Tháng Mười 19, 2018, 08:05:03 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒  (Đọc 2791 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 02:36:09 pm »

(tt)

12.  Công đức của chơn tâm.


        Hữu tâm tu nhơn, chắc có công đức, vô tâm tu nhơn công đức làm sao có được? Hữu tâm tu nhơn có hữu vi quả, vô tâm tu nhơn hiển lộ tánh công đức. Vì các công đức này xưa nay vẫn đủ, nhưng do vọng tâm che lấp, nên nó không hiển lộ, nay trừ được vọng tâm, công đức sẽ hiện tiền, nên Vĩnh Gia tập nói: "Ba thân bốn trí, thể vẫn đủ, tám giải sáu thông an tâm địa." Đây chính là trong thể chơn như đủ các công đức.

Cổ nhơn cũng tụng: "Nếu người tịnh tọa trong giây lát, hơn tạo bửu tháp số hàng sa, bửu tháp rốt cuộc tan thành bụi, một niệm tịnh tâm chánh giác thành." Nên biết công đức vô tâm lớn vô cùng so với hữu tâm.

Vĩnh Liêu Hòa Thượng tham Mã Tổ: Ý chỉ của Tổ sư từ Ấn Độ sang thế nào? Bị Mã Tổ đạp ngã lăn, bỗng nhiên đại ngộ, đứng dậy múa tay cười lớn nói: "Lạ thay! Lạ thay! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa, chỉ trên đầu sợi lông, liền ngay đó biết được nguồn gốc." Liền làm lễ mà lui. Căn cứ vào sự kiện trên, thì công đức không phải tự ngoài mà vào, vốn nó vẫn có đủ.

Tứ Tổ gọi Lai Dung Thiền sư dạy: " Trăm ngàn pháp môn đều về một tất vuông (tâm), công đức như cát sông Hằng đều ở nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa đều tự mình có đủ, không gì ở ngoài tâm mình."

Căn cứ vào lời Tổ sư, vô tâm công đức rất lớn. Người ham công đức sự tướng, so với công đức vô tâm thực xa một trời một vực.

13.  Làm thế nào biết chơn tâm thành thục vô ngại

        Người học đạo khi được chơn tâm hiện tiền, nghiệm thấy tập khí chưa trừ xong, nếu gặp xúc cảnh, có khi mất chánh niệm, như chăn trâu, tuy trâu đã điều phục, dẫn đâu tùy ý, nhưng chưa dám bỏ dây và roi, phải để tâm coi chừng từng bước, không cho trâu dẫm đạp và ăn lúa mạ người. Đợi khi trâu thuần thục, không còn hại lúa mạ nữa, mới dám lõng tay. Đến địa vị ấy, người chăn trâu không cần roi và dây nữa, vẫn không hại lúa mạ.

Người tu, sau khi được chơn tâm, cần phải dụng công nuôi dưỡng, có lực dụng lớn, mới nên lợi sanh. Nếu muốn thí nghiệm chơn tâm, nên lấy cảnh tham ái sâu đậm trong đời sống, tưởng như nó ở trước mắt, nếu từ đó khởi lòng thương ghét là tâm đạo chưa thuần thục, nếu không sanh lòng thương ghét là tâm đạo đã thuần.

Tuy vậy, việc thuần thục này cũng chưa phải là tự nhiên, không khởi thương ghét, phải nghiệm lại tâm. Nếu khi gặp cảnh thương ghét, đột nhiên khởi lòng thương ghét, nếu nghiệm nhiều lần mà tâm không khởi nữa, là tâm được vô ngại. Như trâu trắng đi đường thẳng, không hại lúa mạ.

Đó là lúc công năng tu hành chơn tâm đã thành tựu.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, nguyenthuy, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 02:40:09 pm »

(tt)

