Tháng Năm 28, 2020, 12:14:56 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Tam Giáo Đồng Nguyên -- 三 教 同 源  (Đọc 5241 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
tadamina
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 37

Cảm Ơn
-Gửi: 13247
-Nhận: 322


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 06:56:08 AM »

(Những bài viết về Tam giáo Đồng nguyên)


Tam Giáo Đồng Nguyên
   
三教同源

***

Tam giáo là: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo.

Đồng nguyên là cùng một gốc.

I. Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ở Trung Hoa:


Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên khởi có từ thời nhà Tống bên Tàu, cách nay khoảng 1100 năm.

Các nhà Nho dưới thời nhà Tống có nhiều tư tưởng tương đồng với Phật giáo và Lão giáo, bởi vì cái học uyên nguyên của Nho giáo do nơi Kinh Dịch mà ra. Cái đầu mối của CKVT là Thái Cực, do động tịnh mà hóa ra Âm Dương, rồi sanh thành vạn vật. Vạn vật chung qui cũng trở về Thái Cực. Đó là lý: "Đồng qui nhi thù đồ, nhứt trí nhi bách lự" mà Đức Khổng Tử đã nói trong Hệ Từ truyện.

Lý Thái Cực ở Lão giáo gọi là Đạo, Phật giáo gọi là Chơn như. Tên gọi tuy khác nhau nhưng vẫn đồng một thể.

Như vậy, học thuyết Tam giáo do cùng một gốc mà ra, nhưng cách lập giáo của mỗi vị Giáo chủ mỗi khác vì hoàn cảnh có khác, nên việc hành đạo cũng có khác.

- Lão giáo thì cho vạn vật đều có nguồn gốc là Đạo, cuộc đời là phù vân, hơi đâu mà lo nghĩ. Người ta chỉ nên cùng với Đạo mà vui chơi cùng Tạo hóa, không cần chi đến Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, không thiết gì đến chế độ và pháp luật, miễn là được thanh tịnh vô vi.

- Phật giáo thì cho vạn vật do Chơn như mà ra, sắc với không là một, sự sanh sanh hóa hóa là do vọng niệm chớ không có thực. Cái thực là Chơn như, khác nào như trăm ngàn lượn sóng nhấp nhô trên mặt nước, nhưng chung qui chỉ có nước là thật. Người ta phải tìm cho thấy cái thật ấy mà quay trở về gốc, thoát khỏi sanh tử luân hồi, tức là đến được Cực Lạc Niết Bàn, an vui hạnh phúc.

- Nho giáo thì cho sự biến hóa trong Vũ Trụ là do nhứt động nhứt tịnh của Thái Cực mà ra. Vạn vật đã phát hiện ra là thực có, thì nên theo cái thực ấy mà hành động sinh tồn. Sự sanh tồn của vạn vật không ra ngoài được những điều Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, tức là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh của Tạo hóa. Vậy nên người ta, ai cũng phải theo những điều ấy mà an vui trong cuộc sanh tồn.

Thành thử cái gốc của Tam giáo vốn là một, mà cái ngọn thì chia ra khác nhau. Bởi cái tư tưởng khác nhau đó mà Lão giáo và Phật giáo bị đời cho là tiêu cực, còn Nho giáo thì tích cực. Sự tương đồng và dị biệt của Tam giáo ấy căn nguyên chỉ có vậy.
Vì đời cho Nho giáo là chủ nghĩa tích cực nên các học giả lần lần chỉ chú trọng phần Hình Nhi Hạ học, nghĩa là chỉ bàn về những điều thực dụng thường hành, chớ không suy xét tìm tòi đến chỗ cao siêu thâm viễn.

Đến đời nhà Tống, các nhà Nho học do ảnh hưởng của tinh thần Lão học và Phật học, đã vượt lên khỏi Hình Nhi Hạ học, đến phần Hình Nhi Thượng học, mới lập ra phái Lý Học để cùng với Lão học và Phật học đứng tương đối sanh tồn.
Phái Lý học thời Tống theo tôn chỉ của Nho giáo, lấy tính bổn nhiên của Trời Đất làm cái thể của vạn vật, tức là theo thuyết "Thiên Địa vạn vật nhứt thể" làm cái đạo nhứt quán.

Phái ấy đem Lý Thái Cực vào lòng người và mở rộng ra để bao quát được cả vũ trụ. Cái lý thuyết, tuy Dương Hùng đã nói trong sách Thái Huyền, nhưng đến thời Tống Nho, các nho gia mới phát minh ra rõ ràng và lại giải được cái nghĩa của câu "Dữ Thiên Địa tham" đã nói trong sách Trung Dung.

Người ta là một giống vật nhỏ mọn, nhưng vì bẩm thọ một Lý Thái Cực của Trời Đất, nên hễ ai biết lấy lòng chí thành mà theo cái đạo Trung hòa của Trời Đất thì có thể sánh ngang với Trời Đất.

Đó là phần trọng yếu trong học thuyết của phái Lý học, không sai với tôn chỉ của Nho giáo.

Đã nói rằng Lý học chịu ảnh hưởng của Lão học, vì người gây thành cái tiếng đầu tiên cho Lý học là nhà Lão học trứ danh về Số học: Hi Di Tiên sinh, tức là ông Trần Đoàn.

Trần Đoàn ở vào đầu nhà Tống, rất tinh thông Dịch lý, thường dùng cái học ấy mà biết mệnh Trời và vận nước, từ đó mới có nhiều người chú ý về Dịch học. Đến thế kỷ thứ 11, đời vua Tống Nhân Tôn, có Thiệu Ung (Thiệu Khương Tiết) và Chu Đôn Di theo cái thuyết trong Kinh Địch mà xướng lên thuyết Lý học.

Tóm lại, ở Trung hoa, thuyết Tam giáo đồng nguyên phát khởi từ thời nhà Tống. Lúc ấy ba học thuyết của Tam giáo đều được phổ biến sâu rộng, ảnh hưởng lên nhau, để các học giả thấy rõ rằng, Tam giáo vốn đồng nguyên, nhưng vì cách lập giáo và thuyết minh của mỗi giáo có khác, làm cho người ta lầm tưởng Tam giáo khác hẳn nhau.


II. Tư tưởng đồng nguyên Tam giáo ở Việt Nam:


"Qua bốn triều đại tiêu biểu là Đinh, Lê, Lý, Trần, hoàn cảnh lịch sử đã làm cho Việt Nam trở thành mảnh đất tốt để Tam giáo lớn mạnh trong lòng bao dung của người dân Việt.

Các vua Đinh Tiên Hoàng (968-979), Lê Đại Hành (980-1005), Lý Thái Tổ (1010-1028), v.v... đã chọn các đại sư, đạo sĩ vào triều đình làm cố vấn.

Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng phong Khuông Việt Đại Sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, phong Thiền Sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân Uy Nghi, phong Đạo Sĩ Trương Ma Ni làm Tăng Lục Đạo Sĩ.

Vua Lý Thái Tổ dựng chùa Vạn Tuế, cất cung Thái Thanh ngay tại kinh thành Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ còn tôn Thiền Sư Vạn Hạnh lên làm Quốc Sư.

Vua Lý Nhân Tôn (1072-1127) đi đâu cũng hay kề cận Thiền Sư Giác Hải và Đạo Sĩ Thông Huyền. Vua có lần thử tài hai vị, rất khâm phục nên làm thơ khen tặng rằng:

Giác Hải tâm như hải,
Thông Huyền đạo hựu huyền.
Thần thông kiêm biến hóa,
Nhất Phật, nhất Thần Tiên.

[Giác Hải lòng như biển,
Thông Huyền đạo pháp lại càng huyền diệu.
Đều giỏi thần thông cùng biến hóa,
Một là Phật, một là Thần Tiên.]

Trong buổi đầu rực rỡ của lịch sử dân tộc, các vua còn có quyết định tuyển chọn nhân tài giúp nước thông qua hai kỳ thi về Tam giáo: lần thứ nhứt mở năm 1195, triều Lý Cao Tông; lần thứ hai mở năm 1247 triều Trần Thái Tông.

Với tinh thần khoáng đạt, các nhà sư khi cố vấn hoặc gián nghị các vua đều không câu chấp, lúc thì vận dụng Lão, khi trưng dẫn Nho để thuyết phục.

