Tháng Năm 28, 2020, 01:15:46 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: VẤN ĐÁP PHẬT GIÁO  (Đọc 7822 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 01:56:44 PM »

Xin giải thích về việc lấy tay “bắt ấn” trong một số nghi lễ Phật giáo mà tôi nghe nói đấy là thủ ấn?
Mỹ Nhung, 4221 N.E Tremont CT. Lee’Summit, Mo 64064, USA

Thủ ấn là một loại hình nổi bật của ấn, hay ấn tướng (hình tướng của ấn). Ấn (Sankrit. Mudrà, Pali.Muddà),   âm Hán Việt là Mẫu-nại-ba, Mâu-đà-la, Mục-đà-la... là một hình tướng biểu hiện ý nghĩa bí mật, nhiệm mầu (còn gọi là mật ấn) được chư vị xuất thế gian như chư Phật, Bồ-tát, chư Đại sư... thể hiện qua các tư thế của thân thể như đi, đứng, ngồi, nằm; của cánh tay, bàn tay, các ngón tay... Riêng các tư thế của bàn tay, của các ngón tay thì được gọi là thủ ẩn (thủ nghĩa là tay, bàn tay).
Ấn hay Mudrà nguyên nghĩa là cái khuôn dấu, dấu hiệu, tín vật (để làm tin) được dùng trong việc thực hiện thiền định Yoga của Ấn Độ giáo, đặc biệt được tìm thấy qua nghệ thuật hình tượng của tôn giáo này và sau đó là của Phật giáo, có rất nhiều tư thế, nhất là của bàn tay và ngón tay của hai tôn giáo rất giống nhau. Khi Phật giáo Mật tông được hình thành và truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản thì ấn, nhất là thủ ẩn được sử dụng nhiều hơn trong phương pháp tu tập, trong nghi lễ và có ảnh hưởng đến văn hóa, nghệ thuật các nước ở châu Á.

Kinh Đại Nhật Như Lai (Mahavarocang Sutra) có phân biệt ấn hữu tướng (có thể nhìn thấy hình tướng) gồm Thủ ẩn (tư thế bàn tay) và Khí ấn (các khí cụ chư tôn cầm như hoa sen, kiếm...) và ấn vô tướng (không thể nhìn thấy hình tướng) gồm tất cả các động tác, tư thế của thân ttong cảnh giới bí mật, sâu xa nhất. Riêng về thủ ấn, kinh phân biệt 18 tướng, gồm 12 hiệp chưởng (tư thế của các bàn tay kết hợp) và sáu chủng quyền (bàn tay nắm lại). Mỗi bàn tay, mỗi ngón tay và các tư thế của bàn tay, ngón tay trong thủ ẩn là biểu tượng của một thực thể như ngũ uẩn, tứ đại, các Ba la mật, lý, trí, quán, bi...
Thực ra, hiện có rất nhiều loại thủ ấn, khó mà liệt kê, miêu tả hết được. Xin giới thiệu một số thủ ẩn thường thấy được thực hiện trong các nghi lễ, các tranh tượng Phật giáo:
-   Vô uý ấn (Abhaya mudrà): biểu hiện sự che chở, lòng an, từ bi, xua tan mọi sợ hãi. Lòng bàn tay phải quay ra ngoài, các ngón tay duỗi lên phía trên. Đặc biệt thường thấy ở Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Bất Không Thành Tựu (Amoga siddhi).
-   Xúc địa ấn (Bhumisparsha mudrà): biểu hiện cho sự minh chứng được xác lập rõ ràng. Đức Phật ngồi, bàn tay phải thả lỏng và đặt bên đầu gối phải, các ngón tay duỗi, đầu ngón chạm tòa sen, bàn tay trái để trên lòng, lòng bàn tay ngừa lên trên.
-   Chuyển pháp luân ấn (Dharmachakra mudrà): biểu hiện lúc Đức Phật cồ Đàm thực hiện bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn Nai ở Samath, đây cũng là một thủ ấn của Đức Đại Nhật Như Lai, hai tay để trước ngực, bàn tay trái quay vào trong, che bàn tay phải quay ra ngoài.
-   Thiền định ấn (Dhyàng Mudrà): biểu hiện sự thiền định và ngọn lửa tâm linh của Tam Bảo. Hai bàn tay đặt trên lòng, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái (hoặc ngược lại), các ngón tay duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa lên trên. Thủ ấn này thường thấy ở Đức Phật Thích Ca, Đức Phật A-di-đà và đôi khi ở Đức Phật Dược Sư.
-   Thí nguyện ấn (Varada Mudrà): biểu hiện sự trao tặng, hoan hỷ, từ bi, chân thành. Cánh tay phải duỗi thẳng xuống, lòng bàn tay quay ra ngoài (đôi khi được thực hiện với cánh tay trái). Đặc biệt thường thấy ở hình tượng Đức Quán Thế Âm và đôi khi của Đức Phật Thích Ca (tư thế đứng).
-   Kim Cang ấn (Vajra Mudrà): biểu hiện trí tuệ. Bàn tay phải nắm lại, ngón trò duỗi lên trên, lòng tay trái quay vào ữong, nắm lấy ngón tay trỏ của bàn tay phải.
Kinh dạy rằng chư Phật. Bồ-tát, Đại đức... co duỗi các ngón tay cũng làm chấn động pháp giới, kẻ phàm phu chưa hết phiền não nhưng nếu sử dụng được các ẩn tướng thì cũng có được hiệu quả, sai khiến được thần thánh, chư thiên, ma quỷ. Tuy vậy, pháp môn Mật tông cũng như tất cả các pháp môn tu tập khác của Phật giáo, không dễ dàng đưa đến sự thành tựu nếu không hành tri đúng pháp. Người tu tập, thực hiện cần phải có thầy dạy, cần phải kiên tâm, bền chí, tin tuởng, giữ gìn giới hạnh... mới mong được tiến bộ dần dần.





