Tháng Năm 21, 2018, 09:29:20 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒  (Đọc 2356 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Chín 04, 2014, 02:57:53 am »


揭開人類靈魂的黑盒

(YẾT  KHAI NHÂN LOẠI LINH HỒN ĐÍCH  HẮC  HẠP)

釋 光 宗  禪師    著

正源  居士        越譯

Tác giả:-  Thiền sư THÍCH QUANG TÔNG

Dịch giả :- Cư sĩ CHÁNH  NGUYÊN

MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ

*****

1.- CÁI  GÌ LÀ “TA  THẬT” ?


Chúng ta đều biết, mục tiêu tu hành chủ yếu của Phật giáo là TRỊ TÂM BỆNH, nhưng tại sao hiện nay trong môn đình của Phật giáo ít nghe ai nhắc đến thuật ngữ đó?

Ấy là do mọi người nhận thức không rõ ràng về Tâm, xem nó không đáng giá xu nào cả! Nhất là từ khi học thuyết Duy vật ra đời, phủ định hoàn toàn sự tồn tại của tâm, khiến cho phần lớn ai nấy cũng đem nó coi như một vật Hình Nhi Thượng trong vũ trụ vạn vật, không liên quan trọng yếu gì đến chúng ta.

 Cho dù biết bậc Thánh triết đã thường xuyên cảnh tỉnh chúng ta rằng: “TÂM chính là TA”, nhưng mọi người nghe qua, vẫn không nhận hiểu được nó, bởi do thác giác quá sâu dày. Giả dụ như hiện nay, ta mở cuộc thăm dò dư luận đưa ra hai ý kiến:

1.   Tâm là ta

2.   Thân là ta

Để họ chọn. Nếu như hỏi một vạn người, chắc chắn có đến 99% người trả lời: “Thân là ta”. Do vì mọi người đều dựa vào cái thấy biểu kiến để đi tới kết luận: hàng ngày, những động tác đi, đứng, nằm, ngồi đều là công việc của thân, có thấy tâm tham dự chỗ nào đâu?
Tình trạng nầy, giống hệt như năm trăm năm trước đây, nếu đưa ra hai câu hỏi để trưng cầu là:

1.   Trái đất xoay quanh mặt trời?

2.   Mặt trời xoay quanh trái đất?

Thì chắc chắn mọi người sẽ chọn câu sau. Bởi cái thấy biểu kiến của họ là: mặt trời mọc ở hướng Đông, lặn về hướng Tây, cứ 12 giờ lại thấy nó một lần. Còn mặt đất dường như đứng yên chẳng động, làm sao bảo nó xoay quanh mặt trời được?

Trong khi mọi người đều nhận tấm thân bảy thước nầy là Ta, thì ở phương Tây, có một triết gia lớn kiêm nhà khoa học lớn là RENÉ DESCARTES (1596-1650 - Pháp), một mình nêu lên ý khác. Ông bảo: “JE PENSE, DONC JE SUIS” (Tôi tư duy, tức tôi hiện hữu). Đó là đại biểu lớn nhất của trường phái phủ định thân là Ta. Quả là nhân vật có nhận thức tiến bộ, rất quan trọng.

Nếu quí vị chỉ cần một chút lưu ý, chẳng khó khăn gì nhận ra rằng giữa Ta và Thân xác, có một khoảng cách khá rõ. Có ai muốn già yếu đâu, vậy mà tóc bạc cứ mỗi ngày nhiều thêm trên đầu, nếp nhăn đuôi mắt cứ ngày càng dài và thêm sâu, làn da tươi nhuận ngày nào đã dần biến thành đen mốc, nhăn nheo… tất cả sức lực của tuổi xuân ngày trước đã trôi theo ngày tháng mất đi, không bao giờ trở lại. Trước đây là người đẹp ưa nhìn bao nhiêu, nay đã thành già nua xấu xí đáng ghét bấy nhiêu. Trăm người như một, chắc hẳn đều không bao giờ muốn như thế cả!

Nhưng đáng buốn thay, dù muốn hay không, thân xác này rồi cũng phải già, cũng phải chết mà thôi. Hiện trạng ấy, đã minh chứng rõ rệt, giữa Ta và Thân Của Ta, nhất định không phải là Một. Cho nên, dù hai thứ ấy có quan hệ hữu cơ khăng khít đến mấy, cũng vẫn có khoảng cách phân biệt nhận ra được.

Trước thế kỷ 15, con người đứng ở bãi biển, nhìn tàu thuyền ngoài khơi, trước thấy cột buồm, sau mới thấy thân tàu. Hiện tượng ấy gợi ý cho người trí nghĩ rằng, mặt đất rộng lớn không ngằn nầy, phải là một khối cầu cực lớn. Nhận định này được xác minh cụ thể, từ khi ông CHRISTOPHE COLOMB (1451-1506) đã làm nên kỳ tích là tìm ra Châu Mỹ, ông FERDINAND MAGELLAN đi vòng quanh trái đất… từ hiểu biết cơ bản quan trọng này, con người đã có những cái nhìn mới về vũ trụ, sinh ra những phát minh quí báu, giúp nhân loại tiến bộ nhanh chóng vượt bậc.

Tương tự, chúng ta cũng có thể căn cứ vào chỗ thân thể biến đổi sanh, già, bệnh, chết, hoàn toàn không theo ý muốn chúng ta, để dễ dàng nhận ra được thân xác không phải là Ta. Rồi từ hiểu biết cơ bản quí giá này, chúng ta nhất định sẽ thu hoạch vô số lợi ích to lớn khác.

Nên chăng, chúng ta cần phải phát huy tinh thần CHRISTOPHE COLOMB và MAGELLAN,  hướng vào vũ trụ trong tâm, tìm tòi nghiên cứu, phát minh ra những cống hiến to lớn cho nhân loại?

Vũ trụ tâm linh có thể sinh muôn vật, tính trọng yếu này đã bị chúng sinh xem thường. Trong Phật giáo, cũng có khi nói đến câu “TÂM SINH MUÔN VẬT” hay “MUÔN PHÁP DUY TÂM”. Nhưng người nói câu này, chỉ là ĐỌC MẶT CHỮ TRONG KINH,  chứ không thể hiểu, mà tệ hại hơn nữa, là cũng KHÔNG MUỐN TÌM HIỂU. Vì hàng ngày, cứ mãi lo chén cơm manh áo, mãi lo bảo vệ tài sản vật chất làm ra, có thì giờ đâu mà nhớ đến Tâm, là kho tàng vô giá của chính mình!

Trong kinh PHÁP HOA, có kể chuyện một thanh niên, trong chéo áo có cất một viên ngọc quí Ma Ni. Với viên ngọc này, có thể nói là muốn gì có nấy. Thế nhưng anh ta lại không biết mình có viên ngọc đó, thân mang tài sản vô giá như thế, chỉ vì KHÔNG BIẾT, mà phải đem thân lưu lạc khắp nơi, cực khổ vô cùng mà vẫn cam tâm để sinh nhai, cực khổ vô cùng mà vẫn cam tâm chịu đựng. về sau, may gặp lại người bạn cũ nói cho biết, trước kia vì gấp rút đã nhét viên ngọc vào chéo áo mà không kịp cho bạn biết. Từ lúc người thanh niên này biết mình có viên ngọc, đem ra dùng, trở thành giàu có muôn vạn, thoát khỏi kiếp cơ hàn đói khổ.

CÁI TÂM nói trong “Tâm Sinh Muôn Vật”, chẳng phải là tâm của Phật, của Thượng Đế, của Chúa… mà là cái tâm ở ngay trong “Cái túi da” của mỗi người chúng ta thôi. Có điều, đừng xem thường từng niệm nhỏ nhoi, là những động niệm do tâm khởi lên trong đầu óc chúng ta, mà phải biết ngay chỗ đó là một cổng lớn, nếu vượt qua được cổng này, biết bao thứ vật chất đầy khắp bốn phương tám hướng đều có thể đạt tới.

Cũng có thể do vì quí vị đã nghe quá nhiều thứ lý luận không đàm (lòng đã chai tê), nên nay khi nghe đến lý luận thâm cảm hứng thú này, sẽ cũng cho đó là thứ “lá vàng dỗ trẻ con” , thế thì quả thật quí vị đã mất mát to lớn.

Để minh chứng tâm linh chứa đựng vũ trụ vật chất vô lượng vô biên mà bao nhiêu đều là thuộc về chính chúng ta và cũng biết được cái vũ trụ vật chất này, chẳng qua chỉ là hòn bọt bé nhỏ trong biển lớn tâm linh, chúng ta cứ quan sát những sự thật xảy ra ở ngay trên đời này là đủ.

(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Chín 04, 2014, 03:01:45 am »

(tt)

TINH ĐẢO NHẬT BÁO ngày 9/2/1988 có đăng bài:


“ Có thể nào ở một nhiệt độ tương đối cao là 98 độ F (36.5 độ C), mà một người có thể bị chết vì đóng băng không?
Điều này, mới nghe tưởng như chuyện nằm mộng. Nhưng một vị tiến sĩ nổi tiếng về ngành vật lý “ĐƯỜNG NGẦM THỜI GIAN”, được người ta phát hiện ra trạng thái chết vì đóng băng như thế tại Nam Mỹ, nơi mà khí hậu ấm áp như mùa xuân quanh năm. Theo lời một người bạn đồng ngành, ông ấy bị chết như thế là do ông tham dự một cuộc thí nghiệm lạ lùng, đi ngược dòng thời gian, sống trở lại thời kỳ tiền sử mặt đất đóng băng, nên nhà khoa học này bị cái lạnh ghê hồn thuở ấy làm chết.


Tiến sĩ Dr HECTOR DOLADO, 37 tuổi, làm việc tại thủ đô BOENOS AIES của ARGENTINA. Theo một người bạn đồng nghiệp của ông cho biết, trước đây tiến sĩ Dolado nói là đã tìm ra một phương pháp với công cụ khoa học đặc biệt, có thể giúp ta tùy ý muốn trở về quá khứ hay hướng trước tương lai cũng được. Khi tiến sĩ Dolado tiết lộ phát minh này, không ai tin, kể cả bạn bè, cho đó là lời khoa trương của ông thôi. Mãi đến tháng rồi, xảy ra cái chết của ông, thì mọi người mới vỡ lẽ đó là sự thật.

Người bạn đồng sự đó là tiến sĩ Dr JESSUS LEWIS CASS cho biết:

“Tiến sĩ Dolado đã tìm ra được đường vào “ĐƯỜNG NGÂM THỜI GIAN”, tức là chiều không gian thứ tư. Đó chính là nguyên nhân khiến cho ông phải bị chết, vì cái lạnh khủng khiếp của thời kỳ cực quá khứ làm cho thân thể ông đóng băng mà chết”. Tiến sĩ Lewis Cass nói thêm: “Tôi tin rằng, lúc ông ta chết, không thế nào đủ thời gian để kêu, dù chỉ một tiếng, để cầu cứu đâu! Thật đáng tiếc, ông mất đi khiến chúng ta thất thoát hẳn một phát minh cực kỳ to lớn, vì ông không để lại một tư liệu hoặc bản thảo nào về phát minh ấy. Nói gọn là chúng ta hoàn toàn mất trắng”.

Về cái chết của Tiến sĩ Hector Dolado, thì đầu tiên, cảnh sát địa phương phát hiện một thi thể đàn ông, bị đóng băng chết nằm ven đường, gần khu nhà ở của ông (ngoại ô BUENOS AIRES). Họ không biết được lý lịch của nạn nhân, mãi đến khi báo chí loan “tin đặc biệt” này, thì đồng nghiệp và bạn bè mới phát giác ra là ông.

“Quả nhiên nhà vật lý học này, đã thành công trong việc trở lại thời kỳ băng hà của cực quá khứ. Hoặc là thời kỳ trái đất sắp sửa thành một thành tinh chết, nên có nhiệt độ hết sức thấp. Cụ thể là ông ta đã vào trong “ĐƯỜNG NGẦM THỜI GIAN”. Ở khoảnh khắc nào đó, nên đã bị cái lạnh 50 độ âm C gây ra chết cóng. Chỉ có điều đó mới giải thích được tình trạng cái chết của ông ta thôi. Ngoài ra, không thể đưa ra một giả thuyết nào khác!”

Những đồng nghiệp của tiến sĩ Dolado đã khai với cảnh sát điều tra rằng, trước đây, khi đến thăm phòng thí nghiệm cũng như nhà riêng của ông, họ đã thấy được một số hiện vật, có thể chứng minh chắc chắn ông đã thành công trong việc khống chế thời gian, và trước khi chết, ông đã có mấy lần đi ngược lại thời quá khứ của địa cầu. Họ cho biết:

“Chúng tôi đã thấy ở nhà riêng của ông một vài thảo mộc có số tuổi khoảng 250 triệu năm. Những thứ này đã biến mất từ lâu trên trái đất. Chúng tôi cũng đã thấy được một số dụng cụ quái lạ, nó được chế tạo bằng một thứ kim loại đặc biệt, không biết tên gọi vì hiện nay chưa có. Chúng tôi tin chắc đó là dụng cụ ở thế giới vị lai.”

Ông ta mất đi, chẳng những chúng ta mất đi một phát minh to lớn của khoa học, mà còn là mất một nhà khoa học xuất sắc. Tiến sĩ Dolado chết, đã mang theo tất cả những phát minh quí báu.

Tiến sĩ Lewis Cass buồn bã than như vậy./”

Tiến sĩ Dolado đã theo một hướng riêng để chinh phục vũ trụ. Đây chắc chắn không phải là hướng bay đến mặt trời hay mặt trăng hoặc là hành tinh nào, vì với công cụ hiện nay của người trên trái đất này, chỉ mới có thể đổ bộ xuống mặt trăng, còn các sao khác như: Hỏa, Mộc, Thổ, Hải Vương… chỉ mới có khả năng bay quanh để chụp hình, chứ chưa đáp xuống được. Việc ông ta vào được “Đường ngầm thời gian” bằng phương tiện gì, theo phương hướng nào, cách đi ra sao…một loạt vấn đề, còn chờ sự tìm hiểu phát kiến.
Riêng người viết có thể đoán chắc rằng, phương tiện mà tiến sĩ Dolado sử dụng, là hướng Tinh Thần chứ không phải hướng vật chất. Nghĩa là, ông đi theo con đường, là giỏ màn tạp niệm ra để vào sâu trong tâm Vô Niệm. Điều minh chứng là, thân thể ông không hề rời khỏi phòng thí nghiệm của ông, chắc chắn là những “vật kỷ niệm” mà ông đã mang về được, trong “chuyến du hành bằng tâm của ông thôi!”

