Tháng Mười Một 15, 2018, 08:20:24 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Về Tam giáo đồng nguyên ở Trung Quốc  (Đọc 2976 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Archéo
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 87

Cảm Ơn
-Gửi: 1198
-Nhận: 389


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Mười 27, 2011, 08:27:56 pm »

TRUNG QUỐC - TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN
Dẫn nhập: Khỏi phải nhắc lại sự ảnh hưởng của Văn hóa và Tôn giáo của đất nước Trung Hoa lớn như thế nào đến Việt nam. Và như vậy, nhất thiết không thể không tìm hiểu vấn đề Tam giáo đồng nguyên của Trung quốc nếu như chúng ta để tâm tìm hiểu Tam giáo đồng nguyên của Việt nam

Archéo

===============================

Có nhiều cách hiểu sai lạc về “Tam giáo đồng nguyên” ở Trung Quốc và càng sai lệch về “Tam giáo đồng nguyên” ở nước ta. Ví dụ: từ điển Cao Đài ( xuất hiện “miễn phí” trên Internet từ dăm năm nay, giải thích (trích yếu) như sau:
Tam giáo đồng nguyên là ba nền tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo... cùng một gốc, gốc đó là Đức Chúa Trời Ngọc Hoàng Thượng Đế, mà ngày nay gọi là Đấng Cao Đài. Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên có từ thời nhà Tống bên Tàu, cách nay khoảng 1.100 năm. Lão giáo thì cho vạn vật đều có nguồn gốc là Đạo, cuộc đời là phù vân, hơi đâu mà lo nghĩ. Phật giáo thì cho vạn vật do Chân như mà ra, sắc với không là một, sự sinh sinh hóa hóa là do vọng niệm chớ không có thực. Nho giáo thì cho sự biến hóa trong Vũ trụ là do nhất động nhất tịnh của Thái cực mà ra. Thành thử cái gốc của Tam giáo vốn là một, mà cái ngọn thì chia ra khác nhau. Tóm lại, ở Trung Hoa, Tam giáo vốn đồng nguyên, nhưng về cách lập giáo và thuyết minh của mỗi giáo có khác, làm cho người ta lầm tưởng Tam giáo khác hẳn nhau”.

1. Để rõ hơn về giải thích nêu trên, chúng ta có thể tìm trong lịch sử tư tưởng ( tôn giáo Trung Hoa, do hoàn cảnh nào vvì sao giới học giả nêu ra thuyết “Tam giáo đồng nguyên”. Người đầu tiên nêu học thuyết hòa đồng này chính  là Đào Hoằng Cảnh (456-536). Ông đề xướng thuyết “Tam giáo đồng nguyên” với lí lẽ đơn giản là: ba tôn giáo Nho, Phật, Đạo đều cùng từ một nguồn gốc, cùng đưa con người đến đỉnh cao của như ý toại nguyện. Thuyết ấy được đưa ra đúng lúc vua chúa thích có những bày tôi trung thành do Nho giáo cung cấp, lại thích sống mãi lâu dài để hưởng thú vui của Đạo giáo, lại cũng muốn sau cùng được giải thoát để đạt được Niết Bàn của Phật giáo. Thuyết  Tam giáo đồng nguyên thịnh vượng được mấy trăm năm, nhất là trong thời Đường - Tống (650-1257) cho đến lúc mà xã hội thấy chỉ nêu đồng nguyên là chưa thật sâu sắc. Vương Trùng Dương lập ra  phái Toàn Chân nâng cao lên thành chủ trương “Nho, Thích, Đạo hợp nhất” xây dựng lí thuyết về Thiên đình bảy cấp, và viết các giáng bút giả lời thần tiên đọc cho các ông đồng bà cốt truyền đi khắp nơi; ông ta hô hào các học giả đều cần phải thấm nhuần Đạo Đức kinhThanh Tĩnh kinh của Đạo giáo, Bạn Nhược Tâm kinh của Phật giáo và Hiếu kinh của Nho giáo, để thật sự là một con người của “Nho, Thích, Đạo hợp nhất”.

Xét riêng cái gọi là “Đạo giáo” xuất  hiện khoảng ba trăm năm trước Công nguyên ở Trung Quốc, từ trong ban sơ, nó không hề cầu xin ở một Đấng Tối cao linh thiêng, huyền bí nào cả; nó không hình dung ra một Thượng Đế nào cả; nó cũng không dựng ra một Thiên Chúa đứng  trên cao, sáng tạo ra thế giới. Nền tảng tư tưởng của nó là đi tìm hạnh phúc ở chính mình, không chạy theo ngoại vật. Cho đến khi dần dần mang những yếu tố thờ cúng. Đạo giáo xuất phát từ tính thống nhất ba mặt giữa thần linh, con người và vũ trụ tự nhiên; quỷ thần có thể chi phối số phận con người, và ngược lại, con người có thể tiếp xúc với quỷ thần qua môi giới là đạo sĩ, là các thầy pháp sư, phù thủy, ta gọi nôm na là ông đồng bà cốt.
 
Theo truyền thuyết, người xướng xuất Đạo giáo (cũng có nơi gọi là Lão giáo) là Lão Tử (tiếng Anh ghi tên ông là Laotzu).
Nhưng thật ra, chẳng có ai tên là Lão Tử, chẳng hề có học giả nào, đạo sĩ nào, một con người nào mang họ Lão ở đây cả. Cũng có thể có một người cao tuổi sau này được tôn lên như một nhà triết học Trung Hoa cổ đại; Lại đồn rằng, ông già này người nước Sở, không ai biết ông sinh năm nào, mất năm nào (sau này, có sách ghi áng chừng là ông sinh khoảng năm 604 TCN, mất khoảng năm 523 TCN); Lại đồn rằng, mẹ ông mang thai đến mấy trăm năm mới sinh ra ông, cho nên chú bé vừa chào đời, râu đã dài ba thước. Tên thật là gì không ai biết, nhưng chắc chắn không phải là họ Lão. Sau này, có nơi cho rằng ông tên là Lý Nhĩ hoặc Lý Đam, tự là Bá Dương. “Ông” không có một cái tên đích xác, một tiểu sử chính xác, cũng như bất kì một tác phẩm cụ thể nào cả. Sau này, người ta gán cho  “ông” có một tác phẩm chính, gọi là Đạo Đức kinh (Dao De Jing), nhưng thật ra cuốn sách này do một người tên là Hoàn Uyên tự coi mình như học trò của “thầy” Lão Tử tập hợp lời đồn truyền và biên soạn vào thời Chiến Quốc. Vì Đạo Đức kinh được biên soạn bằng ngôn từ tư biện nên rất xa lạ so với cách diễn đạt quen thuộc sau này. Chữ cổ ghi lời xưa, nhiều câu ghi ù ờ, đời sau thả sức đoán. Cho nên ngay khi đó và nhất là về sau này, có nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều cách giải thích khác nhau, mỗi cách có môi trường ảnh hưởng to lớn khác nhau, như câu: “Đạo vi nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”, thì có thể diễn ra là “Đạo vốn là một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”; Lại có câu: “Đạo khả đạo, phi thường đạo, danh khả danh, phi thường danh” (có thể hiểu là: “Đạo mà ta chế gọi được, không còn phải là đạo thường. Danh mà có thể gọi được thì không phải là danh thường”. Những người bảo vệ nổi tiếng của Đạo giáo là Dương Chu (340-266 TCN), Tống Hinh, Doãn Văn và nhất là Trang Tử (369-286 TCN). Trang Tử đề ra phép biện chứng của ít nhiều, tuyệt đốitương đối, ổn địnhbiến đổi, nhưng Trang Tử cũng cố sức tuyệt đối hóa cái ít trong cái nhiều, đứng yên trong vận động, cố sức tách biệt “đạo” với sự vật, nhằm tạo ra cơ sở tư tưởng cho Thuyết Vô vi của ông. Thuyết này trở thành một trong những nguồn tư tưởng hình thành tín ngưỡng Đạo giáo lúc gần bước sang Công nguyên.

2. Xã hội thủa ấy đầy rẫy mê tín, cúng tế quỷ thần, phù phép đồng bóng và bói toán tướng số tử vi, đặc biệt là mê tín chạy theo thần tiên. Các “Đạo” biến thể thời này thường ưa dùng ma thuật (magic); ma thuật thường gắn bó với niềm tin rằng, con người có thể dùng những sức mạnh siêu nhiên để tác động vào tự nhiên và con người, như bằng khấn nguyện, làm phép, yểm bùa, ấn quyết, mở phép lạ, chạy đàn, đốt hồn vía, niệm thần chú, là “quỷ thần”.

Các biểu tượng ma thuật cũng được gắn liền với thuật yểm bùa, chữa bệnh bằng phù phép, rồi dần dần “tiến lên” các pháp thuật của thầy phù thủy, kể từ việc đeo bùa hộ mệnh, ngậm rượu trong mồm phun ra để tạo mưa, gọi ma quỷ lên đánh đòn xua đuổi để giải hạn, xoa đầu các hòn đá để được chửa đẻ, cho đến việc “dậy” âm binh đi dẹp các nạn dịch bệnh hoặc các tai họa lớn của cả một vùng đất, việc “xức dầu” lên người con bệnh, dùng “thánh cốt” hoặc “kỉ vật” của các bậc thần tiên để chữa bệnh, việc tắm trong dòng sông thiêng liêng hoặc lấy nước suối thiêng, giếng thần về để tắm khỏi bệnh (như truyền thuyết Lý Thần Tông được tắm bằng vạc dầu thần của pháp sư Không Lộ, để rụng hết lông cọp mọc đầy người)(1).

