Tháng Giêng 22, 2018, 06:17:13 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 11   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: THẦN THÁNH TRUNG HOA-- 華 夏 諸 神  (Đọc 56562 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Bảy 07, 2008, 02:36:05 pm »

THẦN THÁNH TRUNG HOA

                              TẬP  I
*Lời giới thiệu:- Nhận thấy từ trước đến nay, người Việt Nam chúng ta theo phong tục tập quán của người Trung Hoa, nên đã tin tưởng và thờ phụng rất nhiều vị Thánh, Thần giống như người Trung Hoa. Tài liệu giải thích về các Ngài thì quá ít và không có cơ sở khảo cứu , chỉ theo truyền khẩu nhiều hơn. Nay tôi xin cố gắng dịch những tài liệu nầy từ một Website có uy  tín và khảo cứu cẩn thận, xin kính tặng tất cả huynh đệ trong 4R-HTT. Nếu có chỗ nào sai sót, xin quí cao nhân hoan hỉ chỉ bảo cho (kèm theo nguyên tác  để quí vị dễ đối chiếu).
Xin thành thật cảm ơn quí huynh đệ.

*Nhược Thủy
(mùa Hạ năm Mậu Tí-2008)
-------------------------------------------------------------------------------------------
             MỤC LỤC
TẬP I
(theo thứ tự đăng trên Web. HTT)
***
1.- Ngọc Hoàng Thượng Đế (bài tóm tắt)
2.- Huyền Thiên Thượng Đế
3.- Nguyên Thủy Thiên Tôn
4.- Ngọc Hoàng Đại Đế (bài chi tiết)
5.- Tây Vương Mẫu
6.- Cửu Thiên Huyền Nữ
7.- Nữ Oa Nương Nương
8.- Thái Thượng Lão Quân
9.- Phụ lục:- Tam Hoàng + Ngũ Đế
10.- Bảo Sanh Đại Đế
11.- Tam Quan Đại Đế
12.- Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu
13.- Văn Xương Đế Quân
14.- Quan Thánh Đế Quân
15.- Thập điện Diêm La Vương
16.- Định Phước Táo Quân (Ông Táo)
17.- Phước Đức Chính Thần (Thổ Địa)
18.- Tài Thần (Thần Tài)
19.- Thành Hoàng
20.- Thái Tuế
21.- PL:-Tên của 60 Thái Tuế theo sáu trường phái
22.- PL:- Kinh Minh Thánh của Đức Quan Thánh Đế Quân
23.- Cách cúng an vị Thái Tuế mỗi năm (có bài vị mẫu vả thần chú)
24.- Chức năng của Nhị Thập Bát Tú (cai quản về việc gì của con người)
25.- Bắc Đẩu Thất Tinh Nguyên (Ngươn) Quân
26.-Thần chú Bắc Đẩu Tiêu Tai cho từng tuổi hàng ngày (giải trừ vận xấu)
27.-Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân năng giải ách.
28.- Nguyên Thần Điện ( Điện thờ các tinh tú)
29.-Bắc Đẩu Chân Kinh
30.- Tiên Thiên Tôn Thần--Tứ Ngự
31.-Tiên Thiên Tôn Thần--Tam Thanh--Linh Bửu Thiên Tôn
32.-Thái Thượng Linh Bửu Thiên Tôn thuyết Diên Thọ Kinh
33.-Tiên Thiên Tôn Thần-Tứ Ngự--THỔ HOÀNG (Hậu Thổ)
34.-Tiên Thiên Tôn Thần-Tứ Ngự--Câu Trần Đại Đế
35.- Tiên Thiên Tôn thần-LÔI  TỔ
36.- Lôi Bộ Ngũ Nguyên Soái
37.- Lôi Công --  Điễn  Mẫu
38.-Chân Vũ Đại Đế (bổ sung bài Huyền Thiên Thượng Đế)
39.- Đông Nhạc Đại Đế
40.- Hỏa Đức Tinh Quân
41.- Viêm Đế   THẦN  NÔNG
42.- Tam Thái Tử (Na Tra)
43.- Lữ Đồng Tân (Phù Hữu Đế Quân)
44.- Chú Sanh Nương Nương (Bà Chúa Thai Sanh)
45.- Thái Âm Nương Nương (Nguyệt Nương)
46.- Nguyệt Hạ Lão Nhân (Nguyệt Lão)
47.- Môn Thần
48.- Hòa Hợp Nhị Tiên (Hàn Sơn -- Thập Ðắc) 
49.- Pháp Chủ Công
50.- Tế Công Hoạt Phật--Phụ lục:- Tế Công Thánh Huấn
51.- Thất Nương Mụ (Má)
52.- Sàng  Mụ (Má)
53.- Thái Dương Tinh Quân
54.-Khai Chương Thánh Vương
55.- Tam Sơn Quốc Vương
56.- Thanh Thủy Tổ Sư
57.- Khôi Tinh
58.- Thương Hiệt Tổ Sư 
59.- Bát Tiên (tổng quát)
60.- Tiểu sử của Bát Tiên (viết theo truyện Đông Du Bát Tiên)
61.- Bích Hà Nguyên Quân.
62.- Tam Tinh Phước Lộc Thọ.
63.- Vũ Sư (Thần Mưa)
64.- Phong Bá (Thần Gió)
65.- Long Vương
66.- Thờ Bạch Hổ
67.- Thiên Đình (cách tổ chức)
68.- Nhị Thập Bát Tú (hệ thống, tên sao, ý nghĩa, sao ngày nay theo Thiên văn)
69.- Thạch Cảm Đương (Đang) (bùa đá trấn yểm)
70.- Nam Cực Trường Sinh Đại Đế (Nam Cực Tiên Ông)
71.- Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn
72.- Đông Vương Công (Mộc Công)   
73. Đẳng cấp của Thần Thánh
74.- Giới thiệu tổng quát về Thần Thánh Trung Hoa (bài đầu tiên)
75.-Giới thiệu tóm tắt Thần Thánh Trung Hoa theo lịch sử  
76.- Trung thiên Bắc Cực Tử Vi Đại Đế        

(Hết Tập I--Xin xem tiếp Tập  II )       


****************************************************************************

“玉皇大帝”   原名叫什么 ?

玉皇大帝的來曆:玉皇大帝簡稱玉皇,又稱昊天金闕絰尊玉皇大帝、玄穹鄗上玉皇大帝。宋代真宗和徽宗都上有圣號。宋真宗上圣號為太上開天執符御曆含真体道玉皇大天帝。宋徽宗上圣號為太上開天執符御曆含真体道昊天玉皇上帝。道經中佺稱作昊天金闕無上絰尊自然妙有彌儸絰尊玉皇上帝。据《鄗上玉皇本行集經》,玉皇大帝乃昊天界上光嚴淨樂國王与寶月光皇后所生之子。出生之時,身寶光焰,充滿王國。幼而敏慧,長而慈仁,將國中庫藏財寶,儘散施窮乏困楛、鰥寡孤獨、無所依靠、飢饉殘疾的一切眾生。淨樂國王駕崩后,太子治政有方,告敕大臣,俯含眾生,遂捨國赴普明香岩山修道,經三千二百劫,始証金仙初號自然覺皇,又經億劫,始証玉帝。
万神之帝:玉皇大帝是諸天之帝、仙真之王、圣尊之主,三界万神、三洞仙真的最鄗神。玉皇有制命九天階級、征召四海五岳之神的權力。万神都列班隨侍其左右,猶如人世僩的皇帝和公卿。白居易有詩稱「安期羨門輩,列侍如公卿。仰謁玉皇帝,稽首前緻誠」

總執天道:玉皇大帝是三清之化身。三清与玉皇,猶如先虛無而后妙有,先無极而后有太极,先無為而后有為。故玉皇為三才主宰,掌天地人之均軸。玉皇大帝遣紫微北极大帝掌天地經緯,遣勾陳上宮大帝掌天地人三才,主人僩兵革,遣后土皇地只掌陰昜生淯、大地山河。天地万物、陰昜造化無不在玉皇大帝所掌之中。

奉祀:玉皇大帝神誕之日為正月初九日。道教宮觀要舉行金箓醮儀,稱「玉皇會」。參加醮儀的道士和道教信徒都要祭拜玉皇大帝,行「齋天」大禮,以祈福延壽。福建和台灣省民眾稱玉皇大帝為「天公」。正月初九要「拜天公」,一傢老小,齋戒沐浴,上香行禮,祭拜誦經,有的地方還唱戲娛神。中國北方過去還有舉行玉皇祭,抬玉皇神像游村巡街的習俗。十二月二十五日伝稱是玉皇大帝下巡人僩的日子,舊時道觀和民僩都要燒香唸經,迎送玉皇大帝。


*DỊCH:-

 *Nguyên danh của  NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là gì ?
                               ***
Tiểu sử Đức Ngọc Hoàng Đại Đế như sau:-

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  gọi tắt là NGỌC HOÀNG , cũng xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Điệt Tôn NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  hay Huyền Khung Cao Thượng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ .
Đời nhà Tống, vua Chân Tông và  Huy Tông đều có thánh hiệu nầy. Tống Chân Tông thì xưng là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chân Thể Đạo NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN ĐẾ . Tống Huy Tông thì xưng là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chân Thể Đạo Hạo Thiên NGỌC HOÀNG THƯỢNG  ĐẾ . Còn trong Đạo Kinh tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Điệt Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Điệt Tôn NGỌC HOÀNG  THƯỢNG ĐẾ .

*Y cứ vào “Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh”,  ở  Hạo Thiên giới, có đức Quang Nghiêm  Tịnh Lạc quốc vương và Hoàng hậu Bảo Nguyệt hạ sinh ra NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Khi vừa sinh ra, toàn thân tỏa hào quang. Trong nước tất cả đều được sung mãn, lúc còn nhỏ thì Ngài được thông minh sáng suốt, khi lớn lên thì tâm từ chan rãi khắp nơi, đem tiền bạc vật báu trong kho ra bố thí cho những kẻ nghèo nàn khốn khó, cô đơn không nơi nương tựa, đói rách tàn tật. Sau khi quốc vương Tịnh Lạc băng hà, thì Thái tử lên ngôi trị vì, đất nước rất phồn thịnh. Một thời gian sau, vua giao lại nước cho các đại thần, rồi vào trong núi Phổ Minh Hương Nham mà tu hành, trải qua ba ngàn hai trăm kiếp
chứng được kim tiên, lấy hiệu là “Tự Nhiên Giác Hoàng”, lại trải qua trăm ngàn kiếp nữa mới chứng Ngọc Đế.

1.- LÀ VUA CỦA MUÔN THẦN:-

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là vua các cõi trời, các cõi tiên; là chủ của các cõi thánh, là Thần tối cao  của ba động Tiên, của các Thần trong tam giới. Ngọc Hoàng có quyền ra mệnh lệnh cho chín từng trời, cai trị các thần trong năm non bốn biển. Đi đâu thì muôn thần theo làm tả hữu, giống như hoàng đế trần gian có các bề tôi theo hầu vậy. Ông Bạch Cư Dị có bài thơ rằng:-

“An kỳ tiện môn bối,
Liệt thị như công khanh
Ngưỡng yết Ngọc Hoàng đế,
Khể thủ tiền trí thành”

*Dịch:-

“Xung quanh nhiều kẻ hầu,
Giống như các quan chầu
Ra mắt đức Ngọc Đế,
Như thành kín, cúi đầu”
(các quan vây quanh như tường thành kín đáo vậy)

2.- CAI QUẢN HẾT THIÊN ĐẠO:-

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là hóa thân của Tam Thanh. Ngọc Hoàng đối với tam thanh giống như là trước thì không có mà sau thì  diệu hữu, trước là Vô cực sau là Thái cực , trước thì vô vi sau là hữu vi vậy. Vì thế, Ngọc Hoàng là chủ tể của Tam tài, đứng đầu thiên địa nhân. Ngọc Hoàng điều khiển Tử Vi Bắc Cực Đại Đế điều hành ngang dọc của trời đất; khiển Câu Trần Thượng Cung Đại Đế điều hành Tam Tài, chấm dứt việc binh đao; khiển  Hậu Thổ Hoàng Địa theo âm dương mà sanh sanh hóa hóa. Nói chung, khắp cả đất trời, núi sông đất lớn, tạo hóa âm dương …không có gì ở ngoài sự chưởng quản của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ .

*VIỆC CÚNG TẾ:-

Ngày đàn sanh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là mùng chín tháng giêng. Nơi các cung quán đền miếu của Đạo Giáo đều có cử hành nghi thức cúng tế, gọi là “Hội Ngọc Hoàng” . Đạo sĩ và tín chúng tụ hội tổ chức đại lễ “Trai thiên” (Lễ Chạp Trời) để cầu xin được ban bố phúc đức, thọ mạng dài lâu.
Ở hai tỉnh Phúc Kiến và Đài Loan, dân chúng gọi NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là “Thiên Công” (Ông TRỜI), ngày mùng 9 tháng 1 gọi là lễ “Bái thiên công” (lạy ông Trời). Cả nhà già trẻ bé lớn , đều ăn chay, tắm gội sạch sẻ, dâng hương lễ bái, tụng kinh. Có nơi còn tổ chức hát ca vui vẻ. Miền bắc Trung Quốc còn có tập tục rước kiệu tượng Ngọc Hoàng đi vòng quanh khắp đường trong xóm ấp mình. Đến ngày 25 tháng chạp , các đạo quán và dân chúng làm lễ dâng hương tụng kinh để kính tiễn Ngọc Hoàng.

***

NHƯỢC  THỦY  dịch
(từ [url]http://www.chinesefolklore.com[/url])

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
MaP, admin, PaM, SCC, SGQUAY, Zelda-V, giang, yeutuvi, langtutamphong, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, tadamina, mavuong, dieu thien, Be Bot, phaolon, dailuc, dieunha, tennidoan
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 02, 2008, 03:25:51 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
MaP
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 379

Cảm Ơn
-Gửi: 330
-Nhận: 696



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Bảy 07, 2008, 07:22:21 pm »

xin bác Nhược Thủy thông tin về Ngài Huyền Thiên Thượng Đế, cai quản phương Bắc .... không biết bác có ko, nếu có xin bác Post lên.
Cám ơn Bác. Chúc bác luôn mạnh khỏe an vui.
Thân Kính.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
PaM, nhuocthuy, Zelda-V, yeutuvi, Ngocha, chilin1987, chanhnguyen, Ngoisaobiec, dieu thien, dieunha, lethuytienac, nguyenthuy
Logged

Om Ah Hum Ram Hrid
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Bảy 08, 2008, 02:54:07 pm »

HUYỀN THIÊN THƯỢNG ĐẾ


玄天上帝

  中國民間自古以來就有天人感應的思想,他們相信天上星宿的運轉和人類的命運息息相關,而在眾星運圍的世界中,唯有北極星永恆不動,先民就把北極星神格化,奉為北斗星君,是星辰神祗里,最尊貴的星君。
  玄天上帝威風凜凜,八面生風,其形象為披發黑衣、手持寶劍、足踏龜蛇,衛將執黑旗,兩旁為金童玉女,水火二將。但玄天上帝的原形卻是兩只爬虫──龜與蛇的合體,龜蛇合體之形,則起源于遠古的星宿崇拜。
  「玄天上帝」全稱為「佑聖真武玄天上帝終劫濟苦天尊」,又稱北極玄天上帝、玄武帝、北極大帝、真武大帝、真武大將軍、玄天大帝、元天上帝、開天大帝、開天炎帝、真武帝、開天真帝、水長上帝、真如大帝、元武神、北極佑聖真君、元帝、北極聖神君、小上帝等諸尊號,清代文獻志書對其尊稱繁多,簡稱上帝公、上帝爺、帝爺公。
  道家則認為,北方是幽暗寒冷的地方,也是人死後陰魂的歸宿,因此把黑星叫作玄,而統治北方黑色陰暗世界的神,就稱「玄天上帝」,廣受眾信所信,歷代帝祀亦極為普遍。
  古時統稱北方的七星:斗、牛、女、虛、危、寶、壁七宿為玄武,也就是指北斗星,據《禮記》所載:「前朱鳥,而后玄武」。朱鳥是指南方的七星。中國古代把天上的恆星分成二十八個星座,稱為「二十八宿」。又把二十八宿分為東西南北四組,每組七個星宿,想像成一種動物形象。根據五方配五色的說法,即成為東方青龍,南方朱雀,西方白虎,北方玄武(龜蛇)所謂「四象」。
  龜為「四靈」(龍、鳳、麟、龜)之一,蛇也被認為是有神性的靈物,這兩種爬虫頗受古人青睞。北方玄武七宿遂被想像為龜蛇相繼之形。最初,玄武與青龍、朱雀、白虎,同為道教的護法神,是普通的小神。以后玄武異軍突起,逐漸成為道教大神,被說成是奉玉帝之命鎮守北方的統帥。歷代帝王封其為真君、帝君、上帝,步步高升。因為宋代皇帝避其祖趙玄朗名諱,改玄武為「真武」。宋神宗時立為玄天上帝,這就是星神的人格化。
  按道教的說法,「玄」乃龜蛇,位於北方,色黑所以稱玄。玄武以龜蛇合體以應北宿之象,俗信天界帝王位於北極,乃天一之帝,應兆虛危,司經緯於北,為北方壬癸至靈神,金闕真尊應化身。「玄天上帝」乃北極玄武星君的化身,道教尊上帝為「三元都統帥」,為萬法教主稱號,統管三十六元帥,其神威赫濯,靈驗無比,是道教靈威最盛,信仰最廣的神明之一,尊「玄天上帝」為道教靈威鼎盛高級神明,奉祀於「北極殿」或「真武殿」。
  早在漢朝,人們即蓋廟奉祀「玄武真君」。到了宋朝,開國皇帝名字之「胤」與「玄」字意義相關,為了「避諱」,改稱「玄武」為「真武」。可是到了宋真宗時,亦為了「避諱」,又把「真武」改回「玄武」。千年間,「玄武真君」都只稱「君」、「師」,未曾稱「帝」。
  相傳元朝未年間,某次朱元璋戰敗,逃入武當山真武廟,避過追兵,逃過大難。後來朱元璋建立明朝,即位後感念真武救命之恩,下令改建真武廟,重塑金身,又謝賜御題「北極神殿」匾額,加封號為「玄天上帝」。
  相傳玄天上帝是一名王子,黃帝時,玄武脫胎于淨樂園善勝皇后,幼時已修道,長而威勇,不愿繼承王位。後得紫元君所授秘法,又遇天神授以寶劍,入武當山修練,四十二年功成,白日飛升。因為統領天兵天將,戰伐有功,奉玉帝之命,鎮守北方,封為玄天上帝。
  民間俗傳,玄天上帝原為民間一名屠夫,以殺豬為業,到了晚年,悔悟殺生太多,難積陰德,逐決心修道,毅然放下屠刀,隱入深山,修真養性。得觀音顯靈點化,謂他殺生太多,罪孽太深,必須自切腹肚,取出五藏在河中洗淨方能得正果。屠夫依言切腹割出內臟在河中洗滌,河水盡變黑色,直洗至河水澄清,才把內臟納回腹中。
  屠夫之行,至感動天,遂修成正果,這就是俗稱「放下屠刀,立地成佛」的典故。
  而他丟在河裡的腸胃,經年累月吸收天地精氣後,竟變成龜蛇危害世人,玄天上帝即下凡收伏,誰知打敗仗。只好請保生大帝幫忙,以三十六天將(三十六天罡星)作為抵押,借到「伏魔北斗七星劍」,與龜蛇大戰,劍光起處,果然龜蛇皆被制服。可是一收劍,龜蛇又蠢蠢欲動。玄天上帝迫於無奈,只好把龜蛇踩在腳下,運用神功壓住。而手握之北斗七星劍,須臾不敢放鬆,無法歸還給保生大帝,而三十六天將則歸保生大帝所擁有了。後來龜蛇變成玄天上帝的從神,供奉在他左右。
  另有傳說,昔日有一位屠夫,和一個吃齋人同路參拜昆侖山觀音佛祖,過河不能渡過,吃齋人躊躇不前,屠夫則朝拜心切,不顧生死的奮勇跳進河里,拼命划水強行渡河,終于到達彼岸。但是因為他以往殺生太多,六根不淨,不能獲許進入聖地。於是,屠夫就自己剖開肚皮,取出內臟,以表示自己的清淨和虔誠,致感天庭,將他的胃化為龜,腸化為蛇,載著屠夫升上天界,成為玄天上帝。又說,因為他自開肚皮以示清淨,后世又稱呼為「開心尊者」。
  《神異傳》:「真君仗劍,追天關地軸之妖,冠履俱喪,伏而收之,故塑像猙獰,冠裳不整,底下伏龜、蛇各一,龜,天之關也,蛇,地軸也。」
  《圖志》:「真武為淨樂王太子,修練于武當山,功成飛升,奉上帝命鎮守北天門,披發跣足,建皂纛旗。」
  《金陵志》:「真武大帝,即元武七宿也,故作龜、蛇于其下,龜、蛇者,元武象也。」
  《澎湖妃略》載:「北極真武元天上帝,乃北方元武之神,元武屬水,水色黑,故帝衣旗幟俱黑,即所謂元冥乘坎而司冬,稱冬帝曰黑帶是也,神為五行之一,五行之祀,載于月令,此天地之正氣也,說者謂帝北而位南,南為火,不相克耶?不知民非水人不生活,坎離相濟,而人得以養,今南方祝融之墟多祀者,此也?」
  《台灣縣志》:「真武廟,一在東安坊,一在鎮北坊,祀北極佑聖真君,邑之形勝,有安平鎮、七鯤身為北關,鹿耳門、北線尾為地軸,酷肖龜蛇,鄭氏踞台,因多建真武廟,以為此邦之鎮云。」
  而玄天上帝的造型:頭戴皇冠、威嚴顯赫、身披黑衣、五綹長鬚、面容慈祥、右手持北斗七星劍、左手印訣、赤足、右腳踏蛇、左腳踩龜。身後衛將執黑旗,兩旁為金童玉女,水火二將。
  相傳玄天上帝屬下康、趙、劉、林四大元帥,輔佐上帝公鎮護宮闕、保佑生靈。依據三教搜神大全所載,康元帥,名妙威,係龍馬之精所轉世,玉帝封為仁聖元帥。趙元帥,名朗一,字公明,號永昶,秦時避居山中,精修至道,功德圓滿,玉帝封為神霄副將。而劉、林元帥之生平事蹟,僅傳其為玄天上帝之副將,輔佐玄天上帝求道,護衛玄天上帝得道昇天,圓滿有功,玉帝封為神霄副將。
  農曆三月初三為玄天上帝壽辰。


