Tháng Mười Một 21, 2018, 07:32:23 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC -- (Từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)  (Đọc 12450 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:41:12 am »

(tiếp theo)

2. Triết lý

Thiền (ch’an) là pháp môn huấn luyện tâm linh nhắm đến việc trực nghiệm thực tại của vạn hữu, còn gọi là tâm hay Phật tánh, hiện hữu ở mọi chúng sanh.

Theo Thiền tông, thực tại này là vô ngã (sùnya), không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, và cũng không thể nhận thức bằng tư tưởng. Do vì không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ và nhận biết bằng tư tưởng, thực tại này, tức chân tâm hay Phật tánh, chỉ có thể liễu hội (hay nắm bắt) bằng trực giác tức thời.

Để đạt đến cấp độ này, hành giả phải gột rửa tất cả tư tưởng để tâm được an tịnh, bởi vì trong mọi ý niệm đều có ngã tính, tạo ra sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Đây là ngọn nguồn của mọi nghiệp báo khiến người ta rơi vào vòng sinh tử luân hồi.

Khi liễu hội được chân tâm, người ta cảm nghiệm một trạng thái mà thiền gọi là ng
“Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ chân tâm

Kiến tánh thành Phật.” [73]


Cần lưu ý rằng mặc dầu tất cả các chi nhánh của Thiền tông đều có cùng tôn chỉ và mục đích, nhưng phương pháp và kỹ thuật để đạt đến cứu cánh của từng chi nhánh lại được thể hiện khác nhau.

Ví dụ, trong khi tông Lâm Tế thường la hét, quát mắng, đánh đập hoặc áp dụng hình thức “công án” để khai thị đệ tử, tông Tào Động lại chú trọng đến phương pháp nội quán, hay ngồi thiền dưới sự hướng dẫn của vị thiền sư, nghĩa là thiền sinh được vị thầy chỉ dạy trực tiếp và riêng rẽ. Tất nhiên, mỗi phương pháp đều có giá trị riêng, vì nó khế hợp với căn cơ của đối tượng.

Khác với truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Phát Triển, Thiền tông không thừa nhận thẩm quyền của kinh điển. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng nó hoàn toàn bác bỏ kinh điển như người ta thường ngộ nhận. Trái lại, truyền thống Thiền tông cũng chứng tỏ rằng kinh điển, đặc biệt các kinh như Bát-nhã, Hoa Nghiêm, Lăng-già, Duy-ma-cật, v.v…  luôn được các thiền sư sử dụng để giảng dạy cho tín đồ.

 Hơn thế nữa, lúc đầu, Lăng-già (Lankàvatàra) là cuốn kinh chính được truyền thừa giữa các thế hệ tổ sư thiền tông. Nội dung chính của kinh nhấn mạnh đến việc tinh thần chứng ngộ nội tâm. Ai đạt đến cảnh giới này sẽ không còn khái niệm phân biệt về nhị nguyên tính. Hành giả nào chứng ngộ cảnh giới ấy, Như-lai tạng tức chân tâm của vị ấy sẽ hiển bày.

Về sau, Kim Cang cũng được xem như là ấn tín trao truyền giữa các thế hệ tổ sư Thiền tông, vì sử ghi lại rằng Huệ Năng do nghe câu kinh Kim Cang “ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm” mà ngộ được bản tâm, phát tâm xuất gia học đạo. Vì thế, kinh này cũng chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử  truyền thừa của Thiền tông.

Sau thời nhà Đường, nhiều bộ phái và tổ chức của Phật giáo bắt đầu suy yếu và lụi tàn ở Trung Hoa nhưng Thiền tông vẫn tiếp tục hưng thịnh. Mặc dù cuộc khủng bố vào năm 845 đã cản trở sự bành trướng của nó, Thiền tông vẫn có thể tồn tại và rồi phát triển rất mạnh trong thời đại Tống.