Kẻ có quyền thế, cũng như kẻ lắm bạc nhiều gạo, mong ước được sung sướng bền lâu và mãi mãi đua nhau đóng bè mảng, tàu thuyền ra biển khơi để tìm đến ba ngọn núi Bồng Lai, Phương TrươngDoanh Châu mong được gặp tiên ông, tiên cô, để xin được các “linh đan”, các thứ thuốc “trường sinh bất tử”. Đến thời Đông Hán (25-220), những hình thức mê tín ấy kết hợp với học thuyết Đạo Gia, dẫn đến sự xuất hiện của Đạo giáo. Khi nó thu hút tất cả các tín ngưỡng dân gian, phát triển mạnh tế lễ và pháp luật, tự biến dạng thành  Đạo Thần tiên, Đạo Phù thủy,  luyện đan làm thuốc trường sinh bất tử, làm phép lạ để tận hưởng khoái lạc. Vị đạo trướng nổi tiếng nhất là Vu Cát, sống giữa thế kỉ thứ II, tác giả sách  Thái Bình Kinh, dùng phép âm dương, ngũ hành để phù phép, lên đồng bóng gọi hồn người chết, sai khiến ma quỷ,v.v… (các “phép” này sau gọi tóm chung là Vu thuật cổ đại).

Đến thời Tam quốc (220-280), người theo các Đạo ấy, quấn trên đầu một mảnh vải vàng, (nên sau gọi là đạo Hoàng Cân; Hoàng cân nghĩa là khăn vàng, nên cũng còn gọi là Đạo Khăn vàng), dần dần mang  theo màu sắc Thiên Niên luận và đạo Cứu thế(2) . Đạo Khăn vàng dùng thờ cúng tổ tiên cốt để tập hợp quần chúng chống lại vua quan hà khắc; lấy Thái Bình kinh làm “Kinh điển”; sau đó, biến thành đạo Thái Bình, đi đâu cũng tuyên truyền phép trường sinh bất tử, dùng tàn hương nước lã phù phép để chữa khỏi bệnh và sống mãi không chết. Để gây uy thế cho mình, làm cho Đạo tăng thêm vẻ huyền ảo, kì bí, đạo trưởng bịa ra rằng chính ông nội của ông ta đã từng được đích thân Lão Tử trao cho sứ mệnh dùng Thái Bình kinh để xây dựng thành đạo Thái Bình cho toàn thể loài người mãi mãi thoát khỏi cảnh khổ sở đói khát. Từ một hệ tư tưởng triết học, pha trộn thêm nhiều hình thức lễ bái, tín ngưỡng, rồi biến dần thành một hình thức tôn giáo, bao gồm cả sử dụng nhiều công cụ trang trí (như tranh, tượng, bát bửu,...) hoặc phòng vệ (như nhẫn, bùa, ngải,...) dùng đồng thời với nhiều dạng thức ma thuật (xiên lình, hú hồn, cầu hồn, lên đồng, đuổi ma quỷ, v.v...) khác. Tượng trưng cho hình thức tín ngưỡng ( tôn giáo này là biểu tượng Âm Dương được bao quanh bằng Bát Quái. Lí luận chủ toàn của nó là nền tảng của Dịch học, Tử vi, Phong thủy, Siêu Hình học Trung Hoa.
 
3. Sau khi hai “đạo” trên bị đàn áp, bộ phận còn lại biến thành một loại hình tôn giáo chính thống, mang tâm trạng bất mãn với triều đình, triền miên chống đối, chờ thời cơ nổi lên. Nhưng ba bốn trăm năm cứ liên tiếp thất bại, nhiều trí thức chán nản đi tìm thần tiên trên núi để được an ủi; Một số người đi vào học thuật, trở thành học giả có tiếng tăm như  Cát Hồng, Đào Hoằng Cảnh, Lục Tu Tỉnh, Khấu Khiếm Chi, Vương Hy Chi (như thư pháp),  Vương Hiến Chi, v.v...  Cát Hồng (238-363) (được đời sau gọi là Cát Tiên ông) chủ trương kết hợp Đạo giáo với Phật giáo và Nho giáo, thành đạo Kim Đan của quý tộc, nhưng tập trung vào tính bất tử thiêng liêng là đặc trưng của Đạo giáo. Chính lúc đó, Đào Hoằng Cảnh (456-536) đưa chủ trương của Cát Hồng thành lí luận, thành học thuyết Tam giáo đồng nguyên, với lí lẽ rằng, cả ba đạo Nho, Phật, Đạo cùng một nguồn gốc. Ông ta xây dựng hoàn chỉnh lí thuyết về Thiên đình Đạo giáo; cho rằng, Thiên đình có bẩy cấp, và giáng bút mượn lời thần tiên đọc cho các ông đồng bà cốt truyền đi khắp nơi(3). Vua chúa sau này thích có những bầy tôi trung thành mà Nho giáo cung cấp, thích sống mãi để hưởng thú vui của Đạo giáo, lại cũng thích đạt Niết Bàn của Phật giáo, cho nên thuyết Tam giáo đồng nguyên mấy trăm năm thịnh vượng (từ thời Nam - Bắc triều (420-581) cho đến thời Tuỳ ( Đường (581-907)).

Dưới ngọn cờ tư tưởng dung hợp về  Tam giáo đồng nguyên, Đào Hoằng Cảnh, nhà lí luận nổi tiếng nhất đầu thế kỉ thứ VI, đã viết sách Chân linh vị nghiệp đồ để dễ phổ cập học thuyết Tam giáo đồng nguyên.
Sách Chân linh vị nghiệp đồ nêu chư thần được xếp thành 7 cấp độ ngay ngắn, rõ ràng: 
-Cấp độ thứ nhất, đứng đầu là Nguyên Thủy Thiên Tôn, có danh hiệu là Hư Hoàng Đạo Quân; bên tả xếp thành hàng chữ nhất có Ngũ Linh Thất Minh Thần  Sinh Cao Thượng Đạo Quân, Đông Minh Cao Thượng Hư Hoàng Đạo Quân; bên hữu là Tử Hư Cao Thượng Nguyên Hoàng Đạo Quân, Động Hư Tam Nguyên Thái Minh Phượng Hoàng Đạo Quân;
-Cấp độ thứ hai là Đạo Đạo Quân có tên hiệu  đầy đủ là Thái Thanh Cao Thánh Thái Thượng Ngọc Thuần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân, với hàng loạt chư thần đã giáng xuống trần thế thành nhân vật lịch sử như Doãn Hỉ, An Kỳ Sinh, Cát Huyền, Khổng Tử, Nhan Hồi, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Tư Mã Quý Chủ, Trang Tử, Lão Đam, v.v...; 
-Cấp độ thứ tư, đứng đầu là Thái Thanh Thái Thượng Lão Quân, chính là Lão Tử (thuở ban đầu, Đạo giáo xếp Lão Tử là thần của muôn thần, đến khi “trưởng thành”, Đạo giáo có bảy hệ thần nên Lão Quân không còn là chúa tể vũ trụ, sinh trước Trời Đất nữa, cũng không còn là “thần của muôn thần” nữa, mà là Thái Thanh giáo chủ, tức là giáo chủ của Đạogiáo thôi); 
-Cấp độ thứ năm, đứng đầu là Trương Phụng; Cấp độ thứ sáu, đứng đầu là Trương Mao Quân;  Cấp độ thứ bẩy, đứng đầu là Phong Đô Bắc Âm Đại Đế.
Trên đây mới chỉ là phả hệ thần tiên của đạo sĩ phái Mao Sơn. Ngoài ra, còn có không ít thần phả của nhiều phái khác nhau, chứng tỏ đây không còn là ảo giác của thời nguyên thủy nữa, mà đã là kết quả cấu tạo có ý thức mang chiêu bài đồng nguyên của tam giáo. Xuyên qua mây mù bao quanh, “thần phả” cho ta thấy quan niệm về sơ đồ vũ trụ cổ đại Trung Quốc và thấy rõ hệ quy chiếu thứ hai của tổ chức thần phả này là quan niệm đối lập nhị nguyên “sinh tồn” và “tử vong”, khẳng định tâm linh con người đãxác lập tình cảm cơ bản nhất, đó là hướng về sự sống và sợ hãi cái chết, nhất là sự sợ hãi cái chết cũng là nguồn gốc tâm lí của truyền thống quỷ thần.
 
