Tháng Mười 19, 2018, 07:33:36 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3] 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: CÁC ĐẾ VƯƠNG VỚI PHẬT GIÁO  (Đọc 9433 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:50:24 pm »

(tiếp theo)

Xét từ góc độ khác, một thời gian dài sau khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi, căn bản ông ta không hề tin Phật giáo. Một lần ông ta hỏi ông phó dịch rằng:” Phật giáo huyền diệu, Phật là vị thần đưa đường dẫn lối, hơn nữa luật báo ứng đã hiển nhiên, đã nhiều lần chứng nghiệm. Nhưng cớ sao nhà ngươi lại chống đối Phật giáo găy gắt như vậy?”

Ông Phó Dịch liền đáp rằng:” Đối với lịch sử và đối với trăm họ, Phật giáo là thứ vô bổ, đối với quốc gia nó là một thứ có hại. Tín ngưỡng của Phật giáo không chỉ đơn thuần là vấn đề tín ngưỡng mà là một vấn đề chính trị”. Nghe xong lời biện bạch của ông Phó Dịch, Đường Thái Tông vô cùng tán đồng.

Nhưng ông ta không hề cấm chỉ Phật giáo như Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế hay Bắc Chu Vũ Đế, vẫn cho phép Phật giáo được tồn tại, trong hoàn cảnh nhất định ông ta còn đề cao và lợi dụng Phật giáo một cách thích đáng. Vào năm Trịnh Quán thứ 3 ( năm 629 sau Công nguyên) ông ta ra chiếu lệnh yêu cầu một số các Sa môn tổ chức việc phiên dịch kinh Phật, đồng thời ông còn ra lệnh một số quan trong triều đình tham gia kiểm định, có lúc ông ta còn nghe một số kiến nghị rất hữu ích từ một Sa môn Phật giáo v.v…

Có một vị hoà thượng tên là Pháp Nhã từ lâu đã được hưởng ân trạch của Đường Cao Tổ nên có thể tự do ra vào Lưỡng Cung. Sau khi Đường Thái Tông lên ngôi, ông ta lập tức ra lệnh không cho phép hoà thượng pháp nhã ra vào Lưỡng Cung nữa.

 Sau khi bị cấm ông Pháp Nhã có những lời nói lăng mạ và vu cáo Lý Thế Dân, sau này Lý Thế Dân biết, ông cho bắt Pháp Nhã về nằm phủ phục trước mặt để hỏi tội. Hoà thượng Pháp Nhã nói rằng, những lời nói đó ông ta nghe được từ chỗ ông Bùi Tịch, lập tức Lý Thế Dân cho gọi ông Bùi Tịch vào thẩm vấn. ông Bùi Tịch nói rằng, những lời hoà thượng Pháp Nhã nói chỉ là những lời nói nhăng bậy của kẻ xấu tính. Do có việc này Lý Thế Dân lập tức cho bãi chức quan của Bùi Tịch, đồng thời đuổi ông ta về quê.

Về sau vì một kẻ điên dạy cho một đứa trẻ của gia đình ông Bùi Tịch một câu nói rằng: “ Bùi Công ôm cả thiên hạ”, nên Bùi Công suýt nữa bị Đường Thái Tông Lý Thế Dân xử tội chém đầu; cuối cùng ông ta bị đưa đi đầy và kết liễu cuộc đời ở Giao Châu.

Ông Bùi Tịch là một trong những người ra quyết sách chính cho khởi nghĩa của Lý Uyên ở Thái Nguyên, sau khi lập lên nhà Đường, ông ta được đứng vào hàng được làm Tam Công. Nhưng chỉ vì liên luỵ đến vài câu nói lăng nhăng, bậy bạ của hoà thượng Pháp Nhã mà cuối cùng ông đã bị bãi quan, rồi bị đưa đi đầy. Sự kiện này đã chứng tỏ một điều rằng, Đường Thái Tổ Lý Thế Dân không cho phép những người có quan hệ với Phật giáo làm ảnh hưởng đến nền thống trị của mình.

Trong sách lược để đối phó với Phật giáo, Đường Thái Tổ Lý Thế Dân đã kế tục biện pháp của Đường Cao Tổ Lý Uyên, đề cao Đạo giáo để chống lại Phật giáo. Do đó Đường Thái Tông đã ra chiếu lệnh cho ông Cao Sĩ Liêm cùng một số người khác, theo thứ bậc cao thấp của tước vị quan lại lúc bấy giờ mà chỉnh lý lại bộ “ Thị Tộc Chí”. Cái gọi là “ Chí” ở đây là đưa họ Lý lên hàng đầu đồng thời chỉ rõ, người thống trị của vương triều Lý Đường có chung nguồn gốc với Thuỷ Tổ Đạo giáo là Lý Đam ( tức là Lão Tử). Như vậy ông ta vừa đề cao được địa vị thống trị của nhà Lý Đường, vừa tìm được một công cụ hữu ích để chống lại Phật giáo.

Ngay từ năm thứ 8 của Vũ Đức ( năm 625 sau Công nguyên), Đường Cao Tổ Lý Uyên đã từng hạ chiếu yêu cầu sắp đặt thứ tự cho ba tôn giáo. Ông quyết định đặt Lão Tử lên hàng đầu, tiếp theo sau là Khổng Tử, cuối cùng là Thích Ca Mâu Ni. Vào năm Trịnh Quán thứ 11 ( năm 637 sau Công nguyên), Đường Thái Tông cũng đã từng ra chiếu nói rằng: “ Thuyết của Phật giáo biến đổi đa phương , ( mang nghĩa rộng) lẽ báo ứng cũng nhiều duyên cớ, không nhất quán, thế mà gần đây, sự sùng tín Phật giáo đã phát triển mạnh, kể cả bề rộng lẫn bề sâu, cái phúc người ta nhận năm nay thì người ta cũng rất sợ tai hoạ cho kiếp sau; chỉ khởi lên ở nông thôn, rồi cuối cùng lan cả vào triều đình, từ đó mang theo nhiều sách huyền bí cho mọi người vượt lên hàng đầu, các tôn giáo khác đứng sau Phật giáo, nay thiên hạ đã định như thế, nên phải dẹp bỏ ngay”.

Xem chừng Đường Thái Tông đã muốn đặt Phật giáo vào chỗ cần đặt, do đó ông lại ra chiếu nói rằng:” Tổ tiên của Đạo giáo cũng là tổ tiên của Hoàng thất ( Nhà Vua), từ nay về sau mỗi khi cúng trai (17), các nữ sĩ của Đạo giáo (đạo cô) đều được đứng trước các tăng ni. Từ nay về sau mỗi lần giảng kinh luận Pháp, các đạo sĩ đạo cô được đứng lên trên, các tăng ni, ni đứng phía dưới”. Điều này có nghĩa là Đạo giáo đứng hàng đầu còn Phật giáo đứng sau. Chiếu thư này vừa được ban ra các Sa môn như ngài Trí Thực, Pháp Lâm, Pháp Thường, Tuệ Tĩnh…đã phản ứng không chịu phục tùng, dâng biểu kiến nghị. Đường Thái Tông đã ra sắc chỉ: Đạo giáo đứng trước, Phật giáo đứng sau, điều này không thể thay đổi. Chúng Tăng nuốt hận ra về, duy chỉ có ngài Trí Thực không chịu ra về. Đường Thái Tông liền ra lệnh cho người đánh cho một trận đuổi về. Dùng quyền lực của một Hoàng Đế phong kiến ( thế tục) để đánh một vị hoà thượng, điều này đã thể hiện rõ thái độ dứt khoát của Đường Thái Tông lúc bấy giờ.

Sau khi nuốt hận ra về, hoà thượng Pháp Lâm đã thu thập nhiều tài liệu, viết thành cuốn “ Biện Chính Luận”, ông đã nêu lên chứng cớ về tổ tiên xa xôi dòng họ Lý, nhưng cái ngòi bút cùn của ông chỉ viết ra được hai chữ Lý! Theo chứng cớ trong cuốn “ Biện Chính Luận” của Pháp Lâm, tổ tiên của họ Lý có hai dòng, một dòng là Đại Bắc Lý, một dòng là Lũng Tây Lý.

Đại Bắc Lý là dòng giống của Hoàng Thất ( Vua) nhà Lý; Lũng Tây Lý là hậu duệ của Lão Tử. Dòng họ Lý của Hoàng thất không hề có họ hàng với Lão Tử, do đó Hoàng đế cũng không thể cương quyết đặt Đạo giáo lên hàng đầu. Cuốn sách “ Biện Chính Luận” của Pháp Lâm vừa mới ban ra đã bị người ta mang lên tấu trình cho Đường Thái Tông.

Sau khi biết điều này, Đường Thái Tông đã nổi giận đùng đùng, hạ chiếu cho gọi Sa môn Pháp Lâm vào để vặn hỏi, mắng trách Pháp Lâm rằng: “ Nhà ngươi là đồ hoà thượng ngồi lê mách lẻo, đi đâu cũng ăn nói lung tung, lời lẽ thô tục vung ra những lời lẽ không khiêm tốn, phỉ báng tổ tiên của ta, vu cáo bôi nhọ cha ông ta, tội này không thể tha thứ được!

Thế là Đường Thái Tông liền ra lệnh cho giam ngay Pháp Lâm lại, định xử tội chém đầu nhưng Đường Thái Tông lại nói với Pháp Lâm rằng:” Trong cuốn sách của ngươi tự biên soạn cũng có đoạn nói rằng, nếu ai niệm Bồ tát quán thế âm thì không bao giờ bị đâm chém, giờ đây ta cho ngươi 49 ngày để niệm Bồ Tát, để đến khi tử hình xem Bồ tát Quan Thế Âm có thể giúp nhà ngươi được sống không?”.

49 ngày sau, Đường Thái Tông liền hỏi ngài Pháp Lâm:” Đến nay thì đã đủ ngày rồi, ta cần chém đầu nhà ngươi, nhà ngươi đã niệm Quán Thế Âm như thế nào vậy?” Ngài Pháp Lâm liền trả lời:” trong 49 ngày vừa qua, con không hề niệm Quán Âm mà chỉ niệm Bệ hạ:. Sau khi nghe nói vậy, Đường Thái Tông lại sai người đến hỏi Pháp Lâm:” Yêu cầu nhà ngươi niệm Quán âm vì sao nhà ngươi không niệm Quán Âm mà đi niệm ta?” Ngài Pháp Lâm liền trả lời rằng:” Bệ hạ chính là Quán Âm của ngày nay!”

Đường Thái Tông nghe nói vậy, ông ta vô cùng hoan hỉ, thế là hoà thượng Pháp Lâm được miễn xử chém và thay bằng đi đầy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:54:11 pm »

(tiếp theo)

Sau đó thì hoà thượng Pháp Lâm cũng chết trên đường đi đầy, chuyện này xảy ra vào những năm Trinh Quán thứ 14 ( năm 640 sau Công nguyên).

Vào năm sau, Đường Thái Tông đến chùa Hồng Phúc, ông cho triệu tập 5 vị đại đức, ông nói dài dòng một hồi, mục đích là làm giảm đi mối căng thẳng của mình với Phật giáo.

Ông ta nói với các Đại đức này rằng :” Lão Quân ( tức Lão Tử) là tổ tiên của Trẫm, có ông bà tổ tiên nên mới có mình, cần phải tôn trọng ông bà tổ tiên, do đó ta đặt Lão Tử trước Thích Ca sau, các vị có thể vì việc này mà oán hận ta”.

Các vị đại đức đó liền đáp rằng:” Bệ hạ tôn trọng tổ tiên, làm gương cho thiên hạ, do vậy có điều gì phải oán giận”.

Đường Thái Tông lại giải thích thêm rằng:” Từ khi lập triều đình đến nay, ta chưa hề tiến hành xây dựng đạo quán, mà chỉ là coi trọng việc xây dựng chùa chiền, tình cảm của ta cũng nghiêng về phía Đạo Phật. Các ông Thầy đạo sĩ kia tu tập theo tôn giáo của tổ tông, do đó cần phải đặt lên hàng đầu, ngày nay nhà Lý đang cai quản đất nước, do vậy Lý Lão cần đặt lên hàng đầu; Nếu như nhà Thích Ca cai trị thiên hạ, thì cần đặt nhà Phật lên hàng đầu. Đây chính là thái độ của ta, không nói ra e rằng các vị không hiểu được”.

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, sự phòng bị đối với Phật giáo của Đường Thái Tông có thể nói là vô cùng cẩn mật, ông ta vừa mềm mỏng lại vừa cứng rắn, về sau ông ta tỏ ra mềm mỏng, hai cách thức này ông ta dùng song song, tất nhiên ông ta đã thu được kết quả tốt đẹp.

Cùng với việc đề cao Đạo giáo để chống lại Đạo Phật, Đường Thái Tông cũng không hề xem nhẹ việc phòng Phạm Đạo giáo. Vào năm của Trịnh Quán thứ 17 ( năm 643 sau Công nguyên) đạo sĩ Tần Anh và một số người khác chém đầu sử tội, những người liên luỵ bị chém có rất nhiều. Ông còn khăng khăng quở trách Thái Tử, yêu cầu Thái Tử lấy đó làm điều cấm làm gương. Câu chuyện này nói lên một điều rằng, đề cao Đạo giáo không có nghĩa là lợi dụng và buông thả Đạo giáo. Dưới sự thống trị của Đường Thái Tông, sự phát triển của Đạo giáo không được phép quấy nhiễu trật tự nền thống trị của nhà nước phong kiến.

Như trước đây đã từng nói đến, vào thời kỳ Đông Tấn Thành Đế, do có việc Nho gia và các Sa môn Phật giáo nên hay không nên cung kính các Vương giả mà đã xảy ra các cuộc tranh cãi về việc các Sa môn Phật giáo liệu có nên lễ kính cha mẹ mình. Các vấn đề này về cơ bản đã không được giải quyết triệt để. vào năm Trịnh Quán thứ 5 ( năm 631 sau Công nguyên) Đường Thái Tông họp các quần thần lại và nói rằng:” Sự xuất hiện cũng như lưu hành của Phật giáo và Đạo giáo cốt để thực hiện những điều thiện, vậy thì tại sao để cho các tăng ni Phật giáo và đạo sĩ của Đạo giáo nghĩ bậy rằng mình được phép ngồi đó để nhận lễ bái của cha mẹ? Do đó cần phải cấm chỉ ngay. Yêu cầu các Sa môn Phật giáo và các đạo sĩ của Đạo giáo phải cung kính lễ bái cha mẹ mình!”

Về việc này Đường Thái Tông đã ra một chiếu thư đặc biệt, yêu cầu các Sa môn Phật giáo và đạo sĩ Đạo giáo phải tuân thủ những luân lí Nho Giáo chính thống. Bức chiếu thư đó được ban ra, tuy rằng có một số các Sa môn Phật giáo đã không phục, nhưng họ cũng rất sợ quyền uy của nhà Vua, bất đắc dĩ phải thực hiện theo chiếu thư đó.

Dưới thời cai trị của Đường Thái Tông, khi các Sa môn Phật giáo phạm pháp thì cũng bị xử lý theo pháp luật nhà nước phong kiến giống như bà con trăm họ ở thế tục. Năm Trịnh Quán thứ 10 ( năm 636 sau Công nguyên) có một Sa môn tên là Huyền Uyển tịch ( chết), trong những thứ của ngài để lại cho Đường Thái Tông có một bức biểu. trong bức biểu đó ngài xin Đường Thái Tông khi các Sa môn Phật giáo phạm tội thì không nên xử phạt họ theo pháp luật của thế tục, mà xin xử họ theo luật của tăng đoàn. Khi còn sống mối quan hệ của ngài Huyền Uyển với Đường Thái Tông là vô cùng thân thiết, ngài Huyền Uyển đã nhiều lần được mời vào trong nội cung chép kinh cho Hoàng Hậu và các phi tần ở Lục Cung. Sau khi ngài tịch, nguyện vọng duy nhất của ngài là xin Đường Thái Tông hãy rộng lượng ân chuẩn cho Sa môn Phật giáo khi phạm tội sẽ xử theo luật của tăng đoàn, không nên xử tội theo pháp luật của thế tục. Điều này đã nói rằng, các phương pháp và biện pháp phòng phạm Phật giáo của Đường Thái Tông là rất đa dạng.

Cái chính sách gọi là Đạo giáo đứng đầu, sau đó là Nho gia cuối cùng là Thích Ca Giáo của Đường Thái Tông trên thực tế là tam giáo hoà hợp, ông muốn dùng quyền lực của Đế Vương để dàn hoà Nho giáo và Đạo giáo, thì mục đích của ông đều là khiến cho cả ba tôn giáo này đồng tâm hiệp lực phục vụ cho nền cai trị của nhà nước phong kiến Vương Triều Đường. Về mặt khách quan thì điều này cũng tác dụng nhất định đối với việc tiêu trừ mâu thuẫn giữa ba tôn giáo và cũng có tác dụng trong việc thúc đẩy sự hoà đồng ( hợp nhất). Sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, mâu thuẫn giữa Phật giáo và nền văn hoá tư tưởng của truyền thống Trung Quốc càng ngày càng trở nên rõ nét.

Từ bao đời nay, cái gọi đấu tranh giữa Hoa ( tức người Trung Hoa ) và Di ( tức người nước ngoài), giữa lễ và nghĩa, giữa cái trước và cái sau…đã tạo nên chướng ngại cho việc tam giáo hoà hợp. Việc tiêu trừ chướng ngại này cần đến sự trao đổi và tiếp thu giáo lý của nhau cũng như sự nhượng bộ lẫn nhau giữa ba tôn giáo, một mặt khác là các Đế Vương phong kiến có thể cùng lợi dụng ba tôn giáo này, để ba tôn giáo phục vụ lợi ích của mình.

Thời kỳ mà Đường Thái Tông trị vì đúng vào thời điểm quan trọng của quá trình lịch sử hoà hợp Nho giáo Phật giáo và Đạo giáo. Với uy lực và khí thế của một nhà chính trị thời phong kiến ông ta đã giải quyết một cách hợp lý và cơ bản mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa ba tôn giáo vào thời kỳ đầu Đường, thúc đẩy việc tăng cường dung hợp giữa ba tôn giáo đó.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:59:07 pm »

(tiếp theo)

Nhưng quan sát một cách khách quan, vào cuối đời, Đường Thái Tông Lý Thế Dân cũng đã thay đổi thái độ của mình với Phật giáo. Ngoài một số nguyên nhân kể trên thì ảnh hưởng bản thân giáo nghĩa Phật giáo với một số đại đức cao tăng lúc bấy giờ, đặc biệt là ngài Huyền Trang là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi thái độ của ông đối với Phật giáo.

Huyền Trang tên tục thuộc họ Trần, người huyện Uyên Sử tỉnh Hà Nam, ngài xuất gia vào cuối những năm Tuỳ Đại Nghiệp, ngài đọc rất nhiều kinh sách trước đây có rất nhiều sai sót, do đó ngài muốn đi về miền tây để tìm bản chính gốc, đem ra so sánh và kiểm nghiệm. Đầu những năm Trịnh Quán, ngài Huyền Trang bắt đầu khởi hành về phía Tây, trải qua 17 năm, vào mùa xuân năm Trịnh Quán thứ 19 ( năm 645 sau Công nguyên) ngài trở về Trường An. Trên đường trở về, khi đến Vu Điền ngài Huyền Trang đã từng dâng biểu lên Đường Thái Tông, báo cáo với Đường Thái Tông rằng ngài đã từ Ấn Độ trở về nước.

