Tháng Chín 27, 2020, 04:16:09 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Thuyết ngã tâm và thói vọng ngoại  (Đọc 1945 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
lookingforback
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 94

Cảm Ơn
-Gửi: 10
-Nhận: 81


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Chín 08, 2011, 02:38:42 AM »

Thuyết ngã tâm nói nôm na ra là lập luận tự xem mình như cái rốn của vũ trụ. Thuyết ấy áp dụng ở phương Tây người ta gọi là Âu tâm, ở Trung Quốc gọi là Hoa tâm và ở Hoa Kỳ hiện tại thì chắc chắn sẽ là Mỹ tâm… Thật ra thuyết ngã tâm xưa nay rất phổ biến trong từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia và khu vực trên toàn thế giới.

Chẳng hạn thuyết Âu tâm từng làm mưa làm gió suốt mấy thế kỷ vừa qua, tác động của nó đến trật tự thế giới hiện đại không phải nhỏ. Các ngài Âu tâm đặc phong mình là nền văn hóa ưu việt số một, chủng tộc thượng đẳng để bước vào bao cuộc thập tự chinh đầy máu me với tên gọi khá mỹ miều : khai hóa, thanh lọc giống nòi, truyền bá văn minh .v.v… Nhiều hệ quả từ thuyết Âu tâm rất chi là phi lý và ngớ ngẩn như R.Heine-Geldern s (1937) từng đề ra giả định nền văn hóa Đông Sơn với biểu trưng rực rỡ nhất là trống đồng có nguồn gốc từ châu Âu (!?). Thực dân châu Âu trước kia chia loài người thành hai loại là da trắng và da màu. Từ “da màu” để chỉ nhóm người với họ là man di, mọi rợ. Người Việt học tiếng Tây, dùng luôn nghĩa Tây nên ngôn ngữ Việt Nam mới có cụm từ “các sắc tộc thiểu số” khá kỳ cục.

Chúng ta không lạ gì thuyết Hoa tâm, nhưng ít người biết ở Chiêm Thành hay Chân Lạp trước kia thuyết này cũng rất thịnh hành. Ngọn nguồn là từ triết lý tôn giáo Ấn Độ. Nhà vua của họ nói chung bao giờ cũng coi kinh đô của mình là trung tâm vũ trụ. Họ thường xây dựng hoặc chọn một ngọn núi có sẵn làm núi Meru (trục quay của vũ trụ) và đền tháp, điện thờ sẽ mọc lên xung quanh, điều đó chứng minh nhà vua là người cai quản vũ trụ. Đền Angkor Vat và Angkor Thom là một ví dụ.

Nói chung thuyết ngã tâm mang đầy tính chủ quan, võ đoán và lòng tự tin quá mức. Tuy vậy nó vẫn phải đứng trên những nền tảng nhất định. Rất dễ xác tín các thể chế văn hóa quan niệm mình là tâm điểm của vũ trụ đã từng làm chủ những thành tựu khoa học, kỹ thuật, nhân văn và nghệ thuật siêu việt của nhân loại. Việc phát minh ra giấy và công nghệ in ấn của Trung Hoa chính là một cuộc cách mạng thông tin có tính toàn cầu. Nhiều giá trị phương Tây mang bản chất khai sáng hiện vẫn là trụ cột của văn minh loài người. Khiêm tốn như người Chăm, người Khơ Me cũng đã tạo tác được nhiều công trình kiến trúc tuyệt mỹ, độc nhất vô nhị trên thế giới trong thời hoàng kim rất sớm của mình.

Từ xưa người Việt luôn tỏ ra rất ghét thuyết ngã tâm. Âu cũng dễ hiểu vì ta ở cạnh ông láng giềng hơi bị khổng lồ, cái gì của ông ấy mà chả nhất, nghe rêu rao riết cũng bực mình “Biết rồi… khổ lắm… nói mãi…”. Thời tiền hiện đại nước Việt lại bị một gã Âu tâm nô lệ cho gần tám mươi năm. Căm thì có căm đấy, nhưng cũng không thể không phục. Có thể đó là căn nguyên của thói vọng ngoại chăng? Nói cho cùng, nếu không ngã tâm được thì đành vọng ngoại vậy, hai tiến trình này ở góc độ nào đó là đối nghịch nhau, là phản đề của nhau.

