Tháng Tư 04, 2020, 04:12:55 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH--Ngô Thì Nhậm  (Đọc 8987 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 12:13:11 AM »

LGT:- "Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh" là tác phẩm quan trọng của Ngài Ngô Thời (Thì) Nhậm, được người nghiên cứu Phật học đánh giá cao. Sau Trúc Lâm Tam Tổ (Điều Ngự, Pháp Loa, Huyền Quang) thì Ngô Thì Nhậm được tôn là "Trúc Lâm đệ tứ tổ" (Tổ thứ tư của Thiền phái Trúc Lâm) là nhờ vào tác phẩm nầy.
Hiện nay trên mạng Int. chưa thấy phổ biến bản dịch tác phẩm trên. Nay xin cảm ơn huynh Chánh Minh Vinh đã gởi tặng bản đánh máy có kèm file ảnh chữ Hán, làm thành file .PDF rất đẹp.

Xin hân hạnh giới thiệu cùng quí huynh đệ.

Chánh Nguyên

------------------------
Dưới đây là bài giới thiệu khái quát về Ngô Thời Nhậm :-


TRÚC LÂM
TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH



NGÔ THÌ NHẬM - HẢI LƯỢNG ĐẠI THIỀN SƯ



Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803)
là danh sĩ, nhà văn, nhà tư tưởng đời Hậu Lê - Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh tan quân Thanh. Ngô Thì Nhậm xuất thân từ gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, (tục gọi là làng Tó), trấn Sơn Nam (nay là xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Nội). Thuở nhỏ, ông tên là Phó, sau đổi là Nhậm, tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên. Ông là người thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông đỗ khoa sĩ vọng năm 1769, rồi tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê - Trịnh, được chúa Trịnh Sâm quý mến. Năm 1778, ông được bổ làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Khi đó, cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương trong thiên hạ.

Sau vụ án năm Canh Tý (1780), Ngô Thì Nhậm bị nghi ngờ là người tố giác Trịnh Khải, nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền". Danh sĩ Bắc Hà đầu quân cho nhà Tây Sơn từ trước đó mới chỉ có Trần Văn Kỉ, Ngô Văn Sở và Đặng Tiến Đông. Ngô Thì Nhậm và một số thân sĩ khác, như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch; các tiến sĩ, như Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan, Đồn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Phạm Huy Lượng... sau này đã lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn.star

Cuối năm Mậu Thân (1788), do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê, Ngô Thì Nhậm đã hiến kế giúp vua Quang Trung lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng quân Thanh của nhà Tây Sơn. Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư. Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Ngô Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa.

Sau khi Quang Trung mất (năm 1792), Ngô Thì Nhậm không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học. Gia Long tiêu diệt được nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích bị đem ra kể tội và đánh đòn tại Văn Miếu. Ngô Thì Nhậm qua đời tại quê - làng Tó, Tả Thanh Oai, đó là ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi tức ngày 7 tháng 4 năm 1803.

Tuy chỉ hưởng thọ 57 tuổi, nhưng Ngô Thì Nhậm đã có nhiều cống hiến cho dân tộc. Đặc biệt, ông đã để lại một kho tàng văn thơ có giá trị cho những người đời sau học hỏi và nghiên cứu. Ở đây, có thể kể đến một số tác phẩm lớn của Ngô Thì Nhậm về văn, thơ và phú.

Về thơ, Ngô Thì Nhậm có một số tập thơ nổi tiếng, như Bút hải tùng đàm, Thủy vân nhàn đàm (Thủy vân nhàn vịnh), Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn, Cẩm đường nhàn thoại, Hy Doãn công thi văn tập, Hoàng hoa đồ phả, Sứ trình thi họa, Yên đài thu vịnh. Về phú, ông có 17 bài chép ở tập Kim mã hành dư. Về văn, ông có một số tác phẩm lớn, như Hàn các anh hoa, Bang giao hảo thoại, Xuân Thu quản kiến, Kim mã hành dư và đặc biệt, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được coi là tác phẩm thể hiện nổi bật nhất tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm. Ông viết Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh với ý muốn xây dựng thành kinh sách để thuyết pháp, trong đó nội dung thể hiện rõ sự kết hợp giữa Nho, Phật và Lão, nhằm kế tục Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Do vậy, người ta gọi ông là tổ thứ tư của Thiền phái Trúc Lâm. Còn sư Hải Hòa và hòa thượng Hải Âu thì gọi ông là Hải Lượng đại thiền sư. Ông đặt tên kinh này là Đại chân viên giác thanh. Kinh chia làm 24 chương nên cũng gọi là Nhị thập tứ chương kinh; mỗi chương là một thanh (Thanh là lời nói, thanh cũng là giáo lý), mỗi thanh gồm ba phần là Thanh dẫn, Chính văn và Thanh chú.

Tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm hình thành và phát triển gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII, cùng với đó là sự kế thừa những quan điểm của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và tư tưởng của Tống Nho cũng như ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng của cha mình là Ngô Thì Sĩ. Tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm thể hiện rõ ba phương diện cơ bản của triết học là bản thể luận, nhận thức luận và triết lý nhân sinh xã hội với những nét độc đáo khác nhau, tạo nên một tư duy mới cho dòng tư tưởng lúc bấy giờ.

Về mặt bản thể luận, trước hết, Ngô Thì Nhậm cho rằng, bản thể vũ trụ là hoá công, chính hoá công đã làm cho vũ trụ có một hình hài tương đối hoàn chỉnh và chất chứa những điều kỳ diệu. Ngoài tư tưởng bản thể là hoá công, ông còn coi bản thể là trời. Theo ông, nhờ có trời mà vạn vật được sinh sôi nảy nở, cũng nhờ có trời mà vạn vật có một trật tự ổn định. Tuy nhiên, đôi khi ông không đề cao vai trò của trời và hoá công mà cho rằng, việc vạn vật tồn tại trong thế giới này chỉ là sự tồn tại một cách tự nhiên, không do ai sắp đặt.

Trong tư tưởng về bản thể, Ngô Thì Nhậm còn tiếp thu quan điểm Thiền tông. Ông coi bản thể là Phật tính (buddha - svabhava); Phật tính cũng được gọi là Chân như. Chân như theo Thiền tông là cái bất sinh, bất diệt, vô thỉ, vô chung, là chí nhất và chí đa, chí tĩnh và chí động, chí nhu và chí cương; Chân như này giống như phạm trù Đạo của Lão - Trang và phạm trù Thái cực “bất dịch mà biến dịch” của Chu dịch. Trong triết học của Ngô Thì Nhậm, Chân như được tượng trưng bằng hình ảnh của mây và nước, vận động không ngừng và bao trùm cả vũ trụ. Theo ông, bình thường thì nước trông có vẻ nhu nhược, song chính nó lại là cái công phá được những vật cứng mạnh, vì nước còn có cái lực bên trong mà bằng mắt thường không thể thấy được, đó chính là chí nhu và chí cương của vật.

Bản thể vũ trụ ở Ngô Thì Nhậm là u huyền, lặng lẽ, nhưng cũng rất lưu động, biến thiên. Ngô Thì Nhậm đã nhận thấy thế giới này là một thể thống nhất hoàn chỉnh, tất cả đều bắt nguồn từ một mối nhất định. Theo ông, “số của trời bắt đầu từ một nguyên, lý của âm dương bắt đầu từ một khuyên. Số “một” là nơi hoá công chứa cái “vô tận” và thánh nhân chứa đựng những cái không bao giờ hết, chỉ có núi sông và trăng gió mới đương nổi mà thôi”(1). Thế giới này sinh ra từ sự hỗn độn, nhưng nó đều bắt nguồn từ một điểm duy nhất, nhìn vào đó có thể thấy một trật tự ổn định mà không cần phải suy xét. Không dừng lại ở đây, ông còn nhấn mạnh sự thống nhất của thế giới ở chỗ: ““vạn” quy vào “một”, hợp cái khác nhau vào chỗ “nhất quán”, vào cái “lý”, cái “số” cả trời đất, âm dương đều ở đó”(2). Như thế, ông đã thấy được sự thống nhất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, qua việc nhấn mạnh vai trò của số một. Nhờ có số một mà vạn vật mới hợp lại thành hình, nhờ số một mà hoá công mới có nơi cất giấu những điều bí ẩn của mình. Theo ông, “trời được một số mà trong, đất được một số mà yên, thánh nhân được một số mà thiên hạ đâu vào đấy”(3).

Ngô Thì Nhậm không chỉ dùng số “một” để diễn đạt tư tưởng của mình mà bên cạnh đó, ông còn dùng từ “đình” có nghĩa là “chứa đựng” để thể hiện tư tưởng của mình một cách rõ ràng và dứt khoát hơn. Ông đã cảm nhận được vạn vật trong vũ trụ này đều chứa đựng trong một vật dụng vô hình của trời đất, nhờ cái vật dụng vô hình đó mà muôn vật, muôn loài đều được che chở. Con người sở dĩ tập trung lại được với nhau là nhờ có “đình”. Ông viết: “Trời lấy “đình” (chứa đựng) để nuôi muôn vật; đất lấy “đình” để chứa muôn loài; người ta lấy “đình” để tụ họp với nhau mà muôn vật muôn loài đều là khách. Cho nên nơi người ta tụ họp lại với nhau thì có “đình””(4).

Tuy nhiên, theo Ngô Thì Nhậm, không phải nằm trong sự thống nhất mà vạn vật trở nên bất động. Chính trong sự thống nhất và mâu thuẫn giữa một và nhiều mà sự vật không ngừng biến đổi, phát triển. Ở ông, sự vận động, biến đổi của thế giới không phải do một cá nhân, một lực lượng nào sinh ra, mà nó diễn ra một cách hết sức tự nhiên.

Vẫn là sự tiếp thu tư tưởng Thiền tông, Ngô Thì Nhậm đã xuất phát từ âm thanh của cái không để làm rõ hơn tư tưởng, quan điểm của mình về bản thể. Theo ông: “Trong cái không mà có thanh thì thanh ấy không biết từ đâu đến, cũng không biết nó đi đâu, đón trước thì cũng không biết chỗ nó bắt đầu, theo sau nó thì không biết chỗ nó chung kết, sang sảng, oang oang không dừng lại một giây”(5). Như vậy, theo ông, sự xuất hiện của tiếng không là điểm xuất phát của vạn vật trong vũ trụ và khi thời cơ chưa đến thì tiếng không còn ở trong sự hỗn độn, mịt mờ. Trong Ẩn thanh, ông viết: “Từ một luồng khí thông thoáng hỗn độn chưa chia, muôn vàn hiện tượng sinh ra từ cái không, cái không cũng chính là Thái cực”(6).

Ở đây, nếu đứng ở góc độ Phật học, chúng ta thấy không là thể tính của vạn hữu, bất sinh bất diệt, không từ đâu tới cũng không đi về đâu, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, khái niệm. Trong triết học Phật giáo thì không cũng là một khái niệm đa nghĩa, không có nghĩa là bản thể, khởi nguyên, cội nguồn của vũ trụ, vạn vật. Tuy nhiên, ở Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy có bước phát triển mới hơn. Ông không chỉ giải thích vấn đề ở một góc độ tản mạn, không chỉ dựa vào kiến thức Phật học, mà còn đứng trên cả lập trường của Nho giáo để phát triển tư tưởng của mình: không không chỉ là thể tính của vạn hữu, bất sinh, bất diệt mà đứng về phía Nho học thì không còn là thái cực, là khí hỗn nguyên. Ngô Thì Nhậm đã tán đồng với những quan điểm của các nhà Nho đời Tống, khi ông xác định vạn vật của vũ trụ này đều sinh ra từ Thái cực.

Tuy nhiên, chúng ta thấy vạn vật trong thế giới này rất đa dạng mà Thái cực chỉ chỉ có duy nhất một thì làm thế nào vạn vật sinh sôi nảy nở được, cái làm cho Thái cực biến thành những sinh vật cụ thể vô cùng phong phú, đa dạng nhưng lại mang trong mình bản chất Thái cực là gì đây? Trả lời cho vấn đề này, các nhà Lý học đời Tống đều cho rằng, nhờ có lý mà Thái cực sinh hoá thành vạn vật, nó gắn liền, tồn tại ở trong mọi sự vật, hiện tượng cụ thể. Ngô Thì Nhậm cũng coi lý là điều kiện để Thái cực sinh hoá thành vạn vật. Theo ông, lý là không, là cái mà “Tý chưa mở (chưa có trời), Sửu chưa sinh (chưa có đất) thì thanh ở nơi hỗn độn”(7). Ông còn cho rằng, lý là đạo, là đường lối vận hành của vũ trụ, phân tán thành vạn vật, cái thể thì đồng nhưng cái dụng thì dị. Đồng là gốc mà dị là ngọn, xem bề ngoài thì tưởng như khác đường khác nẻo, nhưng thống hội lại đến chỗ cực kỳ tinh vi thiết yếu thì chẳng có gì vượt ra ngoài đạo lớn kia được.

