giật mìn gây trở ngại giao thông cho dân chúng. Thời chiến tranh, hai miền Nam Bắc phân ly, đường sắt đứt nối nhiều đoạn.

Năm 1975, Việt Nam thống nhất , năm 1986, Chính phủ Việt Nam tiến hành khôi phục lại các tuyến đường sắt chính và các ga lớn, đặc biệt là tuyến Đường sắt Bắc Nam. Tuy nhiên, vẫn có câu hỏi: Phải chăng là đường sắt cao tốc mà Trung Quốc muốn làm? Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch, phải chăng là đường sắt này sẽ thực hiện , hay thực hiện xong sau khi Hồ Cẩm Đào về hưu? mao tận bạch là gì? Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng là gì? Là trận thủy chiến ngoài Trường Sa, Hoàng Sa năm 1974 giữa Trung Cộng và VNCH? Là cuộc chiến giữa Việt Nam - Trung Quốc năm 1988? Và cuộc thế chiến ba ở biển Đông?

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Ðông.

Câu này không rõ.

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.


(1) Bản khác:- “Thế gian tận hưởng thái bình phong”

Chờ khi Hoa Kỳ  ( chim ưng) đánh vào Hoa lục ( sư tử) thì thiên hạ mới thái bình!


Sấm ký Trạng Trình nói đến nhà Nguyễn, có nói đến sau đời Nguyễn chăng? Có nhiều giải thích rằng  có thể nói về chiến tranh thứ ba, cuộc chiến biển đông như bản Anh Phương trình bày ở trên.  Có thể đồng thời với Trạng Trình và sau Trạng Trình, nuớc ta có những bậc khải thánh tiên tri như Tứ Thánh, Ông Nguyễn Văn Thới. Mỗi chữ, mỗi đoạn có thể mỗi thời mang một ý nghĩa. Chúng ta bình tâm và kiên nhẫn suy nghĩ để tìm ra chân lý và sự thật.

NTT
_______ 


(1). Trần Văn Giáp. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm , quyển I, Thư viện Quốc Gia, Hà Nôi, 1970,tr. 87).
( 2). Phạm Đan Quế, Giai Thoại và Sấm Ký Trạng Trình; Văn Nghệ TP HoChi Minh, 1992; 78-79)
(3). Nguyễn Khuê. Nguyễn Bỉnh Khiêm Qua Bạch Vân Am Thi Tập. Nhà xb.HochiMinh, 1997, 379-402
(4).Nguyễn Đăng Mạnh.  Hồi Ký, chương 5 Hồ Chí Minh.






(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 06, 2014, 01:29:18 PM
(tt)

TỪ  ĐIỂN SẤM TRẠNG TRÌNH


Sấm Trạng Trình có nhiều bản khác nhau nhưng các bản này vẫn có những đoạn giống nhau. Trước đây, trong ấn bản Sơn Trung, chúng tôi đã chú thích các bản Sấm Trạng Trình. Như đã nói, chúng tôi đã có bản nôm Trình Quốc Công Ký và bản nôm Phùng Thượng Thư Ký mà bạn tôi, ông Trương Quang Gia đã phiên âm từ 1990. Nhưng người nghiên cứu vẫn để yên trong
 ngăn tủ, nay mới đem ra xem xét cẩn thận, thì thấy người xưa đã chú thích phần lớn. Nay đem cả chú thích mới và cũ tập họp lại theo dạng tự điển để độc giả tiện tra cứu
.

B

Bạch sĩ : chưa rõ
Bảo Giang (Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh/  Sông Bảo Giang đã định ai hay): không rõ nghĩa

Bắc hữu kim thành tráng/ Nam tạc ngọc bích thành /Hỏa thôn đa khuyển phệ/ Mục giả dục nhân canh
(Sở Cuồng, 426-429; TVThanh,227-230)

Nói về kinh đô Thăng Long và kinh đô Phú Xuân hay  thủ đô Hà Nội và thủ đô Sàigòn?

C

Cưu, nhạn : chim cưu và chim nhạn, nói nhân dân. Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn. Trực đáo dương đầu mã vĩ,
Hồ binh bát vạn nhập Trường An.
(Bản Anh Phương, 151-154; bản Sở Cuồng, 410-413, Trịnh Vân Thanh, 165-168))

Bản Phùng Thượng Thư nói về quân Mãn Thanh sang Việt Nam kỷdậu 1789 còn các bản sau này nói Cộng sản vào Hà Nội năm giáp ngọ 1954.

Cửu thiên hồng nhật: họ Trịnh 鄭 chữ Trịnh có chữ nhật.
Chấn cung nhật hiện: chỉ họ Mạc莫, vì trong chữ Mạc có chữ nhật. Dư đồ chia xẻ: Trịnh Nguyễn phân tranh.


D/Đ

Đao: Xem Hòa đao mộc lạc.
Điếm tuần: điếm là nơi canh gác, thường là cái chòi tranh để tuần phu ngồi trong lúc canh phòng. Tuần là đi rảo xung quanh làng xóm để xem xét kẻ gian phi.
Đỉnh Hoành sơn: ( Đỉnh Hoành Sơn tam liệt ngũ phân.) nói về chiến tranh giữa Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn tại miền Trung.
Đông A :là nhà Trần 陳. (Trong chữ Trần có chữ Đông và bộ phụ của chữ A 阿). Âm vị là con gái. Trần Cảnh lấy Chiêu Hoàng là nữ, là vợ truyền ngôi cho chồng.


H

Hòa đao mộc lạc chỉ họ Lê 梨, 棃.có chữ đao .Họ Lê lên thay họ Đinh.
Hoàng Giang: (Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Sông Bảo Giang đã (thiên) ai hay): không rõ nghĩa. Phải chăng chỉ dòng họ Nguyễn Hoàng ?

K


Kìa cơn gió thổi lá rung cây
Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
Tan tác Kiến kiều An đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây
Sơn Lâm nổi sóng mù Thao cát
Hưng địa tràng giang Hóa nước đầy
Một gió một Yên ai sùng Bái
Cha con người Vĩnh Bảo cho hay

(Bản Sở Cuồng, Mai Lĩnh, câu 379-386)

Các bản sau này giải thích việc Nguyễn Thái Học khởi nghĩa năm 1930, và việc Pháp dùng 5 máy bay ném bom triệt hạ làng Cổ Am, căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Bảo. Hải Dương.

Kỳ mộc: cây lạ, chỉ họ Lê. Lê Lợi lên ngôi.(Xem Hòa Đao mộc lạc ). Khí hủ: hủ là hư nát trong nghĩa hủ bại. Các bản khác ghi là hư.




(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 06, 2014, 01:37:05 PM
(tt)

L

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

(Anh Phương 171-174; Trịnh VÂn Thanh, 185-188)

Bản Phùng Thượng Thư Ký và một số có đoạn này. Bản Phùng Thượng Thư không chú rõ. Các bản khác đều cho rằng đoạn này nói Kỷ Dậu 1945 chấm dứt thế chiến, nhưng điều này khiông đúng vì từ năm dậu 1945 nước ta bắt đầu với đại họa  chứ không được hưởng thái bình.

Lục thất , hay lục thất nguyệt gian ( hay niên gian): Lục thất cho biết ngày dầy (rày)

(Ngôn Nguyễn thị sanh ư bắc phương, cư tại Sơn Tây xứ).

Phụ nguyên ấy thực ở miền (rày) Tào khê (SC. 260)

Bản Phùng Thượng Thư Ký chú là họ Nguyễn ở Sơn Tây . Tuy nhiên Tào Khê ở tỉnh Quảng Đông, là nơi Lục tổ Huệ Năng truyền đạo.

Lục thất 六七 ám chỉ họ Nguyễn vì Lục Thất có đồng âm 陸 室. Lục là họ Nguyễn vì trong chữ lục có chữ Nguyễn. Thất là nhà. Lục thất là nhà Nguyễn. Họ Nguyễn làm vua thì giòng Nguyễn Gia Miêu là ở Thanh Hóa, họ Nguyễn (hay Hồ) nhà Tây Sơn ở Bình Định, chưa có vua nào ở Sơn Tây.


M /  N

Mõ cá: cái mõ băng gỗ, hình con cá, thôn quê ngày xưa dùng báo hiệu. có đám cháy hay trộm cướp.

Nhân Doãn: 允 :( Nhân Doãn tức là ngươi Doãn, Duẫn, hoặc người tên Doãn, Duẫn) chỉ vua Lê Chiêu Thống 黎昭統 .Trong chữ Thống có chữ Duẫn cũng đọc là Doãn.

Nhân kiến : Chỉ Lê Chiêu Thống 黎昭統, 1765 – 1793), tên thật là Lê Duy Khiêm 黎維謙 tên là Duy Khiêm. Chữ Khiêm 謙 trong có chữ Kiến 毽 , 建 . Khi Lê Chiêu Thống theo quân Thanh chạy sang Trung Quốc, bỏ Thăng Long, sau đó thì Nguyễn Huệ đem binh đánh tan quân Thanh, và một thời gian nữa thì Nguyễn Ánh đem binh ra đánh tan Tây Sơn, thống nhất đất nước.

O  /  Ô

嗚呼世事似萍篷
南北何時鐵路通
猢隱山中毛盡白
鯨居海外血由紅
雞鳴玉樹天傾北
牛出藍田日正東
若待鷹來獅子尚
四方天下太平風

(= 世閒盡享太平風)

Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch,
 Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
100.Ngưu xuất Lam điền nhật chính Ðông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong "

(1) Bản khác:- “Thế gian tận hưởng thái bình phong”

(Bản Anh Phương, Trịnh Vân Thanh , 109-116)

Các bản giải thích là sau 1945, cộng sản phá hoại đường giao thông, trong đó có đường sắt. Đường sắt nối lại sau 1975 là lúc Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều chết.
Sau đó là có chiến tranh ở Hoàng Sa, Trường Sa...

P /Q /R

Phá điền : quốc phá, là nước mất bởi vì chữ điền 田giống chữ Quốc 国, cả hai chữ thuộc bộ vi 囗.Cũng có người giải là năm sửu vì chữ sửu 丑 giống nửa chữ điền

Rau, rới: có bản ghi "giới". Rau, rới, giới, rưới đều có nghĩa là rau. Có lẽ do từ Giới 芥 là rau, là đồ hèn hạ (rác rới, rác rưới, rác rưởi)


T

Tái binh: binh ngoài biên cương, binh ngoại quốc: Chỉ quân Mãn Thanh.

Tam hiểm ( Tìm nơi tam hiểm mà hầu lánh thân): Ba nơi hiểm trở có đủ yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Quyển Phùng Thượng Thư Ký cho biết ba nơi là vùng sơn động Thái Nguyên,Tản Viên (Sơn Tây), và Vị Khê ( không rõ ở đâu.)

Thập bát tử: họ Lý 李 . Chữ Lý chiết tự là Thập bát tử.

Thầy Nhân Thập : trước đây các vị đã giải đoán là chữ Tản 傘 vì có chữ Nhân 人 và 4 chữ Nhân nhỏ với chữ Thập 十 thành chữ Tản 傘 . Ba chữ Thầy Nhân Thập đọc và viết theo pháp âm chữ Nho là Thập Nhân Tử 人十子 (chữ Tử còn gọi là Thầy như Lão Tử, Trang tử, Khổng Tử …). Chữ Thập Nhân Tử còn có nghĩa là chữ Lí 李 (họ Lý). Ông này tên Tản hay tên Lý? Hay tên gì?

Theo lời chú trong bản Phùng Thượng Thư Ký, ông này tuổi Ngọ giúp vua trị vì dài lâu ( Chữ 午 chiết tự thành nhân thập 人十)


Trần công nãi thị phúc tâm
Giang hồ xử sĩ Đào Tiềm xuất du.


 (Sở Cuồng, 482-483)

Không rõ họ Trần nào, xuất hiện vào lúc nào? Nước ta từ Lê Lợi đên nay có Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm... . .làm vua, và các nhà chính trị nổi danh như Đào Duy Từ, Ngô Thì Nhậm, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim nhưng chưa có vua nào họ Trần.
(Nhà Trần trước kia ở vào thế kỷ 13, TRẠNG TRÌNH Ở VÀO THẾ KỶ 15)



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 07, 2014, 06:26:50 AM
(tt)

BẢN I * SƠN TRUNG 2011


 
TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ
tủ sách cụ Nghè Bân, Sơn Tây



LỜI NÓI ĐẦU



Đây là bản nôm tìm thấy trong thư viện cụ nghè Nguyễn Văn Bân ( 1868- 1937.) Cụ nghè Nguyễn Văn Bân , sinh năm Mậu Thìn (1868), quê làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, Sơn Tây, đậu Cử Nhân khoa Đinh Dậu (1897), đậu Tiến Sĩ khoa Tân Sửu, năm Thành Thái 13 (1901), đồng khoa với Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy tức Nguyễn Sinh Sắc, và Phan Chu Trinh, hàm Hồng Lô tự khanh, sung Bắc kỳ thượng nghị viện , Tổng Đốc Hải Dương.

Cụ Nghè Bân ở Sơn Tây , gần làng Phùng, cùng huyện Thạch Thất với Phùng Thượng Thư cho nên bản này rất đáng tin cậy vì ngày xưa các cụ thường mượn sách nhau sao chép, nghĩa là bản này có thể là sao chép từ tủ sách quan thượng Phùng Khắc Khoan.

Đại tá Nguyễn Sùng đậu cử nhân luật bên Pháp, người Chàng Thôn, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, làm việc tại bộ Tổng Tham mưu quân đội VNCH, là tế tử của cụ nghè.

Khoảng năm 1985, gia đình đại tá Nguyễn Sùng, sang định cư tai Pháp. Trước khi đi, hai ông bà tặng tôi một số sách cổ, trong có bản Trình Quốc công ký và Phùng Thượng thư ký. Tôi giữ từ đó đến nay, chỉ nhìn qua rồi cất kín vì lúc bấy giờ tôi đang tập trung tư tưởng và thời giờ viết bộ Văn Học Sử Việt Nam. Vả lại lúc bấy giờ việc nước tang thương, ai cũng lo việc y thực và tìm tự do.
Nay có bạn đọc hỏi về Sấm Ký, tôi bèn đem tất cả Sấm Ký Quốc ngữ mà tôi đã sưu tập và bản Nôm này trình làng. Như vậy bản nôm chép tay đã có khoảng hơn một trăm năm, mà tôi cất giữ cũng đã 25 năm, nay mới ra mắt độc giả.

Hôm nay xem kỹ, và sau khi so sánh các bản Quốc ngữ, tôi xin thưa với các độc giả vài điều:

1. Sấm Trạng Trình là có thực. Bản này có gốc tích rõ ràng từ một bậc danh gia ở Sơn Tây, đồng hương với Trạng Bùng, mà trạng Bùng lại là đệ tử của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hơn nữa, hơn 20 bản nôm trong các thư viện cũng là một thực thể mạnh, không thua gì Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du, trong đó có những dị bản, nhưng không thể phủ nhận sự hiện hữu của Trình Quốc Công ký.

2.Bản này giống phần thứ hai của Mai Lĩnh. Tôi chưa xem bản nôm AB 444 của Viện Hán Nôm Hà Nội, song có thể nghĩ rằng hai bản nôm này cùng nguồn gốc. Tuy nhiên, đọc kỹ thì thấy bản quốc ngữ của Mai Lĩnh và bản nôm này tuy ý từng câu, từng đoạn giống nhau, mà trong mỗi câu it nhất là có một chữ bị sửa . Tuy nhiên phần cuối bản nôm này ( từ câu 101) khác hẳn bản Mai Lĩnh.
Tôi chỉ phiên âm, còn phần chú thích tôi đã chú thích trong bản Mai Lĩnh, nay chỉ chú một đôi dòng cần thiết mà thôi. Xin tha thứ những sai lầm trong bản này.


Ottawa ngày 6-10-2010
Nguyễn Thiên Thụ


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 07, 2014, 06:32:28 AM
(tt)


BẢN NÔM TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ




NGUYỄN THIÊN THỤ

phiên âm



1.Vừa năm Canh Tý (1) xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa long câu (2) nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất (3) gian

5.Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chưng (4) giữ nước dân an thái bình

Kể từ Lạc Long đế kinh,
Thế cùng xem biết sự tình thấp cao.
Nhân vì biết được tơ hào

10. Truyền chưng chép vào chẳng tiếc làm chi.
Luận chung một tập kim thì (5)
Tướng tài coi gẫm, nam nhi học đòi
Trượng phu có chí thời coi
Những câu nhiệm nhặt đáng doi (6) cho cần

15. Già nay cũng đấng hiên ngang
 
Biết chưng đời trị biết đường đời suy
Kể từ nhân duẫn ( 7) mà đi
Sau thì chưa đến biết thì nói ra.
Tiếc thay hiền sĩ tuổi già

20. Phúc bằng Bành Tổ cùng là Thái Công
Thử cho tay thước ( 8) ra dùng
Tài này cùng hẹn anh hùng xem sao

Trên trời chỉn chín tầng cao
Tai nghe bằng một tơ hào (9) biết hay

25. Hiềm vì sinh phải thời này
Rấp thù lỗi kiếp tiếc thay chưng đời

Dẫu hay tấn chước (10) ngàn lời,
Sinh phải lỗi đời ắt cũng có dư.
Chẳng sinh phải kiếp người ta,

30. Sinh ra phải kiếp quỷ ma nhà trời.
Nói ra thì lộ sự đời,(11)

Che nghe (12) cho phải lụy này,
Nói ra ám chúa bội quân
Ðương thời đời trị xoay vần được đâu

35. Chờ cho nhân duẫn về sau
Ðến chừng đời ấy thật âu nhiều nàn
Trời sinh ra những kẻ gian,
Nhật dạ đạo kiếp suy tàn đông tây.
Quân nào thần ấy làm vày (13),

40. Thượng nhân bất chính hạ nay tác loàn.
Đua nhau bạo ngược làm càn,
Phá gia ba kẻ dân tàn khốn thay
Anh hùng gẫm được thời hay,
Xem chưng thời vận biết hay trong lòng.

45. Nam nhi có chí anh hùng,
Muốn làm tướng súy lập công chưng đời.
Thời xem tuần vận điềm trời,
Cơ mưu nhiệm nhặt nên trai anh hùng.
Đi tìm cho đến thánh công,

50. Để phù trợ trị nên công vẹn tuyền.
Trong ngoài cương kỷ cho bền,
Bốn phương điều vận cho yên trong ngoài.
Chờ khi chuyển đất động trời,
Bấy giờ mới biết mặt trai anh hùng.

55. Còn bận (14) thì náu chưa xong,
Nhân lực chẳng đoạt thiên công đâu là.
Ðời này những quỉ cùng ma
Chẳng phải người thế dân ta thiện hiền.
Trời cao đất rộng mông minh,

60. Ngu dân đâu biết chân tình đế vương.
Thế gian ai chẳng biết tường,
Thánh thời ở tại khảm phương tuần này.
Ấy là lục thất gian nay,
Tuần hoàn đã định đến ngày hưng vương.

65.Xem chưng tuần vận cho tường,
Bảo giang thánh xuất trung ương thuở này.
Vua ngự thạch bàn xa thay,
Nhân (15) ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
Chim kêu vượn hót vang lừng,

70. Ðường đi thỏ thẻ dặm chưng khôn ngờ.
Nhân gian vắng vẻ bằng tờ
Sơn lâm bát ngát đổ (16) nhờ khôn thay!
Vua còn cuốc nguyệt cày mây
Phong điều vũ thuận đợi ngày làm ăn

75. Phong đăng hoà cốc chứa chan
Vua ở trên ngàn có ngũ sắc vân.
Khảm cung thời tiết mở vần,
Thực là thiên tử thánh nhân ra đời.
Anh hùng ai có chí tài,

80. Công phu chẳng ngại tìm đòi ra đi.
Tìm đi đến Bàn thạch khê,
Đất sinh thánh đế bên kia cuối làng.
Nhìn đi nhìn lại cho tường,
Do nay phỏng có sinh vương đâu là.

