Tháng Chín 24, 2018, 05:01:58 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC -- (Từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)  (Đọc 11852 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:41:12 am »

(tiếp theo)

2. Triết lý

Thiền (ch’an) là pháp môn huấn luyện tâm linh nhắm đến việc trực nghiệm thực tại của vạn hữu, còn gọi là tâm hay Phật tánh, hiện hữu ở mọi chúng sanh.

Theo Thiền tông, thực tại này là vô ngã (sùnya), không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, và cũng không thể nhận thức bằng tư tưởng. Do vì không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ và nhận biết bằng tư tưởng, thực tại này, tức chân tâm hay Phật tánh, chỉ có thể liễu hội (hay nắm bắt) bằng trực giác tức thời.

Để đạt đến cấp độ này, hành giả phải gột rửa tất cả tư tưởng để tâm được an tịnh, bởi vì trong mọi ý niệm đều có ngã tính, tạo ra sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Đây là ngọn nguồn của mọi nghiệp báo khiến người ta rơi vào vòng sinh tử luân hồi.

Khi liễu hội được chân tâm, người ta cảm nghiệm một trạng thái mà thiền gọi là ng
“Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ chân tâm

Kiến tánh thành Phật.” [73]


Cần lưu ý rằng mặc dầu tất cả các chi nhánh của Thiền tông đều có cùng tôn chỉ và mục đích, nhưng phương pháp và kỹ thuật để đạt đến cứu cánh của từng chi nhánh lại được thể hiện khác nhau.

Ví dụ, trong khi tông Lâm Tế thường la hét, quát mắng, đánh đập hoặc áp dụng hình thức “công án” để khai thị đệ tử, tông Tào Động lại chú trọng đến phương pháp nội quán, hay ngồi thiền dưới sự hướng dẫn của vị thiền sư, nghĩa là thiền sinh được vị thầy chỉ dạy trực tiếp và riêng rẽ. Tất nhiên, mỗi phương pháp đều có giá trị riêng, vì nó khế hợp với căn cơ của đối tượng.

Khác với truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Phát Triển, Thiền tông không thừa nhận thẩm quyền của kinh điển. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng nó hoàn toàn bác bỏ kinh điển như người ta thường ngộ nhận. Trái lại, truyền thống Thiền tông cũng chứng tỏ rằng kinh điển, đặc biệt các kinh như Bát-nhã, Hoa Nghiêm, Lăng-già, Duy-ma-cật, v.v…  luôn được các thiền sư sử dụng để giảng dạy cho tín đồ.

 Hơn thế nữa, lúc đầu, Lăng-già (Lankàvatàra) là cuốn kinh chính được truyền thừa giữa các thế hệ tổ sư thiền tông. Nội dung chính của kinh nhấn mạnh đến việc tinh thần chứng ngộ nội tâm. Ai đạt đến cảnh giới này sẽ không còn khái niệm phân biệt về nhị nguyên tính. Hành giả nào chứng ngộ cảnh giới ấy, Như-lai tạng tức chân tâm của vị ấy sẽ hiển bày.

Về sau, Kim Cang cũng được xem như là ấn tín trao truyền giữa các thế hệ tổ sư Thiền tông, vì sử ghi lại rằng Huệ Năng do nghe câu kinh Kim Cang “ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm” mà ngộ được bản tâm, phát tâm xuất gia học đạo. Vì thế, kinh này cũng chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử  truyền thừa của Thiền tông.

Sau thời nhà Đường, nhiều bộ phái và tổ chức của Phật giáo bắt đầu suy yếu và lụi tàn ở Trung Hoa nhưng Thiền tông vẫn tiếp tục hưng thịnh. Mặc dù cuộc khủng bố vào năm 845 đã cản trở sự bành trướng của nó, Thiền tông vẫn có thể tồn tại và rồi phát triển rất mạnh trong thời đại Tống.

Theo giới sử gia, thành công trên nhờ vào hai yếu tố: Thứ nhất, Thiền tông không quá lệ thuộc vào hình thức nghi lễ mang tính tôn giáo, ví dụ như kinh, tượng, v.v…  Kế đến, giới thiền gia có cuộc sống độc lập về kế sinh nhai; họ không trở thành gánh nặng kinh tế cho xã hội. Chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực


(xem tiếp Chú thích)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:44:12 am »

(tiếp theo)

CHÚ  THÍCH  CHƯƠNG  BẢY

[1] Ví dụ, tông Thiên Thai bắt nguồn từ kinh Đại-bát Niết-bàn, hoặc tông Hoa Nghiêm có dấu tích của nhóm Địa Luận

[2] Gồm: Tỳ-đàm tông (Tây Tấn 265-317), Thành Thực tông (Đông Tấn 317-420), Tam Luận tông (Đông Tấn 384-418), Luật tông (Đông Tấn 384-418), Niết Bàn tông (Bắc Lương 397-439), Địa Luận tông (Bắc Ngụy (386-535), Duy Thức luận (Đông Ngụy 534-550), Tịnh Độ tông (Tây Ngụy 535-557), Thiền tông (Nam Lương 502-557), Nhiếp Luận tông (Trần 557-589), Câu Xá tông (Trần 557-589), Thiên Thai tông (531-597), Hoa Nghiêm tông (643-712), Pháp Tướng tông (596-664), Mật tông (Chân Ngôn tông -khoảng thế kỷ thứ VII và VIII) [Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ dịch (The Essentials of Buddhist Philosophy by J. Takakusu), tr. 26-28].

[3] Sđd , tr. 26-28.

[4]  Ví dụ, Thành Thật tông và Tam Luận tông đã được trình bày ở chương Bốn.

[5] Phần chi tiết, xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 114; xem thêm Encyclopeadia of Buddhism, tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên) đối chiếu phần "Abhidharma Literature", tr. 65-84.

[6] Sđd , tr. 57.

[7] Theo J.Takakusu, có hai bản Tì-bà-sa lưu hành tại Trung Hoa: (a) Mahàvibhasa của Parsva (Hán dịch 200 quyển) và Vibhasa (Hán dịch 14 quyển). Đây là những văn bản chính của hai chi phái lớn của Sarvastivàda tại Kasmir và Gandhàra. Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 115.

[8] Theo J. Takakusu , tên ngài là "Dharmatràta", thay vì Dharmatàra. (Xem Sđd , tr. 116).

[9] Sđd , tr.116.

[10] Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, tr.174.

[11] Theo J.Takakusu, bản Hán ngữ của A-tì-đạt-ma Câu Xá Luận hiện còn bao gồm 60 cuốn (Sđd, tr. 119).

[12] Trong Phật giáo, từ "Pháp"(Dharma- bắt nguồn từ động từ "dhri" với ý nghĩa là giữ lại, mang) có năm nghĩa: (1) Lý tưởng hay cái được nắm giữ, hay sự toàn giác; (2) giáo lý, giáo thuyết; (3) Luật nghi, giới điều, đức lý; (4) Nguyên lý, chân lý, lý tính"; và (5) Thực tại, sự kiện, sự vật, tâm, vật" (Chi tiết, xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 109-110).

[13] Biểu đồ và giải thích chi tiết, xem Sđd, tr.127-138.

[14]  Theo giả thuyết của J. Takakusu, Huệ Văn có thể sinh vào năm 505. (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 250-252; xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch'en, tr. 303

[15] Xem The Encyclopeadia of Religion. Tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 510.

[16] Theo J. Takakusu, niên đại của Huệ Tư là 514-577 (Sđd, tr. 252).

[17] Xem The Encyclopeadia of Religion, tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr, 510.

[18] Tại miền Nam, phong trào nghiên cứu kinh Niết-bàn và Niết Bàn tông hoạt động rất mạnh mẽ. Nhưng khi Thiên Thai tông hình thành, Niết Bàn tông bị hợp nhất với nó. (Chi tiết Niết Bàn tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr.102-105)

[19] Theo Bách Khoa Tôn Giáo, ngài xuất gia vào năm 17 tuổi (Xem The Encyclopeadia of Religion, tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr.  511).

[20] Tuy nhiên, cách phân loại này cần phải phân tích và bình giải một cách cẩn trọng trong hoàn cảnh lịch sử của nó (Soạn giả)

[21] Phần chi tiết về triết lý Thiên Thai tông, xem thêm Các Tông Phái của Đạo Phật,Tuệ Sĩ (dịch), tr. 263-265.

[22] Bao gồm trong Ma-ha Chỉ Quán của Trí Khải biên tác.

[23] Wing-tsit Chan, A Source Book in Chinese Philosophy, tr. 406.

[24] Xem  Encyclopaedia of Buddhism, tập II, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 435.

[25] Nội dung chi tiết của Địa Luận tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm tr,112-115; xem thêm Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 214-216.

[26] Theo J. Takakusu, danh hiệu này do Thái Tông nhà Đường phong tặng (Sđd, tr. 216-217).

[27] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 314.

[28] Theo J. Takakusu, ngài thị tịch năm 820 (Xem Sđd , tr. 218).

[29] Theo J. Takakusu, sau khi  Hoa Nghiêm tông được Thẩm Tường (người Tân La) giới thiệu đến Nhật Bản và được các thế hệ tổ sư bản địa kế thừa và phát triển, tông phái này đã có một vị trí và ảnh hưởng nhất định tại Nhật Bản; thậm chí cho đến ngày nay các trung tâm Phật học tại nước này vẫn tích cực nghiên cứu và phát triển tính đặc thù của kinh Hoa Nghiêm (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 218-219)

[30] (ekacittàntaragatadharmaloka).

[31] Xem thêm  Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 221.

[32] Chi tiết, tham khảo thêm Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr. 178-179; và Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 232-236.

[33] Xem Encyclopaedia of Buddhism tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 453.

[34] Xem Khái Niệm về Bồ Tát Quán Thế Âm, Viên Trí, Nxb. Tôn Giáo , 2003, tr. 233.

[35] Xem Encyclopaedia of Buddissm, tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên) tr. 436.

[36] Xem Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 316.

[37] Xem Khái Niệm về Bồ Tát Quán Thế Âm, Viên Trí, tr. 234.

[38] Xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 329.