Ngô Thì Nhậm coi khí chính là cái gốc của vạn vật, nhờ có lý thì khí mới chuyển hoá thành sự vật phong phú, đa dạng khác nhau, trời đất đều có hình, có khí, vạn vật đều bẩm khí ở trời và thành hình ở đất. Theo ông, chính hai khí âm dương đọng lại thành vật tượng. Ông cũng coi đạo là cái không do ai sinh ra và cũng không ai có thể làm nó tiêu tan mà bản thân đạo phát sinh từ tự nhiên, tự nhiên nó đến, không ai có thể thay đổi được đạo. Ông tin vào đạo, tin vào những gì đạo mang đến cho con người. Vạn vật trong vũ trụ này đều từ đạo phát ra, một gốc phân tán ra làm vạn vật, vạn vật khác nhau hợp lại làm một gốc. Bên cạnh đó, ông còn coi sự xuất hiện của con người là do khí trời sinh ra, thừa nhận hình thể con người là do hình và khí tạo nên. Theo ông, cái thân thể của con người là đồng chất với trời đất, chỉ khi nào có cái tinh thần rồi mới có cái thân thể.(6)

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, vukhoan19862012, Ngoisaobiec, tuequang, mavuong
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 22, 2012, 12:21:17 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 12:15:19 AM »

(tiếp theo)

Như vậy, có thể nói, bản thể luận trong tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm không chỉ mang sắc thái quan điểm Phật giáo, mà còn chứa đựng triết lý Nho và Lão, cho thấy rõ mong muốn dung hoà “tam giáo” của ông. Ngô Thì Nhậm đã lấy cái không làm điểm xuất phát, không còn là Thái cực, từ không (thái cực) xuất hiện trời đất và trời đất vận hành sinh ra bốn mùa, tạo nên một quy luật khách quan vốn có trong vũ trụ. Ông không chỉ giải thích nguyên nhân sự xuất hiện thế giới, mà còn chỉ ra sự vận động, biến đổi không ngừng của vạn vật. Ông đề cao vai trò của đạo, sự lưu hành đạo, cũng nhờ có đạo mà vạn vật trong trời đất mới được vận hành và phát tán.

Nhìn chung, khuynh hướng chủ đạo trong bản thể luận của Ngô Thì Nhậm là hướng đến sự dung hoà “tam giáo”. Ông không phải là người đầu tiên theo xu hướng này, nhưng sự hòa hợp của ông không giống như các nhà tư tưởng khác. Ông đã không bê y nguyên các phạm trù về bản thể luận của Phật, Nho, Lão dung hợp thành các phạm trù của mình như các học giả đời Tống, mà chỉ sử dụng các phạm trù Tống Nho đã tạo dựng, như tâm, tính, lý, dục để giải thích trở lại các quan điểm triết học của Phật giáo.

Về Nhận thức luận, Ngô Thì Nhậm cho rằng, cái cần nhận thức ở đây chính là cái lý của thế giới sự vật, hiện tượng đang tồn tại. Sự vật hiện tượng trong thế giới này rất phong phú, đa dạng, chỉ dùng mắt thường con người không thể tiếp cận hết sự vật, mà chỉ thấy cái dáng vẻ bề ngoài mà thôi. Cái con người cần nhận thức không chỉ là cái hình bên ngoài, mà phải thấu hiểu được cái ý bên trong của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Do vậy, đòi hỏi phải dùng cả tâm để nhận thức thì mới thấu đáo được sự vật, sự việc.

Khi tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, Ngô Thì Nhậm đã coi khởi nguồn của thế giới này bắt đầu từ không, không chính là điểm xuất phát của vạn vật và không cũng là Thái cực. Sở dĩ Thái cực sinh hoá thành vạn vật là nhờ có lý. Trong tư tưởng của mình, ông coi lý là đạo, là đường lối vận hành của vũ trụ, của khí, là nơi mà vạn vật trong trời đất phát tán ra. Do vậy, đối tượng nhận thức trong triết học Ngô Thì Nhậm là hướng vào lý, nhận thức lý, có nhận thức được lý thì mới hiểu thấu cả hình lẫn ý của sự vật. Lý là cái cần phải có trong sự vật và bản tính của lý là có ngang, có chếch, có cong, thẳng như cái thớ của cây. Sự ngang, chếch, cong, thẳng đó chính là cái ẩn dấu bên trong của sự vật con người cần nhận thức. Coi lý là đạo, là đường lối vận hành của vũ trụ, là quy luật của tự nhiên, ông cho rằng, con người phải thuận theo đường lối ấy, vì có thuận theo quy luật của tự nhiên thì mới tồn tại được. Nhưng sự thuận theo lý ở đây không phải là sự thuận theo tuyệt đối, vì có những trường hợp con người phải đi ngược với đạo, sự đi ngược này nếu đưa vào xét trong ánh sáng của dục, nghĩa là tính chất và khuynh hướng nằm sẵn trong tự thân của sự vật thì sự đi ngược vẫn nằm trong lý. Ngoài ra, việc không noi theo lý một cách tuyệt đối được là do lý còn có thuận, có nghịch. Cái lý tuyệt đối bao gồm cả thuận và nghịch. Lý có thể thuận theo được khi đạt đến thái độ phá chấp.

Hiểu được lý sẽ giúp con người không bị mê hoặc khi tiếp cận sự vật và còn là cơ sở để con người đi đến sự tĩnh lặng, diệt được vô minh vốn tồn tại trong bản thân mỗi người. Nói theo quan điểm nhà Phật có nghĩa là hướng con người đến trạng thái tịch diệt. Cho nên, mục đích nhận thức trong triết học Ngô Thì Nhậm là tịch diệt. Ở đây, tịch là trái với huyên (ồn ào), diệt là trái với khởi (dậy). Trong bản thân con người thì sự “ồn ào” và “dậy lên” là tính người còn sự “lặng lẽ” và “dập tắt” là tính trời, cùng với nhân tâm, đạo tâm gần giống nhau. Trên thực tế thì cái tính trời rất khó dậy mà tính người lại rất khó diệt, cái mừng, cái giận, cái vinh, cái nhục xâu xé lẫn nhau ở trong lòng và đó chính là những cái chướng ngại vốn có trong bản thân con người.

Vì coi lý là đối tượng nhận thức quan trọng để con người đạt đến tịch diệt, cho nên đặc điểm nhận thức trong triết học của Ngô Thì Nhậm là nhận thức trực giác. Nhận thức trực giác là sự nhận thức không đòi hỏi phải có sự suy xét, kinh nghiệm hay sự phân tích của tư duy, lý trí mà nhận thức trực giác là sự cảm nhận trực tiếp. Từ sự cảm nhận trực tiếp mà con người có thể đưa ra được những suy nghĩ, ý kiến của mình xung quanh các vấn đế về thế giới, con người,.. Khi xác định bản thể của thế giới bắt nguồn từ không và đòi hỏi nhận thức lý thì không thể dùng kinh nghiệm hay lý trí để giải thích cho vấn đề này được, mà chỉ có thể sử dụng trực giác để đi sâu vào bản chất để nhận thức. Điều này không chỉ phù hợp trong một, hai hoàn cảnh nhận thức nhất định, mà nó là điều cần thiết tối ưu trong tất cả các đối tượng nhận thức. Chỉ có dùng trực giác thì sự vật mới hiện lên đúng như nó tồn tại.

Về phương pháp nhận thức, Ngô Thì Nhậm cho rằng, nhận thức chỉ được chân xác khi dứt bỏ tư dục và ông đưa ra một số phương pháp nhận thức, như phát tưởng, hành tàng, thiền, tinh tiến, tinh nhất, khắc kỷ, sát hại, giáo dục, học hỏi,… Phát tưởng là phương pháp cần có trong quá trình nhận thức của con người. ở đây, tưởng là nhận thấy đối tượng, gồm có tâm và đối tượng. Tu sĩ tu luyện đến mức độ nhất định có thể vượt khỏi tưởng, gọi là phi tưởng. Tu luyện đến mức độ cao hơn nữa, tinh tế đến mức không còn cái gọi là tưởng hay phi tưởng gọi là phi phi tưởng. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng phát tưởng, bởi trong con người thường có sự vọng tưởng, mà đã vọng tưởng, thì tâm động, không yên tĩnh, càng tưởng càng dẫn đến sự bế tắc trong tư tưởng, từ đó sẽ không vượt qua được tưởng để đến cái phi tưởng, phi phi tưởng. Duy chỉ có những bậc thánh hiền mới có khả năng phát tưởng, bởi tâm họ không chứa dục vọng, không động. Hành tàng cũng là một trong những phương pháp quan trọng, hành có nghĩa là hành đạo, tàng có nghĩa là cái đạo được giấu kín. Tàng là cái đạo đức chứa bên trong của người quân tử, còn hành là cái sự nghiệp được biểu lộ ra bên ngoài. Thiền là một phương pháp không thể thiếu nhất là đối với các bậc thánh nhân, thiền ở đây chính là sự “tĩnh toạ, tức tâm”. Tuy nhiên, trong cách nói của mình, Ngô Thì Nhậm lại nói thiền là thiện. Theo ông, chữ thiền khi đọc là thiện thì có nghĩa là trao truyền, nghĩa là trao truyền cho cái tâm thánh nhân, cái tâm giác ngộ. Con người muốn đạt tới sự tĩnh lặng, xóa bỏ được vô minh thì thiện là một phương pháp quan trọng và hữu hiệu. Chính quá trình thiện sẽ giúp người ta giác ngộ được cái tâm chung, là điều kiện giúp người trở thành thánh nhân, chúng sinh trở thành Phật.

Về con đường đi đến tịch diệt để nhận thức lý, ngoài những phương pháp đã trình bày, Ngô Thì Nhậm còn đưa ra phương pháp tinh tiến và phương pháp tinh nhất. Theo ông, con người luôn bị chìm đắm trong vô minh, có nghĩa là tâm người luôn bị trói chặt trong ngục tù của hỗn muội tối tăm, mà ngục tối vô minh rất khó phá bỏ, chứ không phải dễ phá như ngục tù của thế gian nên phải dùng phương pháp tinh nhất của Nho gia và phương pháp tinh tiến của Phật để phá ngục. Ở đây, tinh nhất được hiểu theo quan điểm của Nho gia là “duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung” (phải tinh tường chuyên nhất mới nắm được đạo trung). Còn tinh tiến, theo quan điểm Phật học, là “tinh thuần và gắng gỏi” (không tạp và không nhác). Bên cạnh phương pháp tinh nhất và tinh tiến, Ngô Thì Nhậm còn nhắc đến phương pháp khắc kỷ, tức là “giữ mình” và phương pháp sát hại, tức “phủ định dứt khoát với hiện tượng bên ngoài” để thực hiện nhận thức mọi việc.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, vukhoan19862012, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 12:16:59 AM »

(tiếp theo)

Nhìn chung, những phương pháp mà Ngô Thì Nhậm nêu ra đều có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thoát con người, hướng con người đến những cách nhận thức đúng đắn. Và, ở đây, bí quyết của sự giải thoát là phải biết “ngăn tà khí, giữ lòng thành, xa rời cái gì hão huyền, để phục hồi cái tia sáng (trí tuệ), không đến nỗi chìm đắm trong bể khổ, mà được mọi điều giải thoát”(8) (nhàn tà, tồn thành, xa lìa hư vọng dĩ phục kỳ quang minh). Ở đây, ngăn tà, giữ thành là giới, xa lìa hư vọng là định và phục hồi sự sáng là tuệ. Ngô Thì Nhậm đã theo quan điểm nhà Phật khi đưa ra phương pháp tam học để giúp con người tu tập, thực hiện sự giải thoát với chính bản thân mình. Giới – định – tuệ chính là con đường giải thoát, là phương tiện giải thoát tốt nhất để đưa con người tới sự giác ngộ.

Giáo dục và học hỏi cũng là một trong những phương pháp quan trọng trong triết học Ngô Thì Nhậm. Ông coi giáo dục là điều kiện cần thiết để con người lĩnh hội những giá trị đích thực của cuộc sống và sống xứng đáng hơn. Bằng cách giáo dục sẽ giúp con người không tham lam, xa lìa được hư vọng. Tuy nhiên, giáo dục không thì vẫn chưa ổn mà cần phải có sự tiếp thu, học hỏi sự giáo dục ấy để mài dũa chí hướng, giữ được tấm lòng trong sạch.

Là một người thấm nhuần triết lý Thiền tông, đồng thời luôn có khuynh hướng dung hoà “tam giáo”, nên các vấn đề trong nhận thức luận của Ngô Thì Nhậm luôn chứa đựng những yếu tố mới mẻ. Tư tưởng của ông thể hiện khá rõ nét về đối tượng nhận thức, mục đích nhận thức, đặc điểm và phương pháp nhận thức. Ông đã hướng con người vào nhận thức lý để có thể đi sâu, hiểu cả hình lẫn ý của sự vật, tức là không chỉ nhìn thấy cái mặt bên ngoài, mà còn phải thấu đáo cái bản chất ẩn giấu bên trong của sự vật. Chính việc nhận thức lý đã quy định nên mục đích nhận thức là tịch diệt và đặc điểm nhận thức là trực giác, nhận thức đuợc lý chung quy là để con người hiểu được sự vật mà không sai lầm, đạt đến cái tâm tĩnh lặng, không chứa dục vọng, vô minh. Ngô Thì Nhậm cố gắng đưa con người đến tịch diệt bằng nhiều phương pháp khác nhau, từ chỗ mong muốn con người thực hiện được sự phát tưởng, ông hướng họ đến việc thực hiện hành tàng, thiện, tinh tiến, tinh nhất, khắc kỷ, sát hại,… đồng thời không bỏ qua phương pháp giáo dục và học hỏi. Ông đã kế thừa tư tưởng của cả Nho, Phật và Lão trong cách giải quyết vấn đề của mình. Do vậy, nhận thức luận trong tư tưởng triết học của ông mang phong cách độc đáo riêng. Ông đã tiếp thu tư tưởng của các bậc thiền sư đời trước, nhưng không phải là sự sao chép, rập khuôn, mà trong đó có sự chọn lọc, phát huy theo một tinh thần mới, phù hợp với tư tưởng của thời đại lúc bấy giờ.(8)

Về triết lý nhân sinh, Ngô Thì Nhậm đã dành nhiều tâm huyết cho việc tìm kiếm con đường giải thoát con người ra khỏi “bể khổ” của cuộc đời, đồng thời hướng họ tới một cuộc sống tốt đẹp hơn theo mong muốn của mình. Ông coi bản thân con người vốn không bao giờ được bình lặng và yên ổn do vô minh che lấp, họ luôn phải đối mặt với khó khăn và khổ ải trong cuộc sống của mình. Theo ông, bản chất con người khi sinh ra là mang tính thiện, nhưng do hoàn cảnh sống mà tâm tính con người bị thay đổi, họ trở nên bạc ác.

