Tháng Tư 18, 2021, 12:59:11 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯỢC THẢO CHỮA BỆNH .  (Đọc 3278 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Ngọc Tú Lệ Phi
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 186

Cảm Ơn
-Gửi: 249
-Nhận: 574



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Năm 06, 2008, 07:18:30 PM »



( Mục 1 ) -bài thuốc từ hạt Mè .

Vừng có tác dụng bổ gan, thận, nhuận ngũ tạng..., đồng thời có thể dùng chữa bệnh chân yếu cứng nhắc, ho hen, thiếu sữa, thần kinh suy nhược, sớm bạc tóc, huyết áp cao, bệnh mỡ bọc tim. Xin giới thiệu một số bài thuốc từ loại hạt này.

Vừng có hai loại vừng đen và vừng trắng, còn gọi là mè. Dùng làm thuốc thường là loại vừng đen. Vừng đen còn gọi là hồ ma, hắc chỉ ma, cự thắng, cự thắng tử, ô ma, ô ma tử, du ma, giao ma, tiểu hổ ma. Vừng trắng còn gọi là bạch du ma, bạch hổ ma. Tính bình, vị ngọt. Thành phần chính có: dầu béo 60%. Trong dầu chứa nhiều loại axit, vitamin E cùng sắt và calci. Phần lớn có chất phòng bệnh chống suy lão. Thường là thực phẩm chống suy lão.

Tác dụng: Bổ gan, thận, nhuận ngũ tạng, làm đen tóc, bổ dưỡng cường tráng. Chủ yếu dùng cho gan, thận yếu, tay chân yếu cứng nhắc, hư phong, mắt mờ, yếu sau khi ốm dậy, tuổi già ho hen, thiếu sữa, thần kinh suy nhược, sớm bạc tóc, huyết áp cao, bệnh mỡ bọc tim.

Cách dùng: Uống: đun thành thang hoặc cho vào viên hoàn. Dùng bên ngoài đun nước mà rửa hoặc đắp chỗ đau.

Kiêng kị: Tỳ yếu hay đi ngoài lỏng thì không nên ăn nhiều vừng.

Chữa trị:

1. Gan, thận yếu, mắt mờ, da mờ, táo bón: Lá dâu tằm (phơi sương bỏ cuống, phơi khô), vừng đen (rang) lượng bằng nhau. Xay thành bột, luyện với mật ong làm viên hoàn. Ngày ăn hai lần. Mỗi lần 6-9g. Có thể ăn lâu dài.

2. Người đẻ thiếu sữa: Vừng đen rang chín giã nhỏ, cho thêm tí muối; Hoặc vừng đen 250g rang chín giã, nấu chân giò lợn nhừ mà ăn với vừng. Ngày ba lần, mỗi lần 16g.

3. Trĩ sưng đau: Vừng đen đun kỹ đem rửa chỗ đau.

4. Bị côn trùng cắn: Vừng đen xay nhỏ đắp ngoài.

5. Trẻ con đầu bị chốc: Vừng đen sống xay thành cao đắp vào chỗ đau. Vừng trắng có thể dùng chữa được.

6. Nhuận phế giải phiền, trơn ruột thông tiện: a/ vừng trắng 60-90g đun thành canh, cho thêm mật ong vừa lượng mà ăn; b/ vừng, táo tàu mỗi loại 60g, hạnh nhân 15g, ngâm nước sau đánh nhuyễn đun chín cho thêm đường mà ăn.

7. Dạ dày tiết nhiều chất chua: Vừng đen đủ lượng rang lên nhấm ăn.

8. Lao phổi: Vừng, nhân hạt óc chó mỗi thứ 250g cùng giã nát cho thêm mật ong khoảng 250g, đánh đều làm viên. Mỗi viên khoảng 9g. Mỗi ngày ba lần. Mỗi lần một viên.

9. Tuổi già ho hen: Vừng 250g (rang), gừng sống 125g (ép lấy nước bỏ bã), dỉ đường, mật ong 125g (trộn đều nhau). Trộn vừng và nước gừng với nhau đánh đều, đem nấu một lần nữa. Sau khi nguội, trộn với dỉ đường và mật ong cho đều, bỏ vào lọ dùng dần. Ngày hai lần, mỗi lần một thìa canh. Uống với nước sôi vào sáng và tối.

