Tháng Mười Một 15, 2018, 09:01:37 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: NIÊN BIỂU PHẬT GIÁO VIỆT NAM  (Đọc 7279 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Giêng 14, 2013, 07:33:50 am »

NIÊN BIỂU
PHẬT GIÁO VIỆT NAM

*Trần Tri Khách

---o0o---

Mục Lục

Lời nói đầu

1. *NĂM  2879 BC- 258 BC ...  năm  973

2. *NĂM  1010- 1028  ....  năm  1898

3. *NĂM  1908 .... năm 2000

4. Tài Liệu Tham Khảo; Phụ Lục

Thành tâm ghi ơn Thượng Tọa Thích Vân Ðàm, Viện Chủ Tu Viện Pháp Vương, đã tạo duyên đưa tác giả đi vào đề tài này.   

-----------------------

Lời nói đầu

Một hiện tượng đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam hiện đại, trong nước cũng như ngoài nước, là các thiền sư ưa dẫn chứng những điển tích Phật Giáo Trung Quốc khi giảng pháp. Ðiều đáng nói là điển tích Phật Giáo Việt Nam tuy không kém phần phong phú nhưng hầu như bị các ngài lãng quên. Chẳng hạn hiếu hạnh của đại sư Chân Dung Tông Diễn (1640- 1709), Liễu Quán (1670- 1742), Nhất Ðịnh (1784- 1847) ... là những gương sáng vằng vặc ngay cả so với Phật Giáo Trung Quốc mà hầu như không được nhắc nhở tới trong dịp Vu Lan Báo Hiếu. Trong bài Lễ Tháng 7 Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt được phổ biến trên nhiều trang nhà Internet vào dịp Vu Lan vừa qua, TT Tuệ Sỹ nêu nhận xét: Các thầy vì sính chữ Hán nên ít chịu nghe khoa nghi tiếng Việt. Cho nên tuy Văn Thỉnh Thập Loại chữ Hán văn từ phần nhiều sáo rỗng, nhiều điển tích vô hồn mà được cho là hay vì thói quen và cũng do trình độ thưởng thức văn chương của người nghe. Sính chữ Hán tới mức  ít chịu nghiên cứu về lịch sử Phật Giáo Việt Nam phải được xem là trở lực lớn cho việc điều hành các đạo tràng theo sứ mạng: Mái chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của tổ tông (HT Mãn Giác, Nhớ Chùa).
Phật Giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của nó luôn luôn gắn liền với dòng sinh mệnh của dân tộc. Nó không nổi trôi một cách thụ động theo sự thăng trầm của mệnh nước mà luôn luôn tích cực đóng góp vào những nỗ lực nhằm chận đứng sự bập bềnh này, tạo ổn định và an lạc cho đất nước. Tinh thần Bồ Tát nêu trong Lục Ðộ Tập Kinh (bản kinh xuất hiện sớm nhất tại nước ta) “ Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông vào nơi hà khắc cứu dân khỏi lầm than” đã được giới xuất gia thực hành ngay từ thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại chế độ đô hộ tàn bạo của thái thú Tô Ðịnh, và xuyên suốt trong mọi thời nhân dân lầm than vì sự cai trị hà khắc. Thời đô hộ của nhà Hán, nhà Ðường, nhà Minh, thời Pháp đô hộ, luôn luôn có sự tham dự dưới nhiều hình thức sinh động khác nhau của giới tăng sĩ để vận động Phật tử dấn mình vào công cuộc vận động dành độc lập cho dân tộc.

.........................

Bài viết này nhằm giới thiệu một số sự kiện quan trọng trong hành trình dấn thân của Phật Giáo Việt Nam vào dòng sinh mệnh của dân tộc. Nó chỉ là một sơ thảo, thiếu sót là điều chắc chắn có và sai lầm là điều không thể tránh khỏi ở một số chỗ. Tác giả chân thành biết ơn sự chỉ bảo của chư thiện tri thức về những sai sót để có thể bổ túc cho ấn bản sau hoàn chỉnh hơn.

T.T.KH.
 
( Các chữ viết tắt: BC : trước Thiên Chúa Giáng Sinh .ÐÐ, TT, HT: Ðại Ðức, Thượng Tọa, Hòa Thượng. VN: Việt Nam. Những chữ tắt trong ngoặc là tên tác phẩm tham khảo. Những tên trong ngoặc đơn là thế danh hoặc pháp hiệu) 

---o0o---

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Giêng 14, 2013, 07:59:39 am gửi bởi mavuong » Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Giêng 14, 2013, 07:45:39 am »

(tiếp theo)

NIÊN BIỂU
PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trần Tri Khách

---o0o---

 1.

*NĂM  2879 BC- 258 BC niên đại theo truyền thuyết thuộc họ HỒNG BÀNG. Niên đại này gây nhiều bàn cãi trong giới sử học hiện đại.

Phạm Văn Sơn (VSTT, tr. 46) cho rằng họ Hồng Bàng bắt đầu vào thế kỷ 9 BC, khi một nhà quý tộc họ Mị thống nhất một số thị tộc Việt lên làm vua, bắt chước các vua Sở lấy chữ Hùng làm hiệu. 18 đời Hùng Vương bắt đầu từ Kinh Dương Vương.

Bùi Thiết ( Ðối Thoại Sử Học, nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2000) lập luận một đời vua Hùng khoảng chừng 30 năm  nên thời Hùng Vương khoảng chừng 5 thế kỷ là vừa (!). Nghĩa là trước thế kỷ 6 BC, đất nước ta không có lịch sử !

Cả hai lập luận trên bị các cuộc khai quật khảo cổ học bác bỏ. Di chỉ Ðồng Vườn ở Yên Mô Ninh Bình được khai quật vào đầu tháng 8. 2002 tìm được một số đồ gốm thô có hoa văn, rìu, bàn mài niên đại khoảng 1500 BC. Di chỉ này cùng hai di chỉ Hang Sáo và Hang Cò ở thị xã Tam Ðiệp (Ninh Bình) thuộc nền văn hóa Ða Bút có niên đại từ thiên niên kỷ 5 tới thiên niên kỷ 3 BC.

Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) đưa ra giả thuyết mỗi đời vua Hùng thực ra gồm nhiều người nối nhau làm vua, nên trung bình một đời vua Hùng kéo dài 130 năm  là điều có thể chấp nhận. Giả thuyết này của ông là cách sử gia Tầu áp dụng khi viết cổ sử. Theo Cổ sử Trung Hoa, đời Thần Nông kéo dài 193 năm  không phải chỉ có một vua Thần Nông mà do 4 vua kế tục nhau: vua Nghi (2889- 2884 BC), vua Lai (2843- 2794 BC), vua Ly (2795- 2751 BC), vua Du Võng (2752- 2696 BC). Theo Lê Mạnh Thát, triều đại Hùng Vương kéo dài tới vị vua cuối cùng là Trưng Vương (39- 43). Ông còn trích dẫn một báo cáo của Lưu An (mất năm   122 BC) ghi trong Tiền Hán Thư, theo đó từ thời Tam Ðại ( gồm nhà Hạ 2140 BC- 1711 BC, nhà Thương hay nhà Ân 1711 BC- 1066 BC và nhà Chu 1066 BC- 256 BC) dân Việt đã không chịu dùng lịch pháp Trung Quốc. Ông và Nhất Hạnh (VNPGSL 1) đều cho rằng vào thời Hùng Vương, tổ tiên ta dùng lịch pháp Ấn Ðộ (một năm  có 4 mùa, 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày). Ông cũng giải mã bài Việt Ca  được Lưu Hướng (77 BC- 6 BC) ghi trong Thuyết Uyển và khẳng định ít nhất từ thế kỷ thứ 4 BC, tiếng Việt đã là một ngôn ngữ có chữ viết tương đối hoàn chỉnh, tuy có liên hệ với tiếng Trung Quốc.

Dựa trên những công bố của ngành khảo cổ, Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn và Nguyễn Ðức Hiệp ( tài liệu tham khảo 14) cho rằng trước khi tiếp xúc với người Hoa Hán (Trung Quốc), tổ tiên chúng ta đã có một nền văn minh cao do kết quả của 3 sáng chế quan trọng: trồng lúa nước, kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật xây dựng đô thị. Trình độ đồ đồng của nền văn minh Ðông Sơn tuy xuất hiện muộn (khoảng 700 BC) nhưng kỹ thuật rất cao vì có pha chì tạo độ bền dai đặc biệt mà các di chỉ đồ đồng ở những nơi khác không có. Fritj Capre trong tác phẩm The Tao of Physics cho rằng nếu giải mã hoàn toàn những hoa văn trên trống đồng Ðông Sơn, người ta có thể thấy đó là nền văn minh tinh thần cao nhất, gần với nền văn minh hậu nguyên tử. Khoảng 60 ngàn năm trước, những di dân đầu tiên tới vùng Ðông Nam Á. Vùng này trải qua những đợt nước biển lên xuống. Trong khoảng thời gian giữa hai thời kỳ băng hà (40 ngàn năm  – 21 ngàn năm  trước) khí hậu phía Bắc ấm, những người hiện đại mới di chuyển lên Trung Quốc. Khoảng 30 ngàn năm   tới 18 ngàn năm trước, mực nước biển thấp hơn bây giờ tới 130 mét, đồng bằng sông Hồng nối liền tới đảo Hải Nam. Sau đó nước biển bắt đầu dâng mỗi năm  1 cm. Khoảng 8 ngàn năm  trước, trận hồng thủy cuối cùng xảy ra nhận chìm toàn bộ đồng bằng Bắc Việt dưới nước biển lan tới tận Việt Trì. Tới 5500 năm trước, nước mới rút, con cháu những người di tản các nơi từ núi non và hải đảo mới trở về miền đất phì nhiêu xây dựng nước Văn Lang. Câu chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm con rồi chia tay nhau người lên rừng kẻ xuống biển có lẽ là huyền thoại hóa sự kiện di tản rồi trở về này của các bộ tộc Bách Việt. Như vậy họ Hồng Bàng có thể còn xuất hiện sớm hơn niên đại theo truyền thuyết 2879 BC, vì đồng bằng Bắc Bộ đã được tổ tiên ta tái định cư từ hơn 5 ngàn năm  về trước.

*NĂM  563 BC dựa vào sử ký nước Tích Lan, niên đại được đa số sử gia Phật giáo chấp nhận là năm  sinh của thái tử Tất Ðạt Ða, người sau này trở thành Phật Thích Ca. Các niên đại quan trọng khác: *NĂM  536 BC xuất gia tìm chân lý, *NĂM  528 BC bắt đầu truyền bá giáo pháp tại thành Vương Xá (Ràjagaha) là kinh đô hùng mạnh nhất Bắc Ấn và thành lập giáo hội, *NĂM  483 BC nhập Niết Bàn.

*NĂM  269 - 232 BC Triều đại vua A DỤC (Asoka Moriya). *NĂM  253 BC nhà vua bảo trợ Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần thứ 3 dưới quyền chủ tọa của Trưởng Lão Moggaliputta với cả ngàn tỳ kheo tham dự. Trong 9 tháng làm việc, Ðại Hội đi tới hai quyết định quan trọng: 1- công nhận một số kinh điển trước đây đã bị loại bỏ ra ngoài khối kinh điển nguyên thủy của Thượng Tọa Bộ, 2- Chấp nhận các tác phẩm có tính lý luận học thuật vào bộ thánh điển, gọi là Luận A-tỳ-đàm hay Thắng Pháp; Luận Tạng được công nhận là thánh điển Phật giáo kể từ đây, trở thành Tạng thứ ba trong Tam Tạng Kinh Ðiển Phật Giáo. Theo một vài tài liệu khác (như Thích Phước Sơn, Lịch Sử Kết Tập Kinh Ðiển), Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần ba xảy ra vào năm  325 BC, vì được ước tính sau khi Phật nhập Niết Bàn 218 năm.

Vua A Dục còn cử nhiều phái đoàn chư tăng đi hoàng pháp ở nước ngoài. phái đoàn đầu tiên do hoàng tử Mahinda hướng dẫn tới Tích Lan (Sri Lanka). Nhờ đó kinh tạng Pali được bảo tồn gần như nguyên vẹn tại đây cho tới ngày nay. Một trong những phái đoàn truyền giáo do vua A Dục cử đi do Sona và Uttara hướng dẫn có thể đã tới vùng Ðông Nam Á và nước ta.  Cho tới những năm  từ 380 tới 420, những người đi lượm củi ở vùng Ðồ Sơn còn thấy chùa và tháp do dân địa phương dựng tại thành Nê Lê để tưởng nhớ công đức của vua A Dục. Tháp này tại núi Mẹ (Mẫu Sơn) ở Ðồ Sơn. Sau này, tháp Long Tường do vua Lý Thánh Tông (1054- 1072) xây trên nền tháp cũ . Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), trong tám bài thơ xưa Ðồ Sơn Bát Vịnh, hai câu đầu của bài thứ 5: Cổ tháp di hư loạn thảo đôi, Dục vương khứ hậu ủy yên đồi. (Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời, Vua Dục đi, vua sau cũng đổ luôn).
Các sắc dụ của vua A Dục khắc trên đá thường phù hợp với ngôn ngữ địa phương để dân nơi đó có thể hiểu được. Vì vậy, phái đoàn truyền giáo của vua A Dục đến nước ta hẳn đã được học ngôn ngữ xứ Văn Lang để có thể tiếp xúc với dân  địa phương một cách thuận tiện.

Lúc đó, theo truyền thuyết, nước ta thuộc đời Hùng Vương thứ 18 (chấm dứt vào năm  257 BC) và nhà Thục (257 BC- 207 BC). Sử gia Lê Mạnh Thát cho rằng nhà Thục là một triều đại không có thực, chỉ là một truyền thuyết xuất hiện khoảng năm   400 phỏng theo bản anh hùng ca Mahàbharatà của Ấn Ðộ (LSPGVN 1, tr. 602). Danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cũng đã nêu lên từ giữa thế kỷ 19 và Ngô Tất Tố đặt thành vấn đề trên báo Tao Ðàn ngày 1 tháng 3.1935 về vấn đề không có nhà Thục trong sử Việt.
 
Thế kỷ 3 – Thế kỷ 2 BC nhà sư PHẬT QUANG ( còn gọi là sư Bần, gốc Ấn Ðộ) lập bàn thờ Phật tại một hang núi ở núi Mẹ (Ðồ Sơn), tu và tịch tại đây vào cuối đời Hùng Vương. Hiện nay, nơi đây có ngôi chùa gọi là chùa Hang. Khi CHỬ ÐỒNG TỬ ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên (núi Mẹ hay Mẫu Sơn, ở Ðồ Sơn) để lấy nước ngọt, gặp ông, được ông truyền pháp, trao cho gậy và nón. Chử Ðồng Tử nhận lãnh, về truyền pháp lại cho vợ là công chúa Tiên Dung. Hai người được coi là Phật tử đầu tiên tại nước ta. Sự tích này đầu tiên được Trần Thế Pháp, một danh sĩ đời Trần ghi lại trong tác phẩm Lĩnh Nam Trích Quái. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) cho rằng núi Quỳnh Viên ở Cửa Sót, Nghệ An, một vùng lúc đó chưa thuộc nước ta. Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), bảo tháp do dân địa phương dựng để ghi nhớ công ơn đoàn truyền giáo của vua A Dục và hang núi sư Phật Quang tu cùng ở tại núi Mẹ (Mẫu Sơn) tại Ðồ Sơn. 
Công chúa Tiên Dung con vua Hùng Vương thứ 18 (theo Lê Mạnh Thát, LSPGVN 1, có thể thuộc đời vua Hùng Nghị Vương, đời Hùng Vương thứ 17), vì lấy Chử Ðồng Tử một anh đánh cá nghèo tới mức phải chia chung cái khố với bố, bị vua cha trục xuất cả hai ra khỏi nước. Hai vợ chồng lập phố xá buôn bán để sanh sống, lênh đênh ra khắp nước ngoài. Sau này, Chử Ðồng Tử được thờ ở Ðền Trung trong hệ thống Ðền Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ. Tại phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên cũng có đền thờ Chử Ðồng Tử.
Các sử sách đời trước đều nhất quán cho rằng thời Hùng Vương chấm dứt vào khoảng năm   257 BC, sau khi bị Thục Phán đánh bại. Giả thiết như vậy, sự kiện Chử Ðồng Tử được sư Bần (sư Phật Quang) truyền pháp có thể xảy ra trước thời vua A Dục ở Ấn Ðộ lên ngôi.  Phái đoàn truyền giáo của vua A Dục có mục đích tìm đến đại chúng để giáo hóa theo Phật pháp, nên không thể chọn một hang núi vắng vẻ để tu như sư Phật Quang.

Vào thời Hùng Vương, thành Luy Lâu (nay thuộc Bắc Ninh) là một trung tâm thương mại đón nhận nhiều thương gia Ấn Ðộ. Các tăng sĩ Ấn Ðộ đi theo các thuyền buôn này đem sinh hoạt Phật giáo đến nước ta. Chùa Yên Trì (nay thuộc Hà Nội) có lẽ  được xây vào thời kỳ này.

HT Thích Ðức Nhuận (ÐPVDSV) cho rằng vào thế kỷ 3 BC, có phong trào di dân rộng lớn tại Ấn từ xứ Kalinga sang phía Ðông và xuống phía Nam, có thể đưa một số tăng sĩ Phật giáo Ấn tới nước ta. TT Thích Mật Thể (VNPGSL tr. 69) dẫn theo Sylvain và Pelliot cho rằng Trung Quốc và Ấn Ðộ giao thương với nhau từ năm  245 BC qua cửa ngõ đất Văn Lang làm trung gian.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Giêng 14, 2013, 07:52:28 am »

(tiếp theo)

*NĂM  110 BC năm   cuối cùng của nhà Triệu (207- 110 BC), thời tể tướng LỮ GIA nắm quyền. Trong Thiên Nam Ngữ Lục, thiền sư Chân Nguyên (1646- 1726) đề cập tới chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn, Sơn Tây đã có từ thời này. Trước đó, từ thời Hồng Bàng đã có chùa Yên Trì ở Long Biên (Hà Nội), sau này bị hư hại nặng, *NĂM  544 vua Lý Nam Ðế dựng chùa Khai Quốc trên nền chùa này.
 
*NĂM  39- 43 triều đại HAI BÀ TRƯNG. *NĂM  39 Hai Bà khởi nghĩa đánh đuổi Tô Ðịnh, dành được quyền tự chủ cho Giao Chỉ.   Bà HOÀNG THIẾU HOA  (3- 40) tu tại chùa Phúc Khánh (nay là chùa làng Hiền Quan ở tỉnh Phú Thọ) từ năm  16 tuổi, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, rời khỏi chùa mộ được 500 nghĩa binh. Bà trở thành tướng tiên phong của Hai Bà Trưng. Sau khi Trưng Vương dẹp yên 65 thành, bà Thiều Hoa trở lại chùa tu và một năm sau thì tịch. Bà đươc xưng tụng là Diệt Bạo Tướng Phật (LSPGVN 2, tr.26). Hành trạng của bà Thiều Hoa cho thấy lý tưởng Bồ Tát nêu trong Lục Ðộ Tập Kinh “Bồ tát thấy dân kêu ca, bèn gạt lệ xông vào nơi hà khắc” đã được biết tới và thực hành từ thời này.

Theo Phạm Văn Sơn (VSTB), Trưng Vương chỉ đánh dẹp 56 thành, chứ không phải 65 thành như tất cả các sử gia khác xưa cũng như nay đã ghi. Theo Phạm Cao Dương, trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nông dân đã đứng lên chống lại bọn quan lại bóc lột và kiều dân nhà Hán chạy loạn Vương Mãng (9- 24) qua cướp ruộng đất của họ (Thực Trạng Của Giới Nông Dân VN Dưới Thời Pháp Thuộc, Sài Gòn, Khai Trí xuất bản 1967)

Theo Hậu Hán Thư ( của Phạm Việp 398- 445): sau khi chuẩn bị từ hơn một năm   trước, Mã Viện huy đọâng hơn 2 ngàn chiến thuyền và 2 vạn quân, tổng tấn công tàn sát quân của Trưng Vương, chém giết và bắt hơn 5 ngàn người. Vào thời này, theo Hán Thư Ðịa Lý Chí, nước ta có chừng  92,440 nóc gia. Hai Bà Trưng trầm mình xuống sông Hát tự vẫn *NĂM  43. Cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương chấm dứt. Một số bộ tướng của Hai Ba sống sót có thể lánh mình nơi cửa Phật, một người được sử sách ghi lại là BÁT NÀN PHU NHÂN (nữ tướng Tiên La, được thờ ở đền làng Tiên La, Thái Bình). Thời Hai Bà Trưng có nhiều nữ tướng nên Ni giới nước ta có thể coi như đã có mặt từ lúc này. Tại Trung Quốc mãi tới năm  429, có một phái đoàn mấy chục ni từ nước Tích Lan đến Kiến Nghiệp (phía Nam Trung Quốc) học chữ Hán để hướng dẫn các nữ tu người Hán.