Ngô Thì Nhậm luôn nhấn mạnh vai trò của con người trong cách gìn giữ bản thân. Mọi nỗi khổ mà con người đang phải hứng chịu là do họ gây nên. Cho nên con người cần phải hiểu được đạo lý của trời mà vận dụng vào cuộc sống thường ngày mới mong không gặp phải tai họa.

Ngô Thì Nhậm còn cho rằng, khổ là do trong lòng con người luôn chứa đầy dục vọng. Ở con người, dục là tính (tự nhiên); nó ở trong nhật dụng thường hành, như khi đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được. Như vậy, ngay từ lúc sinh ra, con người cũng đã có dục trong lòng, mà dục lại là tính tự nhiên nên con người luôn phải đáp ứng những nhu cầu để thoả mãn chính bản thân. Nhân dục càng lớn thì con người càng bị nhấn chìm vào vô minh, làm cho họ không phân biệt được phải trái, đúng sai, đạo lý bị đảo lộn. Vì coi dục là tính tự nhiên, nên việc xoá bỏ dục không phải là một điều dễ dàng. Theo ông, con người muốn từ bỏ được dục thì trước hết, phải dứt bỏ được tham, sân, si để đi đến với đạo. Đến với đạo là một yêu cầu quan trọng trong cách giải thoát của con người. Người ngộ đạo bao giờ cũng sáng suốt, dứt bỏ được dục vọng, thoát khỏi đau khổ.

Danh lợi cũng là một dục vọng thường hành trong con người, chính sự quyến rũ của danh lợi làm cho con người không giữ được đúng đạo của mình, việc con người ham mê danh lợi là con đường gần nhất dẫn họ đến vô minh. Ngoài việc ham mê danh lợi, việc không biết phân biệt lợi, hại cũng dễ làm cho con người lầm đường, lạc lối trong hành động của mình. Vì vậy, không nên chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên mất rằng, cái lợi luôn đi đôi với cái hại, không nên lấy lợi làm lợi, mà phải lấy nghĩa làm lợi. Có như vậy mới giữ mình tránh khỏi tai hoạ.

Ngoài ra, con người thường đem họa đến cho mình cũng bởi không tuân theo đạo lý của trời đất. Theo Ngô Thì Nhậm, một người thông minh phải biết tuân theo đạo, biết giữ đúng đạo trời thì mới mong không vướng vào mê loạn. Do vậy, ông rất coi trọng việc con người biết tôn trọng và giữ đúng đạo, giữ đúng đạo, một mặt, để làm tốt bản thân, xa lìa được danh lợi; mặt khác, còn giúp ích cho kẻ khác. Xa lìa danh lợi là một trong những cách tốt nhất để con người trở về với cái tâm trong sáng của mình và học là một bước rất quan trọng để con người biết đạo, ngộ đạo.

Nhìn chung, Ngô Thì Nhậm coi trọng việc giữ đạo, nhất là đạo trung hiếu. Tuy nhiên, việc vận dụng đạo không phải là tuỳ tiện, mà cần có phép tắc của nó. Phép tắc, theo ông, chính là “cái để làm khuôn khổ cho sự vận dụng của tâm”. Biết dừng lại đúng giới hạn cho phép trong hành động là phép tắc quan trọng cần có của mỗi người.

Trong tư tưởng của mình, Ngô Thì Nhậm cũng coi liêm sỉ là một trong những đức tính không thể thiếu được ở con người; thiếu đi sự liêm sỉ, con người sẽ trở nên mù quáng trước những hành động của mình, từ đó mà dễ rơi vào vòng mê muội trong cách đánh giá sự việc. Ông khuyên con người luôn phải giữ được sự liêm sỉ để sáng suốt trong quá trình nhận thức, không làm trái quy luật khách quan.

Con người khổ không chỉ do họ đắm chìm vào danh lợi, mù quáng với cái lợi trước mắt, mà còn do họ luôn bị trói chặt trong cái vòng tròn sinh - lão - bệnh - tử. Sự sống chết luôn làm họ phân tâm, lo sợ và không giữ được mình. Ngô Thì Nhậm đã đem đến một cách nhìn mới trong vấn đề sinh tử. Với ông, sinh tử ở con người là điều tất yếu phải diễn ra trong vòng sống của một đời người, đã được sinh ra ở trên đời thì tất có lúc phải diệt. Con người không thể thoát khỏi cái vòng sinh tử luân hồi, nên tốt nhất là phải biết tu dưỡng bản thân để tránh gây ra tai vạ, còn bằng không thì sẽ tự đưa mình vào khổ ải. Việc con người sống hay chết đều phụ thuộc phần lớn vào cách sống của họ, sống chết sớm hay muộn là thuộc ở con người, biết tu dưỡng, chăm lo cho bản thân thì sống chết không là mối lo. Ông khuyên con người không nên vướng bận trước vấn đề sinh tử, mà quan trọng là phải biết giữ mình để tạo sự tin tưởng với mọi người. Thái độ thờ ơ trước vấn đề sinh tử đã cho chúng ta thấy một Ngô Thì Nhậm điềm nhiên, tự tại, không vì danh lợi mà tham sống, sợ chết.

Ngô Thì Nhậm luôn trăn trở truớc thực tại và mong muốn tìm ra con đường giải thoát con người ra khỏi khổ ải. Kế thừa tư tưởng của Nho gia, ông coi trọng lễ trong cách giáo dục, giúp con người bỏ được danh lợi, xa lìa tham sân. Ông coi việc con người tuân theo lễ chính là con đường ngăn ngừa những thói hư, tật xấu, giữ được lẽ phải. Nhờ có lễ, con người kìm chế được dục vọng, không bất chấp quy tắc mà vượt đạo. Có lễ, con người sẽ giữ đúng đạo. Vì vậy mà lễ như là khuôn phép và cũng là phép tắc để con người nhìn vào đó mà không dám làm điều xằng bậy. Ông coi lễ là tiêu chuẩn cao nhất của đạo đức. Với ông, không có lễ thì nhân tâm, dù ở bất cứ dạng thức nào, cũng không phù hợp với tiêu cuẩn đạo đức. Không chỉ thế, ông còn đề cao cương thường lễ nghĩa trong việc giúp con người giữ mình.

Ngô Thì Nhậm cũng luôn tin vào sự chi phối của mệnh trời đối với con người và cuộc sống con người, kể cả sự hưng thịnh hay suy vong của một thời đại. Ngô Thì Nhậm đã gắn kết mệnh trời với lòng người, đặt lòng người trước “ý trời” trong cách thuyết phục con người trước những chủ trương, quyết sách chính trị. Việc thuận theo ý trời sẽ đem lai lợi ích tốt lành cho muôn người. Ông luôn thông cảm với nỗi khổ của con người, những gì con người phải nếm trải, một mặt, là do cách sống của họ, song mặt khác, là do trời định. Vì vậy, trong hành động của mình, Ngô Thì Nhậm khuyên con người cần phải khéo léo và tỉnh táo.

Những điều nói trên cho thấy, tư tưởng nhân sinh xã hội ở Ngô Thì Nhậm không xa rời lý tưởng nhân sinh của Phật giáo và Nho giáo. Con người khổ phần lớn và chủ yếu là do chính hoàn cảnh sống đã dẫn dắt họ vào con đường lợi dục. Với quan niệm này, ông luôn kêu gọi con người xa lìa danh lợi, hoặc đạo để sáng suốt trong từng hành động, suy nghĩ. Ông còn tin vào quan điểm của Nho gia, khi coi số phận con người là do mệnh trời quyết định. Ông khuyên con người cần phải biết “đợi mệnh” và tuân theo mệnh. Là một người đã từng nếm trải những khổ ải trong cuộc sống, nên ông càng hiểu rõ hơn những số phận ngặt nghèo. Ông cố gắng tìm mọi cách để hướng con người tới một chân lý cao đẹp hơn. Tư tưởng nhân sinh xã hội của ông thắm đượm màu sắc của Phật giáo và Nho giáo. Đây chính là tư tưởng điển hình cho xu hướng dung hoà Nho - Phật của ông.


Do khuynh hướng hỗn dung đa nguyên, nên trong những quan điểm triết học của mình, có chỗ, có lúc Ngô Thì Nhậm vẫn rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Cũng như một số nhà tư tưởng trước đó, ông chủ yếu hướng vào giải thoát con người về tâm linh, tinh thần, chứ chưa phải là sự giải phóng con người cả về tinh thần lẫn thể xác. Ông kêu gọi con người sống đúng đạo, đặc biệt là đạo trung hiếu, đạo cương thường, cần thiết thì nên tìm đến cuộc sống ẩn dật để giữ đúng đạo của mình. Ngoài ra, ông còn tin vào sự chi phối của mệnh trời đối với con người. Điều đó cho thấy tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm đã thể hiện rõ sự linh hoạt và sáng tạo trong cách kế thừa, chọn lọc những tinh hoa của nhân loại để lại, đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng của các bậc tiền bối. Với tư tưởng triết học này, ông đã có đóng góp lớn, tạo tiền đề lý luận mới cho việc khôi phục Thiền phái Trúc Lâm lúc bấy giờ. Là một người sống và tham gia vào chính sự, nên những tư tưởng của Ngô Thì Nhậm không nằm ngoài mục đích vì dân, vì nước. Tư tưởng của ông mang tinh thần hành động và nhập thế tích cực, đáp ứng được đòi hỏi của xã hội đương thời. Có thể nói, Ngô Thì Nhậm đã xây dựng nên những quan điểm triết học mà về cơ bản, mang khuynh hướng duy vật và những quan điểm duy vật ấy, mặc dù còn mang tính chất thô sơ, chất phác, nhưng trong đó đã có những yếu tố biện chứng.

DOÃN CHÍNH

NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯƠNG
Nguồn: Tạp chí Triết học


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, vukhoan19862012, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 12:28:25 AM »

Dưới đây là phần chính văn bản dịch của
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh-
Ngô Thời Nhậm

----------------------------

TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH

竹林 宗旨元聲

TIỂU DẪN

Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh: có lẽ được Ngô Thời Nhậm viết vào những năm trước năm 1796, khi ông mở Thiền viện ở phường Bích Câu- ngoại thành Thăng Long

Về tập sách này hiện nay Thư viện K.H.X.H. còn giữ được hai bản in chữ Hán:
- Bản ký hiệu A.2181 với tên sách là Tam Tổ hành trạng. Tên Tam Tổ hành trạng là do người đóng lại sách ghi ở ngoài bìa.
- Bản ký hiệu A.460 với tên sách là Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
Hai văn bản trên, tên sách có khác nhau nhưng cùng một khuôn khác. Có điều là bản A.460 đến nay còn lưu giữ được nguyên vẹn hơn bản A.2181.
Gần đây lại có thêm bản dịch kèm cả chữ Hán cũng với tên đề là Tam Tổ hành trạng, in năm 1971, do Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản tại Sài Gòn, và Nam Á Trần Tuấn Khải là dịch giả. Bản dịch này có ghi rõ:” Nguyên bản chép tay số MC.4207.T.G. của văn khố Đà Lạt”. Sau khi đối chiếu tìm hiểu thì bản chữ Hán chép tay số MC.4207.T.G. là một bản sao chép hoàn toàn theo bản khắc in ký hiệu A. 2181 và A.460 đã nói ở trên. Đặc biệt, bản chép tay số MC. 4207 T.G. cũng thiếu hụt đúng như bản A. 2181.
Như vậy với những dị bản hiện có, bản A.460 là bản chính xác và đầy đủ hơn cả. Chúng tôi lấy bản A.460 làm bản chính và trích tuyển 12 thanh theo bản này.
Cũng cần phải nói thêm rằng trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh chỉ có phần Chính văn của Đại chân Viên Giác thanh mới là do Ngô Thời Nhậm viết. Những phần khác như: Thanh dẫn, Thanh chú, Đại chân Viên Giác thanh tiểu khấu ( phần này chúng tôi không tuyển),v.v… là của em ông và các bạn ông trong phái Trúc Lâm viết. Đáng lưu ý hơn, sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh tuy là một sự hợp thành như vậy, nhưng xét mối tương quan giữa các phẩm thì lại thấy có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau khá chặt chẽ. Các Thanh dẫn, Thanh chú, Đại chân Viên Giác thanh tiểu khấu,v.v,.. đã góp phần bổ sung hoặc làm sáng rõ nội dung của phần Chính văn rất nhiều. Do đó, chúng tôi đã trích
toàn văn 12 thanh của sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh theo đúng như bản dịch của Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam để bạn đọc tiện tham khảo.
Với Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Ngô Thời Nhậm xuất hiện như một nhà tư tưởng. Chúng ta trân trọng những suy nghĩ của một người trí thức có bản lĩnh, sống trong một thời đại đầy biến động và phần lớn cuộc đời đã tham gia tích cực vào sự biến động đó. Trong lúc những tín điều Nho giáo đã bị thực tế phũ phàng của chế độ phong kiến suy tàn làm cho lung lay tận gốc, Ngô Thời Nhậm đã tìm đến quan niệm “ Hòa đồng Tam giáo” ( Nho, Phật, Lão), tiếp tục ý hướng của phái Trúc Lâm, một học phái Phật giáo Thiền tông của Việt Nam mà người sáng lập là vua Trần Nhân Tông, một anh hùng dân tộc chống Nguyên- Mông. Chắc chắn rằng tư tưởng Thiền học của Ngô Thời Nhậm đã không giải đáp được đúng những vấn đề cơ bản mà thời đại Ngô Thời Nhậm đã đặt ra. Nhưng Những kiến giải mới mẻ khá độc đáo của Ngô Thời Nhậm về Lý và Dục, Tánh và Tâm, Thể và Dụng, Sinh và Diệt trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh cũng đủ để ta ghi nhận ở ông về một tinh thần “ Phá chấp”, muốn góp phần xây dựng cho dân tộc một nền văn hóa tư tưởng tự lập tự cường. Bởi vậy ngay thời đó, Ngô Thời Nhậm đã được các đệ tử Trúc Lâm tôn làm vị Tổ thứ tư. Tuy nhiên, tư tưởng của phái Trúc Lâm về cơ bản là tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, vukhoan19862012, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 12:31:45 AM »

(tiếp theo)

LỜI TỰA TRÚC LÂM ĐẠI CHÂN GIÁC VIÊN THANH (1)


Thanh âm ( tiếng) là để kích động người nghe, làm cho những người mê muội tỉnh ngộ mà chứng được trí tuệ, khiến cho Đạo lớn được vang dội mãi trong trời đất. Có lẽ cái tinh vi uẩn áo của nghĩa lý được tỏ rõ ở lời nói, cũng như cái bí tàng của tạo hóa phát lộ thành sấm gió chăng? Lớn lao thay cái ý và cái tượng của thanh âm!