Theo giới sử gia, thành công trên nhờ vào hai yếu tố: Thứ nhất, Thiền tông không quá lệ thuộc vào hình thức nghi lễ mang tính tôn giáo, ví dụ như kinh, tượng, v.v…  Kế đến, giới thiền gia có cuộc sống độc lập về kế sinh nhai; họ không trở thành gánh nặng kinh tế cho xã hội. Chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực


(xem tiếp Chú thích)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:44:12 am »

(tiếp theo)

CHÚ  THÍCH  CHƯƠNG  BẢY

[1] Ví dụ, tông Thiên Thai bắt nguồn từ kinh Đại-bát Niết-bàn, hoặc tông Hoa Nghiêm có dấu tích của nhóm Địa Luận

[2] Gồm: Tỳ-đàm tông (Tây Tấn 265-317), Thành Thực tông (Đông Tấn 317-420), Tam Luận tông (Đông Tấn 384-418), Luật tông (Đông Tấn 384-418), Niết Bàn tông (Bắc Lương 397-439), Địa Luận tông (Bắc Ngụy (386-535), Duy Thức luận (Đông Ngụy 534-550), Tịnh Độ tông (Tây Ngụy 535-557), Thiền tông (Nam Lương 502-557), Nhiếp Luận tông (Trần 557-589), Câu Xá tông (Trần 557-589), Thiên Thai tông (531-597), Hoa Nghiêm tông (643-712), Pháp Tướng tông (596-664), Mật tông (Chân Ngôn tông -khoảng thế kỷ thứ VII và VIII) [Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ dịch (The Essentials of Buddhist Philosophy by J. Takakusu), tr. 26-28].

[3] Sđd , tr. 26-28.

[4]  Ví dụ, Thành Thật tông và Tam Luận tông đã được trình bày ở chương Bốn.

[5] Phần chi tiết, xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 114; xem thêm Encyclopeadia of Buddhism, tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên) đối chiếu phần "Abhidharma Literature", tr. 65-84.

[6] Sđd , tr. 57.

[7] Theo J.Takakusu, có hai bản Tì-bà-sa lưu hành tại Trung Hoa: (a) Mahàvibhasa của Parsva (Hán dịch 200 quyển) và Vibhasa (Hán dịch 14 quyển). Đây là những văn bản chính của hai chi phái lớn của Sarvastivàda tại Kasmir và Gandhàra. Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 115.

[8] Theo J. Takakusu , tên ngài là "Dharmatràta", thay vì Dharmatàra. (Xem Sđd , tr. 116).

[9] Sđd , tr.116.

[10] Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, tr.174.

[11] Theo J.Takakusu, bản Hán ngữ của A-tì-đạt-ma Câu Xá Luận hiện còn bao gồm 60 cuốn (Sđd, tr. 119).

[12] Trong Phật giáo, từ "Pháp"(Dharma- bắt nguồn từ động từ "dhri" với ý nghĩa là giữ lại, mang) có năm nghĩa: (1) Lý tưởng hay cái được nắm giữ, hay sự toàn giác; (2) giáo lý, giáo thuyết; (3) Luật nghi, giới điều, đức lý; (4) Nguyên lý, chân lý, lý tính"; và (5) Thực tại, sự kiện, sự vật, tâm, vật" (Chi tiết, xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 109-110).

[13] Biểu đồ và giải thích chi tiết, xem Sđd, tr.127-138.

[14]  Theo giả thuyết của J. Takakusu, Huệ Văn có thể sinh vào năm 505. (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 250-252; xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch'en, tr. 303

[15] Xem The Encyclopeadia of Religion. Tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 510.

[16] Theo J. Takakusu, niên đại của Huệ Tư là 514-577 (Sđd, tr. 252).

[17] Xem The Encyclopeadia of Religion, tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr, 510.