 Có ít nhất là 64 bộ tướng của Hai Bà Trưng còn được thờ cho tới ngày nay tại nhiều đền ở miền Bắc (trong đó tượng Hai Bà Trưng và tượng 12 nữ tướng được thờ chung  ở đình làng Ðồng Nhân, Hà Nội) cho thấy tính cách vĩ đại, oai hùng của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Bác sĩ Trần Ðại Sỹ có dịp quan sát thực địa tại 5 tỉnh phía Nam Trung Quốc (Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên) cho biết tại đây có hơn 100 đền miếu thờ các tướng lãnh của Hai Bà Trưng. Theo cuộc nghiên cứu của ông, cuộc khởi nghĩa Trưng Vương có 162 anh hùng phò giúp, trong đó hơn 100 người là nữ ( xem bài tường trình của ông nơi Thư Viện Việt Nam số 3,  trang nhà Internet: www. thuvienvietnam.com)

Sau khi đại thắng Trưng Vương, Mã Viện dù đã mệt mỏi sau hai cuộc chinh chiến liên tiếp từ Bắc tới Nam Trung Quốc, vẫn đi kinh lý khắp cõi Giao Chỉ, tiến hành một cuộc đồng hóa gắt gao và toàn diện dân Giao Chỉ về pháp luật, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội (VSTT, tr. 114- 115). Chắc chắn Phật giáo Việt Nam cũng chịu một pháp nạn chung với nạn nước trong giai đoạn này khi Mã Viện muốn xóa bỏ triệt để toàn bộ nền văn hóa nước ta để thay thế bằng văn hóa nhà Hán Trung Quốc ( chẳng hạn Mã Viện sửa đổi 10 điều luật trong bộ Việt luật, dùng phép Hán để đổi tục Việt, đày dân Việt vào vùng Giang Hoài làm cho đất Ðông Việt trở thành trống trơn, vây bắt hàng trăm người lãnh đạo Việt tộc mà y gọi là “cừ soái”đưa đi đày ở Linh lăng, thu gom hết trống đồng để đúc ngựa ...).

Vào thời Mã Viện, Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc. Mãi tới *NĂM  67, Trung Quốc mới biết đến Phật giáo sau khi Hán Minh Ðế nằm mộng thấy “người vàng”, đã cử một phái đoàn 18 người qua nước Ðại Nhục Chi ( ở giữaBắc Ấn và Trung Quốc) rước tượng Phật về thờ và các vị tăng Ma Ðằng Ca Diếp, Trúc Pháp Lan qua kinh đô Lạc Dương. Học giả Phật học Henri Maspero cho rằng câu chuyện giấc mộng “người vàng” trên do đời sau bịa ra và Phật giáo xuất hiện tại trung tâm Lạc Dương muộn màng hơn năm   67.
 
*NĂM  189 KHÂU ÐÀ LA chống gậy vân du đến Giao Chỉ, lúc nước ta bị đô hộ dưới thời Hán Linh Ðế, Sĩ Nhiếp làm Thái Thú Giao Chỉ. Ðời Hán có 3 trung tâm Phật giáo là Trung tâm Luy Lâu ở Giao Chỉ, Trung tâm Bành Thành và Trung tâm Lạc Dương. Trung tâm Luy Lâu được xem là bàn đạp đưa đạo Phật vào đất Hán vì các tăng sĩ Ấn Ðộ có thể học chữ Hán hay tuyển người thông dịch tại đây. Trung tâm Bành Thành do các tăng sĩ từ Luy Lâu đến mà thành lập. Sách Cao Tăng Truyện ghi lại lời sớ của Vương Ðộ đời Tấn: Từ khi Phật giáo được du nhập, người Hán không được phép xuất gia. Nhà Ngụy (220- 264) theo pháp chế của nhà Hán cũng chưa cho dân bản xứ xuất gia. (VNPGSL 1, tr.23).Thời Sĩ Nhiếp, Giao Chỉ là một xứ sở phồn thịnh: một năm   lúa trồng hai mùa, 8 lứa kén tằm,
Theo Lĩnh Nam Trích Quái: Khâu Ðà La là người Nam Ấn, hành pháp tu đứng một chân, theo lời mời đến ở nhà cư sĩ Tu Ðịnh. Con gái của Tu Ðịnh là Man Nương lúc đó 12 tuổi theo hầu hạ sư. Một thời gian sau, sư từ giã vào núi tu. Tu Ðịnh dẫn Man Nương đi theo, tiếp tục đem rau trái cúng dường sư, có khi sai Man Nương đi. Tới tuổi cập kê, Man Nương không chồng mà chửa. Thai đến 14 tháng, sinh ra bé gái, Man Nương bồng con  đến chỗ sư ở, bảo là con Khâu Ðà La. Khâu Ðà La nhận con, đặt vào một cây đại thọ mở ra, cây liền khép lại. Sau này nước lụt ,cây đổ trôi về thành Luy Lâu thì dừng lại. Vì những thần kỳ xảy ra, Sĩ Nhiếp cho tạc 4 tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Ðiện từ cây đó, lập 4 chùa Thiền Ðịnh, Thành Ðạo, Phi Tướng vàTrí Quả để thờ. Man Nương được gọi là Phật Mẫu. Tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiện và Man Nương sau này được thờ tại chùa Dâu (chùa Pháp Vân), làng Khương Tự Bắc Ninh cho tới ngày nay. Các vua đời Hậu Lê (thế kỷ 15) mỗi khi hạn hán, thường cho rước Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu mưa, thường linh ứng. Chùa Pháp Vân cũng là nơi xuất phát dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi khi ông tới đây truyền pháp và truyền tâm ấn cho Pháp Hiển.

Sự tích Phật Pháp Vân còn được ghi lại trong tác phẩm Nôm Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục và Lĩnh Nam Trích Quái.
Chùa Dâu được xây cất lại vào năm   1161 đời Lý Anh Tông. *NĂM  1313, vua Trần Anh Tông cho trùng tu chùa, giao phó  Mạc Ðĩnh Chi thực hiện, dựng tháp Hòa Phong cao 9 tầng. Chùa còn được trùng tu vào năm   1675. *NĂM  1738 đời Lê Ý Tông, thiền sư Tính Mộ tái thiết lại tháp trên nền đổ nát cũ và tái thiệt chùa. *NĂM 1793 và 1917 chùa lại được trùng tu. *NĂM  1946 Việt Minh bắt HT Thích Ðại Hải, trú trì chùa Pháp Vân, kết tội là đảng viên Quốc Dân Ðảng và đem xử tử. Lễ hội chùa Dâu có 11 xã trong tổng Khương Tự Bắc Ninh tham dự từ ngày 8 tới 10 tháng 4 ÂL.

Hiện tượng thờ Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiện là  bản địa hóa Phật giáo, một khuynh hướng tất nhiên khi đạo Phật ở thời kỳ quyền năng, hội nhập vào một xã hội đã có một nền văn hóa rõ rệt như nước ta. Cũng là hiện tượng bản địa hóa Phật Giáo khi vị anh hùng phá tan giặc AÂn vào đời Hùng Vương thứ 6 trở thành Phù Ðổng Thiên Vương (hay Sóc Thiên Vương vì bay lên trời ở núi Sóc Sơn,theo truyền thuyết) thay thế Tỳ Sa Môn Thiên Vương là một trong Tứ Ðại Thiên Vương trấn giữ phía Bắc cõi Diêm Phù Ðề, và Quán Thế Âm Bồ Tát trở thành Quan Âm Nam Hải. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1), hiện tượng bản địa hóa Phật Giáo xảy ra sau thời Trưng Vương, như một phản ứng của Phật Giáo VN trước sự đàn áp của Mã Viện.
 
*NĂM  198 MÂU TỬ (160- 230) viết Lý Hoặc Luận. Ðây là sáng tác bằng Hán văn đầu tiên về Phật giáo, từng là sách gối đầu giường của giới học Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Mâu Tử dẫn mẹ qua Giao Chỉ tị nạn vào thời Tam Quốc, lúc Trung Quốc nhiễu loạn khắp nơi. Ông là người học rộng hiểu nhiều, không sách gì không đọc, đã từng bỏ ra 3 năm  tu luyện phép tiên (tịch cốc trường sinh bất tử). Giao Châu lúc đó có trung tâm Phật giáo Luy Lâu, với hơn 20 ngôi chùa, độ được hơn 500 tăng, dịch được 15 cuốn kinh. Người dân trồng hoa Uất Kim Hương để cúng Phật. Nhưng đa số trí thức Trung Quốc tới Luy Lâu lánh nạn đều học phép tịch cốc để luyện trường sinh bất tử ( Mâu Tử cho biết có tới mấy ngàn trăm thuật).  Mâu Tử làm quen với Phật pháp từ năm  183 và tiếp thu một cách nghiêm chỉnh tại trung tâm Luy Lâu có lẽ vào khoảng năm  194 (VNPGSL 1). Sau khi mẹ mất, ông rút lui khỏi chính sự, dốc chí nghiên cứu đạo Phật. Ông viết Lý Hoặc Luận để trả lời những người chỉ trích ông phản bội Nho theo Thích (Phật giáo). Sự có mặt của Lý Hoặc Luận chứng tỏ Phật giáo Giao Chỉ thời đó đã chinh phục không những đại chúng bình dân mà cả giới trí thức Nho gia nữa, vào thời Nho học bắt đầu suy yếu.

Lý Hoặc Luận gồm 37 điều: 5 điều đầu giải thích tổng quát về Phật giáo, 23 điều phản bác các luận cứ của Nho gia về Phật giáo, 9 điều nhận xét về Ðạo gia. Lý Hoặc Luận khẳng định: Trung Quốc chưa hẳn là trung tâm của trời đất, Ngũ kinh chưa hẳn là lời của thánh hiền; bản chất đạo Phật là ở nhà có thể đem ra mà thờ cha mẹ, giúp nước có thể đem mà trị dân, sống một mình có thể đem mà tu thân. Lý Hoặc Luận được Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu trong Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam tập 1 ( Nhà xuất bản TP/HCM năm  2001).

Vào giai đoạn này, tăng đoàn đã được thành lập tại Giao Chỉ, với các lễ truyền giới có “tam sư, thất chứng”. Khương Tăng Hội đã được truyền giới xuất gia như vậy. Tại Trung Quốc, mãi tới năm   250 mới có Ðàm Ma Ca La từ Trung Ấn qua làm lễ truyền giới xuất gia theo nghi thức “ tam sư thất chứng”. Nghi thức truyền giới này là quy định trong các đại giới đàn Phật giáo Việt Nam cho tới ngày nay.
Có thể cũng ở thời đại này, một sản phẩm nổi tiếng của trung tâm Luy Lâu được thương gia Trung Quốc và Ấn Ðộ ưa chuộng là giấy, có phẩm chất cao trắng mà không nát khi bỏ xuống nước. Nghệ nhân Luy Lâu cũng đã khắc in trên mộc bản bằng gỗ cây Thị. 




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Giêng 14, 2013, 07:56:41 am »


(tiếp theo)

*NĂM  247 KHƯƠNG TĂNG HỘI, một nhà sư gốc Ấn Ðộ, qua Trung Quốc hoằng pháp. Ông sinh ra, lớn lên, xuất gia và tu học tại Giao Châu (*NĂM  203, thái thú Sĩ Nhiếp trình xin đổi tên Giao Chỉ thành Giao Châu). Ông là nhà sư hoàn toàn được đảo tạo tại Giao Châu. Ông tới kinh đô Kiến Nghiệp của nhà Ðông Ngô hoằng pháp, có đem theo một tượng Phật. Ông thông thạo tam tạng Kinh, hiểu thấu 6 kinh nền tảng của Nho giáo lại giỏi khoa ăn nói và nghệ thuật viết lách nên đã làm hưng thịnh Phật pháp tại đất Ðông Ngô, một vùng trước đây chỉ có vài nhà sư dịch kinh. Ông tịch vào năm   280, đã dịch nhiều kinh tạng từ Phạn văn qua chữ Hán, soạn cuốn nghi thức Nê Hoàn Bối âm điệu réo rắt, trầm buồn và xây dựng nhiều chùa tháp. Trong 14 quyển kinh ông dịch, bản dịch Lục Ðộ Tập Kinh được coi là đỉnh cao sự nghiệp dịch thuật của ông. Một số nhà biên khảo Trung Quốc cho rằng bộ kinh tập Lục Ðộ Tâp Kinh do ông sáng tác. An Thế Cao (người dịch kinh An Ban Thủ Ý ra Hán Văn) tán dương Khương Tăng Hội là người truyền dạy Kinh Thiền. Các kinh về Thiền như An Ban Thủ Ý và Ấm Tri Nhập do An Thế Cao dịch được ông diễn giải theo tinh thần Ðại Thừa. Sư ông Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ Thiền Tông Việt Nam. Với tác phẩm Nê Hoàn Bối, ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho lễ nhạc Phật giáo Trung Quốc. 


Lục Ðộ Tập Kinh gồm 91 truyện tích, mỗi truyện có những trích dẫn kinh  nói về lục độ ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ) xếp thành 8 quyển. Ba quyển đầu nói về bố thí, mỗi quyển sau nói về một độ còn lại ( VNPGSL 1,tr. 76). Truyện 68 đặc biệt nêu lý tưởng Bồ Tát dấn thân: Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông mình vào nơi hà khắc cứu dân khỏi lầm than.  Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) cho rằng Khương Tăng Hội dịch Lục Ðộ Tập Kinh ra Hán văn từ một bản tiếng Việt cổ, không phải từ nguyên bản tiếng Phạn. Khương Tăng Hội có thể còn chủ động trong việc phục hồi Phật giáo  ở Ðông Ngô sau khi Tôn Lâm (231- 258) ra lệnh phá chùa, chém sư vào *NĂM  258, vài tháng trước khi y bị Tôn Hưu giết. Vua Ðường cho họa hình ông và treo tại chùa Từ AÂn, nơi Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng dịch kinh, vì công nhận ông là nhà dịch kinh của Trung Quốc.

Cũng năm   258 ở Trung Quốc, Châu Tử Hàng khai đàn giảng kinh Bát Nhã ở kinh đô Lạc Dương. Việc giảng kinh cho đại chúng ở Trung Quốc bắt đầu từ đó.
 
*NĂM  248 BÀ TRIỆU (TRIỆU TRINH NƯƠNG, Triệu thị Trinh, 225- 248) cùng anh là Triệu Quốc Ðạt khởi nghĩa chống lại thứ sử Giao Chỉ là Lục Dận, nhà Ðông Ngô. Cuộc khởi nghĩa tuy chỉ kéo dài 6 tháng nhưng đủ oanh liệt làm khiếp đảm quân Ðông Ngô. Sau vì thứ sử Lục Dận tìm cách mua chuộc các bộ tộc Giao Châu nên lực lượng kháng chiến của bà trở thành quân ít thế cô, bà phải rút lui về đất Thanh Hóa rồi tự sát. Theo Thiên Nam Ngữ Lục của thiền sư  Chân Nguyên, có thể các nhà sư Giao Châu được bà Triệu nhờ qua Ðông Ngô trong một sứ mạng nào đó. Mộ bà Triệu và đền thờ bà tại núi Sơn Trang, Thanh Hóa. Dân chúng địa phương tới nay vẫn gọi bà  là Vua Bà. Theo nhà văn Trần Ðại Sỹ, dân 5 tỉnh miền Nam Trung Hoa tiếp giáp nước ta, cũng tôn vinh Bà Trưng là Vua Bà.
 
*NĂM  425 ÐÀM HOẰNG từ miền bắc Trung Hoa tìm tới chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh tu học và chuyên trì kinh Vô Lượng Thọ và Thập Lục Quán, pháp môn Tịnh Ðộ. Ông tự thiêu năm  455. Ông giúp cho tín ngưỡng A Di Ðà phát triển mạnh ở nước ta trở thành phong trào, đến mức có những nhà sư Trung Quốc đã tìm đến Giao Châu để tu học pháp môn này tại trung tâm Phật giáo Tiêu Sơn.
Vào thời ông, nghệ thuật chùa Tiên Sơn (ở núi Tiên, cửa Tây thành Long Biên) bắt đầu phát triển mà nét đặc sắc là biểu tượng Phật qua hình ảnh hoa sen nằm giữa lá Bồ Ðề thay vì hình tượng người.

Trong suốt chiều dài lịch sử Phật Giáo nước ta, Tịnh Ðộ không đứng biệt lập như ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Vua Lý Thánh Tông (1023- 1072) dù là đệ tử truyền thừa đời thứ nhất của thiền phái Thảo Ðường, vẫn sai tạc tượng A Di Ðà bằng đá ở Tiên Du Bắc Ninh rất độc đáo. Trong tác phẩm Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông (1225- 1258) viết hẳn một chương Niệm Phật Luận. Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Ðăng (1647- 1726) dù là truyền thừa của cả hai dòng Thiền Lâm Tế lẫn Trúc Lâm và được xưng tụng là người phục hồi dòng Thiền Trúc Lâm, vẫn viết 3 tác phẩm về Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm của ông còn được truyền lại tới nay.
 
*NĂM  454- 455 sáu lá thư trao đổi giữa LÝ MIỄU (một sứ quân xưng vương ở Giao Châu) và hai vị thiền sư ÐẠO CAO và PHÁP MINH (được ông coi là thầy) về vấn đề nếu Phật đầy quyền năng, tại sao không thấy Phật hiện ra ở đời ?. Vào thời này ở Trung Quốc, sư Huệ Viễn thuộc phái Tịnh Ðộ ở Lô Sơn xướng lên thuyết “bất kỉnh vương” (tăng ni không cần làm lễ hay xưng mình là thần tử  trước vua chúa). 

Sáu lá thư nói trên là một khám phá vô cùng quan trọng của Lê Mạnh Thát, được ông dịch ra tiếng Việt trong LSPGVN tập 2, tr. 417- 431. Sáu lá thư này cung cấp những nét đậm về:

1-     Về nghệ thuật : từ nửa đầu thế kỷ V, nghệ thuật chùa Tiên Sơn đã tượng trưng đức Phật qua hình ảnh hoa sen nằm giữa lá bồ đề.

2-     Về âm nhạc: xác nhận sự hiện diện của “ca tán tụng vịnh”. Trên bệ đá chùa Tiên Sơn có khắc 10 vị nhạc thần chơi 9 nhạc cụ đàn dây hoặc ống. Trước đó trống đồng và khánh đá đã xuất hiện.

3-     Về văn học: sáu lá thư là những tác phẩm văn học xưa nhất tại nước ta được phát hiện. Như vậy văn học nước ta phải khởi đầu ít ra là từ thời điểm này, không phải chỉ từ thế kỷ 10 như quan điểm đại đa số các nhà biên soạn văn học sử ở cả hai miền Nam Bắc.

4-     Về lịch sử Phật giáo: lá thư thứ 4 của Ðạo Cao mô tả Phật tử nước ta hoaàu7841?c ngồi thiền trong rừng, tu đức cạnh thành thị, cung kính chắp tay hay ca hát ngâm vịnh. Như vậy tu thiền và tu tịnh, tu phước và tu huệ đã xuất hiện đồng thời vào giai đoạn này.

5-     Về lịch sử chính trị: Lý Miễu (được Ðạo Cao và Pháp Minh gọi là sứ quân) là thái thú Giao Châu muốn trở thành tự trị. Sự liên hệ giữa ông và hai đại sư Ðạo Cao, Pháp Minh giới thiệu khả năng vận động chính trị của các nhà sư Giao Châu trong giai đoạn nước ta bị đô hộ.

6-     Về lịch sử tư tưởng: nêu vấn đề đâu là cơ sở cho giá trị lịch sử của những lời khẳng định trong kinh Phật, đồng thời xác định học thuyết Nho và Mặc đang tranh nhau nổi lên ở nước ta.

Vào thời này, Luy Lâu là một trung tâm hoằng pháp lớn, góp phần quan trọng vào việc phục hưng Phật Giáo tại Trung Quốc sau này.

 *NĂM  456 sư Huệ Lâm viết Quân Thiên Luận chủ trương xã hội hóa Phật Giáo, dung hòa tư tưởng Phật với Nho, được gọi là Hắc Y Tể Tướng, bị giới nho sĩ chống đối. Triều đình Trung Quốc trục xuất ông qua Giao Châu, nơi đây ông sống cho tới cuối đời.
 
*NĂM  542- 607 niên đại ÐÀM THIÊN. Ông quê ở Thái Nguyên (Trung Quốc), chuyên nghiên cứu các kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Lăng Già. Gặp thời Bắc Chu bên Tầu hủy diệt chánh pháp, ông tìm đến phương Nam (trung tâm Luy Lâu), học về Duy Thức, Nhiếp Ðại Thừa Luận và rất tâm đắc về hai bộ luận này.

Phương Bắc dứt pháp nạn, ông trở về quê hương mở trường dạy các bộ luận  Nhiếp Ðại Thừa Luận, Khởi Tín Luận và kinh Lăng Già. Không bao lâu trở thành nổi tiếng. Ông giúp  vua Văn Ðế nhà Tùy(589- 601) chấn hưng Phật Giáo Trung Quốc, xây chùa dựng tháp khắp nơi. Khi vua Tùy Văn Ðế muốn truyền bá Phật pháp qua Giao Châu, ông tâu: Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc; khi Phật pháp mới tới Giang Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu đã có 20 ngôi bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng, dịch được 15 cuốn kinh. Ông ca ngợi Pháp Hiền Thượng Sĩ là người trong hàng bồ tát.

