Tháng Tư 07, 2020, 09:25:59 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH--Ngô Thì Nhậm  (Đọc 8994 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 06:00:16 AM »

(tiếp theo)

Thanh chú:

Hòa thượng Hải Âu nói rằng:

Ngu Thuấn khiến Cao Dao làm quan Sĩ Sư để sáng tỏ hình phạt, đó là nhân ngục, tức là cái phép trị người. Thích thị nói địa ngục, đó là cái đạo trị mình. Nhân ngục và địa ngục rất khác  nhau. Nhân ngục, kẻ nào phạm pháp thì không vào, kẻ nào phạm pháp mà người ta không biết cũng không vào, kẻ nào phạm pháp người ta biết được, mà pháp quan rũ lòng thương thì được ra, kẻ nào đã bị pháp quan hạ ngục mà được ân xá thì cũng được ra không chờ phải phá. Người ta lúc mới lọt lòng mẹ thì Thập Điện Minh Vương đã có đủ ở trong mình. Mắt nhìn, tai nghe, mồm ăn, hình thể vận động, đều là do Minh Vương làm chủ. Hễ mà hơi có tri thức, ý hướng, thì phạm ngay tội ác địa ngục. Minh Vương lại rèn luyện thêm cho, trong khi chẳng thấy chẳng nghe. Từ đó rơi vào địa ngục vô gián, tri thức ngày càng tăng thì địa ngục lại thêm một bức tường sắt, mãi mãi không lúc nào ra được- Cái phép để phá địa ngục, Hữu Ngu Thị dùng chữ TINH NHẤT. NHẤT là giữ gìn không rời bỏ. Tuân Tử nói:” Giữ đạo không hai, thì trời không giáng họa được”(51) cũng là ý ấy.

Thích Ca Thị thì dùng chữ TINH TẤN, TẤN là cố gắng thực hành mà chẳng dừng. Sách Nho nói :” làm mà chẳng dừng, thành người quân tử”, cũng là ý ấy. Dùng chữ NHẤT, dùng chữ TẤN mà công phu là ở chữ TINH. Chữ TINH có nghĩa là chẳng tạp. Gọi là “ gươm báu kim cương”, “ thân kim cương không bao giờ vỡ nát”, cũng đều có hàm nghĩa là TINH cả. Cuối cùng, Thầy nói:” Chúng sinh từ bi, cho nên phần nhiều bị đọa xuống địa ngục”. Từ khi bị phạm cái nghiệp chướng tình ái. Rơi xuống bể tình thì hay
mắc lưới, đi qua bể ái thì gặp bến mê, làm sao mà chẳng bị đọa xuống địa ngục. Hữu Ngu Thị, Thích Ca Thị không từ bi, đó tức là TINH NHẤT tức là TINH TẤN. TINH đến tột độ thì trong sáng sạch làu, không chút vướng bợn như bài kệ của Huệ Năng Thiền sư (52) có nói:
 

“ Xưa nay không một vật

Từ đâu nảy trần ai ?”

Nếu chúng sinh không từ bi thì đến đâu cũng có gậy thiếc của tôn giả.

Câu “ giết cha”, “giết mẹ”, “giết sư” chỉ là ngụ ngôn mà thôi ( nghĩa này tìm thấy trong kinh Lăng Già)



*Chú thích:- [52]: Bình đẵng: ( Samata) quan điểm của Phật  giáo chủ trương không phân biệt Có Không, Thiện Ác, Đúng Sai,…

*Chú thích:- [53]: Sách Tuân tử, thiên Thiên Luận:” Tu đạo nhi bất nhị tắc thiên bất năng họa”. Nghĩa là tu đạo chuyên nhất thì trời không làm hại được.

*Chú thích:- [54]: Huệ Năng (638- 713) được xem là Tổ thứ  6 của Thiền tông Trung Quốc.
 


*

*   *

Tăng Hải Hòa nói rằng:

 
Đọc sách Thượng Thư, đến câu “ Nhân tâm duy nguy” ( lòng người là rất nguy) thì bất giác toát mồ hôi. Người đui cưỡi ngựa mù, đêm tối như mực đi đến ao sâu, chưa phải là nguy; trên giường nằm một sợi dây tơ treo lơ lững tảng đá nặng nghìn cân, chuột tranh nhau cắn dây tơ trèo trẹo, cũng chưa phải là nguy. Nhưng khi mà chưa bị cái vồ lớn đập xuống đầu, khi mà chưa uống nước đồng đun chảy, khi mà chưa bị ném vào cái vạc dầu sôi sùn sục, khi còn đứng nhìn bên cây gươm và núi dao, hơi thở hổn hển, trước những hình phạt của mười hai địa ngục, thì đó là điều rất nguy. Nguy ở chỗ  địa ngục thuộc về hư huyễn, nguy ở chỗ  lòng người rất sát với cảnh thật. Lòng người chẳng qua là lòng dục mà thôi. Ai có huyết khí, tâm tư mà chẳng có dục, không ngờ cái nguy đến thế. Nếu Thầy ta không nói lên cái phép phá ngục thì những người lâm nguy như thế làm sao giải thoát được để về nơi an toàn? Xưa kia Cao Dao làm sáng tỏ năm hình (53) để giúp cho năm giáo (54) khiến người ta theo về giáo mà tránh khỏi hình, đó là phá cái nhân ngục. Nhân ngục có phép tắc rõ ràng, người ta trông thấy thì sợ mà tránh được. Còn như địa ngục thì tối đen ngòm ngòm chỉ ở trong gang tấc, người thấy nó thì rất ít mà người phạm nó thì rất nhiều, nếu không phải là bậc Thánh nhân có đại lực thì không phá nỗi. Vì rằng, người ta ai cũng có cái lòng ấy, chỉ vì thả nó ra mà không biết thu về, buông nó ra mà không biết kìm lại, do đó mà đi vào con đường xằng bậy, sa vào cái hố tội ác, kẻ nào triền miên ân ái thì mãi mãi không tìm ra đường giải thoát; kẻ nào đắm đuối danh lợi thì đau đớn quằn quại trong nước sôi lửa bỏng, ăn nằm trong cảnh phiền não lo âu, vô hình chung sa xuống địa ngục, không vượt khỏi, chạy không thoát.

Vì vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni rũ lòng thương xót, dạy cho người ta MINH TÂM, KIẾN TÁNH. Khi người ta biết MINH TÂM thì thấy tâm vốn là trong suốt, khi người ta biết KIẾN TÁNH thì thấy tánh không nghiêng lệch, hết thảy mọi vật trong thế gian đều xem là bình đẵng, rồi cứ thế mà TINH TẤN không bao giờ lơi, mà thành được Phật đạo, không nhơ không sạch, không thêm không bớt, lìa hẵn được mọi nỗi khổ.

Đó là cái pháp môn cao nhất để phá địa ngục. “ Bảo kiếm kim cương” là thế nào? “ Thân kim cương không vỡ nát” là thế nào? Phật sinh ở phương Tây thuộc KIM CANH TÂN (55), được cái chính khí của Kim. Vật đều thành hình ở mùa thu, thoát đi ở Đoài, chỉ có kim cương là không vỡ nát, cho nên Phật dùng tinh lực cắt đứt hết thảy nghiệp chướng. Gọi là “ bảo kiếm kim cương bất sanh bất diệt”, gọi là “ thân kim cương không vỡ nát” cũng là nói ví như kim cương mà thôi. Nếu có chăng là thanh gươm kim cương, chứ đâu có cái thân kim cương? Trời là số một, sinh thủy, đất là số sáu, thành thủy; đất là số hai, sinh hỏa, trời là số bảy, thành hỏa; trời là số ba, sinh mộc, đất là số tám, thành mộc; đất là số bốn, sinh kim, trời là số chín, thành kim; trời là số năm, sinh thổ, đất là số mười, thành thổ (56)..

Ở trời là Ngũ Đế, ở người là ngũ hành, ở Ty là Thập Điện Minh Vương. Từ khi có trời đất đến nay, suốt thời gian kim cổ, không bao giờ vỡ nát, đó là cái thân kim cương. Chỉ vì chúng sinh từ bi, bị bể ái chìm đắm, tham luyến chẳng thôi, thu dung quá nhiều. Hỏa thịnh thì mộc hóa tro, kim thịnh thì thổ khô nứt, mộc thịnh thì thủy đình trệ, thủy thịnh thì kim chìm lỉm, thổ thịnh thì hỏa bị át, điên đảo ngũ hành, sinh khắc sai độ. Phạm tội ác như thế thì sa xuống địa ngục. Cho nên Thập Điện Minh Vương mới nhân chỗ  phạm
tội mà trừng phạt. Trái lại, nếu biết cho vỡ lẽ, bỏ cho dứt khoát không bị từ bi làm khốn, thì do đâu mà sa địa ngục được?

------------------
 
*Chú thích:- [55]: Ngũ hình: là năm hình thức xử phạt của thời cổ xưa, như: Mặc ( thích chữ); tỉ ( cắt mũi); phỉ ( chặt chân); cung ( thiến); đại tịch ( chém). Xem Kinh thư, Thuấn điển.

*Chú thích:- [56]: Năm giáo: năm điều luân thường như: Phụ nghĩa ( cha có nghĩa); Mẫu từ ( mẹ hiền từ); Huynh hữu ( anh hữu hảo); Đệ cung ( em cung kính); Tử hiếu ( con có hiếu). Xem Kinh thư, thiên Thuấn điển.
 
*Chú thích:- [57]: Hà đố, Lạc thư phối hợp bốn phương, năm hành và mười can. Trong mười can thì CANH, TÂN thuộc phương Tây. Trong 5 hành thì KIM thuộc phương Tây.