[18] Tại miền Nam, phong trào nghiên cứu kinh Niết-bàn và Niết Bàn tông hoạt động rất mạnh mẽ. Nhưng khi Thiên Thai tông hình thành, Niết Bàn tông bị hợp nhất với nó. (Chi tiết Niết Bàn tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr.102-105)

[19] Theo Bách Khoa Tôn Giáo, ngài xuất gia vào năm 17 tuổi (Xem The Encyclopeadia of Religion, tập XIV, Mircea Eliade (chủ biên), tr.  511).

[20] Tuy nhiên, cách phân loại này cần phải phân tích và bình giải một cách cẩn trọng trong hoàn cảnh lịch sử của nó (Soạn giả)

[21] Phần chi tiết về triết lý Thiên Thai tông, xem thêm Các Tông Phái của Đạo Phật,Tuệ Sĩ (dịch), tr. 263-265.

[22] Bao gồm trong Ma-ha Chỉ Quán của Trí Khải biên tác.

[23] Wing-tsit Chan, A Source Book in Chinese Philosophy, tr. 406.

[24] Xem  Encyclopaedia of Buddhism, tập II, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 435.

[25] Nội dung chi tiết của Địa Luận tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm tr,112-115; xem thêm Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 214-216.

[26] Theo J. Takakusu, danh hiệu này do Thái Tông nhà Đường phong tặng (Sđd, tr. 216-217).

[27] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 314.

[28] Theo J. Takakusu, ngài thị tịch năm 820 (Xem Sđd , tr. 218).

[29] Theo J. Takakusu, sau khi  Hoa Nghiêm tông được Thẩm Tường (người Tân La) giới thiệu đến Nhật Bản và được các thế hệ tổ sư bản địa kế thừa và phát triển, tông phái này đã có một vị trí và ảnh hưởng nhất định tại Nhật Bản; thậm chí cho đến ngày nay các trung tâm Phật học tại nước này vẫn tích cực nghiên cứu và phát triển tính đặc thù của kinh Hoa Nghiêm (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 218-219)

[30] (ekacittàntaragatadharmaloka).

[31] Xem thêm  Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 221.

[32] Chi tiết, tham khảo thêm Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr. 178-179; và Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 232-236.

[33] Xem Encyclopaedia of Buddhism tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 453.

[34] Xem Khái Niệm về Bồ Tát Quán Thế Âm, Viên Trí, Nxb. Tôn Giáo , 2003, tr. 233.

[35] Xem Encyclopaedia of Buddissm, tập I, G.P. Malalasekera (chủ biên) tr. 436.

[36] Xem Các Tông Phái của Đạo Phật , Tuệ Sỹ (dịch ), tr. 316.

[37] Xem Khái Niệm về Bồ Tát Quán Thế Âm, Viên Trí, tr. 234.

[38] Xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 329.

[39] Về hành trạng của ngài, tham khảo Huệ Viễn: Cuộc đời và sự nghiệp, chương Ba của sách này

[40] Theo J. Takakusu, có bốn dòng truyền thừa của Tịnh Độ tông. Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 318-319.

[41] Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

[42] Đầu tiên tác phẩm này được Buddhasanta (Phật Thủ) dịch tác sang Hán văn vào năm 531, nhưng chưa gây được sự chú ý. Đến khi bản dịch của Chân Đế ra đời, tư tưởng này mới có ảnh hưởng lớn tại Trung Hoa.

[43] Một số học giả gọi là “Duy thức tượng trưng”.

[44] Nội dung chi tiết của Nhiếp Luận tông, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr.110-112

[45] Chi tiết về chuyến Tây du học đạo của Huyền Trang, xem Chương Năm, Mục “Hành hương xứ Phật”. (Soạn giả)

[46] Giới Hiền (lúc này đã 106 tuổi) là học trò của Hộ Pháp (Dharmapàla); trong khi ấy, Hộ Pháp là học trò của Trần Na (Dignàga), người đệ tử chân truyền của Thế Thân. (Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch'en, tr. 321)