Cho nên, nơi sâu thẳm trong tâm linh của con người, có rất nhiều cõi vũ trụ vật chất. Sự thật hiển nhiên này đã được tiến sĩ Dolado thân chứng. Ông đã mở toang được chiếc hộp đen “CHÂN NGÔ, nên tuy thân thể còn ở thu đô của Argentina, mà ông vẫn có thể đến được những không gian bậc khác, thậm chí còn mang về nhiều vật kỷ niệm, chứng minh đó là những kiệt tác “CHÂN NGÔ của ông, hoàn toàn không nhờ vả gì đến thân xác thịt cả. Điều đó, khẳng định thân xác chẳng khác gì hơn một “căn nhà đặc biệt của chân ngã” thôi.

Chân tướng của thân đã lộ rõ, chúng ta phải nhanh chóng tìm cho ra con đường giải thoát. Nếu không, ngày kia cái đãy da thúi này hết duyên tan rã, ta biết sẽ đi đâu, về đâu??

Ta thật và Ta giả, đối với mọi người dường như không thành vấn đề! Tại sao một việc quan trọng đối với chính mình như thế lại không chịu hiểu cho thật rõ? Thật quá lạ lùng, xưa nay, trong cũng như ngoài nước TQ, chúng sinh vô số, mà số người hiểu thấu đáo vấn đề này, thật quá ít ỏi. Một người thông minh mẫn tuệ như Descartes, cũng chỉ biết đến chỗ, nhận “cái suy nghĩ là ta”. Ông mới chỉ vượt qua cửa ải “Ta giả” thôi, còn cái “Ta thật” vẫn còn mày mò đi tìm, chưa có được câu trả lời chính xác. Bởi vì suy nghĩ vẫn còn thuộc về thứ “lăng xăng lộn xộn, rối rít không ngừng”, ông Descartes nếu chịu khó quan sát kỹ hơn một chút, chắc là không phát ra câu nói trên.

Cái Ta mà ông nói đó, nếu dùng tâm nhãn để soi rọi, thì chỉ là trạng thái thác loạn của thần kinh thôi. Thêm nữa, cái suy nghĩ đó lại không chịu sự khống chế của ta, vì có những lúc ta đâu muốn nghĩ mà nó cứ xuất hiện ý này niệm kia, lăng xăng lộn xộn. Chính những thứ đó làm cho chúng ta đau khổ, mỏi mệt. Vậy rõ ràng nó đối lập với ta, không thể làm chủ được nó, làm sao lại bảo cái suy nghĩ đó là Ta cho được? Triết gia Descartes thông minh như thế, mà còn chưa thấy được Ta thật, huống gì đến vô số chúng sinh khác.
Thiền tông có phổ biến đoạn thơ:

“Thể vân ảnh lý, thần tiên hiện,
Thủ bả hồng la phiến già diện.
Cấp nhu trước nhãn khán tiên nhân,
Mạc tiều tiên nhân thủ trung phiến.”


Dịch:

“Thần tiên hiện bóng mây năm sắc,
Tay cầm quạt lụa để che mặt.
Muốn gấp dùng mắt thấy thần tiên
Đừng thấy thần tiên qua lụa quạt.”

Chiếc quạt lụa hồng trong đoạn thơ trên, là để chỉ cho thân xác máu thịt này. Khi người ta nhìn thân thể anh A, bảo đó là anh A, nhìn thân thể chị B, bảo đó là chị B, vì chúng ta bằng nhục nhãn, chỉ có thể nhìn thấy thân thể của họ, chứ không sao sờ mó được vào “bổn nhân” của thân thể ấy. Bổn lai diện mục của họ, không thể nào dùng con mắt thịt để thấy được cả.

(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Chín 04, 2014, 03:06:06 am »

(tt)

Mỗi con người đều có hai thân, một cái thân giả là tấm thân bảy thước mà ai cũng thấy đó, còn một cái thân thật (bình dân hay gọi là linh hồn hay tinh hồn), nó nằm trên thân xác máu thịt chúng ta, hai thân chồng khít lên nhau đến độ, thân xác này không sao phát hiện ra sự hiện hữu của thân thật cả. Tuy nhiên, cũng có lúc trong vài trạng huống đặc biệt, bạn mới có thể chứng thực được sự tồn tại của thân thật này, như trường hợp của PASSON ở Mỹ, chẳng hạn.

Xin mời quí vị xem kỹ bài báo sau đây, để thấy được lúc bà bị bệnh nguy kịch, hai thân ấy tách ra như thế nào:

“ Nó sinh ra hết sức đột xuất. Phút trước tôi còn nằm trên giường, phút sau, tôi tự biết mình bồng bềnh trên không, thấy rõ các bác sĩ, y tá đang tìm cách cấp cứu thi thể vô tri vô giác của tôi.”

Đó là lời kể của một người đàn bà bị bệnh tim rất nặng, ngay trong phòng cấp cứu, nhận ra được một trường hợp lìa hồn kỳ lạ này.
“Sự kiện này xảy ra vào đêm trước của Lễ Giáng Sinh năm ngoái”, bà Passon, ở thành phố Cheyenne thuộc tiểu bang Wyoming – USA nói:

“Khi bệnh tim của tôi phát ra, anh Fredie, chồng tôi, lập tức lái xe đưa tôi đến bệnh viện. Trong lúc chuyên viên y khoa đang tìm cách cấp cứu tôi trong phòng cấp cứu, đột nhiên, tôi cảm thấy mình biến thành người thứ hai, bồng bềnh trên không, cách mặt đất khoảng năm, sáu thước, nhìn thấu rõ họ đang tìm mọi cách làm cho thân xác tôi hồi tỉnh lại.

Tôi thấy rất rõ, có một người cầm một ống tiêm lớn, chân vào bụng tôi. Kế đó, họ lấy máu ở cánh tay tôi và thổi vào mũi tôi một thứ bột trắng. Tuy khắp thân thể tôi cắm đầy y cụ, nhưng tôi hoàn toàn không chút cảm giác đau đớn gì, chỉ có điều, tôi không thể nghe thấy họ nói gì cả. Linh hồn tôi hoàn toàn tự do, có thể nói một cách hết sức thành thật rằng, từ lúc sinh ra đến nay, đó là “giây phút sung sướng an lạc nhất” của tôi!


Bà ôn lại trí nhớ nói tiếp:

“Tôi đã ở trên cao, không có thứ gì trên thế gian này có thể chạm được tôi cả. Trong tâm tôi hoàn toàn không chút gì sợ hãi hay đau khổ. Tôi mường tượng như là một đứa trẻ nhỏ, đang được bà mẹ ôm vào lòng che chở, với tất cả sự thương yêu trìu mến.
Nếu như được quyền chọn lựa, chắc chắn tôi sẽ không chịu trở lại thế gian này, mà chỉ muốn sống mãi mãi trong cảnh giới tuyệt vời ấy.”

Nhưng sự tình không được như ý nguyện của bà, bà buồn bã tiếp:

“ Bỗng nhiên, trong khoảnh khắc, linh hồn tôi lại nhập vào thân xác tôi.

Sáng hôm sau, vị bác sĩ trị liệu cho tôi báo, nếu khi trái tim bà đã ngừng đập ấy, mà không có chúng tôi kịp thời cứu chữa, chắc chắn bà phải chết thôi!

Cho dù thế nào chăng nữa, cái lần mà hồn tôi ra khỏi xác đó, đã khiến cho tôi không bao giờ sợ chết nữa. Bởi vì, nếu chết mà được sung sướng như thế, thì quả thật, trạng thái đó vô cùng tuyệt diệu.

Đến nay, đã hơn một năm qua, nhưng tôi vẫn nhớ mồn một cái cảm giác thanh thoát vô cùng, lúc tôi lìa bỏ thân xác của tôi. Tôi không sao quên được cái ánh sáng hiện ra kỳ dị, nó vẫn còn chiếu lấy tôi.

Hiện nay, đêm nào tôi cũng ngủ ngon lành như một em bé. Lúc nào tôi cũng cảm thấy sung sướng, an vui. Tất cả sự sợ hãi, lo lắng trên đời này, đã hoàn toàn biến mất trong tôi!”

Tình trạng mà bà Passon ở Mỹ, đã trải qua này, dĩ nhiên thân thể chúng ta rồi cũng đến đó, vào những năm tháng sắp tới, dù bạn muốn trốn tránh cũng không thể tránh được. Đến lúc ấy, sự nghiệp vất vả suốt đời bạn gầy dựng nên, chỉ trong hơi thở, đã hoàn toàn mất hết. Cho dù, bạn có là vua dầu hỏa hay là con của vua gang thép đi nữa, lúc bấy giờ cũng chẳng thể nắm giữ được xu con nào cả!

Cũng cần lưu ý rằng, trong tương lai sau này, bạn có may mắn gặp được tình trạng như bà Passon hay không, thì chưa hẳn ai cũng được.

Nếu như hàng ngày, bạn luôn luôn sống trong sự sân si tật đố, cho là may mắn để vui mừng chuốc lấy tai họa (ngũ dục lạc), không thèm đếm xỉa gì đến tâm linh, chỉ chăm lo tòa nhà hạnh phúc ích kỷ bản thân, xây dựng trên nền đau khổ của người khác, thì chắc khó mà được cái may như thế.

Bây giờ, tôi xin nêu lên một tư liệu khác, để các bạn so sánh.

Đó là chuyện của một thanh niên, trong lúc cái Ta thật tách rời cái Ta giả, đã phát sinh một việc hết sức đáng sợ, đăng tải trong “DUYỆT VI THẢO ĐƯỜNG bút ký” của Kỷ Hiểu Lam:

“Có một thanh niên tên X., trong lúc ngủ trưa, thấy mình tách ra khỏi xác, đi ra ngoài du ngoạn.
Anh đi qua mấy con đường lạ chưa từng đến, cũng cứ đi mãi không sợ lạc lối, giống như không còn sức chủ động, mơ màng đi một cách phản xạ tự nhiên. Lát sau, bổng gặp một người đưa tặng cho anh bộ y phục màu đen. Anh nhận lấy mặc vào mà không cần đắn đo suy nghĩ gì cả. Sau đó, đến một cái cổng nhỏ, bên ngoài có che tấm vải đen. Anh chẳng cần biết đó là nhà ai, giở tấm màn bước vào.

Nhưng than ôi! Họa lớn đến rồi: anh từ trong bụng một con heo nái chung ra ngoài, biến thành chú heo con.

Lúc bấy giờ, anh hoàn toàn tỉnh táo, nhớ rất rõ là mình đang ngủ trưa, sao bấy giờ trở thành chú heo con thế này? Rồi điều đáng sợ nhất, trong kiếp heo này, làm sao tránh khỏi có ngày bị con dao thọc huyết! Nghĩ đến đó, bất giác anh ta khóc inh ỏi. Nhìn chung quanh, anh phát hiện ra đây là nhà của một người quen họ Trương. Bà Trương đang chăm sóc heo con mới sinh. Anh vội kêu lớn: Bà Trương ơi! Cứu tôi với, tôi là X đây mà!”

Anh thấy bà Trương không có phản ứng gì chứng tỏ nghe hiểu, quá cấp bách, anh chạy xổ đến bà, mấy lần đến đều bị bà Trương tay cầm gậy xô đuổi ra.

Anh sực hiểu rằng, bà Trương không thể nào nghe hiểu được lời nói của mình. Vậy là không còn cách nào cứu giúp được nữa rồi. Tình thế hết sức cùng quẩn, anh cắn răng dồn hết sức, tông mạnh vào vách tường chuồng heo…!

Bổng nhiên, anh tỉnh lại, toàn thân đẫm ướt mồ hôi. Anh nằm im thở hổn hển, lát sau mới hoàn hồn trở lại. Anh suy nghĩ việc xảy ra vừa rồi, đâu chỉ là giấc mộng. Để tìm cho ra lẽ cơn “Ác Mộng” này, anh ngồi dậy, mặc áo ra khỏi nhà, đến nhà họ Trương để tìm ra sự thực. Nhà này ở cùng một xóm cách đó không xa lắm. Đến nơi, quả thấy bà Trương đang bận rộn chăm sóc đàn heo con mới đẻ, công việc chưa xong.

Anh lên tiếng trước:

-   Bà Trương ơi! Heo bà vừa mới đẻ phải không? Được mấy con?

Bà Trương nghiệm lại đáp:

-   Được 12 con, rất tiếc, có một con cứ chạy ào vào tôi ba bốn lần, tôi lấy gậy xua ra. Nó tức mình hay sao, mà tông vào tường chết tươi. Hiện chỉ còn có 11 thôi, uổng quá!

Anh sững sờ, không dám hỏi thêm, cáo từ ra về. Càng nghĩ càng sợ. Nếu sự việc đó tái diễn thực sự thì sao?

Xưa nay, anh hoàn toàn không tin vào Nhân Quả, phủ định sự luân hồi, nên làm việc gì cũng chỉ cốt giành lợi cho mình thôi, ai sống ai chết mặc kệ. Sau khi xảy ra chuyện trên, anh đã vì sợ tái nhập vào bụng heo nữa, nên đã hoàn toàn thay đổi thành con người mới, làm ăn hết sức lương thiện.”

Bất cứ ai cũng vậy, lúc chân thân lìa khỏi giả thân, thì đều rơi vào trạng thái mơ mơ hồ hồ, không làm chủ được tư tưởng mình, tương tự chàng thanh niên trong câu chuyện trên. Nếu đầu óc, tinh thần anh tỉnh sáng thì đâu khi nào rơi vào trạng thái bị động: nhận áo, mặc vào, xông qua cửa vô nhà…đến nỗi phải chui ra từ bụng heo?

Chúng tôi cũng cần nói rõ điều này, không xem khinh cuộc sống hiện tại, lại rất quí tương lai sau này. Cuộc đời một kiếp người, chẳng qua chỉ 100 năm, khoảng thời gian được sống lần này, thực sự chỉ là một bọt nước quá nhỏ bé, so với toàn thể biển nước của dòng sinh mệnh trước sau của mình.

Chắc chắn ai cũng phải có cái ngày mà, hai thân chia tách ra, việc ấy nào có xa xôi gì lắm đâu, chỉ ngày một ngày hai là đến thôi.