4. Về sau, trong quá trình truyền tới các vùng miền khác nhau, Đạo giáo lại thấy cần thâu nạp thêm các đấng bậc bất tử để việc thờ cúng được thêm uy nghi, phồn thịnh. Bàn thờ qua từng thời gian lại lần lượt có bày thêm “bát tiên” với nhiều tài lạ, phép quỷ, ví như Lã Động Tân thường mang một cái chổi đuổi ruồi, nổi tiếng là vị tiên bảo trợ sức khỏe, có tài chữa được mọi bệnh tật hiểm nghèo; Lý Thiết Quài luôn luôn mang theo quả bầu và cái nạng, xuất hiện như một người ăn xin què cụt, bênh vực kẻ cô đơn; Trương Quả Lão có khả năng tàng hình, thường cưỡi một chiếc xe tơ trắng, mang một cái đàn ống trúc và hai cái gậy, bảo trợ cho các cụ cao niên; Hà Tiên Cô tiên nữ cầm cái muôi tre, một bông sen và đôi khi thêm một trái đào tiên, nổi tiếng về khổ hạnh và lòng nhân ái; Hán Tương Tử ( vị tiên bảo trợ các nhạc sĩ, luôn cầm một ống tiêu, nổi tiếng về ăn tiêu hoang phí, ưa cảnh sống tịch mịch; Chương Lý Quyền là một chiến binh bị bại trận, sau trở thành nhà luyện đan nổi tiếng, tay luôn luôn cầm một cái quạt; Lam Thái Hòa, một chân đi giày một chân không, tay mang giỏ hoa, bảo trợ người trồng hoa và bán hoa; Tào Quốc Cửu, là vị bảo trợ các diễn viên nghệ thuật, áo quần luôn luôn lộng lẫy, giàu năng lực ma thuật.
 
Sang đến thời Đường ( Tống, Đạo giáo được giai cấp thống trị nâng đỡ nên thế lực lan bùng khá mạnh, phát triển nhiều nhánh, kết hợp rất nhiều hình thái cúng bái phù thủy, pha trộn các loại mê tín dị đoan, thờ đủ mọi thứ thần thánh, kể từ Ngọc hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão quân ( tức Lão Tử, rồi đến sao Bắc Đẩu (gọi là Huyền Vũ), rồi đến sao Văn Xương, sau đó là Quan Thánh, tức Quan Vũ (tức Quan Vân Trường đời Tam Quốc), v.v... Các đạo này trước sau đều tập trung thờ cúng Lão Tử cùng các vị tiên, Lão Tử được coi là hóa thân của “đạo” đã nhiều lần giáng sinh xuống làm người; họ cho rằng “đạo” đã sinh ra các đấng Trời như “Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh, được gọi chung là “Tam Thanh Thiên”. Các vị tiên không những chỉ ở trên các tầng trời mà còn ở trong 36 hang động và phúc địa ở trên mặt đất. Đến  đời Thanh (1644-1911), lại thờ thêm Mã tổ Nữ thần phù hộ người đi biển và Chân Vũ dáng rùa và rắn. Các biến thể của Đạo giáo đua nhau mở ra thật nhiều phương thuật phù chú cầu sống lâu, đưa kẻ quyền quý và giàu sang thả sức hưởng khoái lạc, vênh vang ôm hết phúc lộc thọ trong thiên trạng cầu an của kẻ nghèo khổ bằng cách vun quén tư tưởng mong cầu hòa bình âm ỉ trong dân gian. Tín đồ được dẫn dắt tu luyện mau thành tiên ông, tiên bà “trường sinh bất tử” với cả trăm phép thuật luyện khí công, nhịn ăn lương thực (tịnh cốc), luyện đan (trộn lá quý thành thuốc viên). Các phương sĩ chuyên đi thực hành thuật luyện đan, bày đặt cho vua chúa và giới quyền quý có thuốc là biết cách sống sao cho trường sinh bất lão, thậm chí là trường sinh bất tử; và có loại các ẩn sĩ luôn lẩn trốn vào núi cao, sống xa lánh cuộc đời để khỏi bị danh lợi trói buộc, để chính mình mau chóng trở thành tiên. Về mặt xã hội, nó trở thành động lực tinh thần cho các “đạo sĩ” đi tìm thần tiên và thuốc trường sinh bất tử, cũng như các đạo thờ cúng quỷ thần, dùng khói hương, chiêng trống, tranh tượng, đồ bát bửu và nhiều dạng thức ma thuật (như bùa ngải, xiên lình, hú hồn, cầu hồn, lên đồng, đuổi ma...) quyến rũ đệ tử giàu hèn cùng vào thế giới linh thiêng(4); mặt khác, hoạt động trong nông dân nghèo khổ, các đạo này sử dụng nhiều ma thuật(5), tác động mạnh vào tập quán bình đẳng của lối sống công xã nguyên thủy, kích động nông nô và nông dân nổi dậy khởi nghĩa, phá bỏ sự áp bức tàn bạo của giai cấp thống trị, nhờ đó có ảnh hưởng to lớn và sâu rộng trong quần chúng lao khổ.

5. Được đưa vào Trung Quốc khoảng cuối đời Tây Hán (đầu Công nguyên) lúc đầu Phật giáo được coi là một loại phương thuật thần tiên, chỉ một bộ phận nhỏ thuộc tầng lớp trên của giai cấp thống trị phụng thờ; Phật giáo lao vào vạch ra con đường chịu khổ đời này, lúc chết được ban thưởng hóa kiếp sung sướng cực lạc. Thời Ngụy ( Tấn, Nam Bắc triều (420-589), Phật giáo trở thành tôn giáo của quần chúng, giáo lí nhà Phật cũng được một bộ phận xã hội tiếp nhận lí tưởng bình đẳng (ai cũng có thể tới Niết Bàn, cũng có thể thành Phật). Cùng núp dưới chiêu bài “Tam giáo đồng nguyên”, các tôn giáo dẹp bỏ những chuyện trái tai gai mắt. Mặt khác, các tầng lớp thống trị cũng sớm biết lợi dụng Phật giáo làm công cụ mê hoặc quần chúng, ru ngủ con người đi vào siêu thoát. Điển hình như Lương Vũ Đế (502-550) tuyên bố lấy Phật giáo làm Quốc giáo, liền đó, Phạm Chấn đưa ra  Thần diệt luận, dùng tư tưởng duy vật thô sơ đập mạnh Phật giáo: “Nhục thể là bản thể của tinh thần; tinh thần phá hủy xác thịt; rời khỏi xác thịt thì tinh thần cũng bị diệt bỏ”.
Hơn một năm sau, Phật giáo bị lợi dụng xấu xa nhất như một màn diễn bi hài kịch, khi cung phi Võ Tắc Thiên vào chùa tu lúc 27 tuổi, nhưng thật ra là để dễ làm nhân tình của thái tử, sau lên ngôi là Đường Cao Tông, cho tới khi sư nữ có thai liền được Cao Tông đưa về triều làm chính cung hoàng hậu; sau này, khi quyền bính nằm trọn trong tay, Võ Tắc Thiên cho dựng bộ kinh Phật  Đại Vân kinh, gồm 4 tập, nội dung ghi rõ: “Võ hoàng hậu nguyên là Đức Phật Di Lặc xuống trần để làm Vua cai trị thiên hạ”. Đến 70 tuổi, bà bắt quần thần tôn lên làm Hoàng Đế, đổi quốc hiệu nhà Đường thành nhà Chu; mười năm làm Hoàng Đế, “Đức Phật Bà” bảo: “Các nam hoàng đế có biết bao nhiêu cung tần mĩ nữ, ta là nữ hoàng đế sao lại không có những phi tần trai tráng cho mình?
Nói chung, thời Tùy ( Đường (581-907), Phật giáo trở thành một thế lực kinh tế ( xã hội to lớn, lập được hàng chục nghìn điền trang núp danh tu viện để phát triển thế lực chính trị ( tư tưởng, nảy nở hàng loạt tông phái mang đặc trưng dân tộc Trung Hoa. Đến thời Tống - Minh (960-1644), các phái Phật giáo dần dần có xu hướng dung hòa, thực hiện “Tam giao đồng nguyên”, muốn nhòa dần trong “Nho - Thích - Đạo hợp nhất” để dễ tồn tại.