14.  Sự vô tri của Chơn Tâm


        Chơn tâm và vọng tâm khi đối cảnh làm sao biết chơn vọng? Vọng tâm đối cảnh sanh ra hữu tri (có biết), biết chỗ thuận nghịch của cảnh rồi sanh lòng tham sân si. Như thế, trên cảnh mà khởi tâm độc là vọng tâm. Tổ sư nói: "Nghịch thuận tranh nhau đó là tâm bệnh." Như thế, đối đãi được và không được là vọng tâm. Chơn tâm là vô tri (không biết) mà biết, luôn luôn soi sáng, nên khác với cỏ cây, không sanh thương ghét, nên khác với vọng tâm. Đối với cảnh luôn luôn rỗng sáng, không ghét, không thương, không theo phân biệt, mà lúc nào cũng biết gọi là chơn tâm. Triệu Thiền sư nói: Thánh tâm là triệt để mầu nhiệm, không có tướng mạo, không thể có, lúc ứng dụng di động không thể không, vì không phải có nên biết mà không biết, vì không phải không nên không biết mà biết. Đây là dùng không biết mà biết, nên không thể nói khác với tâm Thánh nhân được. Lại nữa, vọng tâm ở có chấp có, ở không chấp không, thường ở hai bên, không biết trung đạo. Vĩnh Gia tập nói: "Bỏ vọng tâm lấy chơn lý, tâm còn lấy, bỏ thành dối trá, người nay không hiểu dùng tu hành, rõ ràng nhận giặc làm con quý." Chơn tâm ở chỗ có không mà không rơi vào có không, thường ở nơi trung đạo. Tổ sư nói: "Không đuổi hữu duyên, đừng trụ không nhẫn, một hướng bình đẳng, tự nhiên dứt sạch." Triệu Thiền sư nói: "Chỗ của Thánh nhơn ơ, có mà không có, ở chỗ không mà chẳng không, tuy không chấp hữu vô mà không bỏ hữu vô, vì thế hòa ánh sáng vào chốn trần lao, khắp trùm năm nẽo, lặng lẽ mà qua lại tự do, nói không làm mà không có chỗ nào là không làm. Đây chính là Thánh nhân ứng hiện năm đường tiếp dẫn chúng sanh, tuy qua lại mà không có tướng qua lại. Vọng tâm thường nhiễm nên cùng chơn tâm không đồng."

        Chơn tâm là tâm bình thường, vọng tâm là tâm không bình thường. Tất cả mọi người chúng ta đều có tánh linh minh, lặng lẽ như hư không, trùm khắp cả chỗ, đối với tục đế, giả danh là lý tánh, đối với vọng thức, quyền hiệu là chơn tâm, dù ở tục hay chơn mảy may không khác. Chơn tâm gặp duyên không mê muội, không có một niệm lấy bỏ, gặp vật đều yên, không đuổi theo muôn cảnh, dù có ở trần cũng chẳng nhiễm, vẫn lìa đương xứ, vẫn lặng lẽ bình an, muốn tìm nó thì không thể thấy, chỉ khéo nhận ra, đó chính là chơn tâm bình thường.

        Tâm chẳng bình thường vì có thánh phàm, nhiễm tịnh, cảnh có đoạn thường, lý sự, cảnh có sanh diệt, động tịnh, tới lui, cảnh có tốt xấu, thiện ác, nhân quả, luận cho kỷ có ngàn sai muôn khác. Những cảnh kể trên được gọi là cảnh không bình thường. Tâm theo cảnh chẳng bình thường mà sanh, sẽ theo cảnh không bình thường mà diệt, tâm không bình thường này, gọi là vọng tâm. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có nhơn khác, tại sao Phật lại nói nhân quả báo ứng làm gì? Vọng tâm chạy đuổi theo mỗi thứ cảnh giới, không hiểu các cảnh, theo đuổi khởi ra các thứ tâm. Vì chơn tâm không chạy đuổi các thứ cảnh và không khởi các thứ tâm, nên Phật không nói một pháp. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có sanh khởi sao? Chơn tâm có khi hiện diệu dụng, không phải chạy theo cảnh mà sanh, không mê muội nhơn quả.
 
15.  Chỗ nương gá của chơn tâm


        Người chưa đạt chơn tâm, do tâm mê, nên làm những nhơn thiện ác, do gây nhơn thiện, sanh về cõi thiện, do gây nhơn ác, sanh về cõi ác, theo nghiệp thọ sanh, lý đó không còn gì nghi. Nhưng người đạt chơn tâm, vọng tình đã cạn, khế chứng chơn tâm, không còn nhơn thiện ác, như thế, thần thức sẽ nương gá về chỗ nào? Chúng ta đừng cho rằng, người có chỗ nương gá tốt hơn người không có chỗ nương gá, vì người ta quan niệm rằng: người không có chỗ nương gá, như những chàng lãng tử nổi trôi, như cô hồn không nơi nương tựa, vì vậy nên họ mới hỏi để tìm chỗ nương gá. Thực ra, người đạt tánh không phải thế, vì tất cả chúng sanh mê tánh giác, mê tình ái, nhờ kết nghiệp làm nhơn, sanh vào trong sáu nẻo, chịu quả báo thiện ác. Như gây nhơn thiện, cao nhất chỉ được quả Trời, trừ việc thích nghi với chỗ sanh, ngoài ra không được thọ dụng thêm vật gì! Các nẻo đều như thế vì bị nghiệp lực sai sử trói buộc. Chỗ sanh thích hợp cho là vui, chỗ sanh không thích hợp cho là không vui, nơi sanh hợp với chỗ mình nương gá, nếu có vọng tình thì có vọng nhơn, nếu có vọng nhơn thì có vọng quả, có vọng quả thì phải có chỗ nương gá, có chỗ nương gá thì sanh ra tâm bỉ thử, sanh bỉ thử thì có chỗ được và không được.

