Tháng Tư 17, 2021, 12:43:15 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: CÁC “ĐẠO” CỦA NÔNG DÂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG  (Đọc 2714 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Bảy 11, 2011, 02:29:35 PM »

CÁC “ĐẠO” CỦA NÔNG DÂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG TỪ BỬU SƠN KÌ HƯƠNG, TỨ ÂN HIẾU NGHĨA ĐẾN ĐẠO LÀNH VÀ ĐẠO ÔNG NHÀ LỚN
Tác giả: MAI THANH HẢI




Là con dân nước Việt, nông dân Nam Bộ vẫn giữ nguyên các tập tục văn hoá (và tín ngưỡng tôn giáo) mà ông cha hun đúc từ miền đất tổ, các vùng còn lưu dấu nền văn hoá Đông Sơn. Vì vậy con người Nam Bộ cũng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng ông bà cha mẹ, cũng như cúng giỗ theo dòng họ; miền ven biển cũng cúng cá voi, các thần đi biển, các thần che chở cho con người ra khơi vượt sóng gió bão tố. Vị thần biển đứng đầu bách thần Nam Bộ được cư dân suốt dọc duyên hải thờ cúng: đó là tiến sĩ Nguyễn Phục, người quê tỉnh Thanh Hoá (đỗ khoa thi năm 1453) đã từng là thầy dạy Lê Tư Thành (sau là vua Lê Thánh Tông), ba lần đi sứ Trung Quốc, được giao nhiệm vụ chỉ huy đoàn thuyền chở lương thực qua cửa Tư Dung (sau đổi là Tư Hiền) vào tiếp tế cho đại quân đang vây thành Đồ Bàn. Thời tiết xấu, ông cho dừng thuyền lại để lính khỏi chết chìm trong giông bão, do đó lương vào chậm thời hạn; Lê Thánh Tông chém đầu ông; dân tôn ông là thần đi Biển, là Phi Vận Tướng quân; Trịnh Hoài Đức, trong sách Gia Định thành Thông chí, cho biết thời Gia Long, tiến sĩ Nguyễn Phục vẫn là vị thần đứng đầu bách thần ở Nam Bộ. Còn ở ven biển Trung Bộ, nhiều nơi lập miếu thờ ông, dân thường gọi là miếu Phi Vận Tướng quân.

 Tuy nhiên, là miền đất  di  dân, các dòng họ ở Nam Bộ không dài, nhiều lắm cũng chỉ dăm bảy đời, cộng thêm chú giải về gốc tích ở phía Bắc; quan hệ thân tộc ấp trại Nam Bộ cũng không còn chặt chẽ như ngoài Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh. Đời khai phá giồng hoang chủ yếu gắn bó nhau là nghĩa tình giữa họ với nhau vì cùng chung cảnh ngộ, cùng rời bỏ quê cũ đến đất lạ, nơi mới. Chất dân chủ và quan hệ bình đẳng rộng rãi hơn, không phân biệt người quê gốc với người ngụ cư, không nặng nề giáp họ, phe đẳng mà trọng nghĩa khinh tài, “thấy việc nghĩa không làm là đồ bỏ", gặp chuyện không vừa lòng có thể xuống xuồng bỏ đi nơi khác. Nhưng cũng do sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hóa, làng ấp thiếu chất kết dính chặt chẽ, điền chủ xuất hiện sớm, ruộng đất mênh mông bao la, điền chủ cần người cày rẽ, điền chủ không quá khắt khe ngặt nghèo, trừ lúc cày bừa gặt hái, tá điền không quá vất vả mà còn có dáng nhàn nhã, sớm tối nhậu nhẹt.

Do những đặc điểm kinh tế - xã hội trên mà văn hoá dân gian ở các trại ấp được hồi tụ, lắng đọng nhiều lớp, nhưng không dày dặn bằng Bắc Bộ, định hình không thật vững chắc; nó rất dễ dàng tiếp nhận và giao lưu văn hoá với các tộc người khác. Trong niềm tưởng nhớ tiến đến thờ cúng người có công với làng xã, có công với cả vùng miền, với người có công xông pha nơi trận mạc, Nam Bộ dễ dàng chấp nhận thờ cúng những người đỗ đạt làm quan mà mang lại lợi ích cho dân, những người có công đứng ra tổ chức khai phá đất đai lập làng ấp, dạy nghề, làm vinh dự hay làm giàu cho làng xóm. Nhưng cũng có những công “hư ảo” của những siêu linh, thần xuất xứ từ một cây gỗ mục hoặc một hòn đá lạ, có thể là một  người đàn bà chết trôi nhưng linh thiêng, một người đàn ông chết bất đắc kì tử, thậm chí một kẻ đào ngạch, một người gắp phân, một vong hồn vô thừa nhận nhưng chết oan ức mà trở nên thiêng. Trong phạm vi làng xóm, thờ cúng thần địa phương, nhiều nơi đã nâng lên là thờ thành hoàng làng, chính là thờ các thần bản mệnh. Đó là những vị được các làng xã suy tôn từ thành hoàng, nhiều nơi ở Nam Bộ quen gọi là “bổn cảnh thành hoàng”. Bên dưới các vị thần kể trên về dẫn dắt dân đi mở đất, còn có hàng trăm người được dân thờ cúng vì có công khẩn hoang xây dựng cơ nghiệp, dân gọi tắt là các vị “tiền hiền khai khẩn” và  “hậu hiền khai cơ”. Người Nam Bộ gọi việc thờ cúng các vị Tiền hiền, Hậu hiền này là để giữ trọng nghĩa tình “báo bản tu nguyên”, hoặc là  “ẩm hà  tư nguyên” (nghĩa là “uống nước nhớ nguồn”), ý nghĩa này sau còn đọng dư âm trong “Ân quê hương đất nước” trong giáo lí của các đạo Nam Bộ “Tứ ân hiếu nghĩa”, Bửu Sơn Kỳ Hương” cho đến “Phật giáo Hoà Hảo” sau này.

Từ sau năm 1920, hàng loạt tổ chức tôn giáo ư xã hội mọc lên khắp các tỉnh Nam Bộ, trong đó nổi tiếng nhất là Nghĩa Hoà Hội ở Mỹ Tho, Nhân Hoà  Đường ở Bà  Rịa,  Phục Quốc Hội  ở Sa Đéc,  mà tổ chức đứng hàng đầu là Thiên Địa Hội của nhà  sư Nguyễn Hữu Trí và của pháp sư Phan Xích Long ở căn cứ Thất Sơn (An Giang). Các “hội - đạo” này đều mang  đặc điểm ma thuật về biểu tượng, tôn giáo về lễ nghi và luật lệnh, nhưng vẫn rất thế tục về tổ chức vật chất. Khi các Thiên Địa Hội tổ chức cúng tế, rước xách rầm rộ, quần chúng tham dự sôi nổi, “hội tề” và mật thám giương mắt ra ngạc nhiên về hiện tượng mới mẻ này; nhưng khi các “hội - đạo” này bắt đầu tỏ lộ ra xu hướng  chống thực dân xâm lược, bọn cầm quyền Pháp liền ra tay khủng bố người cầm đầu, bắt bớ tín đồ, bóp chết tổ chức.