85. Chẳng tin thì đến bản gia,
Đất sinh thiên tử xem qua địa hình.
Bốn bề phong cảnh cực thanh,
Tả long triều lại uốn vành vũ khai.
Hữu thời cửu khúc giang nay,

90. Minh Ðường thất diệu ra bày tay coi
Trông xa thấy một đầu voi
Đầu cúi cuốn lại phục triều nguyệt sơn .
Ứng điềm thiên tử về chầu,
Tượng trời thánh đế thật âu trị dài.

95. Song thiên nhật nguyệt sáng soi,(17)
 Sinh được tuổi ấy thật ngôi chẳng cầu
Ðến tuần hưng vượng về sau,
Chờ đến tam hợp thúc nhau mới làm
Khuyên người Ðông Bắc Tây Nam

100. Muốn làm tướng súy thì xem sấm này
Anh hùng lượng được thời hay
Chép làm một quyển để ngay chẳng mòn.
Ai nên bia tạc biển son,
Nguyện đem phúc vận tử tôn ơn nhờ.

105.Nay nhờ truyền bảo sau xưa,
Những câu nhiệm nhặt nên sơ tỏ tường
Tìm đi cho đến khảm phương
Hình dung thánh đế khiêm nhường từ bi.
Chính trung diện mạo uy nghi,

110. Râu rồng tóc phượng thật thì đế vương.
Nhìn xem cho biết tỏ tường,
Để hòa (mà) giúp rập đế vương tuần này.
Quân thần hội họp rồng mây,
Đạo trời hay chứa bàn tay nhưng là.
 
115. Cõi tiên thế giới đất ta,
Mông lung bốn bể ắt là giao lân.
Trời xui thiên tử vạn dân,
Rắp hết xa gần triều lục thất gian.
Phò vua ra đến Tràng An,

120. Bao nhiêu ngụy đảng loài gian lại hiền.
Đời ấy những Phật cùng tiên,
Sinh những người hiền trợ giúp trị dân.
Lục thất dư ngũ vạn xuân,
Bây giờ trời lại xoay vần chốn nao.

125.Thấy sự thời để chép vào,
Lâu thời chẳng biết nói sao nên lời.
Ai mà độ lượng trí tài,
Công phu chẳng ngại tìm thôi đến này.
Phò vua vực trị trợ đời,

130. Ơn trên đức rộng cho trai ơn nhuần.
Vũ thời phong đại tướng quân,
Văn thời thất phẩm đại thần cao ngôi.
Trông ân đức rộng bằng trời,
Cả dung cho khắp thỏa người tôi con.

135. Chớ nề bạch ốc chu môn,
Nam nhi có chí khỏe khôn đều dùng,
Quân minh lại gặp thần trung,
Tướng vốn vô dùng điều dụng mới trai.
Trảo nha những đứng trí tài,

140. Bất văn thạch phụng nào ai biết gì.
Ai ai là chẳng nam nhi,
Sinh chẳng kịp thì nên muộn công danh.
Trông ơn đức rộng cao minh,
Tuất cập đến kẻ hết tình làm tôi.

145. Quân thần tướng tá giúp đời,
Quân minh thần hiệp mỗi điều cho tin,
Trợ phù nhà nước khoẻ bền.
Công phu kiếp trước hữu duyên cùng người.
Trời sinh lão tướng giúp đời,

150. Khai quốc cùng toại cho đòi khảm phương.
Khác nào thuở trước nhà Đường,
Quân minh lại gặp thần lương mới bền.
Đời xưa những đấng khá khen,
Đời nay những đấng tôi hiền ai so

155.Xưa trượng phu, nay cũng trượng phu,
Tài nay khá mượn tài xưa giúp đời.
Mong ơn trên trị chưng đời,
Chớ hề quên nghĩa phụ người công phu.
Sống thời ăn bổng lộc vua,

160.Thác thời ban cấp cho con thơ rày
Trận tiền hết sức, ra tay,
Cờ xây súng trỏ sắc rày ban cho.
Hoặc là tử trận đương cô,
Quan thời dân xã cấp cho bổng thờ.

165. Quân thời cấp ruộng điền tô,
Làm cho con cháu ơn vua đời đời.
Để cho nức lòng con trai.
Đến khi có giặc cho trai liều mình.
Thấy tặc nó hội phụng kinh

170. Anh hùng ai chẳng liều mình cướp nhau.
Sống thì chức trọng quyền cao,
Thác thì miêu duệ ân nhiều giàu sang.
Lập nên giềng mối kỷ cương.
Trong an ngoài cũng bốn phương thuận hòa,

175. Đâu đâu xướng thái bình ca,
Thiên thuận địa hòa, chủ quý thần vinh.
Tảo an thiên hạ thái bình,
Bây giờ sĩ mở lệ thư luật điều
Sĩ hiền biết bấy nhiêu điều,

180. Tiên bảo cùng sấm mỗi điều chép ra.
Khuyên người Nam Việt trai hiền,
Ai xem cho biết để mà làm công.


HẾT


CHÚ THÍCH

(1). Các bản ghi Giáp Tí, Nhâm Tí nhưng bản này ghi Canh Tí. Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 sinh 1491 và mất năm 1585. Canh Tí là năm 1540, Nhâm Tí là 1552; Giáp Tí là 1564. Năm Canh Tí là lúc ông 50 tuổi.
(2). Câu: câu là câu lơn, bao lơn, hành lang.
(3).Nguyên bản lục thất 六 七 ( lục thất nguyệt gian, lục thất niên gian) có lẽ cổ nhân dùng để chỉ lục thất 陸 室 nhà Nguyễn vì trong chữ lục陸 có chữ Nguyễn 阮.
(4). Chưng: cũng như chi, sở là hư tự. Chưng ở đây là ở. (5).Kim thời: thời nay.
(6). Doi: noi theo, theo dõi.
(7).Nhân duẫn 人允 : duẫn, doãn , chỉ Lê Chiêu Thống, vì trong chữ Thống có chữ Duẫn, Doãn; nói việc Lê Chiêu Thống theo quân Thanh trở về Thăng Long thì bị Nguyễn Huệ đem binh đánh tan, sau đó Nguyễn Ánh đem quân ra Bắc..
( 8). Tay thước : Thước là thanh gỗ dài hơn một thước, rộng khoảng 3 hay bốn cm.Thước là vũ khí của tuần phu ngày xưa.
(9). Ti hào: ti là sợi tơ, hào là sợi lông, nói những điều nhỏ nhặt.
(10). Tấn chước: đưa ra mưu kế, kế hoạch. (11).Đoạn này bị sót
(12).Che nghe : chẳng nghe.
(13).Làm vày : làm tầm bậy, sai lầm. Vày trong nghĩa giày vò, vày vò, tà vạy. (14). Bận: vướng bận, bận bịu; còn vướng bận, không thể ra cứu nước.
(15). Bản Mai Lĩnh ghi là Đại ngàn. (16). Đỗ: ở đỗ, ở nhờ.
(17).Tuổi quý 癸.
 

 

Sơn Trung
sưu tập, hiệu đính và chú thích.
Thủ đô Ottawa ngày 29-9-2010





(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 07, 2014, 12:34:11 PM
(tt)

II * SỞ CUỒNG 1930 & MAI LĨNH 1939



NGUYỄN BỈNH KHIÊM


SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP




NGUYỄN THIÊN THỤ
sưu tập, hiệu đính và chú giải



BẢN THỨ NHẤT


• BẢN SẤM KÝ CỦA SỞ CUỒNG LÊ DƯ

NAM KÝ 1930


• TIỂU THUYẾT NHẬT BÁO

KHOA HỌC HUYỀN BÍ
Năm thứ hai số 250
18-7-1939 tr.770-772.
254 ngày 1-8 tr.805-827 số 256 ngày8-8, 788-790

Mai Lĩnh xuất bản

 
 
***

1. Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ tập tành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

5. Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật phù lên
Việt Nam khởi tổ gây nên
Lạc Long ra trị đương quyền một phương
Thịnh suy bĩ thái chẳng thường

10. Một thời lại một nhiễu nhương nên lề.
Ðến Ðinh Hoàng là ngôi cửu ngủ
Mở bản đồ rủ áo chắp tay
Ngự đao phút chốc đổi thay
Thập bát tử (giầy) rày quyền đã nổi lên

15. Ðông A âm vị nhi truyền
Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh
Chấn cung hiện nhật quang minh
Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
Ðoài cung vẻ rạng trăng thu

20.Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
Sáng cửu thiên ám vừng hồng nhật
Dưới lẩn trên ăn vẫn uống quen
Sửa sang muôn vật cầm quyền
Ngồi không ai dễ chẳng nhìn giúp cho

25.Kìa liệt vương khí hủ đồ ủng
Mặc cường hầu ông ổng tranh khôn.
Trời sinh ra những kẻ gian
Mặc khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài
Áo vàng ấm áp đà hay

30.Khi sai đắp núi khi sai xây thành
Lấy đạc điền làm công thiên hạ
Ðược mấy năm đất lở riếng ( giếng) mòn
Con yết ạch ạch tranh khôn
Vô già mở hội mộng tôn làm chùa

35.Cơ trời xem đã mê đồ
Ðã đô lại muốn mở đô cho người
Ấy lòng trời xui lòng bất nhẫn
Suốt vạn dân cưu giận nhạn than
Dưới trên dốc trí lo toan

40.Những đua bán tước bán quan làm giàu
Thống ru nhau làm mồi phú quí
Mấy trung thần có ý an dân
Ðua nhau làm sự bất nhân
 
Ðã tuần rốn bể lại tuần đầu non

45.Dư đồ chia rẽ càn khôn
Mối giường man mác khiếp mòn lòng nhau.
Vội sang giàu giết người lấy của
Sự có chăng mặc nọ ai đôi
Việc làm bất chính tơi bời

50.Mình ra bỗng lại thấy thôi bấy giờ
Xem tượng trời đã gia ( giơ) ra trước
Còn hung hăng bạc ngược quá xưa
Cuồng phong cả sớm liền trưa
Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề

55. Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết
Ðể vạn dân dê lại giết dê
Luôn năm chật vật đi về
Âm binh ở giữa nào hề biết đâu
Thấy thành đô tiếng kêu ong ỏng

60. Cũng một lòng trời chống khác nào
Xem người dường vững chiêm bao
Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
Một góc thành làm tám chúng quỷ
Ðua một lòng ích kỷ hại nhân

65. Bốn phương rỡ rỡ hồng trần
Làng khua mỏ cá , làng phân điếm tuần
Tiếc là những xuất dân làm bạo
Dục khua loài thỏ cáo tranh nhau
Nhân danh trọn hết đâu đâu

70. Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
Hùm già lạc dấu khôn về
Mèo non chi chí tìm về cố hương
Chân dê móng khởi tiêu tường
Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình

75.Nội thành hoảng hốt hư kinh
Ðầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
Giữa hai xuân bỗng phá tổ long
Quốc trung kinh dụng cáo không

80.Giữa năm vả lại khiếm hung mùa màng
Gà đâu sớm gáy bên tường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thủy binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng

85. Ðứng hiên ngang đố ai biết trước
Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
Ai còn khoe trí khoe năng
 
Cấm kia bắt nọ, tưng bừng đôi nơi
Chưa từng thấy đời nào sự lạ

90. Bỗng khiến người giá họa cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán
Ðúc tiền ra bán tước cho dân

95.Xun xoe những rắp cậy quân
Chẳng ngờ thiên xoay vần đã công
Máy hoá công nắm tay dễ ngỏ
Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
Thung thăng tưởng thấy đạo trời

100. Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
Cát lầm bốn bể can qua
Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
Quân hùng binh nhuệ đầy khe
Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời

105. Bấy giờ càng khốn ai ôi
Quỉ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau ăn rới
Gặp nước bung con cái ẩn đâu
Báo thù ấy chẳng sai đâu

110.Tìm non có rẫy chưng sau mới toàn
Xin những kẻ hai lòng sự chúa
Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
Cho nên phải báo trầm luân
Ai khôn mới được bảo thân đời này.



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 07, 2014, 12:37:54 PM
(tt)

115. Nói cho hay khảm cung rồng dấy
Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
Hễ nhân kiến đã dời đất cũ

120. Thì phụ nguyên mới chổ (trổ) binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
Bấy giờ mở rộng qui khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn



125. Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
 
Hoàng phúc xưa đã định tây phong
Làu làu thế giới sáng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ vương
Rõ sinh tài lạ khác thường

130.Thuấn Nghiêu là trí Cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Dốc sinh hiền điều đỉnh hộ mai
Chọn Đẩu, Thai những vì sao cả
Dùng ở tay phụ tá vương gia

135. Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sĩ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật rạng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Ðời này thánh kế vi vương

140.Ðủ no đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác hình
Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi
Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân

145. Binh thơ mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
Ở đâu đó anh hùng hẳn biết
Xem sắc mây đã biết thánh long
Thánh nhân cư có thụy cung

150. Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
Lại dặn đấng tú nam chí cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết lý kiết hung
Biết phương hướng hội có dùng lầm chi.

155. Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
Kìa những kẻ vội lòng phú quí
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông

160.Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghì ai nhớ cho tinh.
Âm dương cơ ngẫu ngô sinh
Thái nhâm thái ất trong mình cho hay

165. Văn thì luyện nghiên bài quyết thắng
Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
Võ thông yên thủy, thần kinh
Ðược vào trận chiến mới rành biến cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
 
170. Biết ray tay miệng biến? nói không
Ngõ hay gặp hội mây rồng
Công danh choi chói chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí trai
Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình

175.Nặng lòng thật có vĩ kinh
Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Ðủ no hiền tướng anh hào đôi nơi
Nước Nam thường có thánh tài

180.Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
So mấy lời để tàng kim quỉ
Chờ hậu mai có chí sẽ cho
Trước là biết nẻo tôn phò
Sau là cao chí biết lo mặc lòng



185.Xem đoài cung đến thời bất tạo
Thấy vĩ tinh liệu rạo (rảo, tháo?) cho mau
Nguôi lòng tham tước tham giàu
Tìm nơi tham ( tam ?) hiểm mới hầu bảo thân
Trẻ con mang mệnh tướng quân

190.Ngỡ oai đã dậy, ngỡ nhân đã nhường
Ai lấy gương vua U thủa trước
Loạn ru vì tham ngược bất nhân.
Ðòi phương ong khởi lần lần
Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn

195.Man mác một đỉnh Hoành Sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là những binh thù thái thái
Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
Phá điền đầu khỉ cuối thu

200.Tái binh mới động thập thò liền sang
Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
Vẻ lại thêm hung hiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm

205.- Coi thấy những sương xâm tuyết lạnh
Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
Thành câu cá, lửa tưng bừng
Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm

210. Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
Sang thu chín huyết hồng tứ giả
 
Noi đàn dê tranh phá đôi nơi
Ðua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương

215.Kẻ thì phải thửa hung hoang
Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan
Kẻ thì mắc thửa hung tàn
Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình
Muông vương dựng tổ cắn tranh

220.Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh giành
Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày
Bể thanh cá phải ẩn cây
Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù

225,Nào ai đã dễ nhìn u
Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
Cây bay lá lửa đôi ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua

230. Làm sao cho biết nơi hòa bảo thân
Ðoài phương thực có chân nhân
Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
Tìm cho được chốn được nơi
Thái nguyên một giải lần chơi trú đình

235.Bốn bề núi đá riễu quanh
Một đường tiểu mạch nương mình đấy an
Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc kinh mới thật đế kinh

240. Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh.
Ai dễ cứu con thơ sa giếng
Ðua một lòng tranh tiếng giục nhau.

245. Vạn dân chịu thửa âu sầu
Kể dư đôi ngũ mới hầu khoan cho
Cấy cày thu đãi thời mùa
Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai

250.Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
Xem tượng trời biết đường đời trị
Gẫm về sau họ Lý xưa nên
Giòng nhà để thấy dấu truyền
Gẫm xem bốn báu còn in đời đời

255.Thần qui cơ nổ ở trời
 Ðể làm thần khí thửa nơi trị trường



Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Sông Bảo Giang thiên định ai hay
Lục thất cho biết ngày dầy (rày)

260.Phụ nguyên ấy thực ở giầy (rày) Tào khê
Có thầy Nhân thập đi về
Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh
Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời

265.Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
Lọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
Năm Giáp Tý vẽ khuê đã rạng

270.Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh
Ân trên vũ thí vân hành
Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
Bản đồ chảng sót cho ai
Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn

275.Vững nền vương cha truyền con nối
Dõi muôn đời một mối xa thư
Bể kình tăm lặng bằng tờ
Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
Âu vàng khỏe đặt vững chân

280.Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài

(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 07, 2014, 12:43:26 PM
(TT)


P.  II


281. Vừa năm Giáp Tý xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian

285.Một thời có một tôi ngoan
Giúp trong việc nước gặp an thái bình
... . . . . . . . . .
... . . . . . . .
Luận chung một tập kim thời
Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
Trượng phu có chí thời coi
 
290.Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
Tài nầy nên đấng vẻ vang
Biết chừng đời trị biết đường đời suy
Kể từ nhân doãn mà đi
Số chưa gặp thì biết hoà (mà) chép ra

295.Tiếc thay hiền sĩ bao già
Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
Thử cho tay giúp ra dùng
Tài này so cùng tài trước xem sao
Trên trời kể chín tầng cao

300. Tai nghe bằng một ti hào biết hay
Hiềm vì sinh phải thời này
Rấp phù mở nước tiếc thay chưng đời.
Hợp đà thay thánh nghìn tài
Dáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời

305.Nói ra thì lậu sự đời
Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
Nói ra ám chúa bội quân
Ðương thời đời trị xoay vần đặng đâu.
Chờ cho nhân doãn hết sau ,

310.Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiều nàn
Trời xui những kẻ ắt (ác?) gian
Kiếp đời đạo thiết làm loàn có hay
Vua nào tôi ấy đã bày
Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn


. . . . . . . . .
. . . . . . . .
. . . . . . . .


315. Ðua nhau bội bạn nghịch vi
Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
Tiếc tài gẫm được thời hay
Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng
Tài trai có chí anh hùng

320.Muốn làm tướng súy lập công chưng đời
Khá xem nhiệm nhặt tộ trời
Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
Ði tìm cho đến đế cung
Rấp phù xuất lực đế cung được toàn.

325. Bảo nhau cương kỷ cho tường
Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
Chờ cho động đất chuyển trời
Bấy giờ thánh sẽ nên trai anh hùng
 
Còn bên thì náu chưa xong

330. Nhân lực cướp lấy thiên công những là
Ðời ấy những quỉ cùng ma
Chẳng còn ở thật người ta đâu mà
Trời cao đất rộng bao xa
Làm sao cho biết cửa nhà đế vương

335.Dù trai ai chửa biết tường
Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
Ý ra lục thất gian nay,
Thời vận đã định thời nầy hưng vương
Trí xem nhiệm nhặt cho tường

340.Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
Vua ngự thạch bàn xa thay
Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
Gà kêu vượn hót vang lừng
Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò

345.Nhân dân vắng mạt bằng tờ
Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
Vua còn cuốc nguyệt cày mây
Phong điều vũ thuận thú rày an dân
Phong đăng hoà cốc chứa chan

350.Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
Chính cung phương khảm vần mây
Thực thay thiên tử là nay trị đời
Anh hùng trí lượng thời coi
Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi

355.Tìm lên đến thạch bàn khê
Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
Nhìn đi nhìn lại cho tường
Dường như chửa có sinh vương đâu là
Chảng tìm thì đến bình gia

360.Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
Tả long triều lại có thành đợt vây
Hửu hổ uấn khúc giang này
Minh Ðường thất diệu trước bày mặt ta.

365.Ở xa thấy một con voi
Cúi đầu quen bụi trông hồ sau
Ấy điềm thiên tử về chầu
Tượng trưng đế thánh tộ lâu trị đời
Song thiên nhật nguyệt sáng soi

370.Sinh đặng chùa ấy là ngôi chẳng cầu
Ðến thời thịnh vượng còn lâu
Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
 
Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam
Muốn làm tướng súy thì xem trông này


375.Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn



Kìa cơn gió thổi lá rung cây
380. Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
Tan tác Kiến kiều An đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây
Sơn Lâm nổi sóng mù Thao cát
Hưng địa tràng giang Hóa nước đầy
385.Một gió một Yên ai sùng Bái
Cha con người Vĩnh Bảo cho hay


Con mừng búng tít con quay
Vù vù chong chóng gió bay trên đài
Nhà cha cửa đóng then cài

390. Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân
Tiếc tám lạng thương nửa cân
Biết rằng ai có dù phần như ai
Vắt tay nằm nghỉ dông dài
Thương người có một lo hai phận mình.


