Tháng Tám 20, 2018, 11:12:42 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: CÁC ĐẾ VƯƠNG VỚI PHẬT GIÁO  (Đọc 8964 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2011, 03:33:29 pm »

(tiếp theo)

Ngoài điểm quí báu của việc Lưu Tống Văn Đế cho phép tự do phát ngôn, tăng cường tuyên truyền thì bối cảnh văn hoá tư tưởng được tự do, được mở mang thì còn có cả truyện các Sa môn Phật giáo giám dám công khai phỉ báng và muốn huỷ diệt Phật giáo. Hồi đó có một tăng sĩ tên là Tuệ Lâm, là người huyện Tần, quận Tần ( ngày nay là vùng Lục Hợp ở Giang Tô), hồi đó ở thế tục họ là Lưu, sau khi xuất gia tu hành ở chùa Giã Thành, đã từng là học trò của một số tăng sĩ nổi tiếng hồi bấy giờ; ông ta cũng rất giỏi các kinh thuyết của Nho gia và các học thuyết của Lão-Trang.

Thời kỳ đầu của Lưu Tống, ông Tuệ Lâm cùng với một số người như Tạ Linh Vận, Nhan Diên Chi v.v…quan hệ qua lại khá thân thiết với Lô Lăng Vương Lưu Nghĩa Chân. Trong quá trình qua lại với các tăng sĩ và các cư sĩ thế tục này. Lưu Nghĩa Chân đã từng bày tỏ ý định rằng, nếu như ông ta được lên Hoàng Đế, nhất định ông ta sẽ cho ông tạ và ông Nhan làm tể tướng, sẽ phong ông Tuệ Lâm làm Đô đốc Tây Dự Châu. Từ đó có thể thấy rằng, tài năng của hoà thượng Tuệ Lâm làm đô đốc Tây Dự Châu.

Từ đó có thể thấy rằng, tài năng của hòa thượng Tuệ Lâm hơn hẳn với mọi người. Tuệ Lâm là một Sa môn, nhưng ông ta đã viết cuốn “ Bạch Hắc Luận” ( tức là bàn về trắng đen, sau ông ta lại đặt tên là “ Quân Thiện Luận”). Ông ta cho rằng Phật giáo hay Nho Giáo tuy đường đi có khác nhau nhưng, điều đó có chung một mục đích. Chữ” luận” bị giới Phật giáo lúc bấy giờ cho là một trò chê bai Thích Ca giáo. Đồng thời họ đòi đuổi ông Tuệ Lâm ra khỏi Tăng đoàn. Lưu Tống Văn Đế sau khi nhìn thấy chữ “ Luận”, ông ta vô cùng sung sướng, đồng thời cho mời ông Tuệ Lâm tham dự những công việc cơ mật của chính sự; Thế là ông Tuệ Lâm lấy danh nghĩa là một Sa môn đã viết chữ “Luận” không có Phật, hơn thế  nữa ông ta lại trở thành một tể tướng áo đen của Lưu Tống Văn Đế.

Trong lịch sử Trung Quốc, việc này không phải là độc nhất vô nhị. Sau khi ông Tuệ Lâm được tham dự vào chính triều, nơi ông ta ở khách khứa đông ngịt, ngày nào phía trước cửa cũng có hàng chục chiếc xa liên tục ra ra vào vào. Tương truyền rằng, hồi đó ông Tuệ Lâm gặp dịp được thời nên cậy thế. Theo sử liệu có liên quan, hồi đó ông Tuệ Lâm còn chú thích các tác phẩm như” Hiếu Kinh”,” Trang Tử - Tiêu Giao Biên” v.v…

Trong tác phẩm “ Bạch Hắc Luận” ( hay còn gọi là Quân Thiện Luận), về mặt đề tài ông Tuệ Lâm đã hư cấu nên một hình thức hỏi đáp giữa một vị theo môn phái Bách học và một vị theo môn phái Hắc học. Vị theo Bạch học tức là chỉ vị theo Nho học, đạo sĩ theo hắc học tức là chỉ tăng sĩ Phật giáo đều mặc quần áo màu đen. Về mặt nội dung, ông Tuệ Lâm thì cho rằng, hai môn phái Nho học và Thích ca đều có những điểm mạnh của mình, đều là tuyên truyền những gì mà các vị thánh nhân đã từng nói, từng gây dựng lên và dạy mọi người làm theo, hai môn phái Nho Giáo và Thích Ca giáo đều như hai con sông đổ chung ra biển, chúng song song cùng tồn tại. Có thể thấy rằng, luận điểm này chỉ nhằm hoà giải mối quan hệ giữa Nho Giáo và Thích Ca giáo, nó đã thể hiện yêu cầu khách quan của Phật giáo trong khi lưu hành tại Trung Quốc, tức là Phật giáo phải phù hợp với bối cảnh văn hóa tư tưởng truyền thống của Trung Quốc.

 Quan điểm này không thể không coi là sự hiểu biết thấu triệt, sâu rộng. Nhưng ông Tuệ Lâm vốn là một Sa môn Phật giáo, trong quyển “ Luận” này ông đã từng tuyên bố rằng: các học thuyết của Phật giáo như nhân quả báo ứng, luân hồi sinh tử v.v…đều là những học thuyết thuộc diện xằng bậy, hoang đường không đúng sự thật. Điều này tất nhiên đã gây sự bất bình trong giới Phật giáo, do đó nó cũng bị giới Phật giáo lúc bấy giờ chê trách là dị đoan, nhưng được sự che chở của Tống Văn Đế, do đó mà ông Tuệ Lâm không hề bị một hình thức xử phạt nào của giới Phật giáo lúc bấy giờ.

Sau khi có được quyển “ Bạch Hắc Luận” của ông Tuệ Lâm, ông Hà Thừa Thiên lập tức gửi một quyển sách này cho một tăng sĩ khác lúc bấy giờ tên là Tống Bỉnh, đồng thời yêu cầu ông Tống Bỉnh kết luận những điểm tốt và những điểm sấu của hai học sĩ theo Nho Giáo ( Bạch) và vị đạo sĩ theo Thích Ca giáo (Đen). Ông Tông Bỉnh vốn là một hoạn quan, hồi đó cũng là một cư sĩ Phật giáo khá nổi tiếng.

Ông đã dùng những hiểu biết, những kiến thức của mình tiến hành phê phán một cách rõ ràng và cụ thể đối với quyển “ Bạch Hắc Luận”. Ông cho rằng trong ba tôn giáo , Nho Giáo,Thích Ca giáo và Đạo giáo, thì Phật giáo là tinh tế nhất và uyên thâm nhất, trong Phật giáo đã chứa đựng luân cả đức năm điểm của Nho Giáo, đã có cả khoảng không tự nhiên của Lão Trang. Do đó Phật giáo là một tôn giáo của các bậc thánh, bao cả những nội dung chính của Nho Giáo và Đạo giáo; đồng thời Phật giáo lại ở một bậc cao siêu hơn cả Nho Giáo và Đạo giáo. Tuy cả ba tôn giáo này đều được hưng khởi vào những thời vận không thích ứng và những thời điểm khác nhau, nhưng ở mỗi tôn giáo đều có sự bất đồng, sự khác nhau về trọng điểm giáo hoá.

Nho Giáo thì nói rõ con đường trị quốc an bang, Đạo giáo là một đạo khuyên con người ta bớt đi những ham muốn, những chuyện lăng nhăng như bậy bạ. Cả hai tôn giáo đều không giúp người ta thoát ra khỏi kiếp này, thoát ra khỏi thế tục. Nhưng Phật giáo thì nói rõ sự bất diệt về mặt tinh thần, con người ta có thể tu thành phật, con người ta có thể làm được nhiều điều, có ham muốn nhiều thứ, nhưng tất cả các pháp đều là không, đó chính là điều mà Nho Giáo  và Đạo giáo không thể so sánh được. Ở ba tôn giáo là Nho Giáo,Đạo giáo, Thích Ca giáo  đều có điểm chung đó là khuyến thiện. Cả ba tôn giáo này đều giúp ích cho giai cấp thống trị phong kiến. Ví dụ như một Hoàng Đế có thể trị quốc bằng Nho Giáo, tu dưỡng tinh thần theo Phật giáo, chắc chắn ông ta là một minh quân, sau khi tịch diệt, linh hồn ông ta có được siêu thăng, trải qua luân hồi ông ta có thể quay lại làm Đế Vương của thế gian. Để phê phán, bài xích một cách có hệ thống quyển” Bạch Hắc Luận”, ông Tông Bỉnh đã viết cuốn “ Minh Phật Luận”, ông ta đã mạnh dạn nêu rõ sự bất diệt về mặt tinh thần. Xoay quanh vấn đề bất diệt về mặt tinh thần, người thế hệ sau đã phát triển thành một đề tài sôi nổi hơn.

Nhìn chung trong 13 năm trị vì của Lưu Tống Văn Đế, do có sự khởi xướng và khích lệ của ông ta, nền văn hoá tư tưởng đã được tương đối thoải mái và sôi nổi hơn, các quan điểm và thái độ đối với Phật giáo đều được nêu lên một cách thoải mái, tự do. Đánh giá một cách kỹ càng, thì cũng khó mà kết luận rằng Lưu Tống Văn Đế là một người tôn sùng Phật giáo hay là bài Phật, nhưng nhìn chung ông ta vẫn muốn cho Phật giáo tự do hoạt động. Chỉ cần các hoạt động của Phật giáo không được ảnh hưởng đến công việc thống trị của ông ta, thì nói chung ông ta rất thoải mái với Phật giáo.

Theo ghi chép lịch sử có liên quan vào năm Vĩnh Gia thứ 15 ( năm 435 sau Công nguyên) Đan Dương Doãn Tiêu Mô Chi dâng chiếu thư thưa rằng:” Phật giáo sau khi du nhập vào Trung Quốc đến nay đã trải qua bốn thời đại, chùa chiền thờ Phật hiện nay đã có đến hàng ngàn ngôi. Hiện nay một số người coi việc thờ cúng không còn là thành tâm nữa, mà họ rất coi trọng việc thờ cúng xa hoa, do đó mà hao tiền tốn của, mất thời gian và mệt mỏi. Do đó từ nay về sau, mong Bệ hạ hãy ban chiếu quy định rằng, mọi công việc như đúc tượng Phật, xây chùa đều phải trình báo và được phép của quan phủ, không được làm một cách tuỳ tiện”.

Sau khi xem bức biểu này, Văn Đế thấy rằng việc xây dựng chùa chiền thờ Phật, đúc tượng Phật, đã hao tốn rất nhiều tiền của và công sức của nhân dân, việc đó là lãng phí vô cùng. Do đó ông đã hạ chiếu chỉnh đốn tăng đoàn, điều đó đã khiến cho hàng trăm tăng ni trong cả nước phải hoàn tục( trở lại làm thường dân). Vào thời kỳ Tống Nam triều, ở vùng Giang Nam có hơn 1900 ngôi chùa, có khoảng hơn 3 vạn 3 ngàn tăng ni. Đợt chỉnh đốn tăng đoàn này của Văn Đế đã cho thấy rõ một tử tưởng cương quyết mới của Hoàng Đế phong kiến,tức là sự tồn tại và phát triển của Phật giáo không được làm ảnh hưởng đến nền thống trị của thế tục.

Việc Lưu Tống Văn Đế khuyến khích tuyên truyền cho sự tự do ngôn luận đã tạo dựng lên một thời kỳ vô cùng tốt đẹp cho Nam Triều. Ở các triều đại như Tề, Lương, Trần giới tư tưởng đều hoạt động rất sôi nổi và thoải mái; các cuộc tranh luận xoay quanh đề tài Phật giáo đều được tiến hành dưới sự chủ trì của các Đế Vương phong kiến. Vào cuối đời Tống đầu đời Tề, có ông Cố Hoan viết cuốn” Di Học Luận”, cuốn sách đó đã bình luận mối quan hệ giữa Phật giáo và Đạo giáo. Ông ta cho rằng Phật giáo và Đạo giáo cùng có chung một gốc rễ. Ông ta lấy dẫn chứng ở một số đạo kinh ( chủ yếu là ở trong cuốn “ Huyền Diệu Nội Thiên”) nói rằng: Lão Tử sau khi nhập quan, liền giáng sinh xuống Thiên Trúc thành Phật, do đó Phật giáo cũng là Đạo giáo, Đạo giáo cũng là Phật giáo; tuy hai tôn giáo đó có chung gốc rễ, nhưng có điểm khác nhau và ưu khuyết điểm cũng khác nhau.

 Đạo giáo là một tôn giáo phù hợp nhất với tín ngưỡng dân tộc Hoa Hạ, còn Phật giáo là một tôn giáo của người Tây Nhung ( miền tây mọi rợ), do đó cần phải phân biệt rõ người Trung Hoa hay là người Miền Tây để mà chọn tôn giáo. Nhưng trong tác phẩm “ Di Hạ Luận”, ông cố Hoan có một mặt đã dùng những ưu điểm của Đạo giáo so với Phật giáo để nói rõ: về việc duy trì và giữ gìn tam cương ngũ thường phong kiến thì việc cho quảng bá Đạo giáo sẽ có lợi hơn việc bảo vệ và phát triển Phật giáo. Mặt khác, ông ta cũng lập luận rằng, hai tôn giáo đó cùng một gốc dễ nên không chủ trương phủ định triệt để hoặc bài xích hoàn toàn Phật giáo. Ở thời kỳ cuối Tống đầu Tề, cuốn “ Di Hạ Luận” đã từng gây nên những ảnh hưởng to lớn, điều đó cũng gây nên sự phản đối gay gắt của các tín đồ Phật giáo. Theo sử tịch có liên quan, hồi đó có rất nhiều sách được ấn hành; họ đều phản đối quan điểm của ông Cố Hoan; họ cho rằng Phật giáo có nhiều ưu điểm hơn Đạo giáo.

Đến cuối đời Tề Nam triều, có một đạo sĩ mượn danh của ông Trương Dung đã viết cuốn “ Tam Phá Luận”. Ông ta đã phê bình Phật giáo du nhập vào quốc gia nào thì phá hại quốc gia đó, đến nhà ai thì phá hại nhà đó. Cuốn sách đó chỉ rõ, Phật giáo chỉ ăn nói lung tung xằng bậy, chỉ làm khổ dân, hao tiền tốn của của dân, làm cho nước kiệt dân cùng, chẳng có lợi ích gì.

Đối với nước với dân, không những chẳng có lợi mà chỉ có hại, do đó Phật giáo du nhập vào nước nào thì phá hoại nước đó; Phật giáo yêu cầu người ta phải xuất gia cạo đầu làm tăng sĩ, từ bỏ cha mẹ, đoạn tuyệt với sự hiếu thuận, làm náo động truyền thống của đất nước. Đối với tam cương ngũ thường truyền thống lâu nay, nó cũng chẳng lợi lộc mà chỉ có hại, do đó Phật giáo đến nhà ai thì chỉ phá hoại nhà đó. Hình ảnh của Phật giáo là các tăng sĩ xuất gia: Thứ nhất điều đó là có hại cho thân thể mình; thứ hai là nỗi khổ phải cạo tóc; thứ ba là làm trái với những điều hiếu thuận; thứ tư là có tội đoạn tuyệt vợ con; thứ năm là có niềm tin mù quáng về việc từ bỏ thân này để giữ giới luật v.v…

Do đó mà Phật giáo đến với ai thì phá hoại thân thể người đó. Cuốn” Tam Phá Luận” hồi đó cũng từng có những ảnh hưởng to lớn. Một nhà văn và nhà lý luận nổi tiếng là Lưu Hiệp (ông đã nổi tiếng trong thiên hạ vì viết cuốn “ Văn Tâm Điêu Long” gồm có 50 chương). Vào những năm cuối đời ông đã xuất gia, pháp danh là Tuệ Địa, ông đã viết cuốn “ Diệt Hoặc Luận” để chống lại cuốn “ Tam Phá Luận”. Ông đã tiến hành phê phán và phản bác một số quan điểm chủ yếu trong cuốn “ Tam Phá Luận”.

Suốt thời kỳ Nam Triều, không lúc nào ngừng các cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề Phật giáo. Ông Phạm Chân sống ở cuối thời kỳ Tề đầu thời kỳ Lương đã viết cuốn “ Thần Diệt Luận”. Ông đã tiến hành phê bình các lí luận Phật giáo như tinh thần bất diệt, báo ứng nhân quả, luân hồi sinh tử.

Các cuộc tranh luận như vậy cũng đã ảnh hưởng đến cả ở Bắc triều. Sở dĩ có hiện tượng như vậy vì đó cũng là kết quả tất nhiên của mối xung đột gay gắt giữa Phật giáo và truyền thống văn hoá tư tưởng bản địa sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, Kết quả của cuộc sung đột này là Phật giáo đã được Trung Quốc hoá một cách triệt để.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2011, 03:36:54 pm »

(tiếp theo)

Phần 2

Lương Vũ Đế bỏ Lão  theo Phật

Chùa Đồng Thái bốn lần xả thân


Lương Vũ Đế Tiêu Diễn, tự là Thúc Đạt, người Nam Lan Lăng ( ngày nay là vùng Thường Châu, Giang Tô), là người đồng tộc với vị Vua lập ra nước Tề Nam Triều tên là Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành. Sau khi Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành mất, con trai là Tiều Tích lên ngôi xưng là Tề Vũ Đế, sau khi Tề Vũ Đế mất, Tề Loan lần lượt giết hại Uất Lâm Vương và Hải Lăng Vương, lên ngôi xưng là Minh Đế.

Sau khi con trai của Minh Đế tên là Tiểu Bảo Quyển kế vị, ông ta đã tàn sát một cách tàn bạo họ hàng thân thuộc của Vua, rồi sai quân lính bất ngờ tập kích Tiêu Diễn, lúc bấy giờ là Ung Châu Thích Sử, trấn thủ Tương Dương. Tiêu Diễn cho quân đến đánh, rồi gia lệnh giết Tiêu Bảo Quyển, sau đó tự mình xưng là Hoàng Đế, đổi tên nước thành Lương, hiệu là Kiến Nguyên Thiên Giám, lúc bấy giờ là năm 502 sau Công nguyên.

Theo ghi chép, Tiêu Diễn là một con người đa tài, văn võ song toàn. Trước khi lên ngôi thay nhà Tề, ông ta đã từng cùng với một số văn nhân Nho sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ tụ tập ở ấp Tây mới được xây dựng của Tề Cảnh Lăng Vương Tiêu Tử Lương xây ở vùng núi Kê Lung.

Ở đó cùng nhau làm thơ làm văn, cùng nhau bàn tán thời cuộc, nhóm của ông cũng có uy tín và ảnh hưởng đồng thời ông ta còn nhận thêm chức Tề Ninh Sóc tướng quân chấn thủ vùng Thọ Xuân; sau đó ông lại nhận thêm chức Quán Quân tướng quân, phụng lệnh nhà Vua dẫn quân đi đánh đạo quân của Bắc Nguỵ lúc bấy giờ xâm phạm lãnh thổ Nam Triều.

Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, ông lại nhân thêm chức Hựu Quân Tấn An Vương Tư Mã trấn thủ Hoài Lăng. Cuối cùng ông ta nhận thức Phó Quốc Tướng Quân Ung Châu Thích Sử, trấn thủ Tương Dương. Sau khi phế nhà Tề lập nên nhà Lương, về mặt văn hoá tư tưởng, Tiêu Diễn gia sức gây dựng và ủng hộ Nho Giáo và Phật giáo. Cũng giống như việc dựng lên nhà Tống và nhà Tề, Triều Lương sau khi được dựng lên đều có các tướng lĩnh đứng đầu các lực lượng quân sự cát cứ mỗi vùng.