[47] Theo Wing -tsit Chan, “Thành Duy Thức Luận” là kết quả của quá trình nỗ lực chọn lọc, tóm tắt và hệ thống hóa sự giải thích của Huyền Trang về 10 bản sớ giải công phu của 10 triết gia Ấn Độ (bao gồm cả tác phẩm của Dharmapàla)  về "Duy Thức Tam Thập Tụng" của Thế Thân. (Xem A Source Book in Chinese  Philosophy, Wing-tsit Chan, tr. 370)

[48] Vijnõaptimàtratàtrimïsika

[49] parikalpitalaksïanïa

[50] paratantralaksïanïa

[51] parinïisïpannalaksïanïa

[52] Nghĩa là giáo pháp này không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường, mà bằng chính ngôn ngữ của Phật.

[53] Xem Chương Ba, Mục "Danh tăng dưới thời Bắc triều,”Phật-đồ-trừng

[54] Theo J. Takakusu, Thiện Vô Úy từng làm vua xứ Orissa (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 277).

[55] Tác phẩm này có lẽ được sáng tác ở Bắc Ấn vào khoảng thế kỷ thứ VII (xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên) tr. 234).

[56] Kenneth K.S. Ch’en, Buddhism in China, tr. 335.

[57] Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 278.

[58] Kinh này được sáng tác ở miền Nam Ấn Độ. (Xem Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 234).

[59] Tạm dịch là “Pháp giới thai tạng”.

[60] Phật giáo Nguyên Thủy gọi là lý tưởng A-la-hán, Phật giáo Phát Triển gọi là lý tưởng Bồ-tát, Mật giáo gọi là lý tưởng Sidhi.

[61] Theo W. Pachow, có một số nghi vấn về lịch sử xác thực của Bodhidharma thường được quan tâm: (a) ngài được biết với rất nhiều tên gọi; (b) không có sử liệu nào liên quan đến sinh hoạt ngài được lưu giữ và lưu hành tại Ấn Độ; (c) có quá nhiều mâu thuẫn về sử liệu đề cập thời gian ngài đến Trung Hoa (Xem Encyclopaedia of Buddhism, G.P. Malalasekera (chủ biên), tập III, tr.197).

[62] Xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 200.

[63] Xem The Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên), tr. 185.

[64] Có thuyết cho rằng Bodhidharma là người hoàng tộc xứ Parsia (Sđd). Trong khi đó, J. Takakusu nói rằng ngài là thái tử thứ ba của vua Kancipura xứ Nam Ấn (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật, Tuệ Sĩ (dịch), tr. 304).

[65] Sử liệu thường ghi rằng tại đây ngài ngồi quay mặt vào tường, tu tập thiền định suốt 09 năm (Soạn giả)

[66] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 351.

[67] Theo một vài nghiên cứu, ngài đến Bắc Ngụy năm 475 ( xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 192 và 202).

[68] G.P. Malalasekera, Sđd , tr. 351.

[69] Xem The Encyclopaedia of Religion, tập III, Mircea Eliade (chủ biên),tr.186.

[70] Theo nghiên cứu của W.P., cuộc đời và hành trạng của Tăng Xán dường như ít được giới sử gia biết đến (Xem Encyclopaedia of Buddhism, tập III, G.P. Malalasekera (chủ biên), tr. 205)

[71] Phần truyền thừa chi tiết của hai dòng thiền Nam Bắc, xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, tr. 115.

[72] Zen của Nhật Bản gọi là   “satori”.

[73] Tạm dịch: Truyền ngoài giáo pháp, không dùng văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.

[74] “Một ngày không làm, một ngày không ăn”.


(xem  tiếp  CHƯƠNG  BẢY)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 04:49:43 am »

(tiếp theo)

Chương Bảy

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO

 

I. Thành phần và nguồn gốc xã hội của Tăng đoàn


Ở Ấn Độ, Tăng già Phật giáo là một tổ chức với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho những ai muốn theo đuổi con đường xuất thế của đức Phật Thích Ca. Khi gia nhập vào Tăng đoàn, thành viên của nó không còn lo lắng đến phương tiện sinh sống, hoặc ước ao về gia đình và xã hội. Sống trong môi trường như thế, tăng ni có thể dành hết thời gian và năng lực cho việc huấn luyện tâm linh của tự thân.