395.Canh niên tàn phá
Tuất hợi phục sinh
Nhị ngũ dư bình



Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ khởi đao binh
400. Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.


Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn xà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng

405.Lợn kia làm quái phải sai đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh bước về tầu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về quê cũ bắt ngựa tầu.


410.Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an.

Bảo Giang thiên tử xuất
415. Bất chiến tự nhiên thành
Lê dân đào bão noãn
Tứ hải lạc âu ca


Dục thức thánh nhân hương
Qua kiều cư Bắc phương
420. Danh vi Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh ngưu lang



Thượng đại nhân bất nhân
Thánh ất dĩ vong ân
Bạch hổ kim đai ấn
425.Thất thập cổ lai xuân



Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
Hỏa thôn đa khuyển phệ
Mục giả dục nhân canh

430.Phú quí hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Anh hùng vương kiếm kích
Man cổ đổ thái bình
Nam Việt hữu Ngưu tinh
Quá thất thân thủy sinh
Ðiạ giới sĩ vị bạch
Thủy trâm nhi bắc kinh
Ký mã xu dương tẩu
Phù kê thăng đại minh

440.Chư thử giai phong khởi
Thìn mão xuất thái bình



Phân phân tùng Bắc khởi
Nhiễu nhiễu xuất Ðông chinh
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
 


Thủy trung tàng bảo cái
Hứa cập thánh nhân hương
Mộc hạ châm châm khẩu
Danh thế xuất nan lường



450. Danh vi Nguyễn gia tử
Tinh bản tại Ngưu lang
Mại dữ lê viện dưỡng
Khởi nguyệt bộ đại giang
Hoặc kiều tam lộng ngạn
Hoặc ngụ kim lăng cương
Thiên dữ thần thực thụy
Thụy trình ngũ sắc quang
Kim kê khai lựu điệp
Hoàng cái xuất quí phương

460. Nhân nghĩa thùy vi địch.
 Ðạo đức thùy dữ đương
Tộ truyền nhị thập ngũ
Vận khải ngũ viên trường
Vận đáo dương hầu ách
Chấn đoài cương bất trường
Quần gian đạo danh tự
Bách tính khổ tai ương
Can qua tranh đấu khởi
Phạm địch thán hung hoang.

470.Ma vương sát đại quỉ
Hoàng thiên tru ma vương
Kiền khôn phú tái vô lường
Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng (40)
Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
Ðảo Hoành Sơn tam liệt ngũ phân
Ta hồ vô phụ vô quân
Ðào viên tán lạc ngô dân thủ hành.
Ðoài phương phúc điạ giáng linh
Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân.

480. Phá điền thiên tử giáng trần
Dũng sĩ nhược hải mưu thần như lâm.
Trần Công nãi thị phúc tâm
Giang hồ xử sĩ Đào Tiềm xuất du
Tướng thần hệ xuất y chu
Thứ ky phục kiến Ðường ngu thi thành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
487.Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .



Nguyễn Bỉnh Khiêm
 






Sơn Trung chú thích:

Bản này là bản phổ biến nhất. Gốc là bản AB.444 tại Viện Hán Nôm Hà Nội. BẢN ĐÔNG NAM Á, Saigon 1964 (1962?) cũng giống bản này chỉ khác vài chữ vì đánh máy sai hoặc đọc sai.

Các bản khác cũng vậy. Thực ra, bản Mai Lĩnh phiên âm sai (sẽ nói rõ ở bản nôm Trình Quốc Công Ký trong thư viện của cụ Nghè Nguyễn Văn Bân do Sơn Trung sưu tập, phiên âm và chú giải sau đây).

Ngày xưa chữ nôm không đánh số La mã, bản Sở Cuồng và Mai Linh có đánh số , chứng tỏ bản này là tập hợp hai bản khác nhau, không biết cùng của Trạng Trình hay của ai. Bản Trình Quốc Công ý tại nhà cụ Nghè Bân là đoạn thứ hai.


Sơn Trung
sưu tập và chú thích.
Thủ đô Ottawa ngày 29-9-2010


(CT)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 08, 2014, 12:33:21 AM

(tt)

BẢN III * HƯƠNG SƠN 1950  ?




 

SẤM TRẠNG TRÌNH

THIÊN PHÚC NGUYỄN PHÚC ẤM LỤC NHÂM  BÁT SÁT ĐỘN THÁI ẤT

PHỤ THÊM
SẤM TRẠNG TRÌNH HƯƠNG  SƠN-HÀ NỘI
70 trang

Hương Sơn tổng phát hành
6 Đại lộ Gia Long, Hà Nội.



Bản này gồm nhiều nhiều bài thơ, khởi dầu ghi là có ngạn rằng, có thơ rằng. Để tiện việc nghiên cứu, Sơn Trung xin đánh số các đoạn theo phân đoạn của nhà xuất bản.


 
I


Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người.
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân (tr.49)
Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng (2)
Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
(3) Mê về nhan sắc trào Trần Thái Tôn
………………………………………………..
………………………………………………
.. …… Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
 
Suy ra mới biết sự trời
Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh su
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
Tây Sơn sừng sực kéo ra
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi ?




(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 08, 2014, 12:37:36 AM
(tt)

II


Lại có ngạn rằng:


(tr.50) Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
III

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi.


 
IV
 
Ngạn lại có câu rằng:


Gà bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no ủn ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại giết dê
Tới khi thực tận binh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao!
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Dốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh,
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

 
V


Có thơ rằng:



Dần Mão chư dương giai vị cập (tr. 51)
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diện trường ức vạn xuân.




(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 08, 2014, 12:43:34 AM
(tt)

VI
 
Có thơ rằng:


Hầu đáo kê lai khởi chiến qua
Thuỳ tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tràng vỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình.


VII


Có thơ rằng:


Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bạch Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân (tr. 52)
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi.


VIII


Thơ rằng:

Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.



 
IX


Thơ rằng:


Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lọ phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa.


X


Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên (tr.53)
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A.


Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
 
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 01:10:09 AM

(tt)

XI


Thơ rằng:-

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng (tr.54)
6- Thiên hạ thái bình



XII


Thơ rằng:-

Giang Nam nổi trận mạt thù
Bảy mươi hai tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận để người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
 
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng giục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán
Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sẵn tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho (tr.55)

 Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh dấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…


XIII


Thơ rằng:-

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhàn giãn dục dĩ chu nhi Tống
4- Phong nghỉ tung hoàng thị mạc vi


XIV

Thơ rằng:-

 
(1) Hạ huyền thượng đảo nhân vô thủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiệm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu Đông hải người tàn Bắc lâm
 
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông.
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá (tr.56)
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ việt người Hồ
Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi.
Tinh Thái Ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
Thấy đâu bò đái thất thanh
Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì.
 

 
XV



Thơ rằng:-

Ghê thay thau lẫn với vàng, (tr.57)
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời.
Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.


 


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 01:14:02 AM
(tt)

XVI


Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối.
Gặp nước buông con cái ẩn đâu ?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm

Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
 
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vẹn toàn.
Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong, (tr.58)
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều đỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường


Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu.
Khắp đâu đâu anh hùng hẳn biết
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đúng, chớ đừng lầm chi


Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư Ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
 
Văn thi luyện nghiên bài quyết thắng (tr.59)
Học Tử Phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao.


Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đôi nơi.
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường.
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới cho.
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân.
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh Hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tái binh mọi giống thập thò liền sang
 Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng tứ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi (tr.60)
Đua nhau quần thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan.
 
Kẻ thì mắc phải hung tàn,
Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm trước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn.
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn thấy chim đàn bay ra.
Bốn phương cùng có can qua,
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người.
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc kinh mới thật đế kinh,
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào!
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh.
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm.
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
 Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường.


 
XVII


DÂN BỊ KHỔ CHIẾN TRANH TRONG 10 NĂM

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh, (tr.61)
Sông Bảo giang thiên định ai hay ?
Lục thất cho biết ngày rầy
(1) Phụ nguyên ấy thực ở dầy (rày) Tào khê

 
Có Thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về


 
XVIII


Những bài sấm ngắn


Trời sinh thiên tử ở hỏa thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn
Canh tân tàn phá Tuất hợi phục sinh Nhị ngũ dư bình.



Nhân sinh ngọ tuế vi sư
Tị nhân vị tướng
Thìn tuất vị tôn sư



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 01:16:33 AM

(tt)

XIX


Thơ rằng



1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ chung tàng bảo cái
3- Thánh nhân chu xứ (tr.62)
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu
 
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân (tr.63)
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh dược
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ.
29.Tự nhi sinh thánh nhân yên.
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhị thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư Thái nguyên viên sơn
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên


DỊCH

1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh là quẻ ly
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
 
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết
20- Lúc bấy giờ có ông sư tu cho điềm lạ có thánh nhân.
21- Sư bản tự nuôi lớn cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch Sỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở Thái Nguyên núi Viên Sơn.
 



XX


Thơ vận niên bằng tên các súc vật






Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn xà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
Lợn nằm cũng thấy tên thù
Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
Khi nào chuột bắc cầu sang mới về.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 01:19:56 AM
(tt)

XXI






Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An (tr.64)




 
XXII


Thục vị lai tại thực vi lai
Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc điện lai lai vãng
 Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
Bách tính âu ca thiền vũ dạ
Cửu châu hoa thảo mã (?) liên đôi
Thử hồi nhị ngũ thiên chu tống
Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi.


 
XXIII






Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
Tứ phương binh khởi tứ phương cường
Tây dương cảnh giới tây dương chủ
Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
Thái lĩnh long phi thục cảm đương


XXIV


Có thơ rằng





1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh (tr.65)
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đề dương cước anh hùng tận
4- Thân Dậu niên lai kiến thái bình .


XXV


Thơ rằng





1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
 
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
8.Kim tịch sinh Ngưu lang
9- Bắc hữu kim thành tráng
10- Nam tạc ngọc bích thành
11- Hoả thôn đa khuyển phệ
12- Mục giã dục nhân canh
13- Phú quý hồng trần mộng
14- Bần cùng bạch phát sinh
15- Anh hùng vương kiếm kích
16- Minh cổ đổ thái bình .


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 01:25:43 AM
(tt)

XXVI

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ trung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
 
25- Tô truyền nhi thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ
34- Hoàng thiên chu ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quần dương tranh hùng
37- Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào Tiềm, xử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y chu
48- Chư cơ phục kiến, đường ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành
Tên treo ba mối phục thù (tr.68)
55- Khen thay Khắc Dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về.





Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba que cuộc tàn
Trời nam trở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng dao đã có câu rằng

57- Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sấm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu dám chống thư sinh
Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 12:01:57 PM

(tt)

BẢN IV * ANH PHƯƠNG 1960  ?

SẤM TRẠNG TRìNH
Hoàng Xuân sưu tập Anh Phương Saigon, 1960? tr.29-58


SẤM TRẠNG TRÌNH THỜI TẬP CỦA VIÊN LINH, SAIGON,1973

CẢM ĐỀ

1.Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi. Cơ tạo hóa,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói tỏa,
Mặt nước cánh buồm trôi.
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời. Tuổi già thua kém bạn,
Văn chương gởi lại đời.
Dở hay nên tự lòng người cả,
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời.
 
Bí truyền cho con cháu,
14. Dành hậu thế xem chơi.

SẤM KÝ


1. Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Ðinh, Lê, Lý, Trần thưở trước.
Ðã bao lần ngôi nước đổi thay,
Núi sông thiên định đặt bày,
Ðồ thư một quyển xem nay mới rành.

Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành,
Ðông A nhật xuất,
10. Dị mộc tái sinh.
Chấn cung xuất nhật,
 Ðoài cung vẩn tinh.
Phụ nguyên chì thống,
 Ðế phế vi đinh.
15.Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.

Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
Hòa đao mộc hồi dương sống lại,
20.Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương, (1)
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

 Lê tồn Trịnh tại,
Trịnh bại Lê vong.

25.Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng.
(2) Hà thời thạch mã độ giang,
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.
Chim bằng cất cánh về đâu ?
30.Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công
(3) Bao giờ trúc mọc qua sông, (4)
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.
Ðoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.


35.Ðầu cha lộn xuống thân con,(5)
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
 
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi, (6)
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chinh chích u mê,
40.Thập trên tứ dưới nhất đề chữ tâm.(7)
Ðể loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
 Gia đình một ở ba đi dần dần.
45.Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gởi nơi đâu chuyến này.


Kìa kìa gió thổi lá rung cây, (8)
Rung Bắc rung Nam Ðông tới Tây.
Tan tác Kiến kiều An đất nước.
50.Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây.
Lâm giang nổi sóng mù Thao cát,
Hưng địa tràn dâng Hóa nước đầy.
Một ngựa một Yên ai sùng Bái ?
 Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 12:08:06 PM
(TT)

55.Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Ðồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.(9)
Giữa năm hai bảy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây. (10)
Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
60.Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
Ngựa đã gác yên không người cỡi,
Dê khôn ăn lộc ngoảnh về Tây.
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
Gà kia vỗ cánh trập trùng bay,
65.Chó nọ vẩy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
 Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
Chữ rằng lục thất nguyệt gian,
70.Ai mà giữ được mới nên anh tài.
Ra tay điều đỉnh hộ mai,
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
75.Phá điền than đến đàn dê,
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng,
Dê đi dê lại tuồn luồn.
Ðàn đi nó cũng một môn phù trì.
 
Thương những kẻ nam nhi chí cả,
80.Chớ vội sang tất tả chạy rong,
Học cho biết chữ cát hung,
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi.
Hể trời sinh xuống phải thì,
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.
85.Kìa những kẻ vội lòng phú quí,
Xem trong mình một tí đều không.
 Ví dù có gặp ngư ông,
Lưới giăng đâu dể nên công mà hòng.
Khuyên những đấng thời trung quân tử,
90.Lòng trung nghi nên giữ cho minh.
Âm dương cơ ngẩu hộ sinh,
Thái nhâm, thái ất mình cho hay..
Chớ vật vờ quen loài ong kiến,
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.


95." Ô hô thế sự tự bình bồng,(11)
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch,
Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
100.Ngưu xuất Lam điền nhật chính Ðông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong
"


Ngõ may gặp hội mây rồng,
Công danh rạng rở chép trong vân đài
105.Nước Nam thường có thánh tài,
Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường ?
 So mấy lề để tàng kim quỹ,
Kể sau này ngu bỉ được coi,
Ðôi phen đất lở cát bồi,
110.Ðó đây ong kiến dậy trời quỷ ma.
Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.
Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
Ðợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần.


115.Hoành sơn nhất đái,(12)
Vạn đại dung thân.
Ðến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
 
120.Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.


Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.
Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
 Ai mà tìm thấy mới là thần minh.
125.Uy nghi dung mạo khác hình,
Thác cư một góc kim tinh phương Ðoài.
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân.
Binh thư mấy quyển kinh luân,
130.Thiên văn, địa lý, nhân dân phép mầu.
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường,
135.Thông minh kim cổ khác thường,
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.
 Ðấng hiên ngang nào ai biết trước,
Tài thao lược yêm bác vũ văn.
Ai còn khoe trí khoe năng,
140.Cấm kia bắt nọ hung hăng với người,
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lại mồng gá vạ cho dân.
Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.
145.Ðã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán,
Lại đua nhau quần thán đồ lê.
Chức này quyền nọ say mê,
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương.
Kẻ thì phải thuở hung hoang,
150.Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình.

Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn.
Trực đáo dương đầu mã vĩ,
Hồ binh bát vạn nhập Trường An
.


155.Nực cười những kẻ bàng quan,
Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
 Lại còn áo mũ xum xoe,
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.
Ghê thay thau lẫn với vàng,
160.Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
Thành ra tuyết tán mây tan,
Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
 
Can qua việc nước tơi bời,
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân.
165.Oai phong khấp quỷ kinh thần,
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.
Rừng xanh núi đỏ bao la,
Ðông tàn Tây bại sang gà mới yên.
 Sửu, Dần thiên hạ đảo điên,
170.Ngày nay thiên số vận niên rành rành.


Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.



175.Sự đời tính đã phân minh,
Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau :
Ðầu thu gà gáy xôn xao,
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.
Chó kêu ầm ỉ mùa Ðông,
180.Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi.
Lợn kêu tình thế lâm nguy.
Quỷ dương chết giữa đường đi trên trời..
 Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi,
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra.
185.Hùm gầm khắp nẻo gần xa.
Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời,
 Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng,
Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng,
190.Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.

Chín con rồng lộn khắp nơi,
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu.
Lời truyền để lại bấy nhiêu,
Phương Ðoài giặc đã đến chiều bại vong.
195.Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
Ðến khi ngộ biến đường trong giữ mình.

Ðầu can võ tướng ra binh,
Ắt là trăm họ thái bình âu ca.
Thần Kinh Thái Ất suy ra,
200.Ðể giành con cháu đem ra nghiệm bàn.
Ngày thường xem thấy quyển vàng,
 Của thiên bảo ngọc để tàng xem chơi.
Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân.



(CT)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 12:17:56 PM
(tt)

205.Kể từ đời Lạc Long Quân,
 Ðắp đổi xoay vần đến lục thất gian.
Mỗi đời có một tội ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình.

Phú quí hồng trần mộng,
210.Bần cùng bạch phát sinh.
Hoa thôn đa khuyển phệ,
Mục giả dục nhân canh.

Bắc hữu Kim thành tráng.
Nam hữu Ngọc bích thành,
215.Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu xuất Ðông chinh,
 Bảo giang thiên tử xuất,
Bất chiến tự nhiên thành.

Rồi đây mới biết thánh minh,
220.Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
Nhị hà một dãi quanh co,
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào.
Khắp hòa thiên hạ nao nao.
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng ?
225.Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
Ðám quỷ kia xuôi ngược đến đâu ?
Bấy lâu những cậy phép mầu,
Bây giờ phép ấy để lâu không hào..


Cũng có kẻ non trèo biển lội,
230.Lánh mình vào ở nội Ngô, Tề.
Có thầy Nhân Thập đi về,
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.
 Những người phụ giúp thánh minh.
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.


235.Phùng thời nay hội thái lai,
Can qua chiến trận để người thưởng công.
Trẻ già được biết sự lòng,
Ghi làm một bản để hòng dở xem.
 Ðời này những thánh cùng tiên,
240.Sinh những người hiền trị nước an dân.
Nầy những lúc thánh nhân chưa lại,
Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
Khuyên ai sớm biết khuông phù,
Giúp cho thiên hạ Ðường, Ngu ngõ hầu
245.Cơ tạo hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
 
Thấy sấm từ đây chép vào,
248.Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

**********************************


SƠN    TRUNG
sưu tập, hiệu đính và chú thích.



Bài này được truyền tụng nhiều, là bản A của trường Viễn Đông Bác cổ nay là Thư Viện Khoa Học Xã Hội Hà Nội. Tôi chưa xem bản chữ Nôm cho nên không rõ bản này có từ đời nào và so với bản quốc ngữ có khác nhau không. Và bản quốc  ngữ có do ai bịa ra đọan nào.

Tại Sài gòn có bản in của Hoàng Xuân sưu tập, Anh Phương xuất bản trong khoảng 1960, và Thời Tập. Không biết trước đó có bản quốc ngữ nào không?



Từ câu 1 đến 16 là nói tổng quát, sau đó là nói rõ từng thời kỳ. Bắt đầu nói về nhà hậu Lê của Lê Lợi. Đời Lê mạt, chiến tranh liên miên.

(1). Biện lại vi vương: Nguyễn Nhạc làm biện lại: Nhà Tậy Sơn nổi lên, chiến tranh liên miên.

(2). Lê tồn Trịnh tại,
Trịnh bại Lê vong.
..Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang,
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.


Trịnh Khải bị Tây Sơn giết, họ Trịnh mất thì nhà Lê cũng mất theo. Khi Trịnh Khải xuất bôn, qua làng Vĩnh Lại, kêu gọi cần vương, những ai giúp công giúp của đều được ban quận công cho nên cả làng Vĩnh Lại được phong quận công.

(3).Chim bằng cất cánh về đâu ?
30.Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công .

Nói việc Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh bị giết.