[39] Về hành trạng của ngài, tham khảo Huệ Viễn: Cuộc đời và sự nghiệp, chương Ba của sách này

[40] Theo J. Takakusu, có bốn dòng truyền thừa của Tịnh Độ tông. Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 318-319.

[41] Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

[42] Đầu tiên tác phẩm này được Buddhasanta (Phật Thủ) dịch tác sang Hán văn vào năm 531, nhưng chưa gây được sự chú ý. Đến khi bản dịch của Chân Đế ra đời, tư tưởng này mới có ảnh hưởng lớn tại Trung Hoa.

[43] Một số học giả gọi là “Duy thức tượng trưng”.

[44] Nội dung chi tiết của Nhiếp Luận tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr.110-112

[45] Chi tiết về chuyến Tây du học đạo của Huyền Trang, xem Chương Năm, Mục “Hành hương xứ Phật”. (Soạn giả)

[46] Giới Hiền (lúc này đã 106 tuổi) là học trò của Hộ Pháp (Dharmapàla); trong khi ấy, Hộ Pháp là học trò của Trần Na (Dignàga), người đệ tử chân truyền của Thế Thân. (Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch'en, tr. 321)

[47] Theo Wing -tsit Chan, “Thành Duy Thức Luận” là kết quả của quá trình nỗ lực chọn lọc, tóm tắt và hệ thống hóa sự giải thích của Huyền Trang về 10 bản sớ giải công phu của 10 triết gia Ấn Độ (bao gồm cả tác phẩm của Dharmapàla)  về "Duy Thức Tam Thập Tụng" của Thế Thân. (Xem A Source Book in Chinese  Philosophy, Wing-tsit Chan, tr. 370)

[48] Vijnõaptimàtratàtrimïsika

[49] parikalpitalaksïanïa

[50] paratantralaksïanïa

[51] parinïisïpannalaksïanïa

[52] Nghĩa là giáo pháp này không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường, mà bằng chính ngôn ngữ của Phật.

[53] Xem Chương Ba, Mục "Danh tăng dưới thời Bắc triều,”Phật-đồ-trừng

[54] Theo J. Takakusu, Thiện Vô Úy từng làm vua xứ Orissa (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 277).

[55] Tác phẩm này có lẽ được sáng tác ở Bắc Ấn vào khoảng thế kỷ thứ VII (xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên) tr. 234).

[56] Kenneth K.S. Ch’en, Buddhism in China, tr. 335.

[57] Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 278.

[58] Kinh này được sáng tác ở miền Nam Ấn Độ. (Xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 234).

[59] Tạm dịch là “Pháp giới thai tạng”.

[60] Phật giáo Nguyên Thủy gọi là lý tưởng A-la-hán, Phật giáo Phát Triển gọi là lý tưởng Bồ-tát, Mật giáo gọi là lý tưởng Sidhi.

[61] Theo W. Pachow, có một số nghi vấn về lịch sử xác thực của Bodhidharma thường được quan tâm: (a) ngài được biết với rất nhiều tên gọi; (b) không có sử liệu nào liên quan đến sinh hoạt ngài được lưu giữ và lưu hành tại Ấn Độ; (c) có quá nhiều mâu thuẫn về sử liệu đề cập thời gian ngài đến Trung Hoa (Xem Encyclopaedia of Buddhism, G.P. Malalasekera (chủ biên), tập III, tr.197).

[62] Xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 200.

[63] Xem The Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 185.

[64] Có thuyết cho rằng Bodhidharma là người hoàng tộc xứ Parsia (Sđd). Trong khi đó, J. Takakusu nói rằng ngài là thái tử thứ ba của vua Kancipura xứ Nam Ấn (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 304).

[65] Sử liệu thường ghi rằng tại đây ngài ngồi quay mặt vào tường, tu tập thiền định suốt 09 năm (Soạn giả)

[66] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 351.

[67] Theo một vài nghiên cứu, ngài đến Bắc Ngụy năm 475 ( xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 192 và 202).

[68] G.P. Malalasekera, Sđd , tr. 351.

[69] Xem The Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên),tr.186.

[70] Theo nghiên cứu của W.P., cuộc đời và hành trạng của Tăng Xán dường như ít được giới sử gia biết đến (Xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 205)

[71] Phần truyền thừa chi tiết của hai dòng thiền Nam Bắc, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr. 115.

[72] Zen của Nhật Bản gọi là   “satori”.

[73] Tạm dịch: Truyền ngoài giáo pháp, không dùng văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.

[74] “Một ngày không làm, một ngày không ăn”.


(xem  tiếp  CHƯƠNG  BẢY)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:49:43 am »

(tiếp theo)

Chương Bảy

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO

 

I. Thành phần và nguồn gốc xã hội của Tăng đoàn


Ở Ấn Độ, Tăng già Phật giáo là một tổ chức với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho những ai muốn theo đuổi con đường xuất thế của đức Phật Thích Ca. Khi gia nhập vào Tăng đoàn, thành viên của nó không còn lo lắng đến phương tiện sinh sống, hoặc ước ao về gia đình và xã hội. Sống trong môi trường như thế, tăng ni có thể dành hết thời gian và năng lực cho việc huấn luyện tâm linh của tự thân.

Theo dòng thời gian, khi Phật giáo chia thành hai phái Thượng Toạ bộ (Nguyên Thủy)  và Đại Chúng bộ (Phát Triển), Tăng đoàn vẫn không có nhiều thay đổi. Hằng ngày họ vẫn tu tập và hành trì tất cả giới luật do đức Phật quy định với một số thay đổi hoặc khác nhau nhưng không mấy quan trọng.

Tuy nhiên, lúc đạo Phật truyền vào Trung Quốc, tổ chức cũng như sinh hoạt của tăng ni tại đây có nhiều thay đổi đáng kể. Ở Ấn Độ, xuất gia là công việc của cá nhân, hoàn toàn tùy thuộc vào ước muốn của cá nhân và gia đình; nhưng ở Trung Hoa, đặc biệt là thời nhà Đường, xuất gia và thọ giới lại liên quan đến luật pháp xã hội. Ai muốn thế phát xuất gia đều phải tuân thủ các quy định và sự kiểm soát của triều đình.

Trong những triều đại trước, chức vụ trong tổ chức Tăng đoàn thường do triều định chỉ định, và số tăng quan ấy có trách nhiệm điều hành cũng như giám sát mọi hoạt động của Tăng già. Triều đại nhà Đường không những tiếp tục duy trì các điều luật trên, mà còn can thiệp rất sâu vào mọi hoạt động của tổ chức Tăng đoàn.

Nói khác đi, vua chúa nhà Đường quản lý quyền tự do tu hành của cá nhân với mục đích hạn chế số lượng người đi tu. Mặc dầu pháp luật triều đình không hoàn toàn phù hợp với tổ chức của nó, nhưng để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường văn hoá mang đậm màu sắc Khổng giáo, Phật giáo buộc phải chỉnh lý để thích nghi với điều kiện như thế.

Hệ thống chính trị Trung Hoa, đặc biệt là dưới thời nhà Tùy và Đường, phân chia tu sĩ Phật giáo thành ba loại. Thứ nhất là giới tăng nhân hay còn gọi là tăng quan, sống trong chùa viện do triều đình xây dựng, nhận sự hỗ trợ từ triều đình và làm công việc được triều đình ủy thác. Thứ hai là số Tỷ-kheo được giai cấp quý tộc và giàu có trong lãnh thổ ủng hộ, còn gọi là Tư Tăng. Cuối cùng là giới tu sĩ bình dân, sống trong chùa chiền hoang vắng, xa xôi; cuộc sống của họ chủ yếu nhờ vào sự hỗ trợ của quần chúng tín đồ.

Theo “Cao Tăng Truyện”, phần lớn Tỷ-kheo xuất thân từ các gia đình giàu có nên trình độ học vấn của họ rất cao, vì lúc chưa xuất gia họ đã được học hành chu đáo. Do vậy, họ không gặp nhiều khó khăn trong việc học và hiểu giáo lý nhà Phật. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng “Cao Tăng Truyện” chỉ ghi lại tiểu sử của những danh tăng như Pháp Hiển, Huyền Trang, Tông Mật…, và tất nhiên không phản ảnh được nguồn gốc xã hội của toàn bộ tăng ni[1]; vì trong cả ba tác phẩm trên, tên tuổi của tăng sĩ Phật giáo chỉ có 1.818 vị. Rõ ràng, đây là một con số quá nhỏ khi đối chiếu với bức tranh thực của Tăng già Trung Hoa từ đời Hán đến năm 987.

Tuy nhiên, người ta cho rằng trong ba loại Tỷ-kheo được đề cập ở trên, tăng quan và tư tăng rất có thể xuất thân từ các gia đình quan quyền và giàu có; nhờ vậy họ có được một nền tảng giáo dục tốt. Nhưng số lượng của hai loại tăng sĩ này thì quá ít so với tăng sĩ trong toàn bộ lãnh thổ bằng cách đối chiếu số lượng chùa chiền của từng nhóm.

 Theo tài liệu của Pháp Lâm, dưới đời nhà Tùy có 47 đại tự của hoàng triều, 839 chùa của các vương công và gia đình thế lực, và 30.000 chùa của nhân dân[2]. Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nguồn gốc xã hội của nhóm thứ ba, nhưng người ta nói rằng số tăng sĩ  ở chùa của nhân dân xuất thân từ tầng lớp nông thôn.

Trong cuốn hồi ký chống đối Phật giáo biên soạn vào thời nhà Đường, Phó Dịch nhấn mạnh rằng thành phần theo Phật giáo chủ yếu thuộc gia đình nông dân. Nhận sự hỗ trợ từ quần chúng, số tăng sĩ này chỉ đảm trách những nhu cầu đơn giản về tôn giáo của số người thất học ở nông thôn; vì thế có lẽ trình độ học vấn của họ cũng không cao. Sử liệu không đề cập gì đến điều kiện gia nhập Tăng đoàn và chương trình huấn luyện về số tăng sĩ bình dân này. Có lẽ họ chỉ được học một ít kinh sách, nghi lễ và không thuần thục lắm về toàn bộ văn điển Phật giáo.