Pháp Sư Đỗ Pháp Thuận (915-990) đã được vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước, ngài khuyên vua nên dùng đường lối vô vi của đạo Lão:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.

[Đất nước như dây leo quấn chặc nhau,
Nay Trời nam đã hưởng thái bình.
Dùng đường lối vô vi nơi triều đình,
Xứ xứ đều dứt cảnh chiến tranh.]

Năm 1130, khi vào điện Sùng Khai, Thiền Sư Viên Thông (1080-1151) đã mượn tư tưởng Kinh Dịch tâu với vua Lý Thần Tông (1128-1138) về cái lẽ hưng vong, đắc thất của một nước, sau khi nhấn mạnh rằng, một nước hưng thịnh hay suy vong không phải tự nhiên một sớm một chiều. Sư kết luận:

"Các bậc Thánh vương đời trước đều biết như thế, nên bắt chước Trời, không ngừng trau đức để sửa mình; bắt chước đất, không ngừng trau đức để yên dân. Sửa mình thì cẩn thận ở trong lòng, run sợ như đi trên băng mỏng. Yên dân thì yêu mến người dưới, hãi hùng như cỡi ngựa nắm dây cương sờn."

Năm 1202, Thiền Sư Nguyễn Thường là Tăng Phó, khuyên can vua Lý Cao Tông:

"Tôi nghe bài tựa Kinh Thi có nói: Âm nhạc của nước loạn nghe ai oán vì giận chính sự nước ấy sai trái. Âm nhạc của nước mất nghe bi thảm vì xót dân nước ấy khốn cùng. Nay Chúa thượng rong chơi vô độ, chánh giáo sai lìa, dân chúng buồn khổ. Đến nay càng tệ. Thế mà ngày ngày lại nghe âm nhạc ai oán, đó chẳng phải là điềm nước mất, nước loạn hay sao? "

Một số sự kiện lịch sử như trên cho thấy trong buổi đầu, Tam giáo được giao hòa trên nước Việt trong lòng bao dung của người Việt. Chính đây là sự manh nha của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên. "

"Tóm lại, trải qua các triều đại, trong 19 thế kỷ, tuy sử sách không còn lưu giữ được nhiều, nhưng bằng những tư liệu văn học còn sựu tập được, với các tác giả tiêu biểu, đã thấy rõ rằng ở VN đã được xác lập sớm và rất lâu dài các quan điểm trong sáng về:

•   Tam giáo đồng nguyên hay Tam giáo nhứt nguyên (cùng một nguồn phát sinh).

•   Tam giáo đồng tông (cùng một ông Tổ sanh ra).

•   Tam giáo nhất gia (cùng một nhà).

•   Tam giáo đồng qui (cùng đi về một đích).

Các dẫn chứng về văn học cũng cho thấy từ xưa dân tộc VN đã biết đối chiếu Tam giáo để tìm đến chỗ đồng nhứt lý.

Nói cách khác, ở VN ngay từ xa xưa đã sẵn có con đường Tam giáo đồng nguyên để rồi sẽ dẫn đến hệ luận là Vạn Giáo Nhứt Lý.

Nghiên cứu con đường Tam giáo VN trong tinh thần đồng nguyên và nhứt lý cũng là để sau nầy góp phần tìm hiểu diễn trình Dịch hóa, chu nhi phục thủy: Từ Đại Đạo phát sanh Tam giáo đạo, từ Tam giáo đạo trở về nguồn gốc Đại Đạo."

"Trong 19 thế kỷ, Tam giáo du nhập từ phương Bắc đã tồn tại ở phương Nam với sắc thái là Tam giáo Việt Nam. Việt Nam như mảnh đất mà thổ nghi hoàn toàn thích hợp cho cội cây Tam giáo đâm tủa ba nhánh sum sê đều đặng.

Trong một phạm vị lịch sử nhứt định ở chốn triều đình, Tam giáo có tạm thời thay thế nhau giữ vai trò hàng đầu, là hệ tư tưởng Quốc Đạo, nhưng trong đời sống xã hội và sinh hoạt tâm linh, tình cảm, Tam giáo vẫn là ba mà một (Trinity) ảnh hưởng nếp ăn ở tư duy của cộng đồng người Việt, hòa điệu với tập tục, bản sắc riêng của văn hóa bản địa VN.

Cho nên con người VN, từ đời sống nội tâm, cuộc sống cá nhân, ra ngoài xã hội, từ lúc thành niên đến khi bóng xế, mỗi người VN đã từng là một ông Khổng, ông Lão, ông Phật.

Phật phá chấp, viên dung lý sự, giải thoát.
Lão vô vi, bất tranh, xuất thế tiêu dao.
Nho trung dung, nhập thế mà tự tại.

Cái vạc ba chân là cái thế vững chắc cho tâm hồn, đỡ nâng và dẫn dắt cuộc sống trong các mối quan hệ ràng buộc cá nhân - gia đình - xã hội - quốc gia." (Trích: Con đường Tam giáo Việt Nam của Lê Anh Dũng).

Phương pháp tu tập của Tam giáo mặc dầu có khác, vì Nho giáo chủ trương nhập thế, Phật giáo và Lão giáo chủ trương xuất thế, nhưng tựu chung đều dẫn dắt con người đến Chân, Thiện, Mỹ, từ tự giác đến giác tha và giác hạnh viên mãn, để rồi linh hồn được siêu thoát lên một thế giới tốt đẹp hơn, gọi là Bồng Lai Tiên Cảnh hay Cực Lạc Niết Bàn, hợp nhứt vào ngôi Thái Cực mà Nho giáo gọi là Thượng Đế, Lão giáo gọi là Đạo hay Tiên Thiên Nhứt Khí, Phật giáo gọi là Chơn Như hay Chơn Không Diệu Hữu.
------------------------

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chonhoadong, mavuong, anhlam, dieunha
Logged
 
 
 
tadamina
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 37

Cảm Ơn
-Gửi: 13247
-Nhận: 322


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 06:59:01 AM »

(tiếp theo)

TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN


***

Nói đến Tam Giáo Đồng Nguyên làm SK nhớ đến người thầy khả kính là cố giáo sư Nguyễn Đăng Thục người đã làm sống lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên từ thời Lý Trần (1010- 1400 ) qua môn Quốc Học cho sinh viên ban Văn Chương tại Viện Đại Học Vạn Hạnh ở Sài Gòn vào trước năm 1975.

Tam Giáo là chữ từ Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão giáo: Phật Giáo từ Ấn Độ truyền sang (phía Tây Nam đưa lên), Còn Khổng giáo và Lão Giáo từ Trung Hoa truyền sang (phía bắc đi xuống). Dân tộc Việt Nam đã hài hòa 3 đạo nầy lại được thể hiện qua thái độ sống chứ không phải hòa chung Phật, Khổng và Lão với nhau.

Khổng học (còn gọi Nho Học) chuyên về cái lễ giáo của xã hội, đã uốn nắn con người ngay từ  khi lọt lòng, làm sao thich hợp với hoàn cảnh, tức là đạo Nho chủ trương lập thế thể hiện trong xã hội qua đời sống cá nhân và cộng đồng.Thể hiện cái đạo để đưa đến hạnh phúc. Thí dụ như Quân, Sư, Phụ :

Quốc gia đứng đầu là vua,

Xã hội đứng đầu là Thầy học

Gia đình đứng đầu là Cha - Mẹ

Làm con phải hiếu làm tôi phải trung...vv và vv

Đạo Lão (còn gọi là Lão Trang) thì quay về thiên nhiên, đứng ngoài nhân quần xã hội "tự nhiên chi nhiên", tức là đạo Lão chủ trương xuất thế, sống tự nhiên trong khung cảnh thiên nhiên của trời đất. Lối sống của những nhà ẩn dật tìm vào hang động thiên nhiên thông cảm với đạo Trời.

Một đằng thì Chính danh, hữu vi, đề cao giá trị " Lễ, trí, nhân, nghĩa. Một đằng thì phi thường danh, vô vi, tuyệt lễ khí trí, tuyệt nhân khí nghĩa.