10. Trẻ con biếng ăn: Vừng rang, nhị sửu rang mỗi thứ 30g, giã bột trộn cơm cho trẻ ăn. Trẻ một tuổi mỗi lần 1,5g. Cứ lớn hơn một tuổi thì thêm 1g.

11. Đầu sớm bạc, tóc khô: Vừng, hà thủ ô (đã chế biến) lượng làm bằng nhau cùng xay thành bột, thêm mật ong vừa đủ quấy đều làm hoàn. Mỗi viên 6g. Ngày ba lần, mỗi lần một viên. Ăn sau khi ăn cơm. Dùng liền mấy ngày.

12. Yếu sau khi ốm dậy, táo bón đau bụng chân tay yếu: Vừng đen rửa sạch, sẩy sạch, hong khô, rang chín, giã nhỏ, cho thêm mật ong đủ lượng quấy đều. Ngày ăn hai lần. Mỗi lần 10g. Dùng liên tục.

13. Bí đại tiện: Vừng 150g, ruột quả óc chó 100g, đun chín đánh nhuyễn mà ăn, ngày một lần.

14. Đi ngoài ra máu: Vừng, đường đỏ lượng bằng nhau. Rửa sạch vừng phơi khô rang vàng cho vào đường trộn đều. Ăn tùy thích.

15. Chống suy lão: Vừng (rang), bột phục linh, lượng bằng nhau. Dỉ đường vừa đủ, đun cho chảy ra, cho vừng và bột phục linh đánh đều, làm thành cục nhỏ. Mỗi cục 30-40g. Sau khi ăn sáng thì ăn một miếng. Có thể sao vàng vừng lên, giã thành bột cho phục linh và đường vào, luyện với mật ong. Mỗi lần dùng 20-30g.

16. Ho khan: Vừng đen 120g, đường trắng 30g, rang lẫn để ăn.

17. Viêm khí quản mạn tính: vừng 100g, gừng sống 50g cùng giã nát, vắt lấy nước. Uống đều.

18. Huyết áp cao: Vừng đen, đậu xanh với lượng bằng nhau. Đem rang, nghiền bột. Mỗi ngày hai lần, mỗi lần 50g. Uống với nước.

19. Động mạch bị cứng, bệnh tim bị bọc mỡ: Vừng vàng, táo tầu có lượng bằng nhau. Đem vừng rang, giã nhỏ. Táo chín bóc bỏ vỏ và hạt. Đánh nhuyễn trộn với vừng thành viên hoàn. Mỗi ngày hai lần. Mỗi lần 6g, ăn liên tục.

(Theo sách Thức ăn Vị thuốc)



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
huyencam, nhuocthuy, minhdang, nguyenthuy, langduthegioitaba
Logged

Om mani pad me hum Hrid.
 
 
 
Ngọc Tú Lệ Phi
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 186

Cảm Ơn
-Gửi: 249
-Nhận: 574



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Năm 06, 2008, 07:25:40 PM »


( Mục 2 ) - Đừng nghĩ các loài hoa cúc là vô dụng nhé !

Để chữa đau đầu, lấy hoa cúc bách nhật, lá mùi tây (ngò tây) mỗi vị 5 g; ngải cứu 10 g; lá chanh, hương nhu mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang, dùng trong 5 ngày liền.

Các bài thuốc từ cúc bách nhật

Là loại cây thân thảo, sống lâu năm, trên thân phủ lông mềm, cao 25-55cm. Lá mọc đối, hình bầu dục. Hoa màu đỏ tía, họp thành khóm, dày đặc, dáng hình cầu. Theo Đông y, cúc bách nhật vị ngọt hơi chát, tính bình, tác dụng khử đờm, bình suyễn, tiêu viêm, chống ho. Nó được dùng chữa hen phế quản, viêm phế quản cấp hay mạn, ho gà, lao phổi, ho ra máu, đau mắt, đau đầu, chữa sốt ở trẻ em, khóc thét về đêm, lỵ. Liều dùng 9-18g, dạng sắc.