Tuy các Thiên Địa Hội bị đàn áp, quần  chúng vẫn ôm ấp khát khao tìm được các đấng cứu đời, cứu thế, do vậy các “đạo” lại liên tiếp  mọc ra ào ạt và ồn ả, nhốn nháo và xáo động. Khách quan mà nói, không phải chỉ sau khi Pháp nổ súng chiếm thành Gia Định ngày 17 tháng 2 năm 1859 mới làm nảy sinh khát vọng đi tìm một chân trời mới, dưới mầu sắc tín ngưỡng cầu cúng, mà trước đó, cảnh sống  kìm kẹp không lối thoát dưới triều Minh Mệnh - Thiệu Trị (1820 - 1847), nhất là khi các cuộc nổi dậy như của Lê Văn Khôi  chiếm giữ  Gia Định hai năm trời rồi bị đàn áp vô cùng tàn bạo, đã đẩy quần chúng tìm các con đường giải thoát. Khi Pháp đánh chiếm rộng ra, đất Nam Bộ bị chà sát kĩ lưỡng, nên cũng là miền đất nảy sinh một loạt các đạo giáo (sectes religieux): đây là các tín ngưỡng á-tôn giáo (parareligion), phần lớn là những mảnh vụn của Phật giáo cộng vào tín ngưỡng bản địa, đôi chỗ mang một màu sắc chủ nghĩa dân tộc có phần cực đoan, bài ngoại; nhiều đạo giáo có pha trộn các loại mê tín dị đoan, dùng nhiều nghi thức, lễ hội kì bí, có khi dùng bùa chú và phép thuật ở cấp thấp.

 Trong bối cảnh Nam Bộ thế kỉ XIX, các đạo giáo cuốn mình vào những phong  trào chính trị địa phương, chống thực dân xâm lược hoặc chống phong kiến bóc lột(1) Đầu thế kỉ XX, một người khoảng 20 tuổi, tự xưng là Phật Sống, đứng giữa Chợ Lớn, tuyên bố mình là hậu duệ của vua Hàm Nghi, nay dựng cờ tiếp tục đánh Pháp. Đó là ông Phan Xích Long, tên thật là Phan Phát Sanh, đôi khi cũng khoe mình là dòng dõi nhà Minh bên Trung Quốc (!). Ông này đã nhiều năm lăn lộn trên vùng núi Thất Sơn (An Giang) để theo đạo Phật Thầy, vừa học chữa bệnh, vừa học “pháp thuật để cứu đời”; sau đó ông có sang tu luyện ở núi Tà Lơn ở tỉnh Campốt (Campuchia) và ở cả Bát Đăm Boong (phía tây Campuchia). Năm 1911, ông xuất hiện ở Chợ Lớn, tuyên bố theo gương ông Phật Thầy lập một đạo mới để cứu đời cứu đạo, nhưng hình như số người đi theo ông không có bao nhiêu; ông  còn công bố kế hoạch làm nổ tung nhiều  dinh thự của Pháp và nhiều công sở công cộng như bến tàu, nhà ga ... Ông bị Pháp bắt năm 1913 trên đường ra Phan Thiết để “truyền đạo”, không để lại vết tích gì, (xin lưu ý: ba mươi năm sau, cũng từ  vùng núi Thất Sơn này, lại có người xưng tên “đạo Phật Thầy” cứu đời cứu đạo: đó là chuyện ông Huỳnh Phú Sổ cho phục hồi đạo Phật Thầy dưới cái tên làng Hoà Hảo quê ông).

Cũng khoảng thời gian ngay sau đó, khoảng ba mươi năm (1925- 955), có nhiều “đạo” với lắm sắc thái riêng.  Đạo Dừa (có nguồn tư liệu nói thật ra ông Nam chọn tên Đạo Vừa, nghĩa là  “vừa phải, không dữ không hiền, không mạnh không yếu, không nhanh không chậm, không cao không thấp ...” “vừa” nói theo  âm Nam Bộ nghe như “dừa”) xuất hiện khoảng 1944 - 1946, do ông Nguyễn Thành Nam, sinh năm 1910, con một gia đình địa chủ giàu có xã Phước Thạnh (huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) xướng xuất. Thuở nhỏ, ông được cho đi ăn học các trường Công giáo ở Sài Gòn và bên Pháp. Về nước, ông lên núi cấm Thất Sơn để “tu luyện” rồi trở về cồn (bãi giữa sông) Phụng, giữa sông Tiền, dựng một đài Bát Quái trên đầu cột dừa làm nơi truyền đạo, gọi là Đạo Vừa; nhưng do phát âm Nam Bộ, lâu ngày viết thành Đạo Dừa vì nhiều người thấy ông luôn luôn ngồi trên cây dừa, đồ rằng quanh năm chỉ uống nước dừa mà sống. Ông khoác áo vàng, lúc thì xưng là Trạng Trình tái sinh, lúc lại nói mình là Gia Long tái thế; ông cũng kí nhiều giấy tờ hô hào mọi người theo đạo, dưới tên hiệu là Hoàng Nam Đế, hoặc Hoàng Nam Quốc hay Hoàng Nam Chúa. Ông lại cho đắp hình bản đồ Việt Nam trên sân, mỗi ngày đi lượn 5 giờ để mang lại độc lập thống  nhất cho nước nhà, theo thuyết “bất chiến tự nhiên thành”. Sau năm 1975, ông đổi tên đạo của ông là  “Đạo Bất tạo con”, nói là để hưởng ứng chủ trương sinh đẻ có kế hoạch; ông cho đóng một chiếc “thuyền bát nhã” ngược xuôi sông Tiền, sông Hậu, trên đó có ông với chín người đàn bà, tất cả đều không mặc áo quần, gọi là để truyền giảng Đạo Bất tạo con. Có thể coi ông  Đạo Dừa  là một trí thức lúc đầu có nhiều ý tưởng tốt nhưng xa thực tế rồi mất phương hướng, loạng quạng trong phương sách, ngô nghê trong giải pháp, hoang đường và không tưởng trong mục tiêu. Ông mất năm 1990 trong sự lãng quên của dân Bến Tre.

