Tháng Mười 19, 2018, 07:54:10 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4] 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: CÁC ĐẾ VƯƠNG VỚI PHẬT GIÁO  (Đọc 9434 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Tám 04, 2011, 04:17:30 am »

(tiếp theo)

Vào năm Hội Xương thứ 5 (845) đạo sỹ Triệu Quy Chân lại tấu thỉnh (xin phép) được tranh luận với Phật giáo. Đường Vũ Tông lại ra lệnh cho tăng sỹ và đạo sỹ gặp nhau ở điện Lân Đức. Trong cuộc tranh luận đó, đại diện Phật giáo là sa môn Tri Huyền nói rằng: "thuật Trường Sinh của thần tiên Đạo giáo chỉ là trò của những kẻ thất phu (văn hoá thấp kém) trên rừng trên núi, còn Phật giáo là thứ chí lý (phải lẽ) để Hoàng Đế trị vì thế gian". Nghe nói vậy, Đường Vũ Tông vô cùng bực tức, cho rằng ngài Tri Huyền đã phạm vào tội chống lại Thánh chỉ. Ông bắt ngài Tri Huyền phải hoàn tục trở về quê hương, vĩnh viễn không được mặc Pháp y nữa. Qua lần biện luận này, nhất là Phật giáo công kích Đạo giáo đã làm cho Đường Vũ Tông cảm thấy đau đớn vô cùng, do đó Đường Vũ Tông quyết định huỷ diệt Phật giáo.

Để diệt Phật pháp, trước tiên Đường Vũ Tông ra sắc lệnh cho Từ Bộ (Bộ quản lý việc tế lễ và đền thờ, chùa miếu) kiểm tra lại số lượng các chùa thờ Phật và tăng ni trong toàn quốc, tiến hành điều tra thống kê các tăng ni và các chùa. Đây là bước chuẩn bị để diệt Phật pháp. kết quả điều tra của Từ Bộ là: Toàn quốc có 4600 chùa lớn và vừa, khoảng 4 vạn chùa nhỏ, tăng ni tất cả là 260.500 người, những nô bộc làm tạp dịch trong các chùa tất cả là 150.000 người. Từ đó đủ để thấy rằng, thế và lực của Phật giáo hồi đó lớn như thế nào. Vào tháng 7 năm Hội Sương thứ 5 (845), Đường Vũ Tông lại ban sắc lệnh cắt giảm số lượng chùa trong toàn quốc.


Sắc lệnh nêu rõ: tại hai phố Tả và Hữu ở lưỡng Kinh mỗi phố được giữ lại 2 chùa, mỗi chùa được có 30 vị tăng. Ở Thượng Bộ (phía Bắc) Trường An được giữ lại hai chùa là chùa Tây Minh và chùa Trang Nghiêm. Các nơi làm việc của quan Tiết Độ Sứ, Quán Sát Sứ và Đồng Châu, Hoa Châu, Thương Châu, nhữ Châu mỗi nơi giữ lại một ngôi chùa. Mỗi ngôi chùa chia làm 3 cấp (tức 3 nơi). Cấp thượng thì có 10 vị tăng, cấp trung có 10 tăng, cấp hạ có 5 vị tăng, số tăng ni còn lại phải hoàn tục. Sắc lệnh này ban ra chưa được bao lâu, Đường Vũ Tông lại ra chiếu lệnh ở đông đô Lạc Dương chỉ cần giữ lại 20 vị tăng. Các chùa có 10 vị tăng cũng cắt giảm một nửa, giữ lại 5 người. Các chùa mà có 5 vị tăng thì đóng cửa hẳn hoặc phá. Những tăng ni được giữ lại, trước kia thuộc quyền quản lý của Từ Bộ (chuyên quản lý việc tế lễ trời, đất, cúng lễ chùa miếu) nay đổi sang chùa Hồng Lô (chùa chuyên quản lý khách sứ nước ngoài đến cống nạp) quản lý.

 Ý nghĩa của việc chuyển tăng ni là người Trung Quốc nữa, mà coi họ giống như khách sứ của kẻ Di Địch (kẻ mọi rợ nước ngoài). Những chùa chiền lớn nhỏ mà không có tăng ni nữa, thì phá huỷ. Định ngày phá huỷ để cử quan Ngự Sử đến các nơi trong toàn quốc giám sát thi hành. Những tài sản, vận dụng cùng với ruộng đất của các ngôi chùa bị phá huỷ thu hết nộp cho quan. Tất cả những tượng đồng, chuông đồng, khánh đồng đều thi lại nộp cho quan Diêm Thiết (người đi mua sắt và muối) sau khi thu về đem thiêu huỷ để đúc thành tiền (đồng xu bằng đồng). Tất cả những tượng Phật bằng vàng, bạc và các đồ dùng bằng vàng, bạc ở các chùa bị phá huỷ đều đem nộp cho quan phủ địa phương, sau khi thiêu huỷ nộp cho ngành tài chính của Triều Đình.

Tất cả những tượng Phật bằng sắt thép ở các ngôi chùa bị phá huỷ đều đem nộp cho quan phủ địa phương, sau khi thiêu huỷ đúc thành nông cụ. Các bức tượng Phật bằng vàng, bạc, đồng, thép ở gia đình vợ bé quan lại các địa phương, hạn trong một tháng phải nộp cho quan phủ địa phương. Nếu như có ai không thực hiện hoặc chống lại thì giao cho quan Diêm Thiết Sứ (vị quan lo muối và sắt thép) xử phạt theo luật cấm mua bán đồng, nếu ai vi phạm nặng sẽ xử tội chém đầu. Một số biện pháp kể trên ở một ý nghĩa nhất định cũng có lợi cho việc phát triển sản xuất và tăng thêm nguồn thu tài chính cho nhà nước phong kiến.

Tháng tám cùng năm đó, Đường Vũ Tông lại ban chiếu thư kể ra những thứ không hay của Phật giáo. Ông nói rằng: "Trẫm nghe nói, trước thời Tam Đại(32) thì chưa thấy có Phật. Sau thời Hán - Nguỵ (từ năm 206 trước CN đến 264 sau CN) thì Phật giáo đã ngấm sâu và phát triển mạnh mẽ. Từ đó trở đi, Phật giáo có nhân duyên truyền bá, càng ngày càng phát triển rộng.  Nó phát triển đến cả 9 châu vùng cao nguyên rừng núi, vào tận trong vọng lâu (nơi ở của Vua) trong Lưỡng Kinh (Trường An và Lạc Dương). Tăng Ni ngày càng đông đúc, chùa thờ Phật ngày càng nhiều, càng cao to đồ sộ. Phá hoại phép nước làm hại người dân, đạo này là không tốt đẹp! Người Hoa Hạ (Trung Hoa) chúng ta đều nói rằng một người nam giới không làm ruộng thì họ sẽ bị đói, một người phụ nữ  không dệt vài thì họ sẽ bị rét. Giờ đây tăng ni đông không đếm xuể. Họ cũng đều phải nhờ vào nông dân mới có cái ăn, nhờ người dệt vải mới có cái mặc.

Như vậy còn ra thể thống gì nữa!" Bản chiếu thư này của Đường Vũ Tông, trên thực tế là một bài Hịch phê phán Phật giáo. Trong bản chiếu thư này, Đường Vũ Tông còn liệt kê ra  tất cả thành quả thu được của lần diệt Pháp này, thành quả chủ yếu gồm: toàn quốc đã phá đi hơn 4600 ngôi chùa lớn và vừa, phá gần 40.000 chùa miếu nhỏ. Bắt hoàn tục 260.000 tăng ni cho lấy vợ chồng hoặc lao động để bổ sung cho nguồn thuế khoá nhà nước. Tịch thu đất đai mầu mỡ thuộc quyên sở hữu của các chùa là hàng chục triệu khoảnh (mỗi khoảnh là 15 mẫu Trung Quốc, mỗi mẫu là 60 trượng vuông, mỗi trượng là 3,3 m. Vậy là mỗi mẫu khoảng 40.000m2 mỗi khoảnh khoảng 600.000m2), giải phóng được 150.000 người làm nô bộc cho chùa, bổ sung vào nguồn lao động nộp thuế cho nhà nước...

Chỉ xét trên hai thành quả là tịch thu ruộng đất và giải phóng nô bộc của các chùa chiền đủ để ta thấy rằng, thế lực của nền kinh tế tự viện Phật giáo lúc bấy giờ to lớn đến mức nào! Có sách sử viết rằng, để phòng ngừa các quan lại và kể hào phú vẫn cố tình giấu kẻ nô bộc trong quá trình giải phóng nô bộc của các chùa thì nếu ai làm chuyện như thế, dù là quan hay dân thường, đều phải xử cực hình (chém đầu). Tóm lại, các hoạt động diệt Phật pháp lần này của Đường Vũ Tông đã làm giảm mạnh thế lực Phật giáo, đặc biệt là làm yếu đi nền kinh tế nhà chùa khiến cho nền Phật giáo Trung Quốc suy thoái trầm trọng.

Việc Đường Vũ Tông diệt Phật giáo cũng có liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo của ông, đồng thời cũng có nguyên nhân lịch sử xã hội cực kỳ sâu sắc. Từ khi lập nên nhà Đường đến nay, Phật giáo do được giai cấp thống trị phong kiến (nhất là các Hoàng Đế) đề xướng và tôn sùng, bảo vệ nên trong xã hội Trung Quốc, nó phát triển rất mạnh. Ảnh hưởng và thế lực của Phật giáo cùng ngày càng lớn, trong đó đặc biệt là nền kinh tế nhà chùa càng ngày cùng phát triển mạnh.

Đồng thời, do có sự tồn tại và phát triển của kinh tế nhà chùa nên tự thân trong Phật giáo cũng hình thành các tập đoàn kinh tế mà tăng lữ đồng thời là các địa chủ, đối lập với nền kinh tế của các địa chủ thế tục. Hai loại kinh tế địa chủ phong kiến này ở một mức độ nào đó nhất định phải nảy sinh xung đột, mâu thuẫn khó tránh khỏi. Biểu hiện mạnh nhất ở chỗ họ tranh giành lẫn nhau sức lao động và ruộng đất, ảnh hưởng trực tiếp đến sự kiến thiết nền kinh tế của nhà nước phong kiến.

Xét về góc độ kinh tế thì Đế vương là người đại biểu cao nhất của nền kinh tế địa chủ thế tục. Khi mà lợi ích của nền kinh tế địa chủ tăng lữ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nền kinh tế địa chủ thế tục, tất nhiên Hoàng Đế phải ra tay bảo vệ lợi ích của nền kinh tế địa chủ thế tục.

Từ kết quả của các biện pháp diệt Phật pháp ta có thể thấy rằng, toàn bộ nội dung của cuộc diệt Phật pháp đó đều thể hiện nguyên nhân căn bản là sự tranh giành lợi ích kinh tế. Về ý nghĩa này thì việc diệt Phật pháp của Đường Vũ Tông có lợi cho việc củng cố và phát triển của xã hội phong kiến, nó có tác dụng rất tiến bộ về mặt lịch sử.

Vào tháng 3 năm Hội Xương thứ 6 (năm 864) Đường Vũ Tông băng hà, Đường Tuyên Tông Lý Thẩm kế vị. Vào tháng 4 năm đó Đường Tuyên Tông liền ra lệnh đánh chết đạo sỹ Triệu Quy Chân, Lưu Huyền Tĩnh cùng 10 người khác vì Đường Tuyên Tông cho rằng những người này đã kích động Đường Vũ Tông huỷ diệt Phật giáo. Tháng 5 Đường Tuyên Tông đại xá thiên hạ, ra sắc lệnh ngoài 2 ngôi chùa còn giữ lại ở hai phố Tả và Hữu ra, thì ở mỗi phố xây thêm 8 chùa nữa, các tăng ni vẫn thuộc quyền quản lý của Từ Bộ như trước. Năm đầu của Đại Trung (năm 847).

Đường Tuyên Tông ban sắc lệnh khôi phục lại các ngôi chùa vừa bị phá. Ông nói rằng ở những năm Hội Sương đã phá chùa chiền, làm như vậy là quá đáng, nhưng sự thể không quá trầm trọng, những linh sơn thắng cảnh ở các châu phủ trong thiên hạ bị phá vào năm Hội Sương thứ 5 thì này phải khôi phục lại. V

ào năm sau Đường Tuyên Tông lại độ cho các chùa ấy mấy chục tăng, chùa thì 50 người, chùa thì 30 người. Năm Đại Trung thứ 5 (851) ông lại ra lệnh các quan phủ không được cấm chỉ những người và những nơi muốn xây dựng chùa, đồng thời cho phép các chùa thờ Phật tự do độ tăng ni (tức là nhận người xuất gia làm tăng ni) để trụ chì và quản lý chùa chiền. Trải qua vài năm được sự ủng hộ và bảo vệ của Đường Tuyên Tông sau khi lên ngôi, Phật giáo ở Trung Quốc đã được phục hồi nhanh chóng nhưng vẫn còn hạn chế. Lúc này Phật giáo ở Trung Quốc không còn được như trước nữa, nguyên khí đã bị tổn hại rất nặng, khó mà hồi phục được như trước. Một điều rõ ràng của lịch sử là, Phật giáo Trung Quốc đang có xu hướng chuyển từ hưng thịnh sang suy thoái.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, SCC, quycoctu, dieunha, dailuc, anhlam, Yahoo, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 04, 2011, 04:23:44 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Tám 04, 2011, 04:30:28 am »

(tiếp theo)

Vì nước mạnh chấn hưng Phật giáo

Chu Thế Tông lần thứ tư gây nên pháp nạn

 

Vào những năm cuối đời Đường đã xảy ra một cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Sào lãnh đạo. Trong quá trình tổ chức trấn áp cuộc khởi nghĩa nông dân này thì quyền lực của chính quyền nhà Đường lại bị yếu đi và thu hẹp. Các thế lực cát cứ ở các Phiên Trấn (đơn vị hành chính và quân sự ở các vùng biên cương và các vùng trọng yếu của chính quyền nhà Đường) lại được đà lớn mạnh hơn.

Vào năm thứ 4 của Thiên Hựu Đường Ai Đế (năm 907 sau Công nguyên) kẻ thù (kẻ phản bội) của quân khởi nghĩa nông dân cuối đời Đường và là Đường Tuyên Võ Tiết Độ Sứ tên là Chu Toàn Chung sau khi đã tiêu diệt rất nhiều các tập đoàn cát cứ (chiếm đất đòi ly khai) đã dần dần thống nhất được toàn bộ lưu vực sông Hoàng hà. Ông đã phế Đường Ai Đế mà tự mình lên ngôi, xây dựng kinh đô và lập nên triều đại mới, tức là nhà Hậu Lương.


Bắt đầu từ đó cho đến năm 959 ở vùng Trung Nguyên đã liên tiếp ra đời 5 triều dại là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, lịch sử gọi là Ngũ Đại. Cũng vào quãng thời gian này, ở một phần miền Bắc và miền Nam đã tồn tại lần lượt 10 chính quyền cát cứ mang tính khu vực, lịch sử gọi là Thập Quốc (10 nước). Thời gian này là thời kỳ phân chia mạnh  mẽ nhất của xã hội Trung Quốc cổ đại. Những kẻ cát cứ ở "Ngũ Đại Thập Quốc" thì có người là kẻ quân phiệt của nhà nước phong kiến, có người là kẻ thù (kẻ phản bội) của quân khởi nghĩa nông dân. Họ xâm chiếm đất đai của nhau, đâm chém lẫn nhau, khiến cho nhân dân phải chịu cảnh đao binh khói lửa. Trong bối cảnh lịch sử xã hội như thế thì sự phát triển của Phật giáo cũng thể hiện rõ sự yếu kém và càng ngày càng suy yếu, kém phát triển.

So sánh một chút, ở miền bắc của thời kỳ Ngũ Đại thì Phật giáo càng ngày càng suy yếu, càng ngày càng lụi dần nhưng ở vùng đất bao la rộng lớn phía nam sông Trường Giang thì Phật giáo lại phát triển tương đối mạnh. Các tông phái Phật giáo của Trung Quốc mà có "căn cứ địa" ở miền Nam như phái Tịnh Độ Tông, Thiên Tông và Thiên Thai Tông đều có sự phát triển ở những mức độ khác nhau. Song đánh giá một cách tổng quát thì sự phát triển của Phật giáo ở thời kỳ Ngũ Đại là một quá trình suy thoái kéo dài liên tiếp. Sự phát triển của Phật giáo ở miền Bắc do đó mà ở trong tình thế càng ngày càng yếu đi, càng ngày càng lụi bại. Ngoài một số nguyên nhân về bối cảnh lịch sử và xã hội cùng một vài nguyên nhân của tự thân Phật giáo ra, các thế lực chính trị ở thời Ngũ Đại đều áp dụng chính sách hạn chế sự phát triển của Phật giáo, đây cũng là một nguyên nhân rất quan trọng.

Vào năm đầu tiên của Khai Bình thời Hậu Lương (năm 907 sau Công nguyên), Lương Thái Tổ Chu Toàn Chung lại nêu lên vấn đề các tăng ni phải do Từ Bộ quản lý, đồng thời cầm chỉ việc bí mật độ tăng ni (tức là ai đó xuất gia mà không xin phép chính quyền). Ông quy định rằng, những ai muốn xuất gia thành tăng ni thì phải do Từ Bộ phát cho tờ Độ Điệp (còn gọi là "Từ Bộ Điệp", tức là tờ giấy chứng minh do Từ Bộ cấp cho những tăng ni Phật giáp, việc này bắt đầu có từ thời Đường, các Vương Triều phong kiến sau này vẫn duy trì tục lệ này). Bất cứ một quan sứ nào hoặc quan nha nào cũng không được phép giải quyết việc cho người xuất gia làm tăng ni.

Cách làm này là để đặt Phật giáo dưới sự quản lý chặt chẽ của chính quyền phong kiến, không để đặt Phật giáo phát triển vô tổ chức. Sau khi Hậu chúa của nhà Chu Lương là Chu Hữu Trinh lên ngôi, vào năm đầu của Long Đức (năm 921) ông lại đưa ra bàn chuyện không cho phép tự ý độ tăng ni, đồng thời ông còn quy định những ai muốn xuất gia làm tăng ni thì phải đến kinh thành tham gia một cuộc thi về kinh sách Phật giáo do Triều đình phong kiến tổ chức.

Những ai đủ tiêu chuẩn đề ra thì mới được phép xuất gia. Vào năm 923 sau Công nguyên, Lý Tồn Húc phế nhà Hậu Lương lập nên nhà Hậu Dường, xưng là Hậu Đường Trang Tông. Còn về việc nhà Hậu Lương tiến hành quản lý nghiêm ngặt và hạn chế sự phát triển của Phật giáo thì Hậu Lương Trang Tông Lý Tồn Húc lại nâng đỡ và đề xướng Phật giáo.

Ông còn qua lại thăm viếng rất nhiều lần với các cao tăng Đại đức Phật giáo để làm ấm lên mối quan hệ căng thẳng trước đây giữa những người thống trị của giai cấp phong kiến với Phật giáo. Vào năm ông lên ngôi thì vào ngày Đản Sinh Phật (8-4 âm lịch), ông đã cho làm cơm chay khoản đãi hàng nghìn tăng ni ngay trong nội cung. Vào năm sau, ông lại mời thiền sư ở chùa Hưng Hoá vào trong Nội Điện để ông tham vấn về Phật pháp. Hậu Đường Trang Tông còn mở giới đàn lưu ly ở Tung Sơn vào ngày sinh nhật của mình để độ cho hàng trăm người xuất gia, gia nhập tăng đoàn Phật giáo.