Đến thời điểm chúng ta lìa bỏ thân xác, chúng ta sẽ chọn trạng thái ưu lương của bà Passon, hay tình trạng khốn đốn của chàng thanh niên X nọ, để thành chú heo con? Trong lúc sinh mạng còn tốt này, việc họa phước tương lai chưa đến, phải chăng chúng ta cần và rất cần, phải chuẩn bị một cái gì đó, để tránh khỏi tình trạng, tai họa gần kề chỉ còn biết há mồm trợn mắt mà chờ chăng?

(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Chín 04, 2014, 03:11:39 am »

(tt)


Bốn chúng phật tử hiện nay, đa số tu tu Tịnh Độ, những người tu này, họ có niềm tin không lay chuyển là, khi họ sắp lâm chung, đức Phật Di Đà và các Thánh Chúng hiện đến trước mặt, tay cầm đài vàng, để rước họ về Tây Phương. Cho nên, linh hồn họ không còn sợ phiêu bạt nổi trôi khắp nơi nữa.

Dĩ nhiên, chúng tôi rất mong  mỏi những người tu Tịnh Độ này được thật sự mãn nguyện. Nhưng mọi người chỉ có duy nhất, một chữ TIN to như núi, lại càng không nên hoài nghi vì Phật A Di Đà là bậc đại thánh, đâu phải như người phàm chúng ta, lời nói của Ngài là khuôn vàng thước ngọc, tuyệt chẳng hư dối. Ngài đã phát ra 48 lời nguyện vững chắc, rõ ràng, như có chúng sinh nào, xưng niệm danh hiệu của Ngài, chỉ quá 10 câu, trước lúc lìa đời, Ngài liền đến rước họ về cõi Cực Lạc. Cho dù còn những nghiệp ở thế gian, cũng đừng phải lo âu về việc này, bởi đại lực và công đức của Ngài quá lớn, giúp ta đủ sức mang nghiệp vãng sanh. Những sự kiện này đã được nói rõ trong ba quyển Kinh Tịnh Độ, chứng cứ rõ ràng như thế còn gì phải lo âu sợ sệt?

Chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ pháp môn Tịnh Độ, cùng tham khảo chẳng ít Kinh điển của các tôn giáo khác, vẫn tìm không ra chỗ phân biệt sự khác nhau giữa họ như thế nào?

Vãng sanh Cực Lạc khác với được lên thiên đàng ra sao? Có lẽ họ sẽ nói, thế giới Cực Lạc ở phương Tây là ra ngoài tam giới, không còn luân hồi. Còn Thiên đàng là nơi trong Kinh Phật gọi là Đao Lợi Thiên (cung Trời Đao Lợi). Chúng sinh ở cung trời này, khi hưởng hết phước báu, cũng phải rơi trở lại phàm trần. Nhưng các tín đồ tôn giáo khác đó, không đồng ý với lối giải thích này. Họ tin rằng, thiên đàng là cứu cánh tối cao của họ, đến được nơi đó thì vàng ngọc dẫy đầy, người người đều giàu sang sung sướng, được tiếp đón như khách quí, chứ họ tuyệt nhiên không thừa nhận luân hồi gì cả.

Thực chất giáo pháp của Tịnh Độ và các tôn giáo khác, điểm chính đều rơi vào chữ Tin, đối với những gì “Kinh Điển” đã nói, tất cả đều phải tuyệt đối tin theo, không được phép hoài nghi. Phương pháp dụng công của pháp môn Tịnh Độ là niệm danh hiệu Đức Phật Di Đà, còn các tôn giáo khác thì cầu xin lễ lạy…, đều là CÂU PHÁP NGOÀI TÂM, gãi ngứa ngoài giày, phạm vào điểm tối kỵ của việc tu hành. Thế nên, cho dù có vất vả khổ tu đến mấy, cũng chỉ uổng công dã tràng xe cát mà thôi! Nếu quí vị chưa chấp nhận, hãy bình tâm, vô tư suy xét kỹ những lời thẳng, nói thật này, sẽ thấy rõ vấn đề.

Trong Phật giáo, quan điểm tu hành chính xác nhất, không phải ở chỗ cầu xin lễ lạy. Cho nên, Kinh Kim Cang đã dạy:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai!”


Dịch:

“Nếu dùng tướng thấy ta
Lấy âm thanh cầu ta
Kẻ ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai!”


Bài kệ trên đã phủ định sạch phương thức lễ lạy cầu xin trong các pháp tu hành Phật giáo!

Chúng ta đều biết, tu hành là Tu Tâm. Vì cớ sao? Vì Tâm có bệnh. Đó là bệnh gì? Là thứ tự ngôn tự ngữ lăng xăng lộn xộn, khó khống chế trong tâm. Nếu chúng ta có cách nào đó, có thể làm cho tâm cuồng dừng bặt, là đã đạt đến yêu cầu cơ bản nhất.

Người tu Tịnh Độ, lại hoàn toàn không thèm để ý đến nguyên lý căn bản này, chỉ hàng ngày hướng về Phật Di Đà để cầu khẩn van xin lòng đại từ bi của Ngài, trong lúc nguy cấp nhất, mang họ ra khỏi bể khổ, đem về nước kia, để hưởng thụ vinh hoa phú quí?!

Những vấn đề mà quí vị phải lưu ý một cách vô tư, trung thực là, “cái” sẽ được Đức Di Đà đem đi đó, là cái Tâm hay cái Thân?!


Chắc chắn quí vị sẽ trả lời, đó là Tâm, còn Thân thì xin gửi lại trần thế này, bố thí cho vạn triệu vi trùng, vi khuẩn…mở tiệc đánh chén, tỏa ra thứ mùi hôi thúi không ai chịu nổi! Thế nhưng, lại cái chữ Nhưng quái ác, cái Tâm đó hiện nay đang phát cuồng, vậy thì Đức Di Đà rước cái thứ Bệnh Tâm Thần ấy về nước Cực Lạc để, người khác thì cực lạc mà ta thì cực khổ chăng?


Phần lớn người tu Tịnh Độ, dựa vào những cảm ứng để tăng trưởng niềm tin vào việc vãng sanh. Nhưng giữa cảm ứng và vãng sanh, không hề có một quan hệ nhân quả tất yếu nào.

Điều khiến cho các vị Tịnh Độ rất tin vào việc vãng sanh nhất, đó là những sự tích cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Có thể nói, suốt cuộc đời từng trải khắp nơi của tôi, đã chứng kiến biết bao chuyện lạ, mà đây là một chuyện mang tính thần kỳ cao nhất, xin được kể hầu quí vị:

“Cách đây khoảng 35 năm trước, ở Thành phố Nghi Lan (Đài Loan), có một quân nhân xuất ngũ tên Tăng Chiêu Huyên, được về vì chứng viêm khớp quá nặng, không còn di chuyển được.

Bác sĩ đã bảo ông ta rằng, đừng uống thuốc, khám bệnh nữa làm gì cho tốn tiền, mà nên dùng tiền đó, thèm món gì cứ mua ăn cho đã. Vì sau khi đã kiểm nghiệm bằng X quang, bác sĩ đã khẳng định, xương bắp vế của ông đã biến hình suy thoái nghiêm trọng, chỉ còn cách, nếu đủ khả năng, phương tiện hiện đại, thay cặp chân khác mà thôi, chứ thuốc men hiện nay không thể có tác dụng gì cả! Đừng uống thuốc tốn tiền nữa, cứ ăn những gì ông thích đi!

Sau khi về nhà, được người hướng dẫn, ông tin theo đức Phật, tu pháp môn Tịnh Độ, thường xuyên đến Hội niệm Phật Nghi Lan để lễ Phật.

Mỗi khi muốn đi đâu, ông phải nhờ hoàn toàn vào hai chiếc ghế nhỏ để xê dịch, di chuyển, đưa chiếc ghế thứ hai về trước, hai tai chống xuống đất, lê thân mình qua ghế thứ hai, cứ như thế tiến dần về mục tiêu. Trong khoảng cách mà người bình thường đi bộ chỉ chừng 5 phút, ông di chuyển mất cả hơn tiếng đồng hồ mới tới, thật vô cùng tội nghiệp.

Dịp nọ, Hội Niệm Phật Nghi Lan tổ chức “Phật Thất” ông Tăng cũng tích cực tham dự, từ đầu đến cuối không vắng mặt ngày nào. Vì không thể đi đứng bình thường, nên ông không thể cùng đại chúng hành lễ, chỉ ngồi yên trong một góc phòng điện thờ, để cùng tụng niệm.

Ngày mãn thất, lúc đi nhiễu Phật, ông Tăng suốt mấy ngày nay chỉ ngồi trong góc phòng, đột nhiên đứng dậy được, cùng tham gia đi nhiễu Phật với mọi người. Ai nấy hết sức kinh dị, sợ ông té, toan đưa tay vịn đỡ, ông bảo:

-   Cảm ơn! Khỏi cần đỡ, Phật lực gia hộ tôi. Thân thể tôi hoàn toàn mạnh khỏe rồi!

Lúc bấy giờ, cả hội người ở đó đều cảm tạ ân sâu đức Phật, lệ nóng trào quanh.

Một tháng sau, tôi gặp ông Tăng ở thành phố Cao Hùng, hỏi ông nay đi bộ được bao nhiêu cây số một giờ, ông đáp là được 5,6 cây số. Tôi bảo, vậy là ông hoàn toàn bình phục rồi, xin chúc mừng đạo hữu.”

Những chuyện cảm ứng tương tự chuyện này, trong Phật giáo và ngoài Phật giáo đều có rất nhiều “Phép lạ”. Những người tu hay dựa vào những phép lạ ấy để suy diễn rộng ra là, tin chắc ngày sau sẽ được vãng sanh Cực Lạc.

Thật là một cách suy diễn quá ấu trĩ. Sự việc cảm ứng, bất cứ tôn giáo nào và ở đâu cũng không thiếu, kể cả đồng bóng, trạng cốt, phái Vô Vi, phái Địa Mẫu… cũng quá nhiều những thứ đó!

Hồi cuối đời nhà Thanh, có Nghĩa Hòa Đoàn xuất hiện thời kỳ tám nước liên quân, những kỳ tích chẳng thể nghĩ bàn xảy ra vô số, như chuyện các đại sư huynh, sư tỉ…lâm râm miệng niệm ít câu, thì đám đông đã có thể huơ đao múa kiếm, dù họ chưa hề học qua những thứ binh khí, võ nghệ ấy bao giờ, mà vẫn đủ bộ thế, tới lui rành rẽ, ai thấy cũng ghê!

Là Phật tử chân chính, chúng ta không nên chỉ dựa vào những sự tích cảm ứng của Tông phái hay Tôn giáo khác, cho là cứu cánh tuyệt đối. Vì sao? Vì một điều mang tính nguyên tắc cơ bản nhất của việc tu Phật, là phải khế hợp với “Trị Tâm Bệnh”, mà đức Phật nêu lên lúc thành đạo, hoằng pháp suốt 49 năm. Do đó, chúng ta phải khẳng định một cách mạnh mẽ là pháp nào làm cho “Tâm Cuồng Dừng Bặt” mới thật là diệu pháp. Ngoài ra, đều là các pháp tồi tệ, do những người ngu xuẩn truyền dạy!

Cho dù họ có nói hay đến độ hoa trời rơi phủ, bất quá cũng chỉ là “Cha Mẹ Của Đám Khờ Khạo” mà thôi.

Thực tế hiện nay, không những chỉ có Tịnh Độ mà cả Thiền và Mật Tông, cũng đều có nhiều khuyết điểm, đó là sai lệch nguyên lý “Trị Tâm Bệnh”, khiến cho việc tu hành rơi vào chỗ uổng phí tháng ngày, không sao đạt được kết quả đúng đắn vì dính mắc với những thứ “Công Phu Tạp Nhạp” ấy!


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Chín 04, 2014, 03:18:18 am »

(tt)

Có một điều khiến tôi vô cùng Kinh Dị nhất, lấy làm lạ nhất là, tại sao người tu Tịnh lại hoàn toàn không đếm xỉa gì đến điều quan trọng cơ bản, là điều kiện ắt có và đủ để được vãng sanh, theo lời dạy trong “Phật thuyết A Di Đà Kinh”, phải đạt được Nhất Tâm Bất Loạn từ một đến bảy ngày? Họ đã vô tình hay cố ý quên đi điều này để cho một số Manh Sư dẫn dắt muôn vạn người tu Tịnh Độ lạc lầm quẹo vào các ngã rẽ. Còn những người biết được sự quan trọng của Nhất Tâm Bất Loạn, lại chẳng có cách nào niệm Phật ra sao cho đạt được yêu cầu đó. Trong thi Thiền và Mật Tông có quá nhiều “Đại Thiền Sư” và “Phật sống” sao cũng không thấy ai từ bi chỉ dạy cho họ cách thức tu cho đạt mục tiêu Nhất Tâm Bất Loạn này? Thật lạ lùng quá!

Pháp Nhất Tâm Bất Loạn, chính là pháp Chế Tâm Một Chỗ (chiếm lĩnh pháp) mà tôi hướng dẫn, bước đầu của pháp Nhiếp Hóa (pháp giải thoát) sau này. Bất cứ ai, nếu nắm được yếu lĩnh công phu, dù một người lần đầu thực hành tu học, cũng chỉ cần năm phút là đạt được cảnh giới này.

Được Nhất Tâm Bất Loạn, nghĩa là được Vô Sanh Nhẫn ngay ở đây, cần gì phải vãng sanh về Tây phương Cực Lạc, nghe Phật nói pháp rồi mới tu được? Còn Vô Sanh Pháp Nhẫn là gì? Cũng chẳng xa xôi diệu vợi gì cả, mà chính là Tâm Thể Vô Niệm đó thôi.

Do đó, tôi không bao giờ khuyên quí vị tu Tịnh Độ phải bỏ pháp tu lâu nay, mà chỉ mong rằng, ngoài việc dùng miệng niệm Phật thường xuyên như trước nay quí vị hãy tu thêm pháp Trị Tâm Bệnh (Nhiếp Hóa hay giải thoát pháp) mới thật kế sách vẹn toàn!


Nếu không thế, vạn nhất ngày kia hô hấp đình chỉ, chẳng thấy Phật A Di Đà đón rước ra sao? Giống như chuyện vừa xảy ra hồi tháng 10 năm nay -1993 - tại Hàn Quốc của Mạt Nhật Giáo (ngày tận thế) vậy.