Cần lưu ý, vào đời nhà Đường, số lượng tăng quan rất lớn, quốc tự được xây dựng ở tất cả đơn vị huyện, trấn. Đạo Phật chính thức được quyền lực của triều đình bảo trợ, nhưng vào thời này sinh hoạt của Phật giáo chỉ giới hạn trong lãnh vực nghi lễ tôn giáo. Đường triều lập nên hệ thống kiểm kê danh bộ tăng ni, bắt đầu từ năm 729. Công tác thống kê này được giao phó cho tăng quan địa phương thực hiện, ba năm một lần. Sau khi hoàn tất, danh bộ được sao thành ba bản, một bản giữ tại văn phòng của huyện, một gửi cho Nha Lễ Bộ của tổng trấn và một gửi cho Bộ Lễ của triều đình. Số lượng thay đổi do chết, mới xuất gia, hoàn tục hay chuyển chỗ ở sẽ được chú thích rõ ràng. Mục đích của việc đăng ký danh bộ tăng ni là giúp triều đình nắm rõ chính xác số lượng tăng ni và sinh hoạt của họ.

Tăng đoàn Phật giáo tại Trung Hoa được chia thành tám loại, gồm

(a) nam và nữ tập sự hay còn gọi là đồng hành,

(b) sa di và sa di ni,

(c) Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni,

(d) cận sự nam và cận sự nữ.


Không biết loại đồng hành được hình thành từ năm nào, nhưng đến đời Đường hình thức này khá phổ biến. Theo quy định của nhà Tống, ai muốn trở thành tập sự (đồng hành) trước hết người ấy phải nộp một tờ đơn cho tu viện trưởng, ghi rõ tên tuổi, xuất xứ, không vi phạm pháp luật, được phép của cha mẹ vào chùa tập sự.

Sau đó, tu viện trưởng sẽ gọi người ấy đến để xác định có thật sự muốn gia nhập Tăng đoàn hay không, hay chỉ vì muốn vào chùa để trốn tránh một số nghĩa vụ xã hội nào đó. Bên cạnh ấy, người tập sự phải đáp ứng năm điều kiện sau đây:

(1) Nam phải dưới 19 tuổi và nữ dưới 14;
(2) Chưa từng gia nhập Tăng đoàn và hoàn tục;
(3) Không phải là tội phạm;
(4) Không có chuyện rắc rối với pháp luật;
(5) Không phải là con trai một trong gia đình.


Nếu hội đủ các điều kiện trên, đương sự trở thành đồng hành. Trong thời gian tập sự, người ấy phải làm một số bổn phận, học kinh sách và hầu hạ chư tăng. Cần lưu ý rằng tăng sĩ Phật giáo được miễn  đóng thuế và làm công tác xã hội; nhưng giới tập sự vẫn phải tuân thủ các nghĩa vụ trên. Gia đình của họ phải gánh vác nghĩa vụ ấy cho đến khi trở thành sa di. Đây là lý do chính tạo nên sự tranh đua dữ dội trong giới đồng hành.

 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 20, 2011, 04:51:22 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:06:58 pm »

(tiếp theo)

II. Thủ tục xuất gia – thọ giới

Ở Ấn Độ, việc thế phát xuất gia và truyền trao giới pháp hoàn toàn là công việc riêng tư của cá nhân và Tăng đoàn. Trái lại, ở Trung Hoa, tiến trình này bị triều đình giám sát nghiêm ngặt. Chính sách này không phải bắt đầu từ nhà Đường, mà nguồn gốc của nó được tìm thấy từ thời Nam Bắc triều, đặc biệt là dưới thời hoàng đế Thái Tổ của Bắc Ngụy[3].

 Mục đích của nó là giới hạn số lượng thành viên của Tăng già, đồng thời hạn chế các phần tử bất hảo lợi dụng tôn giáo. Hiệu quả của chính sách ấy được thấy rõ, vì sử liệu ghi rằng số lượng tăng ni Phật giáo vào triều đại nhà Tùy là 230.000 người, nhưng thống kê tăng tịch vào kỷ nguyên Khai Nguyên (713-741) của nhà Đường cho thấy số lượng tăng ni đã giảm rõ rệt với 75.524 tăng và 50.576 ni[4].

Vào thời kỳ đầu nhà Đường, thế độ và truyền giới cho Tỷ-kheo rất được nhiều tầng lớp quan tâm. Bên cạnh việc Tăng đoàn được phép tiến hành lễ xuất gia, thọ giới cho những ai hội đủ điều kiện do chính quyền quy định, nhiều thành phần khác trong giới quý tộc, hoàng tôn, công chúa của triều đình cũng được ban đặc quyền tiến hành nghi lễ xuất gia. Họ thường tranh đấu với nhau trong việc chủ trì các buổi lễ ấy. Hậu quả là số lượng người xuất gia, thọ giới gia tăng đáng kể, bởi vì những thành phần bất hảo của xã hội cũng lợi dụng cơ hội này gia nhập Tăng đoàn, trốn tránh luật pháp. Do vậy, triều đình phải tìm mọi cách để loại trừ số người ấy ra khỏi cộng đồng tăng lữ.

Vào thời đại Khai Nguyên, khoảng 12.000 tu sĩ bị cưỡng bách hoàn tục; trong khi ấy, khoảng 30.000 người khác lại tách khỏi giáo hội. Vì lý do trên, vào giữa đời nhà Đường, tiến trình truyền thọ giới pháp theo truyền thống giới luật Phật giáo không còn được tôn trọng. Chính quyền kiểm soát hoàn toàn thủ tục này qua việc ban hành giới điệp thọ giới cho những ai được phép tu hành.

Giấy chứng nhận này do Nha Tương Tế của triều đình cấp. Người ta nói rằng vào thời Nam Bắc triều, một loại thẻ chứng nhận tăng ni như là giấy thông hành bao gồm tên tuổi, quê quán…, cũng đã được áp dụng.

Mặc dầu người ta không thể xác định được việc cấp phát độ điệp (giấy chứng nhận) này bắt đầu từ thời đại nào, thủ tục thế độ, truyền giới và cấp phát độ điệp được ghi nhận theo một số phương thức sau:

1. Khảo thí:


Theo sử liệu, thủ tục khảo thí trong thời kỳ Nam Bắc triều bao gồm năm bài thi:

(1) Thuyết giảng một bộ kinh;

(2) Thực hành thiền định;

(3) Đọc thuộc một bản kinh;

(4) Viết luận giải về một đoạn kinh; và

(5) Bình phẩm một đoạn trích từ kinh.


Tuy nhiên, vào thời đại nhà Hậu Châu và Tống, việc khảo thí  đơn giản hơn. Nam đồng hành phải đọc thuộc lòng 100 tờ và trùng tuyên 500 tờ kinh; trong khi ấy, nữ đồng hành chỉ 70 tờ và trùng tuyên 300 tờ kinh. Nhưng bước sang triều đại nhà Đường, thủ tục thi tuyển lại được thay đổi, bao gồm tụng đọc thuộc lòng và giải thích một số kinh sách được quy định.

Ví dụ, sắc lệnh năm 757 quy định một cư sĩ có khả năng đọc thuộc lòng 700 tờ từ một bộ kinh thì đủ tư cách thọ giới và thọ nhận độ điệp; nhưng vào năm 758, số tờ kinh được giảm xuống còn 500 tờ. Số lượng tiếp tục được giảm xuống vào năm 825 dưới thời trị vì của Tĩnh Tông; lúc này, nam đồng hành phải đọc thuộc lòng 150 tờ và nữ đồng hành 100 tờ.

Nếu người dự thi vượt qua được cuộc khảo hạch, quan chức triều đình sẽ cấp phát cho cho họ một giấy chứng nhận (độ điệp), sau đó đương sự đến gặp vị thầy của mình để được làm lễ xuống tóc (thế phát) và thọ nhận giới pháp. Trong tiến trình này, người ấy phải trả một số lệ phí như tiền cạo tóc và bút mực, giấy, viết của độ điệp. Cần lưu ý rằng cấp phát chứng điệp là việc của triều đình; trong khi ấy, thế độ truyền giới là việc của Tăng già.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 20, 2011, 02:08:37 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:12:11 pm »

(tiếp theo)

2. Đặc ân của Hoàng đế

Bên cạnh hệ thống thi cử ở trên, việc xuất gia thọ giới cũng có thể được chấp nhận nhờ ân huệ vua ban, còn gọi là “ân độ”. Nghĩa là Tỷ-kheo được phép thọ giới nhờ ân điển của nhà vua vào những ngày lễ đặc biệt, ví dụ triều đình chính thức công nhận một ngôi chùa nào đó là quốc tự, sinh nhật của nhà vua, ngày tưởng niệm hoàng đế hay hoàng hậu quá cố, hay vào dịp triều đình xây dựng một ngôi chùa mới.

Trong những dịp như thế, vị trụ trì trình báo danh sách các vị đồng hành (tập sự) hội đủ tiêu chuẩn cho quan chức địa phương để họ giới thiệu lên Nha Tương Tế của triều đình. Số giới tử này không cần phải thi khảo hạch, vì họ được nhà vua chấp thuận. Thể thức này xuất hiện trước đó khá lâu, nhưng lại rất thịnh hành trong thời nhà Đường. Ví dụ điển hình sớm nhất về lễ xuất gia thọ giới theo hình thức này xảy ra vào năm 635 khi Thái Tông hoàng đế ban chiếu chỉ cho phép 3.000 tăng ni được thọ lãnh giới pháp.

 Lý do chiếu lệnh ấy được ban hành là vì có quá nhiều chùa viện không có tu sĩ điều hành và quản lý. Vào năm 648, sau khi tương ngộ và đàm luận Phật pháp với Huyền Trang, một lần nữa Thái Tông lại “ân độ” cho một số lượng lớn tăng ni theo lời thỉnh cầu của vị danh tăng này.

Theo tinh thần của chiếu lệnh, mỗi ngôi chùa trong kinh thành được phép thế phát và truyền giới cho năm vị. Sử liệu ghi rằng tổng số tăng ni được xuất gia trong đợt này là 17.500 v3. Mua bán chứng điệp

Cuối cùng, người ta cũng có thể được phép xuất gia thọ giới bằng việc mua chứng điệp. Thể thức này bắt đầu được áp dụng từ năm 757 vì một biến cố chính trị. Việc cung ứng binh khí và lương thực cho quân đội nhằm đàn áp và triệt tiêu cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn dấy lên vào năm 755 đã làm quốc khố triều đình cạn kiệt. Phương sách có hiệu quả nhanh nhất để phục hồi nguồn tài chánh cho quốc khố là việc buôn bán độ điệp Tỷ-kheo.