Vào năm đầu tiên của Thiên Thành đời Hậu Đường (năm 926) Minh Tông Lý tự Nguyên lên ngôi. Khi ông vừa lên ngôi đã ban chiếu rằng: Những ngôi chùa thờ Phật trước đây đã xây dựng thì nay không được phép tuỳ ý phá bỏ, nhưng từ nay trở đi cũng không được phép tự ý xây dựng chùa một cách vô tổ chức, nếu như có ai muốn xuất gia (đi tu) thành tăng ni thì phải làm theo đúng nghi thức của Phật giáo. Ngoài việc thọ giới ở quan đàn ra, không được tự ý độ tăng (cho xuất gia) mà không xin phép và được sự đồng ý của Từ Bộ. Vào năm sau, đứng trước những việc như: lợi dụng mình là tăng ni để làm những việc vi phạm pháp luật hoặc là cậy thế thân quen với quan phủ mà làm điều bậy điều xấu, hoặc là có những tăng ni lợi dụng giáo nghĩa Phật giáo để làm mê hoặc vì lừa bịp người khác, Lý Tự Nguyên đã ban chiếu xuống Kinh sư (Kinh Đô) và các huyện, trấn ở các Đạo, Châu, Phủ yêu cầu quản lý chặt chẽ và chỉnh đốn, kiểm điểm nghiêm khắc Phật giáo.

Năm thứ 3 của Thiên Thành (năm 928). Hậu Đường Minh Tông lại ban lệnh khắp đất nước rằng: Những ngôi chùa lớn và những tự viện đã có tên thì phải bầu người trụ trì để quản lý tăng chúng. Còn những chùa nhỏ hoặc tự viện tuy có nhiều phòng nhưng không có tượng Phật thì định giá rồi bán cho ai muốn mua thì mua. Tăng chúng và vị trụ trì ở đó do quan viên chủ quản của Triều Đình điều về các ngôi chùa lớn. Những ngôi chùa không ai mua thì dỡ ra lấy gỗ rồi giao lại cho tăng chúng trước đây tu hành ở đây, còn ruộng vườn của những ngôi chùa đó thì bán cho ai muốn mua thì mua.

Đường Minh Tông còn ra quy định: "Trong vòng 10 ngày phải hoàn tất những việc kể trên. Nếu như có ai cố tình dây dưa kéo dài hoặc cố ý chống lại, nếu là tăng sĩ thì phạt đi lao dịch 2 năm, nếu là ni cô thì phạt đánh 70 trượng đồng thời cho hoàn tục (trở về người bình thường). Trong số các quan phủ địa phương ai đó cố tình lừa dối Triều Đình thì xử phạt theo pháp luật Triều Đình".

Lần chỉnh đốn Phật giáo này của Đường Minh Tông, ở một mức độ nào đó đã kìm hãm sự phát triển của Phật giáo.

Năm thứ 3 của Thanh Thái đời Hậu Đường (năm 936), một vị quan Tiết Độ Sứ Hà Đông nhà Hậu Đường trấn thủ Thái Nguyên tên là Thạch Kính Đường người dân tộc Sa Đà đã móc nối và quy hàng Khiết Đan, nhận trở thành một vị thần của Khiết Đan (cũng trong năm đó, dân Khiết Đan đổi tên nước thành Liêu), đồng thời kết nghĩa cha con với Chúa của Khiết Đan. Điều kiện của cuộc kết nghĩa này là: Thạh Kính Đường mỗi năm sẽ cống nạp cho chúa Khiết Đan 30 vạn xấp vải lụa, cắt vùng phía Bắc Nhan Môn Quan và toàn bộ vùng đất sở thuộc của U Châu (tức là 16 châu của Yến Vân), mượn quân Khiết Đan để diệt nhà Đường, lập nên chính quyền Hậu Tấn rồi xưng là Tấn Cao Tổ.

Sau khi vị Hoàng đế trẻ này giành được chính quyền, ông liền hạ lệnh bãi bỏ chế độ tổ chức xuống tóc xuất gia ở quan đàn. Ông quy định rằng,  những ai muốn xuất gia thành tăng ni thì phải tham dự một kỳ thi hiểu biết về Phật pháp tổ chức công khai tại châu phủ nơi mình sinh sống vào ngày Phật Đản (8-4 âm lịch). Những ai đủ tiêu chuẩn thì được xuống tóc làm tăng ni. Năm thứ 4 của Thiên Phúc (năm 939), Thạch Kính Đường còn ban lệnh yêu cầu tất cả các vị quan, Đại thần và cả Tể Tướng vào ngày Quốc kị (ngày giỗ Tổ)  phải đến các chùa thờ Phật dâng hương lễ bái, đồng thời phải mở tiệc cơm chay cúng giàng các tăng ni.

Những hành động này của ông đều là do ông muốn dùng Phật giáo để lấy lòng dân. Về sau nước Liêu diệt nước Hậu Tấn, hoàng đế nước Hậu Tấn bị phế truất tên là Thạch Trọng Quý bấy giờ được phong là Phụ Nghĩa Hầu, chuyển về sống ở phủ Hoàng Long, cho ông ta và tất cả người nhà về sống ở một ngôi chùa thờ Phật theo phái thiền và cho binh lính canh gác chặt chẽ.

Trải qua bao nhiêu mùa mưa, nắng, họ không được tiếp xúc với người ngoài. Nguyên Phi của Thạch Kính Đường nói với các vị tăng trong chùa thờ Phật theo phái thiền này bằng giọng đầy cảm xúc rằng: "họ Thạch chúng con đã từng làm việc chay cúng giàng hàng vạn tăng ni, sao ngày nay không một ai nhớ đến?"

 Những kẻ thống trị nhà Hậu Tấn bi rơi vào một tình cảnh như thế này, đây quả là một sự chế giễu thậm tệ đối với những kẻ năm xưa đã bán nước, cúi đầu làm nô lệ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, SCC, quycoctu, dieunha, dailuc, anhlam, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:27:31 am »

(tiếp theo)

Nhà Liêu sau khi diệt nhà Hậu Tấn liền khởi binh đánh về phía Bắc. Một viên quan Tiết Độ Sứ Hà Đông của nhà Hậu Tấn trước đây tên là Lưu Trúc Viễn đã xưng đế ở Thái Nguyên, lập nên chính quyền nhà Hậu Hán, xưng là Hậu Hán Cao Tổ.

Trong thời kỳ Hậu Hán Cao Tổ Lưu Trí Viễn nắm chính quyền, ông cho rằng Phật giáo là mối hoạ của nước nhà, thế là ông liền áp dụng những chính sách hạn chế nghiêm ngặt đối với Phật giáo. Năm 951, ông Quách Uy lưu giữ Đô Nghiệp nhà Hậu Hán đã khởi binh đánh lại nhà Hậu Hán, lập nên chính quyền Hậu Chu, xưng là Hậu Chu Thái Tổ.

Trong thái độ đối với các tôn giáo thì Quách Uy coi trọng Quảng Thuận (năm 953 sau Công nguyên) ông đã từng ban chiếu lệnh phá bỏ 58 ngôi tự viện không có tên ở nội thành phủ Khai Phong, đem hết số tăng ni ở các chùa về nhà làm con em nuôi trong các nhà dân. Từ thời Ngũ Đại trở đi, ở vùng Trung nguyên nạn binh đao xảy ra liên tiếp và kéo dài, nhất là các cuộc tranh giành quyền lợi giữa Vương Triều ở Vùng Trung Nguyên và dân tộc Khiết Đan ở phương Bắc, điều này đã đẩy nhân dân các vùng lâm vào cảnh khốn đốn tột độ. Trước tình hình như vậy, rất nhiều người đã xuống tóc làm tăng ni để trốn tránh binh dịch và nạn phải đi sai dịch.

Do dó, trong thời Ngũ Đại, trong sự phát triển của Phật giáo ở đây có tồn tại một vấn đề thêm nghiêm trọng nhất là: Các tự viện mọc lên như nấm sau cơm mưa, kỷ cương bị buông lỏng; Trong một số trường hợp đặc biệt, có một số cuộc khởi nghĩa c nông dân lại giương cao ngọn cờ Phật giáo.

Như vào năm thứ 6 của Trinh Minh nhà Hậu Lương (năm 920) một người Trần Châu tên là Vô Ất đã phát động cuộc khởi nghĩa của Ma Ni giáo (tức là Áo Giáo hoặc là Minh giáo, tên quốc tế là zoroater. Giáo phái này ra đời ở Ba Tư, du nhập vào Trung Quốc thời Trung Đường). Những người tham gia khởi nghĩa không được ăn mặn (không ăn thịt - cá), không uống rượu, đêm đêm họ tụ tập nhau lại cùng nhau vẽ ảnh tượng và cúng tế, lấy Phật pháp làm thượng thừa, họ đã từng gây nên những ảnh hưởng nhất định.

Cùng thời gian này, nền chính trị - xã hội ở Ngũ Đại bắt đầu loạn lạc kéo dài, xã hội có nhiều tệ nạn hoành hành. Một số kẻ thống trị có học vấn liền muốn về đối nội thì "trị quốc hoá",về đối ngoại thì chống lại những nội nhục mất nước với nhà Liêu để thu phục lại phần đất của người Hoa Hạ (người Trung Hoa) đã bị mất, thống nhất toàn bộ Hoa Hạ.

Năm 954, Quách Uy bị bệnh rồi băng hà, con nuôi của ông ta là Sài Vinh lên ngôi, xưng là Hậu Chu Thế Tông. Sau khi Hậu Chu Thế Thông liền lên kế hoạch vận động cải cách với quy mô cực kỳ to lớn. Nội dung của cuộc cải cách này bao gồm các mặt như quân chính, kinh tế, pháp luật, tôn giáo. Trong đó ông đã tiến hành chỉnh đốn rất khắt khe với Phật giáo. Cuộc chỉnh đốn Phật giáo này được các tăng ni và các tín đồ Phật giáo thế hệ sau gọi là pháp nạn. Giống như các hoạt động huỷ diệt Phật pháp của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế, Bắc Chu Vũ Đế, Đường Thế Tông đã tiến hành trước đây cùng được gọi là "Tam Vũ Nhất Tông Pháp Nạn", lần chỉnh đốn Phật giáo này của Hậu Chu Thế Tông cũng gọi là pháp nạn, đây là lần cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc các Đế Vương phong kiến phát động phong trào tấn công Phật giáo.

Trong suốt 6 năm Sài Vinh - Hậu Chu Thế Tông nắm quyền (từ năm 954 - 959) thì các hoạt động chỉnh đốn Phật giáo bắt đầu vào năm thứ hai sau khi ông lên ngôi (tức là năm thứ 2 của Hiển Đức, năm 955), nội dung của cuộc chỉnh đốn đó nhằm vào các mặt sau:


Trước tiên là giảm bớt số lượng tự viện Phật giáo.
Ông ban chiếu rằng: "Tất cả những ngôi tự viện trong thiên hạ mà không có tên tuổi đều phải phế bỏ; tất cả số tượng Phật do công đức cúng giàng và số tăng ni ở các ngôi chùa đó được phép vào tự viện tập trung; từ nay về sau không được phép xây thêm tự viện, nhất là các Vương công, quý tộc và các quan sứ ở các đạo, tiết, chế không được tấu thỉnh xin xây thêm tự viện".

Hai là hạn chế một cách nghiêm ngặt số lượng các tăng ni và việc độ tăng.
Ông quy định rằng: Những ai muốn xuất gia làm tăng ni phải xin phép những người thân thuộc, bao gồm cả việc phải lắng nghe lời khuyên bảo của ông, bà, cha, mẹ, cô chú. Sau khi được đồng ý của những người này mới được xin xuất gia; Trước khi trở thành tăng ni phải trải qua cuộc thi rất nghiêm ngặt về đọc thuộc và hiểu nội dung kinh Phật, nếu ai vượt qua được kỳ thi này mới được phép xuất gia, ngoài ra, triều đình còn cho lập những giới đàn để độ tăng ở một vài nơi trong toàn quốc. Những nơi đó là lưỡng Kinh, phủ Đại Danh, phủ Kinh Triệu, phủ Thanh Châu, các địa phương khác thì không được phép lập đàn độ tăng. Cùng thời gian này, Hậu Chu Thế Tông còn quy định rằng: "địa phương trong toàn quốc mỗi năm phải tiến hành một đợt thống kê toàn diện đối với các tăng ni ở trên địa phận  mình, lập thành hai quyển sổ, một quyển gửi lên cho Từ Bộ quản lý giám sát, một quyển báo lên đích thân Hoàng Đế. Những tăng ni đã chết thì bị gạch tên trong sổ sách, và không được độ người khác để bổ sung".

Ba là cấm chỉ nghiêm ngặt các việc không tốt trong Phật giáo.
Các việc không tốt bị cấm chỉ bao gồm: không cho phép các tăng ni và các tín đồ xả thân vì Phật sự, không cho phép những người quá thành kính với Phật tự động chặt chân cắt tay để biểu thị lòng thành kính, không cho phép các hành động huỷ hoại thân thể như luyện đỉnh (đốt cỏ ngãi trên đầu), đốt chân đốt tay trong các pháp hội và những lúc tụ họp đông để mê hoặc lòng người".


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, mavuong, dailuc, tadamina, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:31:42 am »

(tiếp theo)

Ngoài ra ông còn cho tiến hành các việc như thiêu huỷ tượng Phật để đúc thành tiền, cùng với việc phá bỏ để giảm bớt số lượng tự viện thì những bức tượng Phật bằng đồng ở những ngôi chùa bị phế bỏ được nhà nước thu gom về và những bức tượng Phật bằng đồng còn lại trong nhân gian sau khi được thiêu huỷ thì được đúc thành tiền đồng để bổ sung cho nền kinh tế của nhà nước phong kiến.

Để giúp cho các hoạt động chỉnh đốn Phật giáo được tiến hành thuận lợi, Hậu Chu Thế Tông còn ban bố một số pháp lệnh vô cùng nghiêm ngặt. Ông quy định rằng, ai làm trái với những quy định về chỉnh đốn Phật giáo nói trên thì phải giải đến cho quan phủ xét xử, bị đưa đi đày ải ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Nếu người vi phạm là tăng ni thì bắt phải hoàn tục, nếu người vi phạm mà là dân thường thì xử theo pháp luật.

 Lần chỉnh đốn Phật giáo này Hậu Chu Thế Tông là một trong những nội dung quan trọng trong các biện pháp cải cách đồng bộ của ông ta. Mục đích của củng cố nền thống trị của nhà nước phong kiến, đồng thời xây dựng quân đội hùng mạnh.

Theo con số thống kê trong sách sử để lại, lần chỉnh đốn Phật giáo này của Hậu Chu Thế Tông đã cắt giảm đi 3 vạn 300 ngôi chùa, giữ lại có 2694 ngôi chùa, tức là chỉ giữ lại 1 phần 10 số chùa. Ông chỉ cho giữ lại 61.200 tăng ni, còn hàng chục vạn tăng ni khác đều bị bắt hoàn tục.

Điều này đã chứng minh rằng, công việc chỉnh đốn Phật giáo của Hậu Chu Thế Tông đã thu được kết quả nhất định. Xét từ kết quả và nội dung lần chỉnh đốn Phật giáo này của Hậu Chu Thế Tông ta thấy rằng, trong hoạt động chỉnh đốn Phật giáo của ông thì ông không hề diệt Phật pháp, tính chất lần chỉnh đốn Phật giáo này của ông khác hẳn với các "pháp nạn" lần trước.

Nguyên nhân của việc này là, ông tiến hành hạn chế nghiêm ngặt Phật giáo nhưng trong bối cảnh là vẫn để cho Phật giáo tồn tại, điều này không hề xuất phát từ phương diện tín ngưỡng chủ quan cá nhân. Xét từ góc độ sự phát triển lâu dài của Phật giáo mà nói thì lần chỉnh đốn này đã loại bỏ một số hiện tượng không tốt, Phật giáo từ đó mà được chỉnh đốn cho tốt đẹp hơn. Song có một điều là, bao nhiêu lâu nay, Phật giáo phương bắc chỉ còn tồn tại một cách yếu ớt, qua lần sóng gió thì Phật giáo lại càng suy yếu hơn.

Như trên đã từng nói, ở thời kỳ Thập quốc, so với Phật giáo ở phương bắc thì phật giáo ở phương nam lại liên tục phát triển. Sở dĩ có điều này là vì các chính quyền cất cứ ở các khu vực miền nam như Ngô Việt, Nam Hán, Mân, Nam Đường có thuốc cầm quyền tương đối dài, nền chính trị xã hội ổn định. Ngoài ra, các vị Đế Vương của các chính quyền kể trên phần nhiều là những có tình cảm nồng hậu với Phật giáo, họ đều bảo vệ Phật giáo và sử dụng Phật giáo như một công cụ phục vụ mục đích thống trị.

Như người thống trị của chính quyền nhà Mân tên là Vương Thẩm Trí đã cho xây dựng nhiều chùa chiền, chỉ riêng trên đất nhà Mân đã có trên 300 ngôi chùa; Người thống trị của chính quyền Nam Hán tên là Lưu Sướng đã cho đúc tháp thép thờ nghìn Phật ở Quảng Châu, ngôi tháp đó trải qua hàng nghìn năm nay hiện giờ vẫn còn; Người thống trị của chính quyền Ngô Việt tên là Hoằng Thích trong cùng thời gian Hậu Chu Thế Tông tiến hành chỉnh đốn Phật giáo thì ông đã từng hiệu đính câu chuyện về Vua A Dục (vị Vua ở thế kỷ III trước Công nguyên ở Ấn Độ cổ đại), cho đúc 84000 tháp thờ Phật nhỏ bằng đồng phân phối trên toàn đất Ngô Việt; Người thống trị của chính quyền Nam Đường tên là Lý cảnh cùng với Vương công, Đại thần đều là những người quý trọng các ngôi chùa, những ngày chính sự êm đềm này, sử sách đều nói rằng nhà Nam Đường hiếu Phật.

Mỗi lần xây tự viện họ đều cấp ruộng đất để các tăng ni tăng gia sản xuất. Nhưng Hậu chúa là Lý Dục thì lại cho xây hơn 10 ngôi chùa thờ Phật trong cung, toàn bộ đô thành có đến hàng vạn tăng sỹ, họ đều được quan phủ cung cấp số tiền sinh hoạt hàng ngày.

 Mỗi lần từ triều đình trở về, Lý Dục lại cùng vợ khoác lên trên người bộ y phục của tăng ni, quỳ bái Phật, tụng kinh... Do tình hình ở miền nam là như vậy nên trong giới Phật giáo phương Bắc đã có vài cao tăng đại đức trốn xuống phía nam, có một số tăng đoàn Phật giáo cũng bỏ trốn xuống Giang Nam. Tông phái Phật giáo ra đời từ thời kỳ Tuỳ Đường thì nay trên mảnh đất miền bắc - nơi họ "chào đời" - lại càng yếu đi và ít dần, còn tông phái Phật giáo có "căn cứ địa" ở miền nam như Tịnh Độ Tông, Thiền Tông và Thiên Thai Tông thì vẫn tiếp tục phát triển. Đặc biệt là Thiền Tông đến lúc này đã phát triển thành 5 tông phái thiền đó là: Tào Động Tông (Thiền Tào Động), Lâm Tế Tông (Thiền Lâm Tế), Pháp Nhãn Tông (Thiền Pháp Nhãn), Vân Môn Tông (Thiền Vân Môn) và Quy Ngưỡng Tông (Thiền Quy Ngưỡng).

Ngoài ra, ở phía Nam vào thời kỳ Thập quốc việc chép kinh diễn ra rất sôi nổi và kính cẩn. Có một số tăng sỹ Phật giáo trên cơ sở chép lại tổng mục các kinh Phật, họ đã đem toàn bộ các quyển kinh và quyển luận tập hợp lại thành một bộ "kinh Đại Tạng" của Phật giáo. Điều này đã gây nên một tác động kích thích rất mạnh đối với việc tăng cường thu thập và tìm kiếm các sách sử văn hoá Phật giáo.

Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh dự định làm Hoàng Đế trong 30 năm.