(Miếu Thờ HTTD)

*Dịch:-

Huyền Thiên Thượng  Đế

Theo tín ngưỡng dân gian từ xưa đến nay của người Trung Quốc thì luôn có tư tưởng “cảm ứng” giữa người và trời đất. Họ tin rằng có sự tương quan giữa việc tinh tú vận chuyển và mệnh vận con người. Trong số những tinh tú, tất cả đều di chuyển chỉ trừ “Sao Bắc Cực” là chẳng động, cho nên người ta đã thần thánh hóa gọi đó là “Bắc Đẩu Tinh Quân” , ý nói lên đó là một ngôi sao tôn quí nhất. Hình tượng hóa gọi là Huyền Thiên Thượng Đế  .
Huyền Thiên Thượng Đế  uy phong lẫm liệt, tám mặt sinh gió. Hình dáng là một vị mặc áo bào đen, tay cầm bảo kiếm, chân đạp lên rùa và rắn. Hai bên có Kim Đồng Ngọc Nữ tay cầm cờ đen theo hầu, gọi là hai tướng thủy hỏa. Nhưng nguyên hình của Huyền Thiên Thượng Đế  là sự kết hợp của rùa và rắn tạo thành, tức là “lưỡng chỉ bà trùng”. Hình tướng rùa rắn hợp thành nầy, chính là kết quả của sự sùng bái tinh tú từ thời xa xưa tạo nên. 

Huyền Thiên Thượng Đế  gọi đầy đủ là “Hựu Thánh Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế  Chung Kiếp Tế Khổ Thiên Tôn” , cũng còn xưng các danh hiệu khác là “Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế”, “Huyền Vũ Đế”, “Bắc Cực Đại Đế”, “Chân Vũ Đại Đế”, “Chân Vũ Đại Tướng Quân”, “Nguyên Thiên Thượng Đế”, “Khai Thiên Đại Đế”, “Khai Thiên Viêm Đế”, “Chân Vũ Đế”, “Khai Thiên Chân Đế”, “Thủy Trường Thượng Đế”, “Chân Như Đại Đế”, “Nguyên Vũ Thần”, “Bắc Cực Hựu Thánh Chân Quân”, “Nguyên Đế”, “Bắc Cực Thánh Thần Quân”, “Tiểu Thượng Đế”. Đến đời nhà Thanh thì sách vở văn hóa tôn xưng Ngài quá nhiều, gọi tắt là “Thượng Đế Công”, “Thượng Đế Gia”, “Đế Gia Công”.

Đạo gia nhận ra rằng, phương Bắc là nơi lạnh lẽo u ám, cũng là hồn con người trở về sau khi chết. Do đó, cho rằng phương Bắc rất huyền diệu, mà vị thống trị phương Bắc u ám đen tối nầy là “Huyền Thiên Thượng Đế  ”.Niềm tin của quần chúng lớn dần, khi trải qua nhiều đời vua chúa tín ngưỡng cúng tế.
Đời xưa, gọi bảy sao phương bắc :- Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích chung một tên là “Huyền Vũ”, cũng để chỉ cho “Sao Bắc Đẩu”.
Căn cứ vào sách “Lễ Ký”, nói rằng “Tiền Châu Tước, hậu Huyền Vũ” (phía trước là chòm sao Châu Tước, phía sau là chòm sao Huyền Vũ). Châu Tước là để chỉ cho sáu sao phương Nam. Các nhà thiên văn Trung Quốc xưa, chia các vì tinh tú ra thành 28 chòm, gọi là “Nhị thập bát tú”, rồi lấy 28 chòm sao nầy làm giới hạn để định  ra bốn “tổ” (hướng)  Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi tổ có 7 chòm sao, tưởng tượng đến các hình tượng con vật, kết hợp với lý luận năm phương năm sắc, thành ra :-
-phương Đông gọi là Thanh Long. (rồng xanh)
-phương Nam gọi là Châu Tước. (chim sẻ đỏ)
-phương Tây gọi là Bạch Hổ. (hổ trắng)
-phương Bắc gọi là Huyền Vũ (rùa rắn phối hợp)
như thế thành ra “Tứ Tượng”.
*Rùa là một trong “tứ linh” (long, lân, quy, phượng), còn rắn là  một con vật linh thiêng thần thoại, người xưa rất tôn quí. Bảy sao  phương bắc Huyền Vũ  được tưởng tượng thành con vật phối hợp giữa rùa và rắn. Ngày xưa, Đạo giáo tôn xưng bốn vị Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Châu Tước là bốn vị thần Hộ Pháp, nghĩa là bốn vị tiểu thần mà thôi. Nhưng sau đó, đột nhiên Huyền Vũ được trở thành vị thần lớn của Đạo giáo, là vị Thống Soái phụng lãnh mệnh lệnh của Ngọc Đế trấn giữ phương Bắc . Nhiều đời vua chúa phong tặng là “Chân Quân”, “Đế Quân”, “Thượng Đế”… ngày càng cao thêm . Triều đại nhà Tống sửa đổi “huyền vũ” thành ra “chân vũ ” , đến đời Tống Thần Tông  phong là “Huyền Thiên Thượng Đế”, đó là tinh thần “nhân cách hóa” sự vật.
Theo quan điểm Đạo giáo, “huyền” là hợp hai thứ rùa rắn, ở phương bắc, màu đen nên xưng huyền. Mà phương Bắc là vị trí của đế vương, nên Huyền Vũ là “vua của bầu trời”, gọi là “Bắc phương Nhâm Quý chí linh thần” , là vị “ứng hóa thân của Kim Khuyết Chân Tôn” (Ngọc Đế).
Huyền Thiên Thượng Đế  cũng là hóa thân của “Bắc Cực Huyền Vũ Tinh Quân” , Đạo giáo cũng còn tôn xưng Ngài là “Tam nguyên đô thống soái”, tức là giáo chủ của muôn pháp, thống quản cả 36 vị nguyên soái khác, có uy quyền vượt trội, sự linh nghiệm không ai hơn, là vị “Tối linh Tối thịnh” trong Đạo giáo, là vị thần minh lớn nhất. Như vậy, Huyền Thiên Thượng Đế  là vị thần cao cấp nhất, được thờ phụng trong “Bắc Cực Điện” hay “Chân Vũ Điện”.

* Triều đại nhà Hán, gọi là miếu thờ “Huyền Vũ Chân Quân”. Đến đời Tống, vì vua khai quốc tên “DẬN” có liên quan ý nghĩa đến “Huyền” nên kỵ húy đổi “huyền vũ” thành “chân vũ”, nhưng đến Tống Chân Tông thì bỏ lệ kỵ húy nầy, trả “chân vũ” trở lại thành “huyền vũ”. Suốt cả ngàn năm, “Huyền Vũ Chân Quân” đều chỉ xưng là “Quân” hay “Sư” chứ chưa bao giờ xưng “Đế” .
Tương truyền vào cuối nhà Nguyên, ông Chu Nguyên Chương trong một lần thất trận, trốn vào miếu thờ “Chân Vũ” mà thoát khỏi nạn đuổi bắt của binh lính nhà Nguyên, nên sau khi lên ngôi lập ra nhà Minh, ông hạ lệnh cho trùng tu các miếu thờ “Chân Vũ”, tô đắp tượng bằng vàng, lại tự đề bút sắc phong miếu thờ thành “Bắc Cực Thần Điện” nơi tấm bảng treo trước cửa và gia phong cho Ngài thành ra “ Huyền Thiên Thượng Đế ”.

* Cũng theo truyền thuyết Đạo giáo , Ngài Huyền Thiên Thượng Đế  vốn là một vương tử. Vào thời Huỳnh Đế, Ngài thoát thai nơi hoàng hậu Thiện Thắng ở Tịnh Lạc Viên. Lúc trẻ đã có tâm  tu hành, lớn lên thành thanh niên uy dũng nhưng  không muốn kế thừa ngôi vua. Về sau, được vị Nguyên Quân truyền trao “bí pháp”, lại được thiên thần trao tặng kiếm báu, vào Vũ Đương Sơn tu luyện, suốt 42 năm thì đắc quả sanh thiên. Nhân vì có công thống lãnh thiên binh thiên tướng  chinh phạt giặc dữ thành công, nên Ngọc Đế phong cho Huyền Thiên Thượng Đế  , trấn giữ phương Bắc.

*  Còn theo truyền thuyết dân gian, Huyền Thiên Thượng Đế  vốn là một người đồ tể, mỗ heo sinh sống. Lúc tuổi về già, ăn năn nghiệp sát sanh quá nặng, không tích chứa được công đức, nên quyết chí tu đạo, buông đao đồ tể, vào chốn thâm sơn tu tập. Ngài đã siêng năng tu tâm dưỡng tánh nhiều năm, nên được đức Quan Âm điểm hóa cho. Đức Quan Âm nói rằng, vì trước đây, Ngài đã sát sanh quá nhiều, phải làm lễ “Tẩy rửa gan ruột” mới có thể chứng quả. Ngài đã tin tưởng hết sức chân thành ,can đảm tự mỗ bụng mình ra, rồi đem ruột gan xuống sông tẩy rửa, cắt bỏ những phần bao tử và ruột bị hư thúi,  làm đen cả khúc sông, cứ rửa mãi cho đến khi nước sông trong trở lại,  mới đem gan ruột cho vào bên trong bụng may lại. Hành động nầy cảm ứng đến trời nên được đắc thành chánh quả, được phong là “ Huyền Thiên Thượng Đế  ”. Từ đó mới  xuất hiện điển cố “Phóng hạ đồ đao, lập  địa thành Phật” (buông dao đồ tể, trọn nguyện thành Phật).
Nhưng những phần bao tử và ruột của Ngài cắt bỏ nơi sông, trải qua nhiều năm tháng hấp thụ tinh khí trời đất, biến thành hai con Yêu Rùa Và  Yêu Rắn, làm hại người trần, Huyền Thiên Thượng Đế  phải tự thân hạ giáng trần gian để thu phục  hai con yêu nầy. Lúc đầu, Ngài địch không nổi với hai con yêu nầy, phải cầu thỉnh với “Bảo Sanh Đại Đế” trợ giúp. Nhờ vào uy lực của 36 thiên tướng ( 36 ngôi thiên cương) bao vây và nhờ có thần lực kiếm quang  mạnh mẽ của “Phục ma Bắc đẩu thất tinh kiếm” mới  đè bẹp  được hai con yêu nầy.Nhưng hễ dở kiếm lên thì hai con yêu lại toan cựa quậy, ví thế Ngài phải dùng chân đạp hai con yêu nấy để kềm thúc chúng, mới trả kiếm lại cho Bảo Sanh Đại Đế được. Từ đó, rùa và rắn trở thành hai người hộ vệ hai bên tả hữu của Ngài.

*Lại có một truyền thuyết khác, ngày xưa có  một người  đổ tể và một vị ăn chay trường cùng đi trên con đường đến yết kiến Phật Quan Âm ở núi Côn Lôn. Lúc đi qua sông nhưng không có phương tiện để qua, vị ăn chay lòng trù trừ chẳng muốn đi tiếp, còn người đồ tể thì có lòng tha thiết muốn triều bái Phật, chẳng nệ sông chết liều mạng bơi qua sông, kết cuộc đến nơi. Nhưng vì trước đây ông đã sat sanh quá nhiều, sáu căn không thanh tịnh, nến không thể tiến vào bên trong được. Do vậy, người đồ tể tự mỗ bụng bày ra nội tạng để tỏ lòng chí thành . Do đó cảm động đến thiên đình, Ngọc Đế cho phép lấy bao tử của ông biến thành con rùa, còn ruột biến thành con rắn, chở linh hôn người đồ tể nầy lên cõi trời, trở thành Huyền Thiên Thượng Đế  . Nhân vì ông ta tự mỗ bụng để chứng minh lòng thanh tịnh, nên đời sau tôn xưng là “Khai tâm Tôn giả” (tôn giả mở bày tâm)

*Trong “Thần dị truyện” có chép :- “Đức Chân Quân cầm kiếm, tróc nã yêu tinh khắp các nơi trong trời đất, khiến chúng sợ hãi mà qui phục. Tượng Ngài rất dữ tợn, áo mão không chỉnh tề, dưới chân có hai con rùa rắn. Rùa là nói loài yêu ở cõi trời, rắn là nói loài yêu ở dưới đất”.
*Còn sách “Đồ Chí” thì chép, Chân Vũ vốn là Thái Tử của Tịnh Lạc Vương, tu luyện ở Vũ Đương Sơn, kết quả được thăng thiên, phụng mệnh lệnh của Thượng Đế trấn thủ Bắc thiên môn, chân để trần, cầm cờ màu đen”.
*Sách “Kim Lăng chí” nói:- “Chân Vũ Đại Đế tức là bảy sao Huyền Vũ có hình tượng kết hợp rùa và rắn, nên để hình tượng rùa rắn nầy dưới chân Ngài”
*Sách “Bành Hồ Phi Lược” chép:- “Bắc Cực Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế , trước là thần Huyền Vũ trấn phương bắc , Huyền vũ thuộc thủy, nước  màu đen, nên áo mão và cờ đều màu đen. ………………….
(Đoạn kế nầy quá tối nghĩa không dịch được, kính nhờ quí cao nhân dịch giùm từ nguyên tác ở trên).
*Trong “Đài Loan huyện chí” có ghi :- “Miếu thờ Chân Vũ, có một ở phường Đông An, một tại phường Trấn bắc, thờ vị “Bắc Cực Hựu Thánh Chân Quân” .Ngoài ra các nơi khác có tôn tạo hình tượng như trấn An Bình, Thất Côn Thân ở cửa bắc, Lộc Nhĩ Môn …đều có tượng rùa rắn dưới chân. Khi họ Trịnh đến Đài Loan đã thấy có nhiều Miếu thờ Chân Vũ để làm phép trấn bình an cho cuộc đất”.
*Cách tạo hình tượng Huyền Thiên Thượng Đế  là:- đầu đội mão vàng, tướng dạng  oai nghiêm hiển hách.  Mình mặc áo đen, có năm chòm râu dài, gương mặt từ ái hòa nhã.  Tay phải cầm kiếm Bắc đẩu thất tinh, tay trái bắt ấn.  Hai chân màu đỏ, chân phải đạp con rắn, chân trái dậm con rùa, sau lưng có giắt cờ đen, hai bên có Kim Đồng Ngọc Nữ tức là Thủy Hỏa nhị tướng theo hầu”.
*Tương truyền thuộc hạ của Huyền Thiên Thượng Đế  gồm có bốn vị nguyên soái là :- Khang, Triệu, Lưu, Lâm nguyên soái. Ngài là phụ tá Thượng Đế Công để giữ an cung khuyết của thiên đình, đồng thời bảo hộ cho khắp hết sanh linh. Y cứ theo sách “Tam giáo suy thần đại toàn” (Thần thánh đầy đủ của tam giáo) thì Khang nguyên soái tên Diệu Uy  là sao Long Mã chuyển thế, được Ngọc Đế sắc phong làm Nhân Thánh Nguyên Soái ; Triệu nguyên soái tên là Lãng Nhất, tự Công Minh, hiệu Vĩnh Xưởng, đời nhà Tần ở trong núi, chuyên ròng tu hành dắc đạo, công đức viên mãn, được Ngọc Đế phong làm Thần Tiêu Phó Tướng. Còn hai vị Lưu , Lâm nguyên soái là hai vị đi theo Huyền Thiên Thượng Đế  để cầu đạo tu hành, rồi sau hộ vệ  Huyền Thiên Thượng Đế  thăng thiên, cũng được Ngọc Đế phong làm Thần Tiêu Phó Tướng.

Ngày vía của Huyền Thiên Thượng Đế  là ngày mùng ba tháng ba âm lịch.