Sau khi biết tin, Đường Thái Tông lập tức hạ chiếu phúc đáp rằng:” Nghe tin thầy đã đến được miền đất đạo và xin được kinh sách, nay đã trở về, Trẫm vô cùng hoan hỉ, hãy mau chóng đến gặp Trẫm. “Đồng thời Đường Thái Tông cũng ra lệnh cho các quan địa phương dọc trên đường ngài Huyền Trang trở về phải tạo mọi điều kiện thuận lợi. Lúc đó Đường Thái Tông vì chinh phạt Liêu Đông mà có mặt ở Đông đô Lạc Dương, nhưng ông đã ra lệnh cho quan cai quản kinh sư Trường An là phòng Huyền Linh và một số người khác đón ngài Huyền Trang với nghi lễ lớn, đồng thời mau chóng đưa ngài Huyền Trang đến Lạc Dương, Đường Thái Tông lập tức ra lệnh tổ chức tiếp kiến Huyền Trang trong nội điện của thâm cung.

Ngài Huyền Trang mặt mày rạng rỡ, kể hết chuyện này đến chuyện nọ, từ giờ này sang giờ nọ không còn biết đến thời gian, kể một mạch đến tận đếm khuya. trong cuộc chuyện trò đó, Đường Thái Tông đã yêu cầu ngài Huyền Trang hoàn tục để được phong quan, nhưng ngài đã từ chối.

Đường Thái Tông đã yêu cầu ngài Huyền Trang hãy ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy ở miền Tây ấy. Sau khi từ Lạc Dương trở về trường An, ngài Huyền Trang bắt đầu các hoạt động phiên dịch kinh và viết sách gây ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với lịch sử Phật giáo của Trung Quốc.

Để đáp ứng yêu cầu này của Đường Thái Tông, ngài Huyền Trang đã bỏ ra thời gian hơn 1 năm cùng với các đệ tử của mình biên soạn cuốn sách “Đại Đường Tây Vực Ký”. Khi quyển sách này được trình lên Đường Thái Tông Lý Thế Dân , ông ta vô cùng khen ngợi ngài Huyền Trang và nói rằng:” Pháp sư đã nêu cao đạo hạnh, thoát khỏi trần thế, ngồi trên thuyền báu đi đến bờ bến kia, thu nhập được một pháp môn huyền diệu và thâu suốt; Trẫm thì học ít tài mọn, ngu ngơ trước vạn vật, huống hồ là Phật giáo thâm sâu bi diệu thì làm sao có thể đọc và hiểu nổi. Nay pháp sư đã biên soạn quyển mới Đại Đường Tây Vực Ký, Trẫm sẽ cố gắng đọc".

Từ những lời lẽ đó ta có thể thấy rằng, thái độ của Đường Thái Tông đối với ngài Huyền Trang là vô cùng cung kính, nhưng thái độ đó cũng rất thường. Điều này cũng có liên quan đến điều kiện lịch sử thống trị lúc bấy giờ.

Lúc đó, nguyên nhân Đường Thái Tông Lý Thế Dân vui vẻ như vậy trước chuyến du hành sang phía Tây của ngài Huyền Trang là vì ông ta muốn tiêu diệt chính quyền cát cứ ( 18) của Tây Đột Quyết, để củng cố sự thống nhất của nhà nước phong kiến đa dân tộc; về sau ông ta phát triển mối giao lưu kinh tế, chính trị các quốc gia ở Trung Nghiệp, Nam Nghiệp và cả Tây Nghiệp, do đó ông ta rất muốn biết tình hình miền đất phía Tây vô cùng rộng lớn đó. Bắt đầu từ thời nhà Tây Hán, tại các nơi như miền Tây Ngọc Môn quan và cả miền đất rộng bao la phía đông và phía nam vùng Hồ Ba Nhĩ Ca Thập, Vương Triều nhà Hán đã đều thiết lập cơ cấu quản lý hành chính thuộc Đô Hộ phủ miền Tây. Từ đó trở đi, nói chung toàn bộ nền chính trị của khu vực này đều nằm dưới sự cai trị của Vương Triều Trung Nguyên.

Thời nhà Tuỳ, do chiến tranh loạn lạc kéo dài, vùng Cao Nguyên Mông Cổ và cả miền đất phía nam và phía Đông vùng hồ Ba Nhĩ Thập Ca đều nằm dưới sự cai quản của Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết, khi nhà Tuỳ Vong thì Đông và Tây Đột Quyết đã cát cứ và tuyên bố độc lập. Vào năm trịnh quán thứ tư ( năm 630 sau Công nguyên), Đường Thái Tông khởi binh đánh bại Đông Đột Quyết cát cứ cao nguyên Mông Cổ. Ở đó ông đã thiết lập cơ quan đô đốc phủ ở Định Tương và Vân Trung thực hiện quyền cai quản các vùng đất đó…Cùng năm đó, vùng Tây bắc Y Ngô ( ngày nay là vùng Ca Mật của Tân Cương) cùng 7 vùng khác nữa đã thuộc về Vương Triều Đường đã thiết lập nên châu Tây Y.

Vào năm Trinh Quán thứ 14 ( năm 640 sau Công nguyên) Vương Triều Đường đã bình định vùng Cao Sương ( ngày nay và vùng Thổ Lỗ Phiên của Tân Cương), Thiết lập các chính quyền quân sự như Tây Châu, Đình Châu, Đô Hộ Phủ An Tây. Lúc này vùng Tây Đột Quyết tiếp tục mở rộng quyền lực sang miền Tây, họ đã cho bắt giữ sứ giả của Vương Triều Đường, tấn công các quan phủ địa phương của Vương Triều Đường, gây trở ngại nghiêm trọng giao thông từ miền đông sang miền Tây trở về, điều này đối với một người đang sốt sắng muốn biết tình hình của miền Tây  như Đường Thái Tông mà nói thì đó quả là một điều cực kỳ quí báu.

Do đó Đường Thái Tông Lý Thế Dân khẩn thiết yêu cầu ngài Huyền Trang hãy viết lại tất cả những gì tai nghe mắt thấy ở miền Tây để phục vụ cho mục đích chính trị của Vương Triều Đường là chinh phục miền tây Đột Quyết. Bản thân là một tín đồ Phật giáo nên ngài Huyền Trang hiểu rất rõ ý đồ của Đường Thái Tông, ngài lập tức bắt tay vào việc, rồi ngài cũng mau chóng hoàn thành cuốn “Đại Đường Tây Vực Ký”.

Trong cuốn sách đó ngài Huyền Trang cũng đã kể tóm tắt công sức biên soạn cuốn” Đại Đường Tây Vực Ký “ của mình, nói rõ rằng quyển sách này đã xuyên suốt tình hình đất nước, chỉ rõ sự cương nhu của quốc gia, hệ thống lại toàn bộ khí hậu của đất nước, của từng vùng riêng biệt rồi sau đó, ngài đã ghi chép những gì tai nghe mắt thấy, ghi chép lại những yêu thích; từ ngày du nhập vào đất hán, nhờ được ân huệ mà chuyển đi khắp nơi, mọi người đều ngưỡng mộ công đức, hoà đồng thiên hạ, vũ trụ bao la là ngôi nhà chung, ngài đi một  mình không đem theo đệ tử, đi xa cả vạn dặm. Ngài dâng biểu nói vậy:” Ban Siêu chưa đi xa, ông Trương Khiên nhìn chưa được rộng; nay những điều bần tăng ghi chép có điều lạ trước đây chưa biết; Tuy chưa vươn xa nghìn cõi nhưng sự hiểu biết của bần tăng cũng vượt ra khỏi biên giới. Những điều bần tăng ghi chép là sự thực không hề tô vẽ”.

Ngài Huyền Trang cũng tán tụng sự nghiệp thống nhất của Vương Triều Đường, hơn thế nữa ngài còn hi vọng bộ “Đại Đường Tây Vực Ký “ này có thể góp phần phát huy tác dụng cho việc này, đồng thời ngài cũng cảm thấy tự hào về những điều tai nghe mắt thấy của mình cũng đã hơn người.

Chính vì điều này, cuốn sách tự thuật “Đại Đường Tây Vực Ký” mà Huyền Trang với thân phận là một tín đồ Phật giáo, đi du hành đến miền Tây về ghi lại mặc dù nội dung chính của cuốn sách ấy là nói về các vấn đề có liên quan đến Phật giáo; nhưng trong đó ngài huu cũng ghi lại rất nhiều phong tục tập quán và tình hình địa lý, chính trị của các nước phía Tây. Điều đó đã làm thoả mãn yêu cầu lúc đó của Đường Thái Tông; cho nên Đường Thái Tông đã đích thân đọc quyển sách đó.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 02:03:47 pm »

(tiếp theo)

Lúc này mối quan hệ của Đường Thái Tông và ngài Huyền Trang là vô cùng đúng mực. Mối quan hệ giữa Lý Thế Dân ( với tư cách là Đế Vương của chế độ phong kiến) với ngài Huyền Trang ( với tư cách là một tín đồ Phật giáo) được thể hiện bằng mối quan hệ chủ và nô bộc. trong mối quan hệ giữa chủ và nô bộc này, quyền lực của Hoàng Đế cao hơn quyền lực của tôn giáo, về cơ bản điều này phù hợp với truyền thống vốn có của xã hội phong kiến Trung Quốc. Nhưng sau đó khoảng 2-3 năm, thái độ của Đường Thái Tông đối với Phật giáo đã có những thay đổi, từ việc lợi dụng, phòng bị được chuyển thành đề cao, thậm chí là tôn sùng.

Đầu những năm Trinh Quán, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã ra lệnh xây dựng ngôi chùa và các ngôi tháp cho Phật giáo, ông còn ban xuống chiếu mời một số cao tăng đại đức vào cung cầu phúc, thọ giới chép kinh cho Thái Tử, Hoàng Hậu và các cung tần. Tuy nhiên về mặt cơ bản cũng không hoàn toàn tin vào Phật giáo. Theo ghi chép, vào những năm Trinh Quán có một vị tăng sĩ người Hồ ( miền Tây) đến, ông ta tự xưng là mình có thể niệm chú làm cho người chết.

Đường Thái Tông liền ra lệnh chọn ngay một tráng sĩ trong quân đội ra cho vị tăng này thử. Trong cuộc thử nghiệm đó của tăng sĩ người Hồ, quả thực ông ta đã làm cho vị tráng sĩ đó chết đúng theo lời chú. Đường Thái Tông cảm thấy kỳ lạ, bèn hỏi ông Phó Dịch xem rốt cuộc là thế nào? Ông Phó Dịch đáp rằng :” Đây là phép thần. Nghe nói tà pháp không đúng đâu, nếu như ông ta có chú cho thần (19) thì chắc chắn không linh nghiệm”, Đường Thái Tông triệu tăng sĩ người Hồ yêu cầu chú cho ông Phó Dịch không ai ngờ rằng, chỉ một lúc sau tăng sĩ người Hồ bỗng nhiên ngã lăn ra chết ngay.

Theo ghi chép, vào những năm Trinh Quán cũng có một tăng sĩ nước ngoài đến, ông ta nói rằng mình có một chiếc răng Phật, chiếc răng này có thể nghiền nát bất cứ một vật cứng nào. Thế là dân trong thành Trường An xôn xao bàn tán. Sau khi nghe được tin này, ông Phó Dịch liền sai người đem sừng Linh Dương đến chọi nhau với chiếc răng gọi là răng Phật kia, kết quả là chiếc răng Phật bị vỡ nát còn các sừng Linh Dương thì không bị sứt mẻ gì, hai câu chuyện kể trên đây đều là do Đường Thái Tông đích thân chứng kiến. Rõ ràng đây là một chuyện rất rõ ràng về nguồn gốc.

Nhưng vào năm cuối Trinh Quán, có một tăng sĩ tên là Thiện Đạo đã bắt đầu tụ tập pháp môn phương tiện của nhà Phật, ông chỉ suốt ngày hành niệm cõi tịnh độ của Phật A Di Đà, và ông cũng yêu cầu các tín đồ không cần phải xuất gia, chỉ cần niệm danh hiệu của Phật A Di Đà ( tức là Đại thừa của Phật pháp) thì một khi niệm đến một trình tự nhất định nào đó, mình có thể vãng sinh về cõi Tịnh Độ Cực Lạc Tây Phương.

Trong thành Trường An, ông Thiện Đạo đã phổ biến pháp môn phương tiện Tịnh Độ, đồng thời chép ra hành vạn cuốn “ A Di Đà Kinh”, những người đi theo pháp môn này thì vô số vô lượng, chỉ một thời gian, khắp các làng xóm, các ngó phố của kinh sư Trường An và ngay cả trong nội cung và ngoại cung không ngớt tiếng tụng niệm “ A Di Đà Phật”. Trước hiện tượng này, Đường Thái Tông Lý Thế Dân không những không can thiệp, không cản trở mà hơn thế nữa ông ta còn ra sức tán thán công đức của ông Thiện Đạo. Chính trong bầu không khí thuận lợi như thế này, Ông Thiện Đạo đã lập nên môn phái Tịnh Độ tông của Phật giáo Trung Quốc.

Vào năm Trinh Quán thứ 22 ( năm 648 sau Công nguyên) Đường Thái Tông đến cung Ngọc Hoa yêu cầu Huyền Trang vào tiếp kiến. Nhân cơ hội này, ngài Huyền Trang mời Đường Thái Tông viết lời tựa cho cuốn sách “ Du Già Sư Địa Luận” mà mình mới dịch. Để đạt được mục đích này, ngài Huyền Trang đã khen ngợi Đường Thái Tông và nói rằng:” Bần tăng chỉ ngưỡng một mình bệ hạ, một người trí lực tuyệt vời, giữ được kỷ cương ( phép nước), biết được đầu mối của muôn vật; thúc đẩy phát triển cho tương lai, làm cho trong ấm ngoài êm, đó là nhờ bệ hạ là một người không hoang dâm, không xa xỉ, không lãng phí, chăm chỉ cần mẫn, thái độ rất vững vàng, làm điều lành theo sự sắp đặt của trời”. Liền sau đó ngài Huyền Trang đã chứng minh và phân tích những chiến tích của Đường Thái Tông gọi là “ làm điều lành theo sự sắp đặt của trời”.

Lúc đầu Đường Thái Tông từ chối viết lời tựa cho cuốn sách mới dịch của ngài Huyền Trang, nhưng về sau nghe lời khen ngợi như vậy của ngài Huyền Trang, nhà Vua lập tức đồng ý viết lời tựa cho cuốn sách “ Du Già Sư Địa Luận”. Lời tựa có tên là “Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tựa”. Những ngày sau đó, ngài Huyền Trang kể lại đại ý của cuốn “ Du Già Sư Địa Luận “ cho vua Đường Thái Tông nghe, sau khi nghe ngài Huyền Trang kể, nhà vua lập tức cử người lên đông đô lấy ngay quyển sách đó về.

Sau khi quyển luận đó được đem về. Vua Đường Thái Tông đích thân xem xét rất kỹ, cảm thấy từ ngữ trong cuốn sách ấy nghĩa bao la rộng lớn, ý thâm sâu, những từ đó mình chưa hề được nghe, nhà vua liền đến phàn nàn với thị thần:” Trẫm đọc kinh Phật cứ như người đứng nhìn trời nhìn biển, nó bao la mênh mông chẳng biết đường nào, nay Huyền Trang pháp sư đi đến nơi xa xôi hẻo lánh đó mà xin được bộ kinh điển quý giá này, Trẫm uỷ thác cho mọi người tìm ra mà đọc, cội nguồn mênh mông vô biên, sách cửu lưu Nho giáo như một chiếc áo nhỏ, mọi người bàn tán rằng tam giáo hợp nhất, đó là những lời bàn tán bậy bạ”.

Sau đó Đường Thái Tông lại hạ lệnh cho người chép quyển kinh sách luận này ra làm 9 bản, phân cho 9 châu, giúp cho nó được truyền đến khắp nơi. Đồng thời nhà Vua yêu cầu những người đứng đầu các địa phương cũng trình báo lên những chỗ mà mình còn chưa hiểu.

Bộ “ Du Già Sư Địa Luận” đã chinh phục được Đường Thái Tông. Nhà Vua không những tỏ ra hoài nghi đối với chính sách cơ bản “ tam giáo hoà đồng” mà ông đã chủ trương; hơn thế nữa mọi sách lược xâm hại đối với Phật giáo cũng quên biến mất, nhà Vua muốn đưa tình hình theo hướng Phật giáo là độc tôn.

Bộ “ Du Già Sư Địa Luận” mà hoà thượng Huyền Trang đã dịch cũng là một những điển tịch ( sách) quan trọng nhất của Từ Ấn Tông ( cũng còn được gọi là Duy Thức Tông, Pháp Tướng Tông) mà ngài Huyền Trang đã cùng với một đệ tử của mình là ngài Khuy Cơ lập nên. Ngay từ trước khi ngài Huyền Trang  sang bên Ấn Độ, một số phần của bộ bộ “ luận” này cũng đã được truyền dịch trên đất Hán. Lần này ngài Huyền Trang đã dịch toàn bộ “ luận” này. Tiếng Phạn gọi là Du Già, thì tiếng Hán dịch là Tương ưng ý phải nhất quán, nghĩa thì phải tương hợp, tức là phương tiện khéo léo, linh hoạt, đúng như quyển gốc.

Ở Ấn Độ, Du Già là chuyên chỉ một phương pháp tu hành, sau đó được Phật giáo đại thừa đang hưng khởi tiếp thu, bổ xung thêm, một số nội dung của Phật giáo, phát triển thành đại thừa hữu tông. Theo thuyết pháp của tông giáo này, nếu như tăng lữ mà tu hành và tư duy theo tăng luật, giáo pháp, pháp nghĩa của bản tông đó thì có kết quả của việc tu hành hoặc tư duy sản sinh từ đó ra đều là Tương Ưng, đồng thời phương tiện khéo léo, linh hoạt đúng mực.

Nội dung chủ yếu của “ Du Già Sư Địa Luận” là chỉ rõ người tu hành theo du già, phải thực hiện theo “ thâp nhất địa” ( 17 địa vị) mà Phật giáo gọi là cảnh, hành, quả tức là 17 bước tu hành chính quả cuối cùng thành Phật.

Lý luận kiểu này tuy rằng rất là rối rắm và phức tạp, nhưng nó đã chỉ rõ con đường thành Phật. Các học phái học tập tu hành theo Phật giáo thời Tấn Tống như Bát Nhã Học, Niết bàn học và sau là Thiên Thai tông đều có những lý luận rõ ràng chi tiết, đem lại cho người ta ấn tượng rất rõ nét, đối với người Trung Quốc mà nói, nó lại có một hương vị mới mênh mông vô cùng.

Do đó đối với Đường Thái Tông vào những năm cuối đời, nó cần thiết và quan trọng hơn nhiều so với hy vọng gửi gắm về tác dụng thế tục của luân lý đạo đức Nho gia.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 02:07:46 pm »

(tiếp theo)

Vào mùa thu năm Trinh Quán thứ 22, Lý Thế Dân yêu cầu ngài Huyền Trang lại tiếp tục ca ngợi công đức của Phật giáo. Đường Thái Tông lập tức hỏi” Muốn trồng cây công đức, làm thế nào cho tốt nhất?” Ngài Huyền Trang liền đáp rằng:” Chúng sinh mê muội, nếu không có tuệ thì không khởi lên được, mầm của tuệ phải vun trồng, pháp chỉ là hạt giống, hoàng pháp vì con người, trước hết phải độ tăng”.

Theo kiến nghị của ngài Huyền Trang, Đường Thái Tông liền hạ chiếu độ tăng, trong chiếu đó nhà Vua dụ rằng:” Trẫm sống ở thời nhiễu loạn, luôn phải lo lắng việc binh đao, phải dãi gió dầm mưa, phải ngủ trên mình ngựa, chứng bệnh chưa hết, gần đây đã được bình phục, có lẽ vì điều phúc này nên cần phải dừng việc binh đao chăng?”

 Sau khi Đường Thái Tông ra chiếu độ tăng, các tăng ni trong toàn quốc được lên độ hơn 18500 người.