Nếu nhìn ở phương diện triết học về khái niệm thì hai hệ thống trên đây là cả một sự mâu thuẩn, đối lập nhau, khó có thể sống chung. Khổng giáo chấp vào có thế giới, Lão giáo chấp vào không có thế giới. Duy chỉ có Phật Giáo qua các Thiền sư đời nhà Lý tinh thông Nho học và Lão học đã sớm ý thức cái sở trường và sở đoản của hai dòng tư tưởng trên đã áp dụng  tinh thần vô chấp tức là không chấp nhận 2 quan điểm Có hay Không để thấu triệt vấn đề là làm sao thoát khỏi cái vòng đau khổ của cuộc sống, sinh tử của luân hồi, dứt được sự tính toán "Có " "Không" thì chỉ có  Phật giáo giải quyết được mà thôi.

Vì Đạo Khổng, Đạo Lão và Đạo Phật đều có khác nhau về quan điểm nhưng cùng ý hướng vào mục đích chung, bởi thế mà chúng có thể bổ túc cho nhau thành một thế giới quan đầy đủ về 3 phương diện đòi hỏi của con người: ý chí, tình cảm và lý trí tức là Chân Thiện Mỹ, chứ không phải là hệ thống danh lý (concept) về sự vật rồi gạt bỏ những phương tiện khác không thich hợp với hệ thống của mình hay đạo của mình.

Thí dụ như bài ca dao của tầng lớp bình dân :

Ngó lên trên trời thấy cặp cu đương đá

Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đương đua

Đi về lập miếu thờ vua

Lập trang thờ Mẹ, lập chuà thờ cha.

Một bài ca dao thật đơn sơ và mộc mạc nhưng đã thể hiện cả tình cảm, thiên nhiên gia đình và xã hội qua 3 đạo khác nhau. Qua tới những sĩ phu, trí thức lãnh đạo thì tinh thần Tam Giáo  Đồng Nguyên càng được phát triển mạnh mẽ :

Thí dụ như bài thơ tứ tuyệt :

Vạn Hạnh dung tam tế,

Chân Phù cổ sấm ki

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tich trấn Vương kỳ
Tạm dich :

Vạn Hạnh có cái đức dung thông cả ba cõi Trời, Đất và Người

Phù chú chân thật, lời sấm về thiên cơ

Quê hương có tên là Pháp xưa

Gậy nhà Phật bảo vệ kinh kỳ nhà vua.

Bài thơ được làm dưới Triều nhà Lý, thời mà các Thiền sư điều tinh thông phù sấm tiên tri, thần thông qua Dich pháp với Lão học và các ngài đã trực tiếp tham gia vào sinh hoạt chính trị quốc gia như phò vua, gìữ nước.

Một bài thơ khác được sáng tác gần thời chúng ta hơn, đó là bài " Tâm xuân " của nhà thơ Phạm Thiên Thư và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc vào khoảng thập niên 70. Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên được thể hiện rất rõ qua bài thơ nầy :

Tâm Xuân


Xuân về trong gió, hoa lay lững lờ
Xuân về đám mây, bướm vàng nhụy bay
Xuân về lòng đất, mầm tươi nhựa trào
Xuân về non cao, chim mừng suối reo...

Xuân về biển mát, suôi nhanh cánh buồm
Xuân về suối xanh, cá hồng lượn quanh
Xuân về trầm ngát, Di Lặc hiền lành
Em về thiên nhiên, ngâm mình suối tiên.

Em về thôn trang, tiếng hò giao duyên
Em về khơi hương, thơm ngôi từ đường
Em về quê nhà, lễ đình làng ta
Nhớ cội, nhớ nguồn, đất tổ, quê cha
Em về siêu nhiên, hành hương chùa chiền
Dâng hoa cúng Phật, ưu phiền sẽ tan
Em mở lòng ra, vui cùng cỏ hoa
Xuân về vũ trụ ! Ta về lòng Ta !

Có thiên nhiên mới, an vui hiền hoà
Có lò hương đợi, nối liền ngày qua
Mái đình diệu vợi, nặng tình quốc gia
Chuông chùa siêu thoát, Ta vượt lòng Ta.
Bao dung độ lượng như bốn mùa hoa.

.....


(http://truclamyentu.ifrance.com/tamgiaodongnguyen.htm)


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chonhoadong, mavuong, anhlam, dieunha
Logged
 
 
 
tadamina
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 37

Cảm Ơn
-Gửi: 13247
-Nhận: 322


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 07:07:49 AM »

(tiếp theo)

TƯ TƯỞNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI


LÊ ANH DŨNG

Ngay từ thế kỷ II, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đã xuất hiện ở Việt Nam, mà bấy giờ tên gọi là Giao Chỉ Bộ (từ năm 111 trước công nguyên) rồi là Giao Châu (từ năm 203). Giao Chỉ thời Sĩ Tiếp (sử Việt Nam viết là Sĩ Nhiếp) là nơi giao lưu văn hóa Việt-Ấn-Hán, là nơi hội tụ và dung hòa các luồng tư tưởng Ấn-Hán (Phật, Nho, Đạo) với văn hóa bản địa.

Một bằng chứng là MÂU BÁC, cũng gọi Mâu tử (sinh khoảng năm 165 hay 170, mất khoảng 230). Ông tên là Dung, tự Tử Bác, người gốc Thang Ngô (Thương Ngô), Giao Chỉ,. từ Trung Quốc sang Việt Nam tỵ loạn vào thế kỷ II, tài kiêm văn, võ. Về văn, ông viết Lý hoặc luận nổi tiếng. Lúc đầu nhan đề tác phẩm này là Trị hoặc luận, nhưng từ đời Đường Cao tông (tức Lý Trị, tại vị 650-633) vì kiêng húy của Lý Trị mà tác phẩm đổi nhan đề thành Lý hoặc luận. Lê Mạnh Thát khẳng định sách này được viết khoảng năm 198.

Trong Lý hoặc luận, Mâu tử cho biết: sau khi mẹ mất, không muốn làm quan, ông đắm mình học Tam giáo. “Từ đó, dốc chí vào đạo Phật, gồm ngẫm Lão tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu ngon, xem Ngũ kinh làm đàn sáo.” [1] Điều này cho thấy rằng Tam giáo đã hiện diện đề huề trong thời Sĩ Tiếp làm thái thú Giao Chỉ. Tinh thần hòa đồng từ buổi ban sơ đó đã là yếu tố để tư tưởng Tam giáo đồng nguyên trở thành một nét bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong những thế kỷ sau, được nhiều danh gia phát biểu qua các triều đại. Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu:

1. VIÊN CHIẾU (999-1091).

Viên Chiếu sống dưới đời Lý, thế danh là Mai Trực, quê làng Phúc Đường, huyện Long Đàm, là thiền sư đời thứ bảy dòng thiền Quan Bích (Việt Nam). Tác phẩm của ông có: Dược Sư thập nhị nguyện văn, Tán Viên giác kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng đạo tràng, Tham đồ hiển quyết.[2]
Khi được hỏi về ý nghĩa của Phật và Thánh (Nho), Thiền sư Viên Chiếu đáp:

Trú tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thố minh.[3]
(Ngày thì mặt nhựt sáng soi,
Đêm về vằng vặc khung trời ánh trăng.)

Sư ngụ ý bảo tuy ứng dụng của Phật và Thánh (Nho) trong đời khác nhau, nhưng đều nhằm đem lại cho đời ánh sáng (giác ngộ), ví như ngày cần ánh sáng mặt trời (kim ô: quạ vàng), đêm cần ánh sáng vầng trăng (ngọc thố: thỏ ngọc).


2. TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277).


Vua tên thật là Trần Cảnh, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định sau này). Tác phẩm có: Kiến trung thường lễ, Quốc triều thông chế, Khoá hư lục...[4].

Khi viết bài Tựa cho Thiền tông chỉ nam, vua ám chỉ rằng trách nhiệm độ đời của Phật hay Nho vẫn là một:
“Lục tổ có nói: ‘Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau.’ Như thế đủ biết đại giáo lý của đức Phật ta lại phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời.” [5]
Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, vua viết:

Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,
Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.[6]
(Chưa tỏ ngộ, người đời lầm lẫn phân biệt Tam giáo,
Khi đạt chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm.)