Hen phế quản: Hoa cúc bách nhật, tỳ bà điệp (lá nhót), bảy lá một hoa mỗi vị 6 g, quả nhót 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml nước thuốc sắc. Dùng 3 ngày liền.

Trẻ em khóc đêm: Hoa cúc bách nhật 5 g, xác ve sầu 3 g, cúc hoa 2 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 300 ml, uống 3 ngày.

Bạch cúc

Bạch cúc tức là cúc trắng, là loại thân thảo, mọc thành bụi cao 60-90cm. Lá hình xoắn. Ra hoa vào tháng 9-11 hằng năm.

Theo Đông y, bạch cúc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, tác dụng tán phong thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt. Liều dùng thông thường dưới dạng thuốc sắc là 9-15 g. Có thể dùng tươi: giã nhỏ đắp vào chỗ đau hay mụn nhọt, ghẻ lở.

Tăng huyết áp: Bạch cúc 10 g, hoa hòe 8 g, lạc nhân (đậu phộng) 3 g. Sắc uống ngày một thang, uống trong 10 ngày liền.

Hoa mắt chóng mặt: Bạch cúc, hoa thiên lý mỗi vị 10 g, ngải cứu 12 g; rau má, lá đinh lăng mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 5 ngày.

Đau đầu: Bạch cúc 9 g, hoa nhài 3 g, rau má 10 g, cúc bách nhật 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 3-5 ngày.

Kim cúc

Kim cúc còn gọi là cúc hoa vàng hay hoàng cúc; là loại cây thân thảo cao 0,8-1 m, chia nhiều cành nơi gần ngọn. Hoa mọc ở ngọn cây thành cụm có khi mọc hoa ở ngọn cành hay nách lá. Quả có mào lông thường vào tháng 10-12 hoặc kéo dài tới tháng 5 năm sau. Bộ phận dùng làm thuốc là quả, hoa kim cúc.

Đông y cho rằng kim cúc vị đắng - cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có sưng, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều...

Cảm mạo phong nhiệt: Kim cúc 20 g, củ sắn dây 15 g, lá dâu tằm 10 g, rễ cây lau 8 g; bạc hà, cam thảo mỗi vị 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần.

Đinh nhọt: Kim cúc, bồ công anh mỗi vị 30 g; từ hoa địa linh 20 g; kim ngân 6 g. Sắc uống vào lúc đói, ngày một thang chia 3 lần, uống 3 ngày liền.

Viêm tuyến vú: Kim cúc 20 g; kim ngân hoa, bồ công anh, cam thảo mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần cho đến lúc khỏi. Bên ngoài dùng lá kim cúc cùng hành, muối, giã nhỏ đắp nơi đau ở vú một lần trong ngày.


Cúc mốc


Cúc mốc còn gọi là nguyệt bạch, là loại cây thân gỗ nhỏ, nhiều nhánh, cành non, có lông trắng, cao 0,6-1 m. Hoa mọc ở nách lá, hoa cái mọc xung quanh, hoa lưỡng tính ở giữa. Hoa ra vào mùa xuân và kết quả vào tháng 1-3. Theo y học cổ truyền, cúc mốc vị cay, thơm, tính mát, không độc, làm tan màng nhầy, sáng mắt, trừ uế khí. Nó được dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam và nhiều chứng khác về huyết; chữa sởi, lở, ù tai, trị ho và làm thuốc điều kinh...

Chữa ho: Lá cúc mốc 15 g, lá húng chanh 20 g. Sắc uống ngày một thang trong 5 ngày.

Thổ huyết: Lá cúc mốc 15 g, cỏ nhọ nồi 5 g, lá huyết dụ 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần. Uống trong 7-10 ngày liền.

Điều kinh: Lá cúc mốc 20 g, lá ích mẫu 15 g, ngải cứu 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml.

Đầy hơi: Lá cúc mốc 15 g, hạt mít 10 g, vỏ quýt 8 g, gừng 3 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống thuốc lúc nóng.