Ngày xưa các cụ nhà ta không ưa Tàu nhưng lại hay “xổ nho”, con cháu hôm nay thì giỏi hơn, kính yêu Tây và xì xồ tiếng Tây không biết mệt. Ngày còn đi học, tác giả bài này từng dự một “hội nghị dân chủ sinh viên” rất kêu dưới một mái trường kỹ thuật. Ngài L.Đ.T, hiệu trưởng – giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo ưu tú đáng kính đề xuất học trò và thầy cô tích cực rèn luyện Anh ngữ để từ từ phấn đấu sẽ học hành và giảng dạy bằng Anh ngữ. Nghe ra rất phù hợp với xu thế thời đại, nào là hòa nhập, bắt kịp thế giới, xuất khẩu lao động đem ngoại tệ về cho đất nước. Không ngờ có một ý kiến phá bĩnh : “Nếu vậy mai này các kỹ sư của chúng ta lại phải học thêm một khóa “tiếng Việt trong kỹ thuật” để giao tiếp với giai cấp công nhân tiên phong thì khá rắc rối. Có nhiều chi tiết máy tiếng Anh gọi là “con mèo”, tiếng Việt gọi là “con chó” cứ loạn tùng phèo lên sẽ nan giải lắm”. Chuyện này may mà bị bỏ lửng, thầy T đã về hưu, trường cũ của tôi đã qua thêm một hai đời hiệu trưởng nhưng vẫn sử dụng những giáo trình Việt ngữ được dịch từ tiếng Nga sang, độ những năm 1960 của thế kỷ trước! Không hẳn tôi không kính trọng thầy T, có điều tôi nghĩ thay vì làm một đại trí thức ngành giáo dục Việt Nam, thầy qua đài truyền hình VTV nhận ghế to thì khá xứng tầm. Các xướng ngôn viên ở đó cần được học thêm ngoại ngữ hơn ai hết. Cách phát âm, giọng đọc không chuẩn cũng chưa ghê gớm lắm, đằng này họ còn tùy tiện sử dụng ngoại ngữ không đúng chỗ. Thật khổ cho tôi và những người cùng hoàn cảnh chẳng hiểu “Kinh Đô vi lích, trận bóng ‘đá bi’ kinh điển, tinh thần phe pờ lây…” hoặc “Lai vờ xô, vi đi ô cờ líp, em xi…” là cái quái quỷ gì (chúng tôi chiếm đến hơn 70% dân số Việt Nam, ở nhà quê, vùng sâu, vùng xa). Hôm Trung Hoa phóng thành công tàu Thần Châu, không dưới 3 bản tin liên tiếp, VTV dịch tên phi hành gia ra tiếng Hán – Việt là Dương Lí Vĩ. Mấy ông thầy đồ già trợn ngược mắt như sắp trăn trối, họ bảo phiên âm Li theo kí tự La Mã có ít nhất 85 nghĩa, chọn hú họa trong ngần ấy nghĩa mà đúng chữ Lợi thì còn khó hơn dã tràng se cát tát biển đông!

