Tháng Tám 21, 2018, 09:44:44 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC -- (Từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)  (Đọc 11609 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 08:28:19 am »


LƯỢC SỬ

PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC

(Từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)

Soạn giả: Viên Trí

 
MỤC  LỤC

Nội dung

Lời giới thiệu

Lời nói đầu 

Chương 1

Bối cảnh  Xã hội Trung Quốc
Trước khi Phật giáo du nhập


I. Tổng quan về tình hình văn hóa, kinh tế, chính trị

II. Môi trường triết học và tôn giáo

    * Khổng Tử

    * Lão Tử

 

Chương 2

Thời kỳ  Truyền Bá và Hội Nhập

I. Truyền Bá

    1. Tại Ấn Độ

    2. Du nhập vào Trung Hoa

    3. Niên đại du nhập

    4. Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Lý Hoặc Luận của Mâu Tử

    5. Những trung tâm Phật giáo

II. Giai đoạn chuẩn bị để hội nhập xã hội Trung Hoa

    1. Công tác phiên dịch

    2. Bản chất giáo lý

    3. Phối hợp với truyền thống và tôn giáo bản địa

 

Chương 3

GIAI ĐOẠN QUAN HỆ VÀ HỢP TÁC

I. Phật giáo dưới thời Tây Tấn

    1. Khuynh hướng tư tưởng của Phật giáo dưới thời Tây Tấn

    2. Nhân vật tiêu biểu của Phật giáo dưới triều đại Tây Tấn.

    3. Đặc điểm của Phật giáo thời Tây Tấn

    4. Quan hệ giữa Tăng đoàn và triều đình Tây Tấn

II. Phật giáo dưới triều đại Hung Nô ở miền Bắc Trung Hoa

     Danh tăng dưới thời Bắc Triều

          *Buddhasimha (Phật-đồ-trừng)

          *Kumàrajìva (Cưu-ma-la-thập)

III. Phật giáo ở Lương Châu và Đôn Hoàng

IV. Phong trào Tây du cầu pháp

V. Cao tăng dưới triều đại Đông Tấn

          * Đạo An: Cuộc đời và sự nghiệp

          * Huệ Viễn: Cuộc đời và sự nghiệp

 

Chương 4

PHẬT GIÁO DƯỚI THỜI NAM BẮC TRIỀU

I. Phật giáo tại Nam triều

    1.Khuynh hướng tư tưởng của Phật giáo Nam  triều.

          * Thành Thật tông

          * Tam Luận tông

    2- Phong trào chống đối Phật giáo ở Nam triều.

II. Phật giáo tại Bắc triều.

    1. Phật giáo dưới thời Bắc Ngụy

    2. Khôi phục Phật giáo

    3. Phật giáo ở Lạc Dương

    4. Điêu khắc, tạc tượng.

    5. Những hang động danh tiếng

    6. Khuynh hướng Phật học ở Bắc Trung Hoa.

 

Chương 5

PhẬt giáo dưỚi ba triỀu đẠi: Chu-Tùy-ĐưỜng

I. Nhà Chu

II. Nhà Tùy

III. Nhà Đường

       1. Hành hương xứ Phật

       2. Cuộc khủng bố của Hui Chang năm 845

 

Chương 6

CÁC TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC

I. Câu Xá tông

II. Thiên Thai tông

III. Hoa Nghiêm tông

IV. Tịnh Độ tông

V. Pháp Tướng tông

VI. Luật tông

VII. Mật tông

VIII. Thiền tông

 

Chương 7

TỔ chỨc và hoẠt đỘng cỦa tăng đoàn PhẬt giáo

 I. Thành phần và nguồn gốc xã hội của tăng đoàn 304

 II. Thủ tục xuất gia - thọ giới

       1. Khảo thí

       2. Đặc ân của hoàng đế.

       3. Mua bán chứng điệp

  III. Hệ thống tổ chức của tăng đoàn

  IV. Hệ thống quản lý trong các tự viện

  V. Hoạt động của tăng đoàn

       1. Thuyết giảng

       2. Nghi lễ

             * Sinh nhật hoàng đế

             * Ngày lễ Phật đản.

             * Lễ rước xá lợi Phật

             * Lễ Vu-lan

VI. Công tác từ thiện

 

Chương 8

Phiên dịch và ấn hành Phật điển Trung Hoa

I. Lãnh vực phiên dịch

II. Ưu khuyết điểm trong công tác phiên dịch

III. Danh mục kinh điển

IV. Ấn hành tam tạng

Tài liệu tham khảo



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, 8N, Archéo, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 08:30:42 am »

(tiếp theo)

Lời giới thiệu

Sự giao thoa và tương tác kéo dài hàng chục thế kỷ giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Việt Nam đã tạo nên mối quan hệ khắng khít giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Hoa trong các lãnh vực triết học, văn học, ngôn ngữ, nghệ thuật...  Do vậy, khi bàn về Phật giáo Việt Nam người ta không thể không đề cập đến Phật giáo Trung Hoa. Đây là lý do khiến Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung Ương đặc biệt chú trọng và sớm đưa “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” vào chương trình giảng dạy ngay từ bậc Trung cấp Phật học. Tuy nhiên, những biên khảo, trước tác đang sử dụng về lĩnh vực này lại chưa được phong phú. Trong bối cảnh như thế, việc ra đời cuốn “Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc” do đại đức Viên Trí biên soạn đáng được khích lệ.

Đại đức Viên Trí, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ Phật học tại đại học Delhi, Ấn Độ, đã trở về nước giảng dạy tại các học viện Phật giáo Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh và Huế. Với kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy trong thời gian học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, cũng như phương pháp giảng dạy trong thời gian hai năm qua tại các học viện Phật giáo Việt Nam, đại đức chứng tỏ là một giảng viên có nhiều triển vọng.

Tập sách “Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc” bao gồm tám chương, trình bày một cách chi tiết, rõ ràng bối cảnh xã hội của từng thời kỳ mà sự ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo và xã hội Trung Quốc xảy ra trong quá trình tồn tại và phát triển, và những nét đặc thù của Phật giáo Trung Quốc có thể giúp người đọc dễ dàng hiểu rõ vấn đề. Điều này cho thấy khả năng và sự nghiêm túc của soạn giả trong lãnh vực nghiên cứu. Đây là một công trình biên khảo có giá trị, rất cần cho giới nghiên cứu, các giảng viên cũng như tăng, ni sinh các trường Trung cấp, Cao đẳng cũng như Học viện Phật giáo Việt Nam trong việc tìm hiểu Phật giáo Trung Quốc nói chung, và Phật giáo Trung Quốc từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X nói riêng.

Hân hạnh giới thiệu tác phẩm này đến tăng, ni sinh và quý vị độc giả.

H.T Tiến sĩ Thích Chơn Thiện

Viện trưởng HVPGVN tại Huế

Trưởng Ban Giáo Dục Tăng Ni-TƯGHPGVN


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, 8N, Archéo, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tuanlong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 08:32:45 am »

(tiếp theo)

Lời nói đầu

Lược sử Phật giáo Trung Quốc là giáo trình biên soạn để giảng dạy tại các Học viện Phật giáo Việt Nam.

Với mục đích như thế, chắc chắn phần nghiên cứu cũng sẽ bị giới hạn, nhưng phương pháp nghiên cứu và nội dung của cuốn sách này vẫn được trình bày như là một công trình khoa học lịch sử nhằm tôn trọng và đảm bảo tính trung thực và khách quan trong khả năng có thể.

Những hoàn cảnh văn hóa, chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo từ khi Phật giáo du nhập từ thế kỷ thứ I sau CN cho đến thế kỷ thứ X sau CN và những bối cảnh xã hội qua đó một số khuynh hướng tín ngưỡng hoặc trường phái tư tưởng được hình thành được đặc biệt chú trọng.

Lý do là vì, theo thiển ý của chúng tôi, tất cả mọi thứ văn hóa, vật thể hay phi vật thể, đều hướng tới con người, phục vụ con người mà được hình thành và tồn tại.

Tôn giáo, bao gồm cả Phật giáo, cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây là, khác với mọi hệ thống triết học-chính trị, tôn giáo là nhu cầu muôn thuở của con người; vì theo sử gia người Mỹ, A. Toynbee, đặc tính của một nền văn minh là sự biểu lộ về tôn giáo của nó, và văn minh được quyết định bởi phẩm chất của tôn giáo mà nó dựa vào[1].

Nói khác đi, muốn hiểu con người và đất nước Trung Hoa, người ta không thể không tìm hiểu lịch sử tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Trung Hoa.

Trong định hướng này, chúng tôi biên soạn tập sách “Lược sử Phật giáo Trung Quốc”. Với kiến thức khiêm tốn và tài liệu còn nhiều hạn chế, thiếu sót là điều không thể tránh được.

Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ giáo cũng như mọi ý kiến phê bình, đóng góp, vì đó sẽ là nguồn tài liệu quý để hoàn thiện cuốn sách trong những lần tái bản sắp tới.

Cuối cùng, xin cám ơn các tác giả của những tác phẩm đã làm nền tảng cho sự ra đời của cuốn sách này.

 

Soạn giả cẩn chí

Viên Trí

 

[1] Xem A.Toynbee-D. Ikeda, Man Himself Must Choose, Koddansha, I. Ltd, Tokyo-USA, 1976, tr. 288-289.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, 8N, Archéo, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 08:35:59 am »

(tiếp theo)

Chương Một

BỐI CẢNH XÃ HỘI TRUNG QUỐC
TRƯỚC KHI PHẬT GIÁO DU NHẬP


I. Tổng quan về tình hình văn hóa, kinh tế, chính trị

Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại. Nó không chỉ độc đáo bởi chính sự hiện diện lâu đời của nó, mà còn tác động đến sự hình thành và phát triển màu sắc văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới.

Tất nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển, văn minh Trung Hoa cũng tiếp xúc với nhiều nguồn văn minh của thế giới. Chính sự tương tác qua lại giữa chúng đã làm cho văn minh Trung Quốc trở nên phong phú và đa dạng.

Ảnh hưởng nổi bật và  sớm nhất của nguồn văn hóa bên ngoài đối với Trung Hoa cổ đại là sự giao thoa giữa hai nền văn minh tầm cỡ của thế giới, tức Ấn Độ và Trung Hoa. Có thể nói rằng sự hiện diện của Phật giáo trong vùng đất rộng lớn và đông cư dân này đã mở ra một bước ngoặt mới trong quá trình tồn tại và phát triển của Trung Hoa. Chính cuộc chinh phục của Phật giáo đã tạo ra một cuộc cách mạng tư tưởng trong mọi lãnh vực đời sống của nhân dân Trung Hoa.

Tuy nhiên, nhằm phục vụ cho mục tiêu của cuốn sách này, chúng ta chỉ nghiên cứu một cách ngắn gọn bối cảnh xã hội, tôn giáo của triều đại nhà Hán từ năm 206 T.CN[1] đến 220 S.CN[2] trước khi Phật giáo du nhập.

Về phương diện lãnh thổ, đế chế Hán tộc đóng đô ở đồng bằng phía Bắc Trung Hoa, nơi mà nền văn minh của đất nước này đã định hình hơn 1.500 năm trước đó. Trong khi ấy, nhiều thổ dân nằm trong sự kiểm soát của Hán triều sinh sống nơi vùng đất hoang vu rộng lớn ở phía Nam, dọc theo bờ sông Dương Tử và vùng hạ lưu của nó. Thuộc địa của người Hán kéo dài tận Bắc Đông Dương.