6. Đến đây, nên bàn thêm đôi điều về Nho giáo. Nho giáo không hề đồng nhất với học thuyết của Khổng Khâu (551-479 TCN), vì rất lâu trước lúc Khổng Khâu ra đời, ở Trung Hoa đã có một tầng lớp người, gọi là các nhà nho (Nho gia), tức là những người “học theo đạo thánh hiền”,  tự cho rằng mình hiểu biết được lẽ Trời, Đất và lẽ người, đi dạy bảo người ta ăn ở “cho phải đạo”. Hơn ba trăm năm sau khi Khổng Khâu chết (479 TCN), học thuyết của Khổng đã bị người đời lãng quên, mãi đến thế kỉ II TCN, di sản tư tưởng của Khổng Khâu mới được Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) tân trang thành thuyết  Thiên Nhân cảm ứng, tạo thành cơ sở lí luận và tư tưởng của chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hai nghìn năm. Thậm chí, đến năm 136 TCN, vị vua thứ sáu nhà Tây Hán là Hán Vũ Đế (149-86 TCN) ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”; Hán Vũ Đế, tên thật là Lưu Triệt, trong đời làm vua, 11 lần thay đổi niên hiệu cho đẹp, nhưng tính tình hung bạo, nét mặt đanh ác, giết người không ghê tay; khắp xứ trẻ con khóc, nhắc đến tên Hán Vũ Đế là sợ hãi nín thít ngay; suốt sáu chục năm làm vua thi hành hàng loạt chính sách bóc lột thậm tệ, vét hết, vét sạch của cải trong dân. Vũ Đế vận dụng triệt để học thuyết Nho gia vào việc cai trị. Nho giáo bắt đầu trở thành hệ tư tưởng chính thống của xã hội Trung Quốc. Từ đời Hán trở về sau, khuôn thước chuẩn mực Nho giáo biến thành tín điều thiêng liêng, sách vở Nho giáo trở thành “báu vật của Thánh hiền”. Đến khi ấy, tức là gần 500 năm sau khi qua đời, Khổng Khâu lại được biến thành một “Đức Thánh” để thờ cúng, để lễ bái và cầu xin, và từ đó, Nho giáo khoác áo choàng mang màu sắc tôn giáo. Nhiều người thấy hình thức lễ nghi cúng tế Khổng Khâu đã tưởng lầm đây là một tôn giáo, và khoác cho nó cái tên là “đạo Khổng”, nói chữ là “Khổng giáo”. Không ít người nêu công lao của Khổng Tử và của Nho giáo nói chung là đã khởi xướng và nuôi dưỡng cái “truyền thống Quân Thần Trung Hoa” (chienese imperial tradition), từ đó sinh ra bao nghi thức, lễ nghi vái lạy thờ phụng vua chúa cùng Trời Đất. Nếu hiểu như vậy thì “Khổng giáo” đúng là một tôn giáo, và như vậy đáng được gọi là Khổng giáo hay đạo Khổng, và lẽ đương nhiên sẽ dẫn tới tưởng tượng để vẽ tranh, treo ảnh, dựng tượng Đức Thánh Khổng Phu Tử, xây văn miếu, lập bàn thờ, nghi ngút cúng tế Đức Thánh Khổng, vái lạy xì xụp, xin Đức Thánh phù hộ cho học giỏi, thi đỗ, ra làm quan.

Đạo Nho được mở đầu bằng các thuyết về Âm Dương, về Bát quái, về Ngũ hành, trước hết nhằm giải thích nguồn gốc vạn vật. Âm dương, còn gọi là lưỡng nghi, tác động vào nhau mà tạo thành tất cả mọi vật trong trời đất này. Trong Bát quái, Càn và Khôn là quan trọng nhất. Với  quan niệm tám yếu tố vật chất tạo nên vũ trụ, có chú ý đến sự phát triển của sự vật, thuyết Bát Quái là một tư tưởng triết học mang tính duy vật biện chứng, nhưng yếu tố tích cực còn hạn chế; thuyết Bát Quái sau này là cơ sở cho việc bói toán.
Ngũ hành là năm tác nhân tạo nên sự vật, gồm: Mộc (gỗ), Hỏa (lửa), Thổ (đất), Kim (khí) và Thủy (nước).
Từ các thuyết trên, các nhà Nho “Âm Dương gia” mở ra trường phái tư tưởng thời Chiến Quốc(6), dựa vào Âm Dương và Ngũ hành để giải thích sự biến hóa trong giới tự nhiên, sự chuyển biến trong bốn mùa, bốn phương, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ âm, thập can, các con số và sự phát triển của xã hội. Nhân vật tiêu biểu của phái Âm Dương gia là Trâu Diễn. Đến thời Tây Hán, thuyết Âm Dương Ngũ Hành được bổ sung và có ảnh hưởng lâu dài trong tư tưởng triết học Trung Quốc.
Dẫu là truyền thuyết, lịch sử cổ đại Trung Quốc được tính từ đời Phục Hy, tiếp đó là Hoàng Đế, rồi dòng dõi Hoàng Đế là Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ; Vũ chết, con của Vũ là Khải lên làm vua, mở đầu chế độ cha truyền con nối, và cũng đánh dấu Trung Quốc bước vào xã hội có nhà nước. Ba vương triều nối tiếp nhau: nhà Hạ từ thế kỉ XXI đến thế kỉ XVI TCN; nhà Thương, còn gọi là nhà Ân, từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XII TCN; nhà Chu, từ thế kỉ XI đến thế kỉ thứ III TCN. Trải dài tám thế kỉ tồn tại, nhà Chu chia làm hai thời kì là Tây Chu, từ đầu triều Chu đến năm 771 TCN (gọi là Tây, vì đóng đô ở Cao Kinh phía Tây) và Đông Chu từ 770 đến 221 TCN (gọi là Đông vì dời đô sang Lập  Ấp ở phía  đông. Thời Đông Chu tương đương với hai thời đoạn là thời Xuân Thu (722-481 TCN) và thời Chiến Quốc (403-221 TCN); đó là 500 năm nhà Chu suy yếu, các chư hầu nổi lên, liên miên chiến tranh cắn xé nhau và tiêu diệt nhau quyết liệt, đói kém kinh người. Các nhà tư tưởng đưa ra vô số quan điểm để giải thích Trời, Đất và thời cuộc, hình thành nhiều trường phái và học thuyết khác nhau, chẳng hạn như Pháp gia: bắt nguồn từ các nhà cải cách phương pháp cai trị thời Xuân Thu, nổi tiếng nhất Quản Trọng; thời Chiến Quốc lại có Thương Ưởng, Thân Bất Hại, Thận Đáo,... Người đóng góp nhiều nhất là Hàn Phi (khoảng 280-230 TCN), cho rằng vật chất và tinh thần đều do Đạo sinh ra, sự vật luôn luôn thay đổi, khi còn, khi mất, bỗng sống, bỗng chết, lúc thịnh, lúc suy. Ông cho rằng, “dân vốn nhờn với lòng thương, mà chỉ vâng theo uy lực”, cho nên cần dùng pháp luật, mệnh lệnh, hình phạt để cai trị. Nhưng muốn pháp luật có thể được thi hành thì vua phải có thế, tức là phải đầy đủ uy quyền. Ngoài ra, cai trị phải có thuật, tức là phương pháp bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt, tức là có đủ ba yếu tố pháp, thế, thuật.

Tóm lại, học thuyết chính trị của Pháp gia không gì khác là chủ nghĩa độc tài chuyên chế thực dựng cổ đại. Những bài viết và bài nói của Hàn Phi, về sau được tập hợp thành sách, lại gọi là sách Hàn Phi Tử, cũng có khi người ta tách Hàn Phi ra khỏi Pháp gia, để hình thành thêm một phái mới gọi là Hàn gia. Ông chủ trương phải quan tâm đến sản xuất lnông nghiệp và chiến đấu: “...dân trong nước, mọi lời nói hợp với pháp luật, mọi việc dốc vào việc cấy cấy, kẻ dũng cảm dốc hết sức vào việc quân, do đó khi vô sự thì nước giầu, khi hữu sự thì binh mạnh. Đó là cái vốn của nghiệp vương, lại biết lợi dụng thời cơ của nước thì vượt Ngũ Đế, ngang Tam Vương, tất là do phép ấy,...”. Bao nhiêu năm Xuân Thu, Chiến Quốc, chiến tranh liên miên, Pháp gia (và Hàn gia) chủ trương dùng pháp trị là đúng, nhờ đó mà nhà Tần mau thống nhất được đất nước.

Nhưng mặt khác, lại quá nhấn mạnh biện pháp trừng phạt nặng nề, phủ nhận đạo đức, tình cảm, thủ tiêu văn hóa, giáo dục. Vì thế, sau khi thống nhất đất nước, nhà Tần tiếp tục “pháp trị”, nên chỉ được 15 năm thì sụp đổ. Vương Bật (226-249) và người bảo trợ là Hà  án được coi là những người xướng xuất lí thuyết Huyền học, bằng cách nghiên cứu Kinh dịch, tham khảo Đạo Đức kinh, tư tưởng Trang Tử và triết lí của Phật giáo Đại thừa. Tuy vẫn thừa nhận mình la Nho gia, nhưng các nhà Huyền học phản bác các danh hiệu như người theo Khổng giáo, người theo Đạo giáo, và cố khám phá chân lí tối hiệu cao tiềm ẩn trong Nho giáo, trong Trang Tử, cũng như trong Phật giáo Đại thừa. Họ ca ngợi Vương Chung (27-100) trước đó đã dám vượt bỏ Siêu hình học của Khổng giáo để tìm đến các hệ thống phức tạp về những tương ứng giữa Trời, Đất và Con người, các chu kì của cái gọi là Ngũ hành, dựa vo đó để có các cố gắng dự đoán tương lai. Khát vọng hiểu biết các nguyên tắc cơ bản của vũ trụ không bị mất đi, những khái niệm cơ bản không bị hoàn toàn bãi bỏ. Trong thế kỉ thứ III, Huyền học nổi bật lên để làm đầy khoảng trống Siêu hình học. Huyền học cho rằng, các hiện tượng vô hạn của vũ trụ là ngẫu nhiên, ngắn ngủi và không có bất kì mô hình ý nghĩa no; từ đó, luận ra là tất cả chúng phải được phát sinh bởi một chân lí đơn giản, vĩnh cửu. Đó là hư không nguyên thuỷ, hay vô thể, nguồn gốc của mọi hữu thể.