Đúng thời điểm mà vị giáo chủ của giáo phái này đã công bố, toàn thể tín đồ không thấy Thượng Đế xuất hiện đâu cả, mà chỉ thấy rõ ràng: gia đình bị phá sản, sự nghiệp tiêu tan, người sống dở chết dở…
Lúc ấy mới ăn năn thì ĐÃ QUÁ MUỘN!




****  Câu hỏi :-


1.   Suốt đời vất vả khổ nhọc, có phải là bạn chỉ lo nuôi nấng cái “Ta Giả” hay không? Có lợi ích được gì cho “Ta Thật” không? Trước đây, nếu chưa biết thì thôi, từ nay đã biết rồi thì ta phải làm sao?

2.   Tư duy (suy nghĩ) cũng thuộc về tâm linh. Tại sao chúng ta không chấp nhận quan điểm, lấy suy nghĩ làm cái Ta của ông Descartes?

3.   Khi bạn đã biết rõ cái “Ta Thật” , bạn có cần phải gắng sức dụng công để thấy nó, hay cứ mặc kệ, bỏ qua suốt cả đời này?

4.   Các sự tích cảm ứng không có quan hệ nhân quả tất yếu đối với việc vãng sanh, mà phải đạt đến tâm cuồng dừng bặt, mới có thể đến phương Tây. Bạn nghĩ sao về nhận thức này?

5.   Nhìn ở giác độ nào để biết rằng, Thân (ta giả) và Tâm (ta thật) là hai thứ khác nhau, mặc dù chúng có quan hệ hết sực chặt chẽ, khít khao với nhau?

6.   Nếu bạn đã biết, tâm mới là Ta Thật, lại cũng biết nó đang bị căn bệnh Tâm Thần nguy hiểm nhất là Vọng Tưởng ,vậy có nên sớm lo điều trị cho nó, hay là chẳng thèm để ý đến?

7.   Vũ trụ vật chất rộng lớn không bờ, chúng ta có nên phát huy tinh thần Christophe Colomb và Megellan để vào sâu tìm tòi phát hiện ra nó chăng? Dùng cách gì để tiếp cận, nắm bắt được nó?

8.   Lúc đã thấy rõ sự bế tắc (sơn cùng thủy tận) của hướng phát huy theo vũ trụ vật chất, bạn có nên thay đổi, hướng đến vũ trụ phi vật chất không? Làm sao đến đó được?

9.   Vũ trụ vô cùng rộng lớn, gồm cả không gian trong, không gian ngoài, hàng triệu tỷ tinh cầu, biết chọn chỗ nào là có quan hệ sống còn bậc nhất với bạn?

10.   Bạn muốn được Nhất Tâm Bất Loạn, hay được diệu pháp Vô Sanh Pháp Nhẫn, chăng? Có cần chúng tôi cung cấp pháp môn tu một cách miễn phí chăng ?


TRẢ LỜI CÂU HỎI


1.   Một đời con người, hầu hết là vất vả để nuôi thân xác, không có pháp thể hội được thân thật. Nhờ sự soi sáng của Phật pháp, biết có thân thật, từ nay phải vì nó mà dụng công.

2.   Vì tư duy có Thiện, có Ác, không thiện không ác: lại, thường biến dối, không phù hợp những thuộc tính cơ bản của Ta

3.   Trước khi chết, nên gắng sức tu pháp Trị Tâm Bệnh, sao cho thân thật không còn bệnh, đạt được tự tại giải thoát.

4.   Không dị nghị gì cả, vì ngoại giáo cũng không thiếu những sự tích cảm ứng. tâm cuồng dừng bặt, Tịnh Độ gọi là Ngộ vô sanh nhân, công phu mạnh hơn pháp “nhất tâm bất loạn” muôn lần.

5.   Nhìn vào sanh già bệnh chết để thấy rõ. Đâu ai muốn sanh vào một gia đình nghèo, nhưng người nghèo lại nhiều con. Chẳng ai muốn già yếu, mà người cứ già da nhăn tóc bạc nơi nào cũng thấy. Không ai ham bệnh tật, bất đắc dĩ mới đi đến thầy thuốc. Còn cái chết thì khỏi nói, người bình thường chẳng ai mong nó.

Những điều đó đủ nói lên Thân và Tâm là hai thứ khác nhau. Chẳng cần trí tuệ cao xa gì, cũng có thể biết rõ ràng.

6.   Ta Giả có bệnh, gấp rút tìm thầy thuốc. Ta thật có bệnh không thèm để ý, thật dại dột không ai bằng!

7.   Dùng “quan niệm về thân xác”, “cong mắt tâm” và “thời gian cần thiết” để thực hành pháp vô niệm, chắc chắn có kết quả.

8.   Sum la vạn tượng rộng lớn vô hạn của vũ trụ vật chất, chỉ là một bọt nước nhỏ của vũ trụ phi vật chất (vũ trụ tri giác). Muốn vào được vũ trụ phi vật chất, chẳng khó khăn gì, ngay lúc ông nhắm mắt lại đôi mắt, là bắt đầu vào đó rồi.

9.   Đó là cái điểm nhỏ phát ra tự ngôn tự ngữ trong da bụng mỗi người. chỉ cần tiêu diệt hết những tâm ngữ trùng điệp không ngớt ở chỗ đó, là thu được lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.

10.   Chính quí vị trả lời lấy



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:17:34 am »

(tt)

2.- QUAN SÁT VÀ PHÁT HIỆN VỀ “TA”

   Đọc qua đầu đề, có lẽ quý vị sẽ thắc mắc, chính mình là “TA” mà còn có gì phải quan sát và phát hiện sao ?
   Vấn đề không phải đơn giản như thế đâu.

   Theo công bố ngày 1.7.1997, cơ quan Liên Hiệp Quốc cho biết, thế giới hiện nay có 5,8 tỷ người. Thế mà, thực tâm mà nói, có được bao nhiêu người, kể cả số vạn nhà Khoa học và nhà Tôn giáo, hiểu biết thông suốt rõ ràng về cái “TA” nầy ?


   Chúng ta hãy triển khai nghiên cứu cái vấn đề lẽ ra không thành vấn đề nầy, bởi vì nó vô cùng quan trọng thiết thực nhất, cụ thể nhất đến chúng ta. Nếu như mọi người vẫn cứ mê mờ (si mê) bỏ mất cái TA THẬT  ,  thì đời sống nhân loại vẫn cứ mơ mơ hồ hồ trong vòng tranh tối tranh sáng mãi.

   Ai nấy đều phải công nhận, định nghĩa đúng đắn nhất về TA là : “Cái có khả năng tự chủ, tự tại và tùy tâm sở dục (muốn gì được nấy).

Như vậy, nếu thiếu một trong những thuộc tính trọng yếu đó, cái như thế không thể gọi là TA được.

   Hiện tại, mọi nhân sĩ trên thế giới đều cho (gọi) “tấm thân bảy thước” của mỗi người là cái TA của mình. Quả thật là sai lầm !

   Quý vị thử nghĩ xem, có ai dám khẳng định thân thể của chính mình có thể luôn được tự tại, tự mình làm chủ và tùy tâm sở dục chăng ?

   Chắc chắn ai nấy cũng buộc phải trả lời là không thể. Vì chỉ cần một chút suy nghĩ, quan sát là dễ dàng thấy rõ thân thể mình chẳng do mình làm chủ chút nào. Trước đây, nó mạnh khỏe đẹp đẽ bao nhiêu, thì nay nó yếu đuối, tàn tạ bấy nhiêu, trong khi mình hoàn toàn không muốn, không thích như thế bao giờ. Trong khi mình muốn trẻ, muốn xinh, muốn trường tồn, thì nó vẫn ngoan cố già đi, xấu xí đi, tàn tạ bấy nhiêu, trong khi mình hoàn toàn KHÔNG MUỐN, không thích như thế bao giờ.

Trong khi mình muốn trẻ muốn xinh, muốn trường tồn thì nó vẫn cứ  ngoan cố già đi, xấu đi, tàn rụi dần đi… Rõ ràng là nó đã mạnh dạn phủ định cái mà mình tự gọi là TA đó rồi !

   Xưa nay, đã có những nhà Tôn giáo ưu tú cũng đã từng phát hiện và tuyên bố, thân thể vật chất nầy chẳng phải là TA, mà chỉ là CỦA TA.

Tương tự như nhà cửa, quần áo… đối với con người vậy.

   Sự thật ấy, cho dù ông có khóa chặt cứng vào mình cái thác giác từ bẩm sinh, cho thân là TA, đi nữa, cũng không thể nào biến cải nó thành TA THẬT được.

   Ngạn ngữ phương Tây đã từng nói :”Thân thể là nhà ở của Linh hồn.

Lúc thân thể già, bệnh, trở thành tù ngục của Linh hồn”


   Từ xưa nhẫn nay, đã xảy ra biết bao những vụ “nhà cửa” bị người khác chiếm đoạt, “quần áo” bị người khác mặc nhầm ! Nhưng vô phúc thay, những chuyện có thật 100% đó lại bị người ta cố ý tránh né, xếp vào loại chuyện vớ vẩn, chẳng ai thèm quan tâm tới. Có thể nói đó là một tổn thất hết sức lớn lao, chẳng những cho riêng giới khoa học, mà còn cho cả loài người nữa !

   Người Trung Quốc cũng có lúc đề cập đến, nhưng cũng chưa triệt để và rõ ràng lắm, thể hiện qua các câu thành ngữ, gọi người nữ là “Máy Đẻ Con”, gọi người nam là “Máy Chế Tạo Phẩn”. Lời nói tuy thô tục, nhưng suy gẫm kỹ chẳng phải là vô lý.

   Trong Tôn giáo, từ xưa đã sớm cải chính khi gọi thân thể, cái mà ai cũng yêu quý nhất, trân trọng nhất, là cái “TÚI DA THÚI”(xú bì nang) hoặc “CÁI ĐÃY DA”. Nhiều người cho là rất khó nghe, nhưng cũng không thể bác bỏ nó một cách dễ dàng được.

   Nếu như quý vị đã chấp nhận tấm thân bảy thước của mình là cái túi da đặc biệt, thì chúng ta cần kiểm thảo, đánh giá lại vấn đề “giá trị cuộc sống” nầy.

   Ý nghĩa cuộc sống con người là gì ?

   Do tiêu chuẩn kiến thức của mỗi người khác nhau, nên người nêu lên ý nầy, kẻ nói ý nọ… Nhưng phương thức chung trong sinh hoạt, dù có giàu có nghèo, có sang có hèn khác nhau, cái chung nhất chẳng khác biệt : chạy Đông kiếm Tây, ăn cay nuốt đắng để sống !

   Có người hỏi, vì sao quý vị phải bôn ba khổ sở, vất vả lao tâm khổ trí v.v… và  v. v… tất cả là vì AI, vì cái gì ?

   Câu trả lời chính xác nhất cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giai cấp… là :”Để phục vụ cho hai bản năng cần thiết của “CÁI TÚI DA” của mỗi người :

1/-Ăn uống để sống.

2/- Truyền tông nối dõi (tình dục).



   Nói lên sự thật như thế tuy thiếu văn nhã, nhưng không một ai lại phủ nhận được nó. Mọi người vì đáp ứng cho nhu cầu không gián đoạn nầy mà phải cháy da phỏng trán, thậm chí dám bỏ cả lương tâm để mưu cầu tư lợi, ích kỹ hại người v. v… Đáp lại tấm thịnh tình dám chết sống để cung phụng cho tấm thân, nó thì ngược lại, chẳng chút biết ơn mà cứ luôn luôn dày vò, hành hạ mình. Đến lúc tuổi già, lại càng làm cho chúng ta như vào địa ngục.

Cho nên LÃO TỬ nói :”Ta sở dĩ có nạn lớn, cũng chỉ vì ta có thân nầy !”. Quả là một chân lý hiếm có !

   Tại sao, mọi người đều phải trả một cái giá hết sức lớn lao đối với “CÁI TÚI DA” nầy ? Vì tất cả đều cho nó  là TA.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:21:51 am »

(tt)

Việc mê mờ (Si Mê) làm mất đi cái TA THẬT (Chân Ngã), nói ra khó tin, nhưng hầu như đa số tuyệt đối chúng sinh không ai chẳng trải qua đời sống hồ đồ như thế… Đến đây, chắc chắn sẽ có vị nóng nảy phát biểu :”Vậy thì ông chỉ rõ đúng cái TA ở nơi nào, là Ai ? Nếu ông không chỉ tay vào ngực để trả lời, thì chắc là không còn cách khác !”

   Quả thật, ai cũng không ngờ được vấn đề quá giản đơn nầy, lại làm đảo lộn gây khó khăn biết bao cho chúng sanh thiên hạ xưa nay, và có lẽ còn dài dài về sau nầy, nếu như chúng ta chưa thay đổi được nhận thức.

   Nhà khoa học kiêm triết gia lớn : RENÉ DESCARTES (1596-1650) người Pháp cũng nêu ý kiến về TA như sau : “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy tức là tôi hiện hữu). Mặc dầu đáp án trên chưa thật chính xác, nhưng vẫn đạt điểm  trên trung bình. Bởi vì, chỉ có riêng mình ông ở phương Tây, dám phủ định cái thân thể mang đầy đủ mắt, tai mũi, lưỡi… chẳng phải là TA, chỉ nhận TƯ DUY, cái không có hình tướng mới là TA.

   Vì sao đáp án của Ông DESCARTES chưa chính xác ? Bởi sự quan sát của ông về TƯ DUY cũng chưa tường tận lắm. Tư duy (=suy nghĩ) có niệm Thiện niệm Ác, niệm không Thiện không Ác, thường khó khống chế, ta không thể làm chủ thật sự đối với nó… tóm lại, là vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các thuộc tính căn bản của định nghĩa về TA (Pháp Thân hay Chân Như).

   Đúng là ông bị : “Một vầng mây trắng che miệng hang,
                    Bao nhiêu chim bay, mờ mịt tổ”.


   Lẽ dĩ nhiên, những nhân vật nổi tiếng khác như : TẦN THỦY HOÀNG,  HÁN VŨ ĐẾ, ALEXANDRE đại đế, GENIS KHAN (Thành Cát Tư Hản), PLATON, ARISTOTLE, Sir Isaac NEWTON, Albert EINSTEIN…… cũng không thể vượt ra khỏi giới hạn khắc nghiệt của Vũ Trụ Cảm Giác (=Vũ Trụ Tương Đối) nầy được.