*NHƯỢC THỦY dịch
(từ [url]http://www.fushantang.com[/url])

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
minhdang, SGQUAY, MaP, Zelda-V, giang, yeutuvi, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, tadamina, mavuong, dieu thien, nmtuong14, ngodao, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:56:10 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Bảy 10, 2008, 03:03:54 am »

NGUYÊN  THỦY   THIÊN  TÔN


元始天尊

元始天尊,又名“玉清元始天尊”。在“三清”之中位為最尊,也是道教神仙中的第一位尊神。《曆代神仙通鑑》稱他為“主持天界之祖”。他的地位雖然鄗,但出現卻比太上老君要晚。道教形成初期並無“元始天尊”的說法,《太平經》《想爾注》等均無記載。在中國神話伝說中,也無來曆可尋。根据道書的記載:最早出現“元始”之名的是晉葛洪的《枕中書》書中記載:棍沌未開之前,有天地之精,號“元始天王”,游于其中。后二儀化分,元始天王居天中心之上,仰吸天气,俯飲地泉。又經數劫,与太元玉女通气結精,生天皇襾王母,天皇生地皇,地皇生人皇,其其后庖羲,神穠皆苗裔也。並曰:“玄都玉京七寶山,在大儸之上,有上、中、下三宮。上宮是槃古真人、元始天王、太太圣母所牿。”此時,還只有有始天王的稱呼。直到南朝時,梁匋弘景《真靈位業圖》才始有“元始天尊”之號。該書第一階中位神為“上台虛皇道君”,應號“元始天尊”,稱“玉清境元始天尊”為主。但是書中又有一“元始天王”,列為第四中位左位第四神。《隋書.經籍志四》始喊予元始天尊以諸神特性,稱他“生于太元之先”。認為“天尊之体,常存不滅,每到天地初開,授以祕道,謂開劫度人。然其開劫,非一度矣,故有延康、赤明、龍漢、開皇,是其年號,其問相距經四十億万載,所度皆諸仙上品,有太上老君、太上丈人、天皇真人,五方五帝及諸仙官”。隋代道士為天尊取名為“樂靜信”。隋唐之時,遂將古代神話伝說中的槃古真 地位而掀起的說法。俵明道教信徒對元始天尊的信仰。
關于元始天尊的名稱,《初學記》卷二三引《太玄真一本際經》解釋說:“無宗無上,而獨能為万物之始,故名元始。運道一切為极尊,而常處二清,出諸天上,故稱天尊。”《曆代神仙通鑑》說:“元者,本也。始者,初也,先天之气也。”認為元始是最初的本源,為一切神仙之上,故稱“天尊”。根据道經的描述,元始天尊稟自然之气,存在于宇宙万物之前。他的本体常存不滅,即使天地佺部毀滅,也絲毫影響不了他的存在。每儅新的天地形成時,天尊就會降臨人世僩,伝授祕道,開劫度人。所度者都是天仙上品,包括太上老君、天真皇人、五方天帝等神仙。每儅新的天地開辟時,都有其年號,曰延康、赤明、龍漢、開皇等等,年號之僩相距長躂41億万年。並且,元始天尊位居三十六天的最上層“大儸天”中,所居仙府稱為“玄都玉京”。玉京之中,黃金舖地,玉石為階,宮中有七寶、珍玉,仙王、仙公、仙卿、仙伯、仙大伕等居于中央和兩徬的仙殿中,這种气派顯然被人僩帝王所傚仿。
縱觀元始天尊的演變過程,可以發現“元始”一詞原是道傢舒述世界本源的哲學用語,后來被道教加以神化,逐漸演變成道教的最鄗尊神,居于三清之首。從曆史角度上攷察,這与道傢演變成道教的曆史完佺轡嗆稀㊣
据《曆代神仙通鑑》記載,元始天尊“頂負圓光,身披七十二色”,故供奉在道教三清大殿中的元始天尊,一般都頭罩神光,手執紅色丹丸,或者左手虛拈,右手虛捧,象征“天地未形,混沌未開,万物未生”時的“無极狀態”和“混沌之時,陰昜未判”的第一大世紀,故以昜生陰降、晝短夜長的冬絰日為元始天尊的圣誕。長期以來,元始天尊受到了上絰帝王圣賢,下絰民僩菩男信女的虔誠崇拜。


*Dịch:-

NGUYÊN  THỦY  THIÊN  TÔN

*Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn còn gọi là “Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn”, là vị tối cao trong Tam Thanh, cũng là vị Tôn Thần hạng nhất của Thần Tiên Đạo Giáo. Theo “Lịch đại thần tiên thông giám” tôn xưng Ngài là “Vị Tổ chủ trì cõi trời”. Địa vị của Ngài tuy cao, nhưng lại xuất hiện muộn hơn Thái Thượng Lão Quân.
Hồi đầu của Đạo giáo không thấy nói đến Nguyên Thủy, trong “Thái Bình Kinh”, Tưởng Nhĩ Chú” cũng đều không thấy ghi tên Ngài, kể cả trong thần thoại xưa Trung Quốc cũng không thấy nói đến hành trạng Ngài. Danh xưng Nguyên Thủy xuất hiện sớm nhất trong “Chẩm trung thư” ghi là “Trước lúc  hổn độn chưa phân rõ (thái cực), đã có “tinh hoa của trời đất” hiệu là “Nguyên Thủy Thiên Vương” sẵn bên trong, sau phân hóa thành hai phần (lưỡng nghi), Nguyên Thủy Thiên Vương ở phía trên cõi trời, ngẫng lên hút thiên khí, cúi xuống uống địa tuyền (suối đất ) trải qua vô số kiếp , cùng với Thái Nguyên Ngọc Nữ thông khí kết tinh mà sanh ra Thiên Hoàng Tây Vương Mẫu. Thiên hoàng sanh ra Địa Hoàng, Địa Hoàng sanh ra Nhân Hoàng, tiếp tục sanh ra con cháu là Bào Hi, Thần Nông. Cho nên bảo rằng : “Phía trên Đại La có bảy ngọn núi báu gọi là Huyền Đô Ngọc Kinh, có ba cung. Thượng cung là nơi ở của Bàn Cổ Chân Nhân, Nguyên Thủy Thiên Vương và Thái Thái Thánh Mẫu”. Như vậy, từ đây mới có danh xưng Nguyên Thủy Thiên Vương.
Đến thời kỳ Nam Bắc triều, trong  sách “Chân linh vị nghiệp đồ” của Đào Hoằng Cảnh nước Lương, mới ghi danh hiệu Nguyên Thủy Thiên Tôn. Sách nầy nói rằng vị thần tối cao làm chủ tất cả là  “Thượng thai hư hoàng đạo quân”, hiệu là Nguyên Thủy Thiên Tôn, cũng xưng là Ngọc Thanh Cảnh Nguyên Thủy Thiên Tôn. Nhưng trong sách nầy lại cũng có ghi vị “Nguyên Thủy Thiên Vuơng” được xếp vào vị trí thứ tư, gọi là “Tả vị đệ tứ thần”.

*Sách “Kinh Tịch Chí Tứ” đời Tùy giải nghĩa đặc tính của Nguyên Thủy Thiên Tôn và chư thần, nói rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn sanh trước khi có  trời, cho Ngài là “Thể của trời , còn mãi không mất. Mỗi khi mở ra trời đất, nhận cái đạo thể bí mật thần diệu đó mà sinh trưởng. Trời đất chẳng phải cùng có một lần, mà phải qua các trình tự:- diên khang, xích minh, long hán, khai hoàng, trải suốt bốn mươi  triệu năm . Hàng thượng phẩm của chư Tiên có Thái Thượng Lão Quân, Thái Thượng Trượng Nhân, Thiên Hoàng Chân Nhân, Ngũ Phương Ngũ Đế và các Quan Tiên”.
Các đạo sĩ đời Tùy lại xưng Ngài là “Lạc Tĩnh Tín” . Như vậy, bắt đầu  từ đời Tùy, Đường mới có xuất hiện các chuyện thần thoại nói về các vị thần tối sơ và nêu lên tín ngưỡng của tín đồ Đạo giáo  đối với Nguyên Thủy Thiên Tôn.

*Liên quan đến danh xưng Nguyên Thủy Thiên Tôn  , trong “Sơ Học Ký” quyển thứ hai mươi ba có dẫn theo “Thái Huyền Chân Nhất bản tế kinh” giải thích:-“Không gì tôn kính hơn, không gì cao cả hơn, là bậc duy nhất khởi đầu cho muôn vật, nên có tên là “Nguyên Thủy” , chuyển vận cái “Đạo” hết sức tôn quí, lại thường cai quản nhị thanh (thượng thanh và thái thanh) , ở trên các trời, nên xưng là “Thiên Tôn”.

*Sách “Lịch đại thần tiên thông giám” nói:- “Nguyên chính là gốc, thủy chính là khởi đầu, tức là khí tiên thiên vậy”. Điều đó nói lên Nguyên Thủy là nguồn gốc tối sơ của muôn vật, ở trên tất cả thần tiên, gọi là “Thiên Tôn” (tôn quí hơn cả trong hàng chư thiên).

* Căn cứ vào Đạo Kinh thì :- “Nguyên Thủy Thiên Tôn   vốn là “Khí tự nhiên”, có trước vũ trụ vạn vật. Thể của nó còn mãi chẳng mất, cho dù trời đất có hủy diệt thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sự tồn tại của nó. Cứ mỗi lần hình thành “trời đất mới” thì Thiên Tôn lại giáng lâm nhân thế, khai mở đạo pháp áo bí để độ chúng sanh. Chỗ độ người nầy là những phẩm cao nhất của thiên tiên, kể cả “Thái Thượng Lão Quân”, “Thiên Chân Hoàng Nhân”, các thần tiên năm phương cõi trời. Những lần hình thành “trời đất mới” đều có niên hiệu như là:- “Diên Khang”, “Xích Minh”, “Long Hán”, “Khai Hoàng” v.v…Mỗi niên hiệu kéo dài 41 triệu năm. Do đó, đức Nguyên Thủy Thiên Tôn ở nơi tầng cao nhất là cõi “Đại La Thiên” trong 36 cõi trời. Theo Ngọc Kinh diễn tả là, đất bằng vàng ròng , thềm bậc là ngọc thạch. Trong cung có bảy báu, ngọc quí, các vị Tiên Vương, Tiên Công, Tiên Khanh, Tiên Bá, Đại phu Tiên cùng ở điện trung ương và điện hai bên. Hình thái nầy là do người thế gian mô phỏng theo sinh hoạt của vua chúa trần gian mà tả ra.


*Như vậy, ta thấy quá trình biến hóa gốc từ “nguyên thủy” vốn đầu tiên là thuật ngữ triết học của Đạo gia, về sau mới được “thần hóa” dần dần trở thành Vị Tối Cao của các thần trong Đạo giáo, đứng đầu Tam Thanh. Nếu nhìn ở giác độ lịch sử thì việc chuyển từ quan điểm cá nhân của đạo gia trở thành quan điểm chung của đạo giáo cũng là điều dễ hiểu, cho việc tạo thành “Đấng tối sơ duy nhất” nầy.

*Cũng theo “Lịch đại thần tiên thông giám” mô tả về Nguyên Thủy Thiên Tôn   “hào quang bao quanh đầu, toàn thân có 72 sắc”, cho nên trong điện thờ “Tam Thanh”, hình tượng Nguyên Thủy đầu có vầng hào quang, tay cầm viên linh đan màu đỏ; hoặc tay phải như đang bưng một vật gì còn tay trái thì ném cái gì đó ra ngoài. Hình tượng nầy mang ý nghĩa “trời đất chưa thành hình, còn hỗn độn chưa mở ra, muôn vật chưa sanh ra” để diễn ý “trạng thái vô cực” và “thời hỗn độn chưa phân rõ âm dương” ở vào đại thế kỷ thứ nhất.
Cho nên về sau, Đạo gia lấy ngày  “ Đông Chí” mang nghĩa “dương sanh âm giáng, ngày ngắn đêm dài” làm ngày thánh đản của đức Nguyên Thủy Thiên Tôn   .
Thời gian trải qua khá lâu, sự sùng bái Ngài được sâu rộng, trên là từ vua chúa , dưới đến thứ dân, không ai là chẳng thành tâm lễ lạy.

*Nhược Thủy  dịch
(từ nguồn [url]http://www.fushantang.com[/url] )

---------------------------------------------------------------------------------------


*Sau đây là tài liệu lấy từ Website Dân Tục Học Trung Quốc:- ([url]http://www.chinesefolklore.com[/url])

元始天尊

  元始天尊又稱「元始天王」、「玉清紫虛高上元皇太上大道君」,是道教的鼻祖,在太元(宇宙所有劫數開始)之前出生,所以稱他為「元始」。
  據說在從前太極未分兩儀的時後,天地日月都未形成前,已經有了一位磐古真人,是天地的元精自稱「元始天王」。
  經過了八劫的時間,陰陽兩儀才分開,那時,元始天王住在中心之上的玉京山,並以吸食天氣地泉為生。
  民間通常視元始天尊與玉皇上帝為同一神紙,其實是不同的。
  根據陶宏景的真靈位業圖,將神分為七級,以元始天尊居上清第一正位;太上老君居太清正位,玉皇大帝居玉清三元官第一中位。
  換句話說,玉皇上帝其上還有元始天尊與太上老君,因此兩神是不同的,元始天尊才是天地萬物的真正主宰者。
  不過將元始天尊與玉皇上帝視為同一神祇,並不見得不好,重要的是是否懷有敬天畏神,尊崇天地萬物的精神。
  民間的行天宮每年到了除夕,照例會舉行元始天尊聖誕儀式,從十一時三十分開始,很多信徒都會前來拜拜,晚來的民眾就很難擠進來。
  農曆正月初一為元始天尊萬壽。


(Tam Thanh)

*Dịch:-

Nguyên Thủy Thiên Tôn

Nguyên Thủy Thiên Tôn còn được tôn xưng là  「Nguyên Thủy Thiên Vương 」、「Ngọc Thanh Tử Hư Cao Thượng Nguyên Hoàng Thái Thượng Đại Đạo Quân 」, là Ông Tổ của Đạo Giáo. Ngài đã hiện hữu từ lúc “Thái nguyên” (lúc chưa mở ra vũ trụ vạn vật) cho nên được xưng là “Nguyên Thủy” (bắt đầu).
Theo truyền thuyết, lúc “Thái cực” chưa phân thành “Lưỡng nghi” , trời đất mặt trời mặt trăng chưa có, đã hiện hữu một vị “Bàn Cổ Chân Nhân”, là tinh hoa đầu tiên của vũ trụ, tự xưng là  「Nguyên Thủy Thiên Vương 」.
Trải qua thời gian tám kiếp số, mới phân thành hai nghi âm dương. Khi ấy, Nguyên Thủy Thiên Vương  trụ tại Ngọc Kính Sơn, phía trên của trung tâm. Ngài đã hấp thu tinh hoa của khí trời và suối đất (thiên khí địa tuyền) mà sống.
Thông thường, dân gian hay lầm lẫn cho rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn  cùng với Ngọc Hoàng Thượng Đế là một vị, kỳ thực không phải thế.
*Căn cứ vào sách “Đào Hoành Cảnh Đích Chân Linh Vị Nghiệp Đồ”, chia các thần thành bảy cấp, để Nguyên Thủy Thiên Tôn  ở chính vị của “Thượng Thanh”, Thái Thượng Lão Quân ở chính vị của “Thái Thanh”, còn Ngọc Hoàng Thượng Đế ở trung vị thứ nhất của cung thứ ba “Ngọc Thanh”.
Nói cách khác, trên Ngọc Hoàng Thượng Đế còn có Nguyên Thủy Thiên Tôn  và Thái Thượng Lão Quân  , mà hai vị nầy khác nhau, nên chủ tể chân chính của trời đất muôn vật phải là Nguyên Thủy Thiên Tôn  .
Thế gian đem Nguyên Thủy Thiên Tôn  cho đồng với Ngọc Hoàng Thượng Đế chẳng qua là tại tinh thần kính trời sợ thần, e rằng thiếu sự tôn kính mà thôi.
Phong tục dân gian cứ vào đêm trừ tịch, cử hành nghi thức cúng lễ  Nguyên Thủy Thiên Tôn  tại các điện thờ  , bắt đầu  từ 11 giờ 30 phút đêm ấy, số người tham dự quá đông, kẻ đến sau không thể chen chân vào lễ lạy được.

*Ngày vía của Nguyên Thủy Thiên Tôn   là ngày mùng một tháng giêng.

*Nhược Thủy dịch
(từ [url]http://www.chinesefolklore.com[/url])
------------------------------------------------------
Quí vị cần tham khảo toàn bộ Danh sách thần , xin xem ở :-

*Link của Bảng Phong Thần:-
[url]http://www.hoangthantai.com/forum/index.php?topic=536.0[/url]

*Nhược Thủy

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, MaP, Zelda-V, giang, yeutuvi, Phap Luan, chilin1987, koreadinh, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, tadamina, mavuong, dieu thien, chonhoadong, nmtuong14, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:51:54 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
MaP
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 379

Cảm Ơn
-Gửi: 330
-Nhận: 696



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Bảy 10, 2008, 06:55:16 am »

Chúng cháu đa tạ Bác đã giúp tài liệu của Ngài Huyền Thiên , hiện chúng cháu cũng đang thờ Ngài nên có thêm thông tin này bổ ích lắm.
Map-LanF. love struck

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Zelda-V, nhuocthuy, chilin1987, chanhnguyen, lethuytienac
Logged

Om Ah Hum Ram Hrid
 
 
 
Zelda-V
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 11

Cảm Ơn
-Gửi: 18
-Nhận: 33


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Bảy 10, 2008, 09:26:37 am »

Xin chào các anh! Nguồn tài liệu hoa ngữ từ anh Nhuoc Thủy phong phú quá.Cám ơn.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, lethuytienac
Logged
 
 
 
giang
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 38

Cảm Ơn
-Gửi: 44
-Nhận: 189



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Bảy 10, 2008, 09:46:29 am »

Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn là một vị Tổ trong Tiên gia đây. Trong một câu khấn thỉnh Giang tôi nghe thấy có Lạy Đức Ngươn Thủy Thiên Tôn thì chắc là vị này, vị này thuộc Thủy Tổ rồi phải không bác NT!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, chonhoadong, dieunha, lethuytienac
Logged
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Bảy 11, 2008, 09:21:13 am »