*Chú thích:- [58]: Sách Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy (đời Tống) nói:” Thiên dĩ nhất sinh thủy nhi địa dĩ lục thành chi. Địa dĩ nhị sinh hỏa nhi thiên dĩ thất thành chi. Thiên dĩ tam sinh mộc nhi địa dĩ bát thành chi. Địa dĩ tứ sinh kim nhi thiên dĩ cửu thành chi. Thiên dĩ ngũ sinh thổ nhi địa dĩ thập thành chi”
 
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 06:02:52 AM »

(tiếp theo)

TỊCH NHIÊN VÔ THANH



(Tiếng LẶNG  LẼ KHÔNG CÓ TIẾNG)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

 
Chim Phượng hoàng không kêu, hể kêu lên [một tiếng] thì người ta kinh ngạc. Lúc mà nó không kêu, tức là lúc lặng lẽ không có tiếng ( tịch nhiên vô thanh), mà cái tiếng (thanh) làm cho mọi người kinh ngạc thì đã chứa cất ở chỗ  không kêu. Đào Uyên Minh (57) có cái đàn mộc không dây mà tâm đắc ở bên ngoài âm luật, vì cái tinh thần của âm luật, chỉ có thể tìm thấy ở chỗ  không dây, mà không thể tìm thấy ở trong tiếng đàn vậy.

 Đại phàm vật gì, bị tác động thì tức có phản ứng, bị tác động mà không phản ứng thì chỉ có cái TỊCH NHIÊN là làm được. Lấy cái dùi mà đánh chuông, thì tiếng kêu sang sảng, lấy cái dùi mà đánh vào giữa không, thì muốn tìm thanh (tiếng) mà chẳng được. Đến như cái thanh từ trong không phát ra, vàng sắt đều kêu, không chờ bị tác động mà phản ứng, đó là do tịch diệt đến tột độ, chứa ở bên trong rất lớn nên phát ra bên ngoài rất mạnh. Chữ HI THANH (tiếng không nghe thấy) của Thiệu Khang Tiết (58), cái TỊCH NHIÊN VÔ THANH của Đại Thiền Sư, có lẽ đã nắm được cái tâm của trời đất chăng?

*

*   *

Chính văn (Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền Sư nói rằng:

-   Phật nói TỊCH DIÊT không phải thật là TỊCH DIÊT (như người ta tưởng). TỊCH là trái với HUYÊN (ồn ào), DIỆT là trái với KHỞI (dậy). Có DIỆT được cái tính người thì cái tính trời mới DẬY lên được. Đại phàm tính trời thì khó DẬY lên mà tính người thì rất khó DIỆT. Diệt được tính người thì tức trời muôn CẢM (tác động) đều lặng, chỉ còn một cái chân lâng lâng. Chuông trống ở đằng trước mà tai không bị loạn; gấm vóc ở đằng trước mà mắt không bị choáng, thiên binh vạn mã ở đằng trước mà tâm không giao động. Được như vậy thì mới gọi là TỊCH ( lặng). Tục truyền Điều Ngự Giác Hoàng sai cung nữ đến thử Huyền Quang. Giác Hoàng có sức để DIỆT, lẽ nào lại nghi Huyền Quang không có sức để TỊCH. Hoa tuyết không có cuống, gương nước không có giá, giá và cuống làm sao động nỗi hoa với kính được?
 
*Chú thích:- [59]: Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm (365- 427) ẩn sĩ đời Tấn ở Trung Quốc.

*Chú thích:- [60]: Thiệu Khang Tiết tức Thiệu Ung (1011- 1077) triết gia đời Tống ở Trung Quốc.

*
*    *


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 06:04:32 AM »

(tiếp theo)

Thanh chú :

Hòa thượng Hải Âu nói rằng:


Cái nghĩa chữ TỊCH DIỆT thật là huyền diệu lắm thay! Không ồn ào thì làm sao có lặng lẽ (TỊCH), không DẬY LÊN thì làm sao có dập đi (DIỆT). ỒN ÀO và DẬY LÊN là tính người. TỊCH ( lặng lẽ); DIỆT ( dập tắt) là tính trời, cùng với NHÂN TÂM, ĐẠO TÂM gần giống nhau. Cái mừng, cái giận, cái vinh, cái nhục, đánh đá xâu xé nhau ở trong lòng, đó là cái chướng ngại của nhân tình. Dập tắt ( DIỆT) được tính người thì tính trời được trọn vẹn. Tánh được trọn vẹn thì là ĐỊNH, mà  ĐỊNH thì gọi là TỊCH DIỆT.

 Sách Nho có chữ VÔ NGÃ, sách Đạo có chữ TÁNG NGÃ đều theo nghĩa ấy. Nhưng bị tác động ( cảm) mà lắng xuống (tịch) mới thật đúng là TỊCH. Tai là để nghe, chuông trống ở đằng trước, không phải không nghe, nhưng nghe mà không loạn. Mắt là để thấy, gấm vóc ở đằng trước, không phải không thấy gấm vóc, nhưng thấy mà không choáng. Chết sống sợ hãi đều bởi lòng người. Binh mã ở đằng trước, không phải là không biết, mà là không vào trong lòng được, như thế mới thật đúng là TỊCH. Còn như không có chuông trống, không có gấm vóc, không có binh mã, thì tai, mắt và tâm, không hề bị tác động; mà không bị tác động thì [ hóa ra] con chó đá cũng có tánh Phật, cũng có vẻ không loạn, không choáng, không giao động. Như thế không phải là TỊCH.

Cần phải thấy được chân thể của mình, không sinh chướng ngại. Cái gì ở ngoài vào, lại vẫn trở ra ngoài mà đi, như con chim bay qua cái đầm nước trong, chim bay đi mà đầm không giữ bóng, đó là câu ví hoa tuyết và gương nước vậy. Tục truyền Điều Ngự Giác Hoàng sai cung nữ đến thử Huyền Quang. Giác Hoàng có sức DIỆT lẽ nào lại nghi Huyền Quang không có sức TỊCH. Huống hồ, đã nảy cái lòng nghi ngờ, tức là không phải giác ngộ. E rằng đây là lời bịa đặt, sai lầm.

*

*   *

Tăng Hải Hòa nói rằng:

Mắt nhắm, lòng tắt, sừng sững không động đậy, đó là lúc nhà sư ta nhập định. Có vật cũng không thấy, có tiếng cũng không nghe, vì tình được an định mà tánh đã sáng rõ, lại do tánh sáng rõ mà tình được an định, đó là công phu của TỊCH DIỆT vậy, TỊCH là cái cơ của động, DIỆT là cái triệu của khởi ( dấy lên). Lòng dục lắng xuống (TỊCH) thì thiên lý phát động; ý riêng dập tắt ( DIỆT) thì chân tánh dấy lên (KHỞI). Nếu thật khiến được lòng dục và ý riêng hết thảy sạch làu, thì cái thiên chân của ta sẽ trình lộ ra, ta sẽ tỏ rõ được cái tâm của chính mình, thấy rõ được cái tánh của chính mình; muôn sự, muôn vật trong thế gian ( ta) sẽ xem là bình đẳng; không ham gì ở thanh, không luyến gì ở sắc, cũng không sợ gì ở uy, như thế thì chuông trống, gấm vóc, thiên binh vạn mã ở đằng trước , có can dự gì đến ta đâu? Chính vì biết lắng xuống ( tịch), cho nên có sức hư không; chính vì có sức hư không cho nên có mà cũng xem như không có vậy. Xưa, Điều Ngự Giác Hoàng sai cung nữ đến thử Huyền Quang, đó không phải là ngài nghi ngờ Huyền Quang không biết TỊCH mà chính là để làm cho khả năng TỊCH của Huyền Quang càng đáng tin, mà khiến cho người ta không nghi ngờ được.
 




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 06:07:50 AM »

(tiếp theo)

TRÁC  THANH

( Tiếng ĐẼO)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

 
Thế vị, tiền tài, nữ sắc đẹp, cung thất đẹp, xe ngựa tốt, bề tôi giỏi giang, nô tỳ lanh lợi, đó là những cái rất khó bỏ. Thường tình người ta, đứng trước cảnh ấy chỉ sợ mất đi, huống hồ đang tay mà bỏ đi sao? Thế vị, tiền tài, nữ sắc, cuối cùng chỉ là chuyện vô vị, hão huyền, nó làm cho người ta quay cuồng trong mọi hiện tượng, nó dựng lên đủ thứ cảnh sắc, cho nên người ta bỏ nó không được. Bậc cao minh lên hẳn đến cái cấp cao nhất, là “ ly hữu, ly vô” ( gạt cả có, gạt cả không), không mảy may có một tưởng niệm bất tịnh (cái KHÔNG sạch làu). Những tưởng niệm nghi hoặc, hỗn loạn tuy hiện ra đủ loại, nhưng [ bậc cao minh] xem chúng như chiêm bao mơ màng, như cái bóng trong gương. Đang lúc ở thế vị, tài sắc thì hình như có thật. Thế nhưng như đám mây phủ da trời, mây bay đi thì da trời hiển lộ. Một khi quay hướng để chân tu, thì đem thế vị, tài sắc như lớp phấn cánh chuồn trên mũi người đất Ba (59), hóa ra lại là một việc rất dễ bỏ [như đẽo bỏ lớp phấn cánh chuồn trên mũi].

Như thế gọi là TRÁC THANH.

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

 Hải Lượng Đại Thiền Sư nói:

Không có thế vị thì không thành Phật được, không có tiền tài nữ sắc thì không thành Phật được; không có cung thất đẹp, ngựa xe tốt thì không thành Phật được; không bề tôi giỏi giang, nô tỳ lanh lợi thì không thành Phật được.

Đồ đệ bạch với Thầy rằng:

o [ Như thế thì] đệ tử nguyện suốt đời làm theo để thành Phật đạo.

Thầy đáp rằng:

o Kiệt và Trụ, U và Lệ, Phi Liêm, Ác lai, Đào Ngột (60) cũng suốt đời làm theo.

Mười lăm giống quỉ, lúc chưa làm quỉ cũng suốt đời làm theo được. Những kẻ bần cùng đói rét, khốn khổ không biết dựa vào đâu, cũng suốt đời làm theo được, nào phải có một mình ngươi làm được hay sao? Điều Ngự Giác Hoàng bỏ ngôi vua mà đi bộ một mình, bị sáu mươi cái đâm mà thân không biết đau. Cho nên có của mà bỏ được mới khó. Đại lực lượng Bồ Tát ném vàng như cát. Người nghèo chỉ ước ao được một đồng vàng, nhưng rồi cũng bỏ thân nơi ngòi rãnh. Một đồng vàng còn ước ao không được, huống hồ thế vị, tiền tài, nữ sắc? Nhà Nho nói ĐỊNH MỆNH, nhà Phật nói TIỀN KIẾP. TIỀN KIẾP cũng chẳng qua là cái định mệnh không đổi dời được. Kẻ nào phú quý mà không bo bo với danh lợi là người đã khống chế được định mệnh. Cao sĩ chế tác được ĐỊNH MỆNH. Đại sĩ biến hóa được TIỀN KIẾP. Biến hóa được TIỀN KIẾP cho nên thành Phật.
 