(còn nữa)
Mai Thanh Hải

Chú thích:
1. Về sau, ma thuật biến thành một trong những thành tố quan trọng nhất, thể hiện qua hành động mang dấu tích ma thuật trong nhiều nghi lễ các tôn giáo, kể cả trong các tôn giáo đã được “canh tân” và “hiện đại” như Công giáo sau Công đồng Vatican II, trong Mật tông của Phật giáo. Do đó, ma thuật tồn tại bằng cách gắn bó với tôn giáo, nhiều khi trở thành một bộ phận của tôn giáo. Đặc biệt, ở nhiều vùng miền núi hẻo lánh, dân trí còn thấp ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước Nam Mỹ và Châu Phi, ma thuật còn đang diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức: ma thuật tình yêu (bỏ bùa, thả chài, yểm ngải…), ma thuật mang bệnh (ma lai, ma cà rồng…), ma thuật chữa bệnh…, với nhiều cấp độ khác nhau: thần bí, vật hóa, trực tiếp, gián tiếp (như cúng sao giải hạn, chữa bệnh không thuốc từ xa, v.v…). Ma thuật khác tôn giáo thuần túy.

2. Thiên Niên luận (tiếng Pháp: Mille; tiếng Anh: Chiliasm, Milenarianism) là luận thuyết về nghìn năm tới đây. Đấng Cứu thế sẽ ra “ngày tận thế” đốt cháy hết trần gian này, để toàn thể linh hồn được rửa ráy, từ đó mà lọc ra linh hồn trong sạch được lên Thiên đường, linh hồn tội lỗi đời đời chịu phạt dưới Hỏa ngục. Đạo Cứu thế (tiếng Pháp; Mesianisme; tiếng Anh: Mesianism) là tên gọi chung nhiều nhóm tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau thời trước Công nguyên; các nhóm này cùng chờ đợi và cầu xin một Đấng Cứu thế xuống trần gian để giải thoát cho loài người khỏi muôn vàn sự khổ ải. Cho đến đầu thế kỉ XXI, chưa phải hết các toan tính dựa trên các “thuyết” này.

3. ít lâu sau, Khấm Khiêm Chi (365n448) sưu tầm các đạo tạng bức kinh điển Đạo giáo, lúc đó đã lên đến 1.215 quyển, chủ trương bỏ các phù phép lập đạo mới nghiêng về tụng niệm, đó là đạo Bắc Thiên sư; còn Lục Tu Tỉnh liên kết đạo Kim Đan với Bắc Thiên Sư dựa vào Phật giáo để đặt ra nghi thức mới cho Đạo giáo, gọi tên là đạo Nam Thiên Sư. Nhận thấy việc áp dụng nháo nhào và lộn ẩu cả ba giáo thuyết của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đưa đến nhiều phức tạp và nhất là gây ra nhiều trái khoáy, đến thế kỉ XII, Vương Triết, tức Vương Trùng Dương, cải tổ các phái cũ thành phái Toàn Chân, đưa ra một châm ngôn hành động gọi là “Nho, Thích, Đạo hợp nhất”, hoặc còn dùng một hình ảnh khác là “tạo ra những đồ đệ nhất quán của Khổng-Phật- Lão”.

4. Cũng nên thừa nhận nhiều ảnh hưởng khác của Đạo giáo đối với văn hoá Trung Quốc, như thuyết tu luyện là cơ sở của y học, được học, châm cứu, võ thụât, cùng cách nấu ăn lên thành nghệ thuật ẩm thực; thái độ tìm sự hoà mình vào thế giới là cơ sở của kiến trúc, thi pháp, hội hoạ, thi ca, cách làm vườn; cách tu thân dưỡng dục là nền tảng của quan niệm tìm hạnh phúc ở chính mình, không chạy theo ngoại vật; nhờ các phương sĩ của Đạo giáo mà Trung Quốc trở  thành quê hương phát minh ra thuốc súng, ra phép dưỡng sinh, và có thêm nhiều thơ, văn góp trong kho tàng văn học nghệ thuật.

5. Ma thuật (magic) là gọi chung các phương thức, nghi lễ, kèm theo một tín ngưỡng, nhằm đưa ảnh hưởng của thế giới siêu nhiên tác động một cách tự động vào các sự kiện; ma thuật thường gắn bó với niềm tin rằng con người có thể dùng những sức mạnh siêu nhiên để tác động vào tự nhiên và con người, như bằng khấn nguyện, làm phép, yểm bùa, ấn huyệt, mở phép lạ, chạy đ n, hồn vía, niệm thần chú, làm “bí tích”,v.v… Ma thuật giữ vị trí trọng yếu trong việc điều tiết hành vi xã hội của con người và cả trong việc tổ chức xã hội. Ma thuật với tính cách là một tác động gắn liền với quan niệm về một lực lượng siêu tự nhiên, xuất hiện về sau này, khi mà “tư duy ma thuật” đã tồn tại bên cạnh tư duy lôgíc. Quan niệm thường ngày về ma thuật gắn liền với niềm tin vào chỗ có thể thực hiện ngay những mong muốn mà không cần có những hành động có mục  đích (như chữa khỏi bệnh, mưa hết hạn hán…) Các biểu tượng ma thuật cũng được gắn liền với thuật yểm bùa, chữa bệnh bằng phù phép, rồi dần dần “tiến lên” các pháp thuật của thầy phù thuỷ, kể từ việc đeo bùa hộ mệnh, ngậm rựơu trong mồm phun ra để tạo mưa, gọi ma quỷ lên đánh đòn xua đuổi để giải hạn, xoa đầu các hòn đá để có con cho đến việc dạy âm binh đi dẹp các nạn dịch hoặc các tai hoạ lớn của cả một vùng đất, việc “xức dầu thánh” lên người con bệnh, mở các cuộc hành hương dùng “thánh cốt” hoặc “xá lị” của các thánh và các đấng Phật, việc tắm trong dòng sông Hằng (thiêng liêng, truyền lại sau này là các phép lạ xoa nước trong mồ hoặc uống thuốc thánh của Đức Bà hiện hình Lộ đức (Lourdesntây nam nước Pháp). Về sau, ma thuật biến thành một trong những thành tố quan trọng nhất, thể hiện qua hành động mang dấu tích ma thuật trong nhiều nghi lễ các tôn giáo, kể cả trong các tôn giáo đã được “canh tân” và “hiện đại”, do đó, ma thuật tồn tại bằng cách gắn bó với tôn giáo, đôi khi trở thành mộ bộ phận của tôn giáo. Đặc biệt, ở nhiều vùng miền núi hẻo lánh, dân trí còn thấp ở nước ta, cũng như ở nhiều nước khác, ma thuật còn đang diễn ra khá phổ biến, dưới  nhiều hình thức: ma thuật tình yêu (bỏ bùa, chài, yểm ngải…), ma thụât mang bệnh (ma lai, ma cà rồng), ma thuật chữa bệnh… với nhiều cấp độ khác nhau: thần bí, vật hoá, trực tiếp, gián tiếp (như cúng giải hạn, chữa bệnh không thuốc từ xa, v.v….). Ma thuật khác “tôn giáo thuần tuý” ở chỗ tin rằng ở một con nguời nào đó có sức mạnh huyền bí, siêu nhiên có tác động xấu tốt đến nguời khác và cả nhóm người khác. Có những nghi lễ, tín ngưõng ma thuật đF và sẽ mất đi, trong khi tư duy ma thuật vẫn còn tồn tại trong một số nguời nào đó.

6. Theo ước lệ, thời Xuân Thu và  thời Chiến Quốc đều khuôn vào nhà Đông Chu (770 n256 TCN), trong đó thời Xuân Thu (770-475 TCN), nổi bật nhất trong “Bách gia chư tử” là Khổng Khâu (551-479 TCN) và Mặc Định (khoảng 475-390 TCN); thời Chiến Quốc (có nguời chỉ tính từ năm 403 đến năm 221 TCN), nổi bật nhất là Mạnh Tử và Hàn Phi Tử (280n230 TCN).



 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, chanhnguyen
Logged
 
 
 
Archéo
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 87

Cảm Ơn
-Gửi: 1198
-Nhận: 389


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười Một 03, 2011, 10:20:56 am »

7. Sau vài ba trăm năm, tư tưởng của Khổng  Mạnh đã  bị xã  hội Trung Quốc hoàn toàn bỏ rơi, triều đại nhà Tần thống nhất đất nước, dùng “pháp trị” nên sớm bị lật đổ. Sang triều đại Tây Hán, giữa thế kỉ II TCN, tư tưởng Khổng - Mạnh mới lại được đào bới, xới xáo lên. Người có công làm việc này là Đổng Trọng Thư (179-104 TCN). Ông bỏ công sức của một đời người ra để tân trang thành thuyết “Thiên - Nhân cảm ứng”. Đổng đưa nhiều cái mới vào tư tưởng Khổng - Mạnh, hoàn chỉnh thành học thuyết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, mà sau này gọi là Nho giáo. Đời Hán Vũ Đế, ông ta nghe theo Đổng Trọng Thư, ra lệnh: “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” (bỏ tất cả phe phái, chỉ dùng một mình phái Nho mà thôi). Học thuyết Nho gia tràn ngập khắp thành to, thành nhỏ của Trung Quốc, từ đó trở nên hệ tư tưởng chính thống của xã hội Trung Quốc trong mấy nghìn năm. Thậm chí, đến đời Tống, các khuôn thước chuẩn mực Nho giáo biến thành tín điều thiêng liêng, sách vở Nho giáo trở nên “báu vật của Thánh Hiền”.