Ông sắp đặt như sau: 10 năm mở mang bờ cõi thiên hạ, 10 năm chăm lo giáo dục trăm họ, 10 năm quản lý đất nước thật an vui, bình yên. Theo kế hoạch này ông đã cho xây dựng mở rộng Phong Thành, biến nó thành một thành phố mới phồn hoa thay thế cho các thành phố Lạc Dương và Trường An; ông ta đã chinh phục được nước Thục, thu hàng được nước Tần và 3 lần đánh Nam Đường, thống nhất toàn bộ phương bắc, lấy sông Trường Giang làm ranh giới với Nam Đường.

Ông đã vài lần đánh nước Liêu, thu được thắng lợi trong trận chiến ở Cao Bình, khích lệ niềm tin cho các nhân sỹ ở vùng Trung Nguyên thu phục vùng đất đã bị mất.

Năm 959, ông ta đích thân dẫn quân tiến lên phía bắc đánh nhà Liêu, dự định thu hồi vùng Yến Vân đã bị mất, nhưng không may ông mắc bệnh, không bao lâu sau thì qua đời, hưởng thọ 39 tuổi. Các hoạt động nam chinh bắc phạt và cải cách của Hậu Chu Thế Tông trong thời kỳ ông trị vì, trong đó bao gồm cả việc chỉnh đốn Phật giáo, giảm bớt chùa thờ Phật và tăng ni thì đều là những việc xếp đặt cơ sở nền móng vững chắc cho sự nghiệp thống nhất của nhà Bắc Tống sau này.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, mavuong, dailuc, tadamina, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:36:03 am »

(tiếp theo)

Tống Thái Tổ cử sứ đi cầu pháp

Kinh Đại Tạng được in lần đầu

Vào mùa xuân năm 960 Điện Tiền Đô Điểm Kiểm và là Thống soái Cấm Vệ Quân của nhà Hậu Chu tên là Triệu Khuông Dẫn đã bẩm báo bịa đặt rằng nước Liêu phát binh tấn công để ông dẫn quân ngược lên phía bắc, đến trạm Trần Kiều (một nơi cách thành Khai Phong hơn 20 km về phía đông bắc) liền khởi binh làm bạo động, tự khoác lên người chiếc áo Hoàng Bào, quay trở về kinh độ Khai Phong, từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng, ông đã cướp được chính quyền nhà Hậu Chu, đặt tên nước là Tống (lịch sử gọi là Bắc Tống), xưng là Tống Thái Tổ.


Sau khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập nên nhà Tống về mặt chính trị ông thực hiện hàng loạt các chính sách tăng cường tập quyền Trung Ương chuyên chế chủ nghĩa; về mặt quân sự thường bắt đầu tiến hành các hoạt động quân sự để thống nhất toàn bộ đất nước.

Về mặt văn hoá tư tưởng thì ông thực hiện chính sách hoà hợp các tôn giáo, lấy tư tưởng nho giáo làm chủ thể của tư tưởng thống trị, cho phép các tôn giáo tự do phát triển để các tôn giáo đó cùng nhau phục vụ sự thống trị về tư tưởng của Nhà nước phong kiến. Các chính sách và biện pháp này đã tạo tiền đề nhất định cho sự phát triển lâu dài của Phật giáo Trung Quốc.

Phật giáo thời cổ đại Trung Quốc sau khi trải qua các cuộc tấn công của "Tam Vũ Nhất Tông", đặc biệt là sau khi trải qua cuộc chỉnh đốn của Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh đã rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Để tồn tại và phục hưng, các tăng lữ Phật giáo bắt đầu cố gắng sửa đổi bản thân Phật giáo.

Về mặt nội dung lý luận thì các tăng ni dần dần bỏ đi những thuyết quá rõ ràng của Phật giáo nguyên thuỷ của Ấn Độ, bắt đầu tiến gần hơn nữa với tư tưởng Nho gia truyền thống của Trung Quốc, hoặc là họ đã hoà nhập Phật học với Nho học, một số tăng sỹ Phật giáo đã coi sự nghiệp Nho học là niềm vinh quang của mình lấy sự phát triển của Nho học làm niềm tự hào của mình. Về mặt chính trị thì các tăng lữ Phật giáo đã bắt đầu bỏ đi những hình tượng thanh cao xuất thế để dựa hẳn vào nền chính trị Phong kiến và các Đế Vương phong kiến.

 Về mặt tác phong cuộc sống, các tăng lữ Phật giáo bắt đầu cố gắng sánh kịp các trí thức của Nho gia, lấy các phương thức sinh hoạt của các Sỹ Đại Phu làm phương thức sinh tồn để cầu mong các nhân sỹ này thu nạp mình, từ đó khiến cho các nhân sỹ này không phát động cuộc tranh cãi để bài trừ Phật giáo nữa. Những mục tiêu căn bản của các thay đổi kể trên là các tăng lữ Phật giáo muốn thông qua sự chuyển biến, thay đổi của chính mình mà chiếm được chỗ đứng cho xã hội Trung Quốc, từ đó mà không xảy ra các pháp nạn như "Tam Vũ Nhất Tông" nữa.

Chính sách văn hoá tư tưởng thống trị của một vài Đế Vương thời đầu Bắc Tống cùng với sự thay đổi của chính bản thân tăng lữ Phật giáo đã giúp cho Phật giáo thời Bắc Tống phần nào được phục hồi. Sự phục hồi này dựa trên một nguyên tắc và tiền đồ nhất định. Vào tháng 6 năm đầu tiên của Kiến Long (năm 960 sau Công nguyên), Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lại ban chiếu xuống các tự viện của các bộ, châu, phủ rằng, tất cả những chùa đã phá xong vào năm thứ hai của Hiển Đức (Hậu Chu) tức là năm 955 sau Công Nguyên, thì loại bỏ hẳn, những ngôi chùa đang phá nhưng chưa xong thì giữ lại.

Điều này vừa thừa nhận các hành động chỉnh đốn Phật giáo của Sài Vinh từ trước đời Bắc Tống nhưng cũng vẫn để lại cho Phật giáo một con đường sống. Điều này cũng thể hiện rõ chính sách đối với Phật giáo của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn. Vào năm Càn Đức thứ 5 (năm 967 sau Công Nguyên), Tống Thái Tổ lại ban chiếu không cho phép tiếp tục tiến hành các hoạt động phá huỷ các bức tượng Phật bằng đồng, nhưng cũng không cho phép tạc hoặc đúc tượng Phật mới.

 Phải làm như vậy bởi vì lúc đó một số các tăng sỹ Phật giáo đã lợi dụng tín ngưỡng của nhân dân, bảo mọi người phá huỷ các công cụ để đúc các tượng Phật bằng thép. Sau khi Tống thái Tổ Triệu Khuông Dẫn phát hiện ra việc này, ông liền ban sắc lệnh khiển trách. Ông cho rằng đó là các hành động phá hoại sản xuất, liền ban chiếu xuống các chùa ở Lưỡng Kinh (Lạc Dương và Trường An) cùng các chùa ở các đạo, châu, phủ, huyện nêu rõ: "Ngoài việc dùng sắt, thép để đúc nông cụ ra, không được dùng sắt thép để chế tác tượng Phật nữa".

Đồng thời ông yêu cầu quan sát ở các địa phương phải theo dõi và kiểm tra chặt chẽ việc này. Điều này giúp cho một khối lượng lớn các nông cụ không bị phá huỷ nữa, từ đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành bình thường. Tổng hợp các sự kiện lịch sử nêu trên ta có thể thấy rằng, chính sách cơ bản đối với Phật giáo của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn là hạn chế sự phục hồi của Phật giáo trên quy mô lớn, đồng thời yêu cầu Phật giáo chỉ được phép hoạt động trong phạm vi cho phép theo luật pháp của nhà nước phong kiến. Năm Khai Bảo thứ 8 (năm 975 sau Công Nguyên).

Tống Thái Tổ còn ban chiếu cấm chỉ Phật giáo tổ chức các hoạt động đạo tràng pháp hội Phật giáo với quy mô lớn, không cho phép các tăng ni Phật giáo tổ chức tụ tập các nam nữ tín đồ vào ban đêm để tiến hành các hoạt động tôn giáo. Ông cho rằng những hoạt động kiểu như vậy sẽ gây tiếng xấu cho cuộc sống tôn giáo trong sáng, đứng đắn.

Nhưng Tống Thái Tổ Triệu Khuông dẫn không hề coi thường Phật giáo vì xét trên tổng thể thì Phật giáo cũng có ít nhiều lợi ích cho việc thống trị của nhà nước phong kiến. Đồng thời với việc hạn chế Phật giáo một cách cụ thể thì ông cũng giành cho Phật giáo sự bảo hộ, nâng đỡ thích đáng để tăng cường lực lượng thống trị tư tưởng trong nước.

Vào năm đầu của Kiến Long, cùng với việc Tống Thái Tổ ban chiếu khôi phục Phật pháp, ông cũng ban chiếu mệnh, trước tiên độ 8000 Đồng Hạnh (tức là những em thiếu nhi theo học Phật pháp nhưng chưa xuống tóc) cho Phật giáo để tăng cường nhân tài cho sự phát triển lâu dài của Phật giáo.

Vào năm Càn Đức thứ 4 (năm 966), Tống Thái Tổ lại chọn ra 157 vị tăng Phật giáo trong toàn quốc do sa môn Hành Cần đứng đầu du hành sang miền Tây, đến Ấn Độ cầu pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, Hoàng Đế, Vương Thần của nhà nước phong kiến đích thân tổ chức một hoạt động du hành về phía Tây cầu pháp với quy mô lớn. Mục đích của việc du hành này là tìm kiếm, sưu tập những nội dung lý luận mới hơn để thúc đẩy sự phát triển của Phật giáo.

Từ tình hình trên có thể thấy rằng, trong chính sách bảo hộ Phật giáo của Tống Thái Tổ thì trọng tâm của ông là hướng về hoằng dương văn hoá Phật giáo và không để cho rơi vào thảm hại. Ông đã làm tăng thêm sinh khí cho sự phát triển và củng cố trật tự xã hội phong kiến.

Một sự nghiệp nữa mang tính khai mở trong sự hoằng dương văn hoá Phật giáo của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn là vào năm Khai Bảo thứ 4 9971) ông đã ban sắc lệnh cho ông Trưởng Tông Tín đến kinh đô tiến hành khắc bản in rồi in ấn "Kinh Đại Tạng" của Phật giáo.

Kinh Phật lưu truyền ở Trung Quốc từ đời Hán đến đời Tuỳ Đường chủ yếu dựa vào việc chép bản kinh bằng tay rồi truyền tay nhau. Bản kinh Phật chép bằng tay thường là theo kiểu chữ Quyển (chữ tròn). Do số lượng kinh sách của Phật giáo rất nhiều nên nếu chép bằng tay thì phải chép nhiều năm mới xong, do đó công việc chép bản kinh trước thời Tuỳ Đường là một công việc vô cùng mệt nhọc. Nhưng công việc chép kinh cũng được Phật giáo ca ngợi là một trong những công đức cúng giàng Tam Bảo (Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng).

Trước thời Bắc Tống trong xã hội thường có người chuyên chép kinh Phật gọi là Kinh Sinh, trong các tự viện cũng có một nơi chuyên chứa kinh sánh, gọi là kinh tàng. Việc chép kinh không những đã trở thành phong trào sôi nổi trong nhân dân mà còn ngay trong Triều Đình phong kiến, đặc biệt là các Đế Vương phong kiến cũng thường tổ chức các phong trào chép kinh Phật trên quy mô lớn. Vào thời kỳ Tuỳ Đường, việc tổ chức chép kinh Phật của các Đế Vương phong kiến lại càng được đề cao hơn.

Công việc khắc kinh Phật trên bảng gỗ hay trên đá, thời cổ đại Trung Quốc có thể khởi nguồn từ việc khắc kinh trên đá từ thời Nam Bắc Triều (Nam Bắc Triều từ năm 420 - 581 sau Công Nguyên, thời Đường là từ năm 618 - 907 sau Công Nguyên) như "Kinh Kim Cang" được khắc trên vách đá tại thung lũng "Kinh Thạch" ở Thái Sơn tỉnh Sơn Đông, "Kinh Hoa Nghiêm" ở thung lũng Phong dự huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây, "Kinh Duy Ma Cật" ở núi Bắc Hưởng Đường huyện Võ An tỉnh Hà Bắc.

Trên đây đều là những tác phẩm vào thời Bắc Triều (năm 386 - 582 sau Công Nguyên). Các bản kinh này đều được khắc trên vách núi đá, gọi là "Ma Nhai Thạch Khắc". Đến thời Tuỳ lại xuất hiện việc tổ chức khắc kinh trên đá với quy mô lớn.

Trong đó nổi tiếng nhất là bản kinh Phật khắc trên phiến đá ở chùa Vân Cư, Phòng Thành, Bắc Kinh. Các tín đồ Phật giáo thời Tuỳ sau khi trải qua cuộc tấn công huỷ diệt Phật pháp thời Bắc Triều đã nảy sinh ra một ý tưởng rằng: "Đây là thời kỳ mạt pháp".

Họ cho rằng, thời đại ngày nay là thời kỳ Phật giáo sắp tiệt đường phát triển, họ bắt đầu đưa kinh Phật khắc lên trên bản đá để lưu truyền đến đời sau.

Hồi đó có một vị tăng tên là Tịnh Uyển ở chùa Vân Cư đã phát một nguyện lớn là muốn đem toàn bộ kinh Phật khắc lên bản đá, đồng thời ông kiên trì làm công việc này trong 30 năm liên tục. Sau khi ông viên tịch, người thế hệ sau lại tiếp tục khắc kinh trên bản đá, họ làm như vậy cho đến giữa đời Minh mới cơ bản hoàn thành.

Vậy là trải qua hơn 1000 năm, mọi người đã khắc được hơn 1000 bộ kinh Phật, tổng cộng là hơn 3500 quyển. Họ đã dùng đến tất cả 14278 tảng đá. Đúng là kỳ tích độc nhất vô nhị trong lịch sử khắc đá của Trung Quốc.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, mavuong, dailuc, tadamina, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:41:45 am »

(tiếp theo)


Việc phát minh ra kỹ thuật in ấn bằng khắc bản in của Trung Quốc cổ đại đã mở ra một con đường mới cho việc lưu truyền kinh sách Phật giáo. Theo ghi chép, vào đầu thời Đường đã từng có hoà thượng Huyền Trang cho tổ chức trên quy mô lớn việc in ảnh tượng Bồ Tát Phổ Hiền để phân phát đi khắp nơi.

 Vào năm 946 ở thành Đô đã phát hiện ra "Kinh Đà La Ni" theo kỹ thuật khắc in của Biên Gia, phường Long Trì. Hiện nay bản khắc kinh Phật bằng gỗ còn giữ lại nguyên vẹn là bản khắc quyển "Kinh Kim Cang" do Vương Giới Khắc vào năm Hàm Thông thứ 9 đời nhà Đường (năm 868). Bản khắc này rất đẹp, nhưng tiếc rằng hiện vật quý giá này đã bị lưu lạc ra nước ngoài.

Tống Thái Tổ ban chiếu yêu cầu khắc kinh điển Phật giáo là lần tổ chức khắc bản in và in toàn bộ kinh điển Phật giáo bằng tiếng Hán lần đầu tiên do các Đế Vương Phong kiến tổ chức, đây là một công trình to lớn có ý nghĩa và giá trị văn hoá rất quan trọng. Theo thuyết của Phật giáo thì toàn bộ kinh điển Phật giáo được tập hợp nhau lại, gọi là "Kinh Đại Tạng".

Kinh Đại Tạng được chia làm 3 phần, tức là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng. Cái gọi là "Kinh Tạng" tức là chỉ kinh văn của Phật giáo từ kim khẩu Thích Ca Mâu Ni nói ra, trong đó chỉ có một quyển ngoại lệ, tức là quyển "Đàn Kinh" (còn gọi là "Kinh Pháp Bảo Đàn" của Lục tổ Thiền tông Trung Hoa (ngài Huệ Năng) cũng được xếp vào kinh tạng.

Thứ được gọi là "Luật Tạng" chỉ là toàn bộ sách về giới luật của Phật giáo. Thứ được gọi là "Luận Tạng" chỉ là tất cả sách thuyết luận có liên qua đến Phật giáo, nó bao gồm cả những quyển sách thuyết luận của các tăng sĩ Ấn Độ và cả những quyển sách thuyết luận của các vị tăng Trung Hoa và nhiều khu vực khác.

"Kinh Đại Tạng" của Phật giáo do Tống Thái Huyền Trang cho tổ chức trên quy mô lớn việc in ảnh tượng Bồ Tát Phổ Hiền để phân phát đi khắp nơi. Vào năm 1946 ở thành Đô đã phát hiện ra "Kinh Đà La Ni" theo kỹ thuật khắc in của Biện Gia, phường Long Trì. Hiện nay bản khắc kinh Phật bằng gỗ còn giữ lại nguyên vẹn là bản khắc quyển "Kinh Kim Cang" do Vương Giới Khắc vào năm Hàm Thông thứ 9 đời nhà Đường (năm 868). Bản khắc này rất đẹp, nhưng tiếc rằng hiện vật quý giá này đã bị lưu lạc ra nước ngoài.

Tống Thái Tổ ban chiếu yêu cầu khắc kinh điển Phật giáo là lần tổ chức khắc bản in và in toàn bộ kinh điển Phật giáo bằng tiếng Hán lần đầu tiên do các Đế Vương Phong kiến tổ chức, đây là một công trình to lớn có ý nghĩa và giá trị văn hoá rất quan trọng. Theo thuyết của Phật giáo thì toàn bộ kinh điển Phật giáo được tập hợp nhau lại, gọi là "Kinh Đại Tạng".

 Kinh Đại Tạng được chia làm 3 phần, tức là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng. Cái gọi là "Kinh Tạng" tức là chỉ kinh văn của Phật giáo từ kim khẩu Thích Ca Mâu Ni nói ra, trong đó chỉ có một quyển ngoại lệ, tức là quyển "Đàn Kinh" (còn gọi là "Kinh Pháp Bảo Đàn" của Lục tổ Thiền tông Trung Hoa (ngài Huệ Năng) cũng được xếp vào kinh tạng. Thứ được gọi là "Luật Tạng" chỉ là toàn bộ sách về giới luật của Phật giáo. Thứ được gọi là "Luận Tạng" chỉ là toàn bộ sách về giới luật của Phật giáo.

Thứ được gọi là "Luận Tạng" chỉ là tất cả sách thuyết luận có liên quan đến Phật giáo, nó bao gồm cả những quyển sách thuyết luận của các tăng sĩ Ấn Độ và cả những quyển sách thuyết luận của các vị tăng Trung Hoa và nhiều khu vực khác. "Kinh Đại Tạng" của Phật giáo do Tống Thái Tổ ban chiếu yêu cầu khắc bắt đầu vào năm Khai Bảo thứ 4 (năm 971) đến năm thứ 8 của Thái Bình Tổ ban chiếu yêu cầu khắc bắt đầu vào năm Khai Bảo thứ 4 (năm 971) đến năm thứ 8 của Thái Bình Hưng Quốc Tống Thái Tông (năm 983), trải qua 13 năm liền làm công việc nghiêm túc, các thợ đã khắc được 13 vạn bản in, xếp vào trong 653 hộp đựng sách, tổng cộng có đến hơn 6620 quyển.

 Do việc này bắt đầu vào năm Khai Bảo cho nên lịch sử gọi bản in Kinh Đại Tạng này là "Khai Bảo Tạng" được in ấn, nó được chuyển lên miền Bắc đến Tây Hạ, Cao Ly (Triều Tiên) và sang cả Nhật Bản. Nó đã trở thành bản mẫu cho tất cả bản khắc do Triều Đình tổ chức cũng như cá nhân tổ chức ở Trung Quốc và nước khác sau này, nó là bản gốc cho việc in rộng rãi bộ Kinh Đại Tạng của Phật giáo sau này. Nhưng tiếc rằng, đến bây giờ "Khai Bảo Tạng" chỉ còn lại vài quyển sách rách.