 

*Chú thích:- [61]: Sách Trang Tử, thiên Từ Vô quỷ:” Người đất Dĩnh bôi phấn trắng mỏng như cánh chuồn lên đầu mũi, bảo Tượng Thạch đẽo bỏ đi. Tượng Thạch múa rìu thành gió, nhân đó mà đẽo bỏ đi, phấn trắng rơi hết mà mũi không hề bị thương”.

*Chú thích:- [62]: Kiệt là vua nhà Hạ, Trụ là vua nhà Thương, U và Lệ là vua nhà Chu. Phi Liêm và Ác Lai, hai cha con đếu là tôi vua Trụ. Đào Ngột là tên riêng của Cổn, làm tôi Đế Thuấn. Tương truyền những người này đều là những nhân vật bạo ngược.
 


*

*   *

Thanh chú:

Hòa thượng Hải Âu nói rằng:

Sách Nho nói “ không thấy cái ưa thích mà tâm không loạn”. Đó là nói cho người bậc trung mà thôi. Tiến lên bậc cao hơn thì “ thấy cái ưa thích mà tâm không loạn”. lại từ cái DỤC mà tiến lên cái ĐẠO, thì mới gọi là “nhuộm mà không đen”, “lẳng lặng chẳng động”. Cho nên, nếu không có thế vị, thì làm sao mà biết “ hoạn đồ sóng gió”, “ đường đời chông gai”. Khi đã biết rồi thì sẽ xem thế vị nhạt nhẽo biết bao! Không có tiền tài, nữ sắc thì làm sao biết được chứa của cải là nô lệ cho đồng tiền, má phấn là cái thây ma. Khi đã biết rồi thì tiền tài, nữ sắc chỉ là thứ ngoại lai. Biết như thế thì cung thất đẹp, xe ngựa tốt đều như là đệm bằng cói, chõng nhà sư cả.

Xóm ngõ thời xưa đều chủ mới

Một xe một ngựa mấy người đi.

Nhiều vàng kính con út

Vận bĩ tớ trêu thầy.



Biết như thế thì bề tôi giỏi giang, nô tỳ lanh lợi đều là thầy tốt bạn lành cả. Đối với bậc Đại lực lượng, thì hết thảy những cảnh khổ như tham luyến, ái dục, trước mắt đều là hun đúc mài dũa cho ta, để ta tiến lên Đạo. Tế Điên (61) từ chỗ  uống rượu ăn thịt mà ngộ đạo. Trí Thâm (62) từ chỗ  phóng hỏa giết người mà ngộ đạo. Luyến Thiền Sư đọc Tây Sương Ký đến câu “ làm sao đương nổi cái ngọn sóng hồ thu xoay hướng này” mà ngộ đạo. [ Những bậc ấy] đều là hoa sen hồng mọc lên từ chỗ  bùn tanh, những bảo tọa dựng lên từ những cái hố lửa. Lời nói của Đại Thiền Sư gợi ra cái bí mật mà hàng ngàn kinh văn của nhà Phật chưa từng nói. Kiệt, Trụ, U, Lệ, Phi Liêm, Ác Lai, Đào Ngột suốt đời làm điều ác, cho nên là người ác. Mười lăm giống quỉ, lúc chưa làm quỉ, suốt đời làm dữ, cho nên là quỉ dữ; những kẻ bần cùng khốn khổ, suốt đời không ra khỏi cảnh cùng, cho nên là cùng nhân. Những kẻ này dẫm nước vấy bùn, đi trong đám sương mù mười dặm, suốt đời không hề giác ngộ.

Điều Ngự Giác Hoàng bỏ ngôi vua như vứt dép, bị đánh đau mà không biết, những ý niệm tham sân, vinh nhục không mảy may gắn bám, cho nên thành Phật. Đồ đệ bạch với Thầy rằng: nguyện suốt đời làm theo để thành Phật đạo, mà không biết rằng làm theo là nghĩathế nào? Làm theo mà rơi vào ác đạo thì khỏi phải nói làm gì, nhưng suốt đời làm theo thiện đạo mà còn có ý nguyện hành đạo, ý nguyện thành Phật, cũng là đang còn rơi vào cái tướng “ hữu tâm”, cho nên Đại Thiền Sư nói đoạn này mà dạy cho. Cuối cùng nói ĐỊNH MỆNH, nói TIỀN KIẾP là nói chung rằng MỆNH không thay đổi được. “Cao sĩ chế tác định mệnh” có nghĩa là chế tác mà không trái loạn, “ Đại Sĩ biến hóa TIỀN KIẾP” có nghĩa là nhập thần mà hóa đó vậy. Hóa được kiếp thì thành Phật Tổ; khống chế được mệnh thì thành Đại Nho.

*

*    *

Tăng Hải Hòa nói rằng:

Thế vị, tiền tài, nữ sắc, cung thất đẹp, xe ngựa tốt, bề tôi giỏi giang, nô tỳ linh lợi, không có nghĩa là phải có những cái đó mới thành Phật, có nó mà bỏ nó được mới là khó. Cũng không có nghĩa là nếu không có những cái đó thì không thành Phật được, không có mà xem như là có, lại càng khó hơn nữa. Cho nên Giác Hoàng được hưởngcái cảnh phú quí của bậc đế vương, mà tò võ một mình đi sang đông, không đem theo lấy một đồng tiền, khiến sáu mươi bến đò được tiếng, nay ở chùa còn thờ làm Tổ -- Chuyết Công đi bộ đến phương Nam, ở lộ thiên dưới cây ba tháng mới đến trụ trì chùa Nhạn Tháp ở Siêu Loại. Đến sau Phò Mã Quốc Công (65) phải cờ quạt đi rước. Nay ở chùa thờ làm Tổ.
 
*Chú thích:- [63]: Tế Điên: tên là Lý Đạo Tế, người đời Tống, ở vùng đất Thiên Thai, tu ở chùa Tịnh Từ.

*Chú thích:- [64]: Trí Thâm: tức Lỗ Trí Thâm, một nhân vật trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am.

*Chú thích:- [65]: Chuyết Công: sách Truyền Đăng Lục và Tang Thương Ngẫu Lục đều ghi nhà sư là người Trung Quốc đến nước ta vào đầu Lê, tên là Lý Thiên Tộ. Nay ở chùa Bút Tháp ( Thuận Thành, Hà Bắc) có tượng của Chuyết Công.

 *Chú thích:- [66]: Chùa Nhạn Tháp ở Thuận Thành- Hà Bắc.

*Chú thích:- [67]: Không rõ tên
 






Như thế thì có [ những cái đó: thế vị, tiền tài, nữ sắc, v.v..] hay là không có [những cái đó] đều là định mệnh, chẳng qua là cái báo của nhân duyên tiền kiếp mà thôi. Đạt nhân klhông nên vì có mà mừng, hãy nên bắt chước đức Giác Hoàng ta, đầy một lòng đạm nhiên đến mức xem rẻ hết thảy, không muốn tham dự. Như thế thì phú quí nào có giá trị gì đối với ta? Mà cũng không nên vì không mà buồn, hay nên bắt chước Chuyết Công ta, nuôi cái khí hạo nhiên của mình, đến mức xem ngược hết thảy, ta không thiếu gì. Như thế thì bần tiện nào phải không có giá trị gì đối với ta? Mới biết rằng cái mà người ta tiếp nhận được ở trời gọi là mệnh mà cao sĩ chế tác được mệnh, tức là lấy người mà thắng trời; cái gì ở đời trước mà chuyển vần đến đời sau, gọi là kiếp. Đại sĩ biến hóa được kiếp, tức là lấy sau mà chống trước. Giác Hoàng biến hóa phú quí, Chuyết Công biến hóa bần tiện, cho nên thành Phật. Chân ngôn ( lời nói đầy chân lý) và diệu đề (mệnh đề huyền diệu) của Đại Thiền Sư có thể làm cho đá rắn phải gật đầu.
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 11:38:58 PM »

(tiếp theo)

NHẤT   THANH

( Tiếng NHẤT)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

 
Nhất là tinh nhất, không tạp, hợp tất cả muôn việc trong thiên hạ lại làm một. Ý nghĩa ấy bao gồm rất rộng. Thái cực tóm Âm Dương lại làm một. Âm Dương tóm Ngũ Hành làm một. Đạo lý vần xoay, đi đâu mà chẳng phải là một (Nhất).

 Nhà Nho nói:” Lý không có hai bên cùng phải”, không có hai phải tức là NHẤT (một).

Thích có bất nhị pháp môn”, bất nhị cũng là NHẤT (một).

Nho có cái gọi là “nhất cá lý”, Thích có cái gọi là “nhất thiết pháp” (66), nhất nọ với nhất kia đều là nhất cả.

Vì vậy, cho nên làm Hoàng Đế, làm Vương Bá, cũng là một Nho ấy, làm Thánh Thần, làm Ma Quỉ cũng là một Thích ấy, làm Nho hay làm Thích cũng là một Đạo ấy. Đạo ở trong trời đất, chia ra thì có muôn cạnh khác nhau, tóm lại tghì không có hai khía. Chương này đem Nho và Thích đúc lại làm một, đó là chỗ  tâm đắc và nhất quán của Đại Thiền Sư, phát huy nó ra làm một trong 24 thanh, là một áng văn chương cao cả, một pho nghị luận lớn lao, nào phải lấy ống hóp mà nhìn, lấy vỏ hến mà đong được? Đức Phu tử nói rằng:” Có lẽ ai biết lòng ta cũng do sách Xuân Thu, mà ai buộc tội ta cũng do sách Xuân Thu đấy chăng? (67) . Đại Thiền Sư cũng có nói:” Sau này ngàn năm cũng có người chê ta lẫn lộn Nho với Thích. Thế nhưng kẻ nào biết thì chắc là không chê, kẻ nào chế thì ắt là không biết”. Biết mà không chê, là một cái “vô cùng”, không biết mà chê, cũng lại là một cái “ vô cùng” nữa. “ Trời được cái NHẤT cho nên trong, Đất được cái NHẤT cho nên an, Thánh nhân được cái NHẤT nên thiên hạ thái bình”. Chê chăng? Không chê chăng? Đều ở trong NHẤT THANH của Thiền Sư ta.
 