Cũng từ đây, Khổng học bị biến dạng thành tôn giáo, người ta sử dụng hình thức tín ngưỡng để thờ cúng, để phong  thánh cho Khổng Tử. Xuất phát từ quan  hệ giữa Trời và Đất, trong đó Trời là Dương, Đất là Âm, “đạo” Hán Nho bắt tay lại từ đầu, xây dựng lại thuyết Tam cương để buộc bề tôi phải lệ thuộc vào vua, làm cơ sở cho chế độ quân chủ chuyên chế và sự thống trị của bộ máy quan liêu, bắt con lệ thuộc vào cha, vợ lệ thuộc vào chồng, biện hộ cho chế độ bất công; và như thế, là hình thành cơ sở lí luận và tư tưởng Nho gia làm hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm

Trong đời Tống, còn có sự đóng góp to lớn về lí học của Chu Đôn Di (1017-1073), đưa ra tác phẩm ‘Thái cực đồ huyết”; của Thiệu Ung (1011-1077) đưa ra thuyết thái cực sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tượng; tứ tượng sinh bát quái; bát quái tạo thành 64 quẻ bao gồm hết thảy mọi quy luật của vạn vật. Lại còn thêm những đóng góp to lớn của hai anh em Trình Hạo (1032-1085) Trình Di (1033-1107), và của Chu Hy (1130-1200). Với tư cách của một triết thuyết, Nho giáo đưa ra hệ thống “ngũ hành” (kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ) nhưng không đem lại một cách nhìn đúng đắn về thế giới, sự chuyển vần (Dịch) là sự vận động tại chỗ, mới là yếu tố biện chứng sơ khai, siêu hình. Cần khẳng định: Nho giáo về sau không phải là học thuyết và các quan điểm của Khổng Tử. Ngay đầu đời Hán, Nho giáo rõ ràng đã quay trở về linh hồn giáo trước Khổng Tử khi lấy Ngũ Kinh làm đối tượng để học tập và thi cử. Còn Nho giáo về sau là một hỗn hợp của các học thuyết Âm Dương, Ngũ hành, bói toán, lí thuyết về các quan hệ Trời với quỷ thần và Người, với bao tai biến và quái dị mà thời xưa, Khổng Tử đã lờ đi không nhắc đến, không tỏ lộ một cách nhìn, cách nghĩ nào hết. Lịch sử cũng lên án rằng, Nho giáo đời Tống trở đi, đã thành phục cổ, bảo thủ và khắt khe hơn trước; các nhà tư tưởng lớn Trung Quốc cũng cho rằng, bên cạnh việc đóng góp trong các mặt tổ chức xã hội, bồi dưõng đạo đức, phát triển văn hóa giáo dục, Nho giáo phải chịu trách nhiệm nặng nề trong việc làm cho xã hội Trung Quốc bị trì trệ, không nhịp bước cùng trào lưu văn minh thế giới.


8. Vậy thì, sau mấy trăm năm bị lãng quên, sau hơn một nghìn năm bị phôi pha, hỗn độn, hôm nay chúng ta xem kĩ lại đích thị tư tưởng của Khổng Khâu là những gì?

Nội dung cơ bản nhất của học thuyết Khổng Khâu là xây dựng một xã hội yên hàn, thái bình, không gây xáo trộn to lớn. Ông quy tất cả sự nghiệp giáo dục vào việc tu thân. Con đường tu thân do Khổng  Khâu đưa ra không mang một tiền đề thần bí nào hết, ông đề cao việc học, học cách nhìn nhận, học cách suy nghĩ, học gắn liền với hành. Suy nghĩ để tìm quan hệ, từ góc này mà suy đến các góc khác. Trong học để tu thân, không có cái gì là thần linh cả, không có chút dính líu đến vạn vật hữu linh. Học để hành, để làm cho đúng là người. Đã từ người, thì có cha mẹ, tất cả phải biết làm đúng chữ Hiếu; phải có anh chị em, nên phải biết làm đúng chữ Lễ; có bạn bè, có mọi người xung quanh, nên phải biết chữ Tín và làm đúng chữ Tín; phải có kẻ trên người dưới nên phải hiểu và làm đúng chữ Trung.

Thế rồi trong các mối quan hệ đó, không phải chỉ một chiều, mà qua lại, lên xuống bắt chéo nhau. Do đó, trong xã hội, phải có chữ Lễ để theo đúng các quy tắc đã được xác lập. Có chữ Nghĩa để dạy cách làm cho đúng đắn. Có chữ Trí để xử sự cho thông minh, khôn ngoan, phù hợp với hoàn cảnh éo le bất ngờ. Lại có chữ Liêm để đúng đắn trong sạch, thảnh thơi, lòng không chút vương bụi. Và khi con nguời biết và làm đúng được các chữ đó, ấy là lúc anh có thể đạt đến cái chuẩn mực cao nhất của lí tưởng đời này là chữ Nhân.

Sống vất vả trong gia đình quý tộc thất thế vào nửa cuối thời Xuân Thu, Khổng Khâu đi dạy học để kiếm sống; gặp thời loạn li, ông chịu khó xin đi gặp các vua chúa chư hầu, mong thuyết phục được họ đi theo những thuyết giáo của mình về việc tu thân. Quan điểm của Khổng Khâu về tu thân là nhằm đào luyện nên những con nguời tốt đẹp cho xã hội no ấm dưới đất đây, không phải cho cuộc sống mơ hồ ảo vọng trên thiên giới chín tầng mây. Và con nguời tu thân ấy là một cách làm tích cực nhất dùng tấm gương và hành động của mình để thay đổi xã hội xung quanh. Bất cứ xã  hội nào, con nguời cũng phải tu thân và tu nhân để đổi mới xã hội, cho con ngưòi ấm no, hạnh phúc, yên hàn.

Đó là mặt ưu việt bao trùm trong học thuyết của Khổng Khâu, nổi trội lên hẳn so với các điểm tích cực khác trong học thuyết của Khổng - Mạnh. Đời sau coi Đạo giáo và Nho giáo đã là những cái lò đào tạo nên đội ngũ đông đảo “các nhà tư tưởng thời Chiến Quốc”, thời kì kéo dài hơn 200 năm, từ năm 475-221 TCN ở Trung Quốc. Đó là thời mở đầu giai đoạn các nhà vua Đông Chu hoàn toàn mất vai trò thiên tử, các nước chư hầu thả sức đánh nhau quyết liệt, xã hội cực kì rối ren; thời ấy nổi lên các nhà tư tưởng có quan điểm rất khác nhau, không ngừng công kích nhau tạo ra tình trạng “bách gia tranh minh”. Sau đó, con cháu họ Lý đổ xương máu ra xây đắp nhà Đường, lại mở rộng cửa đón tư tưởng Phật giáo vào để tìm lối chỉnh đốn lại xã hội, hòng tạo dựng lại trật tự mới. Thế nhưng trật tự mới không thể lắp ghép toàn bằng vật liệu xa lạ, cho nên họ lờ đi cái nguồn gốc Phật giáo từ ấn Độ bê về, có thì cứ ghép bừa là “Tam giáo đồng nguyên” để có thể tận dùng tàn dư Lão và Nho vào làm chất kết dính cho xã hội hài hòa của Tam giáo cùng một nguồn gốc.

9. Nhận định khái quát về Đạo giáo, về Nho giáo, và các học thuyết khác khi Trung Quốc rộng rãi tiếp nhận tư tưởng học thuật Phật giáo, một số giáo sư triết học và tôn giáo học ở Trường Đại học Oxford - Anh, đã viết: “Thật ra, Khổng Tử không lập nên một tôn giáo mới, nhưng Nho giáo có những nét đặc biệt mang tính tôn giáo".

Điều đáng nói là khi được giao quyền làm tể tướng một nước thì Khổng Tử không thành công như ý muốn. Đến thế kỉ XI, XII, như là phản ứng trước sự xâm nhập của Phật giáo Đại thừa, phái Nho giáo mới đã nỗ lực chứng minh rằng vũ trụ gồm hai nguyên lí: một tinh thần và một vật chất; ngoài ra, còn hai lực Âm và Dương chỉ Đất và Trời. Hai lực này tương tác mà tạo nên thiên nhiên, điều hành vũ trụ. Nó cũng đồng nhất với quy luật luân lí điều hành thiên nhiên và cách hành xử của con nguời. Còn đối với  quần chúng nhân dân của nước to lớn và nặng nề này, thì Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều nên trộn lẫn với nhau. Đối với nhu cầu đức tin, nguời Trung Quốc ngả về Phật giáo; với nhu cầu về kĩ thuật, họ đến với Đạo giáo; và với nhu cầu giáo dục xã hội, họ đến với Nho giáo (sách The Growth of Ideas) Nhà xuất bản Aldos Book Limited ư London, 1965). Đó chính là lí do xuất hiện và “thành công” của ngọn cờ “Tam giáo đồng nguyên” của Trung Quốc, hoặc nói cách khác, đó là bối cảnh để giữa đống hổ lốn di sản Lão-Khổng đã có đủ hơn một nghìn năm phôi pha và biến dạng.