Tư tưởng vọng ngoại khiến cái gì của Tây cũng tuyệt, lời Tây nói vu vơ cũng thành chân lý. Có nhiều nhà báo chuyên viết chuyện phố phường nhân sinh dựng nên hẳn một công thức phổ thông. Chê thói hư tật xấu sẽ rút ra kết luận : “Hình ảnh này đập vào mắt người nước ngoài thì sẽ ra sao?”. Khen người tốt việc tốt hoặc thứ gì đẹp đẽ : “Phương Tây họ rất quý… rất coi trọng… và rất giá trị…”. Có một dạo đi đâu cũng nghe câu hát “Em ơi Hà Nội chóp…” vì người ta đem củ hành, củ tỏi và chóp gầy chóp béo của Nga “ngố” đặt lên các nóc nhà mới xây ở Tràng An cũ. Hiện tại thì văn minh hơn chút đỉnh, phong cách kiến trúc Pháp thuộc sống dậy mãnh liệt trong rất nhiều bản vẽ của các kiến trúc sư. Cũng vòm, cũng sảnh, cũng chỉ, cũng mái ngang mái dọc, hiên đông hiên tây, cũng đắp cột, tô tượng như ai nhưng thay vì áp dụng những chi tiết ấy lên một mặt bằng xây dựng hoành tráng ; họ lại linh động thu nhỏ vào những khuôn viên vài chục đến hơn trăm thước vuông là cùng, khiến công trình thành ra tủn mủn, vụn vặt, màu sắc hổ lốn tra tấn bàn dân thiên hạ đến nhức mắt.

Tây mũi cao hay Tây mũi tẹt đều có chung nhận xét người Việt hiếu khách, thân thiện và rất dễ gần. Tuy nhiên trong thái độ ấy có bao nhiêu phần trăm vọng ngoại thì cần phải xem lại. Sự kệch cỡm đối chọi sau đây cũng cần tham khảo : Tây đi xe hơi, ở khách sạn 5 sao luôn được ngưỡng trọng tôn xưng là ông, bà. Tây ba lô mua bán trả giá đến từng xu, lóc cóc xe đò, xe đạp khắp nơi, không ai bảo ai mọi người đều thống nhất gọi là thằng là con.

Thật ra, đôi khi vọng ngoại là sự bế tắc của phép so sánh. Trường hợp báo chí thế giới gọi cầu thủ Ronaldo là “người ngoài hành tinh” rất điển hình. Tóm lại, ai vọng ngoại thì cứ việc vọng, văn hóa làng xã Việt Nam với tính bảo thủ cố hữu bèn sáng tạo ra một anh Chí Phèo đầy bản sắc để chửi tuốt tuồn tuột. Mà anh Chí cũng ngã tâm lắm chứ. Anh ấy chẳng là cái rốn của làng Vũ Đại thì còn ai vào đây.

Sau khi hòa bình lập lại con cháu anh Chí bấm độn nhẩm tính được ba bốn thằng đế quốc nanh nọc bị cho ra bã trên mảnh đất hình chữ S, thế là văn ngôn ngã tâm của tiền nhân được trau chuốt lại không phải để chửi mà để ngâm vịnh. Kể cũng không cần nhắc lại điều đó ở đây, mỗi người Việt Nam chắc chắn đều có những minh họa cụ thể của riêng mình.

Một kết hợp đằm thắm giữa thuyết ngã tâm và thói vọng ngoại, theo tôi, có lẽ là ở cái tên gọi phù phiếm nhưng đầy gợi cảm của Sài Gòn : “Hòn ngọc viễn đông”. Tôi đã thử làm một tìm tòi bỏ túi bằng cách vào www.google.com tra chữ “Hòn ngọc viễn đông”. Hơn một trăm kết quả hiện ra dày đặc. Khen ngợi, tự hào… nói chung là tình cảm tích cực phổ biến hơn rất nhiều nghi hoặc và báng bổ. Mỹ từ kia hình như do một gã Tây nào đó buột miệng thốt lên khi đến Sài Gòn thời nô lệ. Tôi ngờ rằng câu nói đầy đủ của gã là “Sài Gòn là hòn ngọc viễn đông… thuộc Pháp”. Giả thuyết của tôi, tôi tin, đến cả anh Chí nhà ta cũng phải khen là “chí lý”! Khu vực viễn đông này, ngoài mấy mảnh tô giới cỏn con của Pháp ở Trung Hoa thì chỉ còn Đông Dương thuộc Pháp mà thôi. Sài Gòn âu cũng là tên chột làm vua xứ mù vậy. Chứ không, đem so Sài Gòn với Bangkok, Manila, Jakarta, Kualalumpur thì còn “khướt”, kể chi đến Đông Kinh, Bắc Kinh, Hương Cảng, Thượng Hải. Học giả Trần Trọng Kim đã đến Bangkok năm 1944, ông ước lượng nó lớn hơn Hà Nội năm lần trong hồi ký của mình. Hóa ra người Việt tiếp thu có sáng tạo, có động não câu nói hứng sảng, bằng cách tỉa bớt độ dài của nó và tung hê lên như pháo hoa đêm trừ tịch.