Vào tháng 4 năm Trinh Quán 23 ( năm 649 sau Công nguyên) Đường Thái Tông đến cung Thuý Vi và yêu cầu ngài Huyền Trang đi cùng. Sau khi ngài Huyền Trang vào trong cung, ngài chỉ tán huyền luận đạo ( sự xâu xa bi diệu, mầu nhiệm của Phật giáo) với Đường Thái Tông. Đường Thái Tông hỏi ngài Huyền Trang về nhân quả báo ứng và các câu chuyện cổ tích về tiên thánh miền Tây. Ngài Huyền Trang liền dẫn kinh Phật ra trả lời. Đường Thái Tông tin tưởng hết mức, đã nhiều lần nắm vạt áo của ngài Huyền Trang nói rằng:” Trẫm gặp thầy hơi muộn nên không thể hoằng dương Phật pháp được nữa rồi”.

Điều này cho ta thấy rằng, vào những năm cuối đời, Đường Thái Tông cũng cảm thấy tiếc rẻ vì mình không thể hoằng dương được Phật pháp, điều này đã cách xa một trời một vực so với hoài bão của ông ta từ trước đây. Nói chung các vị Đế Vương của Trung Quốc thường có một ảo tưởng là mình đi cầu Pháp trường sinh bất lão, từ đó giúp cho mình được thống trị thiên hạ lâu hơn nữa. Ngày xưa Tần Hoàng Hán Vũ vào những năm cuối đời đã tin phục và đi theo một phương thuật của đạo sĩ. Ông ta đã không tiếc cả mạng sống của mình để uống các thứ thuốc thần tiên linh nghiệm.

Đạo sĩ có phương thuật này nhân cơ hội được chiều chuộng, ông ta lừa hết trò này đến trò nọ, do đó đến khi họ chết họ vẫn không được tỉnh ngộ. Cả nửa cuộc đời Đường Thái Tông rong ruổi trên lưng ngựa, tiếp sau đó Đế Vương được hơn 20 năm, do đó mà ông cũng có một ảo tưởng là mình được trường sinh bất lão. Xuất phát từ mục đích này , Đường Thái Tông nghĩ đến việc mình không sớm quảng dương ( phổ biến rộng) Phật Pháp mà biết rằng công đức của mình rất mỏng và nhỏ, do đó mãi đến tận cuối cuộc đời ông ta vẫn luôn luôn cảm thấy nuối tiếc.

Vào tháng 5 năm Trinh Quán 23, Đường Thái Tông Lý Thế Dân vì dùng loại thuốc tiên do một phương sĩ sao luyện mà bị ỉa chảy kéo dài không chữa khỏi, cuối cùng là chết.

Sự tin sùng vào Phật giáo của Đường Thái Tông Lý Thế Dân vào những năm cuối đời cũng có liên quan trực tiếp với những được mất của ông ta về mặt chính trị. Thời kỳ đầu ngay sau khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi, ông ta lập tức lấy việc nhà Tuỳ suy vong làm tấm gương cho mình. Về mặt chính trị và kinh tế ông ta đã cho thực hiện một loạt biện pháp có lợi cho nền thống trị của triều đại.

Bản thân Đường Thái Tông ngay từ đầu cũng đã chăm chú lắng nghe lời khuyên can của quần thần, đồng thời cũng giống như Nguỵ Trưng ( Vua đời Tuỳ) ông khuyến khích cảm ơn người dám thẳng thắn dâng lời khuyên can. Chính vì vậy đã có một thời chính trị  mà sử tịch khen ngợi gọi là thời đại hưng thịnh “ Thịnh trị Trinh Quán”. Thời đại thịnh trị đồng thời cũng tạo nên cho Đường Thái Tông  một thái độ kiêu căng tự mãn. Bản thân Đường Thái Tông Lý Thế Dân cũng là một người có tài năng hơn người, điều này càng trở thành điều kiện để ông ta tự mãn kiêu ngạo.

Ngay từ những năm Trinh Quán, ông ta đã tự vỗ ngực mà rằng” Trẫm khởi binh từ năm 18 tuổi, năm 24 tuổi bình định được thiên hạ, năm 29 tuổi được lên ngôi hồi đó, uy lực nay đã hơn hẳn người xưa; ngay từ nhỏ Trẫm đã theo việc binh đao chiến khắp nơi, không có thời gian mà đọc sách, từ những năm Trinh Quán đến nay, Trẫm trong tay không có lấy quyển sách của Phật, biết nguồn gốc của phong hoá, nguồn gốc của chính lý, điều này cũng có thể gọi là việc học hành hơn cả người xưa; Xưa kia Chu Tần đầu hàng kẻ Nhung địch (20) nội xâm, ngày nay chúng đã cúi đầu làm thần thuộc, hoà bão này cũng đã hơn người xưa” Ba phương diện mà ông ta tự khoe khoang mình đã trở thành những chướng ngại cho con đường tiến cử của ông ta vào những năm cuối đời.

Ông ta đã không tận tâm lắng nghe những lời khuyên can như trước đây nữa, càng ngày càng muốn phô trương sức mạnh, Ông đã từng ba lần đi đánh Liêu Đông không nổi, ông đã cảm thấy sức lực của mình không còn được như trước nữa.

Do đó ông bắt đầu chú ý đến Phật Pháp. Vào những năm cuối đời, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã tin theo Phật Pháp.

Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến lập trường và thái độ đối với Phật giáo của Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên và một số người khác.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 02:14:58 pm »

(tiếp theo)

Để tóc tu hành tại chùa Cảm Nghiệp

Võ Tắc Thiên thờ Phật được lên ngôi.


Võ Tắc Thiên tên thường gọi là Chiếu là người vùng Văn Thuỷ của Tịnh Châu ( nay là huyện Văn Thuỷ tỉnh Sơn Tây). Bố là Võ Sĩ Hoạch, nguyên là một người buôn gỗ.

 Vào cuối thời kỳ Tuỳ, ông đã đi theo quan lưu thủ( bảo vệ) Thái Nguyên tên là Lý Uyên, được làm một vị quan nhỏ. Lý Uyên khởi binh chống lại nhà Tuỳ ở Thái Nguyên, Võ Sĩ Hoạch cũng vội vã đi theo. Sau khi Vương triều Đường ra đời, Võ Sĩ Hoạch được phong làm quan Bộ thượng thư Bộ Công và còn được phong làm Vinh Quốc Công. Tương truyền, ngay từ bé Võ Tắc Thiên đã có tính cách cương nghị, rất thích đóng giả con trai. Có một lần, thầy tướng xem bói cho cô, tưởng cô là con trai liền nói rằng:” Nếu cậu mà là con gái thì quý hết chỗ nói”.

Đến năm 14 tuổi, Võ Tắc Thiên đã trở thành một cô gái xinh đẹp “ cành vàng lá ngọc”. Sau khi biết Võ Tắc Thiên là một cô gái xinh đẹp, Đường Thái Tông liền triệu cô vào trong cung, chọn cô làm tài nhân ( cấp thấp nhất trong các phi tần). Sau khi vào cung, Võ Tắc Thiên biết được Đường Thái Tông có một con ngựa bất kham, rất khó thuần phục được con ngựa này. Cô nói với Đường Thái Tông rằng mình cần 3 thứ: Một cái roi sắt, sau đó là dùng chuỳ sắt. Nếu như nói vẫn cứ không vẫn nghe lời thì phải dùng đến dao găm để đâm. Đường Thái Tông nửa đời người ngồi trên lưng ngựa tầm hiểu biết của ông cũng rất sâu rộng, nghe lời nói mạnh bạo này, ông ta vô cùng khen ngợi tính cách mạnh mẽ của Võ Tắc Thiên.

Tháng năm Trinh Quán thứ 23 ( năm 649 sau Công nguyên), Đường Thái Tông băng hà (chết). Võ Tắc Thiên cùng với các phi tần khác của Đường Thái Tông bị đuổi ra khỏi cung, bắt xuất gia làm ni sư tu ở chùa Cảm Nghiệp phía bắc Trường An. Lúc đó, Võ Tắc Thiên mới 25 tuổi.

Sau khi xuất gia làm sư ni, Võ Tắc Thiên ngày ngày hương đãng cúng Phật, ngày ngày tụng kinh, cuộc sống cô đơn lạnh lẽo. Nhưng bà vẫn còn một tia hy vọng, đó là trước khi xuất gia bà đã có lời hẹn ước với Hoàng Thái Tử tên là Lý Trị, bởi vì ngày trước khi còn ở cung, bà cũng lén lút quan hệ tình cảm với Lý Trị cũng từng hứa với Võ Tắc Thiên rằng, đợi sau khi ông được lên ngôi hồi đó, nhất định sẽ đón Võ Tắc Thiên trở về cung. Một hôm Đường Cao Tông Lý Trị đến chùa Cảm Nghiệp gặp Võ Tắc Thiên. Tình cảm nhớ nhung giữa hai người lại trào lên bừng bừng. Sau khi hai người gặp nhau, Đường Cao Tông nói với Võ Tắc Thiên rằng, điều kiện để đón nàng về cung giờ vẫn chưa chín muồi, nhưng trước tiên Võ Tắc Thiên cứ để tóc mọc dài như cũ, được thời cơ chín muồi, nhất định sẽ đến đón về. Sau khi Lý Trị ra về, Võ Tắc Thiên bắt đầu không cạo tóc như trước mà cứ để tóc mọc dài ra, nhưng việc tu tập vẫn bình thường, và ngày ngày mong ngóng Đường Cao Tông sớm đến đón mình trở về cung. Quãng nửa năm sau, Đường Cao Tông triệu Võ Tắc Thiên trở về cung. Do có một thời gian sống cuộc sống của một ni sư, nên giáo lý Phật giáo cũng in đậm trong tâm trí Võ Tắc Thiên, cuộc sống nhà chùa cũng trở nên quen thuộc với bà. Khi thực sự phải rời chùa Cảm Nghiệp, Võ Tắc Thiên tự nhiên có một tình cảm lưu luyến khó dứt ra được. Qúa trình này đã có ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa Võ Tắc Thiên và Phật giáo sau này.

Không giống như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, người con Đường Cao Tông Lý Trị là một người ốm yếu, làm việc chậm chạp. Sau khi lên ngôi, Đường Cao Tông không chú ý đến công việc, làm việc tuỳ tiện, qua quýt, giải quyết công việc không theo đúng nguyên tắc. Nhưng trong vấn đề sắp xếp thứ tự của Phật giáo và Đạo giáo, Đường Thái Tông ( cha) đã sắp đặt là : Đạo giáo đứng đầu, tiếp theo là Nho giáo, cuối cùng là Phật giáo. Nhưng sau khi Đường Cao Tông lên ngôi, nghe nói một số hoà thượng có ý kiến, ông liền ra chiếu rằng: Trong các buổi lễ Trai ( bất kể là nhà nước hay tư nhân tổ chức) và trong các nơi có tập trung đông người thì các đạo sĩ và nữ quán ( Đạo giáo ) đứng ở phía Đông, tăng ni ( Phật giáo) đứng ở phía Tây, không cần phải tranh cãi trên dưới gì nữa. Điều này trên thực tế trong lòng ông có ý gì đó đắn đo nghiêng về Phật giáo, mặt khách quan rất có lợi cho việc phát triển Phật giáo về thế và lực. Còn một điều nữa là ít lâu sau khi ông lên ngôi, ông đã cho ban chiếu thư: Tăng ni không được nhận bái lạy của cha mẹ đẻ mà tăng ni cần phải bái lạy cha mẹ. Nhưng một trong số tăng sĩ nhờ có mối quan hệ họ hàng với Hoàng thân quốc thích nên đã có hành động chống đối, họ không chịu chấp nhận như vậy, chiếu thư cuối cùng không được thực thi.

Võ Tắc Thiên sau khi được trở lại cung, liền được Đường Cao Tông lập là Chiêu Nghi ( một đẳng cấp của Phi Tần cao hơn Tài Nhân).

Việc Đường Cao Tông ốm yếu làm việc chậm chạp, không cương quyết đã tạo điều kiện thuận lợi cho một con người cương nghị, đa mưu như Võ Tắc Thiên tham dự vào công việc chính của Vương Triều nhà Đường. Không bao lâu sau, Đường Cao Tông lại ra sắc lệnh phong Võ Tắc Thiên là Thần Phi ( cấp cao nhất trong Phi Tần, chỉ thấp hơn Hoàng Hậu).

Sau đó Đường Cao Tông lại muốn lập Võ Tắc Thiên làm Hoàng Hậu, và ông cũng đem việc này bàn luận với quần thần. Nguyên Lão trọng thần là Chử Toại Lương và cháu đích tôn là Vô Kỵ cực lực phản đối. Đường Cao Tông do dự không quyết định, ông đem chuyện này ra bàn với Lý Tích. Lý Tích tâu rằng:” Đây là việc riêng của Hoàng gia, việc gì phải đem bàn với người ngoài”. Ông Hứa Kính Tông, người ủng hộ Võ Tắc Thiên nói ý càng sâu sa, thấu đáo hơn.

Ông nói rằng:” Ông Hương Ba Lão Đa còn phải gánh mấy thạch gạo ( một thạch là một tạ) để mong đổi lấy một người vợ, huống hồ là Thiên Tử!”. Do đó, Đường Thái Tông quyết tâm phế bỏ Vương hậu đương thời, lập Võ Tắc Thiên làm Hoàng hậu, Võ Tắc Thiên sau khi được làm Hoàng hậu, bà liền trực tiếp tham dự vào Triều chính.

Do Đường Cao Tông mắc bệnh đau đầu, nên từ năm Hiển Khánh thứ 5 ( năm 660 sau Công nguyên) đại sự trong Triều Đình về cơ bản đều giao cho Võ Tắc Thiên giải quyết. Hàng ngày khi Đường Cao Tông lên triều, Võ Tắc Thiên đều ngồi phía sau ông, buông rèm nghe việc triều chính, quyết đoán tất cả mọi việc. Đường Cao Tông lúc này giống như tên bù nhìn. Đồng thời, lúc đó các đại thần trong Triều Đình và dân trong họ đều gọi Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên là “ nhị thánh”. Điều đó chứng tỏ rằng, trong lòng mọi người, Võ Tắc Thiên cũng đã trở thành một vị Hoàng Đế.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 02:20:06 pm »

(tiếp theo)

Sau khi nắm quyền điều hành Triều Chính, Võ Tắc Thiên bắt đầu ra sức nâng đỡ Phật giáo, đồng thời thúc đẩy và thúc đẩy Đường Cao Tông chính thức đề cao Phật giáo. Theo ghi chép lại của sách sử, vào năm đầu của Lân Đức ( năm 664 sau Công nguyên) Võ Hậu ( tức Võ Tắc Thiên) đã truy phong cho cô con gái đầu lòng bị chết yểu là công chúa An Định, khi cải táng liền tổ chức khoá lễ to ở chùa thờ Phật. Vào năm sau, thái tử Lý Hoằng đã cho đúc một cái chuông đồng to dâng biếu Đường Cao Tông và Võ Hậu, cái chuông đó nặng tới năm tấn. Võ Hậu yêu cầu treo cái chuông này ở chùa Tây Minh. Ngày làm lễ treo chuông, liền tổ chức một lễ hội làm náo động kinh đô. Vào năm đầu của Càn Phong ( năm 666 sau Công nguyên), dưới sự điều khiển của Võ Hậu, Đường Cao Tông đã ra chiếu lệnh yêu cầu mỗi châu phải xây một ngôi chùa. Vào năm Hàm Hanh thứ hai ( năm 671 sau Công nguyên) mẫu thân của Võ Hậu đã cho người đúc một bức tượng Phật lớn để hồi hướng phúc đức cho bà, số tiền đúc tượng đều lấy từ Quốc khố ( kho bạc nhà nước). Vào năm sau, Đường Cao Tông lại ra sắc lệnh cho xây dựng Phật đại Nô Xá Na ở chùa Phụng Tiên, Long Môn, Lạc Dương. Võ Hậu đã dùng hai triệu quan ( mỗi quan là 1000 xu) tiền son phấn của mình để tương trợ, sau hơn 3 năm xây dựng công trình đó mới hoàn thành. Vào năm Vĩnh Thuần thứ hai ( năm 683 sau Công nguyên) Đường Cao Tông đón một tăng sĩ Ấn Độ tên là Bồ Đề Lưu Chí đến Trung Quốc. Võ Hậu lại đảm nhiệm thêm trách nhiệm, đưa ngài về chùa Phúc Tiến ở Lạc Dương để chuyên dịch kinh Phật. Vào năm sau Đường Cao Tông mất, Võ Hậu đã cho xây chùa Đại Hiến để hồi hướng công đức cho Đường Cao Tông, đồng thời độ 200 vị tăng trong đó. Về sau, chùa này được đổi thành chùa Tiến Phúc. Tất cả các hoạt động trên đây, trên thực tế đều do Võ Tắc Thiên đề xướng và điều khiển, đồng thời họ luôn luôn quán triệt tham vọng chính trị mãnh liệt của Võ Hậu và ảnh hưởng của bà sau khi tham dự triều chính. Như bức tượng Phật Nô Xá Na ở chùa Phụng Tiên huyện Long Môn kể trên là do Võ Hậu bớt 2 triệu quan tiền son phấn của mình để tạo nên. Tạo hình của khuôn mặt bức tượng đó đầy đủ hình thái và khí chất điển hình của người phụ nữ Trung Quốc. Khuôn mặt đầy đặn, ung dung, mắt sáng long lanh, lông my dài và cong vút, ánh mắt hiền từ và dịu dàng. Nó đã chứa đựng tình cảm hiền hậu hoà nhã, không có một điểm nào lại không thể hiện dáng vẻ nữ tính rung động lòng người. Cái hình tượng được nữ tính hoá này là sản phẩm của việc Võ Tắc Thiên dựa vào tạc tượng Phật để thể hiện lòng tôn thờ thần thánh. Cái tên “ Lô Xá Na” là dịch âm từ tiếng phạn, ý của từ ấy là “ánh Phật chiếu khắp nơi” hoặc “ánh sáng chiếu khắp nơi”. Hình tượng đã được “ nữ tính hoá” này, vừa có đủ hàm ý” ánh Phật chiếu sáng khắp nơi” và” ánh sáng chiếu khắp nơi”, vừa là điềm báo trước về hoài bão chính trị của Võ Tắc Thiên (Võ Hậu).

Sau khi Đường Cao Tông qua đời, Đường Trung Tông Lý Hiển kế vị. Nhưng chẳng bao lâu sau, Võ Tắc Thiên liền phế Đường Trung Tông, cho làm Lư Lăng Vương. Bà đưa Duệ Tông, tức là Lý Đán kế vị. Sau khi Duệ Tông lên ngôi, Võ Tắc Thiên liền lấy danh nghĩa Thiên Hậu Hoàng Thái Hậu để nhiếp chính. Như vậy, Vương Triều  Lý Đường cuối cùng đã bị Võ Tắc Thiên thâu tóm quyền lực. Để dành được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân sĩ và tìm căn cứ lý luận cho việc mình nắm quyền lực, Võ Tắc Thiên đã phát triển sâu sắc thêm mối quan hệ chính mình và Phật giáo, hy vọng dùng Phật giáo để đạt được mục đích chính trị và các mục đích khác của mình.