(Phần bổ sung thêm về Ngọc Hoàng Thượng Đế)
***
玉皇上帝

  「天公」是指玉皇上帝,有稱「玉帝」或「昊天上帝」,或「玄穹高上玉皇大天帝」、「昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至真玉皇大帝」等尊稱。玉皇大帝是道教中最高級的神明之一,地位僅在三清尊神之下。但在世俗的心目中,玉皇大帝卻是中國最大的神祗,是眾神之王。
  據民間傳說,「玉皇上帝」不但授命於天子,統轄人間,而且也統轄儒、道、釋三教和其他諸神仙,以及天神、地祗、人鬼都歸其管轄,天神就是屬于天上所有自然物的神化者,包括日、月、星辰、風伯、雨師、司命、三官大帝、五顯大帝等,而玉皇大帝也屬天神之一,地祗就是屬于地面上所有自然物
的神化者,包涵土地神、社稷神、山岳、河海、五祀神,以及百物之神,人鬼就是歷史上的人物死后神化的,包括先祖、先師、功臣,以及其他歷文人物。
  玉皇上帝統領天、地、人三界神靈之外,還對於天地、宇宙萬物的興隆衰敗、吉凶禍福都得管,屬下有管理學務的文昌帝君,管理商務的關聖帝君,管理工務的巧聖先師,管理農務的神農先帝,管理地方的有東岳大帝、青山王、城隍爺、境主公、土地公、地基主,管理陰間的有酆都大帝和十殿閻王,而玉皇上帝為神中之神,神中至尊。
  在道教的理論中,將天、地、人三界分得很清楚,天有十三層,一層有三萬里,天外的地方就稱為無極,而天內的天就稱為太極。太極的天分為五天,即東、南、西、北,「玉皇大帝」是宇宙中最高無上的神靈,而所有神靈皆須聽令於「玉皇大帝」。
  中天:為「玉皇大帝」所居,上掌三十六天,三千大世界;
               下握有七十二地,四大部分所有生靈。
  東天:為「三官大帝」所掌,主賜福延壽解災赦罪消厄。
  南天:為「文衡聖帝」所掌,主眾神的委任升降考察各神祇的功罪。
  西天:為「釋迦牟尼」所掌,主世人的信仰依歸。
  北天:為「紫微大帝」所掌,予降福消災,兼賜予財富。
  「玉皇大帝」,據說是三清所化身的太極界第一位尊神,也就是古人最崇敬的「天」,居住在玉清宮,上掌三十六天,三千世界,各部神仙,下轄七十二地、四大部州、掌管天上諸神、仙、佛,以及人間億萬生靈,因此尊稱為「玉皇大天尊玄靈高上帝」。
  另有一說,「玉皇上帝」是三官大帝中的「天官」,是道教的紫微帝君,職掌賜福,民間視為福神,與祿、壽並列。「三官大帝」也稱「三界公」,就是上元「賜福天官紫微大帝」、中元「赦罪地官清虛大帝」、下元「解厄水官洞陰大帝」的合稱。
  玉帝源於上古的天帝崇拜。殷商時期,人們稱最高神為帝,或天帝、上帝,這是一位支配天上、地下、文武眾仙的大帝。周朝及后世統治者利用天帝崇拜,鼓吹「君權神授」,極力宣稱自己是天帝的兒子,故稱「天子」。玉皇大帝的塑像或畫像,至唐宋以后才逐漸定型,一般是身穿九章法服,頭戴十二行珠冠冕旒,有的手持玉笏,旁侍金童玉女,完全是秦漢帝王的打扮。
  《高上玉皇本行集經》戴:遠古之時,有個「光嚴妙樂國」,國王為「淨德王」,王后稱「寶月光」,老而無嗣;一夜夢見太上老君抱一嬰兒入王后懷中,王后恭敬禮接,醒後就覺的有孕。懷孕足足十二個月,乃於丙午年正月初九誕下太子。太子自幼聰慧,長大則輔助國王,勤政愛民,行善救貧。國王駕崩,太子郤禪位大臣,遁入深山修道。功成經歷八百劫,犧牲己身以超度眾生,終於修成真道,飛昇九天之上,得萬方諸神擁戴。於是統御三界,是為「玉皇大帝」。
  農曆正月初九為玉帝誕辰(天公生)。正月為一年之初,四季之首,木氣之始,一切生命因而萌發;九為數字之極尊,代表「極大、極多、極高」的意義,所以一年中第一個初九(上九)為玉帝聖誕,正與他至高無上的地位相呼應。明代王逵《蠡海集》中說:「神明降誕,以義起者也。玉帝生於正月初九日者,陽數始於一,而極於九,原始要終也。」意思是說,神明降誕的日子都有一定的特殊含義。
  「玉皇大帝」的祭祀起源於上古的天地崇祀,和古人敬天畏地的思想有密切的關係,古人認為「天」是宇宙萬物的主宰,也是萬物生長化育的本源,所以不可不敬天畏命,順天行道。因此想像自然界中有一位最高的神明在支配萬物。於是「天」命令君王來人間執政治民,君王必須順應天意,這樣才能風調雨順,國泰民安,否則君王違反了天道,天就會降下各種災害懲罰。君王敬畏「天」,庶民百官自然而然的也敬畏「天」,君王既然是奉「天」之命治理人世,所以君王不得不崇拜「天」,定期「祭天」,不但是君王必行的職責,也是國家的大典。早自商周時代,歷朝君王每年例必舉行盛大的「郊祀」,是敬天思想的最高表徵,但只有帝王才有資格祭祀,直到封建時代結束,民間才開始祭祀「天公」。
  據史藉所戴,唐、隋、晉、魏、漢,乃至秦,諸代皆有帝王祀天之大典,但當時所祀的「天」,乃純粹是指大自然的「天」,即「蒼天」、「昊天」。可是「天」是無形的、渺茫的,又怎么去祭祀呢?如此漸漸地就把「天」具體神化,稱之「玉皇大帝」。因玉皇大帝是由人想像而來的神,所以原無神像,到宋真宗時,才為他塑像,視其自家祖先,封其為玉皇。玉皇大帝的塑像或畫像,一般是身穿九章法服,頭戴十二行珠冠冕旒,有的手持玉笏,旁侍金童玉女,完全是秦漢帝王的打扮。及至道教興起以後,把「天」加以「人神化」,當成有思想有感情的人形「神」來拜,塑造「天公」「老天爺」這個形象來。於是,民間所崇拜的「天公」與古代帝王所祀自然的「天」,就逐漸分離開了。
  「玉皇大帝」的誕生祭祀,遠較一般諸神更為隆重及莊嚴,因為百姓都深信天公是至高無上,最具權威的神,無「相」足以顯示,因此不敢隨意雕塑他的神像,而以「天公爐」及「天公座」來象徵。一般廟宇都有一座天公爐安置於廟前,祭拜時要先向外朝天膜拜,這是燒香的起碼禮儀。
  由於「玉皇大帝」在信眾心目中,是眾神之最,所以拜天公的儀式也比一般神明來得隆重。前一天晚上,全家都必需齋戒沐浴、設立祭壇,供奉豐盛祭品,然後依序上香,行三拜九叩禮。且祭祀當日,不得曝晒女人的衣褲、傾倒便桶,以免天公看到了觸犯大不敬之罪。在團體祭典的場合一定要「殺豬公」,並且是整隻敬供,是祭典時最隆重的獻禮。
  而「玉皇大帝」的身份極尊貴,凡間小事,根本無暇理會。所以求財求嗣求名求利者,玉帝未必有暇去賜予。
  供奉玉帝,應要一班文武百官、天神天將拱護,不可單獨以玉帝像供奉,否則成為孤君,不能顯出玉帝的威嚴及尊崇。
  農歷正月初九是玉皇大帝的誕辰「玉皇誕」,台灣閩南俗稱「天公生」。是日道觀要舉行盛大的祝壽儀式,誦經禮拜。家家戶戶于此日都要望空叩拜,舉行最隆重的祭儀。
  在封建社會時代,唯天子才有資格祭拜玉帝,一般民眾不能隨便祭拜。一直到封建時結束,這種禁忌才得以破除。然而,一般民間仍認為玉皇大帝是如此崇高偉大,並不敢擅自為其雕塑神像,而以「天公爐」或「神牌位」來代替。信徒拜祭玉皇大帝時,就對著「天公爐」焚香膜拜。
  拜天公的祭典,自初九的凌晨開始,一直到天亮為止。在這一天前夕,全家人必須齋戒沐浴,以庄嚴敬畏的心情舉行祭拜,家家戶戶都要在正廳前面,放置八仙桌,搭起祭壇,供桌上備神燈、五果(柑、桔、蘋果、香蕉、甘蔗)、六齋(金針、木耳、香菇、菜心、豌豆、豆腐等),并面線塔,另設清茶三懷,還有甜劇、社龜,到了時辰,全家整肅衣冠,按尊卑挨次上香,行三跪九叩禮拜,然后燒天公金。
  除了祭祀儀式之外,民間在這一天當中也有一些禁忌要遵守,例如,不得曝曬女人的衣褲、不得傾倒便桶等,以免玉皇大帝看到了觸犯了大不敬之罪。而祭品中五牲之一的雞,不能用母雞,最好是用閹雞或公雞。

*Dịch:-

Ngọc Hoàng  Đại Đế

“Ông Trời” là để chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế , cũng tôn xưng bằng nhiều danh hiệu như:- “Ngọc Đế” , “Hạo Thiên Thượng Đế” , “Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế”, “Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chân NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ”.
NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là vị thần minh  cao cấp của Đạo giáo, địa vị gần nhất dưới  Tam Thanh Tôn Thần. Nhưng trong con mắt của người thế tục Trung Quốc , NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là vị thần tối cao, là vua của các thần khác.

*Theo truyền thuyết dân gian, NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  không chịu mệnh lệnh của vua khác, cai quản khắp nhân gian, thống trị hết thần tiên của ba giáo Nho, Đạo, Thích, điều động hết thiên thần, địa kỳ, nhân quỉ. Thiên thần là những vật tự nhiên được “thần hóa” như:- mặt trời, mặt trăng, sao, phong bá (thần gió), vũ sư (thần mưa), tư mệnh, Tam Quan đại đế, Ngũ Hiển đại đế v.v…đều dưới quyền của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Địa kỳ (chi) cũng là những vật tự nhiên ở đất  được thần hóa như:- thần Thổ Địa, thần Xã tắc, thần Núi non, thần Sông biển, thần Năm tháng, nói chung bao quát cả “bách thần”. Nhân quỉ là những nhân vật lịch sử sau khi chết được thần hóa, bao gồm : tổ tiên, những bậc công thần, những văn nhân v.v…
NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  thống lãnh trời, đất, người, thần linh  ba cõi, cùng quản lý mọi  sự thịnh suy tốt xấu của vũ trụ vạn vật . Về lãnh vực nầy, Ngài có các thuộc hạ như:- Văn Xương đế quân coi về sự học hành, Quan Thánh đế quân coi về việc mua bán, Xảo Thánh Tiên sư coi về công nghiệp, Thần Nông Tiên đế coi về nghề nông, Đông Nhạc đại đế cai trị các địa phương, cùng với những phụ tá như :- Thanh Sơn vương, Thành Hoàng gia, Thổ Địa công, Địa Cơ chủ. Ngoài ra còn có những vị coi về phần âm như:- Phong Đô đại đế và Thập Điện Diêm Vương …Tất cả đều dười quyền cai trị, chỉ đạo, phân bổ của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ .

Trong cơ sở lý luận của Đạo giáo, có sự phân chia rõ rệt của ba giới: trời, đất, người. Trời thì có 13 tầng, một tầng là ba mươi ngàn dậm. Khu vực “Trời ngoài”  gọi là “Vô cực”, còn khu vực “Trời trong” gọi là “Thái cực”. Thái Cực thiên lại phân làm năm thiên là :- Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ương. NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần tối cao, tất cả thần linh đều phải nghe theo lệnh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Sự phân chia Thái Cực thiên như sau:-

1.- Trung Thiên:- là nơi cư ngụ của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ , nắm quyền điều khiển cả trên là ba mươi sáu “Thiên”, ba ngàn thế giới, lẫn dưới là bảy mươi hai “Địa”, tứ đại bộ châu có sanh linh đang sống.
2.- Đông Thiên:- do “Tam Quan Đại Đế” cai quản, chủ về việc ban phước tăng thọ, giải tai xá tội trừ nạn cho sanh linh.
3.- Nam Thiên:- do “Văn Hành Thánh Đế” cai quản, chủ về việc theo dõi ghi chép công tội , hay bổ nhiệm thăng giáng cấp của tất cả chư Thần.
4.-Tây Thiên:- do Thích Ca Mâu Ni cai quản, chủ về giáo dục tâm linh cho con người, dạy họ làm lành lánh dữ và qui y theo Phật để  tu đạo giải thoát.
5.-Bắc Thiên:- do “Tử Vi Đại Đế” cai quản, chủ về việc ban cho tiền bạc, tài sản, cũng như họa phước con người.


*Theo truyền thuyết thì NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ chính là “hóa thân” của “Đấng Tối Cao Thái Cực” trong Tam Thanh, là vị được cổ nhân sùng kính hạng nhất. Ngọc Hoàng  cư ngụ nơi “Ngọc Thanh Cung”, chưởng quản hết từ trên là 36 thiên, ba ngàn thế giới, các bộ thần tiên, tới dưới là 72 địa, tứ đại bộ châu. Nói tóm lại , là chưởng quản tất cả chư Thần, Tiên, Phật, cho đến triệu ức sanh linh… do đó mới tôn xưng Ngài là “Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế”.

*Lại có một thuyết khác, cho rằng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là “Thiên Quan” của “Tam Quan Đại Đế”, giống như Tử Vi Đại Đế của Đạo giáo , nghĩa là một vị “Phước Thần” coi về phước, lộc , thọ. Tam Quan đại đế còn xưng là “Tam Giới Công”,  gồm có:- “Tứ Phước Thiên  Quan Tử Vi Đại Đế” ở cõi thượng nguyên, “Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế” ở cõi trung nguyên và “Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế” ở cõi hạ nguyên, gồm lại gọi là “Tam Quan Đại Đế” vậy.

*Danh xưng Ngọc Đế xuất phát từ sự tôn trọng “Ông Trời” của người thượng cổ. Thời đại nhà Ân, nhà Thương gọi vị thần tối cao là “Đế” hoặc “Thiên Đế” hay “Thượng Đế”, có nghĩa là một vị “VUA” có năng lực chi phối hết thảy trên trời dưới đất , hai bên chư thần văn võ. Đời nhà Châu (Chu) lợi dụng tinh thần sùng bái “Ông Trời” nầy mà gọi vua là “Con của Trời” (thiên tử) nên “vua nói ra thì tất cả phải nghe theo”.

*Về lãnh vực “Họa hình” thì mãi tới đời Đường, Tống mới có chính thức. Đó là hình tượng một vị “mình mặc loại y phục Cửu Chương, đầu đội mão Thập Nhị Hành , tay cầm Ngọc Hốt, (玉笏 : Cái hốt, ngày xưa vua quan ra chầu đều cầm cái hốt, hoặc làm bằng ngọc, hoặc làm bằng tre, ngà, có việc gì định nói thì viết lên giấy để phòng cho khỏi quên. Ðời sau hay làm bằng ngà voi mà chỉ các quan cầm thôi—TĐHV Thiều Chửu). Hai bên có Kim Đồng, Ngọc Nữ theo hầu, hoàn toàn mô phỏng theo y phục của vua chúa Tần, Hán.


*Theo “Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh” viết:-

-Vào đời viễn cổ, có một nước tên là “Quang Nghiêm Diệu Lạc”, vua là “Tịnh Đức Vương”, hoàng hậu là “Bảo Nguyệt Quang” , đã lớn tuổi mà chưa có con trai. Một đêm nọ, nằm mộng thấy Thái Thượng Lão Quân bồng một đứa con nít trai đưa cho  hoàng hậu. Tỉnh dậy, hoàng hậu biết mình có thai. Mang thai mười tháng, đến ngày mùng chín tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sanh Thái Tử. Từ nhỏ, Thái tử rất thông minh trí tuệ, lớn lên đã phụ tá cho vua cha đắc lực, thương yêu dân chúng, làm việc thiện cứu giúp nhân dân. Sau khi nhà vua băng hà, Thái tử giao đất nước lại cho các đại thần rồi vào trong núi để tu hành. Trải qua tám trăm kiếp, hi sinh bỏ mạng để cứu chúng sanh, cuối cùng đạt đạo chân, phi thăng cõi trời, được muôn thần sùng kính ái mộ, đưa lên làm “NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ ”, cai quản khắp tam giới.

***
Ngày mùng chín tháng giêng âm lịch là ngày “Đản sinh” của Ngọc Đế (Thiên Công Sinh) . Tháng giêng là tháng khởi đầu của năm, chủ của bốn mùa, cây cối nhờ vào khí thủy mà từ đó sanh sôi nẩy nở thêm ra. Số “chín” là con số “lớn nhất” của các số, đại biểu cho ý nghĩa “cực đại, cực đa, cực cao”. Cho nên, người ta lấy con số “chín đầu tiên” (thượng cửu) của năm (9 tháng 1) làm ngày sinh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  là do ý đó.

*Trong “Lãi Hải Tập ” của Vương Quỳ đời nhà Minh nói rằng:- “Nghĩa của ngày sinh thần minh là nghĩa của “sự bắt đầu”, cho nên lấy ngày mùng chín tháng giêng là thánh đản của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Số bắt đầu từ “một” đến lớn nhất là “chín”, kết thúc của “sự bắt đầu” vậy”. Như thế, khi nói đến ngày sinh của các vị thần, chúng ta cần phải lưu ý đến hàm  nghĩa của “con số” biểu trưng vậy.

*Việc cúng bái NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  có nguồn gốc quan hệ đến  sự sùng bái trời đất của người xưa và tư tưởng kính trời sợ đất của con người mà thành. Người xưa cho rằng, “Trời” là vị chúa tể của vạn vật, là nguồn gốc của sự sanh ra và nuôi lớn muôn vật, cho nên mọi người không thể không kính trời sợ đất, thuận theo trời mà hành đạo. Do đó, họ nghĩ rằng trong tự nhiên phải có một vị “thần minh tối cao” cai quản và chi phối hết thảy mọi vật. Nhà vua là người được mệnh lệnh của “Trời” cho xuống nhân gian để cai trị người. Nếu vua mà thuận theo thiên ý thì sẽ được mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, còn nếu nhà vua làm trái với thiên  ý, thì “trời” nhất định sẽ giáng tai họa để trừng phạt. Mà nếu hễ nhà vua mà đã kính sợ “trời” thì các quan và dân chúng cũng phải kính sợ “trời”. Vua đã là người phụng mệnh “trời” để cai trị dân chúng thì nhất nhất không thể không sùng bái “trời”, cho nên phải có định kỳ “tế trời”, đó là chức trách tối quan trọng của nhà vua. Trải qua nhiều triều đại, mỗi năm nhà vua đều phải cử hành  “LỄ GIAO” (lễ tế trời), nhưng chỉ có “nhà vua” mới là người “đủ tư cách tế trời” mà thôi ! Đến khi, triều đại phong kiến kết thúc, dân chúng mới bắt đầu được phép “tế trời”.

*Theo trong các sách sử thì từ các đời Tần , Hán,Đường, Tùy, Tấn, Ngụy… đều có tổ chức “Lễ tế trời” rất trọng thể. Nhưng “trời” không thể hiểu như là “bầu trời xanh trên cao” kia được, khái niệm “trời” rất vô  hình, mênh mông … thì làm sao biết chỗ nào, người nào… để cúng tế đây ? Từ đó, người ta phải cụ thể hóa “trời”  bằng danh xưng “NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ ” để có đối tượng rõ ràng mà cúng bái.
 *Vì NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần do con người tưởng tượng ra mà thành, nên không thể có “hình dạng cụ thể” được. Mãi cho đến thời vua Tống Chân Tông mới có hình tượng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ như đã  mô tả ở trên. Như vậy, chúng ta thấy có sự khác biệt về nhận thức của “Trời Vô Hình” lúc đầu và “Trời Hình Tượng” kể từ khi Đạo giáo thịnh hành. Còn trong dân gian, không cần nói đến ý nghĩa cao thấp , hữu hình vô hình gì cả, mà trong đầu mỗi con người Trung Quốc đều mang nặng, khắc sâu hình tượng “ÔNG TRỜI” hiện diện rất thân cận, gần gũi và mật thiết với họ.
*Việc cúng tế “Ông Trời” phải được thực hiện sao cho có phần long trọng, trang nghiêm hơn các “thần minh’ khác, vỉ Ngài là vị quyền uy tối cao trên tất cả thần thánh khác. Do đó, lúc đầu không ai dám đưa hình tượng nào ra về Ngài, chỉ dùng hai biểu tượng là “Thiên Công Lô” (lò hương cúng trời) và “Thiên Công Tòa” ( ngai vua trời) để cúng bái mà thôi. Các Miếu thờ đều đặt “Thiên Công Lô” ở trước cửa, khi cúng bái thì ngẫng mặt lên bầu trời mà van vái, từ đó phát sinh tục lệ “đốt nhang” trong cúng tế.
-Trong con mắt của mọi người, NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là lớn nhất, nên việc cúng tế phải làm cho ra vẻ mới được. Vòa buổi chiều hôm trước (tức chiều mùng 8/1) , cả nhà già trẻ bé lớn đều ăn chay, tắm gội sạch sẻ, sửa soạn phẩm vật thịnh soạn. Kế đó, dâng hương cúng tế, lạy ba lạy chín vái . Trong ngày cúng tế, không được phơi quần áo đàn bà, phải lật úp “thùng phân” lại để thiên công không nhìn thấy, khỏi phạm tội bất kính. Ở những nơi  cúng tập thể phải có phẩm vật đặc biệt là “con heo nguyên vẹn” để cúng theo nghi thức rất long trọng.
Vì địa vị của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ  quá cao, nên phàm những việc nhỏ nhặt như cầu tài, cầu tự, cầu danh, cầu lợi đều không được “cầu trời phò hộ”, vì Ngọc Đế đâu có rãnh mà giải quyết những chuyện nầy !
Khi cúng Ngọc Đế, tất phải nhớ cúng thêm cả hai ban văn võ bá quan theo hầu cận Ngài, không được chỉ để một tượng Ngọc Đế đơn độc mà cúng, như thế thành ra “cô quân” (ông vua cô độc) hay sao ?  Phạm vào điểm nầy, thành ra tội bất kính Ngọc Đế vì không nói lên được uy thế của Ngài .

***
* Ngày mùng chín tháng giêng âm lịch là ngày “đản sinh” của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Xứ Mân Nam của Đài Loan dân chúng gọi là “Ngày sinh ông Trời”. Vào ngày ấy, tất cả những đạo quán đều tổ chức cúng kiến với những nghi thức vô cùng long trọng như :- Chúc thọ, tụng kinh, lễ bái… Nhà nhà người người đều ra ngoài trời, hướng vọng lên không trung mà khấu bái.
* Ở thời đại phong kiến, chỉ có nhà vua mới đủ tư cách tế trời, còn dân chúng thì tuyệt đối không được tùy tiện cúng bái trời. Khi phong kiến kết thúc, điều cấm kỵ trên đã bãi bỏ. Tuy vậy, dân gian vẫn tin rằng địa vị của Ngọc Đế quá cao nên không được phép tô vẽ đắp hình tượng của Ngài để thờ cúng, mà chỉ dùng hai món tiêu biểu là “Thiên Công Lô” và “Thiên Công Tòa” như đã nói ở trên để cúng bái . Khi cúng,  tín đồ chỉ thắp hương và lễ lạy trước “Thiên Công Lô” mà thôi.