Người đạt chơn tâm, khế hợp với giác tánh vô sanh diệt, khởi diệu dụng vô sanh diệt. Từ thể sanh dụng, dụng tức là thể, làm sao có sanh diệt. Người đạt chơn như là chứng chơn thể, thì sanh tử nào có can hệ gì? Như nước lấy tánh ướt làm thể, sóng làm dụng. Tánh ướt vốn không sanh diệt, sóng ở trong tánh ướt, làm sao có sanh diệt. Sóng không thể rời nước mà có, do đó, nguồn gốc của sóng vốn không sanh diệt. Vì thế, Cổ nhơn nói: 'Tất cả người trong đại địa đều là Sa môn đắc đạo, tất cả đại địa đều là già lam, đó chính là chỗ an thân lập mạng của người ngộ đạo".

Người đã đạt chơn tâm, bốn đường sáu nẻo đồng thời tiêu diệt, núi sông đại địa đều thật chơn tâm. Không thể lìa chơn tâm mà có chỗ nương gá được. Nếu không có vọng nhơn tam giới, chắc không có sáu nẻo vọng quả; vọng quả đã không, làm gì có chỗ nương gá, bỉ thử; bỉ thử đã không làm sao có được và không được, lúc ấy mười phương thế giới chỉ có chơn tâm, thọ dụng toàn thân không có chỗ nương gá, trong lúc thị hiện, tùy ý vãng sanh, không chỗ chướng ngại. Nên trong truyền đăng lục, Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong: Người ngộ chơn tâm, đến khi mạng chung, nương gá vào chỗ nào? Tất cả chúng sanh đều có đủ giác tánh linh minh, cùng Phật không khác, nếu ngộ tánh ấy chính là pháp thân. Pháp thân vốn vô sanh, đâu có chỗ nào để nương gá. Tánh linh minh không tối, thường biết rõ ràng, không từ đâu đến, không đi về đâu, chỉ lấy không tịch làm tự thể. Đừng nhận lầm sắc thân làm linh tri, rồi chạy theo vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi, ta không chạy theo, khi lâm chung, nghiệp không thể trói buộc. Tuy có trung ấm thân mà chỗ muốn đến được tự do, trên trời dưới đất, theo ý mình muốn mà đến. Đó là chơn tâm qua lại tự do, tùy ý nương gá.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, nguyenthuy, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 02:43:52 pm »

(tt)

4.- DIỆU  PHÁP GIẢI THOÁT CỦA QUAN ÂM THIỀN TỰ
(Úc Châu)


Những pháp tu nói trên, về mặt lý thuyết rất hay, lý luận không có gì sai, nhưng về mặt thực hành thì chắc « khó đạt kết quả thực sự ». Vì sao ?

Vì tất cả chỉ là những “lời lẽ suông”, ai muốn hiểu sao thì hiểu, tự nghĩ ra cách thức dụng công rồi kết quả thế nào thì mặc tình “trăm hoa đua nở”.


Đây là căn bệnh chung của kinh sách xưa nay, không có sự trình bày “kỹ thuật cụ thể” nên dẫn tới “những hậu quả không lường”.
Nay, Quan Âm Thiền Tự chúng tôi hướng dẫn huynh đệ thực hành một cách cụ thể, chắc chắn “Diệu pháp giải thoát” như dưới đây:-

A.- Thực hành diệu pháp:-

Làm thế nào để Tâm Linh chúng ta có thể sản sinh ra thứ năng lực trí tuệ to lớn để tạo phúc lợi cho chúng sinh ?
Trong Kinh PHÁP BẢO ĐÀN, Đức LỤC TỔ đã có lời khai thị rất rõ ràng chính xác rồi. Muốn được trí năng đó, chẳng cần phải lễ lạy cầu nguyện, luyện tinh, khí, thần hay uống linh đơn …gì gì cả, mà chỉ cần :

      “Tà chánh tận đả khước,
      Bồ Đề tính uyển nhiên”


(Niệm tà niệm chánh đều bỏ dứt, tính Bồ Đề sáng tỏ)


  Như thế, muốn ngộ Đạo phải làm công phu ngay ở nơi Tâm, trừ bỏ toàn bộ niệm tà hay niệm chánh, khiến cho tâm linh sáng rỡ như gương, như trời quang mây tạnh. Ngay lúc đó, vật báu vô giá trong vũ trụ nầy, đã thuộc về quí vị rồi !