Vào năm đầu tiên của Thuỳ Cung ( 685 sau Công nguyên). Võ Hậu ( tức Võ Tắc Thiên) ra lệnh cho tăng sĩ tên là Tiết Hoà Nghĩa trùng tu lại chùa Bạch Mã ở Lạc Dương. Trùng tu xong, Võ Hậu liền cử tăng sĩ Tiết Hoài Nghĩa làm trụ trì ngôi chùa đó. Tiết Hoài Nghĩa tên thế tục là Phùng Tiểu Bảo, vốn là một kẻ lưu manh đầu đường xó chợ ở Lạc Dương. Nhưng ngay từ khi sinh ra cậu đã có khuôn mặt sáng sủa, dáng người đàng hoàng rắn chắc, sức khoẻ hơn người. Đầu tiên, cậu ta gian díu với công chúa Thiên Kim là con trai thứ 18 của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Về sau được công chúa Thiên Kim là con gái thứ 18 của Đường Cao Tổ Lý Uyên, về sau được công chúa Thiên Kim giới thiệu làm quen với Võ Tắc Thiên. Võ Tắc Thiên vô cùng quí mến và chiều chuộng cậu ta, hai người rất mến nhau, tình cảm ngày càng sâu đậm. Để che mắt thiên hạ và tiện cho việc ra vào cung của cậu ta, hai người rất mến nhau, tình cảm ngày càng sâu đậm.

Để che mắt thiên hạ và tiện cho việc ra vào cung của cậu ta, Võ Tắc Thiên liền yêu cầu cậu ta xuất gia thành tăng sĩ, pháp danh là Hoài Nghĩa. Võ Tắc Thiên còn hiềm một nỗi là cậu ta xuất thân thành phần thấp kém trong xã hội , liền giao cho cậu ta chức Phụ Mã Tiết Thiện Bản Gia phục vụ cô công chúa Thái Bình yêu quí của mình, hơn thế nữa lại còn là Thúc Phụ ( chú ruột) của Phụ Mã. Như vậy Tiết Hoài Nghĩa vừa là một tăng sĩ, vừa là cư sĩ ( tín đồ Phật giáo chưa xuất gia) làm việc của thế tục, ông được tự do ra vào cung làm hầu nam cho Võ Thị. Sau khi được làm trụ trì chùa Bạch Mã, đi đâu cũng cưỡi Ngự Mã ( ngựa để Vua Cưỡi), hai bên có hơn chục quan quân đi kèm. Khi đi trên đường phố, cậu ta luôn tỏ vẻ kiêu hãnh. Cậu ta còn bầy trò lập đạo tràng cùng với các vị cao tăng đại đức tụng kinh cho Võ Hậu ở Lạc Dương. Các Vương Công quý tộc trong triều đình đều nằm rạp xuống lễ bái, gọi cậu ta là Tiết Sư. Võ Tắc Thiên đã dùng Phật giáo làm bùa hộ mệnh để thoả mãn ý đồ riêng tư của mình. Trong lịch sử Trung Quốc không chỉ có một lần này!

Vào năm sau, vị tăng sĩ người Ấn Độ đến Trung Hoa tên là Địa Bà Kha La bắt đầu công việc dịch kinh sách ở chùa Thái Nguyên (Đông Kinh). Võ Tắc Thiên đã nhiều lần đến hai nơi ấy, viết bản tựa cho bản kinh dịch để mở rộng bản kinh mới dịch, thông qua đó bà muốn chứng tỏ mối quan hệ đặc biệt của mình với Phật giáo. Về sau ngài Địa Bà Kha La Tịch ( qua đời), Võ Tắc Thiên ra sắc lệnh mai táng ngài ở núi Long Môn. Do có sự đề nghị của Võ Tắc Thiên, lễ mai táng ngài Địa Bà Kha La có đến hàng vạn người gồm vương công quí tộc trong Triều và bà con trăm họ, có thể nói rằng đó là đám tang lớn chưa từng có từ trước đến nay.

Vào năm Thuỳ Cung thứ 4 ( 688 sau Công nguyên), một người cháu trai của Võ Tắc Thiên tên là Võ Thừa Tự đã làm giả một viên Thiên Thạch, anh ta đã khắc tám chữ “ Thánh Mẫu Lâm Nhân, Vĩnh xương Đế Nghiệp” trên hòn ngọc thạch rồi sai một người quê Ung Châu tên là Đường Đồng Thái dâng biểu lên Võ Tắc Thiên nói rằng hòn đá này nhặt được ở Lạc Thuỷ. Võ Tắc Thiên nhìn thấy viên đá cát tường này bà vô cùng vui sướng, liền gọi viên đá đó là” Bảo Đồ”, đồng thời bà thăng chức cho Đường Đồng Thái là “ Du Kích Tướng Quân”. Đối với mình bà cũng tự đặt thêm danh hiệu, lấy tên là Thánh Mẫu Thần Hoàng Thái Hậu. Các hành động trên đây cũng đủ thấy rằng, Võ Tắc Thiên muốn dùng nhiều thủ đoạn để tạo dư luận dọn đường cho mình làm Hoàng Đế.

Thấy như vậy, một số Sa môn Phật giáo bắt đầu tìm cách đáp ứng mong muốn của Võ Hậu. Năm đầu tiên của Tải Sơ ( năm 689 sau Công nguyên), có một nhóm 10 vị Sa môn làm một cuốn sách Phật tên là “ Kinh Đại Vân” công khai tô vẽ thổi phồng Võ Tắc Thiên là một nữ hoàng. Sau khi họ mang cuốn “ Kinh Đại Vân” này dâng lên Võ Tắc Thiên.

 Võ Tắc Thiên sướng như bắt được vàng. Sở dĩ Võ Tắc Thiên coi trọng cuốn “ Kinh Đại Vân” như vậy, là do trong cuốn “Kinh Đại Vân” có hai đoạn nói đến việc phụ nữ có thể làm Quốc Vương. Một đoạn nói rằng, có một thiên nữ tên là Tịnh Quang được Phật thọ ký ( dự báo trước) là sẽ làm Quốc Vương vì thiên nữ này là Bồ tát hoá thành nữ thân.

Một đoạn nữa thì nói rằng, thiên nữ Tịnh Quang hiện đang thọ nữ thân, mọi người trong thiên hạ nhất định phải đồng ý để vị nữ này kế vị ngôi Vua. Hai đoạn kinh này được các vị hoà thượng kể trên giải thích thêm, họ nêu rõ: Vị thiên nữ này đã chính thức quy phục được thiên hạ, tất cả các đất đại nằm dưới sự cai quản của bà, không ai dám chống đối.

 Điều này có nghĩa là, yêu cầu các đại thần đương chức cùng trăm họ cùng tận trung với Võ Hậu. Những ai tận trung thì được con cháu đầy đàn. Nếu như ai muốn chống lại hoặc làm phản, cho dù quốc gia bây giờ không sử chém thì lên trời cũng bị trừng phạt hoặc chết! Qua sự giải thích như vậy, vậy thực tế giống như nói rằng Võ Hậu đảm nhận thiên mệnh, không một ai được chống lại.

Cùng lúc với các vị Hoà thượng tô vẽ Võ Hậu đang gánh vác thiên mệnh, có một số vị quan cùng một tốp khoảng 900 người thuộc dân lang thang đầu đường xó chợ trong thành Trường An do một người tên là Phó Du Nghệ đứng đầu cùng nhau đến dâng biểu xin đổi tên nước là Chu. Họ dâng biểu đó lên Hoàng thân Võ Thị. Chỉ có hơn 900 người đến đề nghị, do đó Võ Hậu cũng không dám tuỳ tiện đồng ý. Nhưng Võ Hậu cũng phong cho người đứng đầu tốp đó là Phó Du Nghệ chức Cấp Sứ Mệnh Quan Triều Đình, bậc chính ngũ phẩm. Hành động đó đã chứng tỏ rằng, việc Võ Hậu "không đồng ý với lời thỉnh cầu" là giả vờ, bà ngầm báo với mọi người rằng, bà cần một lễ đề nghị với quy mô lớn.

Thế là 3 ngày sau, những người đạo diễn lời đề nghị trên liền gây náo loạn các quan Triều Đình cùng Hoàng Gia. Khoảng  6 vạn người gồm bà con trăm họ xa gần, các tù trưởng ở khắp nơi cùng với các sa môn Phật giáo lại dâng biểu xin để Võ Thị làm Hoàng Đế. Trong khí thế đề nghị sục sôi như vậy, trong lòng Võ Tắc Thiên vô cùng sung sướng. Thật đáng thương cho Duệ Tông Lý Đán đành phải mời Thái Hậu ra làm Hoàng Đế. Qua hai ngày chuẩn bị, Võ Tắc Thiên liền lên ngự tại Thiên Lầu, ra sắc lệnh đại xá thiên hạ, đổi tên nước Đường thành Chu, tự xưng là Thần Hoàng Đế, đổi niên hiệu thành Thiên Thụ (năm 690 sau Công nguyên). Như vậy, Nữ hoàng Võ Chu chính thức đội mũ lên ngôi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Daihongcat, Ngoisaobiec, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Bảy 30, 2011, 04:33:14 am »

(tiếp theo)

Trong quá trình "Cách mạng Võ Chu" thì các sa môn Phật giáo lập công đầu. Họ không chỉ tìm được căn cứ lý luận cho việc Võ Chu thay nhà Đường để chứng minh việc Võ Thị làm nữ Hoàng Đế là do ý chỉ của Phật, mà họ còn có những biểu hiện tích cực trong các hoạt động đề nghị. Do đó, sau khi lên ngôi Nữ Hoàng, Võ chu liền tiến hành thưởng công lao.

Mười vị Hoà thượng đã làm giả bộ "Kinh Đại Vân" kia, đều được ban tước Huyện Công, đồng thời ban bộ y tử cà sa khuy bạc cho các vị Hoà thượng, hậu thế cũng bắt chước việc này. Không chỉ có vậy vào tháng 10 năm đầu tiên của Thiên Thụ (năm 690 sau Công nguyên), Nữ Hoàng Võ Chu còn ra sắc lệnh ở mỗi châu của lưỡng kinh (Đông kinh và Tây kinh) xây một ngôi chùa lấy tên là Đại Vân để cất "Kinh Đại Vân". Tại những ngôi chùa đó mời các cao tăng đại đức thăng toạ giảng giải kinh Phật. Hồi đó, toàn quốc rộ lên phong trào xây chùa lấy tên là Đại Vân.

Vùng trung nguyên cũng có chùa Đại Vân, vùng biên giới xa xôi hẻo lánh cũng có chùa tên là Đại Vân. Theo tài liệu có liên quan, phong trào "Chùa Đại Vân" còn lan ra tận Tây An, Sớ Lặc và cả thành Toái Diệp phía Nam vùng hồ Ba Nhĩ Ca Thập. Từ đó có thể thấy ảnh hưởng to lớn cùng sức vươn xa của "Chùa Đại Vân".

 Ngoài ra, vào năm Thiên Thụ thứ hai (năm 691 sau Công nguyên) Nữ Hoàng Võ Chu còn ban chiếu: đặt phật giáo lên trên Đạo giáo, tăng ni Phật giáo được đứng trên đạo sĩ và nữ quán của Đạo giáo. Vì Phật giáo đã giúp đỡ nhiều trong "cải cách Võ Chu", cho nên Nữ Hoàng cũng phải nâng cao địa vị của Phật giáo. Trong chiếu thư đó Nữ Hoàng nói rằng: Trẫm xưa kia ít thông hiểu những lời dạy từ kim khẩu(23), lại nhận được một bản Bảo Kệ(24), rất tốt cho việc giáo dục ngày nay. Cuốn kinh Đại Vân rất hay và thâm sâu, đó là dấu hiệu làm sáng đất nước, mở rộng việc cải cách, dấy lên phong trào duy tân (đổi mới) do đó Phật giáo phải đặt trên Đạo giáo, tăng ni cần phải đứng trước Đạo sĩ. Không có nghi ngờ gì nữa, điều này đã thông báo thẳng với mọi người rằng, trong quá trình cải cách duy tân thì Phật giáo có đóng góp to lớn, bản thân Nữ Hoàng đã dùng nhà Phật để giáo hoá thiên hạ, do đó đạo Phật cần phải xếp lên trên.

Vào năm Trường Thọ thứ 2 (năm 693 sau Công nguyên), nghĩa là chỉ 4 năm sau ngày nhóm 10 vị hoà thượng dâng bộ "Kinh Đại Vân" lên Võ Tắc Thiên thì vị tăng người Ấn Độ đang dịch kinh trên đất Đường tên là Bồ Đề Lưu Chí cũng dịch xong bộ "Kinh Bảo Vũ" gồm 10 quyển trong đó có một đoạn nói rằng: "Phương Đông có một vị Thiên tử tên là Nhật Nguyệt Quang, cưỡi mây ngũ sắc đến nơi Phật ở, Phật nói với Thiên tử rằng, sau khi ta nhập diệt ngươi phải đến nước Ma Ha Chi Na ở phía đông bắc Nam Thiệm Bộ Châu. Ở đó thật sự có một vị Bồ Tát nhưng hiện là nữ thần, là vị chúa Tự Tại. Trải qua vài năm ở đó, nhà ngươi hãy dùng chánh pháp để giáo hoá, dưỡng dục chúng sinh, hướng dẫn họ tu thập thiện(25), phát triển pháp môn này của ta, xây dựng chùa và tháp, đồng thời hãy cúng dàng sa môn những thứ như quần áo, đồ ăn, nơi ở, thuốc thang".

Đoạn kinh văn này còn rõ ràng hơn "Kinh Đại Vân". Tuy rằng nó không nói thẳng tên tuổi của Võ Tắc Thiên, nhưng nó cũng nói rằng có một vị Bồ Tát hiện là nữ thần sẽ làm Hoàng Đế ở Trung Quốc (nước Ma Ha Chi Na). Bộ "Kinh Bảo Vũ" mà ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch là bản dịch lần thứ ba của bộ kinh này, so với bản dịch của hai lần trước thì đều không thấy có đoạn này. Từ đó có thể thấy rằng, đoạn kinh văn kể trên là dịch giả Bồ Đề Lưu Chí thêm vào để làm vừa lòng Võ Tắc Thiên và muốn thanh minh cho cuộc cải cách của Võ Chu. Sau khi đọc đoạn kinh này, Nữ Hoàng Võ Chu như mở cờ trong bụng, vì có "lời Phật" trong cuốn "Kinh Đại Vân" và "Kinh Bảo Vũ" nên việc Võ Chu làm Hoàng Đế càng có thêm nhiều lý do bổ sung. Thế là Võ Thị liền ra tay hành động, viết lời tựa cho rất nhiều quyển kinh Phật mới dịch để biểu thị lòng cảm tạ của mình đối với Phật giáo! Trong một đoạn lời tựa bà viết rằng: Kiêm Tiên(26) giáng xuống đất này, điều này trong kệ "Đại Vân" đã nói rõ từ lâu. Ngọc y (27) khóc lên đẹp lóng lánh, điều này trong cuốn "Bảo Vũ" sáu đó có nói tới, "Trẫm từ khi còn bé, tâm đã hướng về bờ bên kia(28) luôn mong muốn hoằng dương Tam Bảo, đặt nền móng lớn cho việc an vị Đại Bảo, dương cao 8 thánh, củng cố nghiệp lớn của các vị Thánh đi trước". Vào tháng 9 mùa thu năm ấy, Võ Thị liền đặt thêm tên cho mình là Kim Luân Thánh Hoàng Đế. Theo thuyết Pháp của Phật giáo, Bồ Tát ứng thế thì gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, chia làm 4 cấp gồm vàng, bạc, đồng, sắt. Kim Luân Vương có thể làm Vương thiên hạ, đồng thời có 7 báu (tức là 7 loại sự vật hoặc động vật gồm vòng vàng, phụ nữ, voi, ngựa, hạt ngọc, thần Chúa binh, thần Chúa tạng). Võ Thị tự phong cho mình là Kim Luân Thánh Hoàng Đế, như thế cũng cần phải có bẩy báu này. Thế là bà liền làm bẩy bảo bối này, tổ chức lễ hội cung đình quy mô lớn để thần dân được ngắm chúng.

Vì Võ Tắc Thiên làm Vua thiên hạ với thân phận (danh nghĩa) là Bồ Tát ứng thế, cho nên những công việc của Triều Đình đương nhiên là có các vị hoà thượng (Phật tử) tham dự. Do đó, Nữ Hoàng Võ Chu liền trọng dụng các vị Hoà thượng tham gia các hoạt động như giám sát, quân sự... Bà ta đã hai lần bổ nhiệm hoà thượng Tiết Hoài Nghĩa vào các chức như Tân Bình Đạo Hạnh Quân Đại Bảo Quản và Đại Bắc Đạo Hạnh Quân Đại tổng Quản tiến lên phía bắc đánh Đột Quyết, nhưng đều mang thất bại trở về. Điều này trên thực tế là coi quốc gia đại sự như trò đùa. Cùng thời gian này, bà còn quan hệ qua lại rộng rãi với nhiều tăng sĩ Phật giáo để chứng tỏ rằng, bà không chỉ có duyên với Phật giáo, mà còn có duyên với nhiều vị tăng sĩ.

Hồi đó có một vị tăng tên là Thần Tú, là thủ lĩnh của Thiền tông miền bắc, Võ Tắc Thiên liền mời ngài Thần Tú về Kinh Sư. Vừa gặp nhau là thấy chung tâm nguyện. Võ Tắc Thiên vùng với ngài Thần Tú đi song song lên điện. Võ Tắc Thiên còn đích thân quỳ lễ ngài Thần Tú, luôn miệng hỏi đạo. Dưới sự dẫn dắt của bà, rất nhiều các con cháu Vua chúa đến lễ bái ngài Thần Tú. Họ đảnh lễ nằm rạp xuống đất. Ngày nào cũng có vô số người đến như vậy. Để biểu thị lòng thành kính sâu sắc của mình đối với thiền sư Thần Tú, Võ Tắc Thiên đã ban sắc lệnh xây dựng chùa Độ Môn ở núi Đương Dương, nơi mà trước đây ngài Thần Tú đã từng ở, để đền đáp ân đức với ngài.

Theo ghi chép thì ngài Thần Tú là thượng thủ (đứng đầu, đầu đàn) trong số các đệ tử của ngài Hoằng Nhẫn, tổ thứ 5 của Thiền tông Trung Hoa (cũng có tài liệu nói rằng, trên thực tế ngài Hoằng Nhẫn là người sáng lập ra thiền tông Trung Hoa). Thiên tông chủ trương "bất lập văn tự, truyền pháp bằng tâm" từ đó mà khơi dậy ý thức chủ thể của tăng lữ. Vào một năm gần cuối đời, ngài Hoằng Nhẫn có yêu cầu các đệ tử của mình mỗi người làm một bài kệ để lấy đó làm cơ sở quyết định người sẽ tiếp tục thống lĩnh chúng thay mình. Ngài Thần Tú cho rằng, người sẽ tiếp tục thống lĩnh chúng không ai khác ngoài mình, liền làm một bài kệ:

Thân là cây bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Thường xuyên lau chùi sạch

Chớ để nhiễm bụi trần
Lúc này ngài Tuệ Năng là một trong số những đệ tử của ngài Hoằng Nhẫn nhưng lại chuyên là tạp dịch (giã gạo) dưới bếp. Nghe thấy bài kệ trên, ngài Tuệ Năng nói rằng: "Bài kệ này nghe thì hay đấy, nhưng chứng tỏ người làm kệ chưa hiểu đạo". Nói xong ngài Tuệ Năng liền làm một bài kệ:

Bồ Đề vốn không cây

Gương sáng cũng chẳng đài

Xưa nay không hình tướng

Chỗ đâu nhiều bụi trần?