Sau khi có quân trong tay, họ lại dùng vũ lực để chống lại chính quyền Trung Ương từ đó mỗi người đều lập nên Vương triều của riêng mình. Trong tình hình như vậy, các Hoàng Đế phong kiến bị giết hại và bị phế truất rất nhiều, chỉ ở hai triều đại là Tề và Tống Nam triều có 16 vị Hoàng Đế, thì trong đó có hàng chục vị bị sát hại, bị phế truất đồng thời, nhà Đông Tấn dựng nước ở vùng Giang Nam, chỉ kéo dài được quãng hơn 100 năm, Nhà Tống Nam Triều chỉ có khoảng 60 năm, nhà Tề chỉ có 24 năm.

Do có tình hình như vậy, ngay sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Lương Vũ Đế lập tức cho chỉnh đốn lại nội bộ của tập đoàn thống trị, mượn giáo lý tam cương ngũ thường của Nho gia để duy trì trật tự thống trị, đồng thời ông cũng tôn trọng Phật giáo, lấy đó để lung lặc tăng lữ và những tín đồ Phật giáo, hướng những điều họ quan tâm lợi ích trước mắt vào kiếp sau.

Ngày 8-4 của năm Thiên Giám thứ ba ( năm 504 sau Công nguyên), Lương Vũ Đế hạ chiếu: ông ta từ bỏ Đạo giáo, quy y Phật. Trong chiếu thư đó, ông đã nói rõ:” Đệ tử Tiêu Diễn này luôn luôn mê hoặc một cách mù quáng, đam mê Lão Tử, suốt ngày ôm ấp, đã nhiễm tà đạo này; giờ đây tập thiện nhân quả, từ bỏ mê tín, hoang đường để quay trở lại trí giác, từ bỏ với Đạo giáo, quay trở lại nương nhờ vào chánh giác(Phật giáo). Đồng thời ta cũng rất muốn hoằng dương kinh Phật để cho tôn giáo chánh giác được lưu hành ở thiên hạ”. Từ lâu lắm rồi Lương Vũ Đế Tiêu Diễn đã tôn thờ và đi theo Đạo giáo, trước khi lên thay nhà Tề, ông đã từng nhiều lẫn tiếp xúc với tín đồ Phật giáo dưới quyền của Cảnh Lăng Vương Tiêu Tử Lương, do đó ông ta đã chịu ảnh hưởng của họ rất sâu sắc, từ đó mà ông dần dần quay trở lại tín phụng Phật giáo.

Do đó không bao lâu sau khi ông ta lên ngôi Hoàng Đế, ông lập tức tuyên bố mình từ bỏ đạo giáo để quy y Phật. Sau khi hạ chiếu Lương Vũ Đế lập tức dẫn một đoàn gồm hơn 2 vạn tăng sĩ và cư sĩ thế tục, đến trước lầu chính trong điện Trọng vân làm luôn bài “ Xả Đạo Quy Y Phật Văn”, tự mình làm gương cho mọi người, đứng trước dân chúng phát nguyện từ nay tín phụng Phật giáo, đồng thời yêu cầu Vương công quý tộc và bình dân trăm họ đều phải thờ Phật. trong bài văn đó ông nói rõ “ Công khanh bách quan, Tông tộc Vương hầu, tất cả đều nên chống lại cái giả để quay về với cái thật, từ bỏ tà đạo để đến với chánh Phật, hoăng dương kinh Phật, hoá độ những con người đang mê muội, giúp họ tỉnh ngộ, cùng nhau trở thành Phật; cho dù chúng ta quy y Phật rồi mà vẫn bị sa vào trong đạo ác, chúng ta cũng không muốn theo giáo lý của Lão Tử để mà bỗng chốc được sinh ra ở cõi trời”. Xét từ tư tưởng này của Lương Vũ Đế, cho dù sau này khi quy y Phật rồi mà bị sa đà vào một tà đạo, cũng không nên mê muội mà tin vào giáo lý của Lão Tử để rồi bỗng chốc được sinh ở cõi trời( tức là Thanh Niên), từ đó để thấy lòng quyết tâm rất lớn của ông ta khi từ bỏ Đạo giáo  để quy y Phật. Hành động này của Lương Vũ Đế, về mặt thực tế nó cũng giống như một quyết định của Vua lấy Phật giáo làm Quốc Đạo. Đây là cao trào phát triển của Phật giáo ở Nam triều thời Lương Vũ Đế.

Tuy rằng tuyên bố từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, nhưng mà phải thụ giới thì mới trở thành một tín đồ chính thức của Phật giáo ( bằng một nghi thức nhất định nào đó, họ tiếp nhận giới luật của Phật giáo, sau đó sẽ trở thành tín đồ chính thức của Phật giáo). Năm Thiên Giám thứ 18 ( năm 519 sau Công nguyên) Lương Vũ Đế thọ Bồ Tát Giới tại điện Vô Ngại. Từ đó trở đi, mọi người đều gọi Lương Vũ Đế là Hoàng Đế Bồ tát. Nhưng Vũ Đế không chỉ thọ giới cho chính mình mà ông còn yêu cầu anh em mình trong Vương tộc, rồi đến con cái họ, rồi đến cả dân thường lẫn các tín đồ Đạo giáo tất cả đều phải thọ giới. Tương truyền sau khi Lương Vũ Đế thọ giới tất nhiên là phải trì giới ( tức là giữ giới). Ông ta thực hiện đúng yêu cầu giới luận của Phật giáo, hàng ngày ăn chay, qua giờ Ngọ là không ăn gì nữa ( giới luật Phật giáo quy định, những tín đồ chính thức của Phật giáo ( tức là các vị sư) quá giữa trưa rồi mặc dù là chưa ăn cũng không được ăn nữa); hơn thế nữa tín đồ Phật giáo không được đắm chìm trong xa hoa, lụa là gấm vóc; đồ đạc sinh hoạt, quần áo ăn mặc rất đơn giản, đi giày bện bằng cỏ, đội khăn bằng cỏ, đội khăn bằng tơ gai, phải cố gắng chịu nóng chịu lạnh,( tức là không được oán trách thời tiết nóng, lạnh) việc ăn việc mặc cũng nên như vậy ( tức là có gì mặc lấy, không đua đòi); Các phòng ngủ trong cung điện, mỗi chiều không được rộng quá một trượng ( quãng 3,5 m), thành chí có thể nhỏ hơn. Điều đó có thể thấy rằng, sau khi thọ giới Vua Lương Vũ Đế đã tự biến mình thành một tấm gương phản chiếu sáng ngời đối với  vô số các ông Vua, các vị Đế Vương ăn chơi xa hoa, hoang dâm vô độ trong lịch sử Trung Quốc.

Một nhà thơ nổi tiếng đời đường tên là Đỗ Mục đã từng làm thơ để miêu tả về trung tâm Phật giáo của Nam Triều ở Kiến Khang ( ngày nay là vùng Nam Kinh tỉnh Giang Tô); ở đó có rất nhiều chùa thờ Phật. Trong bài thơ “ Giang Nam Xuân Tuyệt Phú” ông Đỗ Mục đã ghi rõ:” Nam Triều có 480 ngôi chùa, vô số lầu các chìm trong sương tuyết”. Thực tế sau khi từ bỏ Đạo giáo để thụ giới và giữ giới Phật giáo, Lương Vũ Đế cũng rất muốn xây dựng thêm nhiều chùa chiền. Khi ông còn tại thế, ở vùng Kiến Khang có đến hơn 500 ngôi chùa, một phần trong các ngôi chùa đó là xây dựng theo sắc lệnh của Lương Vũ Đế.

Như chùa Trí Độ là Lương Vũ Đế đã ra sắc lệnh xây dựng cho cha mẹ họ Trương của mình vào năm đầu tiên của Thiên Giám, với mong muốn rằng sau này cha mẹ mất đi sẽ được phù hộ che chở; Như chùa Quang Trạch, trước kia là nhà ở của Lương Vũ Đế sau khi ông từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, ông đã cho sửa sang ngôi nhà ở cũ của mình thành một ngôi chùa thờ Phật; như chùa Giải Thoát do Lương Vũ Đế xây dựng cho Nguyên Phi của mình tên là Hi Đế, ông xây dựng vào năm thứ 10 của Thiên Giám ( năm 511 sau Công nguyên). Hi Đế đã qua đời từ khi Tiêu Diễn chưa lên ngôi Hoàng Đế. Sau khi Lương Vũ Đế lên ngôi, để tưởng nhớ Nguyên Phi, ông đã cho xây dựng chùa Giải Thoát; Như chùa Đồng Hành là do vào năm đầu tiên của Thiên Giám, Lương Vũ Đế cùng một số người trèo lên núi non trùng điệp, thế là liền ra sắc lệnh xây dựng chùa ở đây. Do đó ngôi chùa này còn có tên là chùa Thánh Du; Như chùa Đại Ái Kính, xây dựng ở vùng núi non trùng điệp, hiểm trở là do Lương Vũ Đế xây dựng cho cha mình tên là Tiêu Thuận vào năm Phổ Thông nguyên niên ( năm 520 sau Công nguyên); Như chùa Đồng Thái, vốn trước đây là công sở cho quan uý của triều đình, sau khi Lương Vũ Đế lên ngôi Hoàng Đế, ông liền ra lệnh xây dựng công sở thành một ngôi chùa, do ngôi chùa này rất gần cổng Đại Thông ( cửa lớn) của Hoàng Cung, cho nên ông đã lấy từ Đại Thông để đặt tên cho ngôi chùa này ( tức là ông đổi phụ âm đầu của hai chữ Đại Thông thành hai chữ Đồng Thái) nên ngôi chùa mới có tên là Đồng Thái. Ngôi chùa này rất gần Hoàng Cung, sau đó nó trở thành một ngôi chùa để Lương Vũ Đế tiến hành các nghi lễ tôn giáo chính. Để từng nhiều lần cưỡng bức người khác nhường lại ruộng đất. Được sự cổ vũ của Lương Vũ Đế, các thành viên của hoàng thất của các quan lại, các hào phú cũng thay nhau bắt chước Lương Vũ Đế, họ cũng thi nhau xây dựng chùa chiền, do đó số lượng chùa chiền ngày càng nhiều đến mức không đếm xuể.

Cùng với việc xây dựng chùa chiền, Lương Vũ Đế còn cho tạc hoặc đúc những bức tượng Phật to lớn. Các bức tượng Phật mà ông ta ra lệnh cho đúc hoặc tạc gồm có: Một bức tượng gồm 10 khối vàng và một bức tượng gồm 10 khối bạc ở chùa Đồng Thái, một bức tượng Phật Di Đà băng đồng cao một trượng tám ( quãng 6m) ở chùa Quang Trạch, tạc một bức tượng bằng gỗ chiên đàn cao một trượng tám ở chùa Đại Ái Kính. Lượng vàng, bạc, đồng v.v…dùng để đúc hoặc tạc tượng Phật to lớn này, Lương Vũ Đế đều lấy từ Quốc Khố (9). Không chỉ có đúc tượng, tạc tượng, Lương Vũ Đế còn yêu cầu phải bố thí cho nhà chùa.

Vì ông ta tự phong cho mình là bồ tát Hoàng Đế, do đó bắt buộc ông ta phải làm điều thiện, chăm chỉ bố thí. Tương truyền có một lần, Lương Vũ Đế đã bố thí cho chùa 211 thứ gồm tiền, bạc, lụa, thiếc v..v….tổng trị giá là 10.960.000 quan (10) tiền. Vua đã làm như vậy, kẻ hạ thần cũng bắt chước.

Thái tử, quan lại trong triều, thảo dân tất cả đều coi bố thí cho chùa là một biện pháp gieo giắc vườn phúc. Có một số thảo dân đã đem tiền bán vợ đợ con của mình đi bố thí cho chùa, điều đó có thể thấy sự lôi cuốn đã tiềm ẩn trong lòng người trong việc tôn sùng Phật giáo một khi đã được Hoàng Đế đích thân đề xướng.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 29, 2011, 07:26:23 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 04:45:06 am »

(tiếp theo)

Tổ chức những lễ hội Phật giáo linh đình cũng là niềm đam mê của Lương Vũ Đế. Theo sử sách, Lương Vũ Đế rất hay tổ chức lễ hội như lễ làm cỗ chay các món sơn hào hải vị, lễ làm cỗ chay tết Vu Lan, lễ hội Vô Ngại, lễ hội Bình Đẳng, lễ hội Vô Giá cho tứ bộ ( gồm tăng, ni, thiện nam, thiện nữ). Những lễ hội như vậy đã thu hút đến hàng nghìn, hàng vạn người tham gia. T

rong những lễ hội về Phật Pháp như vậy, Lương Vũ Đế còn đích thân bước lên đài cao để giảng kinh, nhiều lần tổ chức sám hối tại các lễ hội Phật giáo, ông đã từng tổ chức lễ hội sám hối Phật giáo như: Sám Hối Niết Bàn,, sám hối Đại Bát Nhã, sám hối bát Nhã Kim Cang. Các bài sám hối này về sau được mọi người thu nhập lại đóng thành quyển gọi là “ Lương Đế Hối Kinh”, sau đó lại ghép vào trong cuốn” Đại Tạng Kinh” của Phật giáo.

Cùng với việc tổ chức các lễ hội Phật giáo, có lúc Lương Vũ Đế còn tuyên bố đại xá cho thiên hạ, phóng thích những phạm nhân đang bị giam cầm, với ý muốn là cho những người này được hưởng ân trạch của Bồ Tát Hoàng Đế. Theo thống kê của những sử tịch có liên quan, trong 48 năm cầm quyền. Lương Vũ Đế đã từng tổ chức hơn 16 lần các lễ hội Phật giáo với khoảng hơn một vạn người tham gia, cứ trung bình ba năm tổ chức một lần.

Việc Lương Vũ Đế quy y Phật có một chuyện mà mọi người cứ tưởng như đó chỉ là chuyện trong các vở kịch mà thôi. Tứ là ông đã 4 lần xả thân ở chùa Đồng Thái. Bốn lần xả thân là:  Một lần xả bỏ vàng bạc của cải, đem toàn bộ quần áo tư trang của mình cúng dường cho chùa; một lần xả thân khác là, ông tự nguyện vào chùa làm các công việc như quét tước, lao dịch phục vụ cho chúng tăng, với ý muốn là tạo công đức sau này được hưởng phúc. Năm đầu tiên của Đại Thông ( năm 257 sau Công nguyên) lúc đó Lương Vũ Đế khoảng 61 tuổi, và ông làm Hoàng Đế được 25 năm.

Vào tháng ba năm đó, ông đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, quyết tâm xả thân ở ngôi chùa này. Nhưng sau đó được các hạ thần và chúng tăng khuyên giải, bốn năm sau ông lại lên kiệu trở về cung. Lần xả thân lần này của ông không được thành công như mong muốn, nhưng ông ta đã lập tức đại xá cho thiên hạ, đồng thời đổi liên hiệu Đại Thông. Hai năm sau đó, tức là vào năm 259 sau Công nguyên. Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, ở đó ông mở lễ hội Vô Giá cho tứ bộ.

Tại lễ hội đó, Lương Vũ Đế đã cởi bộ long bào mà mặc vào bộ pháp y, ăn nghỉ tại một căn phòng rất giản dị trong chùa, lần này quyết tâm quyết ý xả thân. Quần thần đã nhiều lần khuyên giải, nhưng ông vẫn quyết tâm không trở về cung. Không còn cách nào khác, quần thần đành phải lấy 100.000 quan tiền để xin nhà chùa cho chuộc lại Bồ tát Hoàng Đế. Tăng chúng tại chùa Đồng Thái thấy quần chúng muốn chuộc lại Bồ tát Hoàng Đế với số tiền vàng to lớn như vậy, nhưng họ vẫn một mực không đồng ý; quần thần lại nhiều lần van lạy Lương Vũ Đế về Cung, mãi đến lúc này Lương Vũ Đế đã từng hai lần gửi lại sách để lại chùa Đồng Thái, trong sách đó ông đã nói rõ những điều khó hiểu, và trong các quyển sách đó ông luôn luôn dùng hai chữ “Đốn Thủ”, điều đó cho thấy rõ thái độ thành tâm thành kính của Lương Vũ Đế với Phật giáo và tăng chúng. Lần này xả thân ở chùa Đồng Thái, Lương Vũ Đế đã hơn 66 tuổi.

Vào năm 546 sau Công nguyên, tức là cách 17 năm so với lần sả thân trước, lúc này Lương Vũ Đế đã 83 tuổi. Vào năm đó Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, lại quyết tâm xả thân ở nơi đây, mặc cho quân thần van xin khuyên giải. Không có ý muốn trở về cung, Lương Vũ Đế ở luôn trong chùa đó hơn một tháng, sau đó Thái Tử là Tiêu Cương đến, dẫn theo quân thần và một số tiền vàng lớn để mong chuộc lại, lúc này bất đắc dĩ Lương Vũ Đế mới trở về cung, nhưng ông ta yêu cầu trước khi mình dời chùa này, lại phải tổ chức một lễ hội Phật giáo nữa, đồng thời đại xá cho thiên hạ.

Chiều ý của Lương Vũ Đế, Hoàng Thái Tử Tiêu Cương cùng quần thần đã cho mở lễ hội Phật giáo, sau khi đích thân Lương Vũ Đế ban sắc lệnh đại xá cho thiên hạ, lúc này ông mới trở về Cung. Vào năm sau, tức là vào năm 547 sau Công nguyên, Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, lại mở lễ hội vô giá, lại cởi bộ bào để mặc lên bộ pháp y, lại sống trong một căn phòng rất giản dị, quyết tâm chỉ xả thân. Lúc này Lương Vũ Đế đã 84 tuổi. Ông lại sống trong chùa Đồng Thái hơn một tháng, quần thần lại xin dùng số tiền hơn hàng tỉ quan(100.000)(11) để chuộc ông trở về, quần thần lại đồng ý để ông ta làm lễ tạ ơn, các tăng ni trong chùa như lần trước. Lương Vũ Đế bốn lần xả thân, trong đó có hai lần ông ta cương quyết nhất, lần trước và lần sau cách 20 năm, trong đó hai lần quần thần sẵn sàng đặt số tiền hàng tỉ quan để chuộc ông về.

Do Lương Vũ Đế xả thân cầu đạo mà chùa Đồng Thái trở nên giàu có vô cùng. Sở dĩ Lương Vũ Đế muốn xả thân đến với Phật giáo mà không muốn tiếp tục làm Đế Vương nữa phần lớn là do tín ngưỡng chủ quan của ông. Ngoài việc ấy ra  trong bối cảnh tuổi cao sức yếu và tình thế chính trị ngày càng bất ổn, ông ta muốn tỏ lòng thành kính vô cùng của mình đối với Phật giáo, không còn lưu luyến gì với ngôi báu Đế Vương nữa. Đồng thời ông tự mình làm gương cho mọi người để dấy lên một phong trào tôn thờ Phật giáo trong nhân dân, mở rộng uy thế, tiếng tăm của Phật giáo, từ đó mà thu hút sự chú ý của mọi người.

Ngoài ra, thông hành qua hành động xả thân, ông ta còn muốn kiểm nghiệm mức độ trung thành của con cái, những người thân thuộc, bách quan quần thần đối với mình, qua đó tăng cường xây dựng quyền uy tuyệt đối của mình. Nhưng việc Lương Vũ Đế xả thân đến với Phật giáo, cho dù là có mặt cũng đáng chê bai, cũng đáng nực cười, nhưng trong đó đã ẩn chứa ý đồ là một mũi tên trúng nhiều đích.