 Triều đại nhà Đường cho mọi người dân được phép xuất gia với điều kiện phải trả cho triều đình một ngân khoản là 100 xâu tiền (string). Việc làm trên sớm giúp ngân khố nhà Đường nhanh chóng phục hồi, vì sử liệu ghi rằng ngay khi chính sách ấy được công bố, người ta đổ về Lạc Dương và Trường An tranh nhau mua chứng điệp.

Tổng cộng, có khoảng 10.000 tăng ni Phật giáo và đạo sĩ của Lão giáo gia nhập giáo hội bằng cách ấy. Quốc khố cũng gia tăng được 1.000.000 xâu tiền mặt.

Thực chất, kế sách trên chỉ là phương án tạm thời của nhà Đường nhằm phục hồi quốc khố, nhưng sau khi được đưa vào áp dụng việc làm ấy trở nên rất thịnh hành.

 Giới quan chức từ trung ương đến địa phương đã chụp cơ hội ấy để làm giàu cho cá nhân.

Sử ghi lại rằng một vị quan tên là Wang-Chih-hsing ở Anhui, vào năm 824, mỗi ngày bán hơn 100 chứng điệp xuất gia cho người dân. Mỗi độ điệp trị giá 200 xâu tiền.

Người ta nói rằng việc mua bán độ điệp xuất gia đã trở thành một phần trong chính sách quốc gia vào thời đại nhà Tống với mục đích xây dựng ngân khố.


Chính sách ấy có lẽ được áp dụng vào triều đại Tống Thần Tông (1068-1075).

 Tuy nhiên, vào thời trị vì của Tống Thái Tông, một chiếu lệnh ban hành cấm quan chức địa phương lấy độ điệp của một nơi đem bán một nơi khác. Sắc chỉ này chứng tỏ rằng việc mua bán chứng điệp rất phổ biến từ lúc nó ra đời.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:16:41 pm »

(tiếp theo)

III. Hệ thống tổ chức của Tăng đoàn

Ở Ấn Độ, Tăng đoàn Phật giáo là một cộng đồng vượt ra ngoài quyền lực và kiểm soát của xã hội. Đây là một tổ chức bao gồm những thành viên dứt bỏ mọi sự ràng buộc của gia đình, xã hội để sống một cuộc sống tu hành. Các hình thức tổ chức tôn giáo như thế ở Ấn Độ không còn bị luật pháp và hệ thống chính trị của xã hội kềm chế và quản lý như các tổ chức xã hội thông thường khác.

 Nhưng ở một đất nước như Trung Quốc với hệ thống quan lại quá sâu rộng, nơi mà các hoàng đế được xem là tối cao, thì không có gì ngạc nhiên khi hoạt động của Tăng đoàn Phật giáo bị đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền thông qua một hệ thống tăng quan từ địa phương đến trung ương.

Bộ phận hành chính đầu tiên, gọi là Giám Phước Tào, được thành lập để kiểm soát Tăng đoàn, do triều đình Bắc Ngụy chủ trương, có lẽ vào năm 396. Theo tập Thích Lão Chí, ban đầu cơ quan này được gọi là Giám Phước Tào, về sau nó được đổi là Chiêu Huyền Ti (?). Để lãnh đạo bộ phận này, Thái Tổ hoàng đế bổ nhiệm Tỷ-kheo Pháp Quả chức vị lúc đầu gọi “Đạo Nhân Thống” để giám sát tăng ni và đạo sĩ, và về sau đổi thành “Sa Môn Thống”.

 Bên cạnh chức “Sa Môn Thống”, triều đình còn bổ nhiệm một “Đô Duy Na” để quán sát công việc. Dưới sự giám sát và hỗ trợ của chính quyền trung ương, “Tăng Tào” hay “Văn phòng Tăng Sự” được thành lập khắp nơi. Đứng đầu tổ chức Tăng đoàn của mỗi địa phương là vị tăng trưởng do “Đạo Tăng Thống” ở trung ương bổ nhiệm. Tăng trưởng mỗi huyện tổng có quyền tuyển chọn một vị phụ tá giúp việc gọi là “Duy Na

Hệ thống hành chánh này do triều đình Bắc Ngụy khởi xướng và các triều đại về sau như Tề (550-577), Tùy (581-618) duy trì nhưng với một vài thay đổi, bổ sung. Cụ thể vào thời nhà Tề, tại trung ương, hội đồng lãnh đạo Tăng đoàn gồm một vị Tổng Thủ Lĩnh Tăng, một Thủ Lĩnh, và ba Đô Duy Na, làm việc dưới sự giám sát của “Thái Thường Tự”, một bộ phận chuyên lo việc cúng tế trong nội cung. Trong khi ấy vào thời nhà Tùy, tổ chức Tăng già lại đặt dưới sự kiểm soát của “Hồng Lô Tự” (Nha Lễ Bộ). Lãnh đạo tối cao của Tăng đoàn là một danh tăng do triều đình bổ nhiệm.

Vào thời kỳ đầu của nhà Đường, hệ thống này lại tiếp tục thay đổi. Vua quan nhà Đường bắt đầu áp đặt luật lệ của xã hội lên tổ chức Tăng đoàn. Đứng đầu Tăng già lúc này không phải là một Tỷ-kheo mà là một quan lại triều đình. Tất cả tăng ni nằm dưới sự kiểm soát của Hồng Lô Tự. Nhiệm vụ của Hồng Lô Tự là quản lý và giám sát người nước ngoài, coi sóc việc tiếp giao, cúng tế… Phật giáo được xem là tôn giáo ngoại nhập, do vậy bị đặt dưới sự giám sát của tổ chức trên. Tuy nhiên, vào năm 694, nữ hoàng Võ Tắc Thiên chuyển sự giám hộ này sang Nha Cúng Tế trực thuộc Bộ Lễ, vì nữ hoàng muốn biểu lộ sự yêu thích của bà đối với Phật giáo; đồng thời bà cũng muốn khẳng định một yếu tố quan trọng là triều đình của bà không còn xem Phật giáo là một tôn giáo ngoại lai nữa.

Điều quan trọng ở đây là, vào thời điểm ấy, Bộ Lễ bắt đầu áp dụng chính sách kiểm tra số lượng tăng ni, biên soạn sổ đăng ký Tăng bộ; triều đình tổ chức khảo thí để tuyển chọn thành viên muốn gia nhập Tăng đoàn và cấp phát chứng điệp.

Vào giai đoạn thứ hai của nhà Đường, một cơ quan mới với tên gọi là “Công Đức Sứ” được hình thành. Bổn phận của nó liên quan đến các hoạt động như tạc tượng, xây chùa, lập đàn chay, bố thí,v.v… Nhiệm vụ này có lẽ được thành lập dưới thời trị vì của vua Thái Tông (763-779), vì tài liệu đề cập đến nó sớm nhất được tìm thấy vào năm 774. Sau khi Thái Tông băng hà vào năm 779, cơ quan ấy bị đình chỉ một thời gian.

Vào năm 788, “Công Đức Sứ” được tái lập trở lại, nhưng được chia thành ba văn phòng:

(a) Công đức sứ đặc trách phần trái của Trường An;

(b) Công đức sứ đặc trách phần phải của Trường An;

(c) Công đức sứ đặc trách phía đông kinh thành Lạc Dương[7].

Vào thời điểm này Công Đức Sứ đặc trách luôn quyền lực giám sát Tăng đoàn mà trước kia thuộc về Nha Cúng Tế. Đến năm 807, giới đạo sĩ thuộc Lão giáo cũng bị sự quản thúc của bộ phận quyền lực này. Vào khoảng thời gian từ 841-846 lúc Phật giáo mất đi sự ân sủng của triều đình, việc kiểm soát tôn giáo lại được chuyển giao sang Nha Chủ Khách thuộc Bộ Lễ.

Vụ này giám sát các hoạt động ngoại giao và sứ quán. Vì Phật giáo lại được xem là ngoại nhập nên phải chịu sự quản lý của nó. Tuy nhiên, sự thay đổi ấy kéo dài cũng không bao lâu, vì vào năm 846 Tăng đoàn lại tiếp tục nằm dưới sự giám sát của “Công Đức Sứ”.

Cần lưu ý, trong thời điểm ấy, việc kiểm tra hộ tịch tăng ni và cấp phát chứng điệp xuất gia thọ giới vẫn thuộc về Nha Cúng Tế.  Điểm đặc biệt quan trọng là những người nắm giữ chức vụ quan trọng trong các Bộ, Nha như thế thông thường không phải là tu sĩ, hay quan lại mà là giới hoạn quan đầy quyền lực. Số hoạn quan ấy thường lợi dụng quyền lực để tham ô, tích lũy tài sản cho cá nhân.

Theo nghiên cứu của học giả người Nhật tên là Ennin[8], tài sản của hoạn quan Ch’iu Shih-liang, đứng đầu một trong những Bộ Nha tại kinh thành, bị tịch biên sau khi bị bãi chức bao gồm sừng voi chất đầy một căn phòng; vàng, bạc, đá quý chất cứng một kho, riêng tiền bạc, lụa là và thực phẩm không thể nào đếm hết…

Sau khi Công Đức Sứ được thành lập, văn phòng Tăng Lục (Thư Ký Tăng Đoàn) cũng lần lượt ra đời tại Trường An và Lạc Dương.  Chức vụ thư ký được giao cho Tỷ-kheo đảm nhiệm và các thư ký ấy có trách nhiệm trực tiếp với quan chức của Công Đức Sứ.

Đặc biệt vào thời kỳ này, mỗi địa phương của đế chế nhà Đường đều có một văn phòng của Tăng già gọi là Tăng Chánh (Monk Administrator). Dưới sự giám sát của quan chức triều đình như tổng trấn, quan huyện, vị tăng đảm trách văn phòng này có trách nhiệm quản lý tu viện, chùa miếu và tăng lữ ở khu vực của mình. Thông thường, chức vụ Tăng Chánh được giao cho những Tỷ-kheo có năng lực và phẩm hạnh tại chính địa phương ấy.

