Tháng Mười Một 15, 2018, 09:15:44 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: NHO VIỆT  (Đọc 1540 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Bảy 09, 2011, 11:29:14 pm »

Một số đặc điểm của nho việt   
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu



Tôi  dùng  từ   “Nho” để chỉ một lĩnh vực khá rộng, bao gồm cả Nho giáo, Nho học và hẹp hơn nữa là Khổng giáo, Khổng học. Từ trước đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu Nho ở Việt Nam đều có một khúc mắc trong đầu: đặc điểm của Nho Việt Nam, để phân biệt với Nho các nước đồng văn khác, đặc biệt với Nho Trung Quốc là gì? Đóng góp của Nho Việt Nam là ở chỗ nào? Đặc điểm nào trong Nho Việt Nam mà nhờ đó có thể gọi nó là Nho Việt Nam? Mỗi khái niệm của Nho, xét về mặt đồng đại lẫn lịch đại, đều có sự phát sinh, phát triển, bổ sung, mở rộng, thu hẹp; vậy khi sang Việt Nam, chúng thay đổi như thế nào? Đây là những vấn đề khó, muốn giải quyết chúng đòi hỏi phải tinh thông Nho học, Hán học. Đáng tiếc là những vấn đề này trong giới học thuật cũng như các nhà Nho Việt Nam còn ít bàn đến.

Gần đây, đã xuất hiện một số học giả nghiên cứu về một số đặc điểm của Nho Việt, chẳng hạn, GS. Trần Văn Giàu cho rằng trong tam cương, Nho Tàu lấy quân thần cương làm số 1, còn Nho Việt lấy quan hệ giữa nước với dân làm đầu; trong ngũ thường, nếu nho Tàu đề cao chữ Nhân thì Nho Việt lại đề cao chữ Nghĩa; trong Bát điều mục  của Nho Tàu, Nho Việt không biết từ hồi nào đã tháo gỡ khái niệm “Bình thiên hạ”, chỉ còn lại thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia mà thôi; Nho Tàu tuyên truyền thiên mệnh, còn Nho Việt thì dạy sở cậy vào nhân lực; v.v… Theo GS. Trần Văn Đoàn, Nho Việt đã ra sức tinh giảm Nho giáo thành một loại hình ý thức hệ đặc thù, tách khỏi các dòng chủ lưu của Nho học Trung Quốc bằng cách chỉ lấy một vài phần có giá trị thực dụng để bảo vệ Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm hoặc gắn kết cho quyền lực của kẻ thống trị. Người Việt chỉ nhặt
nhạnh những gì hữu ích nhất cho các mục đích thực dụng và không đụng đến những phần còn lại. Nho Việt đã hoà hợp một phần lớn các yếu tố của Hán Nho, Minh Nho vào bản thân mình, tạo nên sự tiếp biến đặc thù theo mô thức tư duy của người Việt trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Nho mà Nho Việt tiếp nhận là một dị bản có pha trộn chút pháp trị của Hàn Phi Tử, chút hình nhi thượng học mơ hồ của Đổng Trọng Thư  và chút nguyên lí tự nhiên của nhị Trình. GS. John Kremes Whitmore cho rằng người Việt thời trung cận đại đã tiếp nhận tư  tưởng Nho chủ yếu mang tính thực dụng, ứng dụng và thực nghiệm hơn là mang tính suy ngẫm, lí thuyết, triết luận hay triết học. Trong các thư tịch có rất ít tác phẩm Nho học dưới dạng triết thuyết. GS. Phan Đại Doãn cũng cho rằng về kinh học, các sĩ phu Việt Nam thường giản yếu, lược luận; còn phần lớn họ tiếp nhận một cách thực dụng những bộ phận thuộc về luân lí đạo đức, để áp dụng vào công cuộc xây dựng gia đình, cộng đồng. Giới Nho sĩ Việt Nam gắn liền với nông thôn, nông dân. Các quan niệm hiếu, trung, nhân, lễ khi vào Việt Nam thường gắn liền với nghĩa. Nghĩa là điều kiện hoá của  hiếu, trung, nhân, lễ phải được hiểu và ứng xử như là nghĩa. Nếu trung có địa vị chủ đạo ở Nhật Bản thì nghĩa có vị trí quan trọngnổi trội ở Việt Nam. GS. Trần Đình Hượu cho rằng nhiều người trong chúng ta biết Nho giáo là dở, lên án Nho giáo kịch liệt nhưng trong thực tế sống, suy nghĩ, hành động nhiều chỗ lại rất Nho, thậm chí còn coi như thế là rất tốt đẹp. Không phải do dối trá. Họ làm như thế một cách chân thành, thanh thản, tự nhiên, vì không tự giác. Nho giáo chỉ là ngày hôm qua của chúng ta. Sống quá lâu với nó, chúng ta có thuận lợi là dễ am hiểu, thông thuộc, nhưng cũng có trở ngại là quá quen thuộc nên khó phân biệt. Thói quen, tình cảm làm cho chúng ta khó khách quan để nhận thức. Chúng ta rất dễ phê Nho theo cách Nho, vừa theo phương pháp chủ quan hơn về mặt triết học, vừa theo thái độ chủ quan đối với cái của mình, của ông cha. Ta mới chống chủ quan bằng cách thận trọng, cảnh giác, cân nhắc, xem tình, xét lý thì hơi hướng Nho giáo vẫn có thể bay vào cái khách quan của ta. Trước hết, ta hãy xem Nho du nhập vào nước ta khi nào? Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Nho vào nước ta từ thời Tây Hán, tức khoảng năm 110 TCN đến năm 39 SCN, được bắt đầu từ Thái thú Giao Chỉ –Tích Quang- lấy nghĩa dạy dân, Thái thú Cửu Chân – Nhâm Diên – dạy dân bằng lễ. Hai thái thú đó dựng nhà học dẫn dắt dân bằng lễ nghĩa, văn phong mang tính chất Nho giáo của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ đó. Từ năm 187 đến năm 226, Thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp giỏi Thư, Xuân Thu(1) , đã đưa việc giáo hoá dân chúng lên một bước mới, và ông đã được dân ta tôn là Nam Giao học tổ. Nho thời kì đầu này có lẽ là Nho Khổng Mạnh và Hán Nho. Sử còn ghi sau khi Hán Linh Đế mất, thiên hạ loạn lạc, chỉ có Giao Châu- Trị sở của Sĩ Nhiếp, người khoan dung, nhân hậu, sáng suốt, mưu trí, kính trọng kẻ sĩ - là còn hơi yên tĩnh; nên nhân tài, danh sĩ nhà Hán sang lánh nạn khá đông. Trong số đó có nhiều người làm nghề dạy học truyền bá đạo Nho. Nhìn tổng thể thời Bắc thuộc, Nho ít đi vào các tầng lớp xã hội bản xứ, vì một mặt muốn học Nho thì phải biết chữ Hán một thứ chữ rất khó học; mặt khác, sự du
nhập của Nho lại theo sau vó ngựa của quân xâm lược. Trong khi đó, Phật giáo lại đứng về phía người đau khổ, đứng về phía dân tộc, nên được mọi người ủng hộ. Người Việt, theo một số học giả, còn dùng Phật giáo làm tấm lá chắn khiến cho văn hoá Việt Nam tránh được sự đồng hoá.nChính vì vậy mà các triều đại đầu tiên của Việt Nam độc lập đều xa lạ với Nho. Trong các vương triều này, không phải nhà Nho mà nhà sư đóng vai trò chính. Nhà Lý xuất thân từ cửa Phật. Đến các vua Trần, người sáng lập ra Thiền tông Việt Nam, thì Nho chưa có thế lực lớn. Triều Lý (1010-1225), cùng với việc tôn sùng đạo Phật, đã lập văn miếu thờ
Khổng Tử (1070), tổ chức thi Tam giáo (1074) để chọn hiền tài; lập Quốc Tử giám - trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.
Thời Trần bắt đầu từ năm 1267, Nho sĩ được nắm quyền bính, vì theo chế độ trước đó, không phải là nội nhân (hoạn quan) thì không được làm hành khiển, chưa bao giờ dùng Nho sĩ văn học(2). Đó là bước ngoặt lớn đối với Nho sĩ nước ta. Cuối thời Trần, xu thế Tống Nho đã thể hiện khá rõ ở Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán. Chu Văn An đã viết Tứ Thư thuyết ước nhằm truyền bá lí học. Nhưng Nho thời Trần vẫn chưa mạnh. Điều đó thể hiện ở việc hôn nhân
trong nội tộc anh chị em lấy nhau ở nhàT rần. Ngay phong tục an táng trong những năm đầu của thế kỉ XV ở nước ta vẫn chưa có gì nói lên ảnh hưởng sâu đậm của Nho. Từ năm 1374 đến năm 1442, thể chế khoa cử được xác định dần và ổn định, kéo dài đến tận thế kỉ XIX, nó hầu như không có gì thay đổi quan trọng. 