Sau khi "Khai Bảo Tạng" được in ấn thì việc chép kinh Phật ngày càng ít dần. "Khai Bảo Tạng" chủ yếu được phân phát cho các nhà chùa to và nổi tiếng hoặc là đem tặng các nước lân bang, người dân bình thường khó mà có được và nó cũng rất ít phổ biến. Nhưng "Khai Bảo Tạng" do Tống Thái Tổ tổ chức khắc bản in đã mở ra một phong trào in ấn kinh Phật bắt đầu từ thời Bắc Tống.

Trong thời gian 320 năm sau của nhà Tống (bao gồm Nam Tống từ 960 - 1279) ngoài bộ "Khai Bảo Tạng" này ra còn thì về sau còn có người đứng ra tổ chức in thêm 4 bộ "Kinh Đại Tạng". Vào những năm đầu của Thần Tông Nguyên Phong đời Bắc Tống (năm 1078), hoà thượng Xung Chân trụ trì Đông Thiền Đẳng Giác Viện ở Phúc Châu chiên mộ người để khắc Kinh Đại Tạng của Phật giáo.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc có một tự việc Phật giáo quyên tiền tổ chức in ấn toàn bộ kinh điển Phật giáo. Bộ "Kinh Đại Tạng" này được lịch sử gọi là bản của Đông Thiền Đẳng Giác Viện, đến năm thứ hai của Sùng Minh (năm 1103) mới cơ bản khắc xong, đến năm Chính Hoà thứ 2 (năm 1112) mới khắc xong, in được hơn 5800 quyển, xếp vào 564 hộp đựng sách.

Cũng vào năm thứ 2 của Chính Hoà, một nhân sỹ người Phúc Châu tên là Thái Tuấn Thần cũng đã tổ chức một hội khắc kinh để ủng hộ vị tăng Bản Ngộ chùa Khai Nguyên chiêu mộ khắc Kinh Đại Tạng. Trải qua hơn 40 năm, đến năm thứ 21 của Cao Tông Thiệu Hưng đời Nam Tống (năm 1151) việc khắc bản in mới hoàn thành. Bản khắc "Kinh Đại Tạng" này cơ bản dựa theo bản khắc của Đông Thiền Đẳng Giác Viện, sử sách gọi là bản khắc Khai Nguyên. Vào năm cuối của Chính Hoà (năm 1117), vị "Quan Sát Sứ" của Mật Châu tên là Vương Vĩnh Tồn cũng bỏ tiền ra tổ chức in Kinh Đại Tạng ở Thiền viện Viên Giác huyện Tư Khê, Hồ Châu.

 Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc có một người bỏ tiền túi ra tổ chức in Kinh Đại Tạng của Phật giáo. Bản kinh này được in bởi bản gốc là bản Phúc Châu (bao gồm cả bản của "Đông Thiền Đẳng Giác Viện" và bản bia chùa Khai Nguyên) sau đó được in ra 5687 quyển, xếp vào 548 hộp, lịch sử gọi là bản Tư Khê. Năm đầu tiên của Thiệu Định đời Nam Tống (năm 1229) một vị quan địa phương tên là Triệu An Quốc (ở Bình Giang) cũng bỏ tiền riêng ra tổ chức in các loại kinh sách của Phật giáo thiền viện Diên Thánh vùng Thích Sa, Bình Giang.

Năm đầu tiên của Đoan Bình thời Nam Tống (năm 1234) người ta dựa vào bản Tư Khê để sắp xếp lại mục lục, sau đó khắc đến năm thứ 8 của Hàm Thuấn đời Nam Tống (năm 1272) phải dừng lại vì chiến tranh loạn lạc. Sau đó đến thời Nguyên mới khắc tiếp và hoàn thành, in được 6361 quyển kinh Phật, xếp vào 591 hộp, lịch sử gọi đây là bản Thích Sa.

Các hoạt động tiến hành khắc và in Kinh Đại Tạng của Phật giáo với quy mô lớn do Triều Đình và tư nhân tổ chức vào thời Tống về cơ bản đã bảo tồn được toàn bộ kinh sách Phật giáo, làm phong phú nội dung văn hoá tư tưởng truyền thống của Trung Quốc.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, mavuong, dailuc, tadamina, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:46:29 am »

(tiếp theo)

Như trên đã từng nhắc đến, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn cử tăng đi cầu pháp và tổ chức in ấn kinh Đại Tạng của Phật giáo chỉ là một phần trong chính sách tổng thể đối xử với Phật giáo của ông ta. Đánh giá chung về Phật giáo thời đó ta thấy rằng, vấn đề quan trọng hơn là Hoàng Đế Triệu Khuông Dẫn muốn dùng các biện pháp cụ thể để hạn chế sự phát triển của Phật giáo.

Các học giả sau khi nghiên cứu, phân tích rồi kết luận rằng, quan điểm cơ bản trong chính sách đối với Phật giáo của Triệu Khuông Dẫn là ông để cho Phật giáo tồn tại, tức là không huỷ diệt Phật giáo, cũng không đề cao, tôn sùng Phật giáo. Ông đề xướng những việc hết sức bình thường và những hạn chế ong quy định cũng rất bình thường. Quan điểm đối với Phật giáo này đã được các Hoàng Đế đời sau của nhà Tống duy trì.

Vào thời kỳ Tống Thái Tông, trong nước dần dần được thái bình, người người thống trị tối cao cần cảm thấy cần phải nâng cao thêm vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội để tăng thêm cảnh thái bình, do đó Tống Thái Tông thường nói với các hạ thần rằng: "Hai tôn giáo là Đạo giáo và Thích ca giáo (tức Phật giáo) đều là những tôn giáo ích nước lợi dân. Một vài hành động của một vài tăng sĩ Phật giáo và Đạo sĩ Đạo giáo có lúc không được khiêm tốn, nhưng ta cũng không thể vì thế mà xem nhẹ, coi thường tôn giáo đó". Từ đó có thể thấy rằng, Tống Thái Tông đã phân biệt rõ ràng giữa tác dụng tích cực của Phật giáo với các hành vi, các lời nói không tôn trọng của một vài tăng ni.

Về sau Tống Thái Tông còn nói rằng: "những lời dạy của Phù Đồ Thị (tức Thích Ca Mâu Ni) là có ích cho chính trị, hơn thế nữa xưa kia Vua Lương Vũ Đế đã xả thân, đến chùa làm tạp dịch, ông là người có tình cảm sâu sắc với Phật giáo. Trẫm nay không được như vậy". Ở đây, Tống Thái Tông lại còn phân biệt rõ ràng giữa việc coi trọng Phật giáo và việc bảo hộ Phật giáo. Do đó, tư tưởng chủ đạo của Tống Thái Tông là đề xướng Phật giáo ở mức vừa phải, coi trọng tính thực dụng, không để xảy ra những việc đáng tiếc.

Vào thời Tống Thái Tông trị vì, có một vị tăng xin được chất củi tự thiêu ở ngoại ô phủ Khai Phong, Tống Thái Tông choi rằng vị tăng đó hành động như vậy là cuống tín, nên ông không những không cho phép mà còn hạ lệnh bắt vị tăng này đưa đi tu hành ở nơi xa xôi hẻo lánh, ngôi chùa mà vị tăng đó trụ trì cũng bị phá huỷ. Ngoài ra, còn có một vài vị tăng xin được xây cất tu viện, Tống Thái Tông không chỉ không cho phép mà còn ra sắc lệnh hạn chế số lượng các tăng ni. Từ đó ta có thể thấy rằng, chính sách đối với Phật giáo của Tống Thái Tông rõ ràng hơn Tống Thái Tổ.

Tống Chân Tông cũng thực hiện chính sách để Phật giáo tồn tại. Bản thân ông cũng đã từng viết một bản "Luận Thích Thị" (bàn về Thích Ca Mâu Ni), ông cho rằng, sách về giới luật của Phật giáo cùng với học thuyết của Nho gia chỉ là hai con suối hợp thành một sông, mục tiêu của hai tôn giáo này đều là khuyến thiện cấm ác, do đó Phật giáo cần phải được đề xướng. Ông còn đem luân lý tam cương ngũ thường của Nho gia và ngũ giới của Phật giáo ghép lại với nhau. Ông nói rằng: "Không sát sinh nghĩa là nhân (nhân từ, nhân nghĩa); không trộm cắp nghĩa là liêm (trong sạch); không mê hoặc là chính (đứng đắn, ngay thẳng); không ăn gian nói dối, bừa bãi, bậy bạ là tín (lòng tín nghĩa); không uống rượu(33) say là trang nghiêm (đàng hoàng), mọi người trực tiếp thiên hạ đều phải tuân theo những điều này". Làm được như vậy thì "quân tử nhiều vào tiểu nhân ít".

Đây là một cách thể hiện rất rõ nét về trào lưu hấp thụ tư tưởng lẫn nhau rồi tiến tới hợp nhất của Nho giáo và Phật giáo hồi đó. Sự đề xướng đúng mức của Tống Thái Tông đối với Phật giáo cũng hoàn toàn xuất phát từ việc tính toán đến lợi ích thiết thân của người thống trị (giai cấp Phong kiến). Những việc gì của Phật giáo mà lợi ích thực tế không lớn hơn hoặc không có lợi ích thì ông cho áp dụng những chính sách hạn chế những thứ đó. Có một lần, Tống Chân Tông đến Long Môn, Lạc Dương, ông nhìn thấy một số lượng lớn các bức tượng phật trong hang đá bị hư hỏng, thế là ông quay đi không dám nhìn cảnh hoang tàn đó nữa.

Có người nhân cơ hội đó tấu trình Tống Châu Tông đích thân đứng ra tổ chức phục hồi lại. Nhưng Tống Chân Tông đã từ chối, ông nói rằng: "Những khoản chi giành cho quân đội thì để dùng vào đại sự của quân đội, không nên dùng vàng bạc châu báu đúc tượng Phật, cấm chỉ nhân dân xuất gia (đi tu), rời bỏ người thân thích".

Chính sách để Phật giáo tồn tại đó do Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn khởi xướng trải qua các đời như Tống Thái Tông, Tống Chân Tông lại được kế tục và không ngừng hoàn thiện, nó được các Đế Vương sau này của nhà Tống suy tôn là gia pháp của tổ tông. Trong quá trình thi hành thì có một số các Đế Vương rất coi trọng việc hạn chế Phật giáo. Vào những năm Gia Hưu của Tống Nhân Tông (từ 1056 -  1063), một vị phán quan của Từ Bộ tên là Trương Động đã dâng thư đề nghị cắt giảm số lượng tăng ni, ông Trương Động nói rằng, theo sổ sách thì hiện nay số lượng tăng ni khoảng hơn 30 vạn, ông kiến nghị Tống Nhân Tông cắt giảm một phần ba. Tống Nhân Tông đồng ý với kiến nghị của ông Trương Động, ban chiếu cắt giảm 10 vạn tăng ni. Hành động này chứng tỏ rằng, Tống Nhân Tông hạn chế Phật giáo.

Những năm cuối đòi Bắc Tống, Tống Huy Tông tôn sùng Đạo giáo. Ông muốn qua cuộc cải cách giáo để hạn chế Phật giáo. Biện pháp của ông là phát động một phong trào rộng khắp cải cách Phật giáo thành Đạo giáo, việc này nhằm tấn công về mặt tinh thần và cải cách về mặt hình thức đối với Phật giáo đời Tống. Có điều khác với các phong trào tấn công Phật giáo trước đây là, Tống Huy Tông không bắt các tăng ni Phật giáo phải hoàn tục, cũng không tịch thu ruộng đất sản xuất của các chùa, không phá huỷ chùa, miếu thờ Phật, cũng không phá huỷ tượng Phật, mà ông chỉ cải cách, chỉnh đốn Phật giáo trong tiền đề là để cho Phật giáo tồn tại, từ đó tạo điều kiện cho Đạo giáo và Phật giáo hợp nhất. Với tiền đề như vậy, ông đã nêu lên tư tưởng chủ đạo là cải cách Phật giáo thành Đạo giáo. Trước tiên, ông khẳng định tác dụng cơ bản của Phật giáo, ông chỉ rõ: "Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc tới nay, lời lẽ của Phật giáo tuy không giống với Đạo giáo nhưng tôn chỉ của Phật giáo lại giống với Đạo giáo. Từ xưa đến nay, mọi người đều nhờ vào Phật giáo và Đạo giáo chỉ đường hướng tới điều thiện, do đó Phật giáo cũng rất có ích cho thế tục", Thứ hai là, ông nhấn mạnh thêm sự bất lợi của Phật giáo đối với xã hội. Ông nói rằng: "Lời lẽ của Phật giáo rất lạ tai. Tăng ni thì phải cạo tóc, xem nhẹ thân mạng, ăn mặc khác lạ. Theo Phật giáo thì phải ròi bỏ Vua va những người thân, quên quê hương họ hàng. Trẫm là một người rất tôn trọng giáo nghĩa, Trẫm thấy rằng tôn giáo này tuy không thể phế bỏ, nhưng sự tồn tại của Phật giáo cũng làm tổng hại đến lễ nghĩa truyền thống của Trung Hoa, do đó không thể không cải cách. Từ đó có thể thấy rằng, tư tưởng chỉ đạo trong cải cách Phật giáo của Tống Huy Tông là nhằm vào trọng điểm. Tức là không phế bỏ Phật giáo mà chỉ cải cách Phật giáo. Nội dung chủ yếu của việc cải cách Phật giáo thành Đạo giáo ở hai mặt sau:

1) Giữ nguyên tất cả các ngôi chùa
(bao gồm các điện thờ, các gian nhà trong chùa và cả ruộng đồng của chùa), không được làm tổn hại đến lợi ích kinh tế vốn có của Phật giáo, không được sửa đổi giáo nghĩa của Phật giáo, không phá hoại hệ thống lý luận, tư tưởng của Phật giáo.

2) Trang phục, cách xưng hô và nghi lễ của Phật giáo cần phải được cải cách.
Danh hiệu "Phật Thích Ca Mâu Ni" được đổi thành "Đại Giác Kim Tiên". Các vị Bồ Tát, La Hán, Thánh Tăng đều đổi tên gọi thành Tiên Nhân hoặc Đại Sỹ, Tăng sỹ nói chung đổi thành Đức sỹ, chùa thờ Phật đổi tiên thành Cung, Phật viện đổi tiên thành Quán, vị trụ trì ở các tự viện thì đổi tên thành Trí Cung Quán Sự...

Cuộc cải cách Phật giáo thành Đạo giáo của Tông Huy Tông trên thực tế chỉ là cải cách về mặt hình thức để Phật giáo bị "Đạo giáo hoá" bề ngoài. Nhưng xét về một vài ý nghĩa nào đó thì phong trào cải cách này chỉ là một trò đùa để gây cười. Lúc đó, Phật giáo đã có lịch sử 1000 năm phát triển ở Trung Quốc, giáo nghĩa cùng với nghi lễ của Phật giáo "ăn sâu, bám chắc" vào mảnh đất Trung Hoa này, dùng mệnh lệnh hành chính để tiến hành cưỡng bức cải cách, trên thực tế chỉ là "ném đá ao bèo" mà thôi. Do đó cuộc cải cách này chỉ thực hiện được trong một năm, sau đó tự thân Phật giáo đã khôi phục lại nguyên trạng. Mặc dù đã có tiền đề là sùng thượng Đạo giáo, mặc dù "ám khí" của Đạo giáo bao trùm khắp quá trình này, nhưng cải cách đó vừa không thu được thành công, cũng không có mấy tác dụng về mặt lịch sử.

Tất cả các Đế Vương của nhà Tống đều thi hành chính sách cơ bản là để Phật giáo được tồn tại nhưng phải giám sát và quản lý Phật giáo càng ngày càng chặt chẽ. Từ đó ta có thể thấy rằng, quyền lực của các Đế Vương nhà Tống được mạnh lên rất nhiều, về cơ bản đã áp đảo và điều khiển được "thần quyền", do đó Phật giáo Trung Quốc càng ngày càng suy yếu.



(xin xem tiếp Phần  4)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, mavuong, dailuc, tadamina, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 01:52:36 pm »

(tiếp theo)

Phần 4

Dòng họ Gia Luật tôn sùng Thích Ca

Liêu Đạo Tông hoằng dương các tông phái

 

Vào thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, ở lưu vực sông Hoàng Thuỷ của thượng du sông Liêu (ngày nay là sông Tây Thích Mục Luân của vùng Nội Mông) ra đời một dân tộc thiểu số tên là Khiết Đan. Hồi đó họ sống lang thang du mục trên sông và trên đất, họ sinh sống bằng chăn nuôi và đánh bắt cá.

Thời Đường Thái Tông, dân tộc Khiết Đan nhập vào nhà Đường, chính quyền Trung Ương nhà Đường đã thiết lập Tùng Mạc Đô Đốc Phủ ở trên đất của nhà Liêu, đồng thời ban cho thủ lĩnh của họ (một người họ Lý) đảm nhận chức Đô Đốc. Bắt đầu thời Võ Tắc Thiên, dân tộc Khiết Đan dần dần lớn mạnh nhưng vẫn bị vùng Đột Quyết khống chế và gây áp lực, do đó trong những năm cuối đời Đường, họ phát triển chưa mạnh lắm.

 Cuối đời Đường, khi mà vùng Trung Nguyên bắt đầu bị chiến tranh loạn lạc thì dân tộc Khiết Đan nhân cơ hội này vùng dậy, trở thành một thế lực rất hùng mạnh ở vùng đất hoang vu phía Bắc (vùng Nội Mông). Năm 916, thủ lĩnh của người Khiết Đa tên là Gia Luật A Bảo Cơ tự xưng là Hoàng Đế, lập một quốc gia độc lập lấy tên là Khiết Đan (quốc hiệu Khiết Đan này đã thay đổi luôn luôn: năm 947 sau Công nguyên đổi thành Liêu, đến năm 983 lại đổi thành Khiết Đan, đến năm 1066 lại phục hồi thành Liêu. Từ đấy trở đi, các sách đều gọi là Liêu).

 Vua lấy niên hiệu là Kiến Nguyên Thần Sách. Hai năm sau lại định đô ở Phủ Lâm Hoàng (ngày nay là vùng ngoại ô của Ba Lâm Tả Kỳ vùng Nội Mông), gọi là Thượng Kinh. Sau khi lập nên nước Liêu, họ không ngừng tiêu diệt các thế lực ở phương bắc, dần dần họ trở thành một lực lượng đối kháng với Vương Triều ở Trung Nguyên.

Năm 937, nhà Liêu giành được 16 châu ở Yến Vân của nhà Hậu Tấn, do đó thế lực của họ ngày càng mạnh hơn. Sau khi Vương triều Bắc Tống được thành lập, nhà Liêu đã trở thành mọt trong những Vương Triều ở phương bắc đối kháng trực tiếp với nhà Bắc Tống. Chính quyền nhà Liêu do dân tộc Khiết Đan lập lên thì đến năm 1125 bị người Kim tiêu diệt. Chính quyền đó có 9 đời Hoàng Đế, kéo dài 210 năm.

Dân Khiết Đan vốn không có tín ngưỡng thờ Phật. Cuối thời Đường, Liên Thái Tổ Gia Luật A Bảo Cơ trong quá trình thống nhất các bộ tộc Khiết Đan và thiết lập chính quyền thì ông cũng có ý muốn tiếp thu nền văn hoá của Trung Nguyên chiêu mộ các nhân sỹ người dân tộc Hán.

Năm thứ hai của Thiên Hiển (năm 927 sau Công nguyên), Liêu Thái Tổ tấn công vùng Bột Hải của dân tộc Nữ Chân vốn thờ Phật, đưa vị tăng tên là Sùng Văn cùng 50 người ở vùng đó lên sống ở phủ Lâm Hoàng của Thượng Kinh. Sau đó cho xây chùa Thiên Hùng để mời các vị về ở, tạo điều kiện cho các vị hoằng dương Phật pháp.