Do đó, không thể đánh giá một cách đơn giản rằng, Lương Vũ Đế từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật hay là xả thân cầu Phật. Trên thực tế trong 48 năm trị vì, ông ta là một con người thành tâm thờ Phật. Do ông đã thành tâm tôn thờ, nên Phật giáo đã được phát triển tương đối ở Nam Triều; một số hành động của ông đã khuyến khích sự phát triển của Phật giáo. Ông ta rất ưu đãi các tăng lữ Phật giáo, ban thưởng cho những ai học giáo lý Phật giáo. Hồi đó có một số tăng sĩ Phật giáo nổi tiếng như Bảo Lượng, Chí Tạng, Tăng Mân, Pháp Vân, Pháp Hiến, Tăng Thiên, Tuệ Siêu, Minh Triệt, v.v…đều nhận được sự sùng kính của Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế thường xuyên cho họ đi giảng kinh thuyết pháp, khích lệ họ làm các công việc như viết sách về đề tài Phật học.

Đối với một số người theo học các tăng sĩ, Lương Vũ Đế đã dành cho họ những địa vị xã hội tương đối cao và được hưởng cuộc sống hậu đãi vô cùng hậu hĩ: Ngài trí Tạng có thể tự do ra vào Hoàng cung, thành chí có thể ngồi bên cạnh ngự toạ trong cung điện; một số tăng sĩ còn được Lương Vũ Đế trực tiếp mời về làm sư trong nhà; có một số người được bổ nhiệm làm Tăng Chính.

Tất cả những hành động đó đã cung cấp những điều kiện tiền đề vô cùng thiết thực cho sự phát triển về lý luận của Phật giáo. Cũng thời gian này, Lương Vũ Đế còn ra sắc lệnh biên dịch thêm một khối lượng lớn điển tịch ( sách cổ) Phật giáo.

Thời kỳ đầu Lương, ở vùng Phù nam ( ngày nay là Cam-pu-chia), các tăng sĩ Ca bà la và Manđàla đã đến vùng Kiện Khang, Lương Vũ Đế liền ra sắc lệnh yêu cầu hai vị tăng này dịch những bộ kinh Phật tiếng Phạn họ mang đến. Ngày đầu dịch kinh, Lương Vũ Đế còn đích thân đến nơi dịch xem họ làm việc, đồng thời ông cũng ra sắc lệnh ông Bảo Xướng, Tuệ Siêu cùng một số tăng sĩ người hán khác giúp đỡ. Họ đã dịch được các bộ kinh như “ kinh A Dục Vương”, “ Giải pháp Đạo Luận” v.v…Tất cả là 11 bộ 38 quyển.

Chẳng bao lâu sau, có một vị tăng chân đế tên là Ưu Thiền Ni từ Ấn Độ sang Kiên Khang, Lương Vũ Đế liền mời ông ta dịch một số kinh Phật như “ Nhiếp Đại Thừa Luận”. Khi Lương Vũ Đế còn trị vì, ông còn ra sắc lệnh yêu cầu các vị cao tăng phải biên soạn một số sách về Phật học, chủ yếu có cuốn “ Kinh Luật Dị Tướng” của Thích Bảo Xướng, cuốn “ Bát Nhã Sao” của Thích Tuệ Lệnh v.v…Trong đó có cuốn “ Kinh Luật dị tướng” của Thích Bảo Xướng là bộ sách đầu tiên về đề tài lịch sử của Phật giáo Trung Quốc.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 04:47:44 am »

(tiếp theo)

Sau khi quy y Phật, Lương Vũ Đế không chỉ là Đế Vương của trần gian, mà ông còn được yêu cầu làm Tăng Chính mặc áo trắng. Tuy đã được các tăng sĩ khuyên can là chấm dứt làm việc đó, nhưng mục đích của việc đó là vì sự nghiêm khắc của giới luật Phật giáo. Sau khi không còn mặc áo trắng làm Tăng Chính nữa, Lương Vũ Đế liền cử ngài Pháp Siêu làm Tăng Chính, quản lí toàn bộ tăng ni.

 Ngài Pháp Siêu phụng mệnh của Lương Vũ Đế đã viết cuốn “ Xuất Yếu Luận Nghĩa” gồm 14 quyển sau đó giao cho Lương Vũ Đế  đi phân phát khắp đất nước, yêu cầu toàn bộ tăng ni Phật giáo trong toàn quốc làm theo quyển sách này. Phật giáo vốn không hề chủ trương ăn chay một cách tuyệt đối. Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc  đến tận thời kỳ Lương, các tăng sĩ xuất gia nói chung vẫn còn ăn mặn ( tức là ăn thịt), nhưng mà họ chỉ ăn cái gọi là “ tam tịnh nhục”. “Tam tịnh nhục” là thịt súc vật mà không do tự tay mình giết, không phải giết để mời mình ăn, hoặc đó là thịt của con vật đã chết rồi; cách giải thích thứ hai thì “ tam tịnh nhục” là một thứ thịt xúc vật do mình không tận mắt chứng kiến họ giết, không nghe thấy tiếng kêu thét của con vật bị giết, không phải tự mình giết để mình ăn. Trước thời kỳ Lương Vũ Đế, các tu sĩ xuất gia của Phật giáo đều có thể ăn “ tam tịnh nhục”.

Sau khi quy y Phật, Lương Vũ Đế phải quyết tâm thay đổi bằng được tập quán ăn thịt của các tu sĩ xuất gia. Để tuyên truyền và quán triệt chủ trương không ăn thịt, ông ta đã viết một quyển sách gồm 4 tập lấy tên là “Đoạn Tửu Nhục Văn”. Ông nêu rõ:” Tất cả những tăng sĩ đều được tin tưởng một cách đúng đắn luật nhân quả, kinh thuyết, Phật thuyết. Kinh Phật đã nói rõ làm ác chắc sẽ có ác báo, làm thiện sẽ có thiện báo, tu sĩ xuất gia cần phải coi việc thiện làm gốc, không nên ăn thịt ăn cá. Giờ đây đệ tử của Phật mà vẫn còn thèm thịt, thì điều đó là tội lỗi, lỗi này nhất định sẽ bị quả báo. Do đó, những tăng sĩ cần phải đoạn tuyệt với việc ăn thịt ăn cá và uống rượu”.

Cơ sở lý luận của Lương Vũ Đế chủ yếu là theo giáo nghĩa Phật giáo đại thừa, tức là tăng sĩ cần phải có tấm lòng từ bi rộng lớn để rồi không thể gây lên tội lỗi nữa. Để chủ trương này được quán triệt, Lương Vũ Đế đã dùng quyền lực của một vị Đế Vương trần gian ra sắc lệnh yêu cầu tất cả tăng ni không được tiếp tục ăn thịt ăn cá nữa.

Ông nói rõ: “ Tăng chúng ngày nay mỗi người đều phải cần kiệm, nếu như đã mặc áo của Như Lai (11) mà không làm việc của Như Lai thì đó chỉ là những kẻ giả danh tăng sĩ, họ chẳng khác gì những tên đạo tặc. Nếu như có tăng sĩ nào vẫn tiếp tục thèm thịt và thèm rượu, thì cứ theo phép Vua mà sử tội” do đó, kể từ thời Lương Vũ Đế trị vì ở đất Hán đã hình thành một phong tục mà tăng sĩ ( xuất gia) và các cư sĩ ( tại gia) nhất luận ăn chay. Đây là một điểm riêng so với giáo nghĩa Phật giáo ở một số nơi khác ( như vùng Tây Tạng và một số quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á và Nhật Bản).

Trong vòng 48 năm trị vì của mình, Lương Vũ Đế không chỉ tu hành theo đúng giới luật quy định cho một cư sĩ Phật giáo như ăn chay, không uống rượu, không xem và nghe ca, múa nhạc, kiêng khem việc ân ái vợ chồng v.v…Ông ta còn làm công việc viết sách Phật học. Các tác phẩm về Phật học của ông ta chủ yếu là một số chuyện chú giải về kinh Phật và văn sám hối, tổng hợp có hơn 16 loại. Có một số sử tịch ( sách sử cổ) còn nói rằng, Lương Vũ Đế không chỉ tin chánh pháp một cách đúng đắn, giỏi về kinh điển của Thích Ca Giáo, ý nghĩ luôn luôn trong sáng, làm việc gì cũng soi xét kỹ càng và làm đến nơi đến chốn.

Ông ta không chỉ có trình độ khá cao về Phật học, mà ông ta còn giỏi về nhiều trong thứ lục nghệ của thế gian, giỏi chơi cờ cùng một số trò chơi khác, biết xem đất thổ địa, xem bói quẻ bói bài, thứ gì ông ta cũng biết, cũng giỏi. Ông ta cũng siêng năng văn chương học hành, cưỡi ngựa, bắn cung, không thứ gì không giỏi. Đúng như sử tịch ( sách sử cổ) đã từng ca ngợi về ông ta, Lương Vũ Đế quả thực là một con người đa tài năng. Ngoài việc viết sách về Phật học, Lương Vũ Đế cũng viết về một lượng sách đồ sộ về nho học và Đạo giáo.

Theo ghi chép trong sử tịch, ông ta đã từng biên soạn hơn 200 cuốn sách như “ Chế Chỉ Hiếu Kính Nghĩa”,” Trung Dung Giảng Sớ”.” Mao Thi Vấn Đáp”,” Xuân Thu Vấn Đáp”,” Thượng Thư Đại Nghĩa”,” Lão Tử Giảng Sớ”.” Khổng Tử Chính Nghĩa” v.v…Ông ta còn viết bộ “ Thông Sử” gồm 600 quyển và bộ “ Kim Hải” 30 cuốn. Thông qua số lượng sách đồ sộ như vậy, ta có thể thấy rằng Lương Vũ Đế từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, đồng thời ông sùng bái Phật giáo không giống như sự sùng bái mù quáng của một số Đế Vương phong kiến đối với Phật giáo, mà sự tôn sùng của ông có một số tư tưởng nhất định. Điều này được thể hiện rõ nét nhất ở chỗ là tư tưởng tam giáo đồng nguyên và tam tam giáo tịnh dụng của ông ta.

Ngay từ thời Tây Tấn, Đạo sĩ Vương Phù đã từng viết cuốn “ Lão Tử Hoá Hồ Kinh”, nói rằng Thích Ca Mâu Ni chính là đệ tử của Lão Tử mà Lão Tử đã hoá phép nên sau khi Lão Tử chuyển xuống sinh sống ở vùng miền Tây. Mục đích của cuốn sách đó là muốn nâng cao vị trí của Đạo giáo. Đến thời kỳ Nam Bắc Triều, một số tăng sĩ Phật giáo đã sửa lại truyện Lão Tử hoá phép thành người Hồ thành chuyện Phật hoá phép ra Lão Tử và Khổng Tử. Có một số kinh Phật thì nói rằng, sau khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật ngài liền cử ba đệ tử lớn nhất của mình đến vùng Trấn Đán ( Trung Quốc ngày nay) để tiến hành giáo hoá.

Một người được gọi là Nho Đồng Bồ Tát đó chính là Khổng Tử; một người được gọi là Tịnh Quang Bồ Tát, đó chính là ngài Nhan Hồi, đệ tử của Khổng Tử; một người nữa là Ma Ha Ca Diếp đó chính là Lão Tử, v.v…Tư tưởng Tam Giáo Đồng Nguyên và Tam Giáo Tịnh Dụng của Lương Vũ Đế vừa mới ra đời, lập tức ông lấy đó làm tiền đề. Ngay từ khi ông đã từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, ông đã từng ra chiếu thư chỉ rõ:” Tôn giáo trên thế gian có 96 loại nhưng chỉ có Phật giáo là con đường đúng đắn, còn lại 95 loại đều là tà đạo. Nay ta muốn từ bỏ tà đạo vớ vẩn kia đi, mà chỉ coi Phật giáo là chính đạo. Lão Tử, Chu Công, Khổng Tử, v.v…tuy đều là đệ tử của Như Lai, nhưng vẫn còn theo tà đạo, chỉ làm những việc thiện ở thế gian, không muốn vứt bỏ phàm tục để tu thành thánh.

Do đó làm Phật sự là phải tin tưởng một cách tuyệt đối và phải có lòng kiên cường, còn làm việc Lão Tử thì niềm tin bay bổng và rất yếu ớt, do đó ta cần phải bỏ một niềm tin yếu ớt, bay bổng đó đi để theo chánh tín”. Trong chiếu thư đó Lương Vũ Đế đã coi Lão Tử , Chu Công, Khổng Tử là đệ tử của Phật đà, trên thực tế là ông muốn nói rõ Nho Giáo và Đạo giáo bắt nguồn từ Phật giáo. Trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo, Phật giáo là chính đạo, Nho Giáo Đạo giáo là tà đạo. Nho Giáo, Đạo giáo không thể giúp cho con người thoát được vòng luôn hồi sinh tử để tu thành Phật. Nhưng Nho Giáo, Đạo giáo giúp con người ta trở nên thiện hơn, hữu ích hơn, do đó vẫn cần phải đề xướng.

Trong cuốn “ Thuật Tam Giáo Thi” của mình, Lương Vũ Đế cũng thể hiện rõ tư tưởng tam giáo đồng nguyên và tam giáo tịnh dụng. Trong bài thơ ông có viết:” Thuở nhỏ ta đã học Chu Khổng, ta đã học hết sáu kinh. Hiếu nghĩa bầy ra trong sách, lòng nhân từ đầy trong sách sử. Lời thô tục thì quý ở chỗ không bay bổng, làm việc thiện tốt ở cái tâm cái đức của chúng sinh. T

rong lòng ghi nhớ sách Đạo giáo hữu danh và vô danh, điều tốt đã khắc ở bảng vàng. Lời nói thẳng là có ý tốt, việc làm thường quý ở chỗ âm đức(12). Con người thanh cao thì được sống lâu. Cuối đời được đọc sách Phật, luôn luôn hiện sao sáng.

Chịu khó tu tập thì trí tuệ sẽ sáng, luật nhân quả sẽ hiểu rõ hơn. Các giáo phái đều bình đẳng, đều trở về chỗ không sinh. Cần phải hiểu rõ tất cả đều là con của một gốc, cầm bút viết phải biết rằng mình không hề run sợ, một nguồn không thể có hai thánh, chân lý thiện không thể chia ba”.

Những điều đó Lương Vũ Đế đã tổng kết suốt quá trình học tập của mình, tức là suốt quá trình từ khi đi học Nho Giáo, học Đạo giáo đến khi tôn sùng Phật giáo và học Phật Pháp. Ở đó ta cũng thấy rõ thái độ của ông ta đối với cả ba tôn giáo; ông ta cho rằng tam giáo đồng nguyên, nhưng chỉ duy nhất có Phật giáo là tôn giáo toả sáng nhất.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 04:50:46 am »

(tiếp theo)

Từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật đó là sự thay đổi vô cùng lớn lao trong tín ngưỡng đối với bản thân Lương Vũ Đế. Mặc dù sự thay đổi này đã tạo nên ảnh hưởng xã hội vô cùng to lớn. Nhưng từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật không có nghĩa là Lương Vũ Đế từ bỏ luôn sự tôn trọng, sự mến mộ đối với Đạo giáo và Nho Giáo, hoặc là dùng Phật giáo để bài xích Nho Giáo và Đạo giáo để quy y Phật chỉ là biểu hiện điểm chủ yếu trong lĩnh vực tôn giáo mà thôi.

Đối với học thuyết đạo gia và Đạo giáo, Lương Vũ Đế vẫn vô cùng sùng tín, bản thân ông ta vẫn thường xuyên giảng “ Lão Tử” và “ Trang Tử” cho các thần liêu. Hồi đó ông ta có mỗi quan hệ vô cùng đặc biệt với một đạo sĩ nổi tiếng của Đạo giáo tên là Đào Hoằng Cảnh. Khi nghe Lương Vũ Đế khởi binh, Đào Hoằng Cảnh lập tức cử em mình đến ủng hộ, lại viết lời sấm thành chữ “ lương”, sau đó lệnh cho em mình đem vào. Sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Lương Vũ Đế lại càng ưu đãi Đào Hoằng Cảnh , thường xuyên qua lại thăm viếng, chuyện trò với nhau. Đào Hoằng Cảnh đã dùng tài đạo thuật của mình làm lịch năm, thần đan cho Lương Vũ Đế.

Lương Vũ Đế phục thần đan linh nghiệm càng tỏ ra kính trọng Đào Hoằng Cảnh, mỗi lần được Đào Hoằng Cảnh tặng sách, Lương Vũ Đế đều thắp hương làm lễ đón nhận rất thành kính. Lương Vũ Đế đã nhiều lần giáng sắc lệnh yêu cầu Đào Hoằng Cảnh xuống núi giúp ông việc quốc gia, nhưng đều bị ông từ chối; Lương Vũ Đế lại đành phải mỗi khi có đại sự hay có điềm báo trước hung dữ đều thân đến hỏi ý kiến của Đào Hoằng Cảnh, do đó mà Đào Hoằng Cảnh được người lúc bấy giờ đặt cho cái tên là “ Tể Tướng trong núi”. Điều đó có thể cho thấy, Lương Vũ Đế không hề hoàn toàn bỏ Đạo giáo.

Đối với Nho Giáo, Lương Vũ Đế càng coi trọng hơn. Một năm sau ngày ông từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, liền hạ chiếu đặt “ngũ kinh” là  hàm bắc học. Thêm vào đó đặt “ Hiếu kinh” là một thứ trợ giáo. Bản thân ông ta còn viết cuốn trường thiên ( nhiều chương) “ Hiếu tư phú”, ca ngợi tư tưởng trung hiếu lưỡng toàn của Nho gia. Trong đó ông ta cũng có nhắc đến chuyện bản thân mình đã đọc “ Hữu tử truyện” mỗi lần ông ta nhớ đến câu chuyện cảm động về Thầy Tử Lộ đã kể chuyện với Khổng Tử về việc hiếu thảo với song thân, thì ông cảm kích vô cùng:” Mỗi lần nhớ đến câu chuyện ấy, việc đã qua nhưng ý tưởng vẫn còn, công ơn cha mẹ sao báo đáp hết được!” Về chuyện này, Lương Vũ Đế đã trở thành một hình tượng nêu lên tư tưởng hiếu nghĩa của Nho Gia. Ông ta từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, cho xây dựng thêm nhiều chùa, trong đó có những ngôi chùa như Đại Ái Kính, Chí Lộ, chính là những ngôi chùa mà ông xây dựng cho cha mẹ mình, điều đó đã biểu lộ tinh thần nhớ đến công ơn của cha mẹ, đồng thời cũng tuyên truyền hai thuyết giáo là trung hiếu của Nho Giáo và báo ứng của Phật giáo, trong đó ông cũng có ý muốn nối liền Nho Giáo và Thích Ca giáo.


Do đó chúng ta có thể kết luận rằng, Lương Vũ Đế vừa là vị Đế Vương phong kiến rất có tài năng, vừa là tín đồ Phật giáo am hiểu sâu về Phật giáo. Trong 48 năm trị vì, ông đã thúc đẩy Phật giáo ở vùng Giang Nam phát triển mạnh mẽ hơn, hơn thế nữa thông qua bản thân mình và thông qua sự đề xướng cũng như sự chỉ đạo của chính mình, ông ta bước đầu đã giải quyết được sự xung đột do mâu thuẫn giữa Phật giáo và nền tư tưởng văn hóa truyền thống của Trung Quốc. Đặc biệt là tư tưởng tam giáo đồng nguyên và tam giáo tịnh dụng của ông ta, thực ra đó là một sự tổng kết về sự xung đột do mâu thuẫn kể trên; nó cũng có ý nghĩa về mặt lịch sử nhất định.