Như thế thuyết ngã tâm chẳng là tài sản của riêng ai. Từ anh Chí năm xưa đến nước Mỹ hùng cường hôm nay đều vận dụng nó thuần thục đến không tưởng. Sau sự kiện 11 tháng 9, Bu Sờ chẳng tuyên bố “Kẻ nào theo ta chống khủng bố là bạn ta, kẻ nào không theo ta là kẻ thù của nước Mỹ” đó sao. Sau đó Bu Sờ còn ngụy tạo hồ sơ vũ khí hủy diệt để qua mặt Liên hiệp quốc tấn công Iraq. Nếu không cho mình là đúng hơn hết thảy, là tâm điểm mà quả đất phải xoay quanh, là kẻ tạo dựng chân lý cho nhân loại thì có lẽ tổng thống Mỹ đã không nói năng và hành động như vậy.

Bản thân mỗi sự tồn tại dường như khó phân định phải trái, chỉ nên xem nó có phù hợp với thời cuộc hay không mà thôi. Để từ bỏ một tồn tại lạc loài con người nói riêng và xã hội nói chung rất cần dũng khí và lương tri. Xem ra, sự phủ nhận công khai của phi hành gia Trung Hoa Dương Lợi Vĩ về quan niệm Vạn lý trường thành có thể nhìn thấy bằng mắt thường từ vũ trụ thật đáng noi theo. Ngẫm chuyện người lại thêm thẹn cho mình. Bản thân tôi cũng chẳng thể tự biết mình đang bới móc những đề tài nhạy cảm, để thu hút mọi người vào một cuộc tranh luận, một cái “rốn” mang tên tôi ; hay tôi thực sự có cái tâm trong sáng, khơi gợi cộng đồng những suy tư hữu dụng cho chính họ. Ngã tâm tào lao hay vọng ngoại thiếu tự trọng là hai khuôn mặt cần được nhận diện của một thực thể văn hóa và con người Việt Nam hiện đại.
Trương Thái Du (Sưu tầm)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, Không Được Ngó, Jiro, nguyenthuy
Logged
 
 
 
dolechi
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 35

Cảm Ơn
-Gửi: 748
-Nhận: 319


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Chín 08, 2011, 12:29:17 PM »

( ve tac gia bai viet tren )

" NỖI NIỀM” TRƯƠNG THÁI DU .  (NGÔ MINH TRÍ Blog)



Mươi ngày trước, tôi vô tình đọc được một bình luận về bài Bức tường Berlin trên blog QUECHOA. Tác giả của bài bình luận này là Trương Thái Du. Điều khiến tôi bỏ chút thời gian đọc thêm các bài viết của Du là khả năng viết lách và tư tưởng của ông này..

Tôi viết không vì bênh vực Huy Đức, đơn giản chỉ là nhận xét. Bởi với tôi, Huy Đức chứa nhiều dấu hỏi. Tôi chỉ quan tâm các bài viết của Huy Đức, và rõ ràng, trong nhận xét của tôi thì bài viết của Huy Đức cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực hơn là tiêu cực.

Trương Thái Du cũng thế, tôi chỉ quan tâm các bài viết để thấy“nỗi niềm” của ông này. Tôi không hề có ý dính dáng vào trận “bút chiến” nào, cũng không muốn dính đến khuynh hướng chính trị của các vị ấy. 