Từ đó trở đi, từ các vị trong Hoàng tộc đến Đế Vương của nhà Liêu thường xuyên đến ngôi chùa này lễ bái Phật, đồng thời họ còn tổ chức các nghi lễ Phật giáo như cầu nguyện, truy tiến (còn gọi là truy phúc, tức là cúng tiền cho người đã chết), làm cơm chay khoản đãi các vị tăng. Từ đó Phật giáo dần dần được lưu hành ở trong Hoàng Thất (Hoàng tộc) và các vị quý tộc của Triều Đình. Năm đầu tiêu của Hội Đồng đời Liêu Thái Tông (Gia Luật Đức Quang), tức năm 937 sau Công nguyên, nhà Liêu thu được 16 châu của Yến Vân nhà Hậu Tấn. Ở vùng đất này thì Phật giáo tương đối thịnh hành, điều này đã thúc đẩy cho Phật giáo đời nhà Liêu được phát triển mạnh hơn.

Mối quan hệ giữa Phật giáo và các Đế Vương nhà Liêu ngày càng thân mật, họ cũng giống các Đế Vương vùng Trung Nguyên là bắt đầu che chở, bảo vệ Phật giáo để lợi dụng Phật giáo. Trong số 9 vị Đế Vương của nhà Liêu, thì có 3 vị là Thánh Tông Gia Luật Long Tự, Hưng Tông Gia Luật Tông Châu và Đạo Tông Gia Luật Hồng Cơ là có mối quan hệ thân mật với Phật giáo. Trong ba triều đại này, (từ năm 983 - 1100), Phật giáo đời nhà Liêu rất hưng thịnh.

Trong thời gian Liêu Thánh Tông tại vị (từ năm 983 - 1030), ông đã từng cho xây thêm hàng loạt các chùa thờ Phật đồng thời đem một số lượng lớn đất đai và dân lao động thí xả cho các tự viện Phật giáo. Dưới sự đề xướng do ông ta đứng đầu, rất nhiều vị quyền quý, công thần, nhà giàu cũng đem trang trại và dân lao động của mình thí xả cho tự viện Phật giáo. Điều này đã khiến cho thế lực của kinh tế tự viện trong đất nhà Liêu tăng rất mạnh. Những người dân được đem thí xả cho nhà chùa là những người đã đem một nửa số thuế theo quy định của nhà nước phong kiến nộp cho các lãnh chúa phong kiến, sau khi đem họ thí xả cho các tự viện Phật giáo, họ sẽ đem một nửa số thuế còn lại nộp cho tự viện.

 Điều này đã giúp chi các tự viện Phật giáo mặc dù mùa màng thất bát nhưng vẫn có một khoản thu nhập nhất định. Liêu Thánh Tông coi đó là chế định và ông gọi những người dân này là "Nhị thuế tự viện". Mục đích của việc thi hành chế độ này là giúp cho các tự viện Phật giáo có một khoản thu nhập cố định, lấy đó làm cơ sở cần thiết thúc đẩy sự phát triển của Phật giáo đời nhà Liêu. Con gái thứ của Liêu Thánh Tông là công chúa Tần Việt Đại Trường thấy Phụ Vương làm như vậy cũng cho xây dựng thêm nhiều chùa thờ Phật, đồng thời cô cũng thí xả ruộng đất và các người dân cho các tự viện.

 Cô đã thí xả tư dinh của mình ở Nam Kinh (cũng còn được gọi là Yến Kinh, ngày nay là Bắc Kinh) để xây thành chùa Đại Hạo Thiên, đồng thời cô cũng thí xả cho ngôi chùa này 100 khoảnh ruộng (mỗi khoảnh là 15 mẫu, mỗi mẫu là 40.000m2) và 100 người lao động. Cô công chúa này còn làm theo cha mẹ, tức là cô thí xả cho tự viện Phật giáo 13 vạn quan tiền (mỗi quan là 1000 xu bằng đồng).

Hồi đó có một bà quả phụ giầu có, trong trào lưu thí xả cho tự viện Phật giáo đang diễn ra rầm rộ, bà không chịu thua kém mọi người, một lần bà cũng thí xả cho chùa Tịnh An ở Trung Kinh (còn được gọi là phủ Đại Định, ngay nay là thành phố Đại Danh trong vùng Nội Mông) 3000 khoảnh ruộng, 1 vạn thạch gạo (mỗi thạch là 100kg), 2000 quan tiền, 50 người dân lao động, 50 con trâu, 40 con ngựa, có thể nói bà là một người vô cùng hào phóng. Trong trào lưu thí xả diễn ra rầm rộ và rộng khắp như vậy, nền kinh tế tự viện Phật giáo ở đời Liêu được phát đạt cực độ. Điều này đã khiến cho Phật giáo đời liêu càng thêm sức hấp dẫn.

Do có sự nâng đỡ và che chở Phật giáo như vậy nên vào thời Liêu Tháng Tông, Phật giáo phát triển rộng khắp. Để cho sự phát triển của Phật giáo thích ứng với yêu cầu thống trị của nhà nước phong kiến, Liêu Thánh Tông đành phải tiến hành chỉnh đốn Phật giáo. ông đã từng ban chiếu cấm chỉ việc lén lút độ tăng ni, đồng thời cũng cấm chỉ chuyện lúc đó cũng rất thịnh hành là đốt ngón tay cúng Phật. Trên một ý nghĩa nhất định, điều này đã làm cho sự phát triển của Phật giáo ở đời Liêu đi theo một quỹ đạo đúng đắn.

Liêu Thánh Tông cũng rất chú ý xây dựng nền văn hoá Phật giáo. Chùa Vân Cư nổi tiếng ở Phòng Sơn, Bắc Kinh có một bản kinh khắc trên đá. Bản kinh này đang khắc dở vào cuối đời Đường thì bị ngừng lại vì chiến tranh loạn lạc. Vào thời Liêu, trải qua mấy lần chiến tranh loạn lạc, chùa Vân Cư cũng bị tàn phá. Sau khi Liêu Tháng Tông lên ngôi, ông liền ban chiếu chỉ trùng tu chùa Vân Cư.

Trong quá trình trùng tu chùa, một vị quan viên của nhà Liêu ở Nam Kinh tên là Hàn Thiệu Phương đã cho mở hang đá bên trong là kinh khắc trên đá, sau đó kiểm tra đối chiếu kinh khắc trên đá rồi cho báo cáo lên Liêu Thánh Tông. Liêu Thánh Tông liền ra sắc lệnh cho tăng sỹ tên là Khả Huyền tổ chức người tiếp tục khắc kinh trên đá. Bản chưa khắc xong thì khắc tiếp và khắc tiếp bản khắc mới.

Sau này ở hai Triều đại là Hưng Tông và Đạo Tông đã cho khắc tiếp được hơn 600 bản kinh trên đá, cộng với những bản có từ trước tất cả là 2730 bản. Việc này đã bảo tồn được văn hoá Phật giáo vô cùng phong phú.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 01:54:25 pm »

(tiếp theo)

Sau khi Liêu Thánh Tông qua đời, Liêu Hưng Tông lên ngôi. Liêu Hưng Tông cũng rất coi trọng Phật giáo. Ông thường xuyên đến thăm viếng các vị cao tăng, đề xướng Phật giáo, thúc đẩy sự hình thành một trào lưu rất rầm rọ về Phật học ở đời Liêu. Một vị tăng ở chùa Hải Vân trên đảo Giác Hoa (ngày nay là đảo Cúc Hoa, Hưng Thành tỉnh Liêu Ninh) tên là Hải Sơn Đại Sư, hồi ở thế tục ngài họ Lương tên là Tư Hiếu. Ông đậu đến tiến sỹ từ rất sớm, đã từng làm một vị quan nhỏ ở quận và ở huyện.

Sau đó ông chán ghét trần tục, xuất gia thành tăng sỹ. Vì hạnh nghiệp của ông rất siêu tuyệt nên ông đã nổi tiếng thiên hạ. Các Hoàng Thân quý tộc của nhà Liêu coi ông là thầy. Sau khi Liêu Hưng Tông nghe tên vị tăng, ông liền cho ban chiếu mời vị tăng đó đến kinh sư, ban cho danh hiệu là Sùng Lộc Đại Phu Thủ Ty Không Phù Quốc Đại Sư. Hàng ngày khi rỗi rãi việc triều chính, Liêu Hưng Tông thường cùng với hoà thượng Hải Sư ngồi đàm đạo, hai người còn dùng cả thơ văn để xướng hoạ. Tình cảm giữa hai người rất sâu đậm.

Trong các bức thư mà hoà thượng Hải Sơn gửi cho Liêu Hưng Tông, ông đều xưng là học huynh và học đệ chứ không hề xưng là bề tôi. Trong khi qua lại thăm viếng với các vị cao tăng, Liêu Hưng Tông đã được Phật giáo học cảm hoá. Về sau ông quy y thọ giới, tự xưng mình là một đệ tử của Phật. Hồi đó còn có một vị cao tăng nữa tên là Giác Uyển, là một người chăm chỉ dùi mài kinh sách, tinh thông về Mật Tông. Ông viết rất nhiều sách, được Liêu Hưng Tông phong là Yến Kinh Viên Phúc Tự Sùng Lộc Đại Phu Kiểm Hiệu Thái Bảo Hành Sùng Lộc Khanh Tổng Bí Đại Sư.

 Với hàm tước như trên thì ngoài nhiệm vụ là "Tổng Bí Đại Sư" (tương đương chức Tổng Thư Ký của Giáo Hội Phật Giáo bây giờ) ra, ông còn là người có tước vị Tam Công Tam Ti Kiêm Chính Sự trong triều đình. Điều này chứng tỏ rằng, Liêu Hưng Tông rất quý trọng các vị cao tăng, rất ưu tiên các Sư môn (sư), cử các vị vào những chức vụ cao để đề cao địa vị của Phật giáo trong xã hội. Theo ghi chép trong sách sử có liên quan, trong thời kỳ Liêu Hưng Tông tại vị (từ năm 1031 đến 1054 sau Công nguyên), ông đã tấn phong cho hơn 20 vị tăng vào chức "Tam Công Tam Ty Kiêm Chính Sự".

Từ trước đó, vào năm đầu tiên của Thái Bình Liêu Thánh Tông (năm 1022) nhà Liêu đã xin được bản in của "Khai Bảo Tạng" khắc từ đời Tống. Liêu Thái Tông sau khi có được bản kinh của Phật Tạng này, ông quyết định tổ chức in ấn Kinh Đại Tạng của Phật giáo vào thời mình. Mục đích căn bản của hành động này là gây ý nghĩa chính trị cạnh tranh với bản in từ đời Tống.


Vào những năm Trùng Hy của Liêu Hưng Tông (từ năm 1032 - 1054 sau Công nguyên) nhà Liêu bắt đầu tổ chức khắc bản in kinh Đại Tạng, trải qua gần 30 năm, đến năm 1062 mới hoàn thành. Tất cả đóng vào 579 hộp, nội dung của các bản kinh đó có bổ xung hết những điều còn thiếu sót trong bản chép tay vào đời Tống, đồng thời đổi kiểu chữ Quyển thành kiểu chữ Triệt. Bản kinh Đại Tạng của Phật giáo này được gọi là "Khiết Đan Tạng". Bản in này tuy chưa được truyền xuống phía Nam, nhưng cũng đã được mang đến tận Cao Ly (ngày nay là Triều Tiên). Nó đã cấp một tài liệu tham khảo cho việc khắc và in kinh Đại Tạng ở Cao Ly.

Năm 1055 sau Công nguyên, Liêu Đạo Tông gia Luật Hồng Cơ lên ngôi. Theo ghi chép trong sách sử có liên quan thì Gia Luật Hồng Cơ là người thông hiểu giáo lý Hoa Nghiêm tông của Phật giáo, còn học thuyết của các tông phái khác trong Phật giáo cũng biết đôi chút.

Do trong thời gian 45 năm ở ngôi của mình ông đã hoằng dương thêm các tông phái của Phật giáo được hình thành từ đời Tuỳ Đường nên các tông phái Phật giáo trên đất Liêu ngày càng thịnh hành, thịnh hành hơn cả ở vùng Trung Nguyên cùng thời đại.

Hồi đó có một vị hoà thượng tên là Pháp Ngộ, ông đã từng viết một bài văn ca tán Liêu Đạo Tông như sau: "bệ hạ truyền bá Hoa Nghiêm tông của nhà Phật, đó là kho sách báu các Vua truyền cho nhau; mỗi bước đi đều giữ được chánh pháp, ngăn ngừa tà đạo.

Ngồi trên ngự tạo nói những điều vi diệu, rửa sạch mọi dị đoan. Xin hết lời nói rõ cái tận cùng vi diệu của tông phái, các vị thần dặn rằng ngừng ngay việc chinh chiến". Trong lời lẽ rất kính trọng như vậy, ông ta đã chỉ rõ Liêu Đạo Tông am hiểu về Hoa Nghiêm Tông trong Phật học.

 Đồng thời, Liêu Đạo Tông đã đích thân viết ra những bài ca tán Hoa Nghiêm Tông của Phật giáo. Trên thực tế thì Liêu Đạo Tông quả thực cũng là người nghiên cứu sâu sắc về Hoa Nghiêm học, bản thân ông cũng đã từng viết các bài luận như: "Hoa Nghiêm Tuỳ Phẩm Tán", "Hoa Nghiêm Kinh Tán", "Hoa Nghiêm Kinh Ngũ Tụng".

Thời đó những luận văn này rất có ảnh hưởng. Lúc bấy giờ có một vị tăng theo phái Hoa Nghiêm tên là Tiêu Diễn vốn quê ở Hoà Châu, ở thế tục họ Lý, ngay từ nhỏ vị tăng này đã được cha mẹ giáo dục bằng nho học và đã được tiếp thu Phật học về sau xuất gia thành tăng sỹ, ở chùa Khai Long của Thượng Kinh theo học Hoa Nghiêm. Sau khi học xong, ông liền đi chu du khắp thiên hạ, trở thành người nổi tiếng.

Ông được mời làm giảng chính trong chùa Trúc Lâm ở Yến Kinh. Khi Liêu Đạo Tông đến Yến Kinh, có người đã tiến cử ông với Liêu Đạo Tông. Liêu Đạo Tông rất mê tài hoa của tăng Tiêu Diễn, ban chức quan và đặt cho tăng Tiêu Diễn hiệu là Từ Huệ Đức, đồng thời đổi nhiệm vụ của ông từ chùa Đại Khai Long đến giảng chính ở Phủ Hoàng Long (ngày nay là Nông An của Cát Lâm).

Như thường lệ, cứ vào mùa đông và mùa hạ là Liêu Đạo Tông lại đích thân ban chiếu mời tăng Tiêu Diễn về kinh sư để cùng vua bàn về sự huyền diệu của Phật pháp, tìm hiểu ý nghĩa sâu xa, vi tế của một số từ trong sách Phật. Tăng Tiêu Diễn vốn là người rất giỏi về trình bày và diễn thuyết, lại chịu khó lắng nghe, điều này càng khiến cho Liêu Đạo Tông mê hơn.

Không bao lâu sau, Liêu Đạo Tông liền đặc cách phong ông là "Viên Thông Ngộ lý Pháp Sư", về sau lại đổi thành "Sùng Lộc Đại Phu Kiêm Hiệu Thái Bảo", đứng ở hang Tam Công (3 người đứng sau Vua trong buổi lên Triều). Ngoài ra, hồi đó còn có một vị tăng tên là Chí Thực, ông là một người giỏi Hoa Nghiêm học, ông cũng đã từng viết cuốn "Hoa Nghiêm Kinh Tuỳ Phẩm Tán Khoa", quyển này là tài liệu để viết cuốn "Hoa Nghiêm Tuỳ Phẩm Tán" cho Liêu Đạo Tông, quyển này được đích thân Liêu Đạo Tông đón nhận.

Hồi đó còn có một vị tăng giỏi Hoa Nghiêm học tên là Đạo Bức, là một sa môn ở phủ Hưng Trung và chùa Hoa Nghiêm, Long Sơn. Vì ông nghiên cứu rất sâu về Hoa Nghiêm học nên ông cũng được Liêu Đạo Tông ban danh hiệu "Sùng Lộc Đại Phu Thủ Ty Không Ngộ Lập Thông viên Đại Sư", cũng được đứng vào hàng Tam Công. Do có sự đề xướng và che chở, nâng đỡ của Liêu Đạo Tông mà Hoa Nghiêm Tông sau mấy lần bị tàn lụi, không ai học ở vùng Trung Nguyên thì nay dần dần thịnh trên đất nhà Liêu. Trên một ý nghĩa nhất định có thể nói rằng, điều này có tác dụng văn hoá kế tục điều đã mất. Phái Mật Tông của Phật giáo Trung Quốc được hình thành và những năm Khai Nguyên của nhà Đường.

Tông phái này rất chú trọng phương thức tu hành, cho rằng chúng sinh nếu như theo pháp môn này mà tu gia trì (giữ gìn) tam mật tức là: một tay kết ấn khế (một kiểu để tư thế tay nào đó); hai là: miệng tụng chân ngôn (có 6 từ chân ngôn gồm: a, ma, ba, ni, mễ, hống); ba là tâm quán Phật tôn (quán tưởng đến một vị Phật nào đó) - thì có thể khiến cho 3 nghiệp của mình gồm thân, miệng, ý, được thanh tịnh. Thân, miệng, ý của người đó tương ứng với thân, miệng, ý của Phật tôn, như vậy người đó đã thành Phật. Mật pháp của tông này rất huyền bí, không cần phải nhận sự truyền thụ của Giới Sư, do đó sau khi nó hình thành vào thời Đường thì nó chỉ được truyền lại cho vài đời, sau đó có chuyện Vũ Tông phế Phật giáo và chiến tranh loạn lạc thời Ngũ Đại, nó đã suy yếu dần và diệt vong trên đất Trung Nguyên.

Nhưng vào thời Liêu lại rất thịnh hành Mật Tông, trong dân gian lại càng thịnh hành hơn. Sở dĩ được như vậy là vì Mật Tông luôn luôn được sự đề xướng của Liêu Đạo Tông. Như trên đã nói, Liêu Hưng Tông vô vùng quý trọng hoà thượng Giác Uyển, mà vị hoà thượng này chính là một vị đại sư của Mật Tông.

 Khi Liêu Đạo Tông lên ngôi thì hoà thượng Giác Uyển lại càng được Liêu Đạo Tông tôn trọng. Liêu Đạo Tông luôn nhắc nhở hoà thượng Giác Uyển biên soạn cuốn "Đại Khoa" và "Diễn Mật Sao" để giải thích và phát triển rộng giáo nghĩa Mật Tông.

Hồi đó cũng còn có một sa môn tên là Đạo Trấn ở chùa Kim Hà núi Ngũ Đài, ông tự là Pháp Tràng, ở thế tục ông họ Đỗ, quê ở Vân Trung, từ nhỏ ông đã nghiên cứu Phật học và kinh của Nho học. Ông thông hiểu về nội học và ngoại học, chuyên hoằng dương Mật giáo, ông đã viết rất nhiều sách, từng được Liêu Đạo Tông phong là Đại Sư. Ông được khắp nơi tạo điều kiện thuận lợi để viết sát.