Cùng thời gian đó, Nam Bộ có khoảng dăm bảy chục thứ đạo ít nhiều theo mẫu Đạo Dừa, mỗi “đạo” có tiếng vang chừng vài chục xóm ấp, thu hút được từ vài ba trăm tới mươi lăm nghìn tín đồ. Đó là Đạo Chuối, Đạo Nằm, Đạo Ngồi, Đạo Chó, Đạo Kiếng, Đạo Cậy, Đạo Thứ, Đạo Khùng, Đạo Sển, Đạo Mền, Đạo Đèn, Đạo Cao, Đạo Câm, v.v... tuỳ theo khuôn khổ hay tính cách lạ lùng của các ông đầu đạo mà đặt tên đạo, có ông ngồi chồm hổm trên ngọn cây dừa, có ông chỉ ăn độc một món chuối không đụng tới cơm thịt, có ông “Đạo Cao” cao hơn hai mét, có ông cả ngày chỉ nằm dài thì thành “Đạo Nằm”, ông “Đạo Câm” cả ngày chẳng nói, ông  “Đạo Chó” ngày đêm thờ cúng bái lạy một con chó đốm, ông “Đạo Kiếng” cứ ngồi lì thiền trước một tấm kính, v.v ... Thậm chí có nhiều ông có biểu hiện tâm thần bất ổn, lúc nào cũng say xỉn, gần như đã mất thăng bằng trong cuộc sống, và thành ông “Đạo Khùng”, ông “Đạo Rồ”; đã có nhiều người phải thừa nhận rằng “nhậu nhẹt” không chỉ  là cái tật khó sửa của làng quê Nam Bộ, mà có khi còn trở thành “đạo” của một số vị. Từ trạng thái hụt hẫng trong đời sống, tiến sang một loại hình dân dã trong tôn giáo ư tín ngưỡng, có pha trộn hoặc cài cắm ít nhiều màu sắc của phép thuật trong đạo Lão, thâm sâu trong đạo Nho, và cả huyền bí trong một số tông phái đạo Phật, thế là các “ông đạo” đi cứu đời bằng mẹo chữa bệnh bằng nước lã, đi hô phong hoán vũ, hứng lên thì “tiên tri” nhiều phép lạ kì ...
(Còn nữa)
Chú thích:
(1)  Cùng thời kì này, có những tổ chức mang hình thái và nội dung tương tự các đạo giáo Nam Bộ, đó là các tổ chức Thiên Địa Hội, Thái Bình Thiên quốc, Bạch Liên giáo ... ở Trung Quốc, nhóm đạo giáo Maulani ở Indônêxia khoảng năm 1842 – 1845, nhóm Magdano ở Philippin khoảng năm 1897 – 1899, v.v...

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, tadamina, quycoctu, nhuocthuy, Yahoo, byphuong, Ngoisaobiec, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Bảy 12, 2011, 01:32:50 AM »





Những “đạo” này đáp ứng các nhu cầu tín ngưỡng của bộ phận quần chúng động dao, đau khổ mà mất phương hướng, thiếu một niềm tin, ngóng đợi và cầu xin một nguồn an ủi nhẹ nhàng hoặc trông chờ, chạy theo một kì vọng xa xôi nào đó.

 Có thể lấy dấu chỉ xuất hiện đạo giáo châu thổ Nam Bộ là việc hình thành  Tây An cổ tự, tất nhiên khi mới xuất hiện, chùa này chỉ có dáng vóc nguyên sơ chứ không phải như ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng ngôi chùa đã xây đắp lại sau khi bị chiến tranh tàn phá. Chùa được xây cất năm 1847 (Thiệu Trị thứ bảy) trên núi Sam, thuộc địa phận thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang). Đứng lên xây chùa là một con người quê tỉnh Thái Bình: ông Doãn Uẩn(2) tổng đốc An Hà. Nhưng gắn bó tiếng tăm nhất với ngôi chùa là người  nằm trong khu mộ sau chùa thường được gọi là Phật Thầy Tây An; ông là Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856), con gia đình nông dân Đồng Tháp, có lúc phô rằng là con của Nguyễn Huệ và Ngọc Hân, thấy dân chết nhiều vì bệnh thời khí, đã lên núi tu tiên chữa bệnh cho dân, tự nhận là “Phật Thầy giáng thế cứu đời, chính là ta”. Lần đầu truyền đạo năm 1849 tại đình làng Kiến Thạnh (Long Xuyên, An Giang ngày nay). Ông đưa ra thuyết “Tứ đại ân nghĩa(3) tự gọi là Đạo Lành cứu dân, cứu đời. Ông tung ra một bài sấm Trạng Trình, và giảng thêm lời sấm kêu gọi đứng dậy đổi đời, đánh đổ nhà Nguyễn:

     



     -Bửu ngọc quân minh thiên  Việt nguyên
     -Sơn trung sứ mạng địa  Nam tiền
     -Kỳ niên Trạng  tái tân phục quốc
     -Hương xuất Trình sang tạo nghiệp yên.


 



Ông lấy bốn chữ đầu câu thơ ghép lại thành Bửu Sơn Kỳ Hương,  giảng là: từ “Núi quý hương lạ”; trong bốn câu, có ẩn dấu một lời sấm:  Việt Nam Trạng Trình tái xuất tân phục quốc, tạo nghiệp yên (Trạng Trình sẽ tái xuất trên đất Việt Nam, để dựng lại nước, tạo nghiệp yên hàn cho dân). Từ đây ông đổi tên đạo giáo của ông là Bửu Sơn Kỳ Hương. Lúc đầu  Bửu Sơn Kỳ Hương mang hình thức là một thứ đạo Phật được  “bình dân hoá”, pha thêm một chút tu tiên của đạo Lão; đạo không có tăng sĩ mà chỉ có các cư sĩ thế tục vẫn sống với vợ con xóm làng. Các cư sĩ không ngừng truyền dạy rằng Phật Di Lặc (Maitreya) - đôi khi được gọi là Minh vương, hoặc Minh hoàng - sẽ giáng trần để “tịnh hoá” thế gian này và sẽ thiết lập Hội Long Hoa, mở ra một thời kì mới gọi là kì Thương Ngươn(4)đầy công lí và hạnh phúc cho chúng sinh. Những nhà Phật học gọi đây là thế mạt luận (eschatologie) - giải thích theo góc độ xã hội học - là sự kết án chế độ chính trị đương thời gắn với sự giáng trần của một vị Phật mới sẽ xây dựng một xã hội tốt đẹp. Còn khái niệm Hội Long Hoa là lấy từ Long Hoa Kinh của hệ phái Đại Thừa Viên Đốn ở Trung Quốc, được thiết lập khi nào tín đồ thành tâm ngưỡng vọng. Một giáo sư đại học Harvard (Mỹ) là thầy Huệ Tâm đánh giá rằng, giáo lí Phật Thầy nên xem như một sự tái chế (reworking) giáo lí đạo Phật, sự tái chế này phản ánh ảnh hưởng của nhiều dòng tư  tưởng khác nhau tại khu vực biên giới và đặc biệt nó là một phản ứng với lối đi tu truyền thống co hẹp trong các tu viện (monasticism)  cùng thái độ nội quan (introspection).

 Nhìn khái quát, có người xếp đây là một thứ đạo giáo cứu thế (messianism) mang màu sắc nông dân Nam Bộ. Lúc đó vua Thiệu Trị mới cho rút quân từ Nam Vang (Campuchia) về An Giang, mang theo bệnh dịch hoành hành dữ dội, nhiều xóm ấp vắng lặng tiếng nói cười. Lại tiếp thêm ngoài Đà Nẵng, Pháp bắn phá giết chóc. Thiệu Trị chết lúc 41 tuổi, con trai thứ hai là Hồng Nhậm lên ngôi, tập trung sức bao vây và tiêu diệt thế lực của anh cả là Hồng Bảo. Đức Phật Thầy vừa truyền giảng đạo mới, vừa dùng pháp thuật để “chữa trị” bệnh tật cho dân. Dân quê hùa nhau theo Thầy đông như đi hội,  cùng hò reo, tôn ông lên làm Phật Sống. Phật Thầy lấy chùa Tây An làm trụ sở chính, song Thầy đi đây đi đó vừa chữa bệnh, vừa khuyên dân di chuyển lập làng mới. Tuy thế, Phật Thầy Tây An lại làm thơ tuyên ngôn cái căn cốt Phật - Chúa - Nho của đạo đeo bùa để đón Hội Long Hoa:


   



     -Nhất ngươn Đức Phật Thích Ca
     - Giáng sanh cõi thế Long Hoa hội kì
     - Kính dưng mình chúa hưng long
     - Dân khương vật phụ thiên xuân thái bình
     - Kính trời, kính đất, thần minh
     - Tòng môn phụng sự giữ toàn Tứ Ân
(5).