Người Phật tử tôn kính thủ ấn vì đây là biểu hiện mật nghĩa của chư Phật, chư Bồ-tát, tôn kính chư đại sư thực hiện các thủ ấn.
Có người áp dụng thủ ẩn trong việc thực hành Yoga cũng tìm được sự hiệu nghiệm, tốt cho sức khỏe và tâm thức. Nhưng việc chuyên tu thủ ấn thì phải hết sức thận trọng, vì nếu sai lạc sẽ bị đưa đến mê tín, ngã mạn và có khi bị “tẩu hỏa nhập ma”...

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 02:01:59 PM »

Xin hãy giải thích về công án Thiền và xin hỏi, ngày nay chúng ta có thể tham cứu các công án xưa để đạt ngộ được không?
P. V. T, đường Trần Hưng Đạo, quận 1, T/P Hồ Chí Minh

Công án nguyên nghĩa là án lệnh ở công đường hay toàn bộ nội dung của một vụ án được đưa ra để công chúng thẩm định phải trái, đúng sai. Trong Thiền tông Trung Hoa, công án là một bài (tắc) ghi lại hoàn cảnh, sự việc, qua đó một Thiền giả đạt ngộ hay sự đối đãi, chỉ dạy của một Thiền sư khiến cho một đệ tử hay một người đến tham vấn đạt đến lý chân thật của thực tại tuyệt đối vốn không dính dáng chi đến thứ lý luận phân biệt, chấp trước bằng ngôn ngữ, tư duy thông thường. Do đó mà ta thường thấy sự việc, hành tác, ngôn ngữ, cữ chi... của nhân vật, đặc biệt là của các Thiền sư trong công án rất nghịch lý, khó hiểu.Ví dụ: Một ông tăng hỏi Hòa thượng Động Sơn: “Phật là gì? ” Sư đáp: “Ba cân mè", hoặc: Hòa thượng Thủ Sơn giơ gậy trúc trước chúng và nói: “Này các vị, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch. Vậy gọi là gì? Đây là ngôn ngữ của một thứ biện chứng pháp siêu việt, nhằm tạo sự ngỡ ngàng, hụt hẫng, làm bung vỡ mọi chấp trước, phân biệt, phá tan mọi kiến thức, nghi nan, mọi tư duy nhị nguyên, đưa đến sự đạt ngộ ngay liền (đốn ngộ).