 Phía Tây và Tây Bắc của đế chế Trung Hoa là vùng sa mạc và đất đai hoang vu, nhưng Hán triều đã có ý đồ mở mang bờ cõi đến tận dải đất này bằng cả chiến tranh lẫn ngoại giao. Vạn Lý Trường Thành là mốc điểm phân chia lãnh thổ nhà Hán ở phía Bắc với một số nước thù địch. Nhà Hán cũng thiết lập một vùng thuộc địa trên tận vùng Đông Bắc của nó, gần với thủ đô Bình Nhưỡng ngày nay của Bắc Triều Tiên.
Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, vào thời nhà Hán, lãnh thổ Trung Hoa mở rộng rất nhiều; phía Bắc tới Mãn Châu, Triều Tiên; phía Nam đến tận Đông Dương Bắc Miến Điện; phía Tây đến Tây Tạng; phía Tây Bắc tới vùng Trung Á. Có thể nói rằng lãnh thổ Trung Quốc thời ấy to lớn hơn cả châu Âu thời nay.

Về tư tưởng chính trị, từ thời Tiền Tần trở về sau, theo học giả Nguyễn Hiến L5] vào đầu kỷ nguyên Tây lịch Trung Hoa có khoảng 57 triệu dân.

Về kinh tế, thời kỳ nhà Hán có một sự phát triển vượt trội. Hán Cao tổ khuyến khích nông nghiệp. Sau chiến tranh, quân đội được giải ngũ về làm ruộng, do vậy nhiều vùng đất mới được khai canh. Thuế nông nghiệp lại được giảm, thậm chí miễn cả thuế lợi tức, từ đó cuộc sống của người dân trở nên khá giả.

Bên cạnh đó, nhờ kỹ thuật chế biến sắt thép phát triển, nông cụ được chế tạo tốt hơn, đưa đến hiệu quả tốt trong lao động và năng suất cao trong sản xuất. Nông dân thời đó đã biết cách luân canh. Nhờ kỹ thuật tiến bộ, họ chế tạo một kiểu xe để gieo giống, và một loại cối xay chạy bằng sức nước[6].

Công nghiệp đời Hán có nhiều bước cải tiến. Những cổ vật được ngành khảo cổ khai quật như sành sứ, gốm, lụa, sơn, vàng, bạc, đồng,... cho thấy được chế tạo khá tinh xảo. Hoạt động thương mãi cũng đầy màu sắc trong thời kỳ này. Ở trong nước, thương mãi phát triển nhờ chính sách của Hán Võ đế qua việc cho đúc nhiều tiền, mở nhiều đường giao thông. Trên những con đường khắp cả nước, các trạm thông tin liên lạc được thiết lập và quán xá ăn uống cũng như quán trọ qua đêm cũng được dựng lên.

Thông qua những giao lộ ấy, việc trao đổi, buôn bán của ngành thương nghiệp phát triển nhanh chóng. Giao thương, buôn bán với ngoại quốc cũng là một điểm mạnh của thời kỳ nhà Hán. Ở phương Nam, ví dụ như Quảng Châu, nhiều thị trấn dọc theo bờ biển đã hình thành. Giới thương nhân ngoại quốc đã thiết lập mối quan hệ với người Hán qua những trung tâm buôn bán thịnh vượng.

Theo Henri Maspero, người Trung Quốc chinh phục một số nước thuộc vùng Trung Á  vào cuối thế kỷ thứ II T.CN[7], và việc trao đổi hàng hoá trực tiếp giữa người Trung Hoa và Bactriane, Parthie cũng như Ấn Độ thường diễn ra. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là giới hoàng thân, quốc thích và hàng ngũ quan lại.

Với đặc ân và sự bảo trợ của triều đình, cuộc sống của tầng lớp thượng lưu này càng ngày càng trở nên giàu có và xa xỉ. Họ xây dựng nhiều nhà cửa, lâu đài sang trọng với nghệ thuật điêu khắc, trang trí vô cùng công phu, phản ánh một cuộc sống có tổ chức và văn hóa cao.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, 8N, Archéo, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 08:39:07 am »

(tiếp theo)

II. Môi trường triết học và tôn giáo

Tôn giáo là một trong những hoạt động mang tính ý thức xã hội không thể thiếu của loài người. Nói khác đi, ở đâu có sự sống của con người, ở đấy có tôn giáo.

Đối với Trung Hoa, tôn giáo lại có một vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử tồn tại và phát triển của nó. Từ nguyên thủy cho đến ngày nay, Trung Hoa luôn là một quốc gia có nhiều tôn giáo, từ loại tôn giáo bán khai cho đến tôn giáo cao cấp nhất. Trong xã hội nguyên thủy, Trung Quốc là một quốc gia theo học thuyết đa thần, vì lúc ấy chưa có một loại thần nào được quan niệm là chủ tể, lãnh đạo tối cao toàn thể thiên nhiên và xã hội. Song hành với các loại tín ngưỡng là sùng bái tổ tiên.

 Đây là một truyền thống thiêng liêng lâu đời có nguồn gốc từ quan niệm máu mủ, gia đình. Ban đầu, việc thờ cúng tổ tiên là nhằm củng cố quan hệ huyết thống, bảo đảm quyền thừa kế tài sản và phân phối quyền lợi. Dần dần khái niệm này được phát triển thành tín ngưỡng thiêng liêng, đặc biệt trong xã hội nô lệ và phong kiến. Sùng bái tổ tiên được giai cấp lãnh chúa phong kiến triển khai mạnh mẽ nhằm mục đích củng cố chế độ tông pháp. Họ khéo kết hợp chế độ tông pháp với việc thờ cúng tổ tiên thành một loại hình tôn giáo mang đặc tính Trung Quốc với nền tảng cốt lõi là “thần thánh không hâm hưởng thì không cùng loại, dân không tế tự thì không cùng tông tộc.

 Quan niệm này về sau trở thành tư tưởng đạo đức chủ đạo của người Trung Hoa với sự hệ thống hoá về triết lý cũng như tổ chức và được gọi là “Đạo gia tiên hay Thờ cúng ông bà”.

Khi xã hội đi vào tổ chức, phân loại giai cấp cùng với sự ra đời của chế độ lãnh chúa và xã hội phong kiến, tư tưởng nhất thần cũng dần dần hình thành thông qua quyền lực tối cao của người lãnh đạo. Hình ảnh độc tôn và đầy uy quyền của vị vua như là hiện thân của thượng đế được phác họa vào triết lý tôn giáo, vì vua là con trời hay còn gọi là thiên tử.

Tư tưởng tôn giáo nhất thần này xuất hiện từ triều đại nhà H
* Khổng Tử  (551- 479 T.CN)

Nho giáo, còn gọi Khổng giáo, là học thuyết do Khổng Tử, tên Khâu tự Trọng Ni, sinh tại nước Lỗ thuộc phía Nam tỉnh Sơn Đông ở miền Đông Trung Quốc ngày nay, khai sáng. Tổ tiên của ông vốn là dòng dõi công hầu nước Tống, nhưng do sự đảo lộn chính trị, dòng họ Khổng mất địa vị quý tộc và di cư sang nước Lỗ trước khi sinh ông.

Thời trẻ Khổng Tử rất nghèo, phải làm những chức quan lại nhỏ bé, và mở trường tư dạy học. Có thể nói rằng ông là thầy giáo mở trường tư dạy học đầu tiên ở Trung Quốc. Ông là chính trị gia nhưng vừa là nhà đại giáo dục, nên được đời sau tôn xưng là “Vạn Thế Sư Biểu”.

Dù nổi tiếng là học rộng tài cao, nhưng đến năm 51 tuổi Khổng Tử mới được vua Lỗ mời làm quan. Tuy nhiên, do không thỏa chí nên vào những năm cuối đời, Khổng Tử từ quan, dẫn học trò chu du thiên hạ, tìm nơi thích hợp để thi thố tâm nguyện an bang tế thế, nhưng vì lý tưởng chính trị và đường lối cải cách xã hội của ông không đáp ứng được thời cuộc nên không được trọng dụng.

Cuối cùng, Khổng Tử lại trở về nước Lỗ, tập trung năng lực và trí tuệ vào việc tu chỉnh sách vở mà đời sau gọi là “Ngũ Kin 1-. Tin tưởng cõi trời và một vị thượng đế độc tôn trông nom hành vi và đức hạnh của con người và triều đình.

2-. Tin tưởng rằng con người là sinh vật cao quý nhất được tạo ra bằng tinh túy của trời đất và được ân điển của cõi trời.

3-. Tin tưởng vào sự thưởng phạt vì điều tốt và xấu.

4-. Tin tưởng rằng có một mối quan hệ hỗ tương giữa cõi trời và đức hạnh của con người để việc làm tốt đem đến điềm lành và làm các việc xấu đem đến sự cảnh báo và trừng phạt.

 5-. Tin tưởng ngành thiên văn như là phương tiện để dự đoán mọi sự kiện và giải thích ý nghĩa về các hiện tượng của trời đất.


Tất cả các yếu tố trên đan quyện thành hệ thống toàn diện của triết lý tôn giáo chính trị dưới tên gọi Khổng giáo trong suốt thời gian dài của lịch sử Trung Hoa, mặc dầu cấu trúc đầy ấn tượng này của Nho giáo cũng có nhiều đổi thay theo dòng thời gian để khế hợp với tri thức của quần chúng Trung Hoa xuyên suốt chiều dài tồn tại của nó.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, Yahoo, 8N, Archéo, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 04:24:08 am »

(tiếp theo)

* Lão Tử

Tôn giáo quan trọng thứ hai có nhiều tác động đến sự du nhập của Phật giáo từ Hán triều trở đi là  Lão giáo. Nhân vật chủ yếu là Lão Tử và Trang Tử, nên giáo lý này còn gọi là học thuyết Lão Trang.

Tiểu sử của Lão Tử vẫn là một vấn đề còn mơ hồ. Tuy vậy, có một vài thuyết cho rằng ông họ Lý tên Đam[12], người nước Sở, sống trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc.

Trong khi ấy, theo nghiên cứu của Wing-stit Chan[13], Lão Tử là người nước Ch’u (Sở), ngày nay là tỉnh Hồ Nam. Ông họ Lí tên Nhĩ, và sau khi chết được gọi là “Lão Đam”, sinh trước Khổng Tử khoảng 20 năm. Wing cũng nói thêm rằng vào thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20, nhiều học giả Trung Quốc cũng như phương Tây không đồng ý với giả thuyết của mình, vì họ cho rằng Lão Tử có thể sinh vào thế kỷ thứ IV hoặc thứ III T.CN. Tuy nhiên, từ thập niên 40 trở về sau giới học giả lại có khuynh hướng ủng hộ thuyết của Wing, nhưng Trung Hoa Lục Địa lại nghiêng về giả thuyết sau.

Hầu hết sử gia đều đồng ý rằng Trang Tử tên thật là Chu, sống trong khoảng thời gian từ năm 339 đến 286 T.CN. Trang Tử là một ẩn sĩ thích cuộc sống nhàn cư ở núi rừng, không để lối sống công danh ràng buộc. Ông phát triển học thuyết của Lão Tử, và xây dựng nó thành một hệ thống tư tưởng vô cùng sâu sắc. Nếu triết lý Khổng Mặc quan niệm trời là đấng tối cao, thì Lão Trang đả phá tư tưởng ấy và thiết lập vũ trụ quan mới của triết học Trung Hoa. Để giải thích bản thể của vũ trụ hay Đạo, Lão Trang thiết lập phạm trù triết học “Hữu Vô”. Hệ tư tưởng này đã trở thành một trong những triết lý quan trọng nhất của lịch sử triết học Trung Quốc, ảnh hưởng từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay.