Trong bài Tọa thiền luận, vua so sánh Tam giáo về pháp môn tu luyện và nêu lên sự tương đồng như sau:

“Thích-ca Văn phật vào núi Tuyết sơn, ngồi ngay ngắn trong sáu năm, chim bồ các làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế mà thân tâm vẫn bình thản. Tử Cơ [Đạo gia] ngồi tựa ghế, thân như cây khô, lòng như tro nguội. Nhan Hồi [Nho gia] ngồi quên, chân tay rời rã, thông minh dẹp bỏ, lìa xa cả trí cả ngu để hòa chung với Đạo lớn. Ba bậc thánh hiền của Tam giáo đời xưa đó đều nhờ ngồi định mà có thành tựu.” [7]

Tuyết sơn tức là Hy-mã-lạp-sơn (Himalayas). Chim bồ các có sách dịch là chim thước, hoặc dịch là chim khách. Tử Cơ tức là Nam Quách Tử Cơ, được chép trong Nam hoa kinh của Trang tử.

Trong bài Giới sát sinh văn, vua nêu lên chỗ tương đồng của Tam giáo về mặt hành thiện:

“Sách Nho dạy làm điều nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh…” [8]


3. HƯƠNG HẢI (1631-1718).


Thiền sư thế danh là Tổ Cầu, người làng Áng Độ, huyện Chân Phúc (sau là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Lúc đầu ông làm tri phủ Triệu Phong (sau là tỉnh Quảng Trị), đời Hậu Lê, rồi tu ở cù lao Chàm (Quảng Nam), hiệu Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải, trứ tác nhiều.[9]

Trong một bài thơ Sư viết: Nguyên lai Tam giáo đồng nhất thể.[10] Như vậy, Sư khẳng định Tam giáo cùng một bản thể, nghĩa là cùng một nguồn gốc phát sinh.

So sánh Nho với Phật, ở một bài thơ khác, Sư kết luận:

Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát,
Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm.[11]

(Nguồn Nho bát ngát lên thêm rộng,
Biển Phật trùng trùng vào càng sâu.)

Trong bài Lý sự dung thông, Thiền sư Hương Hải đã lấy hình ảnh xe, thuyền làm ví dụ để so sánh hai khía cạnh phương tiện và công dụng của Tam giáo trong đời. Sư kết luận Tam giáo ví như ba cỗ xe cùng đi đến một đích. Đối chiếu ba cặp phạm trù tam cương, ngũ thường (của Nho) với tam nguyên, ngũ khí (của Lão), và với tam quy, ngũ giới (của Phật) Sư có bài thơ hay như sau:

Trong nơi danh giáo có ba,
Nho hay giúp nước, sửa nhà, trị dân.
Đạo thời dưỡng khí an thần,
Thuốc trừ tà bệnh, chuyên cần luyện đan.[12]
Thích độ nhân miễn tam đồ khổ,[13]
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương.
Nho dùng tam cương, ngũ thường,
Đạo gìn ngũ khí, giữ giềng ba nguyên.
Thích giáo nhân tam quy, ngũ giới,
Thể một đường xe phải dụng ba.[14]


4. LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784).


Ông tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, quê làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ. Ông làm quan đời Hậu Lê, giữ lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Tác phẩm rất nhiều, riêng khảo về đạo Nho có: Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Âm chất văn chú, Vân đài loại ngữ, Xuân thu lược luận, Dịch kinh phu thuyết, Thư kinh diễn nghĩa …

Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục, quyển IX: Thiền dật, Lê Quý Đôn đã bày tỏ lòng tôn kính Tam giáo bình đẳng và khuyến cáo một số nhà nho thiển cận như sau:

“Đạo giáo của họ Phật, họ Lão thanh tĩnh hư vô, cao siêu tịch diệt, không hệ lụy đến sự vật, đấy cũng là đạo giáo của bậc cao minh dùng để tu dưỡng bản thân; đến những lời bàn luận sâu rộng về đạo đức, về hình thần, không điều gì là không có ý nghĩa mầu nhiệm. Nhà nho chúng ta, cứ giữ thành kiến kia khác, thường thường bác bẻ, như thế có nên không?” [15]


5. NGÔ THÌ SĨ (1726-1780).

Ông là cha của Ngô Thì Nhiệm, nhạc phụ của Phan Huy Ích. Ông tự là Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong Tiên sinh, đạo hiệu Nhị Thanh Cư sĩ. Ông làm quan đời hậu Lê, trứ tác nhiều tác phẩm như: Ngọ Phong văn tập, Bảo chướng hoành mô, Anh ngôn thi tập, Việt sử tiêu án, Quan lan thập vịnh, Nhị Thanh động tập... Cùng các con, ông hợp thành Ngô gia Văn phái.[16]

Năm 1760, nhân trùng tu chùa Tam giáo (làng Kim Bảng), Ngô Thì Sĩ làm bài văn bia nêu lên ý kiến của ông về Tam giáo như sau:
“Lời khuyên về tịnh độ của nhà Phật, lời bàn về cảnh tiên của nhà Đạo, thuyết tích chứa điều lành có thừa điềm tốt của nhà Nho, thảy đều đúng cả. Đạo Phật chủ trương từ bi, Đạo gia thanh tịnh, Nho gia lấy thuyết nhân nghĩa, trung chính mở đường cương thường của Trời để dựng nên một trật tự cho người. Điều thiết yếu là hợp thế giới hữu hình vào một hư không siêu hình, thu tất cả thiên hình vạn tượng khác nhau vào một chỗ nhất quán. Nhập thế và xuất thế, tác dụng khác nhau mà thể tính thì cũng một. Tôi cho rằng đạo lý chỉ có một mà thôi. Tự do, sáng suốt, không có phân chia đạo nọ đạo kia vậy. Liễu ngộ chỉ có bản tính yên lặng, giữ lấy chỉ là tâm. Chỗ tịch diệt của Như lai, chỗ hư vô của Lão quân, chỗ không muốn nói của Phu tử đều là gom cái tâm mình về chỗ chánh mà thôi.” [17]

Ngoài bài văn bia trên, xu hướng đề cao Tam giáo cùng một nguồn của Ngô Thì Sĩ còn bộc lộ trong các bài Ký động Nhị Thanh, Sớ hợp Tam giáo… [18]


6. NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803).

Ông người làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, là con của Ngô Thì Sĩ, tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên, lại có hiệu Hải Lượng Thiền sư.  Làm quan hai đời Hậu Lê và Tây sơn, giữ nhiều chức vụ quan trọng.

Ông cũng chủ trương Tam giáo một nguồn (nhất nguyên), và bày tỏ quan điểm của ông trong các tác phẩm như Thiên quân thái nhiên, bài Ký đình Thủy Nhất… [19]


7. PHAN HUY ÍCH (1750-1822).


Ông là con rể Ngô Thì Sĩ, em rể Ngô Thì Nhiệm. Ông tự Chi Hòa, hiệu Dụ Am và Đức Hiên. Làm quan chức hàn lâm thừa chỉ, đốc đồng Thanh Hóa, v.v... Đời Tây Sơn, ông làm tả thị lang Bộ Hộ, tước Thụy nham hầu, đi sứ Trung Quốc về thăng thị trung ngự sử. Ông lập Bảo chân quán để tu dưỡng. Trứ tác nhiều.

Phan Huy Ích cũng theo thuyết Tam giáo một cội nguồn. Năm 1796, khi viết lời Tựa cho tác phẩm Trúc Lâm đại chân viên giác thanh của Ngô Thì Nhậm, ông bày tỏ quan điểm của ông về Tam giáo như sau:

“Giáo lý Thích-ca tuy nói là không tịch hư vô, nhưng đại yếu vẫn là trừ bỏ hết mọi chướng lũy, thấy rõ chân như. Cho rằng ‘minh tâm kiến tính’ là việc cần kíp nhất, nếu đem so sánh với học thuyết ‘thành ý trí tri’ của nhà Nho ta, thật chẳng có gì là trái ngược.”