   Có người hiểu méo mó hai chữ “đả khước”(dẹp bỏ dứt) là “đả tảo” (quét dọn), cho nên chủ trương : “Phật đến thì quét Phật, Ma đến thì quét ma” bận bịu trong chỗ RƠI VÀO KHÔNG suốt cả mấy mươi năm trời, chưa tùng thấy được tính Bồ Đề, mà đã chui thân vào mồ lạnh !.

   Cái sai lầm nghiêm trọng bậc nhất ở chỗ, tạp niệm (=vọng tưởng) trong Tâm Linh KHÔNG HỀ Sợ quét dọn, mà chỉ Sợ SỰ HẤP THU (thu hút). Do đó, nếu quí vị nhắm hai mắt lại, mặc niệm 4 chữ : A DI ĐÀ PHẬT ở trong tâm, mỗi tiếng khoảng một giây, liên tục không gián đọan, lại chú ý nhìn chăm chăm vào ĐIỂM NIỆM PHẬT ở trong Thân (ngực bên trái), tất cả những Tâm Ngữ  khó khống chế kia liền bị thu hút bởi câu mặc niệm trên, không còn bỏ sót chút tạp niệm nào !

   Tác dụng của mặc niệm không gián đoạn, là để hấp thu tẩy rửa, giải độc Vọng-tưởng Tạp-niệm. Dù là người sơ căn sơ cơ, lần thứ nhất áp dụng phương pháp nầy, cũng chỉ cần năm phút dụng công đúng cách, là đạt được Nhứt Tâm Bất Loạn ngay.

   Khi thực hành pháp nầy cần tuyệt đối :

1.-Nhắm hết hai mắt, nếu không, câu mặc niệm không vào được sâu trong tâm
2.-Mặc niệm liên tục, mới gây tác dụng chẳng dứt của câu niệm.
3.-Mặc niệm không nhanh không chậm, mỗi tiếng khoảng một giây. Chậm thì bị Vọng xen, nhanh thì không hấp thu hết Tạp niệm.
4.-Không được lần chuỗi để tránh bị phân tâm, làm sao cho sức tâm chảy đúng vào biển TA BÀ HA.
5.-Dùng tâm nhãn (con mắt tâm) chăm chăm chú ý vào ĐIỂM NIỆM PHẬT, khiến cho Định Huệ cân bằng nhau.

Làm đúng như vậy, nhất định chẳng bao lâu sẽ được Ý GIẢI TÂM KHAI (tâm mở ra ý được cởi trói) một sự an lạc tuông trào không ngớt trong tâm, không cách chi ngăn nó được !



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, nguyenthuy, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 02:49:16 pm »

(tt)

  B.-THẾ NÀO LÀ “KHU XÁC QUAN NIỆM”? (軀殻觀念)


         (QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC)

*****

   Tâm con người cũng giống như tròng con mắt, không thể chấp nhận bất cứ một vật gì trong đó dù quý giá như mạt vàng, bụi ngọc, cũng phải loại bỏ sạch mới yên ổn.

   -Khi câu niệm Phật đã đạt MỘT NIỆM (=Nhất Tâm Bất Loạn), dù là rất quý, nhưng vẫn còn mắc kẹt ở chỗ :

         “Một đoá mây trắng che ngang miệng hang
         Bao nhiêu chim bay mờ mịt tổ”


      (Nhứt đóa bạch vân hoành cốc khẩu, kỷ đa phi điểu tận mê sào)

   - Do đó, phải tiến lên bước nữa, bỏ cái MỘT NIỆM kia đi để vào cảnh giới chân thường, tức là tiến vào Tổng Cơ Quan Ao Bí Của Vũ Trụ vạn vật.

   -Việc biến đổi trạng thái, từ chỗ tạp niệm lăng xăng lộn xộn trở thành ra Vô Niệm, là một ải quan cực kỳ quan trọng và rất khó khăn. Từ xưa cho đến nay, trong và ngoài nước, muôn muôn ngàn ngàn người thực sự muốn tu hành, đều bị “hao binh tổn tướng” nơi cửa ải nầy. Biết bao người đã hao phí rất nhiều tâm lực, mà vẫn không vượt qua được, nghĩa là không sao dừng bặt được tâm cuồng (tâm vọng tưởng). Thế rồi, có người thất vọng, xoay về tu theo TỊNH ĐỘ để vớt vát, tay lần chuỗi, miệng niệm Phật, cầu Đức PHẬT DI ĐÀ thương xót, giúp đỡ, để đến lúc trút hơi thở cuối cùng, được Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Và cũng có lắm kẻ bỏ PHẬT luôn!