* Nghi thức “cúng trời” chỉ diễn ra từ khuya đêm mùng tám đến khi mặt trời mọc sáng  mùng chín thì ngừng. Ngày hôm trước đó, cả nhà đều ăn chay tắm gội sạch sẻ, tập trung mạnh mẽ tinh thần , bỏ hết những chuyện tạp nhạp trong tâm, để việc cúng tế được linh nghiệm. Mọi người tập trung trước chính sảnh (gian  thờ), trần thiết bàn bát tiên, lập đàn  cúng tế. Trên bàn cúng trời, có :- cặp đèn “thần đăng”, năm thứ trái cây (cam, quít, tần quả, chuối, mía), phải nấu sáu món chay là :- kim châm, mộc nhĩ (nấm mèo), nấm hương cô, rau thái tâm, đậu uyển, tàu hủ, tất cả thức ăn đều phải được đậy kỹ bằng vải lưới thật mỏng, ngoài ra, đặc biệt còn phải có ba hộp trà ngon. Có tổ chức múa mâm vàng, ca hát chúc tụng, phát “lộc”. Khi đến giờ mãn, cả nhà chỉnh trang y phục, đến chính sảnh đứng  theo tôn ty thứ tự mà hành lễ “tam quỵ cửu khấu” (ba lạy chín vái), sau đó mới đốt giấy tiền vàng bạc. (công kim)
Một vài nơi, người dân có tục “cúng gà” trong dịp nầy, phải dùng gà trống để cúng chứ không được dùng gà mái.

*NHƯỢC  THỦY  dịch
(theo [url]http://www.fushantang.com[/url] )


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
yeutuvi, pro-spam, SGQUAY, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, mavuong, dieu thien, chonhoadong, phaolon, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 02, 2008, 03:37:21 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Bảy 12, 2008, 09:40:58 am »

TÂY  VƯƠNG  MẪU
 hay 
VƯƠNG MẪU NƯƠNG NƯƠNG


王母娘娘

  王母娘娘,或稱瑤池金母、西王母、金母、金母元君、九靈大妙龜山金母。簡稱王母或西王母。俗姓侯,或曰楊,名回,字婉姈、或曰太虛。
  西王母的信仰在中國由來已久。《山海經‧西次三經》記載說:「西王母居住在玉山之山,其狀如人,豹尾虎齒而善嘯,蓬髮載勝,是司天之厲及五殘。」意思是說西王母大致像個人,形狀威猛,掌管災厲(瘟疫)和刑罰的怪物。另據「列仙全傳」所載:西王母是西華至妙之氣化生而成,與東王公分掌天下三界十方之男女仙籍,配位西方,其神格僅次於三清,十分崇高。
  西王母是匯集西華奇妙真氣,降誕於神州伊川的道教崇高女神,先居西方,德配坤元,主掌陰靈真氣,是洞陰至尊。瑤池金母仙居住於中國西方的巖山峻嶺之中,其第一座主奉廟宇於現今甘肅省川縣境內的回山。由此可見,瑤池金母仙居聖地應不出甘肅一帶。仙居聖域,非凡人所能達,因此古人難得一見瑤池金母之聖顏,關於金母仙貌裝束之描述,雍容華貴,凝重端庄。
  西王母居住在崑崙山上的懸圃裡,是一座空中花園,叫做「閬風」的苑中,一共有玉樓九層,左繞瑤池,右環翠水。有五名侍女,名「華林」、「媚蘭」、「青娥」、「瑤姬」與「玉卮」。王母有件寶物,是吃了能長生不老的仙桃(又稱蟠桃),此桃三千年開一次花,三千年結一次果,吃了可以增長壽命。王母娘娘每逢蟠桃成熟時,就會召集群仙,大開壽筵,稱為「瑤池集慶」。因此,民間遂以王母娘娘為長生不老的象徵。神話傳說中的嫦娥,就是偷吃了丈夫后羿弄來的西王母不死藥,而飛上月亮的。
  西王母掌管西方,舉凡天上或地上所有成仙之女子皆由她來治理,並與「東王公」共同統轄東西兩股元氣,化育天地,陶治萬物。
  而王母娘娘自稱為天帝的女兒,而天帝是皇天上帝的泛稱,據《禮曲禮集》解說青帝、赤帝、黃帝、白帝都稱天帝。
  《西王母傳》中提及金母與木工共理陰陽二氣,養育天地,陶均萬物,三界十方內得道之女仙,名籍皆歸其管轄。
  《列仙全傳》記載:『西王母即龜台金母也,係西華至妙洞陰之極尊,育化誕生於神州伊川,俗姓侯或楊,諱回,字婉,一字太虛』。
  《史記大苑傳略》記載:「西王母這古仙人,姓楊,或謂姓侯,名回,一為婉姈,居昆侖。」
  《道藏道跡經》記載:「王母上殿東西坐,著黃金褡辱,文采鮮明,光儀淑穆,帶靈飛大綬,腰佩分景之劍,頭上太華 ,戴太真晨纓之冠,履玄 鳳文之 ,觀之,年方三十許,修短得中,天姿 ,靈顏絕世,真靈人也」。
  《道藏三洞經》記載:「西王母者,太陰之元氣也,姓自然,字君思,下治昆侖,上治北斗」。列西王母為第四神仙,僅次于東王父。
  《雲笈七 》記載:「上聖白玉龜台九靈太真西王母」。
  在中國道書古籍中,多次記載西王母顯聖遺使下凡,曾經派她的徒弟九天玄女,幫助黃帝打敗蚩尤、授天下地圖予舜帝整治國家、遺二十三女雲華夫人下凡助大禹治水,而幸睹聖顏者,則有以孝聞名鄉里的舜帝、遊瑤池拜金母的周穆王以及好神仙之術的漢武帝等人。
  《穆天子傳》中:記有周穆王夢遊見西王母的故事,這時的西王母不是神,而是一位女王了。  
  《漢武帝內傳》載:「七月初七,王母降,自設天廚,以玉盤盛仙桃七顆,像鵝卵般大,圓形色青,王母贈帝四顆,自食三顆,帝食后留核准備種植,王母說這種桃三千年才能結果,中國地薄,無法種植。」這時的西王母已是一身帝后打扮的絕色佳人,她上殿接見數千神仙,儼若女仙領袖。
  東漢末,道教興起,推崇王母娘娘奉為尊神,將王母娘娘列為七聖之一,說她是道教第一大神元始天尊的女兒,三界十方女子登仙得道者,都是她的屬下。有的則視為元始天尊的母親,類似人間的皇太后,具有掌握宇宙的無上權力。許多地方祠祀的西王母,左右有六位夫人,有兩送子者、兩催生者、兩治瘟疹者,為仁慈、至尊的神明。
  王母娘娘與玉皇大帝結為夫妻,有如人間帝后。二人還生了七位女兒,其中小女兒七仙女私自下凡,與窮小伙董永「天仙配」的故事家喻戶曉。她還有個外孫女叫織女,與牛郎七夕鵲橋相會的故事,更是婦孺皆知。
  每逢農曆七月十八日為瑤池金母聖誕佳辰,仙界眾神都會親赴瑤池祝壽,由此可見金母神格之崇高。而該日王母廟的香火非常鼎盛


*Dịch:-

VƯƠNG  MẪU    NƯƠNG  NƯƠNG

Vương Mẫu Nương Nương  hoặc là Dao (Diêu) Trì Kim Mẫu, Tây Vương Mẫu, Kim Mẫu, Kim Mẫu Nguyên Quân, Cửu Linh Đại Diệu Quy Sơn Kim Mẫu, nói gọn là Vương Mẫu hay Kim Mẫu. Thế danh tính là họ HẦU (có nơi nói là DƯƠNG) tên HỒI, tự  UYỂN LINH , tên chữ là  THÁI  HƯ.
Tín  ngưỡng về Tây Vương Mẫu đã có từ lâu đời ở Trung Quốc. Trong phần “Quyển 3 nói về Khu vực phía Tây của Sơn Hải Kinh” đã nói:- “Tây Vương Mẫu cư trú tại núi Ngọc Sơn, hình tướng như người, có tướng lạ là đuôi beo răng cọp tiếng kêu rất to, tóc như cỏ bồng bay phủ. Là người coi về các chứng bệnh dịch  và ngũ tàn (5 thứ tai nạn làm tàn phế con người)”. Ý nghĩa đoạn nầy nói rằng Tây Vương Mẫu  là một con người đặc biệt nhìn giống như “quái vật”, có hình tướng uy mãnh, chưởng quản về các chứng bệnh ôn dịch và các tai nạn của con người.

*Riêng “Liệt Tiên Toàn Truyện” có ghi:-“ Tây Vương Mẫu  chính là những khí tinh hoa diệu mầu của phương Tây tạo thành, cùng với Đông Vương Công chia nhau giữ sổ sách tên tuổi các vị Tiên trong mười phương ba cõi, vị nầy ở hướng Tây, là vị thần ở gần Tam Thanh, có địa vị rất cao”.
Tây Vương Mẫu  là sự tập hợp những tinh khí kỳ diệu của khu vực hướng Tây tạo thành, là vị nữ thần được Đạo Giáo ở vùng Y Xuyên Thần Châu rất sùng bái. Hiện hữu trước tiên ở khu vực phương Tây, có cái đức là nguyên khí của Đất, chủ cai quản về chân khí âm linh, là vị chí tôn của “Thuần âm khí” vậy. Dao Trì Kim Mẫu cư trú trong những dãy núi cao đẹp đẽ ở phương Tây Trung Quốc. Ngôi Miếu Thờ Ngài đầu tiên hiện nay ở Hồi Sơn thuộc huyện Xuyên của tỉnh Cam Túc. Từ đó cho thấy, thánh địa trước tiên của Dao Trì Kim Mẫu không ngoài dãy núi Cam Túc . Khu vực nầy người phàm không thể đến được, cho nên từ xưa đến nay chưa ai trông thấy được tôn nhan của Ngài, chỉ theo lời diễn tả của Trang Thúc là dung mạo của  Kim Mẫu tươi đẹp như hoa, đoan trang tôn quí.
Chỗ ở của Tây Vương Mẫu  là Vườn Treo của núi Côn Lôn, đây là một hoa viên gọi là “Lang Phong”, có chín tần lầu ngọc, tả hữu có ao tiên nước xanh biếc vây quanh. Ngài có năm người thị nữ tên là “Hoa Lâm”, “Mỵ Lan”, “Thanh Nga”, “Dao Cơ” và “Ngọc Chi”. Tây Vương Mẫu  có một bảo vật quí hiếm ăn nó thì được trường sanh bất lão tên là “quả đào tiên” (còn gọi là bàn đào)  . Loại đào nầy, cứ ba ngàn năm mới trổ hoa, ba ngàn năm nữa mới kết trái, ăn vào thì tuổi thọ kéo dài. Khi đào đã chín, Vương Mẫu Nương Nương  thường triệu tập các vị thần tiên mở ra bửa tiệc chúc thọ  gọi là “Dao Trì Tập Khách” để chiêu đãi . Do đó, nhân gian hiểu rằng Tây Vương Mẫu  là tượng trưng cho sự trường sinh bất tử . Trong câu chuyện thần thoại nói về Thường Nga (Hằng Nga) có nhắc đến việc nàng ăn cắp thuốc bất tử của chồng là Hậu Nghệ để uống sau đó bay lên cung trăng là do vào niềm tin bất tử vào Tây Vương Mẫu  vậy.
Tây Vương Mẫu  chưởng quản phương Tây, là người quản lý sổ sách các vị tu hành ở cõi trên hoặc cõi dưới, có được chứng quả Tiên hay không. Ngài cùng với Đông Vương Công là hai vị hiện thành do nguyên khí từ ngàn xưa của Đông Tây tạo nên, để nuôi dưỡng trời đất, cai quản muôn vật. Tây Vương Mẫu  tự xưng là con gái của Thiên Đế, mà danh từ Thiên Đế lại do Huyền Thiên Thượng Đế tiếm xưng, thực ra thì trong “Lễ khúc lễ tập” nói rằng cả bốn  vị Thanh Đế, Xích Đế, Huỳnh Đế và Bạch Đế mới là Thiên Đế .


*Còn trong “ Tây Vương Mẫu  truyện” thì nói rằng Kim Mẫu cùng với Mộc Công hợp hai khí âm dương để nuôi lớn trời đất, sinh sôi nẩy nở muôn vật, những tiên nữ đắc đạo trong mười phương ba cõi đều do Ngài quản hạt”.

*Trong “Liệt tiên toàn truyện” có ghi :- Tây Vương Mẫu  tức là Quy Đài Kim Mẫu, là bậc chí tôn của khí tinh diệu thuần âm phương Tây tạo thành. Hóa sanh ở Y Xuyên của Thần Châu, họ Hầu (hoặc Dương) , tên Hồi, tự là Uyển , tên chữ là Thái Hư”.

* Sách “Sử ký đại uyển truyện lược” ghi:- “ Tây Vương Mẫu  là bậc Cổ Tiên, họ Hầu hay Dương , tên Hồi, tự Uyển Linh, ở núi Côn Lôn”.

* Sách “Đạo Tạng Đạo Tích Kinh” chép:- “Điện của Ngài Tây Vương Mẫu  tọa Tây hướng Đông, vàng ròng làm đất, cảnh sắc sáng rỡ, dung mạo đoan trang uy kính, thắt  dây lưng Linh Phi, đeo gươm Phân cảnh. Trên đầu như hoa lớn, đội mão Thái Chân Thần Anh, trước ngực thêu chim phượng. Nhìn sơ qua tuổi ước chừng ba mươi, nhưng đó là do Ngài có phép “thâu ngắn tuổi” lại nên có nhan sắc linh diệu tuyệt thế, quả thật là Chân Linh Nhân vậy”.

* Sách “Đạo Tạng Tam Động Kinh” chép:- “Tây Vương Mẫu   là nguyên khí thuần âm tạo thành. Họ là Tự Nhiên, tên là Quân Tư, dưới cai quản Côn Lôn, trên trị vì Bắc Đẩu”. Sách nầy xếp Tây Vương Mẫu  vào hàng thần tiên thứ tư, bên cạnh có Đông Vương trợ giúp.

*Còn sách “Vân Thất Cấp” thì nói :- “Có một vị thánh gọi là Bạch Ngọc Quy Đài Thái Chân Tây Vương Mẫu  ”.

*Trong những đạo thư xưa của Trung Quốc, có rất nhiều đoạn nói về sự hiển thánh của Tây Vương Mẫu  . Như là:- Ngài đã từng phái đồ đệ là Cửu Thiên Huyền Nữ  xuống giúp cho Huỳnh Đế đánh bại giặc Xi Vưu, giao địa đồ thiên hạ cho vua Thuấn để trị an đất nước, cùng với hai mươi ba vị Vân Hoa Phu Nhân xuống phàm giúp vua Đại Vũ trị thủy (cứu nạn lụt lội) . Thánh nhan của Ngài là do  những người đã từng nhìn thấy Ngài như vua Thuấn , người nổi tiếng về hiếu thảo hay Hán Vũ Đế, vị vua cực kỳ  ham thích đạo thần tiên kể lại.

*Theo “Mục Thiên Tử Truyện”   có kể lại chuyện trước đây, Chu Mục Vương đã có lần nằm mộng thấy Tây Vương Mẫu, nhưng ở đây Kim Mẫu  chưa là thần, chỉ là một vị nữ vương thôi ”.


* Còn theo “Hán Vũ Đế nội truyện” ghi :- “Đêm mùng bảy tháng bảy, Vương Mẫu giáng trần, tự tổ chức bếp ăn của trời, có bàn bằng ngọc đựng bảy trái đào tiên, to bằng quả trứng ngỗng, hình tròn sắc xanh. Vương Mẫu tặng cho vua bốn trái đào, còn Ngài ăn ba trái. Nhà vua ăn xong, có ý để dành cho quần thần nếm thử, nhưng Vương Mẫu bảo rằng, đào nầy ba ngàn năm mới có trái, đất Trung Quốc phước mỏng, người thường không được ăn”. Khi ấy , hình tượng Vương Mẫu đã thành một vị vợ vua, nhan sắc tuyệt vời. Ngài ngồi trên điện mà tiếp kiến các thần tiên khác, đương nhiên trở thành lãnh tụ của nữ tiên.

*Cuối thời Đông Hán, Đạo Giáo thịnh hưng, suy tôn Ngài thành Vương Mẫu Nương Nương  , cho rằng Vương Mẫu Nương Nương  là vị thánh  hạng nhất trong bảy vị thánh, là vị Nguyên Thủy Thiên Tôn Nữ Nhi của Đạo Giáo . Tất cả người tu hành trong mười phương ba cõi đắc quả tiên đều là thuộc hạ của Ngài. Đó là nguyên nhân dẫn đến lòng tin Ngài là mẫu thân của Nguyên Thủy Thiên Tôn, nhân gian tôn xưng là Huỳnh Thái Hậu  vậy, Ngài có quyền lực vô hạn, cai quản khắp vũ trụ. Rất nhiều nơi thờ phụng đức Tây Vương Mẫu  với tả hữu có sáu vị phu nhân :- hai vị gọi là Tống Tử Phu Nhân, hai vị là Thôi Sinh Phu Nhân, hai vị Trị Ôn Chẩn (bệnh dịch và bệnh ban trái), tất cả đều có lòng nhân từ cứu giúp chúng sinh. Ngài chính là vị thần minh tối cao vậy.

*Trong truyền thuyết dân gian thì Vương Mẫu Nương Nương  cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế kết làm vợ chồng như dưới trần gian có vua và hoàng hậu vậy. Trong truyện “Thiên tiên phối” (truyện có tính cách giáo dục con cái trong gia đình) thì hai  vị ấy  sanh được bảy người con gái, trong đó người con gái út lén trốn xuống phàm trần , kết duyên cùng một đầu bếp nghèo tên  Đổng Vĩnh. Ngoài ra, còn có chuyện hai vị có người cháu ngoại tên Chức Nữ, làm vợ của Ngưu Lang, dệt thành chuyện tình ướt át  “Bắt cầu ô thước đêm mùng bảy tháng bảy” mà mọi người đều biết.
Hàng năm , đến ngày mười tám tháng bảy là ngày thánh đản của Dao Trì Kim Mẫu , các thần ở Tiên giới đều đến Dao Trì Cung để chúc thọ Vương Mẫu. Từ đó, ai cũng biết được phẩm vị của Kim Mẫu là cực cao.
Hiện nay, Miếu Thờ Kim Mẫu ở khắp nơi ngày đêm hương khói chẳng dứt.