Theo dòng thời gian, khi Phật giáo chia thành hai phái Thượng Toạ bộ (Nguyên Thủy)  và Đại Chúng bộ (Phát Triển), Tăng đoàn vẫn không có nhiều thay đổi. Hằng ngày họ vẫn tu tập và hành trì tất cả giới luật do đức Phật quy định với một số thay đổi hoặc khác nhau nhưng không mấy quan trọng.

Tuy nhiên, lúc đạo Phật truyền vào Trung Quốc, tổ chức cũng như sinh hoạt của tăng ni tại đây có nhiều thay đổi đáng kể. Ở Ấn Độ, xuất gia là công việc của cá nhân, hoàn toàn tùy thuộc vào ước muốn của cá nhân và gia đình; nhưng ở Trung Hoa, đặc biệt là thời nhà Đường, xuất gia và thọ giới lại liên quan đến luật pháp xã hội. Ai muốn thế phát xuất gia đều phải tuân thủ các quy định và sự kiểm soát của triều đình.

Trong những triều đại trước, chức vụ trong tổ chức Tăng đoàn thường do triều định chỉ định, và số tăng quan ấy có trách nhiệm điều hành cũng như giám sát mọi hoạt động của Tăng già. Triều đại nhà Đường không những tiếp tục duy trì các điều luật trên, mà còn can thiệp rất sâu vào mọi hoạt động của tổ chức Tăng đoàn.

Nói khác đi, vua chúa nhà Đường quản lý quyền tự do tu hành của cá nhân với mục đích hạn chế số lượng người đi tu. Mặc dầu pháp luật triều đình không hoàn toàn phù hợp với tổ chức của nó, nhưng để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường văn hoá mang đậm màu sắc Khổng giáo, Phật giáo buộc phải chỉnh lý để thích nghi với điều kiện như thế.

Hệ thống chính trị Trung Hoa, đặc biệt là dưới thời nhà Tùy và Đường, phân chia tu sĩ Phật giáo thành ba loại. Thứ nhất là giới tăng nhân hay còn gọi là tăng quan, sống trong chùa viện do triều đình xây dựng, nhận sự hỗ trợ từ triều đình và làm công việc được triều đình ủy thác. Thứ hai là số Tỷ-kheo được giai cấp quý tộc và giàu có trong lãnh thổ ủng hộ, còn gọi là Tư Tăng. Cuối cùng là giới tu sĩ bình dân, sống trong chùa chiền hoang vắng, xa xôi; cuộc sống của họ chủ yếu nhờ vào sự hỗ trợ của quần chúng tín đồ.

Theo “Cao Tăng Truyện”, phần lớn Tỷ-kheo xuất thân từ các gia đình giàu có nên trình độ học vấn của họ rất cao, vì lúc chưa xuất gia họ đã được học hành chu đáo. Do vậy, họ không gặp nhiều khó khăn trong việc học và hiểu giáo lý nhà Phật. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng “Cao Tăng Truyện” chỉ ghi lại tiểu sử của những danh tăng như Pháp Hiển, Huyền Trang, Tông Mật…, và tất nhiên không phản ảnh được nguồn gốc xã hội của toàn bộ tăng ni[1]; vì trong cả ba tác phẩm trên, tên tuổi của tăng sĩ Phật giáo chỉ có 1.818 vị. Rõ ràng, đây là một con số quá nhỏ khi đối chiếu với bức tranh thực của Tăng già Trung Hoa từ đời Hán đến năm 987.