*Chú thích:- [68]: Nhất thiết pháp: từ nhà Phật chỉ chung hết thảy sự vật sự lý. Sách Trí Độ Luận nói:”Nhất thiết Pháp lược thuyết hữu tam chủng, nhất giả hữu vi pháp, nhị giả vô vi pháp, tam giả bất khả thuyết pháp”- nghĩa là hết thảy sự vật sự lý tóm lại có ba loại: một là hữu vi, hai là vô vi, ba là không thể nói được.
*Chú thích:- [69]: Sách Sử ký, thiên Khổng tử thế gia:” Hậu thế tri Khâu giả dĩ Xuân Thu, tội Khâu giả diệc dĩ Xuân Thu”.
Sách Mạnh tử, thiên Đằng văn công hạ:” Thị cố Khổng tử viết: tri giả ngã kỳ duy Xuân Thu hồ! Tội ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ”.
 

*

*   *

Chánh văn ( Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền Sư nói rằng:

Nho thì nói Hoàng Đế, Vương Bá, Phật thì nói Thánh Thần, Ma Quỉ, cũng là nhất trí thôi! Ba Đại Bồ Tát là nói về Đạo: Quá khứ Đại Bồ Tát, Hiện tại Đại Bồ Tát, Vị lai Đại Bồ Tát. Hết thảy các Thánh là nói riêng về  những bậc có lực lượng, có ý mà không có tượng. Tam Hoàng là tự tu về ý vậy. Phạm Vương, Đế Thích, bốn đại Thiên Thần là nói riêng về những bậc có tác dụng, có lời mà không có hình; Ngũ đế là tự tu về lời vậy. Mười hai Ma Vương là nói riêng về những bậc có vận động. Ma Vương cùng các Đại Bồ Tát, các Thiên Thần Phạm Vương, khác về dụng mà đồng về thể, có tượng mà không có pháp; Tam Vương là tự tu về tượng vậy. Mười lăm loài quỉ là nói riêng về những loài có biến hóa, có mệnh trọc, có kiến trọc, có ấm trọc (68) đều là giải thoát không nổi, có số mà không có lý; Ngũ Bá là tự tu về số vậy. Phật Thích Ca Mâu Ni bao trùm cả ba Đại Bồ Tát, vận dụng Phạm Vương Đế Thích, bốn Đại Thiên Thần, chế ngự mười hai Ma Vương, sai khiến mười lăm loài quỉ. Khổng tử lấy Tam Hoàng làm Tổ, Ngũ Đế làm Tông, lấy Tam Vương làm con, Ngũ Bá làm cháu, là như thế. Vì vậy cho nên, [nếu] không đủ cả tinh lẫn thô, thì không gọi là Phật được; không rõ cả thể lẫn dụng thì gọi là Pháp được; không biết gốc ngọn thì không gọi là Tăng được. Lớn thay Đức Phật mà đâu phải vì thanh âm sắc tướng!

Điều Ngự Giác Hoàng rằng:

” Lấy thanh âm mà tìm ta, lấy sắc tướng mà tìm ta, người ấy theo đạo tà, không thấy được Như Lai”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 11:41:07 PM »

(tiếp theo)

Thanh chú:

Hòa Thượng Hải Âu nói rằng:

Tiết này nêu rõ lên rằng: Nho thì nói Hoàng Đế, Vương Bá, Phật thì nói Thánh Thần, Ma Quỉ, đều là có phép tắc thứ bậc. Phật Thích Ca có đủ cái tinh cái thô của Thánh Thần Ma Quỉ.

 Khổng Tử có đủ cái thể cái dụng của Hoàng Đế Vương Bá. “Lớn thay đức Phật”, “ lớn thay” nghĩa là như trời, người ta không thể đặt tên gì cho xứng được, không có thanh âm sắc tướng gì cho người ta tìm được, cũng như sách Nho bảo rằng:” không có hình khí phương thể cho người ta tìm được”.

Giác Hoàng nói rằng:” Lấy thanh âm,sắc tướng tìm ta thì không thấy Như Lai được”, đó là lời nói chỉ Đạo vậy.

*

*    *

Tăng Hải Hòa nói rằng:
 


Thích gia tu mà thành Phật cũng như Nho gia học mà làm Thánh. “ Từ khi trời sinh ra người cho đến nay, chưa có ai bằng Khổng Tử” và “ trên trời, dưới trời không có ai bằng đức Phật”. Hoàng Đế, Vương, Bá thì Khổng Tử “xâu suốt làm một” ( nhất dĩ quán chi); Thánh, Thần, Ma, Quỉ thì Thích Ca “thông suốt bằng sáu trí” ( lục trí dĩ thông chi) (69) . Đạo Nho có hình tích rõ rệt cho nên Hoàng đế, Vương, Bá là đứng về mặt thời thế thay đổi mà nói. Đạo Phật ở sâu kín trong cái vô hình, cho nên Thánh, Thần, Ma, Quỉ là đứng về mặt đạo thể minh xác ( chắc chắn sáng sủa) mà nói.


 Bao quát ba Đại Bồ Tát, tức là thông suốt cả xưa lẫn nay. Vận dụng Phạm Vương, Đế Thích tức là đầy khắp trong trời đất. Chế ngự được mười hai Ma Vương; thì tứ thời và ngũ hành không ở ngoài
được; sai khiến mười lăm loài quỉ thì những loài có mệnh, có hiểu biết không thể trái ngược. Nhỏ thì không lọt mũi kim, lớn thì bao trùm thế giới. Thấp thì thấp hơn mặt đất, cao thì cao hơn thái hư (70) . Như thế thì nào phải lấy thanh âm sắc tướng mà tìm được?


 
*Chú thích:- [70]: Phật giáo có ngũ trọc  hay ngũ trược ( 5 điều không sạch): Sinh trọc, kiến trọc, phiền não trọc, mệnh trọc và kiếp trọc-ấm trọc cũng chỉ loài bị vô minh che lấp.
 

*Chú thích:- [71]: Lục Thông:Thần Túc, Thiên nhãn, Thiên nhỉ, Tha tâm, Túc mạng và Lậu tận.

*Chú thích:- [72]: Nghĩa là trời.
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 11:45:33 PM »

(tiếp theo)

XU THANH

(Tiếng CHỐT)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

 
Tâm là then chốt của muôn sự, có khép có mở, có thu lại, có buông ra, cho nên gọi là chốt ( xu). Chốt tức là tâm. Người ta ai cũng có tâm: Thánh nhân có tâm của Thánh nhân, chúng nhân có tâm của chúng nhân. Cái tâm của Thánh nhân là cộng đồng với người ta mà vô ngã ( quên hẳn mình, không nghĩ riêng tây), cho nên có thể “kiêm thiện thiên hạ” ( làm cho thiên hạ đều thiện). Cái tâm của chúng nhân gò bó trong điều tai nghe mắt thấy, cho nên “ độc thiện kỳ thân” (làm điều thiện riêng một mình).

 Như Lão tử nói rằng:” Biết cái trắng giữ cái đen, biết cái trống giữ cái mái” (71) thì là rụt rè giữ mình mà lấy cái CHỐT làm của riêng. Trang Tử nói:” Sinh tử như nhau, họa phúc là một” (72) thì là “ tuyệt Thánh khi trí” (73) (dứt Thánh bỏ trí); tức là hủy hoại cái CHỐT ấy. Như thế tghì làm sao nói lên được ý nghĩa chữ Thiền? Thiền, thì chỉ có Thánh nhân mới làm được. Nghiêu, Thuấn hết lòng với thiên hạ thì bá tánh lấy lòng của Nghiêu Thuấn làm lòng mình; Quán Thế Âm Bồ Tát thương xót chúng sinh thì công đức thấy đến mọi vật.

 Đó đều là cái tâm cộng đồng với thiên hạ ( cộng thiên hạ chi tâm). Vì cộng đồng cho nên có thể Thiền được. Cái mà Nghiêu Thuấn đem “ thiền” cho bá vương” là cái tâm ấy. Cái mà Quán Thế Âm Bố Tát đem “ thiền “ (74) cho chư Phật cũng là cái tâm ấy. Cái đức của tâm là rất thịnh, cái lượng của tâm là rất rộng, rất thịnh rất rộng mới được gọi là Thánh nhân. Đại Thiền Sư phát minh chữ Thiền gọi là Xu Thanh, trên thì ứng với mười hai thanh, dưới thì tiếp với mười một mà thành cái chốt ở giữa. Phu Tử nói rằng:” Sao Bắc thần cứ ở chỗ  mình, mà mọi sao đều chầu về” (75 là nói điều ấy chăng?

*

*    *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

 Hải Lượng Đại Thiền Sư nói:

Tiếng Phạn rất huyền, khi dịch ra tiếng Hán, đã không nói hết ý nghĩa được. Về sau chia tách rất là phiền phức, mỗi nhóm tăng đồ, có một chủ trương, mà chỉ một chữ Thiền đều không giải được. Chỉ có Nghiêu Thuấn mới thiền được, Quan Thế Âm Bồ Tát mới thiền được. Nghiêu Thuấn lấy tâm đức mà thiền cho Bá Vương, Quan Thế Âm lấy tâm lượng mà thiền cho chư Phật. Các nhóm đều cho rằng tâm của mình tức là Tâm, những điều họ nói không đúng thì nhiều, đúng thì ít. Cho nên, đi vào đúng chỗ Thiền môn chỉ có một người ấy là Cưu Ma La Thập (76).



*Chú thích:- [73]:Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 28:”tri kỳ hùng thủ kỳ thư…tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc”. “ Thủ kỳ hắc” không phải là nguyên văn của Lão Tử mà của người sau thêm vào.