Triết thuyết chủ yếu của Lão giáo bao hàm trong cuốn “Đạo Đức Kinh” hay “Lão Tử Kinh”, gồm khoảng 5.250 từ. Mặc dù là một tập sách triết học ngắn gọn nhất trong kho tàng trí tuệ của Trung Hoa cổ đại, nhưng có vô số sách bình giải đã ra đời trên căn bản của Đạo Đức Kinh. Theo Wing-stit Chan, hiện còn 350 tác phẩm bình giải về Đạo Đức Kinh. Tuy nhiên, tác giả và thời gian ra đời của Đạo Đức Kinh vẫn là một ẩn số. Nhiều học giả cho rằng Đạo Đức Kinh là một tác phẩm gồm nhiều tác giả và được biên tập thành sách sau thời đại Lão Tử hơn 100 năm. Trang Tử là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình biên tập và chú giải nó. Triết học Lão Trang ảnh hưởng rất lớn đến nhân dân Trung Hoa trên mọi lãnh vực của cuộc sống như khoa học, mỹ thuật, đạo đức, luân lí, chính trị, v.v...

Lão giáo là một loại tôn giáo huyền bí tự nhiên.

Giới đạo sĩ khám phá tự nhiên, biểu hiện sự thích thú của họ về sự khám phá ấy và nỗ lực để đồng nhất với tự nhiên mà họ gọi là Đạo. Bởi vì tái hợp được với Đạo nên họ được gọi là Đạo sĩ. Đạo là ý niệm cao nhất của tư tưởng Lão Trang.

Theo Lão Tử, Đạo có hai mặt:-

 1/. Đạo là bản thể của thế giới, có trước trời đất vạn vật. Do vì Đạo vô cùng huyền diệu, cao thâm, không thể nào diễn đạt được tướng trạng của nó, vì vậy Lão Tử phải sử dụng khái niệm ‘Vô’ để diễn tả “Vạn vật trong thế giới đều sanh ra từ hữu, hữu sinh từ vô”.

2/. Đạo là quy luật biến hóa chung của mọi sự vật, vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật. Quy luật hoạt động của tự thân mỗi sự vật gọi là Đức.


 Điều quan trọng cần lưu ý là, đạo đức của Khổng giáo là phương thức đúng đắn về hành động, luân lí, xã hội và chính trị; trong khi ấy, Đạo của đạo sĩ là siêu hình, là nguyên lý tự nhiên của vũ trụ. Mục đích của đạo sĩ là thành tựu sự hợp nhất với Đạo thông qua đồng nhất hóa. Vì Đạo là vĩnh viễn, bất diệt, và không thay đổi, nên cá nhân đạt được sự thống nhất với nó cũng được xem như là thành tựu được tính bất diệt. Đó là trạng thái giải thoát thật sự.

Giải thoát của Đạo giáo là đạt đến sự bất tử về trạng thái vật chất. Đối với đạo sĩ, con người không phải do linh hồn và thân thể vật chất hình thành mà con người là hoàn toàn vật chất, gồm những thành tố sẽ băng hoại vào lúc chết. Sự bất tử có thể thành tựu được bằng cách chế ngự các phần tử cấu thành thân thể và bằng việc ngăn ngừa chúng khỏi sự diệt vong.

Để đạt đến cuộc sống bất tử người ta phải tuân thủ một số điều luật. Trước hết, thân thể vật chất cần phải được tu dưỡng để ngăn chặn các nguyên nhân đưa đến tình trạng già yếu và để tạo ra các chủng tử tương hợp với sự bất tử. Kế đến, linh hồn phải được tu dưỡng bằng phương thức tập trung và thực hành thiền định. Những tư tưởng này được tín đồ đạo Lão hành trì rất phổ biến dưới thời Hán triều và sau kỷ nguyên Thiên Chúa. Cùng với số điều trên, sách Trang Tử lưu ý đến sự tu dưỡng đưa đến cuộc sống bất tử, một số điều kiêng cữ như tránh dùng ngũ cốc, phải rèn luyện hơi thở và thực hành thiền định.

Bên cạnh ấy, Wang Ch’ung cũng gợi ý rằng các đạo sĩ tinh thông cũng miệt mài đến thuật giả kim để làm cho thân thể bất tử. Đối với đạo sĩ, thuật giả kim chủ yếu bao gồm sự điều chế và hấp thụ thần sa, tức chất sulfid thủy ngân, nhằm mục đích góp phần vào việc hình thành sự bất tử của thân thể.

Trong lãnh vực chính trị, Lão Tử có cùng quan điểm với Khổng giáo về vai trò lãnh đạo. Ông cũng quan niệm rằng quốc gia lý tưởng là quốc gia được thánh nhân lãnh đạo.

Chỉ có thánh nhân mới đủ đức tài để trị vì đất nước. Tuy nhiên, khác với Khổng Mặc, Lão Tử chủ trương thuyết vô vi; nghĩa là thay vì người lãnh đạo phải làm nhiều việc cho nhân dân như thuyết hữu vi chủ trương, giới đạo gia cho rằng bổn phận của thánh nhân là không phải làm việc gì cả, vì theo họ càng hữu vi tức can thiệp nhiều vào việc dân thì tai hại càng lớn.

 Đạo Đức Kinh viết rằng “không chuộng hiền khiến dân không tranh. Không chuộng vật quý khiến dân không trộm cướp, không thấy vật đáng tham khiến lòng dân không loạn... Bỏ nhân, trí đi, cứ theo luật tự nhiên mà hành động. Cho nên, lối trị dân của bậc thánh làm cho dân lòng trống bụng no, yếu chí, mạnh xương, thường khiến dân không biết, không muốn [chương 3]”; và “Ta không làm nhưng dân tự biết. Ta yên lặng mà dân tự chính. Ta vô sự mà dân tự giàu..., tuy không làm mà không gì chẳng được làm...[chương 57]”.

Cần lưu ý rằng thuyết vô vi của Lão Trang khác với thuyết vị kỷ của Dương Chu, vì nó không xem trọng việc sinh mà chỉ xem đời sống là một sự tự nhiên, cứ bình thản, không ưu tư, không mong cầu.

Đó là sự tóm lược bối cảnh tôn giáo ở Trung Hoa trong triều đại nhà Hán trước khi Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào mảnh đất văn minh này.

CHÚ  THÍCH

[1] Trước Công Nguyên.

[2] Sau Công Nguyên (lưu ý: Từ đây trở đi, niên đại trước Công Nguyên sẽ được ghi là   T.CN, còn sau Công Nguyên thì chỉ đề cập đến niên đại).

[3] Nguyễn Hiến Lê , Sử Trung Quốc, Nxb.Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 212.

[4] A.F.Wright, Buddhism in Chinese History, Stanford University Press, California, 1959, tr.5.

[5] Nguyễn Hiến Lê , Sđd, tr. 218.

[6] Nguyễn Hiến Lê , Sđd, tr. 213.

[7] Henri Masparo, Đạo Giáo và Các Tôn Giáo Trung Quốc, Lê Diên (dịch) Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 77 .

[8] Ngô Vinh Chinh và  Vương Miện Quý (chủ biên) Đại Cương Lịch Sử Văn hóa  Trung Quốc,  Nxb. Văn hóa Thông tin, 1994, tr. 89.

[9] Theo Đại Cương Lịch Sử Văn Hóa Trung Quốc, trang 34, do Ngô Vinh Chinh và Vương Miện Quý chủ biên, chúng được gọi là ‘Lục Kinh’, bao gồm cả ‘Nhạc Kinh’; nhưng theo Maspero, trước đời Hán , danh mục này  có Nhạc Kinh nhưng lại không có ‘Dịch Kinh’ vì Dịch Kinh hồi đó chỉ được xem là sách dạy kỹ thuật bói toán (Henri Maspero, Đạo Giáo và Các Tôn Giáo Trung Quốc, tr. 114....)

[10] Vì Khổng Tử chủ trương ‘Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ", Nghĩa là ‘thuật lại mà không sáng tác, và hiếu với người xưa'- Xem Luận Ngữ, phần Thuật nhi.

[11] Luận Ngữ, XII, 11.

[12] Theo Nguyễn Hiến Lê , Lão Tử họ Lí tên Nhĩ (Sử Trung Quốc, tr. 152).

[13] Xem A Source Book in Chinese Philosophy của Wing-stit Chan, Princeton University Press, 1973, tr. 138.

--------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 04:27:11 am »

(tiếp theo)

Chương Hai

THỜI KỲ TRUYỀN BÁ VÀ HỘI NHẬP
     
    I. Truyền bá

    1. Tại Ấn Độ

    Theo nhiều nguồn sử liệu, hai thế kỷ đầu sau ngày đức Phật Niết-bàn, địa bàn hoạt động của Phật giáo chỉ giới hạn quanh lưu vực sông Hằng của Ấn Độ; nhưng vào nửa thế kỷ thứ III T.CN, Phật giáo bắt đầu vượt biên giới và truyền bá sang nhiều quốc gia lân cận.

Theo Kenneth K.S. Ch’en[1], từ phía cực Nam, một phái đoàn truyền giáo vượt đại dương và đưa Phật giáo vào đảo Srilanka (Tích Lan); từ hướng Tây Bắc Phật giáo truyền vào Gandhàra, Kashmir và Tây Bắc Ấn. Hầu hết học giả đều đồng ý rằng năng lực ẩn tàng nằm sau sự phát triển mang tính lịch sử này là lòng mộ đạo và sự ủng hộ Phật pháp của vị vua thuộc triều đại Mauryan, tức đại đế Asoka (A-dục-vương), trị vì đất nước Ấn Độ khoảng từ năm 274 đến 236. T.CN.

Sau một thời gian khát vọng quyền lực, tranh đất chiếm dân, gươm vấy đầy máu, nhờ diệu dụng của Phật pháp, Asoka tỉnh cơn mộng vàng, trở về quy y Phật giáo, nguyện suốt đời dùng chánh pháp trị nước thay vì vương pháp. Một trong những cống hiến vĩ đại nhất của Asoka đối với Phật giáo là làm cho tôn giáo này từ một tôn giáo địa phương thành tôn giáo toàn cầu qua việc gửi các phái đoàn truyền giáo đi khắp mọi nơi.

 Nhờ vào nỗ lực của nhà vua, Phật giáo vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ và nhập vào dòng chảy của các nền văn minh nhân loại. Từ Gandhàra và Kasmir, Phật giáo trải dài tận vùng Trung Á, rồi cuối cùng đến Trung Quốc, Nhật Bản. Từ Tích Lan và khu vực Nam Ấn, Phật giáo vượt qua đại dương truyền bá vào Miến Điện, Indonesia, Thái Lan và vùng Đông Dương.

    Ở phía bên kia biên giới của Gandhàra về Tây Bắc Ấn Độ là bang Bactria do người Ionina-Hy Lạp xây dựng nên sau chiến dịch của đại đế Alexander. Sự nổi dậy của dân Pathians tại Persia (Ba Tư) đã chia cắt số dân này khỏi quê hương Hy Lạp cổ và số người ấy hướng đến các trung tâm văn hóa của Ấn Độ.

Với sự suy tàn của triều đại Mauryan ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ II T.CN, người Hy Lạp bắt đầu cuộc chiến xâm lăng phía Bắc Ấn Độ. Ở đỉnh điểm của cuộc xâm lăng, họ mở rộng cuộc chiến xuyên suốt toàn bộ thung lũng Indus thuộc Tây Bắc Ấn Độ và nhiều vùng thuộc các tỉnh thống nhất ở phía Tây. Nổi tiếng nhất trong những vị vua Hy Lạp xâm lăng Ấn Độ thời bấy giờ là vua Menander[2] (Di-lan-đà), trị vì mảnh đất này trong thế kỷ thứ II. T.CN.

Những đồng tiền cổ xưa được khai quật lên, một mặt khắc tên và hình của vua Menander, và mặt kia là bánh xe chuyển pháp luân của Phật giáo, là biểu tượng của việc truyền bá Phật pháp. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, Menander không phải được dân tộc này nhớ đến như là một tướng viễn chinh thắng trận, mà là một triết gia với những cuộc đàm luận thời danh về triết lý Phật giáo với vị Tỷ-kheo tên là Nagasena (Na Tiên).