*NHƯỢC THỦY dịch
 ( từ [url]http://www.fushantang.com[/url] )


--------------------------------------------------------------------------------------

西 王 母

*西 王 母 的 來 歷 : 西 王 母 , 俗 稱 王 母 娘 娘 , 又 稱 西 姥 、 王 母 、 金 母 和 金 母 元 君 。 全 名 為 白 玉 龜 台 九 靈 太 真 金 母 元 君 、 白 玉 龜 台 九 鳳 太 真 西 王 母 或 太 靈 九 光 龜 台 金 母 元 君 。 西 王 母 之 名 最 初 見 於 《 山 海 經 》 。 「 西 」 指 方 位 , 「 王 母 」 即 神 名 。 西 王 母 由 混 沌 道 氣 中 西 華 至 妙 之 氣 結 氣 成 形 , 厥 姓 侯 氏 , 位 配 西 方 。 《 漢 武 帝 內 傳 》 稱 西 王 母 上 殿 時 , 「 著 黃 金 褡 孎 , 文 采 鮮 明 , 光 儀 淑 穆 , 帶 靈 飛 大 綬 , 腰 佩 分 景 之 劍 , 頭 上 太 華 髻 , 戴 太 真 晨 嬰 之 冠 , 履 玄 鐍 鳳 文 之 舄 。 視 之 可 年 三 十 許 , 修 短 得 中 , 天 姿 掩 藹 , 容 顏 絕 世 」 , 漢 武 帝 拜 受 西 王 母 之 教 命 。 《 山 海 經 》 中 言 西 王 母 人 身 虎 齒 , 豹 尾 蓬 頭 云 云 , 乃 西 王 母 使 者 西 方 白 虎 之 神 , 非 西 王 母 之 形 。


*女 仙 之 宗 : 西 王 母 為 女 仙 之 宗 , 居 崑 崙 之 間 , 有 城 千 里 , 玉 樓 十 二 , 瓊 華 之 闕 , 光 碧 之 堂 , 九 層 元 室 , 紫 翠 丹 房 , 左 帶 瑤 池 , 右 環 翠 山 。 《 博 物 志 》 稱 , 瑤 池 有 桃 樹 , 「 三 千 年 一 生 實 」 。 天 上 天 下 、 三 界 十 方 , 女 子 得 道 登 仙 者 , 都 隸 屬 於 西 王 母 管 轄 。


*育 養 萬 物 : 元 始 天 尊 授 西 王 母 以 方 天 元 統 龜 山 九 光 之 籙 , 使 制 召 萬 靈 , 統 括 真 聖 , 監 盟 證 信 , 總 諸 天 之 羽 儀 , 監 上 聖 之 考 校 。 西 王 母 和 東 王 公 又 是 道 氣 陰 陽 之 父 母 , 共 理 二 氣 , 育 養 天 地 , 陶 鈞 萬 物 。 黃 帝 討 伐 蚩 尤 之 暴 時 , 蚩 尤 多 方 變 幻 , 呼 風 喚 雨 , 吹 煙 噴 霧 , 西 王 母 即 遣 九 天 玄 女 授 黃 帝 三 宮 五 意 、 陰 陽 之 略 , 太 乙 遁 甲 六 壬 步 斗 之 術 , 陰 符 之 機 , 靈 寶 五 符 五 勝 之 文 。 黃 帝 遂 克 蚩 尤 於 中 冀 。 虞 舜 即 位 後 , 西 王 母 又 遣 使 授 白 玉 環 、 白 玉 琯 及 地 圖 , 舜 即 將 黃 帝 的 九 州 擴 大 為 十 二 州 。


*奉 祀 : 《 漢 武 帝 內 傳 》 中 有 西 王 母 賜 三 千 年 結 果 之 蟠 桃 事 , 因 此 , 西 王 母 開 蟠 桃 會 的 故 事 深 入 人 心 。 道 教 和 民 間 一 直 將 西 王 母 作 為 長 壽 的 象 徵 , 以 西 王 母 作 為 金 籙 延 壽 道 場 的 主 神 。 每 逢 西 王 母 神 誕 之 日 , 一 說 是 三 月 初 三 日 , 一 說 是 七 月 十 八 日 , 道 教 徒 , 特 別 是 女 性 教 徒 常 聚 集 在 道 觀 內 , 為 西 王 母 建 祝 誕 道 場 , 同 時 祈 求 健 康 長 壽 。



*Dịch:-

Tây Vương  Mẫu

1.-Lai lịch Tây Vương Mẫu:-

Tây Vương Mẫu  , tục xưng là Vương Mẫu Nương Nương  , còn gọi là Tây Lão Mẫu, Vương Mẫu, Kim Mẫu và Kim Mẫu Nguyên Quân. Tên gọi đầy đủ của Ngài là “Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Phượng Thái Chân Tây Vương Mẫu” hoặc là “Thái Linh Cửu Quang Quy Đài Kim Mẫu Nguyên Quân”.
*Danh hiệu Tây Vương Mẫu xuất hiện xưa nhất trong “Sơn Hải Kinh”. “Tây” chỉ phương vị, “Vương Mẫu” là thần danh. Tây Vương Mẫu  do tinh hoa chí diệu của khí thuần âm trong thời kỳ hỗn độn ngưng kết lại mà thành. Nói họ Hầu là vì có liên quan đến phương vị hướng Tây vậy.
*Trong “Hán Vũ Đế nội truyện” mô tả điện của Ngài là “xây dựng bằng vàng ròng, màu sắc rực rỡ, ánh kim quang chói mắt. Ngài thắt dây lưng Linh Phi, lưng mang gươm “Phân Cảnh”, đầu tươi như đóa hoa, đội mão “Thái Chân Thần Anh” , ngực thêu chim phượng. Mới nhìn , tưởng như tuổi chừng ba mươi  bởi vì Ngài có pháp rút tuổi. Ngài có phong thái thân thiết dễ mến, dung nhan tuyệt thế”. Hán Vũ Đế lạy nhận giáo mệnh của Ngài.
*Trong “Sơn Hải Kinh” thì diễn tả “Tây Vương Mẫu  là người có tướng lạ là đuôi beo răng cọp tiếng kêu rất to, tóc như cỏ bồng bay phủ v.v… Lại nói Tây Vương Mẫu  là “Thần Bạch Hổ” , sứ giả của Tây Phương. Hình ảnh đó không giống như hiện nay.

2.- Đứng đầu Nữ Tiên:-

Tây Vương Mẫu  là vị đứng đầu nữ tiên, cư trú ở núi Côn Lôn, có thành trì dài ngàn dậm, mười hai lầu ngọc, có cung Quỳnh Hoa và nhà Quang Bích. Ngài ở trong tòa nhà chín tầng trong căn phòng Tử Thúy Đan. Bên trái có ao tiên Dao Trì , bên phải có núi cao Hoàn Thúy.
*Trong “Bác vật Chí” thì nói:- Cung Dao Trì có loại  đào tiên “ba ngàn năm mới có trái”. Ba cõi mười phương trên trời dưới trời tất cả người tu hành nam nữ khi đắc đạo thành tiên, đều thuộc dưới quyền của Ngài cả.

3.- Nuôi lớn muôn vật:-

Nguyên Thủy Thiên Tôn   giao trách nhiệm cho Tây Vương Mẫu  ở núi Quy Sơn Cửu Quang  để  cai quản sổ sách công hạnh thành tiên của người tu, răn bảo dạy dỗ cho vạn linh, chứng nhận lòng thành của nhân gian, phân biệt tu hành chân giả  và kỷ luật của các Thánh, kiểm soát các kỳ thăng cấp chư Thánh.
Tây Vương Mẫu  cùng với Đông Vương Công là hợp hai khí âm dương lại thành cha mẹ để nuôi lớn vạn vật, sanh sôi nẩy nở muôn loài.
Khi Huỳnh Đế thảo phạt giặc loạn Xi Vưu  thì bị Xi Vưu có nhiều tài năng biến ảo, biết hô phong hoán vũ, nhả khói phun sương nên không thu phục nổi. Tây Vương Mẫu  đã sai Cửu Thiên Huyền Nữ đem dạy cho Huỳnh Đế những phép “tam cung ngũ ý, Pháp âm dương, Pháp Thái Ất Độn Giáp, Pháp Lục Nhâm Bộ Đẩu , cùng với những pháp Âm phù, cho những bảo bối “ngũ phù ngũ thắng” để  trợ chiến”. Nhờ đó mới thắng được giặc Xi Vưu . Khi vua Thuấn lên ngôi, Tây Vương Mẫu  dạy cho pháp sử dụng Bạch ngọc hoàn và Bạch ngọc quản, cùng với bản đồ đất đai lãnh thổ, mở rộng được đất nước có chín châu ở thời Huỳnh Đế trở thành mười hai châu.

4.- Cúng tế:-

Trong “Hán Vũ Đế nội truyện” có nói đến chuyện Tây Vương Mẫu  mở hội bàn đào để ban cho các Tiên loại đào “ba ngàn năm mới có trái” . Từ đó, câu chuyện “Hội Bàn Đào” của Tây Vương Mẫu đi sâu vào lòng nhân dân Trung Quốc . Trong Đạo Giáo cũng như ngoài dân gian đều công nhận hình tượng Tây Vương Mẫu  là “Vị Thần cao cả chủ về  sự  kéo dài tuổi thọ con người”.
Riêng về ngày thánh đản của Tây Vương Mẫu  thì có hai thuyết:-
-một nói là ngày mùng ba tháng ba âm lịch.
-một nói là ngày mười tám tháng bảy âm lịch.

Trong Đạo Giáo, đặc biệt là “nữ tín đồ”  thường tụ tập nơi đạo quán để thành tâm khấn lạy  Tây Vương Mẫu  , cầu xin cho được khỏe mạnh sống lâu.

*NHƯỢC  THỦY dịch
 (từ [url]http://www.chinesefolklore.com[/url])

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
pro-spam, SGQUAY, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, laodongta, mavuong, dieu thien, chonhoadong, phaolon, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:32:02 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Bảy 13, 2008, 02:28:39 am »

CỬU  THIÊN  HUYỀN  NỮ


九天玄女

  九天玄女,又叫九天娘娘、九天玄女娘娘,或簡稱媧皇、玄女,本是中國古代神話傳說中的女神,后為道教所信奉,成為女仙中著名的一位。
  所謂九天者,中央及八方也。所以九天乃四面八方的意思。換句話說,玄女就是天地間唯一的神女。在台灣鄉土神明的傳說里,九天玄女又稱連理媽,有大媽、二媽、三媽至九媽的九尊神像。還有一說,九天玄女即為女媧娘娘,尚等考証。
玄女顯靈
  《云笈七簽》及《九天玄女傳》記載,九天玄女為黃帝之師,聖母元君的弟子。當黃帝蚩尤作戰時,玄女下凡來,將兵符印劍交給黃帝,并為黃帝制造夔牛鼓八十面,打敗蚩尤。
  《水滸傳》中,宋江江州遇救后,又去接老父上山,不料被官兵知覺,倉皇中逃進還道村玄女廟。玄女娘娘顯靈,不僅救了宋江一命,還送他三卷天書,讓他替天行道。以后「宋江歸順了朝廷,領兵征遼時,被遼軍的“太已混天象陣”所困,宋江夜夢中得九天玄女傳授破陣之法,即以此法大破遼軍。
  書中的九天玄女娘娘是一位楚楚動人的女仙,但是她的原型卻是一個在鳥身上長著人腦袋的怪物,這就是玄鳥。在〈詩經〉中,記載著玄鳥是商人始祖的說法。《史記》中也說,殷商的祖先是其母吃了玄鳥蛋,懷孕而生。這是商族崇拜玄鳥圖騰的反映。
  這個玄鳥后來又化身為玄女,并被摻入了黃帝神話之中,成了黃帝的師父。相傳黃帝與蚩尤大戰,蚩尤呼風喚雨,吹煙噴霧,黃帝不能取勝。正在發愁之際,來了一位婦人,人首鳥形,說:「我是九天玄女,王母特派我授你戰法」。黃帝得了九天玄女傳授的戰法,遂大敗蚩尤。此時的玄女,雖尚未脫盡鳥形,但到底進了一步,成了一位救助急難,暗藏謀略的半人半禽女神。
  到了宋代的《云笈七簽》中,九天玄女則徹底人神化,完全脫掉了動物痕跡。書中專門有一篇《九天玄女傳》,寫她騎的是鳳凰,駕著彩云,穿的是九色彩翠華服,是一位專門扶持應命英雄,授以天書兵法的上界女仙──玄女娘娘。
  九天玄女的這一角色,大量出現在古典小說中,流傳較廣,影響較大的如宋元間編撰的《大宋宣和遣事》,明代四十四回本《三遂平妖傳》、清代《女仙外史》和《薛仁貴征東》等書,都有許多筆墨對九天玄女做了繪聲繪色的描摹。
賜福、賜子:
  有關九天玄女的傳說,因為是遠古的事,能有一麟半爪,已經是很珍貴的了,實上,就是這一麟半爪的可靠性,也是很成問題的事。九天玄女與其他娘娘合祀的時候,王母娘娘「特使」的身份已不明顯,她被人們賦予了賜福賜子的功能,雖然地位低了許多,但是在善男信女心目中卻更覺親切和崇高。
  九天玄女的祭典在九月九日,香燭業奉祀九天玄女為祖師。


*Dịch:-

Cửu Thiên Huyền Nữ

Cửu Thiên Huyền Nữ  còn gọi là Cửu Thiên Nương Nương , Cửu Thiên Huyền Nữ  Nương Nương  , hoặc nói gọn Oa Huỳnh, Huyền Nữ, là một vị nữ thần trong nững truyền thuyết thần thoại của Trung Quốc từ xưa, về sau được Đạo Giáo tin tưởng trở thành một vị nổi danh trong hàng nữ tiên.
Sở dĩ nói “cửu thiên” là ý nói tám phương và trung ương , cho nên cửu thiên là khắp nơi ,bốn mặt tám hướng đều có. Nói cách khác, Huyền Nữ là nữ thần duy nhất trong trời đất. Tại Đài Loan, ở những vùng nông thôn tin vào những truyền thuyết thần minh, thì Cửu Thiên Huyền Nữ  được gọi thân mật là “Mẹ”, gồm trên hết là Mẹ cả, Mẹ hai, Mẹ ba….đến Mẹ chín để chỉ chín vị thần tượng thờ phụng.
Còn có một thuyết cho rằng, Cửu Thiên Huyền Nữ  tức là Nữ Oa Nương Nương  , thuyết nầy còn phải xem xét lại.

1.- Sự hiển linh của Thần Nữ:-

Trong 《Vân Cấp Thất Thiêm 》và 《Cửu Thiên Huyền Nữ truyện》có chép:- Cửu Thiên Huyền Nữ  là thầy của Huỳnh Đế, và là học trò của Tây Vương Mẫu  . Khi Huỳnh Đế trừ giặc Xi Vưu , Huyền Nữ đã hạ phàm, đem binh phù ấn kiếm giao cho Huỳnh Đế, lại còn dạy Huỳnh Đế cách chế tạo “Trống Quì Ngưu 80 mặt” để đánh bại Xi Vưu.

*Trong “Truyện Thủy Hử”, sau khi Tống Giang được cứu ở Giang Châu, đi đón cha lên núi, chẳng dè bị quan binh phát hiện ở Thương Huỳnh, chạy trốn lại đến chỗ Miếu Thờ Cửu Thiên Huyền Nữ  ở địa phương. Cửu Thiên Huyền Nữ  đã hiển linh cứu thoát Tống Giang, lại còn cho y ba quyển thiên thư bảo y hãy “thế thiên hành đạo” (thay trời hành đạo) . Về sau nầy, Tống Giang qui thuận triều đình, lãnh binh đi chinh phạt nước Liêu, bị quân Liêu vây hãm trong trận “Thái Dĩ Hỗn Thiên Tượng” . Đem đến, Tống Giang nằm mộng thấy Huyền Nữ chỉ bày cách phá trận, nhờ đó thắng lớn quân Liêu.

*Theo sách vở hiện nay thì Cửu Thiên Huyền Nữ  là một vị Nữ Tiên lộng lẫy, nhưng  hình tượng gốc của Ngài lại là một quái vật đầu người mình chim, gọi là “Huyền Điểu” ngày xưa. Trong Kinh Thi, ghi rằng “huyền điểu” chính là tổ tiên của người Thương (nhà Thương trước nhà Châu) . Trong “Sử Ký”thì nói rằng , thưở xưa, có một bà mẹ thuộc hàng tổ tiên của họ Ân-Thương đã ăn một cái trứng cùa huyền điểu, có thai mà sanh ra con. Điều nầy nói lên sự sùng bái huyền điểu của tộc họ nhà Thương vậy.

*Chính hình tượng huyền điểu nầy về sau hóa thân thành Huyền Nữ, thâm nhập vào truyện thần thoại về Huỳnh Đế và trở thành sư phụ của Huỳnh Đế là vì thế.
*Truyện chép:-

Sau đời vua Thần Nông, các bộ lạc đều tự tách ra hùng cứ mỗi nơi. Có một bộ lạc hùng mạnh mà vị thủ lãnh là Xuy Vưu muốn thôn tính các bộ lạc khác để lên làm bá chủ, nhưng Xuy Vưu lại quá độc ác, ai không thuận theo thì bị giết chết rất tàn nhẫn. Các bộ lạc liền liên kết nhau, tôn vị thủ lãnh Hữu Hùng Thị (nay ở huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam) lên chỉ huy chống lại Xuy Vưu. Trận đánh dữ dội quyết định sự thắng bại với Xuy Vưu xảy ra ở Trác Lộc.

Sương mù dày đặc, quân Hữu Hùng Thị bị Xuy Vưu vây chặt, không nhận định được phương hướng đánh ra giải vây, nên thường bị Xuy Vưu đánh bại phải tháo lui. Sự thảm bại của Hữu Hùng Thị thấy rõ trước mắt.

Trong lúc nguy cấp như thế, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe hai bánh chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam, để phân định phương hướng và vị trí tiến quân, lại dạy cho binh pháp. Nhờ vậy, Hữu Hùng Thị củng cố binh mã, từ trong đánh ra bất ngờ, làm cho binh đội Xuy Vưu thảm bại, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu đem giết chết.

Thế là yên giặc, tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghinh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế hay Huỳnh Ðế. Nguyên Hữu Hùng Thị được sanh ra tại gò Hiên Viên, nên về sau gọi là Hiên Viên Huỳnh Ðế.


Sau đó, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ cũng thường ứng hiện giúp vua Huỳnh Ðế và những người hiền tài trong nước, như giúp Hoàng Hậu Nguyên Phi chế ra nghề nuôi tằm lấy tơ dệt lụa, giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem Thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc.

Ngoài ra Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp, và phép bói 64 quẻ Dịch mà đoán kiết hung.

Thưở ấy thì Huyền Nữ chưa thoát khỏi hình tượng chim, nhưng đã tiến thêm một bước là trở thành người cứu nạn gấp, là một vị Nữ Thần nửa người nửa chim chứa đựng nhiều tài năng mưu lược vậy.

*Đến đời Tống, trong “Vân Cấp Thất Thiêm” thì Cửu Thiên Huyền Nữ  đã hoàn toàn được “nhân thần hóa”, xóa bỏ tất cả dấu vết động vật trong hình tượng. Trong quyển sách đặc biệt tên “ Cửu Thiên Huyền Nữ  truyện” đã diễn tả bà cỡi chim phượng, trên đám mây ngũ sắc, mặc áo chín sắc “Thái Thúy Hoa”. Ngài là vị chuyên môn phù trì cứu giúp anh hùng, dạy thiên thư binh pháp cho các nữ tiên trên trời và chính thức trở thành “ Cửu Thiên Huyền Nữ  Nương Nương  ”.
Nhân vật Cửu Thiên Huyền Nữ  đã xuất hiện rất nhiều trong các tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, tạo ra ảnh hưởng rất lớn về niềm tin của quần chúng. Những sách được biên soạn như là :-  đời nhà  Tống có Nguyên Gian viết “Đại Tống Tuyên Hòa Khiển Sự”; đời Minh có truyện “Tam Toại Bình Yêu” gồm  bốn mươi bốn cuốn ; đời Thanh có “Nữ Tiên Ngoại Sử” và “Tiết Nhân Quí Chinh Đông” …đã tốn rất nhiều bút mực ca tụng sự anh linh của Cửu Thiên Huyền Nữ  .

2.- Tứ Phước 、Tứ Tử :- (Ban phước-ban cho con trai)

Có một truyền thuyết liên quan đến Cửu Thiên Huyền Nữ  như sau:-
“Thời viễn cổ, gia đình Cửu Thiên Huyền Nữ  may mắn có được “Nửa miếng Vãy Lân” được trong họ tộc thờ phụng nghiêm chỉnh. Trong làng, ai không có con trai hoặc nghèo khổ đến lễ lạy cầu xin đều được như  ý. Từ đó, người đời sau tin rằng , cứ thành tâm cầu khẩn với Ngài là cũng được toại nguyện. Còn chuyện Tây Vương Mẫu  “đặc phái” Cửu Thiên Huyền Nữ  đến giúp Huỳnh Đế thì có vẽ mơ hồ một chút.
Tuy nhiên, nhiều đời đã qua, mỗi thời đề cao thêm một chút thành ra ngày nay Ngài trở thành một vị Nữ Thần tối cao, có khả năng “Ban bố phước lộc, ban bố con trai” cho tất cả những ai thành kính tin tưởng Ngài.

*Ngày cúng tế Cửu Thiên Huyền Nữ  là ngày mùng chín tháng chín. Khắp nơi đều có Miếu Thờ, tôn xưng là “Tổ Sư”,  khói hương  thờ phụng Ngài không dứt.