Phương pháp trao truyền và thể cách thọ nhận “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” và “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự" giữa thầy và trò là nét đặc biệt của Thiền tông Trung Hoa khởi từ Bồ-đề-đạt-ma (thế kỷ VI), tiếp đó là năm vị Tổ, rồi trải đến các dòng Thiền về sau, đặc biệt là dòng Lâm Tế và dòng Tào Động. Đến đời Tống (thế kỷ X), những trường hợp dạy dỗ, chứng đạt đặc thù trước kia được ghi chép lại, phổ biến trong Thiền môn để các hành giả tham cứu, quán các đề tài trong đó, nhằm khơi dậy cái trực giác về trí tuệ uyên nguyên vốn có ở mỗi người nhưng bị che lấp vì phiền não, phân biệt. Những trường hợp được truyền thuật này được gọi là các công án. Người ta bảo rằng có đến 1.700 công án nhưng phần lớn bị trùng lặp, thêm bớt, nhầm lẫn hoặc ngụy tạo. Hiện nay, theo các thống kê không chính thức, có khoảng 500 hay 600 công án (kể cả các công án phát xuất từ Nhật Bản). Các sách ghi chép công án thường có thêm lời bình, lời tụng của người biên soạn, cũng khó hiểu không kém các công án. Có năm bộ sách chính là: Bích Nham Lục, Thung Dung Lục, Vô Môn Quan, Chánh Pháp Nhãn Tạng và Cảnh Đức Truyền Đăng Lục; ngoài ra, các sách Thiên Nhân Nhãn Mục, Chỉ Nguyệt Lục, Tục Chỉ Nguyệt Lục cũng được xem là những sách quan trọng về công án. Một công án nêu lên một lời kinh hay lời nói của một vị Thiền sư thường được gọi là thoại đầu hay thoại đầu công án.
Ngoài mục đích sưu tập công án đã nói trên, người ta còn phân biệt năm lợi ích của công án là:
1/ làm công cụ cho việc ngộ Thiền,
2/ làm phương pháp để khảo nghiệm,
3/ làm phương thức nương tựa cho đời sau,
4/ làm tín vật cho sự ẩn chứng và
5/ làm tiêu điểm cứu cánh.
Theo chúng tôi, rất khó, thậm chí là không thể đạt ngộ bằng việc tham công án. Tiểu sử chư Tổ, chư Đại Thiền Sư cho ta thấy chư vị đều chuyên cần tụng kinh, niệm Phật, thiền định cho đến khi đạt ngộ chứ không phải chỉ tham cứu công án. Những trường hợp đạt ngộ của hành giả là do căn cơ, do thời tiết nhân duyên, kể cả những cơ duyên nhỏ nhất như cơn gió, làn mây, viên sỏi... và phần lớn là nhờ một bậc thầy biết rõ tâm của hành giả và thiện xảo đẩy đưa hành giả đến chỗ đạt ngộ ngay tại một thời điểm đặc biệt... Lại nữa, “như người uống nước, nóng lạnh tự hay ” cho nên những trường hợp đạt ngộ là trường hợp của một cá nhân, trong một sự hội tụ cơ duyên đặc biệt, chứ không thể có hai trường hợp giống nhau được.