(4). Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

Chưa rõ là gì.

(5). .Ðầu cha lộn xuống thân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Nói về nhà Tây Sơn vì vua Quang Trung , chữ Quang có ba nét trên đầu光 nhưng đến con là Cảnh Thịnh, chữ Cảnh景 có ba nét giống đầu chữ Quang mà lại nằm dưới. Nhà Tây Sơn tồn tại trong 14 năm kể từ 1788 là năm Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế đến năm 1802 nhà Tây Sơn bị diệt vong, Nguyễn Ánh lên ngôi. Nếu kể từ năm Tân Mão (1771), Tây Sơn khởi nghĩa cho đến
 1801 thì 31 năm.



(6).Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.

Nguyễn Ánh tin vào Pháp ( người Tây dương, dương là bể, dương cũng đồng âm với dương là dê , dê chỉ người Pháp) cho nên sau mất nước vào tay Pháp.


(7). Dục lòng chinh chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đề chữ tâm.
Ðể loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
Gia đình một ở ba đi dần dần.

Nói vua Tự Đức 嗣德 ( thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm là chữ 德 chỉ vua Tự Đức) và sau đó Dục tông (Dục Đức 育德) để cho Pháp ( bạch quỷ) xâm chiếm Việt Nam. Sự thật thì ta yếu địch mạnh phải thua mặc dù vua quan đã hết sức chiến đấu. Gia đình một ở ba đi dần dần là nói việc sau khi vua Tự Đức băng, ba vị vua nói tiếp bị phế và bị giết là Dực Đức, Hiệp Hòa, và Kiến Phúc . Vua Hàm Nghi lên ngôi sau chống Pháp bị đày.

(8). Câu 47-54

Kìa kìa gió thổi lá rung cây,
Rung Bắc rung Nam Ðông tới Tây.
. . . . . . . . . .
Một ngựa một yên ai sùng bái ?
Nhắn con nhà Vĩnh bảo cho hay.

Nói việc Nguyễn Thái Học khởi nghĩa và VNQĐ bị tàn sát.



(9).Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Ðồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua..

Cộng sản nổi dậy năm 1930 tại Nghệ An ( Sô Viết Nghệ Tĩnh)

(10).Giữa năm hai bảy mười ba, Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

Đầu năm 1934, âm lịch có hai tháng bảy thành ra có 13 tháng, Toàn quyền Pasquier ( Bát Kê :Tám Gà) bị cháy máy bay mà chết.


(11)." Ô hô thế sự tự bình bồng,
 Nam Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch,
Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Ðông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong .


Bao giờ đường sắt được thông thương?

Sau 1945, cộng sản phá cầu đường, thiết lộ bị phá hủy. Sau 1954, miền Nam khôi phục xe lửa trong Nam. Mãi đến sau 1975, đường săt mới thông suốt.

Lúc này thì Hồ Chí Minh (1890 – 1969) đã chết mà Mao Trạch Đông (1893 – 1976 ) cũng không còn (Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch).Lúc này cũng xảy ra cuộc hải chiến ở Trường Sa, Hoàng Sa giữa quân Trung Cộng và VNCH (Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng). Hoặc sắp tới có hải chiến tại biển Đông? Và Mỹ Trung Cộng sẽ đánh nhau ( Ưng lai sư tử thượng: Ưng là Mỹ, Sư tử: Trung Quốc), lúc đó Việt Nam và thế giới mới hòa bình.

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong .


(12).Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân.
Ðến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.


Hoành sơn nhất đái nói về họ Nguyễn xưng vương xưng đế nhưng đến thời Cộng sản ( vô quân) thì họ Nguyễn cáo chung. ThậT vậy, năm Ất Dậu (1945), vua Bảo Đại thoái vị.
 



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 12:27:40 PM
(tt)

BẢN V * TRỊNH VĂN THANH 1966


CẢM ĐỀ

Nguyễn Bỉnh Khiêm

1- Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
Cơ tạo hoá
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gửi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Nghiên bút soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi.


SẤM KÝ


15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành


21- Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A xuất nhập
 Dị mộc tái sinh.


25- Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Phế đế vi đinh.


29- Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.


33- Hoà đao mộc hồi dương sống lại
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.


37- Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang.
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.


43- Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.


47- Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.


51- Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chim chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.


55- Để loại quỷ bạch Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly
 Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy
 
Gia đình một ở ba đi dần dần.
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.


61- Kìa kìa gió thổi lá rung cây
 Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây
Tan tác Kiến kiều An đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây.
65- Lâm giang nổi sóng mù Thao cát,
Hưng địa tràn dâng Hóa nước đầy.
Một ngựa một Yên ai sùng Bái?
Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay.



69- Tiền ma bạc quỷ trao tay
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.


73- Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay,
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.


77- Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.


81- Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hùng biết đấy mới ngoan.
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian
Ai mà giữ được mới nên anh tài.


85- Ra tay điều độ hộ mai
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.


89- Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuồn luồn
 
Đàn đi nó cũng một môn phù trì


93- Thương những kẻ nam nhi chí cả
Chớ vội sang tất tả chạy rong
Học cho biết chữ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.


99- Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng.


103- Khuyên những đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi nên giữ cho mình
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.


109- Ô hô thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.
113- Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.


117- Ngỡ may gặp hội mây rồng
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 09, 2014, 12:30:35 PM
(tt)

121- So mấy lề để tàng kim quỹ
Kể sau này ngu bỉ được coi
Đôi phen đất lở, cát bồi
Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma


125- Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
 
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.


129- Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.


133- Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung
Thiên sinh hữu nhất anh hùng
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.


137- Thái Nguyên cận Bắc đường xa
Ai mà tìm thấy mới là thần minh
Uy nghi dung mạo khác hình
Thác cư một góc kim tinh non đoài


141- Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu


145- Xem ý trời ngõ hầu khải thánh
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai
Song thiên nhật nguyệt sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường


149- Thông minh kim cổ khác thường
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài
 Đấng hiên ngang nào ai biết trước
Tài lược thao uyên bác vũ văn
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.


155- Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Chốc lại mòng gá vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?


159- Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán
Lại đua nhau quần thán đồ lê
 
Chức này quyền nọ say mê
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thuở hung hoang
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình


165- Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An



169- Nực cười những kẻ bàng quan
Cờ tan lại muốn toan đường chống xe
Lại còn áo mũ xun xoe
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.


173- Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.


177- Can qua, việc nước bời bời
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân
Oai phong khấp quỷ kinh thần
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca


181- Rừng xanh, núi đỏ bao la
 Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên
Sửu Dần thiên hạ đảo điên
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.


185- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình


189- Sự đời tính đã phân minh
Thanh nhàn mới kể chyện mình trước sau
Đầu thu gà gáy xôn xao
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.


193- Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi
 
Lợn kêu tình thế lâm nguy
Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời


197- Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẽo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.


201- Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời


205- Chín con rồng lộn khắp nơi
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu
Lời truyền để lại bấy nhiêu
Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
211- Đầu can Võ tướng ra binh
Ắt là trăm họ thái bình âu ca
Thần Kinh Thái Ất suy ra
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn


215- Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi
Bởi Thái Ất thấy lạ đời
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân


219- Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chung nhà nước dân an thái bình


223- Phú quý hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Hoa thôn đa khuyển phệ
Mục giã giục nhân canh
Bắc hữu Kim thành tráng
Nam hữu Ngọc bích thành
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
 
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành


233- Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò
Nhị Hà một dải quanh co
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nao nao
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?


239- Nói đến độ thầy tăng mở nước
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào


243- Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề
Có thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh


247- Những người phụ giúp thánh minh
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai
Phùng thời nay hội thái lai
Can qua chiến trận để người thưởng công


251- Trẻ già được biết sự lòng
Ghi làm một bản để hòng giở xem
Đời này những thánh cùng tiên
Sinh những người hiền trị nước an dân


255- Này những lúc thánh nhân chưa lại
Chó còn nằm đầu khải cuối thu
Khuyên ai sớm biết khuông phù
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.


259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.


Trịnh Văn Thanh.Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) - Sài Gòn – 1966



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 12:55:58 AM
(tt)

BẢN VI


* MINH ĐIỀN 1948



SẤM TRẠNG TRÌNH



Cư Sĩ Minh Điền
Xuất Bản tại Saigon năm Mậu Tí 1948.


 


LỜI NÓI ĐẦU



Vì sao có quyển sấm nầy ra đời ? - Không dám vọng ngữ , quyển sấm nầy cần phải ra đời vì nó quý báu bằng tất cả kho tàng của một nước Đại Việt và hơn nữa, đã đến giai đoạn cần thiết của thời cuộc hiện tại mà lời sấm đã ghi đúng đắn từng li từng tí mỗi một cuộc biến cố xảy ra trong nước.

Bắt đầu từ Cổ Am bị tàn phá cho đến ngày lịch sử Cách Mạng Tháng 8, kế đến giai đoạn Hoàng Đế Bảo Đại về nước, mỗi mỗi đều nhốt tất cả trong 487 câu thơ mà Đức Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, với một bầu tâm sự đầy nhiệt huyết nhả ngọc phun châu cho vạn cổ anh hùng suy nghiệm.
 

Hởi các chí sĩ anh hùng trong thiên hạ ! Chớ nên quá ư căn cứ vào khoa học mà chê những truyện sấm giảng là hoang đường, vì có những sấm giảng thật và sấm giảng giả .Hoang đường là lời nói vu vơ, ảo mộng không biết bao giờ xuất hiện như lời đã nói. Còn quyển sấm nầy viết từ 400 năm nay mà mỗi mỗi đều ứng nghiệm ngoài đời thực tế cho đến những cái tên riêng của những người chủ trương trong mấy phong trào quá khứ, hiện tại và vị lai cũng đều ứng nghiệm ghi rõ .

Nó là môn khoa học huyền bí vì Trạng chuyên môn lý số nhờ ở bộ " Thái Ất Thần Kinh " mà ghi chép ra chứ nó đâu phải ngất ngưởng như bóng với đồng. Nếu không phải khoa học, sao cụ lại được tặng câu " An Nam lý học hữu học Trình Tuyền " của Tàu là một nước bao giờ cũng tự hào rằng mình cao hơn hết về khoa lý số.

TỰU TRUNG :

Cũng vì lòng từ bi, bác ái mà đức Trạng có quyển sấm nầy ra cốt để cho các vị trượng phu anh hùng xem lấy mà tránh cái nạn cốt nhục tương tàn.

Cũng vì lòng yêu nước thiết tha mà Đức Trạng có quyển sấm nầy ra là cốt để cho trong tôn giáo, ngoài xã hội xem lấy biết nẻo tôn phò " lòng trung nghì ai nhớ cho tinh " và cũng vì lòng hiếu kỳ mà soạn giả khởi đọc quyển sấm nầy hồi 1930 sau cuộc biến động Cổ Am do Quốc Học Tùng San xuất bản. Soạn giả cũng không nệ hà tài hèn hiến cho bạn đọc những đoạn dịch chánh bản và phụ trương mong rằng thích đúng trong muôn một.

Viết ở Sài-Thành mùa đông năm Mậu Tí 1948.

Cư Sĩ MINH ĐIỀN



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:00:06 AM
(tt)

PHẦN THỨ NHẤT


Dục thức thánh nhân xứ
Đa xuất ứng Bảo giang
Dục thức thánh nhân hương
Thủy lam bảo trung tàng
Dục thức thánh nhân tính
Mộc hạ liên đinh khẩu
Dục thức thánh nhân diện
Tu tẩm trương cú kiến
Giang nam nhị thủy huyện
Tại sơn vô hổ lang
Thất thập nhị hiền tướng
Phụ tá thánh quân vương
 
Phá điền thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành.

.........................
.........................


Tư tâm dục thức thánh nhân diện
Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
Thủ túc chánh vương tam lương tự.



PHẦN THỨ HAI


Cuộc đời ai dễ biết đâu
Yêu tinh gian trá bóp hầu thần tiên
Quan làng ỷ thế ỷ quyền
Dân khôn giả dại mới yên phận mình
Mặc ai chia rẽ thị khinh
Việc làng việc nước làm thinh chớ bàn
Ta tin ta mới đặng an
Luận bàn bè bạn chỉ đàng cho nhau
Việc người thì mặc người âu
Nghiêng tai giả điếc lắc đầu làm ngơ
Muốn yên mồn lặng như tờ
Luận bàn việc nước thì khô xác hình
Bởi đời quốc thể bù nhìn
Quan làng tàn bạo sanh linh tơi bời
Lương dân than khổ đòi nơi
Quốc hồn mờ ám hởi ôi thế quyền
Nước nhà nghiêng ngửa ngửa nghiêng
Tham quan hại nước lợi riêng cho mình
Biết chi là ám với minh
Sớm ưa trưa ghét dân tình đời ni
Kim tiền quyền thế tương tri
Không quyền không thế người khi ngu đần
Chớ hà hiếp nhớ siêng cần
Đến nơi Tiên Phật Thánh Thần mới an
Nghèo nàn bổng chốc giàu sang
Đứa ngu đội bạc ra đường dại khôn
 
Bởi đời toàn lũ vô hồn
Khinh khi nhân nghĩa trọng tôn bạc tiền
Dốt ngu đội lốt Thánh Hiền
Mở miệng thì rặc đồ điên một dòng
Chừng nào cây sắt trổ bông
Đường đen như mực Lạc Hồng tai phi
Trung thần ái quốc dễ khi
Phản thần mãi quốc nên ghi để đời
Thức thời quốc sử bỏ rơi
Ngay không nhầm lúc dĩ hơi hại mình
Vô quân vô tướng vô binh
Trung không cùng chúa cúng kinh ích gì
Chừng nào lú mọc trên chì
Voi đi trên giấy đến kỳ Đông Chu
Trí thời giả điếc giả ngu
Khôn thời giả dại mà tu lấy mình
Cầm quyền toàn lủ yêu tinh
Quan nhiều Mảng Tháo cùng sinh hại đời
Mua quan bán tước lấy lời
Hại dân hại nước coi trời như không
Bì trung cốt nịnh rặc ròng
Kết phe kết đảng giết giòng phải nguy
Nồi da xáo thịt ngộ thay
Miễn mình béo bở mặc ai ốm gầy
Cáo kia mượn thế hại cầy
Mẹ cha ưa nịnh ghét bầy con ngu
Động tâm Thượng Đế dạy ru
Xuống nhiều tai họa xuân thu sửa lần
Gió sầu mưa thảm cõi trần
Thiên luân địa chấn quân thần nó xem
Canh tân sực nức mùi hèm
Mhâm quý bằng lặng ngoại binh đem vào
Giáp thời thấy rõ binh đao
Ất niên chiến họa xâm vào tràn lan
Thiên tai chiến sự đa đoan
Quốc gia nghiêng ngửa tham quan hại đời
Phản thần bán nước khi trời
Gọi rằng trung trực hởi ôi thế quyền



Nhứt hữu liên sơn nhứt hữu bình
Tam giang khí địa nhụ giang kinh
Tu châu tai lạc thế châu khổ
Ngu lại hườn chung khổ hại mình

 



Xác dân xung tận cung đình
Thiên oai chấn nổ luật hình ban ra
Mười phần mất bảy còn ba
Mất hai còn một mới ra thái bình
Trục kia chọi với đồng minh
Hai sông khô cạn nhựt tinh tỏ ngời
Ra oai đánh dẹp mọi nơi
Năm châu bốn bể thây phơi chập chùng
Mùa xuân gió bấc lạnh lùng
Cua kình trở gọng về cùng lũ dê
Cuộc đời như thể trò hề
Nực cười lũ chó còn mê lợi quyền
Sình ương khó nướng xào chiên
Quốc gia nghiêng ngửa đảo điên bốn bề
Ra đi thì khó nỗi về
Xe kia hết bánh thả rề sông trôi
Chừng nào Chợ Lớn hết vôi
Bề Đông cá đặt cuộc đời lao đao
Lò rèn thiếu thép rèn dao
Hết đồng đúc đỉnh hết thau bán nồi
Chợ đen vốn một lời mười
Gạo châu củi quế lời người than van
Vải bô giá sánh bằng vàng
Kẻ đói người rách lan tràn chợ quê

*** 
Tiết trời đánh đổ bông huê
Nhân dân phải chịu thảm thê họa sầu
Theo Âu nên phải lo âu
Mấy ai hiểu nghĩa Bá Di-Thúc Tề
Khỉ đàn vừa gặp lũ dê
Bắc trung phải chịu thảm thê họa đầu
Đại bàng xung phá đài lầu
Ngạc ngư phóng toát thuyền cầu tan hoang
Rồi Nam cũng chịu lầm than
Phương đông ba tỉnh phải mang họa sầu
Trớ trêu cảnh sắp nhiệm mầu
Phồn hoa đô hội thảm sầu đớn đau
Cuộc đời gẫm thiệt cơ cầu
 
Trung thua quyền nịnh tiên hầu quỉ ma
Khỉ đàn gặp cặp mảng xà
Trăng tròn thiếu một thì ta xuống hầm
Yêu đương cũng phải lạc lầm
Sáu nơi khói lữa sấm gầm Sài môn
Nghèo nàn không có quách chôn
Gian tham quyền thế biết khôn lánh rồi
Nhưng mà họa có đâu thôi
Bồng con bế cái nổi trôi đầy đàng
Đến hồi quốc vận lâm nàn
Chi tiêu ăn mặc cường quan độc quyền
Càng ngày càng đảo càng điên
Dân ta như thể đàn chiên đánh vồn
Ô hô giống khéo giống khôn
Vay thời phải trả xác hồn lìa xa
Thịt rơi xương nát máu sa
Thầy tăng chẳng chịu ở nhà phù tang



Sưu cao thuế nặng ta mang
Đàng xa mới biết xa đàng nặng cân
Thân dậu lánh việc nương thân
Miên thành Sài trấn đến gần bỏ thây
Khỉ bầy bị một gà khi
Cuộc đời như vậy tham chi mà bòn
Gà mừng gặp lúa túc con
Miễn con no dạ mất còn kể chi
Cái năm chiến họa loạn ly
Mưa to gió họa hại gì tham quan
Nhơn dân khốn khổ đa đoan
Mọi điều khốn khổ lại càng bằng hai
Tu hành hiền hậu chết hoài
Sai ngoa gian trá sống dai chật đàng
Cơ trời định vậy chớ than
Tương vong yêu nghiệt hành tàng đấy ư !
Đầu xuân gà gáy hăm tư
Thầy tăng đến hạn họa trư tuyệt kỳ


Thiên cơ máy tạo huyền vi
Tuần hườn máy tạo ai thì có hay
Nực cười cho lủ vô tài
 Tôi tôi chúa chúa hôm mai Sở Tần
Xuân phân cho đến thu phân
Quốc gia điên đảo thần dân rối nuồi
Buồn buồn tủi tủi vui vui
Tiếng thì để tiếng muốn lui lắm lần
Rồi đây bày tỏ trung cang
Trời cho Tiên Phật xuống trần trị yêu
Văn minh cơ khí đủ điều
Cọp đồng gấu sắt phi phiêu thủy hành
Phong luân họa giáng lôi oanh
Kết phe lập đảng tranh giành thế ni
Năm châu nổi sóng một khi
Chuồn bay khói tỏa tử thi như bèo
Mưa dầu nắng lửa sấm reo
Hai loài xâu xé họa gieo dân lành
Đảng dân đại bại tan tành
Cầu cùng đảng Cộng ra tranh chiến cùng
Tu binh mãi mã chiêu hùng
Núp lưng đảng cộng trung hưng nước nhà
Rồi sau sanh sự bất hòa
Lại cùng đảng cộng can qua chiến trường
Non cao bể cả đôi đường
Phân ranh biên giới tỏ tường mới an
....


Vầng hồng rọi khắp bốn phang
Tây phang cuốn gió tìm đàng đào vong
Bập bồng Tần quốc bập bồng
Là nơi chiến địa huyết hồng tràn lan
Hải hồ rửa máu nghỉ an
Tiền Âu hậu Á Thiên Hoàng định thu
 
Thân gà dạ khỉ đấy chừ
Thì là ngọn lửa mới thu dịu lần
Kỳ phang thay đổi cuộc trần



CHÓ kia GẶP CHỦ nó cần sủa tru
UÂN MINH dân sự ôn nhu
HEO kia THONG THẢ ngao du đầy đàng
CHUỘT mừng gặp cảnh BÌNH AN
TRÂU kia THONG THẢ nghênh ngang đồn điền
CỌP rày LÀM CHÚA lâm điền
QUÂN THẦN CỘNG LẠC MIÊN MIÊN CỬU TRƯỜNG.