Tuy nhiên, người ta cho rằng trong ba loại Tỷ-kheo được đề cập ở trên, tăng quan và tư tăng rất có thể xuất thân từ các gia đình quan quyền và giàu có; nhờ vậy họ có được một nền tảng giáo dục tốt. Nhưng số lượng của hai loại tăng sĩ này thì quá ít so với tăng sĩ trong toàn bộ lãnh thổ bằng cách đối chiếu số lượng chùa chiền của từng nhóm.

 Theo tài liệu của Pháp Lâm, dưới đời nhà Tùy có 47 đại tự của hoàng triều, 839 chùa của các vương công và gia đình thế lực, và 30.000 chùa của nhân dân[2]. Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nguồn gốc xã hội của nhóm thứ ba, nhưng người ta nói rằng số tăng sĩ  ở chùa của nhân dân xuất thân từ tầng lớp nông thôn.

Trong cuốn hồi ký chống đối Phật giáo biên soạn vào thời nhà Đường, Phó Dịch nhấn mạnh rằng thành phần theo Phật giáo chủ yếu thuộc gia đình nông dân. Nhận sự hỗ trợ từ quần chúng, số tăng sĩ này chỉ đảm trách những nhu cầu đơn giản về tôn giáo của số người thất học ở nông thôn; vì thế có lẽ trình độ học vấn của họ cũng không cao. Sử liệu không đề cập gì đến điều kiện gia nhập Tăng đoàn và chương trình huấn luyện về số tăng sĩ bình dân này. Có lẽ họ chỉ được học một ít kinh sách, nghi lễ và không thuần thục lắm về toàn bộ văn điển Phật giáo.

Cần lưu ý, vào đời nhà Đường, số lượng tăng quan rất lớn, quốc tự được xây dựng ở tất cả đơn vị huyện, trấn. Đạo Phật chính thức được quyền lực của triều đình bảo trợ, nhưng vào thời này sinh hoạt của Phật giáo chỉ giới hạn trong lãnh vực nghi lễ tôn giáo. Đường triều lập nên hệ thống kiểm kê danh bộ tăng ni, bắt đầu từ năm 729. Công tác thống kê này được giao phó cho tăng quan địa phương thực hiện, ba năm một lần. Sau khi hoàn tất, danh bộ được sao thành ba bản, một bản giữ tại văn phòng của huyện, một gửi cho Nha Lễ Bộ của tổng trấn và một gửi cho Bộ Lễ của triều đình. Số lượng thay đổi do chết, mới xuất gia, hoàn tục hay chuyển chỗ ở sẽ được chú thích rõ ràng. Mục đích của việc đăng ký danh bộ tăng ni là giúp triều đình nắm rõ chính xác số lượng tăng ni và sinh hoạt của họ.

Tăng đoàn Phật giáo tại Trung Hoa được chia thành tám loại, gồm

(a) nam và nữ tập sự hay còn gọi là đồng hành,

(b) sa di và sa di ni,

(c) Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni,

(d) cận sự nam và cận sự nữ.


Không biết loại đồng hành được hình thành từ năm nào, nhưng đến đời Đường hình thức này khá phổ biến. Theo quy định của nhà Tống, ai muốn trở thành tập sự (đồng hành) trước hết người ấy phải nộp một tờ đơn cho tu viện trưởng, ghi rõ tên tuổi, xuất xứ, không vi phạm pháp luật, được phép của cha mẹ vào chùa tập sự.

Sau đó, tu viện trưởng sẽ gọi người ấy đến để xác định có thật sự muốn gia nhập Tăng đoàn hay không, hay chỉ vì muốn vào chùa để trốn tránh một số nghĩa vụ xã hội nào đó. Bên cạnh ấy, người tập sự phải đáp ứng năm điều kiện sau đây:

(1) Nam phải dưới 19 tuổi và nữ dưới 14;
(2) Chưa từng gia nhập Tăng đoàn và hoàn tục;
(3) Không phải là tội phạm;
(4) Không có chuyện rắc rối với pháp luật;
(5) Không phải là con trai một trong gia đình.