Từ khoa chiêu

Ở Huy Đức, khi viết, thường dùng phép quy nạp bằng cách trích dẫn một loạt các sự kiện, số liệu, dẫn chứng… và được tổ chức có hệ thống để đi đến kết luận của mình. Huy Đức tổ chức các dẫn chứng rất bài bản, thông qua đó định hướng suy nghĩ cho người đọc và dần dần truyền tải thông điệp của mình muốn nói. Nhờ đó, tính thuyết phục khá cao, nhiều người tâm đắc.  Nhưng tất nhiên, người đọc vẫn cần có sự tỉnh táo, để đánh giá việc định hướng kia, thì mới có được một nhận thức sáng suốt.

Công thức viết tưởng chừng đơn giản ấy nhưng không phải ai cũng làm được, bằng chứng là không có nhiều cây bút như Huy Đức. Tất nhiên, thành công trong viết lách của Huy Đức còn phải kể đến những yếu tố ngoài lề mang tính cá nhân khác, nhưng dẫu sao làm được như thế cũng là hiếm. Nên hãy quên đi những yếu tố cá nhân ấy.

Còn với Trương Thái Du lại khác, ông Du thường có cách thể hiện ngay thông điệp và sau đó hùng biện bằng một vài dẫn chứng tỏ ra khá hùng hồn .

Trong bài Đọc “Bức Tường Berlin” của Huy Đức star, ông Du nhanh chóng đi vào ngay thông điệp chính: “nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhảy múa trên những sử liệu một chiều” và “Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây”.

Tiếp sau là một bài hùng biện hùng hồn với bút lực, ngôn từ rất mạnh mẽ. Phải công nhận rằng lối viết của Du khá sắc bén, ngôn từ có tính tác động cao. Từ đó, tác giả bắt đầu dùng ngòi bút khoáy đảo, dẫn dắt người đọc vào một mê hồn trận lý luận để rồi kết thúc bằng một thông điệp đậm tính triết lý: “Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa”.

Kết luận thế, sẽ khiến một số người đọc đặt dấu hỏi về bài viết của Huy Đức. Nhờ đó, bài viết của Trương Thái Du có lẽ có hiệu quả không hề nhỏ. Một số người sau khi tâm đắc với bài Bức tường Berlin của Huy Đức có thể đã phải lung lay trước bài đánh giá của Trương Thái Du.

Đó là điểm mạnh, nhưng để tạo ra được hiệu ứng ấy thì ông Du dùng quá nhiều khoa chiêu trong viết lách. Chính nhờ những khoa chiêu, ông đã “thôi miên” được một số độc giả. Nhưng thôi miên khác với nhận thức lý trí, nó không thể ăn sâu vào tâm trí người khác, nó chỉ là nhất thời.

Tác giả Trương đã nâng quan điểm bằng việc chỉ trách mạnh mẽ “nhãn quan phương Tây”. Ông Du cũng dẫn chứng hẳn hoi để chứng minh quan điểm ấy và mặt xấu của phương Tây là đô hộ, là ách thống trị trung cổ man rợ, là toan tính… Nhưng xoay quanh những điều gọi là chứng minh chỉ là việc áp đặt thiên kiến.

Việc đô hộ về bản chất chỉ là hình thức của việc thiết lập ảnh hưởng của các cường quốc. Tùy vào từng thời điểm lịch sử mà hình thức ảnh hưởng có những mức độ khác nhau, và thế giới càng phát triển, càng tiến bộ, thì tất nhiên những trò áp đặt mang rợ chắc chắn phải giảm dần. Đó là quy tắc bao đời của thế giới, dù tôi hay các bạn không muốn thì vẫn phải thừa nhận nó đang tồn tại, để dẹp bỏ hoàn toàn thì có lẽ còn xa. Và ai cũng hiểu hành xử của bất cứ quốc gia nào đều luôn dựa trên mục đích chính trị của quốc gia đó.