Một triết gia Hy Lạp cổ đại tên Plutarch (46-120) ghi lại một truyền thống rằng các thành phố của Ấn Độ đã tranh giành nhau để có được một ít tro tàn của Menander sau khi nhà vua qua đời. Tất cả các đề mục trên đều hướng đến kết luận rằng vào thế kỷ thứ II T.CN Phật giáo rõ ràng đã du nhập vào Bactria và đã đâm chồi mọc rễ tại đây.

    Về sau, vương quốc Bactria bị một bộ tộc người Yueh-chih, còn gọi là Scythians, chinh phục. Quê hương của bộ tộc này tọa lạc ở phía Tây Bắc Trung Quốc nhưng bị người Hung Nô tức Thổ Nhĩ Kỳ đuổi khỏi địa phương ấy; do vậy họ phải di trú đến vùng Trung Á vào khoảng năm 175 T.CN.

Sau khi chinh phục được Bactria vào khoảng năm 130 T.CN, người Scythians định cư tại đây và trong vòng một thế kỷ họ thiết lập được một vương quốc hùng mạnh, đủ để chinh phục toàn bộ thung lũng Indus, các địa phương thuộc phía Bắc và Trung Ấn xuống tận Mathura và Banares. Một trong những vị vua nổi tiếng và đầy quyền lực của Scythians trị vì toàn bộ đế quốc này là Kanishka (Ca-nị-sắc-ca) thuộc triều đại Kushan, lên ngôi vào khoảng năm 78 hoặc 144.

 Bằng chứng khắc trên đá lẫn những đồng tiền cổ đều chứng minh rằng nhà vua quy y Phật giáo. Tiền đúc của triều đại Kushan mang hình ảnh đức Phật với câu viết trên đó là “Boddo”.

    Dưới sự bảo trợ của vị vua đầy quyền lực trên, Phật giáo nhanh chóng bành trướng khắp toàn bộ vương quốc Scythians. Một trong nhiều sự kiện quan trọng nhất nối kết với Phật giáo trong triều đại Kanishka là cuộc kiết tập kinh điển tại Kasmir để sưu tập số lượng kinh điển đang lưu hành và biên soạn luận giải về chúng. Việc chọn Kasmir làm địa điểm của cuộc kiết tập kinh điển trong thời đại Kanishka nói lên tầm quan trọng của địa phương này như là một trung tâm của Phật giáo lúc bấy giờ.

    Khi Phật giáo được thiết lập một cách ổn cố tại Gandhàra và Kasmir, các phái đoàn truyền giáo của đạo Phật bắt đầu dùng địa phương này làm bàn đạp để truyền bá sang vùng Trung Á như Parthia (An Tức), Khotan (Vu Điền), Sogdia (Khang Cư), Kuccha (Khâu Tư)...

Trong số này, Khotan và Kuccha là hai trung tâm quan trọng nhất vì chúng toạ lạc tại địa điểm mang tính chiến lược dọc theo những con đường bộ xuyên suốt vùng Trung Á và Viễn Đông.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 04:30:59 am »

(tiếp theo)

    2. Du nhập vào Trung Hoa

    Về phương diện địa lý, người ta có thể từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. “Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc6], nếu đi bằng đường thủy người ta sẽ khởi hành từ hải cảng thuộc tỉnh Quảng Đông, băng qua các ốc đảo ở phía Đông Á, Tế Á rồi đến Ấn Độ. Đường thủy rất tiện cho việc giao thông buôn bán nhưng lúc đầu đường thủy ít được sử dụng, và nó chỉ trở nên phổ biến trong thời đại Đông Tấn.

    Trong khi ấy, nghiên cứu của Kenneth K.S. Ch’en cũng cho thấy rằng Phật giáo có thể từ Kasmir sang Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Vào thế kỷ thứ II và thứ I. T.CN, nếu chọn cuộc du hành bằng đường bộ, người ta thường khởi hành từ phía Bắc Ấn Độ.

Đầu tiên, họ bắt đầu cuộc hành trình đến Bamiyan thuộc Afghanistan và vượt dãy Hindukush đến Balkh. Từ Balkh lộ trình này sẽ dẫn người bộ hành băng qua vùng Pamirs để đến Kashgar (Sớ-lặc). Tại chỗ dừng chân này có rất nhiều tu viện Phật giáo để khách du hành có thể nghỉ ngơi sau một chuyến hành trình dài vượt núi trèo đèo từ Ấn Độ. Khi muốn rời Kashgar, khách bộ hành phải chọn lựa một trong hai con đường đi vào Trung Hoa. Nếu chọn hướng Nam, họ sẽ dọc theo mép rừng thuộc phía Nam và Nam lộ này sẽ đưa khách bộ hành đi qua một loạt các địa phương phồn thịnh, trong số đó Khotan là trung tâm quan trọng hơn hẳn các vùng khác.

Nếu chọn lộ trình hướng Bắc, họ sẽ đi dọc ven rừng phía Bắc của sa mạc Takla-makan. Chuyến hành trình này sẽ băng qua một số nước như Kuccha, Karashar và Turfan.
Tuy nhiên, hai con đường Nam và Bắc này đều đổ về Đôn Hoàng, một tỉnh thuộc biên giới phía Tây Bắc Trung Quốc. Vì vị trí chiến lược như thế, Đôn Hoàng đã trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng nhất.

 Để cung cấp chỗ ở cho Tỷ-kheo và lữ khách đã mệt mỏi sau chuyến du hành, nhiều hang động được khai phá bên cạnh những ngọn đồi; và trong số hang động ấy, giới Tỷ-kheo đến từ các nước Phật giáo của vùng Trung Á đã hội tụ lại với nhau để đàm luận Phật pháp, phiên dịch thánh điển và đẩy mạnh sự phát triển ngành mỹ thuật và điêu khắc Phật giáo.

    Cần lưu ý rằng không chỉ có tu sĩ Phật giáo là những khách bộ hành duy nhất trong tuyến đường trên; thậm chí trước khi các phái đoàn truyền giáo xuất hiện ở đó, giới lái buôn, thương gia và đặc sứ ngoại giao đã để lại nhiều vết tích trên những con đường ấy.

Thật sự, đây là một con đường chính mang tính quốc tế trải qua hàng ngàn năm, bắt đầu với Chang Ch’ien (Trương Khiên), một đặc phái Trung Hoa, được cử đến Scythians (Yueh-chih) vào thế kỷ thứ II. T.CN; tiếp đó là Marco Polo, một du khách thuộc thành phố Venetian, trong thời kỳ Mông Cổ.

Nếu người ta kiểm chứng những vết tích do số du khách ấy để lại thì rõ ràng vùng Trung Á là nơi có thể đã diễn ra nhiều sinh hoạt trong thiên niên kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa giáo hơn là ngày nay.

    Bên cạnh trục lộ chính thuộc vùng Trung Á, còn có hai đường bộ khác; tuy nhiên các Tỷ-kheo hiếm khi đi những con đường này. Con đường thứ nhất băng qua tiểu bang Assam của Ấn, xuyên phía trên của nước Miến Điện dẫn vào địa phận của Yunna ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Đường thứ hai đi qua hai nước Nepal và Tibet. Trong một khoảng thời gian ngắn vào triều đại nhà Đường, giới tu sĩ Trung Quốc đã đi bằng con đường này để đến Ấn Độ.

    Các đoàn thương gia và truyền giáo cũng có thể từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng đường biển. Những hải cảng chính ở Vịnh Bengal là cảng Kaveripattanam nằm tại cửa sông Cauvery, và cảng Tamralipti nằm ở cửa sông Hằng. Vào thời điểm đó, tàu đi Trung Quốc sẽ khởi hành từ Bharukaccha (ngày nay là Broach) nằm ở bờ Tây Ấn Độ. Sau khi rời các cảng trên, tàu ghe có thể xuôi buồm thẳng đến Java, hoặc đi theo bờ biển dọc quanh bán đảo Malay cho đến khi đến Tonkin hoặc Canton thuộc phía Nam Trung Quốc.

Vào đầu nửa thế kỷ thứ VII khi quyền lực của Trung Hoa không còn ảnh hưởng lớn đến vùng Trung Á, ngày càng có nhiều Tỷ-kheo chọn đường biển làm phương tiện chính trong việc qua lại giữa hai nước Ấn-Hoa. Ví dụ, vào năm 671 Nghĩa Tịnh rời Trung Hoa để chiêm bái Ấn Độ bằng đường biển; rồi vào năm 695 ngài cũng trở về lại quê hương bằng con đường này.

    Vào khoảng thế kỷ thứ I T.CN Phật giáo thật sự đã định hình một cách ổn cố ở vùng Trung Á. Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo vượt qua dải sa mạc đầy hiểm nguy để đưa Phật giáo vào các trung tâm văn minh và thịnh vượng của Trung Hoa.

Vào thời điểm đó, đế chế hùng cường và bành trướng Hán Triều đang trị vì đất nước Trung Quốc.

Trong khi ấy, tận miền Tây của đại lộ giao thông thuộc châu Á, dân tộc Scythians đang củng cố lãnh địa của họ; tại đây Phật giáo đã có một nền tảng vững chắc.

Giới lái buôn, thương nhân thường có những chuyến du hành qua lại giữa hai trung tâm văn minh này. Vào đầu kỷ nguyên Thiên chúa giáo, một số đoàn truyền bá Phật giáo cũng hiện diện trong số đó và cuộc giao thoa ấy đã mở ra một trong những bước chuyển động văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 04:34:18 am »

(tiếp theo)

    3. Niên đại du nhập

    Phật giáo du nhập vào Trung Hoa chính xác vào thời điểm nào vẫn còn là một ẩn số. Có rất nhiều giả thuyết liên quan đến sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa trên.

S. Beal[7] cho rằng Phật giáo có thể đã hiện diện ở Trung Quốc vào thời Hán Võ đế (140-86 T.CN), vì vào thời gian này sự giao hảo giữa nhà Hán và lãnh chúa các bộ tộc phía Tây, đặc biệt với vua Mithridates của nước Parthia và nước Yueh-chih, thông qua việc viên tướng Ch’ang-k’ien (Trương Khiên) đem về Trung Quốc một tượng Phật bằng vàng vào năm 126 T.CN.

Theo “Bách Khoa Phật Học11].

    Huyền thoại liên hệ đến việc du nhập của Phật giáo tại Trung Hoa ghi rằng đức Khổng Tử đã biết đến sự hiện diện của đức Phật. Thuyết này được sách “Liệt Tử” ghi lại; nhưng phần lớn các học giả Trung Hoa cho rằng đó chỉ là sự giả mạo ‘ăn gian vì đạo’ của thế kỷ thứ III, hoặc trễ hơn.

    Một giả thuyết khác đề cập rằng đạo Phật thật sự được biết đến ở Trung Hoa vào năm 317. T.CN khi một ảo thuật gia ngoại quốc mang theo dụng cụ, bình bát khất thực viếng thăm triều đình của thái tử Chao của nước Yên và biến tạo ra một cái tháp cao 0,9m  (3 bộ Anh) ở trên đỉnh ngón tay của ông ta. Tuy nhiên, thuyết này cũng không đủ cơ sở để tin, vì vào lúc ấy Phật giáo vẫn chưa ra khỏi ranh giới Ấn Độ.

    Một giả thuyết được nhiều sách sử cố gắng chứng minh để nối kết sự du nhập của đạo Phật ở Trung Hoa với những hoạt động tôn giáo của đại đế Asoka trong khoảng thế kỷ thứ III. T.CN. Người ta nói rằng trong số 84.000 ngôi tháp được vua Asoka xây dựng, một số được phát hiện ở Trung Hoa và xá lợi của đức Phật cũng được tìm thấy trong các tháp ấy.