Đạo lớn phát ra tự trời, lưu hành khắp vũ trụ, phân tán thành vạn vật. Cái thể thì đồng (giống) mà cái dụng thì dị ( khác). Đồng là gốc mà dị là ngọn. Xem bề ngoài thì tưởng như khác đường khác nẻo, nhưng thống hội lại cho đến chổ cực kỳ tinh vi thiết .yếu, thì chẳng có gì vượt ra ngoài Đạo lớn kia được. Giáo lý của Thích Ca tuy nói là không tĩch (*)hư vô (2), nhưng đại yếu vẫn là từ bỏ hết mọi chướng lũy, thấy rõ chân như (3). Cho rằng “ Minh tâm kiến tánh” (4) là việc cần kíp nhất, nếu đem so sánh với học thuyết “ thành ý trí tri” (5) của nhà Nho ta, thật chẳng có gì là trái ngược. Ta nghe đức Phu Tử ( Khổng Tử) nói:” Tây phương có bậc đại Thánh Nnân” (6) Thế thì Phu tử vốn chưa hề chê bai đạo Phật là dị đoan.

Học giả ở đời hay câu chấp bề ngoài nông cạn, ngày ngày đả kích nhà Phật, đến nỗi Nho và Phật đối lập nhau và đạo Nho chu lưu bàn bạc khắp trời đất star lại trở thành chia rẽ môn đình với đạo Phật. Như thế là họ chỉ biết xoi mói về ngọn ngành của sự vật (**), chứ không phải tìm tòi những cứu cánh và chổ quy kết của nó. Rốt cục, kẻ phù, người ất cãi vã nhao nhao, vẫn không nhận ra chim hồng (7)! Ý kiến đã hẹp hòi, lại tích tụ thành tập quán lâu dài sâu sắc!

Quyến huynh ( anh vợ) tôi, quan Thị trung Đại học sĩ Hi Doãn là người học thức cao rộng, vượt hẳn lên trên khuôn khổ tầm thường. Kinh nghiệm rất giàu, sở đắc rất tinh, tam giáo cửu lưu (8) bách gia chư tử (9) không gì là ông không nghiền ngẫm đến nơi đến chốn. Cho nên lòng dạ bao la, tóm thu điều khiển duo muôn vật, xâu suốt duo ba Huyền (10). Bộ sách “ hai mươi bốn thanh âm” của ông trước tác thực đã đem hết những chổ u huyền của nhà Phật, chia cắt ngọn ngành, thu tóm mối manh, mở toang những gì là tinh vi uẩn áo, rồi đem công hành trên bản in để tỏ rõ cho rừng Thiền. Sau Trúc Lâm tam tổ thì phong khí nhà Thiền rất là vắng lặng. Cái tuệ giác (11) ở năm trăm về trước, có tân thanh này mới lại phát huy. Vì vậy, các đệ tử trong phái Trúc Lâm tôn ông làm đệ tứ tổ, điều đó không có gì là quá đáng. Thuyết tân thanh của ông, bọn tục Nho nghe thấy, chắc sẽ đem ra nghị luận, mà ví ông với Xương Lê (12), trước thì bài Phật sau lại nghiêng theo. Tượng Sơn (13) chủ trương chữ tịnh chính là bắt gốc từ đạo Thiền. Đem những lời ước đoán tầm thường như thế để bình phẩm ông thì làm sao mà đánh giá duo sở học của ông! “ Tận tánh nhi cùng lý” (14) “ khu Thích dĩ nhập Nho” (15), ông đã khiến cho tám bộ Phạm vương ( Phật) không ra ngoài cung tường của Tố vương ( Khổng tử). Thế thì tân thanh này chính là cái thanh âm đứng đầu để phù trì Đạo hẳn không phải những kẻ hời hợt vô căn có thể so sánh với ông duo mà chỉ có thể nói duo với những ai biết Đạo mà thôi. Tương tri ở chổ hình thần (16), tôi hiểu sâu duo ý của ông làm ra thanh này, nên mới dám dùng mấy lời để mào lên đầu sách. Xin chờ các bậc quân tử hiểu Đạo chỉ dẫn cho.

Nay tựa.

Trước ngày lập đông năm Bính Thìn, niên hiệu Cảnh Thịnh (1796) đời đệ nhị đế, triều Hoàng Nguyễn.

Quyến đệ (em rể): Dực vận công thần đặc tiến thượng đại phu Thị trung ngự sử, Thụy nham hầu, biệt hiệu Bảo Chân đạo nhân, người Nghệ An, Phan Huy Ích chi dụ kính đề

---------------------------------


*CHÚ THÍCH:-  [1]: Kinh Viên Giác: kinh điển Phật giáo Đại thừa. Viên Giác nghĩa là giác ngộ hoàn toàn. Viên giác là một trong Lục kinh phổ biến của Phật giáo Đại thừa ( Đại Bát Nhã; Kim Cang; Duy Ma Cật; Lăng Già; Viên Giác; Lăng Nghiêm).
*CHÚ THÍCH:-  [2]: Bản chữ Hán in nhầm là Không trai
*CHÚ THÍCH:-  [3]: Không tịch hư vô: Phật giáo quan niệm hết thảy mọi hiện tượng đều không có thật ( nhất thiết pháp hư vô). Có nghĩa là phủ nhận sự vật tồn tại
*CHÚ THÍCH:-  [4]: Chân như: Chân là chân thực, không giả dối. Như là như thường, không thay đổi. Duy thức luận:”Chân vịchân thực, hiển phi hư vọng. Như vị như thường, biểu vô biến dịch. Vị thử chân thực vu nhất thiết pháp, thường như kỳ tính, cố viết chân như”. Nghĩa là:” Chân là chân thực, rõ ràng không phải hư ảo. Như là như thường không thay đổi. Cho nên chân thực trong mọi hiện tượng, không thay đổi bản tánh gọi là Chân như”.
*CHÚ THÍCH:-  [5]: Sách đại học ghi cái gọi là 8 điều cương mục” Cách vật; trí tri; thành ý ; Chánh tâm; tu thân; tề gia; trị quốc; bình thiên hạ.
*CHÚ THÍCH:-  [6]: Tây phương : chỉ Ấn Độ
*CHÚ THÍCH:-  [7]: Bản chũ Hán thiếu chữ Gian
*CHÚ THÍCH:-  [8]: Bản chữ Hán thiếu chữ vật

*CHÚ THÍCH:-  [9]: Tam giáo: Nho; Phật; Lão
Cửu lưu: chín học phái thời Chiến quốc: Nho; Đạo; Âm dương; Pháp; Danh; Mặc; Tung hoành; Tạp; Nông.

*CHÚ THÍCH:-  [10]: Chỉ chung các học giả kể từ thời tiên Tần.
*CHÚ THÍCH:-  [11]: Ba bộ sách triết lý: Chu dịch; Đạo Đức kinh; Thái Huyền
*CHÚ THÍCH:-  [12]: Tuệ giác: từ nhà Phật, chỉ sự hiểu biết, giác ngộ

*CHÚ THÍCH:-  [13]: Xương Lê: là Hàn Dũ (768-824) đời Đường -  Trung Quốc.
*CHÚ THÍCH:-  [14]: Tượng Sơn: là Lục Cửu Uyên (1139- 1192) đời Tống – Trung Quốc.
*CHÚ THÍCH:-  [15]: Thấu triệt được thiên tánh, hiểu rõ được thiên lý.
*CHÚ THÍCH:-  [16]: Đưa đạo Phật vào đạo Nho.
*CHÚ THÍCH:-  [17]: Nói hai bên tâm đắc, từ hành động đến tư tưởng đều hợp ý nhau

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC, mavuong
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 22, 2012, 12:33:49 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 11:16:33 PM »

(tiếp theo)

ĐẠI CHÂN VIÊN GIÁC THANH

KHÔNG THANH

(Tiếng KHÔNG)


Thanh dẫn
( Ngô Thời Hoành)

Thanh ( tiếng) phát ra là do sự gõ. Hễ gõ mạnh thì kêu to, gõ yếu thì kêu nhỏ. Như thế là thanh phát ra có nguyên nhân. Thanh phát ra có nguyên nhân thì có lúc nó phải tắt.

 
Trong cái KHÔNG (quảng trống) mà có thanh thì thanh không biết từ đâu đến, cũng không biết nó đi đâu. Đón trước nó thì không biết chỗ  nó bắt đầu, theo sau nó thì không biết chỗ  nó chung kết, sang sảng, oang oang, không dừng lại một giây. Khi mà Tý chưa mở ( chưa có trời), Sửu chưa sinh (chưa có đất), thì thanh ở nơi hỗn độn (mờ mịt, lộn xộn chưa phân biệt). Khi mà Dương đã xuống, âm đã lên ( trời đất điều hòa) thì thanh quanh quẩn ở trong đó. Cái HÀNH ( cái làm) và cái THỨC ( hiểu biết) từ xưa đến nay đều ở trong thanh cả. Nghe thì nghe được  mà tìm thì không tìm được . Chính vì vậy mà gọi KHÔNG THANH ( thanh ở trong cái không). Cái KHÔNG  ở đây, là sự vật ở trên trời, là cái thanh “ không có thanh” (17) (Vô thanh).


Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):


Hải Lượng đại Thiền sư đính lễ Trúc Lâm tam tổ ở quán Huyền Thiên, tăng bên tả là Hải Hòa, tăng bên hữu là Hải Tịnh, kèm với 24 người đồ đệ khác. Các đồ đệ bạch thầy rằng:

-   Nhà Nho nói: LÝ. Vậy thế nào là LÝ?

Thầy đáp:

-   LÝ như cái thớ cái đốt của cây.

Đồ đệ lại bạch:

-   Nói DỤC. Vậy thế nào là DỤC?
 


Thầy đáp:

-   DỤC là như nước chảy xuống, lửa bốc lên.

Đệ tử nói:

-   Nhưng muốn noi theo cái LÝ thì phải như thế nào?

Thầy đáp:

-   Cái LÝ không noi theo hết được !

Sau đó, tăng cgúng quay lưng vào án mà ngồi. Thầy lúc đó thở ra và co một chân lại.
Nhà sư bên tả bạch Thầy rằng:

-   Sao thầy chỉ co một chân?

Thầy nói:

-   Vạn thủy giai đông Nhược thủy tây,
-   Cúc hoa bất dữ bách hoa tề.

Nghĩa là:

-   Muôn sông chảy về Đông chỉ có Nhược Thủy chảy về Tây,
-   Hoa Cúc không nở cùng với trăm hoa.

Nhà sư bên tả nói:

-   Thủy khứ đông tây, lô chuyển trục,
-   Hoa khai tảo vãn, nghĩ ma bàn.

Nghĩa là:

-   Nước chảy đông tây, cần giếng chuyển trục
-   Hoa nở sớm muộn, con kiến bò quanh.

Thầy bèn quát to:

Dậy! dậy!dậy! đánh chẳng dậy, Ngủ, ngủ, ngủ! chửi cũng ngủ.
 

Nhà sư bên hữu rời chỗ  tiến lên hỏi:

Thuận thủy hành châu,
Hiểm đồ án bi.
Nhất chỉ nhất hành,
Tịnh phi ngô ý.

Nghĩa là:

 
Nước xuôi thì thả thuyền,
Đường hiểm thì dừng ngựa.
Một dừng một đi,
Đều không phải ý ta.

Lúc bấy giờ Điều Ngự Giác Hoàng ở dưới cây Cồ đàm (18), hóa làm vô số hoa Cồ đàm.