Nếu hội đủ các điều kiện trên, đương sự trở thành đồng hành. Trong thời gian tập sự, người ấy phải làm một số bổn phận, học kinh sách và hầu hạ chư tăng. Cần lưu ý rằng tăng sĩ Phật giáo được miễn  đóng thuế và làm công tác xã hội; nhưng giới tập sự vẫn phải tuân thủ các nghĩa vụ trên. Gia đình của họ phải gánh vác nghĩa vụ ấy cho đến khi trở thành sa di. Đây là lý do chính tạo nên sự tranh đua dữ dội trong giới đồng hành.

 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 20, 2011, 04:51:22 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Tám 20, 2011, 02:06:58 pm »

(tiếp theo)

II. Thủ tục xuất gia – thọ giới

Ở Ấn Độ, việc thế phát xuất gia và truyền trao giới pháp hoàn toàn là công việc riêng tư của cá nhân và Tăng đoàn. Trái lại, ở Trung Hoa, tiến trình này bị triều đình giám sát nghiêm ngặt. Chính sách này không phải bắt đầu từ nhà Đường, mà nguồn gốc của nó được tìm thấy từ thời Nam Bắc triều, đặc biệt là dưới thời hoàng đế Thái Tổ của Bắc Ngụy[3].

 Mục đích của nó là giới hạn số lượng thành viên của Tăng già, đồng thời hạn chế các phần tử bất hảo lợi dụng tôn giáo. Hiệu quả của chính sách ấy được thấy rõ, vì sử liệu ghi rằng số lượng tăng ni Phật giáo vào triều đại nhà Tùy là 230.000 người, nhưng thống kê tăng tịch vào kỷ nguyên Khai Nguyên (713-741) của nhà Đường cho thấy số lượng tăng ni đã giảm rõ rệt với 75.524 tăng và 50.576 ni[4].

Vào thời kỳ đầu nhà Đường, thế độ và truyền giới cho Tỷ-kheo rất được nhiều tầng lớp quan tâm. Bên cạnh việc Tăng đoàn được phép tiến hành lễ xuất gia, thọ giới cho những ai hội đủ điều kiện do chính quyền quy định, nhiều thành phần khác trong giới quý tộc, hoàng tôn, công chúa của triều đình cũng được ban đặc quyền tiến hành nghi lễ xuất gia. Họ thường tranh đấu với nhau trong việc chủ trì các buổi lễ ấy. Hậu quả là số lượng người xuất gia, thọ giới gia tăng đáng kể, bởi vì những thành phần bất hảo của xã hội cũng lợi dụng cơ hội này gia nhập Tăng đoàn, trốn tránh luật pháp. Do vậy, triều đình phải tìm mọi cách để loại trừ số người ấy ra khỏi cộng đồng tăng lữ.

Vào thời đại Khai Nguyên, khoảng 12.000 tu sĩ bị cưỡng bách hoàn tục; trong khi ấy, khoảng 30.000 người khác lại tách khỏi giáo hội. Vì lý do trên, vào giữa đời nhà Đường, tiến trình truyền thọ giới pháp theo truyền thống giới luật Phật giáo không còn được tôn trọng. Chính quyền kiểm soát hoàn toàn thủ tục này qua việc ban hành giới điệp thọ giới cho những ai được phép tu hành.

Giấy chứng nhận này do Nha Tương Tế của triều đình cấp. Người ta nói rằng vào thời Nam Bắc triều, một loại thẻ chứng nhận tăng ni như là giấy thông hành bao gồm tên tuổi, quê quán…, cũng đã được áp dụng.

Mặc dầu người ta không thể xác định được việc cấp phát độ điệp (giấy chứng nhận) này bắt đầu từ thời đại nào, thủ tục thế độ, truyền giới và cấp phát độ điệp được ghi nhận theo một số phương thức sau:

1. Khảo thí:


Theo sử liệu, thủ tục k