TRẦN CÔNG nãi thị phúc tâm
GIANG HỒ XỬ SĨ ĐÀO TIỀM XUẤT DU
Tướng thần hệ xuất Y CHU
Thứ ky PHỤC KIẾN ĐƯỜNG NGU thi thành
Hiệu xưng THIÊN HẠ THÁI BÌNH
487.ĐÔNG TÂY VÔ SỰ NAM THÀNH QUỐC GIA.












Thiên cơ máy tạo huyền vi
Tuần hườn máy tạo ai thì có hay
Nực cười cho lủ vô tài
Tôi tôi chúa chúa hôm mai Sở Tần
Xuân phân cho đến thu phân
Quốc gia điên đảo thần dân rối nuồi
...
 
 

KHẢO DỊ


Ngày nay bản Minh Điền có khác vài điểm .

1. Một độc giả cho biết phần I và II của bản này là ở phần Phụ trương của Minh Điền.

Phần I . 

Dục thức Thánh nhân xứ
Đa xuất ứng Bảo Giang, ........   


Phần 2:
Cuộc đời ai dễ biết dâu,
Yêu tinh gian trá bóp hầu thần tiên,
Quan làng ỷ thế ỷ quyền,
Dân khôn giã dại mới yên phận mình,
Măc ai chia rẽ thị khinh,
Việc làng việc nước làm thinh chớ bàn,
Ta tinh ta mới dặng an,
Luận bạn bè bạn chỉ đàng cho nhau,
Việc người thì mặc người âu,
Nghiêng tai giả điếc lắc đầu làm ngơ
Muốn yên mồm lặng như tờ,
Luận bàn việc nước thì khô xác hình . . .


Ông bạn cũng cho biết bản Minh Điền cũng tam sao thất bản, tôi không rõ là do chép tay hoặc in đi in lại mà ra thế!

Các bản đều có câu kết giống nhau:

Hiệu xưng THIÊN HẠ THÁI BÌNH
ĐÔNG TÂY VÔ SỰ NAM THÀNH QUỐC GIA.


Theo Phạm Đăng Quế, bản Minh Điền có 487 câu, chỉ có 22 câu giống bản Mai Lĩnh từ câu 374 đến 431, còn lại là khác hoàn toàn. Ông đã trích 50 câu đầu và 30 câu cuối của Mai Lĩnh thì thấy 80 câu này hai bản giống nhau. Tôi chỉ có bản sao của Minh Điền nhưng không có bản chính nên không rõ sự thực như thế nào.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:03:25 AM
(tt)


BẢN NÔM NGUYỄN VĂN SÂM

* SƠN TRUNG PHIÊN ÂM



古庵先生讖歌文

Cổ Am Tiên Sinh Sấm Ca Văn


SẤM TRẠNG TRÌNH

Sơn Trung phiên âm và chú thích

***

1. Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đảo sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho

5. Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy

10. Truyền hậu thế ai nấy xem cho

Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người.
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên

15. Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân

20. Lê Hành (1) kế vị xa gần âu ca.

Truyền đã được mười ba năm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân

25. Chiều Hoàng là ả nữ quân
Mê về nhan sắc trao Trần Thái Tôn
Mười hai đời một lòng nhân hậu.(2)
Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền

30. Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam.

Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia

35. Mười đời ngồi ngự ngai vàng
Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh sư.
Xưa làm lực sỹ đô du
Trời cho nên trị làm vua một đời.
Sáu mươi năm bất tái hồi

40. Tống Sơn chốn ấy có đời Thạch công (3)
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
Tây Sơn sùng sục kéo ra

46. Nghiệm xem thế tục gọi là phương ngôn. (4)

***


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:05:40 AM

(tt)

 Phần sau đây là các bài thơ, người chú giải xin đánh số để tiện khảo cứu
 

Bài thơ số I

Thơ rằng:

Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong.
Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
Kẻ sau này ngu Trịnh được lâu


Bài thơ số II

Lại có thơ rằng:


Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong (5) huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi.

 
Bài thơ số III

Ngạn lại có câu rằng:

Gà bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no ủn ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại giết dê
Tới khi thực tận binh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao!
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh,
 
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…


*Bài thơ số IV



Có thơ rằng:


Dần Mão chư dương giai vị cập
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diện trường ức vạn xuân.

Bài thơ số V



Có thơ rằng:


Hầu đáo kê lai khởi chiến qua
Thuỳ tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tràng vỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình.

(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:08:10 AM

(tt)

Bài thơ số VI


Có thơ rằng:


Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bạch Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
 
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi.



Bài thơ số VII


Thơ rằng: Ba Thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.


Bài thơ số VIII


Thơ rằng:


Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn

Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lọ phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi

Suy cho thấu biết sự đời
 Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa.



Bài thơ số IX


Thơ rằng: 

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A.

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề.


 
Bài thơ số X


Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng
6- Thiên hạ thái bình
 




(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:04:57 PM
(tt)

Bài thơ số XI



Thơ rằng:
 
Giang Nam nổi trận mạt thù
Bảy mươi hai tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận để người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem

Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời

Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không

Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng giục dân cày bừa

Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán
Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sẵn tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho

Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh dấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Bài thơ số XII
 

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhàn giãn dục dĩ chu nhi Tống
4- Phong nghỉ tung hoành  thị mạc vi


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:07:38 PM
(tt)

Bài thơ số XIII



Thơ rằng

Hạ huyền thượng đảo nhân vô thủ
Tài tận dân hao thế lực suy
Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
Kham tiếu không huyền tiệm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu Đông hải người tàn Bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông.

Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra

Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông

Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
 
Bõ khi kẻ việt người Hồ
Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi.

Tinh Thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình

Thấy đâu bò đái thất thanh
Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì.


 
Bài thơ số XIV


Thơ rằng:


Ghê thay thau lẫn với vàng,
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời.
Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.


CHÚ THÍCH:


(1). Nguyên bản viết Lê Hành, các bản phiên là Lê Hoàn
(2). Mười hai đời một lòng nhân hậu.Các bản thiếu câu này.
(3). Tống Sơn chốn ấy có đời Thạch công

Định mưu phù lập Trang Tôn: Nói việc Nguyễn Kim phò Lê Trang Tông.

 (4). Các bản phiên là hiệu chi.

(5). Chữ nôm là trung. Phải chăng là tung huê?
 


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:12:46 PM
(TT)

PHỤ LỤC I * BẢN NÔM PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ
 

SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH PHỤ LỤC

SẤM TRẠNG BÙNG

 
Lời nói đầu


Đây là bản nôm Phùng Thượng thư ký tìm thấy trong thư viện cụ Nghè Bân, người Hữu Bằng Sơn Tây. Bản chép tay này đã tồn tại hơn trăm năm, và đã 20 năm nằm trong tủ sách của tôi nay đem ra trình cùng bạn đọc. Điều này cho thấy nhiều người viết Sấm ký chứ không phải riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chúng tôi xin trình làng, sau sẽ phiên âm và chú thích.

Canada ngày 14 tháng 10 năm 2010.

Nguyễn Thiên Thụ



I. TIỂU SỬ TÁC GIẢ


Phùng Khắc Khoan 馮克寬 (1528-1613) sinh năm 1528 tại Phùng thôn (tục gọi là làng Bùng), xã Phùng Xá - huyện Thạch Thất - tỉnh Hà Tây. Thân phụ của Phùng Khắc Khoan là Phùng Quý
 
Công từng làm quan dưới triều Lê Sơ, là người tinh thông thuật phong thủy,. Ngay từ thủa nhỏ, ông đã tỏ ra thông minh, có khí chất. Lúc nhỏ ông ở nhà được cha dậy dỗ , đến năm 16 tuổi ông sang Hải Dương theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1552, ông đi thi ở đất Mạc chỉ đỗ Tam trường. Nhưng ông không làm quan cho nhà Mạc. Năm 25 tuổi, ông vào Thanh Hoá, giúp nhà Lê thực hiện công cuộc Trung hưng. Năm 1557, ông thi Hương ở triều Lê và đỗ đầu. Phùng Khắc Khoan được Trịnh Kiểm giữ lại và được giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều Lê - Trịnh. Sau đó, vì trái ý vua, ông bị đày ra Thành Nam, nay là xã Bồng Khê - huyện Con Cuông - Nghệ An. Sau đó ông được triệu về cho phục chức.

 Năm Canh Thìn 1580, ông tham dự khoa thi Hội và đỗ thứ hai. đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, tức là Hoàng giáp vào năm Quang Hưng thứ 3 (1580). Năm 1597, ông được cử làm chánh sứ dẫn đầu một sứ bộ sang triều Minh và cuộc đi sứ của ông đã thành công lớn. Ông được phong nhiều chức vụ quan trọng như Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu Tán trị Thừa chính sứ ty, Thừa chính các xứ Thanh Hóa, Tả thị lang bộ Công, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ.khi đi sứ Trung Quốc, ứng đối xuất sắc, nên được
vua nhà Minh đặc cách phong làm Trạng nguyên.

Mặc dù ông chỉ đỗ Hoàng giáp nhưng người đời quen gọi ông là Trạng Bùng. Sau đó, ông xin vễ trí sĩ tại quê nhà,.Ông mất ngày 24/9/1613, thọ 86 tuổi. Ông là một công thần có nhiều thành tích với nhà Lê trong công cuộc chống nhà Mạc Năm 1613, ông qua đời, thọ 86 tuổi. Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.(THỰC RA LÀ HỌC TRÒ)


TÁC PHẨM

+ Tập thơ Vạn thọ - viết trong thời gian ông đi sứ nhà Minh được hoàng đế nhà Minh là Minh Thần Tông cho khắc in để ban hành khắp cả Trung Quốc. Sứ thần Cao Ly là Lý Toái Quang (이수광/Yi Su-gwang) là người viết tựa cho tập thơ.
+Ngôn chí thi tập
+Lâm tuyền vãn
+Mai Lĩnh sứ hoa thi tập.



(CT)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:20:04 PM
(tt)

II. BẢN NÔM PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ

 (có đủ 16 trang  ảnh của những trang chữ Nôm gốc)

PHỤ LỤC II * PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ (PHIÊN ÂM)


PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ

(SẤM KÝ của quan thượng thư PHÙNG KHẮC KHOAN)



Phiên âm: Trương Quang Gia
Chú giải: Nguyễn Thiên Thụ
 
Ông Trương Quang Gia, hậu duệ của Trương Đăng Quế, đỗ Cao Học Văn Chương Việt Hán, trường Đại học Văn Khoa Saigon, tùng sự tại Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, mất năm 1996 tại Saigòn.


PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ

Thuận Đức niên hiệu (1)


1.Vận trung nguyên lấy năm canh tý (2)
Tiết Tiểu Hàn vừa thuở đông thiên. (Thập nhị nguyệt thượng tuần)
Hợi cung sửa việc cầm quyền,
Nhưng sửa một trận mới yên bốn bề.
 
5. Lộ lộ bóng thỏ nghiêng kề,
Chiêng vàng ló thấy vừa khi mặt rồng.
Tản lửa giăng che thái ất
Thuở tay xe nhật phù lên,
Lậu lậu ngọ chánh đương thiên,
10. Rạng soi thế giới sơn xuyên xa gần.
Vẹn nhà trạch ấm đượm nhuần,
Nghiêng thùng rượu cúc đòi tuần mời khuyên.
 Hợp bạn hiền những người tri kỷ,
Mở đồ xem luận lý xưa nay,
15. Những câu châu báu là hay,
Bằng dao chẻ nước bấy nay khôn tìm.
Vàng ấy cao giá dư ngàn,
Càng nhìn, càng thắm càng in càng màu.
Nếm mùi đạo gẫm lâu mới biết,
20.Tạc công lòng mở tiết mở không.
Ai hòa học được thần kinh
Ắt là gặp lối thánh minh tuần này.
Thánh hiền chén chuốc rượu say,
Nước vui bàng bạc vỗ tay reo cười.


25. Lại xem thấy sự đời thượng cổ,
Lạc Long quân là tổ nước ta,
Sửa sang bốn bể gần xa,
Làm vua Nam Việt khắp hòa đâu đâu.
Tuổi già hưởng được sang giàu,
30.Ngàn năm sức khoẻ trị lâu, ngôi dài.
Giản biên nói chưng đời ngoài
Kỷ luân chính thống mới kề từ Đinh.
Tiên hoàng tuổi còn phù sinh
Cờ lau tập trận dụng binh giữa đồng.
35.Ứng điềm từ thuở sang sông,
Ngang sông cao ngự hoàng long thụy lành.
Thiên thư đã định rành rành,
Mộc sơn đồng chữ tập tành nên câu:


39."Mộc căn đạp đạp,(3)
 Mộc biểu thanh thanh,
 Hòa đao mộc (4) lạc
Thập bát tử (5) thành
 Đông A (6) nhập địa
Dị mộc (7) tái sinh,
Chấn cung hiện nhật (8)
 
Đoài cung ẩn tinh (9)
Lục thất(10) nguyệt gian
Thiên hạ thái bình".


49. Một câu là một hữu tình
50. Đời đời nước có điềm lành đế vương.


Ra tay vỗ trị bốn phương
Đời đời nước có đế vương ở trời.
Hòa đao mộc lạc Lê dân
Thập bát từ thành họ Lý đổi thay.
55. Đông A nhập địa Trần danh,
Họ Trần từ đế đời tay Chiêu hoàng
Trên ngôi vẹn nghiệp Đào Đường,
Giúp tay rủ áo âu vàng đặt an.
Đất Lam sơn vua Lê Thái tổ,
60.Thiên giúp uy cây cỏ dụng binh,
Ấy là kỳ mộc tái sinh,
Ra tay giíp lại đế kinh vẹn toàn.
 Sửa sang tám cõi đều an,
Man di củng phục bể thuyền non cao.
65.Sự lạ thay chấn cung hiện nhật,
Bên đông phương giữa đất Cổ Trai
Thái tử bửu vị lên ngôi,
Thần kinh thoắt lại năm đời thánh minh.


Lại nói " Đoài cung ẩn tinh
70. Tây đô Trịnh thị đặc danh tướng tài.
Tướng tinh về ẩn phương đoài.
Tây đô chốn ấy tượng trời định vi
Quỷ ma chật vật đổi dời.
Bây giờ thiên hạ xem ngày bằng đêm.
75. Ngồi thấy những sương nghiêm tuyết lạnh
Loài cừ khôi cậy mạnh hung hăng.
Đua nhau làm sự bất bằng
Giết người lấy của nhung nhăng đã buồn.
Khoe khoang sức mạnh tài khôn,
80. Nào hay nhân nghĩa nào còn ái ân.
Chí toan mưu độc hại nhân.
Trên đầu chẳng hổ trời thần phủ che.
Những xưng xe phù Lê diệt Mạc
Cái oan gia người khác giết nhau.
 
85. Nào ai đã nhịn ai đâu,
Thủy chiến, bộ chiến mặc dầu sắm sanh.
Đêm ngày tập trận dụng binh,
Làm cho thiên hạ thương sanh hối lầm.
Chưa từng thấy cổ kim sự lạ,
90. Một đứa man giá họa muôn dân,
Cưu toan lòng độc dữ muôn phân.
Đua nhau quái độc muôn dân từ này.
Trăm họ ai chẳng chau mày,
Anh hùng ai chẳng cau mày lăng xăng.



95. Thư đường nhân thuở ngoài hiên,
Chép làm một tập để làm mai ngay.
Tân vị (11) thoáng ấy năm nay.
Truyền lên mây đã che rày về đông.
Nhật cung đoài khuyết giao long,
100. Năm hồ thuyền dạng ( rạng?) khảm cung tịnh đồng.



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 10, 2014, 01:30:37 PM
(tt)

Sấm ran tự bắc chí đông,
Đà giang nam mộc dưới dòng Nam kha.
Giang nam chốn ấy Vĩnh Gia,
Đà giang chốn ấy tên là Vĩnh Giang.
105. Côn sơn phủ đá thạch sàng ở trên.
Sau đền núi mọc bày ngang,
Bảy mươi hai núi ở liền,
Giang Nam là chốn thánh hiền tiên cung.
Ứng binh sửa trụ làm song,
110. Lò niên lọc thánh liễu trong ai ngờ.
Nối đời vương đế phen xưa,
Đường Ngu tam đại còn chờ đến nay.
Nho, Đạo, Thích cũng biết hay.
Học lấy trường học để nay anh dùng.

115. Ước gặp ông Lữ Thái công,
Cùng Trương Tử Phòng rạng che.
Giả làm thầy Sãi ông nghè,(11b)
Kẻ tôn người báng thị phi chẳng thường.
Dân quê chẳng biết đế vương,
120. Báng kia sàm nọ vua đâu đến mình.
Mặc ai ký ký quyền hành,
Miễn người đắc chi xin xin vui vầy.
Gặp thời, gặp thế, gặp người
 
Trời cho mới biết được hay sự tình.
125.Trung thu vọng nguyệt đêm thanh.
Ngưỡng lên trông thấy đẩu tinh giữa trời.
Bảng vàng chói chói các bày,
Kim ngưu , Hòang lận ở ngoài âm cung.
Trương đà tự bắc chí đông,
130.Cõi bờ vức vức phò không làu làu.
Nhiệm trao nhân thế biết đâu,
Nhân dân quý tiện nguồn sâu khôn dò.
Nhĩ hà nước chảy quanh co,
Tưởng rằng chốn ấy cố đô hoàng bào.
135. Muôn dân thiên hạ khát khao,
Cá cạn gặp nước ai nào chẳng mong.
Từ ông Phật tử dạy ra,
Hoàng giang chốn ấy ai từng bảo ai.
Tào Khê chốn ấy chẳng xa,
140. Ai ai đến đấy thực là đế vương.
Đến nơi thực biết tỏ tường
Tả biên bạch hạc thủy trường ức muôn.
Hũu biên tam đỉnh ngôi sơn
Ngàn oanh nước chảy áp đường mái sau.

145. Đại Lương số số chư hầu,
Vào ra ấp Vệ thánh quân giúp đời.
Tân quận khởi những Mậu Dần
Răn bảo người thế giữ thân cho lành.
Ngu dân chẳng biết sự tình,
150. Ngóng trông nào biết thánh quân đâu là.


Gặp thời có tuổi tác già,
Cũng tìm cho đến quốc gia giúp dùng.
Chu môn vinh hiển cao phong,
Muôn đời con cháu nối dòng cân đai.

155.Từ ngu chớ lấy xem chơi,
Dầu ai biết được gặp đời thánh minh.
Biết thời chẳng khá lộ trần.
Thánh ra trị nước, trị dân, trị đời.
Đại Minh, An Nam triều hội.

160. Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia.(12)



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 12:35:23 AM
(tt)

Thi vân: 

Một áng mây che quáng giữa trời,
165. Nhìn xem đàn trẻ đánh nhau chơi.
Chờ thấy thầy tăng ra mới được,
Bấy giờ Bạch xỉ (Sĩ ?)  mới ra đời.