Tiểu sử của Ðàm Thiên được ghi trong Cao Tăng Truyện là một trong nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng hỗ tương trong quan hệ giữa Phật Giáo Việt Nam và Trung Quốc. Phật Giáo Việt Nam trong truyền thống không phải đơn thuần là bản sao của Phật Giáo Trung Quốc. Có những giai đoạn Phật Giáo Việt Nam trở thành chỗ dựa cho Phật Giáo Trung Quốc.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Thiên Vương, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2013, 01:49:15 pm »

(tiếp theo)

*NĂM  544: LÝ BÔN xưng đế, lấy hiệu là Lý Nam Ðế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Thuở nhỏ, mẹ con ông cư ngụ tại chùa Bảo Phúc được sự giúp đỡ của vị sư trụ trì là Triệu Quang Hành. Nhà sư sai cháu ông là Triệu Quang Phục hầu hạ, giúp đỡ.
Một trong những việc làm đầu tiên của Lý Nam Ðế sau khi lên ngôi là dựng chùa Khai Quốc trên nền chùa cũ Yên Trì có từ thời Hồng Bàng, ở Long Biên (Hà Nội). Nhà Tiền Lý trải qua 3 đời vua. *NĂM  602 vua Lý Phật Tử  chết, con là Sư Lợi nối ngôi, bị tướng Lưu Phương của nhà Tùy tấn công và bị bắt. Giao Châu lại bị Trung Quốc đô hộ kể từ đây, từ nhà Tùy (602- 617) tới nhà Ðường (618 - 907). Sách Việt Ðiện U Linh: sau khi vua Lý Nam Ðế chết vì bệnh năm   546, người trong nước chỗ nào cũng lập đền thờ.
 
*NĂM  580: thiền sư TỲ NI ÐA LƯU CHI đến nước ta thời vua Lý Phật Tử, truyền pháp ở chùa Pháp Vân ( chùa Dâu ngày nay, ở Bắc Ninh), khai mở dòng thiền Pháp Vân ( còn gọi là dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi). Ông là người miền bắc Ấn Ðộ, một vùng tôn sùng Phật giáo Ðại Thừa chuyên về thiền định, đến kinh đô Trường An, Trung Quốc, *NĂM  574 vào đời vua Tùy Dương Ðế. Ộng được Tăng Xán (tổ thứ 3 Thiền Tông Trung Hoa) ấn chứng và khuyên nên đi về phương Nam mà hoằng hóa. Do đó, ông tìm tới nước ta.

Ông dịch hai quyển kinh quan trọng là Tượng Ðầu Tinh Xá và Ðại Thừa Phương Quảng Tổng Trì. Như vậy Thiền Việt Nam dù chủ trương không bị ràng buộc vào ngôn ngữ nhưng ngay từ đầu chưa từng khinh khi văn tự. Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi chú trọng nhiều về thực hành, nặng ảnh hưởng Ðại Thừa của Ấn Ðộ, trong đó có tính thần bí của Mật Tông. Theo Nhất Hạnh (VNPGSL 1), Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng danh từ  “tâm ấn” sớm nhất. Tâm ấn  dùng trong kinh Ðại Nhật (bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông) có nghĩa là tinh yếu mật ý của kinh  này.

Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá dạy 10 phép thiền quán nội ngoại để trừ chấp trước, mang mầu sắc văn học Bát Nhã, nói về bản chất của giác ngộ qua các vấn đề: ai tu Bồ Ðề, ai được Bồ Ðề, lấy thân hay lấy tâm mà chứng để được Bồ Ðề, Bồ Ðề ( sự giác ngộ) là gì? Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá  thuộc hệ Bát Nhã, được Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng làm căn bản hành thiền cho dòng thiền Pháp Vân.

Kinh Ðại Thừa Phương Quảng Tổng Trì là một kinh về Mật giáo, nêu lên những lời răn đe các Phật tử ưa chỉ trích lẫn nhau. Lê Mạnh Thát đã dịch hai bản kinh này ra tiếng Việt (LSPGVN 2, tr. 729- 771). Ảnh hưởng của Mật giáo trong dòng thiền Pháp Vân trở thành mạnh mẽ hơn vào thời nhà Ðinh và Tiền Lê sau này.

Tỳ Ni Ða Lưu Chi truyền tâm ấn cho Pháp Hiển, người trước đó đã học thiền với sư Quán Duyên trú trì chùa Pháp Vân từ trước khi Tỳ Ni Ða Lưu Chi tới. Khi Tỳ Ni Ða Lưu Chi tịch, Pháp Hiển tổ chức lễ Trà Tyø (hỏa thiêu), là một phong tục hoàn toàn xa lạ với dân Trung Quốc thời bấy giờ. Mãi tới *NĂM  676, sư Vận Kỳ mới trình vua Ðường hai bản kinh Ðại Niết Bản do thầy mình là Hội Ninh cùng Trí Hiền hợp dịch tại đảo Java (Nam Dương), nói về hỏa táng và thâu thập xá lợi của Phật.

Pháp Hiển (tịch năm   626) có tới 300 đệ tư.û Pháp sư nổi tiếng Ðàm Thiên (542- 607) của Trung Quốc tôn Pháp Hiển là một vị bồ tát sống (VNPGSL 1, tr.113). Vua Cao Tổ nhà Tùy bên Trung Quốc nghe tiếng đạo hạnh của Pháp Hiển, sai sứ  đem theo hộp Xá Lợi và điệp văn sang cúng dường. Sư cho xây tháp Thuận Thành ở chùa Pháp Vân và các tháp chùa châu Phong, châu Hoan, châu Ái để thờ Xá Lợi. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh, dòng thiền Pháp Vân truyền đến đời thứ 19 là thiền sư Y Sơn (tịch năm   1213). Thời Hậu Lê, vào thế kỷ 15, các vua nhiều lần rước tượng Phật chùa Pháp Vân về kinh để cầu mưa.
 
Thập niên 630 THANH BIỆN ( ? – 686 ): đời thứ 4 dòng thiền Pháp Vân, được thầy là thiền sư Pháp Ðăng giảng và giao cho việc nghiên cứu kinh Kim Cương làm đối tượng tu học từ lúc còn nhỏ, trở thành người đầu tiên chuyên trì tụng kinh Kim Cương, trước ngũ tổ Hoằng Nhẫn (đắc pháp với Ðạo Tín năm  630) và lục tổ Huệ Năng (biết tới kinh Kim Cương khoảng năm   670, bốn năm   trước khi Hoằng Nhẫn tịch). Lê Mạnh Thát ( LSPGVN 2, tr.112) cho rằng hệ tư tưởng của dòng thiền Pháp Vân được Thanh Biện làm cho trở thành hoàn chỉnh. Theo ông, cho tới thập niên 660, Trung Quốc chỉ có hai trung tâm Thiền lớn là trung tâm Ngưu Ðầu của thiền sư Pháp Dung và trung tâm Huỳnh Mai của ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Tại nước ta, cũng có hai trung tâm Thiền lớn mỗi đợt đào tạo hàng trăm thiền sư là trung tâm Pháp Vân và Phật Tích.

 Vua Trần Thái Tông ngộ đạo do đọc kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương vào thời Hậu Lê, từ sau Lê Lợi, trở thành đề tài thi bắt buộc trong những cuộc khảo hạch tăng sĩ.
 
*NĂM  665 Pháp sư  Ðại Thừa Ðăng từ Trường An (kinh đô Trung Quốc) qua Ấn Ðộ cầu pháp. Tiểu sử của ông được pháp sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh ghi lại trong bộ Ðại Ðường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện. Bộ này ghi chép các sự kiện về hơn 60 vị cao tăng từ các nước phương Ðông qua Ấn Ðộ cầu pháp từ năm  650 trở đi. Trong số này có 6 cao tăng từ nước ta: Trí Hành, Ðại Thừa Ðăng, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm, Vận Kỳ và Khuy Xung.

            Ðại Thừa Ðăng, người Ái Châu (Thanh Hóa), theo cha mẹ qua Thái Lan, có lẽ xuất gia tại đây.  *NĂM  645 qua kinh đô Trường An của Trung Quốc, thọ đại giới với Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng (600- 664). Trong số 75 bộ kinh do Huyền Tráng dịch, ông góp công tới 7 phần tám với tư cách bút thọ. Bút Thọ là người chép và chỉnh lại những câu văn dịch sao cho vừa tôn trọng nguyên tác chữ Phạn vừa hợp với văn pháp chữ Hán. Sau khi Huyền Tráng (còn gọi là Huyền Trang) tịch, ông  xin qua Ấn Ðộ cầu pháp. Ông gặp Nghĩa Tịnh tại Ấn Ðộ năm   671. Ông tịch tại chùa Niết Bàn ở thành Câu Thi Na (Kasia, Ấn Ðộ).

            Trong khoảng thời gian 663- 667, Giao Châu mất mùa lớn, người vật đều đói khổ. Nhà sư người nước Khương Tăng Già Bạt Ma được vua Ðường phái qua nước ta hái thuốc, thấy dân ta đói khổ, cứ lo kiếm thức ăn uống giúp người mà nước mắt thương xót ứa ra hoài, được gọi là Thường Ðề Bồ Tát ( Bồ Tát Hay Khóc)


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2013, 01:53:28 pm »

(tiếp theo)

*NĂM  791 PHÙNG HƯNG quê ở Sơn Tây khởi nghĩa chiếm phủ thành chống lại chế độ đô hộ hà khắc của nhà Ðường. Dân chúng  coi như cha mẹ, tôn là Bố Cái Ðại Vương. Ðược vài tháng, ông bị bệnh mà mất, con ông là Phùng An được tôn lên thay. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 276) cho rằng Phùng Hưng  đã phong chức Cung Phụng cho nhà sư trí thức ÐỊNH KHÔNG (729- 808)  và cử qua kinh đô Trường An giảng đạo cho hoàng đế Trung Quốc Ðức Tông Lý Quát là người hâm mộ đạo Phật. Cung Phụng là một chức vụ nằm trong bộ tham mưu thân cận nhà vua. Trong thời gian này, có thể các nhà sư Duy Giám và Nhật Nam cũng được cử qua Trung Quốc giảng kinh cho vua Ðường nhiều lần. Ba vị sư này đã được các danh sĩ Trung Quốc thời đó ca ngợi về công phu tu tập và sở học.

Sự kiện các lãnh tụ dân tộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Trung Quốc trong những thế kỷ đầu như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Phùng Hưng dù làm vua không lâu vẫn được dân chúng sùng bái qua nhiều thế hệ cho tới ngày nay là điểm đặc sắc của lịch sử VN cần được nghiên cứu nghiêm chỉnh.
 
*NĂM  820 Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG từ Trung Hoa sang Giao Châu, tới chùa Kiến Sơ lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Chùa Kiến Sơ vào thời này là ngôi chùa mới lập, do thiền sư trẻ tuổi Cẩm Thành (tịch năm 860) dựng. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 352), có thể thiền sư Cẩm Thành theo học tại đạo tràng lớn Chúng Thiện do thiền sư Pháp Hiển (truyền thừa đời thứ 1 dòng Tỳ Ni Ða Lưu Chi) thành lập. Lúc đó nước ta dưới quyền đô hộ của nhà Ðường, một chế độ được coi là hà khắc nhất trong gần ngàn năm   nước ta bị Trung Quốc đô hộ.

Vô Ngôn Thông (tịch năm 826) tu học với thiền sư Bách Trượng (779- 803, là người soạn bộ quy chế đầu tiên cho các thiền viện, gọi là Bách Trượng Thanh Quy. Hiện nay, nhiều chùa và tự viện lớn của VN vẫn áp dụng Bách Trượng Thanh Quy). Ông  ít nói, nhưng thông minh hiểu biết mau nên có danh hiệu Vô Ngôn Thông hay Thông Thiền sư.

Tông chỉ của phái thiền Vô Ngôn Thông nhắm vào đốn ngộ, tức Tâm tức Phật, không có đối tượng của giác ngộ,  nhấn mạnh vào tự lực tự tiến, sử dụng “thoại đầu”. Nhiều thiền sư trong thiền phái Vô Ngôn Thông chuyên trì kinh Viên Giác, một kinh dạy về phương pháp đốn ngộ. Các kinh Bát Nhã và Pháp Hoa cũng được các thiền sư phái này sử dụng nhiều.

Thoại đầu là câu nói hay mẩu đối thoại có tác dụng thúc đẩy hay làm phát khởi sự đạt ngộ. Thiền sư Quy Sơn (Trung Quốc, 771- 853) đồng thời với Vô Ngôn Thông, là những người đầu tiên dùng “thoại đầu” để dạy đệ tử. Cả hai đều là đệ tử của thiền sư Bách Trượng. Gần đây, thiền sư Duy Lực (1922- 1999) là người tiếp nối dùng phương pháp “thoại đầu” tại hệ thống thiền đường Từ Ân ở Việt Nam và California.

Phái thiền Vô Ngôn Thông truyền tới thiền sư Tiêu Diêu và Nhất Tông quốc sư được 17 đời. Ðệ tử nổi tiếng của Tiêu Diêu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ðệ tử nổi tiếng của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Nhân Tông, trở thành sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm. Các đệ tử của phái Vô Ngôn Thông như các thiền sư Giác Hải, Không Lộ và Nguyện Học chịu ảnh hưởng khá rõ của Mật Giáo.
 
*NĂM  860- 873 triều đại vua Ðường Ý Tông, Trung Quốc. Vua sai thái sử Cao Biền làm An Nam Ðô Hộ, với sứ mạng chính là đi “yểm” 19 chỗ để Giao Châu không thể nào thoát khỏi kiếp nô lệ. Cao Biền báo cáo hoàn tất công tác 18 chỗ bằng cách đào bới nhưng không thể nào “yểm” được núi Tản Viên. Ðồng dao VN có những câu ám chỉ sự kiện này như lẩy bẩy như Cao Biền dậy non hoặc núi Tản Viên thắt cổ bồng lại có thánh sinh. Cao Biền viết nhiều sách về địa lý phong thủy còn truyền lại tới ngày nay.

Sự cai trị của nhà Ðường ở Giao Châu khắc nghiệt hơn bất cứ thời đô hộ nào khác. Nhà Ðường tìm mọi cách ngăn chận sự phát triển về học thuật và văn hóa của Giao Châu. Cho nên chỉ có những nhà sư ở nước ta mới có điều kiện thông hiểu Nho học. Họ do đó sẽ đóng vai trò tham mưu quan trọng cho các chính quyền nước ta sau khi thu hồi được độc lập vào thế kỷ sau.
 
*NĂM  906 nhân nhà Ðường suy yếu, KHÚC THỪA DỤ một hào trưởng quê ở Hải Dương nổi lên, thái thú Tăng Cổn phải bỏ trốn. Nhà Ðường phải phong họ Khúc làm Tiết Ðộ Sứ . *NĂM  sau, Khúc Thừa Dụ qua đời, con là Khúc Hạo lên thay. Ông sửa sang lại nền hành chánh khoan dung mà giản dị nên dân chúng ca tụng như “được sống lại”, cho thấy sự đô hộ của nhà Ðường vô cùng hà khắc. Bên Tầu, nhà Hậu Lương (907- 951) thay nhà Ðường toan cử quân sang đánh chiếm Giao Châu mà không dám. *NĂM  917, Khúc Hạo mất, nhà Lương phong chức Tiết Ðộ Sứ cho con ông là Khúc Thừa Mỹ. *NĂM  923, Khúc Thừa Mỹ bị vua Nam Hán là Lưu Cung bắt, rồi thả ra. Nam Hán đô hộ Giao Châu được 8 năm   thì bị tướng của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi lên đánh đuổi, *NĂM  931 lên làm Tiết Ðộ Sứ. *NĂM  937, Dương Diên Nghệ bị  một nha tướng là Kiều Công Tiễn cướp quyền. Con rể của Dương Ðình Nghệ là Ngô Quyền đánh đuổi được Kiều Công Tiễn. Y chạy sang Tầu cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán huy động toàn lực dưới quyền chỉ huy của thái tử Hoằng Tháo tấn công Giao Châu. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng, giết Kiểu Công Tiễn và thái tử Hoằng Tháo. *NĂM  939, ông xưng vương, đóng đô ở thành Cổ Loa (Phúc Yên).
 
*NĂM  969 vua Ðinh Tiên Hoàng (968- 980) phong cho thiền sư NGÔ CHÂN LƯU (930- 1011) làm Tăng Thống. *NĂM  971 vua phong  TRƯƠNG MA NI làm Tăng Lục và ban hiệu KHUÔNG VIỆT Ðại Sư cho Ngô Chân Lưu. Chức Tăng Thống và Tăng Lục ở nước ta bắt đầu từ đấy. Tăng thống là người thống lãnh sư sãi, đứng đầu Phật giáo. Như vậy sau khi dẹp xong 12 sứ quân trong vòng 2 năm   và thống nhất đất nước, Ðinh Tiên Hoàng thống nhất Phật giáo Việt Nam, tổ chức thành giáo hội liên hệ với chính quyền và xã hội. Sau này vào thời Lý có thêm những chức Tăng Chính, Ðại Hiền Quan (Nguyễn Lang, VNPGSL 1, tr. 212). Theo Nguyễn Lang (VNPGSL 1), Tăng Lục là người phụ trách văn thư giấy tờ, trông coi tăng sự và ghi chép, làm công việc như sử quan trong giáo hội.

Ðinh Tiên Hoàng thuở hàn vi  đánh cá, thường ngủ trọ ở chùa Giao Thủy (Hoa Lư).

Tăng Thống Ngô Chân Lưu thuộc phái Vô Ngôn Thông, sau này khi nhà Tiền Lê thay thế nhà Ðinh (năm  980), ông càng được vua Lê Ðại Hành (980- 1005) kính trọng. *NĂM  987 vua sai ông ứng đáp sứ nhà Tống là Lý Giác. Người đi đón Lý Giác là thiền sư Pháp Thuận. Vua còn sai Khuông Việt Ðại Sư viết khúc nhạc Ngọc Lang Qui để tiễn phái bộ nhà Tống ra về. Ông cũng được vua Lê Ðại Hành hỏi ý kiến về nhiều việc triều chính. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 444) cho rằng dưới triều vua Ðinh Tiên Hoàng và Lê Ðại Hành, Ðại Sư Khuông Việt thực sự là thái sư (tể tướng).
 
*NĂM  973 ÐINH LIỄN, tước Nam Việt Vương con của Ðinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 tràng kinh (là trụ đá hình bát giác cao từ 50 tới 80 phân ) khắc kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni ở Hoa Lư, kinh đô của nhà Ðinh.

*NĂM  979 ông lại cho dựng thêm 100 cột kinh nữa, cũng tại Hoa Lư, để  cầu giải thoát cho em là Ðinh Hạng Lang (bị ông giết vào đầu năm  vì tội không trung hiếu với cha và anh), cầu cho cha mình là vua Ðinh Tiên Hoàng được sống lâu và bản thân mình được lộc vị bền vững. Tháng 10 năm  979 ông và vua Ðinh Tiên Hoàng bị tên Ðỗ Thích giết. Hoàng hậu Dương Vân Nga mưu cùng một số quan đưa Lê Hoàn lên làm vua, lập triều đại nhà Tiền Lê. Những cột kinh này được phát hiện vào đầu năm  1963.

Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni đã được hòa thượng Thích Thiền Tâm dịch ra tiếng Việt trước năm  1975. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 429), bản kinh do Ðinh Liễn sai khắc trung thực, đầy đủ  hơn các bản Hán dịch công bố trong Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh. Bản kinh này là một bài chú của Mật Giáo, được trì niệm trong thiền đường Trung Quốc từ thế kỷ 8. *NĂM  776, vua Ðường Ðại Tông ra lệnh toàn bộ tăng ni phải tụng 21 biến bài chú này và phải báo cáo tổng kết mỗi năm   vào ngày 1 tháng giêng.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2013, 01:57:54 pm »

(tiếp theo)


*NĂM  1010- 1028  triều đại vua LÝ THÁI TỔ. Khi còn nhỏ, vua và mẹ là bà Phạm Thị Ngà cư ngụ tại chùa Châu Minh, Bắc Ninh. Bà Ngà là thủ hộ của chùa. Quốc sư Vạn Hạnh là thầy của vua thuở hàn vi. ÐẠO HẠNH (Quốc Sư Vạn Hạnh, Từ  Lộ, tịch năm 1068) tinh thông về Phật Học, Khổng Học lẫn Lão Học, rất giỏi về các khoa sấm vĩ, địa lý và các pháp thuật của Mật Tông. Ông thuộc thế hệ thứ 12 dòng Thiền Pháp Vân (Tỳ Ni Ða Lưu Chi). Ông được coi là người chủ động trong nỗ lực đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, và thuyết phục vua dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng Long (Hà Nội). Các huyền thoại về đời ông được chùa Láng diễn lại vài năm  một lần trong lễ hội chùa. Các thiền sư nước ta chú trọng tới sấm vĩ và phong thủy là hiện tượng đạo Phật tích cực dấn thân nhập thế, góp phần vào nỗ lực dựng nước trước âm mưu của nhà Ðường kìm hãm dân ta trong vòng nô lệ bằng mọi cách kể cả phong thủy, thì các thiền sư  Ðịnh Không (730- 808), La Quý An (852- 936) và Vạn Hạnh đã dùng phong thủy và sấm vĩ để phản ứng lại.

*NĂM  1010 vua Lý Thái Tổ sai tuyển người xuất sắc để cho xuất gia. Bốn năm   sau, Tăng Thống Thẩm Văn Uyển lập đại giới đàn ở chùa Vạn Thọ.
*NĂM  1016, hơn 1 ngàn người ở Kinh đô được tuyển để tu học làm tăng sĩ và đạo sĩ. *NĂM  1019 mở đại giới đàn lần nữa.

*NĂM  1011 vua cho dựng nhà tàng kinh Trấn Phúc  để chứa kinh điển.

*NĂM  1018 vua sai người qua nhà Tống,Trung Quốc, thỉnh tam tạng kinh.