Chúng ta ngày nay lật xem công án, nhìn phong cách dạy dỗ, tu tập, truyền đạt, thọ nhận của người xưa là chỉ thấy cái bề ngoài, dù có hiểu được phần nào nội dung công án thì đấy cũng chỉ là nội dung biểu kiến, không thật. Sự đốn ngộ thật ra là kết quả của một quá trình tu tập lâu dài, cần có Đại phấn chí (ý chí mãnh liệt), Đại nghi đoàn (sự trăn trở, tư duy, nghiền ngẫm đề tài chứ không phải mối nghi ngờ thông thường) và Đại tín căn (niềm tin tuyệt đối vào chánh pháp và khả năng trí tuệ của chính mình); đặc biệt là Đại nghi đoàn mà Thiền Sư Bạch Ân nói đến: “Nghi lớn thì ngộ lớn” và ngài Vô Môn cũng dặn: “Hãy tận dụng 360 xương cốt, 84.000 lỗ chân lông, vận dụng cả thân tâm, khởi thành một mối nghi”. Nhu vậy là để đạt ngộ, hành giả phải đem hết thân tâm, cả sinh mạng của mình để nghiền ngẫm, quán xét cái thực tại siêu việt cho đến khi đạt ngộ.
Sau cùng, chúng ta cần ghi nhận rằng các công án không phải do chư Tổ, chư Đại Sư tự tay chép lại. Người chép lại có thể là một đệ tử, hoặc là một chú tiểu hầu trà, thậm chí do nhiều người sau kể lại... Sự “truyền riêng ngoài giáo ” rất riêng tư giữa hai thiền gia làm sao người khác biết được? Làm sao xác định được những động tác, những lời lẽ kia đúng là một công án hay chỉ là một sự giao tiếp rất binh thường? Và như vậy, làm sao nhận biết những công án không thật trong số 500 hay 600 công án hiện nay để khỏi phải tốn công tham khảo vô ích?


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Bảy 05, 2014, 02:07:51 PM »

Xin cho biết ý nghĩa của ba thân (Tam thân) của Đức Phật và tên một số kinh sách nói về ba thân này.
Nguyễn Quang Vinh, Hà Đông, Hà Nội

Học thuyết Tam thân (Trikaya) của Đức Phật trong Phật giáo Đại thừa được hình thành khá chậm, vào khoảng thế kỷ IV Tây lịch. Trong các kinh Nikaya của Phật giáo Nguyên thủy, ta chỉ thấy nói đến Pháp thân (Dhammakaya) và từ này lại chủ yếu nhằm chỉ cái thân tuyệt đối chân thật của Đức Phật (Kaya có nghĩa là thân thể và cũng có nghĩa là bộ phận, tập hợp, hệ thống). Đức Phật có lần bảo Vasettha rằng Như Lai là Pháp thân, là người đã chứng Chân lý (Kinh Trường Bộ). Ngài cũng từng dạy Vakkhali rằng ai thấy Pháp (Chân lý) là thấy Nhu Lai, ai thấy Như Lai là thấy Pháp (Kinh Tương Ưng Bộ).