   -Từ Vũ Trụ Tương Đối (vũ trụ cảm giác) muốn tiến vào Vũ Trụ Tuyệt Đối (Vũ trụ Tri Giác) nếu như không có được Pháp tu đúng và tốt, thì hẳn là một tấc không đi, một li không nhóm bước. Nghĩa là, những vọng tưởng tạp niệm liên tục hiện ra trong tâm linh, tất cả đều là bóng dáng của 6 trần : Sắc, Thanh, Hương, Vị, xúc và pháp. Nào núi sông, đất lớn, trời, trăng, sao, mây, nước… nối nhau hiện ra. Đúng là những thứ quái ác đáng ghét, những vị khách không mời mà đến, kết tụ đan xen thành mảng lưới vô hình to lớn, trói buộc ta vào biển khổ Luân hồi. Chẳng lẽ nào chúng ta đành bó tay cam chịu thua nó hay sao ?

   Muốn phá toang mảng lưới lục trần trên bề mặt tâm linh nầy, ta phải biết khéo léo vận dụng một công cụ rất đổi thường tình, nhưng vô cùng hiệu quả là tấm thân bảy thước nầy.

   Quí Vị ngạc nhiên ư ? Bao người từng than thở rằng, muốn trị được bất kỳ bộ phận nào của thân thể, hiện nay và tương lai sắp tới, đã có đủ các phương tiện, dụng cụ y khoa để xử lý điều trị nhanh chóng, hiệu quả; còn muốn trị được bệnh của tâm linh, thì hiện nay tìm đỏ mắt, cũng chưa ra thứ nào công hiệu thật sự !

Đâu đã đến nông nổi thế! Nếu như Quí Vị bình tâm lại, bớt nóng vội đã, liền thấy ngay món công cụ trị liệu miễn phí mà cha mẹ đã cho không quí vị, ta sẽ mượn giả để tu chơn. Quả thật, nếu chúng ta muốn thực tâm cầu dạo Giải Thoát, không thể thiếu công cụ trị liệu nầy được.

Tôi xin nói ngay để quí vị đở sốt ruột, công cụ ấy là “KHU XÁC QUAN NIỆM”(=Quan Niệm về thân xác), một thứ thường thức, chẳng những bình thường mà lại hết sức tầm thường; nhưng dùng đúng lúc, đúng chỗ, lại trở thành vô cùng phi thường, có thể xé toang mảng lưới LỤC TRẦN nói trên.

-Có rất nhiều ngưòi viết thư hỏi về cứu cánh của cái gọi là QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC đó, vì thuật ngữ nầy rất xa lạ, chưa từng thấy xuất hiện trong Phật Học ?   

Khu xác quan niệm là một vỏ từ mang những thuộc tính nội hàm như sau :

1.- Trong thân máu thịt không thể Niệm Phật.
2.- Trong thân máu thịt không thể có Tự ngôn Tự Ngữ (=vọng tương tạp niệm)
3.- Trong đó phải tuyệt đối tỉnh chỉ (=im lặng), vì nó thuần là vật chất, tương tự như gỗ đá mà thôi.


Chúng ta lợi dụng Quan Niệm Về Thân Xác nầy, để dẫn phát ra KỲ TÌNH, là thứ thuốc đặc hiệu, một Phật-dược chuyên trị tâm bệnh (Tạp niệm). Bất kể chúng là “Vô Minh sinh cùng lúc với thân”, hoặc đáng sợ hơn, gọi là “áo đẫm mồ hôi dính sát mình”(triêm thể hãn sam) v.v… gì gì đi nữa, khi đụng vào Quan Niệm Về Thân Xác nầy, đều lập tức như nước sôi tan đá tuyết, đèn pha quét sạch bóng tôí. Dù Vô Minh thô lớn, hay vi tế như sương mỏng khói nhạt, chắc chắn đều biến mất tất cả.

Khi tâm Linh quí vị, thoát khỏi được sự khống chế những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (vọng tưởng tạp niệm), liền được trở lại trạng thái chính thường. Lúc ấy, quí vị đã NGỘ ĐẠO và sau đó sẽ tiếp tục CHỨNG ĐẠO.
                        
NGỘ ĐẠO, Thiền Tông đã dùng một thuật ngữ khác là KHAI NGỘ. Thuật ngữ nầy phát sinh có lẽ do vì quan niệm truyền thống đối với ĐẠO quá phức tạp, cầu ky, khó hiểu; rất khó cho việc nhận định chính xác về NGỘ ĐẠO.


Ngộ Đạo chân chính phải là :TÂM ĐIÊN CUỒNG DỪNG BẶT TỨC KHẮC.