   Nói như thế, có người lại lên tiếng RẦY cho, mắc mớ gì lại phải nghiên cứu cái chuyện xa vời là “Mọi Người Quên Mất Cái Ta Thật” làm chi, khi mà ai ai ai cũng đã, đang và sẽ vẫn ăn cơm mặc áo, sanh con đẻ cái đầy đàng đầy đống, nhất là đang trải qua đời sống vui vẻ (?) nầy… Vậy, có thật sự cần thiết phải mất nhiều thì giờ cho công việc nghiên cứu cái thứ triết học hư vô nầy không ?

   Nói thế, dĩ nhiên là “nói cùng”, đó là thái độ thụ động chẳng hay ho, không thể giải quyết được những điều có liên quan trực tiếp đến cá tính “NHÂN SINH QUAN” của họ. Nhất là vấn đề Gìa, Bệnh, Chết, tất cả đều bó tay chịu trói. Cái GÚT CHẾT” về sự Già chết nầy, ngày nào chưa mở ra được, thì ngày ấy cuộc sống của con người đều vẫn hoàn toàn vô ý nghĩa, thậm chí nguy hiễm, vô lý là khác ! Phần lớn đều cảm nhận ra rằng, gió xuân một trận thổi qua, chớp mắt thành không…. Suy cho cùng, tất cả đều có liên quan đến vấn đề mê mờ (Si Mê) đánh mất cái TA THẬT của con người mà thôi.

Hiện nay, cơ quan Không gian NASA (Mỹ) tập hợp các nhà khoa học ưu tú với số hàng vạn người, tập trung ra sức nổ lực vào công tác chinh phục Không Gian. Nhìn ở một góc độ sâu kín, động cơ của công tác nầy chính là để tìm kiếm một nơi, một địa điểm an toàn cho tương lai nhân loại, gọi đó là “công tác lúc chưa mưa”.

   Nhưng suy cho cùng, cho dù nhóm nhà khoa học nầy có thể chinh phục cả những hành tinh xa nhất trong Thái Dương Hệ như  các sao TỬ VƯƠNG, HẢI VƯƠNG… đi nữa, để cho con người của quả địa cầu nầy lên đó ở cả triệu triệu người, xây dựng hàng triệu tòa nhà chọc trời kiểu EMPIRE STATE BUILDING đi nữa, điều chắc chắn là, không thể nào bảo đảm những con người nầy được “tâm hoa đua nở” luôn có nụ cười tươi tắn trên môi !

   Vì sao tôi dám khẳng định như thế ? Bởi vì, cái hạnh phúc do vật chất mang lại chỉ có thể phát triển đến giới hạn tối đa của nó mà thôi. Quý Vị chỉ cần lấy chuyện ăn uống của nhà nghèo nhà giàu mà suy ra là đủ thấy ? Cho nên, công tác chinh phục Không Gian rút cục vẫn không thể bằng công tác phải làm sao phát hiện cho được cái TA THẬT. Đó mới là việc tối quan trọng của loài người. Quý vị hãy nhìn xung quanh xem, vật chất phong phú có phải là yếu tố quyết định cho sự an ổn vui sướng của con người không ?

   Việc hưởng thụ vật chất đã bị cái giới hạn tất yếu của sự cần thiết về sinh lý. Một khi đã vượt quá tiêu chuẩn về nhu cầu của cơ thể, trên phương diện cảm nhận, sự hưởng thụ sẽ trở nên hết sức mờ nhạt. Thí dụ như, lúc ông đang rất đói khát, chỉ cần một củ khoai, cốc nước lạnh cũng ngon như sơn hào hải vị, không bút mực nào tả xiết ! Nhưng, nếu như ngày nào ông cũng ăn những bửa tiệc của Vua Chúa, thì chắc chắn ông chẳng những không thích thú mà còn coi như là một cực hình ! Lẽ thật ấy, ai đã có trải qua rồi đều biết rõ.

   Tương tự, khi còn là một dân nghèo, sống chui rúc trong ổ chuột, khi được vào ở trong lầu gác hoa viên, tưởng chừng như lạc vào cảnh Tiên. Nhưng, nếu tiếp tục ở thêm năm thứ hai, năm thứ ba… thì sao  ? Thực tế, là nó cũng sẽ lợt lạt chán nãn vô cùng. Tại sao vậy ?

   Nguyên nhân chủ yếu là vì trong Tâm Linh của con người, dù sang  hèn giàu nghèo… vẫn còn mang chứng bệnh trầm kha VỌNG TƯỞNG. Đời sống vật chất đầy đủ, không phải là liều thuốc để trị lành căn bệnh tiên thiên khí nầy. Trái lại, càng đề cao sở thích vật chất, nước dâng thuyền cao lên, càng đòi hỏi nhiều thứ hơn nữa, thử hỏi đến bao giờ mới cùng !?

   Thật sự, Tâm Linh con người có bệnh không ? Quý vị chỉ cần tự mình nhắm mắt ngồi yên chừng vài phút, xoay sức CHÚ Ý quan sát bên trong tâm, quý vị sẽ thấy trùng trùng điệp điệp những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, tuy không nghe được tiếng, không thấy được hình tướng của nó, nhưng nó nói những gì, quý vị đều có thể dùng bút ghi chép lại được. Đó gọi là “TÂM BỆNH”. Dưới sự soi sáng của Phật Pháp, nó đã lộ nguyên hình.

   Có người cãi lại, những thứ “Tự Nói Tự Rằng” đó, sở dĩ  có là tại mình nghĩ ngợi mà ra, có gì phải nhấn mạnh đề cao sự lo sợ quá đáng như thế ? Xin thưa, đó là tại vì hằng ngày ông không lưu ý tới nó thôi, nên mới phát biểu như vậy. Nếu ông thực sự quan tâm, chú ý quan sát, theo dõi chặt chẻ, sẽ dễ dàng nhận ra sự thật, là hơn 90% nội dung của những thứ “Tự Ngôn Tự ngữ” đều là những thứ trò chơi “không mời mà đến, chẳng từ biệt mà đi ( rút lui)”.

   Tâm là cái gì ? Phần trước có nói, TÂM chính là TA (Tâm giả ngã dã). Cho nên, nói một cách rốt ráo rằng, tất cả những ai trong Tâm còn có Vọng Tưởng Tạp Niệm đều là những người bị bệnh “Mắc Thằng Bố” cả thảy ! Chỉ có điều nó nói lảm nhảm ở bên trong chứ chưa phát tác ra bên ngoài như những người bị bệnh nặng mà thôi !.

   Đã như thế, cho dù vật chất có cao hơn núi EVEREST cũng không thể giúp cho họ an ổn vui sướng. Trái lại, vật chất chính “TỔ ẤM” của tất cả những tai nạn khác !? Chẳng những tự hại cho bản thân, gia đình mà còn có khi mang tới đại họa cho loài người. Lịch sử đã nêu rõ, nào HITLER ADOLF, TOJO HIDESEKI, MUSSOLINI BENITO… đều là những con người điên cuồng nầy, cũng bởi chính do những “thằng bố âm thầm” trong Tâm Linh họ xúi dục đấy.

   Xưa nay, trong và ngoài nước (TQ), có rất nhiều phần tử tinh anh biết thương người, đều có lòng mong muốn giải trừ tai nạn cho nhân loại, đã đề xuất rất nhiều lý luận và phương pháp, thành các trường phái triết học, chính trị… có lúc cũng được đề cao là “bách chiến bách thắng” v. v… Nhưng kết quả thực tế thì ai nấy đều biết rõ :”có cũng như không”. Mấy ngàn năm nay, trên thế giới vẫn loạn lạc như cũ, còn có thể phát triển ngày càng thêm rộng lớn hơn ! Nguyên nhân thất bại là vì họ đã trị lầm căn bệnh, không xác định được chính xác nguyên nhân thực sự của căn bệnh, cho nên đau đầu mà chỉ trị tay chân, hay khá hơn, thì đau đầu trị đầu, đau chân trị chân… chứ chưa có cách nào trị toàn diện, tổng thể của căn bệnh !?

   Lại có rất nhiều người, xem những thứ “Tự Ngôn Tự ngữ” trong thân thể là chẳng có gì quan trọng, vì cho đó là tác dụng phản xạ của làn sóng điện bộ não sanh ra, toàn là chuyện không đáng kể. Đó cũng là một sai lầm, vì họ không biết được cái TA THẬT (Pháp Thân) của mình nên mới có thứ thác giác nầy. Ở trong những bài phát biểu trước, chúng tôi đã phân tích rõ ràng về sự không chính xác của nhận thức đó rồi.

   Tóm lại, trên thế giới hiện nay, các sách nghiên cứu về thân thể con người chất cao như núi, rộng như biển, nhưng quả thật chúng tôi chưa phát hiện ra có bộ sách nào, đi sâu vào phát hiện về lĩnh vực Ý NIỆM một cách chính xác. Như thế, mọi người đã cho rằng, vấn đề đó chẳng có gì quan trọng so với việc hiểu biết về thân thể. Bây giờ, chúng ta lại nói rằng, việc nghiên cứu về Tâm cực kỳ trọng yếu hơn về Thân, chắc chắn mọi người sẽ bịt mũi lắc đầu.

   Nhưng, quý vị hãy bình tâm, chịu khó bỏ ra một chút suy nghĩ phân tích xem, cái thân thể thuần vật chất nầy tạo tác ra được hành động, cử chỉ, ngôn ngữ… có phải do Ý NIỆM chỉ đạo không ? Nếu lìa bỏ Ý NIỆM, cái thây ma nầy có còn xử dụng được chăng ?

(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:25:47 am »

(tt)


   Nói cho sát sườn hơn, giá trị của những người máy ROBOT làm được những việc khó khăn hơn con người, đích thực chẳng phải là những dữ liệu Ý NIỆM tàng trữ trong bộ trung tâm điện não, hay là ở đống sắt vụn bên ngoài ?

   Để trả lời cho câu hỏi, vì sao nhân sinh cứ mãi chẳng được như ý, ngày qua tháng lại vẫn cứ trôi lăn trong biển khổ mênh mông ? Dĩ nhiên, có rất nhiều nguyên nhân, nhưng rốt ráo nhất vẫn là một cái, đó chính là :”Thiếu sự quan sát một cách miên mật những Ý Niệm của mình, nên chẳng thế nào biết được rằng, trong TÂM THANH TỊNH (=Tâm chính thường), tức cái TA đích thực, đã chứa sẳn vô vàn vật báu !”

   Phản ứng chung của loài người xưa nay, khi mong mỏi lìa khổ được vui, đã làm hết sức mình vẫn thấy “lực bất tòng tâm”(kết quả chẳng theo ý) thì chỉ còn có một cách duy nhất là, hướng về Thần Linh (Thượng Đế) hoặc Linh Giới hay Tịnh Giới để cầu xin trợ giúp mà thôi. Việc nầy các nhà Tôn giáo hiện nay có rất nhiều, sẵn sàng hướng dẫn cho quý vị hết sức cặn kẻ, và hết sức vui lòng “trao đổi hai chiều” với quý vị về tất cả những diệu pháp, bí pháp (?) mà họ có được !.

   Tuy nhiên, chúng tôi cũng không ngại gì nói thẳng, nói thật với quý vị, là đừng nên đặt hoàn toàn hy vọng vào việc đó. Bởi vì, sự giao lưu giữa  loài người và Thần Linh quả là không đơn giản chút nào, tính hiệu quả của nó lại không có gì bảo đảm đến một phần ngàn (1/1000) nữa là !?

   Cho nên, phương pháp “Ai tin sâu sẽ được cứu rỗi” chẳng phải là liều thuốc “Linh Dược Ngàn Năm” để cải tử hoàn sanh đâu. Cho dù từ Đức GIÁO HOÀNG LA MÃ, PHẬT SỐNG  cho đến  đồng cốt siêu cấp… đi nữa, bản thân của họ cũng chưa khẳng định chắc chắn có thể cùng nhân vật Linh Giới, Tịnh Giới kia, giao lưu tư tưởng thông suốt không ngăn ngại thay. Hà huống gì nói đến việc hỗ trợ, giúp đỡ cho quý vị !?

   Nói cho công bằng, tác dụng về Tôn Giáo đối với loài người, cũng đạt đến nửa tốt nửa xấu, không nên phủ định sạch trơn sự cống hiến của nó. Nhưng muốn chắc ăn thực sự, chúng tôi đề nghị, CẦN và RẤT CẦN thêm vào đó phương pháp TRỊ TÂM BỆNH” khi nào chúng ta biết rõ được cái “Tâm Thanh Tịnh”(=Tâm Thể Vô Niệm) mới là TA THẬT. Làm được như vậy, chúng ta đã tạo đủ cả hai bánh của một chiếc xe, hai cánh của một con chim… không thiếu một như lâu nay. Có như thế, Tôn giáo mới có thể phát huy được ánh sáng rực rỡ của nó.

   Già trẻ lớn bé trên thế giới, ngày chạy đêm  lo, từ khâu nuôi lớn, học hành thành đạt, kết hôn, sanh con đẻ cháu… hết sức lao đao vất vả, chỉ vì mục đích chung nhất là muốn “lìa khổ được vui”. Mấy ngàn năm loài người sống chết chiến đấu với mục đích ấy, nhưng đau đớn thay, ai nấy cũng thực lòng nhận ra rằng, nó chỉ “ở  thế khả năng”(nhìn đến) mà “không thể nào thực hiện” được !.

   Nếu như quý vị đã nhận chân được lẽ thực không có lối thoát ấy, tại sao quý vị không chịu kiểm điểm lại thân tâm, có chỗ nào chưa ổn thỏa ? Mà thân thể đã là thuần vật chất, chẳng có gì để kiểm điểm qui trách nhiệm cho nó cả, tại sao quý vị không ra sức chú ý xoay về cái Tâm, tức Ý Niệm, cái mà hàng ngày quý vị xem nó chẳng đáng giá một xu nầy, ngay nơi đó để biết được những thứ “tâm ngữ” cuồng loạn, khó khống chế…, rồi làm sao đó để cho nó dừng bặt (ngừng dứt), để được an vui ra sao… và v.v… Đó mới thật là :-

“Sơn cùng thủy tận, nghi vô lộ,
Liễu ám  hoa minh, biệt nhứt thôn”.

T Ạ M  D Ị C H :

“Non cùng nước tận, ngờ không lối,
Vượt khóm liễu hoa, lại thấy làng”.


Nhưng, làm thế nào để vượt qua cho được khỏi rặng liễu mờ ảo và hoa đẹp chập chờn kia ?