 



Xương sống giáo lí của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là quan điểm Học Phật tu nhơn, không tu hành theo Phật pháp, không tụng kinh Phật, không thờ lạy tranh tượng, mà thay vào đó thờ một mảnh vải đỏ, gọi là Trần điều. Trong phần tu nhơn, tín đồ thể hiện lối sống nông dân, nặng truyền thống dân tộc, có khi đến mức bảo thủ, như bới tóc (tóc búi sau gáy), áo vạt hò, quần lá nem không giải rút), đi chân đất .

 Người trong đạo không cúng kiếng, không uống rượu, không ăn chay, không lập chùa, không xuất gia, không bói toán, không vàng mã cho người chết ... Phần đông tín đồ là nông dân nghèo, giàu lòng yêu nước, nhưng lại mê tín, hay tin vào thần quyền, chịu ảnh hưởng khá nặng vào các đạo sĩ vừa là tiên tri, vừa là “minh chủ”. Người theo đạo “Bửu Sơn Kỳ Hương” được Thầy phát cho cái bùa, in bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” (hương lạ từ núi quý), xoắn lại đeo trước ngực.

 Bàn thờ đơn giản, chỉ có một miếng vải đỏ gọi là “Trần điều”, không thờ ảnh tượng hình cốt gì. Đọc kinh mỗi ngày 4 lần, nhưng chỉ đọc thầm trong miệng, không cần ai nghe thấy, không kèm theo mõ chuông gì. Thức cúng cũng đơn giản: trà, nước, hương, hoa. Người theo đạo, cốt chú ý tu sửa tâm tánh, làm nhiều việc thiện. Các thể thức theo đạo được lược giản tối đa, phù hợp với lối sống của nông dân Nam Bộ vùng biên giới dọc hai bên bờ sông Cửu Long. Đạo truyền khá nhanh ra nhiều tỉnh Miền Tây Nam Bộ, đặc biệt các huyện Tịnh Biên, hâu Phú, Phú Tân (An Giang), Rạch Giá, Hòn Đất (Kiên Giang), Tân Thành (Đồng Tháp), v.v...

 Vì không có hệ thống giáo lí, cho nên Bửu Sơn Kỳ Hương (cũng như Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hoà Hảo sau này) chạy theo một xu hướng chính trị nặng về tuỳ cơ ứng biến mang tính thực dụng nhất thời, thậm chí đi đến “lựa gió, kéo buồm”, dẫn tới tình cảnh một số người cầm đầu nhảy vào hoạt động chống lại dân tộc và cách mạng; đó là các trường hợp một số nhóm trong  đạo Cao Đài và  Phật giáo Hoà Hảo chạy theo khẩu hiệu mị dân của Nhật Bản nêu ra “Châu á của người Châu á”; hoặc lập ra nhiều đơn vị vũ trang, nhiều chính đảng phản động chống lại kháng chiến, chống lại cách mạng.

 Triều đình Tự Đức thấy Đạo Lành (tức Bửu Sơn Kỳ Hương)  ngày càng đông người tin theo, thì nghi ngờ đây là tụ bạ dân chúng để gây loạn, nên ra lệnh cho quan lại bắt giam ông  Phật Sống khiến ông chết trong nhà giam năm 49 tuổi. Tuy ông đầu đạo bị giam giữ và bị chết, đạo vẫn ngấm ngầm lưu tồn trong nông  thôn, nhất là khi Pháp đánh rộng ra
Miền Tây, triều đình bó tay lùi bước, mất đất mất dân. Hầu hết tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đều hăng hái đứng lên theo ngọn cờ chiến đấu của Trương Định (1820 - 1864), Nguyễn Trung Trực (1837 - 1868) dũng cảm hi sinh tài sản và tính mạng để bảo vệ xóm làng, quê hương.

 Đặc biệt dương cao ngọn cờ Đạo Lành là phong trào nông dân nổi dậy dưới sự  lãnh đạo của ông Trần Văn Thành (1818 - 1873), một cư sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương, quê xã Bình Thạnh, huyện Châu Phú (An Giang). Thật ra, tên ông là Trần Vạn Thành, người anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến 1862 - 1873 chống Pháp xâm lược ở căn cứ Láng Linh - Bảy Thưa (An Giang). Ông vốn là người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, năm 1840 làm suất đội, từng đóng quân lâu năm ở Chân Lạp, rồi làm chánh quản cơ, thường được dân gọi là ông Quản Thành, sau khi ông mất dân gọi là Đức Cố Quản. Khi Pháp mở rộng xâm lược, ông lập căn cứ vùng Láng Linh (nay thuộc huyện Châu Phú) kéo dài đến khu rừng Bảy Thưa ở giữa Châu Đốc với Long Xuyên. Hội viên Đạo Lành khi ra trận đều đeo bùa Bửu Sơn Kỳ Hương ở ngực. Cuộc chiến đấu của Trần Văn Thành kéo dài hơn 11 năm (1862 - 1873), gây cho Pháp nhiều thiệt hại, tạo thanh thế vang động cho Đạo Lành trong tinh thần kháng Pháp, bảo vệ quê hương. Bị thất bại, ông tuẫn tiết, vợ và con cùng chết trong chiến trận.

 Sáu mươi năm sau, dân địa phương tìm lại nơi ông tuẫn tiết giữa đại đồn Hưng Trung, dựng lên nơi thờ cúng ông, nhưng phải gọi là chùa Nam Long (tên chữ Nam Long tự), ở ấp Hưng Trung, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, phía tây tp. Hồ Chí Minh khoảng 160 km. Chùa không thờ Phật, không có sư sãi trụ trì .Chùa có bốn mái, bốn cột, có trướng đề “Bửu Sơn Kỳ Hương”, có bài vị đề rõ “Trần phủ Đức Ông”, bên cạnh là  bài vị “Nguyễn phủ Đức Bà”, có quạt thờ đề “Việt Nam đại cường quốc”; hàng năm, cúng giỗ ông vào ngày 21 và 22 tháng 2, giỗ bà  vào ngày 5 tháng 5, giỗ con trai trưởng của ông bà là Trần Văn Nhu vào hai ngày 24 và 25 tháng  3 Âm lịch.

(Còn nữa)

Chú thích
(2) Ông quê ở huyện Thu Trì (tỉnh Thái Bình) đỗ cử nhân năm 1828, đi đánh dẹp Nông Văn Vân ở Tuyên Quang năm 1833, làm Tổng đốc Thanh Hoá năm 1841, làm Tuần phủ An Giang năm 1843, cùng Nguyễn Tri Phương đem binh đánh Chân Lạp, chiếm
thành Nam Vang, được thăng Tổng đốc An Giang – Hà Tiên; ông bỏ nhiều năm đổ công sức ra tổ chức khai hoang, đào sông, di dân, mở mang làng xóm, nổi tiếng thanh liêm cần mẫn, được khen  là  “An Tây mưu lược tướng” “Trí dũng tướng quân”; mất năm 1849 tại chức.