*NĂM  1020 ấn bản đại tạng kinh chữ Hán đầu tiên do Tống Thái Tổ ra lệnh khắc in về tới nước ta gồm 1076 kinh ( 480 tập, 5048 quyển). *NĂM  1021 vua cho dựng tàng kinh các Bát Giác để chứa Ðại tạng kinh. *NĂM  1023 vua sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh và dựng tàng kinh các Ðại Hưng.

*NĂM  1027, vua lại sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh nữa.

Theo sử quan Lê Văn Hưu ( Ðại Việt Sử Ký): làm vua được hai năm  mà Lý Thái Tổ đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Ðức, độ hơn ngàn người ở kinh đô làm sư.

Ðời nhà Lý còn nhiều lần sai sứ qua Tầu thỉnh Ðại tạng kinh: năm   1034 và 1036 (triều Lý Thái Tông), 1081 và 1098 (triều Lý Nhân Tông). Tất cả các bản Ðại tạng kinh trên đều là ấn bản in năm   983. (VNPGSL 1, tr.213- 214).

Có thể nghề khắc mộc bản in kinh tại nước ta đã bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp ở trung tâm Luy Lâu. Ðời nhà Lý, việc khắc mộc bản được phát triển để in các bản kinh thông dụng như Kim Cương, Dược Sư, Pháp Hoa, Viên Giác ... hầu đáp ứng nhu cầu tu học tại các chùa. Trong Thiền Uyển Tập Anh, thiền sư Tín Học (tịch năm 1200) được ghi là đời đời chuyên nghề khắc kinh. Vào thế kỷ 14, các vị tổ phái Thiền Trúc Lâm như  Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đều cho khắc in nhiều kinh với số lượng lớn. Nghề khắc in ở nước ta trở nên hoàn hảo hơn sau khi Lương Nhữ Hộc (1420- 1501)  học được của Trung Quốc qua hai lần đi sứ (1443 và 1459) về truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng, Hải Dương. Do đó ông được truyền tụng một cách lầm lẫn là tổ nghề in.

Các vua nhà Lý xây dựng khoảng 30 ngôi chùa, từ các chùa Hưng Thiên Ngự, Thắng Nghiêm, Ðại Giáo *NĂM   1010 dưới triều Lý Thái Tổ, chùa Một Cột *NĂM  1049 tới chùa Thánh Húc *NĂM  1206 triều Lý Cao Tông. Trong cả nước đã có chừng 300 ngôi chùa, những chùa cũ hư nát được trùng tu lại.

Nghề làm tượng Phật ở nước ta có lẽ bắt đầu từ hay trước thời Khương Tăng Hội (tịch năm 280), phát triển mạnh dưới thời vua Lý Thái Tông. *NĂM  1036, vua làm lễ khánh thành tượng Phật Ðại Nguyện, *NĂM  1040 khánh thành một nghìn pho tượng Phật bằng gỗ và một nghìn bức tranh Phật, *NĂM  1041 cho đúc tượng Phật Di Lặc bằng đồng nặng 7,560 cân tại viện Thiên Phúc. *NĂM  1056 vua Lý Thánh Tông cấp 12 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa Báo Thiên và tự tay viết bài minh khắc lên chuông, cũng cho đúc hai tượng Phạm Vương và Ðế Thích bằng vàng đặt thờ ở hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ. *NĂM  1057, vua sai Lang Tướng Quách Mãn tạc tượng A Di Ðà bằng đá ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh (VNPGSL 1, tr. 206).
 
*NĂM  999 -1090 Thiền sư VIÊN CHIẾU (Mai Trực) được coi là thiền sư thi sĩ tài ba nhất của phái thiền Vô Ngôn Thông, rất am tường phép tam quán của kinh Viên Giác. Bản luận giải Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn ông đem trình Lý Nhân Tông được vua sai sứ đưa qua Trung Quốc nhờ vua Tống Triết Tông duyệt. Vua Tống giao cho các pháp sư chùa Tướng Quốc đọc và cho ý kiến. Họ trình: đây là đấng Bồ Tát hóa thân ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, không thể thêm bớt gì được. Vua Tống sai sao một bản, gởi trả lại bản gốc cho vua Lý với lời khen tặng. Các tác phẩm của ông còn được biết tới nay: Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tán Viên Giác Kinh, Thập Nhị Bồ Tát Hành Tu Chứng Ðạo Tràng, Tham Ðồ Hiển Quyết. Tham Ðồ Hiển Quyết là tác phẩm ghi lại những đối đáp có tính cách như thơ về các công án thiền học. Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm, Tập San Nghiên Cứu Phật Học số 4, trang nhà www. thuvienhoasen.org)  cho rằng tới thời thiền sư Viên Chiếu, hệ thống công án mới được truyền vào các dòng thiền nước ta. Hệ thống công án được phát triển cao độ trong Thượng Sĩ Ngữ Lục
 
*NĂM  1069 Thiền sư THẢO ÐƯỜNG được vua Lý Thánh Tông (1054- 1072) phong làm Quốc sư. Ông là đệ tử của Tuyết Ðậu ( tác giả sách Bích Nham Lục nổi tiếng nhất trong Thiền môn). Nhiều thiền sư nổi tiếng của phái Vô Ngôn Thông và Tỳ Ni Ða Lưu Chi thời Thảo Ðường tới cuối thế kỷ 12 chịu nhiều ảnh hưởng của thiền sư Tuyết Ðậu. Ảnh hưởng này còn thấy trong phái thiền Trúc Lâm.

Thiền sư Thảo Ðường qua Chiêm Thành hoằng pháp, bị quân của vua Lý Thánh Tông bắt khi chinh phạt xứ này và được giao cho phục dịch vị Tăng Lục. Khi ông lén sửa lại những chỗ sai lầm trong bản ngữ lục chép tay của vị này, tài học của ông được khám phá và trình lên vua. Sau khi khảo hạch về sức học cũng như đạo đức, vua rất khâm phục ông. Ngay đó ông được mời trụ trì chùa Thảo Ðường ở kinh đô. Ông khai sáng thiền phái Thảo Ðường, đệ tử đầu tiên là vua Lý Thánh Tông. Chịu ảnh hưởng của thầy ông, Thiền sư Tuyết Ðậu (tác giả tác phẩm Thiền nổi tiếng Bích Nham Lục) là người chủ trương dung hợp Phật và Nho, đưa Nho gia tới gần Phật, Con đường tu tập của phái Thảo Ðường: tham thiền, quán chiếu và niệm Phật. Thiền Thảo Ðường chỉ ảnh hưởng tới giới trí thức và triều đình mà không thâm nhập được vào đại chúng. Trong 19 vị truyền thừa của phái Thảo Ðường ghi trong Thiền Uyển Tập Anh có tới 9 vị là cư sĩ thuộc thành phần vua quan ( trong đó có các vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông).
 

Tác phẩm Tuyết Ðậu Ngữ Lục do thiền sư Thảo Ðường phổ biến rộng rãi, được nhiều thiền sư cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn Thông hâm mộ, mở đường cho sự thống nhất ba thiền phái này thành dòng thiền Trúc Lâm đời nhà Trần sau này. Chính vua Trần Nhân Tông đã được thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ, sau khi ấn chứng, trao cho hai bộ Ngữ Lục  của Tuyết Ðậu và Dã Hiên để thâm cứu khi rảnh rỗi vào năm   1287.
   
*NĂM  1070  sau khi quy y với thiền sư Thảo Ðường, ông vua Phật tử  LÝ THÁNH TÔNG lập Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử và các tiên hiền. Lần đầu tiên Nho học được  triều đình nước ta chính thức cổ súy. Trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo VN, đạo Phật chưa bao giờ kỳ thị Nho và Lão giáo. Rất nhiều thiền sư  VN uyên thâm về Nho học đã giúp cho việc truyền bá đạo Phật trong giới trí thức từ thời nhà Ðinh (968- 980) trở về sau. Mặc dù có những giai đoạn như cuối đời Trần, đầu đời Hậu Lê ( cuối thế kỷ 14, thế kỷ 15 và nửa đầu thế kỷ 16), nỗ lực đả kích Phật giáo của một số Nho gia đã ảnh hưởng tới vua, Nho giáo chưa bao giờ chiếm địa vị độc tôn trong lịch sử VN.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2013, 02:05:34 pm »

(tiếp theo)

*NĂM  1077 LÝ THƯỜNG KIỆT (1019- 1105) đại thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt, tướng nhà Tống Quách Quỳ phải đầu hàng. Chính tại đây Lý Thường Kiệt cho phổ biến bài thơ nổi tiếng hùng hồn Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Trận chiến thắng này làm kinh hoàng quân Tống. Trước đó, năm  1069 ông đã khuất phục được vua Chiêm Thành ở phương Nam, *NĂM  1075 ông đã thống lĩnh quân đội Ðại Việt tấn công san bằng các căn cứ nhà Tống ở châu Ung, châu Khâm và châu Liêm. Vào thời này, triều Tống đã hùng mạnh nhờ những cải cách của tể tướng lỗi lạc Vương An Thạch.

Khi được đề cử làm Tổng Trấn Thanh Hóa, Sùng Tín Trưởng Lão (thầy của Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, tức Ỷ Lan Phu Nhân) vào thăm ông, được ông nhờ chọn đất để xây chùa. Khởi công năm   1085, hoàn tất năm   1089 tại phía Nam núi Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa, ông đặt tên chùa là Linh Xứng. Sau khi ông qua đời, thiền sư Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu Ðại Sư) được vua Lý Nhân Tông giao phó làm bài văn bia chùa Linh Xứng ca ngợi công trạng và đức độ của Thái Úy Lý Thường Kiệt, vị tướng lãnh trụ cột của 3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Bài này là một kiệt tác văn học khá dài, đại ý đoạn cuối như sau: Thái Úy vào trong thì sáng suốt khoan hòa, ra ngoài thì nhân từ dản dị, đổi dời phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn hòa, cho nên đời được cậy nhờ chẳng phải ít.... Trị dân thì dân được yên, xuất quân thì tất thắng, tên tuổi vang lừng khắp cõi, tiếng thơm nức bốn phương, thuận theo và tôn sùng đạo Phật, giữ gìn phúc đức quả là đây.
 


*NĂM  1088 vua LÝ NHÂN TÔNG (1072- 1127) phong Khô Ðầu đại sư làm Quốc Sư. Quốc sư không chỉ làm cố vấn mà có khi còn đứng ngang hàng với tể thần xử đoán các việc và các kiện tụng. Tuy nhiên các quốc sư thời Lý Trần thường không mặc áo thế quyền, mà chỉ coi là thầy dạy đạo cho cả nước.

Cũng năm   này, theo đề nghị của các quan, vua Lý Nhân Tông phân các chùa thành 3 loại: 1- Ðại danh lam (chùa lớn). 2- Trung danh lam ( chùa vừa). 3- Tiểu danh lam ( chùa nhỏ). Các chùa có ruộng và có người cày ruộng do nhà nước cấp. Nhà vua đã cho xây dựng hơn 100 ngôi chùa trong cả nước.

*NĂM  1075 vua đặt ra phép thi Tam trường để kén người tài ra giúp nước. Những Nho sĩ muốn thi làm quan phải nghiên cứu sâu về đạo Phật.

Sau đời Lý Nhân Tông, các vua nhà Lý thường chết yểu, tân vương nhỏ tuổi nên Thái Hậu có nhiều quyền, đạo Phật dần dần mang nhiều mầu sắc mê tín, hòa nhập với đạo Lão hiện hành và tín ngưỡng cổ truyền có tính quyền năng còn sót lại trong dân gian.
 
*NĂM  1176- 1210 triều vua Lý Cao Tông. Sau lần độ tăng *NĂM  1134 (triều Lý Thần Tông) số người xuất gia đông dần, tệ lậu nẩy sinh nơi Thiền môn. *NĂM  1179, vua cho khảo hạch các tăng quan , *NĂM  1198 lại cho chọn lọc và sa thải bớt tăng sĩ không xứng đáng. Một số nho thần như Ðàm Dĩ Mông nhân đó cực lực bài xích Phật giáo. Nhưng các đại sư Phật Giáo vẫn còn ảnh hưởng tới triều đình. Tăng phó Nguyễn Thường đã có lần khuyên can vua không nên tổ chức hát xướng chơi bời xa hoa quá độ.

Phật giáo đời nhà Lý có những đóng góp lớn lao vào học thuật, phong hóa, xã hội. Ảnh hưởng của Mật giáo tuy có nhưng tính chất mê tín dị đoan còn ít hơn so với thời Hậu Lê và Pháp thuộc. Các Quốc sư như Vạn Hạnh, Khô Ðầu, Không Lộ, Thông Biện, Viên Chiếu đều là người học rộng, hiểu nhiều góp phần tích cực tạo nên một đời mà Hoàng Xuân Hãn cho là “thuần từ nhất trong lịch sử nước ta” ( Lý Thường Kiệt, Viện Ðại Học Vạn Hạnh tái bản, Sài Gòn 1966).

Tại Ấn Ðộ, năm  1203, đợt tấn công sau cùng của quân Hồi Giáo san bằng đại học Nalanda và tàn sát gần hết tăng sĩ, khoảng 70 tăng sĩ sống sót nhờ chạy trốn qua Nepal và Tây Tạng.  Phật Giáo hầu như bị loại khỏi Ấn Ðộ, chỉ bắt đầu được phục hồi lại từng bước nhỏ từ cuối thế kỷ 19 nhờ nỗ lực của vị đại sư Dharmapàla từ Tích Lan tới.
 
*NĂM  1236 Sau khi bị Trần Thủ Ðộ bắt ép phải bỏ vợ là Lý Chiêu Hoàng để lấy chị dâu đang có mang hầu có thể có con nối dõi ngay khiến cho anh ruột bị mất vợ là Trần Liễu phẫn uất dấy binh nổi loạn , TRẦN THÁI TÔNG (1218- 1277) bỏ ngôi vua, đêm 3 tháng 4 *NĂM  Bính Thân đem theo vài tùy tùng tìm lên núi Yên Tử để đi tu. Tại đây, vua tham kiến Trúc Lâm đại sư , được khuyên: “Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lại và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần phải đi tìm cưc khổ ở bên ngoài.”

Lời khai thị trên đã mở đường cho vua Trần Thái Tông tự tìm học Phật. Vua tham vấn Phật pháp với các thiền sư Viên Chiếu, Tức Lự . Vua chuyên trì tụng kinh Kim Cang, tới câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngộ. Sau đó vua viết Thiền Tông Chỉ Nam. Khi quốc sư Viên Chiếu tới thăm, vua trình cuốn này, thiền sư khen là đã thấu suốt được tâm tông. Vua cũng có những bạn đồng đạo như  các thiền sư Ðại Ðăng, Ứng Thuận. Hai thiền sư Trung Quốc Thiên Phong và Ðức Thành  nghe tiếng vua tìm sang nước ta xin yết kiến để tham vấn đạo. Theo sách Thiền Tông Bản Hạnh của thiền sư Chân Nguyên (1647- 1726), vua đã mở các trường tăng học tại chùa Quỳnh Lâm, chùa Tư Phúc (ở núi Côn Sơn, Ðông Triều Hải Dương) và chùa Hoa Yên (Vân Yên, ở núi Yên Tử). Những chùa này vào đầu thế kỷ 14 trở thành ba trung tâm hoằng pháp lớn của phái thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập.

Vua ở ngôi 32 năm , sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Tác phẩm của vua được biết gồm Thiền Tông Chỉ Nam (viết *NĂM  30 tuổi), Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục, Thi Tập.

Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi theo Nhất Hạnh (VNPGSL 1, tr. 256) là bài sám pháp gọn gàng, đẹp đẽ và thực dụng có tính cảnh giác và khích lệ hành động, so ra bằng hoặïc hơn các sám pháp phổ thông từ Trung Quốc đưa qua như Lương Hoàng Sám, Từ Bi Thủy Sám, Dược Sư .

Khóa Hư Lục là tác phẩm quan trọng hướng dẫn hành trì tu tập thực tiễn và khai phóng, vừa nhắm vào giới trí thức qua các đề mục Thiền như Tọa Thiền Luận, Giới Ðịnh Tuệ Luận, Tuệ Giới Giám Luận, Niệm Tụng Kệ với 43 công án Thiền ..., vừa nhắm vào đại chúng  qua các đề mục Tịnh Ðộ như Niệm Phật Luận, Lục Thời Sám Hối, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn Tự ... Sư Tuệ Tĩnh (1330- 1399) dịch tác phẩm này ra văn Nôm giúp tăng sức phổ biến của nó.

Con ông là vua Trần Thánh Tông (1258- 1278) sau này xuất gia với Quốc Sư Ðại Ðăng và đi tu ở chùa Tư Phúc trên núi Côn Sơn (Hải Dương).

Các ông vua Phật tử khai sáng đời Trần như Thái Tông và Thánh Tông đã mở mang Nho giáo, lập Quốc Học Viện, tạc tượng Chu Công, Khổng, Mạnh và 72 tiên hiền để thờ (1253), mở các khoa thi để kén chọn nhân tài trong giới nho sĩ ( 1232, 1247 ....).
 
*NĂM  1282 NGUYỄN THUYÊN làm bài Văn Tế Cá Sấu bằng văn Nôm, được coi là khởi điểm của văn học chữ Nôm, và được vua Trần  Nhân Tông cho đổi họ là Hàn Thuyên, vì so sánh với Hàn Dũ bên Trung Quốc.

Chữ Nôm là loại chữ biến cải từ chữ Hán, ban đầu được sáng tạo từ các chùa để dùng ghi tên họ của các người dân quê trong văn sớ, dần dần được phong phú hóa nhờ nhiều nhà sư giỏi Hán văn và nặng tình dân tộc trong thời bị Trung Quốc đô hộ, nên càng ngày số ngữ vựng càng nhiều, được Nho gia chấp nhận dùng trong các thể loại văn học kể từ đây. Từ năm  1025, thời Lý Thái Tổ, lối hát ả đào đã hình thành với những bài ca dùng điệu lục bát hay song thất lục bát của thơ Nôm (Phạm Văn Sơn, VSTT tr. 226). Thời nhà Trần, mặc dù Hán văn đã đạt tới trình độ cao nhưng văn Nôm cũng có những tác phẩm lớn như bài phú Cư Trần Lạc Ðạo (Trần Nhân Tông), Vịnh Vân Yên Tự ( Huyền Quang). Vua Trần Nhân Tông (1258- 1308) ra lệnh: chữ Nôm và chữ Hán là hai ngôn ngữ chính thức dùng trong văn thư hành chánh. Theo Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 281) chỉ riêng trong 2 tác phẩm Nôm của Trần Nhân Tông là Cư Trần Lạc Ðạo và Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca số ngữ vựng Nôm đã có gần 2 ngàn từ. Văn Nôm cực thịnh từ thế kỷ 17 tới đời vua Minh Mạng (1820- 1840), với nhiều tác phẩm dài như bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Phan Huy Ích, Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ðoạn Trường Tân Thanh và Văn Tế Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Ngọc Kiều Lê và Truyện Tây Sương của Lý Văn Phức, Trinh Thử của Nguyễn Hàm Nghi, Bích Câu Kỳ Ngộ của Vũ Quốc Trân, Quan Âm Thị Kính của Nguyễn Cấp, Phan Trần của vô danh, Ai Tư Vãn của Ngọc Hân .

 
*NĂM  1299 TRẦN NHÂN TÔNG (1258- 1308) lên núi Yên Tử xuất gia, lấy hiệu là Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà, được coi là Sơ Tổ phái Thiền Trúc Lâm. Phong trào học Phật kể từ đây được phát khởi mạnh và đại chúng hóa. Chùa Vân Yên trên núi Yên Tử trở thành một trung tâm Phật giáo đời Trần, đào tạo được nhiều vị quốc sư như Viên Chứng, Ðại Ðăng, Tông Cảnh, Bảo Phác, Phù Vân, Vô Trước, Quốc Nhất. Hàng *NĂM  chùa Vân Yên tổ chức an cư kiết hạ ba tháng, tăng sĩ trong nước về tham dự rất đông. Trần Nhân Tông chủ trương: việc duy trì Phật pháp là nằm ở quốc vương đại thần, như  lời bạt của Trần Khắc Chung trong cuốn Trần Triều Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Hai người tạo ảnh hưởng quan trọng đối với ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, thầy ông) và vua Trần Thánh Tông ( Vô Nhị Thượng Nhân, cha ông). Trong bài pháp giảng vào tháng giêng 1306, Trần Nhân Tông ca ngợi hai người là “ơn mưa pháp đã thấm tới cho cháu con được tắm gội”( Lê Mạnh Thát, TTTNT tr. 241). 

Phái Thiền Trúc Lâm chủ trương lấy sự học hỏi kinh điển làm trọng, tổng hợp Thiền và Giáo, tổng hợp Phật, Nho và Lão. (Trần Nhân Tông: giáo lý của đức Phật ta phải nhờ Tiên Thánh mà truyền lại cho đời). Ðạo Phật Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, chủ trương nhập thế, đạo phụng sự cho đời sống. Sách Phật Giáo Pháp Sự Ðạo Tràng Công Văn Cách Thức (VNPGSL 1, tr. 412) được ấn hành

*NĂM  1299, quy định các sớ, tấu, điệp và các bản văn dùng trong các nghi thức như thọ giới, cầu an, cầu siêu ... Các sớ điệp ghi tên họ những người xin cầu an, cầu siêu, thọ giới bằng chữ Nôm. Tác phẩm quan trọng của Trần Nhân Tông, Cư Trần Lạc Ðạo, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca....là hai  trong vài tác phẩm chữ Nôm xưa nhất còn truyền lại.