Cũng vậy, người ta cho rằng vị tu sĩ ngoại quốc tên là ‘Shih-li-fang’ (Thích Lợi Phòng), mang kinh sách Phật giáo đến Trung Quốc vào triều đại của Tần Thủy Hoàng. Theo nguồn tin này, ông vốn là một trong những người truyền giáo được vua Asoka gửi đi. Hai giả thuyết vừa nêu là do giới Phật tử Trung Quốc nêu ra, nhưng bia ký của Asoka cũng như biên niên sử Tích Lan không hề để lại bất cứ dấu tích nào về việc truyền bá Phật giáo của Asoka ở Trung Hoa cả.

Một số học giả Phật giáo cũng nêu thêm một giả thuyết khác; đó là đặc phái viên đời nhà Tiền Hán tên là Trương Khiên du hành xuyên suốt vùng Trung Á đến tận Parthia trong thế kỷ thứ II T.CN, trên đường đi ông này nghe đến đạo Phật, và đưa tin đó về nước. Nhưng thật ra, chỉ có tài liệu Phật giáo của triều đại nhà Đường ghi lại thông tin trên; trong khi ấy, các tài liệu trước đó không có tài liệu nào nhắc đến đức Phật.

    Sau khi đánh thắng Hung Nô ở các tỉnh biên giới phía Bắc Trung Hoa vào năm 120-121 T.CN, tướng Ho ch’u tìm thấy một số tượng hình người được làm bằng vàng. Số tượng ấy từng được xem như là tượng Phật và là những chứng cớ đánh dấu sự khởi nguyên của Phật giáo tại Trung Hoa. Tuy thế, ngày nay người ta chứng minh được rằng các tượng vàng ấy không phải là hình tượng đức Phật, mà là biểu tượng  của một số thần thánh của Hung Nô.

    Nói chung, hiện nay người ta kết luận rằng những nguồn tài liệu liên quan đến niên đại du nhập của Phật giáo được nêu ra ở trên chỉ là huyền sử, không thể tin được. Có lẽ, chúng được giới Phật tử nhiệt thành của đạo Phật thêu dệt nên, bởi vì sau khi Phật giáo đã bắt rễ ở Trung Hoa, hàng tín đồ muốn chứng minh sự hiện hữu lâu đời của Phật giáo ở mảnh đất này.

     Tuy nhiên, giả thuyết được nhiều sử gia Phật giáo quan tâm  trong các thập niên gần đây là câu chuyện liên quan đến Hán Minh Đế (58-75). Theo thuyết này, vào một đêm nọ Minh Đế nằm mộng thấy vị thần sắc vàng bay liệng trong không gian; sáng hôm sau ông kể lại câu chuyện ấy cho quần thần nghe.

Trong số ấy, vị quan tên Phó Nghị trả lời rằng ông ta nghe kể có một vị thánh ở Ấn Độ đã chứng ngộ giải thoát và được tôn xưng là Phật, người có thân thể bằng vàng và có thể bay liệng giữa không trung. Vua đồng ý với giải thích của Phó Nghị và sai một  phái đoàn ra nước ngoài để tìm hiểu về vị thánh này, đồng thời sưu tập giáo lý của ngài. Khi trở về, phái đoàn ấy mang về cuốn kinh “Tứ Thập Nhị Chương”.

Hán Minh Đế ra lệnh xây dựng một ngôi chùa ngoài thành Lạc Dương để tôn trí kinh. Nhưng thuyết này cũng bị giới học giả Âu Mỹ đặt nhiều nghi vấn, vì họ thắc mắc không hiểu Phó Nghị đã nghe tin tức ấy lúc nào, ở đâu và làm thế nào để tin đó đến tai của vị quan này. Vả lại, khoảng thời gian khởi hành và trở về nước của đoàn đặc sứ trên cũng không thống nhất. Nhưng người ta cũng có câu hỏi rằng nếu câu chuyện trên không có thật, nếu Phó Nghị không nghe được sự xuất hiện của đức Phật, chuyện Hán Minh Đế và phái đoàn đặc sứ kia không có thật, vậy chúng khởi sinh từ đâu? Dưới đây là một vài giải thích.

     Vào triều đại nhà Hán, bên cạnh cộng đồng Phật tử ở Lạc Dương còn có một số trung tâm khác của Phật giáo. Một số trong đó có trước cả cộng đồng Lạc Dương. Với ước mong dành được uy tín và thẩm quyền, các thành viên của cộng đồng Phật tử Lạc Dương bịa đặt ra câu chuyện trên để tuyên bố tổ chức của họ có trước những tổ chức Phật giáo khác. Trong thực tế, người ta không dễ dàng gì để có câu trả lời thoả đáng cho vấn đề trên. Luận thuyết  có tính hiệu quả ngược lại với giải thích về sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc thông qua giấc mộng của Hán Minh Đế nằm ở sự kiện Phật giáo thật sự đã có mặt tại đất nước này trước thời điểm câu chuyện được cấu thành.

    Bằng chứng khác khẳng định sự hiện diện của Phật giáo dưới triều đại nhà Hán trước giấc mộng của Minh Đế là tiểu sử của Sở Anh Vương. Anh Vương là anh em cùng cha khác mẹ với Hán Minh Đế, được phong hầu năm 39 và phong vương vào năm 41.

Lúc đầu, Anh Vương cư trú tại kinh đô nhà Hán, nhưng vào năm 52 chuyển về sống tại Bành Thành, kinh thành nước Sở, nằm phía Bắc của Kiang-su. Tại đây Sở Anh Vương tổ chức một đại tiệc chay để cúng dường cho các Tỷ-kheo và cư sĩ Phật tử sống tại Bành Thành để sám hối những nghiệp xấu đã làm trong quá khứ. Chính việc ấy là bằng chứng rõ ràng về sự hiện hữu của một cộng đồng Phật giáo tại Trung Hoa vào năm 65.

Điều quan trọng ở đây là cộng đồng này bao gồm cả tu sĩ lẫn cư sĩ, không phải trong thành Lạc Dương mà là ở một vùng xa xôi hẻo lánh. Tuy chúng ta không biết giới tu sĩ là người ngoại quốc hay Trung Hoa, nhưng hàng cư  sĩ đích thực là dân bản xứ. 

Thú vị hơn nữa là vào thời điểm ấy người ta đã ăn chay, và chắc chắn Sở Anh Vương đã quy y Phật giáo. Sự kiện này cũng chứng tỏ rằng các gia đình hoàng gia và quan chức hẳn cũng là Phật tử.  Sự hiện diện của hàng ngũ Tỷ-kheo và cư sĩ Phật tử tại địa phương này cho thấy rằng cộng đồng Phật giáo đã hiện diện trước năm 65; nghĩa là Phật giáo du nhập vào trước đó khá lâu, có thể vào những năm đầu công nguyên.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 04:39:49 am »

(tiếp theo)

    4. Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Lý Hoặc Luận của Mâu Tử


    Theo giải thích về giấc mộng của Hán Minh Đế của tập “Mâu Tử Lý Hoặc Luận”, đoàn đặc sứ Trung Hoa đã đến Scythians và sao chép bản kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đem về nước.

Do thế, người ta cho rằng kinh này là bản kinh có sớm nhất trong văn điển Phật giáo Trung Quốc. Theo nhiều nguồn sử liệu, Kàśyapa Mantaga (Ca-diếp Ma-đằng) và Dharmarakśa (Trúc-pháp-lan) người Ấn Độ là hai dịch giả đầu tiên của bộ kinh trên.

Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ và nội dung của kinh. Một số người cho rằng “Tứ Thập Nhị Chương” thật sự xuất hiện vào thế kỷ thứ IV hoặc thứ V.Trong khi ấy, một số ý kiến khác lại cho rằng “Tứ Thập Nhị Chương” không phải là một bản kinh, mà chỉ là sự biên tập những điểm căn bản trong giáo lý nguyên thủy rồi được dịch ra Hoa ngữ, vì nội dung của kinh cho thấy rằng nó là bản tóm tắt của nhiều tác phẩm khác nhau.

    Mặc dầu còn nhiều vấn đề khúc mắc liên quan đến tác phẩm trên chưa được giải quyết, giới học giả hiện nay hầu như đều tin rằng, trong một hình thức nào đó, kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đã có mặt trong thời đại Hậu Hán. Chứng cứ rõ ràng nhất đối với niềm tin trên là cuốn “Hồi Ký” của Hsiang K’ai được viết trong năm 166, trong ấy có nhiều đoạn kinh của “Tứ Thập Nhị Chương” được Hsiang K’ai trích dẫn để giải thích mối quan hệ giữa Phật giáo và Lão giáo[12]. Điều ấy cho thấy một số đoạn của kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đã lưu hành trước năm 166 khi Hsiang K’ai biên soạn cuốn “Hồi Ký”. Chúng là những dấu vết sớm nhất về nội dung của bản kinh trên. Một cách tình cờ, Hsiang K’ai là người sinh ở phía Đông Trung Quốc, nơi Phật giáo thật sự có mặt vào năm 65. Điều này cũng hàm ý rằng kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đã phổ biến rộng rãi ở địa phương đó. Cần lưu ý rằng tập “Hồi Ký” của Hsiang K’ai khẳng định một cách chắc chắn rằng đạo Phật Ấn Độ được quần chúng Lạc Dương tu tập và nhiều gia đình hoàng gia cũng là Phật tử.

    Trong thực tế, bản kinh đầu tiên này của văn điển Phật giáo Trung Hoa cũng trải qua nhiều lần được bổ sung thêm bớt trong lịch sử lâu dài của nó. Vì vậy, bản gốc được lưu giữ trong kinh tạng Trung Hoa có rất nhiều chỗ khác nhau với bản của triều đại nhà Đường. Cũng vậy, từ vựng và nhiều đoạn trong bản nhà Đường không tìm thấy trong bản của nhà Tống. Đặc biệt, bản của Thiền Tông thuộc đời Đường là sai khác nhiều nhất, trong ấy những thuật ngữ như bồ đề (bodhi), hay bồ đề tâm (bodhicitta)... bị thay đổi hoàn toàn, nhưng số thuật ngữ ấy lại xuất hiện trong bản nhà Tống.

    Một tác phẩm quan trọng khác chứa đựng nhiều dữ kiện có liên quan đến những hoạt động ban đầu của Phật giáo tại Trung Hoa là cuốn “Mâu Tử Lý Hoặc Luận”. Như trong trường hợp của kinh “Tứ Thập Nhị Chương”, nguồn gốc và tính xác thực của “Lý Hoặc Luận” cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

    Có ý kiến cho rằng Mâu Tử tên thật là Dung, hiệu Tử Bác, người gốc Thương Ngô, sinh khoảng năm 160. Ông viết tập Lý Hoặc Luận tại đất Giao Chỉ vào cuối thế kỷ thứ II[13]. Tuy nhiên giả thuyết này không được sự đồng tình của nhiều nhà sử học, ví dụ Henri Maspero, Tokiwa Daijo, Zurcher, Kenneth. K.S. Ch’en v.v...

    Học giả Lê Mạnh Thát cho rằng đầu tiên “Mâu Tử Lý Hoặc Luận” được ghi lại trong “Pháp Luận” do Lục Trừng (425-494) biên soạn theo lệnh của Minh Đế nhà Tống vào khoảng 465-470.