Trong khi đó, các học giả như Hồ Thích lại hoài nghi về bộ mặt của các “học thuyết” cổ đại Trung Hoa. Ông viết: “Cổ nhân đọc sách hay viết sách rất bừa bãi, thường đem học thuyết của những nguời không liên can gì đến nhau ghép nhập vào học thuyết của một nguời khác nào đó; Hoặc lấy sách giả làm sách thật; Hoặc lấy những thiên, những chương của những người sau thêm vào mà cho là của cố nhân vốn có từ đầu; Hoặc giải thích sai sách cổ; Hoặc mỗi người dùng ý riêng của mình mà giải cổ thư; Lão Tử có thể gặp Dương Chu; Trang Chu có thể thấy Lỗ Ai Công; Quản Tử có thể đã nói với Mao Tường, Tây Thi; Mặc Tử có thể thấy cái chết của Ngô Khởi. Những mẩu chuyện sai lầm buồn cười như vậy, kể không thể hết. Sách Sử kí kể Lão Tử sống hơn 160 tuổi, hoặc sống hơn 200 tuổi, lại nói rằng, sau khi Khổng Tử chết 129 năm mà Lão Tử vẫn còn sống. Những câu chuyện như vậy thật không đáng bàn(7)

10. Tư tưởng truyền thống Trung Quốc được coi như có ba phái chính là Nho gia (hoặc còn gọi là Nho giáo, Nho học), Đạo gia (đôi khi được gọi lầm là Lão giáo) và Phật gia (đôi khi gọi rộng là Phật giáo).
 
Ngay trong thế kỉ XIX, phong trào quần chúng Trung Quốc mặc dầu vẫn còn dùng đến tôn giáo những đã hai lần bác bỏ cả ba tôn giáo Thích - Nho - Lão cũng như cái chiêu bài “Tam giáo đồng nguyên” che phủ lên ba tôn giáo đó. Giữa thế kỉ XIX, Hồng Tú Toàn (1814-1864) cùng các lực lượng nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, đã lập ra Hội Thượng Đế với đầy đủ giáo lí và cơ cấu tổ chức hết sức chặt chẽ, làm then chốt giữ được chính quyền trong vòng 14 năm. Cuối thế kỉ, nông dân lại vùng dậy mạnh mẽ trong phong trào Nghĩa Hoà Đoàn, khống chế cả Thiên Tân và Bắc Kinh, đập tan đội liên quân 8 nước đế quốc; họ đấu tranh mạnh mẽ chống đế quốc, nhưng họ là lại mê tín phù du, tin vào thần thánh có thể giúp họ hỏi bị đạn bắn chết. Họ căm ghét đế quốc, họ mù quáng phá hoại đường sắt, huỷ hoại cột điện, nhà ga, đánh giết giáo sĩ và giáo dân, nhưng thiếu cương lĩnh cách mạng, không có đường lối chiến thuật và họ bị thất bại hoàn toàn. Cùng với sự thất bại đau xót đó của phong trào nông dân thế kỉ XIX, các tôn giáo trong đó đủ cả Thích - Nho - Đạo, đã bị chính người Trung Quốc phê phán, chê trách, thậm chí trong “phong trào” cách mạng văn hóa, bị coi là “cặn bã của chế độ phong kiến hủ bại”, là “vật cản đi lên duy tân, văn minh và hiện đại hóa”. Hăng hái nhất trong công cuộc phê phán và bài bác là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu dẫn đầu tầng lớp tinh anh nhất thời đại lúc ấy. Đến thời Ngũ Tứ 1919, các học giả tiên tiến Lỗ Tấn, Ngô Trí Huy, Trần Độc Tú,v.v... cũng đều phê phán các mặt lạc hậu bảo thủ của văn hóa truyền thống, nhất là mặt trì trệ phản động của Nho giáo. Mạnh mẽ nhất là cuối thời Cách mạng văn hóa 1966-1976, “bè lũ bốn tên” và lớp người kế tiếp đã phát động phong trào toàn dân phê phán Khổng Tử, cho rằng Khổng Tử đã xúi giục Lâm Bưu nổi loạn chống lại Mao Trạch Đông, hệ thống các Nho giáo gia đã “ma quỷ hóa” tư tưởng-văn hóa nhiều thế hệ xưa nay của Trung Quốc.

11. Thời thế qua đi, mười lăm năm gần đây, lại có nhiều cách nhìn nhận khác xưa. Tất nhiên, thời  cuộc biến đổi không ngừng, có thể người ta chứng kiến nhiều cách nhìn và nhiều cách đánh giá thời thế. Xin giới thiệu  một cái nhìn của Vũ Thành Tự Anh, viết trên tạp chí  Tia Sáng, cơ quan ngôn luận và nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công Nghệ  (Hà nội, năm 2008): “...tình trạng mất bình đẳng về thu nhập giữa miền Đông với miền Tây của Trung Quốc, đã thu hút một lực lượng lao động di cư khổng lồ, ước chừng tới 120-140 triệu, từ nông thông ra thành thị; cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng buộc phải giảm đi số lao động, có tới 55 triệu công nhân phải nghỉ việc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi đến năm 2002, quốc gia này trở thành một trong những nước mất bình đẳng nhất. Công nhân bị sa thải hàng loạt, khan hiếm việc làm ở nông thôn; quan chức nhà nước trắng trợn chiếm đoạt đất đai, hệ thống hành  chính  quan liêu nhũng nhiễu cửa quyền.
Những căn bệnh như thế làm cho đời sống xã hội và chính trị ngày càng căng thẳng; các vụ biểu tình tăng rất nhanh, với tốc độ 21,5%/năm, trung bình mỗi ngày có 203 vụ biểu tình. Tóm lại, đã xuất hiện nhiều nguy cơ không bền vững và bất ổn định tiềm tàng, cùng với những vấn đề cố hữu như tham nhũng tràn lan, môi truờng suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế..., không chỉ là những thách thức kinh tế, mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã  hội và chính trị...”.
Và đây là một đoạn trong “Tư liệu báo cáo viên” đăng trên Tạp chí Báo cáo viên tháng 8/2008: “Chênh lệch giàu nghèo chiếm chưa tới 2%..., ở nông thôn, 210 triệu người không có nước sạch, 180 triệu người không biết chữ,... 100-150 triệu lao động di cư ra đô thị, trôi nổi không hộ khẩu, không cư trú cố định,... Ô nhiễm đứng đầu thế giới...thiên tai diễn ra thường xuyên  trên quy mô lớn ..., tình trạng bất ổn xã hội lan rộng (số vụ biểu tình, bạo loạn năm 1993 là 8,7 nghìn vụ, năm 2003 tăng lên 58 nghìn vụ, năm 2005 lên 87 nghìn vụ)...”.
Một số báo chí gần đây rất quan tâm việc Bắc Kinh đang truyền đi thông điệp về “một xã hội hài hòa”, và có không ít tờ báo dự báo một hình ảnh có vẻ như người ta muốn “dẫn dắt người dân nước này quay trở lại với Khổng Tử, con người nổi tiếng một thời xa xưa”. Dẫn chứng gần đây nhất là lễ trình diễn mở đầu Đại hội Olympic Bắc Kinh 2008, tất cả gần như xoay quanh một chữ Hòa của các thế hệ Nho sĩ đồ đệ của Khổng Tử. Báo Tuổi trẻ (Thành phố Hồ Chí Minh) số ra ngày 9/8/2008 đã không tiếc lời siêu trường siêu trọng nhất để tường thuật lễ khai mạc này là “ấn tượng và hoành tráng nhất trong lịch sử Olympic”, “là một bữa tiệc hình ảnh hoành tráng mà việc khen ở đây coi như là quá thừa, mà tôi cũng không có đủ trình độ để khen”; Báo cũng dẫn lại lời ông Lê Quý Dương “xem mà như mơ”, “điều tôi đặc biệt ấn tượng chính là màn biểu diễn nói về Khổng Tử”. Tạp chí Newsweek (Mỹ) không quên nhắc lại rằng: bốn chục năm trước, Khổng Tử bị đưa ra đấu cùng với Lâm Bưu, và “tư tưởng Khổng là một thứ rác rưởi thối tha đã kích lệ Lâm Bưu nổi loạn chống lại tư tưởng và sự nghiệp của Mao Trạch Đông”.

12. Đã qua mười năm kể từ khi bước sang thế kỉ XXI, gần như khắp các tỉnh thành Trung Quốc ào ạt một phong trào phục cổ, hàng chục người vứt bỏ áo đại cán Tôn Trung Sơn, xếp xó quần áo, âu phục với Cravát xanh đỏ, rầm rộ mặc trang phục Hán cổ cài khuy vải. Tại các trường tiểu học, trung học, hàng triệu học sinh mặc Hán phục, lớn tiếng đọc kinh “Kinh” (tức là các sách kinh điển cổ đại như Tam Tự kinh, Luận ngữ,v.v... Tối tối, hàng chục triệu gia đình náo nức tụ tập trước máy thu hình và thu thanh để theo dõi học hỏi chương trình “Diễn đàn Quốc học” diễn giảng Nho học các thời. Các  trường đại học đua nhau mở các lớp Quốc học dài hạn, ngắn hạn, bổ túc, tại chức,v.v... và đến trường Đảng Trung  ương cao cấp cũng mở lớp Quốc học của thứ trưởng, chỉ chấp nhận cán bộ cấp Vụ trở lên tới học, học ba năm một khóa, học phí mỗi năm tới 22.000 tệ, tương đương 3.000 đôla Mỹ, nhiều người ghi tên chậm không được vào học đành ngậm ngùi chờ khóa sau.