So sánh hai bài thơ trên, ngài Hoằng Nhẫn thấy rằng, ngài Tuệ Năng hiểu tinh tuý của thiền tông sâu sắc hơn ngài Thần Tú, do đó ngài đem y bát (thống lĩnh tăng chúng) truyền cho ngài Tuệ Năng, bảo ngài Tuệ Năng hãy xuống phía nam, đại cơ hội ra giáo hoá chúng sinh. Từ đó, để tránh sự ám hại của đám đệ tử ngài Thần Tú, ngài Tuệ Năng gia nhập đám thợ săn ở ẩn trong rừng sâu khoảng 16 năm, sau đó ngài ra truyền pháp ở Quảng Châu (phía nam), còn ngài Thần Tú thì ở Đông Dương (phía bắc), lịch sử thường gọi là "nam Năng bắc Tú". Sáu khi ngài Thần Tú được mời đến kinh sư (kinh đô), Võ Tắc Thiên được nghe trình báo rằng, đạo hạnh của ngài Tuệ Năng còn cao hơn và thâm sâu hơn ngài Thần Tú nên sai người đến Quảng Đông mời ngài Tuệ Năng về kinh sư. Ngài Tuệ Năng vì ốm không đi được, đành gửi bộ cà sa (mà ngài Hoằng Nhẫn trao cho mình) về kinh sư Trường An. (Bộ cà sa này của ngài đạt Ma, tổ thứ 28 của Thiền tông Trung Hoa. Ngài Đạt Ma được coi là sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Ngài Đạt Ma trao cà sa cho nhị tổ Huệ Khả. Nhị Tổ Huệ Khả lại trao cà sa cho ngài Tăng Xán. Tam tổ Tăng Xán lại trao cà sa cho tứ tổ Đạo Tín. Tứ tổ Đạo Tín lại trao cà sa cho ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sau đó thấy ngài Tuệ Năng ngộ đạo, ngũ tổ trao cà sa này cho Tuệ Năng. Ngài Tuệ Năng là lục tổ của Thiền tông Trung Hoa). Mọi người cùng nhau lễ bái bộ cà sa này. Bằng những hành động vừa kể trên, Võ Thị muốn mượn Thiền tông để tô điểm thêm cho địa vị thống trị của mình.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Bảy 30, 2011, 04:37:02 am »

(tiếp theo)

Sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Võ Thị nghe nói Phật giáo có một bộ "kinh Hoa Nghiêm" ý rất bi diệu, thâm sâu, thế là bà liền cử người xuống tận vùng Vu Điền xin cả bộ kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng Phạn, đồng thời bà đích thân tổ chức công việc phiên dịch bộ kinh  này. Bà cử một tăng sỹ người gốc Vu Điền tên là Thực Soa Nạn Đà làm  người dịch chính, bản thân bà cũng thường xuyên tham gia dịch. Trải qua 4 năm liền, việc dịch bộ "kinh Hoa Nghiêm" mới hoàn thành, tổng cộng là 80 quyển.

Sở dĩ Võ Thị coi trọng bộ kinh này như vậy là vì bà nhận thấy rằng, bộ kinh này đáp ứng được nhu cầu của bà trên một phạm vi rộng. So với bộ "kinh Đại Vân" và "kinh Bảo Vũ" thì bộ "kinh Hoa Nghiêm" có tác dụng trên quy mô lớn hơn. Bộ "kinh Hoa Nghiêm" vừa mới dịch xong, Nữ Hoàng Võ Chu liền viết lới tựa cho bộ kinh này. Trong lời tựa có đoạn viết: "kinh Hoa Nghiêm này là mật tạng của chủ Phật, là cái bao la không bờ nước của Như Lai, Trẫm đích thân tham gia dịch và hiệu đích. Trân trọng mà dịch bộ kinh này để làm tăng thêm cái bao la, mở rộng, cái mênh mông của Pháp giới".


Được sự đề xướng của Nữ Hoàng, một tông phái mới của Phật giáo Trung Quốc được hình thành vào thời Võ Chu, tức là phái Hoa Nghiêm. Kinh điển chính của tông phái này là bộ kinh Hoa Nghiêm. Người sáng lập và cộng sự cũng gắn liền sự ra đời tông phái này với cuộc cải cách Võ Chu. Họ thường nói rằng: "Nữ Hoàng cải cách, đối nước Đường thành nước Chu, sai sứ giả về vùng Vu Điền tìm bằng được quyển "kinh Hoa Nghiêm" bằng chữ Phạn, tông phái này (tức Hoa Nghiêm) từ đó mà ra đời. Trên thực tế, người sáng lập ra tông phái Hoa Nghiêm là hoà thượng Pháp Tạng. Ngài cùng nhiều lần được mời vào cung gặp Võ Tắc Thiên để giảng cho bà ý nghĩ thâm sâu của kinh Hoa Nghiêm.

Hoà thượng Pháp Tạng lấy con sư tử vàng ở phía trước cung điện làm ví dụ để ca ngợi cái gọi là giáo nghĩa (giáo lý) của tông phái Hoa Nghiêm như "lý sự vô ngại, sự sự vô ngại", giúp Võ Thị hiểu sâu sắc ý nghĩa thâm sâu của nó. Do đó, Võ Thị ra sắc lệnh đặc biệt phong cho Hoà thượng Pháp Tạng là Hiền Thủ Đại Sứ, vì vậy tông phái Hoa Nghiêm còn được gọi là tông phái Hiền Thủ. Cái gọi là giáo nghĩa "lý sự vô ngại, sự sư vô ngại" của tông phái Hoa Nghiêm (Hiền Thủ) chủ yếu là nói rõ hiện thực đều hợp lý, Phật quốc là tịnh độ, trong cái ô nhiễm bụi trần cũng có Phật Quốc... Những giáo nghĩa (giáo lý) này "căn cứ lý luận" cho tính hợp lý của "cuộc cải cách Võ Chu" ở một trình độ lý luận cao hơn. Cái đó cũng là căn cứ để chứng minh rằng, mảnh đất bao la mà Võ Thị đang thống trị này cũng là một "Phật Quốc Tịnh Độ".

Do có một thời gian xuống tóc tu hành ở chùa Cảm Nghiệp, nên sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Võ Tắc Thiên đã từng nhiều lần nói với các vị đại thần à tăng sỹ Phật giáo rằng, bản thân bà từ bé đã quý kính Tam Bảo (tức là Phật, Pháp, Tăng), có duyên với Phật giáo.

Từ Phật giáo, bà có được vũ khí lý luận cho "cải cách Võ Chu" của mình. Bà cũng khoác chiếc áo Phật giáo lên mình tên lưu  manh đầu đường xó chợ Tiết Hoài Nghĩa để thoả mãn ham muốn riêng tư của mình, (theo tương truyền, bà bắt Tiết Hoài Nghĩa thường xuyên qua lại đàm luận Phật Pháp với bà, nhưng thực ra là bắt Tiết Hoài Nghĩa phải quan hệ tình dục với bà).

Cùng thời gian này, ba cũng cho hoằng dương Phạt sự để chứng tỏ rằng mình có duyên không dứt ra được với Phật giáo. Về vấn đề Võ Thị hoằng dương Phật sự thì sử tịnh có ghi lại rất nhiều chuyện, ở đây chỉ xin nêu hai chuyện. Vào năm thứ hai của Trường An (năm 702 sau Công nguyên) Võ Tắc Thiên đem một bức tượng Phật bằng vàng to như người bình thường ra khỏi Hoàng Cung, chuyển đến chùa Chiêu Phúc ở phường Sùng Nghĩa dưới sự đưa đường của bà và sự hộ tống của tượng binh và Vũ Lâm Quân cờ xí rợp trời. Ven đường đi có hàng vạn người ra tế lễ. Thành Trường An bỗng chốc hương khói nghi ngút, cờ xí, cờ nheo ngợp trời. Mùi hương thơm lưu lại trên đường phố đến mấy ngày. Từ đó có thể thấy cảnh sôi động, nhộn nhịp lúc bấy giờ. Chuyện thứ hai: Vào năm thứ 4 của Trường An (năm 704 sau Công nguyên) với niềm phấn khởi đang dâng trào tột độ, Võ Tắc Thiên ban quyết định đúc một bức tượng Phật cực to đặt ở bờ hồ Bạch Tư Mã ở núi Bắc Mạnh thành phố Lạc Dương.

Vì số tiền để đúc tượng quá lớn, chỉ dựa vào khoản tiền Triều Đình cấp cho thì không đủ, khó mà đúc xong, do đó Võ Tắc Thiên quyết định số tiền thiếu sẽ phân bổ cho các tăng ni đóng góp. Bà yêu cầu mỗi tăng ni mỗi ngày nộp một xu (đồng xu bằng đồng). Cuối cùng bà đã thu được 170 triệu xu. Sau khi bức tượng lớn được đúc xong, đích thân Nữ Hoàng dẫn đầu các quan thần liêu làm lễ cúng tế (hô thần nhập tượng). Câu chuyện này chứng minh một điều là: Thời Võ Thị cầm quyền, các tăng ni đông đảo đến mức nào.

Không kể thời gian nhiếp chính thì Võ Tắc Thiên chính thức cầm quyền 16 năm. Nhờ có việc theo Phật giáo mà bà được lên ngôi Hoàng Đế, sau khi lên ngôi bà lại tiếp tục theo Phật giáo. Điều này dẫn đến một việc là: Vào thời kỳ Võ Chu, đại đa số các ngôi chùa, ruộng đất công và tư thuộc quyền sở hữu của các tăng ni. Các tăng sỹ được phép tự do ra và Đại Nội của Triều Đình. Các tăng sỹ hoành hành ngang ngược khắp các đường phố, các việc đại sự, quân sự không thể không có các tăng sỹ tham gia. Những điều này gây nên sự bất mãn và chống đối của rất nhiều người.


Ví dụ: Có một lần, tăng sỹ Tiết Hoài Nghĩa gặp Tể Tướng Tô Lương trong lễ đường của Triều Đình nhưng Tiết Hoài Nghĩa tỏ ra vô lễ, kiêu căng với Tể Tướng. Thấy vậy, Tể Tướng Tô Lương Tự nổi giận đùng đùng, hạ lệnh cho thuộc hạ bắt ngay Tiết Hoài Nghĩa đánh cho hơn chục cái nảy đom đóm mắt. Tăng sỹ Tiết Hoài Nghĩa bị đánh cho hồn phiêu phách lạc, thất thểu ôm đầu bỏ đi. Tối hôm đó sau khi vào cung Tiết Hoài Nghĩa liền kiện việc  này với Võ Tắc Thiên. Võ Tắc Thiên tự biết rằng mình không thể muốn sao được vậy, đành nói với Tiết Hoài Nghĩa rằng: Từ nay về sau khanh hãy ra vào Hoàng Cung  bằng cửa Bắc còn khu Nha Môn phía nam Triều Đình là nơi làm việc của Tể Tướng, không  nên tuỳ tiện ra vào nơi ấy.

Thêm một ví dụ nữa: Khi Võ Tắc Thiên thu gom tiền để đúc tượng Phật bằng đồng to lớn ở bờ hồ Bạch Tư Mã núi Bắc Manh thì quan nội sử là Địch Nhân Kiệt đã từng dâng sớ thẳng thắn khuyên can, hy vọng rằng Nữ Hoàng đừng vì mượn cớ hoằng dương Phật giáo mà làm hao tốn công sức tiền bạc của nhân dân. Ngoài ra còn có những người như quan Giám Sát Ngự Sử Trương Đình Khuê, ông Lý Kiều (người thường dùng rượu biếu Triều Đình) cũng tỏ ra đau xót mà dâng sớ khuyên can.

Xét một góc độ khác thì Võ Tắc Thiên quả thực là một nhà chính trị thông minh, can đảm và nhiều kinh nghiệm. Trên lĩnh vực chính trị, bà rất chú ý xây dựng và chỉnh đốn hàng ngũ quan lại, mở mang khoa cử chọn nhân tài, từ đó khiến cho tình hình các kẻ sỹ dân tộc Môn Phiệt độc quyền nắm chính trị (lệ này hình thành từ thời Ngụy Tấn nam Bắc Triều) đã bị phá vỡ hoàn toàn.


Về kinh tế, bà rất coi trọng nông nghiệp. Đích thân bà có những việc làm khuyến khích trồng trọt, giảm thuế khoá, khiến cho cả kinh tế lẫn xã hội có những bước phát triển rất lớn. Bà còn tự do ngôn luận, tìm hiểu và lắng nghe những ý kiến bất đồng với mình, chỉ cần những ý kiến đó có lợi cho sự thống trị của mình là bà liền tiếp thu và cho áp dụng ngay.

Do đó bà đã có cống hiến lớn cho sự hình thành và phát triển của "sự phồn thịnh Vương Triều Đường", nhất là khả năng chính trị tài tình của bà trong việc giải quyết công việc một cách quyết đoán, khéo léo tiếp thu ý kiến đóng góp.

Trong số các Hoàng Đế Trung Hoa, bà là một con người kiệt xuất. Nhưng thái độ tham lam tàn bạo của kẻ "vênh mặt với đời" cùng với những thủ đoạn lợi dụng Phật giáo và thủ đoạn thống trị có mưu đồ đen tối là những điều người đời sau không ai thèm nhắc đến.

Vào cuối năm Trường An thứ 4. Võ Tắc Thiên ốm nặng, lúc này bà đã 81 tuổi và bà cũng không còn sức để điều hành công việc Triều Đình nữa. Vào đầu năm sau, một vị quyền thần được Võ Thị đê bạt (thăng cấp) tên là Trương Giản Chi và các đại thần khác tổ chức cho đội Cấm Vệ Quân của Cung Đình làm chính biến, sát hại hai vị quan được Võ Thị trìu mến và tin tưởng là Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông, khôi phục lạo ngôi vị cho Đường Trung Tông Lý Hiển, khôi phục lại tên nước là Vương Triều Đường.

Chẳng bao lâu sau, Võ Thị (Võ Tắc Thiên) ốm nặng, chết ở cung Thượng Dương thành phố Lạc Dương. Tương truyền rằng, trước khi chết, Võ Tắc Thiên dặn lại các quan hầu hạ mình rằng: "Sau khi ta chết thì bỏ ngay danh hiệu Thánh Thần Hoàng Đế, thờ cúng ta với cái tên là Võ Thị Tiên Ti". Điều này có nghĩa là, bà thấy mình nên là một vị Hoàng Hậu của Vương Triều Lý Đường, chứ không phải là một Nữ Hoàng Võ Chu nào đó. Cuối cùng, Võ Tắc Thiên đã đặt cho mình một dấu chấm hết tương đối khôn ngoan.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 30, 2011, 04:39:35 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Bảy 30, 2011, 04:43:34 am »

(tiếp theo)

Chùa Pháp Môn cất giữ xá lợi

Các Vua Đường bẩy lần rước xương Phật

 

Thời Đường là thời kỳ Phật giáo hưng thịnh nhất trong lịch sử Phật giáo cổ đại Trung Quốc. Vào thời kỳ này, quá trình Trung Quốc hoá Phật giáo đã hoàn thành. Các tông phái Phật giáo mang mầu sắc Trung Quốc liên tục ra đời, Phật giáo bắt đầu truyền bá và phát triển ra nước ngoài và các khu vực khác.

Cùng thời gian này, cúng giàng và sùng bái (tế lễ) Xá lợi Phật đã trở thành một mặt quan trọng trong đời sống của các vị thống trị cao nhất Vương triều Đương và có các Hoàng Đế chủ động dấy lên cao trào đã giúp cho sự phát triển của Phật giáo và tôn sùng Phật giáo ở thời Đường càng thể hiện rõ tính phổ cập và tính xã hội.

Cúng giàng và lễ bái Xá lợi Phật là một truyền thống hình thành từ thời kỳ đầu của Phật giáo. Theo tương truyền, Thích Ca Khâu Ni sau khi tịch diệt và được hoả thiêu thì có tín đồ Phật giáo của 8 nước đều xin Xá lợi Phật, sau đó mỗi nước đều được chia một phần Xá lợi. Sau khi đem Xá lợi về nước, họ xây tháp để Xá lợi vào đó rồi tiến hành cúng dàng (cúng tế).

Ngoài ra, còn có người mang bình đựng Xá lợi Phật, tro sau khi hoả thiêu Thích Ca Mâu Ni còn sống như tóc, móng tay cũng xây tháp cất vào rồi tiến hành cúng tế. Sau khi Phật giáo đại thừa được phát triển, việc cúng tế Xá lợi Phật lại phát triển thêm rất nhiều thuyết.

Trong đó thuyết gây ảnh hưởng lớn nhất là ở phần ghi chép trong hai bộ "Kinh A Dục Vương" và Vương hoằng pháp, ngài đã từng cử người đến những nơi có liên quan để đào tìm Xá lợi Phật được chôn dưới móng tháp Xá lợi Phật năm xưa. Sau khi thu được một số lượng lớn Xá lợi Phật, A Dục Vương liền dùng thần lực sai khiến các quỷ thần đi các nơi phân phát Xá lợi Phật, họ đã xây được tất cả 84000 ngôi Bảo tháp để cúng giường (cúng tế) Xá lợi Phật. Hai bộ "Kinh A Dục Vương" và "Truyện A Dục Vương" được dịch ra Hán văn có lẽ là thời Nguỵ Tấn Nam Bắc Triều.

Do đó sau thời kỳ Tây Tấn (năm 265  - 316 sau Công nguyên), các tín đồ Phật giáo Trung Quốc dần dần tin thuyết về A Dục Vương sai các quỷ thần đi phân phát Xá lợi Phật và xây tháp thờ Xá lợi Phật là có thật, họ bắt đầu tìm kiếm di chỉ về chùa tháp A Dục Vương trên đất Trung Quốc.

Vào thời Nam Bắc Triều (năm 420 - 581 sau Công nguyên) có tăng sĩ nói rằng phát hiện được di chỉ chùa tháp A Dục Vương ở thành phố Lâm Tri. Cũng có vị tăng nói rằng, phát hiện được di chỉ chùa tháp A Dục Vương ở vùng Bồ Bản tỉnh Sơn Tây. Còn có người nói rằng, ở Lạc Dương tỉnh Hà Nam cũng có di chỉ chùa tháp A Dục Vương...

Như phần trên đã nói, Tuy Văn Đế Dương Kiên đã từng cho xây dựng nhiều tháp Xá Lợi Phật ở nhiều nơi trên đất Trung Quốc, ở chùa Phượng Tuyền huyện Phượng Tuyền hơn 10 km về phía Đông nam có chùa Thành Thực. Trong chùa này có một tháp cổ, theo tương truyền đây là ngôi tháp do A Dục Vương ra lệnh xây dựng.

Cuối thời Tuỳ, chùa Thành Thực đổi tên thành chùa Bảo Sương. Từ đó có thể thấy rằng: khi nhà Tuỳ cho xây dựng các tháp Xá lợi, bởi vì chùa Thành Thực ở Phu Phong (tức chùa Bảo Sương) đã có sẵn một ngôi tháp cổ (tức tháp A Dục Vương) nên đã không xây thêm một tháp nữa ở chùa này. Nhưng trong lòng người lúc bấy giờ, tháp Xá lợi Phật ở chùa Bảo Sương (tức chùa Thành Thực) ở Phu Phong là do A Dục Vương sai quỷ thần xây dựng.

Ở chùa Bảo Sương tuy rằng không xây thêm tháp chứa Xá lợi Phật nhưng cũng tham gia vào các hoạt động thờ cúng Xá lợi Phật do Tuỳ Văn Đế phát động. Theo ghi chép để lại, trong các hoạt động lần này, ngôi chùa này cũng đã vẽ một bức Thiểm Châu thuỵ tướng (tướng mạo tốt đẹp) treo ở Phật đường, ý muốn nói rằng, ở đây cũng đã xuất hiện một vật cát tường (tốt đẹp) như Xá lợi Phật.

Vào năm Nghĩa Ninh thứ 2 (năm 681 sau Công nguyên, vào tháng 5 năm này, Lý Uyên lập nên nhà Đường), một tăng sĩ chùa Bảo Sương tên là Phổ Hiền thương xót trước cảnh ngôi chùa này sắp hỏng hoàn toàn, liền dâng biểu lên Triều Đình xin giúp đỡ xây dựng lại. Bức biểu này được Lý Uyên (lúc đó là Đường Quốc Công và là Thừa Tướng) xem và duyệt.