 
Trần Nhân Tông lên ngôi vua năm   1279, tới năm   1293 (Quý Tị) nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Dưới triều đại của ông, quân dân ta đánh đuổi được hai cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ (1285- 1288).

 *NĂM  1285 và 1288, ông phong tặng gia hiệu cho các anh hùng liệt nữ, anh linh lịch sử của đất nước. Sau các cuộc chiến tranh Lào Việt chấm dứt vào năm   1295, Trần Nhân Tông đã thực tập xuất gia ở chùa Võ Lâm, Ninh Bình.

 *NĂM  1301 ông đi quan sát tình hình Phật giáo tại Chiêm Thành, tại đây hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân.

*NĂM  1304 ông đi dạo khắp nước, khuyên dân chúng giữ 5 giới, tu mười điều lành (thập thiện) và phá bỏ đền thờ những vị thần không có phẩm hạnh (gọi là dâm từ).
Các ông vua thiền sư đời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông thường được gọi là Bụt Vàng, Vua Bụt, Ðiều Ngự Vương. Ðiều Ngự  Giác Hoàng Trần Nhân Tông được thờ ở chùa Thiên Trúc (chùa Ðồng Vĩ vì mọi kiến trúc đều bằng đồng) ở Ðông Triều, tỉnh Hải Dương.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 09:40:25 am »

(tiếp theo)

*NĂM  1308 mồng một Tết, Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông trao y bát và tâm kệ cho PHÁP LOA (Ðồng Kiên Cương, 1284- 1330). Ông cũng được trao 100 hộp đựng kinh sử ngoại điển và 20 hộp đựng Ðại Tạng Kinh viết bằng máu, được dặn dò “mở rộng việc học bên trong và bên ngoài”. Pháp Loa, một người dân giả trẻ tuổi chưa đỗ đạt làm quan, xuất gia cũng chưa lâu, trở thành tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm. Xứng đáng với sự tin cậy của Ðiều Ngự Trúc Lâm, ông là một nhà tổ chức giáo hội tài ba, sanh năm 1284 tại Hải Dương, xuất gia năm   1304, tịch năm 1330. Thời Pháp Loa, số người xuất gia và số chùa tăng lên rất mau chóng, sổ tăng tịch  được lập để thống nhất tăng sĩ và tự viện thành Giáo hội, mà Pháp Loa là người đầu tiên được cấp độ điệp (thẻ căn cước của tăng sĩ) *NĂM  1308 sau khi nhận chức trú trì chùa Bảo Ân. *NĂM  1311, tại chùa Vĩnh Nghiêm, ông lập kế hoạch kiểm tra các tự viện ( vì làng nào cũng có ít nhất là một chùa) và quy định mọi chức vụ của tăng sĩ trong giáo hội. *NĂM  1312 ông từ chối không nhận thuyền bè và phu kiệu do vua Trần Anh Tông cúng dường. Ông hạn chế việc tổ chức Ðại Giới Ðàn ba năm   một lần để giới hạn số người xuất gia. Tính đến năm  1329, số tăng sĩ xuất gia qua các Ðại Giới Ðàn do Pháp Loa tổ chức được cấp sổ tăng tịch trên 15 ngàn người. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, một trong  7 ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm được Pháp Loa chọn làm văn phòng trung ương của giáo hội.

Pháp Loa chú giải nhiều kinh điển như Pháp Hoa, Lăng Già, Kim Cương, Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm và soạn các sách về nghi thức sớ điệp dùng trong các lễ Phật Giáo (Pháp Sự Khoa Văn), nghi thức cúng đàn chẩn tế (Ðộ Môn Trợ Thành Tập). Qua những khóa giảng kinh Hoa Nghiêm nhiều lần, có lần số người tham dự trên một ngàn, ông tạo nên phong trào học kinh Hoa Nghiêm trong thiền giới Việt Nam thời đó. Lê Mạnh Thát (TTTNT, tr. 325) cho rằng tư tưởng Hoa Nghiêm trở thành lý thuyết phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Ðại Việt nhìn về đất nước cũng như xã hội mình. Tăng già thời Pháp Loa học kinh điển theo cách phân tích, chú giải và bình luận, vấn đáp và đàm thuyết.
Pháp Loa cũng soạn sách Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quý theo lệnh của vua Trần Anh Tông để làm cẩm nang trị quốc theo phẩm hạnh một vị quốc vương bồ tát (như vua A Dục).
Mật Tông đã ảnh hưởng đáng kể tới Pháp Loa, ông làm lễ Quán Ðảnh (một nghi thức truyền giới của Mật Tông), tổ chức trai đàn chẩn tế với những ấn quyết và thần chú, thời khóa tụng niệm buổi chiều thường có nghi thức thí thực cô hồn ngắn ( gọi là Mông Sơn Thí Thực Văn). Nghi thức tụng niệm buổi sáng của giáo hội Trúc Lâm chủ yếu là thần chú ( gồm 11 thần chú, không kể thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh). Trong thời Pháp Loa, tăng sĩ Tây Tạng Du-Chi-Bà-Lam qua Ðại Việt lần thứ hai năm   1311  và tịch tại đây. Con gái ông được vua Trần Anh Tông tuyển vào cung. *NĂM  1318, tăng sĩ Ấn Ðộ Ban-Ðể-Ô-Sa-Thất phụng chiếu vua Trần Minh Tông dịch Bạch Tán Cái Thần Chú.
 
*NĂM  1317 Văn Huệ Vương TRẦN QUANG TRIỀU  (1286- 1325) con cả của Trần Quốc Tảng và là cháu nội Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn cúng dường 40 vạn quan tiền trùng tu chùa Quỳnh Lâm. Ông là một nhà thơ lớn, tập Cúc Ðường Di Tập của ông được Phan Huy Chú ca ngợi là “thanh thoát khá khen”. Ông xuất gia năm   1322 với thiền sư Pháp Loa sau khi vợ ông là công chúa Thượng Trân mất. Tháng chạp 1324, ông lại cúng dường tổng cộng hơn ngàn mẫu ruộng ở Gia Lâm và hai nơi khác cùng hơn ngàn nông nô làm của Tam bảo cho chùa Quỳnh Lâm. Ông còn nhờ thiền sư Pháp Loa duyệt lại và thêm lời chú thích sách Tứ Phần Luật rồi cúng dường in 5 ngàn quyển cho tăng chúng học tập. Chùa Quỳnh Lâm qua sự cúng dường của ông trở thành một kiến trúc quy mô, với những cột to tới một người ôm. Thiền sư Bảo Sát trú trì chùa này, và trông coi việc ấn tống Ðại Tạng Kinh tại đây vào năm  1319. Chùa Quỳnh Lâm là nơi lưu trữ hồ sơ của tất cả các tăng sĩ thuộc giáo hội Trúc Lâm đời Trần. Báo Ân  , Siêu Loại và Quỳnh Lâm là 3 cơ sở lớn nhất của giáo hội Trúc Lâm thời Pháp Loa. Ðời Trần Dụ Tông, Trương Hán Siêu (mất năm   1314) là người nổi tiếng bài xích Phật Giáo một cách cực đoan, được cử làm Giám Tự chùa Quỳnh Lâm. Có lẽ nhờ vậy, về cuối đời, ông đã phần nào thấm nhuần được ý nghĩa giải thoát của Phật pháp.

Chùa Quỳnh Lâm  do thiền sư Ðịnh Không ( 730- 808) lập lúc nước ta dưới thời đô hộ của nhà Ðường. Thiền sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không, tịch vào năm   1141 đời Lý Anh Tông), dựng tượng Phật A Di Ðà là một trong 4 tác phẩm nghệ thuật lớn đời Lý gọi là Tứ Ðại Khí. Ba tác phẩm khác do ông xây dựng là: tháp chùa Báo Thiên, đỉnh chuông chùa Phổ Minh và chuông chùa Phổ Lại. Khi quân Minh xâm chiếm nước ta (1407- 1427), chúng phá hủy chùa Quỳnh Lâm. Chúa Trịnh Giang sau này cấp tiền và mộ phu tu sửa chùa hai lần vào các năm   (1728- 1732) và (1735- 1746) tạo những trang trí thật đẹp. Ðời Thiệu Trị (1840- 1847) chùa lại bị đốt phá nhiều bộ phận chính.

Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Minh chiếm chùa làm chỗ đóng quân, treo cờ đỏ sao vàng lên. Phi cơ Pháp thấy, bỏ bom, chùa bị cháy hơn một tháng mới hết, chỉ còn lại nền chùa. Sau năm   1954, gạch của chùa được xung công để xây hợp tác xã nuôi heo ngay trước cửa chùa cũ. *NĂM  1985, khi chính quyền  bắt đầu chính sách cởi trói,  dân chúng địa phương mới góp tiền xây được ba gian nhà gạch sơ sài trên nền chùa cũ để thờ Phật. Chùa Quỳnh Lâm được Bộ Văn Hóa nhà nước  xếp vào loại di tích lịch sử cần được bảo tồn !
 
*NĂM  1319 Ðại Tạng Kinh do Pháp Loa ủy cho sư huynh của ông là BẢO SÁT chủ xướng gồm năm   ngàn quyển được ấn hành hai lần : năm  1319  và năm  1329. Bản Ðại Tạng Kinh này do vua Trần Nhân Tông gởi thơ xin và được vua Nguyên Thành Tổ cấp cho năm  1295. Việc thực hiện  Ðại Tạng Kinh đã được khởi công khắc in từ đầu năm   1296, bị gián đoạn *NĂM  1308, khi Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông tịch. *NĂM  1311, vua Trần Anh Tông ra lệnh cho Pháp Loa tiếp tục công việc này. Pháp Loa ủy thác cho thiền sư Bảo Sát chủ trương việc khắc các bản gỗ để in. Các tác phẩm thiền học của Trần Nhân Tông như Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục, Ðại Hương Hải Ấn Thi tập, Thạch Thất Mị Ngữ và Tăng Già Toái Sự, các tác phẩm củavua Trần Thái Tông như Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam, Kim Cương Tam Muội Kinh, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, các tác phẩm của Tuệ Trung như Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục được đưa vào bộ Ðại Tạng Kinh này trong bản in lần thứ hai năm  1329. Lần in đầu vào tháng chạp 1319, các tăng sĩ và cư sĩ cùng hiến máu để cúng dường cho bản đầu tiên.

Bảo Sát là đệ tử được Sơ Tổ Trúc Lâm yêu quý nhất nhưng không được giao phó việc lãnh đạo giáo hội có lẽ vì Trúc Lâm thấy Pháp Loa mới  có khả năng tổ chức và lãnh đạo cao.

*NĂM  1407, khi Hồ Quý Ly đầu hàng tướng Trương Phụ của nhà Minh, nhà Minh cho chở về Kim Lăng, kinh đô Trung Quốc, tất cả các sách vở và mọi thứ có chữ tại nước Ðại Việt, trong đó có bản khắc gỗ bộ Ðại Tạng Kinh nói trên. Trương Phụ đã tịch thu gần hết gia tài văn học của Ðại Việt.
 
*NĂM  1322 vua TRẦN MINH TÔNG sai Pháp Loa ( tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm) viết Tham Thiền Chỉ Yếu. *NĂM  1330, ông lại sai Huyền Quang (tổ thứ 3 Trúc Lâm) viết Phổ Huệ Ngữ Lục vaø Hành Trạng. Theo Lê Mạnh Thát ( Nghiên Cứu Về TYTA, tr.87) có thể ông đã sai thiền sư Kim Sơn viết Thiền Uyển Tập Anh, bộ lịch sử Phật giáo Thiền Tông VN, năm   1337.
Cũng trong năm  này giáo hội Trúc Lâm cho in 5 ngàn bản Tứ Phần Luật và các cao tăng được triệu về để giảng dạy giới luật cho tăng sĩ.
Những bản in này có thể phẩm chất không tốt vì mãi tới 1460, sau hai lần đi sứ qua Trung Quốc năm  1443 và 1459, Lương Nhữ Hộc (1420- 1501) cố học được nghề in khắc và truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng ( đời vua Lê Thái Tông). Ông được coi là tổ nghề in.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 09:44:55 am »

(tiếp theo)

*NĂM  1330 HUYỀN QUANG trở thành tổ thứ  ba của thiền phái Trúc Lâm, sau khi Pháp Loa tịch. Huyền Quang (Lý Ðạo Tái 1254- 1334) thông thạo thư tịch, giỏi trích dẫn kinh điển lại ứng đối mau lẹ. Trong 20 năm   làm quan, ông được giao phó trách nhiệm tiếp sứ nhà Nguyên Trung Quốc. Ðược vua hứa gả công chúa cho, ông một mực từ chối. *NĂM  1305 ông xin từ quan, xuất gia, theo học với thiền sư Bảo Phác. Ngay sau đó, ông được Ðiều Ngự Trúc Lâm chọn làm phụ tá. Ông theo sát Trúc Lâm trong hai *NĂM , được giao phó việc soạn các sách giáo khoa căn bản cho giáo hội.

-         Chư Phẩm Kinh: tuyển tập các phẩm kinh thiết yếu và thực dụng.
-         Công Văn Tập: tuyển tập các bài văn, sớ, điệp dùng trong nghi lễ Phật giáo.
-         Thích Khoa Giáo: giáo khoa về Phật pháp căn bản.

Ðiều Ngự Trúc Lâm xem xong, rất hài lòng sai khắc in ngay không cần sửa chữa. Sau đó, ông làm trú trì chùa Vân Yên (Hoa Yên, ở núi Yên Tử). Số người theo học ông tại trường Tăng Học Vân Yên lên tới ngàn người. Tại đây, ông đã làm bài phú chữ Nôm nổi tiếng Vịnh Hoa Yên Tự (HT Ðức Nghiệp trong Ðạo Phật VN coi đây là 1 bản kinh VN). *NĂM  1309, sau khi Ðiều Ngự Trúc Lâm tịch, ông theo lời dặn dò, theo sát Pháp Loa trong vài *NĂM  làm phụ tá rồi trở lại chùa Vân Yên lo huấn luyện tăng sinh. Ông cho khắc in nhiều kinh điển và dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa, là một tháp có thể xoay được theo lối Mật Tông ở chùa Ninh Phúc, Bắc Ninh. Tháp có 9 tầng, 8 mặt, mỗi mặt của tầng dưới cùng có chạm nổi hình ảnh về sự tích đức Phật. Ông ít thuyết pháp cho đại chúng, ít giao thiệp với những người trong triều mà chỉ lo giảng dạy cho tăng chúng tại các trường Tăng Học. Có lẽ vụ án vua Trần Minh Tông nghe lời Mạc Ðĩnh Chi sai cung nữ Thị Bích thử thách ông đã làm ông lánh xa triều đình. Cô cung nữ xinh đẹp lại thông kinh sử này không lay động được ông  về nhan sắc và sự lanh lợi, đã bịa chuyện lợi dụng lòng từ tâm của ông  xin được nhiều vật quý vua ban cho ông để dối gạt là đem bán lấy tiền chuộc cha. Sau đó cung nữ Thị Bích lại dối gạt vua là Huyền Quang lưu cô lại một đêm và tặng những vật trên. Nhà vua nghi hoặc, đành mở đại hội Vô Già, trưng bày các đồ vật cung nữ Thị Bích xin được đó để thử thách Huyền Quang. Ông dùng năng lực tu chứng Mật Tông để giải nỗi oan khiên này ngay tại lễ đàn này làm cho đại chúng kinh hoàng và vua phải quỳ lạy tạ lỗi.
Ông không xây nhiều chùa (có lẽ vì số chùa lúc đó đã quá nhiều) mà chỉ lo mở mang các trung tâm hoằng pháp lớn của phái Trúc Lâm như các chùa Vân Yên, Ninh Phúc, Thanh Mai và Côn Sơn thành những đạo tràng tu học. Nỗ lực chính của ông nhằm hoàn thiện phẩm chất cho Tăng Già để có khả năng đảm đương nổi các cơ sở Giáo Hội đã phát triển nhanh dưới thời Pháp Loa. Những năm   cuối đời, ông trú trì tại chùa Côn Sơn ( huyện Chí Linh, Hải Dương).

Một số nhà biên khảo Phật Giáo đã sai lầm mà cho rằng sau khi Huyền Quang tịch vào năm   1334, dòng thiền Trúc Lâm suy yếu trầm trọng không còn sinh hoạt. HT Thanh Từ được coi là người hiện nay khôi phục dòng thiền Trúc Lâm, cũng có quan niệm sai lầm này. Thực ra đời Trần đã suy yếu từ đời Trần Dụ Tông (1341- 1369). Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, ông vua này chiêu tập nhà giầu trong nước vào cung đánh bạc cho vui, mỗi tiếng bạc đặt 300 quan tiền; lại hoang dâm quá độ. Thượng Hoàng Trần Minh Tông mặc dù tới năm  1358 mới băng, dường như cũng không ngăn cản tệ hại này.  Thậm chí ông còn chấp thuận việc giết người còn tân để lấy mật chữa bệnh cho vua Dụ Tông (lên ngôi năm   9 tuổi, sau khi vua Trần Hiến Tông băng mà không có con). Theo lời khuyên của thầy thuốc Trần Canh, ông còn cho phép con gái ông là công chúa Thiên Ninh, dù đã có chồng, loạn luân với em ruột là vua Dụ Tông để chữa bệnh bất lực cho ông vua 15 tuổi này. Triều đình như vậy, vào lúc trung thần tài giỏi như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn đã chết, còn Chu Văn An dâng sớ xin chém đầu bảy nịnh thần không được xét cũng xin từ quan. Trong nước nhân dân đói khổ. Bên ngoài, Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga hàng năm   sang đánh phá từ năm   1368.

*NĂM  1372, Hồ Quý Ly bước lên địa vị quyền uy nhất triều đình Trần Duệ Tông (1372- 1377). Là người thông minh và có tham vọng làm vua, tất nhiên ông có những biện pháp canh chừng Giáo Hội Trúc Lâm là một thế lực hậu thuẫn của nhà Trần. Khi nhà sư Phạm Sư Ôn của thiền phái Trúc Lâm khởi loạn (1389), mặc dù đang chống trả sự tấn công mãnh liệt của quân Chiêm Thành, họ Hồ vẫn ra lệnh cho Trần Khắc Chân phải đem một nửa quân tiêu diệt Phạm Sư Ôn. Quân Chiêm Thành tan rã sau khi Chế Bồng Nga chết vì bị phục kích (1390), Phạm Sư Ôn bị dẹp tan, Hồ Quý Ly hẳn nhiên rảnh tay tiêu diệt các hậu thuẫn của nhà Trần. Các nhà sư giáo hội Trúc Lâm có lẽ đã phải mai danh ẩn tích, thậm chí thay đổi tên họ trốn vào các vùng đất phía Nam. Tiếp theo là thời đô hộ (1407- 1427), nhà Minh chủ trương  đồng hóa toàn diện nước ta, thay thế nền Phật Giáo Việt Nam bằng Phật Giáo Trung Quốc, thiền phái Trúc Lâm lại phải tiếp tục lẩn tránh nếu không muốn bị hoàn toàn đồng hóa.

Lê Mạnh Thát (TTTNT, tr. 335) cho rằng thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm, vì đó là mỹ hiệu Thượng Hoàng Trần Minh Tông ( làm vua 1314- 1329) gọi ông trước khi băng hà vào năm  1358. Tuy nhiên cũng chính vua Trần Minh Tông đã ban hiệu cho Huyền Quang (vào năm  1334 ngay sau khi ông tịch) là Trúc Lâm Ðệ Tam Ðại Tự Pháp Huyền Quang Tôn Giả và cúng dường 10 lạng bạc để xây tháp thờ ông phía sau chùa Côn Sơn.
 
*NĂM  1337 Thiền Uyển Tập Anh ra đời, theo Trần văn Giáp và sau này là Lê Mạnh Thát. Về tác giả: Lê Mạnh Thát cho là thiền sư Kim Sơn viết theo lệnh của vua Trần Minh Tông, Nguyễn Lang (Nhất Hạnh) cho rằng đây là công trình tập thể trong đó bốn người quan trọng nhất là: Thông Biện (tịch năm 1134), Thường Chiếu (tịch năm 1203), Thần Nghi (tịch năm 1216) và Ẩn Không là tác giả sau cùng.

Thiền Uyển Tập Anh ghi chép tiểu sử các thiền sư tại nước ta từ thế kỷ 6 tới đầu thế kỷ 13, thuộc ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường. Sự ghi chép nhiều chỗ rất sơ sài, nhiều vị danh tăng cùng thời vì không nằm trong ba thiền phái trên nên không được nhắc tới. Tuy nhiên, đây là tác phẩm lịch sử Phật Giáo Việt Nam cổ nhất còn truyền lại tới nay, nó trở nên quan trọng vì cung cấp nhiều tên người, tên đất, về lối sống và tín ngưỡng ở nước ta trong 7 thế kỷ. Tác phẩm này được Lê Mạnh Thát ( TUTA) dịch và chú giải kỹ lưỡng.
 
*NĂM  1350 (đời vua Trần Dụ Tông) sư TUỆ TĨNH thọ đại giới tại chùa Vân Yên, núi Yên Tử với quốc sư Lãm Sơn. Tuệ Tĩnh (1330- 1399) được suy tôn là ông tổ thuốc Nam.