   Không có gì khó cả, chỉ xin quý vị trang bị cho đầy đủ những hành trang sau đây :

  1.-Phải thể hội sâu sắc thân thể thuần là vật chất, giống như gỗ chạm đất nặn một thứ, bên trong nó phải tuyệt đối yên lặng (100%), không thể có những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”. (Ghi chú :Cần lưu ý, máu huyết lưu thông, cơ quan trong thân hoạt động… đều không phải là “Tự Ngôn Tự ngữ”).

   2.-Phải hết sức CHÚ Ý quan sát, những Tạp Niệm (nghĩ bậy tưởng bạ) nó đang nói cái gì, phân biệt rõ ràng từng câu, từng tiếng (Ghi chú : Điểm nầy rất quan trọng). Cụ thể là mỗi phút phải phát hiện ít nhứt là 3 câu “tâm ngữ” một cách thật đầy đủ.

   3.-Ngay lúc phát hiện trong thân có những “tâm ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm) như thế, lại đã biết chắc lẽ ra nó phải hoàn toàn yên lặng, liền xuất hiện một cảm giác kỳ bí lạ lùng, ào ạt trào ra, không cách gì ngăn được. Điều đó gọi là KỲ TÌNH (**).

   4.-Khi KỲ TÌNH sinh ra, tâm cuồng nhiều đời bỗng nhiên dừng bặt, trong tâm thanh lương an ổn thú vị không thể tả. Ngay đó gọi là CHÂN NHƯ (CHÂN TÂM, PHẬT TÁNH) hiện ra.

   5.-Nếu trường hợp thấy được “tâm ngữ” mà không thể sanh ra cảm giác thú vị, thì dùng pháp “NHẠI NÓI THEO TÂM”(Học Tâm Thuyết Thoại). Nó nói những câu thượng lưu, ta cũng nói theo thượng lưu; nó nói những câu hạ đẳng, ta cũng nói theo hạ đẳng. Lúc ta và nó một xướng một họa như thế, lại đã biết chắc là đang xảy ra trong thân thể phải yên lặng tuyệt đối, tâm cuồng cũng phải dừng nghỉ.


   Cái TA THẬT (Chân Như) nầy có thể sáng tạo, cải biến muốn vật, là vật báu vô giá, có được là nhờ sự xoay tâm nhãn vào quan sát một cách miên mật bên trong thân, đồng thời, với sự thể hội sâu sắc thân vật chất phải tuyệt đối yên lặng. Chỉ cần đủ thời gian cần thiết là ta có được CHÂN NHƯ (kho châu báu vô giá) vĩnh viễn. Đó mới là cách trị Bệnh khổ chân chính nhất, mong quý vị hữu duyên, quan tâm thực hành tích cực, để sớm đạt được thành an vui.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:30:48 am »

(tt)

*CÂU HỎI ĐỂ THAM KHẢO :-


   1.-Làm thế nào, để tự mình phát hiện bản thân của mình cũng nằm trong tông tộc   “đánh mất TA THẬT” ?

   2.-Đánh mất TA THẬT có thể phát sinh những tai họa gì ?

   3.-Vì sao dám khẳng định, những nhân vật nổi tiếng nhất trên thế giới vẫn nằm trong tông tộc “đánh mất TA THẬT” ? Xin lược thuật lý do ?   4.-Ông René DESCARTES lấy “Tư Duy” cho là TA, là đã căn cứ vào lý do gì ? Nó sai lầm ở chỗ nào ?

5.-Người đời ngày đêm đang vất vả chết sống để làm việc, thực sự họ vì CÁI GÌ ?

6.-Tại sao lấy tấm thân bảy thước cho nó là TA lại không đúng ?

7.-Thân thể và Ý Niệm, cái nào quan trọng hơn, nêu lý do ?

8.-Dùng cách gì để phủ định được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” hiện thực đang có trong thân ta ? Quan niệm về thân xác tuyệt đối yên lặng có tác dụng quan trọng như thế nào đối với pháp môn giải thoát (Vô Niệm) ?

9.-Làm thế nào để có thể chuyển hóa những ý niệm chính, niệm tà, niệm không chính không tà, thành ra cảm giác kỳ bí lạ lùng, thanh lương an lạc ?

10.-Giả sử, nhóm nhà khoa học của cơ quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA) biết được tầm quan trọng của việc phát hiện ra “đánh mất TA THẬT”, để nghiên cứu thêm việc đó, nhân loại sẽ được những lợi ích lớn lao thực sự gì ?

TRẢ LỜI :-

1.-Tự mình xoay sức CHÚ Ý vào trong thân để thấy rõ những Vọng tưởng Tạp niệm lăng xăng lộ xộn, hoặc vẫn tự lấy thân cho là TA, thì mình là thành viên của tông tộc “Đánh mất TA thật” rồi.

2.-Tai họa không kể hết, tóm tắt mấy nét chính :

-Chịu sự dày vò của sinh, già, bệnh, chết.
-Luôn luôn ưu bi khổ não.
-Cắt đứt quan hệ với “THƯỜNG, LẠC NGÃ, TỊNH.

3.-Bài nầy cũng như các sách khác cùng tác giả đều có đề cập đến những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử : PLATON, ALEXANDRE, GENIS KHAN v. v… Căn cứ vào hành động, lời nói, các học thuyết họ nêu ra… đủ để kết luận họ vẫn còn thuộc về tông tộc “đánh mất Ta thật”.

4.-Vì ông René DESCARTES biết chắc, thân đã chẳng phải là TA, vật lại càng chẳng phải là TA, chỉ còn có TƯ DUY mà thôi. Ngoài nó ra chẳng còn có gì khác. Sai lầm cơ bản khi lấy TƯ DUY cho là TA ở chỗ nó thường xuyên biến đổi, không làm chủ được nó nên trái với thuộc tính cơ bản đúng đắn của TA THẬT.

5.-Trả lời gọn và đúng nhất là, để đáp ứng cho hai yêu cầu bản năng cần thiết không ngừng của thân thể là ăn uống và tình dục, cho nên con người mới phải làm việc ngày đêm, đến cháy da phỏng trán.

   6.-Vì thân thể hoạt động ngoài sự chỉ đạo và mong muốn của TA. Nếu muốn biết thêm chi tiết, có thể tham khảo thêm quyển LIFE AFTER LIFE” của Dr. RAYMOND MOODY (USA).

   7.-Thân thể vật chất chỉ là công cụ do Ý NIỆM chỉ huy mà hành động. Không có Ý Niệm, thân thể giống như gỗ đá mà thôi.

   8.-Trên phương diện cảm giác, ta “cảm thấy” trong thân có những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”. Phải dùng góc độ thân thể là thuần vật chất, nghĩa là phải tuyệt đối im lặng, để dễ tạo ra KỲ TÌNH, có lợi cho việc giải thoát.

   9.-Khẳng định những niệm Chánh, niệm Tà, niệm không chánh không tà… đều là những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (=Vọng tưởng Tạp niệm) đang xảy ra trong thân.
   Khi đó, thân thể lại phải tuyệt đối yên lặng, như thế là vô lý, chuyện lẽ ra không có mà bây giờ lại có, cảm giác kỳ bí lạ lùng (Kỳ Tình) sẽ sanh ra. -Vọng tưởng Tạp niệm (=Tự Ngôn Tự Ngữ) liền tiêu mất, Tâm Thanh Tịnh luôn thanh lương an lạc.
   Do đó, dù khi dấy khởi lên bất cứ thứ niệm nào, cũng đều phát khởi
Kỳ Tình được cả.

   10.-Chinh phục Không Gian chỉ là để mưu cầu vật chất cho loài người và tránh né tai họa của loài người. Trong khi mầm móng chính của tai họa lại còn dính chặt trong con người, vật chất không sao xóa trừ được tai họa, thì đi đến bất cứ đâu, khổ đau vẫn còn bám dính.

   Nếu như họ chịu nghiên cứu, phát hiện ra việc “đánh mất TA THẬT”, để góp phần trong việc chữa lành căn bệnh Khổ cho nhân loại, lợi ích nhất định không sao tả hết./.

   *Chú Thích:-    TA THẬT : không tướng, không động, và không sinh diệt, Phật học gọi là Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Pháp Giới Tánh, Bản Lai Diện Mục…

   (**) KỲ TÌNH : trước kia gọi là NGHI TÌNH, nay sửa lại cho thích nghi hơn./.



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:37:49 am »

(tt)

3.- PHÁP  TU CHỈ RA  CHƠN TÂM CỦA NGƯỜI XƯA:-

Chỉ Chơn Tâm

1.  Tin chắc có Chơn Tâm.

        Chơn Tâm là chủ tể của sự sống, nó hằng lưu lộ ở sáu căn. Muốn nhận ra nó, bước đầu ta phải tin chắc chơn tâm hằng hữu. Dẫn một số kinh văn để chúng ta dễ dàng tin chắc. Kinh Hoa Nghiêm dạy: "Tin là gốc đạo, là mẹ của các công đức, tin có thể nuôi dưỡng các căn lành, tin có thể thành tựu quả Bồ đề". Duy Thức nói: "Tin như hạt thanh châu, có khả năng làm nước đục hóa trong. Vì thế, muôn việc lành phát sanh, tin luôn luôn đi tiền đạo, nên trong tất cả kinh Phật đều đề “như thị ngã văn” (ta nghe như vầy) để mọi người sanh lòng tin trước nhất.

        Có người hỏi: Tin ở Giáo môn khác với tin ở Tổ môn thế nào? Giáo môn và Tổ môn dạy nhiều chỗ chẳng đồng: Giáo môn dạy người tin nhơn quả, ưa phước lạc, tin mười thiện là diệu nhơn mà cũng là lạc quả của nhơn thiên. Nếu có vui không tịch, tin sanh diệt, nhơn duyên là chánh nhơn, Khổ, Tập, Diệt, Đạo là chánh quả. Có vui Phật quả tin ba kiếp sau đó làm đại nhơn, bồ đề, niết bàn là chánh quả. Chánh tín của Tổ môn không đồng ở trên: Không tin tất cả nhơn quả hữu vi, chỉ tin tự mình xưa nay là Phật. Tự tánh thiên chơn, mỗi người đều có đủ; Niết bàn diệu thể, mỗi cái đều tròn, không muốn nhờ ai, tự mình có đủ, vì bởi thủ xã nên chẳng thấy được! Chí Công dạy: Có không thân tướng trong thân tướng, con đường vô minh cũng chính là con đường vô sanh. Vĩnh Gia Thiền sư dạy: Thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân thể huyễn hóa là pháp thân. Nên biết, chúng sanh xưa nay vẫn là Phật. Nếu muốn có lòng tin, chúng ta cần phải hiểu rõ, nên Vĩnh Gia Tập có câu: Tin mà không hiểu thêm lớn vô minh, hiểu mà không tin thêm lớn tà kiến. Nếu người có cả tin lẫn hiểu chắc sẽ được vào Đạo.

        Có người hỏi: Người mới có lòng tin, chưa được vào đạo, có lợi ích gì? Luận Khởi Tín nói: Nếu người nghe pháp này rồi không sanh lòng sợ sệt, nên biết người đó sẽ nối tiếp giống Phật, chắc được chư Phật thọ ký cho. Nếu có người dạy tất cả chúng sanh, trong tam thiên đại thiên thế giới, thực hành trọn mười điều lành, không bằng có người ở trong một niệm chánh tư duy chơn như, công đức người ấy hơn người dạy thực hành mười điều lành trên không thể thí dụ. Kinh Bát Nhã nói: Nếu người một niệm sanh lòng tin trong sạch, Như lai đều thấy biết hết, các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức. Muốn đi ngàn dặm, bước đầu phải đúng hướng, bước đầu đã lầm, ngàn dặm cũng lầm. Người vào nước vô vi, lòng tin ban đầu cần yếu phải đúng. Lòng tin ban đầu đã mất, muôn việc thiện đều lui. Nên Tổ sư dạy: Sai một ly xa ngàn dậm. Chính là lý này.

2.  Những tên khác của chơn tâm


        Đã sanh lòng tin chắc, chơn tâm sẳn trong mọi người, nhưng nó vốn không có tên và hình tướng, nên có nhiều tên khác nhau, chúng ta cần phải biết tường tận. Kinh Lăng Nghiêm phát minh được tâm này, vì nó lìa tất cả hư vọng gọi là chơn, linh minh tịch chiếu gọi là tâm, nên gọi là chơn tâm. Tâm này chỗ lập danh của Phật và Tổ không đồng nhau: Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là TÂM ĐỊA vì nó sanh ra các pháp lành. Kinh Bát Nhã gọi là BỒ ĐỀ vì cùng thể giác. Kinh Hoa Nghiêm gọi là PHÁP GIỚI vì nó dung nhiếp thấu suốt. Kinh Kim Cang gọi là NHƯ LAI vì không từ đâu đến. Tâm Kinh gọi là NIẾT BÀN vì là chỗ về của tất cả Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi NHƯ NHƯ vì chơn thường không biến đổi. Kinh Tịnh Danh gọi PHÁP THÂN vì để báo thân và hóa thân y chỉ. Khởi Tín Luận gọi CHƠN NHƯ vì không sanh diệt. Kinh Niết Bàn gọi PHẬT TÁNH vì gốc của bathân. Kinh Viên Giác gọi TỔNG TRÌ vì lưu xuất của công đức. Kinh Thắng Phát gọi NHƯ LAI TÀNG vì ẩn chứa dụng. Kinh Liễu Nghĩa gọi VIÊN GIÁC vì phá chỗ tối, soi sáng tất cả chỗ. Do đó, Diên Thọ Thiền Sư trong Duy Tâm Quyết nói: Một pháp có ngàn tên, hợp theo duyên mà lập hiệu.