Hoa Cồ đàm nở chẳng nở, có gió mới nở, rụng chẳng rụng, có mưa mới rụng.
Lại có chim xanh, ngậm hoa bay đi, hoa bám vào chim, lông chim thảy đều sinh hoa.

Thầy bèn nhìn chim mà nhận ra hoa lông, đọc kệ rằng:

Điểu thân phi điểu,
Hoa hồn phi hoa.
Hành chỉ nhiêu tha,
Ngã nại ngô hà.

Nghĩa là:

Thân chim chẳng phải chim
Hồn hoa chẳng phải hoa
Đứng đi là bởi nó
Ta nào có làm gì được  đâu.

Nhà sư bên hữu chấp tay niệm:

Thị sắc phi sắc,
Thị không phi không.

Nghĩa là:

Sắc chẳng phải sắc
Không chẳng phải không.

Kinh Pháp Hoa có nói:” Đàm hoa nhất hiện”. “Trong bài Cư trần lạc đạo phú “ tương truyền của Trần Nhân Tông có câu:”Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu đàm mấy liếp đâm bông”.
 


Nhà sư bên tả tiến lên nói:

Mã phùng thản lộ hành vô ngại
Mộc đáo bàn canh giải bất khai.

Nghĩa là:

Ngựa gặp đường phẳng đi bon bon
Gốc cây chằng chịt bửa không ra.

Nhà sư bên hữu mặc áo lòi vai phải, đứng dậy đáp:

Đường phẳng là ngựa thuận LÝ, gốc rắn là cây nghịch LÝ, LÝ có thuận nghịch, cho nên người không chấp trước ( câu nệ) thì không bắt buộc phải noi theo LÝ

Thầy bèn cầm ngược gậy tre, đi lên am mà làm lễ Thế Tôn.



*Chú thích:- [18]: Kinh Thi, thiên Đại Nhã:” thượng Thiên chi táivô thanh vô xú”. Nghĩa là sự việc trên trời không tiếng không mùi.

*Chú thích:- [19]: Cồ đàm: còn gọi là Ưu đàm hay Thi (Ưu) đàm bát (la) hoa. Theo từ nguyên, đó là loại thực vật không có hoa quả, thường mọc ở Hy Mã Lạp sơn. Cao nguyên Dekan Srilanca… thân cao hơn một trượng. Tục cho là 3000 năm mới nở hoa một lần.
Dịch giả sách Nam dược thần hiệu ( do Nhà xuất bản Y học xuất bản 1972) cho Ưu đàm là cây Sung (tr.52).

--------------------------



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 11:18:19 PM »

(tiếp theo)

Thanh chú:-


Hòa thượng Hải Âu nói rằng:

LÝ như cái thớ, cái đốt của cây, đúng là có cái LÝ ấy. DỤC như nước chảy xuống, lửa bốc lên, đúng là có cái DỤC ấy. LÝ chỉ có một mà thôi. Lấy lẽ thường mà nói, LÝ không có hai phải. Nam nữ không tự trao tay cho nhau, đó lá LÝ. Nhưng chị dâu chết đuối, em trai chồng vớt lên, phải chăng gọi là phi Lý được (19). Ngưới quân tử đối với kẻ ác thì tránh xa. Thế mà Trần Thực lại đi viếng bố Trương Nhương để thoát nạn bè đảng (20). Khang Hải ra mắt Lưu Cẩn để xin thả Mộng Dương (21), như thế là đều không noi theo LÝ. Điều ấy chỉ nói được với người ngộ đạo mà thôi. Muôn sông chảy về Đông, đó là LÝ, trăm hoa nở mùa xuân, đó là LÝ. Phương Đông là chỗ  thở hút cho nên mọi sông đều đổ về; mùa xuân là thời sinh dục cho nên cỏ hoa đều nở. Nước Nhược thủy chìm được lông là vì chất nó thanh khiết, không bao dung tục vật. Hoa Cúc thắng được sương tuyết là vì tánh nó kiêu ngạo, không chịu ngang hàng với vật khác. Thanh khiết là vì cương nghị, cho nên qui tụ ở phương Tây, là nơi đất cứng rắn. Cao ngạo là vì quật cường cho nên nở ở mùa thu, là thời khắc nghiệt. Nếu Nhược thủy không phải là tinh túy của nước, hoa Cúc không phải là tinh túy của hoa thì làm sao mà trồi lên khác hẳn mọi vật? Đó là Thầy mới nói sơ qua ý nghĩa của câu “ không noi theo hết thảy cái LÝ được”

Tuy nhiên, cũng chỉ những bậc đại lực lượng mới biết “không noi theo LÝ hết được”. Đánh mà không dậy, chửi mà vẫn ngủ, là để phát huy cáiý chưa nói hết được ở câu trước.

Câu “ Nước chảy đông tây, cần giếng chuyển trục- Hoa nở sớm muộn, con kiến bò quanh” hình như nói lên được cái ý “ noi theo LÝ”, nhưng chưa nêu lên được cái nguyên tắc “ không theo LÝ hết được”. “Nước xuôi đi thuyền,đường  hiểm dừng ngựa” nói như thế cũng đã lãnh hội được cái ý không có ranh giới cố định giữa vạn vật và ta. Nhưng vì thấy nước xuôi mà đi thuyền, vì sự đường hiểm mà dừng ngựa, thì cũng chưa đến được cái giới “ Siêu ý thức. Nếu không một phen hết sức điểm hóa ( biến đổi cảm hóa) thì kẻ tối tăm chẳng hầu như càng tối tăm sao?

Giác Hoàng hóa làm vô số hoa Cồ đàm ngàn năm không nở không rụng, thế mà khi có gió thì nở, có mưa thì rụng. Vậy là nói cho cùng, Cồ đàm cũng có lúc không tự do được. Xem đó, thì câu “ LÝ không noi theo hết được” có thể hiểu rõ ràng.

Tuy nhiên, LÝ không noi theo hết được, kẻ nào ứng phó với sự vật thì phải như thế. Còn như đứng trước sự mà sự không lôi kéo mình được, đứng trước vật mà vật không đồng hóa mình được, thì chỉ có các vị bồ tát chân tánh mới được như thế. Chim ngậm hoa bay đi, hoa lại hóa thành lông chim, những cảnh tượng hão huyền như thế, bời bời rối rít, làm cho tâm phải mê mẩn, mắt phải hoa quáng. Nếu không có căn tỉnh linh hoạt, trí tuệ siêu phàm thì có mấy người không mắc lầm khi cảm thọ cảnh ngoài,
đến nỗi lẫn lộn cái chân, cái huyễn của hoa, của lông. Đại Thiền sư thấy chim mà nhận ra hoa lông, biết được thân chim không phải chim, hồn hoa không phải hoa.

Hàm hoa phi điểu nhưng phi khứ, Bất đoạn đàm hoa tự tại hoa.

Nghĩa là:

Chim bay ngậm hoa vẫn bay đi
Hoa đàm luôn luôn là hoa tự tại.

Chim tự là chim, hoa tự là hoa, qua lại trước mắt có can dự điều gì với người đâu? Rồi nhờ đó mà bạn tăng liễu ngộ được chữ SẮC KHÔNG, biết được VÔ CHẤP TRƯỚC. Thầy bèn cầm ngược gậy tre tiến lên am làm lễ Thế tôn.


Toàn bộ tinh thần chú trọng ở trong chữ NGƯỢC và chữ TIẾN. Tiết này tỏ rõ sự phân biệt cái LÝ với cái DỤC, cái THUẬN với cái NGHỊCH, tỏ rõ bên co, bên duỗi, nên động, nên tĩnh như thế nào, phải tùy theo sở ngộ mà an thuận, đồng nhất với vạn vật, tuy mình không có chỗ  dựa nhưng cái tánh thiên chân vốn không mờ tối.

*Chú thích:- [20]: Sách Mạnh tử, thiên Ly Lâu thượng: Thuần Vu Khôn viết:Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dư? Mạnh tử viết: lễ dã. Viết: Tẩu nịch, tắc viên chi di thủ hồ? Viết: Tẩu nịch, bất viên thị sài lang dã. Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dã, tẩu nịch viên chi di thủ, quyền dã.

Nghĩa là: Thuần Vu Khôn hỏi: Nam nữ không được trao tận tay cho nhau một vật gì, đó có phải là lễ không? Mạnh tử đáp: Đó là lễ.

Hỏi: chị dâu sắp chết đuối thì có lấy tay vớt lên không?

Đáp: Chị dâu sắp chết đuối mà không vớt là đồ lang sói. Nam nữ không được tận tay trao nhau vật gì, đó là lễ, còn chị dâu sắp chết đuối mà lấy tay vớt lên, đó gọi là quyền.

*Chú thích:- [21]: Trương Nhương đời Tống là một tên hoạn quan chuyên quyền ai cũng căm ghét. Bố Nhương chết, dân cả quận Dĩnh Xuyên không đến viếng, trong các bậc danh sĩ, chỉ có Trần Thực là đến viếng. Khi loạn bè đảng xảy ra, các danh sĩ đều bị hại, riêng Trần Thực được Nhương che chở cho nên còn sống sót.

*Chú thích:- [22]: Lưu Cẩn là hoạn quan chuyên quyền đời vua Hiếu Tông, nhà Minh. Khang Hải đỗ trạng nguyên. Lưu Cẩn mời Khang Hải ra làm quan, Khang Hải không thèm ra. Nhưng khi Lý Mộng Dương bị bắt có gửi thư cầu cứu với Khang Hải, nên Khang Hải mới ra mắt Lưu Cẩn để cứu
Mộng Dương.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, vukhoan19862012, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 11:20:14 PM »

(tiếp theo)

Tăng Hải Hòa nói rằng:

 
Vạch cái lý huyền diệu, mở cái tâm sâu kín để trỏ cho người ta, ấy là công việc thứ nhất của Thiền gia. Thế mà phải dùng luận thuyết của nhà Nho để luận thuyết điều đó, là vì đạo chỉ có một mà thôi. Chỗ  huyền diệu của Nho tức là Thiền, chỗ  tác dụng của Thiền tức là Nho. Gạt bỏ văn từ kỹ xảo [Nho] và giới hạnh tầm thường [Phật] mà tìm cái gọi là Đạo, thì [ Nho và Phật] có thể nhất quán được. LÝ là gì?- Là cái gì cần phải có ở trong vật. DỤC là gì?- Là cái gì cần phải có ở trong tâm. Bản tánh của LÝ là có ngang, chếch, có cong, thẳng như cái thớ của cây. Nhưng nếu LÝ mà có thể noi theo hết được thì cái giây mực, cái qui ( cái làm vòng tròn), cái củ ( thước thợ, làm hình vuông) không cần phải đặt ra nữa, mà cũng cần gì đi tìm những người như Lỗ Ban, Ly Lâu, Công Thâu (22) để dùng những dụng cụ ấy nữa.

Thầy ta xử thế bằng đạo Nho, xuất thế bằng đạo Thiền, há phải cố ý biện luận cao siêu, làm cho người đời kinh hãi. Chỉ vì Thầy ta ung dung thoải mái trong cái LÝ ấy mà lại cũng vượt lên trên, vượt ra ngoài cái LÝ ấy. Chính vì Thầy ta thấy được thật đúng cho nên nói ra được thật gãy gọn. Điều Ngự Giác Hoàng là tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm, đến nay đã hơn 500 năm mà lại hiển hiện trong hư không ở dưới cây Cồ đàm, người ta làm sao mà thấy được. Chỉ có thầy ta và hai vị tăng của ta toàn tâm hướng về Phật, cho nên thấy Phật ở đời. Những người ngoài mồm tụng niệm nam mô Phật mà trong tâm không thật có Phật, thì làm sao nói điều này với họ
được. Tương truyền rằng cây Ưu đàm không có hoa, mà:

“ Ưu đàm ra hoa
Giáng sinh Di Đà
Xuất thế Thích Ca”


Chỉ có lúc Hoàng triều nhà Trần là nó nở hoa hai lần, đến nay mới lại thấy nó nở hoa lần nữa mà thôi. Việc hiếm hoi lạ lùng này, có ánh sáng Phật nhãn thì mới thấy được, mà thấy được tức lá nắm được “chánh ấn” của Đạo. Hoa Ưu đàm nở vốn không có sự liên can với gió và mưa. Thế mà nói có gió nó mới nở, có mưa nó mới rụng, là vì từ tâm của Giác Hoàng chỉ muốn cho ta biết rằng mỗi vật đều có thiên tánh tự nhiên của nó, do đó noi theo LÝ mà không thông thì trở thành ngưng trệ. Lại còn có chim xanh và hoa hiện ra, biến hóa lẫn nhau, thì Phật pháp thần thông chính cũng như thế. Chim không hẵn là chim, hoa không hẵn là hoa thế mà đặt ngang một chữ LÝ ở giữa, đã là thịt thừa lại còn noi theo nỗi gì?

Tuy nhiên, LÝ có thuận có nghịch, không noi theo hết được. Hễ cái gì thuận mà noi theo được thì gọi là LÝ. Không thấy ư? Cây trúc thì ngọn ở trên, đó là LÝ tự nhiên. Đến khi chặt trúc làm gậy, tay cầm đằng gốc, thì ngọn lại trở xuống dưới, ấy là LÝ chăng, phi LÝ chăng? Thầy cằm ngược cái gậy trúc, đó là LÝ chăng, phi LÝ chăng? Xưa kia, Bổn sư (Thích Ca) lấy hai ngón tay cầm hoa giơ lên. Ca Diếp mĩm cười, thần cơ lãnh ngộ không phải bằng lời nói. Nay chân không chẳng còn chướng ngại, Phật thuyết pháp với đồ đệ mà đến nỗi phải dùng sắc thái, lời nói, như thế là vì chúng nhân chưa có công hành sâu xa, lại còn nặng nề ma chướng, vừa mới nghe Thầy nói mà đến nỗi ngồi quay lưng vào án thư. Nếu không cố sức nói thì làm sao mà lãnh hội được? Cho nên đặt ra vấn đáp để biện minh nghi hoặc, đó cũng là điều khổ tâm của đức từ bi.
 