*Chú thích:- [74]: Sách Trang Tử, thiên Tề vật luận

*Chú thích:- [75]: Lão Tử, Đạo Đức kinh, chương 19.

*Chú thích:- [76]: Chũ Thiện và chữ Thiền cùng một dạng chữ, nhưng chữ Thiện (truyền ngôi) là chữ Hán, còn chữ Thiền là  chữ Phạn ( tập trung tư tưởng). Vậy nếu cho rằng chữ Thiền và chữ Thiện cùng một từ căn là sai.

*Chú thích:- [77]: Sách Luận ngữ, thiên Vi Chính: ”Tử viết: vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi”
 


*

*    *

Thanh chú:

Hòa Thượng Hải Âu nói rằng:


Tiết này [ nói] đời sau giải thích kinh (Phật) phần nhiều không rõ hết ý nghĩa của kinh, không rõ thì làm sao biết được cái tâm của Phật, cho nên nói ra nhiều chỗ  không đúng. Chỉ có Cưu Ma La Thập dịch kinh Duy Ma Cật, là nói cái gì cũng đúng, cho nên Đại Thiền Sư cho là “ đi vào đúng cửa Thiền môn”.

*

*    *

Tăng Hải Hòa nói rằng:

Ở đời Nghiêu Thuấn, thiên hạ là của chung, không riêng tây cho con cháu của mình, mà lại truyền ngôi cho bậc Thánh hiền, vì vậy cho nên có cái thuyết về chữ Thiện (Thiền). Chữ “ Thiện”, nmghĩa đúng của nó là lần lượt truyền thụ. Nmgày nay, vị sư nối nghiệp Tổ Sư thì gọi là “ thiện sàng” (77), “thiện tọa”. Lấy sàng (giường) và tọa ( chỗ  ngồi) mà truyền thụ cho nhau, thì cũng như Nghiêu Thuấn lấy ngôi vua mà truyền thụ cho nhau đấy thôi! Có biết đâu ( thiện- truyền thụ) không phải là truyền thụ cái ngôi vua, mà là truyền thụ cái tâm, Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ lấy cái tâm lượng quảng đại mà truyền thụ cho chư Phật, Chư Phật đều lấy cái tâm của mình làm tâm.

 Kệ rằng:

Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt

Vạn lý không vân vạn lý thiên

*Dịch:-

Ngàn sông có nước, trăng dãi ngàn sông

Muôn dặm không mây, trời quang muôn dặm (78)


Như thế mới gọi là năng thiện. Nếu chỉ lấy ngôi để thiện mà không có tâm pháp tinh nhất để thiện cho nhau thì Nghiêu Thuấn cũng có cái gì quý đâu? Huống chi, cái giường, chỗ  ngồi chỉ là những vật nhỏ nhen, mà tôn, tin những cái ấy chẳng cũng đáng xấu hổ lắm sao?. Ngày nay, các tăng chúng chỉ biết “ tĩnh tọa, tức tâm”, gọi là THIỀN ĐỊNH, bèn giảng chữ Thiền Định thành an định, như thế là sai hẳn cái nghĩa chữa “ THIỀN” ( Thiện). Sau khi có Đại Thiền Sư phát minh ra, mới biết THIỀN ĐỊNH là truyền thụ cho nhau cái tâm “tĩnh định”. Gần đây, tôi thấy ở bên chùa Đại Bi trên núi Lãm Sơn có cái am “Thụ thụ” (trao nhận) bày tượng các đời Tổ Sư. [Như thế] tuy chưa biết cái tên thụ thụ là thế nào, nhưng cái mà họ thụ thụ (trao nhận) với nhau, có lẽ gọi là cái THIỀN đó chăng?


 
*Chú thích:- [78]: Cưu Ma La Thập: cao tăng đời Tấn (265-420) ở Trung Quốc, nguyên người Ấn Độ đã từng dịch hơn 300 quyển kinh: Kim Cang, Pháp Hoa, Duy Ma,…

*Chú thích:- [79]: Đây là Thiền sàng chứ không phải Thiện sàng ( dùng chữ Thiền sàng là giường Thiền để nói cái Thiền học là một hoán dụ, chứ không phải Thiện sàng là giường truyền thụ hay giường kế tục.

*Chú thích:- [80]: Trích trong Chu Hy toàn thư, Quyển 1, chứng minh cho quan niệm “ một tức là nhiều, và nhiều tức là một"




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 11:49:23 PM »

(tiếp theo)

ĐỘNG   THANH

(Tiếng TRONG SUỐT)

Thanh dẫn (Ngô Thời Hoành)

 
Sáng sủa trong suốt, không có gì chướng ngại thì gọi là ĐỘNG. Tử sinh là việc lớn, chỉ có đạt nhân mới biết được. Tư bẩm cho ta cái thông minh, phú dữ cho ta cái hình chất. Tạo hóa nguyên không đem cái sinh mà cho người một cách dễ dãi. Cho nên thánh nhân cũng không cho phép người ta được chết một cách khinh suất.

Nói “ tuấn vĩ”, nói “ thung dung”, ấy gọi là TRÍ MỆNH (đến chỗ  tùng cột của tính mệnh). Kẻ thất phu, thất phụ, bỏ mình ở nơi sông ngòi, ấy là chết một cách lệch lạc. Hầu sinh (79) tiễn đưa Tín Lăng, Kinh Kha (80) hát trên sông Dịch, ấy là chết một cách khinh  suất, đều là không biết TRÍ MỆNH.

Những người tu tiểu thừa trong đạo Phật tự thiêu trong dàn lửa, ấy là không biết Niết Bàn. Trong chương này, Đại Thiền Sư trỏ cho người ta cái tôn chỉ “ đạt lý trí mệnh”, ấy gọi là ĐỘNG THANH.

*

*    *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền Sư nói rằng:


Chu Dịch có sáu mươi bốn quẻ (81) mà chỉ cho quẻ “KHỐN” được chữ Trí Mệnh. Lăng Già có tám thức (82) mà chỉ cho một “Ý THỨC” được chữ Niết Bàn. Nho không cho phép người ta coi nhẹ cái chết. Thích cũng không cho phép người ta coi nhẹ cái chết. Ý THỨC và cái tượng của quẻ KHỐN giống nhau. Cái tượng của quẻ KHỐN là nước nhỏ giọt ở dưới chằm, là nước lìa khỏi chằm; Ý THỨC như bể nổi gió, nổi lên vô số đợt sóng. Quẻ KHỐN phải là TRÍ MỆNH; Ý THỨC phải là Niết Bàn. Vì vậy cho nên nhà Nho lấy “ nghĩa tinh nhân thục” làm quí, nhà Thích lấy “ trí minh ý cao” làm quí. Nếu nhân nghĩa không tinh thục, trí ý không cao minh, không qua được cửa ải sinh tử, thì làm sao chế định được cái mệnh sinh tử của con người. Khổng Tử là chủ của tính mệnh, Phật Thích Ca Mâu Ni là khách của tính mệnh. Một đôi chủ khách ấy, từ khi trời đất mới mở ra.

 

*Chú thích:- [81]: Hầu sinh: tên là Hầu Doanh, ẩn sĩ nước Ngụy thời Chiến Quốc, được Tín Lăng Quân Vô Kỵ mời làm môn khách. Tần đánh Triệu, Bình Nguyên Quân cầu cứu Ngụy, được Hầu sinh hiến kế, Tín Lăng Quân ăn cắp hổ phù của vua đem quân cứu Triệu. Khi tiễn Tín Lăng Quân đi cứu Triệu, Hầu sinh nói:” tôi tuổi già không đi xa được, xin lấy hồn tiễn công tử”. Nói xong, tự đâm cổ chết trước xe.

*Chú thích:- [82]: Kinh Kha: người nước Vệ thời Chiến Quốc, môn khách của Thái tử Đan nước Yên. Thái tử Đan muốn giết vua Tần giải vây cho Yên, Kinh Kha nhận đem bản đồ nước Yên và đầu Phàn Ô Kỳ dâng Tần, để được gần vua Tần nhằm giết vua Tần. Việc không thành, bị Tần giết chết.

*Chú thích:- [83]: Sáu mươi bốn quẻ: tương truyền Phục Hy làm kinh Dịch chỉ có tám quẻ là Càn, Khảm, Cấn , Chấn, Tốn , Ly, Khôn, Đoài. Về sau, Văn Vương phát triển rộng ra thành 64 quẻ.

*Chú thích:- [84]: Tám thức: nhãn, nhĩ, tỉ , thiệt, thân, ý, mạt-na, a-lại-da.
 

*   

*   *

Thanh chú:

Hòa Thượng Hải Âu nói rằng:

 
Lớn thay cái chết! Sách Nho nói:” Chết đúng nơi chốn”. Sách Phật nói:” sống chết là việc lớn” (sanh tử sự đại), đều là không cho người ta xem nhẹ cái chết. Chu Dịch có 64 quẻ, chỉ có một quẻ KHỐN được TRÍ MỆNH. Lăng Già có tám thức chỉ cho Ý THỨC đến Niết Bàn. Có lẽ vì quẻ KHỐN có cái tượng nước rời khỏi chằm, Ý THỨC có cái cảnh vô vàn ngọn sóng, không có TRÍ MỆNH, NIẾT BÀN thì không được. Khổng Tử, Thích Ca là chủ và khách của tính mệnh, cho nên cái Đạo dạy người nhất trí với nhau. Đương nhiên, nếu chẳng phải “ nghĩa tinh nhân thục”,” trí minh ý cao”, qua khỏi cửa ải sinh tử, thì sao được như thế?. Cho nên Nho mà xem nhẹ cái chết, thì tổn thương cái dũng. Thích mà xem nhẹ cái chết thì tàn hại cái sinh. Xưa nay những bậc đại trung liệt, chẳng ai bằng Văn Tín Quốc công (83) đời nhà Tống. Nếu không có cái sự biến Sài Thị ở Yên Kinh, thì Văn Tín đã thỏa được cái nguyện đội “ mũ vàng ở cố hương”. Vậy có lẽ Văn Tín cũng là kẻ không cho phép mình xem nhẹ cái chết vậy.