Từ vô thủy đến nay, tâm linh chúng ta lăng xăng lộn xộn, chưa từng được nghỉ ngơi thực sự bao giờ. Khi nào trải qua thời gian công phu tốt, đúng cách, tâm linh hoàn toàn dừng bặt những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm) không hơi không tiếng kia, dứt hẳn “ồn ào náo nhiệt một cách âm thầm” trong Tâm Linh, từ 5 phút đến khoảng một tiếng đồng hồ thì mới thực sự được gọi là NGỘ ĐẠO .(nhưng phải nhắm mắt nhìn thật kỹ vào trong tâm để kiểm tra thành thật). Lúc đó, ta sẽ không còn thấy hình bóng, câu nói nào (của muôn vật) lăng xăng, lộn xộn trong Tâm Linh, biết rõ chính đây là nguồn gốc chung của muôn vật (tổng căn nguyên vạn vật).
Nếu quí vị được trạng thái như thế rồi, quí vị đã vào được lĩnh vực BIẾN CẢI MUÔN VẬT và chắc chắn sẽ SÁNG TẠO ĐƯỢC MUÔN VẬT.



HẾT


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, nguyenthuy, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 02:57:45 pm »



DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT

(xin học thuộc lòng)

Diệu Pháp Giải Thoát gồm có hai bước khắng khít : bước một là pháp nhiếp niệm, bước hai là pháp hóa niệm.


Thực hành bước một khoảng ba tháng, cảm thấy trong tâm không muốn mặc niệm danh hiệu Phật nữa, chuyển sang bước hai.Qui vị mới bắt đầu xin nhớ thật kỹ, không thể cùng lúc dùng hai thứ đâm ra rối loạn, chẳng được kết quả gì.


1.   Pháp nhiếp niệm (pháp tiêu nghiệp)

Tức nhiếp muôn niệm thành một niệm. Cũng là thu hút, thống nhất, chiếm lĩnh, cải tạo, tẩy rửa, trị liệu, tịnh hóa những tạp niệm trong tâm linh.

Phương pháp như sau:Nhắm hai mắt vừa khít, mặc niệm trong tâm bốn chữ “Quan Âm Bồ Tát” (hoặc thánh hiệu khác), mỗi chữ một giây đồng hồ. Không động môi, không quán tưởng, không nhớ Phật, không lần chuỗi, không gián đoạn, thu hút và tẩy rửa những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ không tiếng không hơi trong tâm linh.

Vừa mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, vừa chú ý tìm xem “điểm niệm Phật” ở chỗ nào ? Lúc đầu khó nhận ra, sau nước tâm hơi lóng trong sẽ thấy rõ điểm niệm Phật này trong thân một cách chắc chắn. Dù không nghe tiếng, chẳng thấy hình nó nhưng không thể nào phủ nhận cái điểm niệm Phật trong thân này được.

Lại tiếp tục mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, lại vừa chú ý vào điểm niệm Phật này, chăm chăm như mèo rình chuột vậy. Nếu thấy điểm này di động đến đâu, sức chú ý cũng chuyển sát theo đến đó. Như vậy, kiến phần (sức chú ý) và tướng phần (điểm niệm Phật) sẽ cân đối tác dụng với nhau, chẳng bao lâu liền được tâm mở ra ý cởi trói (ý giải tâm khai).

Cũng có trường hợp người dụng công trước sau vẫn không tìm thấy điểm niệm Phật một cách rõ ràng, cũng chẳng hề gì. Cứ không ngừng mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, tẩy rửa tâm linh, trong ba tháng nhất định được an lạc.

Nếu không nhắm hai mắt hoặc dùng miệng niệm Phật, thánh hiệu sẽ không đi sâu vào trong tâm. Còn nếu ngừng mặc niệm thì thánh hiệu trong tâm mất đi. Cả hai đều không đem lại kết quả.

Người mới bắt đầu, mỗi lần dụng công không nên lâu quá nửa giờ, mỗi ngày tổng cộng thời gian công phu không ít hơn hai giờ nhưng không được quá ba giờ. Giờ nào ngồi cũng được, không kể Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu gì cả. Tư thế ngồi nào cũng được miễn đạt yêu cầu thoải mái và ngồi được lâu là tốt.

Không được cong lưỡi để lên nóc giọng, không bắt ấn hoặc để tay trên đầu gối. Những thứ phụ tùng như mắt kính, đồng hồ đeo tay, dây chuyền, đồ trang sức… nếu cảm thấy trở ngại cho việc dụng công, thì nên tháo cất hết. Mục đích tránh đi những dính mắc, quấy nhiễu của thân để tâm hoàn tòan an ổn trong khi công phu.



2.   Pháp hóa niệm (pháp chứng vô sanh)


Sau khi qua bước một, nhiếp muôn niệm về một niệm, tức là đã vào được cảnh giới nhất tâm bất loạn.

Nhưng tâm linh cũng giống như tròng mắt, dù lọt cát vàng bụi ngọc trong đó, cũng phải loại bỏ mới thật an ổn. Do đó, phải tiến thêm một bước thứ hai, dùng pháp hóa niệm để chuyển hóa nhất tâm bất loạn thành vô niệm, tức nhập vô sanh nhẫn.