Ý niệm về Tam thân có lẽ phát xuất từ Kinh Lăng Già. Trước đó, khi học thuyết Tam thân chưa được hình thành, Pháp thân được trình bày như một Chân lý tuyệt đối, vượt ngoài mọi tính toán, đo lường, hình dung.
Kinh Lăng Già phân biệt ba thể cách của chư Phật, được xem là ba tính, ba vị Phật:
1/ Đức Pháp tính Phật (Dharma Buddha) hay Đức Như Lai Trí Phật (Tathaaatajnang Buddha) hay Đức Căn bản Như Lai (Mula Tathagata);
2/ Đức Sở Lưu Phật (Nishyanda), cũng được dịch là Báo Phật; và
3/ Đức Hóa Phật hay Biến hóa Phật (Nirmang Buddha).
Về sau, nhiều kinh sách xuất hiện với học thuyết Tam thân và việc giải thích ba thân Phật có chỗ khác nhau.
Theo Thập Địa Luận, ba thân Phật là :
1/ Pháp thân (Dharmakaya), tức cái thân lý thể chân như thật tướng trường trụ, vắng lặng;
2/ Báo thân (Sambhogakaya), tức cái thân kết quả của công phu tu hành qua vô số kiếp, mang hình tướng tốt đẹp, trang nghiêm (như Đức Thích Ca trong 80 năm tại thế) và
3/ ứng thân (Nirmanakaya — đúng ra phải được dịch là Hóa thân), tức là các thân biến hiện theo hoàn cảnh, căn cơ của chúng sinh mà hóa độ.
Theo Kinh Kim Quang Minh, tam thân của Đức Phật là:
1/ Pháp thân, tức cái thân diệt trừ mọi phiền não, đầy đủ thiện pháp, cái thân của như như, như trí;
2/ ứng thân, cái thân giáo hóa Bồ-tát, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp (ứng thân ở đây tương đương với Báo thân của Thập Địa Luận), và
3/ Hóa thân, tức cái thân tự tại, hiện ra nhiều thân để giáo hóa, cứu độ chúng sinh (Hóa thân ở đây tương đương với ứng thân của Thập Địa Luận).
Theo Tông Cảnh Lục, Tam thân là:
1/ Tự tính thân hay Pháp thân (tương đương với Pháp thân trong hai bộ luận và kinh nói trên);
2/ Thọ dụng thân, cái thân vui hưởng quả báo (tương đương với Báo thân của Thập Địa Luận và ứng thân của Kinh Kim Quang Minh).
Các kinh luận nói trên đều có cách hiểu Pháp thân gần giống nhau và khác nhau về cách diễn dịch Báo thân,Ứng thân, Thọ dụng thân, Hóa thân.
Thực ra, chúng ta chưa tìm được từ Phạn ngữ tương đương với từ ứng thân. Phẩm Tam thân trong các bản Hán dịch — một của ngài Nghĩa Tịnh và một của ngài Chân Đế - lại không có trong bản Phạn ngữ đã tìm được, trong khi cả hai ngài đều dùng từ ứng thân.

Đại khái, ta có thể hiểu Tam thân của Đức Phật là:
1/ Pháp thân, tức cái thân chân như, tuyệt đối, trọn vẹn, đầy đủ, bất khả tư nghi;
2/ Báo thân, tức cái thân an lạc, tốt đẹp, đầy đủ phước báo, kết quả của nỗ lực tu hành từ vô lượng kiếp, và
3/ Hóa thân, tức cái thân hóa hiện ra nhiều nơi, nhiều lúc để giáo hóa, cứu độ chúng sinh theo hoàn cảnh, căn cơ thích hợp.
Quan niệm Đức Phật với ba thân như thế là tinh thần của giáo lý Đại thừa: Đức Phật là cao cả, tuyệt đối nhưng ta có thể hình dung được Ngài và Ngài vẫn luôn hiện diện, gần gũi để cứu độ chúng ta. Đây cũng là ý nghĩa căn bản của các kinh Vô Lượng Thọ, Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bát Niết-bàn...
Đặc biệt, trong Kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng lại quy ba thân Phật vào chính chúng ta và dạy rằng mỗi người chúng ta vốn là ba vị Phật:
1/ Thanh tịnh Pháp thân Phật, tức Pháp thân Như Lai, rốt ráo thanh tịnh và có đầy đủ năng lực sinh ra vạn pháp;
2/ Viên mãn Báo thân Phật, tức trí tuệ Bát nhã tẩy trừ mọi tình cảm, dục vọng, và
3/ Tự tính Hóa thân Phật, tức cái tâm có thể hướng tới mọi cảnh giới, nếu hướng đến thiện thì sẽ phát sinh trí tuệ, nếu khởi từ bi thì sẽ trở thành Bồ-tát. Tâm của chúng ta vốn là Chân như, là Phật vậy.
Ngoài các kinh sách trên, ta có thể tìm thấy nhiều kinh sách khác có nói về Tam thân của Đức Phật như: Linh Quang Minh Tối Thắng Vương, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, Du-già Sư Địa Luận, Quán Kinh Huyền Nghĩa (Phần Truyền thông ký)...


HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
Trang: 1 2 3 [4]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.08 seconds với 24 câu truy vấn.