Thừa tướng Lý Uyên đề nghị hoà thượng Phổ Hiền đổi tên chùa Bảo Dương thành chùa Pháp Môn, đồng thời cũng an ủi làm vừa lòng tăng sĩ Phổ Hiền. Vào năm đầu tiên của nhà Đường, trong cuốn "Phá Tà Luận", hoà thượng Pháp Lâm đã nói rằng: "Phật đã qua đời, các đệ tử của Phật đã lấy gỗ thơm thiêu nhục thân Phật, linh cốt đã tan vụn, hòn to hòn nhỏ như gạo, màu sắc đỏ, trắng, đập thì không bị sứt mẻ, vỡ, thiêu đốt cũng không thể thành tro, viên nào cũng phát ra tia sáng lạ kỳ.

Hơn 100 năm sau ngày Phật diệt độ, có A Dục Vương dùng thần lực phân phát Xá lợi Phật đi các nơi, sai khiến quỷ thần xây dựng 84000 tháp chứa Xá lợi Phật. Ngày nay ở một số nơi như Lạc Dương, Bành Thành, Phu Phong, Lâm Tri đều có tháp chứa Xá lợi đồng thời rất có sức thần kỳ". Thuyết này của hoà thượng Pháp Lâm đã chứng minh rằng, vào đầu thời Đường, truyền thuyết về A Dục Vương phân phát Xá lợi Phật đã lưu hành rộng rãi, mà tháp ở chùa Pháp Môn huyện Phu Phong là một ví dụ. Đa số nhân dân đều tin tưởng rằng, trong ngôi tháp đó có chứa Xá lợi Phật.

Do có chuyện Lý Uyên đổi tên chùa Bảo Sương thành chùa Pháp Môn và mọi người tin rằng dưới móng Bảo Tháp ở chùa Pháp Môn có Xá lợi Phật, nên trong con mắt những người thống trị của Vương Triều Đường, chùa Pháp Môn chiếm một vị trí quan trọng. Đầu thời Đường, Lý Thế Dân (lúc bấy giờ là Tần Vương) khi dẫn quân đi qua chùa Pháp Môn đã từng độ (làm lễ xuất gia) cho 80 tăng sĩ ở chùa này. Ông còn tấu lên Đường Cao Tổ Lý Uyên điều tang sĩ Huệ Nghiệp (trước kia tu ở chùa Pháp Môn, nay đang phải làm tạp vụ ở chùa Phượng Tuyền) trở về chùa Pháp Môn làm trụ trì.

Điều này đã giúp cho chùa Pháp Môn phát triển một cách độc lập. Suốt thời Đường, chùa Pháp Môn tuy không nằm ở Lưỡng Kinh, càng không phải là trung tâm dịch kinh Phật và trung tâm Phật học nhưng lại có một địa vị tôn giáo rất đặc biệt. Dở dĩ được như vậy là vì nó là trung tâm cúng tế và cúng giàng Xá lợi Phật của Vương Triều Đường, và cũng có thể nói rằng đó là tự viện Cung Đình của Vương Triều Đường.

Chùa Pháp Môn cũng có mối liên quan với sự phát triển cực thịnh của Phật giáo thời nhà Đường, do đó cung điện ngầm dưới móng Châu Thần Bảo Tháp của chùa cũng đã từng 7 lần được mở ra, Xá lợi Phật ở đó cũng đã từng 7 lần được mở mở ra, Xá lợi Phật ở đó cũng đã 6 lần được đưa đến lưỡng Kinh. Mỗi lần như vậy đều được đích thân Hoàng Đế của Vương Triều Đường dẫn đầu đoàn rước, đoàn rước gồm các quan lại và dân chúng đánh trống đánh chiêng, quang cảnh rầm rộ rất hiếm thấy. Về chuyện này, các sách sử ghi chép rất nhiều, có khen có che.

Vào năm Thịnh Quán thứ 5 (năm 631 sau Công nguyên) đời Vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân, quan Thích Sử của Kỳ Châu tên là Trương Đức Lượng đến chùa Pháp Môn tham bái (học hỏi) Phật Pháp, nhưng ông chỉ thấy ngôi chùa này còn lại một đống tro tàn sau khi bị cháy vào đầu thời Đường. Là một người am hiểu Phật pháp và trung thành với Phật giáo.

Ông không đành lòng để chùa Pháp Môn trở nên hoang phế như vậy; thế là ông liền tấu lên Đường Thái Tông Lý Thế Dân, xin trùng tu lại điện đường và gia cố lại ngôi tháp. Trong bản tấu đó ông nói rằng: "Tương truyền rằng, tháp cổ ở chùa Pháp Môn 30 năm mở một lần, mang Xá lợi Phật ra cho chúng tăng và các tín đồ tín ngưỡng. Bây giờ nếu như mở Bảo Tháp, sợ rằng mọi người sẽ tụ tập đông đảo chen nhau xem gây mất trật tự, do đó thần không dám tự tiện mở ra, xin Thái Tông quyết định".

Sau khi đọc bản tấu đó, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đồng ý trùng tu lại chùa Pháp Môn và đồng ý cho mở cửa cung điện ngầm của Bảo Tháp. Dưới sự điều khiển của Trương Đức Lượng, cung điện ngầm dưới Bảo Tháp chùa Pháp Môn được mở ra và đây cũng là lần mở đầu tiên của nhà Đường. Theo ghi chép ở một số sách có liên quan thì cung điện ngầm sau hơn một trượng (quãng 3.5m), trong có 2 tấm bia khắc vào thời Chu và thời Nguỵ nhưng đã hỏng. Trong cung điện ngầm thu được một đốt Xá lợi xương ngón tay Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mang Xá lợi này ra cho tăng chúng và các tín đồ thoả sức chiêm bái, hàng nghìn, hàng vạn người cùng chiêm bái một lúc, bầu không khí náo nhiệt vô cùng. Tương truyền rằng, hồi đó có một người bị mù đã lâu, cố mở to mắt để nhìn Xá lợi Phật, bỗng nhiên 2 mắt sáng trở lại. Sau khi tin này được truyền đến kinh thành Trường An, từ các phường, ấp nội ngoại thành người tư ùn ùn kéo nhau đến chùa Pháp Môn chiêm ngưỡng Xá lợi ngón tay Phật, tất cả đến hàng vạn người. Theo ghi chép, hồi đó có một số người sau khi chiêm ngưỡng Xá lợi Phật họ có cảm giác khác nhau.

Có người nói rằng nó màu xanh lục, một màu xanh rờn phóng ra bốn phía. Có người nói rằng từ Xá lợi Phật họ nhìn thấy hình thượng Thích Ca Mâu Ni, có người nói rằng từ Xá lợi Phật họ nhìn thấy Bồ Tát Thánh Tăng.

Cũng có nhiều người nói rằng họ chẳng nhìn thấy gì. Hỏi ngọn ngành mới biết rằng, những người đó đã tạo nhiều nghiệp ác, do làm nhiều điều ác nên có nhìn thấy Xá lợi Phật thì cũng chẳng thấy gì.

 Trong các hoạt động của lần tổ chức chiêm ngưỡng Xá lợi Phật này, có một số tín đồ đã tự đốt tóc của mình. hoặc có người coi ngón tay mình như nến, bấc đèn mà đốt lên, gọi là "thiêu ngón tay" để biểu thị sự thành tâm của mình. Mở cửa cung điện ngầm Chân Thân Bảo Tháp chùa Pháp Môn lần này không rước Xá lợi Phật đi xa, mà chỉ để tại chùa cho mọi người đến chiêm ngưỡng, lễ bái. Cùng với hoàn thành việc trùng tu điện đường và Bảo tháp chùa Pháp Môn thì Xá lợi ngón tay Phật cũng được trở lại an vị trong cung điện ngầm của Bảo Tháp.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Bảy 30, 2011, 04:46:25 am »

(tiếp theo)

Vào năm Hiển Khánh thứ 4 (năm 659 sau Công nguyên) hai tăng sĩ là Trí Tông và Hoằng Tịnh vào cung theo lời mời của Đường Cao Tông. Họ cùng với Đường Cao Tông bàn về chuyện chiếc tháp do A Dục Vương xây dựng. Đường Cao Tông nói với họ: "Có phải là A Dục Vương đã sai khiến các quỷ thần xây chiếc tháp chứa Xá lợi Phật đó? Nếu đúng là A Dục Vương, ngài còn xây chiếc nào gần đấy không? Nếu như gần đó còn tháp như thế, vậy thì đó cũng là một trong 84000 chiếc!"

 Ngài Trí Tông đáp lại rằng: "Việc A Dục Vương cho xây tháp chứa Xá lợi Phật, lời sử sách không bao giờ sai, việc này là có thật. Vào đầu những năm Trịnh Quán cho mở cung điện ngầm tháp Xá lợi Phật chùa Pháp Môn ở Kỳ Châu đã chứng minh điều này. Theo truyền thuyết thì tháp Xá lợi 30 năm mở cửa cung điện ngầm một lần.

 Bây giờ đã đủ 30 năm rồi, xin bệ hạ cho mở ra, ban nhân duyên thiện hữu cho mọi người". Sau khi nghe trình tấu như vậy, Đường Cao Tông liền ban sắc lệnh giao cho hai người là tăng sỹ Trí Tông và ông Vương Trương Tín đến ngay chùa Pháp Môn cúng giàng (cúng lễ) Xá lợi Phật. Sau khi đến chùa Pháp Môn, ngài Trí Tông liền vào ngay trong tháp, chuyên tâm tu hành khổ hạnh, mong cầu chất lượng sẽ có cảm ứng.

 Nhưng tu hành khổ hạnh đã lâu là chẳng thấy linh nghiệm gì. Sau đó ông lắp một bát hương lên bắp tay, suốt ngày thắp hương đến lúc tắt lịm, quyết tâm quyết chí tu hành. Bỗng nhiên từ dưới cung điện ngầm có tiếng "lách - tách" của cái gì đó đang nứt ra. Nhìn kỹ thì thấy từ dưới đó nhiều tia sáng rất đẹp đang tua tủa phát ra. Sáng sớm ngày hôm sau ngài thu được một viên Xá lợi to như hạt gạo, trong suốt. Tìm kiếm kỹ càng hơn, ngài lại nhặt được thêm 7 viên nữa. Đặt tất cả vào trong một cái đĩa, chúng phóng ra những tia sáng long lanh đến loá mắt. Ngài Trí Tông lập tức tấu thỉnh chuyện này với Đường Cao Tông.

Đường Cao Tông lập tức sai người mang đến đó 3000 xấp vải lụa, đồng thời cử người giám sát tạc một bức tượng A Dục Vương cao to như mình, ra lệnh cho tu bổ tháp Xá lợi chùa Pháp Môn. Sau khi làm những việc này mới thu được Xá lợi ngón tay Phật ở trong tháp. Viên xá lợi này dài 2 thốn (6,5cm), bên trong có lỗ hình vuông, ngoài miệng lõ hình tròn. Bên trong bên ngoài đều trong suốt. Đút ngón tay trỏ vào, nó vừa khớp ngón tay. Mầu sắc của viên xá lợi ngón tay này thay đổi luôn luôn, không có mầu cố định. Sau khi thu được viên xá lợi ngón tay này, Đường Cao Tông liền ban lệnh mang chúng về Trường An. L

úc đó, trong nội và ngoại thành kinh ấp, các tăng sỹ và tín đồ Phật giáo nối đuôi nhau dài 200 dặm (100km) thay nhau nâng niu Đức Phật. Lúc đầu Xá lợi xương ngón tay Phật được đặt ở Trường An để mọi người đến chiêm ngưỡng và lễ bái. Vào tháng 3 năm sau, Đường Cao Tông liền ban sắc lệnh mang Xá lợi Phật về đông đô Lạc Dương, đặt trong cung của đông đô để thờ cúng. Lúc đó, viên xá lợi ngón tay Phật được đặt trong một hũ đá. Nhưng một vị hoà thượng tên là Đạo Tuyên đề nghị rằng, Xá lợi Phật không nên đặt trong một vật nhỏ bé như vậy.

 Đường Cao Tông liền cho áp dụng cách khâm liệm của truyền thống Trung Quốc, tức là ông cho làm một quan tài bằng vàng được trạm trổ tinh vi, lại làm thêm một cách quách cũng được trạm trổ tinh vi. Xá lợi Phật được đặt trong một hòm báu có 9 lớp như vậy.

Hoàng hậu Võ Tắc Thiên cũng cúng dàng màn the áo gấm của mình để bọc Xá lợi. Đến tháng 2 năm thứ  của Long Sóc (năm 662 sau Công nguyên), Đường Cao Tông mới yêu cầu ngài Trí Tông và một số người khác mang Xá lợi ngón tay Phật trả lại chùa Pháp Môn.

Trên đường đưa Xá lợi Phật trở lại chùa Pháp Môn cũng náo nhiệt vô cùng. Cuối cùng, đông đảo các tăng sỹ và các quan lại tổ chức một nghi lễ long trọng đưa Xá lợi Phật nhập vào cung điện ngầm đá dưới chân Bảo Tháp. Lần rước Xá lợi xương tay Phật này cách lần trước 30 năm, gây ảnh hưởng tương đối lớn.

Vào mùa đông năm Trường An thứ 4 của Võ Chu (năm 704 sau Công nguyên tại đạo tràng trong nội cung, hoà thượng Pháp Tạng (người sáng lập ra Hoa Nghiêm Tông của Phật giáo) đã nói cho Võ Tắc Thiên biết về Xá lợi Phật ở chùa Pháp Môn là do có câu chuyện A Dục Vương sai quỷ xây tháp. Sau đó Võ Tắc Thiên liền sai quan Phượng Các Thị Lang là Thôi Huyền Vi và hoà thượng Pháp Tạng cùng 1000 người đến chùa Pháp Môn rước xương Phật. Vào cuối năm này, xương Phật được đưa về chùa Sùng Phúc tại Trường an. Tháng Giêng năm sau (năm 705), xương Phật lại được rước về đông đô Lạc Dương.

Võ Tắc Thiên liền ra sắc lệnh cho những người từ Vương Công trở xuống, những người cận sự (làm việc) trong thành Lạc Dương đều phải giỏi việc tổ chức xắp xếp phướn, chướng, lọng, lệnh cho quan Thái thượng phải tổ chức tấu nhạc nghênh đón, đặt xương tay Phật tại Minh Đường ở Đông Đô, đồng thời còn lấy túi gấm làm cái đệm - Võ Tắc Thiên và Thái tử (Lý Hiển, sau này là Đường Trung Tông) cùng quỳ lễ, đồng thời yêu cầu hoà thượng Pháp Tạng cầu điều lành cho mọi người. Lần này, Xá lợi xương tay Phật để trong Minh Đường ở Đông Đô kéo dài đến 3 năm.

Sau khi Đường Trung Tông lên ngôi, vào năm Cảnh Long thứ 2 ông liền ra sắc lệnh cho tăng sỹ Văn Cương cùng một số người mang Xá lợi Phật trả lại chùa Pháp Môn. Vào năm Cảnh Long thứ 4 (năm 710 sau Công nguyên), Đường Trung Tông cùng Vị Hoàng Hậu chuẩn bị tổ chức một lễ rước Xá lợi ngón tay Phật nữa, nhưng cung điện ngầm dưới chân Bảo Tháp cứ mỗi lần sắp mở ra thì trời đất lại có những dấu hiệu bất thường. hoặc là có những vật khói bay trên trời, núi sông rung chuyển, hoặc là sấm chớp đùng đùng, long trời lở đất.

Do đó họ mới từ bỏ ý định rước Xá lợi Phật. Nhưng để tỏ lòng kính trọng chùa Pháp Môn, Đường Trung Tông đã ra sắc lệnh đổi tên chùa Pháp Môn thành chùa Thánh Triều Vô Ưu Vương (Vô Ưu Vương tức là A Dục Vương). Đồng thời ông cũng đặt tên cho tháp trong chùa là "Đại Thánh Chân Thân Bảo Tháp", độ 49 tăng sĩ của ngôi chùa này.

Tháng năm năm đầu tiên của Thượng Nguyên Đường Túc Tông (năm 760 sau Công nguyên), Đường Túc Tông ra sắc lệnh yêu cầu những người như tăng sỹ Pháp Trừng, quan Trung Sứ là Tống Hợp Lễ, Phượng Tường Phủ Doãn là Thôi Quang Viễn đến chùa Pháp Môn rước Xá lợi Phật đồng thời ngày đêm tu hành khổ hạnh để cầu phúc duyên. Ông ta còn tặng cho những tăng sỹ ở chùa Vô Ưu Vương nhiều thứ như tượng Phật, đồ dùng bằng vàng, bạc và áo cá sa có đính vàng. Hồi đó, tham gia chiêm ngưỡng và lễ bái Xá lợi Phật có đến hàng chục vạn tăng sỹ và Phật tử, trong đó có cả hoạn quan của nội cung.

Vào mùa xuân năm thứ 6 của Trinh Nguyên Đường Đức Tông (năm 790 sau Công nguyên) ông ban lệnh rước Xá lợi ngón tay Phật từ chùa Vô Ưu Vương về Hoàng Cung; đồng thời rước đến các chùa. Các tăng ni và tín đồ từ các nơi đổ dòn về kinh đô chiêm bái rất đông, họ bố trí đến hàng vạn đồng. Vào tháng 2 năm ấy, Đường Đức Tông lại ban chiếu yêu cầu quan Trung Sứ Tống Hợp Lễ và một số người khác khâm liệm Xá lợi Phật, đặt vào chỗ cũ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Bảy 30, 2011, 04:50:57 am »

(tiếp theo)

Vào tháng 12 năm thứ 13 của Nguyên Hoà Đường Hiếu Tông, những người làm công đức cử đại diện dâng thư lên Hoàng Đế nói rằng: "Trong Chân Thân Bảo Tháp ở chùa Pháp Môn có Xá lợi một đốt xương ngón tay Phật. Theo tương truyền thì 30 năm mở cửa cung điện ngầm một lần, mang Xá lợi ra rước đi để mọi người chiêm ngưỡng. Mỗi lần mang ra là dân lại được bình an, kéo dài tuổi thọ. Sang năm là đến kỳ hạn mở cửa hầm mang Xá lợi ra. Xin Hoàng Thượng ban chiếu chỉ rước Xá lợi Phật". Thế là Đường Hiếu Tông liền cử hoạn quan Đỗ Anh Kỳ dẫn 30 ngày trong cung đến chùa Pháp Môn xin rước Xá lợi Phật. Vào tháng giêng năm sau (năm Nguyên Hoà thứ 14, năm 819 sau Công nguyên), hoạn quan Đỗ Anh Kỳ cùng một số người mang hương và hoa đến chùa Pháp Môn rước Xá lợi Phật về kinh đô. Trước tiên nó được đưa vào Hoàng Cung cúng giàng 3 ngày. Sau đó nó được đưa đến các chùa ở kinh sư (kinh đô) Trường An để cho các tăng ni và các tín đồ Phạt giáo lễ bái. Lần rước Xá lợi Phật này làm náo động toàn bộ thành Trường An. Các Vương Công kẻ sỹ nườm nượp đi báo tin cho nhau. Họ cùng rủ nhau đến lễ bái và bố trí cúng giàng. Họ tranh nhau làm việc ấy, ai cũng lo mình không đến lượt. Có người dốc hết tiền bạc ra cúng giàng, có người cắt tay xẻ thịt ra để cúng giàng, để mong được Thích Ca Mâu Ni phù hộ, che chở. Lòng thành kính của họ đã trở nên cuồng nhiệt. Chứng kiến tình trạng này, quan Thị Lang Bộ Hình tên là Hàn dũ cảm thấy vô cùng đau xót và tức giận, ông liền viết "Luận Phật Cốt Biểu" (hay còn gọi là "luận Phật Cốt Sớ", người đời sau còn gọi là "Gián Nghênh Phật Cốt Biểu") dâng lên Hoàng Đế. Ông Hàn dũ cho rằng: Phật giáo là thứ tôn giáo của kẻ mọi rợ, sau khi du nhập vào Trung Quốc làm cho Trung Quốc bị loạn liên miên. Từ thời Nam Bắc Triều trở lại đây, kẻ theo Phật giáo đều mất ngai vàng như chơi, những ai cúng giàng Phật để cầu phúc thì đều gặp tai hoạ, do đó không thể dễ dàng mà tin Phật giáo. Ông ta còn chỉ rõ: Phật (Thích Ca Mâu Ni) cũng là một kẻ mọi rợ, miệng không nói những lời của Tiên Vương, trên người không khoác bộ quần áo của Tiên Vương, không biết tình nghĩa Vu - tôi; không biết ân tình cha - con.  Nếu như Phật còn sống, nên đón Phật đến thăm nước ta, đón lên Kinh sư vào trong triều, Hoàng Đế Bệ Hạ của chúng ta sẽ tổ chức lễ tiếp đón ở một bộ quần áo, cho vệ binh bảo vệ đưa phật về, không để Phật làm mê hoặc người Hoa Hạ (Trung Hoa) chúng ta. Nhưng nay Phật đã trở thành người thiên cổ, chỉ còn lại khúc xương khô, vậy thì làm sao có thể được phép ra vào cấm cung của Hoàng Cung! Bây giờ rước xương Phật vào kinh thành, không có thầy mo cúng tế, không dùng bùa yểm, Vua và tôi tớ không biết đó là điều phi lý, quan ngự sử không ghi lại chuyện này đó là tội lỗi, kẻ hạ thần này cảm thấy thật hổ thẹn!" Ông Hàn dũ còn nhấn mạnh thêm rằng: Việc rước xương Phật về kinh sư xin gác lại, giao xương đó cho quan Hữu Tư ném vào lửa chay vứt xuống sông xuồng hồ để cho nó mất hẳn tung tích, dứt mối nghi ngờ cho thiên hạ, loại bỏ mọi mê hoặc cho thế hệ sau.