Về sau ông Đạo Trấn viết bộ "Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập" gồm 2 quyển và một quyển phụ lục tên là "Cúng Phật Lợi Sinh Nghi". Hai quyển này chuyên bàn về tâm yếu tu trì theo Hiển tông và Mật tông của Phật giáo (ngoài Mật tông ra thì Phật giáo vẫn quen gọi các tông phái khác là Hiển tông) và các vấn đề như làm thế nào để hiểu rõ Mật giáo và Hiển giáo. Hồi đó hai quyển sách này đã từng gây ảnh hưởng to lớn trong giới Phật giáo.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 01:57:46 pm »

(tiếp theo)

Vào năm đầu của Thanh Ninh Liêu Đạo Tông (năm 1055), Liêu Đạo Tông đã phong thêm cho vị Bồ Tát Giới Sư chủ sám hối chùa Phụng Phúc ở Yến Kinh tên là hoà thượng Phi Trọc chức "Sùng Lộc Đại Phu Kiểm Hiệu Thái Bảo", vào năm sau lại tấn phong ông là "Kiểm Hiệu Thái Phụ Thái Uý", ban hiệu là "Thuần  Huệ Đại Phu". Hoà thượng Phi Trọc tự là Chân Chiếu, ở thế tục ngài họ Trương, là một vị đại sư nổi tiếng trên đất Liêu và hoằng dương Tịnh Độ tông của Phật giáo.

Tịnh Độ tông được sáng lập bởi ngài Thiện Đạo vào đầu thời Đường. Tông phái này dựa vào các quyển kinh như "Kinh A Di Đà", "Kinh Vô Lương Thọ", "Kinh Vãng Sinh". Tông phái này cho rằng, thế giới hiện tại mà con người đang sống là một thế giới trần tục ô uế, trong khi đó thế giới ở bên kia - nơi có các vị Phật đang cư ngụ, là một thế giới cực lạc, là một nơi mà con người đang mong được sống ở đó.

Cách tu hành theo tông phái này rất dễ, không cần phải thông hiểu kinh Phật, cũng không cần phải tĩnh toạ chuyên tu mà chỉ cần có tín nguyện là đủ rồi. Chỉ cần luôn niệm "A Di Đà Phật" không gián đoạn thì có thể được vãng sinh về thế giới Cực Lạc của Tịnh Độ Tây Phương. Sau khi tông phái này ra đời, do nó rất dễ thực hành nên nó được lưu hành rộng rãi trong nhân dân.


Tông phái này cũng được các nhân sỹ cùng với các tín đồ trong Hoàng tộc nước Liêu nhiệt liệt chào đón. Do có tình hình như vậy, nên ở nước Liêu, phái Tịnh Độ tông không hề bị suy thoái. Vào năm thứ 6 của Thanh Ninh (năm 1060), Liêu Đạo Tông đến Yến Kinh, thọ giới Bồ Tát giới từ vị chủ sám hối của Yến Kinh, tự nguyên quy y theo đạo Tịnh Độ tông của Phật giáo.

Trong quá trình quan hệ với Liêu Đạo Tông, hoà thượng Phi Trọc luôn luôn mang quyển sách do mình viết có liên quan đến Tịnh Độ tông trình lên Liêu Đạo Tông đọc. Sau khi xem quyển sách về Tịnh Độ tông do ngài Phi Trọc viết, Liêu Đạo Tông còn phát triển thêm, đích thân ông tiến hành hiệu đính và thêm bớt, chế tác thêm lời trích dẫn cho quyển sách đó, đồng thời hạ lệnh đưa toàn bộ quyển sách này vào trong "Kinh Đại Tạng" của Phật giáo.

Sau này, những quyển sách về Tịnh Độ tông đó của ngài Phi Trọc từ Cao Ly (ngày nay là Triều Tiên) truyền sang Nhật Bản, nó đã từng gây ảnh hưởng tương đối lớn trong giới Phật học Triều đại An Bình bên Nhật Bản.

Luật tông của Phật giáo Trung Quốc hình thành vào thời kỳ Tuỳ Đường. Người sáng lập ra Tịnh Độ tông trên thực tế là hoà thượng Đạo Tuyên sống ở đầu thời Đường. Cái gọi là "Luật" chính là những giới luật mà các tín đồ Phật giáo phải tuân thủ. Luật tông của Phật giáo Trung Quốc là một tông phái hình thành để chủ yếu giúp cho giới luật của Phật giáo thích nghi với tình hình Trung Quốc.

Vào thời Liêu, tông phái này có một vị cao tăng luật học nổi tiếng tên là Trừng Uyên. Thời Liêu Đạo Tông trị vì, vị cao tăng này trụ trì chùa Phụng Phúc, Yến Kinh. Ông đã nhiều lần được Liêu Đạo Tông mời vào Triều để tiếp kiến, giảng giải về luật học của Phật giáo cho Đạo Tông nghe, do đó ông được Liêu Đạo Tông vô cùng quý trọng.

Ngoài ra còn có các vị cao tăng trong Luật học của Phật giáo như Thủ Đạo, Trí Viễn. Các vị này đã nhiều lần được Liêu Đạo Tông mời vào trong Nội Cung để chủ trì giới đàn. Có một vị Đại hoà thượng ở núi Yên Ngựa truyền giới Bồ Tát tên là Pháp Quân vào năm Thanh Ninh thứ bảy (1061) cũng được Liêu Đạo Tông ban chiếu yêu cầu hiệu đính các quyển sách luật, đồng thời giao cho ông trụ trì Luận Trường (nơi diễn ra các cuộc thảo luận) ở chùa Tam Học, Yến Kinh. Một năm sau, ông được Liêu Đạo Tông ban áo tím (tức là được làm quan) cùng đức hiệu là Nghiêm Huệ. Việc Liêu Đạo Tông cung kính các vị cao tăng Luật học của Phật giáo đã thúc đẩy sự phát triển của Luật tông trong Phật học đời nhà Liêu.

Trong lịch sử của Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo đời Liêu do có sự nâng đỡ và đề xướng của các vị Đế Vương nên có địa vị lịch sử rất đặc biệt. Đầu tiên là các tông phái Phật giáo được hình thành vào thời kỳ Tuỳ Đường thì trên đất nhà Liêu chúng được tiếp tục phát triển, quy mô và mức độ hưng thịnh của chúng vượt xa các tông phái Phật giáo ở vùng Trung nguyên trong thời kỳ này. Đây là một đặc điểm quan trọng nhất của Phật giáo đời nhà Liêu.

Thứ hai là các Đế Vương nhà Liêu rất chú trọng trong xây dựng nền văn hoá Phật giáo, cho tiến hành khắc bản in và in ấn kinh Đại Tạng của Khiết Đan và tiếp tục tổ chức khắc kinh trên đá ở chùa Vân Cư, thuộc Phòng Sơn, Yến Kinh. Những việc như thế một mặt đã bảo tồn được di sản lịch sử - văn hoá của Phật giáo, mặt khác thì nội dung của việc xây dựng nền văn hoá Phật giáo này cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Phật giáo của Nhật Bản và Cao Ly (ngày nay là Triều Tiên).

 Bản "Khiết Đan Tạng" không thấy nữa, nhưng hiện nay ở Cao Ly còn một bản "Cao Ly Tạng" ta có thể thấy toàn cảnh của "Khiết Đan Tạng".

 Ngoài ra, việc Liêu Đạo Tông hoằng dương các tông phái Phật giáo và việc hồi đó rất nhiều vị cao tăng biên soạn sách về đề tài Phật giáo cũng đã phản ánh rõ nét tình hình hoạt động của các tông phái Phật giáo lúc bấy giờ. Các quyển sách đó phần nhiều đã được đưa vào "Cao Ly Tạng".

Chúng đều là những nội dung rất quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống văn hoá Phật giáo ở phương đông. Từ đó có thể thấy rằng, dưới sự che chở và đề xướng của các Đế Vương nhà Liêu ở vùng Trung Nguyên, Phật giáo nhà Liêu đã có một tác dụng không thể thay thế được trong các mặt như giao lưu văn hoá Phật giáo thời cổ đại giữa Trung Quốc với nước ngoài và việc bảo tồn sử liệu Phật giáo vô cùng quý giá.

Liêu Đạo Tông đã giành rất nhiều tâm huyết vào sự nghiệp hoằng dương của tông phái Phật giáo. Nhưng là một Đế Vương của nhà nước phong kiến thì việc ông nâng đỡ, che chở và đề xướng Phật giáo chỉ là tình cảm theo kiểu chủ nghĩa tín ngưỡng. Ông thờ Phật và cũng giống như Liêu Thánh Tông, ông cũng đã từng thí xả rất nhiều cho các chùa chiền Phật giáo.

Theo ghi chép trong sử sách có liên quan thì trong một năm, Liêu Đạo Tông đã từng làm cơm chay khoản đãi 36 vạn tăng. Trong vòng một ngày ông đã từng làm lễ thế độ (xuống tóc) cho 3000 tăng ở các chùa. Từ đó ta có thể thấy rõ mức độ sùng tín của ông ta với Phật giáo, Nhưng ông vẫn có một niềm đam mê đặc biệt của riêng mình là, ông rất thích xây các tháp thờ Phật cho các tự viên Phật giáo.

Vào năm Hàm Ung thứ 7 (1071) Liên Đạo Tông đã từng ban chiếu xây dựng một tháp thờ Phật ở Tây Sơn, Yến Kinh trên đó vẽ 1000 vị Phật rồi cho đặt xá lợi răng Phật vào trong đó. Ứng tỉnh Sơn Tây hiện nay cũng là do Liêu Đạo Tông ban sắc lệnh xây dựng. Ngôi tháp này phân làm 5 tầng, tầng đỉnh có 4 tầng, tháp hình lục giác, ở mỗi tầng đều có mái hiên uốn cong, 6 mái hiên nối liền với nhau.

Từ dưới đất lên đến đỉnh cao hơn 20 trượng (1 trượng = 3,3m), thân tháp bằng gỗ, tạo hình đẹp lộng lẫy. Nó trong như lầu các (1), nó là ngôi tháp duy nhất xây vào thời Liêu còn tồn tại đến bây giờ. Ngôi tháp này sau khi được xây dựng, trải qua hơn 900 năm chịu gió mưa, sớm chớp, giông bão, nhưng nó vẫn đứng sừng sững không hề nghiêng ngả, thật xứng đáng là một kỳ tích lịch sử kiến trúc của Trung Quốc.

Nhưng xét từ một góc độ khác thì rốt cuộc Liêu Đạo Tông vẫn là một vị Hoàng Đế của nhà nước phong kiến. Ông thờ Phật, hoằng dương các tông phái của Phật giáo là ông có mục đích chính trị rõ ràng, đó là ông muốn Phật phù hộ cho quốc thái dân an. Khi ông ta còn là một Thái Tử, ông đã từng viết lên bức tượng Phật mới đúc xong rằng: "Uy vũ trang nghiêm Pháp tường nghiêm trang hiền từ Bảo Hộ cho nước Liêu của ta, vạn đời hưởng phúc".

Câu này đã nói toạc mục đích tôn thờ Phật của ông ta. Đồng thời, trong lòng ông ta luôn luôn tồn tại ý thức phòng phạm Phật giáo. Khi ông tại vị, có một số vị hoà thượng không tuân thủ giới luật đã gây ảnh hưởng xấu. Lập tức ông viết một bài "Giới Húc Thích Lưu Kệ" để khuyên ngăn. Bài "Kệ" đó nói rằng:

"Muốn học Thiền Tông trước tiên phải có hứng thú, không cần trốn thế ngồi viết sách, như nay diệt tướng quên tu hành chẳng mấy tam đồ sẽ hiện ra".

Trong bài kệ này, Liêu Đạo Tông muốn dùng lý luận Phật học để nhắc nhở và khuyên nhủ những vị không chịu giữ gìn giới luật kia. Thật đáng gọi là lấy đạo của người đó trị thân của người đó. Liêu Đạo Tông vì sùng Phật mà hoằng dương các tông phái của Phật giáo, giúp cho Phật giáo trong một thời gian ngắn được phục hồi. Sau đó, Phật giáo Trung Quốc tiếp tục suy yếu, trong đó những tông phái có thể tiếp tục phát triển được là những tông phái dễ tu hành như Thiền Tông và Tịnh Độ tông.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:03:33 pm »

(tiếp theo)

Lý Nguyên Hạo mở rộng Phật sư

Tây Hạ vương đời đời sùng pháp

 

Tây Hạ là tên mà nước đời Tống gọi chính quyền dân tộc Đảng Hạng lập lên. Dân tộc Đảng Hạng là một nhánh của dân tộc Khương, từ xa xưa họ sống du mục ở miền tây bắc Trung Quốc. Vào những năm cuối đời Đường, thủ lĩnh của người dân tộc Đảng Hạng tên là Thác Bạc Xích Từ hàng nhà Đường, được nhà Đường phong làm Đô Đốc của châu Tây Nhung. Về sau một thủ lĩnh của họ tên là Thác Bạc Tư Cung cũng dẫn quân giúp nhà Đường trấn áp cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào, có đóng góp trong việc thu phục Trường An, nhà Đường phong ông ta là Tiết Độ Sứ của Đinh Nạn Quân (ngày nay là Bạch Thành Tử ở vùng Tịnh Biên tỉnh Thiển Tây), thăng tước vị là Hạ Quốc Công, ban cho được mang họ Lý. Từ đó trở đi người dân tộc Đảng Hạng liền chiếm hết miền đất bao la rộng lớn ở tỉnh Thiển Bắc ngày nay.

Con cháu của Thác Bạc Tư cung nối tiếp nhau đến tận nhà Tống rồi thủ lĩnh của họ là Lý Kế Bổng đầu hàng và xin nhập nhà Tống nhưng con cháu của ông ta là Lý Kế Thiên không muốn nhập Tống, lên lãnh đạo những người ở vùng tây Thiên Linh Châu (ngày nay là Linh Vũ của Linh Hạ) do ông ta cai quản chống lại nhà Tống, tự lập nên quốc gia riêng. Năm 1004, Kế Thiên băng hà, con trai là Đức Minh lên ngôi. Hai cha con là Kế Thiên và Đức Minh đều lấy vùng Thiểm Bắc và Ninh Hạ làm căn cứ. Họ không ngừng phân tử thế lực, lập nên chính quyền cát cứ. Năm 1031 Lý Đức Minh băng hà, con trai là Lý Nguyên Hạo kế vị.

Khi vực mà Lý Nguyên Hạo thống trị lớn mạnh đến mức về phía đông thì tiếp giáp với sông Hoàng Hà, phía tây thì gần Ngọc Môn, phía nam tiếp giáp với Tiêu Quan, phía bắc thì kiểm soát được toàn bộ sa mạc phía bắc, bao gồm cả miền bắc tỉnh Thiểm Tây, tỉnh Ninh Hạ, chính thức lập nên chính quyền Tây Hạ. Chính quyền Tây Hạ tồn tại ở phía bắc Trung Quốc đến năm 1227 thì bị người Mông cổ tiêu diệt. Chính quyền đó kéo dài 190 năm, trải qua 10 đời Vua.

Người dân tộc Đảng Hạng lập nên chính quyền Tây Hạ vốn là những người không hề có tín ngưỡng thờ Phật. Theo khảo sat của các chuyên gia hữu quan thì những người sùng tín Phật trong số những người thống trị của chính quyền Tây Hạ bắt đầu tổ chức những hoạt động Phật sự vào thời kỳ Lý Đức Minh thống trị.

Vào năm thứ 4 của Cảnh Đức Tống Châu Tông (năm 1007), mẫu thân của Lý Đức Minh qua đời. Khi mai táng mẹ, Lý Đức Minh đã từng nêu lên đề nghị được xây 10 ngôi chùa thờ Phật ở một trung tâm Phật giáo của nhà Bắc Tống là núi Ngũ Đài, đồng thời ông cử sứ giả chuyên lo việc tế lễ hộ tống đoàn mang vật phẩm cúng tế đến núi Ngũ Đài. Điều này đã chứng tỏ rằng, hồi đó Phật giáo đã trở thành một tín ngưỡng trong Vương thất của dân tộc Đảng Hạng. Năm thứ 8 của Thiên Thánh Tống Nhân Tông (năm 1030), Lý Đức Minh lại cử người đến Triều Đình nhà Tống xin Kinh Đại Tạng của Phật giáo.

Tống Nhân Tông liền cho bộ "Khai Bảo Tạng" vừa mới in xong. Điều này đã chứng tỏ rằng, tín ngưỡng thờ Phật ngày càng "ăn sâu, bám chắc" vào trong lòng người dân tộc Đảng Hạng, đồng thời họ cũng đã bước đầu xây dựng được nền tảng Phật giáo.

Lý Nguyên Hạo, con trai của Lý Đức Minh là một người có đầy đủ tính cách của một anh hùng đầy mưu lược. Trước khi ông ta lên ngôi xưng Hoàng Đế thì trong quân sự ông ta không chỉ gây chiến nhà Bắc Tống, người Khiết Đan mà còn đánh cả người Hồi Cốt (một chính quyền của người dân tộc thiểu số sống ở hành lang Hà Tây lập nên) ở phía tây, phía nam thì ông ta đánh xuống Thổ Phiên (chính quyền do người dân tộc thiểu số lập nên ở cao nguyên Thanh Tạng), ông ta còn tấn công cả Lan Châu.

Những nơi này đều là những nơi mà Phật giáo rất thịnh hành. Do đó, nền Phật giáo ở Tây Hạ lại có một môi trường phát triển mới. Năm đầu tiên Cảnh Hựu Tống Nhân Tông (năm 1035), Lý Nguyên Hạo đã hiến 50 con ngựa cho nhà Bắc Tống để xin thêm kinh Phật và Tống Nhân Tông đã lập tức ban phát thêm kinh Phật cho nhà Tây Hạ.

 Vào năm sau, một tăng sỹ người Ấn Độ tên là Thiệu Xưng cùng với 9 người khác đến vùng Hạ Châu (ngày nay là huyện Tinh Biên của tỉnh Thiểm Tây) thuộc quyền cai quản của nhà Tây Hạ. Những người này đang trên đường trở về sau khi đến kinh sư Biện Lương (ngày nay là thành phố Khai Phong) của nhà Bắc Tống để hiến dâng cho Hoàng Đế Bắc Tống những thứ như kinh Phật bằng tiếng Phạn, xương Phật, tượng Bồ Tát bằng đồng. Những người này bị Lý Nguyên Hạo bắt dừng lại ở trạm nghỉ, Lý Nguyên Hạo xin họ bộ kinh Phật nhưng không được, liền ra lệnh nhốt họ lại.

Chuyện này tuy chứng tỏ rằng, Lý Nguyên Hạo là kẻ sử dụng thủ đoạn bạo ngược, chẳng nể nang gì ai, nhưng từ đó ta có thể thấy sự thành tâm tha thiết của ông ta với Phật giáo. Vào năm 1083, vài tháng trước khi Lý Nguyên Hạo xưng Đế, ông đã dâng biểu lên Hoàng Đế nhà Bắc Tống tỏ ý muốn cử sứ giả đến núi Ngũ Đài cúng giàng Phật Bảo, xin Hoàng Đế nhà Tống cho phép.

Theo phân tích từ những sách có liên quan, mục đích của Lý Nguyên Hạo là muốn dò la và nhòm ngó đường xá ở Hà Đông, làm công tác chuẩn bị cho ông ta xưng Đế lập quốc gia riêng. Trong việc này vừa có lòng thành kính với Phật nhưng cũng có kết hợp với các việc khác như đấu tranh chính trị và hoạt động gián điệp.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Tám 05, 2011, 02:08:20 pm »

(tiếp theo)

Vào ngày hôm trước Lý Nguyên Hạo tuyên bố thành lập nước Tây Hạ, ông không chỉ xin kinh Đại Tạng của Phật giáo từ phía nhà Tống mà còn lệnh cho một đại thần tên là Giã Lợi Nhân Vinh sáng chế ra chữ viết ghi lại lời nói của người dân tộc Đảng Hạng.

Sau khi ông ta lập quốc gia riêng và xưng Hoàng Đế, liền tổ chức việc phiên dịch kinh Phật, đem kinh Phật bằng chữ Hán dịch sang chữ Tây Hạ. Điều này đặt cơ sở vững chắc cho việc lưu truyền Phật giáo rộng rãi trên đất Tây Hạ.