Cuối năm 2005, Bắc Kinh tổ chức lễ kỉ niệm Khổng Tử được coi là trọng thể nhất từ năm 1949 đến giờ; cũng nhân dịp này, hơn một trăm học giả đã lên tiếng cần đưa tư tưởng Khổng vào nền tảng đạo đức, lấp đầy khoảng trống tư tưởng hiện nay trong xã hội, vượt qua nguy cơ xảy ra nhiều biến động chính trị và tình cảnh bế tắc về kinh tế hiện nay: một nền kinh tế “quá nóng” đang gây đố kị và bất mãn trong nhiều tầng lớp.

Trong kì họp tháng 3 năm 2005 của Quốc hội Trung Quốc, nhiều đại biểu liên tiếp đề nghị phục hồi trong toàn dân đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của Khổng- Mạnh, đưa Tứ kinh và Ngũ thư vào sát hạch công chức các cấp và cho học sinh các cấp từ trung học trở lên. Các nhà xuất bản được lệnh in và phát hành hàng trăm triệu bản in các sách “kinh điển” của Khổng - Mạnh, của các hậu bối như Trang Tử, Tuân Tử,v.v.. Nhiều “học giả” kì tài như nữ giáo sư Vu Đan, 41 tuổi, liên tiếp lên đài truyền hình trung ương gọi là “diễn đàn trăm nhà” để thuyết giảng về “ Thu hoạch và Luận ngữ”, đã nổ ra một cao trào có hàng chục triệu người lắng nghe và ghi chép lời dạy của nữ giáo sư kì tài này. Sau đó, các bài giảng của nữ giáo sư Vu Đan được in thành hàng triệu bản, có tác giả kí tên, bán hết vèo trong vài ba ngày. Quả thật là đã  từ vài chục năm cuối thế kỉ XX cho đến nay, Trung Quốc đã ngấm ngầm làm cái việc gọi là “phục hưng giá trị to lớn và lịch sử” của Nho giáo, các lễ hội kỉ niệm Khổng Tử đều được tổ chức hết sức rầm rộ, Phó Chủ tịch Hội Nho học Trung Quốc tuyên bố: “Thời kì phục hưng Đạo Khổng đã xuất hiện!”. Đã lâu lắm, người ta bỏ quên các lời dạy hùng hồn trong sách đỏ ngày nào về “đấu tranh giai cấp”, về “mâu thuẫn luận”, “xã hội tiến lên không ngừng bằng cách phát hiện ra mâu thuẫn và thúc đẩy xung đột mâu thuẫn mà tiến lên, tiến lên mãi mãi...”. Bây giờ, tất cả chỉ còn mỗi chữ “Hòa” là tròn trịa: “Hòa trên, hòa dưới”, “Hòa trước, hòa sau”, Hòa trong, hòa ngoài...”. Học giả Khương Gia Quang cho rằng, giá trị đạo đức của Khổng gần như câu trả lời cho câu hỏi về một nền văn hóa hiện đại của Trung Quốc; ông cho rằng: “Xã hội Trung Quốc ngày nay tồi tệ chưa từng thấy. Không còn chuẩn mực văn hóa để điều chỉnh cách thức con người, các đối tác kinh doanh, bạn bè và gia đình. Mong tới đây, “giáo dục tư tưởng Khổng sẽ được đưa nhanh vào như một môn học bắt buộc đối với học sinh” (hiện 18 trường Đại học lớn và 5 triệu học sinh đang theo 30 khoá học về “văn hóa Đạo Khổng”, nhưng chưa phải là bắt buộc với tất cả học sinh).

“Viện nghiên cứu Đạo Khổng” thuộc Trường đại học Nhân dân Trung Hoa đã tổ chức sinh viên hằng ngày đọc thật to “Tuyển tập Đạo Khổng”.
Richard Baum, Giám đốc UCLA (Trung tâm của Mỹ nghiên cứu về Trung Quốc) nhận xét rằng, mười năm gần đây, Xingapo đã bỏ rơi không còn ca ngợi những giá trị Châu á của Khổng Tử”, và Hàn Quốc đã chuyễn sang đả phá Khổng Tử bằng việc mở đầu và xuất bản một cuốn sách nhan đề “Đất nước này sẽ sống, nếu Khổng Tử chết”; thế nhưng, trong khi đó, Trung Quốc lại ca ngợi rằng Đạo Khổng không chỉ tạo ra tư tưởng hài hòa xã hội mà còn xác nhận công dân cần phải ngoan ngoãn phục tùng nhà cầm quyền, nếu đây là những con nguời được Thượng Đế uỷ thác. Phải chăng Bắc Kinh xem đây là con đường để né tránh việc giải thích tận gốc nạn tham nhũng và nói: “Khoảng cách ngày càng xa giữa một số cán bộ giàu có và người nghèo, việc sa thải công nhân khiến dân chúng công  khai bộc lộ những nỗi bất bình của họ, dẫn đến tình hình an ninh đất nước xấu đi, nảy sinh nhiều mâu thuẫn khó giải  quyết”. Gần đây, Trường Fuxue, lập năm 1358 ở Bắc Kinh, đã dựng một bức tượng Khổng Tử cao 5 mét ở giữa sân trường để học sinh chiêm nguỡng trước khi vào buổi học, và Hiệu trưởng Vương Siêu Chung cho biết từ năm 2003, Trường đã đưa Đạo Khổng vào dạy ở tất cả các lớp. Ông ta nói: vấn đề tranh luận không phải là nên hay không nên phục hồi tư tưởng Khổng, mà là cần tôn thờ tư tưởng Khổng như một phần của hệ thống giáo dục, hay là một phần của tư tưởng chính trị, hay nữa là một tín ngưỡng lịch sử dân tộc. Giám đốc Trung tâm UCLA cho biết: “Hiện nay, bộ ngoại giao Trung Quốc đã chi 10 tỉ đôla để từ nay đến 2010, lập xong trên khắp thế giới một trăm trung tâm văn hóa Trung Quốc với nội dung hoạt động chủ yếu là dạy tiếng Hoa và phổ cập tư tưởng Khổng. Bắc Kinh hi vọng vẻ bề ngoài nhân từ của Khổng sẽ giúp họ giành thêm bạn bè thế giới”. Không ít học giả Trung Quốc đã đưa ra ý tưởng “xây dựng lại Nho giáo” hoặc là “hiện đại hóa Nho giáo”. Thậm chí nhiều người đề nghị: trước tiên, cần để tư tưởng Nho giáo tiến vào trung tâm quyền lực chính trị, sau đó thành lập các đoàn thể Nho giáo, tiến tới xây dựng một khu Bảo tàng Nho giáo; mở kế hoạch toàn dân về Nho giáo, lấy gia đình và gia tộc làm cơ sở, lấy nông nghiệp làm gốc, quay trở lại lịch pháp dùng âm lịch; tính kỉ nguyên từ ngày sinh Khổng Tử (bỏ không dùng Công lịch tính gốc từ năm sinh Chúa Giêsu),v.v... Báo chí nước ngoài liên tiếp đưa tin khát vọng cháy bỏng trong giới trí thức Trung Quốc là mau chóng phục hưng nền “văn hóa truyền thống” của Trung Hoa, cụ thể là nền Nho học mà trung tâm là hệ tư tưởng “hòa” của Khổng Tử năm xưa.
Hãng tin Tân Hoa Xã tháng 08 năm 2008 cho biết: lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh Trung Quốc, chân dung nhà tư tưởng, nhà triết học Khổng Tử bắt đầu được dựng thành phim. Nữ đạo diễn Hồ Mai tuyên bố: “Khổng Tử tồn tại trong trái tim của rất nhiều người như một vị thánh, nhưng mọi người ít biết đến hình ảnh và con người Khổng Tử trong đời thường”; Hồ Mai hi vọng bộ phim với cái nhìn thấu hiểu về cuộc đời và tâm hồn Khổng Tử, sẽ đem đến cho khán giả những hình ảnh thú vị về nhà tư tưởng này. Dự kiến kinh phí bộ phim về Khổng Tử sẽ lên tới 21,9 triệu đôla Mỹ.

13. Quả là người ta chưa nên đi ngay đến những luận định quá sớm về chặng đường phức tạp từ pha trộn chắp vá Đạo-Nho-Thích, để đi đến “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, rồi vài ba trăm năm sau lại đề cao “Tam giáo đồng nguyên” để có thể cứu vãn Nho học đang chìm ngập trong bể trầm luân; mưa gió vẫn cũ, mây trời cuộn trôi, nay lại dâng lên cao trào cổ xuý “phục hồi văn hóa cổ truyền” mà trọng tâm là tư tưởng và vai trò lịch sử của Khổng Tử. Song, người ta không thể thấy những động lực sâu sắc đằng sau những bước ngoặt uốn éo của con đường phát triển tư tưởng triết học tôn giáo đầy ngoạn mục và kì thú mấy nghìn năm qua, để có thể có thêm một kim chỉ nam tiếp tục con đường nghiên cứu tiếp

Chú thích:
1.  Hồ Thích.  Trung Quốc triết học sử, Nxb Văn hoá Thông tin, H. 2004, tr. 2021



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, chanhnguyen
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.438 seconds với 24 câu truy vấn.