        Tổ sư tuyệt cả nói năng, văn tự, tên còn không lập ra, làm gì có nhiều tên, nhưng vì chỗ ứng và cảm theo căn cơ, nên tên ấy cũng nhiều. Có lúc các Ngài gọi là TU CƠ vì chỉ bản tánh chúng sanh. Có lúc gọi CHÁNH NHÃN vì quan sát các cái có tướng. Có lúc gọi DIỆU TÂM vì hư linh tịch chiếu. Có lúc gọi CHỦ NHƠN ÔNG vì trách nhiệm gánh vác. Có lúc gọi là VÔ ĐỂ BÁT vì tùy chỗ mà sinh nhai. Có lúc gọi là MỘT HUYỀN CẦM vì NGHE được tiếng "đàn không dây" lúc ấy. Có lúc gọi là VÔ TẬN ĐĂNG vì chiếu phá kẻ mê tình. Có lúc gọi VÔ CĂN THỌ vì gốc rễ bền bỉ. Có lúc gọi XUY MAO KIẾM vì dứt sạch căn trần. Có lúc gọi VÔ VI QUỐC vì bể lặng sóng êm. Có lúc gọi MÂU NI CHÂU vì giúp người nghèo khổ. Có lúc gọi VÔ NHU TỎA vì đóng kín sáu tình. Có khi gọi TRÂU BÙN, NGỰA GỖ, TÂM NGUYÊN, TÂM ẤN, TÂM CẢNH, TÂM NGUYỆT, TÂM CHÂU, nhiều thứ tên khác nhau không thể chép hết. Nếu người nào đạt được chơn tâm, các tên đều hiểu rõ. Mê chơn tâm, các tên đều vướng mắc. Vì thế đối với chơn tâm, cần phải hiểu rõ diệu thể của nó.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, dieunha, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:36:05 am »

(tt)

3.  Diệu thể của chơn tâm


        Kinh Phóng Quang Bát Nhã nói: Bát Nhã không có tướng sở hữu, không có tướng sanh diệt. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: Tự thể của chơn như ở tất cả phàm phu, Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật, không hề có thêm hoặc bớt, không có sanh diệt, rốt ráo thường hằng, từ trước đến sau nó vẫn tự đầy đủ tất cả công đức.

        Căn cứ vào kinh và luận kể trên, bản thể chơn tâm vượt khỏi nhơn quả, thông suốt xưa nay, không lập thánh phàm, không có đối đải, như bầu thái hư trùm tất cả chỗ. Thể nó mầu nhiệm, lặng lẽ (ngưng tịch), dứt hết tất cả hí luận, không sanh, không diệt, chẳng co, chẳng không, chẳng động, chẳng lai, vắng lặng (trạm nhiên) thường trụ gọi là CỰU NHẬT CHỦ NHƠN ÔNG hay OAI ÂM NA BẠN NHƠN, lại gọi KHÔNG KIẾP TIỀN TRI KỶ. Nó là một vật sáng rỡ, lặng lẽ, không có gì che ngăn, làm lấm lem. Tất cả núi sông, đất liền, cỏ cây, rừng rậm, muôn sắc muôn màu, các pháp nhiễm và tịnh đều từ trong ấy mà lưu xuất.

Kinh Viên Giác dạy: Này thiện nam tử! Vô Thượng Pháp Vương có môn Đại Đà La Ni tên là Viên Giác, nó lưu xuất tất cả thứ, như Thanh tịnh Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và Ba la Mật, có khả năng dạy bảo các Bồ tát. Khuê Phong Thiền sư dạy: Tâm vốn rỗng rang, vắng lặng, sáng chói rõ ràng, không tới không lui, rõ suốt ba mé, không ở trong, không ở ngoài, thấu suốt mười phương, không diệt không sanh, không cái gì có thể làm hại, lìa tánh lìa tướng, năm sắc ấm không thể làm mờ, nên trong Duy Tâm Quyết của ngài Vĩnh Minh nói: Tâm này là nơi tụ tập tất cả những điều mầu nhiệm và những điều linh ứng, là vua của muôn pháp, là nơi để các hàng tam thừa, ngũ tánh đều nương về, là mẹ của chư Thánh. Độc tôn, độc quý, không thể lấy gì để so sánh, chính là nguồn gốc của đại đạo, là chỗ cốt yếu của chơn pháp. Người tin có nó thì ba đời Bồ tát cùng học, vì học tâm này; ba đời chư Phật đồng chứng, vì chứng tâm này; Đại Tạng Kinh giáo đồng thể hiện, vì thể hiện tâm này; tất cả chúng sanh mê vọng trầm luân, vì mê tâm này; tất cả người tu được ngộ, cũng chỉ ngộ vào tâm này; tất cả chư Tổ truyền nhau, cũng truyền tâm này; chư Tăng khổ công tham phỏng khắp thiên hạ, cũng vì tham cứu tâm này. Đạt được tâm này, thì tất cả đầu mối đều mở tỏ, mê tâm này, thì mọi chỗ đều điên đảo, mỗi niệm đều si cuồng. Tâm này là bản thể sẳn có của tất cả chúng sanh, là căn nguyên sanh ra tất cả thế giới. Vì thế, đức Thế Tôn trên Hội Linh Thứu, đưa cành hoa sen lặng lẽ quên lời. Tổ Đạt Ma quán vách ở Thiếu Thất lặng lẽ nhiều năm không nói. Tất cả đều muốn phát minh diệu thể của tâm này. Vì thế, người muốn vào cửa Thiền, cần phải biết diệu thể và diệu dụng của nó.

4.  Diệu dụng của chơn tâm

        Cổ nhơn có bài kệ:

Gió đông lay cây cỏ,
Mây che tánh khởi trần.
Việc ngày nay hiểu rõ,
Xưa đã mê bao lần.


        Diệu thể của chơn tâm xưa nay vốn không động, an ổn chơn thường. Từ chơn thể khởi ra diệu dụng hiện tiền, chứ không phải từ đâu mà được diệu. Nên Tổ sư có bài tụng:

"Theo tâm muôn cảnh chuyển,
Chỗ chuyển thật u huyền.
Theo dòng nhận được tánh,
Không vui cũng không lo".

 Vì thế, việc làm của các ngài, trong tất cả thời, qua tây, lại đông, ăn cơm, đắp y, quay qua, ngoảnh lại, đều có diệu dụng của chơn tâm hiện rõ mặt. Phàm phu mê hoặc điên đảo, lúc mặc áo bị chấp trước theo mặc áo, lúc ăn cơm đắm trước theo ăn cơm, tất cả việc đều bị tướng chuyển, vì hằng ngày dùng Nó (Phật tánh) mà không biết, Nó ở trước mặt mà không hay, nếu người biết được thể tánh No, thì động, tịnh, có làm, không làm, đều không bị mê muội. Nên Tổ sư dạy: Lúc ở trong bào thai gọi là thân, lúc ở trong cõi đời gọi là người. Ở nơi mắt thì quán sát, ở nơi tai thì nghe, ở nơi mũi thì ngửi mùi thơm, ở nơi miệng thì đàm luận, ở nơi tay thì cầm giữ, ở nơi chân thì chạy đi, Nó biến hiện thì khắp cả pháp giới, thâu vào chỉ bằng hạt bụi trần. Biết được No, chính là Phật tánh, không biết được Nó, gọi là linh hồn. Vì thế, ngài Đạo Ngộ xòe quạt, ngài Thanh Chương trương cung, ngài Cu Đê chặt ngón tay, ngài Tịnh Châu đập đất, ngài Vân Nham rống như sư tử, tất cả đều muốn phát minh cái đại dụng ấy, nếu ở trong việc dùng hằng ngày không mê, tự nhiên ngang dọc không ngại.



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:39:01 am »

(tt)

5.  Thể dụng của chơn tâm một hay khác?


        Nếu nói về tướng, thì thể dụng của chơn tâm không phải một, nếu nói về tánh, thì không phải khác, nên thể và dụng của chơn tâm không phải một và không phải khác.

Chúng ta thử suy nghiệm sau đây thì rõ: Diệu thể của chơn tâm không động, tuyệt các đối đãi, lìa tất cả tướng, nếu người không đạt được thể tánh, chứng chơn thường, thì không thể so lường lý ấy; còn diệu dụng tùy theo duyên, ứng hợp nhiều loại, vọng lập các hư tướng, có hình trạng. Tóm lại diệu dụng có tướng, diệu thể vô tướng, nên không phải là một. Lại nữa, dụng từ thể mà phát khởi, nên dụng chẳng rời thể; thể thường phát ra dụng, nên thể chẳng rời dụng. Tóm lại thể và dụng, lý chẳng lìa nhau, nên không phải khác. Như nước lấy tánh ướt làm thể, thể nó không lay động, sóng lay động làm tướng, vì gió thổi, nhưng ngoài nước không có sóng, ngoài sóng không có nước. Tánh ướt là một, nên không phải khác. Từ đó suy ra, chúng ta có thể biết được thể và dụng của chơn tâm.


6.  Chơn tâm ở chỗ mê



        Thể dụng của chơn tâm, mọi người đều có, nhưng sở dĩ có kẻ thánh, người phàm không đồng, vì phàm phu chạy theo vọng tâm, nhận lầm ngoại cảnh, nên mất tánh thanh tịnh, do đó mà bị ngăn che. Sở dĩ phàm phu, chơn tâm không được hiện tiền, như bóng cây trong tối, suối nước ngầm dưới đất sâu, nó sẵn có mà không ai biết.

Kinh Viên Giác nói: Này thiện nam tử! Như hạt Ma Ni bảo châu chiếu ra có năm sắc, tùy theo chỗ mà hiện, người mê thấy có châu Ma Ni kia năm mầu sắc thật, nhưng thật ra chỉ là đối cảnh hiện sắc thôi. Này thiện nam tử! Tánh Viên Giác hiện ở thân tâm, tùy loài mà có, như ở mắt thấy, tai nghe..., người mê nói Viên Giác ở trong thân tâm, nhưng không hề hay biết. Trong Kiền luận nói: Trong càn khôn và vũ trụ có một cái núi báu bí mật, núi ấy chính là nơi chơn tâm có mặt.

Ngài Từ Ân nói: Pháp thân vốn có chư Phật cộng đồng, phàm phu do bị che ngăn mà không biết, phiền não chôn lấp Như Lai Tạng. Bùi Hưu nói: Suốt ngày có tánh Viên Giác, mà chưa từng sống với tánh Viên Giác, nên gọi phàm phu. Nên biết, chơn tâm tuy ở trong trần lao, mà không bị trần lao nhiễm, như ngọc trắng rơi vào bùn, nhưng sắc ngọc vẫn không thay đổi.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:42:31 am »

(tt)

7.  Chơn tâm dứt vọng


        Chơn tâm ở trong vọng là phàm phu, làm sao dứt vọng để thành Thánh được? Cổ Đức dạy: "Vọng tâm không chỗ gá tức Bồ đề, Sanh tử và Niết bàn vốn bình đẳng." Trong Kinh dạy: "Thân huyễn của chúng sanh diệt, thì tâm huyễn cũng diệt, vì tâm huyễn diệt, nên trần huyễn cũng diệt, vì trần huyễn diệt, nên huyễn diệt cũng diệt, như chùi gương hết bụi, ánh sáng hiện ra".

Huyền Giác Thiền sư cũng nói: "Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ cũng như vết nhơ trên kiến, khi vết nhơ hết rồi, ánh sáng mới hiện. Tâm và pháp hai cái đều quên, tánh liền thành chơn. Đó chính là bỏ vọng để thành chơn vậy. Muốn trị vọng tâm, trong Tông môn thường dùng "Vô Tâm" để trị. Có người thắc mắc rằng, nếu nói vô tâm giống như cây cỏ, làm sao trị được vọng tâm? Thực ra vô tâm ở đây luôn luôn có tâm thể,  nên gọi vô tâm, vì trong tâm không có vật nhiễm, nên gọi vô tâm, như gương không có vết nhơ, như nói chén không vì trong chén không có vật gì, chứ không phải không có chén.
Nên Tổ sư nói: Ông chỉ ở trong tâm không có vật gì (không phân biệt) và không có vật gì đối với tâm, tự nhiên trong tâm rỗng sáng, vắng lặng, mầu nhiệm. Đó là tôn chỉ của Tâm. Căn cứ ý trên, chúng ta thấy không có vọng tâm gọi là vô tâm, chứ không phải không có diệu dụng của chơn tâm. Theo chư Tổ sư dạy, công phu tu tập vô tâm không đồng, nay tóm đại ý gồm có mười thứ:


a- Giác Sát:
Khi công phu bình thường phải dứt niệm, đề phòng niệm khởi, nếu có một niệm vừa sanh ra, liền giác ngộ để phá, vọng niệm đã bị phá, sau khi giác ngộ, niệm sẽ chẳng còn sanh. Trong giác ngộ này, trí cũng chẳng cần dùng, vọng niệm và giác đều quên, gọi là vô tâm. Nên Tổ sư nói: "Chẳng sợ niệm khởi, chỉ lo giác chậm". Không cần cầu chơn, chỉ cần dứt chấp, đó là công phu dứt vọng.

b- Hưu hiết (thôi dứt): Khi công phu, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, tâm khởi liền thôi, gặp duyên liền dứt. Cổ nhơn dạy: "Không cho dính mãi tơ, mùa đông đất lạnh lẽo, như hương ở miếu hoang." Tâm không dính mắc, liền được xa rời vọng tâm phân biệt, hoàn cảnh mặc hoàn cảnh, ta vẫn là ta, như thế mới được một phần thôi dứt.

c- Dẫn tâm tại cảnh (Mất tâm còn cảnh): Khi công phu, tất cả vọng niệm đều dứt, không cần ngoại cảnh, chỉ phải dứt từ trong tâm, vọng tâm đã dứt, cảnh có hại gì! Đó là phương pháp cổ nhơn dạy" Đạt người không đạt cảnh. Nên có câu: "Cõi ấy có cỏ quy, đầy thành chẳng người qua." Bàng Công cũng nói: "Tự mình không tâm cùng vạn vật, lo gì vạn vật thường quấy phá." Đó là công phu mất tâm còn cảnh, làm cho tâm dứt được vọng.

d- Dẫn cảnh tại tâm (mất cảnh còn tâm): Khi công phu, đem tất cả cảnh trong và ngoài đều quán là không tịch, chỉ còn một tâm độc lập cô phiêu. Vì thế, cổ nhơn nói:"Không cùng muôn pháp làm bạn, không còn đối với các trần." Tâm nếu chấp cảnh, tâm liền bị vọng, nay đã không còn cảnh, vọng làm sao có? Chừng ấy chơn tâm chiếu sáng, không trở ngại đạo, tức là người xưa đạt cảnh không đạt người. Rõ ràng: "Ba ngàn kiếm khách còn đâu nữa! Chỉ Kế Trang Chu định thái bình." Đó chính là mất cảnh còn tâm, dùng công phu này để dứt vọng.