*NHƯỢC  THỦY  dịch
(từ fushantang.com)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, chilin1987, koreadinh, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, mavuong, dieu thien, chonhoadong, phaolon, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:24:07 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
giacatcan
...
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 244

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 193


Lãng Tử


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Bảy 13, 2008, 03:56:14 am »

Có một ít tài liệu sưu tầm được nhưng vì không biết Hán ngữ nên gửi lên đây nhờ bác Nhược Thủy dịch giùm để giúp cho các thành viên của HTT có thêm 1 tài liệu nữa để nâng cao kiến thức. Xin cảm ơn bác Nhược Thủy rất nhiều.

* khongminhthanquai.doc (114 KB - download 273 lần.)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, dieunha
Logged

Tôi đi tìm cái gì ???
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Bảy 14, 2008, 03:19:47 am »

NỮ  OA    NƯƠNG  NƯƠNG

女媧娘娘

  女媧娘娘相傳是上古時代的一位女神,是上古女帝,為人類之母。
  女媧娘娘又稱女媧氏,女希氏,媧皇,地母。傳說,女媧娘娘姓風,是太陽神伏義氏的配偶。
  《淮南子.覽冥訓》云:「媧,古之神聖女,化萬物者也。從女、咼聲。」「女媧,陰帝,佐宓犧治者也。」「往古之時,四極癈,九州裂。天不周載,火爁炎而不減,……於是女媧煉五色石以補蒼天,斷鰲足以立四極,殺黑龍以濟冀州,積蘆灰以止淫水。……乘雷車,服應龍,……導鬼神,登九天,朝帝於靈門。」
  《風俗通義》云:「天地初開,女媧摶黃土為人,劇務,力不暇供,乃引繩橫泥中,舉以為人。」
  《帝王世紀輯存》:「女媧風,承伏羲制度,亦人頭蛇身,一日七十化。」
  中國古老神話里,以女媧娘娘為造人者,也是中國人共同的最早的母親,女媧娘娘的形象,根據漢朝武梁祠的石刻畫像為人頭蛇身。
  傳說在大地還沒有人類以前,就有女媧這位女神。她覺得在這片青蔥翠綠的大地上,沒有東西可以陪伴他實在非常寂寞,於是仿照自己的模樣,用黃土混合水創造出人類來。相傳,女媧娘娘先用手捏黃土創造了人,后來覺得太吃力又麻煩,於是搓了一條長繩投入爛泥中,拉甩起來,泥漿濺開,乃化作了人。依此傳說,女媧可說是創世神和始祖神。
  女媧在造人之前,於正月初一造雞,初二造出狗,初三造羊,初四造豬,初五造牛,初六造馬,到了初七這一天造出人類,因此正月初七又稱「人日」。女媧創造完人類後,碰到一個問題,如何讓人類世世代代繁衍下去呢?要是在人死後再重造一批,那不是太麻煩了嗎?於是女媧娘娘便把人分為兩性,並制訂嫁取的禮儀,規定同姓氏不得婚配,此事攸關於倫理價值與優生學,是至為重要的。女媧自己充當人類的第一個媒人,從此人類便可以永續的繁衍下去。後人感念他對婚姻制度的貢獻,尊奉他為「媒神之祖」又稱「高媒」,也就是婚姻之神。
  有了人類便有了爭端,繼而發生戰爭,交戰雙方為水神共工氏與顓項。戰爭的結果顓項勝了,水神共工氏憤怒之餘一頭撞斷了擎天柱不周山,不周山因而崩塌,下雨不止,地上洪水泛濫,造成世間大禍,民不聊生。女媧不忍他所創造的人類遭受苦難,於是煉製五色彩石來修補天空,並斬斷大神龜的四足來撐天,然后她再燃燒蘆草,用蘆灰去填地洞,將低地填高,世間才逐漸恢復了太平。人類能夠生存之後,文化也得以發展,於是女媧又創造了笙篁來教化人類,使人類的文明得以發展。女媧補天的日子傳說為正月二十日,因此有人就把這天稱做「補天日」,並製作煎餅放在屋頂上,效法女媧補天。不過這項習俗現在已不多見了。
  女媧娘娘也被奉為地母,或稱無上虛空地母、大道玄玄虛空地母、無土虛空地母無量慈尊,《地母真經》載:「盤古初生我當尊陰陽二氣配成婚」,又「天君本是玄童子,他聾我啞配成雙」,此說為地母與盤古同時生,較傳說先盤古再天、地、人三皇、神農、伏羲、女媧等有所不同。
  在原始時代的人看來,土地是一種生物土壤是它的肌肉。岩石是它的骨骼。在許多神話傳說中稱天為「天父」,稱地為「地母」,因為它能生養萬物。
  「地母」的觀念或許發生于古代人類脫離狩獵生活時入農耕時代,崇拜地母,它的宗旨有二:
  祈求五谷收獲的丰盛。
  當農民把鋤頭鋤入土內,建筑物的其礎插入土中時,一定招惹地神動怒,所以祭拜「地母」,以平息地神的忿怒。
  又說女媧娘娘開天辟地后,有東王又和西王母就是人們所稱的天又和地母。
  女媧娘娘為人類的始祖,但民間視其為補大女神。有傳說女媧娘娘是補傘能手,因此造傘業者奉女媧娘娘為祖師,另外綿線的紡織界、繡補業及瓦窯業者也尊奉她為守護神。
  正月廿日為女媧娘娘的聖誕。
  客家習俗稱這一天為「天穿日」,各行各業都要停止工作一天。



*Dịch:-

Nữ Oa Nương Nương

Nữ Oa Nương Nương  tương truyền là một vị nữ thần của thời thượng cổ, là vị Nữ Đế cổ nhất, là Mẹ của tất cả nhân loại.
Nữ Oa Nương Nương  còn gọi là “Nữ Oa Thị”, “Nữ Hy Thị”, “Oa Hoàng”, “Địa Mẫu”.
Cũng theo truyền thuyết, bà Nữ Oa họ Phong, là vợ của Thần Thái Dương Phục Hi.

*Sách “Hoài Nam Tử--Lãm Minh Huấn” nói rằng :- “OA, là vị thần thánh nữ, sinh ra vạn vật. Tên có âm đầu là Nữ, kế là thanh Oa” và “Nữ Oa, vị vua phần âm, trợ giúp đắc lực cho vua Hi”. Lại có truyền thuyết:-
“Thời mới khai thiên lập địa, bốn cực bị hỏng, chín châu bị đè, nước từ sông trời chảy xuống làm ngập lụt thế gian…Lúc bấy giờ, bà Nữ Oa luyện “đá ngũ sắc” để vá khoảng trời xanh bị sụp, chặt bốn chân con ngao (loại rùa lớn) làm bốn cột chống trời, giết rồng đen để cứu giúp Ký Châu, tích chứa tro đốt cây lau đổ vào đất thấp làm thành ruộng cao ráo... Ngồi xe sấm, hàng phục rồng, chỉ dạy cho quỉ thần, thăng lên trời nơi Linh môn ở ngôi đế”.

*Sách “Phong tục thông nghĩa” nói rằng:- “Lúc mới mở ra trời đất, bà Nữ Oa nặn đất sét để tạo thành người. Nhưng số lượng người nặn ra quá ít ỏi dù bà đã tận lực làm việc. Sau cùng, nẫy ra một sáng kiến :- Bà lấy một sợi dây leo dài nhún vào trong đất bùn. Khi Bà dở nó lên, bùn ướt nhễu xuống từ sợi dây leo và trở thành những con người”.

*Trong “Đế Vương thế kỷ tập tồn” thì chép :- “Bà Nữ Oa họ Phong, trợ giúp vua Phục Hi trị nước, có hình dáng “đầu người mình rắn”, mỗi ngày biến hóa bảy  mươi lần”.

*Những sách thần thoại cổ xưa nhất Trung Quốc cũng đều nói rằng bà Nữ Oa tạo ra con người, là người mẹ sớm nhất của cộng đồng người Trung Quốc. Hình tượng bà Nữ Oa căn cứ theo hình  khắc trên đá ở Miếu Vũ Lương đời nhà Hán thì là “đầu người mình rắn”.

* Theo truyện Thần thoại Trung hoa, một ngày kia, Nữ Oa đi đến một khu đất rộng. Bà rất vui vì thế giới nơi này tràn đày tiếng chim hót và hương hoa thơm khiến Bà không muốn trở về trời. Nhưng Bà có một cảm giác ray rứt như có một cái gì còn thiếu. Cảm giác đó không ngưng khi Bà bước đi trên suốt con đường dẫn đến bờ nước. Bà quì xuống uống nước. Nhìn thấy hình ảnh đẹp đẽ của mình trên mặt nước khiến Bà nảy sanh ý tưởng tạo ra sự sống. Lúc đầu, bà dùng đất sét trộn với nước để nặn thành hình người và thổi hơi vào để truyền sự sống. Nhưng số lượng “con người” do bà dù làm việc hết sức vất vả mà cũng chẳng dược bao nhiêu. Bà liền nẫy ra sáng kiến thay đất sét bằng bùn để đở tốn công trộn đất sét với nước.Bà chụp lấy một nắm đất bùn, và đắp thành một hình tượng nhỏ, dựa theo hình ảnh của chính mình bà. Lạ lùng thay, khi Bà để tượng hình xuống đất, nó liền sống động ngay tức thì! Thật là thần diệu! Nó còn cả gọi kêu Bà bằng hai tiếng ‘Mẹ Mẹ’ và nhảy nhót không ngừng. Bà vui vẻ đắp thêm một tượng hình nhỏ khác, rồi thêm một tượng nữa, và một tượng nữa. Bà làm việc nhiều đến nổi các ngón tay bà phát sưng lên. Nhưng các tượng nhỏ mà Bà đắp vẫn còn quá ít oi; làm sao chúng có thể làm đày tràn cả khu đất rộng này? Bà liền nảy sanh ra một ý kiến: Bà lấy một sợi dây leo dài nhún vào trong đất bùn. Khi Bà dở nó lên, bùn ướt nhễu xuống từ sợi giây leo và trở thành những con người. Bà Nữ Oa rất thương quí sự tạo dựng này của Bà, Bà quá sung sướng và chạy khắp núi sông, và không bao lâu mặt đất tràn đầy loài người. Do đó, Bà Nữ Oa chính là “thần sáng thế và thần tạo ra con người”. (*Chú thích:- Đoạn nầy, dịch theo lối phóng tác cho nên thơ một chút, các bạn đừng căn cứ  vào nguyên tác mà cho rằng tôi phóng đại nhé !-NT).


*Cũng theo truyền thuyết, trước khi tạo ra con người, Bà Nữ Oa đã sáng tạo các con vật trước, như là:- “Vào mùng một tháng giêng tạo ra gà, mùng hai tạo ra  chó, mùng ba tạo ra dê, mùng bốn tạo ra heo, mùng năm tạo ra trâu, mùng sáu tạo ra ngựa, đến hết ngày thứ bảy thì mới tạo ra con người. Vì thế, ngày mùng bảy tháng giêng được gọi là “Nhân Nhật” (ngày của người). Sau khi tạo ra con người, phát sinh ra vấn đề là sau nầy làm sao để loài người có thể tồn tại và phát triển lâu dài được ? Nếu cứ sau khi người chết lại phải tốn công tạo ra con người lần nữa thì chẳng phải  là quá nhiêu khê vất vả sao ?  Do đó, Bà mới chọn ra và thổi tiên khí vào để  phân thành hai giới tính nam nữ, rồi dạy cho họ việc kết hợp, gả cưới vợ chồng, cách thức truyền giống để tự sinh sôi nẫy nở mà tồn tại mãi mãi.

Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc thì cho rằng , chính Bà Nữ Oa đã dạy dỗ về nguyên tắc  “cùng huyết thống thì không được cưới gả”, một vấn đề  quan trọng mà các nhà sinh học hiện nay rất quan tâm. Cho nên, dân gian tôn sùng Bà là “đệ nhất môi nhân” (bà làm mai mối đầu tiên), nhờ sự kết hợp nầy mà nhân loại mới có thể tồn tại phát triển lâu dài được. Người sau cảm niệm công đức cống hiến đối với việc hôn nhân của Bà , nên tôn xưng Bà là “Môi thần chi Tổ” (Tổ của việc mai mối) hoặc “Cao Môi” (bà  mối cao nhất).

*Khi đã có con người rồi thì phát sinh việc tranh chấp nhau, kế đó là gây chiến tranh. Thần thoại nói rằng: “Thuở xưa có thần nước  Cộng Công làm phản, bị thần lửa Chúc Dung đánh bại, thần Cộng Công đụng đầu vào vách núi Bất Chu ở hướng Tây. Núi Bất Chu vốn là một trong những cây trụ chống Trời, cây trụ Bất Chu ấy bị Thần Công Công húc làm gãy. Thế là một nửa bầu Trời phía Tây bị nghiêng sụp, có nhiều lỗ thủng, gây ra lắm tai họa cho trần gian. Thần Nữ Oa lo tu bổ lại, bà chọn đá ngũ sắc bỏ vào nồi, dùng lửa đốt nóng tạo thành một thứ keo đặc biệt. Bà đem thứ keo ấy dán, vá lại những lỗ thủng trên bầu Trời. Để chống vững bầu Trời, bà chọn một con ngao (loại rùa lớn), chặt lấy 4 chân rồi làm phép biến thành 4 cây trụ chống đỡ bầu Trời. Sau đó, bà còn dạy dân đốt những cây lau sậy rồi lấy tro mà đổ vào những vùng đất thấp ngập nước sình lấy biến thành ruộng cao ráo, dạy cho dân cày cấy để có phương tiện sinh tồn. Nhờ vậy, thế gian được phục hồi đời sống yên ổn và ấm no hạnh phúc, Rồi bà còn dạy vễ lễ nghi văn hóa cho con người nữa. Nhờ đó, ngày nay nhân loại mới tồn tại và phát triển, nền văn minh  ngày càng cao thêm. Ngày mà Bà Nữ Oa vá trời đó là ngày hai mươi tháng giêng, do đó người đời sau  gọi ngày nầy là “Bổ thiên nhật” (ngày  vá trời), có người còn chế tạo ra hình tượng Bà đặt trên nóc nhà, gọi là “Hiệu pháp Nữ Oa Bổ Thiên” để hóa giải những ngôi nhà bị phạm phong thủy bớt ảnh hưởng xấu, ngày nay thì tập tục nầy ít thấy.

* Nữ Oa Nương Nương  còn được tôn xưng là “Địa Mẫu” hoặc “Vô Thượng Hư Không Địa Mẫu” hay “Đại Đạo Huyền Huyền Hư Không Địa  Mẫu”, “Vô Thổ Hư Không Địa Mẫu Vô Lượng Từ Tôn”.

 Sách “Địa Mẫu Chân Kinh” chép:- “Thưở sơ sanh Bàn Cổ, ta lấy hai khí âm dương mà lập thành hôn nhân cho con người”. Lại còn nói:- “Thiên quân bổn thị huyền đồng tử--Tha lung ngã á phối thành song” (Vua trời vốn thiệt là huyền tử , Ông điếc bà câm hóa thành đôi). Thuyết nầy cho rằng Ông Bàn Cổ và Bà Nữ Oa  sinh cùng thời, nhưng đa số thuyết lại nói khác là Ông Bàn Cổ sinh ra trước rồi mới có trời, đất, người. Kế đó mới đến thời kỳ của Tam Hoàng Thần Nông Phục Hi Nữ Oa  v.v…

*Nếu xem xét từ thời đại nguyên thủy của con người thì cây cối và sinh vật  chính là thịt , gân của đất đai;  đá và núi  là xương cốt của đất đai. Trong hầu hết các truyện thần thoại đều gọi trời là “thiên phụ” (cha trời) còn đất gọi là “địa mẫu” (mẹ đất) ý nói rằng trời đất là cha mẹ sanh ra muôn vật.

*Quan điểm tôn sùng “mẹ đất” nầy phát sinh từ khi loài người qua thời kỳ săn bắt thú vật để ăn, tiến lên bước trồng trọt gieo cấy , nên rất coi trọng về đất. Việc tôn sùng nầy có hai ý nghĩa:-
-một là, cầu cho ngũ cốc được trúng mùa, thu hoạch được dồi dào sung túc.
-hai là, khi nông dân cày cuốc cấy gặt… thế nào cũng phải va chạm tổn thương đất đai, sợ bị thần đất nổi giận, nên phải cúng lạy “Địa Mẫu” để cầu xin tha tội.
*Cũng có thuyết nói rằng, sau khi Bà Nữ Oa đã làm cho trời đất yên bình rồi thì mới có Đông Vương Công và Tây Vương Mẫu xuất hiện , được con người tôn hai vị nầy là “Thiên Hựu và Địa Mẫu”.

* Nữ Oa Nương Nương  được ai nấy xem là thủy tổ loài người, nhưng trong dân gian đặt nặng việc “vá trời” hơn, nên gọi bà là “Đại Nữ Thần chấp vá”. Riêng trong nghề chế tạo dù, lộng thì tôn bà làm Tổ Sư. Ngoài ra , hai ngành thêu may và gốm sứ cũng thờ bà làm “Thần Thủ Hộ” cho nghề nghiệp của họ.

*Ngày thánh đản của Nữ Oa Nương Nương  là ngày hai mươi tháng giêng âm lịch. Thói quen trong dân gian gọi là ngày “thiên xuyên nhật” (ngày trời lủng) và tất cả hảng xưởng xí nghiệp đều nghỉ việc để dự lễ cúng tế Nữ Oa Nương Nương  .

*NHƯƠC  THỦY  dịch
(từ [url]http://www.fushantang.com[/url] )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, Khauchuan, chilin1987, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, mavuong, dieu thien, chonhoadong, phaolon, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:18:02 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
huyencam
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 394

Cảm Ơn
-Gửi: 611
-Nhận: 972



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Bảy 14, 2008, 06:56:33 am »

Chời ..cám ơn Bác NT quá chừng chừng chừng ...hun Bác .. kiss kiss  chụt chụt hai phát  ......Cầm phái bài này quá ..Nữ Oa Nương Nương là một trong những vị của dòng Thầy TỔ của Cầm á ....vậy mà Cầm hok bít ngày 20 tháng 1 âm lịch là ngày Vía của Ngài ..từ nay thì Cầm biét ùi ..đa tạ bác nhìu ...hun nữa nè .. kiss kiss hí ... love struck

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, Ngoisaobiec, laodongta, dieunha, lethuytienac
Logged

thích xì trum..ghét lão gà mên..yêu anh nào tên William..hí hí
 
 
 
Khauchuan
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 34

Cảm Ơn
-Gửi: 105
-Nhận: 182


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Bảy 14, 2008, 12:50:45 pm »

Hc cho tại hạ tắc mắc chút thờ Nữ Oa là thế nào , Bạn có tượng Bà không ?