Ông sanh năm   1330 tại Hải Dương, cha mẹ mất sớm, làm con nuôi sư trú trì chùa Hải Triều ở làng Giao Thủy (Nam Ðịnh) từ nhỏ. Sau khi làng Giao Thủy bị dịch tả, sư Tuệ Tĩnh chuyên tâm nghiên cứu dược tính từng cây thuốc Nam, đồng thời nghiên cứu theo các bệnh chứng để tìm nguyên nhân gây bệnh và chọn phương thuốc trị liệu. Ông chủ trương người Nam dùng thuốc Nam để trị bệnh, không lệ thuộc vào thuốc Bắc nhập cảng từ Trung Quốc. Thầy thuốc hay không phải chỉ biết công dụng của cây thuốc, đoán trúng bệnh mà còn phải linh hoạt gia giảm từng phương thuốc cho từng loại bệnh. Công trình nghiên cứu của ông được đúc kết thành bộ sách Nam Dược Thần Hiệu. Ông còn diễn tả dược tính của vị thuốc Nam bằng thơ Ðường và một bài phú chữ Nôm về cách dùng 630 vị thuốc Nam.

*NĂM  1374, sư thi đậu Tiến Sĩ, được cử làm trú trì chùa Hải Triều (chùa Hộ Xá). Tại đây sư mở trường đào tạo lương y cho cả tăng lẫn tục. Sư biên soạn Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư làm sách cẩm nang trị liệu cho mỗi chùa. Một phần sách này viết bằng thơ Nôm lục bát. Danh tiếng của sư vang tận Trung Quốc nên năm   1384 ( Giáp Tí) vua nhà Minh đòi đích danh nhà Trần phải triều cống sư. Vì sự nhu nhược của các vua cuối đời Trần, sư Tuệ Tĩnh (cùng nhiều danh tài các ngành khác) phải lên đường qua Kim Lăng, kinh đô nhà Minh. Sư chữa bệnh cho hoàng hậu và các hoàng thân quốc thích nhà Minh cho tới khi tịch vào năm 1399 tại Kim Lăng. Tại đền Xưa, đền Bia, chùa Giám ở Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương còn di tích của ông. Hàng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, chùa Giám mở hội tế lễ ông. Sách Nam Dược Thần Hiệu được Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam ( lần lượt được Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản từng tập từ năm  2001). Sư Tuệ Tĩnh còn dịch tác phẩm thiền Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra chữ Nôm, dưới tên Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục.

Nền y tế công cộng tại nước ta ít nhất đã có từ đầu thế kỷ 14 và tiếp tục phát triển dưới thời Hồ Quý Ly.  Theo văn bia của vua Trần Minh Tông (1314- 1329) khắc tại chùa Non Nước, Ninh Bình, chùa này đã là nơi trồng cây thuốc và mở y viện chữa bệnh cho dân. Dưới thời vua Trần Hiến Tông (1329- 1341), thuốc Hồng Sương Ngọc Hoàn trị bá bệnh được cấp phát cho dân chúng. *NĂM  1403, nhà Hồ cho xây Quảng Tế Thự ,một loại bệnh viện trung ương, danh y châm cứu Nguyễn Ðại Năng được giao cai quản cơ sở này với chức vụ Quảng Tế Tự Thừa. Ông soạn sách Châm Cứu Tiếp Hiệu Diễn Ca ghi cách chữa 130 bệnh dùng 140 huyệt châm cứu, trong đó có 11 huyệt do người nước Nam tìm ra.

Các nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và sau này Nguyễn Lang, Lê Mạnh Thát cho rằng sư Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ 17. Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 347) ghi Chân An Tuệ Tĩnh tịch vào năm   1711. Chúng tôi dựa vào tài liệu của Tuệ Tĩnh Ðường ( một hệ thống phòng mạch thuốc Nam hiện nay tại VN) vì sự kiện các nhân tài nước Nam bị đem cống hiến Trung Quốc xảy ra vào cuối đời nhà Trần.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 09:47:54 am »

(tiếp theo)

*NĂM  1389 nhà sư Phạm Sư Ôn, pháp hiệu Thiên Nhiên, thuộc phái thiền Trúc Lâm huy động được một số tăng sĩ lãnh đạo hơn vạn người nổi dậy chống lại triều đình Trần Thuận Tông (1388- 1398) ở Quốc Oai, Sơn Tây. Lúc đó, quân Chiêm đang tấn công nước ta, chiếm từ Thanh Hóa trở vào. Triều đình hầu như nằm trong tay Hồ Quý Ly, nhân dân đói khổ, giặc giã nổi lên khắp nơi, quân Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga liên tiếp tấn công. *NĂM  trước, 1388, các tôn thất nhà Trần âm mưu loại trừ Hồ Quý Ly bị phát giác và bị Quý Ly giết hại khá nhiều.

Lúc đầu thanh thế sư Phạm Sư Ôn rất mạnh. Ông chiếm được kinh đô trong 3 ngày, xưng là Hoàng Ðế, lập triều đình rồi lui về Quốc Oai. Tả Thánh Dực Tướng Quân Hoàng Phụng Thế tuân lệnh Hồ Quý Ly, tách một phần quân đang chống giữ quân Chiêm khai lòng sông tiến lên đánh úp, bắt được Phạm Sư Ôn và các cận thần đem giết. Cuộc khởi nghĩa tan rã (VSTB). Các tác giả Phật Giáo như Lê Mạnh Thát, Nhất Hạnh, Nguyễn Ðức Sơn đều cho rằng cuộc khởi nghĩa của sư Phạm Sư Ôn là phản ứng của giới tăng sĩ Phật Giáo đối với một chính quyền trở thành tồi tệ gây nguy hại cho nhân dân và đất nước.
 
*NĂM  1407- 1428 nước ta bị Trung Quốc đô hộ sau khi nhà Minh tiêu diệt triều đại nhà Hồ. Hồ Quý Ly truất Trần Thiếu Ðế Án, lên làm vua năm   1400. Cuối năm , nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, lên làm Thái Thượng Hoàng. *NĂM  1407 cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều quan lại thân cận (trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trãi) bị quân Minh bắt, giải về Kim Lăng, kinh đô nhà Minh.

Sau khi diệt được nhà Hồ, nhà Minh sai Trương Phụ tiêu diệt toàn bộ văn hóa Việt Nam, đem về Trung Quốc tất cả văn bia, sách vở và bất cứ thứ gì có ghi lại chữ. Ðồng thời họ phổ biến rộng rãi các sách Tư Thư, Ngũ Kinh, Tinh Lý để đồng hóa dân ta. Sợ Trương Phụ còn để sót lại những di sản văn hóa Ðại Việt, *NĂM  1418 vua Minh sai hai Nho gia là Hạ Thanh và Hạ Thi sang nước ta để tịch thu cho bằng hết tất cả các tác phẩm của Ðại Việt. Nhà Minh còn lập Tăng Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo việc giáo dục Phật Giáo và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Quốc.

Trong thời đô hộ này, sư PHẠM NGỌC tại chùa Ðồ Sơn (An Lão, Kiến An) khởi nghĩa, đánh quân Minh nhiều trận ở vùng trung du và đồng bằng Băc Bộ, gây thiệt hại đáng kể cho địch. Sư Phạm Ngọc thành lập chính quyền kháng chiến, xưng là La Bình Vương. Sau ông bị quân Minh bắt, giải sang Trung Quốc hành hình. Trước đó sư AN QUỐC cũng lãnh đạo một cuộc kháng chiến chống quân Minh nhưng cuộc khởi nghĩa bị thất bại ngay sau đó.

Cuộc khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế (con thứ của vua Trần Nghệ Tông) *NĂM  1407- 1409, nối tiếp bởi Trần Quý Khoách năm 1409- 1413 được gọi là nhà Hậu Trần, mỗi lần thất bại là một lần nhân dân bị quân Minh và những tay sai khủng bố dã man, mặc dù chúng luôn luôn nêu cao chiêu bài phù Trần diệt Hồ để ve vãn tôn thất nhà Trần. Tới cuối năm   Ðinh Dậu (1417) Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn quy tụ được nhiều người tài giỏi nhưng cũng phải mất 10 năm   kháng chiến mới đánh đuổi được quân Minh ra khỏi đất nước năm   1428, lập nhà Hậu Lê.
 
*NĂM  1429 , triều Lê Thái Tổ (1428- 1433) ngày 20 tháng 10 tất cả tăng sĩ Phật Giáo và đạo sĩ Lão Giáo phải trình diện để khảo thí. Ai thi đậu được tiếp tục hành đạo, ai thi hỏng bị bắt phải hoàn tục. Cuộc thi là khảo hạch từ chương của Nho giáo, đòi hỏi thí sinh phải thông thạo Hán văn.
 
*NĂM  1434- 1449 các đời vua Lê Thái Tông (1434- 1442) và Lê Nhân Tông (1443- 1459), thường xảy ra hạn hán. Mùa hạ *NĂM  1434, vua Lê Thái Tông sai quan rước Phật chùa Pháp vân về chùa Báo Thiên ở kinh đô để cầu mưa. *NĂM  1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu bắt các quan phải ăn chay và giữ mình cho sạch để tới chùa Báo Thiên ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu mưa, lại sai quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về. *NĂM  1449, vua lại tổ chức cầu mưa ở cung Cảnh Linh.
 
*NĂM  1440 thiền sư VIÊN THÁI (1400- 1460) dịch Phật Thuyết Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân Kinh ra chữ Nôm. Theo Lê Mạnh Thát (TUTA, tr. 345), ông cũng là người dịch tác phẩm Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục (của thiền sư Kim Sơn) ra  thơ Nôm.
*NĂM  1442 Nguyễn Trãi bị án tru di tam tộc , vì vua Lê Thái Tông chết trong đêm  ngự giá tại trang trại trồng vải ( Lệ Chi Viên) của ông ở Côn Sơn, có Thị Lộ là thiếp yêu quý của Nguyễn Trãi hầu cận. Nguyễn Trãi (1380- 1442) là một đại công thần, một nho gia uyên bác và cương trực đứng đầu văn quan nên bị đa số các tướng lãnh của Lê Lợi vốn chỉ là võ dõng ganh ghét.  Lại nữa Thị Lộ là người được vua Thái Tông tin yêu, từng bàn luận với nhà vua nhiều đại sự nên càng làm lớn thêm sự ganh ghét của các võ quan. Nguyễn Trãi được coi là đại anh hùng dân tộc nên vụ án này bị các sử gia coi là vô cùng oan ức và bất công ngay cả so với các vụ án hàm oan trong sử sách Trung Quốc.

 Sau này, vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) giải oan cho ông, hủy bỏ án đó. Vua Thánh Tông khi mới sinh ra, mẹ con ông đã được Thị Lộ che chở và Nguyễn Trãi giúp đỡ mới khỏi bị hại bởi những ganh ghét trong nội cung.
Nguyễn Trãi là tác giả Bình Ngô Ðại Cáo, một tác phẩm chính trị bất hủ, và Gia Huấn Ca, một tác phẩm sâu sắc giáo dục thanh thiếu niên. Ông từng học đạo với thiền sư Ðạo Khiêm (1370- 1445, trú trì chùa Tư Phúc ở Côn Sơn) hơn 10 năm trước khi về sống ẩn dật tại Côn Sơn.
 
*NĂM  1460 Á Quận Hầu Ðinh Liệt liên kết với nhiều quan văn võ trong triều âm mưu đảo chánh, giết bọn tâm phúc của Lạng Sơn Vương Nghi Dân, lật đổ Nghi Dân, giáng xuống tước Hầu và lập Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê Thánh Tông ( 1460- 1497).

Nghi Dân là con cả của vua Lê Thái Tông, giết Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu và tự lập làm vua năm 1459. Trong 8 tháng cầm quyền, nhiều quan lại bị ông ra lệnh giết một cách oan uổng.
Cuộc đảo chánh kết liễu, để ngăn không cho tin tức này tiết lộ ra ngoài, vua Lê Thánh Tông ra chiếu chỉ cấm tăng sĩ và đạo sĩ không được liên lạc với nội cung vì các bà hoàng và phi tần là những Phật tử ngoan đạo. Bốn năm   sau, ông lại xuống chiếu cấm dựng thêm chùa mới.

Vì thiên kiến của vua Lê Thánh Tông (là một vị anh quân nhà Lê đưa xã hội vào quy củ ổn định) đối với Phật giáo, các tác phẩm của dòng Thiền Trúc Lâm không được giới trí thức ngó ngàng tới. Thậm chí trạng nguyên Lương Thế Vinh còn bị quan lại triều đình chê cười vì “sáng tác kinh Phật”. Ðể phản ứng lại, Phật giáo dân gian ở nước ta hình thành thể loại văn học kể hạnh, còn gọi là hát kệ về công hạnh của các thiền sư đời trước. Nhờ vậy văn Nôm được phát triển trong dân gian vào thời kỳ này , dù bị Nho gia bài bác “nôm na là cha mách qué!”.

Thời vua Lê Thánh Tông, Nho học phát triển rất mạnh. Số tiến sĩ bằng 1/5 tổng số tiến sĩ trong các khóa thi từ thời vua Lý đến triều Thành Thái (2353 vị), trong đó có 9 trong tổng số 30 trạng nguyên. Ðạo luật Hồng Ðức được ban vào thời này là một điểm son trong lịch sử luật pháp VN vì tính cấp tiến và dân chủ của nó. Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhà vua chấm dứt được họa chiến tranh với Chiêm Thành, Lão Qua và Bồn Man (các nước ở phía Tây và Nam).
 
*NĂM  1463  LƯƠNG THẾ VINH ( sanh năm 1440) đỗ trạng nguyên  đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan Thừa Chỉ Hàn Lâm Thị Thư, được vua giao việc thảo những văn thư ngoại giao với nhà Minh. Triều Minh thường khen ngợi những văn thư ngoại giao này. ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Ðàn do vua Lê Thánh Tông lập năm 1495. Ông còn  được ca ngợi vê  tài toán học, nên thường được gọi là Trạng Lường. Theo Nhất Hạnh (VNPGSL 2), người ta cho rằng phép đo ruộng thành mẫu, sào, thước ( 24 mét vuông) và tấc (1/10 thước) do ông đặt ra. Thực ra, phép đo này cũng như cách tính xây dựng nhà cửa, thành lũy được chỉ dẫn trong sách Lập Thành Toán Pháp của Vũ Hữu (1437- 1530) nhà toán học cũng là một danh thần nổi tiếng thanh liêm dưới triều Lê Thánh Tông, đã từng làm Thượng Thư bộ Hộ, về hưu năm  70 tuổi mà tới năm 90 tuổi (1527) vẫn được vua sai mang cờ tiết đi phong vương cho Mạc Ðăng Dung. Toán pháp nước ta trước đó đã được Hồ Quý Ly đặc biệt lưu tâm. *NĂM  1397, đồng thời với việc phát hành tiền giấy, ông ban hành các đồ đo lường (cân, thước, đấu, thưng) để làm chuẩn trong việc buôn bán. *NĂM  1404 ông quy định các người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi làm toán pháp mới được tiếp tục thi Hội.
 
Dù là một nhà nho lỗi lạc, Lương Thế Vinh vẫn bị các bạn đồng nghiệp chê cười mãi, còn không được ghi tên trong văn miếu Khổng Tử  để thờ vì bị kết tội là nhà Nho mà “sáng tác kinh Phật”. Kinh Phật đó là bài Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, còn gọi là Phật Kinh Thập Giới. Ðây là áng văn Nôm cổ gồm đoạn mở đầu và 10 đoạn nói về 10 giới cô hồn: Thiền tăng, đạo sĩ, quan liêu, nho sĩ, thiên văn địa lý, lương y, tướng quân, hoa nương, thương cổ và đãng tử. Mỗi đoạn có một bài tán và kết thúc bằng bài kệ 8 câu. Nhất Hạnh (VNPGSL 2) cho rằng không phải do Lương Thế Vinh viết vì bài kệ của đoạn về Thiền tăng có giọng đùa bỡn, không thể nào do một người có nhiều cảm tình với Phật giáo như Lương Thế Vinh. Theo Lê Mạnh Thát, Thập Giới Cô Hồn Văn là một tác phẩm của vua Lê Thánh Tông (1442- 1497), sẽ được ông dịch và dẫn giải trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam.

Lương Thế Vinh tánh bình dị, hay khôi hài, là tác giả những sách:-

1-     Ðại Thành Toán Pháp và Khải Minh Toán Học: về toán học .
2-     Hỷ Phường Phổ Lục: về lịch sử hát chèo
3-     Thiền Môn Khoa Giáo ( còn gọi là Thích Ðiển Giáo Khoa): giáo khoa về Phật học
4-     Bài tựa sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Nam Tông Tự Pháp Ðồ do thiền sư Thường Chiếu (tịch năm 1203) viết về lịch sử truyền thừa đạo Phật ở nước ta.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Thiên Vương, Ngoisaobiec, SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 11:30:29 pm »

(tiếp theo)

*NĂM  1521 thiền sư DIỆU VIÊN PHÁP TÍNH (1470- 1550) hô hào học tập quốc âm ( chữ Nôm), viết Chỉ Nam Ngọc Âm  Giải Nghĩa năm 1521 được coi như một tự điển viết bằng năm 1647: phần từ ngữ Hán chia thành 30 loại từ thiên văn, địa lý, âm nhạc, hội họa, kiến trúc ... tới dược thảo, tang lễ ... Bà cũng dịch Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh của Thiền sư Kim Sơn đời Trần ra quốc âm ( chữ Nôm). Trước khi xuất gia  bà là hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc, con của chúa Trịnh Tráng, chánh cung của vua Lê Thần Tông, mẹ của vua Lê Hy Tông. Dân chúng gọi bà là Bà Chúa Kim Cương.
 

*NĂM  1527- 1592  triều đại nhà Mạc. Mạc Ðăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng, bà Thái Hậu và một số cận thần rồi lên ngôi năm 1527. Sử sách cũng gọi là Thời Nam Bắc Triều vì từ năm 1532, Nguyễn Kim phò vua Lê Trang Tông chiếm giữ Thanh Hóa, Nghệ An và vùng trong. Kể từ đó hai bên khi thì Bắc Triều (nhà Mạc) Nam chinh, khi thì Nam Triều (Trịnh Kiểm, sau đó là Trịnh Tùng) Bắc tiến. *NĂM  1592, Trịnh Tùng bắt được vua Mạc Mậu Hợp đem chém, nhưng con cháu nhà Mạc vẫn còn hùng cứ từ miền trung du và duyên hải phía Bắc tới Cao Bằng cho tới năm 1667 mới tuyệt hẳn.
Trong 155 văn bia được dựng trong 65 năm triều đại nhà Mạc còn lại tới nay, có 110 văn bia dựng tại các chùa và 1 bài minh khắc trên chuông chùa Tư Phúc, Thái Bình. Ðiều này cho thấy sinh hoạt Phật Giáo dưới triều đại nhà Mạc cần được nghiên cứu nghiêm chỉnh.
 
*NĂM  1558 cuối năm Mậu Ngọ, đời Lê Anh Tông, nhờ sự vận động của chị mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh Kiểm cho phép đem theo bà con và binh sĩ vào trấn thủ Thuận Hóa. Trong những năm đầu Nguyễn Hoàng luôn luôn chứng tỏ sự thần phục vua Lê và chúa Trịnh. Trong thời gian 1592- 1599, ông đem quân ra ở luôn tại Bắc Hà, giúp vua Lê và chúa Trịnh Tùng đánh nhà Mạc, lập nhiều chiến công. Tới *NĂM  1600, ông mới kéo quân về thẳng Thuận Hóa bằng đường thủy, mở dòng chúa Nguyễn ở Ðàng Trong. Hậu duệ của ông là Nguyễn Ánh sau này lập ra triều Nguyễn (1802- 1945). Cho tới khi mất, Nguyễn Hoàng vẫn cố duy trì mối quan hệ có vẻ thân thiện với chúa Trịnh Tùng, thậm chí năm 1600 ông còn gả con gái cho Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng, sau này nối ngôi chúa Trịnh), để có thể yên ổn củng cố thực lực ở Ðàng Trong. *NĂM  1601, ông cho dựng chùa Thiên Mụ bên tả ngạn sông Hương ở Huế. Các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn sau này coi chùa Thiên Mụ là Ðệ Nhất Quốc Tự .
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh chỉ bắt đầu từ năm  1627 khi chúa Trịnh Tráng đem 200 ngàn quân tấn công chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Trong khoảng thời gian 45 năm, 1627- 1672,  hai bên đại chiến 7 lần vào các năm 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, 1672. Thời này chiến tranh liên miên khắp đất nước, vì ở Ðàng Ngoài mãi tới năm 1667, tướng Trịnh là Ðinh Văn Tả đánh chiếm Cao Bằng, Mạc Kính Hoàn phải chạy qua Tầu, bị nhà Thanh bắt giải giao cho chúa Trịnh, chiến tranh với nhà Mạc mới thực sự chấm dứt ở Ðàng Ngoài.

*NĂM  1628- 1715 thiền sư MINH CHÂU HƯƠNG HẢI. Ông làm quan ở Ðàng Trong từ năm 18 tuổi, năm 30 tuổi xin từ quan xuất gia. *NĂM  1682 cùng 50 đệ tử vượt thuyền ra Ðàng Ngoài vì bị chúa Nguyễn Phúc Tần nghi ngờ. Ðược chúa Trịnh Căn giúp đỡ, trong 30 năm trụ trì chùa Nguyệt Ðường ở Phố Hiến (1685- 1715) ông dịch và giải các kinh Pháp Hoa,Kim Cương, Tâm Kinh, Pháp Bảo Ðàn Kinh, Phật Tổ Tam Kinh (Bát Ðại Nhân Giác, Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo), A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, soạn Giải Sa Di Giới Luật và các nghi thức Nghi Thức Cúng Phật Dược Sư, Cúng Cửu Phẩm. Ông là người đầu tiên dịch và chú giải Bát Nhã Tâm Kinh bằng chữ Nôm. Với hầu như toàn bộ tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm, ông góp phần quan trọng vào việc làm cho nền văn học chữ Nôm phong phú và rực rỡ. Dù thuộc phái thiền Lâm Tế ( dòng Trí Bảng), ông vẫn chủ trương pháp tu phối hợp Thiền Tịnh và thiên về lối tiệm tu của phái thiền Thần Tú. Người bốn phương tìm về cầu đạo với ông rất đông. Vua Lê Dụ Tông sau lần mời ông vào nội điện lập đàn cầu tự và thuyết pháp, thường gặp ông để vấn đạo. Ðệ tử đắc pháp với ông mang pháp tự chữ Chân ( như thiền sư Chân Lý Hiển Mật) lên tới 70 người.