(3) Gọi tắt làTứ Ân , được diễn giảng mỗi lúc một khác; có khi là ân phụ mẫu, ân quân vương, ân Tam bảo, ân chúng sinh; có lúc là Trời Phật, quân vương, sư phụ, cha mẹ; có khi là tổ tiên, đất nước, Tam bảo, đồng bào.

(4). Xin chú ý là Thượng Ngươn (đọc chệch từ Nguyên, kị huý tên chúa Nguyễn Phúc Nguyên), chứ không phải là Nguôn,  như nhiều người đọc và viết lầm. Đạo Cao Đài gọi là Hạ Ngươn.

(5)Trích Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An trong sách Sấm truyền của Tông phái Phật Thầy - Tác giả Nguyễn Văn Hầu sưu tầm và biên dịch. Tông Sơn cổ tự xuất bản - 1973.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Yahoo, byphuong, quycoctu, Ngoisaobiec, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Bảy 14, 2011, 12:07:23 AM »





Người đầu tiên đứng ra nhận mình là hậu thân của Phật Thầy là ông Phật Trùm, một nông dân Châu Đốc (An Giang), bị tiêu chảy trầm trọng, đã bị đem đi chôn, rồi ông bỗng sống lại một cách kì lạ. Ông thường dùng nến để chữa bệnh cho mọi người, nên có thêm biệt danh là ông Đạo Nến. Năm 1870,  Phật Trùm  bị bắt vì những hoạt động chống Pháp, Đạo Nến tan rã vào năm 1875, ông chết. Nhưng con người được quần chúng coi thật sự là hậu thân của Phật Thầy lại là ông  Năm Thiếp, tên thật là Ngô Lợi (1831 - 1890), quê ở tỉnh Bến Tre. Ông hay ngồi đồng thiếp(6) cho nên quần chúng tặng biệt danh là thầy  Năm Thiếp. Khi ông Nguyễn Trung Trực thua trận ở thành Hà Tiên phải rút chạy về Rạch Giá và sau đó phải ra nộp mình cho giặc và bị chúng hành hình, năm 1867, ông  Ngô Lợi công nhiên tuyên lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, vừa truyền đạo, vừa đưa dân đi lánh nạn, xây dựng quê mới, kết hợp chữa bệnh bằng tâm lí với lá cây, dần dần tổ chức lực lượng kháng Pháp có tiếng vang ở vùng Long Xuyên,  Châu  Đốc,  Hà Tiên. Tháng 9 năm 1870, ông đặt danh hiệu là Đức Bổn Sư, và tháng 7 năm 1872, ông cho cất ngôi chùa Tứ Ân đầu tiên tại Bình Long. Đầu năm 1876, ông dẫn tín đồ vào núi Tượng vùng Thất Sơn (An Giang) để “trảm thảo, khai sơn” (chặt cây, mở núi), dựng xóm làng quê mới. Ông gọi tín đồ là Bá gia, tín đồ gọi nhau là Thân bằng. Năm 1879, ông bắt đầu lập thôn An Định, thánh địa của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, lập nhiều làng ấp khác nhau trong vùng thung lũng giữa núi Tượng và Núi Dài, cho dựng những ngôi chùa, đình, miếu.

 Tứ Ân Hiếu Nghĩa thật sự là một đặc trưng của văn hoá Nam Bộ. Quá trình phát triển của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gắn liền với quá trình di dân, khẩn hoang lập làng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Rất đông nông dân bỏ ấp trại cũ, chạy đến vùng Thất Sơn, xin theo đạo và khai hoang lập thêm nhiều xóm ấp mới nằm ngoài vòng kiềm toả của quan lại triều đình và quân Pháp. Đức Bổn Sư ngày đêm cùng tín đồ làm ăn, tập dượt võ nghệ, biến  các ấp trại thành căn cứ chống Pháp. Pháp càng đánh, đạo lan ra Miền Tây rồi cả Miền Đông Nam Bộ, tỏa dư âm vào nhiều “đạo”, nhiều tôn giáo khác. Ông cũng tố cáo các tội ác của Tự Đức: đã dồn Kinh lược sứ Phan Thanh Giản phải uống thuốc độc tự tử, vậy mà Tự Đức còn mạt sát và cho đục bỏ tên ông Phan trên bia đá tiến sĩ; róng riết kìm kẹp dân chúng, Tự Đức chính là kẻ thất đức, có tới 104 vợ mà vẫn không có con nào; ông cũng kêu gọi quan lại lớn nhỏ của triều đình chớ làm tay sai cho Pháp chiếm đất, thôi đừng vâng mệnh Tự Đức làm điều có hại cho dân chúng, có hại cho đạo đức xã hội.

 Vùng Thất Sơn - trung tâm đất tự do của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa - ngày càng mở rộng, ấp nào cũng dựng chùa giảng kinh truyền đạo, ảnh hưởng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa trải rộng khắp miền tây tỉnh An Giang trong hơn mười năm 1879 – 1890. Đức tin của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kế thừa quan niệm về “Hội Long Hoa trong thời Hạ Ngươn” của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Cái mới của Tứ Ân Hiếu Nghĩa là không nhắc đến Niết Bàn và nội dung mang tính “mạt thế luận”; lòng tin về Hội Long Hoa sẽ khai mở một ngày gần kề, không diễn ra một nơi nào khác trên thế giới mà ngay tại Núi Cấm – Thất Sơn này của Việt Nam. Tới khi Pháp đánh chiếm, Nam Bộ bị chà sát kĩ lưỡng, nên cũng là miền đất nảy sinh một loạt các tín ngưỡng tôn giáo nội sinh: lúc đầu là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương xây dựng Thất Sơn tự để thờ  Trần điều  và thờ Tổ;  bị đàn áp, phong trào này biến thành đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hoà Hảo; tuy nói là Tam giáo, nhưng trội hơn cả là Nho giáo, thứ đến Đạo giáo trừ tà chữa bệnh, cuối cùng mới là ơn Tam bảo xếp hàng thứ tư trong Tứ Ân (ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đồng bào nhân loại, ơn đất nước xứ sở, và cuối cùng mới là ơn Tam bảo).

 Tôn chỉ khá đơn giản, cũng lấy Tứ Ân làm nền tảng, xoay quanh bốn chữ “tu nhân học Phật”, khuyến dụ tín đồ làm việc thiện hàng ngày; đạo không đặt ra giới luật khắt khe, không có sự phân cách và kiêng kị gì giữa chức sắc với tín đồ; tín đồ không phải ăn chay trường, không phải rời bỏ gia đình, chỉ mặc quần áo bà ba đen, đi chân đất, để tóc dài búi lại sau gáy, có hạn chế sát sinh, tránh ăn 12 con giáp (trâu, gà, lợn, chó, mèo, ngựa, dê, chuột, rắn ...) xem như một bước trên đường tu thân. Tín đồ không cầm vũ khí đánh giặc mà chỉ chống đối tẩy chay hàng hoá (vải vóc, thuốc lá, gương lược ...), tẩy chay chữ Tây (chữ Latinh, chữ Quốc ngữ), co về lối sống cũ của xóm ấp hẻo lánh, chờ thời cơ chống Pháp. Thờ cúng cũng đơn giản, tuy khấn vái có kêu thêm danh tính Đức Khổng phu tử, Thánh Quan công, Đức Thích Ca, Phật Bà Quan Âm, và đôi khi cả Nhạc Phi, Bao Tự , v.v...