Thi vân 

Ngũ thập tam đoài bách mộc khô,
Nguyệt tân ám thố tảo thành đô.
170.Song thiên thạnh mỹ sơn hà uế,
Nhất sĩ nghi hồ nhật nguyệt vô.(13)


Thị vân:

Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu tự đông chinh,
Bửu giang thiên tử xuất
175. Bất chiến tự nhiên thành.(14)


Thi vân:

Thiên khí thương thương địa khí hoành,
Nguyễn gia sanh đắc nhất nam lang.
Quốc quân thời chánh thiên hạ định,
 Nhất tịch thạnh sàng lập kỷ cương. (15)


180. Giang thái thủy hồng đa tài tật,
Lục nguyệt huỳnh hoặc tại sửu phương. (16)

Lão viên mẫm ngữ ca: Bổ thượng thi vân:

Ba góc ruộng, bốn người cày

185. Ngươi hãy cày, ta mạ (17) tranh.
Chữ thiên cơ trời tỏ định,
Đến câu lục thất thị thái bình.



Vận nay minh chánh tiết lành,
(Bản Sở Cuồng câu 1)
Thấy trong sấm ký tập tành nên câu.
190. Một câu là một nhiệm màu,
Anh hùng gẫm được mới hầu đứng cao.
Trải khắp sao che mây thái ất, (18)
Thuở tây cung xe nhật phò lên,

Việt Nam khởi tổ gây nền
 
195. Lạc Long ra trị đương quyền một phương

Thịnh suy bĩ thái chẳng thường
Một thời là một nhiễu nhương hằng lề.
Vua Ðinh tiên hoàng trong đời cửu ngũ
Mở bảng rủ áo chắp tay

200. Lê đao bỗng liền lại sinh.
Chấn cung nhật xuất đoài cung khoẻ phò.
Khôn chống trường thành bền cho.
Đoài cung vẻ rạng rừng thu,
Ra tay mở lấy đế đô vẹn toàn.


205. Tòa cửu thiên ám vừng hồng nhật
Dưới liền trên ăn vứt nhằm chân.
Sửa sang muôn việc cầm quyền.
Nằm nhưng ai dễ nhận giúp cho
Kìa liệt vương khí hư đồ ủng

210.Mặc quần hùng phong úng tranh khôn.
Trời sinh ra những kẻ gian,
Mặc khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài.
Áo vàng mặc kẻ bỉ bai
Khi xui đắp núi khi sai mở đường.

215. Lấy độ điền làm công thiên hạ
Cậy mão nên đất nẻ cạn mòn
Con thơ ong óng tranh khôn
Vô già mở hội , Độc tôn mở chùa.
Cơ trời xem đã che mùa

220. Ðã đô lại muốn mở đô cho người.
Ấy trời ý hẳn lòng bất nhẫn
Suốt muôn dân cưu hận cưu hàn
Dưới trên dốc trí lo toan
Những đua bán tước bán quan làm giàu.

225.Lại rủ nhau làm mồi phú quí,
Mấy đấng hiền có chí an dân,
Ðua nhau làm sự bất nhân,
Ðã tuần biển nước lại tuần đầu non.
Quốc đồ chia rẽ càn khôn,

230.Mối giềng man mác làm buồn lòng nhau.

Vội sang giàu giết người lấy của
Sự có chăng mặc nọ ai suy
Sự làm thất thế lôi thôi,
Lệnh ra bỗng lại thấy thôi bấy giờ.
 
235.Xem tượng trời đã như ra trước
Còn hung hăng bạo ngược chẳng xa.
Gió cuồng cả sớm liền đêm
Còn đờn cửu khúc còn thi ngự đề
Ấy Tần hoàng hôn mê bất biết

240. Ðể muôn dân dê lại giết dê
Luôn năm chật vật những đi
Âm binh ở giữa nào thì biết cho
Thấy thành đô tiếng kêu ong ỏng
Cũng một lòng trời chống khác nào

245. Đêm ngày xem vững chiêm bao
Nào ai còn có ước ao thái bình
Một góc thành lao xao chúng quỷ
Ðều một lòng ích kỷ hại nhân
Bốn phương bời bời hồng trần
250.Làng kinh củi lửa , làng phân điếm tuần.




(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 12:37:36 AM
(tt)

Quen vốn những suất dân làm bạo,
Khu đòi loài cáo quỷ tranh nhau
Nhân danh trọn hết đâu đâu (Nhân đoài soạn hết tự đâu)
Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê

255. (Hùm) Lợn khôn lạc dấu khôn về
Mèo con chi khắp tiêu về quỷ dương.
(Mèo non chi chí tìm về cố hương)
Chân dê đầu khỉ leo tường
Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
Nội thành chốn chốn hư kinh

260. Ðầu khỉ leo thành tin sứ đã sang.
Rẽ Mậu Dần Bắc giang tái mã
Trong hai xuân bỗng phá tổ long,
Quốc trung kinh dụng cáo không
Giữa năm vả lại khiếm hung (hung hoang) mùa màng

265. Gà đâu gáy sớm bên tường
Chẳng yêu thì quái ( cũng) bất tường chẳng không.
Thủy binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh bát ngát (tấp nập) như ong kéo hàng (SC.84)
Ðứng (ngọ ngang ) hiên ngang đố ai biết trước

270.Ấy Bắc binh sang việc dĩ chi (gì) chăng ?
 Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ, tưng bừng đòi nay (19)


Chưa từng thấy đời nào sự lạ
Bỗng khiến người vu (giá) họa cho dân
 
275. Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao chẳng bảo (dục) dân (ruộng) cày bừa.
Ðã nên dại (si) Hoàn Linh đời Hán
Ðúc tiền ra buôn bán nó ăn (bán tước cho dân)
Xưng xe mong khắp đôi quân,
(Xun xoe những rắp cậy quân) (SC.95)

280.Chẳng ngờ thiên ý xoay vần đã công
Máy tạo hóa nặng tay dễ nói
(hoá công nắm tay dễ ngỏ)
Lòng báo thù ai dễ sửa ngôi ( đã nguôi)
Thung thăng ban bổng (tưởng thấy) đạo trời
Phù Lê diệt Mạc (19b) cắt dời (nghỉ dời ) quân ra

285. Cát lầm bốn bể can qua
Anh (Nguyễn) thì chẳng được hóa( sẽ) ra lại về
 (20) Còn (Quân) hùng quân nổi (binh nhuệ) đầy khe
Kẻ xưng cứu khổ (nước) người (kẻ) khoe trị đời
Bấy giờ Lê bấy khó thôi,
(Bấy giờ càng khốn ai ôi)

290.Quỉ ma chật vật biết trời là đâu ?

Thương những kẻ ăn rau ăn quả ( rới) ,
(21) Gặp nước nguy (bung) con cái cậy (ẩn) đâu
Báo thù ấy chẳng sai đâu,
Tìm non có chốn (rẫy) chưng sau mới toàn

295.Chê (Xin) những kẻ hai lòng sự chúa
Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
Vậy Cho (nên) phải trụy (báo) trầm luân
Ai khôn mới được an thân (bảo thân ) đời này.
Nói cho biết (hay) khảm cung rồng dấy
300. Đấng (Chí) anh hùng gẫm ( xem) lấy mới ngoan.

Sấm (Chữ ) rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan thánh (anh ) tài
Hễ nhân doãn (kiến) ai về ( đã dời) đất cũ
Thì phụ nguyên mới lũ (trổ) binh ra (SC. 120) (22)


305. Bốn phương chẳng động can qua
Quần hùng ong dậy (các xứ ) điều hoà làm tôi
Bấy giờ mở rộng qui khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vẹn (vạn) toàn
Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh


310. Hoàng phúc xưa đã định tây phong
Làu làu thế giới rạng (sáng) trong
Lồ lộ râu (mặt ) rồng đầu có chữ vương
 
Trỗ (Rõ ) sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu ấy lượng (là trí) Cao Quang ấy (là) tài

315. Xem thiên ý ( trời ) có lòng sinh (khải ) thánh
Dốc sinh hiền điều đỉnh hộ mai
Soạn đẩu tinh sanh vị sao
(Chọn Đẩu, Thai những vì sao cả)
Cả dùng chưng phụ tá vương gia
(Dùng ở tay phụ tá vương gia).
Bắc phương chính khí sinh ra

320.Có ông Bạch sĩ điều hoà sáng ( hôm) mai (Sở Cuồng 136)

Song thiên nhật rạng sáng soi ( Ngôn Quý mão tuế ) (22b
Thánh nhân chẳng biết xem ( thì) coi tỏ ( cho ) tường
Ðời này thánh phục (kế ) vi vương
Đô kiêm (Ðủ no ) đạo đức văn chương trong mình

325. Uy nghi dạng mạo (trạng mạo ) dị ( khác) hình
Thác cư một dải (góc) kim tinh phương đoài
Đêm ngày tinh nhuệ (Cùng nhau khuya sớm) dưỡng nuôi
Ẩn cư sĩ (Chờ cơ sẽ) mới ra tài giúp (cứu) dân
Binh thơ mấy quyển kinh luân

330. Thiên văn địa lý kinh (nhân) luân càng mầu


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 12:45:03 AM
(tt)

Lọ là phải mượn tài đâu,
 (Ở đâu đó anh hùng hẳn biết)
Mới biết vân sắc thức âu long thành.
(Xem sắc mây đã biết thánh long)
Thánh nhân ở (cư ) có thụy tinh (cung)
Quân thần đã định chiền (gìn) mình ( lòng) chớ tham

335.Lại khuyên (dặn) đấng chí (tú ) nam hào (chí cả)
Chớ say sưa tham trọng tham lòng
(Chớ vội vàng tất tả chạy rông)
Học cho biết lẽ (lý) kiết hung
Biết phương hướng hội chớ nhằm (có dùng) lầm chi.
Hễ trời sinh xuống tế tài (phải thì)

340.Bất kỳ nhi ( chi ) ngộ màng (mòng ) gì tưởng trông (bắc đông)
Chê (Kìa) những kẻ vội lòng phú quí
Xem trong ( lòng ) mình một thí (tí ) hư (đều) không
Ví dù có gặp ngư ông
(Lưới ) Chài đâu mà vải (sẵn) nên công mà hòng

345. Xin khuyên đấng hiền (thời ) trung quân tử
Hãy mang lòng trung nghĩa (ai nhớ) cho tinh.
Âm dương cơ ngẫu ngô sinh (ngũ hành)
Thiên văn độn giáp (Thái nhâm thái ất) trong mình cho hay
Văn thì luyện tỏ bày ( nghiên bài) quyết thắng

350.Trương (Khen) Tử Phòng , Gia Cát (cũng đấng ) Khổng Minh.(SC.166)
Võ thời thông yên thủy, thần kinh
 
Thời (Ðược ) vào trận chiến mới lành (rành) biến cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết lay (ray) tay bẽm miệng nói không

355. Ngõ mai (hay) gặp hội mây rồng
Công danh lừng lẫy ( choi chói) chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí trai
Lọ cho (là) đến phải ngược xuôi nhọc mình
Nặng lòng thật có vĩ kinh

360.Cao tay mới gẩm biết tình năm nao (SC.176)
Trên trời ứng (có) mấy vì sao
Tỏ sanh (Ðủ no) hiền thánh ( tướng) anh hào đòi (đôi) nơi

Nước Nam vua ( thường ) có thánh tài
Ai khôn xem lấy hôm mai cho ( mới) tường

365. Đành (So ) mấy lời để tàng kim quỉ
Chờ hậu mai có chí sẽ cho
Trước là biết nẻo tôn phò
Sau là có ( cao ) chí biết lo chiền mình (mặc lòng )
Xem đoài cung đến ngày (thời) bất tạo (SC.185)
370.Thấy vĩ tinh thì ( liệu ) tháo cho mau.

(Ngôn hổ tướng tàn ngược, quốc gia bại loạn tại vu thử thủ dã, nhất vu thân niên thân nguyệt, thân nhật thân thời, vĩ tinh xuất thân phương, thiên hạ đại loạn dã.) (23)


Coi (Nguôi) lòng tham tước tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân.

(Ngôn xuất lâm hiếm xứ, nội hữu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, khả dĩ ẩn thân dã. Nhất vân Thái Nguyên, sơn đổng trù ngạn nhất hiểm dã; Vị Khê sinh thánh, nhị hiểm dã;Đoài phương tịnh thất khu hiệu phục man đắc tam hiểm dã) (24)


Lấy (Trẻ ) con mang mệnh tướng quân
Ngữ (Ngỡ) oai đã dậy, ngữ ( ngỡ ) nhân đã nhường. (SC.190)

(Ngôn chung dụng tiểu nhân bị tái phong hầu, dĩ phòng thất sách dĩ thử phá lỗ dã). (25)

375. Hãy (Ai) lấy gương (vua) U vương thủa trước
Loạn bởi chưng ( ru vì ) tham ngược bất nhân.
Bốn (Ðòi ) phương ong khởi ( kiến ) rần rần (lần lần).
Mông (Muôn ) sinh tam phủ ( ba cốc ) mang quân (cầm binh ) dấy loàn.


 (Mạc thị loạn thế cử binh phục thù, tam đạo đồng tiến cố dã)(26)

Man mác một đỉnh Hoành Sơn
380.Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù.

 (Ngôn Nguyễn thị tái cử binh phục thù) (27)

Ý những thù binh thảy thảy ( Ấy là những binh thù thái thái)
Lòng trời xui ai (nấy ) biết tân cho ( ru) ?
 
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Ải (Tái ) binh mới tới (động) thập thò liền sang (SC.200)

(Ngôn thân niên đông nguyệt, bắc binh thượng mã xuất tái tam đạo đồng tiến).(28)

385. Lộ (Lọ) chẳng thường trong năm khôn xiết
Vả (Vẻ) lại thêm hung hiểm (hiệt) mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù tối om (đủ năm )

(Ngôn thân tiết tứ phương binh khởi giai bị hỏa tai gia tận khởi thiêu tận tuyệt giả).(29) Trông (Coi) thấy những sương nghiêm (xâm) tuyết lạnh

390. Loài bất bình cậy (tranh) mạnh hung hăng
Thành gia (câu) cá, lửa tưng bừng
Kẻ xuôi (ngàn ) Ðông Hải người chừng (rừng) sơn ( Bắc) Lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất kẻ chìm (trầm) đầy sông (SC.210)
395.Song thu lạnh tiết hồng trí dã (Sang thu chín huyết hồng tứ giả)
 Nỗi (Noi) đàn dê tranh phá càng ghê (đôi nơi)

(Ngôn quần hùng khởi binh trí chiến dã)

(30)Ðua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
Kẻ thì bị sửa (phải thửa) hung hoang
400. Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan. (SC.216)


Kẻ thì người (mắc ) thửa hung tàn
Kẻ thì bị (bận) của đa mang (bỗng toan) khốn mình.

(Ngôn hợi niên thiên hạ đại loạn, tử giả thập phần tồn nhất)

(31) Chuột nhâm dựng tổ cắn quàng (Muông vương dựng tổ cắn tranh)
Ðiều thì làm bá (chước) xuất binh ( thủ thành)

(Ngôn nhâm tí thập tánh xưng vi tứ sứ quân, nam phương hữu tứ, bắc phương hữu nhị, tây phương hữu tam xưng vi trưởng quân dã). (32)

405.Bời bời đua mạnh tranh giành
Ra đâu đánh đấy đem binh tối (sớm) ngày
Bể xoi (thanh) cá phải đội ( ẩn) cây
Ðất bằng núi phẳng (nổi sấm) cát bay bụi ( mịt) mù
Nào ai đã dễ nhịn thua (nhìn u)

410.Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
Cây khô lá héo (bay lá lửa) đòi ( đôi) ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao cho biết nơi hòa bảo thân (SC,230)


415.Ðoài phương thực có chân nhân
Quần tiên khởi nghĩa nào phần hại ai ( chẳng phân hại người)
 
Tìm cho biết (được) chốn biềt (được) nơi
Thái nguyên một giải góc nơi trụ đình( lần chơi trú đình)


(Ngôn sơn động kỵ phong khả dĩ dung thân) (33)


Bốn bề núi đá vây đoanh (riễu quanh)
420. Một đường tiểu mạch nương mình ấy (đấy) an


(Ngôn Thái Nguyên đa sơn diệc hiểm, Tản Lĩnh khả dĩ dung thân bảo toàn)(34)


Thấy (Hễ ) Ðông Nam nhiều phen giặc dậy (tàn tặc) Lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc phương (kinh ) mới thật đế kinh
Mình chưa dễ giấu, (Giấu thân chưa dễ) giấu danh được nào

425.Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho biết ( được ) chốn mới vào thần cơ (kinh ).
Ai dễ cứu con thơ sa giếng
Đều (Ðua) một lòng tranh chiến (tiếng) đua ( giục) nhau.
Muôn ( Vạn ) dân chịu thửa âu sầu
430.Kể từ (dư) đôi ngũ mới hầu yên ( khoan) cho
Cấy cày tua (thu) đợi (đãi) được (thời ) mùa
Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai.

(Phá điền thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành).

(35). Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền quân nậu (binh nhọc) chẳng nài thêm lương (lương thêm) (SC.250)

435. Xem tượng trời biết lành (đường) đời trị
Gẫm thế nào ( về sau ) họ Lý xưa nên
Giòng nhà bát đấu (để thấy dấu) còn truyền
Gẫm xem tứ bửu ( bốn báu) nả khen (còn in ) đời đời


(Ngôn Lý thị viên tinh thành khỉ kỳ hậu đắc đạo, thu đồng chú An Nam tự khí dĩ vi bửu đồ giả dã) (36) Thần long (qui) cơ nổ ở trời

440.Cho (Ðể) làm thần khí giúp ( thửa) nơi trị trường (Ngôn quá Cổ Loa đắc thử thần khí) (37)

441.Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Sông Bảo Giang đã (thiên) ai hay
Lục thất cho biết ngày dầy (rày)

(Ngôn Nguyễn thị sanh ư bắc phương, cư tại Sơn Tây xứ) Phụ nguyên ấy thực ở miền (rày) Tào khê (SC. 260)(38)


445.Có thầy Nhân Thập đi về
Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh


(Ngôn thiên sanh ngọ tuế, tôn vi sư phó chi vị nhậm trọng kinh dinh dĩ thành vương nghiệp).(39)


Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp muôn (vạn) dân cho đẹp lòng trời
 
Ra tay điều đỉnh hộ mai
450. Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân.


Lọ là phải nhọc cất ( kéo ) quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
(Năm) giáp tý vẽ khuê tinh đã rạng
Lộ Ngũ tinh trinh tượng bình (thái ) hanh (SC.270)

455.Ân trên vũ thí vân hành
Kẻ thi (thơ ) ký tuý kẻ canh Hữu ( xuân ) đài
Bản đồ chảng rốt (sót) cho ai
Ngàn nay (Nghìn năm ) lại lấy phục nay (hội nơi) vẹn toàn.

(Ngôn cử binh phạt Bắc Hồ phục dẫn thể bản cựu)

(40) Vững Hùng (nền) vương cha truyền con nối
460.Duy (Dõi) muôn đời một mối xa thư



(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 12:50:43 AM
(tt)


Bể tăm kình ngạc bằng tờ (Bể kình tăm lặng bằng tờ)
Trăng đâu (thanh ai ) chẳng ơn nhờ gió xuân
Âu vàng xưa (khỏe) đặt khỏe (vững) chân
Cương kỳ thế nước muôn xuân hưởng dài (SC.280)
( Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài)



465.Lại xem đứng làm trai quân tử
Xem kẻ đời biết giữ mới khôn,
Tìm cho biết bạn phương viên,
Mới mong có được gia môn vẹn toàn.
Thái sơ của chuốt dầy lên,
470.Dẫn khuyên đấng hiền kẻ có đầy khe.
Chớ nhầm phải bạn u mê,
Luống công ngày tháng có nghề chi đâu.
Lại dạy đấng trượng phu chí khí,
Tua thời lòng trung nghĩa thảo ngay.
475.Vàng bền gan sắt chớ khuây,
Mới nên đấng cả mai ngay anh hùng.


Phòng khi cơ biến mới hòng dậy nhau.
Xin chớ vội giàu sang mặt thấy.
Tua đợi thời lừng lẫy tướng khanh.
480.Trong lòng làu biết ám minh,
Ngàn năm bia tạc miếu linh còn thờ.
Làm người biết lo xa mới khá,
Chớ xem thường nữa họa đến thân,
 
Chọn người kẻ có tướng tăng,
485.Thử cho có phép biết chừng người sang.
Vàng toàn phải lấy lửa than,
Khôn ngoan thực có được nhân rượu nồng.
Mấy kẻ bao dung lượng rộng,
Càng rủ nhau ra chốn miếu đường
490. Chẳng như trí mọn tài thường,
Quen loài bạo ngược nói cường lấy hay.
Đến khi bấm miệng ra tay,
Xem tài cũng chẳng sánh tày ai đâu.
Biết lánh xa mới nên quý giá,
495.Mấy kẻ nên xem lạ khác vời.
Ngư ông là kẻ thuyền chài
Đã duyên lại lưới đã chài lại câu.
Sớm khuya đã có trí mưu,
Mói nên bộ tróc công thâu vẹn toàn.
500.Dang tay họp bạn hiền tri kỷ.