Kinh nghiệm lúc dụng công cho thấy, khi trong tâm còn mặc niệm thánh hiệu, gom muôn niệm thành một niệm được rồi, nhưng khi dừng mặc niệm, bỏ rơi chỗ níu giữ, muôn niệm lại tiếp tục nổi lên. Do đó, tâm linh rơi vào trạng thái giữa muôn niệm và một niệm, giao xen lẫn nhau, khó tiến sang trạng thái vô niệm. Vì thế, phải dùng pháp hóa niệm mới có thể khiến tâm linh trở lại chính thường, vào diệu cảnh vắng lặng tròn đầy.


Phương pháp như sau:

+   Mọi người đều biết, thân thể chúng ta là vật chất vì nó làm thành do máu thịt. Đã là vật chất thì nó phải tuyệt đối im lặng, tuyệt đối không thể biết niệm thánh hiệu. Nhận thức rõ ràng chắc chắn như vậy rồi, khi nhắm mắt mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, phát hiện trong thân có điểm niệm Phật, liền cảm thấy lạ lùng. Tại sao trong thân đáng lẽ không có cái đó mà nay thực tế lại có, thật chẳng thể nghĩ bàn. Đang lúc cảm thấy kỳ lạ như vậy, ngưng mặc niệm, tạp niệm không thể nổi lên nữa, vì bấy giờ tâm linh đã bị những cảm giác thú vị chiếm lĩnh nên không tái phát tự ngôn tự ngữ được.

+   Hoặc chúng ta không mặc niệm thánh hiệu, chỉ nhắm mắt chú ý trong thân, thật lạ lùng, trong thân thể máu thịt thuần vật chất này phải tuyệt đối im lặng, thế mà rõ ràng hiện nay trong đó có những thứ tự ngôn tự ngữ, trùng điệp không ngớt, quả thật thú vị vô cùng. Đang lúc ta cảm thấy thú vị này, trong tâm linh liền “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền” rồi.


Trường hợp nếu bạn không thể phát hiện được trong thân thể có những thứ tự ngôn tự ngữ, hoặc do “nước tâm” chưa trong, hoặc vì “con mắt tâm” (tâm nhãn) chưa sáng. Cách giải quyết là phải kiên trì ngồi tiếp, dùng thời gian đổi lấy sự xuất hiện của nó.

+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân thể những thứ tự ngôn tự ngữ không hơi không tiếng, nó đang nói gì thì nhại theo nó để nói. Thí dụ nó đang chữi người, ta theo nói chữi người; nó đang ca hát, ta theo nói ca hát. Chỉ cần nói theo nó một vài câu, nó liền không tái phát nổi cuồng nữa. Trong tâm linh hoàn tòan vắng lặng, bạn thấy được Chân Như rồi.

+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân máu thịt đang tán hươu tán vượn gì đó. Những điều nó nói đó, nhiều cái ta đâu muốn nói, thậm chí không cho phép nó nói, thế mà nó cứ nói ngay trong thân thể này, chẳng phải là kỳ lạ lắm sao? Đang lúc chúng ta cảm thấy kỳ lạ, nó liền không thể tiếp tục nói, tâm linh lại được an tịnh, bạn đã ngộ được thanh tịnh pháp thân.

+   Hoặc đang lúc nhớ lại thân thể vật chất phải tuyệt đối im lặng, lại nhắm mắt chú ý nhìn vào trong thân, phát hiện ra những bóng dáng lăng xăng, liền cảm thấy khó hiểu; nếu có nói thêm những thứ tự ngôn tự ngữ thì càng khó hiểu thêm vì nó xảy ra ngoài ý muốn. Trong thân thể đâu có chứa những thứ này, vậy nó ở đâu hiện ra đây? Thật quái gở quá! Ngay lúc bạn thấy quái gở, tạp niệm liền bị tiêu diệt, bạn vào được thành Niết Bàn rồi.

Nếu bạn phát hiện trong thân có những thứ tự ngôn tự ngữ mà không cảm thấy thú vị, là vì hoặc hiểu biết về thân xác chưa thật đủ mạnh, hoặc thuộc loại tê mất cảm giác. Phải cố gắng duyệt lại từ đầu, dùng thời gian kiên trì thu đổi kết quả.

+   Nếu tạp niệm trong tâm linh chỉ còn như sương mỏng khói nhẹ, lảng vảng không tan, sửa lại dùng pháp nhiếp niệm, niệm ít câu thánh hiệu, thu hút và tẩy rửa cho hết những tạp niệm tàn dư đó. Kế dừng mặc niệm, tâm linh lại rỗng rang không một vật, thấy được Bản Lai Diện Mục.