Dường như “Tăng Chánh” được áp dụng vào thời kỳ cuối của nhà Đường sau cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, khi quyền lực của chính quyền trung ương bắt đầu suy đồi và giới quan chức địa phương nổi lên đòi quyền tự trị. Mặc dầu vị trí Tăng Lục và Tăng Chánh đều do hàng Tỷ-kheo đảm trách, nhưng quyền lực kiểm soát Tăng già thật sự nằm trong tay của quan lại từ địa phương đến trung ương.

Cần lưu ý một số triều đại, như Bắc Ngụy, Bắc Tề, và Tùy, thường bổ nhiệm các Tỷ-kheo ở vị trí thủ lĩnh của Tăng già và giao phó cho họ trách nhiệm giám sát sinh hoạt của tăng ni thay triều đình.

 Nhưng đến triều đại nhà Đường, quyền lực giám sát tổ chức và sinh hoạt của cộng đồng tăng ni nằm trong tay của quan lại. Điều này biểu thị rằng Phật giáo không được tự do hoạt động và phải lệ thuộc hoàn toàn vào luật pháp của xã hội phong kiến Trung Hoa.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #66 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:21:12 pm »

(tiếp theo)

IV. Hệ thống quản lý trong các tự viện


Có tài liệu viết rằng lãnh đạo mỗi ngôi chùa thường bao gồm ba vị Tỷ-kheo gọi là tam cang. Đó là trưởng tu viện hay thượng tọa (sthavira-abbot), viện chủ (vihàrasvàmin-rector) và quản lý (karmadàna-superintendent)[9]. Ba chức vụ này được chúng Tỷ-kheo trong mỗi chùa bầu lên.

Người được tuyển chọn ở vị trí đầu tiên, tức tu viện trưởng, thường là vị Tỷ-kheo cao tuổi, uyên thâm về học lực và nổi bật về đạo đức, được tăng chúng trọng vọng. Trong khi ấy, người có khả năng quản lý và giỏi về xây dựng thường được bầu vào chức vị viện chủ.

Cuối cùng, trách nhiệm của người quản lý thường liên quan đến các sinh hoạt hằng ngày của tăng chúng như giám sát thời khóa tụng kinh, hành thiền và những công việc lao động tạp dịch trong chùa; sắp đặt việc ăn uống và ngủ nghỉ của chư tăng. Bên cạnh ấy, mỗi chùa cũng thường tuyển chọn một số chức vụ khác để chăm sóc công việc trong tự viện như thủ quỹ, kiểm soát, thủ kho…

V. Hoạt  động của Tăng đoàn

1. Thuyết giảng

Một trong những hoạt động có ý nghĩa của Tăng đoàn là thuyết giảng Phật pháp. Phương pháp chính được sử dụng để truyền bá lời Phật dạy là giảng bình các bộ kinh. Những bộ kinh tiêu biểu được quần chúng ưa thích là Pháp Hoa, Duy-ma-cật, Niết-bàn, Bát-nhã, Vô-lượng-thọ, Thập địa, Thành Thật Luận,v.v… Chư tăng ni đảm trách việc này được gọi là kinh s12] hay đô giảng[13]. Vào đầu thời Nam Bắc triều cho đến Tùy Đường, một thuật ngữ khác được sử dụng rộng rãi nhằm chỉ vị thuyết giảng kinh luận là giảng đạo sư. Để trở thành một giảng đạo sư, tăng ni phải hội đủ bốn tiêu chuẩn là âm thanh, ăn nói lưu loát, thông minh và sâu sắc. Do số giảng đạo sư này du hành đến nhiều địa phương để thuyết giảng, vì vậy họ còn được gọi là du hành tăng hay du hóa tăng.

Bên cạnh việc quảng bá Phật giáo thông qua các buổi giảng thuyết, tranh luận, kể chuyện tiền thân của Phật, Bồ-tát qua kịch tuồng,v.v…, một hoạt động quan trọng khác của Tăng đoàn là tổ chức lễ hội. Hình thức này rất được quần chúng ưa thích vì nó tạo điều kiện cho mọi người trong xã hội có cơ hội tham gia để tự xác tín niềm tin của mình đối với vị giáo chủ cũng như tôn giáo của họ.

 Trong những lúc như thế, mọi ranh giới, rào cản về xã hội như giai cấp, chủng tộc, giàu nghèo,… đều không được chú trọng. Thêm vào đó, đây cũng là dịp để mọi người thoát khỏi những buồn tẻ mang tính lề thói hằng ngày, bởi vì thông qua việc tham dự lễ hội người ta tạm quên đi nỗi khổ nhọc, lo lắng, buồn phiền liên hệ đến cuộc sống, vì tất cả đều có thể tham gia và chia xẻ niềm vui của lễ hội.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #67 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:25:05 pm »

(tiếp theo)

Sau đây là một số lễ hội tiêu biểu quan trọng:

2. Nghi lễ

*Sinh nhật hoàng đế: Có tài liệu nói rằng lễ hội này bắt đầu từ thời Huyền Tông nhà Đường.

 Lúc đầu, lễ này được cả đạo Lão lẫn đạo Phật cử hành theo lệnh của vua. Về sau, nó trở thành buổi lễ thường niên của Phật giáo. Thông thường các tiệc chay được tổ chức tại chùa để mọi người cùng tham dự.

Thỉnh thoảng, nó cũng được tổ chức tại hoàng cung. Trong những dịp như thế, tu sĩ của đạo Phật và Lão giáo được mời vào cung để cầu nguyện cho vua, tham gia tiệc chay; sau đó thuyết giảng và tranh luận về giáo lý.

* Lễ Phật đản: Ở Ấn Độ, lễ Phật đản chỉ tổ chức vào ngày mồng tám tháng tư. Khi còn ở Magadha (Ma-kiệt-đà-Ấn Độ), Pháp Hiển đã từng chứng kiến lễ này.

Ngài viết rằng người ta sơn vẽ hình ảnh thánh thần quanh các xe ngựa với nhiều màu sắc, riêng hình đức Phật và các vị Bồ-tát được đặt trên đoàn xe ấy và được rước quanh đường phố. Bao quanh đoàn xe ấy là nhạc công, nghệ sĩ múa hát và tung hoa cúng dường.

Tăng ni Phật tử đốt hương thắp đèn và tham gia lễ hội suốt cả đêm. Trong khi ấy, Trung Hoa tổ chức vào hai ngày: mồng tám tháng hai và mồng tám tháng tư.

Người ta nói rằng vào thời Bắc Ngụy đúng ngày mồng tám tháng tư hình ảnh đức Phật được đặt trên các xe ngựa và được rước đi khắp mọi nẻo đường. Đích thân nhà vua cũng leo lên trên tháp của cổng thành để chiêm ngưỡng đám rước và tung hoa cúng dường.

Một phần của ngày Phật đản là lễ tắm Phật, bắt nguồn từ câu chuyện rằng khi đức Thích Ca sanh ra đời chư thiên trên trời đã rưới một dòng nước thơm xuống để tắm đứa trẻ sơ sinh ấy.

Tại Trung Hoa, lễ này xuất hiện rất sớm, có lẽ vào thời Phật-đồ-trừng[14].

*Lễ rước xá lợi Phật: cung nghinh xá lợi, gồm xương và răng của Phật, cũng là một phần trong ngày hội này. Tín đồ Phật giáo rất kính ngưỡng những bảo vật này vì chúng được xem là hiện thân của ngài. Theo Ennin[15], có bốn chiếc răng của đức Phật tại Trường An; một từ Ấn Độ, một từ Tây Tạng, một từ Khotan và một từ cõi trời.

Bốn chiếc răng này được lưu giữ tại bốn chùa, gồm: Đại Trang Nghiêm, Chung-sheng, Chien-fu, và Hưng Phước. Vào ngày mồng tám tháng hai, khi xá lợi (xương và răng) của đức Phật được trưng bày tại Trường An, Tăng tín đồ đến lễ bái và cúng nhiều lễ vật khác nhau như hương hoa, quả phẩm, đèn nhang, thuốc men…

* Lễ Vu-lan (Ullambana) : Tổ chức vào ngày rằm tháng bảy hằng năm, là một lễ hội quan trọng khác  của Phật giáo. Tuy nhiên, ngày lễ này không chỉ giới hạn trong phạm trù Phật giáo, mà dường như mọi thành viên của xã hội Trung Hoa đều tham gia một cách trang trọng.

 Vào dịp này, người ta thường đến chùa hoặc am miếu của Khổng, Lão để cầu nguyện cho cha mẹ, bà con đã qua đời được sanh về cõi lành, và cha mẹ hiện còn sống lâu trăm tuổi, v.v...



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #68 vào lúc: Tháng Tám 21, 2011, 03:24:15 am »

(tiếp theo)

VI. Công tác từ thiện

Như là phương tiện để truyền bá Phật pháp, các tăng sĩ Phật giáo cũng thường tổ chức một số hoạt động vì lợi ích xã hội. Theo tinh thần của kinh “Phật Thuyết Chư Đức Phước Điền” do Fa-li và Fa-chu dịch vào thời Tây Tấn, một số hoạt động vì lợi ích của nhân dân mà giới tu sĩ Phật giáo có thể làm để đóng góp xã hội, gồm:

(1) trồng cây bên đường, tạo lập vườn cây ăn trái, xây dựng các hồ chứa nước;

(2) Tổ chức khám bệnh và phát thuốc cho người nghèo;

(3) Đóng tàu bè giúp nhân dân qua sông;

(4) Xây dựng cầu cống;

(5) Đào giếng dọc theo đại lộ;

(6) Xây dựng nhà vệ sinh và các phương tiện công cộng…



Sử liệu ghi rằng để hiện thực tinh thần nhập thế của Phật giáo Đại thừa, một vài Tỷ-kheo còn thành lập bệnh viện để cứu giúp nhân dân[16].