Khi chấp thuận “thọ giáo” (xin vào đạo) tín đồ gặp Đức Bổn Sư, hay ông Trò, ông Gánh(7), xin làm “thân bằng;” họ được phát cho một bộ “lòng phái” gồm năm tờ giấy có in chữ Hán và hình bùa với tên gọi: Lòng phái, Thế độ, Tiên sinh, Thái kiệt, Trần điều và được chỉ dẫn cách dùng năm giấy này theo chức năng khác nhau lúc sống và khi qua đời. Thứ thì xoắn lại đeo trước ngực, thứ dán lên tường vách  khi đau yếu, thứ đặt trong vải khâm (không dùng quan tài gỗ) lúc đem chôn, v.v... So với Bửu Sơn thì nghi thức nhập đạo của Tứ Ân có phức tạp hơn, và gần giống thủ tục gia nhập Hồng phái của Thiên Địa Hội của người Hoa ở Nam Bộ, nhưng lại đơn giản hơn so với thủ tục sau này của Phật giáo Hoà Hảo.

 Trang phục của tín đồ là bộ bà ba đen; có thêm một cái khăn đóng và một chiếc áo dài đen (vải thường) để mặc khi đi cúng lễ. Dù đàn bà hay đàn ông, đều không cắt tóc, để mọc dài tự nhiên, chải trơn rồi búi lại sau gáy, với quan niệm “để tóc, râu là chứng tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, gìn giữ mọi thứ cha mẹ trao cho.”

Giống như các tôn giáo khác, Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng có những lời giáo huấn, kinh cầu nguyện, lời tiên tri của Đức Bổn Sư truyền dạy, được ghi chép thành cuốn sách nhỏ, hoặc được các ông Trò ghi bằng chữ Hán trên giấy bản khổ lớn, gọi chung là Kinh Tứ Ân Hiếu Nghĩa; cũng có kinh được một số ông  Trò,  ông  Gánh “cụ thể hóa” hoặc biến hoá theo dạng thơ  sấm văn truyền ngôn, giản dị, dễ nhớ, hoặc “dịch” thành dạng thơ “sấm” lục bát có vần, có điệu, hoặc nhái lại sấm văn của Trò khác, Gánh khác truyền miệng tới. Bộ Kinh Tứ Ân Hiếu Nghĩa có tất cả 24 bộ, có tên riêng từng bộ. Nội dung đại thể ghi lại các nguyên lí:

Tu nhân: rèn sửa tâm tính, làm lành lánh dữ, sống tốt với mọi người, có ích cho xã hội cho đất nước. Thực hiện Tứ đại trọng ân, tức là đền trả 4 ân lớn: ân cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Không xuất gia tu hành, mà chỉ cần tu thân: hoà nhập cuộc sống, rèn tâm sửa tính, vì thực tiễn cuộc sống.
Nội dung  Tứ đại trọng ân -cũng như Thập nhị lệ sự nói dưới đây - đều được chuyển sang “thơ” theo lối sấm văn lục bát với vần điệu, lời bình dị, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người dân thường.

Học Phật: làm theo những điều Phật khuyên, thực hành Thập nhị lệ sự (12 điều tuân): kính thiên địa, lễ thần minh, phụng tổ tiên, hiếu song thân, thủ vương  pháp, trọng sư trưởng, ái huynh đệ, tín bằng hữu, lục tôn tộc, hoà hương lân, biệt phu phụ và giáo tử tôn. So với “học Phật” của Bửu Sơn chỉ phải niệm sáu chữ “Nam mô A di đà Phật”, còn tín đồ Tứ Ân vừa niệm 6 chữ đó, vừa chuông, mõ, lần xâu chuỗi và đọc Kinh Tứ Ân.

Ấn chú và rèn luyện tinh, khí, thần: Nhằm giúp đạt hiệu quả cao hơn trong việc đời, việc đạo, ấn chú theo hình thức của phái Mật tông, nội dung là những câu mật chú và cách tay ấn do Đức Bổn Sư bày cho. Việc ấn chú này đòi hỏi tu luyện công phu, không đòi hỏi mọi tín đồ đều phải làm. Nơi thờ cúng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là chùa, bày rất nhiều bàn thờ, không có tranh ảnh hay cốt tượng gì. Thờ rất nhiều thần: Mộc trụ thần quan, Thổ trạch long thần, Chính đức thiên la thần, Tả mạng  thần, Hữu mạng quan, Quan Công, Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ, Cửu huyền thất tổ, Tiên tấn lễ nhạc, Thập nhị tổ sư kĩ nghệ, Tam giáo hoả lầu; nhiều nơi còn thờ thêm: Phật vương, Tứ ân hiếu nghĩa, Phật Thầy Tây An, Đức Bổn Sư, Phật trùm, Thiên hoàng, Địa hoàng, Tứ đại thần châu, Ngũ hành, v.v...Các làng có thể có thêm đình và nhiều miếu, thờ các vị thần riêng của làng xóm.

 Sự phát triển của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gắn với việc xuất hiện nhiều làng xã tự trị, tự quản ở vùng Thất Sơn, đã tạo khả năng tập hợp những người nông dân mất ruộng, các nghĩa quân thất trận trong các đội quân chống Pháp; chế độ phong kiến suy tàn, nhân dân lầm than khổ cực, thực dân Pháp xâm nhập lấn chiếm và khủng bố, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa chính là một phương thuốc cứu thế (tất nhiên có nhiều mặt hạn chế) của những người nông dân Nam Bộ khêu gợi lòng yêu xóm làng, yêu đất nước, thương nhau theo nghĩa đồng bào đồng nạn, tổ chức mọi người đứng lên đi tới hẳn một khu vực mới để dựng thành một khu vực dân cư tự trị nằm bên ngoài sự thống trị của thực dân và triều đình; nó cũng tạo tiền đề cho sự phát triển tôn giáo theo hình thức khai hoang, lập làng, chữa bệnh, phòng dịch gắn với truyền đạo.

 Có thể thấy đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một phong trào yêu nước của nông dân Nam Bộ mang màu sắc tôn giáo, chứ không phải đơn thuần là một hình thức “tôn giáo cứu thế” như nhiều người lầm tưởng. Đặc điểm nổi bật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là tổng hoà các hệ thống quan điểm và đối tượng thờ cúng của Nho, Phật, Đạo, tín ngưỡng dân gian và truyền thống, tạo nên sự phong phú và thăng bằng trong đời sống tinh thần và tâm linh một thời của nông dân Nam Bộ. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã có một vai trò nhất định thỏa mãn nhu cầu tâm linh - văn hoá một thời của nông dân một vùng  tây Nam Bộ; nhưng nó bị hạn chế vì hệ tư tưởng bản vị, thủ cựu, cục bộ dòng họ; cúng lễ quanh năm quá nhiều làm chìm đắm tinh thần và nhịp độ đời sống cộng đồng, không thích ứng với tình thế chính trị xã hội lúc đó.