+   Nếu biết tâm linh đã vô niệm, phải ngưng sử dụng bất cứ phương pháp nào để tâm linh nghĩ ngơi thoải mái, đừng khởi mong cầu được vô niệm lâu dài. Chắc chắn nó sẽ tái khởi niệm, có hy vọng cũng bằng thừa. Tốt nhất là dụng công thêm nhiều nữa.
Pháp hóa niệm giúp bạn đạt được vô niệm từng lúc trong tâm. Chúng ta phải nỗ lực thêm để giúp tăng gia khuếch đại số lần vô niệm, nối các điểm vô niệm thành đường vô niệm, thành mặt phẳng vô niệm và thành khối thể vô niệm. Lúc ấy bạn đã là Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn đủ cả mười danh hiệu rồi.

Những điều cần chú ý

Mục đích tối thượng duy nhất của chúng ta là được tâm linh vô niệm, tức là tiêu diệt sạch sẻ những tâm ngữ ồn ào mất trật tự nằm sâu trong tâm chúng ta. Ngoài mục tiêu đó, những thứ khác không quan hệ gì đến tâm linh vô niệm thì không đáng giá một xu. Do đó, nếu có bất cứ huyễn giác hay thác giác nào, cũng đều không thèm lưu ý đến nó.

Huyễn giác, như thấy Tiên thấy Phật giáng lâm, nghe nhạc trời nổi dậy, thấy khắp thân tỏa hào quang, thân có mùi hương hoặc hương thơm tứ phía; hoặc nghe tiếng khóc, ma quỷ rên rỉ, hoặc nằm mơ thấy lành, dữ… Nói chung là tất cả cảnh vật vui buồn mà không có vật thực, nguyên nhân thực tạo ra, dù hiện ra lúc nào, ở đâu đều chẳng thèm để ý gì cả.

Thác giác là nhìn lầm vật thực, như thấy gốc cây cho là người, là ma quỷ; thấy sợi dây tưởng là con rắn; thấy khối đá cho là cọp; tiếng gõ cửa cho là tiếng chuông; tiếng gió hú cho là thần kêu quỷ hú… Tất cả cũng đừng thèm lưu ý đến.

Đồng thời, phải ghi nhớ dụng công không gấp không hưỡn, có làm có nghĩ, lưu ý đến những phản ứng của thân tâm, công phu thường xuyên không gián đoạn hoặc bỏ dở, ngay đời này thành Phật làm Tổ, không phải là chuyện khó nữa.


BIỂU GHI TIẾN ĐỘ LỢI ÍCH TRONG KHI TU DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT

+   Tháng thứ nhất: được khinh an (yên ổn nhẹ nhàng)

Mỗi ngày dụng công không trên hai giờ và không quá ba giờ (cộng 60 – 80 giờ/tháng), mỗi lần khoảng 20 -30 phút. Phải làm thường xuyên không gián đoạn.

+   Tháng thứ hai trở đi: thấy được điểm niệm Phật, giảm bớt tạp niệm, tăng gia an lạc.

Mỗi ngày dụng công ba giờ, chia nhiều lần, mỗi lần 30 phút.

+   Sau năm tháng: được tâm mở ra, ý được cởi trói (ý giải tâm khai), được vô niệm từng lúc (gọi là ngộ pháp vô sanh).

+   Sau sáu tháng: vào đất thanh lương, thường sanh hỷ lạc.
Mỗi ngày cũng dụng công ba giờ, mỗi lần 45 phút.

+   Năm năm đến bảy năm: vô niệm vĩnh viễn tức tâm linh chính thường, được giải thoát lớn.
Nên từ bỏ muôn duyên đời, chọn chỗ yên tĩnh tu hành.

Mỗi ngày từ 6 - 8 giờ dụng công, mỗi lần tùy chọn.


Phụ ghi:


Qua kết quả thực nghiệm nhiều năm cho thấy, tùy căn cơ mỗi người có nhanh có chậm (lợi độn), nhưng trước sau vẫn đạt kết quả.

Tỷ lệ bình quân : lợi  1/ độn 3 thời gian.

Pháp môn Nhiếp hoá được lợi ích nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng mọi người. Nếu chưa tin, bạn hãy tu thử để rút kinh nghiệm.
Pháp môn này nếu được phổ biến rộng rãi, lớn nhỏ đều được lợi lạc. Hẹp thì bản thân an vui, gia đình hoà thuận, trật tự xã hội tốt đẹp; rộng thì khiến cả thế giới hoà bình, cõi Ta Bà này trở thành Cực Lạc.

CHÁNH NGUYÊN


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HocThuatPhuongDong, nguyenthuy, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.639 seconds với 26 câu truy vấn.