Bệnh viện không chỉ dành cho người bệnh mà còn để chăm sóc giới hành khất. Vì người ta nói, vào tháng mười năm 734, triều đình cấm người ăn xin vào kinh thành, đồng thời ra lệnh cho các bệnh viện thu gom số người lang thang ấy lại và chăm sóc cho họ.

Thông qua các chương trình từ thiện trên, giới tăng sĩ Phật giáo có thể săn sóc, phục vụ cho người già yếu, bệnh tật, và những người nghèo không chỗ nương tựa, không người cứu giúp.

Đặc biệt, trong những lúc bão lụt, hạn hán, mất mùa, giới tăng sĩ Phật giáo trực tiếp tham gia công tác cứu tế để xoa dịu nỗi đau của xã hội…

Có thể nói rằng đây là một trong những chương trình không chỉ đem đến lợi ích thiết thực cho xã hội, mà còn tạo nên nhiều ảnh hưởng cho Phật giáo Trung Hoa.


 CHÚ  THÍCH   CHƯƠNG 7

[1] “Cao Tăng Truyện”, khởi biên từ thời Hậu Hán đến năm 520, bao gồm tiểu sử của 257 Tỷ-kheo và thỉnh thoảng đề cập đến 200 vị khác. Hậu Cao Tăng Truyện bắt đầu từ đời Lương đến năm 667, bao gồm tiểu sử của 485 Tỷ kheo và thỉnh thoảng đề cập đến 219 vị khác. Trong khi ấy, Tống Cao Tăng Truyện, bắt đầu từ năm 667-987 chứa đựng tiểu sử của 532 vị Tỷ-kheo và đề cập đến 125 vị khác (Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch'en, tr. 248).

[2] Kenneth K.S. Ch’en, Sđd , tr. 242.

[3] Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 82.

[4] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 241- 242.

[5] Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 89.

[6] Thuật ngữ “Duy Na” thường được xem là tương đương với Karmadàna của Sanskrit, trách nhiệm của vị Duy Na là coi sóc toàn bộ sinh hoạt của chúng tăng trong một ngôi chùa. “Đô Duy Na” được xem như là Tổng quản lý, và ngày nay gọi là Tri sự.

[7] Lưu ý rằng có hai kinh đô vào thời đại nhà Đường, đó là Lạc Dương và Trường An. Kinh thành Trường An lại được chia thành hai phần, một ở phía Tây gọi là phải và một ở phía Đông gọi là trái. Hai miền này lấy con sông làm ranh giới.

[8] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 265.

[9] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 274.

[10] teacher of sutra

[11] master lecturer

3 Repeat lecturer

[13] Assistant lecturer

[14] Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en, tr.265.

[15] Kenneth K.S. Ch'en, Sđd, tr. 266.

[16] Kenneth K.S. Ch'en, Sđd, tr. 300.7



(xem tiếp Chương  8)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #69 vào lúc: Tháng Tám 21, 2011, 08:57:18 am »

(tiếp theo)

 
Chương Tám

PHIÊN DỊCH VÀ ẤN HÀNH PHẬT ĐIỂN TRUNG HOA

Công trình phiên dịch và biên soạn tam tạng Thánh điển có lẽ được hoàn thành vào cuối triều đại nhà Đường. Toàn bộ tam tạng thánh điển được đưa vào Trung Quốc đều được tăng nhân ngoại quốc cũng như Trung Hoa phiên dịch sang Hoa ngữ.

Trong thực tế, phần lớn văn điển đã được phiên dịch hoàn tất trước thời đại nhà Tùy; chỉ còn một số ít được thực hiện vào nhà Đường và một vài triều đại về sau. Thành phẩm này là tài sản vĩ đại của Phật giáo, đóng góp cho nền văn hóa và văn minh Trung Hoa.

Trong thực tế, tiến trình làm việc và ứng dụng kỹ thuật  phiên dịch của giới Phật giáo Trung Quốc để đưa đến thành quả cuối cùng ấy phải kinh qua trong một thời gian dài với nhiều khó khăn và hạn chế của nó, bắt đầu từ nỗ lực cá nhân với những giới hạn nhất định về văn hóa, ngôn ngữ…, cho đến khi được tổ chức thành hội đồng phiên dịch mang tính quốc gia.

I. Lãnh vực phiên dịch

Ban đầu, phiên dịch Phật điển chỉ là công việc mang tính riêng lẻ do một vài Tỷ-kheo thực hiện. Trường hợp của hai tăng sĩ Ấn Độ, tên là Wei-chi-nan và Chu-fu-yen (biết một ít Hoa ngữ), cùng cộng tác để dịch kinh Pháp Cú vào năm 224, là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, một số tăng nhân ngoại quốc khác cũng nỗ lực phiên dịch số kinh điển do chính họ mang đến Trung Quốc, nhưng vì không viết được chữ Hán, họ thường phải tìm kiếm  một vài trí thức Trung Hoa phụ tá. Trong trường hợp này, tăng nhân ngoại quốc giải thích kinh bằng tiếng Trung Hoa, sau đó người phụ tá ấy sẽ viết ra những gì họ nghe được.

 Phương pháp dịch thuật này được áp dụng rộng rãi trong thế kỷ thứ III và thứ IV. Ví dụ, Nhiếp Thừa Viễn và Nhiếp Đạo Chân là phụ tá của Dharmaraksha. Kỹ thuật phiên dịch như thế rõ ràng  biểu lộ rất nhiều nhược điểm và sai sót. Điều này được thấy trong nhiều trường hợp, ví dụ giới tăng sĩ ngoại quốc do không hiểu được chữ viết Trung Hoa và chỉ có một số vốn liếng ít ỏi của ngôn ngữ đàm thoại; vì vậy khi giải thích bản kinh gốc cho người phụ tá nghe, tăng nhân ấy chỉ có thể giải thích bản kinh với vốn liếng ngôn ngữ đàm thoại hạn chế của tự thân và không biết gì về những điều được viết lại bằng Hoa ngữ. Có lẽ do ý thức được điều này nên phong trào Tây du cầu pháp đã dấy lên trong giới Phật tử Trung Hoa với mục đích chỉnh lý tình trạng yếu kém trên.

Vào cuối thế kỷ thứ IV, Đạo An thành lập ban dịch thuật để phiên dịch văn điển của Sarvastivàda (Nhứt Thiết Hữu Bộ) từ Sanskrit sang tiếng Hoa. Tổ chức này được công nhận thành một cơ quan hợp pháp và sứ mệnh của nó mang tầm vóc quốc gia khi Kumàrajìva (Cưu-ma-la-thập) đến Trung Quốc vào năm 401.

 Cơ quan này thường tọa lạc trong phạm vi của hoàng cung hay trong những ngôi chùa nổi tiếng và hoạt động dưới sự bảo trợ của đông cung thái tử. Đây có thể xem là giai đoạn thứ hai[1] trong quá trình phiên dịch văn điển. Lúc này, giới tăng sĩ ngoại quốc như Kumàrajìva… rất thành thạo Hoa ngữ, đồng thời  kiến thức Phật học cũng như trình độ Sanskrit của tu sĩ người Hoa như Tăng Triệu và Tăng Duệ… cũng thiện xảo tương tự. Kumàrajìva làm việc rất cẩn trọng.

Khi dịch thuật, thông thường ngài cầm cuốn sách trong tay, nêu ý nghĩa của nó bằng tiếng Hoa, giải thích bản kinh hai lần, cố gắng chọn lựa cách diễn đạt chính xác để chuyển tải ý nghĩa của bản kinh gốc. Nếu có đoạn nào trong cuốn kinh đang dùng bị thiếu sót, ngài liền tìm cuốn kinh tương tự để bổ sung phần bị mất ấy.

 Nếu có bất cứ nghi hoặc nào trong khi đọc duyệt lại tiếng Hoa, Kumàrajìva kiểm tra chúng với nguyên bản. Khi thấy không có gì có thể thay đổi được nữa, ngài mới cho phép ghi chép phần phiên dịch vào trong bản sách sau cùng.

Khi bộ phận phiên dịch được hình thành, chức vụ và trách nhiệm công việc cũng được phân định một cách có hệ thống; đặc biệt dưới triều đại nhà Tùy và Đường. Thông thường, mỗi bộ phận phiên dịch bao gồm một vị thủ lĩnh, một vài người phiên dịch có trách nhiệm đọc kỹ càng bản kinh gốc (Sanskrit) rồi dịch sang tiếng Hán, vài người thẩm tra ý nghĩa của bản kinh Sanskrit, người viết lời phiên dịch ấy ra Hoa ngữ, người thẩm tra ý nghĩa được chuyển dịch sang tiếng Hoa, người nhuận văn, người đọc và sửa bản thảo và người hiệu đính tiếng Hoa.

 Công tác phiên dịch dưới triều đại nhà Tùy và Đường hình thành nên giai đoạn thứ ba của quá trình phiên dịch văn điển Phật giáo. Huyền Trang và Nghĩa Tịnh là hai nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ này.

Vốn đã thiện xảo Sanskrit và Hoa ngữ, đồng thời am hiểu cả văn hóa Trung Quốc lẫn Ấn Độ nên sau chuyến Tây du cầu pháp trở về, cả hai vị này trở thành những người dịch thuật đầy năng lực. So sánh một bản dịch của Paramartha (Chân Đế) và một của Huyền Trang về tác phẩm “Madhyantavibhaga” người ta thấy rằng bản dịch của Huyền Trang trội hơn Chân Đế trong cả văn phong lẫn nội dung.

 Ngôn từ trong bản dịch của Chân Đế đôi khi tỏ ra vụng về và chưa thể hiện đúng văn phong của Hán ngữ. Độ chính xác trong lối dịch của Huyền Trang có thể tìm thấy trong bản dịch “Vimalakìrti” (Duy-ma-cật) khi đem nó so sánh với bản dịch cùng kinh ấy của Kumàrajìva.

 
(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #70 vào lúc: Tháng Tám 21, 2011, 09:01:15 am »

(tiếp theo)

II. Ưu khuyết trong công tác phiên dịch


Một số khó khăn gặp phải trong quá trình dịch thuật từ Sanskrit sang Hoa ngữ vào giai đoạn mở đầu là một thực tế không thể tránh được.