 Sau khi thực dân Pháp lùng sục và khủng bố, nhiều ông Gánh tỏa rộng ra các vùng khác, tiếp tục dựng chùa, truyền đạo, “phổ cập” việc cúng lễ cho đơn giản hơn nữa. Từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất 1914 ư 1918 , đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tồn tại hai hệ thống: một hệ thống  “chính thống” ở vùng Thất Sơn, trong các xã An Định, An Hòa (Ba Chúc), An Thành, Lương Phi, An Lập , Lê Trì, Vĩnh Gia, Lạc Quới ... Còn một hệ thống “biến thái” với các “ông Đạo” như ông Trần đi Núi Nứa, bà Năm Dội về An Phú, Ông Sư về Cù lao Ông Hổ ở An Giang ... vẫn đi chữa bệnh, cứu đời, dựng chùa, giữ đạo ... đến nhiều nơi khá xa như: Chợ Lách, Mỏ Cày (Bến Tre); Giang Thành, Kiên Lương (Kiên Giang); Long Hồ, Bình Minh (Vĩnh Long); Cái Bè (Tiền Giang); Sa Đéc, Hồng  Ngự, Cao Lãnh (Đồng Tháp); Tân Phú (An Giang); Phụng Hiệp (Hậu Giang); Cầu Kè, Châu Thành (Trà Vinh); Núi Nứa, Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu). Sau, cùng với sự qua đời của lớp người có tuổi, đạo tan dần, nhưng tàn dư vẫn còn đọng lại cho đến ngày nay ở một số nơi hẻo lánh, cơ cấu tổ chức có đơn giản hơn, nhưng tập tục tốt đẹp được bảo tồn gần nguyên vẹn. Trong các nhánh đạo đó, đáng lưu ý nhất là chi đạo Ông Trần (sau đổi tên là đạo Ông Nhà Lớn) do ông Lê Văn Mưu đưa hơn một nghìn tín đồ đi theo, từ vùng An Giang sang lập căn cứ mới ở vùng Núi Nứa.

 (Còn nữa)

Chú thích:
(6) Một hình thức mê tín dưới dạng phân tâm: Ngồi đồng thiếp đi cho hồn người chết nhập vào phán bảo, dặn dò và dạy bảo người sống.

(7) Ông Trò là những cao đồ thượng theo Đức Bổn Sư để phát huy ý tưởng, ghi chép lời dạy, và diễn giảng ra cho dễ hiểu; trong mỗi nhóm tín đồ, có một người được giao phận sự thay mặt Đức Bổn Sư trông nom việc đạo, gọi là ông Gánh, vai thấp hơn và thuộc lớp sau ông Trò. Về sau nhiều người cùng học đạo, hay cùng thọ giáo với một cao đồ, tập hợp thành một Gánh, cử người đứng đầu gọi là Trưởng Gánh, giúp việc Trưởng Gánh có Thông tin, Cưu sĩ, Thủ lễ. Chức sắc Trưởng Gánh theo chế độ cha truyền
con nối. Khi đông nhất, khắp vùng Thất Sơn có 24 Gánh, với 24 Trưởng Gánh họp lại thành Hội đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không có người đứng đầu, không có quyền lợi gì khác tín đồ, chỉ làm phận sự coi việc đạo của Gánh.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, ngodao, Daihongcat
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Bảy 15, 2011, 01:52:14 PM »





Đạo Ông Nhà Lớn: Cho đến ngày hôm nay chúng ta còn có thể tận mắt nhìn thấy di sản của Đạo Lành theo cờ của Tứ Ân Hiếu Nghĩa, hai trăm năm nay về núp ẩn ở đảo Long Sơn, một xã biệt lập ngoài đảo biển (gần đây đã đắp đường và có cầu) thuộc thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Từ thị xã Bà Rịa, có thể xuôi dòng sông Dinh đổ vào sông Mũi Dùi, hoặc xuống thẳng thành phố Vũng Tàu, tới khu vực nhà thờ Bến Đá đi xuống ngược phía bắc là tới đảo Long Sơn. Đây là nơi đang có gần mười nghìn tín đồ lành hiền vẫn ngày đêm thờ cúng theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa một cách sùng kính nhất. Công đầu xây dựng và duy trì đạo Ông Nhà Lớn, thuộc về ông Lê Văn Mưu, sinh năm 1856 tại làng Thiện Khánh, tổng Hà Thanh, quận Giang Thành, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Ngay khi còn ở tuổi thiếu niên, ông Lê Văn Mưu đã đứng trong hàng ngũ nghĩa quân vùng Láng Linh (Bảy Núi, An Giang) do quản cơ Trần Vạn Thành (1818 – 1873) làm thủ lĩnh. Cũng như nhiều nhánh khác của “đạo Ông Trần”, ông Lê Văn Mưu đóng bảy chiếc thuyền lớn (hiện còn di tích trưng bày ở Trung tâm Văn hoá xã), đưa cả gia đình, bà con họ hàng, vượt sông dài biển lớn, chạy lánh nạn từ phía tây Nam Bộ sang phía đông, khẩn hoang Núi Nứa. Khi đó, hòn đảo này nằm sát cửa biển, hoàn toàn hoang vu tách biệt hẳn với đất liền; trên là rừng già, dưới là rừng đước, địa thế vô cùng bí hiểm. Ngày qua tháng lại, gần ba mươi năm, ông Lê Văn Mưu cùng bà con xua đuổi hết lam sơn chướng khí, đẩy lùi nạn thú dữ hoành hành, biến dần đất đai khắc nghiệt thành những mảnh đất trồng trọt, chăn nuôi được. Họ lập dần ra nhiều ấp trại Long Sơn Hội, biến đảo hoang thành xã Long Sơn ngày nay nằm ngay cửa ngõ thành phố Vũng Tàu. Đáng chú ý là ngay từ thế kỉ XIX sang gần hết thế kỉ XX, đảo Long Sơn cự tuyệt việc đóng thuế cho chính quyền thực dân cũng như các chính quyền Sài Gòn thời 1955 - 1975.

 Ngay khi còn trẻ, ông Lê Văn Mưu đã cùng anh em bà con sống đời cởi trần (cũng vì lúc đó vải may áo quần cũng khó khăn đắt đỏ), để tóc dài búi tó sau gáy, quanh năm đi chân đất (cho đến ngày nay, nhiều người đàn ông ở đây cũng vẫn quen ở trần, búi tó, đi chân đất, góp phần cho dư luận quen gọi là đạo Ông Trần). Dân lưu vong từ nơi khác, dần dần xin đến cư ngụ thành dân nhập cư đảo Long Sơn; mọi người cùng nhau làm thủy nông, lập chợ lẻ, dựng trường học, lấy tinh thần lá lành đùm lá rách, mở mang dần thành các xóm trại no ấm bên cạnh các hình mẫu lưu canh lưu cư của thời mới đến khai hoang. Từ đầu thế kỉ XX, bà con đứng sau ông Lê Văn Mưu dựng dần được quần thể kiến trúc khu Nhà Lớn bằng gỗ (để tránh tiếng là hậu duệ ông Trần Vạn Thành, người ta chuyển sang gọi là đạo Ông Nhà Lớn), với những Lầu Cấm, Lầu  Phật, Lầu Dài ... bề thế uy nghiêm, khung cột lớn bằng gỗ tốt, lợp ngói, rộng hơn 4.000 mét vuông.