Nho Giáo thì nói rõ khi trị quốc bình thiên hạ, cần phải giữ tam cương ngũ thường của phong kiến, nội dung của Nho Giáo vừa có lý luận chính trị xã hội, vừa chứa đựng cả học thuyết đạo đức luân lí. Do đó Nho Giáo được các vị thống trị phong kiến Trung Quốc tôn thờ là tư tưởng thống trị chính thống; Còn trong Đạo gia và Đạo giáo có nội dung về phép thuật chính trị các mưu đồ, mưu lược, còn nói rõ giảm bớt ham muốn, tu dưỡng đức tính để thành tiên, vừa có thể thoả mãn ảo tưởng trường sinh bất lão mà giai cấp thống trị đang mong muốn, đang theo đuổi, nó lại vừa là tín ngưỡng tôn giáo bình thường và phổ cập cho toàn xã hội; Phật giáo thì dùng thuyết nhân quả báo ứng để giải thích sự giàu nghèo và thứ bậc cao thấp trong xã hội, lợi dụng việc giải thoát thế sự tu thành Phật để mang đến cho con người, một sự gửi gắm về tinh thần nào đó.

 Có thể thấy rằng, từ những góc độ khác nhau bằng cách đánh giá khác nhau, thì cả ba tôn giáo trên đều có một mục đích chung là duy trì và giữ gìn, củng cố trật tự cai trị của giai cấp phong kiến. Điều đó chính là chủ trương tam giáo đồng nguyên (13), và cũng là nền móng của chính sách tam giáo tịnh dụng(14) của Lương Vũ Đế.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 04:52:53 am »

(tiếp theo)

Biện Tiên sau nạn khởi tiêu tường

Vũ Văn Ung hai lần hưng pháp hoạ

 

Những năm cuối thời Bắc Nguỵ, mâu thuẫn giai cấp càng trở nên gay gắt, xã hội loạn lạc bất ổn,  sự đấu tranh để tranh quyền đoạt vị trong nội bộ giai cấp thống trị cũng ngày càng gay gắt, do đó mà chính quyền phong kiến phía Bắc Nguỵ đã cai trị phía Bắc Trung Quốc quãng 150 năm nay cũng nảy sinh chia rẽ. Năm Vĩnh Hi thứ 3( năm 534 sau Công nguyên) Bắc Nguỵ Hiếu Vũ Đế Nguyên Tu phải chạy  về phía Tây đến  Trường An. Bắc Nguỵ Bộ tướng tên là Cao Hỉ lập người khác tên là Hiếu Tịnh Đế Nguyên Thiện Kiến, dời đô về Nghiệp Thành. Từ đó trở đi, chế độ thống trị ở phương Bắc Trung Quốc được cai quản bằng hai chính quyền phong kiến với hai trung tâm là Trường An và Nghiệp Thành. Về mặt lịch sử, người ta gọi đó là Tây Nguỵ. Năm 550 sau Công nguyên, con trai của Cao Hỉ là Cao Dương phế nhà Đông Nguỵ, thiết lập nên chính quyền Bắc Tề. Bảy năm sau, ông Vũ Văn Giác ở Trường An cũng đã phế nhà Tây Nguỵ, lập nên chính quyền nhà Bắc Chu. Năm 577 sau Công nguyên, Bắc Chu diệt Bắc Tề. Đến năm 580 sau Công nguyên, nhà Bắc Chu về cơ bản đã thống nhất toàn bộ phương Bắc Trung Quốc. Vào năm sau, một người họ hàng ngoại tộc nhà Bắc Chu tên là Dương Kiên đã phế nhà Bắc Chu lập lên nhà Tuỳ.

Do Thái Vũ Đế nhà Bắc Nguỵ có hành động diệt Pháp khiến cho Phật giáo ở phương Bắc lâm vào cảnh bị huỷ hoại một cách trầm trọng, nhưng Văn Thành Đế lại khát khao phục hưng Phật Pháp, nên Phật giáo Bắc Triều lại mau chóng được hưng thịnh trở lại. Chịu ảnh hưởng hoàn cảnh xã hội và văn hoá tư tưởng, nền Phật giáo Bắc triều cũng có đặc điểm hết sức nổi bật. Trước tiên, Phật giáo ở Bắc Triều chú trọng việc tu hành theo tông giáo thiền và giữ giới, điều này khác hẳn với tình hình Phật giáo ở Nam Triều là chỉ chú trọng giáo nghĩa, giải thích Phật giáo theo kiểu huyền bí khó hiểu; thứ hai nền Phật giáo ở Bắc triều rất chú trọng việc xây dựng chùa tạc tượng, lấy đó làm hành động tích luỹ công đức công đức để xây dựng nền móng cho kiếp sau. Theo sách sử, những năm cuối thời Bắc Nguỵ, sự phân bố các chùa ở Miền Bắc chỉ có Lạc Dương, và trong thành Lạc Dương thì có hơn 1000 ngôi chùa; tất cả các ngôi chùa ở đó đều được xây dựng và trang trí rất xa hoa lộng lẫy. Nhưng cũng theo ghi chép của sử tịch, chỉ sau hơn 20 năm xây dựng đất nước, trong nội địa nhà Bắc Tề có khoảng hơn 4000 ngôi chùa, tăng ni có quãng hơn 2 vạn. Trong nội địa nhà Bắc Chu cũng có khoảng gần 1000 ngôi chùa. Điều đó có thể cho thấy rõ sự hưng thịnh xưa nay chưa từng có của Phật giáo Bắc triều.

Sự phát triển đó của Phật giáo phương Bắc có mối liên hệ trực tiếp với sự khởi xướng phục hồi Phật giáo của các Đế Vương Bắc Triều. Nhưng môi trường phát triển của Phật giáo Bắc triều không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Quãng 100 năm sau khi Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế Thác Bạt Đạo huỷ diệt Phật Pháp, thì lại đến Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung một lần nữa khởi xướng việc huỷ diệt Phật Pháp.

Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung lên ngôi vào năm 560 sau Công nguyên. Theo ghi chép, lúc đầu mới lên ngôi, Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung rất có cảm tình với Phật giáo, ông đã từng cho tạc tượng Thích Ca Mâu Ni sơn son thiếp vàng cao 1 trượng (14) 6 xích (4,5m), đồng thời cho đúc và cho tạc quãng 220 bức tượng về Bồ tát, Thánh Tăng, Thầy Trò Kim Cương vây quanh Bảo Tháp v.v…ông còn ra sắc lệnh xây dựng các ngôi chùa như chùa Ninh Quốc, chùa Hội Xương, chùa Vĩnh Ninh v.v…ông còn để dành một khoản ngân khố (15) nuôi 1800 tăng sĩ, tổ chức người chép hơn 1700 bộ kinh luận Phật giáo. Điêu đó có thể thấy rằng, lúc đầu lên ngôi, về cơ bản Vũ Văn Ung là một con người rất có nhiệt huyết trong Phật sự. Lịch sử Phật giáo có sự chuyển ngoặt. Sở dĩ Bắc Chu Vũ Đến muốn diệt Phật Pháp là vì bị xúi dục và ủng hộ của một đạo sĩ Đạo giáo tên là Trương Tân và một tăng sĩ Phật giáo tên là Vệ Nguyên Tung. Nhưng trên thực tế, lúc đầu Bắc Chu Vũ Đế  hoàn toàn không có ý diệt Phật Pháp, mà chỉ muốn đứng từ góc độ sự tồn vong của nền chính trị phong kiến mà thảo luận kĩ xem trong ba tôn giáo là Nho Giáo,Đạo giáo, Thích Ca giáo , thì tôn giáo nào có lợi nhất trong nền thống trị của phong kiến, để rồi từ đó xếp đặt thứ bậc của ba tôn giáo. Trong quá trình thực hiện việc đó mà xếp đặt thứ bậc của ba tôn giáo. Trong quá trình thực hiện việc đó, giữa ba tôn giáo xảy ra một sự đấu tranh vô cùng gay gắt, đặc biệt là giữa Phật giáo và Đạo giáo. Hai tôn giáo này thì gần như một mất một còn, không ai chịu nhường ai. Cuối cùng là dẫn đến bi kịch của lịch sử là diệt Phật Pháp. Trong đó có một số cách lí luận và đánh giá của các ông như Vệ Nguyên Tung, Trương Tân và một số người khác đã dẫn đến lòng quyết tâm tiêu diệt Phật Pháp của Bắc Chu Vũ Văn Ung.

Vào quãng năm đầu tiên của Thiên Hoà ( năm 566 sau Công nguyên), Bắc Chu Vũ Đế đã nhiều lần hạ chiếu lệnh tập hợp các quần thần, các Sa môn, các Đạo sĩ Đạo giáo để thảo luận về vấn đề Nho Giáo, Thích Ca giáo và Đạo giáo. Ông ta yêu cầu các tăng sĩ cùng những người ở thế tục cứ tự do phát biểu, ai có ý kiến gì cứ thoải mái nói ra. Do đó sự đề xướng của ông ta, vào năm Thiên Hoà thứ hai( năm 567 sau Công nguyên), một tăng sĩ tên là Vệ Nguyên Tung đã dâng một chiếu thư lên Bắc Chu Vũ Đế , yêu cầu giảm bớt các chùa và các tăng sĩ. Ông Vệ Nguyên Tung là người Ích Châu thành bộ, thuở niên thiếu đã xuất gia làm tăng, đã từng được coi như một tăng sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, nhưng hết thời. Theo truyền thuyết, Vệ Nguyên Tung rất giỏi về việc bói toán âm dương, xem ngày kén giờ. Ông ta cũng khá nổi tiếng với dáng vẻ giả điên giả dại, đi lang thang khắp nơi, thu thập các câu thơ về sấm ký để dự đoán về tương lai. Về sau ông mặc cả áo của thế tục đến trước Thục và vào Trường An, kết bạn với rất nhiều kẻ quyền quý ở Bắc Chu, và cũng được sự coi trọng của Bắc Chu Vũ Đế. Trong chiếu thư của Vệ Nguyên Tung dâng lên Bắc Chu Vũ Đế, ông ta đã liệt kê ra 15 điều. Nội dung chủ yếu của nó là: Thứ nhất, các chùa thờ Phật cùng các tượng Phật chẳng có lợi ích gì cho việc trị quốc an dân, vậy nên phá bỏ.

Ông ta nói rõ, truyền thuyết từ thuở bình mình khai thiên lập địa đến nay, đất nước không hề có Phật giáo, thiên hạ vẫn ổn định; nhưng từ khi Phật giáo thịnh hành cùng Nam Triều, chùa chiền mọc lên san sát, nhưng ngược lại lại đẩy đất nước vào cảnh suy vong. Điều đó có thể thấy lòng ngưỡng mộ Phật không chỉ có ở chỗ xây dựng thật nhiều chùa chiền, mà phải hiểu cái tinh thần cơ bản của Phật giáo, tức là phải lấy đại từ đại bi làm gốc, cuộc sống dân được an lạc, lợi quốc lợi dân.

Theo tinh thần này thì không nên bắt nhân dân phải đóng góp nhiều để xây chùa chiền, mà cũng chẳng cần phải quỳ bái mấy bức tượng Phật gỗ hoặc bằng đất sét. Thứ hai, cần phải cải cách triệt để Phật giáo, đặt Phật giáo vào trong quốc pháp của thế tục.

Ông ta cho rằng, cần phải thiết lập một xã hội lí tưởng, trong đó ba tôn giáo là Nho Giáo, Phật giáo, và Đạo giáo cần phải hoà hợp. Trong xã hội đó, Hoàng Đế cũng giống như Phật tổ, cần phải được sự tôn kính quý trọng của tất cả mọi người. Các tín đồ Phật giáo, cho dù là các Tăng sĩ ( xuất gia) hay người thế tục ( cư sĩ), nếu từ bỏ sự chi phối của cuộc sống vợ chồng thì nó có thể đắc đạo.

 
(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 04:58:04 am »

(tiếp theo)

Không cần phải xây chùa, hệ thống tổ chức của giáo hội cần phải hoà hợp với xã hội ở thế tục, đạo đức của Phật giáo chính là đạo đức của xã hội. Thứ ba, cần phải thông qua biện pháp kinh tế để thay đổi thói hư tật xấu, tham lam gian trá trong giới Phật giáo. Ông ta chỉ rõ, đối với  một số người nghèo khổ nhưng có đức hạnh, thì chỉ cần thu tô mà miễn cho họ lao dịch, những tăng sĩ giàu có mà đức hạnh thiếu kém cỏi, thì ngoài việc thu nạp tô ra, cần bắt họ đi lao dịch, lấy đó là cơ sở để trừng trị thói tham lam bủn xỉn, giáo dục lòng trung hiếu, điều đó sẽ đạt được mục đích cần làm thay đổi thói tham lam đồi bại trong giới Phật giáo.

Những luận điểm trên đây của ông Vệ Nguyên Tung chủ yếu là tấn công thẳng vào thực tế của hiện tượng chỉ giỏi lý luận suông mà vẫn tham lam hủ bại trong giới Phật giáo lúc bấy giờ. Từ đó mà ông ta nêu ra một biện pháp có tính chất cơ bản nhằm cải cách Phật giáo. Ông ta không hề có ý phế bỏ Phật giáo, nhưng ông ta muốn Phật giáo là một tôn giáo tồn tại với mục đích đại từ đại bi, bảo vệ lợi ích cho chúng sinh, an lạc bình đẳng, từ đó giúp cho Phật giáo tiếp tục phát triển. Do đó sau khi xem bức chiếu thư này, Bắc Chu Vũ Đế liền vô cùng vui thích.

Nhất là trong bức chiếu đó, vệ Nguyên Tung lại tán dương Chu Vũ Đế là một con người tích cực lo việc nước, lợi nước lợi dân, quả đáng là một bậc Như Lai của Dương Thế; yêu cầu toàn bộ tăng ni thế tục trong cả nước phải tôn kính; điều này càng làm cho Bắc Chu Vũ Đế vui thích.

Sự kiến giải của Vệ Nguyên Tung ở một ý nghĩa nhất định nào đó đã càng củng cố cho lòng quyết tâm sắp đặt các ngôi thứ các tôn giáo của Bắc Chu Vũ Đế. Năm Thiên Hoà thứ 4 ( năm 569 sau Công nguyên) Chu Vũ Đế chiêu tập thần liêu, chúng tăng Sa môn, đạo sĩ Đạo giáo tại chính diện, thảo luận những ưu khuyết điểm của ba tôn giáo. Qua một hồi lâu thảo luận cùng tranh luận, Chu Vũ Đế đặt Nho Giáo lên hàng đầu, đặt Phật giáo ở cuối cùng và để Đạo giáo vào đầu tiên của vô danh, và đặt lên trước cả Thích Ca giáo( tức là Phật giáo).

Sau đó không bao lâu Chu Vũ Đế lại triệu tập tiến hành cuộc thảo luận. Ông ta cho rằng:” Nho giáo, Đạo giáo xưa nay vẫn được nhân dân cả nước tôn trọng, còn tương lai của Phật giáo thì Trẫm cũng không mấy tin tưởng”. Do đó có một số người chủ yếu là các Sa môn có ý kiến bất đồng, nên Chu Vũ Đế lập tức ra sắc lệnh cử Tư Mã Đại phu tên là Trần Loan nghiên cứu kỹ càng hai tôn giáo là Phật giáo và Đạo giáo, kiểm định rõ mức độ tốt xấu của hai tôn giáo đó, xem cái nào là thật cái nào là giả, để Chu Vũ Đế ra quyết định cuối cùng.

Chẳng bao lâu sau khi Trân Loan nhận chiếu lệnh, ông ta liền viết cuốn “ Tiếu Đạo Luận”, gồm ba quyển, tất cả có 36 điều, luận cứ của chúng rõ rằng tỉ mỉ, lấy nhiều ví dụ điển hình, tiến hành phản đối và công kích Đạo giáo. Trong cuốn “ Tiểu Đạo Luận” trước tiên ông Trân Loan đã phân tích rạch ròi giữa tổ tiên Đạo giáo và các thế hệ sau, ông khẳng định “ Lão Tử” nhưng lại bài xích Đạo giáo. Tiếp theo ông lại đưa ra rất nhiều tư liệu, tiến hành kiểm tra và kiểm nghiệm đối với thuyết “ Lão Tử Hoá Hồ”; đồng thời cũng nêu lên những luận chứng về sự sai lầm của thuyết “ Lão Tử Hoá Hồ”, Tiếp theo ông chỉ rõ, thuyết thiên địa thần tiên của Đạo giáo là một thuyết rất hoang đường, cái pháp thuật uống thuốc thành tiên của Đạo giáo cũng rất nhảm nhí.

Cuối cùng ông chỉ rõ, kinh điển của Đạo giáo chỉ là một thứ lăng nhăng bậy bạ. “Tiếu Đạo Luận” của ông Trần Loan là một cuốn sách đứng trên lập trường của Phật giáo tiến hành phân tích và bác bỏ rất rõ ràng tỉ mỉ đối với Đạo giáo, trong đó cũng phản ánh nội dung cốt yếu của việc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo ở Bắc Triều. Sau khi cuốn “ Tiếu Đạo Luận” hoàn thành, Chu Vũ Đế lại cho triệu tập cuộc họp giữa bách quan thần liêu cùng các Sa môn, đạo sĩ Đạo giáo để tiến hành thảo luận. Chu Vũ Đế cho rằng chữ “ Luận” ở đây có ý làm tổn hại đến Đạo giáo và đạo sĩ, do đó ông ra lệnh cho mọi người phải tiến hành huỷ ngay không cho phép nó được lưu truyền.

Sau khi cuốn “ Tiếu Đạo Luận” bị thiêu huỷ, một hoà thượng tên là Đạo An(Đạo An thời Bắc Chu, giống tên của Tăng đạo sĩ Đạo An thời Thập lục quốc) cho rằng: Thế tục rất hỗn loạn, sử tịch thì lộn xộn, nhảm nhí, cần phải tiến hành đánh giá xem xét kỹ càng mức độ tốt xấu của ba tôn giáo một lần nữa, do đó ông đã viết cuốn “ Nhị Giáo Luận”. Quyển sách gồm 12 chương, sử dụng đề tài là vấn đáp, người ra câu hỏi xưng tên là cậu bé Dật Tuấn người miền Đông, người trả lời xưng tên là ông Thông Phương của Tây Kinh.

Đứng trên lập trường của Phật giáo, quyển sách đó nhằm thẳng vào quan điểm của ba tôn giáo đang thịnh hành lúc bấy giờ, quyển sách đó cũng đưa ra cách đánh giá của riêng mình. Ông ta cho rằng chỉ có Nho Giáo và Thích Ca giáo được coi là những tôn giáo nhằm giáo hoá chúng sinh, Đạo giáo không thể là một đạo độc lập, nó thuộc về Nho Giáo. Nho Giáo được coi như là một ngoại giáo, nó chỉ nhằm cứu vớt thể xác con người, còn Phật giáo được coi như là nội giáo, nó cứu vớt tinh thần con người.

Nho Giáo chỉ bàn đến những vấn đề thuộc nội tâm con người, không thể giúp con người thoát khỏi vòng luôn hồi sinh tử, nhưng Phật giáo thuộc về một tôn giáo xuất thế, báo ứng thiện ác, nhân quả luôn hồi v.v…Nó dạy bảo con người hãy thoát khỏi những ràng buộc của thế gian để tìm đến cái chân thực của chính mình. So sánh hai tôn giáo đó, Phật giáo có nhiều ưu điểm hơn Nho Giáo.

Ngoài ra cuốn “ Nhị Giáo Luận” còn phê bình cái trò lừa bịp vô căn cứ của Đạo giáo. Đạo An cho rằng, Đạo gia của Lão Tử, Trang Tử chủ trương không ham danh lợi, giảm bớt ham muốn, những điều đó là phù hợp với nguyên tắc của Đạo giáo; Nhưng về sau Đạo giáo lại nói rằng, việc uống thuốc “đan phục” sẽ được thăng thiên thành tiên, đó chỉ là thuyết bậy bạ vô căn cứ.