Nếu nhìn vào dẫn chứng của ông Du, so sánh ngược lại, người ta cũng có quyền nhìn nhận việc hiện diện quân sự của Liên Xô lúc bấy giờ trên đất Đông Âu là tương tự với hai chữ “đô hộ”.

Ngay đến cách ông Du đánh giá nghị quyết 1481 của châu Âu, việc đổ quân lên Berlin trong quá khứ, việc “xét lại” lịch sử cũng chủ yếu là nhận định cá nhân mà không kèm theo được dẫn chứng khách quan nào. Nên sẽ là sai nếu xem đó là dẫn chứng khách quan.

Rồi khái niệm “ý chí thống nhất của dân tộc” được Trương Thái Du dùng để giải thích cho việc hòa hợp nước Đức cũng hết sức chung chung. Khi đó chỉ là cảm nhận, không có một viện dẫn nào ngoài phát biểu mang tính cá nhân của tác giả. Thứ duy nhất có thể xem là dẫn chứng cho quan điểm này là người dân hai miền Triều Tiên vẫn nỗ lực hòa hợp. Nhưng, câu hỏi đặt ra là đã hòa hợp được chưa? Và nếu chưa hòa hợp được thì người dân khi được chọn sẽ chọn Nam hay Bắc Triều? Và điều gì cản trở hòa hợp?

Sau hết, một kết luận tổng thể mà tác giả muốn gởi gắm sau một hồi khoáy đảo về “nhãn quan phương tây”, “ý chí thống nhất” là việc dùng chuyện Iraq để một lần nữa phủ định thông điệp về tự do, dân chủ của Huy Đức.

Ai cũng hiểu ý định của Hoa Kỳ tại Iraq là gì, giải phóng dân Iraq khỏi Sadam Hussein chỉ là cái cớ để phục vụ cho mục tiêu chính trị. Nên lẽ ra, ông Du nên dùng dẫn chứng này vào việc lên án tính thực dụng, “con buôn” của chủ nghĩa tư bản thì chính xác hơn. Mà thực ra, chuyện Iraq cũng được Huy Đức nói đến trong bài viết, có kèm theo cả nhận xét cuộc chiến này:  “Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy”.

Qua những phân tích trên, ta thấy ông Du đã tạo ra một trận đồ hỗn loạn giữa cái gọi là dẫn chứng với quan điểm cá nhân phiến diện nhằm thôi miên người đọc. Nếu đánh giá chính xác, bài viết của ông Du không hề có lấy một dẫn chứng khách quan có giá trị nào cả, chưa kể cả việc đặt sai dẫn chứng. Bằng cách áp đặt quan điểm một cách khiên cưỡng, Trương Thái Du, ngược lại, đã rơi vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu.

Đến đau đáu “nỗi niềm”

Kế sau bài Đọc “Bức Tường Berlin” của Huy Đức, tôi đọc tiếp bốn bài viết của ông Du trên BBC: một bài khảo cứu về nguồn gốc người Việt cổ và nói về bà Trưng – Tiếng trống đồng Mê Linh (2005)(1),  Việt Nam và thế giới Trung Hoa (2008)(2), Tên gọi cuộc chiến Việt – Trung 1979 (2009)(3), Thời đại không anh hùng (2009)(4). Tuy chưa có bài nào ông Du dám mạnh miệng chối bỏ về đất nước và con người Việt Nam, nhưng kết nối lại thì tạo ra một chuỗi đáng suy nghĩ. Qua bốn bài ấy, tôi phần nào thấy được thông điệp cốt lõi mà tác giả này đang cố rao giảng.

Trong bài Tiếng trống Mê Linh, ông Du vẫn ca ngợi công trạng của hai bà Trưng. Thế nhưng, trong phần đầu dẫn dắt thì ông này rất nhấn mạnh đến cái gọi là khởi thủy của Việt Nam vẫn chỉ bắt nguồn tại Trung Quốc và là một bộ tộc mà thôi. Ông nhận xét rằng: “Vua Hùng của họ chỉ còn là thủ lãnh tự trị từng khu vực nhỏ, tức là như tù trưởng, tộc trưởng mà thôi”. Dường như cả bài viết là lời biện giải về nguồn cội “đại Hoa” của Việt Nam trong mắt ông Du dù cũng có những đánh giá lịch sử đáng suy nghĩ.