Nhưng Đường Trung Tông là một người cực kỳ tôn sùng Phật giáo. Ngày thứ 2 sau khi rước xương Phật vào Hoàng Cung, ngài liền nói với hạ thần rằng, đêm qua chính mắt mình đã nhìn thấy xương Phật phát sáng. Các quan văn võ trong Triều sau khi nghe kể vậy, họ đều cúi đầu nói lời chúc mừng, đồng thời họ cũng tán thán rằng đây là Hồng phúc của Bệ hạ, là linh cảm của Thánh Đức, làm niềm vui lớn nhất. Duy chỉ có ông Hàn Du là không chúc mừng. Sau khi Đường Hiếu Tông xem "Luận Phật Cốt Biểu" ông liền tức giận quát Hàn dũ: "Khanh nói rằng trẫm tôn thờ" Phật thái quá thì còn có thể chấp nhận được, nhưng Khanh lại nói rằng từ sau khi tôn thờ Phật thì Thái tử đều chết yểu, ngai vàng thay đổi luôn luôn, như vậy là Khanh đã mỉa mai và nguyền rủa Trẫm! Hàn dũ, nhà ngươi là một kẻ bề tôi (29)  mà ăn nói bậy bạ, hỗn láo như vậy, ta quyết không tha". Nhân chuyện này, Đường Hiếu Tông định xử chém đầu Hàn dũ. Về sau có các quan viên trong Triều như ông Bùi Độ, Thôi Quần đứng ra xin, Đường Hiếu Tông mới miễn tội chém cho Hàn dũ nhưng giáng chức xuống làm quan Thích Sử ở Triều Châu, coi như xử phạt Hàn dũ (Triều Châu là tên gọi một phủ cũ ở huyện Triều An, tỉnh Quảng Đông).


Trên đường xuống Triều Châu, khi đi qua Lam Quan, Hàn dũ đã làm một bài thơ khiến cho người đọc thấy sướng miệng, tức là bài "Tả Thiên Chí Lam Quan Thị Điệt Tôn Tương".

Buổi sáng tâu vua việc nước nhà

Tối đầy trào huyện tám nghìn xa

Muốn vì triều chính can điều lệ

Xá nghĩ thân khô tiếc tuổi già

Tần Lĩnh mây che mà chẳng thấy

Lam Quan tuyết phủ ngựa không qua

Biết vì thiện ý mày tìm đến

Bến mé sông Hàn nhặt xác ta

            (Phan Thúc Dĩnh và Tương Nhi dịch)

Trong bài thơ này, nỗi đau khổ của tác giả là không thể diễn ta bằng lời. Năm Hàn Thông thứ 12 của Đường Ý Tông (năm 871 sau Công nguyên) có vị Thiền sư ở núi Cửu Long đã lập đàn dưới chân tháp chùa Pháp Môn, thu được Xá lợi ngón tay Phật. Vào tháng 3 năm Hàm Thông thứ 14, Đường Ý Tông cử quan chuyên lo việc cúng tế tên là Lý Phụng Kiến cùng với vài vị tăng đến chùa Pháp Môn rước Xá lợi ngón tay Phật.

 Khi đó có rất nhiều Đại thần can ngăn, có người nhắc lại chuyện Đường Hiếu Tông rước xương Phật chẳng bao lâu sau liền quy tiên. Nhưng ý định rước xương Phật của Đường Ý Tông là không thay đổi, ông nói với triều thần "Trẫm khi sống được chiêm ngưỡng Xá lợi Phật chết cũng hả lòng". Thế là, ông cho người xây dựng thêm chùa thờ Phật làm trướng báu, kiệu bát hương, phướn hoa, lọng để rước xương Phật.

Từ Trường An đến chùa Pháp Môn dài đến 300 hơn dặm (150 km) người ngựa nườm nượp đi suốt ngày đêm. Ngày 8 tháng tư là ngày Phật Đản, đoàn rước Xá lợi Phật về đến Trường An. Đội nhạc của Cấm Vệ Quân và của nhân dân cùng tấu lên rộn rã, tiếng nhạc vang xa hàng chục dặm (5 km). Đội quân Danh dự còn đông hơn cả đội quân Danh dự trong các buổi lễ tế trời do đích thân Hoàng Đế phong kiến cử hành. Đồng thời các nhà giầu còn làm nhà lầu son gác tía và mở hội Vô Giá ở hai bên đường, linh đình thịnh soạn vô cùng. Đích thân Đường Ý Tông lên cầu an phúc đảnh lễ bái lạy, cảm động rơi nước mắt. Khắp nơi người cõng cha cõng mẹ, bồng bế con cái đến lễ bái, họ đều ăn chay để cầu phúc báo.

 Lúc đó có một người lính liền cắt cánh tay trái trước Xá lợi Phật, tay phải cầm cánh tay trái, vừa bước đi vừa lễ bái, máu chảy tuôn ròng xuống dưới đất. Lại có một vị tăng lấy cỏ ngải (một loại cỏ thơm) đặt lên trên đầu rồi châm lửa đốt, cho đó là "luyện đỉnh". Khi đốt cỏ ngải trên đỉnh đầu, họ nóng rát không chịu nổi, nằm vật xuống đường kêu la ầm ĩ. Họ sứt đầu mẻ trán, cứ chỉ như kẻ điên dại.

Còn những người quỳ gối đi, bò bằng khuỷ tay, cắn tay, cắt tóc thì nhiều không đếm xuể. Xá lợi Phật được rước về Hoàng Cung trong bầu không khí sôi động và cuồng nhiệt như vậy. Trong Hoàng Cung cũng trang trí những thứ như trướng vẽ hoa đính bằng vàng, giường ấm và thoáng, chiếu có rồng và ký lân đệm bằng lông phượng để đặt Xá lợi Phật vào đó. Lại đốt hương bằng tuỷ ngọc, làm sữa bằng Quỳnh Cao (một loại ngọc rất quý) để biểu thị lòng chân thành.

Sau khi được đặt trong Hoàng Cung để cúng giàng 3 ngày, Xá lợi Phật được đưa đến chùa Sùng Hoá ở An Quốc để tăng chúng lễ bái và chiêm ngưỡng. Từ Tể Tướng đến dân thường thi nhau cúng dàng vàng bạc gấm vóc, nhiều không kể hết. Vào tháng 7 năm nay, Đường Ý Tông băng hà, Đường Hy Tông kế vị. Tháng 12 năm đó, Đường Hy Tông ban chiếu lệnh mang Xá lợi trả lại chùa Pháp Môn.

Lúc rước Xá lợi trở về chùa Pháp Môn, già trẻ gái trai trong kinh thành đứng chật hai bên đường tiễn biệt. Họ chắp tay lại cùng nhau hô lớn "60 năm mới rước chân thân một lần, không biết lúc nào mới lại được thấy đây!..." Họ cúi đầu vái lạy Xá lợi Phật, nước mắt tuôn trào.

Lần rước Xá lợi là cao trào mạnh nhất trong các lần cúng giàng và chiêm ngưỡng Xá lợi Phật của nhà Đường và cũng là lần cuối cùng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc. Xá lợi Phật này chỉ ngoài các quý tộc của Hoàng Gia, quan lại, nhân dân trăm họ và các cao tăng đại đức ra, còn có một số vị tăng Nhật Bản lưu học trên đất nhà Đường và một số sa môn miền Trung Ấn Độ.

Nhờ có các vị tăng này về sau kể lại mà chuyện rước Xá lợi xương tay Phật ở chùa Pháp Môn lần đó được lan truyền ra nước ngoài. Vào thời Đường, một lần mở cửa hầm, sáu lần rước Xá lợi Phật của chùa Pháp Môn kể trên đã chứng minh một điều rằng, toàn bộ tăng sỹ và tín đồ Phật giáo thời Đường mà đứng đầu là các Hoàng Đế đều coi Xá lợi xương tay Phật ở chùa Pháp Môn là Chân Thân của Thích Ca Mâu Ni.

 Ba mươi năm mở cửa hầm rước Xá lợi Phật một lần là nhằm cầu chúc cho Vua được sống lâu, xã tắc yên vui mãi mãi. Về ý nghĩa này cũng đã chứng minh một điều là, tín ngưỡng đối với Phật giáo lúc bấy giờ, nhất là trong tín ngưỡng đối với Phật, thì mọi người đã coi Phật như Thượng Đế trong tôn giáo có tính truyền thống của Trung Quốc. Họ cho rằng các vị ấy cũng có nhiều điểm chung hoặc giống nhau về mặt thần uy.

Ngoài ra, mỗi lần tổ chức nghi thức rước và cúng giàng Xá lợi Phật thì cũng giống như nghi thức tế trời truyền thống của Trung Quốc. Từ đó có thể thấy rằng, tín ngưỡng Phật giáo lúc bấy giờ không chỉ được Trung Quốc hoá hoàn toàn, mà nó đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống văn hoá tôn giáo truyền thống của Trung Quốc.

Từ sau thời Đường, chùa Pháp Môn được sự chú ý và coi trọng của các Đế Vương phong kiến. Thời Ngũ Đại, Tần Vương Lý Mậu Trinh sùng tín Phật giáo, tổ chức tu sửa lại gần như hoàn toàn chùa Pháp Môn và cho khắc một tấm bia để lại có chữ "Tần Vương Trùng Tu Chân Thân Bảo Tháp". Thời Bắc Tống, Tống Huy Tông cũng tự tay viết bốn chữ "Hoàng Đế Phật Quốc", treo ở cổng chùa Pháp Môn. Kim Chương Tông cũng khắc thơ ở chùa Pháp Môn, ca ngợi Châu Thân Bảo Tháp ở đây. Vào thời Minh Thanh, các Đế Vương phong kiến cũng đã nhiều lần ra sắc lệnh tu sửa và mở rộng chùa Pháp Môn. Nhưng từ thời Dân Quốc (1912) trở đi, chùa Pháp Môn cũng phải đi qua chiến tranh loạn lạc, chùa Tháp trở thành nơi hoang vu. Sau giải phóng (1949), Đảng và Chính phủ đã nhiều lần giành những khoản tiền lớn trùng tu chùa Pháp Môn, dần dần phục hồi dáng vẻ ban đầu.

Năm 1981, một bên của Chân Thân Bảo Tháp bị sụp đổ, sau đó một tổ điều tra liên hợp gồm các cơ quan hữu quan và giới học thuật đã được thành lập, họ đã tiến hành thu nhặt, phân loại những kinh Phật, tượng Phật cất ở Chân Thân Bảo Tháp. Năm 1987, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thiểm Tây quyết định trùng tu Chân Thân Bảo Tháp ở chùa Pháp Môn. Cùng với việc trùng tu, các nhà khảo cổ cũng tiến hành khai quật khảo cổ đối với cung điện ngầm dưới chân bảo tháp.

Dưới cung điện ngầm, họ đã tìm được hơn 120 dụng cụ thờ cúng bằng vàng sáng lóng lánh, hơn 700 mảnh lụa dệt nhiều màu sắc rực rỡ, khoảng 160 dụng cụ đồ sứ đời Đường rất quý hiếm, 17 thứ bằng pha lê trong suốt sáng long lanh. Ngoài những thứ đó ra dưới cung điện ngầm còn có hai tấm bia đá ghi các dòng chữ như: "Đại Đường Hàm Thông Khải Tống Kỳ Dương Chân Thân Chí Văn" và "Giám Tống Chân Thân Sử Tuỳ Chân Thân Cúng Giàng Đạo Cụ Cập Kim Ngân Bảo Khí Y Vật Chướng".

Tấm bia thứ nhất ghi lịch trình ở và tình hình rước Xá lợi Phật đời Đường Ý Tông. Tấm bia thứ hai ghi tên, số lượng những thứ đó. Cả hai cái bia này đều cực kỳ có giá trị về mặt sử liệu. Nhưng hiện vật quý báu nhất phát hiện được ở dưới hầm ngầm Chân Thân Bảo Tháp chùa Pháp Môn là sự tái hiện của Xá lợi ngón tay Phật. Đem trưng bày những hiện vật kể trên cùng với Xá lợi Phật cho người chiêm ngưỡng giống như cho nhân dân thấy lại quang cảnh lịch sử cúng giàng và tế lễ Xá lợi Phật ở thời Đường(30).




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 04, 2011, 03:59:17 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Tám 04, 2011, 04:03:37 am »

(tiếp theo)

Bỏ Phật giáo sùng tín  Đạo giáo

Đường Vũ Tông ba lần hưng pháp lúc nguy nan


Sau khi rước xương Phật về cúng lễ thì vào năm sau Đường Hiến Tông băng hà, Đường Mục Tông kế vị. Đường Mục Tông Lý Hằng là con trai thứ 3 của Đường Hiến Tông, tại vị được 4 năm (năm 821 - 824). Trong thời gian tại vị của ông, do cao trào về rước xương Phật và cúng lẽ xương Phật vừa mới đi qua, không khí của những ngày đó đang còn sôi động, Phật giáo cũng được  nâng cao vị thế thêm một bước.

Năm đầu tiên của Trường Khánh (năm 821) Đường Mục Tông tự tay viết cuốn "Nam Sơn Luật Sư Tán" để tăng cường khen ngợi hoà thượng Đạo Tuyên, người sáng lập ra Luật Tông của Phật giáo Trung Quốc đồng thời qua đó ông cũng muốn chứng tỏ rằng, mình đã rất kính phục và muốn quy y Tông chủ của Luật Tông Trung Quốc lúc bấy giờ là Triều Luật.

Ngoài ra, ông còn cử người đến Thánh địa Phật giáo Ngũ Đài Sơn dùng danh nghĩa Hoàng Đế thiết trai (cơm chay) khoản đãi gần một vạn tăng ni. Vào năm thứ 4 của Trường Khánh quan Tiết Độ Sứ của Từ Châu tên là Vương Trí Hưng tấu thỉnh lập đàn để độ tăng, nhưng những người tự nguyện trở thành tăng ni, trước tiên phải đi quyên đủ 2000 xu nộp cho Triều Đình thì mới được phát tờ Độ Điệp (giấy chứng nhận tăng ni). Sau khi chính sách này được công bố, người khắp nơi đổ dồn về, cúng Giang Hoài đông người nhất. Triều đình nhà Đường thông qua việc bán Độ Điệp mà thu được khoản tiền lớn.

Vị quan Quan Sát Sứ của Chiết Tây tên là lý Đức Du sau khi phát hiện ra chuyện này liền dâng thư đề nghị chấm dứt sự việc. Ông cho rằng, cứ tính chung mỗi gia đình có 3 người con trai đóng suất đinh, nếu như một người xuống tóc thành tăng, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến lao dịch và thu thuế của Triều Đình. Cứ như thế này mãi, vùng Giang Hoài sẽ mất đi 60 vạn nam giới đóng thuế đinh, như vậy không thể không xem xét kỹ càng việc này, cần phải chú ý đến lợi ích lâu dài của Triều đình. Đường Mục Tông sau khi nghe lời tấu liền ra sắc lệnh chấm dứt, nhưng những người muốn thành tăng sỹ bây giờ đã trở thành trào lưu, muốn sửa thì đã muộn.

Đường Kính Tông Lý Trạm là con trai trưởng của Đường Mục Tông, lên ngôi kế vị vào năm 825, tại vị được hơn 2 năm. Vào năm đầu tiên của Bảo Lịch (năm 825) Đường Kính Tông ra sắc lệnh dựng giới đàn ở chùa An Quốc, phố Hữu lập giới đàn ở chùa Hưng Phúc để sử dụng vào việc hành pháp độ tăng, đồng thời ông còn cử quan Trung Hộ Quân tên là Lưu Quy làm Công Đức Sứ ở hai phố này, quản lý Phật sự  (việc Phật giáo) ở kinh sư. Trong cùng năm đó, ông còn cử Lưu Quy chủ trì việc thi tìm Đồng tử: Trẻ em nam đọc thuộc lòng 500 trang kinh Phật là đạt yêu cầu, trẻ em nữ đọc thuộc 100 trang kinh Phật là đạt yêu cầu. Đem kinh Phật ra làm nội dung khoa cử, điều này quả là ly kỳ hết sức. Vào năm Bảo Lịch thứ 2 (năm 826 sau Công nguyên) Đường Kính Tông đích thân đến chùa Hưng Phúc ở phố Hữu nghe hoà thượng tuyên giảng kinh Phật, và cũng tỏ ra tiếc vì gặp Phật Pháp quá muộn.

Năm 827 Đường Văn Tông Lý Ngang lên ngôi. Lý Ngang là con trai thứ của Đường Mục Tông, tại vị 14 năm. Thái độ và chính sách đối với Phật giáo của Đường Văn Tông tương đối thận trọng, ở một mức độ nhất định ông có khuynh hướng kìm hãm sự phát triển của Phật giáo. Năm thứ 4 của Thái Hoà (năm 830), Bộ Từ (bộ quản lý tôn giáo và tế lễ) kiểm tra thấy có quá đông các tăng ni chưa chính thức (chưa làm lễ xuất gia, thọ giới phật) trong nhân dân, liền tấu thỉnh Đường Văn Tông đồng ý cấp tờ độ điệp cho những tăng ni phi Chính phủ này (vì theo quy định từ trước, ai muốn cấp tờ độ điệp thì phải quyên đủ 2000 xu nộp cho Triều đình, Đường Văn Tông liền chuẩn tấu. Nhưng những người xin cấp độ điệp lên đến hơn 70 vạn người, điều này khiến cho Văn Tông vô cùng kinh ngạc. Tăng ni tu hành phi chính thức nhiều như vậy, đó là mối hoạ tiềm ẩn của nền thống trị phong kiến.