Cho dù là ông Trần Loan hay ông Đạo An, họ đều bàn luận về quá trình xắp đặt thứ tự của ba tôn giáo của Bắc Chu Vũ Đế, họ đều chĩa mũi nhọn vào Đạo giáo chỉ còn là cách phục tùng. Hoàng Đế rất tôn sùng Nho Giáo, do đó tuy rằng Trân Loan và một số người khác đánh giá thấp Nho Giáo, nhưng họ cũng không dám phủ định một cách triệt để Nho Giáo.

 Phật giáo thì suy tôn Hoàng Đế là Như Lai, nên họ cũng không dám tôn kính Hoàng Đế. Thêm vào đó, Hoàng Đế đã sắp đặt hai tôn giáo là Nho Giáo và Đạo giáo lên đầu, đặt Phật giáo xuống phía sau; do đó mặc dù chĩa mũi nhọn vào Đạo giáo, nhưng họ không dám bài xích Đạo gia của Lão Tử và Trang Tử. Lập trường và sự biện luận của họ mặc dù chỉ xoay quanh vấn đề là thứ tự của ba tôn giáo này nhưng nó đã biến thành một trận chiến công kích và tiêu diệt lẫn nhau giữa các tông giáo và giáo phái. Nó đã biến chủ đề xắp đặt thứ tự của ba tôn giáo này bắt đầu phát triển theo tính cực đoan.

Vào năm thứ 2 của Kiến Đức ( năm 573 sau Công nguyên) Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung quyết định xắp đặt ba tôn giáo này lần cuối cùng. Ông cho họp quần thần, Sa môn, đạo sĩ…tiến hành thảo luận những điều tốt xấu của Phật giáo và Đạo giáo. Vào năm sau tức là năm 574 sau Công nguyên, Chu Vũ Đế lại ra chiếu lệnh cho các tăng sĩ, đại sĩ, Đạo giáo về họp tụ tại Thiết Luật Trường trong điện Thái Cực tại kinh sư ( Kinh Đô) tiến hành bàn bạc và thảo luận kĩ về Đạo giáo và Phật giáo.

Đại diện cho Phật giáo là Sa môn Trí Huyền đã tiến hành tranh luận một cách gay gắt trước mặt Chu Vũ Đế. Theo ghi chép trong sử tịch của Phật giáo, tại cuộc tranh luận đó thì các Sa môn Trí Huyền lại thua đạo sĩ Trương Tân, do đó mà Chu Vũ Đế lập tức che chở và bênh vực Đạo giáo, và ông cũng đã phát biểu nhận xét của mình đối với Phật giáo. Ông ta cho rằng, Phật giáo có “ Tam Bất Tịnh”, cái đó chẳng có lợi gì cho việc giúp nước.

Cái gọi là “Tam Bất Tịnh” ở đây có nghĩa là: Một, Chủ giáo bất tịnh, tức là ngài Thích Ca Mâu Ni trước khi xuất gia tu hành thành Phật thì đã cưới vợ và sinh con, là Giáo chủ Phật giáo bất tịnh; Hai là chính tôn giáo đó cũng bất tịnh, tức là trong giới luật được phép ăn ba loại thịt được coi là thanh tịnh, tức là chỉ chúng tăng của Phật giáo hay có những hành động đồng bóng, gây nhiều tội, các tín đồ thì bất hoà, đánh chém lẫn nhau, đây chính là điều bất tịnh của tăng chúng Phật giáo.

Từ đó mà Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung liền ra quyết định nói rõ rằng: Phật giáo từ giáo chủ, giáo pháp, chúng tăng đều bất tịnh, nay ý Trẫm quyết định gạt bỏ, để dẹp bớt loạn lạc hư ảo. Ở Đạo giáo không có những chuyện đó, nay Trẫm quyết định cho lưu hành để giúp nước giúp dân.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, mavuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, quycoctu, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 07:31:20 am »

(tiếp theo)

Nhưng chẳng bao lâu sau, Bắc Chu Vũ Đế lại ra chiếu cấm hẳn Phật giáo và Đạo giáo, đồng thời ông cũng bác bỏ ý kiến chỉ bãi bỏ Phật giáo mà giữ lại Đạo giáo.

Trong chiếu thư ông cũng yêu cầu các Sa môn Phật giáo, các đạo sĩ Đạo giáo phải hoàn tục, đồng thời ông cũng cấm trò cúng tế mang tính mê tín dị đoan, hoang đường.

 Ông bắt đem toàn bộ những thứ mà Phật giáo và Đạo giáo cho là Tam bảo, tài phú chia hết cho các hạ thần, đem tất cả các chùa thờ Phật trước đây ban phát cho các Vương công. Ngoài ra, Bắc Chu Vũ Đế còn ra chiếu lệnh lập cái gọi là “ Thông Đạo Quán”.

Ông cho chọn quãng 120 người có học vấn tương đối cao từ các lãng tử của Phật giáo và các đạo sĩ của Đạo giáo, gọi nhóm đó là các “ Thông Đạo Quán Học Sĩ”, bắt học phải học tập và nghiên cứu ba bộ là “ Lão Tử”, “Trang Tử”,” Chu Dịch”, để cho họ hiểu rõ ba phái giáo đó, đồng thời lại còn bố trí cho họ những người giúp việc và tuỳ tùng. Năm thứ sáu của Kiến Đức ( năm 577 sau Công nguyên), Bắc Chu diệt Bắc Tề, Chu Vũ Đế đích thân đến thủ đô của Tề là Nghiệp Thành, cho tụ họp toàn bộ tăng chúng của nước Tề, tuyên bố từ bỏ Phật Pháp; đồng thời cho phá hoại tất cả các chùa, các tháp thờ Phật của chính quyền phong kiến cũng như của nhân dân xây dựng từ hơn 100 năm nay trên toàn bộ nước Tề.

Đem toàn bộ 4 vạn ngôi chùa, tháp thờ Phật ban tặng cho các Vương công, đại thần làm nhà ở, bắt ba vạn tăng chúng phải hoàn tục, cho về ở nhà dân. Như vậy Phật giáo ở phía Bắc Trung Quốc lại một lần nữa đứng trước nguy cơ bị tấn công.

Lần diệt Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung  hoàn toàn không giống với lần diệt Phật Pháp của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế. Trước tiên, lần này Bắc Chu Vũ Đế đã phế bỏ một lúc hai tôn giáo là Phật giáo và Đạo giáo, không như Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế chỉ có nhằm tiêu diệt Phật giáo.

Có một số sử tịch của Phật giáo thì ghi rằng, lần diệt Phật Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế là do ông bị xúi dục bởi đạo sĩ Đạo giáo tên là Trương Tân. Sử sách ghi rằng: Trương Tân đã khiến cho Chu Vũ Đế  tin tưởng rằng, màu đen là điềm hung, màu vàng là điềm tốt. Đồng thời Trương Tân cũng xem bói cho Chu Vũ Đế và đoán rằng, sau này kẻ diệt nhà Chu sẽ là một người mặc áo đen. Vì các tăng lữ Phật giáo lúc bấy giờ đều mặc áo đen, do đó mà Chu Vũ Đế mới quyết tâm diệt Phật Pháp.

 Điều kết luận trên đây cũng không hoàn toàn đúng đắn. Nếu như Chu Vũ Đế chỉ bị Trương Tân xúi giục, thì tại sao ông ta lại diệt cả Đạo giáo lẫn Phật giáo? Nguyên nhân trực tiếp của việc ông ta cùng một lúc bãi bỏ Phật giáo và Đạo giáo là vì sự xung đột gay gắt, không thể khoan nhượng, không thể dàn hoà giữa hai tôn giáo này. Điều đó sẽ làm yếu đi xu thế của tư tưởng thống trị thế tục lúc bấy giờ, đó mới là điều khiến cho Chu Vũ Đế quyết tâm tiêu diệt Phật Pháp.

Thứ hai, lần diệt pháp này của Chu Vũ Đế, tuy ông ta đã phá hoại một số lượng lớn chùa, đã cho thiêu huỷ rất nhiều kinh Phật, nhưng ông ta không hề sát hại Sa môn, đạo sĩ, Đạo giáo, mà chỉ bắt họ hoàn tục làm dân thường, việc làm này hoàn toàn không giống như việc Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã cho hạ sát hàng loạt Sa môn. Tiếp theo lần này diệt Phật Pháp của Chu Vũ Đế tuy rằng ông ta đồng thời tiêu diệt cả Phật giáo lẫn Đạo giáo, nhưng ông ta lại cho lập “ Thông Đạo Quán”, cho nuôi dưỡng một số Sa môn Phật giáo và đạo sĩ Đạo giáo để cho họ hiểu rõ Nho Giáo, Thích Ca giáo và Đạo giáo.

Đương nhiên chính thống ở trong vẫn là Nho Giáo. Từ đó có thể thấy rằng lần diệt pháp này của Bắc Chu Vũ Đế  nếu xét từ góc độ quá trình lịch sử, thì nó trải qua một thời gian chuẩn bị tương đối dài. Trong nhiều năm liền ông đã cho liên tiếp triệu họp hội nghị trù bị có quy mô lớn, ở đây ông cho mọi người được thoải mái tranh luận; Từ xuất phát điểm đó ta có thể thấy, động cơ ban đầu của Bắc Chu Vũ Đế chỉ là muốn sắp xếp thứ tự của ba tôn giáo, nhưng do Phật giáo và Đạo giáo tranh chấp với nhau kịch liệt, ngươi sống thì ta chết từ đó mới dẫn đến bi kịch trong lịch sử là ông cho diệt Phật Pháp; Xét từ kết quả  của việc diệt pháp, Bắc Chu Vũ Đế không hề có ý tiêu diệt tận gốc rễ Phật giáo. Do đó lần diệt Phật Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế là tương đối thận trọng hơn so với lần diệt Phật Pháp của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế.

Xét từ góc độ sâu xa hơn, Bắc Vũ Đế tuy có chịu ảnh hưởng không nhỏ của các ông Vệ Nguyên Tung, Trương Tân nhưng ông đã là Chúa của một nước, để xây dựng đại nghiệp thống nhất, ông ta cần phải coi Nho Giáo là chính thống.

Tư tưởng Nho Gia không những giúp cho các Đế Vương phong kiến xây dựng nền tảng thống trị, mà nó còn là công cụ đắc lực bảo vệ đẳng cấp và trật tự phong kiến. Vũ Văn Ung xuất thân là người dân tộc thiểu số Tiên Ti, ông ta đã từng coi việc thống nhất thiên hạ là nhiệm vụ của mình, không tự coi mình là người hồ ( tức người miền Tây), mà coi mình là một trong những thành viên của dân tộc Hoa Hạ( tức là dân Trung Hoa). Như vậy ông ta sẽ thấy rằng, cần phải đặt tư tưởng Nho Gia làm chính thống.

Theo cách đánh gia truyền thống, Phật giáo được coi như là một tôn giáo của những kẻ mọi rợ. Đạo giáo tuy là một tôn giáo sinh ra và phát triển trên đất Trung Hoa, nhưng nó cũng gây trở ngại cho nền chính trị phong kiến, do đó cả hai tôn giáo này đều bị phế bỏ.

Cùng thời gian này, là một Đế Vương của nền thống trị phong kiến, Chu Vũ Đế cảm thấy việc tự do xây dựng tràn lan của các chùa thờ Phật đã làm hao tiền tốn của, vì vậy mà phế bỏ Phật giáo cũng có nghĩa là có lợi cho việc làm giàu đất nước và làm cho binh lực hùng mạnh. Ông ta đã từng nói rằng:” Phật giáo có kính trọng cũng chẳng trinh phục được ai, không thu hút được cảm tình của người, tự cứu mình cũng không xong, vậy thì làm sao mà có lợi cho đất nước? Từ khi phế bỏ Phật giáo cho đến nay, sai dịch trong nhân dân đã mạnh mẽ hơn, tô điều hàng năm đều được tăng, quân sự ngày càng hùng mạnh, do đó đất nước được bình an, phát triển nhộn nhịp và nhân dân được an lạc”.

Trên thực tế sau khi Chu Vũ Đế tiêu diệt Phật giáo, một số lượng lớn tăng ni hoàn tục trở về làm dân thường hoặc là làm ruộng, từ đó mà giảm gánh nặng thuế khoá cho nhân dân, số lượng binh lính cũng tăng thêm, điều đó đã đặt ra một cơ sở vững chắc để cho Chu Vũ Đế diệt nhà Tề. Do đó, sau khi diệt nhà Tề, Chu Vũ Đế tiếp tục cho thi hành chính sách tiêu diệt Phật pháp.

Điều hiển nhiên là, Chu Vũ Đế tiêu diệt Phật pháp theo một sách lược cơ bản là nhằm cho đất nước cường thịnh, quân đội hùng mạnh. Ngoài ra Chu Vũ Đế còn chủ trương hoà hợp ( tức là sát nhập) cả ba tôn giáo để giúp ích cho việc trị quốc an dân.

Tuy ông ta coi Nho gia là chính thống, nhưng đồng thời cũng cho rằng, đối với việc bảo vệ nền thống trị của giai cấp phong kiến, thì Phật giáo, Đạo giáo cũng rất có tác dụng; nhất là nghĩa lý của Nho gia và Thích Ca Giáo tương đối gần nhau, người xuất gia hay là người tại gia đều là vì cai quản thiên hạ, đều là muốn quốc gia được hùng mạnh, nhân dân an lạc.

Do đó, Chu Vũ Đế đã từng đặc biệt nhấn mạnh rằng, trong một xã hội phải có Hoàng Đế là người đứng đầu, cũng cần phải coi Hoàng Đế là Thiên chủ của thế giới giống như bên kia mọi người tín phụng Như Lai.

Lần phế bỏ Phật pháp lần này của Bắc Chu Vũ Đế, về mặt khách quan thì đây là một sự tổng kết mang tính lịch sử từ mối xung đột gay gắt giữa tín ngưỡng Phật giáo và nền tư tưởng văn hoá truyền thống trong xã hội phương Bắc trong sau khi Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc. Trong quá trình chuẩn bị loại bỏ Phật pháp thì cũng đã có mấy lần tranh luận ở quy mô tương đối lớn. Tất cả các vấn đề đề cập đến đã khiến cho các bên tham gia tranh luận, đặc biệt là phía bên Phật giáo nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ khi nào Phật giáo phải thích ứng với bối cảnh của tư tưởng văn hoá truyền thống của Trung Quốc, thì lúc đó Phật giáo mới có sự phát triển liên tục của bản thân mình. Đồng thời qua việc diệt Phật pháp lần này thì một số tăng sĩ đầy lòng quyết tâm tu hành theo Phật pháp, hoặc là phải sống trà trộn trong nhân dân, hoặc là phải ẩn náu trong rừng sâu, trong đó một số tăng sĩ phải vượt sông xuống phía Nam, về mặt khách quan việc này lại thúc đẩy mối giao lưu giữa Phật giáo phía Bắc và phía Nam.

Vào đầu năm của Bắc Chu Tuyên Chính ( năm 578 sau Công nguyên ) Vũ Đế Vũ Văn Ung qua đời Tuyên Vũ Đế Vũ Văn Vân kế vị. Tháng giêng năm sau, Vân Đế ra chiếu lệnh mời bảy người trong các sa môn cũ về tu đạo ở điện Chính Vũ phía Tây. Vào tháng hai, Văn Đế truyền ngôi cho Tĩnh Đế Vũ Văn xiển, Vũ Văn Xiển lúc đó mới bảy tuổi, tự xưng là Thiên Nguyên Hoàng Đế.

Vừa mới lên ngôi, Tĩnh Đế liền ra sắc lệnh cho phép trăm họ được tín thờ Phật, về sau lại ra lệnh cho phép những người tu hành không cần phải xuống tóc cạo râu, ra chiếu lệnh cho 120 người được phép tu đạo cho đất nước tại chùa Trắc Hộ; lại ra chiếu lệnh hồi phục lại việc đúc tượng Phật và các bức tượng Thiên Tôn của Đạo giáo. Năm thứ hai của Đại Tượng ( năm 580 sau Công nguyên), Tĩnh Đế chết yểu, triều chính do Dương Kiên nắm quyền điều hành ( Dương Kiên là bố vợ cả của Tuyên Đế, bà vợ cả này tên là Dương Thị, tức Thiên Nguyên Đại Hoàng Hậu). Dương Kiên hạ lệnh hồi phục lại Phật giáo và Đạo giáo, các sa môn, các đạo sĩ Đạo giáo cũ nếu còn mong muốn vẫn có thể gia nhập đạo. Từ đó trở đi Phật giáo được chính thức hồi phục. Vào năm sau Dương Kiên phế nhà Chu Lập lên nhà Tuỳ, sự phát triển của Phật giáo cũng bước vào một thời kỳ mới.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 07:36:34 am »

(tiếp theo)

Tuỳ Văn Đế phục hưng Phật pháp

Tuỳ Dưỡng Đế giao tiếp với cao tăng


Sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, trải qua quá trình phát triển 600 năm, đặc biệt là trải qua sự xung đột, đấu tranh và dung hợp với tư tưởng văn hoá truyền thống của Trung Quốc ở các thời kỳ Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều, đến thời kỳ Tuỳ Đường, Phật giáo cơ bản đã thực hiện xong việc Trung Quốc hoá. Tức là, từ một tôn giáo ngoại lai, Phật giáo đã phát triển và biến thành một thứ tôn giáo theo kiểu Trung Quốc, phù hợp với bối cảnh văn hoá tư tưởng truyền thống Trung Quốc.

Vào thời kỳ Tuỳ Đường, việc Trung Quốc hoá Phật giáo đã tiếp tục phát triển theo chiều hướng sâu hơn, mặc dù thỉnh thoảng có một vài người nêu lên việc tranh luận, xếp đặt thứ tự của Nho giáo, Thích Ca Giáo và Đạo giáo. Nhưng sự phát triển liên tục của các tông phái Phật giáo theo kiểu Trung Quốc ra nước ngoài, ra các vùng khác đã chứng tỏ Phật giáo trở thành một hiện tượng văn hoá của xã hội, chứa đựng tính xã hội một cách tương đối rộng rãi. Đồng thời Phật giáo đã trở thành một vũ khí tư tưởng trong nền thống trị của giai cấp phong kiến ở xã hội Trung Quốc cổ đại, vũ khí đó được giai cấp thống trị sử dụng khá quen thuộc và khá thành thạo, đồng thời nó càng ngày càng được sự trọng thị của các Đế Vương phong kiến.

Năm 581 sau Công nguyên, một người ngoại tộc của nhà Bắc Chu tên ; là Dương Kiên ( bố vợ cả của Tuyên Đế Vũ Văn Vân) lên thay nhà Bắc Chu, thiết lập chính quyền nhà Tuỳ ở phía Bắc Trung Quốc, xưng là Tuỳ Văn Đế. Năm 598 sau Công nguyên, Tuỳ Văn Đế Dương Kiên khởi binh 50 vạn quân tràn xuống phía Nam diệt nhà Trần, kết thúc sự thống trị của chính quyền Nam Triều.

Từ đó trở đi sự chia cắt kéo dài quãng 300 năm ( bắt đầu từ cuối thời kỳ Tây Tấn) cuối cùng đã được thống nhất. Vương Triều Tuỳ là một vương triều thống nhất, nhưng cũng là một Vương triều trị vì ngắn nhất, tổng cộng hai Đế Vương ( Văn Đế tức Dương Kiên và Dưỡng Đế tức Dương Quảng), trị vì có 38 năm ( từ 581 đến 618 sau Công nguyên). Cả hai vị Đế Vương nhà Tuỳ này vô cùng trọng thị Phật giáo, đều coi Phật giáo là một trong những biện pháp rất có hiệu quả để bảo vệ và củng cố nền thống trị phong kiến. Khi Văn Đế thay nhà Chu lập nên nhà Tuỳ vào năm Khai Hoàng Nguyên Niên ( năm 581 sau Công nguyên), đúng vào lúc bỏ lệnh tiêu diệt Phật pháp của Chu Vũ Đế vừa được bãi bỏ.