*   *   *

Tăng Hải Hòa nói:

Sinh tử là việc trọng đại, chỉ có đạt nhân mới biết giữ gìn để không thương tổ chữ NHÂN, không tàn hại chữ DŨNG. Vì rằng ở trong trời đất, con người là quí, sống hay chết, đều có mệnh, cái lòng ham sống sợ chết, ai mà chẳng có, chỉ hỏi ở chỗ  nên sống nên chết như thế nào, để làm cho mệnh và nghĩa được hòa hợp với nhau mà thôi. Cho nên Nho và Thích đều không cho phép người ta xem nhẹ cái chết. Chưa đến cái lúc như nước lìa chằm, bể nổi sóng thì không chịu TRÍ MỆNH, không chịu NIẾT BÀN. Nhưng đã đến lúc ấy thì cũng không thể không TRÍ MỆNH, không NIẾT BÀN, chĩ làm sao cho thích đáng với chữ NGHĨA mà thôi. Nếu nhân nghĩa không tinh thục, trí ý không cao minh, không thấu suốt con đường sinh tử, như Tử Lộ chết vì Khổng Khôi (84) và những tục tăng ngày nay vô cố mà tự thiêu, đều là kẻ thù của tính mệnh.
 
*Chú thích:- [85]: Văn Tín Quốc công: Văn Thiên Tường tự là Tống Thụy, hiệu là Văn Sơn, sinh ở Cát Thủy, đời Tống, đỗ tiến sĩ làm quan đến chức Phủ sứ tỉnh Sơn Tây. Khi quân Nguyên vào, ông ứng chiếu cần vương đi sứ Nguyên, bị bắt, ông trốn về, được phong hữu thừa tướng Tín Quốc Công, ông mộ quân khởi nghĩa khôi phục nước Tống. Sau thua trận bị bắt, ông không khuất phục bị chết ở Sài Thị.

*Chú thích:- [86]: Tử Lộ là gia thần Khổng Khôi nước Vệ. Mẹ Khổng Khôi muốn đưa Khoái Quý về làm vua, ép Khôi phải thờ trên đàn, Tử Lộ vào cứu Khôi, gặp Tử Cao chạy ra bảo rằng không kịp nữa, Tử Lộ nói:” Ăn lộc người chẳng nên từ lánh hoạn nạn”. Nói rồi xông vào và bị đánh chết.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 11:55:32 PM »

(tiếp theo)

PHÁN  THANH

( Tiếng QUYẾT ĐOÁN)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

Sao lại nói là PHÁN THANH? Chữ PHÁN có nghĩa là ĐOÁN ( quyết đoán). Quyết đoán cho rằng đạo Thích là đáng được ái mộ, quyết đoán cho rằng đạo Thích là đáng ghét bỏ, ở đời cũng có nhiều người như vậy. Chỉ có điều phải hỏi:” Sở dĩ ái mộ hay ghét bỏ là do đâu, thế thôi”. “ Phượng hoàng kêu trên gò cao”, nào phải cầu cho người ta thích nghe đâu.

 Người ta thích cái tiếng điềm lành của nó mà muốn nghe, nhưng nếu không phải đạo thì “ phượng hoàng bay vút chỗ  nghìn tầm” mà tránh đi cho xa. Còn như tiếng ve, tiếng ếch, muốn bắt chước tiếng phượng hoàng, thì chỉ làm cho người ta ghét mà muốn đuổi đi. Những ai muốn tìm hiểu đạo Nho, đạo Phật, cũng phải có cái nhìn như thế.

Chương này nói khéo cho người ta biết yêu ghét phải đường và cũng răn người học đạo, chớ nên cầu được người ta hâm mộ, chỉ tổ làm cho người ta ghét. Cái lẽ này nếu không phán đoán thẳng thắn thì không rõ được, cho nên gọi là PHÁN THANH.

*

*   *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền Sư nói rằng:

o Tần Thủy Hoàng ghét Nho, Đường Vũ Tông ghét Phật. Đại phàm có điều gì đáng ghét, người ta mới ghét. Đại Nho, Đại Phật ai mà ghét được?

Lại nói:

 o Kẻ nào biết Phật thì không mộ Phật, kẻ nào mộ Phật thì không biết Phật.Phật không muốn được chúng sinh kính mộ. Chúng sinh muốn thành Phật, mới kính mộ Phật. Hàn Xương Lê (85) nói rằng:” Bắt buộc tăng nhân trở lại làm dân, gieo sách Phật vào đống lửa, biến chùa chiền thành nhà tranh”

. Không kính mộ Phật là giải thoát KIẾN TRỌC, được vào VÔ DƯ NIẾT BÀN (87)


Đồ đệ bạch với Thầy rằng:” Xương Lê đã đến bậc nhất Phù Đồ chưa?

Thầy đáp rằng:” Mới đến bậc ba bậc bốn. Xương Lê cũng có Ý ( theo ý riêng mình) và TẤT (câu chấp), chẳng bằng không có Ý, không có TẤT (88) mới thật là tốt.

*

*   *

Thanh chú:

Hòa Thượng Hải Âu nói:

Phải có cái nơm, cái đó để bắt con cá, con thỏ, đã bắt được  con cá con thỏ , thì không phải bo bo với cái nơm, cái đó nữa. Phải có cái bè, cái thuyền để qua sông, khi đã qua sông rồi thì không phải bo bo  với   cái thuyền, cái bè nữa. Đạo Phật là hư vô tịch diệt, minh tâm kiến tánh. Biết Phật là biết đạo Phật quên người, quên ta, ân thù như nhau, quên cả cái ta thì còn ái mộ cái gì. Kẻ nào không biết Phật thì đàm luận kinh kệ. vắt óc tìm cái bất khả tri ( không biết được). Tịnh Thổ ( nơi các vị Bồ Tát ở) và Liên Đài ( nơi Phật ở), nhận chân ở chỗ  không, đều nêu lên một chữ MỘ (Phật), là tỏ ra không biết Phật. Vì vậy cho nên, Thích gia nói TUYỆT HỌC, huyền môn nói TUYỆT THÁNH, đều có ý nghĩa không mộ Phật. Phật không tự mộ, há cầu chúng sinh mộ.

Chúng sinh muốn thành Phật cho nên phải mộ Phật. Kẻ nào mộ Phật là chê Phật. Xương Lê nói:” bắt người của Phật ( tăng) trở về làm dân, gieo sách Phật vào lửa, biến chùa chiền thành nhà tranh”, đấy là không kính mộ Phật; so sánh [ Xương Lê] với những bọn tăng ni chạy trên đàn, ngồi thiền định, thì [ Xương Lê] là người giải thoát KIẾN TRỌC. Nhưng Phật không có người, không có sách, không trú ở đâu thì [ Xương Lê] nói người Phật, sách Phật, nhà Phật (chùa chiền) là còn mang nặng một tầng chướng ngại. Thế thì mộ Phật cố nhiên là không biết Phật, mà bài Phật há phải rằng biết Phật? Cho nên Thầy bảo Hàn Xương Lê còn ở dưới bậc ba, bậc bốn. Có người hỏi thế nào là Phù Đồ bậc nhất? Kệ rằng:

Quan Âm là Quan Âm

Hòa thượng là Hòa thượng

Người, ta đều dửng dưng

 Không có nhân ngã tướng

Bà phu nhân của Trương Thừa tướng  đời  Tống, có ông chồng làm bài Vô Phật biện. Phu nhân nói:” Phật vốn không, cần gì phải biện”. Như thế là bậc nhất của Phù Đồ. Còn như Nho mà sở hành là Mặc, Thích mà khẩu Phật tâm xà, đó chỉ là những con mọt của đạo Nho, những kẻ thù của đạo Phật, đều không được đạo Nho và đạo Phật đếm xỉa đến. Tần Thủy Hoàng chôn nhà Nho, Đường Vũ tông giết sư sãi, là vì [hai ông hẳn] có bực tức gì đó mà ghét. Nhưng ghét mà đến nỗi chôn và giết, thì thật quá lắm. Hai vua kia thật là phạm lỗi quá mức. Đại Nho thấu đạo mà không ai có thể dị nghị. Đại Phật xuất thế mà không ai có thể hay biết. Không thấy được chỗ  khả ái (của Đại Nho, Đại Phật) thì làm sao thấy được chỗ  khả ố?

*Chú thích:- [87]:Xem chú thích 12 ( lời tựa)

*Chú thích:- [88]: Bài NGUYÊN ĐẠO của Hàn Dũ

*Chú thích:- [89]: Phật giáo quan niệm có nhiều loại Niết Bàn: Hữu Dư Niết bàn (còn sinh diệt) và Vô Dư Niết bàn (không có sinh diệt)

*Chú thích:- [90]: Sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn:” Tử nguyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”, nghĩa là: không chủ quan, không thành kiến, không cố chấp, không thiên lệch.


*

*   *
 

Tăng Hải Hòa nói:

 
Người ta bảo Tần Thủy Hoàng ghét Nho, Đường Vũ tông ghét Phật. Không phải thế! Tần Thủy Hoàng xưng hoàng đế, tức là biết được cái đẹp của Hoàng và Đế ( Tam Hoàng, Ngũ Đế). Đường Vũ tông thương xót chúng sinh, không để cho trầm luân bể khổ, cho nên bỏ cái phép Phù Đồ, răn cái dân lười biếng, như thế là biết được cái diệu ý của Như Lai. Hai vua kia yêu Nho, yêu Phật tột mức vậy. Nhưng Nho thì có loại thích tự cho mình là phải, thích bàn việc đúng sai của người; Phật cũng có loại thích cho mình là phải, thích nói khoác để dối người, khiến người ta không ghét không được. Vì vậy cho nên kẻ nào biết Phật mà  thành tâm thích Phật, thì không cần phải trang hoàng bảo tướng, phụng sự kim dung, không cần phải niệm luôn luôn, lạy luôn luôn mà tự dưng có Phật ở trong lòng vậy.


Đạt Ma thiền sư (89) nói:” Tâm là Phật, Phật là tâm, không nên đem tâm mà rối Phật, không nên đem Phật mà rối tâm”, như thế thì cần gì phải kính mộ Phật? Đại để, đức Phật ta vốn là vô sinh, vô diệt, vô sắc, vô tướng, và cũng là vô họa phúc, vô báo ứng. Tăng ni chẳng phải là người của Phật, kinh điển chẳng phải là sách của Phật, chùa chiền chẳng phải là nhà của Phật. Tăng ni không phải là người của Phật, lâu ngày ắt hoàn tục, không hoàn tục là bởi nó, cần gì phải bắt tăng ni về làm dân?