Do cùng quan điểm với Ngô Thì Nhậm nên trong bài Tựa nói trên, Phan Huy Ích đã ca ngợi Ngô Thì Nhậm:

“Tận tính nhi cùng lý (thấu triệt được thiên tính, hiểu rõ được đạo lý), khu Thích dĩ nhập Nho (đưa đạo Phật vào đạo Nho), ông đã khiến cho tám bộ Phạn vương (Phật) không ra ngoài cung tường của Tố vương (Khổng tử).” [20]


8. TRỊNH TUỆ (thế kỷ XVIII).

Trịnh Tuệ thi đậu trạng nguyên, làm quan tể tướng thời vua Lê chúa Trịnh. Ông vẫn xưng là Trúc Lâm Cư sĩ. Trình bày quan niệm Tam giáo một nguồn, trong bài Tam giáo nhất nguyên thuyết, có đoạn ông viết:

“Nhà Nho có tam tài, nhà Phật có tam thế, nhà Đạo có tam thanh, cũng chẳng khác gì trời có mặt trời, trăng, sao, như vạc ba chân, quan hệ mật thiết với nhau và không tách rời nhau được. Nói cho rõ là lễ nhạc, hình, chính của nhà Nho dùng để ngăn ngừa lòng người khiến cho người ta xu hướng về điều thiện và cấm chỉ các điều ác, xa rời cái xấu và tăng thêm cái đẹp, hiển nhiên là như vậy. Thanh tĩnh, từ bi của nhà Phật, trừ bỏ nghiệp chướng cứu người độ vật, cùng đi đến chỗ giác ngộ, thì đó lại là uyên vi trong uyên vi. Nhà Nho chủ trương chỉnh đốn luân thường, duy trì giáo hóa, làm cho người ta đổi thói bạc làm thói hậu, bỏ điều bạo chăm điều nhân. Đó là công việc rõ ràng. Nhà Đạo chủ trương rửa sạch lụy trần, từ bỏ tham dục, vượt cõi phàm vào cõi thánh, cùng chung duyên lành thì đó lại là huyền diệu trong huyền diệu. Sách Đại học nói ‘Sáng tỏ đức mình, làm mới đức dân, dừng ở chỗ chí thiện.’ Kinh Phật nói ‘Bát nhã ba la mật’, nói ‘Bồ đề tát đóa’, nói ‘Ma ha tát’. Về ý nghĩa, hai đằng có trái ngược nhau đâu … Cho nên Tam giáo vẫn là một môn, ba dòng vẫn là một lý, vốn không phải như nước lửa, đen trắng, ngọt đắng có tính chất chống lại nhau … Thế mới biết Nho tức là Thích mà Thích tức là Nho. Đạo cũng là Nho mà Nho cũng là Đạo.”

Cuối bài, Trịnh Tuệ kết luận:

Ai hay Tam giáo bất đồng,
Thích Ca, Lão Tử cùng dòng Nho Gia.[21]


9. TOÀN NHẬT (1750? -1832?).

Thiền sư sống khoảng đời Tây Sơn. Sư coi Tam giáo cũng chỉ một nhà, tuy công dụng ở đời có khác nhưng lại hỗ trợ cho nhau trong việc giáo hóa, cứu độ, trị an dân chúng. Sư ví Tam giáo như ba ngả đường mà cùng dẫn về một đích điểm. Sư còn quan niệm Tam giáo không thể thiếu một, vì thiếu một thì sẽ nguy hiểm, cũng như chiếc vạc phải đủ ba chân, bầu trời phải đủ mặt trời, mặt trăng và các vì sao (tam quang: nhật, nguyệt, tinh). Xã hội phải vững vàng ba mối giềng trung chánh giữa quan hệ của bậc trị nước với dân, giữa cha với con, giữa vợ với chồng (tam cương: quân thần cương, phụ tử cương, phu thê cương).

Trong tác phẩm Hứa Sử truyện vãn, Thiền sư Toàn Nhật mượn lời Diêm vương nói với thầy tăng Hứa Sử để gián tiếp bày tỏ quan điểm của Sư đối với Tam giáo như sau:

Phép xưa gầy dựng roi truyền,
Nho ra sửa trị đời nên thanh bình.
Thích ra độ tử cứu sinh,
Đạo ra tẩn diệt mị tinh yêu tà.
Thánh hiền phân chế làm ba,
Tam giáo so lại nhất gia khác gì.
Cùng nhau tá trợ phò trì,
Ra đời giáo hóa ích thì lợi dân.
Cũng như vạc có ba chân,
Trên trời thì có tam quang tỏ tường.
Trong đời thì có tam cương,
Nếu mà khuyết một ghê đường gian nguy.
Nói cho Thầy rõ kẻo nghi,
Đường tuy ba ngả cùng về một nơi.[22]


Trong tác phẩm Tam giáo nguyên lưu ký, Thiền sư viết:

Cho nên Tam giáo Thánh nhân,
Tùy cơ thuyết pháp, ứng thân cứu nàn.
Hễ trời thì có tam quang,
Đời có Tam giáo ba giềng tương thân.
Ví như cái vạc ba chân,
Nếu mà khuyết một ngả nghiêng đâu còn.
Vật trong vạc ấy chẳng toàn,
Ắt là trút đổ chỉn liền hư hao.
Nho gia tỏ rõ như sao,
Chói lòa tinh đẩu ai nào chẳng hay.
Đạo gia dường nguyệt tròn thay,
Bắc nam ánh giải, đông tây sáng ngời.
Thích gia ví tợ mặt trời,
Đâu đâu soi thấu đời đời quang minh.[23]


10. GIÁC LÂM (thế kỷ XIX).


Tì Kheo Giác Lâm sống dưới triều Minh Mệnh (1820-1841), tu ở chùa Hồng Phúc, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sư sáng tác Hồng mông Tạo hóa chư lục bản hạnh (gọi tắt Hồng mông hạnh), trong đó đã nhận định về Tam giáo như sau:

Ba đạo cây cối một nhà,
Chi chi diệp diệp hằng hà vô biên.
Những người thiểu học thất truyền,
Ngỡ là Nho giáo, Phật, Tiên khác dòng.[24]


11. NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888).

Ông hiệu Trạch Phủ, quê làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Bị mù, ngồi nhà dạy học, nên còn được gọi là Đồ Chiểu. Sau về Ba Tri, tỉnh Bến Tre dạy học, bốc thuốc. Tác phẩm chính gồm có: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp.
Trong truyện thơ Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác ra chàng Nho sinh họ Lục rất đặc biệt.
Câu 9-12 tả họ Lục xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, theo nghiệp Nho gia:

Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành.
Theo thầy nấu sử sôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao.


Sau khi thọ nạn, mù mắt, chàng thư sinh họ Lục nương thân cửa chùa (Phật) và được ông tiên (Lão) ban thuốc tiên chữa cho mắt được sáng lại. Câu 1665-1668 tả:

Đoạn này tới thứ ra đời,
Vân Tiên thuở ấy ở nơi chùa chiền.
Nửa đêm nằm thấy ông tiên,
Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra.

Như vậy, dù Nguyễn Đình Chiểu không phát biểu về Tam giáo đồng nguyên hay đồng tông, tác giả qua cách hư cấu một truyện thơ đã cho thấy tinh thần Tam giáo đề huề, không có giới hạn, thành kiến, ngăn ngại.



Tóm lại trải qua các triều đại, trong mười chín thế kỷ, tuy sử sách không còn lưu giữ được nhiều, nhưng bằng những tư liệu văn học còn sưu tập được, với các tác giả tiêu biểu, đã thấy rõ rằng ở Việt Nam đã được xác lập sớm và rất lâu dài các quan điểm trong sáng về:

- Tam giáo đồng nguyên hay Tam giáo nhất nguyên (cùng một nguồn phát sinh),

- Tam giáo đồng tông (cùng một ông tổ sinh ra),

- Tam giáo nhất gia (cùng một nhà),

- Tam giáo đồng quy (cùng đi về một đích).

Các dẫn chứng văn học trên đây cũng cho thấy từ xưa dân tộc Việt Nam đã biết đối chiếu Tam giáo để tìm đến chỗ đồng nhất lý. Trong khi đó ở châu Âu, mãi đến nửa cuối thế kỷ XX người ta mới biết đến khoa tôn giáo đối chiếu (comparative religions), khởi sự từ năm 1939 tại Viện đại học Oxford, nước Anh.

Nói cách khác, ở Việt Nam ngay từ xa xưa đã sẵn có con đường Tam giáo đồng nguyên để rồi sẽ dẫn đến hệ luận là vạn giáo nhất lý. Nghiên cứu con đường Tam giáo Việt Nam trong tinh thần đồng nguyên và nhất lý cũng là để sau này góp phần tìm hiểu diễn trình Dịch hóa, chu nhi phục thủy: Từ Đại đạo phát sinh Tam giáo đạo; từ Tam giáo đạo trở về nguồn gốc Đại đạo.