 Thế là, vào năm Khai Thành thứ 3 (năm 838) Đường Văn Tông liền ban "Sắc Điều Lưu Tăng Ni", ông muốn dùng quyền lực của Phật giáo. Ông chỉ rõ: "nhân dân trăm họ đang mê hoặc thuyết khổ - không. Các Đại Thần trong Triều và các quan đều vô cùng kính trọng pháp môn phương tiện. Trai tráng thì tha hồ xuống tóc làm tăng để trốn lao dịch, đây là một điều tệ hại đang lưu hành trong Phật giáo, do đó cần phải có biện pháp nghiêm khắc.

Từ nay trở đi, Kinh Triệu Phủ do Công Đức Sứ Phụ trách, các Châu ngoại phủ do Trưởng Lai (Lý Trưởng) địa phương phụ trách quản lý chặt chẽ Phật giáo, không để cho độ người làm tăng (xuất gia) một cách bừa bãi. Những hành vi độ tăng lén lút thì nghiêm cấm hoàn toàn". Đồng thời với việc nghiêm cấm độ tăng lén lút, Đường Văn Tông còn yêu cầu tiến hành thi tăng. Tức là, trừ các tăng đã cao tuổi hoặc còn nhỏ tuổi hoặc bị bệnh tật kinh niên, còn lại đều phải tham dự cuộc kiểm tra tăng ni do Triều Đình tổ chức.

Cuộc thi quy định tất cả tăng ni tham dự cuộc kiểm tra phải đọc 500 trang kinh Phật, mà phải đọc một cách trôi chảy không sai từ nào. Ngoài ra còn phải độc thuộc lòng 300 trang kinh sách. Ai vượt qua cuộc thi này là đủ tiêu chuẩn. Sau khi Hoàng Đế ban sắc lệnh này, cho phép những tăng ni tham gia kiểm tra được ôn tập trong 3 tháng, sau đó mới phải kiểm tra.

 Những ai thi không đạt yêu cầu, liền bắt buộc phải hoàn tục (trở về đời thường). Mục đích việc kiểm tra tăng ni của Đường Văn Tông là kìm hãm sự phát triển của Phật giáo. Đồng thời, qua cuộc thi này bắt hàng loạt những kẻ "trốn đời cắt tóc đi tu" trong Phật giáo phải hoàn tục để tăng cường nguồn lao dịch và thuế khoá cho nhà nước. Đường Văn Tông còn quy định, sau khi cuộc kiểm tra kết thúc xem có bao nhiêu tăng ni và bao nhiêu chùa, sau đó phân chia mỗi chùa có một số lượng tăng ni tương đương nhau. Số chùa ở thế gian hiện nay cũng cần thống kê lại và giữ nguyên số lượng, không cho phép xây dựng thêm chùa mới.

 Cuối cùng ông nhấn mạnh: "một người con trai không cầy cấy thì mọi người sẽ bị đói; một người con gái không dệt vải thì mọi người sẽ bị rét. Đâu có chuyện phế bỏ người Hoa Hạ, để đi học cái trò không đẻ của kẻ mọi rợ. Bây giờ cần phải dẹp bỏ những cái vớ vẩn, trở về với cội nguồn, đưa kẻ thấp hèn bỏ ngọn trở về gốc.

Từ đó có thể thấy rằng, Phật giáo dưới tiền đề lịch sử phát triển không ngừng của Vương Triều Đường, thì biện pháp kìm hãm này của Đường Văn Tôn là một biện pháp cưỡng chế hành chính đối với Phật giáo. Điều này đã "dọn đường" cho việc Đường Vũ Tông diệt Phật pháp sau này.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, SCC, quycoctu, dieunha, dailuc, anhlam, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Tám 04, 2011, 04:10:08 am »

(tiếp theo)

Đường Vũ Tông Lý Viêm là con trai thứ 5 của Đường Mục Tông, lên ngôi kế vị vào năm 841, tại vị được 6 năm. Ông là vị Hoàng Đế duy nhất cương quyết chống đối Phật giáo trong số hơn 20 vị Hoàng đế nhà Đường. Việc Đường Vũ Tông chống đối Phật giáo cũng là có nguyên nhân tín ngưỡng của bản thân ông. Theo ghi chép trong sử tịch có liên quan, khi Đường Vũ Tông chưa làm Hoàng Đế mà làm Phiên Vương (Vương nước chư hầu) thì ông đã không có mấy tình cảm tốt đẹp với Phật giáo, mà ông thích qua lại quan hệ với các đạo sỹ của Đạo giáo, hơn thế nữa ông lại vô cùng sùng tín thuật Trường Sinh mà Đạo giáo đang ra sức tô vẽ.

Đường Vũ Tông vừa mới lên ngôi chưa được bao lâu đã triệu tập đạo sỹ Triệu Quy Chân cùng 81 người khác vào trong cung điện, mở đạo tràng Kim Lục ở Tam Điện. Bản thân ông cũng đích thân đến Tam Điện, thọ Pháp Lục ở một nơi gọi là Tiên Đàn Cửu Thiên. Do Đường Vũ Tông vốn đã không có mấy tình cảm tốt đẹp, lại thêm sự xúi bẩy, kích động của nhóm Đạo sỹ Triệu Quy Chân kia, nên Đường Vũ Tông càng tỏ ra căm ghét Phật giáo. Nhưng việc Đường Vũ Tông diệt Phật giáo cũng trải qua một quá trình từ việc kìm hãm Phật giáo đến phế bỏ Phật giáo.

Năm đầu tiên của Hội Sương (năm 841), Đường Vũ Tông vừa mới lên ngôi, do đó ông chưa dám có hành động phá hoại Phật giáo, hơn thế nữa ông còn ban sắc lệnh mở Pháp hội cúng giàng răng Phật ở các chùa như chùa Đại Trang Nghiêm, chùa Tiến Phúc, chùa Hưng Phúc, chùa Sùng Hưng.

Ông còn ban sắc lệnh cho pháp sư Kính Sương chùa Chương Kính đến các chùa chuyên niệm và tuyên giảng về cõi Tịnh Độ A Di Đà. Đồng thời Đường Vũ Tông còn ra sắc lệnh yêu cầu các đạo sỹ của Đạo giáo bắt đầu đi giảng "Kinh Nam Hoa" (tức "Trang Tử") của Đạo giáo và ông còn ra sắc lệnh xây dựng Linh Phù Ứng Thánh Viên cho Đạo giáo ở hồ Long Thủ.

Nhưng về thái độ của ông đối với Phật giáo và Đạo giáo thì tư tưởng chủ đạo của ông đã có sự khác biệt rõ ràng. Ví dụ như ông ra lệnh lập đạo tràng trong nội cung để cho sa môn của Phật giáo và Đạo sỹ của Đạo giáo cùng tranh luận về sự kì diệu huyền diệu của hai tôn giáo, kết quả là ông ban thưởng Tử Kim (tinh chất của vàng ròng, rất quý hiếm) cho các Đạo sỹ mà không ban cho các sa môn.

Lại thêm nữa: Vũ Tông còn coi Hoành Sơn Đạo sỹ Lưu Huyền Tĩnh là Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, suy tôn là Huyền Quản Học sỹ ban danh hiệu là Quảng Thành Tiên Sinh, lệnh cho ông cùng với đạo sĩ Triệu Quy Chân cùng vào trong Hoàng Cung tu Pháp lục.

Nhưng cùng năm đó, có một sa môn ở Nam Ấn Độ tên là Bảo Nguyệt vào đất Đường, tiến hành chiêu tập các đệ tử không theo đúng quy định của Triều Đình bị Đường Vũ Tông liệt vào tội coi thường quan lại, rồi cấm chỉ Bảo Nguyệt cùng đệ tử hoạt động. Nhưng vì Sa môn Bảo Nguyệt  thời kỳ là tăng sỹ nước ngoài nên không thể khiển trách được ngài Bảo Nguyệt mà chỉ có thể trách đám đệ tử tín đồ đã quá đề cao thầy mình, đồng thời không cho phép ngài Bảo Nguyệt tuỳ tiện hoạt động hoặc tự ý về nước. Những sự kiện trên đã chứng tỏ rằng, Đường Vũ Tông có khuynh hướng kìm hãm Phật giáo để phát triển Đạo giáo.

Cùng với việc nên thống trị chính trị của Đường Vũ Tông ngày càng được củng cố thì khuynh hướng kìm hãm sự phát triển Phật giáo của ông ngày càng rõ nét, mọi lúc, mọi nơi, mọi việc ông đều tìm cách kìm hãm Phật giáo. Năm Hội Sương thứ 2 (năm 842) Tể Tướng Lý Đức Dạ tấu thỉnh cần phải cưỡng chế tăng ni đi hành cước ở các chùa trong Kinh Sư (Tăng ni rời khỏi chùa mình ghi tên thu hành đến ở và tu hành ở chùa khác gọi là đi hành cước) và không được phép mang theo sadi (chú tiểu). Đường Vũ Tông liền chuẩn tấu. Bỗng chốc các chùa trong Kinh Sư tìm ra một số lượng lớn tăng ni đi hành cước, yêu cầu họ quay trở về chùa cũ của mình. Không bao lâu sau đó, Đường Vũ Tông lại ra lệnh dừng việc phụng dưỡng các cao tăng đại đức ở trong Hoàng Cung đã thành truyền thống lịch sử, đồng thời đích thân ông nhiều lần đi kiểm tra tình hình các tăng sỹ nước ngoài đến nước Đường tu học. Tháng 10 cùng năm đó, Đường Vũ Tông còn ban sắc lệnh yêu cầu các tăng sỹ phạm giới tà dâm (lén lút nuôi vợ trong phòng), không tu giới hạnh phải hoàn tục (trở lại thế tục làm người bình thường). Ông còn ban sắc lệnh yêu cầu các tăng sỹ đã từng đi quyên tiền, thóc gạo, ruộng đất nộp cho quan, những ai tự nguyện hoàn tục thì cho họ hoàn tục để bổ sung nguồn thuế khoá và sức sản xuất. Theo thống kê, lần cấp giấy hoàn tục này chỉ riêng Kinh Sư thôi đã có hơn 3500 người.

Ngoài ra, Đường Vũ Tông còn ban sắc lệnh hạn chế số lượng nô tỳ phục vụ tăng ni, quy định mỗi vị tăng chỉ được phép có một chú tiểu hoặc nô bộc, mỗi vị ni (sư nữ) chỉ được phép có 2 nữ tỳ. Số nô tỳ còn lại phải trả lại những nhà đã hiến nô tỳ. Những nô tỳ không có chủ được nhà nước tiếp nhận quản lý, cho họ tự do kết hôn để thành gia đình. Những biện pháp này, trên một ý nghĩa nhất định nào đó cũng có lợi cho sự phát triển kinh tế của nhà nước phong kiến.

Do chính sách kìm hãm Phật giáo của Đường Vũ Tông được thực hiện trong một thời gian dài nên trong Phật giáo có một số hoà thượng đã lên tiếng trách móc, nhưng họ không dám nói thẳng ra mà  chỉ dám nói việc chứng nghiệm của Phật giáo nó đúng ra sao. Họ làm như vậy để mong đề cao địa vị của Phật giáo trong lòng Đường Vũ Tông hoặc lấy đó làm căn cứ để thay đổi tín ngưỡng của Đường Vũ Tông. Đường Vũ Tông cũng rất lưu ý việc này. Năm thứ 3 của Hội Sương (năm 843) ông hạ chiếu nói rõ: "Từ khi có Phật giáo đến nay từ cổ chí kim bao lần thăng trầm lúc hưng thịnh, lúc bị phế bỏ có thấy ứng nghiệm gì đâu?" Do đó ông ra sắc lệnh yêu cầu tăng lục (tăng chỉ học Phật giáo) cùng với các tăng học cả 3 môn (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) cùng viết ra kiến thức cốt lõi của họ.

Sa môn Huyền Sướng đã hệ thống lại kiến thức viết thành cuốn "Tam Bảo Ngũ Vân Đồ" dâng lên Đường Vũ Tông. Sau khi xem cuốn sách đó, Đường Vũ Tông chẳng thấy nó có chút giá trị gì, liền xếp lại bỏ đấy. Lúc đó có ông Vi Tông Khanh là người chuyên sắp xếp việc cho Thái Tử trong Triều Đình cũng trình lên cuốn do ông tự soạn tên là "Niết Bàn Kinh Sớ" gồm 20 quyển và cuốn "Đại Viện Y Tự Kính Lược" cũng 20 quyển. Sau khi xem 2 quyển này, Đường Vũ Tông cũng lại ra lệnh thiêu huỷ ngay, đồng thời huỷ cả bản thảo.

Ông liền hạ chiếu trách mắng rằng: Phật vốn là người Tây Nhung (man rợ), đi dạy cho mọi người thuyết bất sinh, Khổng Tử là Thánh nhân của Trung Hoa, luôn dậy mọi người những điều lợi ích, Vi Tông Khanh mà người vốn là nho sỹ, lại xuất thân ở vọng tộc (dòng họ lớn) không ca ngợi và đề cao Khổng học mà lại sa đà vào các thứ phù đồ (Phật giáo) kia, viết sách nội dung lằng nhằng làm mê muội lòng người, ta không thể không trách nhà ngươi được".



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, SCC, quycoctu, dieunha, dailuc, anhlam, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Tám 04, 2011, 04:14:35 am »

(tiếp theo)

Từ những lời lẽ trên đây có thể thấy rằng, Đường Vũ Tông không chỉ kìm hãm Phật giáo mà ông còn bắt đầu căm ghét Phật giáo. Sau đó không lâu, Đường Vũ Tông còn ra lệnh thiêu huỷ toàn bộ số kinh Phạt có trong Hoàng Cung, bắt đem toàn bộ tượng Phật, tượng Bồ tát và tượng các Thiên Vương chôn sâu xuống đất. Đồng thời, ông còn yêu cầu các ngôi chùa ở hai bên phố Tả và phố Hữu trong Hoàng cung chấm dứt tổ chức giảng kinh thuyết pháp, không chấp hành là phạm tội.

Trong quá trình Đường Vũ Tông từ chỗ kìm hãm Phật giáo đến chỗ căm ghét Phật giáo đồng thời huỷ kinh Phật, chôn tượng Phật, đả kích Phật giáo thì Đạo giáo lại có cơ hội phát triển. Hơn thế nữa, Đạo giáo còn giở trò "đục nước béo cò". Vào năm Hội Sương thứ 3, do có sự đề xướng của ông Triệu Quy Chân (người của Đạo giáo) mà Đường Vũ Tông đã ra lệnh cho 3000 quân Thần Sách (cả Tử và Hữu) xây Vọng Tiên Đài trong Hoàng Cung để chứng tỏ mình đã quy tâm về Đạo giáo, đồng thời ông cũng mong muốn được đi lại chơi với các Thần Tiên. Trong lúc qua lại chơi với Đường Vũ Tông, một số Đạo sỹ của Đạo giáo đã nhân cơ hộ tuyên bố rằng, Phật giáo không phải tôn giáo của Trung Quốc, cần phải loại bỏ... Nhất là Đạo sỹ Triệu Quy Chân do được Đường Vũ Tông quá quý mến và tin tưởng nên ông có rất nhiều cơ hội được chuyện trò với Đường Vũ Tông nên thường nói với Đường Vũ Tông rằng: Phật là người Tây Nhung, dạy và giảng cho người ta pháp Bất sinh, mà cái Bất sinh đó chính là cái chết. Phật chỉ bảo cho người ta con đường vào Niết Bàn, mà Niết Bàn là cái chết của con người. Phật giáo nói nhiều đến Vô Thường Khổ Không, không nói gì đến cái lý luận Trường Sinh Vô Vi. Những điều này đều trái với chí hướng của Bệ hạ".

Đường Vũ Tông liền tin lời của nhóm ông Triệu Quy Chân, tất nhiên ông lại căm ghét Phật giáo, hơn thế nữa ông lại càng ra sức đề cao Đạo giáo. Cùng năm đó, Đường Vũ Tông phong ngài Triệu Quy Chân là Giáo thọ của Đạo giáo ở hai phố Tả và Hữu trong Kinh Sư để ông hoằng dương Đạo pháo trong Kinh thành.

Vào năm thứ tư của Hội xương (năm 844) Đường Vũ Tông bắt đầu mở một loạt các hoạt động đả kích Phật giáo một cách toàn diện. Đầu năm này, thuộc hạ của quan Trung Thư (31) tấu thỉnh rằng: "Toàn quốc hiện giờ đang lưu hành một tập quán ăn chay 3 tháng, đó là tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chạp. Đây là tập quán của dòng họ Thích Ca (tức phật giáo), nó có nhiều điều không tốt. Nay xin đổi thành: chỉ cấm sát sinh vào 3 ngày: ngày 1 tháng Năm; ngày 1 tháng Bảy và ngày 1 tháng Mười, còn những ngày khác không cấm sát sinh".

Đường Vũ Tông liền chuẩn tấu.

Tháng 3 năm đó, Đường Vũ Tông ban chiếu cấm cúng giàng Xá lợi Phật, đặc biệt quản lý nghiêm các chùa có Xá lợi Phật như chùa Pháp Môn, không cho phép đưa Xá lợi Phật ra cho mọi người chiêm ngưỡng và cúng giàng một cách tuỳ tiện. Nếu như có ai đó cúng giàng Xá lợi Phật một xu thì bắt nằm sấp xuống đánh 20 trượng. Nếu như tăng ni ở chùa nào đó mà nhận một xu tiền cúng giàng Xá lợi Phật thì cũng bắt nằm sấp xuống đánh 20 trượng.

Ở các địa phương nếu như có ai đó vi phạm lệnh kể trên thì do quan phủ địa phương xử phạt, đồng thời ghi lại đầy đủ họ tên những người đó, tấu lên Hoàng Đế. Vào ngày Phật Đản (8-4 Âm lịch) năm đó, Đường Vũ Tông ban chiếu bãi bỏ tập quán mời tăng ni vào trong Hoàng Cung giảng kinh, đồng thời cũng bải bỏ việc làm cỗ chay chúng giàng tăng ni. Sau đó ít lâu, Đường Vũ Tông lại ra mệnh lệnh cấm tăng ni đi ra đường vào buổi tối, sau khi có tiếng trống mọi tăng ni phải về chùa của mình. Tháng 8 năm đó, Đường Vũ Tông lại ban chiếu phá huỷ tất cả Phật Đường phổ thông ở các địa phương trên toàn quốc và các Trai Đường cúng Phật ở các thôn ấp.

Tất cả tăng ni ở Phật Đường cúng Phật ở các thôn ấp. Tất cả tăng ni ở Phật đường phổ thông và Trai Đường ở thôn ấp bắt phải hoàn tục (làm dân thường). Lần này chỉ riêng Kinh thành Trường An đá phá đi hơn 300 Phật Đường. Vào tháng 10 năm đó. Đường Vũ Tông lại ra chiếu lệnh phá huỷ tất cả chùa, miếu nhỏ trên toàn quốc, những Kinh Phật trong chùa nhỏ thì chuyển đến chùa lớn, các chuông đồng chuông thép ở chùa nhỏ phải giao cho Quán Vũ của Đạo giáo.

Những Tăng Ni ở các ngôi chùa nhỏ mà không chịu giữ giới hạnh, bất kể là già hay trẻ đều bắt phải hoàn tục. Những Tăng Ni cao tuổi mà giữ giới hạnh tốt thì chuyển đến trụ trì ở chùa lớn. Những Tăng Ni còn trẻ cho dù giới hạnh tốt cũng bắt phải hoàn tục. Do đó ở Trường An lại phá tiếp 33 chùa nhỏ nữa. Hàng loạt các hoạt động tấn công Phật giáo của Đường Vũ Tông vào năm Hội Cương thứ 4 là những "khúc dạo đầu" để ông ta chuẩn bị huỷ diệt Phật Pháp.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, SCC, quycoctu, dieunha, dailuc, anhlam, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 [3] 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.489 seconds với 25 câu truy vấn.