Kinh điển không phải là sách của Phật, lâu ngày sẽ tự mục nát, không mục nát là bởi nó, cần gì phải gieo kinh điển vào lửa? Chùa chiền không phải là nhà của Phật, lâu ngày sẽ tự sụp đổ, không sụp đổ là bởi nó, cần gì phải biến chùa chiền thành nhà dân? Phật vốn hư vô, mà Xương Lê lại cho là thực hữu, rồi sau đó lại cho là không có, thật là đa sự. Xương Lê chỉ được vào Vô Dư Niết bàn chứ chưa đến được cái “ tam muội” ( chánh định) vô ý, vô tất.
 
*Chú thích:- [91]:Bồ-đề Đạt-Ma = Tổ 28 của Ấn Độ và là Sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa.
 




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Mười 26, 2012, 12:06:23 AM »

(tiếp và hết)


BẤT  QUẢ  THANH
(Thanh KHÔNG THÀNH)

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

BẤT  QUẢ  THANH là theo nghĩa BẤT QUẢ  PHONG của quẻ TỐN trong Chu Dịch. Gió  đi  bốn phương, phát ở bốn mùa, thế nào cũng thành  (quả). Nhưng cũng có thể không thành ( bất quả). Gió có cái gió chẳng thành ( bất quả phong). Đông Nam nhiều nước,  Tây Bắc nhiều núi, từng nơi đều  có cái phận chịu gió. Người nào xem gió bốn phương thì biết cái phận của mười phương. Chương này nắm chặt chữ Ý. Ý trời không phải ý, ý người cho ( ý trời) là ý.

Ai nghe BẤT QUẢ THANH cần phải tu BẤT QUẢ Ý.
 
*

*    *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền Sư nói:

Ý trời không lấy làm chắc, ý người mới làm chắc! Cái Ý có thể sinh cái KIẾN ( thấy). Thánh hiền thì nơi nào mà chẳng sinh. Cái đẹp thanh hoa (trong sáng) trời lấy làm quý; cái đẹp u thâm ( thầm kín) được trời cất giấu. Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, Chu công, Khổng Tử tiếp được cái đẹp thanh hoa mà sinh; chư Phật, Bồ Tát đứng lên ở cực Tây, các vị Tổ của Liêu, Kim, Nguyên đứng lên ở cực Đông, cực Bắc đều là những vị vua kế thiên lập cực ( nối trời dựng nghiệp) mà cũng là do cái đẹp u thâm mà sinh ra.


 Vì vậy, trong đạo không có gì lớn bằng ý. Trong Ý không có gì lớn bằng vận. Trời có vận của trời, Thánh hiền có vận của Thánh hiền. Còn như vận hành mười phương thì cái Đại Phác mới làm nổi. Trong văn tự quăn queo, trong tiếng nói líu lường có cái Đại Phác của trời ở đó, chúng ta không thể xao lãng.

Kệ Hoa Nghiêm rằng: vì có trang nghiêm [ cho nên] con mắt rất trong sáng. Con mắt của cha mẹ sinh ra, thấy hết ba ngàn thế giới. Các chúng sinh trong đó đều hiện ra hết thảy. Tuy chưa phải là thiên nhãn, sức nhục nhãn (mắt thịt) đã được như thế.

*

*    *

Thanh chú:

Hòa Thượng Hải Âu nói:

Ý trời không lấy gì làm chắc, mà nó thụ tiếp rất lớn, không có gì hạn chế được. Ý người lấy làm chắc, vì nó thấy được điều rất nhỏ, chỉ quen thuộc với những điều thường thấy. Ý trời và ý người không giống nhau. Ý sinh KIẾN, Ý không giống nhau thì KIẾN cũng khác nhau. Trời bao che hết thảy. Nói về cái lớn của nó thì không có gì đặt tên và vẽ hình cho nó được. Nhưng lấy cái gần mà nói, thì cũng như cáin thân của một người to lớn mà thôi. Mưa gió, sấm sét thì cũng giống như hơi thở của người ta vậy. Sông ngói, bốn biển thì cũng giống như lỗ chân lông của người ta vậy. Tứ Đại Bộ Châu thì cũng giống như tứ thể của người ta vậy. Huyết mạch của con người thì tai mắt, tay chân không chỗ  nào là không đến, thế thì ý vận của trời há vì Hoa Hạ, Di Địch mà khác nhau sao? Cái đẹp thanh hoa là của báu của trời, tùy lúc mà phát dục. Cái đẹp u thâm, là cái ẩn giấu của trời, tùy lúc mà sản sinh, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn , Vũ, Chu công, Khổng Tử hoặc biết thiên hạ bằng chính sự, hoặc hóa thiên hạ bằng đạo đức, đều là cái đẹp thanh hoa vậy.

Chư Phật và Liêu, Kim, Nguyên thì hoặc lấy lời nói mà thức tỉnh thiên hạ, hoặc lấy tài trí mà chinh phục thiên hạ, đều là tiếp thu được cái đẹp u thâm, đều là những bậc thánh nhân theo vận mà sinh ra vậy. Bởi vì ý trời thì có mặt ở khắp mọi chỗ , mà chỗ  nào có ý thì khí cũng đến, vận hành thập phương, chỗ  nào cũng có người ứng vận mà sinh. Có cái đức thanh danh văn vật, có cái chỗ  thâm sơn cùng cốc, có cái nước ở ngoài khôn dư giáo hóa ( phạm vi cai trị của nước mình), nhưng gượng ép phân biệt cái nội, cái ngoại ở trong đó, không phải là ý trời vậy. Xưa kia, lúc mà cái Đại Phác chưa tan, vận trời ở tại Trung Quốc , thì Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn , Vũ, Chu công, Khổng Tử đứng ra mà đón cái vận ấy.

Khi mà chế độ lễ nhạc đã đến chỗ văn hoa cùng tột, thì văn tự quăn queo, ngôn ngữ líu lường, lại giữ được cái Đại Phác của trời. Vận ở chỗ nào thì hội đến gặp ở đó, mà Bố Tát, Kim, Liêu, nguyên dấy lên. Cho nên nói rằng: Trời có vận của trời, Thánh hiền có vận của Thánh  hiền. ĐẠO  không có gì lớn  bằng  Ý, ý trời  là như thế.  Người đời  thường  cho Nghiêu,  Thuấn, Vũ, là chính thống, Kim, Liêu, Nguyên là loạn Hoa, tôn Khổng Tử làm chính truyền, mà cho chư Phật là dị giáo. Tôn Khổng Tử thì vẫn là phải, nhưng bài chư Phật thì cũng không đúng, khác nào con sâu răng cười đốt ngón tay là Di Địch,  bó hẹp trong ý người mà không biết ý trời vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói:” Thấy hết ba nghìn thế giới, thấy hết các chúng sinh, tuy chưa có thiên nhãn, nhưng sức nhục nhãn đã được như thế”. Bó hẹp trong ý người thì chưa đến được chỗ  đó.

*

*   *

Tăng Hải Hòa nói:


Trung Quốc và Tứ Di, đều là chỗ được trời  bao che. Tự trời mà xem, không chia bỉ thử, nào phải đây là Trung Hoa mới quý, đó là Di Địch thì tiện! Tuy rằng tập tục bất đồng, ngôn ngữ khác nhau, nhưng những người bẩm thụ cái khí tốt đẹp của núi sông mà làm Thánh  hiền thì chỗ  nào chẳng có. Nhưng đất phát ra tùy lúc cho nên khí tốt đẹp chung đúc có nơi trước nơi sau. Chỗ  mà khí tốt đẹp phát ra thanh hoa đầu tiên là ở Trung Quốc. Thanh hoa phát ra quá lộ thì phải có lúc hết, do đó cái đẹp u thâm mới dấy lên mà kế tiếp. U thâm là cái chưa phát lộ.

Vậy thì những chỗ xa vời hẻo lánh, với văn tự quăn queo, ngôn ngữ líu lường mà cái đẹp chưa phát lộ, cũng sẽ đến thời phát lộ. Ý nghĩa của câu “ bách thế khả tri” ( biết được trăm đời về sau như thế nào) là như thế.



HẾT
-----------------

*Link tải sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (PDF) :-

http://www.mediafire.com/download.php?ce1yr7f84brp7h8


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec, HuuDuc
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Mười 26, 2012, 12:56:25 AM »

NGÔ THỜI NHẬM


Trúc Lâm Đệ Tứ Tổ star


Ngô Thời Nhậm sinh ngày 11/9 năm Bính Dần (25/10/1746) tại làng Tả Thanh Oai (tục gọi làng Tó) Trấn Sơn Nam (nay là xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình). Thuở nhỏ, ông tên là Phó, sau đổi là Nhậm, tên tự là Hi Doãn, hiệu là Đạt Hiên.


 Xuất thân từ một gia đình quí tộc, có truyền thống văn học, lên 7 tuổi, ông bắt đầu theo cụ nội là Đan Nhạc Công Ngô Trân, 11 tuổi thì đã đọc được kinh, truyện, sử…15 tuổi học với bố là Ngô Thời Sĩ (1726-1750). Ông vốn rất thông minh, lại cần cù học tập; 16 tuổi soạn được quyển Nhị Thập Thất Sử Toát Yếu, có lẽ là một thứ tóm tắt "Bắc sử" dùng vào việc thi cử, 17 tuổi sát hạch ở trường huyện, hai lần đều chiếm hạng ưu; 21 tuổi soạn xong Tứ Gia Thuyết Giả (không rõ sách gì). Vài năm sau thi đỗ khoa sĩ vọng và được hiến sát phó sử Hải Dương.

Cuối 1771, gặp lúc cha bị cách chức, ông xin về phụng dưỡng, cũng trong lúc này biên soạn quyển Hải-Đông Chí Lược, ghi chép núi sông, nhân vật, số dân, thuế lệ của trấn Hải-Dương.