Tua sửa sang cương kỷ cho bền.
Thuốc thang phòng mãn đựa tiên,
Đã viên ngũ thánh lại viên lục thần.


(Xuất thái ất kinh lục thập tam quyển, trạch đắc Thiên nguyệt đức hướng bắc phương thiết đàn tế thiên địa thánh thần ngũ tướng các thần, luyện thiên thánh hoàn dĩ tẩy khí giới hựu sanh thập ác cửu xú nhật hướng bắc phương tế ngũ tướng, tái tự thiên thần, nhất hoàn dĩ tẩy khí giới khả dĩ miễn nhất thân chi nạn) (41)


Can qua ai khá vệ thân,
505.Thiên văn ,động giáp thâm phân chưa nhầm.
Tay làu biết thất cầm ngũ thánh,
Lòng lầu thông an thủy thần kinh.
Luyện chưng phép ấy cho tinh,
Gặp thời âu ắt nên danh phỉ nguyền.
510. Đời này sanh những người hiền,
Đó dùng dối trá có nên ích gì!
 Lại khuyên kẻ tri cơ quân tử,
Chớ thấy thế ngại chí mà buồn.
Chớ nề bạch ốc chu môn,
515.Rồng mây cả hội dành còn về sau.
Hãy công nặng sức đèn dầu,
Hãy công kết nghĩa bạn theo người hiền.
Một mai ra gặp cơ duyên,
 
Quân thần cả nước bán thiên vui vầy.
520.Tâm truyền chép để cho hay


Suy gẫm mới biết sau này mặc ai
Lại nói sự tướng tài phụ tá
Ứng mỗi vì cửu tọa tam thai.
Đặt làm tứ trụ đầu ngôi
525. Bắc tam nam nhất trong đời dậy danh

(Tiên Du huyện, Núi Nguyên xã; Bảo Lục huyện,Phú Châu xã cư tại Tức Mặc xã; tánh Trần. Đông NGạn, Uy Nỗ xã, Thanh Trì huyện, Quang Liệt xã, tánh Võ) (42)

Kim Cang , Bát Bộ tướng tinh,
Đem binh ra sức chống thành Việt Nam.
Đồng thời Nguyễn thi, Nam Nghiêm,
Đào thời, Giang Việt, xã Hoàng Châu kim.
530.Lưu Lang, An Lão khác tìm,(Tầm thường dã)



Chàng Chậu, Bạt Lộc ầm ầm dậy vang.
Thiên hương bay nức họ Lương,
Cấu Sanh, Lan Xá, đón chàng Võ Công.


(Đông Di huyện, Lộc xá xã, Nguyễn.
Nam Anh huyện, Hoàng Đồng xã, Nghiêm. An Việt huyện, An Giang xã, Đào.
Kim Đồng huyện, Hoàng Vân xã, Chu.
Lão An huyện, Lão An xã, Lưu.
Bất Bạt huyện, Khang Bảo xã, cải Phùng thị. Thiên Bản huyện, Cao Hương xã, Lương. Thanh Lan huyện, Ca xá xã, Võ) (43)


Đến bốn bảy vị trong tinh tú,
535. Đôi mươi tám hiền phụ rập vai.
Giác nguyên sao trước rạng soi,
Lê nay Đông Vệ, Lương ngôi Nam Đường.


(Đông Sơn huyện, Đông Vệ xã, Lê.
Nam Đường huyện, Nam Đường xã, Lương.)(44).


Gia tiên Phùng ,Lý, Đào Dương,
Cơ, Tinh liền sánh mấy hàng Tĩnh, Nguy.

(Gia Lâm, Lý, Phùng nhị tánh; Tiên Du, Đào, Dương nhị tánh) (45)
540. Họ Đoàn Chân Lũng cậy thời, (Nam nhân, Sa Lũng)
 
Cầm quyền thủ tướng an bề Việt Nam. (45b)

Ứng vị Sâm, An, Nghi nhị huyện (An Lão xá, Nghi Dương huyện, Võ)
(46) Mão nhật kê lương Võ Thủy dao ( Lương Võ huyện, Dao Thủy xã, Võ.
(47) Hư Trương thái rạng đôi sao,
545. Cẩm Lương tài lạ ứng sao điều Trần ( Cẩm Giang huyện, Trần; Lương Tài huyện, Trần).
(48) Sao Giao, An Viễn họ Thân, (An Viễn huyện, An Viễn xã) (49)

Khuê tinh giáng khách Tây Chân Nguyễn tài.
Hoàng cùng Nguyễn đôi người cỡi phụng
Sao Nữ    Vỹ tương ứng Phàn Long
550. Nguy Chủy ,Châu, Dực, Hoàng, Phòng (Chủy, Dực: Hoàng thị, Châu thị nhị tánh) (50)


Đôi An, Đại Ý càng nồng càng ghê.
Lưu, Lê đều ứng Lâu, Đê,
Một quê Hữu Lũng, một quê Na Ngàn.

 (Ô Sơn huyện Hoàng Nguyễn; Ý Yên huyện đồng Hoàng; Đại Yên huyện: Phạm; Hữu Lũng huyệnLưu; Đông NgạnLê (51)



Tâm Nguyệt Cơ Thán Sơn họ Đặng,

555. Quỹ Kim dương thực đáng họ Vương (Kim Sơn huyện: Vương)
Thất Trư Trường Tân họ Hoàng (Trường Tân huyện)
Từ Liêm họ Quách sao Cang.
Lưu Ngưu Na Ngạn, Bích Trừ, Chân Lưu.
Ứng vì sao Đẩu, chàng Châu Lương Tài

(Từ Liêm huyện, Đông Ngạn xã: Quách; Lương Tài, Đich Sứ xã:Châu, Đông Ngạn huyện: Lưu) (52)


560.Sao nhiêu ứng đẩu tinh liệt vị
Cấu tinh anh hùng khí tiền nhân.
Bầy ngôi phụ bật tướng quân,
Nguyễn Lưu Tiên ấp kinh luân mối giềng( giường).
Võ Châu còn ứng vượng phương,
565. Thán thời có Nguyễn cùng Đường Hoàng Lưu.


(Tiên Du huyện: Nguyễn; Thán Sơn: Nguyễn; Đường An huyện Tô Võ Châu)(53)

Võ kia hai Võ tài ưu.
Đếu làm tướng súy giúp phò quốc gia.

(Linh Loại huyện, Võ;Võ Ninh huyện:Võ)  (54) Trần Khiêm cùng Tư Trần là


Một quê Chân Định, một nhà Thanh Lan.
570.Dương Khúc đôi ứng môt đoàn
Lại khen chàng Nguyễn có trang trung thần.
(Nghi Dương huyện, Khúc Xuân xã:Nguyễn) (55)
 
Đông Tây sao Đẩu xoay vần,
Nam Bắc tàm Lý Trần biệt mặc cố hương.
Một quê thời ở Quế Dương,
575. Một người ở lại miền Trương Hiệp Hòa

(Quế Dương huyện, Hoa Vi xã: họ Trần. Hiệp Hòa huyện, (Quế Dương huyện, Kỳ Sơn xã: họ Lý) (56)


Mỗi người đều ứng một tòa,
Vệ triều Tử Phủ vào ra Cấm Đình.
Bảy mươi hai võ tộc tướng tinh,
Tiên Du nhiều tướng hiển vinh.
580. Trong làm tiền hậu, ngoài kinh trập trùng.


Đào tươi, Dưong tốt thực dòng,
Đôi Lưu, năm Nguyễn, hợp cùng sáu Lê.
Đôi gia đồng chủng một bề
Chủy tinh cùng ứng cùng đều giáng sinh.
585. Ra tay nguyệt phủng thiên kình,
Kẻ đành họ Lý, người đành họ Vương.
Đôi ngàn nhiều cũng khác thường,
Úng chưng thiên mã ,kình dưong mỗi vì.
Hoa Trương thị, Nguyễn Chấn Lê,
590. Sao Cơ họ Lý, sao Kim họ Bùi.


Thả Kim Lộc những tài lương đống,
Hai họ Trần đều chống cả hai.
(Kim Hoa huyện, Mỹ Lộc xã: Trần; La Lộc xã:Trần) (57)


Thanh Đàn, Na ngạn, Thanh Oai

Lưu, Nghiêm, Nguyễn Phạm nên trai anh hùng.

595. U châu Nguyễn ứng Thiên Đồng,
Thiên Lương họ Võ ở dòng Võ Minh.
Thư Trì Phùng Đặng lưỡng khanh,
Ứng sao Thất Sát có tình Tham Lang.
Nguyễn Nam Tinh cùng Hoàng Dao Thủy,

600. Thiên Dũng Thế (Yên Dũng, Yên Thế) đôi phương là thường.


(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 12:56:32 AM
(tt)

Nghi Dương xã Nguyễn Bùi Vương đắc,
Dương Lương Tạ Thanh Lan Lê Bùi.
Phụng Tiên, Hữu Lũng, Thiện Tài,
Phạm Chu  Lý Nguyễn từng trai bày hàng.

605.Tướng Ngạn Sơn ngọ ngang càng lạ
Nguyễn danh công cùng Tạ danh công
 
Trường Tân sao ứng một dòng
Lê Trần đôi họ cùng thông một đoàn.
Từ Liêm, Hương Cát, Âu Lan.

610. Đón chàng Lê Nguyễn có gan mới bền.
 Nội nhân diễn võ tương hiền,
Nguyễn miền ở Thẩm, Lê miền ở La.
Hữu tướng, phi tướng ai qua,
Ninh Đông có Phạm, Hợp Hòa có Lê

615. Sao Thiên Mã giáng sinh cấu khí
Độ nhị lang có chí ai qua.
Vác dao có Nguyễn vào ra,
An Lang họ Nguyễn, Nhạc là họ Lê
Lập Thạch cũng đấng hiền Lương

620.Linh tinh hạn thiệt Đào Lang chẳng ngờ.
Thiên Mã tướng tinh mãnh đạn
Thân Đắc Hán cùng Lý Quỳnh Khanh,
Võ thị họ Đào, Cẫm Giang Sơn Vi.
Lại có Trịnh Hoành các khanh,

625. Bấy nhiêu ứng sở vị tinh
Đều làm vương tá thánh minh phù trì.
Cùng nhau những tướng trí nho,
Gặp thời cũng được phong lưu sang giàu.
Ở nhưng chưa dễ nên đâu

630. Có đất, có phước mới hầu mong nên.
Dựa xem chép làm một thiên
Hậu sanh nghiệm trước mới sanh cơ trời.
Ấy lòng trời thái bình mới biết
Điềm tượng trời vốn đã đinh xưa.

635.Tình cờ chẳng phải tình cờ
Ngôi trời đã định lọ cầu thạch bi.



 Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
(Tự thìn niên thập nguyệt chí tị niên tứ nguyệt) (58)
Mã đề túc tận hưu binh. (Tự ngọ niên lục nguyệt chí vị niên thập nhị nguyệt)
(59) Nhất sĩ thị tri anh hùng tận,
640. Thân dậu niên gian hưởng thái bình (Thân niên nhị nguyệt, dậu niên thập nguyệt) (60)


Thi vân:

Ngũ thập tam đoài bách mộc khô,
Tân niên thố ám tảo thành đô
 Song luân binh xuất sơn hà uế
Nhất thố nguy khai nhật nguyệt vô.
 
Thi vân:

645. Lưỡng mộc tương ma hỏa tự sinh
Chi phân... đoạn khởi đao binh
Ngũ hồ đồng tánh thiên nguyên khí
Biến thế nhân gian hưởng thái bình.



Thi vân:

Nhị tam điệt tác diệu thiên công,
650.Tứ hải du niên hỗn nhất đồng.
Nhật nguyệt kê minh thường xuất mão,
Thố trung ta ức phỉ tùng phong.


Thi vân

Hoàng giang phún thủy tại nguyệt thành
Thùy thức thiên tâm dĩ triệu tường.
655. Tây lãnh... nhiên cao kỷ trượng
Khuyên võ kinh khẩu bất thương nhân.


Thi vân:


Thế thường lục thất nguyệt niên gian,
 Bất tín tu cầu na sự khan
Thái nhĩ thiên tâm lương nghi

660.Khuynh quỳ xứ xứ cửu nhai hoan.
Huyền cơ thùy thức am minh trung
Chỉ phong nghiêm siêu nhân ý trung.
Chuyển vận tự văn đoài lạc địa
Tuần hoàn hựu kiến khảm cư cung



Hựu:

665. Hữu vô vô hữu thục đa đoan,
Bất tín tu cầu na sự khan.
Đông dĩ hướng khai tùy diệt tác
Tuần hoàn hựu kiến nhật tiền khan.


Thi vân:

Thiên hạ phân phân nhiễu nhiễu nhương,
670. Thùy tri thánh đế tại hà phương.
Hiền nhân dục thức vi thần phụ
Bất tại man hương tại địch hương.
 
Nhất tự tam nhân đồng,
Nguyệt vô thủy vô hỏa
675.Thử thánh nhân cho danh.


Hữu thi

Giang đông ngạn thượng đản tầm thường
Bị khởi trần lăng tác đế vương.
Thiên hạ đô lai quy nhất thống
Thử niên xuất trị vĩnh diên trường.


Hữu thi

680.Hỏa hiền thố nhân thú mộc dương
Thị thánh nhân thủy cung long đức
Ẩn vi sơn tự phụng hỏa thần,


Trư vận hưng vương thất
Niên gian lục thất tuần
685. Thế truyền thập lục diệp
Tộ lưu ngũ vạn xuân


Hựu:

Huyển trung thập tam khẩu dĩ chủy kiết chi nhân.

HẾT

(ct)


Tiêu đề: Re: SẤM TRẠNG TRÌNH TOÀN TẬP
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Tư 11, 2014, 01:15:40 AM
(tt)

XIN LƯU Ý


1. Các hàng chữ nghiêng trong ngoặc đơn là lời chú thích của tiền nhân đã ghi sẵn trong bản nôm.

2. Bản này do Phùng Khắc Khoan viết nhưng từ câu 188 cho đến 464 giống bản Sở Cuồng-Mai Lĩnh từ câu 1 đến 280 mặc dầu khác biệt một vài chữ ("Vận lành mừng gặp tiết lành "... . . Càng bền thế nước Vạn Xuân lâu dài")


CHÚ GIẢI


(1). Thuận Đức: Mạc Kính Hoàn hay Mạc Kính Vũ (1638-1677) là con của Mạc Kính Khoan lên ngôi đặt niên hiệu Thuận Đức , năm mậu dần ( 1638) - đinh tị ( 1677).

(2).Canh Tý (1540). Mạc Đăng Doanh mất năm canh tý (1540), con là Mạc Phúc Hải lên ngôi. Năm này
Nguyễn Kim khởi binh đánh Nghệ An, mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê.

Trong câu này có hai chữ " vận" và " nguyên".
Theo lịch số Á Đông, thời gian xoay chuyển. Mỗi hoa giáp (60 năm) là một nguyên. Khởi đầu là thượng nguyên, đến trung nguyên rồi hạ nguyên. Hết hạ nguyên đến thượng nguyên, trung nguyên, cứ như thế mãi.

Mỗi nguyên lại chia ra vận, mỗi vận 20 năm. Theo độn giáp, cách tính như sau:
- Can Giáp  Kỷ gia với Tý Ngọ Mão Dậu là Thượng nguyên
- Can Giáp  Kỷ gia với Dần Thân Tỵ Hợi là Trung nguyên
- Can Giáp  Kỷ gia với Thìn Tuất Sửu Mùi là Hạ nguyên

Do cách tính này, người ta biết cát hung, thịnh suy, bỉ thái. Có nhiều sách Tử vi, lý số ghi rõ các nguyên vận:

Ví dụ :-

THƯỢNG NGUYÊN:
* Vận 1: từ năm 1864- 1883
* Vận 2: từ năm 1884- 1903
* Vận 3: từ năm 1904- 1923.


TRUNG NGUYÊN :
* Vận 4: từ năm 1924- 1943
* Vận 5: từ năm 1944- 1963
* Vận 6: từ năm 1964- 1983


HẠ NGUYÊN:
* Vận 7: từ năm 1984- 200
* Vận 8: từ năm 2004- 2023
* Vận 9: từ năm 2024- 2043


Theo cách tính của Phùng Khắc Khoan, năm Canh Tí (1540) là khởi đầu Trung nguyên.


Ngoài Tam nguyên còn có Tam Kỳ. Nhiều số gia, đạo gia, trong đó có Cao Đài giáo cho rằng từ trước đến nay có ba thời kỳ, là nhất kỳ, nhị kỳ và tam kỳ ( Tam kỳ phổ độ). Nay nhân loại đang ở tam kỳ là thời kỳ cuối cùng.

Nhứt kỳ Phổ độ :-

Là thời kỳ hình thành nên các tôn giáo trên thế giới.Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với đặc điểm đó và đã mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt Thượng đế để truyền đạo: Các đệ tử đó là: Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa; Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.


Nhị kỳ Phổ độ :-

Cao Đài giáo cho rằng sau một thời gian, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa đã truyền dạy cho các đệ tử của mình ở các nơi trên thế giới, thực hiện hiện vụ chấn hưng nền đạo: Các đệ tử đó là: Phật Thích Ca, Thái Thượng Lão Quân ,Khổng Tử , Chúa Jesus Christ .. .
 
Tam kỳ Phổ độ:-

Với sự phát triển, xu hướng tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tôn giáo duy nhất dưới quyền cai quản Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng trực tiếp cho các tín đồ thông qua hình thức cơ bút. Đó chính là đạo Cao Đài.



(3).Đồng ca truyền từ đời Lê Đại Hành ( 980-1065) : " Thụ căn.. . thái bình". Câu đầu có sách phiên âm là " yểu yểu". Phùng Khắc Khoan đã giải thich ở dưới.
(4). Hòa đao mộc là chữ Lê 梨 . Lê Đại Hành (941 – 1005) là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Lê Long Đỉnh lên ngôi từ 1005 đến kỷ dậu ( 1009), hai triều tổng cộng 29 năm.
(5). Thập bát tử là nhà Lý 李 . Nhà Lý làm vua 9 đời. Lý thái tổ (1010- 1028) mở đầu đến đời Lý Chiêu hoàng (1225) thì truyền ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng 216 năm.

(6). Đông A 陳 : nhà Trần. Nhà Trần làm vua 12 đời, khởi đầu từ Trần Thái Tông (1225-1258) đến Trần Thiếu Đế (1398-1400)/ được 175 năm.
(7). Dị mộc: nhà hậu Lê. Lê thái tổ (1428- 1433) dựng nhà Lê đến Cung Hoàng gồm 10 đời vua dài 100 năm.
(8).Chấn cung hiện nhật : chỉ nhà Mạc 莫 trong chữ Mạc có chữ nhật日. Chấn là phương Đông. Quê Mạc Đăng Dung ở Hải Dương xưa gọi là tỉnh Đông.
(9). Đoài cung: chỉ họ Trịnh 鄭 . Họ Trịnh quê ở Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thanh Hóa là Tây đô (Thăng Long là Đông đô)
(10).Lục thất六 七: nhà Nguyễn (lục thất dùng thay 陸室 , chữ lục gần giống chữ 阮Nguyễn)


A. Đoạn trên từ câu 25 cho đến câu 85 "Những xưng xe phù Lê diệt Mạc/Cái oan gia người khác giết nhau." là nói sơ lược lịch sử nước ta từ Đinh cho đến Lê Mạc chiến cuộc.

(11). Tân vị (1571). Tác phẩm này viết năm 1571, lúc tác giả 45 tuổi. Năm 1570, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Cùng năm này, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh ngôi, Trịnh Cối hàng Mạc. Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long. Năm 1557, Phùng Khắc Khoan ra thi Hương ở triều Lê, đỗ đầu, được Trịnh Kiểm giao việc, nhưng sau bị đày đi Thành Nam (huyện Con Cuông, Nghệ-An), rồi được phục chức, mãi đến 1580 mới thi Hội, đỗ thứ hai. Như vậy, bản Sấm ký này, Phùng Khắc Khoan viết khi phục vụ nhà Lê, dưới quyền họ Trịnh.