Tuy nhiên, “Pháp Luận” cũng như giả thuyết trên ít được giới học giả Đông Tây nhắc đến[14].Theo Kenneth K.S. Ch’en, bản “Lý Hoặc Luận” được lưu giữ trong “Hoằng Minh Tập” do Tăng Hựu (Seng-yu) biên soạn vào năm 518.[15] 

Bản này chứa đựng một lời tựa với những dữ kiện lịch sử chi tiết và dựa vào nó mà Paul Pelliot và Henri Maspero rút ra niên đại ra đời của nó, từ 225-250, khi đề cập đến tính xác thực, đáng tin của lời tựa đó; bởi vì nội dung của tác phẩm này chứa đựng nhiều đoạn giống với nhiều phần của tiểu sử đức Phật được phiên dịch vào năm 222-228.

Về sau, Fukui Kojun cũng đồng ý với Maspero khi ông kết luận rằng “Lý Hoặc Luận” được trước tác vào năm 250. Trong khi đó, một vài học giả như Liang Ch’i-chao và Matsumoto Bunzaburò lại chủ trương rằng thời điểm biên soạn không nhất thiết được xác định bởi nội dung của lời tựa, mà bởi bản chất của tác phẩm.

Theo họ, “Lý Hoặc Luận” có lẽ được biên soạn vào thế kỷ thứ V. Kenneth K.S. Ch’en cho rằng ý kiến của hai nhóm trên đều có phần đúng, nhưng cũng không hoàn toàn chính xác, vì theo ông “Lý Hoặc Luận” không phải là một cuốn sách được biên soạn một lần mà nó được hình thành trong một quá trình dài, trong ấy những phần được biên soạn sớm nhất có lẽ vào cuối triều đại nhà Hán rồi được bổ túc dần dần.

Lời tựa của tập sách này cũng không có vấn đề vì tất cả dữ kiện trong ấy đều chỉ đến giai đoạn cuối của Hán triều. Vả lại, thuật ngữ, sự diễn đạt, và cách nói bóng gió thịnh hành trong thời Hậu Hán cũng xuất hiện trong đó. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng “Lý Hoặc Luận” cũng chứa đựng nhiều yếu tố chỉ xuất hiện vào các đời sau, có lẽ thuộc thế kỷ thứ IV hoặc thứ V.

    Lời tựa của “Lý Hoặc Luận” đề cập đến một sự kiện rất quan trọng liên quan đến nghiên cứu của chúng ta; đó là có một cộng đồng Phật giáo rất phồn thịnh đã tồn tại ở vùng Nam Trung Hoa trong thời kỳ nhà Hán, bên cạnh các trung tâm Phật giáo ở Đông Trung Quốc và Lạc Dương, mặc dù nguồn gốc và các giai đoạn phát triển ban đầu của tổ chức này vẫn còn bí ẩn.

Theo một vài học gi  “Mâu Tử Lý Hoặc Luận” là một tác phẩm được biên soạn theo hình thức vấn đáp, bao gồm các luận lý minh họa lý do tác giả quy ngưỡng Phật giáo, trình bày và giải thích một số ý niệm quan trọng liên quan đến tiểu sử đức Phật, đến các vấn đề giáo lý, lý tưởng cũng như giới luật của đời sống xuất gia. Một phần chính nội dung tác phẩm nhắm đến phản bác các luận điệu chống phá và bài khích của Khổng giáo và Lão giáo đối với Phật giáo, đặc biệt liên quan đến quan niệm đạo đức gia đình và xã hội của người Trung Hoa, như vấn đề hiếu đạo, chuyện sống chết, luân hồi sinh tử, vv...

    “Lý Hoặc Luậncó được một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa, bởi vì nó không chỉ cung cấp nhiều thông tin quý giá liên quan đến quá trình du nhập và hình thành của Phật giáo tại Trung Quốc, mà vì nó còn là cuốn sách Phật học đầu tiên do chính người Trung Hoa biên soạn. Qua tác phẩm này chúng ta biết được tình trạng tôn giáo và xã hội thời bấy giờ; phương cách để Phật giáo có thể tồn tại và phát triển tại vùng đất thật sự văn minh không chỉ về lãnh vực vật chất mà cả phương diện tinh thần.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Tám 10, 2011, 04:36:15 am »

(tiếp theo)

    5. Những trung tâm Phật giáo

    Nhiều nguồn sử liệu cho thấy rằng ít nhất có ba trung tâm Phật giáo hoạt động dưới thời nhà Hán. Trung tâm Bành Thành thuộc vùng hạ lưu Dương Tử ở phía Đông Trung Hoa; trung tâm Lạc Dương tại kinh đô nhà Hán, và trung tâm Luy Lâu (Tonkin) thuộc địa phận Giao Châu (Việt Nam ngày nay) về phía Nam Trung Hoa.

     Trung tâm Luy Lâu ra đời là nhờ vào giới tăng sĩ đến bằng đường thủy. Trong khi ấy, Bành Thành và Lạc Dương là hai trung tâm ra đời do sự hiện diện của các phái đoàn truyền giáo bằng đường bộ. Tuy nhiên, người ta nói rằng có mối liên kết giữa các trung tâm Phật giáo phía Đông và phía Nam, vì từ Tonkin đến Canton (Nam Hải) giới tu sĩ có thể đi bằng đường thủy; rồi từ Canton họ đi về phía Bắc, vượt qua dãy núi ở đó và tiến vào vùng hạ lưu của thung lũng Dương Tử [17].

    Sạ Dung (Chai Jung) là nhân vật có liên quan nhiều đến trung tâm Bành Thành. Theo Hán sử, vào thập niên cuối của thế kỷ II, Sạ Dung, người Đơn Dương, được cử làm quan giám lương ở miền hạ lưu Dương Tử. Ông ta tạo phản và chiếm giữ lương thực để dùng vào mục đích riêng.

Sau khi hùng cứ một phương, Sạ Dung cho xây một ngôi chùa rất lớn và đúc tạc một bức tượng Phật bằng đồng mạ vàng để an trí trong đó. Trong khuôn viên ngôi chùa, một toà nhà có sức chứa khoảng 3.000 người cũng được xây dựng. Sau khi công trình hoàn tất, Sạ Dung tổ chức tụng kinh, thuyết pháp và lễ tắm Phật rất trọng thể.

Ông thông báo đến Phật tử các vùng lân cận và mời họ đến nghe thuyết giảng kinh. Người ta nói rằng hơn 5.000 người đã tham gia lễ hội đó. Khách thập phương được phục vụ rượu và thức ăn. Do vì phạm vi của tu viện này không thể dung chứa số lượng người quá đông như thế nên thức ăn được bày biện lộ thiên, dọc theo đường cái để người dự lễ hội có thể  ăn uống no đủ. Đoạn sử liệu này thật sự rất có ý nghĩa vì nó không những là sử liệu đầu tiên đề cập đến hình tượng đức Phật trong tài liệu sử Trung Quốc, mà còn minh họa ảnh hưởng của Phật giáo đối với quần chúng.

    Tuy nhiên, Lạc Dương mới là trung tâm Phật giáo quan trọng nhất, vì sự ảnh hưởng của nó thâm nhập cả đến triều đình và hoàng tộc. Cuốn “Hồi Ký” của Hsiang K’ai chỉ rõ rằng hình tượng đức Phật được giới hoàng tộc triều đình thờ phụng ngay trong phạm vi cung điện nhà vua.

Theo tài liệu trên, vua Hoàn Đế đã tôn trí đức Phật và Hoàng Lão chung một bàn thờ. Vào thời điểm này, tại Lạc Dương có hai ngôi chùa: Bạch Mã và Hứa Xương. Sự khởi nguyên của cộng đồng Phật giáo tại Lạc Dương có liên quan đến chùa Hứa Xương, vì chùa Hứa Xương mang tên của người anh em họ hoàng tử Ying.

Nguyên do là vì sau khi hoàng tử Ying tự tử vào năm 71, một số thuộc hạ của ông là Phật tử đã chuyển về thủ đô và xin lưu trú tại nhà của Hứa Xương, và vị này đã tặng một phần gia sản của mình để làm chỗ ở cho số người trên. Về sau, trú xứ ấy được xây dựng thành chùa và mang tên người cúng dường.

Sự nối kết đó giữa cộng đồng Phật giáo tại Hứa Xương và Bành Thành cũng minh họa đôi nét về việc vua Hoàn Đế thờ Hoàng Lão và Thích Ca chung một bàn thờ.

Cần lưu ý rằng nhóm thuộc hạ của hoàng tử Ying ở Bành Thành trước khi theo Phật giáo có mối quan hệ mật thiết với đạo Lão; do vậy họ cũng mang theo một ít ảnh hưởng Lão giáo đến Lạc Dương.

Trên cơ sở này người ta giả thuyết rằng cộng đồng Phật giáo ở Lạc Dương do số Phật tử từ trung tâm Bành Thành đến và thành lập trong khoảng 25 năm cuối của thế kỷ thứ I.[18]



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, byphuong, dieunha, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Tám 10, 2011, 04:43:58 am »

(tiếp theo)

MỘT SỐ  ĐẶC ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TRUNG HOA   và    ẤN ĐỘ

*Ngôn ngữ
   

TH :- Không có biến cách, ngôn ngữ ký hiệu, và [trong hình thái chữ viết] phần lớn là đơn âm; không có hệ thống văn phạm
   

ÂĐ:- Quá nhiều biến cách, theo thứ tự chữ cái, nhiều âm tiết, hệ thống văn phạm chuẩn mực và chi li

*Hình thức ngôn ngữ:-

 TH:- Ngắn gọn, ẩn dụ từ thiên nhiên thân thuộc, phạm trù tưởng tượng có hạn định, cụ thể
   

ÂĐ:-Lan man, không mạch lạc, ngoa dụ, trí tưởng tượng không có giới hạn, có khuynh hướng trừu tượng

*Tâm lý

TH :-cá nhân
   

ÂĐ:- Không có thiên hướng phân tích con người qua các thành tố cấu tạo nó
   


*Xã hội

   

TH:- Gia đình, ưu thế của quyền lực thế tục, mưu cầu xã hội tốt đẹp
   

ÂĐ:- Chủ nghĩa cá nhân, ưu thế của sức mạnh tinh thần, mưu cầu lợi ích cá nhân

*Thời gian và không gian
   

TH :-Hữu hạn, cuộc đời hiện tại, định hướng theo thế hệ
   

ÂĐ:- Vô hạn, định hướng theo số kiếp

    Bên cạnh ấy, giới Phật tử truyền giáo hoàn toàn không biết tiếng Trung Hoa và số tân tín đồ của đạo Phật cũng không biết ngôn ngữ nước ngoài. Đây là khó khăn quan trọng thứ hai mà các phái đoàn truyền giáo phải đối mặt.

    Để tìm ra giải pháp làm cầu nối cho những khoảng cách ngôn ngữ và tư tưởng của hai nền văn minh lớn nhất châu Á này, các phái đoàn Phật giáo phải vận dụng nhiều bước trong quá trình giới thiệu Phật giáo vào Trung Hoa bằng một số nét căn bản được trình bày dưới đây.

Rõ ràng, những bước đi này đều phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, tín ngưỡng, tri thức và tâm lý quần chúng đương thời.

Nói khác đi, đây chỉ là giai đoạn “bản địa hóa” hay “Trung Quốc hóa” Phật giáo để tìm kiếm sự chấp nhận và ủng hộ của quần chúng địa phương, từ đó chuẩn bị cơ sở cho những bước đi mang tính độc lập về giáo lý cũng như tổ chức đối với sự hiện hữu của Phật giáo.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, byphuong, dieunha, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Tám 10, 2011, 04:47:16 am »

(tiếp theo)

    1. Công tác phiên dịch

    Một trong những hoạt động của Phật giáo vào thời kỳ đầu ở Trung Quốc là công tác phiên dịch. Danh tăng ngoại quốc nổi tiếng nhất, sống và làm việc tại trung tâm dịch thuật do tu sĩ ngoại quốc thành lập tại kinh đô Lạc Dương, là An Thế Cao, người nước Parthia (An Tức). Trước khi xuất gia, An Thế Cao, phiên âm của chữ Arsakas, là hoàng tử của An Tức. Ngài học cao biết rộng và được đồn là hiểu được tiếng chim và động vật. Ngài rất thành thạo về y học và thiên văn học.