Ông để lại 30 tác tác phẩm Phật học. Tác phẩm quan trọng của ông Sự Lý Dung Thông gồm 162 câu theo thể thơ lục bát trình bày đường hướng của ông về lý thuyết và thực tiễn của đời sống người tu thiền Việt Nam, một lối sống trượng phu trung hiếu, đạo và đời quyện chặt vào nhau. Lê Mạnh Thát đã dịch và giới thiệu tác phẩm này trong Toàn tập MCHH tr. 388- 405 (nhà xuất bản TP/HCM, năm 2000).

Căn bản nhận thức của phương pháp hành thiền ông chủ trương: Phật và chúng sinh cùng thể tướng, mê và ngộ cùng thể tướng, tâm và cảnh chung thể tướng. Vì vậy, không thể cầu an tâm bằng cách chạy trốn sự vật; giới luật cao nhất là sự vô tâm; giây phút có được cái thấy sáng suốt không mắc kẹt nhị nguyên thì thành Phật.
Theo Lê Mạnh Thát (MCHH, tr. 17): Vụ cấm đạo năm 1714 tại Ðàng Ngoài có lẽ phát xuất từ  cuộc đối đáp giữa thiền sư Minh Châu Hương Hải và 3 vị tu sĩ Thiên Chúa Giáo người Hòa Lan do quan hiệp trấn Sơn Nam triệu tập tại chùa Nguyệt Ðường. Trưởng quan hỏi các linh mục một câu, không linh mục nào trả lời được. Trưởng quan hỏi Hương Hải một câu, ông trả lời trôi một mạch. Trưởng quan tuyên bố: Ðạo (đạo Chúa) không bằng Thích (đạo Phật), Hoa Lan (các giáo sĩ phương Tây) ngoa dối lời dụ dỗ để siêu lòng người, đó là tà đạo, chẳng biết nghĩa lý. Ông liền trình lên chúa Trịnh. Chúa cho kiểm tra lại, 8 tháng sau mới ra lệnh trục xuất các giáo sĩ về nước.
 
1647- 1726 Thiền sư CHÂN   NGUYÊN TUỆ ÐĂNG, người có công phục hưng thiền phái Trúc Lâm, cứu vãn một số tác phẩm quan trọng của thiền phái này bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành. Ông quê tại Hải Dương, sau khi đọc hành trạng của Huyền Quang ( tổ Trúc Lâm thứ ba) trong sách Tam Tổ Thực Lục mà phát nguyện xuất gia năm 19 tuổi với thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, một trong những tổ đình của phái Trúc Lâm. Ít lâu sau sư phụ tịch, ông tham học với thiền sư Minh Lương (phái thiền Lâm Tế, Trung Quốc) ở chùa Vĩnh Phúc. Thiền sư Minh Lương đã truyền thừa cho ông như sau: Dòng Thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa làm thạnh ở đời. Nhưng sau đó, ông nhận truyền thừa y bát của phái Trúc Lâm, làm trú trì hai chùa lớn của phái này là Long Ðộng và Quỳnh Lâm. Vua Lê Dụ Tông phong ông làm Tăng Thống năm 1722.

Mặc dù là một thiền sư thọ giáo cả hai phái thiền Trúc Lâm và Lâm Tế, ông đã viết ít nhất là 3 tác phẩm về Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm còn để lại: Long Thư Tịnh Ðộ Văn, Long Thư Tịnh Ðộ Luật Bạt Hậu Tự và Tịnh Ðộ Yếu Nghĩa. Hai tác phẩm về luật và nghi thức: Tôn Sư Pháp Sách Ðăng Ðàn Thọ Giới và Nghênh Sư Duyệt Ðịnh Khoa. Các tác phẩm chữ Nôm của ông gồm: Thiền Tịch Phú, Nam Hải Quan Âm  Bản Hạnh, Ðạt Na Thái Tử Hạnh, Thiền Tông Bản Hạnh. Thiền Tông Bản Hạnh gồm 798 câu thơ lục bát nói về đường lối tu hành của các vị vua đời Trần, làm rõ yếu chỉ của dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền Tịch Phú viết về chùa Long Ðộng là một đỉnh cao của nghệ thuật phú chữ Nôm, có rất nhiều từ ngữ thuần túy Việt Nam.

Tư tưởng thiền của Chân Nguyên: tự tính giác ngộ có tính trong sáng, tròn đầy, hiện hữu một cách bình đẳng nơi mọi loài, mọi vật. Phát hiện được tự tính đó là giác ngộ thành đạo. Sử dụng ngôn thuyết chỉ là phương tiện bất đắc dĩ để đối trị vọng tưởng của chúng sanh, vì đọc kinh thì rất lâu mới hiểu được đạo, mà “nói ra thì mắc kẹt”. Công án, hay những mẩu đối đáp kỳ lạ giữa các tổ và môn đệ, đích thực là ngôn ngữ Thiền, là phương tiện hữu hiệu để đập vỡ thói quen và thành kiến, đưa con người ra khỏi bế tắc tâm linh. Công án được Chân Nguyên ưa thích nhất : Trước khi trời dất chưa sinh, mẹ cha chưa có, bản lai diện mục của mình là cái gì ? là của tổ Bách Trượng (Trung Quốc) trao cho Hương Nghiêm. Thiền sư Chân Nguyên cho rằng chìa khóa của sự đạt đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của cái tự tính trong sáng tròn đầy nói trên, được như vậy thì mọi hành động của ta tự nhiên đi vào giác ngộ.
Chân Nguyên là một đại tăng được đương thời kính trọng. Ngô Thời Sỹ, từng ra lệnh cấm con cháu không được theo Phật và Lão, vẫn kính cẩn nhắc tới “Chân Nguyên Thượng Nhân” trong Việt Sử Tiêu Án. Ông có nhiều đệ tử xuất sắc tiếp tục thành công việc phục hồi các tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm đời Trần.

Trước khi tịch, Chân Nguyên trao y bát Trúc Lâm cho thiền sư Như Hiện. Như Hiện đã được chúa Trịnh Giang tận tình giúp đỡ trùng tu lại hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm là Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm năm 1730, với gần 10 ngàn thợ làm trong 1 năm trời.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 11:32:48 pm »

(tiếp theo)

*NĂM  1695 thiền sư THẠCH LIÊM  Thích Ðại Sán (1633- 1704) hướng dẫn đoàn tùy tùng khoảng 100 người (hơn phân nửa là tăng chúng) tới Ðàng Trong theo lời mời của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu. Ðoàn hoằng pháp này cư ngụ tại chùa Thiền Lâm được tu sửa quy mô và cấp tốc trong 3 ngày. Công tác quan trọng nhất của đoàn là tổ chức đại giới đàn Thiền Lâm từ ngày 1 tới 12 tháng 4. 1695 (Ất Hợi). Trên 3 ngàn giới tử tham dự, trong đó khoảng 1400 thọ giới tì kheo và sa di từ khắp nơi trong nước, nhiều hoàng thân quốc thích cũng xin thọ Bồ tát giới. Thiền sư Liễu Quán đã từ Phú Yên tới đây thọ giới. Thiền sư Thạch Liêm còn chủ trì một đại giới đàn khác tại chùa Di Ðà, Hội An vào tháng 7 cùng năm. Tuy nhiên, rất nhiều cao tăng uy tín ở Ðàng Trong không tham dự các đại giới đàn của ông có lẽ vì ông viết bố cáo về các đại giới đàn cho dán ở các chùa lời lẽ thiếu khiêm nhường, đánh giá đa số tăng sĩ ở Ðàng Trong là trai tráng thất học cạo đầu trốn lính. Ông còn đề nghị với Hữu Thừa Tướng Tống Phúc Tài phải “cuốc hết các cỏ dại này cho lúa tốt có thể mọc lên”.  Sau một thời gian nghỉ dưỡng bệnh tại chùa Thiên Mụ và chờ gió mùa, tháng  6 năm 1696 đoàn của thiền sư Thạch Liêm xuống thuyền về Quảng Ðông, Trung Quốc. Chuyến đi hoằng pháp này được ông ghi lại tại chỗ trong tập Hải Ngoại Ký Sự được Viện Ðại Học Huế dịch và xuất bản năm 1963.

Thạch Liêm là người đa tài, giỏi về nhiều môn từ thi ca, hội họa tới thủ công, đã để lại nhiều tác phẩm. Tư tưởng của ông: Thiền Tịnh song tu, Nho Phật nhất trí, tổng hợp Lâm Tế và Tào Ðộng. Nhất Hạnh (VNPGSL 1,tr.187) nhận xét: tư tưởng thiền học của Thạch Liêm không có gì đặc sắc, kinh nghiệm tu chứng cũng không vững chãi bằng so với các thiền sư Việt Nam cùng thời với ông như Minh Châu Hương Hải (1628- 1715), Chân Nguyên (1647 - 1726). Nguyễn Văn Xuân (Phong Trào Duy Tân, Sài Gòn, Lá Bối 1969) cho rằng Thạch Liêm tới Ðàng Trong chính ra không phải để truyền giáo mà là  để đón nhận số vàng chúa Nguyễn Phúc Chu cúng dường rất rộng rãi về xây dựng chùa bên Tàu. Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và bà mẹ của ông là đệ tử rất sùng kính Thạch Liêm. Việc ông gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là quốc vương và bà mẹ của chúa là quốc mẫu bị Trần Kinh Hòa (Cheng Chin Ho, giáo sư Sử Học của Ðài Loan được Viện Ðại Học Huế mời qua giảng dạy và dịch những châu bản triều Nguyễn) nặng lời phê bình (tự phụ, đắc ý tỏ ra mặt, sinh sống xa xỉ, ương gàn tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẽ kiêu căng, có người xem y như yêu tăng ...) vì chúa Nguyễn chưa xin thụ phong, chưa được nhà Thanh sắc phong nên chưa thể gọi là vua!!!
 
1691- 1725 triều đại chúa Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa 1675- 1725). Phật giáo được chánh quyền hộ trì mạnh mẽ từ sau 1695. *NĂM  1695, chúa mời sư THẠCH LIÊM Thích Ðại Sán, thuộc dòng Thiền Tào Ðộng, tới Ðàng Trong theo đề nghị của quốc sư Hưng Liên, mở hai đại giới đàn trong năm. Chúa rất khâm phục đạo đức và kiến thức của Thạch Liêm, nên theo lời đề nghị của ông, Chúa bãi bỏ hình phạt dùng voi xử tử  tội, xét tha những tù nhân bị oan ức, chuẩn cấp cho kẻ nghèo, bỏ bớt những luật lệ quá nghiêm khắc. Có lẽ cũng do bản điều trần bố đề nghị của sư Thạch Liêm, Chúa không còn thanh lọc tăng già bằng cách bắt bớ hay thi cử mà chú trọng tới việc  nâng cao uy tín các cao tăng ở các tỉnh bằng cách ban biển ngạch sắc tứ và câu đối cho rất nhiều chùa. Các sắc tứ Chúa ban cho các chùa ký tên Thiên Túng Ðạo Nhân, là đạo hiệu của Chúa (VNPGSL 1, tr. 190- 193). Chúa tự nhận là “nối dòng Tào Ðộng chánh tông, đời thứ 30, pháp danh Hưng Long” (nghĩa là đệ tử của Thạch Liêm). Ông thường so sánh mình với cư sĩ Duy Ma Cật, một trong 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca. Từ năm 1710, Chúa cho đúc đại hồng chung chùa Thiên Mụ, trùng tu các chùa Thiên Mụ, Kinh Thiên, lập chùa Giác Hoa, mua cả ngàn sách kinh luật luận cho các chùa.
 
*NĂM  1708 sau 6 năm tham cứu công án “muôn pháp về một, một về chỗ nào?” tổ LIỄU QUÁN trình bày công phu đốn ngộ của mình với thầy là thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn ở núi Long Sơn, Thuận Hóa. Thiền sư Liễu Quán (1670- 1742) được coi là người lãnh đạo công cuộc phục hưng Phật giáo ở Ðàng Trong vào đầu thế kỷ 18. Ông xuất gia năm 12 tuổi tại chùa Hội Tôn, Phú Yên với thiền sư Tế Viên. Ông học Hán tự và kinh luật dễ dàng, được thầy thương yêu. Bảy năm sau, thầy mất. Tang lễ thầy xong, ông để chùa lại cho các sư huynh trông coi, lên đường vào Thuận Hóa cầu học với thiền sư Giác Phong  năm  1690. Một năm sau, nghe tin cha bị bệnh, ông xin trở về chăm lo. Trong năm trời, ông lên rừng đốn củi đổi gạo nuôi cha. Bốn năm sau, cha từ trần. Tang lễ xong, ông lại lên đường học đạo. Lúc đó sư Thạch Liêm tổ chức đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm, ông tới xin thọ giới Sa Di. Hai năm sau (1697) ông thọ giới tỳ kheo tại giới đàn của thiền sư Từ Lâm. *NĂM  1699, ông lại lên đường cầu học khắp các tổ đình. *NĂM  1702, ông gặp thiền sư Tử Dung, nhận công án “muôn pháp về một, một về chỗ nào?”.

Sau khi ngộ được công án trên, thiền sư Liễu Quán hành đạo tại nhiều đạo tràng từ Huế tới Phú Yên, như chùa Thiền Tông, chùa Viên Thông ở Thuận Hóa, chùa Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh ở Phú Yên, hóa độ từ vua quan tới thứ dân.
Chùa Viên Thông do thiền sư Liễu Quán dựng ở chân núi Ngự Bình. Chúa Nguyễn Phúc Khoát rất sùng kính hạnh của ông, nhiều lần triệu thỉnh nhưng ông một mực từ chối. Vì vậy chúa thường tới chùa Viên Thông để thăm ông và hỏi đạo. Núi Ngự Bình do đấy được gọi là núi Ngự. Ông được thỉnh làm chủ tọa 4 giới đàn lớn ở kinh đô năm 1733- 1735 có nhiều cao tăng và quan lại tham dự. *NĂM  1740 ông chủ tọa giới đàn Long Hoa. *NĂM  1742 vài tháng trước khi tịch, ông còn được thỉnh làm Hòa Thượng Ðường Ðầu giới đàn chùa Viên Thông. Ðệ tử thọ giới với ông  xuất gia và tại gia gần 4 ngàn người.

Ông thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế, đã làm cho thiền phái này mang màu sắc dân tộc ở Ðàng Trong, trút bỏ dần màu sắc Trung Quốc (Quảng Ðông) trong lễ nhạc. Không những thế, ông còn là thiền sư đầu tiên ở Ðàng Trong đưa ra bài kệ truyền phái (Thật Tế Ðại Ðạo,Tánh Hải Thanh Trừng,Tâm Nguyên Quảng Nhuận) cho thiền phái của ông. Bốn đại đệ tử của ông là các thiền sư Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu đã tạo được 4 đạo tràng lớn và hàng chục tổ đình.

Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm, sđd) cho rằng trong thiền sử nước ta, nơi thiền sư Liễu Quán mới thấy có dấu hiệu thực hành công án.

Phong trào phục hưng Phật giáo ở nước ta vào thế kỷ 20 chủ yếu phát xuất từ các cơ sở của phái Liễu Quán.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC
Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 11:35:20 pm »

(tiếp theo)


*NĂM  1709 đại sư CHÂN   DUNG TÔNG DIỄN tịch. Ông sanh năm 1640, nổi danh về gương hiếu hạnh được đại chúng ca ngợi qua danh hiệu Hòa Thượng Cua vì đã âm thầm hóa độ và giải nghiệp sát hại cua cho bà mẹ. Ðiển tích Hòa Thượng Cua hóa độ cho mẹ ý nghĩa sâu sắc hơn điển tích Mục Kiền Liên cứu mẹ khỏi địa ngục.

Ông được thiền sư Thủy Nguyệt (1636- 1704, đã cầu học dòng Thiền Tào Ðộng ở núi Phụng Hoàng, Trung Quốc) truyền tâm ấn. Thủy Nguyệt từng khen ngợi khi cho ông pháp hiệu Thông Giác: Ngươi là con cháu xứng đáng của tông Tào Ðộng.
Ông đã cứu Phật giáo khỏi pháp nạn vào đời vua Lê Hy Tông (1676- 1705). Nhà vua nghe lời các nho thần, ra lệnh cho các sư phải bỏ chùa vào rừng núi tu cho thanh tịnh, không được ở nơi thành thị. Ðại sư Tông Diễn nghe tin này quá đau lòng vì các nhà sư là người chủ trì nghi thức quan hôn tang tế, thầy dạy học chữ Hán, thầy thuốc và người nuôi dạy trẻ mồ côi cho dân làng. Ông liền đến kinh đô, nghĩ  kế xin dâng vua viên ngọc quý để được yết kiến vua. Vua không cho ông vào cung, ra lệnh nếu có ngọc, vua sẽ sai quan ra nhận. Sau ba tháng chờ đợi không được vua vời, ông viết một tờ biểu trình bày giáo lý đạo Phật đẹp đẽ như viên ngọc quý soi sáng mười phương, xóa tan mây mờ vô minh. Ông để tờ biểu vào một hộp rất đẹp dán kín lại, rồi trình với quan coi thành: nếu vua không cho sư gặp, xin cử một quan văn thanh liêm trung trực, trai giới ba ngày ra nhận ngọc quý. Vua ưng thuận. Trao hộp cho viên quan, ông căn dặn không được mở ra mà phải trình đến tay vua. Tại triều, vua sai mở hộp, chỉ thấy tờ biểu, vua sai đọc lên. Nghe được lời lẽ trong sáng, ý tứ thâm sâu, vua chợt tỉnh ngộ nhận ra quyết định sai lầm của mình. Vua cho vời ông vào triều, tham vấn đạo lý. Nhân đó vua Lê Hy Tông thâu hồi lệnh đã ban, cho phép các sư được trở về chùa cũ tiếp tục hoằng pháp độ sanh. Ðể chứng tỏ sự thành tâm sám hối, vua sai tạc tượng hình Phật Thích Ca đứng trên lưng nhà vua đang quỳ mọp xuống. Tượng này hiện còn để ở chùa Hòe Nhai, bên chánh điện. Trong cuốn Thiền Tông Bản Hạnh, thiền sư Chân Nguyên ca ngợi sự sáng suốt và tích cực sám hối này cửa vua, gọi  Lê Hy Tông là Hoàng Giác Lê Gia (ông vua giác ngộ nhà Lê).
Khi về trụ trì ở chùa Ðông Sơn (Hải Dương), ông ra sức hoằng hóa tông Tào Ðộng. Học giả bốn phương nghe tiếng ông, tới tìm học rất đông. Phái Tào Ðộng nhờ sự truyền bá của ông, trở thành thịnh hành ở Ðàng Ngoài vào cuối thế kỷ 17 qua thế kỷ 18. Ở Ðàng Trong, tông Tào Ðộng được biết đến nhờ nỗ lực của thiền sư  Thạch Liêm với sự giúp đỡ nhiệt thành của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1695 (xin xem phần trên).
 
*NĂM  1780 NGUYỄN GIA THIỀU (1741- 1798) dựng chùa Thiên Tích. Mẹ ông là con gái chúa Trịnh Cương. *NĂM  1782, ông được chúa Trịnh phong tước Ôn Như Hầu. Ông là người văn võ song toàn. Bức tranh Tống Sơn Ðồ của ông được nhiều người khen ngợi. Các bản nhạc Sở Từ Ðiệu và Trung Sơn Âm  do ông soạn được lưu hành rộng rãi. Ông còn là kiến trúc sư dựng chùa Thiên Tích và trang trí nội thất cho phủ chúa Trịnh. Trong thời gian làm Tổng Binh Hưng Hóa, vì bất mãn với chúa Trịnh, ông hay say sưa. Có lẽ ông nghiên cứu đạo Phật trong thời kỳ này. *NĂM  1789, Nguyễn Huệ diệt xong chúa Trịnh, kêu gọi nhân sĩ Bắc Hà ra làm việc trở lại, ông giả bệnh và giả điên để từ khước lời mời. Có lẽ ông viết Cung Oán Ngâm Khúc trong giai đoạn này. Trong khúc ngâm 356 câu thơ Nôm theo thể song thất lục bát đó, ông dùng triết lý đạo Phật để giải thích những khổ đau của cuộc đời qua thân phận người cung nữ, một cách tiêu cực nên không tìm được biện chứng giải thoát tích cực của đạo Phật. Theo Nguyễn Hưng Quốc (Vào Cõi Thơ Xưa, tạp chí Thế Kỷ 21 số 15, tháng 7.1990), ngôn ngữ thơ ông nhiều hình ảnh, cực kỳ chải chuốt điêu luyện, mỗi chữ mỗi câu là một cân nhắc đắn đo. Cung Oán Ngâm Khúc là một trong những đỉnh cao của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa qua ảnh hưởng của Phật Giáo trong văn học VN từ giữa thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19.