 Trước hết là vấn đề cách thức phiên dịch; nghĩa là người ta nên chuyển dịch tư tưởng mà không cần câu nệ ngôn ngữ hay phải trung thành với nguyên bản?

Thứ hai, làm thế nào để xử lý vấn đề tên tuổi cũng như thuật ngữ Phật học trong Sanskrit? Chúng nên được dịch nghĩa hay chỉ nên chuyển âm?

Ban đầu,  các vấn đề trên rõ ràng không được thống nhất trong giới phiên dịch. Ví dụ, An Thế Cao và Chih-chan có khuynh hướng trung thành với nguyên bản khi phiên dịch, nhưng Chieh Chien và Dharmaraksha lại chú tâm đến việc chuyển dịch những ý tưởng quan trọng của bản kinh sang loại văn phong sáng sủa và dễ đọc. Trong thực tế, cách dịch này dễ dàng mất đi tính chính xác của nguyên bản, vì nó chỉ nhắm đến việc duy trì ý nghĩa với loại văn hay, chữ tốt. Vì vậy, mặc dù vẫn công nhận đặc điểm của nó, nhiều học giả Phật giáo phản đối cách phiên dịch này.

 Theo họ, phương pháp ấy gây nên sự lộn xộn trong các chủ đề của kinh với kết quả là những mục tiêu trọng yếu lại bị lạc mất trong các ngôn ngữ không chính xác, và chân ý nghĩa của nó cũng bị phai nhạt đi qua việc chú trọng trau chuốt ngôn từ.

Mặc dầu không thiện xảo về văn học Sanskrit, Đạo An vẫn là người nêu ra nhược điểm của phương pháp dịch trên một cách nghiêm túc. Theo Đạo An, một trong những nhược điểm lớn nhất của lối phiên dịch tự do hay còn gọi là dịch ý là người phiên dịch thường diễn dịch ý nghĩa kinh sách theo lối suy nghĩ chủ quan của mình. Kết quả là số bản dịch ấy thường bị trộn lẫn nhiều khái niệm phi Phật giáo.

Do vậy, Đạo An chủ trương rằng dịch thuật kinh điển cần phải trung thành với nguyên bản trong khả năng có thể. Ngài nêu ra năm điểm gọi là “Ngũ Thất Bổn” mà phương pháp dịch ý đi trệch nguyên bản:

(1) Giới phiên dịch thường đảo ngược trật tự câu cú của văn bản Sanskrit để thích nghi với thói quen của người Hoa;

(2) Nhằm lôi cuốn sự chú ý của người đọc, các dịch giả thường đánh bóng và giản dị hóa ngôn ngữ khiến tinh hoa của nguyên bản trở thành yếu tố phụ;

(3) Họ thường bỏ bớt phần lặp văn, kệ tụng và các nhóm từ cảm thán;

(4) Thỉnh thoảng họ bỏ sót các giải thích và bình luận dài nằm giữa đoạn; và

(5) Họ thường bỏ qua những đoạn lặp lại các ý tưởng đã được thảo luận ở phần trước.


Tuy nhiên, Đạo An cũng thừa nhận một số khó khăn trong khi phiên dịch văn điển Phật giáo. Trước hết, dịch giả cần phải trung thành với nguyên bản, nhưng cần phải chuyển tải qua bản dịch ấy cái ý nghĩa thâm sâu của bản kinh khiến cho đọc giả đương thời có thể hiểu được. Đây là một đòi hỏi không dễ thực hiện. Tiếp đến, sự cách biệt giữa tuệ giác của đức Phật và hiểu biết của phàm phu thì quá to lớn, do vậy không dễ dàng gì khiến cho người đương thời có thể hiểu được lời dạy vi diệu của một bậc Thánh cách đó hàng ngàn năm. Đây là khó khăn thứ hai của giới dịch thuật.

Cuối cùng, Đạo An nói rằng kinh điển được kiết tập một cách cẩn thận dưới sự chủ tọa của ngài Đại Ca-diếp và 500 A-la-hán ngay sau khi đức Phật nhập diệt, do vậy có thể kiểm tra được sự sai lạc. Nhưng đến thời điểm ấy, tức đã hơn 1000 năm trôi qua, làm thế nào chúng ta có thể xác quyết và thẩm định lời dạy chân chính của Thế Tôn? Do vậy, người ta cần phải cẩn thận khi phiên dịch kinh điển!

Trái lại, mặc dù không chống đối quan điểm của Đạo An, Kumàrajìva vẫn có chủ trương độc lập. Ngài cho rằng việc phiên dịch sẽ không bao giờ chuyển tải được tinh hoa của nguyên bản, vì nó giống như một người được nuôi dưỡng bằng thức ăn do người khác nhai mớm, không những người ấy không cảm nghiệm được hương vị vốn đã phai lạt, lắm khi lại còn dị ứng.

Do đó, Kumàrajìva không những không áp dụng cách dịch thuật của Đạo An , mà còn chủ trương lựa chọn, tóm tắt bản kinh rồi chỉ tập trung giữ lại ý nghĩa của nguyên bản. Đối với ngài, mục tiêu chính của phiên dịch là nắm bắt chủ đề chính của kinh.

Cần lưu ý rằng mặc dầu không tuân thủ một cách nghiêm túc nguyên bản, Kumàrajìva vô cùng lưu tâm đến kỹ thuật phiên dịch nhằm tránh tối đa sai sót trong khi dịch thuật. Ngài thường tu chính bản dịch và bất cứ khi nào cảm thấy nghi ngờ, ngài liền đem chúng đối chiếu với nguyên bản. Thỉnh thoảng, vì lợi ích của người đọc, ngài cũng chuyển đổi một số địa danh và danh từ riêng mà người Hoa chưa biết thành những danh từ đã phổ biến sâu rộng; ví dụ, núi tên Mandara hay Vindhaya thành núi tên là Tu Di (Sumeru).

Yeng Tsung, người rất thiện xảo tiếng Sanskrit, là một nhân vật khác quan tâm đến vấn đề hình thái ngôn ngữ.  Ông nói rằng ông có thể diễn dịch kinh điển bằng ngôn ngữ không trau chuốt mà vẫn gần với sự thật hơn là đánh bóng ngôn ngữ nhưng lại sai lệch với nguyên  nghĩa.

Theo ông, một dịch giả cần phải hội đủ tám đặc tính:

(1) Cần phải kiên nhẫn, trung thành và tận tụy với Phật pháp;
(2)  Phải nghiêm trì giới luật khi nhận trách nhiệm thiêng liêng này;
(3) Cần phải học tập thấu triệt tam tạng của cả hai bộ phái[2];
(4) Cần phải giỏi văn học dân gian và thành thạo với điển tích, thơ văn;
(5) Cần phải công bằng, rộng lượng;
(6) Cần có kinh nghiệm sâu sắc về lý thuyết và sự hành trì của tôn giáo, bình thản với lợi danh, không khoác lác, khoe khoang;
(7) Phải thiện xảo Sanskrit (tiếng Phạn); và
(8) Phải có kiến thức về triết học, từ nguyên  và từ điển.



Tuy nhiên, liên quan đến nguyên tắc dịch thuật, cuối cùng chủ trương của Kumàrajìva trở nên thịnh hành nhất. Rõ ràng, uy tín của ngài là yếu tố quyết định cho sự thịnh hành trên. Nhưng phương pháp của Kumàrajìva chủ yếu chỉ chuyển dịch những phần quan trọng được tuyển chọn trong nguyên bản cũng biểu hiện sự hạn chế của nó. Ví dụ, nếu một phần nào đó trong nguyên bản Sanskrit bị bỏ sót, rõ ràng người ta không dễ dàng gì để tái xây dựng phần thiếu sót ấy trên căn bản của bản dịch tiếng Hoa, hoặc là đối chiếu Hán bản để tìm lại đoạn sót ấy trong nhiều nguyên bản Sanskrit khác nhau.

Để khắc phục nhược điểm này, ngày nay người ta thường dựa vào bản dịch của Tây Tạng để chỉnh lý, vì văn điển Tây Tạng  được xem là dịch sát với nguyên bản nhất. Riêng về phần địa danh hay tên riêng, giới phiên dịch thường có khuynh hướng giữ nguyên từ gốc và chỉ chuyển ngữ sang âm Hán.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #71 vào lúc: Tháng Tám 21, 2011, 09:06:05 am »

(tiếp và hết)

III. Danh mục kinh điển


Cần lưu ý rằng nỗ lực không ngừng của giới dịch giả Phật học Trung Hoa trong việc tìm kiếm hình thức, phong cách thích hợp, ngữ pháp và từ vựng chính xác là nhằm làm cho kinh điển trở nên dễ hiểu hơn đối với quần chúng bình dân. Khi số lượng kinh sách phiên dịch quá nhiều, tăng sĩ Trung Hoa đã phát minh ra phương pháp mới để giúp cho người đọc có một cái nhìn bao quát đối với số lượng văn điển khổng lồ ấy bằng việc biên soạn Bảng Danh Mục (Catalogue), bao gồm tên tuổi của dịch giả và đề mục kinh sách mà họ dịch.

Cuốn Danh Mục đầu tiên và quan trọng nhất là “Thống Lý Chúng Kinh Mục Lục” do Đạo An biên soạn vào năm 374, gọi tắt là “An Lục”. Hiện nay “An Lục” không còn, nhưng sử liệu của nó được ghi lại khá rõ ràng trong “Xuất Tam Tạng Ký Tập” do Tăng Hựu biên soạn vào năm 518.

Tác phẩm này của Tăng Hựu là cuốn Danh Mục xưa nhất còn tồn tại, chứa đựng nhiều nguồn tài liệu rất có giá trị, không những đề cập đến văn điển Phật giáo mà còn liên quan đến lịch sử. Về sau, rất nhiều Danh Mục được giới học giả Phật giáo biên soạn.

Hiện còn lưu truyền được 18 tác phẩm. Chỉ riêng đời Đường, có chín Danh Mục (Catalogues) được biên soạn, trong số đó “Khai Nguyên Thích Giáo Lục” do Trí Thăng biên soạn vào năm 730 là tác phẩm có giá trị nhất. Là một bảng tóm tắt tất cả nhan đề kinh sách hiện hành, tác phẩm này hệ thống hóa theo thứ tự thời gian, tên tuổi của các dịch giả cùng với đề mục, số lượng chương phẩm mà họ phiên dịch.