e- Dẫn tâm dẫn cảnh
(mất tâm mất cảnh): Khi công phu, trước vắng lặng ngoại cảnh, sau diệt nội tâm, nếu trong ngoài tâm và cảnh đều yên lặng, cứu cánh vọng còn do chỗ nào mà sanh. Ngài Quán Khê nói: "Mười phương không vách đổ, bốn phía cửa cũng không, sạch làu làu, đỏ chói chói." Đó là pháp môn nhơn cảnh đều đạt của Tổ sư, nên có câu: "Mây tan nước trôi xuôi, lặng lẽ đất trời cùng một sắc." Cũng nói: "Người trâu đều chẳng thấy, chỉ còn nguyệt trên không." Đây chính là công phu mất tâm mất cảnh để dứt vọng.

f- Tồn tâm tồn cảnh (còn tâm còn cảnh): Khi công phu, tâm ở chỗ tâm, cảnh ở chỗ cảnh. Có khi tâm và cảnh đối nhau thì tâm
không chấp giữ cảnh, cảnh không đến tâm, đều không có đối đải, tự nhiên vọng niệm không sanh, ở nơi đạo không còn gì chướng ngại. Kinh nói: "Pháp ấy ở nơi địa vị của nó, tướng của thế gian vẫn thường trụ." Đó là pháp môn nhơn cảnh đều không đạt của Tổ sư. Nên có câu: "Một mảnh trăng soi biển, trên lầu ngắm mấy ai!" Lại nói:" Núi hoa ngàn muôn đóa, Du-Tử chẳng trở về." Đây chính là công phu còn cảnh còn tâm diệt vọng tưởng.

g- Nội ngoại toàn thể (thể suốt trong ngoài): Khi công phu nơi núi sông, đại địa, mặt trời, mặt trăng, vật trong thân và ngoài thân, tất cả các pháp cùng thể với chơn tâm, lặng lẽ rỗng sáng, không mãy may sai khác, nên đại thiên thế giới đập thành một khối, thì chỗ nào vọng tâm có thể đến. Nên Triệu Pháp Sư nói: "Trời đất với ta cùng gốc, muôn vật với ta cùng thể." Đây là công phu toàn thể trong và ngoài đều diệt vọng.

h- Nội ngoại toàn dụng (Dụng suốt trong ngoài): Khi công phu, đem tất cả các pháp ngoài thân, trong tâm và tất cả động tác thực hành đều quán làm diệu dụng của chơn tâm. Tất cả tâm niệm vừa sanh, đều là diệu dụng hiện tiền. Đã được tất cả đều là diệu dụng, thì vọng tâm làm sao có thể sanh, nên Huyền Giác Thiền sư dạy: "Thật tánh của vô-minh là Phật tánh, thân vô thường huyển hóa là pháp thân". Trong Thập nhị thơ ca, Hòa Thượng Chí Công dạy: "Buổi sáng giờ dần, người cuồng trong chùa Đạo Nhân than, ngồi nằm không biết đó là đạo, chỉ cứ mê mang chịu khổ tân." Đó là công phu toàn dụng cả trong lẫn ngoài để dứt vọng.

k- Tức thể tức dụng
(Chính thể là dụng): Khi công phu, tùy hợp với chơn thể, chỉ có một vị không tịch, nhưng trong chứa linh minh thể tức là dụng. Trong linh minh chứa dụng không tịch, nên dụng tức là thể. Vỉnh Gia Tập nói: "Sáng suốt lặng lẽ, cái sáng suốt ấy không có cái quấy vọng tưởng. Lặng lẽ sáng suốt, cái lặng lẽ ấy không có lỗi vô ký. Trong cái lặng lẽ không dung nạp vô ký, trong cái sáng suốt không dung nạp vọng tưởng, như thế vọng tâm làm sao sanh." Đó chính thể là dụng dứt vọng tưởng.

l- Thâu xuất thể dụng (rõ suốt thể và dụng): Khi công phu, không phân trong ngoài, không chia Đông Tây Nam Bắc. Bốn phương tám hướng chỉ còn là một cửa lớn giải thoát tròn sáng vắng lặng. Thể dụng không cần phân chia, phiền não không cần mãi múng, toàn thân đập thành một khối, vọng tưởng khởi từ chỗ nào? Cổ nhơn dạy: "Toàn thân không tỳ vết, trên dưới sạch tròn vo." Đây là công phu rõ suốt thể và dụng để diệt vọng.

        Mười phương pháp công phu trên đây, không cần phải dùng hết, chỉ cần thành tựu một phương pháp là có thể dứt vọng, chơn tâm hiển lộ. Người công phu, tùy theo căn cơ, đã có tập nhơn đời trước, hợp với pháp nào là có thể tu tập. Công phu này, lấy cái không công phu làm công, không phải dụng tâm lực gì cả. Pháp môn diệt vọng tâm này rất quan trọng, người tu nên cố gắng thực hành.



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:49:02 am »

(tt)

8.  Bốn oai nghi thể hiện chơn tâm



        Muốn dứt vọng, chư Tổ thường dạy tập ngồi, vì ngồi dễ thành tựu định lực, dứt vọng. Nhưng các Ngài vẫn chỉ rõ, cần phải dứt vọng trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, tập lâu thuần thục lúc nào cũng ở trong đại định. Luận Khởi Tín nói: "Người tu chỉ ở nơi vắng vẻ, ngồi ngay, ý chánh, không y theo hơi thở, hình sắc, nơi không, nơi đất nước gió lửa, cho đến không y theo kiến văn giác tri. Tất cả các tướng theo niệm đều trừ sạch, vì tất cả pháp xưa nay vốn vô tướng. Mỗi niệm không sanh, mỗi niệm không diệt, cũng không được ngoài tâm mà niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm. Tâm nếu chạy loạn, cần phải thu về trụ ở chánh niệm. Chánh niệm là chỉ có tâm, không có cảnh bên ngoài, và tâm này không có tự tướng, mỗi niệm không thể được. Nếu từ chỗ ngồi, tới lui, đứng dậy, làm việc, ở tất cả thời gian, đều nhờ phương tiện, tùy thuận để quán sát, tập lâu thuần thục, tâm ấy sẽ an trụ. Tâm an trụ lần lần được mạnh mẽ, tùy thuận được chơn như tam muội, hàng phục hết phiền não, lòng tin tăng trưởng, mau được bất thối. Chỉ ngoại trừ người nghi hoặc, không tin Tam bảo, bài báng chánh pháp, ngã mạn, giải đải, là không thể vào chơn như tam muội. Căn cứ vào đó, bốn oai nghi thể hiện chơn tâm thật rõ ràng.

       Kinh Viên Giác nói: “Trước tiên ý hành tu CHỈ của Như lai, kiên trì cấm giới, yên ở cùng chung, ngồi yên trong tịnh thất, đó là bước đầu tu tập chơn như tam muội”.

Vĩnh Gia Tập nói: "Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh thể an nhiên", căn cứ vào đó, đủ biết tu thiền gồm bốn oai nghi.

Người tu thuần thục, dù muôn Thánh đến trước mặt cũng không động, muôn loài yêu ma kêu chẳng quay đầu, huống chi đi đứng nằm ngồi, không thực hiện được công phu sao? Ở đời, người có oán hận trong lòng, mọi việc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước, động dụng, tất cả thời gian đều không quên. Người yêu thương cũng thế, trong tâm có thể dung chứa bất cứ thời gian và hành động nào. Như thế, người công phu thực hành vô tâm, làm sao trong bốn oai nghi không thường hiện tiền, chỉ sợ lòng tin không chắc, không chịu thực hành, nếu tin bốn oai nghi, chơn như tam muội sẽ không mất.


9.  Chỗ ở của chơn tâm

        Dứt vọng thì chơn tâm hiện, như thế, thể dụng chơn tâm ở chỗ nào? Diệu thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ. Vĩnh Gia tập nói: "Chẳng lìa đương xứ, thường vắng lặng, tìm dò biết Ông không thể thấy." Kinh nói: "Chơn tâm là tánh hư không thường không động, trong Như Lai Tạng không có khởi và diệt".

Đại Pháp Nhãn nói:"Mỗi chỗ là đường bồ đề, mỗi đầu mối là rừng công đức". Đó chính là chỗ diệu thể chơn tâm đang  ở. Diệu thể của chơn tâm tùy cảm tùy hiện, như tiếng vang, như hình và bóng. Pháp Đăng nói: "Xưa nay chẳng thay đổi, rõ ràng trước mặt mình, mảnh mây làm tối cốc, hạc cội cách xa trời."

Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phật pháp ở chỗ dùng hàng ngày, chỗ đi đứng nằm ngồi, chỗ ăn cơm, uống nước, chỗ đối đáp lẫn nhau, chỗ hành động làm việc, chỗ khởi tâm động niệm." Thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ, tất cả nơi đều có thể khởi dụng, do nhơn duyên có hoặc không hay bất định. Diệu dụng không định, tất cả đều có thể khởi dụng. Người tu tâm muốn vào bể vô vi, thoát sanh tử, đừng nhận lầm thể dụng và chỗ ở của chơn tâm.



(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:51:29 am »

(tt)


10. Chơn tâm thoát sanh tử


        Thường nghe người thấy tánh là thoát ly sanh tử, nhưng từ xưa, chư Tổ là bậc kiến tánh, đều có sanh tử và người tu thế gian đều có sanh tử, sao lại nói được thoát ly sanh tử? Sanh tử gốc nó vốn không vọng, chấp thành có. Như người đau mắt thấy trong hư không có hoa đốm, nếu người mắt không bệnh nói trong hư không không có hoa đốm, người bệnh không tin. Nếu mắt bệnh hết rồi, hoa đốm tự diệt, mới tin hoa đốm vốn không. Khi hoa chưa diệt, tự thể nó vẫn không, vì người bệnh vọng chấp là hoa, kỳ thực nó không có thực thể. Như người vọng nhận sanh tử là có, người thoát khỏi sanh tử nói sanh tử vốn không, người kia một ngày vọng dứt sanh tử sẽ không còn, nên biết sanh tử từ xưa nay vốn không. Khi sanh tử chưa dứt, cũng không phải thực có, vì vọng nhận sanh tử cho là có.

Kinh nói: "Này thiện nam tử! Tất cả chúng danh từ vô thỉ đến nay có nhiều thứ điên đảo, cũng như người mê chạy ruổi bốn phương, thay đổi không dừng, vọng nhận bốn đại làm tướng của tự thân, bóng duyên của sáu trần làm tướng của tự tâm. Ví như người bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không, cho đến khi hoa đốm diệt trong hư không, cũng không thể nói có chỗ định diệt. Vì sao? Vì nó không có chỗ sanh ra. Tất cả chúng sanh ở chỗ vô sanh, vọng chấp có sanh diệt, nên gọi luân chuyển sanh tử". Căn cứ vào lời kinh trên, nên biết người đạt ngộ chơn tâm vốn không có sanh tử. Thể sanh tử vốn không, mà không thoát được sanh tử, vì công phu chưa đến.

 Nên kinh dạy: Âm Ba Nữ hỏi Ngài Văn Thù: Biết rõ sanh tử là pháp vô sanh, thì làm gì bị sanh tử kéo lôi? Văn Thù đáp: Vì sức chưa thuần. Tân Sơn Chủ hỏi: Biết sanh tử là pháp vô sanh, thì làm sao bị sanh tử trói buộc? Tu Sơn Chủ đáp: Viết xong rồi ném bút đi, còn lấy gì để căn cứ. Biết không sanh tử không bằng thể không sanh tử, thể không sanh tử không bằng khế hợp không sanh tử, khế hợp không sanh tử không bằng dụng không sanh tử. Người nay, thường không biết vô sanh, mong thể vô sanh, khế hợp vô sanh, dụng vô sanh vì nhận sanh tử và không tin pháp vô sanh tử.


 
11. Chánh và trợ của chơn tâm

        Như trên nói dứt hết vọng là chơn tâm hiện tiền, khi vọng chưa dứt, phải dùng công phu vô tâm để dứt, như thế còn pháp gì để đối trị với vọng không? Có chánh và trợ không đồng. Lấy vô tâm dứt vọng làm chánh, lấy chứa nhóm các việc lành làm trợ. Như kiến sáng bị bụi bao phủ, tuy dùng năng lực của bàn tay lau chùi, nhưng cũng cần có thuốc chùi tốt thì ánh sáng mau hiện. Bụi nhơ là phiền não, năng lực của tay là công phu vô tâm, thuốc chùi là các việc lành, kiến hiển lộ ánh sáng là chơn tâm.

Luận Đại Thừa Khởi Tín nói:  "Lại nữa, tín phát tâm thành tựu có ba thứ:

a)Trực tâm là chánh niệm chơn như pháp.
b) Thâm tâm là chứa nhóm tất cả pháp lành.
c) Đại bi tâm là nhổ tất cả khổ não cho chúng sanh."


Có người hỏi: Như trên nói, pháp giới có một tướng, thể của Phật không hai, vì sao không chỉ niệm chơn như, lại muốn việc cầu học các pháp lành? Như châu đại ma ni, thể tánh vốn sáng suốt mà vẫn còn những khoáng chất làm dơ. Người tuy niệm chơn tánh, không dùng các thứ phương tiện mài dũa, trọn không thanh tịnh, vì phiền não vô lượng trùm khắp tất cả pháp; tu tất cả hạnh lành, vì chơn như thể tánh không tịch mà bị vô lượng phiền não nhuộm làm dơ. Người niệm chơn như không dùng phương tiện để huân tập, cũng không được thanh tịnh, vì cấu nhiễm khắp tất cả pháp nên cần dùng thiện hạnh để đối trị. Nếu người tu hành các pháp lành thì tự nhiên trở về chơn như.

Căn cứ vào các lý luận trên, dứt vọng là chánh, tu các pháp lành là trợ. Người tu thiền phải cùng tương ưng với vô tâm, không chấp trước nhơn quả. Nếu chấp trước nhơn quả, liền lạc vào quả báo nhơn thiên, dù chứng chơn như vẫn không thoát khỏi sanh tử. Nếu cùng vô tâm tương ưng, mới thực là phương tiện chứng chơn như và là yếu thuật thoát sanh tử, phước đức vô cùng rộng lớn.

 Kinh Kim Cang nói: "Này Tu Bồ Đề! Bồ tát không trụ tướng bố thí, phước đức ấy không thể suy lường." Đời nay có người tham học, vừa biết có bổn lai Phật tánh, liền tự ý vào tự tánh thiên chơn, không chịu làm việc lành, chẳng những không đạt được chơn tâm mà trở thành giải đãi, đường ác còn chưa chắc thoát, mong gì thoát khỏi sanh tử luân hồi.


(ct)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, HocThuatPhuongDong, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.779 seconds với 26 câu truy vấn.