 Ông Lê Văn Mưu và những người thừa kế sau này, thường răn dạy bà con theo đạo hiểu rõ rằng : “Đạo đây không tu thành Tiên, thành Phật, mà chỉ để thành  Người”. Hằng ngày, người theo đạo bảo nhau “ăn ở hiền lành, ăn ngay nói thẳng, việc phải thì làm, việc quấy (trái) thì tránh”. Đặc biệt, người theo đạo Ông Nhà Lớn rất kính trọng ông Lê Văn Mưu, rất coi trọng việc tuân theo bốn chữ: Trung - Hiếu - Nghĩa - Nhân.

 Cho đến ngày nay, đạo Ông Nhà Lớn vẫn giữ được nhiều tục lệ đáng quý. Đám tang (ở đây không gọi là đám ma) được gọi bằng tên mới là “đám xác”, được chôn cất trong vòng 24 tiếng, không bao giờ xem bói toán sấm số để tránh kiết hung, chọn ngày tốt giờ lành gì cả; gia chủ không bao giờ nhận tiền phúng điếu; hoàn toàn không có cảnh thầy cúng chập cheng, xoay tiền để nổi trống thổi kèn, không có cờ xí đưa tang, hoàn toàn không có cúng và đốt vàng mã cho người chết; ở đây cũng xoá bỏ không có tục để tang 3 năm, đám xác không có cúng tế ăn uống, không khóc lóc vật vã. Các đám cưới ở Long Sơn cũng hoàn toàn không coi ngày giờ; tất cả các đám cưới đều ấn định vào ngày mồng một và ngày mười sáu âm lịch hằng tháng, không tổ chức lễ tiệc ăn uống linh đình; vật phẩm dâng cúng bàn thờ ổ tiên thường là bánh ngọt dẻo, chè xôi và trái cây trong vườn nhà. Hoàn toàn không có các hủ tục ăn uống chơi bời, xin xăm, lắc số, xóc thẻ, bói toán, tử vi, đồng bóng nói dựa để doạ dẫm và lừa bịp người dân.

Trong khu bảo tồn di tích Long Sơn, hiện có một vật không để lưu cữu mà ít ngày có việc lại đưa ra dùng, đó là “cỗ bao quan”; đó là một cỗ áo quan đặc biệt không chôn theo người chết mà chỉ dùng đậy lên xác người đã tẩm liệm; Bao quan đã có tuổi thọ trên một trăm năm, nắp chụp lên khung gỗ, bên ngoài sơn phết màu đỏ, phần trước và phần sau đều vẽ hình bông sen tiêu biểu cho sự thanh khiết và ngát thơm. Khi nhà có tang, cứ đến liên hệ với Ban Quản lí di tích để “thỉnh” bao quan, chiếc bao quan lập tức được đưa đến nhà có tang, đặt lên xác liệm, đưa ra tận huyệt, bao quan mở ra, xác được đưa xuống huyệt bằng những sợi vải trắng vắt ngang, và coi như kết thúc việc “xả tang”. Việc đưa tang bằng bao quan không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm gỗ ở một nơi đảo hoang hiếm cây lớn mà còn thể hiện tinh thần giữa mọi người về nơi an nghỉ vĩnh viễn không ai phân biệt giàu nghèo hèn sang, đúng là  “Sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách”. Cùng với tục dùng bao quan, ở đảo Long Sơn, huyệt mộ đều đơn giản như nhau, không ai cậy tiền của mà xây to đắp lớn ngôi mộ cho cha mẹ mình, không một ngôi mộ nào được tạo dựng bia mộ liệt kê danh tính chức tước gì. Người theo đạo Ông Nhà Lớn hằng ngày giữ  lệ làm lễ lúc 4 giờ sáng và 6 giờ chiều; trang phục chỉ khoác thêm chiếc áo dài vải đen, mặt mũi rửa ráy sạch sẽ, đầu vấn búi tóc, chân đi đất; đến bàn thờ chính ở ngôi Đền Thánh, có bày thêm vật phẩm cúng lễ bằng hoa quả trong các vườn nhà, không giết bất kì gia súc, gia cầm nào. Còn người mệt yếu, có thể làm lễ ngay tại nhà mình, cũng chỉ đơn giản bát nước mưa, nén hương, và có thể thêm nhành hoa thơm; không có kinh sách gì, mà chỉ đơn giản sau câu phù chú “Nam mô A di đà Phật” là lời khấn nhỏ tự mỗi người nghĩ ra khi dự lễ, không theo một công thức nào, chỉ cốt nói ra điều mình mong  ước cho mọi người được yên vui, làng xóm thuận hoà.

Đáng chú ý là hằng năm, đạo Ông Nhà Lớn tổ chức hai đại lễ vào ngày 20 tháng 2 và ngày mồng 9 tháng 9 (âm lịch), không chỉ tám nghìn người trên đảo thành kính tham dự mà còn cuốn hút thêm hàng chục nghìn người đồng đạo từ nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ và nam Trung Bộ nườm nượp kéo về đảo Long Sơn, nghiêm túc đóng góp và tham dự lễ hội. Trước kia, khi ông Lê Văn Mưu còn sống, dân theo đạo Ông Nhà Lớn đều nghiêm túc thực hiện lời dặn của những vị mở đạo rằng không hợp tác, không  phục tùng chính quyền và uy lực của đế quốc thực dân ngoại bang cùng chính quyền sở tại tiếp tay cho ngoại bang. Những năm đó đạo không chỉ là tín ngưỡng và tôn giáo, mà thực sự là một tổ chức kinh tế - xã hội độc lập với chính quyền và uy lực quân sự chung quanh.

Sau giải phóng, nhân dân trên đảo thường xuyên giao lưu mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, v.v... với nhân dân các xã xung quanh, và nhất là nhân dân thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu. Nhân dân Long Sơn hưởng ứng Ban Quản lí khu di tích Nhà Lớn, hằng năm tổ chức chương trình Cây Mùa Xuân để gây quỹ tặng quà cho trẻ em học sinh nghèo, ủng hộ đồng bào các nơi bị thiên tai bão lũ. Trong khi hàng chục khu di tích khác trong tỉnh hằng năm đều ngốn cả trăm tỉ đồng tiền của Nhà  nước để sửa chữa, thì riêng quần thể kiến trúc nhà gỗ Ông Nhà Lớn liên tục được nâng cấp, tu sửa mở rộng thêm phong quang sạch đẹp mà không xin hoặc lĩnh một xu nào của Nhà nước; khu di tích Long Sơn cũng khác các nơi đền chùa khác là hoàn toàn không thu lệ phí của khách đến tham quan hay dự lễ hội; không những vậy, đạo Ông Nhà Lớn còn mời cơm miễn phí tất cả mọi khách đến tham quan vào giờ ăn sớm chiều; khách muốn nghỉ lại buổi trưa hoặc qua đêm, ban Quản lí khu di tích rất vui lòng bố trí miễn phí chốn nghỉ ngơi yên tĩnh, sạch sẽ, chu đáo và lịch sự. Cho đến nay, quần thể khu di tích Ông Nhà Lớn vẫn xứng đáng là một trong những khu di tích lớn nhất của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời là một trung tâm tôn giáo điển hình của người nông dân Nam Bộ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, ngodao, Daihongcat
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.133 seconds với 25 câu truy vấn.