LÊ ANH DŨNG

----------------
CHÚ THÍCH

[1] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu tử. Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr. 133, 508.
[2] Thơ văn Lý – Trần. Tập I. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1977, tr. 266.
[3] Thơ văn Lý – Trần. Tập I, 1977, tr. 274, 281.
[4] Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập II. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1990: tr. 56, 57.
[5] “Lục tổ hữu ngôn vân: ‘Tiên đại thánh nhân dữ đại sư vô biệt.’ Tắc tri ngã Phật chi giáo hựu giả tiên thánh nhân dĩ truyền ư thế dã.” Thơ văn Lý – Trần. Tập II. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1989, tr. 26-27.
[6] Thơ văn Lý – Trần. Tập II, 1989, tr. 60, 62, 65.
[7] “Thích-ca Văn phật nhập vu Tuyết sơn, đoan tọa lục niên, thước sào vu đỉnh thượng, thảo xuyên vu bễ, thân tâm tự nhược. Tử Cơ ẩn kỷ nhi tọa, hình như khô mộc, tâm tự tử hôi. Nhan Hồi tọa vong, huy chi thể, truất thông minh, ly ngu trí, đồng ư Đại đạo. Thử cổ giả Tam giáo thánh hiền, tằng dĩ tọa định nhi thành tựu giả.” Thơ văn Lý – Trần. Tập II, 1989, tr. 86-88.
[8] “Nho điển thi nhân bố đức, Đạo kinh ái vật hiếu sinh, Phật duy giới sát thị trì…” Thơ văn Lý – Trần. Tập II, 1989, tr. 93.
[9] Lê Quý Đôn toàn tập. Tập II: Kiến văn tiểu lục. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1977, tr. 402-403.
[10] Lê Quý Đôn toàn tập. Tập II, 1977, tr. 409.
[11] Lê Quý Đôn toàn tập. Tập II, 1977, tr. 410.
[12] Luyện đan: Các đạo sĩ Lão giáo nắm được bí quyết ứng dụng lý thuyết âm dương, ngũ hành để tu luyện ngõ hầu biến cải con người từ phàm phu chịu sự chi phối của luật sinh tử luân hồi trở thành bậc chân nhân siêu sinh thoát tử. Họ tạo thành một trường phái thanh tĩnh vô vi, chuyên luyện nội đan, tức là phái tu tiên, tu chân. Phái này chủ trương bên trong thân người đã sẵn có những yếu tố thần minh và nếu biết khai phóng đúng phương pháp, con người sẽ đạt được trường sinh bất tử. Để luyện thuốc trường sinh bất tử, họ chỉ sử dụng những vị thuốc, dược liệu tạo hóa đã dành cho mỗi người, ai ai cũng sẵn có trong thân (nội dược).
Đối lập với họ là phái ngoại đan, chủ trương tìm kiếm các dược liệu ở ngoài thân (ngoại dược) để luyện thuốc trường sinh bất tử; như từng dùng các chất độc là chì (diên), thủy ngân (hống), chu sa (thần sa)...
Chu, thần và đan (đơn) đều là màu đỏ thắm như son; sa là cát. Đạo Lão có môn phái thần tiên đan đỉnh dùng một thứ đá cát quến thành cục (sa thạch), lấy tay bóp vụn ra thành bột được. Đá cát này không mùi, vị lạt, có màu đỏ thắm như son, nên được gọi tên là chu sa, thần sa, đan sa. (Cũng có sách cho rằng thần sa là chu sa của Thần châu.) Đông y cho rằng chu sa có nhiều sắc đỏ khác nhau, càng thẫm màu càng tốt. Để thử, lấy tay bóp chu sa vụn thành bột, nếu màu đỏ không dính tay (không ăn da), đó là loại hảo hạng. Chu sa (cinnabaris) là hợp chất trong đó chứa 86,2% thủy ngân (Hg: hydragyum) và 13% lưu huỳnh (S: sulfur). Khi đun chu sa, khí độc SO2 bốc ra, còn lại thủy ngân cũng là chất độc. Vì vậy, sách y cổ chỉ định phải dùng chu sa sống (mài với nước, không được đun nấu); những người lạm dụng chu sa có thể hóa ra si ngốc. (Lê Anh Dũng, Tìm hiểu kinh cúng Tứ thời. Huế: Nxb Thuận hoá, 1995, tr. 82-83.)
[13] Tam đồ khổ: Cái khổ khi bị hồn người chết phải đi vào ba đường dữ để chịu hình phạt đền bù tội lỗi. Đó là: Hỏa đồ (bị lửa thiêu đốt); Huyết đồ (bị sát hại và đổ máu); Đao đồ (bị dao kiếm đâm vào cơ thể).
[14] Nguyễn Đăng Thục, “Vạn Hạnh với quốc học”, Tư tưởng, số 1, năm thứ Tư. Sài Gòn: Viện đại học Vạn Hạnh, 15-3-1971, tr. 26.
[15] Lê Quý Đôn toàn tập. Tập II, 1977, tr. 363.
[16] Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập I. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1984, tr. 324.
[17] “Thích gia tịnh thổ chi khuyến, Đạo gia tiên đô chi đàm, Nho gia tích thiện dư khương chi thuyết, giai thị dã. Thích từ bi, Đạo thanh tịnh, Nho định dĩ nhân nghĩa, trung chính dĩ khai Thiên thường nhi lập nhân kỷ. Yếu kỳ hợp vạn hữu vu nhất hư, hội vạn thù vu nhất quán. Kinh thế xuất thế, dụng dị nhi thể đồng. Dư duy Đạo nhất nhi dĩ, hoạt bát bát tĩnh tĩnh, vô bỉ thử dã. Liễu ngộ vô phi tính, mặc thủ vô phi tâm. Như lai chi tịch diệt, Lão quân chi hư vô, Phu tử chi dục vô ngôn dã, quy chính kỳ tâm nhĩ hĩ.” Nguyễn Đăng Thục phiên âm theo bản chữ Hán trong microfilm BEFEO A.364, số hiệu 569.
[18] Theo Hà Thúc Minh. Xem Thơ văn Ngô Thì Nhậm. Tập I. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1978, tr. 31.
[19] Theo Hà Thúc Minh. Xem Thơ văn Ngô Thì Nhậm. Tập I, 1978, tr. 32.
[20] Thơ văn Ngô Thì Nhậm. Tập I. Hà Nội: 1978, tr. 47-50.
[21] Một số vấn đề lý luận về lịch sử tưởng Việt Nam. Hà Nội: Viện triết học, 1984, tr. 145.
[22] Lê Mạnh Thát, Toàn Nhật Thiền sư toàn tập. Tập I (ronéo). Viện Phật học Vạn Hạnh, 1979, tr. 189-190.
[23] Toàn Nhật Thiền sư toàn tập. Tập II (ronéo), 1979, tr. 22.
[24] Nguyễn Văn Thọ, “Ít nhiều cảm nghĩ suy tư về thiền học Việt Nam”, nội san Cao Đài giáo lý (ronéo). 15-02 Kỷ Mùi (1979).

----------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chonhoadong, mavuong, anhlam, dieunha
Logged
 
 
 
tadamina
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 37

Cảm Ơn
-Gửi: 13247
-Nhận: 322


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 07:12:39 AM »

(tiếp theo)

Hòa Đồng Tôn Giáo Và Tam Giáo Đồng Nguyên    


*** Minh Liên   


***

Đạo của trời đất thì không hai, nhưng Đạo của thế gian thì có thể nói là quá nhiều! Chính vì Đạo do con người sáng lập ra thì quá nhiều cho nên chúng ta vẫn thường nghe một lời kêu gọi của ai đó về một sự "Hòa đồng tôn giáo" hay "hòa hợp tôn giáo". Theo thiển nghĩ đó chẳng qua là hình thức của một sự kêu gọi đoàn kết tôn giáo mà thôi, chớ hòa đồng không có nghĩa là người theo Đạo Phật lại thờ Chúa và người theo Đạo Thiên Chúa lại mang thêm hình ảnh Ông Phật trong lòng!