Năm 30 tuổi, Cảnh Hưng năm Ất Mùi (1775) thi đỗ tiến sĩ. Khoa này có 18 người đỗ, không có đệ nhất, đệ nhị giáp, chỉ toàn là tam giáp tiến sĩ, ông đỗ thứ năm và được bổ cập sự trung bộ hộ, giữ nhiệm vụ xem xét công việc sai trái của bộ. Năm Bính Thân (1776), ông được thăng Giám Sát Ngự Sử đại Sơn-Nam, một chức vụ kiểm tra các việc ngục tụng, quân nhung, thuế khóa…của địa phương. Sau đó, có lần ông được làm giám khảo khoa thi hương ở Hải-Dương rồi thăng lên đốc đồng Kinh Bắc. Năm 1778, lại kiêm cả đốc đồng Thái-Nguyên. Năm Kỷ Hợi 1779 thăng hiện thư tòa Đông Các, có nhiệm vụ hiệu đính các văn từ sách vở. Thời gian này ông có tham gia đàn áp cuộc nổi dậy của Thổ Ty Hoàng Văn Đồng ở mỏ đồng Tụ Long (xưa thuộc Tuyên Quang). Sau đó ít lâu, ông lại đi kinh lược xưởng đúc bạc ở mỏ Tông Tinh (Thái-Nguyên).

Năm 1780, xảy ra vụ án Trịnh Khải, ông có dính líu đến vụ án này nên dư luận cho là "Sát tứ phụ như thị lang" (Giết bốn người cha được chức thị lang). Và cũng chính vì lý do đó năm 1782, sau khi Trịnh Khải nắm quyền, ông phải trốn ra vùng mà ngày nay thuộc Thái-Bình Hà-Nam-Ninh. Trong thời gian này ông vẫn sáng tác đó là tập thơ Thủy Vân nhàn vịnh và bộ Xuân Thu Quân Kiến ra đời.
Năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất chấm dứt quyền thống trị của họ Trịnh. Ngô Thời Nhậm từ am Lệ-Trạch (Thái-Bình) trở về Thăng Long nhận chức đô cấp sự trung bộ hộ, kiêm toàn tru Quốc sử của triều Lê Chiêu Thống.

Tháng 6 năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, Lê Chiêu Thống bỏ trốn. Ngô Thời Nhậm về ở ẩn tại thôn Kim Quan, huyện Thạch-Thất, Sơn-Tây, kết thúc cuộc đời làm quan cho triều đình Lê Trịnh. Trong những năm này ông viết nhiều sách như Kim Mã Hành Dư, Hào Mân Ai Lục và tập thơ Bát Hải Tùng Đàm.

Ít lâu sau, do Trần Văn Kỷ giới thiệu với Nguyễn Huệ, ông được làm Thị Lang Bộ Công, tước Trình phái hầu. Đây cũng là bước ngoặt của cuộc đời Ngô Thời Nhậm. Ngày Lê Chiêu Thống rước hơn 20 vạn quân Thanh sang dày xéo đất nước, Ngô Thời Nhậm đã thay Quang Trung viết bài chiếu lên ngôi, ông còn hiến kế rút quân về Tam-Điệp để tạo cơ hội cho Nguyễn Huệ mở cuộc hành quân thần tốc, lập nên chiến thắng Kỷ Dậu (1789) lịch sử.

Sau chiến thắng, Ngô Thời Nhậm cùng Phan Huy Ích được giao trách nhiệm tùy tiện ứng phó với nhà Thanh để yên việc chiến tranh. Các văn kiện ngoại giao do ông thảo trong thời kỳ này được tập hợp thành quyển Bang Giao Hải Thoại và cả trong Bang Giao tập.
Năm Canh Tuất 1790, ông được thăng Thượng Thư Bộ Binh; hai năm sau, kiêm chức Tổng Tài Quốc Sử Quán. Vua Quang Trung mất 1792, đầu năm sau, ông được triều đình cử làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong cho Quang Toản. Ông đã được Thanh Càn Long tiếp và được gặp các sĩ phu Tàu, những sáng tác của ông lúc này được tập hợp trong Hoàng Hoa Đồ Phả còn gọi là Sứ Trình Thi Họa hay Hoa Trình thi Vấn Gia.

Năm 1797, ông trông coi việc san tu quốc sử, nhân dịp này ông đã đem bộ sử của cha mình là Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ra khắc in (gồm 17 quyển, chính là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhưng đã được Ngô Thời Sĩ bổ sung tài liệu và xen vào những lời án của họ Ngô (Việt Sử Tiêu Án) và lời án của Nguyễn Nghiễm). Năm 1798, nhân được giữ chức Giám Từ Văn Miếu Bắc thành, ông cho sửa sang các nơi và xin mở các kỳ thi. Nhưng cũng trong thời gian này, nội bộ triều đình Quang Toản lục đục, do đó quân Tây Sơn đã bất lực trước sức tấn công của Nguyễn Ánh. Ngô Thời Nhậm buồn bã trở về mở thiền viện ở nhà riêng tại phường Bích Câu, viết tập Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.

Sau khi Nguyễn Ánh kéo quân ra Bắc, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan…đều bị đưa ra Văn Miếu đánh đòn. Vì có hiềm ức với Đặng Trần Thường, nên tuy là bạn cũ, ông đã bị y sai đánh một cách cố ý. Ông mất ngày 16/2 năm Quý Hợi (7/3/1803). Trong thời kỳ phục vụ nhà Tây-Sơn, ngoài những tác phẩm kể trên, ông còn viết được tập Hàn Các Anh Hoa và những tập thơ: Cẩm đường nhân thoại, Cúc Thu Thi Trận, Thu Cận Đương Ngôn, Liên Hạ Thi Minh…



Tác phẩm đã thực hiện:



1/ Nhị Thập Thất Sử Toát Yếu, 1761, thất truyền, có ghi trong Ngô gia thế phả.
2/ Tứ Gia Thuyết Phả, 1766, thất truyền.
3/ Hải Đông Chí Lược, 1771, thất truyền.
4/ Tự Học Toản Yến, ?, bài tựa trong Kim Mã Hành Dư. Có lẽ là sách tam Thiên Tự giảng nghĩa.
5/ Công Vụ Thành thư, 1778.
6/ Thánh Triều Hội Giám, 1781, đề cương có nói đến trong Kim Mã Hành Dư.
7/ Bút Hải Tùng Đàm, 1769-1782, có mặt trong Ngô gia thế phả, 3 quyển.
8/ Thủy Vân Nhàn Vịnh, 1782-1786, 3 quyển.
9/ Xuân Thu Quân Kiến, 1782-1786, 2 quyển.
10/ Kim Mã Hành Dư, 1775-1788, 13 quyển.
11/ Hoàng Hoa Đồ Phả, 1793, 7 quyển.
12/ Cúc Thu Thi Trận, 1796, 7 quyển.
13/ Ngọc Đường Xuân Khiến, 1786-1792, 7 quyển.
14/ Cẩm Đường Nhàn Thoại, 1795-1797, 4 quyển.
15/ Thu Cận Dương Ngôn, 1797-1798, 4 quyển.
16/ Hào Mán Ai Lục, 1780, 1800, 5 quyển.
17/ Bang Giao Hảo Thoại, 1789-1800, 11 quyển.
18/ Hàn Các Anh Hoa, 1789, 1801, 8 quyển.
19/ Liên Hạ Thi Minh, 1800, thất truyền, chỉ có bài "Thuyết" chép trong Ngô gia văn phái.
20/ Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, 1798-1802, 2 quyển, không thấy trong Ngô gia thế phả mà có sách in riêng.


Có một vài người nhận định rằng chính ông là tác giả bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Tuy nhiên trong Ngô gia thế phả và trong tùng thư của Ngô gia văn phái đều không hề thấy chỗ nào nói như vậy.

Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là tiếng nói của Ngô Thời Nhậm vào lúc cuối đời. Với tác phẩm này ông xuất hiện như một nhà tư tưởng. Tuy xuất thân là Nho học, nhưng tư tưởng thiền tông đã len vào tâm tư ông vào năm 1798 khi nhà Tây Sơn đi vào cơn khủng hoảng. Ông trở về nhà cũ mở Trúc Lâm thiền viện tại phường Bích Câu (gần Văn Miếu, Hà Nội. Ông đã thuật lại cuộc đời của mình và tư tưởng ba vị Tổ Trúc Lâm thành Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh chính là có ý muốn kế tục tinh thần thiền của phái Trúc Lâm đời nhà Trần.


Ông đặt tên kinh này là Đại Chân Viên Giác Thanh Kinh chia làm 24 chương một tên gọi khác là Nhị Thập Tứ Thanh (tức 24 tiếng). Nó đặc biệt ở chỗ kết hợp tư tưởng Nho và Phật. Trong thời kỳ mà thực tiễn cuộc sống xã hội đã làm cho những tín điều Nho giáo bị lung lay đến tận gốc, thì quan niệm tam giáo đồng nguyên đã được biết từ thời xưa, nay được dịp nhắc lại ở đây. Kiến giải của ông về lý và dục, tính và tâm, thể và dụng, sinh và diệt không phải không có những nét độc đáo và mới mẻ.

Như Phan Huy Ích đã cho biết trong lời tựa kinh Đại Chân Viên Giác Thanh (Bính Thìn 1796), Ngô Thời Nhậm "là một người kinh nghiệm rất giàu, sở đắc rất tinh, tam giáo cửu lưu, bách gia chu tử, không gì là không nghiền ngẫm đến nơi đến chốn". Nghiên cứu cái giá trị tinh thần phá chấp của ông trong "Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh" sẽ giúp ta tìm hiểu phần nào tư tưởng của một thời kỳ sôi động cuối thế kỷ 18.

Người đương thời gọi ông là Tổ thứ tư Trúc Lâm. Hai nhà sư Hải Hòa và Hải Âu thường giao du với ông vẫn gọi ông là Hải Lượng Đại Thiền Sư.


Cao Xuân Huy, Lâm Giang dịch

star Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Sách tham khảo Hán Nôm. Nhà xbkhxh 1978 Hà Nội.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec, HuuDuc
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 26, 2012, 01:05:57 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.293 seconds với 25 câu truy vấn.