*Chú thích:- [23]: Lỗ Ban, Luy Lâu, Công Thâu đều là những bậc thợ mộc nổi tiếng ở Trung Quốc.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, vukhoan19862012, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 11:22:53 PM »

(tiếp theo)

NGỘ THANH

Tiếng THỨC

Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành)

 
Bản tánh của con người, sớm dậy tối nằm, dậy thì đứng lên, đứng lên thì động, vì động cho nên có tiếng. Nói năng, cười, khóc, hễ tiếng đã phát ra thì người đều biết. Còn như ngủ thì nghỉ, nghỉ thì tĩnh, tĩnh thì không có tiếng. Trong khi không có tiếng mà chợt có tiếng thì người ngủ không tự biết được.

Cái tiếng ấy là cái tiếng hồn nhiên chẳng tiết lộ ra của Tạo hóa, nào phải là cái tiếng nói năng cười khóc tầm thường? Là rồng, là rắn, là bong bóng trên mặt nước, là Thế tôn đều là những tiếng chưa từng nghe. Như thế gọi là NGỘ THANH ( tiếng THỨC). Âu Dương Tử nói:” Trăng sao vằng vặc, sông Ngân giữa trời, bốn phía không có tiếng người, tiếng ở trong cây”(23), đó là NGộ THANH của trời. NGỘ THANH của Đại Thiền sư ta, há chẳng phải là tiếng thiên lại (sáo trời) hay sao?

*

*   *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm)

Hải Lượng đại thiền sư ngồi trên đàn Thạch Bi thuyết pháp, đồ đệ lại bạch với Thầy rằng:

-   LÝ không noi theo hết được, DỤC không cắt đứt hết được hay sao? Thầy nói:
-   Không cắt đứt thì đứt, cắt đứt thì lại không đứt. Cuồn cuộn nước chảy, chảy thì khô cạn. Lốm đốm lửa dập, dập thì bốc.

Đồ đệ lại bạch Thầy rằng:

-   Có nước gì không phải là nước chăng? Thầy đáp rằng:
-   Nước xem là nước, thì đó không phải là nước thật.

Lại bạch rằng:
 

-   Có lửa gì không phải là lửa chăng?

Thầy đáp rằng:

-   Lửa xem là lửa thì đó là lửa giả. Nước thật thì nóng được, lửa thật thì lạnh được.
Cho nên kẻ nào hữu dục là vô dục, kẻ nào vô dục là hữu dục.

Đồ đệ lại bạch Thầy rằng:

-   Trong thiên hạ vật gì là tốt?

Thầy đáp rằng:

-   Mọi vật đều tốt cả. Vật gì ta thích thì tốt, ta không thích thì không tốt. Cho nên có cái tốt mà không tốt, cái không tốt mà tốt.

Đồ đệ không lãnh hội được.

Lúc bấy giờ Pháp Loa Thế tôn ở trong núi Quỳnh Lâm Vạn Tùng, nắng quá khát ráo mồm mà không có nước uống, bèn dò hang tìm nước, thấy một con rắn dài, bắt rắn nuốt đi, để cho đã khát. Con rắn bèn hóa thành một con rồng phun nước tràn lên, làm cho Thế tôn nổi lênh đênh trên nước. Thầy lấy tay chỉ cái bong bóng nổi, niệm:

-   Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Văn Thù bồ tát, Nam mô Quan Thế Âm bố tát. Chúng tăng chấp tay, Thầy lại thuyết pháp như trước.


*Chú thích:- [24]: Câu này trích trong bài phú Thu Thanh ( Thu thanh phú) của Âu Dương Tu (1007- 1072)




(còn tiếp)



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, vukhoan19862012, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười 22, 2012, 11:26:39 PM »

(tiếp theo)

Thanh chú:

 
Hòa thượng Hải Âu nói:


Kinh thư nói:” Trời sinh người có DỤC”, lại nói:” Sở dục thì tụ lại cho” (24). DỤC là tính tự nhiên, nó ở trong nhật dụng thường hành như đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được. Có DỤC mà không bị DỤC che mờ thì DỤC đứt. Thế mà lại cứ nói:” Ta cắt đứt lòng DỤC, khiến cho không còn có DỤC” như thế là muốn đứt DỤC. Trong cái không, sinh ra cái có, lại còn làm cho ma chướng sâu thêm một tầng nữa:

Nước cuồn cuộn là rất lớn, cứ theo cái tính nó mà để mặc cho nó chảy, thì nó khô cạn đi thôi. Lửa lốn đốm ở đồng cỏ thì nhỏ nhặt lắm, nhưng muốn nó tắt đi mà vội dập, thì nó bốc lên. Nước là âm mà tính nó là dương, lửa là dương mà tính nó vốn là âm. Lửa phải có lạnh, nước phải có nóng thì mới có đủ tính chất âm dương. Có DỤC là có tánh, làm cho nó [tánh] trong trắng thì là Liễu; là Ngộ; là Định; là Tuệ. Liễu- Ngộ- Định- Tuệ là thượng thừa (25) của VÔ DỤC. Không có Dục thì không tánh, làm cho nó [tánh] mờ đi , thì là Hôn; là Mông, là Xuẩn, là Ngu. Hôn- Mông- Xuẩn – Ngu là cái cội gốc sâu xa của HỮU DỤC. Thầy lật đi, lật lại mà trả lời để tỏ rõ cái ý nghĩa” không chặt đứt thì đứt, chặt đứt thì không đứt”

Trong thiên hạ không có vật gì là không tốt. Tốt là do tánh. Cái gì muốn là tốt, không muốn là không tốt. Đó là ứng theo cái tánh của nó, nên vật vốn không nhất định là tốt, không nhất định là không tốt. Cho nên người ở trong núi, trong thung lũng thì sở thích là áo cỏ, hang đất; nếu lấy mũ áo văn vật mà nói với họ thì họ lấy làm kỳ lạ. Người Man Rợ ăn bằng tay, uống bằng lỗ mũi, nuốt tươi, uống máu thấy nhà ăn bày chảo vạc thì phỉ nhổ. Nước Tần cắt mười lăm thành để đổi lấy một hòn ngọc của nước Triệu mà
người Kinh Sơn thì lại lấy ngọc mà ném chim. Nước La Sát cho hếch mũi, vẩu răng là đẹp, nhưng thấy ai mày ngài, mắt phượng thì sợ hãi gào khóc mà chạy trốn (26). Chim rừng nghe tiếng sênh phách thì xa bay, vượn khỉ mặc áo đội mũ thì xé rách. Suy cho rộng ra, thì nói “ có cái tốt mà không tốt, có cái không tốt mà tốt” là nói cái đó.

Đoạn này là để nói rõ ý nghĩa của đoạn trên. Nhưng việc trong thiên hạ có cái thường, có cái biến. Ứng phó với cái biến mà không mất bản tánh, thì chỉ người đại lực lượng mới làm được. Pháp Loa Thế tôn nóng bức khát nước, dò hang tìm nước, thấy một con rắn dài, bắt nó mà nuốt đi, chỉ có Thế tôn mới nuốt được rắn. Rắn lại hóa rồng phun nước, làm cho Thế tôn lềnh bềnh, thì ma chướng càng cao. Thế tôn hóa làm cái bong bóng nổi lênh đênh trên mặt nước, rồi người ta cũng chẳng thấy Thế tôn, mà cũng chẳng thấy có bong bóng nữa. Thầy lấy ngón tay chỉ cái bong bóng, niệm Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền, Quan âm, biết được rằng muôn Phật là một Phật, ba thân là một thân, Thế tôn là chư Phật, bong bóng là Thế tôn. Là Trời, là nước, là rắn, là rồng, huyễn vẫn là huyễn, chân vẫn là chân. Nam mô Đại tuệ nhẫn Bồ tát. Táng chúng chấp tay hoan hỷ, Đại Thiền sư cũng hoan hỷ. Đại Thiền sư nhận biết Thế tôn, điều đó chúng ta cũng dễ hiểu: nhưng vì sao Đại Thiền sư lại nhận biết được Thế tôn, điều đó thì e rằng không dễ mà biết được.




*

*   *
 
*Chú thích:- [25]: Kinh Thư: “ Sở dục dữ chi tụ chi”

*Chú thích:- [26]: Thượng thừa: Sách tam tổ thực lục chia Thiền ra làm 5 loại:

1/ Phàm phu Thiền,
2/Ngoại đạo Thiền,
3/Tiểu thứa Thiền,
4/ Đại thừa Thiền,
5/ Thượng thừa Thiền.

Ở đây cho rằng Liễu, Ngộ, Định, Tuệ là đỉnh cao của VÔ DỤC.

*Chú thích:- [27]: Truyện này trích trong Liêu Trai chí dị
 

Tăng Hải Hòa nói rằng:

Điều Ngự ngôi cao thiên tử, phi tần đứng chật hai bên, châu báu chứa đầy trước mặt, thế mà xem lục cung như bụi bặm, bỏ thiên hạ như dép rách, tuyệt không lưu luyến một mảy may. Đời cũng có kẻ trì trai khắc khổ nhưng đến khi gặp điều lợi hại nho nhỏ, thì không cắt bỏ được. Cho nên biết rằng cho nước là lạnh mà lạnh không phải là thật nước: khi một dương mới sinh thì nước suối là vật ấm áp trước tiên , như thế thì có thể lấy lạnh mà xác định tánh nước hay sao? Xem lửa là ấm mà ấm không phải thật lửa: khi gỗ chưa dùi, khi đá chưa xiết, thì vẫn là mát lạnh đấy, như thế thì có thể lấy cái ấm mà xác định cái tánh của lửa chăng? Người xưa có nói:” Thiên hạ không có sắc chính, thiên hạ không có thanh chính” (27).

 Cái gì mình thích thì là tốt, nếu không thì Vạc của nhà Thương, Đỉnh của nhà Chu cũng khó bán cho người đi cày. Mùa đông mặc áo mỏng, mùa hạ mặc áo đụp là trái tánh vật. Áo mỏng với áo đụp tốt thì vẫn tốt, nhưng áo mõng mùa đông , áo đụp mùa hạ người ta không thích thì sao? Thử nghĩ khi cổ khát mà muốn uống nước, thì nước là tốt mà con rắn thì không tốt. Không có nước mà thấy con rắn dài, cái ta muốn [ cho đỡ khát] là ở con rắn, thì con rắn lại là tốt. Có nước mà lại làm cho Thế tôn lềnh bềnh thì nước là cái Thế tôn không muốn, vì vậy mà nước trở lại không tốt. Cái bong bóng trên nước là không tốt mà Thế tôn hiện làm cái bong bóng thì bong bóng lại là tốt. Chỉ cái bong bóng nước mà niệm Phật thì cái bong bóng nước chẳng phải là cái tốt nhất ở trong cái biến hóa ở nước Phật hay sao? Thầy vốn ở đàn, Thế tôn vốn ở núi; khi Thầy lấy tay chỉ cái bong bóng thì Thầy ở đàn sao? Hay ở núi sao? Tây phương Phật phóng đạo hào quang trắng mà chiếu rọi Đông thổ, có lẽ là như thế chăng? Kể ra Pháp Loa Thế tôn cũng còn vì khát mà thích nước, khát thì muốn giải, giải rồi thì thôi, được cái thú lênh đênh trên mặt nước thoải mái tự nhiên, lại còn phải đứt dục nỗi gì?
 

*Chú thích:- [28]: Bài thơ  Nghị hôn của Bạch Cư Dị (772- 846) có câu:” Thiên hạ vô chính thanh, thiên hạ vô chính sắc". ở đây chép ngược lại”
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, vukhoan19862012, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười 24, 2012, 01:49:13 AM »

(tiếp theo)

ẨN   THANH

Tiếng Ầm


Thanh dẫn ( Ngô Thời Hoành):

Ẩn là phát ra ầm ầm. Kinh Thi nói:” Ẩn kỳ lôi tại Nam Sơn chi dương” (27), ( nghĩa là: Tiếng sấm ầm ầm ở phía nam núi Nam Sơn), là nói điều đó. Lúc Thiền sư ngủ mê, là lúc chí tỉnh, bất chợt hào quang hiện ra, cây khô sống lại, thì chí tĩnh mà động, như thế gọi là ẨN THANH ( tiếng Ầm). Xét ra bắt đầu từ một luồng khí thông thoáng, hỗn độn chưa chia, muôn vàn hiện tượng đều sinh ra từ cái KHÔNG, cái KHÔNG cũng là Thái Cực (28). Hai khí âm dương đọng lại mà thành vật tượng, đều bắt mối ở Ngộ (Thức). Ngộ, chính là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi (29)đây. Khí và hình [ vật] đã chia rời nhau ra, thì khi trời xuống dưới, khi đất bay lên, có cái cơ biến hóa vô cùng, cái đó như trên trời có sấm, cái thể của nó (sấm) là đại tráng (30), cái đức của nó là ẩn (ầm ầm). Ẩn, chính là lưỡng nghi sinh tứ tượng. Trời và người sinh cùng một lý, cho nên mở màn bằng sự hiện thân của Tam tổ.

Xem cái đó thì biết được trời là gì?.