Cái TÂM con người nguyên thủy vốn là một khối CHÂN KHÔNG nhưng vì vô minh đã tích lũy trong đó từ năm này qua tháng nọ, từ kiếp này sang kiếp kia - mà thành tố của vô minh chính là PHÀM THỨC, là những nhận thức của con người, những nhận thức về vuông tròn, trắng đen, giàu nghèo, sang hèn, về thiện về ác, đã che mờ cái khối chân không đó. Tu là để thấy được cái TÂM và tái tạo cái TÂM bằng cách gột rửa vô minh để đưa cái TÂM trở về tình trạng nguyên thủy của nó là vắng lặng và trong suốt: "Một chữ không cũng không có, chỗ cho Phật cũng không". (Lời Lục Tổ Huệ Năng)

Cái chuyện gột rửa vô minh đã tích lũy từ ngàn đời là một chuyện khó cho nên người ta chọn cách gột rửa từ từ chỉ giữ lấy Một, cái Một đó là hình ảnh của Ông Phật hay là hình ảnh của cõi Cực lạc hoặc cũng có thể là hình ảnh của Đức Giáo chủ đã giác ngộ, rồi khi cơ duyên đưa tới người ta loại bỏ luôn cái Một đó nữa là thành công, nhưng đó không phải là chuyện dễ, có thể làm trong một kiếp mà được? Đã thế mà lại còn đưa thêm hình ảnh khác vào và giữ chặt trong đó thì biết tới chừng nào...?

Còn chuyện hòa đồng hay hòa hợp thực sự giữa các tôn giáo thì tôi nghĩ rằng chuyện đó khó mà thực hiện về cả bề mặt lẫn bề sâu (?) (Tuy tới cùng đích nhưng đi khác đường thì không thể dùng chung hành trang được). Trừ khi nào sự hòa hợp đó tự nó có sẵn trong đáy sâu tâm tưởng của mỗi người và nếu nói theo lý luận của nhà Phật thì.... Hòa hợp mà không hòa hợp thì mới thật sự là hòa hợp.

Xin đừng vội cho đó là chuyện không tưởng vì có thể nói sự hòa hợp thần kỳ đó đã nằm sẵn trong lòng mỗi người dân Việt của chúng ta mà chúng ta không nhận biết đó thôi! Tôi muốn nói đến "sự hòa hợp sẵn" của TAM GIÁO của dân tộc Việt Nam. Thưa phải, TAM GIÁO của dân tộc Việt Nam là một sự hòa hợp thần kỳ của ba tôn giáo: Phật giáo - Khổng giáo và Lão giáo. Sự hòa hợp đó đã tự nó phát sinh trong lòng của mọi người dân Việt bất kể sang hèn, nghèo giàu, kẻ có chức quyền hay người cùng đinh mà không cần một sự kêu gọi, một sự thúc đẩy của bất cứ một thế lực ngoại lai nào. Triết lý Tam giáo đã thắm vào chiều sâu của mỗi người dân Việt một cách tự nhiên như hơi thở, không cần phải quyến rủ, không cần phải mời mọc, không cần đem danh lợi ra để khuyến dụ...

Trong khi tìm hiểu về Đạo tôi có gặp một vị sư người Anh, Ông cũng đồng ý với tôi rằng trong toàn vùng Đông Nam Á, mà cũng có thể nói là trên toàn thế giới, nói chung, chỉ có Việt Nam là nước duy nhứt chịu ảnh hưởng cùng lúc của ba tôn giáo lớn trong vùng là Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo. Hơn nữa khi ba giòng tư tưởng của ba tôn giáo đó vào tới Việt Nam thì đã tạo nên một sự tổng hợp tự nhiên, tuy ba mà một, tuy một mà ba... Vị sư đó đã nói với tôi: "Nước Việt Nam của anh là một nước may mắn nhứt thế giới."

Sau đây xin mời quý vị cùng tôi suy nghiệm về một vài sự kiện thật tầm thường trong đời sống hàng ngày: (Vì đây chỉ là quan niệm của cá nhân người viết nên xin được vô lễ mà dùng chữ "Tôi" để tránh mọi ngộ nhận, xin vui lòng đừng chấp.)

1- Có lẽ trong cuộc đời của chúng ta, bất cứ ai, dù theo đạo nào, không ai mà không từng nghe, không từng nói hai tiếng "tội nghiệp"! Khi thấy một người nào lâm vào cảnh thương tâm người ta buộc miệng: "Tội nghiệp quá!". Riết rồi quen tai quen miệng và cùng hiểu rằng hai tiếng đó dùng để bộc lộ một nỗi xót thương cho người trong cảnh khổ đau hay trái lòng. Nhưng nếu căn cứ vào kinh Phật thì hai tiếng đó chứa đựng rất nhiều ý nghĩa chớ không chỉ đơn thuần như vậy.

Tôi thì không học rộng, không hiểu nhiều, không biết Đạo Phật đến với Việt Nam từ hồi nào và có ảnh hưởng đến nền văn hóa Việt Nam bắt đầu từ giai đọan nào của lịch sử mấy ngàn năm lập quốc, tôi chỉ biết rằng trong kho tàng ngôn ngữ của dân tộc ta chứa đựng rất nhiều từ ngữ mà ý và nghĩa xuất phát từ kinh Phật và hai tiếng "Tội nghiệp" là một thí dụ.

Ngoài ra còn những từ ngữ khác nữa mà ai cũng nói được, ai cũng hiểu được chớ không cần phải học cao hiểu rộng mới hiểu, chẳng hạng như chữ "Lương tâm" mà ý nghĩa đại khái thì ai cũng có thể hiểu được là: Khi người ta tự ý không làm một việc gì đó vì xét thấy việc đó có hại cho người khác thì người ta nói: "Tôi không làm được việc đó vì lương tâm tôi không cho phép...."

Hoặc khi thống trách một người nào đó người ta cũng nói "...thật là vô lương tâm...!" Hay là những lời trách móc nặng nề hơn một chút "...con người đó tâm địa thật độc ác!" mà chữ "tâm địa" tôi nghĩ là do chữ "Tâm điền" trong kinh Phật mà ra.

 Ở đây chỉ ghi lại vài thí dụ điển hình, ngoài ra còn nhiều, rất nhiều những từ ngữ mà ý và nghĩa của những từ ngữ đó cũng xuất phát từ kinh Phật, điều đó cho phép tôi nghĩ rằng giáo lý Đức Phật đã nằm trong lòng mọi người dân Việt của chúng ta mà chúng ta không nhận biết đó thôi! Bởi vì một khi chúng ta thốt lên hai tiếng "Tội nghiệp" tức là chúng ta đã mượn giáo lý Phật (một cách vô tình hay cố ý) để lý giải một trạng huống thương tâm mà trong nhất thời không có một thứ lý luận nào của thế gian có thể biện giải được hoặc là khi chúng ta thốt lên mấy tiếng "...thật là vô lương tâm.." tức là chúng ta đã vịn vào giáo lý Phật để phán xét một hành động nào đó của con người hay là khi chúng ta nói "Tôi không làm được việc đó vì lương tâm tôi không cho phép" tức là chúng ta đã vô tình (hay cố ý) mượn giáo lý Phật để làm kim chỉ nam cho mọi sinh hoạt của chúng ta rồi vậy.

2- Đứng về chiều sâu của tâm lý mà nói thì mọi người dân Việt của chúng ta không ai mà không lấy hai chữ "ĐẠO" và "ĐỨC" làm trọng. Có thể nói "ĐẠO-ĐỨC" là căn bản của cuộc sống nội tâm của mọi người, người ta đã mặc nhiên dùng hai tiếng "ĐẠO-ĐỨC" để làm thước để đo hành vi (hay đánh giá về mặt tâm linh) của con người có hợp với lẽ đạo hay không, có trái đạo lý hay không. Như vậy tức là người ta đã có... một Ông Lão Tử... trong lòng rồi chớ còn gì nữa? Bằng chứng là người ta đã sống theo lời chỉ dạy của Đức Lão Tử. Nói tới ĐẠO-ĐỨC tức là nói tới Đức Lão Tử. ĐẠO lấy tự nhiên làm chủ, cái gì trái với tự nhiên là trái đạo lý. Có ai mà không từng nghe những câu như:..."Đừng làm chuyện thất đức..." hoặc là "Ăn ở phải để đức cho con"... vân vân và vân vân ...