 Sự kiện lớn nhất của Văn Đế sau khi lập nên nhà Tuỳ là cho ban chiếu khắp thiên hạ thông báo cho mọi người được phép tự do xuất gia làm tăng sĩ. Ông ta còn ra chiếu lệnh yêu cầu thiên hạ đóng góp tiền của để xây dựng chùa và chép kinh, tạc tượng. Ông ra chiếu lệnh xây ở vùng Ngũ Nhạc mỗi quả núi một ngôi chùa, đồng thời ông cũng ra lệnh ở những nơi mà cha ông ( tức Dương Trung) khi còn sống đã có công xây dựng và kiến tạo như Tương Dương, Quận Tuỳ, Giang Lăng, Tấn Dương, mỗi nơi xây một ngôi chùa v.v…điều này đã giúp cho Phật giáo ở vùng phương Bắc Trung Quốc bao la rộng lớn được phục hồi mạnh mẽ hơn.

 Do có Văn hiến khen Tuỳ Văn Đế là người mở đường cho việc khôi phục Phật giáo, vì thế mà thiên hạ cũng nô nức noi theo, số lượng kinh Phật có ở trong dân gian đã nhiều hàng chục, hàng trăm lần số lượng kinh của Nho giáo.

Tuỳ Văn Đế Dương Kiên đã có duyên tình cờ với Phật giáo. Theo tương truyền, Tuỳ Văn Đế ra đời ở một am ni cô, đồng thời được một ni cô tên là Tri Tiên nuôi dưỡng khôn lớn. Năm thứ 7 của Đại Thống Tây Nguỵ Văn Đế ( năm 541 sau Công nguyên), ông Dương Trung cùng vợ là Lã thị đến Băng Dực ( ngày nay là vùng Đại Lệ, tỉnh Thiểm Tây). Vào một ngày tháng 6, Lã Thị sinh ra Dương Kiên ở một ngôi chùa Bát Nhã Ni ở vùng đó. Do đó lúc thời tiết tương đối nóng Lã thị phải quạt cho con nhỏ của mình, nào ngờ cậu bé Dương Kiên chưa đầy tháng bị lạnh mà không thể khóc thành tiếng, Dương Trung phu nhân do đó mà vô cùng lo lắng.

May mà trong đó trong chùa có một ni cô tên là Tri Tiên có thần thông  rất mạnh. Cô ta không chỉ làm cậu bé Dương Kiên cất tiếng khóc trở lại mà còn cho rằng cậu bé này có được thần Phật phù hộ, lại có tướng mạo của đại vương, nên đề nghị Dương Trung phu nhân để cậu bé Dương Kiên lại trong chùa để cô nuôi dưỡng, đồng thời đặt cho cậu bé này một cái tên bằng tiếng Phạn là Na La Diên, có ý nghĩa là kim cương không bao giờ hỏng.

Bởi đó Dương Kiên được giữ lại và được nuôi trong chùa Bát Nhã Ni được ni cô Tri Tiên nuôi dưỡng đến lúc 13 tuổi mới trở về đoàn tụ với gia đình của Dương Trung phu nhân. Sau này, khi Chu Vũ Đế diệt Phật pháp, Dương Kiên đã có quyền hành tương đối lớn trong tay, cậu ta liền đưa ni cô Tri Tiên giấu trong nội Cung, gia sức bảo vệ cô, nhờ đó đã giúp cô tránh được tai hoạ trong lúc diệt pháp.

Ngay từ nhỏ, Tuỳ Văn Đế Dương Kiên đã được ni cô nuôi dưỡng trong chùa đến năm 13 tuổi, tất cả những điều mắt thấy tai nghe đã dần dần ngấm sâu vào trong người, từ đó mà cậu ta chịu ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu sắc, nhất là điều mà ni cô Tri Tiên dự đoán rằng cậu ta được thần Phật phù hộ và quả thực sau này cậu ta được làm Hoàng Đế, điều đó đã khiến cậu ta có một cảm tình vô cùng đặc biệt với Phật giáo.

 Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Tuỳ Văn Đế Dương Kiên vô cùng tôn sùng Phật giáo. Ngoài việc đó ra năm thứ 9 của Khai Hoàng( năm 589 sau Công nguyên), văn đế đem quân đến tấn công Nam Triều, diệt hết nhà Trần, thống nhất toàn bộ đất nước, vì thế mà ông ta thấy vô cùng đắc ý, và còn cho rằng đây là thần phật phù hộ mình, do đó mà ông ta đã từng nói với mọi người rằng:” Ta được như ngày nay là nhờ Phật giáo”. Điều đó có thể khẳng định đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho Tuỳ Văn Đế luôn luôn tôn sùng Phật giáo. Phân tích tình cảm và đối nhân sử thế của Tuỳ Văn Đế, có sách sử liên quan đã gọi ông ta là một người hay nghi kị do đó mà không thể chuyên tâm vào học hành. Nhưng ông ta rất nhiệt tình với Phật sự, có thể nói rằng đó chính là một biểu hiện vô cùng đặc biệt trong mối quan hệ giữa ông ta và Phật giáo.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 07:38:16 am »

(tiếp theo)

Trong vòng 24 năm trị vì của Tuỳ Văn Đế, ông ta đã cho quảng bá Phật sự, chủ yếu biểu hiện ở các mặt như độ tăng, xây dựng chùa, xây dựng tháp, tổ chức chép kinh v.v…Như ở trên đã đề cập, Khai Hoàng Nguyên Niên ( năm đầu tiên của Khai Hoàng), khi mà Văn Đế vừa mới lên thay triều chu, ông đã lập tức ban chiếu khắp thiên hạ, cho phép các tầng lớp trong xã hội; các giai cấp được tự do xuất gia. Hồi đó có một tăng sĩ tên là Đàm Diên đã từng dâng chiếu thư lên Văn Đế ghi rõ: Cúng dàng Phật, Pháp, Tăng ( Tam Bảo) là việc thiện gieo trồng vườn phúc, ông hy vọng văn đế hạ chiếu cho phép mọi người được tự do xuất gia để phục hồi lại sự suy thoái của Phật giáo thời kỳ Bắc Chu.

Thánh chỉ của Hoàng Đế vừa mới ban ra, những tín đồ Phật giáo tới tấp xuất gia. Năm thứ 10 của  Khai Hoàng ( năm 590 sau Công nguyên) Văn Đế đi xe kiệu đến vùng Phổ Dương ( ngày nay là vùng Thái Nguyên của Sơn Tây) đồng thời ra sắc chỉ yêu cầu Đàm Diên đi cùng. Trên đường đi Đàm Diên lại dành nhiều thời gian để giảng việc công đức độ tăng ( tức là cho phép xuất gia thành tăng ni). Lúc đó Văn Đế lại ra chiếu: “ Những ai thích xuất gia làm tăng sĩ thì được tự do xuất gia; còn lại những người vẫn cứ bí mật tu hành vì trước kia nhà Vua không cho phép, nay đều được phép ghi vào tăng tịch”. ( Tăng tịch là cuốn sổ của nhà cầm quyền phong kiến ghi tên các tăng sĩ).

Trong 24 năm trị vì, Tuỳ Văn Đế đã hạ chiếu cho phép độ tăng khoảng 50 vạn người. trong điều kiện xã hội lúc bấy giờ, những người xuất gia không phải là những người đã hoàn toàn quy y Phật một cách thật sự, xuất gia lúc bấy giờ có rất nhiều điều lợi.

Có người đã từng tổng kết rằng: Phật giáo không phải là dạng thấp hèn, người theo Phật giáo rất cao thượng, người quy y Phật cũng rất cao quí, nhìn lên thì không bằng thiên tử, nhìn xuống thì hơn chư hầu, một tấc lụa cũng không phải đem cúng nạp cho quan phủ, một đấu gạo cũng không phải đem nộp cho quốc khố, ra vào tuỳ ý, ung dung thoải mái. Từ đó có thể thấy, thảo nào khi Tuỳ Văn Đế vừa ra chiếu lệnh thì đã có hang chục vạn quần chúng hưởng ứng.

Bắt đầu từ năm Khai Hoàng Nguyên Niên, Tuỳ Văn Đế không chỉ hạ lệnh xây ở Ngũ Nhạc ( năm quả núi lớn) mỗi nơi một ngôi chùa, mà còn ra lệnh ở mỗi nơi cha ông là Dương Trung khi còn sống đã từng có công xây dựng một ngôi chùa, ông còn ra chiếu lệnh ở các châu, các huyện mỗi nơi một ngôi chùa cho các tăng hoặc các ni cô, đồng thời đổi tên ngôi chùa Trắc Hộ mà nhà Bắc Chu đã xây dựng ở trường An thành chùa Đại Hưng Thiện; cũng như ở mỗi địa phương mà ông ta đã từng đi đến ở khắp 45 châu cho xây dựng một ngôi chùa đặt tên là Đại Hưng Thiện, ông lại còn cho đặt tượng các chùa như chùa Diên Hưng, chùa Quang Ninh, chùa Tịnh Cảnh, chùa Thắng Quang và các chùa Thiền Định. Tương truyền rằng, trong thời gian trị vì của Tuỳ Văn Đế, số lượng các chùa do ông ta đề xướng và xây dựng có tới hơn 3792 ngôi, khi ông ta còn là chấp chính cho Bắc Chu, ông ta đã được một tăng sĩ người Miền Tây tặng cho một gói xá lợi Phật.

Khi lên ngôi ông ta lập tức ra chiếu lệnh cho các châu trong toàn quốc phải ra xây dựng tháp xá lợi Phật để chứa xá lợi Phật đã được tiến hành tất cả ba lần trên quy mô lớn. Ngày 13 tháng 6 năm Nhân Thọ Nguyên Niên ( năm 601 sau Công nguyên) đúng vào lễ kỷ niệm Tuỳ Văn Đế 60 tuổi ông ta ra chiếu lệnh cho xây 30 ngôi tháp chứa tất cả xá lợi Phật ở tất cả 30 châu. Chiếu thư nêu rõ:” Trẫm đã quy y Tam Bảo, muốn phục hưng thánh giáo, muốn tu hành nghiệp lớn phúc như bốn biển, hơn thế nữa lại muốn tạo nhân thiện lâu dài để cùng được diệu quả”.

Dưới sự chi phối của động cơ tư tưởng như vậy, Tuỳ Văn Đế lập tức cho gọi 30 đại đức cao tăng như Đồng Trân, Đàm Diên, mỗi người như vậy đem theo hai người cưỡi ngựa đi khắp các châu để phân phát xá lợi Phật; tiền xây dựng tháp xá lợi thì yêu cầu nhân dân ở các châu đó bố thí, nếu như nhân dân bố thí không đủ thì có thể lấy ở trong quốc khố (16) để bổ xung.

Ngoài ra ông ta còn ra lệnh hạn chế đến trưa ngày 15 tháng 10 sẽ cùng nhau đặt hòm đá dựng xá lợi Phật vào trong tháp. Nhân cơ hội này các quan viên như quan tổng quản, Thích Sử, quan Huyện Uý…ở các châu, những việc quân cơ và việc quan phủ được nghỉ bẩy ngày để chuyên lo các công việc như kiểm điểm việc hành đạo và sửa sang xây dựng chùa Phật…Trong bảy ngày này, ông ta còn yêu cầu các hoà thượng phải niệm kinh hành đạo.

Ở nơi nào rộng rãi tăng sĩ nhiều thì yêu cầu phải mời được 360 người, tiếp theo nơi nào hẹp hơn thì phải mời được 240 người, kém hơn thế nữa thì mời được 120 người, nếu như số tăng sĩ ít hơn thế nữa thì sẽ mời toàn thể các tăng sĩ cùng một lúc tham gia niệm kinh hành đạo. Vào tháng Giêng năm Nhân Thọ thứ 2 ( năm 602 sau Công nguyên), Tuỳ Văn Đế lại yêu cầu các tăng sĩ như ông Trí Giáo, ông Minh Phấn v.v…mang xá lợi Phật đi phát cho các châu, như châu Tần, Châu Thiểm, châu Hoàn, châu Hàng v.v… tất cả là 53 châu.

Đồng thời ông yêu cầu các địa phương ngừng việc hành chính trong bẩy ngày, hạn cuối cùng là đến trưa ngày 8 tháng 4 ( tức là ngày Phật đản) phải cùng đưa hòm đựng xá lợi Phật vào trong tháp. Ông yêu cầu các tăng sĩ niệm kinh hành đạo với nghi thức giống y như ngày trước ( cổ xưa).

Vào ngày 8 tháng 4 của năm Nhân Thọ thứ tư ( năm 604 sau Công nguyên) Tuỳ Văn Đế lại cho xây dựng tháp đựng xá lợi Phật ở 30 châu, lại cho các tăng sĩ như Pháp Hiển, Tĩnh Lâm v.v…đi phân phát xá lợi Phật. Theo thống kê của sử tịch có liên quan trong toàn quốc xây dựng khoảng 4-5 nghìn ngôi chùa thờ Phật và vào quãng 110 ngôi tháp chứa xá lợi, có thể nói rằng chùa và tháp thờ xá lợi hồi đó như cây trong rừng.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 07:41:01 am »

(tiếp theo)

Cũng theo một số sử tịch có liên quan, vào thời kỳ Khai Hoàng của Tuỳ Văn Đế , Phật giáo rất hưng thịnh, nhưng thật giả cùng lưu hành lẫn lộn. Khi Phật giáo đã được lưu truyền đến thời kỳ nhà Tuỳ thì lúc đó cũng đã xuất hiện rất nhiều những loại kinh Phật giả. Tuỳ Văn Đế là một Đế Vương phong kiến rất tâm huyết với Phật giáo, tất nhiên ông không thể khoanh tay đứng nhìn trước hiện tượng này.

Do đó khi vừa lên ngôi, ông ta lập tức ban chiếu lệnh cho 12 người, trong đó có sa môn như Pháp Kinh chủ trì việc xem xét và giám định các bộ kinh Phật từ xưa truyền lại; ông cũng đã cho chỉnh lí và biên soạn mới 13.200.086 quyển kinh, cho chỉnh lý 3853 bộ kinh cổ điển, đồng thời cho người chép lại toàn bộ số kinh sách đó, cho phân phát đến các chùa lớn.

Thông qua việc chỉnh lý và giám định các bộ kinh Phật, tăng sĩ Pháp Kinh cùng 12 người đã biên soạn ra cuốn “ Chúng Kinh Mục Lục” gồm 7 quyển, đó là bộ mục lục kinh Phật vừa có hệ thống, lại vừa phân loại tỉ mỉ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.


Ngoài ra còn có một học sĩ chuyên dịch kinh Phật tên là Phí Trưởng Phòng đã soạn cuốn “ Lịch Đại Tam Bảo Ký”, nội dung của nó bao gồm mục lục các năm tháng sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, tên tuổi những người đã dịch kinh Phật và những quyển kinh đã được dịch qua các triều đại và tổng mục lục số bộ kinh, số quyển kinh, các sự tích quan trọng của những người đã từng dịch kinh qua các thời đại, số lượng các kinh Phật đồ sộ và phong phú. Hai quyển kể trên đã gây ảnh hưởng to lớn đối với những người ghi chép kinh Phật và biên chỉnh, tu bổ sử ký Phật giáo thế hệ sau. Ngoài ra, ngay từ khi lên cầm quyền, Tuỳ Văn Đế đã học tập chế độ Bắc Tề, cho thành lập các chức vụ tăng sĩ như Chiếu Huyền Đại Thống, Chiếu Huyền Thống, Chiếu Huyền Bộ và Tăng chủ ngoại quốc để quản lý các công việc tăng ni.

Vào năm Khai Hoàng Nguyên Niên, ông ta đã từng thụ phong cho một vị tăng tên là Tăng Mãnh làm chức Đại Thống Chiêu Huyền Tuỳ Quốc Tam Tạng Pháp Sư; năm Khai Hoàng thứ bảy ( năm 587 sau Công nguyên) ông lại ra chiếu lệnh cử ông Đàm Thiên làm Chiêu Huyền Đại Sa môn Thống, đến năm khai hoàng thứ 11 ( năm 591 sau Công nguyên) ông lại ra chiếu lệnh cử ông Linh Dụ làm Quốc Thống, các cơ quan của Tăng quan địa phương gồm có Thống bộ, Sa môn Bộ, Đoạn Sự, Tăng Chính…

Để biểu thị sự thành kính của mình đối với Phật giáo,Tuỳ Văn Đế còn thường xuyên bố thí nhiều thứ với số lượng lớn các tăng sĩ Phật giáo. Sau khi lên ngôi chẳng bao lâu, Tuỳ Văn Đế thường xuyên qua lại và quan hệ khá thân mật với một vị hoà thượng tên là Đàm Sùng, ngài thường xuyên mời hoà thượng Đàm Sùng đến cung giảng giải giáo lý đạo Phật, Tuỳ Văn Đế đều tự mình ra cổng đón tiếp, xưng Thầy và gọi  mình là học trò nam, Hoàng Hậu cũng xưng thầy và gọi mình là học trò nữ.

Có một lần, Tuỳ Văn Đế ra sắc lệnh bố thí cho ngôi chùa của ngài Đàm Sùng 14 ngàn xấp lụa, 5000 xấp vải bông, 1000 cuộn lụa, 200 xấp vải lĩnh, 12 tấm gấm, 1000 thạch ( mỗi thạch là 100kg) gạo ngon. Hoàng Hậu cũng bố thí 5000 quan tiền, nỉ 500 mảnh, 50 bộ dụng cụ dao kéo. Tất cả những thứ bố thí trên đây đều lấy từ quốc khố ( kho bạc quốc gia). Năm Khai Hoàng thứ sáu ( năm 568 sau Công nguyên) trời đại hạn, đất đai khô nẻ, Văn Đế liền ra sắc lệnh chỉ yêu cầu 360 sa môn Phật giáo cầu mưa tại chính điện.

Trong nghi thức cầu mưa, văn Đế đích than dẫn văn võ bá quan trong triều ngồi ngay trên đất cực kỳ thành tâm. Để tỏ long cảm ơn đạo đức của các sa môn đang cầu mưa, Tuỳ Văn Đế đã cho người mang 20 xe gạo ngon đến ngôi chùa của ngài Đàm Diên đang tu hành ( ngài Đàm Diên lúc này đang chủ trì lễ cầu mưa), sau đó lại cho người mang đến 500 thạch gạo nữa. Tuỳ Văn Đế không chỉ ban thưởng và bố thí số lượng lớn và ngày càng nhiều cho sa môn Phật giáo cũng như các bậc hoà thượng các ngôi chùa, mà ông còn thỉnh các vị cao tăng thụ giới cho mình, để cho mình chính thức trở thành một tín đồ Phật giáo chân chính.

Trong lễ thụ giới Bồ tát, ông ta nói “ Phật đã dùng chánh pháp để dặn dò và dạy bảo Quốc Vương, Trẫm là người được tôn trọng, được quý mến, lại là người được Phật dặn dò phó chúc lại. Từ nay đến hết cuộc đời này của Trẫm cuối tháng mời 27 tăng truyền kinh nhau đọc tụng, lại mời khoảng bốn vị khác ở Kinh Sư, ba đại đức đến trước điện Đại Quang đọc tất cả các kinh.