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Bảy 16, 2008, 02:08:34 am »

THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN


太上老君

老子,太上老君,姓李名耳,字伯陽 ,號老聃,是春秋時代末年時著名思想家,道教創始人。又稱道德天尊、太上老李君、太上道祖、無極老祖、三清道祖、老君爺、無極至尊、無極聖祖。生於周幽王十年殷武丁庚辰年二月十五日,楚國苦縣瀨鄉曲仁里人。
  據說,老子的出生頗為神奇,道書上說他在遙遠不可想像的年代里,經過許多個八十一萬歲,托胎于玄妙玉女體內,懷孕八十一年之久,於二月十五日卯時,誕生在楚國,是從他母親的左肋而生,因懷孕太久,生下來就是滿頭白發,所以號稱「老子」。正巧生在一棵李
樹下,當生下來時,他便能說話,指著頭上的李樹道:「李就是我的姓。」
  老子據說生下來就滿頭白髮,故號老子,為元始天王所化神寶君之化身。為天神所濟,眾仙所從。周文王時,為守藏室史(管理藏書)。武王時,升為柱下吏。後來看見周朝衰敗,昭王時,即辭官歸隱。為春秋末年的思想家,道教創始者。
  在中國陝西終南山北麓,有處著名的樓觀台,據傳這里是太上老君說經處。樓觀台依山帶水,風景秀麗,素有「洞天福地」之稱,為道教聖地。樓觀台歷史悠久,遠在二千五百年前,周朝涵谷關的「門官兒」尹喜在此結草為樓,用來觀測天體,叫做「草樓觀」。據說當老子晚年騎青牛西遊要過函谷關,守關的尹喜亦是位修道人,精通天文星宿的學問,知道他要退隱的事後,就懇請老子寫部書留給人們。於是老子就寫了五千字,這五千字的著作就是《老子》,也稱《道德經》。
  太上老君所作的經典有十二部,《西昇經》、《化胡經》、《道德經》等,而以《道德經》最為世人所知聞,是世界上最多數量的出版物之一。《道德經》共八十一章,分上下兩卷。老子在書中認為宇宙事物有一個共同的本源,他把它稱為「道」或「無」。揭示「道法自然」、「清靜無為」、「長生久視」等精妙哲理,是道教教理,教義的根源。他關心的是:如何消解人類社會的紛爭,如何使個人的生活幸福和康寧。他期望的是:人的行為,能取法於道的自然性與自發性,消除戰爭的禍害,回到真誠的生活形態與心境,使天下得以無為而治。在先秦諸子中,老子是第一個有系統論述宇宙起源的人,他把「道」視為宇宙本體,這種把「道」做為宇宙本源稱謂的說法,為後人所沿用,成為我國古代哲學上的重要典範。老子的才華獨步當時,就連孔夫子也向老子問過禮。他的學說在戰國後期才開始傳播,而莊子是最能發揮老子之學說。東漢以後,隨著佛教的傳入,一些方士在外來宗教的影響下,把老子學說中的思想材料和原有的巫教揉合起來,逐漸發展成一種新的宗教-道教。
  東漢末的張道陵,創立五斗米道(入教者要繳五斗米而著稱),自稱是出於太上老君口授,因此老子就名正言順成為道教的始祖,而張道陵則被奉為大宗。老子被奉為道教的開山始祖後,被稱為「老君」、「太上老君」等名號,是始於張道陵的《老子想爾注》,北魏以後,這個稱號就傳民間了。而老子原為道教的最高神,但六朝以後,降為第三位,在他之上有上清元始天尊和玉清玉皇上帝,此三位神祇合稱道教的「三清」。
  唐高宗乾封元年賜封老君為「太上玄元皇帝」,並以《道德經》為上經命令王公諸侯都要習誦,甚至規定為考試人士的內容。宋真宗加號為「太上老君混元上德皇帝老子」。唐明皇李隆基在天寶十三年加封老君為「大道金闕玄元天皇大帝」,同時令天下州縣普建玄元皇帝廟,占地八百畝,規模巨大的太清宮,以祀老君,現今尚存大殿,為清時重修。殿中神翕上供有丈余老君金飾神像,兩旁為他的兩大弟子:南華真人(庄子)和無上真人(尹喜)。
  因為老子是位自隱無名,而又心懷無為的人,其生平事跡,鮮為人知,其神格化的傳說,更是很多。而一般主祀太上老君的廟宇大多座落在山明水秀、環境清幽的地方,這大概和老子清淨無為的思想有關吧。
  「道」是道教的信仰核心與基礎,而進一步發揚為得道成仙,長生不老,列位仙班,是道教信徒追求的最高境界。主殿兜率宮是仿照「兜率天宮」建造的。據說「兜率天宮」是太上老君居住的地方,宮內供奉了「三聖」:太上老君、呂純陽祖師、邱長春祖師。老子的神像則多供奉於道教的「三清殿」裡。所謂「三清」即玉清、上清以及太清三座天上殿堂,老子和兩位天尊則分別居住其中。
  由於道教講究煉丹煉汞,需要掌握火候,後來民間把八卦爐的主人老君視為爐神或窯神,凡是與火爐有關的行業,皆以老君為祖師,並借老君的威力管住太歲。
  從司馬遷的「史記」中所記載的老子年代,直到西元二世紀中葉,老子的角色在這段百餘年間,從道教的創始者,化身為至高無上的天上君王:「太上老君」,「道」與「德」的神聖統領:「太上混元道德天尊」或「黃老君」。
  農曆二月十五日是太上老君壽辰。
  參閱《道德經》
泉州清源山老君石像,雕于宋代,石像高5.63米,寬8.01米,厚6.85米。占地面積55平方米。左手扶膝,右手憑幾,垂耳飄髯,指能彈物,目光炯炯,獨具超塵脫俗、仙風道骨神韻。整座石像神態浩然,和藹可親,炳煥生光,充滿魅力,堪稱宋代石雕藝術瑰寶。也是我國古代現存最大的道教石雕老君造像.


*Dịch:-

Thái Thượng  Lão Quân

Lão Tử tức Thái Thượng Lão Quân  , họ Lý  tên Nhĩ, tự là Bá Dương, hiệu Lão Đam, là một vị tư tưởng gia nổi tiếng vào những năm cuối thời đại Xuân Thu. Trong Đạo Giáo, được tôn là vị Tổ sáng lập nên tín đồ xưng Ngài là “Đạo Đức Thiên Tôn”, “Thái Thượng Lão Lý Quân”, “Thái Thượng Đạo Tổ”, “Vô Cực Lão Tổ”, “Tam Thanh Đạo Tổ”, “Lão Quân Gia”, “Vô Cực Chí Tôn”, “Vô Cực Thánh Tổ. Ngài sanh ngày mười lăm tháng hai năm Canh Thìn , tức năm thứ mười đời vua U Vương nhà Châu (Chu), người ở lý (xóm ấp) Khúc Nhân, làng Lại, huyện Khổ , thuộc nước Sở. (hiện nay là Lộc Ấp (鹿邑) thuộc tỉnh Hà Nam-NT)
*Chú thích:- Đây là dịch theo nguyên tác nầy, còn tiểu sử của Ngài vẫn còn nhiều tranh cãi, mong quí vị lưu ý cho—NT)

*Truyền thuyết xuất sanh của Lão Tử hết sức thần kỳ. Theo các sách của Đạo giáo, Ngài đã có mặt từ thời viễn cổ rất xa trải qua nhiều lần của “chu kỳ tám mươi mốt vạn năm” (?) rồi (810.000 năm), đời nầy thác thai vào Huyền Diệu Ngọc Nữ, bà mang thai suốt 81 năm, vào giờ Mão ngày rằm tháng hai Ngài đã từ hông của bà sanh ra ở nước Sở. Vì mang thai quá lâu, nên lúc sanh Ngài ra thì đầu tóc đã bạc phơ, nên có tên là “Lão Tử” (đứa trẻ đầu bạc” . Ngài ra đời dưới gốc một cây lý, vừa sanh ra đã biết  nói, chỉ cây lý mà bảo rằng :- “Lý , chính là họ của ta đó”.

*Theo một truyền thuyết khác thì Lão Tử sanh ra đầu đã bạc mà có hiệu là Lão Tử, chính là hóa thân của Nguyên Thủy Thiên Vương thành Thần Bảo Quân để tế độ  các thiên thần, chư Tiên phải nghe lệnh Ngài. Đời Châu Văn Vương thì Ngài làm “quan giữ kho”  của nhà vua. Đến đời Vũ Vương được thăng chức Trụ Hạ. Về sau, thấy nước Châu ngày càng suy vi, nên  đến đời Chiêu Vương, Ngài từ quan về ở ẩn. Ngài là nhà tư tưởng lớn thời kỳ cuối đời Xuân Thu, được Đạo giáo tôn làm Tổ Sư khai sáng của  đạo Lão.


*Ở  Bắc Lộc núi Chung Nam tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc có một cái đài Lâu Quan nổi tiếng mà truyền thuyết là nơi giảng kinh của Thái Thượng Lão Quân  ngày xưa. Đài Lâu Quan nầy ở nơi có phong cảnh rất đẹp, dựa lưng vào núi nhìn ra dòng nước , được người xưng tặng là “ Động thiên phước địa”. Đây là thánh địa của Đạo giáo, lịch sử nói rằng  đài Lâu Quan nầy đã có từ lâu hơn 2.500 năm trước.Đời nhà Châu , vị “Quan Giữ Ải” tên là Doãn Hỉ ở cửa ải Hàm Cốc đã cho dựng ở đây một cái đài bằng tranh cỏ, gọi là “Thảo Lâu Quán” , để quan sát theo dõi tinh tú trên trời. Truyền thuyết nầy nói rằng, lúc Lão Tử tuổi già từ quan cỡi thanh ngưu đi ngang qua cửa Hàm Cốc , vị quan giữ thành Doãn Hỉ, là   người ham tu đạo, sở học rất giỏi về tinh tú thiên văn, biết Lão Tử là vị thoái quan ẩn sĩ, nên khẩn khoản xin Ngài viết sách để lưu lại cho đời sau. Do đó, Lão Tử viết bộ sách năm ngàn chữ, gọi là sách “Lão Tử” hay còn gọi là “Đạo Đức Kinh”.
* Thái Thượng Lão Quân  đã viết mười hai bộ kinh điển, nổi tiếng hơn cả  là “Tây Thăng Kinh”, “Hóa Hồ Kinh”, “Đạo Đức Kinh” v.v…mà trong đó, quyển “Đạo Đức Kinh” được xem là quí giá nhất, đã xuất bản in ấn hàng triệu quyển trên thế giới hiện nay. “Đạo Đức Kinh” có 81 chương, chia thành hai quyển thượng, hạ. Trong sách nầy, Lão Tử cho rằng , vũ trụ vạn vật có một cái gốc chung mà Ngài gọi là “ĐẠO” hoặc “VÔ”, nói rộng là những triết lý  “Đạo pháp tự nhiên” và “Thanh tĩnh vô vi” hay “Trường Sanh Cửu Thị”, là những giáo lý giáo nghĩa căn bản của đạo Lão. Vấn đề mà Ngài quan tâm bàn đến là:- làm sao để xóa bỏ những tranh chấp trong xã hội, làm thế nào để cuộc sống con người được an ổn hạnh phúc. Từ đó, Ngài đề ra pháp thực hành là, con người nên sống theo cái tính tự nhiên và tính tự phát  của “Đạo”, nhờ vậy mà ngăn ngừa  được những tai hại của  chiến tranh , trở lại được với tâm cảnh và hình thái sinh hoạt “chân thành vốn sẵn” của loài người, đạt kết quả là thiên hạ sẽ “vô vi nhi trị” (vô vi mà an thiên hạ).
Trong bá gia chư tử thời Tiên Tần, Lão Tử là vị được xem là đứng đầu trong hệ thống các luận thuật về “nguồn gốc vũ trụ”. Ngài lấy “ĐẠO”  làm căn bản khởi nguyên của vũ trụ. Lý thuyết ấy được xem là  nền tảng cơ bản cho các học giả đời sau ứng dụng và phát triển , nó trở thành một nền triết học mang tính “mẫu mực” cho đất nước chúng ta (Trung Quốc) đến tận ngày nay.

*Lão Tử được đương thời xem là tinh hoa ưu tú. Sử sách có ghi lại mẫu chuyện hết sức tiêu biểu là, đức Khổng Phu Tử đã đến tham vấn Lão Tử về “LỄ”.
(Xem phần phụ lục ở sau)

*Học thuyết về “Đạo” của Lão Tử được các triết gia sau thời Xuân Thu Chiến Quốc vận dụng và truyền bá mạnh mẽ. Trong số những người kế thừa, có Ngài Trang Tử là nổi bật nhất. Sau thời Đông Hán, có một số vị truyền nhân của Phật giáo và một số phương sĩ của tôn giáo ngoại lai có uy tín lớn, đã đem tư tưởng học thuyết của Lão Tử pha trộn với những tín điều, nghi thức của Vu Thần Giáo (đạo đồng bóng trạng cốt) làm thành một tôn giáo mới gọi là “Đạo giáo”.

*Cuối thời Đông Hán, có nhân vật Trương Đạo Lăng sáng lập ra phái “Ngũ đẩu mễ” (n
ghĩa là năm lít gạo, gọi tên theo việc người muốn gia nhập vào phái nầy phải đóng góp năm lít gạo) . Ông Lăng nói rằng đã được  chính Thái Thượng Lão Quân chỉ dạy. Do đó, Lão Tử từ chỗ là Thủy Tổ của “Lão (Đạo) giáo” một cách danh chính ngôn thuận bị Trương Đạo Lăng biến thành  “Đại Tôn” (giáo chủ) của  một tôn giáo thế gian và tôn xưng Ngài thành Lão Quân hay Thái Thượng Lão Quân. Danh xưng nầy xuất hiện lần đầu trong quyển “Lão Tử tưởng nhĩ chú” của Trương Đạo Lăng và sau thời Bắc Ngụy, đã phổ biến mạnh mẽ trong quần chúng dân gian.

*Đầu tiên thì Lão Tử là vị thần tối cao trong Đạo giáo, nhưng từ sau thời Lục Triều, đã bị giáng cấp xuống hàng thứ ba (ở Thái Thanh Cung), đứng sau Thượng Thanh Cung Nguyên Thủy Thiên Tôn và Ngọc Thanh Cung  NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Ba vị nầy được tôn xưng là “TAM THANH” của Đạo giáo.

*Năm Càn Phong thứ nhất đời Đường Cao Tông phong Lão Quân là “Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế” và bắt mọi người từ thứ dân đến quan lại chư hầu đều phải học “Đạo Đức Kinh”, thậm chí lấy Đạo Đức Kinh làm nội dung chính trong các kỳ thi lớn trong triều đình.
*Đời Tống Chân Tông gia phong Lão Quân làm “Thái Thượng Lão Quân Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Lão Tử” .
*Đời Đường Minh Hoàng (tức Lý Long Cơ) năm Thiên Bảo thứ 13 gia phong LQ làm “Đại Đạo Kim Khuyết Huyền Nguyên Thiên Hoàng Đại Đế” và xuống lệnh cho các Châu, Huyện phải lập Miếu Thờ  Huyền Nguyên Hoàng Đế. Ngoài ra vua Minh Hoàng còn cho xây dựng Thái Thanh Cung rộng 800 mẫu (mẫu ta) để thờ LQ, ngày nay vẫn còn điện chính do đời nhà Thanh trùng tu. Trong điện có tượng LQ thếp vàng cao hơn một trượng, hai bên là hai hàng đại đệ tử như là:- Nam Hoa Chân Nhân (Trang Tử), Vô Thượng Chân Nhân (Doãn Hỉ) v.v…

***

*Như vậy, gốc từ chỗ Lão Tử là một vị ẩn sĩ vô danh, được người biết đến qua học thuyết “vô vi”. Học thuyết nầy nhanh chóng được phổ biến rộng rãi, kèm theo những truyền thuyết có tính chất “thần thánh hóa”  mà thành ảnh hưởng mạnh mẽ như ngày  nay. Thêm nữa, Miếu Thờ Ngài  hầu hết đều tọa lạc  ở những nơi biệt lập, có phong cảnh sơn thủy hữu tình theo quan niệm thanh tĩnh vô vi của Ngài, đã tạo sự thu hút số lượng rất lớn du khách và người hâm mộ đến tham quan ngày càng đông.
Thành tố “Đạo” đầu tiên là lý thuyết mấu chốt của tín ngưỡng Đạo giáo, đã được phát triển thành “Ông Tiên đắc đạo—Trường sanh bất lão”. Đây là cảnh giới cao nhất của sự chứng đắc trong Đạo giáo mà tất cả tín đồ mong mỏi đạt được.
Lại có một cung điện  khác là “Đâu Suất Cung” mô phỏng theo “Đâu Suất Thiên Cung” (tưởng tượng) mà xây dựng. Truyền thuyết nói, Đâu Suất Thiên Cung là nơi ở của Thái Thượng Lão Quân. Trong Đâu Suất Cung, thờ tòa “Tam Thánh” là :- Thái Thượng Lão Quân, Tổ sư Lữ Thuần Dương và Tổ sư Khưu Trường Xuân.
*Hầu hết những Miếu thờ  nơi khác thì thờ tượng Lão Tử nơi Tam Thanh Điện. Gọi là Tam Thanh tức có ba tòa Ngọc, Thượng và Thái Thanh để thờ ba vị  NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ , Nguyên Thủy Thiên Tôn  , Thái Thượng Lão Quân  .

*Do vì Đạo giáo có dạy về cách “luyện tiên đan” Và “diên hống (cống)” (nước miếng tiên) để trưởng dưỡng “hỏa hầu” (thuật ngữ của Tiên gia) , nên trong dân gian đã chọn Thái Thượng Lão Quân  , ông chủ của “lò bát quái”, làm “LÔ THẦN” (thần lò bếp) hoặc “DIÊU (Dao) THẦN” (thần lò nung ngói gạch gốm sứ). Từ đó, những ngành nghề hiện nay có liên quan đến “lò, bếp, nấu nung, luyện cán…) đều thờ Thái Thượng Lão Quân  làm Tổ Sư, với ý là nhờ vào oai lực của LQ để trấn yểm hạn chế bớt sự tác động của Thái Tuế.

*Theo “Sử Ký” của Tư Mã Thiên, thì niên đại về Lão Tử là ở vào thời kỳ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, tồn tại trên dưới 100 năm.

Từ khi  Lão Tử được tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân  , Ngài đã trở thành một vị vua chí cao vô thượng của cõi trời, thống lãnh cả hai ban thần thánh là “Đạo” và “Đức” với danh hiệu tôn quí “Thái Thượng Hỗn Nguyên Đạo Đức Thiên Tôn” hoặc “Hoàng Lão Quân.

*Ngày vía của đức Thái Thượng Lão Quân  là ngày rằm tháng hai âm lịch.
-------------------------------------------------------
(Ở Thanh Nguyên Sơn , Tuyền Châu, có một thạch tượng đức LQ, chạm khắc đời Tống, cao 5,63 m, ngang  8,01 m, sâu 6,85 m, chiếm diện tích 55 mét vuông.)


*PHỤ LỤC:-

Khổng Tử đến Chu, muốn hỏi Lão Tử về lễ , Lão Tử nói :
- Những người ông nói đều tan xương nát thịt cả rồi , chỉ còn lời nói của họ thôi ( Khổng Tử chủ trương theo lễ nghi của các vua đời trước. Lão Tử bác lại ý kiến đó) . Vả lại , người quân tử gặp thời thì xe ngựa nghênh ngang; không gặp thời thì như cỏ bồng xoay chuyển . Tôi nghe nói : “Người buôn giỏi thì biết giấu của báu , khiến người ta thấy dường như không có hàng , người quân tử có đức tốt thì diện mạo dường như ngu si” (Hai câu này đều trong Đạo Đức Kinh ). Ông nên bỏ cái khí kiêu ngạo cùng cái lòng ham muốn nhiều , cái vẻ hăm hở cùng cái chí tham lam đi . Những cái ấy đều không có ích gì cho ông . Tôi chỉ bảo ông có thế thôi .
Khổng Tử ra đi , bảo học trò :
- Con chim , ta biết nó biết bay ; con cá ta biết nó biết lội ; con thú , ta biết nó biết chạy . Đối với loài chạy , thì ta có thể dùng lưới để săn ; đối với loài lội thì ta có thể dùng câu để bắt ; đối với loài bay thì ta có thể dùng tên bắn ; đến như con rồng cưỡi mây cưỡi gió lên trời , ta không sao biết được ! Hôm nay gặp Lão Tử , ông ta có lẽ là con rồng chăng ?
Lão Tử trau dồi đạo đức , học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình , kín tiếng . Ông ở nhà Chu đã lâu , thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi . Đến cửa quan , quan coi cửa là Doãn Hỷ nói :
- Ông sắp đi ẩn rồi , hãy gắng vì ta mà làm sách .
Rồi Lão Tử bèn làm sách ,gồm hai thiên : thượng , hạ , nói về ý nghĩa của “đạo” và “đức” hơn năm nghìn chữ . Đoạn ra đi, không ai biết chết như thế nào .

 
*NHƯỢC  THỦY  dịch
 (từ  [url]http://www.fushantang.com[/url])



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, homesweethome, Khauchuan, redbull, Daihongcat, huyencam, chilin1987, koreadinh, chanhnguyen, nguyenthuy, Ngoisaobiec, laodongta, mavuong, dieu thien, tran tam, chonhoadong, ammayngu, phaolon, dailuc, dieunha, lethuytienac
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 08, 2008, 01:08:55 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 3.435 seconds với 24 câu truy vấn.