An Thế Cao được thừa kế ngôi vị sau khi vua cha băng hà, nhưng ngài nhường ngai vàng lại cho người chú, sau đó xuất gia tu học. Đến Trung Hoa trong thời Hoàn Đế (khoảng năm 147 hoặc 148), An Thế Cao xúc tiến việc phiên dịch và truyền bá đạo Phật hơn 20 năm.

Có tài liệu ghi rằng[19] tổng số kinh do ngài dịch sang Hán ngữ là 34 bộ, gồm 40 cuốn; nhưng hiện nay trong kinh tạng chỉ còn ghi lại một số kinh do ngài dịch đều thuộc Nam tạng, như “Tứ Đế Kinh”, “Chuyển Pháp Luân Kinh”, v.v...

Tuy nhiên, người ta cho rằng nghiên cứu về thành quả phiên dịch của ngài là một công việc phức tạp. “Xuất Tam Tạng Ký Tập” do Tăng Hựu biên soạn trong năm 518 liệt kê tổng cộng là 35 tiêu đề; “Bảng Mục Lục” đời Tùy của  Phí Trường Phòng (Fei Ch’ang fang) nâng lên tới 166 tác phẩm; trong khi ấy “Khai Nguyên Lục” (Catalogue of the Kai yuan Era) vào năm 73 lại ghi 90 tác phẩm.

Sự chênh lệch về số lượng trên rõ ràng do đời sau tạo nên, và chắc chắn rằng trong khoảng 20 năm An Thế Cao không thể phiên dịch một số lượng khổng lồ kinh sách như thế, nhưng có thể do tập thể của ngài thực hiện. Cần lưu ý rằng Ch’en Hui, Han Lin và P’i Yeh, người Trung Quốc, là đệ tử tại gia của An Thế Cao.

Bị cuốn hút bởi tinh thần giáo lý mới mẻ của tôn giáo ngoại quốc, họ trở thành những tín đồ nhiệt thành của Phật giáo, tự nguyện làm phụ tá hoặc người sao chép, biên tập các kinh sách đã được phiên dịch.

    Kinh sách do An Thế Cao phiên dịch chủ yếu tập trung vào các chủ đề thiền định (dhyàna) như hành thiền và rèn luyện sự tập trung, chú ý, kỹ thuật kiểm soát hơi thở, v.v... Bên cạnh ấy, ngài cũng có khuynh hướng phiên dịch kinh sách liên quan đến các loại giáo lý Tứ Đế, Bát Thánh Đạo... Dù thế nào đi nữa, An Thế Cao cũng được xem là một trong những nhà phiên dịch đầu tiên và danh tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc.

    Cộng sự của ngài còn có một vài người ngoại quốc như An Huyền, Chi-ca-lâu-sấm, v.v... An Huyền thật ra là một thương nhân nước Parthia, nhưng khi đến Lạc Dương trở nên ham thích nghiên cứu Phật giáo. An Huyền tham gia tổ chức phiên dịch của An Thế Cao và dành trọn thời gian còn lại của cuộc đời mình để xiển dương Phật pháp. Trong khi ấy, Chi-ca-lâu-sấm, người nước Scythians[20], đến

    Lạc Dương năm 167, cũng sống và làm việc tại trung tâm dịch thuật. Thiên hướng của ngài có phần khác với An Thế Cao, vì Chi-ca-lâu-sấm chú trọng đến kinh Bát-nhã ba-la-mật (Prajnàparamità-sutra). Ngài thâu nhận hai người Trung Quốc[21] làm đệ tử tại gia và đồng thời là biên tập viên.

 Trong thời gian này còn có một số tăng nhân ngoại quốc cùng làm việc tại trung tâm dịch thuật với An Thế Cao là Khang Mạnh Tường (K’ang Meng-hsiang) và Khang Cự (K’ang Chu) người nước Sogdian (Khang Cư), Trúc Phật Điều (Chu-fo-shuo), người Ấn Độ...

 Kết quả của công tác phiên dịch do trung tâm dịch thuật này đem lại đã đặt nền tảng vững chắc để Phật giáo có thể hội nhập và phát triển tại Trung Hoa.

Theo thống kê của một nguồn tài liệu[22], trong khoảng 160 năm thời kỳ Hậu Hán (60-220), số lượng dịch giả sống và làm việc trong thời kỳ ấy là 13 vị, đề mục kinh sách được phiên dịch vào khoảng 409 đơn vị, nhưng phần lớn đều đã thất lạc.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, byphuong, dieunha, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Tám 10, 2011, 04:51:27 am »

(tiếp theo)

    Theo “Xuất Tam Bảo Ký Tập”, danh sách các dịch giả và dịch phẩm từ lúc du nhập đến thời đại Tây Tấn được liệt kê như sau:

    THỜI HẬU HÁN

    - An Thế Cao: 34 danh mục gồm trong 40 cuộn (trong đó có 02 danh mục của 02 cuộn bị thất lạc).

    - Trúc Phật Sóc: 01 danh mục, gồm 02 cuộn.

    - Lokaksema: 24 danh mục, gồm trong 27 cuộn (năm danh mục đã bị thất lạc).

    - Nghiêm Phật Điều và An Huyền: 02 danh mục gồm trong 02 cuộn (tuy nhiên, 01 danh mục trong ấy, tức Thập Tuệ (Ten Wisdoms), thật ra do Nghiêm Phật Điều dịch một mình nhưng vẫn chưa hoàn tất).

     
    GIAI ĐOẠN BA VƯƠNG TRIỀU

    a/. Ngô

    - Vighna, Trúc Luật Đường, Chi Khiêm: 01 danh mục, gồm trong 02 cuộn.

    - Chi Khiêm: 36 danh mục, gồm trong 48 cuộn (trong đó 07 danh mục đã bị thất lạc).

    - Khương Tăng Hội: 02 danh mục, gồm trong 04 cuộn.

    b/. Ngụy

    - Bạch Đình: 03 danh mục, gồm trong 04 cuộn (toàn bộ đã bị thất lạc).

    -    Châu Sĩ Hành: 01 danh mục, gồm trong 20 cuộn...

     
    THỜI TÂY TẤN

    - Dharmaraksa: 95 danh mục, gồm trong 206 cuộn hiện còn, 64 danh mục, gồm trong 106 cuộn đã thất lạc; tổng cộng 159 danh mục, gồm 312 cuộn.

    - Nhiếp Thừa Viễn: 01 danh mục, gồm trong 02 cuộn (tuy nhiên, chúng chỉ là phần duyệt sửa lại từ bản dịch của Dharmaraksa).

    - An Văn Tuệ và Bạch Nguyên Tín: 01 danh mục, gồm trong 02 cuộn (thật ra do Dharmaraksa đọc dịch và hai vị này ghi chép lại).

    - Trúc Xoa Lan: 02 danh mục, gồm trong 05 cuộn (thật ra 03 danh mục bao gồm trong 25 cuộn nếu người ta tính cả ‘fang-kuang po-jo dài 20 cuộn...).

    - Bạch Pháp Tổ: 01 danh mục, gồm trong 01 cuộn (bị thất lạc).

    - Pháp Tụ và Pháp Lợi: 04 danh mục, gồm trong 12 cuộn ...

    Cần lưu ý rằng dường như người Trung Hoa không được phép xuất gia kể từ lúc Phật giáo du nhập cho đến tận thế kỷ thứ IV. Cơ sở chủ yếu của vấn đề này là cuốn “Hồi Ký” của Vương Độ năm 355.

Theo tác phẩm ấy, mặc dù Phật giáo được truyền đến Trung Hoa vào triều đại nhà Hán, vua chúa nhà Hán cũng như nhà Ngụy chỉ cho phép người ngoại quốc xây cất tu viện, tịnh xá và xuất gia tu hành. Tuy nhiên, đến triều đại Hậu Triệu của Thạch Hổ (Shih-hu -334-349) luật ấy bị bãi bỏ, vì trước khi tiến vào Trung Quốc, Thạch Hổ cũng là người ngoại bang và ông tuyên bố rằng không có lý do gì để cấm người Trung Quốc thờ phụng thần thánh của tôn giáo ngoại quốc cũng như trở thành tu sĩ của các tôn giáo ấy.

    Trái với “Hồi Ký” của Vương Độ, có một vài bằng chứng cho thấy, trong triều đại nhà Hán, ít nhất đã có một người Trung Hoa tên là Liu Chun, hầu tước thành Lạc Dương, trở thành Tỷ-kheo dưới thời Minh Đế (56-75), mặc dầu người ta không thể chứng minh được rằng vào thời điểm ấy có đủ túc số Tỷ-kheo là mười người để tổ chức nghi thức truyền giới hay còn gọi là “Pháp Thập Nhân Thọ” cho Liu Chun.

Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ II, số lượng Tỷ-kheo ở Lạc Dương khá đông. Vả lại, bản luật Pàtimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) cũng đã được lưu hành tại đây, ít nhất là bằng khẩu truyền nếu như không nói là chữ viết.

Vào cuối thế kỷ thứ II, người Trung Quốc không những xuất hiện để giúp đỡ tăng nhân ngoại quốc phiên dịch, mà còn trực tiếp tham gia công tác phiên dịch kinh sách.

Điển hình cho giới tu sĩ Phật tử Trung Quốc thời điểm này là Sa-môn Nghiêm Phật Điều, đệ tử của An Thế Cao. Nghiêm Phật Điều người đất Lâm Hoài, tỉnh An Huy, có thể được xem là vị Tỷ-kheo Trung Hoa đầu tiên hiểu được kinh sách viết bằng Phạn ngữ và trực tiếp tham gia công tác phiên dịch kinh sách.

 Ngài cũng có biên soạn tác phẩm với tên gọi “Thập Giới Sa Di”. Tuy cuốn này đã thất lạc nhưng lời tựa của nó vẫn còn được lưu giữ.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, byphuong, dieunha, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Tám 10, 2011, 04:57:39 am »

(tiếp theo)

    2. Bản chất giáo lý

    Nội dung chính của giáo lý Phật giáo trong thời kỳ đầu mới du nhập là thuyết nghiệp báo luân hồi và linh hồn bất tử. Trong giai đoạn đầu, người Trung Hoa không thể hiểu được việc luân hồi tái sinh mà không có một linh hồn bất tử nối kết các đời sống lại với nhau.

 Dù rằng tư tưởng linh hồn bất tử rõ ràng là trái ngược với giáo lý duyên sinh vô ngã của Phật giáo, nhưng để vượt qua trở lực này và để quần chúng có thể chấp nhận đạo Phật, giới tu sĩ phải chuyển tải khái niệm thần linh hay linh hồn bất tử chuyển sinh từ kiếp này sang kiếp khác vào trong giáo lý. Họ giải thích rằng con người bao gồm thân thể vật lý và một linh hồn.

Thân thể hình thành trong lúc ra đời và hoại diệt vào lúc chết, nhưng linh hồn thì thường hằng và bất hoại. Do ảnh hưởng của nghiệp, linh hồn này sẽ mãi mãi lưu chuyển trong vòng luân hồi sinh tử. Thuyết này được tập “Hậu Hán Thư” ghi lại rõ ràng.[23] Cần lưu ý rằng quan điểm vừa nêu của Phật giáo rất phù hợp với tín ngưỡng thịnh hành của đạo Lão thời Hậu Hán. Tín đồ của Khổng giáo cũng tin tưởng như thế.