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

Hải Lượng Đại Thiền sư đi vân du đến thư phòng của bác sĩ (31). Bác sĩ và đồ đệ mặc Nho phục, lễ bái Đại Thiền sư và bạch rằng:

-   Phật nói bất sinh, sao lại có sinh? Phật nói bất diệt, sao lại có diệt?

Sư đáp rằng:

-   Có sinh là bất sinh, có diệt là bất diệt.

Đầu trâu, mình rắn khó mà trông thấy, sẻ ngủ, gà dậy, tự nhiên biết. Tây Ngưu Hóa Châu có đại thiên thế giới (32) sinh vô số vạn ức kiếp thân, có vô số vạn ức năm, cũng có vô số vạn ức thân, tai mắt mồm mũi đầy đủ. Người thử xem như thế là hữu sinh hay là vô sinh?

Đại Thiền sư nói xong thì ngủ mê, Bác sĩ và đồ đệ cùng một lúc đều lui ra. Bấy giờ Huyền Quang Thế tôn hóa làm muôn đoạn hào quang, lượn quanh cây khô, cây khô bèn đâm ra nhiều nhánh và lá, bỗng chốc có hoa có quả, quả sinh ra cây; hóa làm trăm ngàn muôn ức ngọn tùng.
 

Khổng Dinh Đạt nói:” Thái cực vi thiên địa vị phân chi tiền nguyên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị thái sơ, thái nhất dã”, nghĩa là: Thái cực là nguyên khí hỗn độn trước khi trời đất chưa sinh, tức thái sơ, thái nhất.


Sư bỗng tỉnh dậy, bèn ở trong núi Vạn Tùng, chắp tay mà đọc kệ rằng:

Ai thổi mà khô
Ai hà mà xanh
Rút cục gốc tùng
Tự diệt tự sinh.


Bác sĩ và đồ đệ tìm thấy Sư ở trong núi Vạn Tùng thì vô cùng hoan hỉ. Sư cũng vô cùng hoan hỉ.

---------------------------------

*Chú thích:- [29]: Kinh Thi- thiên Quốc phong.

*Chú thích:- [30]: Chỉ khí hỗn độn khi trời đất chưa bị phân chia. Trịnh Huyền nói:” Cực trung chi đạo, thuần hòa vị phân chi khí”, nghĩa là: đạo của cực là khí hỗn độn chưa bị phân chia.

*Chú thích:- [31]: Lưỡng Nghi: trời và đất. Kinh Dịch, hệ từ thượng: Dịch hữu Thái cực, thị sinh luiỡng nghi”, nghĩa là : Dịch có Thái cực sinh Lưỡng Nghi. Tứ tượng: bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Chu Hy giải thích rằng: Thái cực là chỉ vạch liền, Lưỡng Nghi chỉ vạch đứt. Tứ tượng  chỉ Thái dương, Thiếu dương, Thiếu âm, Thái âm.

*Chú thích:- [32]: Đại tráng: một trong 64 quẻ của Kinh Dịch tượng trưng đạo quân tử thắng thế.

*Chú thích:- [33]: Bác sĩ: chức quan chuyên khảo về kinh sách. Hán Văn Đế (-179_-157) đầu tiên lập chức Bác sĩ chuyên khảo về kinh Thi, để dạy cho con em vua quan, gọi là Nhất Kinh Bác Sĩ. Về sau, Hán Võ Đế (-140_-87) tiếp tục lập Ngũ Kinh Bác Sĩ ( Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu).

Theo Lịch triều hiến chương loại chỉ. Ở ta, đầu Lê có chức Bác sĩ. Đời Hồng Đức có chức Ngũ Kinh Bác Sĩ.
*Chú thích:- [34]: Tây Ngưu Hóa Châu: Tiến Phạn là Gonada, châu này ở phía Nam núi Tu Di. Nơi này sản sinh nhiều bò nên đặt tên như vậy. Nhà Phật cho rằng núi Tu Di ở giữa biển, cao 336 vạndặm ( Tu Di có nghĩa là cao đẹp), chung quanh có bốn châu, Tây Ngưu Hóa Châu là một trong bốn châu đó.

Đại Thiên thế giới: Nhà Phật cho rằng trong vũ trụ có rất nhiều tiểu thế giới. Họp 1000 tiểu thế giới gọi là tiểu thiên thế giới, họp 1000 tiểu thiên thế giới gọi trung thiên thế giới, họp 1000 trung thiên thế giới gọi là Đại Thiên thế giới , tam thiên thế giới (3000 thế giới).



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
vukhoan19862012, byphuong, SCC, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười 24, 2012, 01:51:20 AM »

(tiếp theo)

Thanh chú:

Hòa thượng Hải Âu nói rằng:

Đại Thiền sư vân du đến thư phòng của Bác sĩ, Bác sĩ mặc Nho phục để yết kiến Thiền sư, [ đó là nói] Nho và Thích là nhất trí. Bác sĩ chất vấn Đại Thiền sư với chữ “ hữu sinh hữu diệt là vì chưa hiểu rõ ý nghĩa của chữ “ bất diệt bất sinh”. Xin thử giải thích như sau:

Xuân đến thì hoa nở, thu đến thì hoa rụng, ấy là cái sinh và cái diệt của vật đó. Suy cho đến cùng, thì đều là đi vào cái “hư vô”. Lúc ta chưa sinh thì là ta; sau khi ta đã sinh rồi thì ta là ai?

Đó là cái sinh và cái diệt của ta, suy ra cho cùng, thì không biết đâu là chỗ  từ đó mà đến, đâu là chỗ  ta đi. Thấy cái thấy được mà không thấy cái không thấy được, đó là ý nghĩa của chữ “ bất sinh bất diệt”.

Đầu trâu, mình rắn là vật quái dị; sẻ ngủ, gà dậy là việc tầm thường, lấy đó làm chứng cho sự khó thấy và sự dễ biết. Tây Ngưu Hóa Châu, Đại thiên thế giới có vô số vạn ức kiếp thân, có vô số vạn ức kiếp năm.


Có vô số vạn ức thân thì sinh ở đâu, diệt ở đâu. Phải đứng ở chỗ  đó mới liễu ngộ được chữ “hữu sinhvô sinh”, mới liễu ngộ được chữ “ hữu diệt vô diệt”. Khi mà Đại Thiền sư nhập định ngủ mê thì Bác sĩ và môn đồ suy nghĩ, bàn bạc một phen, chưa liễu ngộ ngay được. Bây giờ Huyền Quang Thế tôn tới trước cảnh ngủ của chân nhân mà điểm hóa. Muôn đạo hào quang, lượn quanh cây khô mà cây khô đâm nhánh, ra lá rất nhiều, lại có hoa quả, lại sinh ra cây con, hóa làm trăm nghìn vạn ức ngọn tùng.

Cây mà khô là đã diệt, diệt thì không sinh. Thế mà từ chỗ  không sinh hiện ra cái lý sinh sinh bất cùng. Đã khô đi, lại sống lại, chập chờn nhấp nhoáng trong khoảng nháy mắt, hơi thở, chỉ ở trên mình cây tùng đã chết khô. Đại Thiền sư làm bài kệ như gậy giáng ngang đầu, sấm sét dậy bên tai, Bác sĩ nhờ đó mà giác ngộ chân lý, cũng là một người có tuệ nhãn lớn.

Tuy nhiên, cây tùng đã khô mà sinh nhánh, đó là Phật hóa mà cũng là ma hóa. Tâm sinh thì ma sinh, tâm diệt thì ma diệt, đều từ cái tâm của con người tạo ra. Người nào không có ý, không có xúc (33) thì không thấy cái đó, mà đã không thấy, thì tức là bất
sinh bất diệt. Ba tiết, trên nàylà cái đề mục sáng rõ ở trong kinh. Cái thâm thúy đắc đạo, cái huyền diệu thuyết pháp của Đại Thiền sư, cái cánh cửa nhập đạo của đồ đệ, đều nên tìm ở đấy.

Tăng  Hải Hòa nói rằng:

Phật cũng là người thôi. Người thì có hình có khí (chất), đã bị hạn chế trong hình và khí thì ai mà vô sinh được và ai mà vô diệt được? Chỉ có người nào trí tuệ viên thông, từ bi quảng đại, khác hẳn với người thường thì Tây phương gọi là Phật, mà Đông thổ ( chỉ Trung Quốc) gọi là Thánh nhân, là muốn nói họ vượt ra ngoài hình và khí mà thôi. Vì đã vượt ra ngoài hình và khí cho nên có thân sau trời đất mà đạo thì vẫn có trước trời đất.

Chúng sinh trầm luân trong bể khổ, sao nở chẳng sinh, mà đã sinh thì hào quang rọi khắp, tế độ vô biên. Còn giáo lý thì bắt gốc ở hư vô, thì sinh đâu có phải là nhất thiết đi [hình khí]. Khi mà công hành đã trọn vẹn, thì còn tiếc gì mà chẳng diệt, nhưng diệt mà vẫn chân như, tuy không còn biến hóa nữa mà cái thần vẫn ở khắp nơi, thế thì diệt đâu phải là không còn có gì. Phật nói bất sinh bất diệt là nói về cái thể của Đạo.

Cũng như nói:” khi Thánh nhân chưa sinh thì Đạo ở trong trời đất, khi Thánh nhân đã sinh thì Đạo ở trong Thánh nhân, khi Thánh nhân mất thì Đạo ở trong Lục kinh”. Đạo không hề có thêm có bớt, đó là ý nghĩa của chữ “ bất sinh bất diệt”, Đạo thông truyền đi từ một cái nguồn, không phải nó sinh ra từ Thánh nhân, nhưng có Khổng tử sinh ra mà vạn thế văn minh không bao giờ tắt. Nguồn Đạo tuôn ra không cùng, không phải có Phật mới sinh, nhưng có họ Mâu Ni sinh ra thì bánh xe Đạo pháp thường chuyển, không có lúc nào diệt. Cũng như cái cây đã khô, là một vật vô sinh, thế mà có hào quang lượn quanh thì bất chợt sống lại; sống lại mà có hoa,  có quả, lại sinh cây con trăm nghìn vạn ức, sinh sôi nảy nở không bao giờ hết. Thử hỏi đó là diệt chăng? Là bất diệt chăng?
 

*Chú thích:- [35]: Ý ( Manodvara)  thuộc lĩnh vực tinh thần, Xúc (Phassa) thuộc lĩnh vực cơ thể, xúc giác.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
vukhoan19862012, byphuong, SCC, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười 24, 2012, 01:54:22 AM »

(tiếp theo)

HOÁN    THANH

( Tiếng GỌI)

Thanh dẫn   ( Ngô Thời Hoành):



Bậc chí nhân biết giữ thiên chân của mình. Cảnh sắc trí tuệ lắng xuống, tâm tư ổn định, cho nên nhìn mọi việc đời, còn mất, hơn thiệt, rạch ròi trong đáy lòng, cùng ở với Ngọc Hoàng, không cho là chân quí, cùng ăn với hành khất, không cho là chân tiện, có
khi muôn vàn biến hóa, mà toàn thể vẫn như cũ, ngoại vật không thể nào tác quái được.

Bậc trung nhân trở xuống, lòng không có chân tri, mắt không có chân kiến, chập chờn như say như mộng trong cuộc mất còn hơn thiệt, tâm mê ý loạn, cho nên hoa mắt ù tai, vốn không có ma, không có lợn mà thấy có ma, có lợn, chỉ vì tưởng niệm quàng xiên, không quét sạch đi được, mà hiện lên đủ mọi thứ tinh ma quỉ quái. Chưa nói đến ngoại vật, hãy xét trong thân người, ý khí ban sáng buổi chiều đã không giống nhau, nếu không ĐỊNH thì làm sao mà TĨNH được, không TĨNH thì làm sao mà AN (yên ổn) mà LỰ (suy nghĩ), mà ĐẮC (thu được.


 Trên đời nay, bậc chân kiến thì ít mà người không chân kiến thì nhiều, cần phải GỌI tỉnh dậy ngay, để cho điều lành dấy lên, điều quái mất đi, rạch ròi mà nhìn cho vững. Đại Thiền sư nói rằng:” Người là người, ma là ma, súc sinh là súc sinh”. Câu này không những gọi tỉnh ngay được bọn phàm phu loạn tính, mà còn có thể thức tỉnh giấc mơ bươm bướm thiên cổ của Trang Chu (34).

*

*   *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):


 Hải Lượng Đại Thiền sư nói:-

-   Người là người, ma là ma, súc sinh là súc sinh.

Đồ đệ bạch với Thầy rằng:

-   Phật nói người chết làm dê, dê chết làm người, là thế nào? Thầy đáp:

-   Nho nói:” Thấy lợn đội bùn, chở ma một xe” (35) thì nhà ngươi cho đó là ma thật, lợn thật hay sao? Mắt vốn sáng mà hoa, tai vốn tỏ mà ù, mắt hoa thì không có bóng, tai ù thì không có vang. Bóng, vang là hình khí ở bên ngoài, tai mắt là hình khí ở bên trong. Thích Ca Mâu Ni nghìn tay nghìn mắt; Khổng tử [khi người ta] nhìn từ phía trước bỗng hóa ra ở phía sau (36). Tai mắt cũng một tai mắt ấy, trước sau cũng một trước sau ấy. Người thì không tàng hình được, ma thì không hiện hình được, cầm thú thì không nói tiếng người được. Ngược lại với những điều đó, là hình khí ở bên ngoài thôi. Kẻ nào giác ngộ Phật thì không xả thân, kẻ nào không giác ngộ Phật mới xả thân.