Tiếp theo, bài Việt Nam và thế giới Trung Hoa, ông Du đề cao cái gọi là “thế giới Trung Hoa”, xem nó luôn là một thế lực bao đời trên thế giới. Nếu ai tinh ý, người đó sẽ thấy ngay khái niệm “thế giới Trung Hoa” của ông Du có phần vay mượn từ học thuyết về Sự va chạm giữa các nền văn minh của học giả Mỹ Samuel Huntington. Nhưng điểm khác biệt là ông Du sử dụng “nửa nạt nửa mở”.  Bởi Huntington dùng khái niệm ‘nền văn minh” để giải thích các va chạm hiện tại. Còn tại thời điểm kết thúc đệ nhị thế chiến thì Huntington vẫn xem việc phân chia là theo ý thức hệ. Tất nhiên, không ai có thể phủ nhận Trung Quốc vẫn là một cường quốc, tối thiểu là trong khu vực, ở nhiều thời kỳ. Nhưng việc “nâng tầm” như ông Du thì có lẽ hơi vỹ cuồng.

Bài viết ấy, bên cạnh việc ca tụng thế giới Trung Hoa, ông Du còn cố nhấn mạnh Việt Nam bao lâu nay vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cái thế giới ấy, và có phần phụ thuộc rất lớn. Từ đó, ông này đưa ra đề xuất rằng Việt Nam muốn đảm bảo chủ quyền, muốn ngẩng đầu thì cần phải  thoát khỏi thế giới Trung Hoa. Nghe có vẻ rất là chân tình và đóng góp ý kiến. Thế nhưng, nếu suy nghĩ sâu hơn thì lối ẩn dụ của bài viết là những truyền bá rất nguy hiểm cho người Việt. Lối ẩn dụ đó chính là xóa sạch mấy nghìn năm của người Việt.

Một mặt đề xuất, một mặt ông Du “dập tắt hi vọng” của chính đề xuất bằng bài Thời đại không anh hùng, để nói Việt Nam hiện nay không có được một nhân vật đủ tạo ra một bước ngoặc thực sự cho dân tộc. Nối kết hai bài, ông Du như muốn nói rằng Việt Nam hãy an phận thuộc “Thế giới Trung Hoa” vì chẳng ai xoay chuyển nổi.

Đó là chưa kể, ông Du nói về việc xem lại tên gọi cuộc chiến Việt  Trung 1979. Một ý niệm tiếp theo, ông này gởi gắm, về cuộc chiến đó chỉ là “anh em một nhà đóng cửa dạy nhau”, bác bỏ khái niệm “chống bành trướng Bắc Kinh”.

Bằng tất cả những gì Trương Thái Du thể hiện, tôi chỉ thấy một nỗi niềm đau đáu về cái thế giới Trung Hoa vĩ đại của ông. Với người mang một nỗi niềm như thế, lại nhìn mọi thứ hết sức phiến diện thì thật là nguy hiểm khi nhiều người bị ngòi bút của ông lay động.

 Ngô Minh Trí

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, Không Được Ngó, Jiro, nguyenthuy
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 08, 2011, 12:32:34 PM gửi bởi dolechi » Logged
 
 
 
Jiro
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 22

Cảm Ơn
-Gửi: 122
-Nhận: 99


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tư 18, 2014, 09:39:28 PM »

...Tôi ngờ rằng câu nói đầy đủ của gã là “Sài Gòn là hòn ngọc viễn đông… thuộc Pháp”.
Trương Thái Du (Sưu tầm)

Vậy theo các bác thì câu trích dẫn sau "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái Hộ chiếu Việt Nam." thì theo ngã tâm của tác giả thật ra muốn nói gì...?  at wits' end

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.096 seconds với 24 câu truy vấn.