    Về phương diện tu dưỡng, giáo lý Phật giáo thời Hậu Hán nhấn mạnh việc đè nén và kềm chế dục vọng. Kinh Tứ Thập Nhị Chương thật sự nhấn mạnh đến tội lỗi của dục vọng không được kềm chế: “Ai đắm chìm trong dục vọng thì giống như người cầm đuốc chạy ngược gió; tay họ chắc chắn bị bỏng... Từ dục vọng khởi sinh lo lắng, và lo lắng gây ra sợ hãi.

Tránh xa dục vọng, lo âu biến mất và sợ hãi cũng không còn tồn tại”. Tinh thần của giáo lý này tương đối mới mẻ với tư duy của người Trung Hoa, vì nó chưa được các tôn giáo bản địa đề cập đến. Phương pháp kềm chế dục vọng được Phật giáo giới thiệu là thiền định và giữ gìn đức hạnh qua việc tuân giữ 250 giới của giới bổn Pàtimokkha. Vì vậy, vào thời kỳ này nhiều kinh sách liên quan đến chủ đề trên được phiên dịch và truyền bá rộng rãi giữa quần chúng. Phổ biến và có ảnh hưởng nhiều nhất là kinh An Ban Thủ Ý do An Thế Cao dịch.

    Bên cạnh nhấn mạnh việc đè nén dục vọng, giới Phật giáo còn chú tâm đến giáo lý bố thí và từ bi. Hàng tín đồ tại gia được dạy rằng họ có thể đoạn trừ lòng tham dục bằng việc cúng dường, bố thí tài sản vật chất cho cộng đồng tu sĩ. Họ có thể đoạn trừ ác tâm, phát triển từ tâm và thiện tâm qua việc nuôi dưỡng lòng thương tưởng đồng loại. Người ta cũng tin rằng đức Phật có khả năng cứu độ tất cả chúng sinh khổ đau.

Thờ phụng hình tượng Ngài có thể giúp tín đồ đạt được sự gia hộ. Điều đó giải thích cho việc Hoàn Đế xây dựng đền thờ ngay trong hoàng cung để tôn thờ đức Phật.

    3. Phối hợp với truyền thống và tôn giáo bản địa


    Trong quá trình truyền bá giáo lý đến các vùng văn hoá khác nhau, phần lớn các tôn giáo thường gặp phải sự kỳ thị và sức đối kháng của tư tưởng truyền thống và tôn giáo bản địa. Phật giáo cũng không ngoại lệ khi du nhập vào Trung Hoa.

Hai trở lực chính mà Phật giáo phải đối mặt ở vùng đất thật sự văn minh này là Khổng giáo và Lão giáo. Nói khác đi, để được quần chúng tiếp thu và ủng hộ, Phật giáo phải tìm ra tiếng nói hòa hợp với hai nguồn tư tưởng chủ đạo trên.

 Đây là chủ đề mà giới triết gia Phật giáo phải vận dụng để đạt được sự thành công trong tiến trình xây dựng thành trì cho tôn giáo này. Một số yếu tố sau đây được họ vạch rõ nhằm tạo ra tiếng nói hoà hợp đối với Lão giáo[24] sẽ minh họa cho nỗ lực trên.

    1/. Đối với nghi lễ quần chúng, cả hai hệ thống đều chủ trương thờ cúng nhưng không sát sanh để cúng tế.

    2/. Trong việc tu dưỡng thân tâm, Lão và Phật đều nhấn mạnh đến thiền định, rèn luyện sự tập trung, kiểm soát hơi thở, kiêng cữ một số loại thức ăn.

    3/. Nội dung chính của giáo lý Phật giáo nhắm đến việc thanh tịnh tư duy và hành động, kềm chế dục vọng, và tránh xa cuộc sống xa xỉ. Mặc dù có một số đạo sĩ tu luyện ‘thuật trường sinh’, nhưng phần lớn ưa thích giáo lý Phật giáo trong vấn đề kiểm soát dục vọng. Phật giáo nói đến linh hồn bất tử và tái sanh về cõi trời Phạm Thiên, Lão giáo tin vào thế giới bất tử ở bên kia biển Đông hoặc kiếm tìm sự bất tử ở cõi trời Đại Thanh Tịnh...

    4/.Một yếu tố quan trọng khác liên kết hai tôn giáo lại với nhau là công tác dịch thuật. Trong tiến trình này, những người phụ tá hoặc biên chép cho các danh tăng truyền đạo thời ban sơ được chọn lựa ra từ tín đồ đạo Lão. Điều này có thể nhận thấy qua việc chọn lựa kinh sách để dịch và thuật ngữ được dùng.

Đây là lý do giải thích tại sao phần lớn các dịch phẩm được chọn dịch đều tập trung vào một số chủ đề có liên quan đến Lão giáo và sở thích của người Trung Hoa thời bấy giờ như rèn luyện sự chú ý, kiểm soát hơi thở, kềm chế dục vọng v.v...; thay vì các giáo lý trọng tâm của Phật giáo như Tứ Đế, Duyên Khởi, Niết-bàn,Vô Ngã...

Người ta tin rằng những người phụ tá và biên tập trong công tác dịch thuật, vốn bị ảnh hưởng Lão giáo, là những người chọn lựa nội dung kinh sách để truyền bá, chứ không phải các Phật tử làm việc trên, vì các chủ đề ấy đáp ứng đúng nguyện vọng của họ. Cũng có thể rằng sở dĩ số kinh điển mang nội dung trên được giới Tỷ-kheo truyền giáo chọn để dịch và phổ biến vì chúng có thể làm cho nhân dân dễ dàng tiếp cận và đón nhận giáo lý của một tôn giáo ngoại quốc.

Trong cái nhìn của người Hán, Phật giáo chỉ là một hình thức khác của Lão giáo, vì giáo lý và sự thực hành của nó tương tự Đạo giáo. Phật giáo là một phương thức mới để đạt được bất tử. Họ cảm thấy rằng Niết-bàn của Phật giáo không khác với giải thoát của Lão Tử, A-la-hán thì giống với Chân Nhân hay Người Thanh Tịnh...

    Trong cái nhìn của người Trung Quốc thời nhà Hán, đức Phật có mối quan hệ chặt chẽ với thần thánh của đạo Lão. Trải qua hằng trăm năm, Phật giáo và Lão giáo đan quyện vào nhau khiến người ta thường suy nghĩ rằng Phật giáo chỉ là phần phát triển của Lão giáo.

Do bởi một số yếu tố có vẻ giống nhau rõ ràng như thế, hai hệ thống tôn giáo này đan quyện vào nhau hằng trăm năm. Điều này lý giải nguyên nhân tại sao trong nhiều thế kỷ Phật giáo không hiện ra như là một tôn giáo độc lập. Tuy nhiên, đối với Phật giáo sự nối kết này là một điểm thuận lợi vì nó có thể có được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Bằng cách xiển dương Phật giáo như là một khía cạnh của Lão giáo, giới Phật tử tránh được sự thù nghịch, đối kháng của người bản địa, và có thể vượt qua những thành kiến cực đoan đối với tín ngưỡng ngoại lai.

    Một nỗ lực trong việc nối kết Lão-Phật lại với nhau để quần chúng nhân dân chấp nhận tôn giáo ngoại quốc là cuốn “Hoá Hồ Kinh
“Mâu Tử Lý Hoặc Luận” là tác phẩm tiêu biểu đầu tiên chống lại giáo lý Lão Trang và  học thuyết thần bí. Điều này cũng có nghĩa rằng từ đây Phật giáo thực sự là một thực thể riêng biệt, tồn tại song hành với các tôn giáo bản địa tại Trung Hoa.



     
CHÚ  THÍCH

    [1] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, Princeton University Press, USA, 1964, tr. 16-18.

    [2] Paìli: Milinda

    [3] Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, THPG TPHCM ấn hành, 1991, tr. 21.

    [4] Xem Đạo Giáo và Các Tôn Giáo Trung Quốc của Henri Maspero, Nxb. KHXH, tr. 77.

    [5] Anukul Chandra Banerjee, Studies in Chinese Buddhism, Calcutta, India, 1977, tr. 7.

    [6] Sđd (sách đã  dẫn) tr, 22-24.

    [7] Xem Buddhism in China của S. Beal, I.B.H, India, tr.48.

    [8] Xem Encyclopaedia of Buddhism, Jotiya Dhirasekera (chủ biên), cuốn IV, tr.143.

    [9] Xem thêm Chinese Buddhism của Joseph Edkins, Paragonboook Reprint Corp, New York, 1968.

    [10] Xem Đạo Giáo và Các Tôn Giáo Trung Quốc của Henri Maspero, Nxb. KHXH - 2000, tr.560.

    [11] Xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc của Thích Thanh Kiểm Encyclopaedia of Buddhism, Jotiya Dhirasekera; Buddhism in China của S. Beal; Chinese Buddhism của Joseph Edkins’; The Encyclopaedia of Religion, Mircea Ellade; Buddhism in China của Kenneth K.S. Ch’en.

    [12] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S.Ch’en tr. 35.

    [13] Xem Nghiên Cứu Về  Mâu Tử’ của Lê Mạnh Thát , tập I, Tu Thư Vạn Hạnh, 1982, tr.35-173.

    [14] Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về  Mâu Tử’, tập I, Tu Thư Vạn Hạnh , 1982, tr. 3-4.

    [15] Theo Lê Mạnh Thát, Lý  hoặc Luận được Lục Trừng  [425-494] ghi lại trong Pháp Luân, Sđd, tr. 3-4.

    [16] Xem Buddhism in China của Kenneth K.S.Ch’en, tr. 38.

    [17] Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 40.

    [18] Trên  cơ sở của lý luận này, Nguyễn Lang cho rằng trong ba trung tâm Phật Giáo vừa đề cập Trên, trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm nhất, vì theo học giả này con đường được Các nhà truyền  Giáo Sử dụng trong giai đoạn đầu tiên là đường thủy. Nghĩa là, trước tiên Phật Giáo được truyền  đến Tonkin [Việt Nam ngày nay], và từ đây Phật Giáo truyền vào  Bành Thành và Lạc Dương [Xem Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang tr. 23-43]. Tuy nhiên, hầu hết giới học giả Đông Tây, bao gồm Các nhà nghiên cứu, Sử học Trung Hoa lại cho rằng trong giai đoạn đầu giới thương gia và Các đoàn truyền  Giáo thường Sử dụng đường bộ, và đường thủy chỉ trở  nên phổ  biến về sau.

    [19] Xem Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc của HT. Thích Thanh Kiểm, tr.51.

    [20] Theo Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc của HT. Thích Thanh Kiểm, Chi-ca-lâu-sấm người nước Đại Nhục Chi [Tukhàra] đến Trung Quốc vào đời   Linh Đế [khoảng từ năm 178-183 và 188-189] và đã phiên dịch khoảng 10 bộ kinh Đại thừa, trong đó có Kinh Thủ Lăng Nghiêm, An Ban Thủ Ý... [Sđd, tr.51-52].

    [21] Xem A History of Early Chinese Buddhism, tập I, Zenryu Tsukamoto, Leon Hurvitz (dịch ), Tokyo - New York – San Francisco, 1979, tr. 194-195.

    [22] Arthur F.Wright, Studies in Chinese Buddhism, Yale University Press, London, 1990, tr. 9.

    [23] Yuan Hung, Hou-Han-chi, 10,5a [Ssu-pu tsung-kan edition].

    [24] Những trở lực và phương pháp hòa giải với Khổng Giáo sẽ được trình bày trong phần có liên quan.

    [25] Nguyễn Lang cho rằng vì thấy  Đạo Phật được giới trí thức nhà Hán  hâm mộ, tín đồ Hoàng Lão tạo dựng thuyết Hoá Hồ để gây ảnh hưởng cho Lão Giáo. .(Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tr. 70-71).

     
(xin xem tiếp Chương  3)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, byphuong, dieunha, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, Archéo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.184 seconds với 25 câu truy vấn.