Theo ghi chép trong những tài liệu liên quan, Lý Nguyên Hạo vốn là người am hiểu văn hoá của người Hán đồng thời cũng rất am hiểu Phật học. Ông ta không chỉ xây dựng chế độ quan lại, quy định y phục, lập niên hiệu, quy hoạch các quận, các châu, chỉnh đốn quân đội, thu nạp nhân tài theo chế độ chính trị nhà Bắc Tống, mà ông còn coi Phật giáo là một công cụ trợ giúp cho nền thống trị chính trị của mình giống như các Vương Triều ở vùng Trung Nguyên.

Năm đầu tiên sau khi ông lập quốc gia và xưng Hoàng Đế, để phát triển Phật giáo, ông đã từng cử người đi nhiều nơi thu thập Xá Lợi Phật, làm khám thờ và xây tháp để cùng giành Phật. Tháp chứa Xá lợi Phật tên là Liên Vân được xây dựng hồi đó là một trong những tháp Xá lợi đầu tiên do nhà Tây hạ xây dựng. Một vị quan của nhà Tây Hạ tên là Trương Thiệp theo lệnh của Nguyên Hạo đã từng soạn một bài minh viết trên tháp này, ca ngợi Lý Nguyên Hạo là một người hùng biện giới hơn Đường Thuấn, anh hùng hơn cả Hán Tổ, tôn sùng Phật giáo, chuyên tâm tu hành, khoác áo bằng vàng quấn đai báu, chắp tay hộ trì.v.v...

Ngoài việc tổ chức phiên dịch kinh Phật, xây dựng tháp chứa Xá lợi Phật và cúng giành xá lợi Phật ra, Lý Nguyên Hạo còn thu nạp và trọng dụng các vị tăng, ông đặc biệt cung kính các vị tăng là người Hồi Cốt, đồng thời còn tổ chức cho rất nhiều vị tăng người Hồi Cốt phiên dịch và truyền bá kinh Phật.

 Các vị tăng người Hồi Cốt này đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá Phật giáo của Tây Hạ. Lý Nguyên Hạo không chỉ yêu cần các vị tăng làm các công việc của Phật giáo mà có lúc ông còn cử các vị tăng đi sứ ở Bắc Tống hoặc các chính quyền cát cứ khác ở xung quanh Tây Hạ.

Vào năm thứ 8 của Thiên Thọ Lễ Pháp Diên Tộ (năm 1045) nhà Hạ và nhà Tống nghị hoà, Nguyên Hạo liền cử hai vị tăng của nhà Tây Hạ là Cát Ngoại Cát và Pháp Chính đến triều đình Bắc Tống làm vị sứ giả cảm tạ. Dùng các vị tăng Phật giáo làm sứ giả đi ngoại giao đã chứng tỏ mục đích của việc Lý Nguyên Hạo mở mang Phật pháp không chỉ ở bản than Phật giáo.

Chính vì điều này, mà Nguyên Hạo đặc biệt chú ý đến những hành động của những vi tăng người Hán từ Bắc Tống đến Tây Hạ. Các vị quan lại nhà Bắc Tống đến Tây Hạ. Các vị quan lại nhà Bắc Tống đã từng 2 lần cử các vị tăng là Vương Quang Tín và Pháp Thuần đến Tây Hạ thực hiện kế phản gián và tiến hành các hành động gián điệp nhưng việc đó đã bị Nguyên Hạo phát hiện và không thực hiện được.

Vào năm thứ 10 của Thiên Thọ Lễ Pháp Diên Tộ (năm 1047), Lý Nguyên Hạo đã ban chiếu yêu cầu xây dựng chùa thờ Phật tên là Cao Đài ở một nơi cách phủ Hưng Khách 15 dặm (7,5km) về phía đông. Để làm việc này, ông đã huy động không biết bao nhiêu là sai dịch và dân công.

Xung quanh ngôi chùa đó ông còn cho xây thêm rất nhiều tháp thờ Phật cao đến hàng chục trượng (1 trượng = 3,3m) để được bảo tồn kinh Đại Tạng của Phật giáo. Lý Nguyên Hạo còn quyết định rằng, hàng năm cứ vào ngày mồng 1 của tháng đầu tiên của mỗi quý là ngày Thánh Tiết (ngày thiêng). Vào ngày này, quan lại nhân dân nước Tây Hạ đều phải đến chùa lễ Phật, từ đó đã mở ra một cao trào tu theo Phật giáo trên toàn bộ nước Tây Hạ.


Lý Nguyên Hạo phát triển Phật giáo tuy rằng không giống các Đế Vương của các chính quyền người dân tộc thiểu số ở phương Bắc thời Nam Bắc Triều (từ năm 420 - 581) nhưng trong các Đế Vương của nhà Tây Hạ thì ông là người quan trọng nhất trong việc phát triển Phật giáo. Hàng loạt các hoạt động của ông có liên quan đến Phật giáo như xin kinh tạng, thu nạp các vị tăng, xây tháp xây chùa đã tạo điều kiện cần thiết và thuận lợi cho việc phát triển Phật giáo cho nhà Tây Hạ sau này.

Vị Hoàng Đế thứ hai của nhà Tây Hạ là Nghị Tông Lý Lượng Tộ lên ngôi lúc một tuổi. Mọi việc của Triều Đình đều do mẫu hậu là Một Tạng Thị và người cậu là Một Tạng Ngoa Độ giải quyết. Một Tạng Thị vốn là vợ của một người quan của Nguyên Hạo tên là Giã Lợi Vượng Vinh.

 Nguyên Hạo đã giết Vượng Vinh đồng thời thông dâm với vợ Vượng Vinh (tức Một Tạng Thị). Việc là bị Hoàng Hậu Giã Lợi thị phát hiện, Một Tạng Thị bị bắt phải xuất gia làm ni cô, hiệu là Một Tạng Đại Sư. Bởi vì có một thời gian xuất gia làm tăng ni nên Một Tạng Thị là người "ngấm" Phật học khá sâu sắc bà đã tuyên truyền cho Nguyên Hạo những hiểu biết của mình, từ đó thúc đẩy Phật giáo nhà Tây Hạ phát triển mạnh hơn.

Vào mùa đông năm đầu tiên của Lượng Tộ Thiên Hựu Thuỳ Khánh (năm 1050). Một Tạng Thị đã cho xây dựng chùa Thừa Thiên ở phủ Hưng Khánh. Bà đã huy động hàng vạn dân công và sai dịch, trải qua 6 năm mới xây xong. Cùng với việc xây chùa này, Một Tạng Thị đã ra lệnh xây thêm một tháp nữa tên là tháp Xá Lợi Xương Đầu Phật ở trong ngôi chùa đó, ngôi tháp này hiện nay vẫn còn ở thành phố Ngân Xuyên, thế tục thường gọi là Tháp Ngân Xuyên Tây Hạ.

Trong cuốn "Thừa Thiên Tự Bi Ký" đã miêu tả tỉ mỉ quang cảnh mai táng Xá Lợi xương đỉnh đầu của Phật, có thể nói là phô trương, tốn kém hết mức. Trong thời gian Lý Lượng Tộ tại vị, nhà Bắc Tống đã 3 lần ban tặng nhà Tây Hạ kinh Đại Tạng của Phật giáo. Nhà Tây Hạ cũng đã từng cống nạp cho nước Liêu các thứ như tượng Phật bằng vàng, kinh sách. Mối giao lưu tôn giáo giữa nhiều chính quyền phong kiến rất nhộn nhịp.

Năm 1067 Lý Lượng Tộ băng hà, con trai là Lý Bỉnh Thường lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi. Lý Bỉnh Thường là Hoàng Đế thứ 3 của nhà Tây Hạ, hiệu là Huệ Tông. Do Lý Bỉnh Thường còn nhỏ tuổi nên mẹ là Lương Thị phải "buông rèm chấp chính", người em trai của bà là Lương Ất thì chúi đầu vào công việc của một Tướng Quốc, hai chị em thay nhau chấp chính (điều hành đất nước). Lương Thị cũng là người rất mến mộ Phật giáo, bà đã từng tổ chức một đoàn đông đảo các tăng sĩ tiến hành phiên dịch kinh Phật.

Trong số rất ít các bản kinh Phật bằng tiếng Tây Hạ còn giữ lại được đến ngày nay thì ngay ở phần đầu quyển sách cũng đã ghi rõ là do Huệ Tông và mẫu thân là Lương Thị tổ chức phiên dịch. Thời Huệ Tông, hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng nổi tiếng thế giới cũng có lưu lại dấu tính lịch sử của Phật giáo thời Tây Hạ. Theo tư liệu có liên quan, trong số các hang ở Mạc Cao hiện nay thì có ba động được các tín đồ Phật giáo nhà Tây Hạ thời Huệ Tông tạo ra.

Hoàng Đế thứ tư nhà Tây Hạ là Sùng Tông Lý Càn Thuận lên ngôi cũng lúc mới có 3 tuổi. Mẹ là Lương Thị (cháu gái của Lương Thị mẹ của Huệ Tông, sau Huệ Tông) và anh em nhà Lương Ất nắm quyền cai quản đất nước. Theo ghi chép trong sách sử Lương Thị là người rất có tài năng, bà thường dẫn quân đi chinh chiến.

Bà là một người vừa rong ruổi trên lưng ngựa nơi chiến trường nồng nặc mùi máu, vừa là một thí chủ nhà Phật rất từ bi. Năm thứ tư của Thiên Hựu An Dân (năm 1093) Lương Thái Hậu và Sùng Tông phát nguyện trung tu chùa miếu và tháp ở chùa Cảm Ứng  tại Lương Châu (ngày nay là huyện Võ Uy tỉnh Cam Túc).

Công việc này phải làm trong một năm mới xong. Khi sửa chữa xong, Hoàng Đế Sùng Tông liền ban chiếu mở một pháp hội lớn để làm lễ mừng công. Trong pháp hội đó Lương Thái Hậu và Sùng Tông vừa tổ chức độ tăng (cho người xuất gia) vừa bố trí tài vật, một quang cảnh long trọng và tốn kém.

Năm 1099, Lương Thị vì thất bại trong cuộc giao chiến với quân nhà Tống, do đó mà Huệ Tông từ đó về sau thường xuyên cúng giàng Phật để cầu phúc cho mẹ. Hồi đó có một Sa môn tên là Tư Năng ở Cam Châu (ngày nay là thành phố Trương Dịch tỉnh Cam Túc) được tôn làm Quốc Sư.

Ông lấy lý do mình được cúng giàng một tượng Phật nằm cổ nên tấu thỉnh lên Hoàng Đế cho xây dựng chùa Ngoạ Phật (Phật nằm) ở Cam Châu. Nghe trình tấu như vậy, Sùng Tôn liền nhiệt tình ủng hộ. Quy mô ngôi chùa này vô cùng to lớn, đặc biệt là bức tượng Phật nằm trong ngôi chùa rất lớn (dài 34,5,), nó là bức tượng rất hiếm thấy ở hành lang Hà Tây.

Đến nay bức tượng đó vẫn còn, nó không hề giảm phong thái. Trong thời gian tại vị, Sùng Tông rất tích cực tổ chức đồng thời ủng hộ công việc phiên dịch kinh Phật. Trên nền tảng do các Đế Vương trước xây dựng, ông đã cơ bản hoàn thành việc phiên dịch kinh tạng Phật giáo sang chữ Tây Hạ.

Sùng Tông tại vị kéo dài 50 năm, sau thời kỳ này người dân tộc Nữ Chân bắt đầu lớn mạnh ở vùng đông bắc, tiêu diệt nhà Liêu và đánh nhà Tống. Tình hình chính trị ở Trung Quốc từ "thế chân vạc" gồm nhà Liêu, Bắc Tống và Tây Hạ trước đây thì nay đã chuyển thành trục tam giác mới gồm nhà Kim, Tây Hạ và Nam Tống. Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự phát triển Phật giáo ở Tây Hạ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Tám 06, 2011, 04:19:06 am »

(tiếp theo)

Năm 1140 vị Hoàng Đế thứ 5 của nhà Tây Hạ là Nhân Tông Lý Nhân Hiếu lên ngôi. Theo ghi chép trong một số sách thì sau khi Nhân Tông lên ngôi, ông đã thổi một luồng gió mới vào Phật giáo, giúp cho Pháp lành được hưng thịnh trở lại, Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) được đàng hoàng, bốn điều gốc rễ (từ, bi, hỉ, xả) đều phát triển theo hướng tốt.

So với các đời Hoàng Đế trước thì nay Phật giáo nhà Tây Hạ đã phát triển mạnh hơn. Nhân Tông cũng đặc biệt coi trọng kinh điển Phật giáo.

Ông cử sứ giả đi khắp nơi thu tập các sách về Phật giáo. Trong quá trình qua lại với nhà Kim, ông đã không tiếc tiền mua những bộ kinh Phật mà người Kim có. Trong thời gian Nhân Tông tại vị, người Tây Hạ đã học kỹ thuật khắc bản in và in ấn của nhà Tống phát triển mạnh việc này. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc in ấn và phát hành số lượng kinh sách Phật giáo.

Bản thân Nhân Tông cũng bỏ tiền riêng ra để in kinh Phật. Năm thứ ba của Nhân Khánh (năm 1146), ông bỏ tiền riêng ra cho in "Kinh Diệu Pháp Liên Hoa" bằng chữ Hán.

Vào năm thứ tư của Thiên Thịnh (năm 1152) ông đã bỏ tiền riêng ra cho in ấn cuốn "Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn" bằng chữ Hán. Năm thứ 12 của Thiên Thịnh (năm 1168) ông bỏ tiền riêng cho in cuốn "Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật" bằng tiếng Tây Hạ.

Vào năm thứ 15 của Càn Hựu (năm 1184) ông bỏ tiền riêng ra in ấn cuốn "Kinh Phật Thuyết Thánh Đại Thừa Tam Quy Y". Dưới sự phát động và lãnh đạo của Nhân Tông, Hoàng Hậu La Thịnh cũng bỏ tiền riêng ra in cuốn "Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm - Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện" vào năm Càn Hựu thứ 20 (năm 1189).

Mục đích của việc Nhân Tông và Hoàng Hậu bỏ tiền riêng ra in kinh Phật là làm điều thiện để được phúc được thọ.

Vào năm thứ 20 của Càn Hựu, Nhân Tông vì đã từng muốn phát hành cuốn "Quán Di Lặc Thượng Sinh Đấu Suất Thiên" do mình bỏ tiền ra in ấn mà đã tổ chức một pháp hội vô cùng to lớn ở chùa Đại Độ Dân.

Trong pháp hội đó ông đã mời các vị Đại đức, cao tăng tham dự như các vị Quốc Sư Luật Tông, Quốc Sư Tịnh Giới, Quốc Sư Đại Thừa Huyền Mật và Pháp Sư về Thiền Tông. Các vị tăng và các tín đồ Phật giáo tham dự pháp hội đó đều không đếm xuể.

Ở pháp hội đó ông đã từng biếu 20 vạn quyển kinh Phật bằng chữ Hán và chữ Tây Hạ, ông còn tổ chức các hoạt động như làm cơm trai (ăn trước giờ Ngọ, tức là trước 12 giờ trưa) cúng giàng các tăng, tổ chức phóng sinh, tế bần, thả tù nhân.

Pháp hội đó kéo dài 10 ngày 10 đêm liên tục. Các vị tăng và các tín đồ kéo đến đông không đếm xuể, có thể nói là vui nhộn chưa từng có. Sau pháp hội này, Nhân Tông còn làm một bài văn phát nguyện, nội dung bài văn đó đã nói rõ: Phật giáo là một tôn giáo lớn, ích nước lợi dân.

Một hoạt động tôn giáo quan trọng khác do Nhân Tông tổ chức là ông đã cử người hiệu đính kinh điển Phật giáo đã dịch sang chữ Tây Hạ. Trước đời Nhân Tông một phần lớn kinh Đại Tạng bằng chữ Hán đã dần dần được dịch sang chữ Tây Hạ. Trong thời gian Nhân Tông tại vị, ông đã dành rất nhiều công sức vào việc hiệu đính các bộ kinh Phật đã được dịch sang chữ Tây Hạ và đã qua chỉnh lý. Ông đã tổ chức tiến hành đối chiếu giữa kinh Đại Tạng của miền nam (tức "Khai Bảo Tạng" của nhà Tống) với bản của miền bắc (tức "Khiết Đan Tạng" của nhà Liêu) để chỉnh lý bộ kinh sách đã dịch sang chữ Tây Hạ, từ đó ta có thể thấy thái độ chân thành và kính trọng của Nhân Tông đối với kinh Phật.

Trong thời gian 30 năm sau thời kỳ Nhân Tông trị vì thì có đến 5 vị Hoàng Đế nhà Tây Hạ thay nhau lên nắm quyền, nội bộ triều đình và hoàng tộc bất hoà, mất đoàn kết.

 Nhà Tây Hạ không chỉ thường xuyên giao chiến với nhà Tống, nhà Kim mà còn phải đối phó với sự xâm lược của người Mông Cổ đang lớn mạnh. Trong tình hình thù trong giặc ngoài, các vị Hoàng Đế trẻ người non dạ của nhà Tây Hạ càng sùng tín Phật giáo, hi vọng được Phật bảo hộ từ đó mà phúc lớn được kéo dài.

Sau khi Nhân Tông băng hà, con trai là Lý Thuần Hựu kế vị, đó chính là Hằng Tông của nhà Tây Hạ, mẫu thân là La Thị được xưng là Thái Hậu. Vào năm thứ 2 của Thiên Khánh (năm 1195), tức là sau khi Nhân Tông băng hà, bà La Thị phát nguyện in cuốn "Kinh Phật Thuyết Chuyển Nữ Thân", đồng thời phát nguyện cử người sao chép lại toàn bộ kinh Đại Tạng bằng chữ Tây Hạ để mong Phật bảo hộ.

Vào năm Thiên Khánh thứ 12 (năm 1205) Trấn Di Quận Vương Lý An Toàn được sự ủng hộ của Thái Hậu La Thị đã phế Hằng Tông, tự xưng Hoàng Đế, hiệu là Tương Tông (trên thực tế, sau đó không bao lâu thì Thái Hậu La Thị đã nắm quyền lớn, từ đó khống chế Tương Tông).

Vào lúc này, Thành Cát Tư Hãn đã thống nhất được các bộ lạc trên đất Mông Cổ, bắt đầu tấn công vùng Trung Nguyên, điều này khiến cho nhà Tây Hạ nằm giữa con đường giao lưu giữa miền Trung và miền Tây rơi vào cảnh "ngàn cân treo sợi tóc". Về sau Tương Tông bị phế, Trần Tông Lý Tuân Tu kế vị. Vào  năm 1223 Thần Tông nhường ngôi cho Thái Tử Lý Đức Vượng, Thái Tử lên ngôi xưng là Hiếu Tông.

 Ba năm sau, người Mông Cổ tấn công Tây Hạ, Hiến Tông vì sợ quá mà chết, cháu là Nam Bình Vương kế vị. Một năm sau, nhà Tây Hạ bị người Mông Cổ tiêu diệt.

Trong vòng 30 năm cuối đầy hỗn loạn của nhà Tây Hạ, Phật giáo được các Đế Vương nhà Tây Hạ coi như là vị cứu tinh nên cố bám chặt vào.

Vào năm đầu của Hoàng Kiến (năm 1210). Tương Tông đã bỏ tiền riêng ra in và phân phát rộng rãi cuốn "Bát Nhã Tâm Kinh" để mong Phật ban phúc. Vào năm Quang Định thứ 4 đời Thần Tông (năm 1214), Thần Tông lấy danh nghĩa Hoàng Đế đã cử người sao chép "Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng" bằng kim  mê (vàng xay nhỏ thành bột trộn với hồ thành mực gọi là kim mê).