3- Lại nữa, người Việt chúng ta có ai mà không biết mấy chữ: "NHÂN-NGHĨA-LỄ- TRÍ-TÍN". Sống trong đời không ai là không lấy những chữ đó để tự răn mình, phán xét việc đời và dạy dỗ con cái? Người ta đã sống trong vòng (rào) Nho Giáo của Đức Khổng Tử một cách tự nguyện mà người ta không biết đó thôi!

Bởi vậy khi nghe có người than rằng "Đạo đức con người ở Việt Nam bây giờ bị phá sản...!" thì tôi nghĩ rằng muốn cứu vãn tình trạng này thì chỉ có cách là toàn khối dân tộc Việt chúng ta, bất kể là trong nước hay ở hải ngoại hãy quay trở về với TAM GIÁO, trở về với TAM GIÁO tức là chúng ta trở về với truyền thống văn hóa dân tộc và ở đó đã có sẵn một sự hòa hợp keo sơn trên căn bản ĐẠO và ĐỨC từ ngàn đời rồi vậy.

Hơn nữa, theo thiển nghĩ, nếu mọi người đều thành tâm muốn thực hiện sự trở về, muốn vãn hồi sự phá sản đó thì chúng ta đừng quên một phương sách chiến lược là củng cố và phát triển những cơ sở tôn giáo (bất kể là tôn giáo nào) vì tôi nghĩ rằng các cơ sở tôn giáo nói chung, đặc biệt là chùa chiền và đình thờ sẽ là những trung tâm tái tạo đạo đức con người trong mai hậu. Việc đó chúng ta có thể làm được và làm được ngay từ bây giờ, nhứt là những người Việt ở hải ngoại nếu đồng tâm góp sức thì việc làm đó không có gì là khó.

Sở dĩ tôi nói "bất kể tôn giáo nào" là vì như đã nói trên: "TAM GIÁO" đã nằm sẵn trong huyết thống của mọi người, bất kể là họ đang theo Đạo nào, chỉ chờ có cơ hội là "nó" sẽ tự phát triển, không thể kềm hãm được và khi "nó" đã phát triển thì tự nhiên sẽ có sự hòa hợp trong tinh thần dân tộc và hơn nữa, hận thù sẽ không tìm được chỗ đứng trong lòng mọi người.

Tóm lại, theo thiển nghĩ, TAM GIÁO: Phật - Lão - Nho đã làm cho con người Việt Nam trưởng thành về mặt tâm linh, đánh mất TAM GIÁO không khác nào đánh mất chỗ dựa về mặt tinh thần. Mà những gì thuộc về tâm linh thì thường còn, còn những gì thuộc về vật chất thì sẽ mất, sẽ tiêu hoại theo thời gian. Vậy chúng ta nên sống cho cái thường còn, tức là cái thật hay là sống cho cái sẽ mất tức là cái giả? Tùy chúng ta lựa chọn, ít nhứt là cho riêng mình.

----------------------

Văn hóa “Tam giáo đồng nguyên”: Mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt

*Kỷ niệm 1.000 năm thiết lập vương triều Lý (1009-2009) và hướng tới Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngày 21.11, tại Hà Nội sẽ diễn ra Hội thảo khoa học 1.000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long. Hơn 60 báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế tập trung làm rõ những cống hiến to lớn của Đức vua Lý Thái Tổ, của vương triều Lý (8 vị vua trị vì trong 216 năm) và quân dân Đại Việt, sau khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và đặt nền tảng cho sự phát triển của nền văn minh Đại Việt.


Trong bước phát triển về mọi mặt nói chung và những giá trị lịch sử văn hóa của triều Lý nói riêng, các nhà nghiên cứu nhìn chung đều thống nhất, đó là nền văn hóa được kết hợp một cách khoan dung, hòa hợp giữa các tín ngưỡng dân gian Nho - Phật - Đạo, hay còn gọi là hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên”, trong đó Phật giáo được coi là quốc giáo. Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam, Gs Phan Huy Lê cho biết: hầu hết các vua thời Lý, Trần đều tôn sùng đạo Phật, bỏ nhiều tiền của xây chùa tháp, cúng ruộng cho chùa, tạc tượng, đúc chuông, dịch kinh, soạn sách Phật... Năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền để làm hơn 150 chùa quán ở các hương ấp; có nhiều tôn thất quý tộc đã quy Phật như Hoàng hậu Ỷ Lan... Ngoài ra, nhà Lý còn cho xây dựng hàng loạt ngôi chùa nổi tiếng như chùa Diên Hựu, chùa Phật tích, chùa Long Đọi...

Thời Lý, các đạo sỹ luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh. Họ thường được triều đình mời vào cung làm các lễ tống trừ ma qủy vào các dịp lễ tết, đi trấn yểm các vùng sông núi, làm phép cầu đạo... Những đạo sỹ nổi tiếng dưới thời kỳ này như Thông Huyền đạo nhân, Giác Hải thiền sư... Ngoài ra Đạo giáo cùng với Phật giáo và Nho giáo còn được đưa vào nội dung của các kỳ thi Tam giáo.
 
Một nét nổi bật khác trong văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” thời Lý là sự tồn tại và phát triển của Nho học. Mặc dù được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc nhưng đến thời kỳ này vẫn giữ một vị trí khá khiêm tốn. Tuy nhiên, trước ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa và nhu cầu phát triển văn hóa của đất nước thì Nho học ngày dần có vị thế trong đời sống văn hóa triều Lý. Việc xây dựng Văn Miếu năm 1070 làm nơi dạy học cho các Hoàng Thái Tử đã đưa văn hóa Nho gia dần đi vào đời sống. Đặc biệt là việc triều Lý mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên vào năm 1075 đã đặt nền móng cho sự phát triển của Nho giáo tại nước ta. Mặc dù trong suốt cả chiều dài tồn tại 216 năm của vương triều Lý chỉ mở 3 khoa thi, chủ yếu dành cho tầng lớp quý tộc, nhưng có thể thấy Nho giáo đã đóng vai trò quan trọng trong “Tam giáo đồng nguyên”. Việc xuất hiện chữ Nôm trên văn bia cho thấy văn hóa Đại Việt đã tiếp nhận một cách có chọn lọc từ các nền văn minh lớn trên thế giới và trong khu vực.

Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đã tạo nên một nền văn minh Đại Việt rực rỡ và tinh hoa. Đó chính là sự kết hợp của gam màu văn hóa dân gian với văn hóa bác học cung đình. Nói về vấn đề này, PGs, Ts Nguyễn Thừa Hỷ cho biết, “Sự kết hợp văn hóa Đại Việt thời Lý được xây dựng trên nền tảng của một tầng văn hóa bản địa, có tiếp xúc giao lưu hai chiều với các nền văn hóa Trung Hoa phương Bắc, văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á hải đảo phương Nam... thông qua chính sách “Tam giáo tịnh tồn” của Nhà nước phong kiến”. Sự kết hợp đó đã tạo ra nét riêng biệt của văn hóa Đại Việt triều Lý, tạo tiền đề cho sự phát triển của nền văn hóa Đại Việt các triều đại sau này. Dù đồng hành tồn tại, song trong “Tam giáo đồng nguyên” triều Lý, đạo Phật vẫn đóng vai trò chủ đạo. Lý giải cho vấn đề này, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hà, “Đức vua Lý Thái Tổ chịu sự ảnh hưởng lớn từ thiền sư Vạn Hạnh – người nuôi nấng, dạy dỗ và hết lòng phù giúp cho sự nghiệp của Lý Công Uẩn bằng trí tuệ mẫn tiệp của mình”.

Có thể nói, bước phát triển trong văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” của vương triều Lý đã tạo nên bản sắc của văn hóa Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến. Hiểu rõ về văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” sẽ là sợi chỉ đỏ để các thế hệ hôm nay hiểu hơn về hồn cốt, truyền thống văn hóa giàu đẹp của Thăng Long - Hà Nội khi Thủ đô chuẩn bị tròn 1.000 năm tuổi.

Trường Sơn

http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/4/ContentID/90014/Default.aspx


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chonhoadong, mavuong, anhlam, dieunha
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.184 seconds với 26 câu truy vấn.