Trẫm tuy bận nhiều việc, nhưng chắc chắn cũng không thể không làm như vậy”. Trên thực tế, điều này là một sự bầy tỏ tình cảm đối với Phật giáo, kế hoạch thì lo chu đáo, sắp xép thì chặt chẽ, có thể nói rằng tận tâm tận lực. Từ đó trở đi tất cả các hoạt động của Tuỳ Văn Đế đều có liên quan với Phật giáo, mỗi ngày đăng điện thiết Triều, đều có các vị hoà thượng đi cùng ở hai bên.

Tuỳ Văn Đế còn nhiệt tình với việc tạc tượng Phật, theo ghi chép, trong vòng 24 năm trị vì của Tuỳ Văn Đế số lượng tượng Phật mà ông cho tạc mới quãng 16.584 bức với tất cả các chất liệu như vàng, đồng, gỗ đàn hương, bện bằng sợi gai, bằng ngà voi, điêu khắc đá.

Số lượng tượng Phật cũng được tu bồ gồm có đến hơn 1588940 bức, số tiền chi phí cũng rất lớn. Đồng thời vào năm thứ 20 của Khai Hoàng ( năm 600 sau Công nguyên), ông còn ra sắc lệnh cấm chỉ việc phá hoại các tượng Phật và tượng của Đạo Giáo bằng gỗ. Chiếu thư nói rõ:” Phật giáo thâm điệu, Đạo giáo nhẹ nhàng thanh tao, tất cả đều mang đến đại từ đại bi, cứu độ của Vua chúa lẫn thảo dân, do đó mới xây miếu lập đàn thờ tế để mọi người luôn cung kính; Những ai dám phá hoại, dám trộm cắp, đều luận vào tội vô đạo; sa môn mà phá hoại tượng Phật, đạo sĩ Đạo giáo mà phá hoại của tượng của Đạo giáo, đều luận vào tội ác nghịch. Cái gọi là vô đạo, ác nghịch đều là những trọng tội”. T

ừ đó có thể thấy rằng Tuỳ Văn Đế đã coi việc bảo vệ Phật giáo là một nhiệm vụ không thể chối từ của chính mình. Sự tôn sùng đối với Phật giáo của Tuỳ Văn Đế xưa nay thật hiếm có.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 07:45:28 am »

(tiếp theo)

Tuỳ Dưỡng Đế Dương Quảng là con trai thứ của Tuỳ Văn Đế Dương Kiên. Con trai trưởng của Tuỳ Văn Đế là Dương Dũng trước đây đã được lập làm Thái Tử, nhưng Dương Quảng đã dùng một thủ đoạn nham hiểm. Về đối nội trong hoàng tộc, cậu ta tìm cách lừa gạt và chiếm được sự cưng chiều hết sức của Hoàng Hậu, còn về đối ngoại cậu ta cũng chiếm được sự ủng hộ của một người quyền thần tên là Dương Tố cũng thuộc bè đảng với cậu ta. Do đó mà cậu ta chiếm được ngôi Thái Tử.

 Về sau khi mà Tuỳ Văn Đế ốm nằm liệt giường, Tuỳ Dưỡng Đế Dương Quảng đã cho tay chân bè cánh đột nhập vào phòng bệnh ở trong nội cung mưu sát một cách dã man Tuỳ Văn Đế; rồi sau đó lại cho tay chân mưu sát luôn cả người anh của mình là Dương Dũng.

Cứ như vậy Dương Quảng đã đăng quang ngôi báu Hoàng Đế với tư cách là con thứ. Đối với Phật giáo, Dương Quảng cũng là một người có lòng mến mộ đặc biệt. Trước khi ông đăng quang làm Vua nước Tuỳ, từ khi ông ta làm Tấn Vương đồng thời đảm nhiệm chức vụ là tổng quản Dương Châu, ông đã từng có mối quan hệ khá thân mật với một vị hoà thượng tên là Trí Nghỉ.

Ông đã từng mời ngài Trí Nghỉ đến lễ đường của vị tổng quản ở trong kinh thành Dương Châu để thiết cơm chay   ( thọ trai) cho hàng nghìn vị tăng sĩ lấy đó làm lễ thề nguyện. Đồng thời ông ta cũng thọ Bồ tát giới từ ngài Trí Nghỉ để biểu hiện quy y một cách thành tâm của mình đối với Phật giáo, ông ta còn viết riêng một cuốn “ Thọ Bồ Tát Văn”, trong đó nói rõ “đệ tử phải luôn luôn tu nhân tích đức, nếu sinh trưởng ở một gia đình quý tộc thì phải dạy dỗ từ nhỏ. Giáo dục phải nghiêm túc; mong được tìm hiểu giáo lý Đại Thừa ( phật giáo phát triển) để được thọ giới Bồ tát”. Đây là một sự biểu hiện của tấm lòng ông ta đối với Phật giáo. Từ đó trở đi, Dương Quảng liền phụng dưỡng Trí Nghỉ đồng thời phong ông ta là “ Trí Giả Đại Sư”, còn ông Trí Nghỉ thì gọi Dương Quảng là “ Tổng Trì Bồ Tát”.

Trong vòng quãng 5,6 năm từ khi Khai Hoàng thứ 12 đến năm Khai Hoàng thứ 17 ( từ năm 592 -597 sau Công nguyên) với tư cách là Vương nước Tấn, Tuỳ Văn Đế Dương Quảng thường xuyên đi lại với ngài Trí Nghỉ, riêng thư từ Dương Quảng gửi cho ngài Trí Nghỉ đã có đến hơn 40 bức, hoà thượng Trí Nghỉ cũng đã từng nói với các đồ đệ của mình rằng “ Ta và Vương nước Tấn đã có mối duyên nợ với nhau rất sâu sắc”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hoà thượng  Trí Nghỉ và Dương Quảng có duyên với nhau trên thế gian này. Hoà thượng Trí Nghỉ tu ở chùa Đồng Lâm ở Lô Sơn, Dương Quảng đã nhiều lần mời ngài Trí Nghỉ xuống núi. Vào năm khai hoàng thứ 17, hoà thượng Trí Nghỉ trên đường xuống núi gặp Dương Quảng đã bị bệnh và qua đời. Điều này khiến cho Dương Quảng vô cùng đau đớn.

Trước khi lâm trung hoà thượng Trí Nghỉ đã gửi lại cho Dương Quảng một bức trúc thư tương đối dài. Trong bức thư đó hoà thượng Trí Nghỉ đã nói rằng từ khi mình sinh ra trên cõi đời đến nay luôn luôn cống hiến hết mình cho Phật giáo, cho đất nước, cho chúng sinh, và ngài cũng mong muốn rằng, sau khi mình thọ mạng, nếu như có thần lực thì sẽ nguyện sẽ làm thần giữ đất cho vương quốc nước Tấn, sẽ giúp cho Phật pháp được thịnh hành, lấy đó đền ơn Quốc Vương làm tăng thêm uy tín vốn có của mình.

Hoà thượng Trí Nghỉ không chỉ có chúc thư để cho Dương Quảng một số di vật. Những di vật này là cái lư hương hình sen, bảo bối như ý bằng sừng tê giác…, hoà thượng Trí Nghỉ hy vọng những di vật này có thể giúp cho công đức sáng ngời của Dương Quảng được bay đi xa, đồng thời giữ lâu dài ý nguyện của ông ta.

Trước khi được làm Hoàng Đế, Dương Quảng đã từng viết cuốn” Bào Đài Kinh Tạng Nguyên Văn”. Sau khi nhà Tuỳ bình định được vùng Giang Nam, ông ta thu được mấy quyển kinh Phật và ông đã viết cuốn sách đó để phân phát kèm với các quyển kinh Phật cho khắp các chùa ở Giang Nam. Nội dung chính của cuốn sách đó là để nói rõ thái độ của ông ta đối với Phật giáo.

 Ông Dương Quảng nói rằng: “ Bồ tát giới đệ tử Dương Quảng ao ước được Như Lai ứng thế, lời dạy của Phật nếu là của quí như ý thì ân cần và mật thiết, mở mang trí tuệ, quảng bá pháp luân rộng rãi, điều đó làm cho đệ tử giữ được nghiệp lâu dài trong thời thế trung thực của mình”.

Điều đó đã chứng minh rõ sự thành tâm, thành kính của ông Dương Quảng với Phật giáo, đồng thời coi việc hoằng dương ( phát triển) Phật pháp là nghĩa vụ của chính mình. Sau khi lên ngôi, vào năm đầu tiên của Đại Nghiệp ( năm 605 sau Công nguyên ông Dương Quảng đã xây một ngôi chùa tên là Tây Thiền cho người cha Văn Đế của mình. Ngôi chùa đó cao to tráng lệ, rộng rãi và đẹp vô cùng. Ông Dương Quảng còn mở hội Vô Giá ở đạo tràng, làm lễ xuất gia cho khoảng 200 nam, nữ tín đồ Phật giáo.

Ông còn cho xây dựng chùa, khích lệ việc đúc tượng Phật ở khắp nơi trên đất nước. Theo thống kê ở sử tịch có liên quan, ông Dương Quảng đã độ được khoảng 16200 tăng ni, cho đúc và tạc hơn 114000 bức tượng Phật, cho chép khoảng 903580 quyển kinh Phật, điều này đã chứng minh rằng, Tuỳ Dưỡng Đế Quảng đã tự coi mình là một vị Hoàng Đế Bồ tát ở thế gian này.

Năm thứ 3 của Đại Nghiệp ( năm 607 sau Công nguyên) Tuỳ Dưỡng Đế đã cho ban bố “ Hành Đạo Độ Tăng Thiên Hạ Sắc”. Trong bản đó, Tuỳ Dưỡng Đế đã tự coi mình là một đệ tử đã được thọ giới Bồ tát, một Hoàng Đế nắm cương vị tổng quản. Ông đã chỉ thị mở lễ hội giao duyên trong phạm vi toàn quốc. Ở tất cả các châu đều phải tổ chức thành đạo 49 ngày, độ được 1000 tăng sĩ. Ông hy vọng dung nhân duyên này để cho thiên hạ mọi người đều được thanh tịnh, tất cả những người thân và kẻ thù ở 6 đường và 3 cõi đều được trở thành Bồ đề, đều trở thành Phật. Một điều hiển nhiên là, Tuỳ Dưỡng Đế muốn tìm cách giúp đỡ tăng chúng để thể hiện cái mà ông thường gọi là tấm long Bồ tát.

Sau khi được lên ngôi, cho dù là ở trong kinh thành hay là đi tuần du ở các nơi, Tuỳ Dưỡng Đế thường đem theo một đoàn các tăng, các ni, các đạo sĩ, đạo cô, và thường được gọi là tứ đạo tràng. Ngày nào ông cũng cho mở tiệc rượu linh đình ở vườn Uyển Lâm, ông ta và những người ông ta sùng ái ngồi một chiếu, những vị thân tín quyền quí ngồi một chiếu, các tăng ni, các thiện nam tín nữ thì ngồi một chiếu. Các mâm, các chiếu bày ra san sát nhau, rượu, thịt ê trề, không thiếu một thứ gì, họ cho đó là vui sướng.

Thái độ của hai cha con Tuỳ Văn Đế và Tuỳ Dưỡng Đế cùng với mọi việc làm của họ đối với Phật giáo bị những nhà sử học lúc bấy giờ gọi đó là những trò nịnh Phật, cái trò nịnh Phật này hoàn toàn khác hẳn với hành động bỏ Đạo giáo quy y Phật của Nam triều Lương Vũ Đế.

Ở một ý nghĩa nhất định nào đó, Lương Vũ Đế là một tín đồ Phật giáo còn tỉnh táo và biết suy nghĩ, còn cha con nhà họ Tuỳ này là những kẻ theo đuổi và sung bái Phật giáo một cách mù quáng, họ rất cung kính và nhiệt tình đối với Phật giáo nhưng họ không biết cách sử dụng Phật giáo để duy trì và bảo hộ nền thống trị của mình; việc họ thường xuyên qua lại với các cao tăng đại đức hầu như chỉ là để chứng tỏ rằng, họ cũng rất cao thượng và cũng rất thanh tịnh.

Họ cho mở mang Phật pháp, làm nhiều việc Phật sự cũng hầu như là muốn khoác lên mình những hành động giả nhân giả nghĩa. Nhưng cũng phải công nhận rằng, mọi hành động gọi là nịnh Phật của họ, ở một mức độ khách quan nào đó thì lại rất có lợi cho việc Phật giáo được tiếp tục phát triển.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:39:15 pm »

(tiếp theo)

Trên một ý nghĩa nhất định nào đó, việc ban thưởng và bố thí một khối lượng lớn cho nhà Phật của cha con nhà họ Tuỳ đã thúc đẩy sự hoàn thiện của nền kinh tế nhà chùa đã dần dần hình thành bao lâu nay. Vào năm Khai Hoàng thứ 13 ( năm 593 sau Công nguyên), Tuỳ Văn Đế đã cho ban bố thư yêu cầu dưới chân núi nổi tiếng của các Châu là phải xây dựng một ngôi chùa, đồng thời cấp cho ngôi chùa đó một mảnh ruộng, điều này trên thực tế đồng nghĩa với việc công nhận và ủng hộ nền kinh tế nhà chùa của Phật giáo.

Từ đó trở đi, trên cơ sở đã có một nguồn tư liệu sản xuất từ trước, các chùa trong cả nước càng gia sức tăng gia sản xuất và mở mang thêm ruộng đồng, chiêu nạp các hộ dân lao động làm thuê cho các chùa và được gọi là tự điền. Phật giáo đã trở thành một lực lượng kinh tế xã hội không thể xem nhẹ. Hồi đó có một Hoà Thượng tên là Tuệ Vị, chủ trì ngôi chùa Thanh Thiền ở một ấp của kinh đô.

Ngôi chùa của ông trụ trì thì thiền đường lúc nào chúng tăng cũng đông đúc, cây cối tươi tốt rậm rạp, khuôn viên ngôi chùa thì ngăn nắp đàng hoàng, ruộng đồng đường đi, hồ nước rất là hài hoà, kho tàng đầy ắp lương thực, tiếng giã gạo bằng cối đá cối đập nước rộn rang.

Ở kinh thành có rất nhiều ngôi chùa, nhưng không ngôi chùa nào được như vậy. Từ đó có thể thấy rằng, ngôi chùa Thanh Thiền ngài Tuệ Vị chủ trì này đã trở thành vật báu của Kinh Đô, và ông cũng trở thành một trang viên chủ tương đối lớn ở trong tăng lữ.

Một vị hoà thượng tên là Đàm Sùng mà trên đây đã từng nhắc đến, ông vốn là người Hàm Dương, trước khi xuất gia thì cảnh cũng không giàu có, sau khi xuất gia, băng mối quan hệ qua lại giữa Văn Đế và Tấn Vương, ông đã được ban thưởng và bố thí rất nhiều, từ đó không những ông đã làm thay đổi được gia cảnh mà bản thân ông cũng trở nên rất giàu có, chỉ riêng Tấn Vương là Dương Quảng đã phân cho ông ta khoảng hơn 70 hộ tá điền, biến những hộ tá điền này thành những tá điền của sư, Dương Quảng còn ban tặng vị tăng sĩ này cối đá và cối sức nước, khiến cơ nghiệp của ông ta ngày càng trở nên vững mạnh.

 Ở thời Tuỳ, một số sa môn Phật giáo vô cùng giàu có, và điều đó đã làm cho những người ở thế tục phải thèm muốn, hồi đó một số đệ tử đang là cư sĩ của các vị tăng sĩ cũng đua nhau đòi xuất gia, ở một mức độ nào đó có thể nói, điều này là do sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt của nền kinh tế tự viện lúc bấy giờ.

Do có sự phát triển mạnh và hoàn thiện của nền kinh tế nhà chùa Phật giáo, tự thân Phật giáo như vậy đã có đầy đủ cơ sở vật chất để thiết lập hệ thống truyền giáo tương đối độc lập. Vào thời kỳ Tuỳ Văn Đế, với trung tâm là Trường An, trong nội bộ Phật giáo đã hình thành một số nhóm các thầy trò ( tức là đạo tràng). Các đạo tràng này hoặc là tụ tập theo một bộ kinh sách nào đó của Phật giáo hoặc là tụ tập theo một lĩnh vực nào đó của Phật giáo. Ví dụ như có Niết Bàn chúng ( Niết bàn tức là cái lý tưởng cao nhất mà toàn bộ những người tụ tập theo Phật giáo đều mong ước đạt đến, nói chung nó chỉ một cảnh giới về mặt tinh thần con người ta sẽ đạt đến sau khi thoát khỏi vòng luôn hồi sinh tử.

Niết Bàn cũng tức là chỉ một đạo tràng nào đó gồm một tăng sĩ và các giới đồ chuyên môn nghiên cứu và tu tập đồng thời truyền bá bộ kinh “Đại Ban Niết Bàn”, như là Đại Luận Chúng ( tức là chỉ nhóm một tăng sĩ và một số tín đồ chuyên môn nghiên cứu, học tập và truyền bá bộ “ Thập Địa Luận”); như Đại Luận Chúng ( chỉ một nhóm tăng sĩ và các tín đồ chuyên môn học tập nghiên cứu và truyền bá giới luật của Phật giáo cùng với học vấn của họ); như Thiền Môn Chúng ( chỉ một đoàn thể những tăng sĩ và những tín đồ coi trọng việc tu theo thiền định)…

Mỗi đạo tràng thường tu tập và học tập ở một ngôi chùa nào đó, cử ra một tổ trưởng ( trưởng tràng) để chỉ đạo việc học tập và tu hành. Các nhóm đạo tràng này về sau chuyển biến thành các tông giáo của Phật giáo. Thời kỳ nhà Tuỳ, cùng với việc xuất hiện ngày một nhiều các đạo tràng, thì cũng hình thành một giáo phái đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, tức là Thiên Thai Tông.

 Trên thực tế người thầy sang lập ra Thiên Thai Tông ở Trung Quốc tức là hoà thượng Trí Nghỉ mà ở trên đã từng nhắc tới. Do tông phái này được thành lập ở núi Thiên Thai ( ngày nay là vùng Thiên Thai của tỉnh Chiết Giang), do đó mà lấy tên là Thiên Thai Tông.

Tông giáo này tụ tập chủ yếu dựa vào “ Kinh Pháp Hoa” do đó mà nó cũng được gọi là “ Pháp Hoa Tông” Thiên Thai Tông đem bộ “ Kinh Pháp Hoa” mà họ tôn sùng liệt vào bộ kinh thuyết giáo cao nhất và cũng là bộ kinh cuối cùng của Phật, bộ kinh đó chủ trương tất cả đều là biểu hiện của Chân Như Pháp Tính, yêu cầu phải dung phương pháp “ nhất tâm tam quán” để thể nghiệm và nắm chắc chân như pháp tính ( Nhất Tâm tức là trong tĩnh tâm có khởi lên ba đế là không, tục, chân). Thiên Thai Tông được du nhập vào Nhật Bản vào giữa thời kỳ đường. ở Nhật Bản nó dần dần phát triển thành Nhật Liên Tông, nó chính là tơng giáo Phật giáo chính hình thành và phát triển ở Nhật Bản. Thiên Thai Tông sau khi hình thành vào thời kỳ nhà Tuỳ, nó đã tiếp tục phát triển và tạo điều kiện cho sự hình thành các tông giáo khác của Phật giáo vào thời kỳ Đường.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:42:28 pm »

(tiếp theo)

Lý Thế Dân cân bằng tam giáo

Cung Ngọc Hoa tán pháp cuối năm


Cuối thời kỳ nhà Tuỳ, nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi, chế độ thống trị Vương Triều Tuỳ bị phá vỡ mạnh mẽ. Hồi đó có một vị tên là Lý Uyên, là Đường Quốc Công của nhà Tuỳ trấn thủ Thái Nguyên.