“ Nhan Uyên vị nhiên thán viết:
” Ngưỡng chi di cao,
toàn chi di kiên,
chiêm chi tại tiền,
hốt yên tại hậu”.


Nghĩa là: “ Nhan Uyên than thở rằng:” ngược lên thì cáng trông thấy cao; đi sâu vào thì càng thấy kiên cố, đang trông thấy phía trước bỗng nhiên đã ở phía sau”” .

Đó là lời Nhan Uyên tán dương học vấn đức độ của Khổng tử


----------------------

*Chú thích:- [36]: Trang Chu hóa bướm: Trang Chu nằm mộng hóa bướm, tỉnh dậy không biết Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu.
Ý nói không phân biệt đâu là mộng, đâu là tỉnh ( Trang tử- thiên Tề Vật luận).

*Chú thích:- [37]: Kinh Dịch, quẻ Thiên Phong Cấu nói:” Kiến thỉ phụ đồ, tái quỷ nhất xa”


*
*   *



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
vukhoan19862012, byphuong, SCC, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười 24, 2012, 01:57:47 AM »

(tiếp theo)

Thanh chú:
 

Hòa thượng Hải Âu nói:

Người thì có đạo người; ma thì có đạo ma; súc sinh có đạo súc sinh, đó là Đại Thiền sư muốn nói rằng người, ma, súc sinh đều tự có hình khí vậy. Phật nói người chết làm dê, dê chết làm người, là có ý nói rằng người vốn có đạo người, [ nhưng] mất hết thiên lương (37), thì tánh người tiêu diệt mà phải đi vào cái đạo của súc sinh. Dê vốn ở trong đạo súc sinh, [nhưng] hé ra một tia sáng trí tuệ thì cái nghiệp căn tự khắc bị chặt đứt mà được đi vào đạo người.


Thiện ác luân hồi chỉ là một lối ngụ ngôn giác thế của đạo Phật, cũng như quẻ KHUÊ trong Chu Dịch, lời tượng nói ma nói lợn, không thể theo mặt chữ mà bảo rằng có thật. Nếu biết rõ cái nghĩa hình chất, thì chân thân là cố hữu, tiền cảnh là ngoại lai, vốn có vốn không, trí giả không hề lơ mơ. Mắt vốn sáng, dùng để nhìn, tai vốn tỏ, dùng để nghe, có lúc tự nhiên mắt hoa, tự nhiên tai ù: mắt hoa thì không có hình, tai ù thì không có thanh, tuy rằng thỉnh thoảng bị cái ngoại lai làm cho quáng điếc, nhưng chỉ có mắt sáng tai tỏ là còn mãi. Đại Thiền sư lấy bóng vang, tai, mắt, phân biệt hình khí bên trong bên ngoài, để làm sáng tỏ cái nghĩa của lời nói đầu tiên trong chương này.

Kinh Phật nói Thích Ca nghìn tay, nghìn mắt, sách Nho tán tụng Phu tử rằng:” nhìn Phu tử ở phía trước, thì bỗng dưng Phu tử đã ở phía sau”. Đó cũng chỉ nói Thế tôn đức hạnh đầy đủ, tuệ nhãn nhìn suốt, Thánh nhân thể dụng toàn tài, không thể trắc lượng, đều là để hình dung cái tuyệt diệu của các bậc ấy mà thôi. Gọi là “ Nam mô Phật” hay nói là “ Lớn thay Phu tử”, ý nghĩa là thế, chứ nào phải Thích Ca quả thật có tướng ảo hóa, Phu tử có thuật phân thân đâu! Lãnh ngộ được điều này thì người, ma, súc sinh đều có hình khí bên trong, nếu có lúc ngược lại thì đều là hình khí bên ngoài thôi.

 Lãnh ngộ được chân diện mục thì không chịu bỏ cái bên trong để theo cái bên ngoài; kẻ nào mê thì ngược lại. Cho nên nói rằng:” Kẻ nào giác ngộ Phật thì không xả thân, kẻ nào không giác ngộ Phật thì xả thân”.

*
*   *
 

Tăng Hải Hòa nói rằng:

Phật nói câu nào cũng cao xa, Nho nói câu nào cũng cao xa. Tuy nhiên, Nho gia từ khi Phục Hy đã có văn tự, đời đời xuất hiện những bậc đại thánh đại hiền, giảng thuyết từ những chỗ  chắc thực, ngay, bằng, cho nên người ta vỡ ra được.

Thiền gia thì từ sau khi Phật Thích Ca trao y bát, chỉ dụng lực ở chỗ  “ minh tâm kiến tánh”, duy có Đạt Ma (38) là có để lại đôi lời biện giải. Vì vậy mà đồ đệ của đạo Phật không lý giải được.

Như nói rằng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt là muốn nói tay làm được hết thảy, mắt thấy được hết thảy, như tay của nghìn người, mắt của nghìn người, thế mà lại tưởng thật, đắp lên cái tượng Phật nghìn tay nghìn mắt; như nói xả thân, là bảo rằng lợi người lợi vật, không chút riêng tây cho mình, thế mà đến nỗi có người đem thân làm mồi cho thuồng luồng, cho hổ báo!

 Giả sử những người ấy đọc sách Nho đến câu “minh tứ mục, đạt tứ thông” (39) thì họ tưởng rằng Ngu Thuấn có bốn mắt, bốn tai thật; đọc đến câu “ chở ma một xe” thì e họ vẽ ra Chu Công đang thúc một xe ma đi lên, làm cho người ta ngờ vực; đến câu “ tại tiền tại hậu” thì e họ vẽ Khổng Tử biến hóa thành một tướng  mạo ở phía trước, một tướng  mạo ở phía sau, làm cho Nhan Hồi hoảng hốt không hình dung được.

Nho gia đâu có như thế !


-----------------------

*Chú thích:- [38]: Sách Luận ngữ- thiên Tử Hãn ghi:
 
*Chú thích:- [39]: Thiên lương là tánh tốt mà trời phú cho người.
 
*Chú thích:- [40]: Đạt Ma: tức Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn Độ, đến Trung Quốc năm 520, mất năm 529. Được người Trung Quốc tôn xưng là Tổ thứ nhất của Thiền tông Trung Quốc.
 
*Chú thích:- [41]: Kinh thư- thiên Thuấn điển ghi: “ Minh tứ mục, đạt tứ thông”. Ý nói mắt và tai phải sáng và tỏ để nghe thấy khắp nơi trong dẫn chúng.
 





(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
vukhoan19862012, byphuong, SCC, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười 25, 2012, 05:57:40 AM »

(tiếp theo)

THOÁT    THANH

( Tiếng THOÁT)

 
Thanh dẫn: ( Ngô Thời Hoành):

THOÁT có nghĩa là GIẢI THOÁT (40), Thoải mái. Cái đức lớn của trời đất gọi là sinh (41), cho nên quí trọng khí dương mà khinh rẻ khí âm, Thánh nhân có cái đức để tham dự với trời đất, cho nên ưa cái thiện mà ghét cái ác. Quí trọng khí dương mà ưa cái thiện là vì nó là giải thoát và thoải mái. Nói THOÁT, đâu có phải là thực sự cho người thoát khỏi nhà ngục, mà chỉ có nghĩa là thoát khỏi cái cùm, cái xiềng của sự tối tăm mà thôi. Hết thảy vạn dân như ở trong ngôi nhà đang cháy (42), bị khí bẩm sinh gò bó, bị vật dục che lấp không bỏ được tham sân, phần nhiều sa lầy trong tình ái. Nếu không có tinh hoa của nhân nghĩa đạo đức để mở cái chướng tế ( cái bờ ngăn che) thì hầu hết gỡ ra không được. Thánh nhân dạy người, chủ yếu là ngăn tà khí, giữ lòng thành, xa rời cái gì hão huyền, để phục hồi cái tia sáng ( trí tuệ), không đến nỗi chìm đắm trong bể khổ, mà được mọi điều giải thoát. Như thế mới gọi là THOÁT, Đại Thiền sư nói Hữu Ngu Thị ( Đế Thuấn) lấy phép TINH NHẤT (43) để đánh vỡ nó ( tà khí và hão huyền). Phật Thích Ca Mâu Ni lấy pháp TINH TẤN (44) để đánh vỡ nó. Đánh vỡ tức là giải thoát. TINH NHẤT và TINH TẤN chỉ là nhân nghĩa đạo đức mà thôi. Nghe tiếng sấm sét mà loài côn trùng đông miên ( ngủ suốt mùa đông) ở dưới đất đều sống lại, đó là cái THOÁT THANH của trời đất, (tiếng sấm sét là cái THANH để giải thoát cho côn trùng). Nhân nghĩa đạo đức được phát triển ra, nghe giảng nhân nghĩa đạo đức mà trừ khử được cái gì che lấp trí tuệ, đó phải chăng là cái THOÁT THANH của Thiền Sư?

*

*    *

Chính văn ( Ngô Thời Nhậm):

 Hải Lượng Đại Thiền Sư nói:

o Phật Thích Ca Mâu Ni sinh sau Đế Thuấn Hữu Ngu Thị, cho nên tiếp thu được cái phép phá ngục của Thuấn để mà tế độ chúng sinh.

Đồ đệ bạch với Thầy rằng:
 
o Hữu Ngu Thị khiến Cao Dao làm sĩ sư (45) như thế là vào trong nhân ngục (46) còn phá địa ngục nỗi gì?

Đại Thiền Sư nói:

o Nhân ngục dễ ra, địa ngục rất khó ra, không phá thì không ra được. Hữu Ngu Thị là đại lực lượng mới phá được. Thích Ca Mâu Ni cũng là đại lực lượng cho nên tiếp thu được cái phép phá ngục.

Đồ đệ bạch với Thầy rằng:

o Hữu Ngu Thị có cái phép gì vậy? Thầy nói:

o Địa ngục rất nguy. Phật có nói cái khổ ở địa ngục vô gián (47). Hữu Ngu Thị lấy cái phép TINH NHẤT mà phá nó. Thích Ca Mâu Ni lấy cái pháp TINH TẤN mà phá nó. Sau này, Nhan Hồi nói KHẮC KỶ, Đại Huệ nói SÁT HẠI (48), cả hai đều dụng công ở trên chữ TỊNH, cho nên cái tinh lực để đánh phá địa ngục là thanh bảo kiếm kim cương.

Đồ đệ lại bạch với Thầy rằng:

o Khi Hữu Ngu Thị phá ngục, thì Thập Điện Minh Vương (49) đã dụng sự chưa?

Thầy đáp:

o Đã dụng sự. Thập Điện Minh Vương tức là lúc đồ thư chưa thành, bốn mặt tám phương đều thảy thảy dụng sự. Phật Thích Ca Mâu Ni là thân thứ ba của Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát phủ phổ mười phương tức là đồ thư. Thập Điện Minh Vương xuất hiện, giữ được thân kim cương bất hoại. Phật Thích Ca Mâu Ni dùng nó cũng in hệt như Hữu Ngu Thị dùng nó.

Đồ đệ lại bạch với Thầy rằng:

o Tại sao chúng sinh bị đọa xuống địa ngục nhiều thế?

Thầy đáp:

o Ấy là vì chúng sinh từ bi. Hữu Ngu Thị không từ bi, Phật Thích Ca cũng không từ bi, cho nên phá được địa ngục. Nếu chúng sinh không từ bi, thì tức là không đọa xuống địa ngục. Vì vậy cho nên, giết cha mẹ, giết sư sãi, đó là cái nghĩa bình đẵng (50) thứ nhất của Phật gia.

Đại Huệ là cao tăng Trung Quốc đời Nam Tống. Trong công án trả lời cho môn đồ, Đại Huệ dùng từ sát hại để yêu cầu môn đồ phải có thái độ phủ định dứt khoát (sát hại) với các hiện tượng bên ngoài.


*Chú thích:- [42]: Thoát thanh: Chữ THOÁT trong thoát thanh đồng âm, đồng nghĩa với chữ THOÁT trong GIẢI THOÁT.
*Chú thích:- [43]: Kinh Dịch, hệ từ hạ:” Thiên địa chi đại đức viết sinh”.

*Chú thích:- [44]: Kinh Pháp Hoa:” Ba cõi giống như nhà lửa, bao nhiêu là khổ não thực đáng sợ”

*Chú thích:- [45]: Kinh Thư, thiên Đại Vũ mô:” duy tinh, duy nhất doãn chấp quyết trung”. Nghĩa là: phải tinh tường chuyên nhất mới nắm được đạo trung.

*Chú thích:- [46]: Tinh tấn: trong 6 pháp tu ( lục độ) của Phật giáo, tinh tấn có nghĩa là tinh thuần ( không tạp) và gắng gỏi (không nhác).
*Chú thích:- [47]: Sĩ Sư: quan coi việc hình ngục đời Nghiêu Thuấn.

*Chú thích:- [48]: Nhân ngục: ngục do người làm ra ở trần gian. Địa ngục: ngục ở âm phủ.

*Chú thích:- [49]: Ngục vô gián: nơi địa ngục cực kỳ tàn ác, tội nhân phải liên tục chịu những hình phạt đau đớn, không bao giờ thoát khỏi.

*Chú thích:- [50]: Sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên ghi:” Khắc kỷ phục lễ vi nhân” , nghĩa là “ giữ được mình theo với lễ là nhân”.

*Chú thích:- [51]:Thập Điện Minh Vương: Phật giáo cho rằng dưới đất có mười vua cai quản về địa ngục, như: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương,…


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Ngoisaobiec, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.275 seconds với 25 câu truy vấn.