Cúc vạn thọ

Là loại cây thân thảo mọc đứng cao 0,6-1m, chia nhiều cành. Lá xẻ sâu hình lông chim. Hoa mọc đơn độc hoặc tụ họp, màu vàng hay vàng cam, có đường kính 3-4 cm, cánh hoa nhỏ mỏng. Quả bế có từ 1-2 vẩy ngắn. Bộ phận dùng làm thuốc: hoa, lá, rễ.

Đông y cho rằng cúc vạn thọ vị đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng tiêu viêm, làm long đờm, trị ho. Lá cúc vạn thọ làm mát gan, phổi, giải nhiệt, chữa đau mắt, ho gà, viêm khí quản, viêm miệng, viêm hầu, đau răng; dùng đắp ngoài để trị viêm tuyến mang tai, viêm vú, viêm da mủ. Liều thông thường từ 10-15 g cho dạng thuốc sắc.

Ho gà: Hoa cúc vạn thọ 15 g, đường phèn 10 g. Sắc lấy 150 ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3-5 ngày.

Đau răng: Hoa cúc vạn thọ 5 cái, lá nhãn 5 lá, muối ăn chừng 15 hạt. Rửa sạch giã nhỏ chia 3 phần đều nhau, mỗi lần đặt một phần thuốc vào nơi răng đau. Còn hai phần ngậm thay đổi mỗi lần một phần.

Chữa đau mắt đỏ: Lá cúc vạn thọ 10 lá, lá dâu non 10 lá. Rửa sạch cho vào ca đổ nước sôi vào và xông hơi nơi mắt đau, để xa sau gần vì gần quá gây bỏng mắt hoặc sức nóng làm giãn mạch và các mao mạch căng vỡ. Ngày làm một lần trong 2-3 ngày.

Mụn nhọt chưa vỡ: Lá cúc vạn thọ 10 g, lá táo ta 15 g, muối ăn 10 hạt. Rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi đau. Ngày thay một lần.

Theo Sức khỏe & đời sống, VNE


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
huyencam, nhuocthuy
Logged

Om mani pad me hum Hrid.
 
 
 
Ngọc Tú Lệ Phi
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 186

Cảm Ơn
-Gửi: 249
-Nhận: 574



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Năm 06, 2008, 07:29:39 PM »



( Mục 3 ) - Ngôn ngữ của trà xanh và gừng để trị đau khớp xương , nhức mỏi và giảm mỡ.

Phương thuốc này là do một người bạn nghề taxi, đã thấy hiệu nghiệm và giới thiệu cho tất cả ai bị đau xương hay có chất mỡ trong cơ thể (cholesthérole).


1. Cách uống trà thé vert (trà xanh) với gừng tươi dã hay say ra, để chữa bịnh nhức mỏi (arthrose)(đau khớp xương) và giảm chất mỡ trong cơ thể (cholesthérole)

2. Lấy hai muỗng cà phê trà xanh, thé vert (trà xanh)

3. Nấu lúc đầu tiên nửa lít nước sôi (1/2 litre d'eau bouillante) vào bình trà, đợi hai phút ( attendre 2 minutes ), sau đó giữ trà lại va đổ nước trà đi, vì nước này có nhiều chất kích thích tương tự như caféine.

4. Giã hay say nghiền khoảng hai ngón tay gừng tươi và trộn với cốt trà và pha chung với một lít nước sôi ( écraser environ deux doigts de gingembre frais, mélanger avec du thé restant et mélanger le tout dans un litre d'eau bouillant)

5. Boire ce litre de thé vert+gingembre par jour, vous pouvez ajouter de l'eau bouillant si vous consommez plus du litre_ Uống một lít trà đó trong ngày. Nếu uống thêm thì chỉ cần thêm nước sôi.

6. Ngày hôm sau, phải bỏ trà ngày hôm trước, không được dùng lại và phải pha trà lại với trà mới và gừng mới.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
huyencam, nhuocthuy, KGLKD, minhdang
Logged

Om mani pad me hum Hrid.
 