Ông Lý Uyên nghe theo lời khuyên của người con thứ tên là Lý Thế Dân và một số kẻ thuộc hạ đã nổi dậy chống lại triều đình Tùy, rồi dẫn quân về đánh chiếm Trường An. Họ đã nhanh chóng và dễ dàng đạt được quyền thống trị thay Vương Triều Tuỳ.

Tiếp theo đó, sau mười năm liên tục tiến tiến hành chinh phạt, họ đã trấn áp được các cuộc khởi nghĩa của nông dân ở các nơi, từ đó mà lập nên Vương Triều Lý Đường. Thời kỳ đầu của nhà Đường, Cao tổ là Lý Uyên lập tức áp dụng phương châm làm hưng thịnh cả Nho gia, Thích Ca Giáo và Đạo giáo.

Năm đầu tiên của Vũ Đức ( năm 618 sau Công nguyên), Cao Tổ liền hạ chiếu cho thành lập Quốc Tử Giám, Thái Học và Tứ môn sinh. Cả ba chỗ này thu nạp hơn 300 người, điều này đã chứng tỏ sự trọng thị của ông ta đối với tư tưởng Nho gia đồng thời ông ta gia chiếu tập hợp hơn 69 vị Sa môn của Phật giáo và đạo sĩ của Đạo giáo đến điện Thái Cực hành đạo 49 ngày; sau 49 ngày đó ông ta đã mở tiệc chiêu đãi hang nghìn tăng sĩ, đã khoản đãi các vị hoà thượng vô cùng nhiệt tình. Hồi đó có một vị hoà thượng tên là Pháp Lâm, vì Cao Tổ Lý Uyên hoằng dương cả hai tôn giáo là Thích Ca Giáo và Đạo giáo, nên ông đã soạn bài ca tụng Lý Uyên.

Có một vị hoà thượng nữa tên là Cảnh Huy vì muốn nịnh hót Cao Tổ, ông ta đã tô vẽ và suy tôn Lý Uyên đang đảm trách thiên mệnh, điều đó khiến Lý Uyên sau khi nghe được cảm thấy vô cùng vui sướng. Vì thế Lý Uyên lập tức xây ngay một ngôi chùa tên là Thắng Nghiệp cho Cảnh Huy. Vào năm đầu tiên của Vũ Đức ( năm 618 sau Công nguyên), Cao Tổ Lý Uyên đã xây rất nhiều ngôi chùa cho các Sa môn Phật giáo như chùa Nghĩa Hưng ở Tịnh Châu, Chùa Thái Nguyên ở Thái Nguyên, chùa Linh Tiên ở Hoa Âm, chùa Hội Xương và chùa Chứng Quả ở Trường An…Ông ta còn nguyện dâng ngôi nhà cũ và sửa chữa thành ngôi chùa ni Hưng Thánh.

Vào năm thứ hai của Vũ Đức ( năm 619 sau Công nguyên), Đường Cao Tổ Lý Uyên lại hạ chiếu lệnh cho quan Hữu Tư xây ở trường Quốc Tử Học hai miếu thờ hai ông là Chu Công và Khổng Tử, bốn mùa đến đó tế lễ, lấy đó để phục hưng Nho Học; Lý Uyên còn hạ lệnh tu bổ điện Lão Quân ( tức là điện thờ Lão Tử) và đường Thiên Tôn ở Lầu Quan Thái; đồng thời ông còn phong 10 vị cao tăng ở kinh sư ( Kinh Đô) chức Thống Nhiếp Sa môn ( tức là quản lý các Sa môn ).

Những việc làm đó chứng tỏ phương châm cơ bản của Đường Cao Tổ Lý Uyên là cùng hưng khởi Nho giáo, Thích Ca Giáo và Đạo giáo, phương châm này đã giúp cho ba tôn giáo đó phát triển mạnh hơn. Hoà thượng pháp lâm đã tổng kết một cách sâu sắc việc làm này là :”

Từ khi Phật giáo được du nhập vào đến nay, chùa và tháp thờ Phật có ở khắp chin châu các tăng ni thì đông đúc, trên thực tế đây là kết quả của lòng thành tâm của Hoàng Đế  và sự đoàn kết một lòng một dạ giữa Vương Triều với nhân dân. Từ khi du nhập vào Trung Quốc đến nay, Phật giáo sở dĩ không ngừng phát triển là do trí lực của cả Vua và dân.

Đứng trước hiện tượng các tôn giáo không ngừng phát triển, một số người có tầm nhìn xa trông rộng thông qua tổng kết lịch sử đã cảm thấy vô cùng lo lắng. Hồi đó trong triều có một vị đại thần tên là Phó Dịch đã từng 7 lần dâng biểu lên Đường Cao Tổ xin dẹp bỏ Phật giáo lắm hủ tục, xin Đường Cao Tổ phế các tăng ni, giảm bớt số lượng các chùa và tháp thờ Phật. Ông ta dâng biểu lên Đường Cao Tổ phế các tăng ni, giảm bớt số lượng các chùa và tháp thờ Phật. Ông ta dâng biểu lên Đường Cao Tổ với giọng điệu rất ân cần:”

Sự ảnh hưởng của Phật giáo là không thể xem nhẹ, hiện giờ có một số kẻ gia thế nho nhã cũng bắt đầu tôn thờ Phật, một số Nho sĩ học đạo bây giờ cũng bắt đầu bàn tán này nọ về Phật giáo. Hơn thế nữa Phật giáo cũng bóc lột tiền của của nhân dân và làm mất nguồn dự trữ quốc gia, tình hình như vậy là vô cùng quan trọng, xin bệ hạ hãy để tâm xem xét kỹ càng”.

Do ông Phó Dịch bẩy lần liên tiếp dâng biểu lên Đường Cao Tổ Lý Uyên bất đắc dĩ phải đem việc này ra cùng với quần thần thảo luận. Vào năm Vũ Đức thứ 9 ( năm 626 sau Công nguyên), thảo luận đã diễn ra vô cùng găy gắt.

Những người muốn bài trừ Phật giáo và những người tôn thờ Phật giáo cùng nhau tranh luận găy gắt, khó mà phân thắng bại. Cuối cũng vào tháng năm năm đó Đường Cao Tổ đã ra chiếu lệnh sa thải các đạo sĩ Đạo giáo và các tăng ni Phật giáo.

Những người đã dày công tu luyện và giữ gìn giới luật và được tập trung vào một ngôi chùa lớn hoặc một quán lớn của Đạo giáo, được cung cấp lương thực. Còn những người khác bắt phải trở lại làm người bình thường, không được trái lệnh. Ngoài ra, Kinh Sư Trường An được giữ lại ba ngôi chùa thờ Phật, hai đạo quán của Đạo giáo, các châu khác thì mỗi châu giữ lại được một ngôi chùa thờ Phật và một đạo quán của Đạo giáo.

Tất cả các ngôi chùa và đạo quán còn lại phá bỏ. Lập trường quan điểm trong bản chiếu lệnh này của Đường Cao Tổ là bất cứ một sự phát triển của bất cứ một tôn giáo nào cũng không được làm ảnh hưởng đến chính trị của nhà nước phong kiến.

 Do đó ông không chỉ yêu cầu cắt giảm các ngôi chùa và giảm bớt các tăng sĩ và còn yêu cầu hạn chế phát triển của Đạo giáo, từ đó có thể thấy rõ sự cương quyết cùng thái độ trong sáng, trung thực của ông ta. Sự kiên quyết và lập trường quan điểm này của Đường Cao Tổ Lý Uyên đã có ảnh hưởng trực tiếp đến Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Chiếu thư về sa thải các sa môn phật giáo và các đạo sĩ của đạo giáo và các tín đồ của Đạo giáo cảm thấy vô cùng lo lắng và sợ hãi. Nhất là đối với các tăng lữ của Phật giáo mà nói, điều này giống như một điềm báo trước về tai hoạ lút đầu sắp ập đến với Phật giáo như hồi các triều đại Bắc Nguỵấchí Vũ Đế, Bắc Chu Vũ Đế trước đay: họ ngày đêm nơm nớp lo sợ.

 Sang tháng 6 năm đó, Đường Cao Tổ Lý Uyên thoái vị, Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi ông lập tức cho đại xá thiên hạ, đồng thời ông cũng hạ chiếu chấm dứt việc thực hiện chiếu lệnh về sa thải các Sa môn Phật giáo và các đạo sĩ của Đạo giáo mà Đường Cao Tổ đã ban hành trước đây. Về việc này Đường Thái Tông Lý Thế Dân còn ra một chiếu lệnh khác cho phép các tăng ni Phật giáo và các đạo sĩ Đạo giáo khôi phục lại mọi hoạt động trước đây.

Sau khi lên ngôi, sở dĩ Lý Thế Dân không cho phép thực hiện chiếu thư sa thải các sa môn Phật giáo và Đạo giáo mà Đường Cao Tổ đã ban hành trước đây là vì ông cũng có những mục đích chính trị nhất định. Lý Thế Dân vốn là con thứ của Lý Uyên. Sau khi lên ngôi thay thế nhà Tuỳ, Lý Uyên lập tức lập con trưởng Lý Kiến Thành làm thái tử, lập con thứ Lý Thế Dân là người dẫn quân đi trừng phạt, do đó mà ông đã hình thành được một thế lực chính trị nhất định.

Về sau thông qua cuộc chính biến Huyền Võ Môn, ông ta định giết hại luôn thái tử( anh trai mình) là Lý Kiến Thành cùng em ruột của mình là Lý Nguyên Cát, do đó mà ông mới lên ngôi Hoàng Đế được.

Vấn đề hàng đầu của Lý Thế Dân sau khi lên ngôi là không nên để các mâu thuẫn đó đổ dồn về phía mình, cần phải tìm mọi cách để lung lạc và dụ dỗ lòng người, cố gắng dành được sự ủng hộ của các nhân sĩ.

Do đó khi vừa mới lên ngôi, ông ta đã lập tức cho bãi bỏ chiếu thư về sa thải các Sa môn Phật giáo và đạo sĩ Đạo giáo mà Đường Thái Tổ đã cho ban hành là hoàn toàn xuất phát từ mục đích này.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2011, 01:45:58 pm »

(tiếp theo)

Là một vị Đế Vương phong kiến có đầu óc chính trị, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã kế tục phương châm cơ bản của Đường Cao Tổ là cùng đề cao Nho giáo, Thích Ca Giáo và Đạo giáo. Khi vừa lên ngôi, ông ta lập tức cho xây dựng trường Quốc Tử Học để tỏ rõ sự tôn trọng của mình đối với học thuyết Nho giáo đồng thời ông ta cũng thường xuyên nói với hạ thần của mình rằng: “ Tất cả những điều mà ta làm đều là mong muốn những điều trên đây đều tốt đẹp.

Xưa kia Lương Vũ Đế có những ý nghĩ và chí hướng hào hoa cao thượng, đối xử tốt với các phật tử, giữ gìn những gì tốt đẹp nhất của Thích Ca Giáo, cho xây dựng chùa Đồng Thái, bản thân ngài cũng đi giảng kinh Phật, điều đó đã khiến cho quần thần, thuộc hạ và trăm họ tôn sùng Phật giáo, suốt ngày chỉ bàn đến đau khổ và giải thoát, chưa từng bàn về quân sự.

Về sau khi có chiến tranh loạn lạc, chư thần trong triều không ai biết cưỡi ngựa. Truyện đó cũng là một tấm gương. Điều mà Trẫm thích thú hiện nay chỉ là giáo lý của Chu Công, Khổng Tử và Đạo của Nghiêu Thuấn”. Từ lời nói chuyện trên đây của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, ta có thể thấy rằng, mặc dù phương châm của ông là đề cao cả tam giáo, nhưng ông ta vẫn đặt Nho gia lên hàng đầu. Vào năm Trịnh Quán thứ 8 ( năm 634 sau Công nguyên) Hoàng Hậu Trường Tôn mắc bệnh, bệnh tình ngày càng trầm trọng, Thái Tử Lý Thế Càn tâu với Mẫu hậu rằng:”

Sau khi Mẫu hậu đổ bệnh, Mẫu hậu đã được dinh đủ các loại thuốc nhưng tôn thể vẫn chưa an. Nên chăng Mẫu hậu tâu với phụ Vương, hãy đại xá cho những kẻ cầm tù, đồng thời cho nhiều người xuất gia làm tăng sĩ, như vậy hi vọng Mẫu hậu sẽ được chở che và được hưởng phúc”.

 Hoàng Hậu Trường Tôn nghe vậy liền nói:” Sinh tử là có mệnh, cái đó không theo ý muốn của con người. Nếu như làm phúc mà trừ được tai hoạ thì cả đời ta chưa hề làm điều gì ác.
Nếu như làm điều thiện mà vô ích vậy thì có phúc đức nào đáng kể để cầu mong đây? Đại xá cho những kẻ cầm tù là quốc gia đại sự, Phật giáo cũng là vấn đề làm cho Hoàng Đế luôn luôn phải lo lắng và suy nghĩ. Ngài thường nói rằng, Phật giáo là một thứ tôn giáo của kẻ khác. Không nên chỉ vì một người phụ nữ như ta mà làm rối loạn kỷ cương phép nước. Do đó ông ta không đồng ý với ý nghĩ của con”.

Từ ẩn ý của câu chuyện này ta có thể thấy rõ thái độ của Đường Thái Tông đối với Phật giáo. Chỉ trừ những năm cuối đời, còn nói chung Đường Thái Tông Lý Thế Dân cũng thường có thái độ lợi dụng Phật giáo; và ông cũng giữ thái độ cảnh giác cao đối với Phật giáo.

Ngay từ năm Vũ Đức thứ tư ( năm 621 sau Công nguyên), Lý Thế Dân lúc đó còn là Tần Vương đã dẫn quân đi diệt Vương Thế Sung, giành được sự ủng hộ rất mạnh mẽ của các tăng ni ở Thiếu Lâm Tự, tức một nhóm gọi là 18 vị tăng ngang được đi cứu Tần Vương.

Sau khi lên làm Hoàng Đế, Lý Thế Dân liền sai người mang chiếu thư đến cho vị trụ trì ở Thiếu Lâm Tự, mời các vị tăng sĩ có công về kinh đô yết kiến. Nhóm tăng sĩ đó tìm cách từ chối không về. Để tìm cách dụ dỗ nhóm tăng sĩ này, Đường Thái Tông đã ban thưởng họ 1000 xấp vải gấm, phong cho Đại Đức Đàm Tông Đẳng ở Thiếu Lâm Tự chức đại tướng quân. Năm thứ 3 của Trinh Quán ( năm 629 sau Công nguyên) Đường Thái Tông lại hạ chiếu: ở mỗi nơi xảy ra các cuộc giao tranh để mở mang bờ cõi nhà Đường phải xây một ngôi chùa thờ Phật.

Trong đó có ở U Châu đánh bại Tiết Cử xây chùa Chiếu Nhân, ở Thái Châu đánh bại Tông Lão Sinh xây chùa Phổ Tế, Ở Tấn Châu đánh bại Tống Kim Cương xây chùa Từ Vân, ở Phần Châu đánh bại Lưu Đức Chu xây chùa Hoàng Tế, ở Băng Châu đánh bại Vương Thế Sung xây chùa Chiếu Giác, ở Trịnh Châu đánh bại Đậu Kiến Đức xây chùa Đẳng Từ, ở Lạc Châu đánh bại Lưu Hắc Thái xây chùa Hoằng Phúc.

Đồng thời ngay từ khi mới lên ngôi, Đường Thái Tông lập tức cho cử hành đạo cúng chay để siêu độ cho những người bị ông ta trực tiếp chém giết, thỉnh thoảng ông ta tiếp kiến các vị cao tăng đại đức, mời các vị tăng đó vào trong cung điện hành lễ để cầu phúc gia hộ cho Thái Hậu, có lúc ông ta còn mời các vị cao tăng làm lễ cầu mưa cho thiên hạ.

Thái độ khoan dung và sự giúp đỡ, bảo vệ Phật giáo của Đường Thái Tông sau khi vừa lên ngôi thực tế là ông ta muốn lợi dụng Phật giáo. Ông ta muốn biến mình thành một tấm gương để khích lệ sự ái mộ của các quần thần và nhân dân trăm họ với tôn giáo, để từ đó mà có càng nhiều người ủng hộ ông ta, sẽ có nhiều bè đảng trong xã hội che chở và ủng hộ ông ta. Cho nên tất cả hành động trên đây của ông ta về mặt căn bản không nằm ngoài ý đồ phục vụ cho nhà nước phong kiến.

Cùng với hành động trên đây, Đường Thái Tông Lý Thế Dân cũng không hề nơi lỏng việc cảnh giác đối với Phật giáo. Năm Trịnh Quán Nguyên Niên, khi vừa lên ngôi ông ta lập tức cử quan Ngự Sử ( chuyên chép sử) tên là Đỗ Chính Luân cho thanh tra Phật pháp; đồng thời ông còn hạ chiếu rằng, tất cả các tăng ni tìm cách tham ô của nhân dân đều phải chịu cực hình, Vào năm sau, ông ta còn yêu cầu các tăng sĩ mà đã tham ô và biển thủ công quỹ vào năm Nghĩa Ninh ( tức là niên hiệu của Tuỳ Cung Đế, năm 617 sau Công nguyên) không chủ động nhận tội và trả lại tiền của sẽ bị xử cực hình.

Phật giáo sau khi du nhập vào Trung Quốc sau thời kỳ Lưỡng Hán, từ thời Tây Tấn trở đi, phép nước rất nghiêm minh, không cho người dân trong nước tuỳ ý xuống tóc đi tu. Điều này chính là nhằm kiểm soát dân số, đặc biệt là trực tiếp kiểm soát sức sản xuất trong nước nhằm cung cấp dồi dào hơn nguồn thuế khoá và nguồn giao dịch cho nhà nước phong kiến.

Vào đầu thời đường, thuế thân giảm mạnh, một trong những lý do của vấn đề đó là một bộ phận dân đã quy y Tam Bảo và xuống tóc đi tu. Ngoài ra chế độ chia ruộng bình quân đầu thời Đường quy định: Mỗi sa môn được chia 30 mẫu, ni cô được chia 20 mẫu, điều này coi như là thừa nhận tính hợp pháp của nền kinh tế nhà chùa đã vốn có trong Phật giáo. Sự tranh chấp về ruộng đất và nguồn lực lao động giữa nền kinh tế của nhà Chùa Phật giáo với nền kinh tế của thế tục tất nhiên sẽ nảy sinh nhiều điều bất lợi cho nền chính trị của thế tục.

 Đứng trước tình hình này, Lý Thế Dân không những về mặt chính trị thì dùng quyền lực của Vua để kiểm soát Phật giáo mà còn về kinh tế ông ta cũng có nhiều chính sách kích thích sản xuất, làm lợi cho dân chúng, trừ điều hại. Đó là khi ông ta mới vừa lên ngôi đã vơ vét và biển thủ.

 Đặt Phật giáo nằm trong bộ máy quản lý có hiệu quả của nhà nước phong kiến, ông ta đã ra chiếu lệnh giao cho Tư bộ quản lý các công việc của tăng sĩ, đồng thời cũng quy định một số chùa chiền nhất định, mỗi ngôi chùa có 3 cương ( tức là tăng quan), do quan Tư Lịch Thâm đồng thời đảm trách. Số lượng tăng ni đã ít đi, và cứ ba năm cho thay một lần để phòng những việc biển thủ và lén lút không minh bạch.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, tadamina, quycoctu, dieunha, byphuong, SCC, Yahoo, 8N
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.427 seconds với 25 câu truy vấn.