*NĂM  1786- 1801 Một số chùa trong vùng Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam bị tàn phá vì đây là nơi giao chiến giữa quân chúa Trịnh và chúa Nguyễn, giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Lực lượng bảo vệ Ngũ Hành Sơn của Nguyễn Ánh do Nguyễn Công Thái, một cựu tướng Tây Sơn về hàng Nguyễn Ánh. Chiếm được Quảng Nam, quân Tây Sơn lại trưng dụng nhiều chùa làm doanh trại. Trước đó, một số chùa ở Huế như chùa Báo Quốc bị quân Tây Sơn chiếm năm 1776 biến thành nơi trú quân. Chùa Thiền Lâm ở xã An Cựu, Huế, do thiền sư Thạch Liêm xây dựng cũng bị thái sư nhà Tây Sơn (Bùi Ðắc Tuyên) chiếm để ở. *NĂM  1786, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh, một số chùa ở miền Bắc như chùa Bà Ðá (Linh Quang Tự) bị thiêu hủy.

Sau khi lên ngôi vua (1802), vua Gia Long khuyến khích hoàng tộc tu sửa lại các chùa này. Hoàng hậu Hiếu Khương sửa chùa Bảo Quốc, công chúa Ngọc Nghiên sửa chùa Tuệ Lâm, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu sửa chùa Thiền Lâm, công chúa Ngọc Duệ sửa chùa Thiên Thai ... *NĂM  1815, vua Gia Long sắc tu bổ lại chùa Thiên Mụ. *NĂM  1826 vua Minh Mạng cho tu sửa chùa Thánh Duyên ở cửa biển Tư Hiền, Thừa Thiên, bị phá hủy trong chiến tranh với quân Tây Sơn.
 
*NĂM  1795 Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm độc đáo của Thiền Tông Việt Nam được khắc in rất đẹp. Tác giả là HẢI LƯỢNG Thiền Sư (Ngô Thời Nhiệm 1746- 1803), Hải Âu ( Vũ Trinh 1726- 1823) và Hải Hòa ( Nguyễn Ðăng Sở). Cả ba đều là những tên tuổi lớn trong văn giới, những trí thức lớn  thời đại xuất thân từ các danh gia vọng tộc. Ngô Thời Nhiệm đã từng là Binh Bộ Thượng Thư thời vua Quang Trung, một tay thảo tất cả văn kiện ngoại giao dưới triều Tây Sơn được triều đình nhà Thanh nể vì. Có thể là Ngô Thời Nhiệm đã thai nghén tác phẩm này trong giai đoạn 1782- 1786, khi ông đi trốn sự trả thù của chúa Trịnh Tông (sau khi cướp ngôi chúa của Trịnh Cán).

Trong phần mở đầu, Ngô Thời Nhiệm trình bày tiểu sử  ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, rồi viết về ông và tự gọi là Trúc Lâm Ðệ Tứ Tôn ( nghĩa là tổ thứ tư). Phần chính của tác phẩm này là 24 chương về 24 Thanh, luận bàn về 24 vấn đề liên hệ đến giáo lý Nho và Phật. Mỗi Thanh bắt đầu bằng một bài dẫn, sau đó là phần trình bày sự kiện có khi được bàn luận ngang dọc giữa thầy trò, sống động như một vở kịch nhưng không cực đoan. Cuối cùng là lời bình giải của thiền sư Hải Lượng (Ngô Thời Nhiệm).
Theo Ðinh Quang Mỹ (Thiền Trúc Lâm ), Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh dùng bút pháp chỉ thẳng của Thiền Tông, văn phong của Nam Hoa Kinh tạo lối hành văn nửa hư nửa thực, vận dụng biện chứng âm dương của Kinh Dịch giải thích các tư tưởng trừu tượng của Ðại Thừa và diễn rộng tư tưởng kinh Lăng Nghiêm để tả các hoạt động cực kỳ tế nhị của chân tâm.
Theo Nhất Hạnh (Nguyễn Lang, VNPGSL 2, tr. 229), Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh không phải là công trình đem đạo Phật về với đạo Nho mà trong đó Nho và Phật không còn phân biệt nữa. Với Hải Lượng, tuệ giác nằm trong lòng sự sống nên cuộc sống là quan trọng chứ không phải hình thái ý thức hệ.
Ngô Thời Nhiệm theo học Phật từ hồi còn trẻ, có thể là với thiền sư Tính Quảng. Lúc làm quan ở trấn Kinh Bắc *NĂM  1775, ông đã dâng Phật hiệu cho cha ông (Ngô Thời Sĩ, người ra lệnh cho con cái chỉ được theo Nho, cấm không được theo Phật hay Lão) là Nhị Thanh Trường Thọ Quán Tự Tại Phúc Lượng Ðại Hải Chân Như Vô Tận Ý Bồ Tát. Vào khoảng 1798- 1799 nhận thấy tương lai nhà Tây Sơn không còn, ông về ẩn dật, lập thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích câu. Uy tín của ông đã lôi cuốn được nhiều trí thức lớn vào thiền phái Trúc Lâm. Trước đó, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh   đã ghi có 26 người tham dự cuộc “thiền đàm” này. Chính  tại thiền viện Trúc Lâm, ông đã viết Tam Tổ Hành Trạng về tiểu sử  của Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Lê Mạnh Thát (TTTNT, TR.334- 335) cho rằng chính do ảnh hưởng của Hải Lượng Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm mà Huyền Quang được coi là tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Theo ông, chính thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ ba của Trúc Lâm, qua sự xác nhận của vua Trần Minh Tông trước khi băng hà vào năm 1358. *NĂM  1803, Ngô Thời Nhiệm được lệnh triều đình mới ra trình diện Tổng Trấn Bắc Thành và bị vua Gia Long sai đánh đòn tại Văn Miếu. Ông từ trần vì trận đòn nặng tay này.

Sự quy tụ đông đảo trí thức lớn đương thời tại thiền đường Trúc Lâm của Hải Lượng Thiền Sư (vào lúc đường công danh của ông không còn sáng sủa) cho thấy thiền phái Trúc Lâm vẫn tiếp tục trường tồn, chứ không phải bị tàn lụi sau khi tổ Huyền Quang tịch (năm 1334) như một số quan niệm sai lầm hiện nay. Từ thế kỷ 15 , sau khi Lê Lợi dành lại độc lập cho đất nước, lập nhà Hạâu Lê, các công thần như Trần Nguyên Ðán và cháu ngoại ông là Nguyễn Trãi hẳn đã vận động để Phật Giáo trở thành một trong các đề tài thi bắt buộc ở thi Ðình, mà đa số câu hỏi liên hệ tới dòng thiền Trúc Lâm.

Trước  Hải Lượng Thiền Sư, Chân Nguyên Tuệ Ðăng Thiền Sư (1647- 1726) nỗ lực phục hồi dòng thiền Trúc Lâm bằng cách cho khắc in các tác phẩm của các tổ Trúc Lâm và dặn dò đệ tử tiếp tục công trình này, lại còn viết Thiền Tông Bản Hạnh về đường lối tu tập của các vị vua đầu nhà Trần.

 Sau Hải Lượng, thiền sư An Thiền Phúc Ðiền (1790- 1860) viết và cho in Ðại Nam Thiền Uyển Kế Ðăng Lược Lục vào năm 1858 ghi danh sách 23 vị tổ sư thuộc truyền thống Yên Tử, khởi đầu từ Hiện Quang Tổ Sư (tịch năm 1221) và chấm dứt ở Vô Phiền Ðại Sư. Phần kế tiếp, trong tác phẩm Ngự Chế Thiền Ðiển Thống Yếu Kế Ðăng Lục, thiền sư Như Sơn ghi 6 đời truyền thừa của Chân Nguyên (được coi là nối tiếp truyền thống Trúc Lâm) từ 1700 tới 1850: Như Trừng, Tính Tuyên, Hải Quýnh, Tịch Truyền, Chiếu Khoan và Phổ Tịnh. 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Ngocmani
« Sửa lần cuối: Tháng Giêng 16, 2013, 11:37:28 pm gửi bởi mavuong » Logged
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2013, 11:43:14 pm »


(tiếp theo)

*NĂM  1826  vua MINH MẠNG (1820- 1840) ban sắc dụ khởi đầu việc bổ nhiệm và sắc phong các tăng sĩ. Sắc dụ này bổ nhiệm hai vị sư ở Huế làm trú trì các chùa ở Thủy Sơn (thuộc Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam) và 4 nhà sư tháp tùng. Mỗi vị được cấp một chứng thư độ điệp chính thức. Sắc dụ và độ điệp ghi tục danh, không ghi pháp danh. *NĂM  1830 ,vua triệu tập cao tăng các tỉnh về kinh, giao cho Bộ Lễ xem xét để cấp giới đao và độ điệp. Có tất cả 53 vị được cấp. Theo chế độ bổ nhiệm này, tăng sĩ được phân loại :Tăng Cang là các bậc đại sư cao cấp, Trụ Trì là vị lãnh đạo tăng chúng trong chùa, Ðại Sư là vị thầy giáo thọ trong chùa, Tăng Chúng là các tăng sĩ còn lại trong chùa. Khi vị trú trì  phát triển chùa như chùa Tam Thai, số tăng sĩ tăng thêm gồm: 1 trú trì, 2 đại sư, 7 tăng chúng. Vì chùa Tam Thai lớn nhất nên vị trú trì được sắc phong Tăng Cang và trở thành vị lãnh đạo các chùa tại hòn Thủy Sơn. Trong Ngũ Hành Sơn, Thủy Sơn được coi là ngọn núi của chùa chiền. Ðại sư Từ Trí (tục danh Nguyễn Viết Lư) là người đầu tiên được sắc phong Tăng Cang dưới triều Minh Mạng. Chức Tăng Cang được ban từ thời Gia Long. *NĂM  1815 vua Gia Long triệu thỉnh thiền sư Mật Hoàng từ chùa Thập Tháp (Bình Ðịnh) về kinh, ban cấp chứng chỉ Tăng Cang và giao cho trú trì tổ đình Quốc Ân   (do tổ Nguyên Thiều khai sơn).
Thời vua Minh Mạng, các tăng sĩ được triều đình trợ cấp hàng tháng như sau: Tăng Cang 1 vuông gạo ( 40 lít) và 3 quan tiền, Trụ Trì  1 vuông gạo và 2 quan tiền, Tăng Chúng 2 vuông gạo và 1 quan tiền. Tăng Cang được triều đình  cấp mũ Hiệp Chưởng để đội khi vào triều. Loại mũ này sau đó được dùng trong những pháp hội trai đàn. Ngày nay, trong những lễ lớn, các Trưởng Lão Hòa Thượng cũng đội mũ này. HT Thanh Ninh Tâm Tịnh, tổ khai sơn chùa Tây Thiên (Huế) cũng chế ra Áo Nhật Bình làm lễ phục cho chư tăng.
Vua Minh Mạng muốn thống nhất việc tu hành Phật giáo nên ra lệnh các sư sãi Việt gốc Miên phải mặc áo cổ vuông và ăn chay như các sư Ðại Thừa nhưng bị người Việt gốc Miên tại miền Nam phản đối quyết liệt, nhà vua phục thiện đành bãi bỏ lệnh này. Ðể giữ giới không sát sanh, sư sãi Việt gốc Miên không ăn chay, chỉ cần không tự tay giết con vật là đủ. Họ đắp y để hở vai phải nên áo không có cổ.

 
*NĂM  1847 thời vua Thiệu Trị (1841- 1847) tổng đốc NGUYỄN ÐĂNG GIAI (mất năm 1854) giúp tổng đốc Hà Nội Ðặng Văn Hòa trùng tu chùa Một Cột và tô lại tượng. Ông cũng xây dựng chùa Liên Trì. Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện sau khi ca ngợi công trạng của ông trong những lãnh vực khác, đã phê phán các hoạt động Phật sự của ông như sau: tiếc vì chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật, luôn mê hoặc người.
 
*NĂM  1849 ÐOÀN VĂN (Minh)  HUYÊN (1807- 1856) khai lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương tại chùa Long Kiến ở núi Báu (Bửu Sơn), Long Xuyên. Ông sanh tại Sa Ðec, làm nghề nông thường đọc sách Phật từ lúc còn trẻ. *NĂM  1849 nông dân mất mùa lại bị bệnh thời khí hoành hành ở miền Nam, ông lái xuồng đi nhiều nơi chữa bệnh cho nhiều người bằng nước lạnh và phù chú vừa khuyên bệnh nhân tu niệm. Do đó nhiều người theo ông, coi ông như vị Phật sống. Chính ông cũng tự nhận là Phật Thầy. Bấy giờ thời vua Tự Ðức, tổng đốc An Giang nghi ông muốn nổi loạn, bắt ông tại vùng Long Kiến đưa  về Châu Ðốc xét xử về tội “gian đạo sĩ ”. Nhưng ông được tha tội, chỉ bị bắt buộc phải tu tại chùa Long Kiến. Tại đây có lẽ ông quy y với vị trú trì là HT Tiên Giác Hải Tịnh, được mang pháp danh Pháp Tạng, đạo hiệu Giác Linh, đời 38 phái Lâm Tế dòng Bổn Nguyên (như ghi trong mộ bia của ông bên hông Tây An Cổ Tự). Có tài liệu cho rằng ông còn cầu pháp với HT trú trì chùa Long Thạnh, Bà Hom.  Trong năm 1849 tại chùa Long Kiến, ông lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ðệ tử của ông sau này xưng tụng ông là Phật Thầy Tây An và gọi chùa Long Kiến là Tây An Cổ Tự. Sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo, Tây An Cổ Tự trở thành chùa lớn thứ hai của đạo Hòa Hảo. *NĂM  1975, CQ dành quyền quản lý, giao cho 2 cán bộ trông coi. Họ cấu kết với các cán bộ địa phương đem bán đi nhiều cổ vật quý giá được coi là bảo vật của chùa.

Bửu Sơn Kỳ Hương được coi là hình thức địa phương hóa Phật giáo trong môi trường nông dân chất phác, ít học của đồng bằng Nam Bộ. Ðoàn Văn Huyên chủ trương một pháp môn dễ hiểu, dễ áp dụng: Tùy trình độ và hoàn cảnh mà hóa độ – Hành sử tứ ân là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn Tam Bảo và ơn đồng bào nhân loại - Thiền Tịnh song tu, vừa tu Thiền vừa trì niệm danh hiệu A Di Ðà để được vãng sanh – Phước Huệ song tu. Ông để lại cuốn Sấm Giảng bằng chữ Nôm, được Lê Mạnh Thái dịch ra quốc nhữ và sẽ cho xuất bản trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.

Tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương có những người trở thành anh hùng dân tộc kháng chiến chống thực dân Pháp như Trương Công Ðịnh (1820- 1864, chiếm tỉnh Gò Công năm 1862), Nguyễn Trung Trực (1837- 1868, đốt tàu chiến Esperance của Pháp trên sông Nhật Tảo năm 1861), Trần Văn Thành (?- 1873) khởi nghĩa tại Láng Linh năm 1867.
Ðệ tử của Phật Thầy Tây An cho rằng sau khi tịch, ông qua 4 lần chuyển kiếp thị hiện nơi Ðức Phật Trùm ở núi Tà Lơn, đức Bổn Sư núi Tượng, Sư Vãi Bán Khoai ở Cao Miên và Ðức Huỳnh Giáo Chủ ở làng Hòa Hảo. Ðức Phật Trùm xuất hiện năm 1868, sử dụng lòng phái màu đỏ có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông là người gốc Miên, truyền đạo sang cả đất Miên, bị thực dân Pháp bắt đi đầy một thời gian. Ðược thả về, ông tịch tại núi Tà Lơn năm 1875.

Ðức Bổn Sư núi Tượng là Ngô Lợi (1831- 1890), lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa năm   1872 tại xã An Lộc, An Giang, khai triển nguyên lý Hành Sử Tứ Ân và sử dụng lòng phái có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương. Pháp tu của Tứ Ân Hiếu Nghĩa tổng hợp: trì niệm theo Thiền Tịnh – Xử sự theo Nho giáo – Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo – Ấn quyết, thần chú theo Mật giáo. Trong 12 năm (1876- 1888) thực dân Pháp với tay sai đắc lực là Tổng đốc Trần Bá Lộc đã đàn áp vô cùng dã man đạo này cả thảy 7 lần (đốt chùa, đốt nhà, bắt bớ tra tấn tín đồ...). Sau khi Ngô Lợi tịch, không có ai đủ khả năng nối pháp nên pháp môn này bị phân hóa trầm trọng.

Sư Vãi Bán Khoai được coi là một nhà sư dáng gầy, ăn mặc kiểu đàn bà, chèo thuyền bán khoai vừa đọc giảng “ Sấm Giảng Người Ðời ”, một bài kệ lục bát dài vừa có tính cách khuyến tu, vừa là sấm ký. Ông xuất hiện năm   1902, một thời gian ngắn sau thì mất dạng.
 
*NĂM  1859 Hòa Thượng AN THIỀN PHÚC ÐIỀN (1790- 1860) chùa Liên Tông (Hà Ðông) chỉ đạo các đệ tử ông tại chùa Bồ Sơn (Bắc Ninh) thực hiện bản khắc gỗ 5 tác phẩm Thiền Tông đời Trần gọi là Truyền Ðăng Ngũ Quyển Tân Tư gồm: Thiền Uyển Tập Anh, Thánh Ðăng Lục, Tam Tổ Thực Lục, Thiền Ðiển Thống Yếu Kế Ðăng Lục và một số tài liệu khác ông gọi là “ngoại khoa tạp lục”. Ông viết bài tựa cho tác phẩm này. Những bản khắc gỗ này được bảo quản gần 100 năm thì bị một số người lấy làm củi nấu cơm trong thời chiến tranh 1946- 1954!   

Bộ sách quan trọng của ông Ðạo Giáo Nguyên Lưu (3 quyển), còn có tên là Tam Giáo Thông Khảo., có lẽ được in năm 1845 vì bài tựa do Nguyễn Ðại Phương viết vào năm này. Quyển thứ nhất nói về đạo Phật qua các đề mục về: việc du học của thiền sư Tính Tuyền Trạm Công, các bản kinh khắc ở nước ta, khởi thủy Thiền học nước ta, các tháp Phật ở nước ta, Thiền phái Vô Ngôn Thông, các danh tăng ở triều đình, các danh tăng đời Lê, các danh tăng đời Lý, các danh tăng đời Trần, Thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Thiền phái Thảo Ðường, những truyền thuyết kỳ bí liên quan đến các thiền sư nước ta qua các triều đại, danh từ Phật học và các thần thoại Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam. Quyển hai và ba nói về Khổng và Lão Giáo. Bộ sách này sẽ được Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu trong tương lai trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.

Ông là người khai sơn chùa Thiên Quang (núi Ðại Hùng, Hà Nội). Nhất Hạnh (VNPG SL 2, tr. 252 và 255) cho rằng An Thiền Phúc Ðiền là hai người (An Thiền và Phúc Ðiền).
 
*NĂM  1861- 1865 tháng 2. 1861, quân Pháp do đô đốc Charner chỉ huy đánh chiếm đồn Kỳ Hòa ở Gia Ðịnh. Sau đó quân Pháp trưng dụng 4 ngôi chùa nổi tiếng của Gia Ðịnh là chùa Khải Tường, Cây Mai, Kiểng Phước và đền Hiếu Trung lập phòng tuyến gọi là “ Lignes des Pagodes” (phòng tuyến các chùa). Tượng Phật bị lôi ra ngoài, sư tăng bị đuổi khỏi chùa. Chùa Khải Tường từng được sắc phong là “Quốc Ân Khải Tường”, xây năm 1843, sau này bị Pháp biến luôn thành trường học. Chùa Kiểng Phước tới năm 1866 chỉ còn vài thanh gỗ mục. Chùa Cây Mai bị biến thành lô cốt rồi thành nhà giam. Ðền Hiếu Trung còn lại vài bức tường nằm trong doanh trại lính Pháp. Quân Pháp cũng cho triệt hạ nhiều chùa khác: chùa Pháp Võ và Kim Tiên ở Chợ Quán (1863), chùa Phước Hưng ở Chợ Lớn (1864), chùa Kim Chương, Phật Lớn gần thành Ô Ma, chùa Phước Hải ở khu bệnh viện Chợ Rẫy sau này, Chùa Gia Ðiền ở Chợ Quán (1865).
Tháng 6. 1867 Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, lập chính quyền bảo hộ trên toàn Nam Bộ. Cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết bằng thuốc độc ngày 7 tháng 8. 1867.

Pháp bắt các tăng sĩ đi lính và đóng thuế thân, các chùa muốn tổ chức trường hương (an cư kiết hạ) phải xin phép trước. Hậu quả của pháp nạn này tại miền Nam có thể thấy qua bản phúc trình chép tay “Monographie de la province de Gia Dinh” của J.Ch. Balencie  *NĂM  1899: Gia Ðịnh lúc đó có 305 chùa, trong đó có 43 chùa Hoa. Tu sĩ có 82 tăng, 49 ni. Phật tử 211,194. Nghĩa là trên phân nửa chùa không có tăng ni coi sóc. Phúc trình năm 1902  của cùng tác giả cho biết tình hình Phật giáo tại Gia Ðịnh 3 năm sau: 412 chùa, 132 tăng, 55 ni, 212,194 Phật tử (PGNB, tr.31).



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Ngocmani
Logged
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.478 seconds với 24 câu truy vấn.