Tự tay ông ta cũng viết một bản thỉnh nguyện rằng: "Trẫm an toạ trên thế gian đã 95 năm, làm những việc tu thành (cơ mật), tiền vào chỗ sâu kín, đi lại nhẹ nhàng trên băng mỏng, thâu đêm suốt sáng lo xa nhiều việc quên ăn quên ngủ, chỉ mong một điều là quốc thái dân an".

Mặc dù ông ta nói lời thỉnh nguyện và cầu chúc tràn đầy nhiệt huyết, như vậy nhưng ông ta cũng không thoát được vận mệnh lịch sử là "nước mất nhà tan".




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Tám 06, 2011, 04:26:24 am »

(tiếp theo)

Người Mông Cổ theo Lạt Ma giáo

Hốt Tất Liệt tôn sùng Bát Tư Ba

 

Đầu thế kỷ 12, trong khi ở nội địa Trung Quốc các chính quyền như nhà Tống, nhà Liêu, nhà Tây Hạ và nhà Kim đang cùng tồn tại một cách độc lập thì người Mông Cổ bắt đầu trỗi dậy ở phương bắc.

Đến năm 1026 sau Công nguyên, các bộ lạc Mông Cổ mở hội Hốt Lý Lạc Đài (ý nghĩa là đại tụ hội) ở bên sông Oát Nạn (hoặc sông Ngạc Nòn), họ cùng nhau suy tôn Thiết Mộc Chân làm Đại Hãn (tức là Hoàng Đế) của toàn bộ Mông Cổ, tôn xưng ông là Thành Cát Tư Hãn.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn thống nhất các bộ lạc ở Mông Cổ, ông cùng các con cháu mình lần lượt tiêu diệt nhà Tây Hạ (năm 1227), diệt nhà Kim (năm 1225). Đến năm 1271 thì Hốt Tất Liệt đặt tên nước là Nguyên, sau đó đến 1279 Hốt Tất Liệt đánh xuống phía nam tiêu diệt Nam Tống, thống nhất toàn bộ Trung Quốc.

Tôn giáo mà người Mông Cổ tôn thờ lâu nay là thứ tôn giáo có tên là Tát Mãn được truyền từ thời nguyên thuỷ. Đến thời Thành Cát Tư Hãn, Phật giáo của người Hán đã được lưu truyền trên đất của người Mông Cổ. Trong quá trình Thành Cát Tư Hãn cùng với Oa Khoát Đài Hãn tấn công tiêu diệt nhà Tây Hạ và nhà Kim thì người dân tộc Mông cổ càng có thêm nhiều cơ hội để tiếp xúc với Phật giáo và Đạo giáo tại vùng Trung Nguyên rộng lớn này. Nhưng trong tín ngưỡng của người dân tộc Mông Cổ mà nhất là các thủ lĩnh của  họ và các Đế Vương của nhà Nguyên  thì sự sùng tín Lạt Ma giáo chiếm một vị trí vô cùng đặc biệt.

Cái gọi là Lạt Ma giáo là tên gọi thông tục của Phật giáo Tạng truyền. Đó là một nhánh của Phật giáo Trung Quốc, được hình thành trong vùng đất của người dân tộc Tạng. "Lạt Ma" là dịch âm từ tiếng Tạng, ý là "Thượng Sư", là sự tôn xưng đối với những người xuất gia. Bản giáo là một tôn giáo truyền thống nguyên thuỷ được người dân tộc Tạng của  Trung Quốc cổ đại tôn thờ sớm nhất. Quãng thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, người dân tộc Tạng dưới sự lãnh đạo của một thủ lĩnh tên là Tùng Tán Can Bố đã xây dựng nên một Vương Triều Thổ Phiên thống nhất có trung tâm là La Tát, ông Tùng Tán Can Bố lần lượt cưới các công chúa Trì Tôn của nước NêPan và công chùa Văn Thành của Vương Triều Đường.

Hai vị công chúa này lần đầu tiên đem kinh điển Phật giáo và tượng Phật từ vùng Trung Nguyên và Nê Pan vào đất Thổ Phiên. Ông Tùng Tán Can Bố đã lần lượt xây cho hai vị công chúa này hai ngô chùa là Nhã Ma Già và Đại Chiêu để cúng và chứa tượng Phật và chứa kinh điển Phật giáo.

Đó là điểm khởi đầu của Phật giáo du nhập vào Tây Tạng. Sau khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng, Phật giáo đã vấp phải sự phản đối và chống đối quyết liệt của các vị quyền thần và quý tộc vốn đang theo Bản giáo. Do đó Phật giáo trên đất Tây Tạng phát triển tương đối chậm.

Vào thời kỳ Trung Đường (quãng thế kỷ thứ 9 sau Công Nguyên), Đạt Ma lên ngôi, ông liền tiến hành huỷ diệt Phật giáo trên quy mô lớn, điều đó khiến cho sự phát triển của Phật giáo trên đất Tây Tạng tạm thời bị lắng xuống. Vào cuối thế kỷ thứ 10, Phật giáo lại lần lượt từ Ấn Độ, Nê Pan và vùng Trung Nguyên du nhập vào Tây Tạng. Dưới sự đề xướng và ủng hộ ở các mức khác nhau của các lãnh chúa phong kiến, Phật giáo trên đất Tây Tạng lại hình thành các tông phái khác nhau.

Các tông giáo lần lượt ra đời có phái Ninh Mã (Hồng giáo), phái Tát Già (Hoa giáo), phái Cát Cử (Bạch giáo) và phái Cách Lỗ (Hoàng giáo). Trong đó phái Cách Lỗ trở thành phái lớn mạnh nhất của Phật giáo Tạng Truyền. Chế độ "Linh đồng chuyền thế" hình thành trong giáo phái này còn tồn tại đến ngày nay.

Mối tiếp xúc và liên hệ giữa các vị quyền quý của Mông Cổ với Phật giáo Tạng Truyền bắt đầu từ Thành Cát Tư Hãn nắm quyền. Khi Thành Cát Tư Hãn khởi binh tấn công Tây Hạ, ông đã tận mắt chứng kiến ảnh hưởng của Phật giáo Tạng Truyền với Phật giáo Tây Hạ. Phật giáo Tây Hạ chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tạng Truyền chủ yếu ở cuối thời Tây Hạ. Hồi đó trong số một vài kinh sách của Phật giáo Tây Hạ thì có một phần dịch từ Phật giáo Tạng Truyền. Ngoài ra, ở một số hang động và chùa miếu của Phật giáo Tây Hạ thời kỳ cuối còn lưu lại dấu tính của Phật giáo Tạng Truyền.

Từ năm 1205 đến 1226 sau Công Nguyên, Thành Cát Tư Hãn đã từng 5 lần tấn công Tây Hạ, từ đó mà ông tự nhiên hiểu thêm một chút tình hình Phật giáo Tạng Truyền. Ngay từ năm 1223, Thành Cát Tư Hãn đã đánh sang phía Tây và thắng trận trở về, thu được Tây Tạng. Khi tiến vào vùng đất Ali, ông ta được ông Nạc Nhan Chu Gia và Hô Hoà Hô Lợi của vùng Ái Môn ở Tây Tạng ra nghênh đón, họ mở yến tiệc và hiến dâng vô số lễ vật, đồng thời họ cắt 3 bộ Ali, 4 bộ của Vệ Tạng, 3 quả núi của Lạp Mẫu làm lễ vật đầu hàng Mông Cổ.

Thành Cát Tư Hãn vô cùng vui sướng, chuẩn bị đầy đủ lễ nghi và gửi thư đến vị Đại Lạt Ma Hô Hoà Bố Ninh của phái Tát Già nói rằng: "Trẫm từ lâu đã muốn thăm viếng ngài, nhưng vì việc chính sự, dân sự và quân sự không thể dứt ra được, do đó chưa đến thăm ngài được. Tuy rằng như vậy, nhưng trẫm nguyện luôn thành kính ngài, tha thiết mong ngài ra sức phù hộ cho đến khi sự nghiệp của trẫm thành công, mong được đón ngài cùng các đệ tử đến thăm Mông Cổ để truyền bá Phật giáo". Điều này đã chứng tỏ rằng, Thành Cát Tư Hãn đã lĩnh hội được nội dung của Phật giáo Tạng Truyền.

Thành Cát Tư Hãn đến cuối đời vẫn chưa mang được Lạt Ma giáo truyền vào Mông Cổ, đến năm 1227 ông chết ở núi Lục Bàn vì mắc bệnh. Năm 1229, con trai thứ 3 của Thành Cát Tư Hãn là Oa Khoát Đài kế vị ngôi Đại Hãn (Hoàng Đế) Mông Cổ, ông ta liền chia một phần đất mà ngày nay là các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải cho con trai thứ 3 của mình là Khoát Đoan. Năm 1239 Khoát Đoan cử bộ tướng của mình là Đa Đạt Na Ba dẫn quân vào Tây Tạng, từ vùng Thanh Hải tiến một mạch đến Tạng Bắc vào năm sau, Đa Đạt Na Ba trở về báo cáo với Khoát Đoan rằng: Ngày nay ở Tây Tạng chùa miếu Phật giáo nhiều vô số, Pháp Vương Đạt Long Ba (thuộc phái Cát Cử) là người có đức hạnh nhất, Kinh Nga Đại Sư của Trực Công Ba (cũng thuộc phái Cát Cử) có pháp lực rất mạnh, Tát Già Ban Trí Đạt (thuộc phái Tát Già) học sâu Ngũ minh, mời hạ thần làm chủ lễ pháp nghênh đón.

(Ngũ Minh tức là 5 môn học của Phật giáo Tạng Truyền.
Nó chỉ Thanh Minh tức âm thanh học và ngữ văn học;
Công Xảo Minh tức là thuyết minh về mọi công nghệ, kỹ thuật, tính toán, lịch số;
Y Phương Minh tức là y dược học;
Nhân Minh Học tức là chỉ lôgic của Phật giáo;
Nội Minh tức là Phật học).


Sau khi nghe trình tấu như vậy, điều làm cho Khoát Đoan vô cùng thích thú là vị tăng Ban Trí Đạt của phái Tát Già học rộng Ngũ Minh, kiến thức thâm sâu. Từ đó mà ông ta đã thay đổi sách lược đấu tranh để chinh phục Tây Tạng. Ông ta quyết định dùng tôn giáo để chinh phục Tây Tạng chứ không dùng vũ lực.

Thế là ông Khoát Đoan liền chọn ngay phái Tát Già trong Phật giáo Tạng Truyền làm đối tượng liên lạc, cứ sứ giả đến Tây Tạng mời Tát Già Ban Trí Đạt đến Lương Châu nơi ông đang ở.

Phái Tát Già vì muốn mở rộng thế lực tôn giáo của mình và để tránh cho nhân dân vùng Tây Tạng không bị chiến tranh loạn lạc liền vui vẻ nhận lời mời của Khoát Đoan. Đến năm 1244, ông Tát Ban - Công Cát Kiên Tán của phát Tát Già dẫn cháu là anh em nhà Bát Tư Ba ngược lên phía bắc, đến năm 1246 thì đến Lương Châu. Lúc này, Khoát Đoan lại đi Mông Cổ để chọn người kế vị ngôi Đại Hãn (tức Hoàng Đế), đến mãi năm sau mới trở về để gặp ngài Tát Ban và những người cùng đi.

Lúc này, Tát Ban đã 66 tuổi. Tát Ban đã nặn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Sư Tử Hống dâng tặng Khoát Đoan, lại còn làm lễ thọ giới Quán Đỉnh cho Khoát Đoan.

Lúc này Khoát Đoan đang bị bệnh, sau khi thọ giới bệnh giảm nhiều, do đó mà Tát Ban cùng anh em nhà Bát Tư Ba càng được sự kính nể sâu sắc của Khoát Đoan.

 Điều này đã chứng minh rằng, những bậc thượng lưu ở Mông Cổ đã bắt đầu quy y Lạt Ma giáo. Từ đó trở đi, Lạt Ma giáo càng được lưu hành rộng rãi trên đất của người dân tộc Mông Cổ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #59 vào lúc: Tháng Tám 06, 2011, 04:31:08 am »

(tiếp theo)

Sau khi Khoát Đoan tín phụng Phật giáo Tạng Truyền ông liền nêu lên yêu cầu chính trị đối với Tát Ban, ra sức tuyên truyền với Tát Ban về sự tất yếu của việc Tây Tạng phải theo Mông Cổ.

Tát Ban chấp nhận yêu cầu của Khoát Đoan, ông ta liền viết thư cho thủ lĩnh các vùng Tây Tạng. Bức thư viết rằng: "Việc người Mông Cổ đang tiến hành thống nhất Trung Hoa là điều tất nhiên. Vùng Trung Nguyên cũng cần phải nhập vào bản đồ của họ, nếu ai thuận theo sẽ được vui sống với họ, còn nếu ai không tuân theo, sẽ bị diệt vong; nếu như muốn chạy trốn cũng không còn đường, vì vậy nên cúi đầu quy thuận".

Trong bức thư đó, Tát Ban cũng đã kể tỉ mỉ việc ông gặp gỡ Khoát Đoan như thế nào và tỉ mỉ việc Khoát Đoan quy y Lạt Ma giáo như thế nào. Trong bức thư đó, ông ta cũng nói rõ điều kiện để các dân tộc Tây Tạng nhập vào Mông Cổ, tức là người Mông Cổ chấp nhận cho giáo chủ phái Tát Già nắm quyền quản lý chính quyền ở địa phương Tây Tạng, Tây Tạng phụ thuộc vào Mông cổ, hai bên tạo thành mối liên hệ lệ thuộc về tôn giáo.

Khoát Đoan đã chinh phục Tây Tạng bằng Lạt Ma giáo, cuối cùng ông thu được thành công với sự giúp đỡ đắc lực của Tát Ban, vùng Tây Tạng chính thức nhập vào bản đồ Mông cổ, trở thành một bộ phận của Vương Triều Nguyên. Trên một ý nghĩa nhất định, điều này đã phù hợp với lợi ích của dân tộc Tây Tạng và Mông Cổ.

Trong Vương thất của Mông Cổ, người sùng tín Lạt Ma giáo nhất là Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt sau này, điều này được biểu hiện trong mối liên hệ của ông ta và Bát Tư Ba. Năm 1251, Mông Ca kế vị ngôi Đại Hãn Mông Cổ, sau khi lên ngôi, ông lập tức ra lệnh cho người em thứ tư là Hốt Tất Liệt đánh xuống phía nam chinh phục Đại Lý (ngày nay là chính quyền thiểu số ở tỉnh Vân Nam).

Hốt Tất Liệt thắng trận trở về Mông Cổ, vào năm 1253 khi đi qua núi Lục Bàn, ông đã cử sứ giả đi đến Lương Châu mời và đón ngài Tát Ban đến thăm Mông Cổ. Lúc này ngài Tát Ban đã viên tịch, sứ giả liền mời bằng được ngài Bát Tư Ba đến gặp Hốt Tất Liệt. Trong lúc gặp gỡ Bát Tư Ba, Hốt Tất Liệt đã hỏi ngài rất nhiều vấn đề như lịch sử của Tây Tạng, lịch sử phái Tát Già, vấn đề tôn giáo. Hỏi vấn đề nào thì Bát Tư Ba đều trả lời rõ ràng vấn đề ấy.

Học vấn của Bát Tư Ba khiến Hốt Tất Liệt vô cùng khâm phục. Hốt Tất Liệt lệnh cho Bát Tư Ba đến vùng Tây Tạng thu tập quân sĩ và sai dịch cống nạp cho ông ta. Bát Tư Ba lấy lý do dân vùng Tây Tạng nghèo, đất đai cằn cỗi nên không phục tùng, xin tha cho vùng Tây Tạng. Hốt Tất Liệt về cơ bản đã đồng ý, nhưng thứ phi của ông ta là Sát Tất thì lại can ngăn. Sát Tất yêu cầu Bát Tư Ba phải làm lễ thọ giới cho bà. Vào cuối đó, sau khi được sự giới thiệu và liên hệ của thứ phi là Sát Tất, Hốt Tất Liệt đồng ý lắng nghe lời dạy bảo của Thượng Sư (tức Bát Tư Ba) về vấn đề Thổ Phiên, Hốt Tất Liệt không cần bàn bạc với Thượng Sư mà do Thượng Sư quyết định.

Về sau thì vợ chồng Hốt Tất Liệt được 25 người tụng kinh tháp tùng đến Kinh Sư, làm lễ thọ quán đỉnh Kim Cang (cách gọi của việc thọ giới trong Phật giáo Tạng Truyền) từ ngài Bát Tư Ba. Vì vậy nên Hốt Tất Liệt đã ban cho ngài Bát Tư Ba rất nhiều thứ như ngọc ấn mỡ cừu, vàng bạc, áo cà sa đính châu báu, ô lọng, yên ngựa bằng vàng, đồng thời giao cho Bát Tư Ba lãnh đạo một vạn hộ dân ở Tây Tạng.

Việc Hốt Tất Liệt quy y Lạt Ma giáo vừa có liên quan đến việc con cháu họ hàng nhà Tát Ban ra sức hoằng dương Lạt Ma giáo, vừa có mối liên hệ về lợi ích chính trị với việc Tây Tạng lệ thuộc vào Mông Cổ. Từ đó trở đi Bát Tư Ba sống bên cạnh Hốt Tất Liệt một thời gian dài.

Năm 1254, theo kiến nghị của Bát Tư Ba, Hốt Tất Liệt liền hạ lệnh các sứ giả đến đây đều không được nghỉ trong các gian nhà giành cho các vị tăng, không được phép nhân chia sai dịch và tranh giành sự cung cấp cho các vị tăng. Lúc này, Hốt Tất Liệt còn dự định chỉ cho phép vùng Tây Tạng nghiên cứu và học tập giáo pháp của phái Tát Già. Bát Tư Ba xuất phát từ tình hình thực tế là các tông phái ra đời từ Phật giáo Tạng Truyền đều chẳng thua kém nhau nên đã tìm cách ngăn cản quyết định này của Hốt Tất Liệt.

Đồng thời, ngài Bát Tư Ba cùng với Hốt Tất Liệt hạ lệnh cho phép các tăng sỹ của các tông phái tự do tu tập giáo pháp của tông phái mình. Cùng năm đó, Hốt Tất Liệt đã viết một quyển "Ưu Lễ Tăng Nhân Chiếu Thư" dành riêng cho Bát Tư Ba. Trong quyển sách đó ông không những gia sức ca ngợi Bát Tư Ba cùng với tôn giáo mà ngài đang tu tập mà còn yêu cầu thiên hạ kính lễ các vị tăng, nhân dân và các vị quan lại không cho phép tỏ ra khinh các vị tăng.

Năm 1258, Hốt Tất Liệt phụng mệnh của Mông Cổ đã triệu tập các vị đại biểu của hai tôn giáo là Phật giáo và đạo giáo, yêu cầu họ tiến hành biện luận. Trong cuộc biện luận đó ngài Bát Tư Ba ăn nói mạch lạc, lưu loát, có lý có tình, suy nghĩ nhanh nhẹn khiến cho vị đại biểu của Đạo giáo luôn rơi vào thế bị động, luôn tìm cách đối phó. Điều này càng làm cho Hốt Tất Liệt tín sùng Lạt Ma giáo.

 Do Hốt Tất Liệt có khuynh hướng nghiêng về tôn giáo mà mình đang tu hành nên cuộc biện luận này cũng khiến cho Đạo giáo vì thất bại mà phải dần dần chấm dứt hoạt động. 70 đạo sỹ của Đạo giáo tham gia cuộc biện luận này cũng được lệnh thế độ (xuống tóc) làm tăng sỹ.

Một số cung quán của Đạo giáo cũng được sửa thành chùa thờ Phật, rất nhiều kinh sách của Đạo Giáo bị đốt. Từ đó trở đi, Phật giáo đã được đặt trên đạo giáo và trở thành Quốc giáo và thể chế của nhà Nguyên.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, Yahoo, SCC, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 3 [4] 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.274 seconds với 25 câu truy vấn.