Nếu một cuốn kinh được nhiều dịch giả phiên dịch thì số bản dịch ấy cùng với danh tánh của người dịch chúng cũng như thời gian và địa điểm phiên dịch được ghi chú rõ ràng. Lược sử của dịch giả và phân loại kinh sách thành từng loại khác nhau cũng là một đặc điểm của “Khai Nguyên Thích Giáo Lục”.

 

IV. Ấn hành  tam tạng

Trước khi kỹ thuật ấn loát ra đời, kinh điển Phật giáo tại Trung Hoa thường được viết tay, sao chép trong hình thức của một cuộn giấy dài mà ngày nay gọi là “chuan” để nhằm chỉ một phần hay một chương.

Người ta dùng hồ để dán nhiều trang giấy lại, nối kết thành một cuộn dài. Vào cuối thế kỷ XIX, rất nhiều kinh sách trong dạng này được phát hiện ở động Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, miền Bắc Trung Hoa. Ví dụ, theo L. Giles, cuốn Luật ghi năm 406, hiện được cất giữ trong Viện Bảo Tàng Anh Quốc, dài 7,8 mét (26 bộ Anh). Cuộn dài nhất đo được 29,7 mét (99 bộ).[3] Cần lưu ý rằng ngay cả khi kỹ thuật in khối ra đời, kinh điển vẫn lưu hành trong hình thức giấy cuộn. Theo dòng thời gian, những bước phát minh mới về in ấn dần dần được ứng dụng.

Kinh điển lúc này được in trên những tờ giấy, nối kết liên tục lại với nhau và được gấp lại. Sau cùng người ta dùng hồ hoặc khâu gáy của chúng lại thành cuốn sách. Kỹ thuật in ấn này được Trung Quốc áp dụng cho việc in ấn đại tạng đến tận ngày nay.


Với sự xuất hiện của kỹ thuật in ấn trong thế kỷ thứ XVIII, Phật giáo đồ là những người tiên phong trong diễn biến này. Họ lập tức ứng dụng lợi thế ấy để truyền bá văn điển Phật giáo.  Số văn điển của Đôn Hoàng thuộc niên đại 868 mà ngày nay bảo tàng Anh Quốc còn lưu giữ là kinh sách cổ xưa nhất được in ấn theo kỹ thuật mới ấy theo lệnh của Wang Chieh.

Ông ta ấn tống nhiều sách kinh để tỏ lòng tôn kính và hồi hướng công đức cho hai bậc sinh thành của mình. Tuy nhiên, trước đó hơn 1.000 năm, một công trình in ấn với tầm vóc quốc gia đã được thực hiện. Cụ thể, vào năm 972, hoàng đế đầu tiên của nhà Tống ra lệnh in ấn lại toàn bộ tam tạng văn điển Trung Hoa. Công trình này hoàn tất vào năm 983 và được xem là tam tạng văn điển Phật giáo đầu tiên của Trung Hoa, bao gồm 1.076 mục, gộp khoảng 5.048 chuan.

Sau đó, đại tạng còn được triều đình nhà Tống tái bản thêm bốn lần nữa. Lần thứ nhất bắt đầu vào năm 1080, hoàn tất vào năm 1176; lần thứ hai khởi sự vào năm 1112, kết thúc vào năm 1172; lần thứ ba bắt đầu năm 1132 (không rõ ngày  hoàn tất); và lần thứ tư khởi sự vào năm 1237, kết thúc vào năm 1252.

Trong khi ấy, các triều đại do vua chúa ngoại tộc cai trị ở phía Bắc cũng rất năng động trong việc ấn hành văn điển. Cụ thể, một công trình in ấn tam tạng bao gồm 579 hộp được thực hiện do lệnh của hoàng đế Liao (Liêu 907-1124) . Sau khi tiếp quản chính quyền, triều đại nhà Chin (Kim) cũng tiến hành in ấn một đại tạng kinh tại Sơn Tây từ năm 1148-1173, bao gồm 682 hộp, vào khoảng 7.000 chuan; trong đó hơn 4.900 chuan còn tồn tại cho đến ngày nay.  Dưới thời nhà Nguyên, đại tạng được tái bản ba lần.

 Lần thứ nhất in tại chùa Phổ Minh ở Hàng Châu vào những năm 1278-1294, gồm 1.422 mục, 587 hộp, tức vào khoảng 6.010 chuan; lần thứ hai in tại  Kiangsu–(công trình này khởi sự năm 1231-dưới thời nhà Tống nhưng cho đến năm 1322 của nhà Nguyên mới hoàn thành, bao gồm 1.532 mục, 591 hộp, khoảng 6.362 chuan); và lần thứ ba in tại chùa Hoằng Pháp- Bắc Kinh vào các năm 1277-1294, gồm 1.654 mục trong 7.182 chuan.

Hai công trình ấn loát khác được thực hiện dưới thời nhà Minh, một ở Nam Kinh và một ở Bắc Kinh. Tam tạng cũng được in ấn trong triều đại Mãn Châu hai lần. Lần thứ nhất hoàn tất vào năm 1677 và lần hai vào năm 1738. Bên cạnh ấy, đại tạng thứ ba được Tu Viện P’in chia ở Thượng Hải thực hiện vào năm 1909 và hoàn thành vào năm 1914.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #72 vào lúc: Tháng Tám 21, 2011, 09:06:51 am »

(tiếp và hết)

Cần lưu ý rằng việc ấn loát tam tạng bằng tiếng Tàu không chỉ khoanh vùng ở Trung Quốc. Kinh sách thuộc đại tạng nhà Tống sớm được đưa vào Triều Tiên. Vào năm 1011, trên căn bản của số kinh sách ấy, Triều Tiên bắt đầu xuất bản tam tạng Triều Tiên đầu tiên. Công trình ấy hoàn thành dưới triều đại Wen-tsung (1074-1082), bao gồm 570 hộp, khoảng 5.924 chuan. Do vì tam tạng in ấn kỳ này bị người Mông Cổ thiêu hủy trong năm 1232, đại tạng thứ hai của Triều Tiên được khởi sự thực hiện vào năm 1236 và hoàn tất năm 1251, bao gồm 639 hộp, vào khoảng 6557 (hoặc 6589) chuan. Vào cuối thế kỷ thứ XVI, nhờ chiến dịch vận động của Hideyoshi tại Triều Tiên, kỹ thuật in ấn được đưa vào Nhật Bản. Vào những năm 1633-1645, Tỷ-kheo Tenkai lập tức tiến hành in ấn tam tạng bằng Hoa ngữ tại Nhật bản. Vài năm sau, trên căn bản của tam tạng đời Minh, Tetsugen lại tiếp tục in một đại tạng khác ở Nhật Bản.

Nói tóm lại, tam tạng văn điển Trung Hoa đang lưu hành hiện nay bao gồm cả kinh điển của Phật giáo Nguyên Thủy và Phát Triển (Đại Thừa). Trong thực tế, tại Trung Hoa, văn điển Phật giáo Nguyên Thủy không phổ biến và thịnh hành bằng văn điển Phật giáo Phát Triển, đặc biệt là các kinh như Pháp Hoa, Duy-ma-cật… Lý do là vì  ngôn  ngữ của kinh điển Nguyên Thủy được chuyển dịch tương đối gần với lời Phật dạy từ xa xưa, do vậy không thích hợp tâm thái của người Tàu, trong khi ấy ngôn ngữ của Đại thừa gần gũi và đáp ứng được khuynh hướng sống cũng như sở thích của người đương thời nên dễ dàng được quần chúng chấp nhận.



Tài liệu tham khảo

***

1/- Ngô Vinh Chính-Vương Miện Quý (chủ biên), Đại Cương Lịch Sử Văn Hóa Trung Quốc, Nxb.Văn Hóa Thông Tin, 1994.

2/- Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, tập I, Nxb.VHTT-Hà Nội, 1996.

3/- Henri Maspero, Đạo Giáo và Các Tôn Giáo Trung Quốc, Lê Diên (dịch), Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1999.

4/- Phùng Hữu Lan, Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương (dịch), Nxb. Thanh Niên, 1999.

5/- HT.Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, THPG TP.HCM, 1991.

6/- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2000.

7/- Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, tập I, Tu Thư Vạn Hạnh, 1982.

8/- Viên Trí, Khái Niệm Về Bồ Tát Quán Thế Âm, Nxb. Tôn Giáo, 2003.

9/- Kenneth K.S. Ch’en, Buddhism in China, Princeton University Press, New Jersey, 1964.

10/- Kenneth K.S. Ch’en, The Chinese Transformation of Buddhism, Princeton University Press, New Jersey, 1973.

11/-Zenryù Tsukamoto, A History of Early Chinese Buddhism, tập I, Leon Hurvitz (dịch), Tokyo- New York-San Francisco, 1985.

12/- Zenryù Tsukamoto, A History of Early Chinese Buddhism, tập II, Leon Hurvitz (dịch), Tokyo- New York- San Francisco, 1985.

13/-Arthur F. Wright, Studies in Chinese Buddhism, Yale University Press, New Haven and London, 1990.

14/- Arthur F. Wright, Buddhism in Chinese History, Stanford University Press, California, 1959.

15/- S. Beal, Buddhism in China, I.B.H, India.

16/- Mircea Eliade (chủ biên), The Encyclopaedia of Religion, Macmillan Publishing Company, New York, 1987.

17/- G.P. Malalasekera (chủ biên), Encyclopaedia of Buddhism, Government of Srilanka, 1990.

18/-Joseph Edkins, Chinese Buddhism, Paragon Book Reprint Corp., New York, 1968.

19/-Wing-tsit Chan, A Source Book in Chinese Philosophy, Princeton Univeristy Press,  New Jersey, 1973.


Chú thích

[1] Thế kỷ thứ V và thứ VI

[2] Nguyên Thủy (Thượng Tọa) và Phát Triển (Đại Thừa)

[3] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 374.

-----------------------------



HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 21, 2011, 09:09:04 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 2.399 seconds với 25 câu truy vấn.