(11b). Thầy Sãi, ông nghè: Sãi vương, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Chữ Nôm Sãi vốn là chữ Sĩ 士
B. Từ câu 95, tác giả nói về các việc xảy ra sau đời vua Lê chúa Trịnh.


(12). Đại Minh, An Nam triều hội.

Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia. (Câu 159-163)

Đoạn này nói về việc quân Mãn Thanh sang Việt Nam rồi bị vua Quang Trung đánh tan. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh là Càn Long. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 20 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà.


Cánh quân của đô đốc Long tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn lính bỏ mạng. Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Hồ binh là quân Thanh, ngưu đầu quá mã nghĩa là trong khoảng tháng chạp ( trâu, tháng sửu) đến tháng năm (ngọ, mã) thì quân Thanh chạy về nước. Thanh minh thời tiết khai hoa: Thanh minh là tiết trời đẹp, muôn hoa đua nở. Cuối chạp đầu tháng giêng lkỷ dậu (1789) à mùa hoa nở.Phải chăng quan Thượng muốn ám chỉ quân Thanh (1644-1659). Lúc quan thượng thư còn sống thì thuộc nhà Minh.


Đoạn này rõ ràng là nói sự chiến tranh giữa Việt Nam và nhà Thanh (Đại Minh, An Nam triều hội . Nhưng đoạn này vẫn có ở các bản khác, như bản Sở Cuồng, Mai Lĩnh, chỉ khác vài chữ:


410.Cửu cửu kiền khôn dĩ định (38)
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an.


Và bản Trịnh Vân Thanh :-

165- Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An.



(13). Ngũ thập tam bách mộc khô: không rõ
Thành đô trăng mờ. Non sông ô uế
Nhất sĩ nghi hồ nhật nguyệt vô.: không rõ.
Nói chung là đất nước tối tăm.



(14). Lược dịch:
Tùng bách mọc xanh xanh.
Đoàn quân đông chinh tung hoành.
Thiên tử xuất hiện ở sông Bửu ( không rõ Bửu giang ý nghĩa gì)
 Không đánh mà đại thành
 



(15). Thiên khí thương thương địa khí hoành,
Nguyễn gia sanh đắc nhất nam lang.
Quốc quân thời chánh thiên hạ định,
Nhất tịch thạnh sàng lập kỷ cương.


Lược dịch:

Khí trời đất mênh mang
Họ Nguyễn sinh một chàng
Sẽ ổn định đất nước
Sẽ lập lại kỷ cương.


(16). Giang thái thủy hồng đa tài tật,
Lục nguyệt huỳnh hoặc tại sửu phương.
Sửu phương là phương bắc.
Sông dâng nuớc lụ, phương bắc ( sửu phương), tháng 6 loạn. (17).

Mạ: Tiếng cổ, cũng ghi là mạ, mựa nghĩa là chẳng, không.

(18). Đọan 186-205: Đoạn này như là mở đầu của một quyển sấm khác, sơ lược lịch sử Việt Nam từ khởi đầu đến Lê và Mạc.


(19). Đoạn 265-270, nói việc quân Thanh sang xâm chiếm, Việt Nam cuốí năm Mậu Thân (1788) đầu năm Kỷ Dậu (1789).

(19b). Phù Lê diệt Mạc...(Chú trong nguyên bản :Thác Mạc chỉ Trịnh : nói họ Mạc để ám chỉ họ Trịnh. (Tây Sơn Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lấy danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Phùng Khắc Khoan làm quan đồng triều với họ Trịnh nên thác ra họ Mạc).
285. Cát lầm bốn bể can qua
(20). Anh (Nguyễn) thì chẳng được hóa( sẽ) ra lại về.

Nói việc Nguyễn Huệ đem binh ra Bắc diệt Trịnh phù Lê năm 1786. Nghe tin Nguyễn Huệ ra Bắc ,anh là Nguyễn Nhạc lập tức ra Bắc nhưng rồi lại về tay không. (Nguyễn Huệ chiến thắng, được làm Phò mã, được vàng bạc châu báu, còn Nguyễn Nhạc chẳng có gì!)

(21). Rới: Rới, rưới, giới là rau.Người ta cũng nói rau rới. Phải chăng do chữ 芥 giới là rau?
(22).Sấm (Chữ ) rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan thánh (anh ) tài
Hễ nhân doãn (kiến) ai về ( đã dời) đất cũ
Thì phụ nguyên mới lũ (trổ) binh ra (SC. 120)

Nhân Doãn: Chỉ Chiêu Thống. 統 trong chữ thống có chữ Doãn允 (Duẫn).Khi vua Chiêu Thống về nước thì quân Nguyễn ra đánh phương Bắc. Nguyễn Huệ hay sau đó Nguyễn Ánh?

Nhân Kiến cũng chỉ Lê Chiêu Thống vì tên ông là Lê Duy Khiêm 黎維謙 . Chữ Khiêm 謙 trong có chữ một phần chữ Kiến 毽 , 建 . Khi Lê Chiêu Thống theo quân Thanh chạy sang Trung Quốc, bỏ Thăng Long, sau đó thì Nguyễn Huệ đem binh đánh tan quân Thanh, và một thời gian nữa thì Nguyễn Ánh đem binh ra đánh tan Tây Sơn, thống nhất đất nước.

(22b).Song thiên: chỉ người tuổi quý mão. Chữ quý 癸 chiết tự thành song thiên.

(23).Ngôn hổ tướng tàn ngược, quốc gia bại loạn tại vu thử thủ dã, nhất vu thân niên thân nguyệt, thân nhật thân thời, vĩ tinh xuất thân phương, thiên hạ đại loạn dã.)Các tướng quân hung bạo, đất nước loạn lạc. Năm thân, tháng thân, ngày thân, giờ thân có sao chổi mọc, báo điềm đại họa.

(24).Ngôn xuất lâm hiếm xứ, nội hữu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, khả dĩ ẩn thân dã. Nhất vân Thái Nguyên, sơn đổng trù ngạn nhất hiểm dã; Vị Khê sinh thánh, nhị hiểm dã;Đoài phương tịnh thất khu hiệu phục man đắc tam hiểm dã.

Nơi Tam hiểm:Nói việc vào rừng núi hiểm trở ẩn thân. Nơi này có đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Địa điểm thứ nhất là Thái Nguyên, có sơn động hiểm trở, thứ hai là Vị Khê là nơi sinh thánh (?), thứ ba phương tây (Đoài) có tịnh thất.

(25).Ngôn chung dụng tiểu nhân bị tái phong hầu, dĩ phòng thất sách dĩ thử phá lỗ dã. ( Nói về đất nước lọan lạc, bọn tiểu nhân xưng hùng xưng bá.

(26).Mạc thị loạn thế cử binh phục thù, tam đạo đồng tiến cố dã)(26) Họ Mạc đem ba đạo quân đồng
tiến để báo thù.

(27). Họ Nguyễn đem binh báo thù. Đoạn này nói về đời Mạc. NGuyễn Kim đánh Mạc.

(28). Tháng mười ta, mùa đông, năm thân, quân phương Bắc ba đạo tấn công. Phải chăng nói việc quân
Mãn Thanh vào Thăng Long năm mậu thân 1788 ?.

(29). Hỏa tai khắp nước vào tiết thân.(Phải chăng tiết lập thu vào tháng bảy ta?) (30).Ngôn quần hùng khởi binh trí chiến dã. Quần hùng nổi khắp nơi.

(31). (Ngôn Hợi niên thiên hạ đại loạn, tử giả thập phần tồn nhất) : Năm Hợi, thiên hạ đại loạn, bốn phần còn một.
(32). (Ngôn nhâm tí thập tánh xưng vi tứ sứ quân, nam phương hữu tứ, bắc phương hữu nhị, tây phương hữu tam xưng vi trưởng quân dã). Đời Mạc, năm nhâm tí , mười người nổi lên, xưng sứ quân . Nam phưong 4, bắc 2, tây 3.

(33). (Thái nguyên một giải góc nơi trụ đình/Ngôn sơn động kỵ phong khả dĩ dung thân) . Nói về Thái Nguyên có sơn động kín gió có thể nương thân.
(34). (Ngôn Thái Nguyên đa sơn diệc hiểm, Tản Lĩnh khả dĩ dung thân bảo toàn): Thái Nguyên, Tản Viên là nơi dung thân tốt.
(35).(Phá điền thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành). Phá điền có người giải thích là năm Sửu. Năm Sửu nào?

(36). (Ngôn Lý thị viên tinh thành khỉ kỳ hậu đắc đạo, thu đồng chú An Nam tự khí dĩ vi bửu đồ giả dã) . Truyện kể rằng, vào thời nhà Lý (thế kỷ 13) ở thành Ðại La (Hà Nội) có một nhà sư pháp thuật cao cường tên là Không Lô, tên thật là Dương Minh Nghiêm . Một ngày kia, sư Không Lộ lên đường sang Trung Quốc, mang theo một cái túi nhọ. Nhà sư xin yết kiến vua nhà Tống, để quyên một ít kim khí, đựng trong một túi vải nhỏ đem về đúc thành tượng Phật. Ông có pháp thuật khiến cả kho kim khí Trung Quốc đều bị thu vào bao của ông. Lý thị là vào đời Lý.

(37). (Ngôn quá Cổ Loa đắc thử thần khí) . Nói chuyện nõ thần thời Trọng Thủy, Mỹ Châu.
 
(38). Lục thất cho biết ngày dầy (rày)
(Ngôn Nguyễn thị sanh ư bắc phương, cư tại Sơn Tây xứ). Phụ nguyên ấy thực ở miền (rày) Tào khê (SC. 260)
Lục thất là họ Nguyễn ở phương Bắc, sống ở Sơn Tây.

(39). 445.Có thầy Nhân Thập đi về

Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh

(Ngôn thiên sanh ngọ tuế, tôn vi sư phó chi vị nhậm trọng kinh dinh dĩ thành vương nghiệp).

Ở đây chú rằng Nhân Thập là người tuổi Ngọ làm Sư phó, giúp vua thành vương nghiệp.


Trong lịch sử ta, từ đời Lê Lợi cho đến sau này, chưa có người Sơn Tây họ Nguyễn làm vua xây dựng một nước Việt Nam thịnh trị dài lâu.

(40). (Ngôn cử binh phạt Bắc Hồ phục dẫn thể bản cựu) . Đem quân ra Bắc, thâu phục giang sơn: Phải chăng Nguyễn Ánh?

(41). (Xuất Thái Ất Kinh lục thập tam quyển, trạch đắc Thiên nguyệt đức hướng bắc phương thiết đàn tế thiên địa thánh thần ngũ tướng các thần, luyện thiên thánh hoàn dĩ tẩy khí giới huựu sanh thập ác cửu xú nhật hướng bắc phương tế ngũ tướng, tái tự thiên thần, nhất hoàn dĩ tẩy khí giới khả dĩ miễn nhất thân chi nạn)


Lược dịch:


Theo sách Thái Ất thần kinh quyển 63 ( sách dạy quân sự, bói toán, Thiên Văn Địa Lý) ,chọn ngày Thiên Đức, Nguyệt Đức, lập đàn trường, hướng phương bắc, tế trời đất và các thần linh, và ngũ tướng, rồi luyện thiên thánh hoàn để rửa khí giới, rồi chọn ngày thập ác cửu xú, hướng phương bắc tế ngũ tướng, và các thiên thần , làm một viên thuốc để rửa khí giới, để bảo vệ thân thể khỏi tai nạn.


C. Từ câu 525. :"Bắc tam nam nhất trong đời dậy danh " cho đến đoạn sau, tác giả nói về các văn quan và 72 tướng. Người ta tin rằng các văn võ tướng xuất hiện ở đời là từ các sao trên trời ứng hiện. Các võ
tướng và văn quan đều ứng vào các sao như Tam thai, Cửu Tọa:, Kim Cang, Bát Bộ, và nhị thập bát tú. Nhị thập bát tứ (二十八宿)

+Đông phương Thanh long (青龍):

Giác (角) • Cang (亢 ) • Đê (氐 ) • Phòng (房) • Tâm (心) • Vĩ (尾) •Cơ (箕)

+Nam phương Chu tước (朱雀 ): Tỉnh (井) • Quỷ (鬼) • Liễu (柳) • Tinh (星) • Trương (張 ) •Dực (翼) • Chẩn (
軫)

+Tây phương Bạch hổ (白虎 ): Khuê (奎) • Lâu (婁) • Vị (胃 ) • Mão (昴) • Tất • Chủy/Tuy (觜) • Sâm (參)

+Bắc phương Huyền vũ (玄武 ): Đẩu (斗 ) • Ngưu (牛) • Nữ (女) • Hư • Nguy (危) • Thất (室 ) • Bích (壁) (畢 ) (
虛)



42. Các vị sao. Các vị sao ứng vào bốn vị quan đầu triều (tứ trụ đại thần): Bắc ba vi, Nam một.Huyện Tiên Du, xã Núi Nguyệt; huyện Bảo Lục, xã Phú Châu ở tại Tức Mặc có hai ông họ Trần. Huyện Đông Ngạn, xã Uy nỗ; huyện THanh  TRì, xã Quang Liệt: hai ông họ Võ.

(Tiên Du huyện, Núi Nguyên xã; Bảo Lục huyện, Phú Châu xã cư tại Tức Mặc xã; tánh Trần. Đông Ngạn, Uy Nỗ xã, Thanh Trì huyện, Quang Liệt xã, tánh Võ)


(43).Những vị tướng xuất hiện ở các huyện xã:

Đông Di huyện, Lộc xá xã, Nguyễn : họ Nguyễn ở huyện Đông Di, xã Lộc Xá Nam Anh huyện, Hòang Đồng xã, Nghiêm: Họ Nghiêm ở huyện Nam Anh, xã Hoàng Đồng. An Việt huyện, An Giang xã, Đào: Họ Đào ở huyện An Việt, xã An Giang.

Kim Đồng huyện, Hoàng Vân xã, Chu.Họ Chu ở huyện Kim Đồng, xã Hoàng Vân. Lão An huyện, Lão An xã, Lưu. Họ Lưu, huyện Lão An, xã Lão An.

Bất Bạt huyện, Khang Bảo xã, cải Phùng thị. họ Phùng ở huyện Bất Bạt, xã Khang Bảo.

Thiên Bản huyện, Cao Hương xã, Lương. họ Lương ở huyện Thiên Bản, xã Cao Hương.

Thanh Lan huyện, Ca xá xã, Võ: họ Võ ở huyện Thanh Lan, xã Ca Xá.


44. Đông Sơn huyện, Đông Vệ xã, Lê.

Nam Đường huyện, Nam Đường xã, Lương.

Họ Lê ở huyện Đông Sơn, xã Đông Vệ; họ Lương ở huyện Thanh Lan, xã Nam Đường.

(45).Gia Lâm, Lý, Phùng nhị tánh; Tiên Du, Đào, Dương nhị tánh :Ở Gia Lâm có họ Lý, họ Phùng; ở Tiên
Du có họ Đào, họ Dương.

(45b).Họ Đoàn ở Chân Lũng làm thủ tướng.Nhưng trong lịch sử từ thời Trịnh Nguyễn cho đến nay chưa có người họ Đoàn làm thủ tướng Việt Nam và xây dựng Việt Nam hùng cường.

(46) .An Lão xã, Nghi Dương huyện, Võ: họ Võ ở huyện Nghi Dương, xã An Lão.

(47). Lương Võ huyện, Dao Thủy xã, Võ: họ Võ huyện Lương Võ,xã Dao Thủy .

(48). Cẩm Giang huyện, Trần; Lương Tài huyện, Trần: họ TRần ở huyện CẨm GIàng, và huyện Lương Tài.

(49). Sao Giao, An Viễn họ Thân, (An Viễn huyện, An Viễn xã): huyện an Viễn, xã An viễn có họ Thân. (50 ).Chủy, Dực: Hoàng thi, Châu thị nhị tánh: Sao Chủy , sao Dực ứng vào hai ông họ Châu , và họ Hoàng .

(51). Ô Sơn huyện HoàngNguyễn; Ý Yên huyện đồng Hoàng; Đại Yên huyện: Phạm; Hữu Lũng  huyện Lưu; Đông Ngạn Lê:
Ở huyện Ô Sơn có họ Hoàng, họ Nguyễn; ở huyện Ý Yên có họ Hoàng; ở huyện Đại Yên có họ Phạm; ở huyện Hữu Lũng có họ Lưu; ở huyện Đông Ngạn có họ Lê.

(52). Từ Liêm huyện, Đông Ngạn xã: Quách; Lương Tài, Đich Sứ xã:Châu, Đông Ngạn huyện: Lưu) :Họ Quách ở huyện Từ Liêm, xã Đông Ngạn; họ Châu ở huyện Lương Tài, xã Đich Sử; họ Lưu ở huyện Từ Liêm, xã Đông Ngạn).

(53). Tiên Du huyện: Nguyễn; Thán Sơn: Nguyễn; Đường An huyện Tô Võ Châu: họ NGuyễn ở Tiên Du; họ
Nguyễn ở Thán Sơn; họ Tô, Võ và họ Châu ở huyện Đường An.

(54). Linh Loại huyện, Võ;Võ Ninh huyện Võ; họ Võ huyện Linh Loại, và ở huyện huyện Võ Ninh.

(55).Nghi Dương huyện, Khúc Xuân xã Nguyễn: họ Nguyễn ở huyện Nghi Dương, xã Khúc Xuân.

(56).Quế Dương huyện, Hoa VI xã: họ Trần. Hiệp Hòa huyện, Quế Dương huyện, Kỳ Sơn xã họ Lý: Tại huyện Quế Dương, xã Hoa Vi, có họ Trần; tại huyệnn HIệp HÒa, huyện Quế Dương, xã Kỳ Sơn:có họ Lý.

(57).Kim Hoa huyện, Mỹ Lộc xã: Trần; La Lộc xã:Trần: Huyện Kim Hoa, xã Mỹ Lộc có họ Trần; ở xã La Lộc có họ Trần.
 
D. Từ câu 590 đến 635 tác giả nêu tên các anh hùng ở các huyện xã thí dụ :

Thanh Đàn, Na ngạn, Thanh Oai
Lưu, Nghiêm, Nguyễn Phạm nên trai anh hùng.
595. U châu Nguyễn ứng Thiên Đồng,
Thiên Lương họ Võ ở dòng Võ Minh.


Nghĩa là ở Thanh Đàm, Na, NGạn, Thanh Oai có các họ Lưu, NGhiêm, Nguyễn , Phạm.; U châu có họ Nguyễn vốn là sao Thiên Đồng, họ Võ ở Võ Minh là sao Thiên Lương ứng hợp.


Trải các đời, chỉ có đời Mạc đến đời Trịnh Nguyễn và Tây Sơn nước ta nhiễu nhương qua nhiều thế kỷ. Các anh hùng này thật ra là bọn thảo khấu, lẽ nào do nhị thập bát tú sinh ra?

Lại nữa, từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa mở ra cơ đồ mới thì anh hùng thiên hạ cũng chuyển về Nam như đám Tây Sơn, Ngô Văn Sở, Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh... đâu phải chỉ người vùng tam giác châu Bắc Việt?


(58).Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,

(Tự thìn niên thập nguyệt chí tị niên tứ nguyệt) Từ tháng 10 năm thìn đến tháng 4 năm tị.


(59). Mã đề túc tận hưu binh. (Tự ngọ niên lục nguyệt chí vị niên thập nhị nguyệt): từ tháng sáu năm ngọ đến tháng chạp năm mùi thì ngưng chiến.


(60). Nhất sĩ thị tri anh hùng tận,
Thân dậu niên gian hưởng thái bình (Thân niên nhị nguyệt, dậu niên thập nguyệt)

Kẻ sĩ biết đó là các bậc anh hùng hết thời ; đến tháng hai năm thân, tháng mười năm dậu thì thiên hạ thái bình.


E. Các bài thơ sau, ý tứ sâu xa, khó dịch.
 

 
160    Sấm Trạng Trình Toàn Tập - Nguyễn Thiên Thụ                                                             
 www.vietnamvanhien.net (http://www.vietnamvanhien.net)









HẾT