 
 
BỌ XÍT
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 95

Cảm Ơn
-Gửi: 29
-Nhận: 134


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Năm 10, 2008, 01:41:23 PM »

Một số bạn đọc hỏi Báo Thanh Niên về những công dụng chữa bệnh của loại "nghệ đen"; và nhờ nhà chuyên môn hướng dẫn cách chế biến một số bài thuốc từ nghệ đen trong chữa bệnh...

- Trả lời: Trong y học cổ truyền, "nghệ đen" hiện diện trong một số phương thuốc chữa bệnh với tên gọi là "nga truật". Theo Đông y, nga truật có vị đắng, tính ấm, đi vào kinh Can. Nga truật thường được sử dụng trong các chứng rối loạn tiêu hóa, viêm loét bao tử, kinh nguyệt không đều... Sau khi người ta đào nga truật về và bào chế bằng cách rửa sạch đất, thái mỏng, phơi khô để sắc (nấu) uống, hoặc phơi khô xay bột để dùng dần, có khi tẩm giấm, sao khô để dùng...

Dùng nghệ đen trong bài thuốc trị ăn uống không tiêu, hay trướng bụng, ợ chua như sau: nga truật 12 gr, tam lăng 12 gr; trần bì (vỏ quýt) 6 gr; hương phụ 6 gr; la bặc tử 6 gr; sa nhân 6 gr; thanh bì 6 gr; chỉ xác 6 gr; hồ liên 4 gr; lô hội 2 gr; hồ tiêu 4 gr. Tất cả đem tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 4-8 gr, uống với nước ấm.

Nghệ đen được sử dụng trong bài thuốc trị đau bụng do bế kinh như sau: nga truật 6 gr; xuyên khung 6 gr; thục địa 12 gr; xích thược 6 gr; quy vĩ 6 gr; bạch chỉ 6 gr; hương phụ 6 gr. Tất cả cũng đem tán thành bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 6-12 gr với nước ấm. Hoặc có thể làm theo cách sắc uống - đem những vị thuốc trên nấu với 600 ml nước, nấu còn 200 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.

Ngoài ra, kinh nghiệm dân gian còn dùng nga truật tán thành bột uống với mật ong để chữa trị viêm loét bao tử cũng có hiệu quả. Nga truật còn được chiết xuất lấy dầu, được nghiên cứu hỗ trợ điều trị ức chế và phá tế bào ung thư gan...

Lương y Trần Duy Linh (TP.HCM)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, KGLKD, minhdang
Logged
 
 
 
quỳnh
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 146

Cảm Ơn
-Gửi: 117
-Nhận: 452



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 05:00:36 AM »

Nghệ này mua ở đâu có bán anh ?
Logged

Ăn chay- thả cá- tụng kinh -đi chùa !
 
 
 
KGLKD
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 26

Cảm Ơn
-Gửi: 23
-Nhận: 33


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Năm 15, 2008, 08:24:55 AM »

Thầy ra mấy hàng thuốc ở Hải thượng Lãn ông tìm , nhiều lắm .
Logged
 
 
 
Ladongtan
Moderator
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 71

Cảm Ơn
-Gửi: 220
-Nhận: 404


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Năm 22, 2008, 07:50:45 AM »

Chiêu này hay , phải thử. daydreaming
Logged
 
 
 
haiduong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 186

Cảm Ơn
-Gửi: 549
-Nhận: 1059



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Năm 24, 2008, 07:23:27 AM »



 

                       Thông thường chỉ số về mỡ trong máu của người trưởng thành như cholesterol toàn phần là từ 3,32 - 5,68mmol/lít và triglycerid từ 1,05 - 2,26mmol/lít là mức bình thường. Khi các chỉ số trên vượt qua ngưỡng này thì được coi là bị rôi loạn mỡ máu, hay nói đúng hơn đó là biểu hiện của tình trạng rối loạn chuyển hóa mỡ gây nên hiện tượng xơ cứng động mạch.

Các nguyên nhân gây nên tình trạng mỡ máu cao


Đó là do dùng nguồn cung cấp các thực phẩm nhiều dầu mỡ. Ngoài ra còn do yếu tố tinh thần như lao động trí óc quá căng thẳng v.v... Yếu tố nội tiết như kích thích tố ở tuyến yên, kích thích tố màng tuyến trên thận, tuyến giáp trạng, hormone giới tính v.v... đều ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa; Ví dụ khi chức năng tuyến giáp trạng bị giảm sút hoặc hormone tiết ra với lượng thấp hơn bình thường khiến lượng nội tiết không đồng đều về tỷ lệ cần thiết phải có thì lượng mỡ trong máu cũng bị tăng cao v.v...


Các Đông dược có tác dụng làm hạ mỡ máu


Ngày nay có nhiều phương pháp khác nhau để loại trừ lượng mỡ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Ở đây chỉ xin giới thiệu những phương pháp làm giảm mỡ máu bằng các Đông dược dễ tìm, giá thành rẻ, ai cũng có thể thực hiện được.


Làm giảm mỡ máu - giảm béo:


Dược liệu: Lá sen khô 60g, Sơn tra xanh, ý dĩ xanh mỗi loại đều 10g, lạc lá 15g, vỏ quýt 5g, lá chè 60g.


Cách làm và sử dụng: Các vị trên tán thành bột pha với nước sôi lấy nước uống thay trà trong ngày.


Tác dụng: Bổ lách, tiêu thấp, giảm mỡ, giảm béo, dùng chữa các chứng béo, hay chóng mặt, nhức đầu, mạch căng hay gặp trong mỡ máu cao.


Làm hạ mỡ máu cao, tăng tính đàn hồi huyết quản:


Dược liệu: Trà ô long (Trung Quốc) 3g, hoa hòe 18g, hà thủ ô 30g, vỏ bí đao (đông qua) 18g, ruột sơn trà 15g.


Cách chế biến: Các vị trên sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.


Tác dụng: Làm hạ mỡ máu, tăng tính đàn hồi của huyết quản, do vậy phòng ngừa được chứng mỡ máu cao và xơ hóa thành mạch.


Chữa chứng mỡ trong máu cao:


Dược liệu: Lá sen tươi 20g, xé vụn hãm 15 phút lấy nước uống thay trà. Nếu không có lá tươi, dùng lá khô 10g hãm lấy nước uống như trên.


Tác dụng: làm hạ cholesterol máu.


Chữa chứng mỡ máu cao:


Dược liệu: Vừng đen (mè) 60g, quả dâu 60g, đường trắng 10g, gạo tẻ 30g.


Cách bào chế: Giã nát vừng đen, quả dâu, gạo tẻ. Lấy nước đổ vào nồi đất, đun đến khi sôi thì cho đường trắng vào, chờ tan hết mới đổ từ từ 3 vị giã nát nói trên vào (không đổ nhanh, để nguội ăn giúp tiêu bệnh, khỏe người.


Tác dụng: Bổ âm, thanh nhiệt, hạ mỡ trong máu.


Làm hạ huyết áp - giảm mỡ máu:


Dược liệu: Mộc nhĩ trắng 20g, sơn trà thái lát 40g, đường trắng 1 thìa.


Cách chế biến: Mộc nhĩ trắng ngâm nước, lọc bỏ tạp chất. Ngâm với 3 bát nước trong 1 ngày để mộc nhĩ nở ra như tươi là được. Cắt thành miếng vuông nhỏ, cho vào nồi đất đun nhỏ lửa chừng 1 giờ mới đổ sơn trà và đường trắng vào, hầm tiếp 30 phút nữa, khi mộc nhĩ nhừ thì bắc ra để dùng.


Cách dùng: Ăn cả nước lẫn cái, ngày 1-2 lần, mỗi lần ăn một bát nhỏ (có thể ăn điểm tâm hoặc ăn trước lúc đi ngủ). Ăn hết trong 2 ngày với lượng trên. Sau đó nếu dùng tiếp thì mỗi ngày chỉ cần ăn với lượng bằng nửa của 2 ngày đầu là được.


Tác dụng: Bổ dưỡng huyết mạch, làm hạ huyết áp, giảm mỡ máu, mát phổi. Có thể dùng làm món ăn tẩm bổ cho bệnh nhân đang điều trị tim mạch.



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
minhdang, nhuocthuy
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.071 seconds với 25 câu truy vấn.