Sang thời Lê, đặc biệt Lê Thánh Tông (1460-1497), Nho đạt đến thời điểm cực thịnh. Điều đó được thể hiện ở tổ chức nhà  nước, pháp luật, các chính sách, giáo dục và khoa cử. Từ đó Nho thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực như  tư  tưởng, văn hoá, phong tục, tập quán… Nho thời này chắc là Tống Nho vì Tứ Thư (Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại Học) được hình thành và trở thành một phần không thể tách rời của Nho giáo bắt đầu từ thời Tống, Ngũ Kinh (Dịch, Thi, Thư, Lễ Xuân Thu) sang ta nhiều và  được dùng vào việc học hành thi cử. Trong các tài liệu còn lại, ta thấy Trình Chu (Trình Hạo 1032-1085, Trình Di 1033-1107, Chu Hi 1130-1200) rất được coi trọng, tôn sùng. Trong các sách học ta thấy có cuốn Minh đạo gia huấn (sách dạy trong nhà của Trình Hạo). Thế kỉ XV, Nho thần Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ Đại Viêt sử ký toàn thư, trong số 174 lời bình thì có đến 98 lời trích từ các tác phẩm kinh điển Nho giáo Trình Chu. Ngô Sĩ Liên đặc biệt đề cao Chu Tử, cho những tác phẩm của Chu Tử là tập đại thành của các tiên Nho, là khuôn mẫu cho kẻ hậu học. Sang thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn cũng rất mực đề cao Chu Tử. Điều này thể hiện rõ trong Dịch kinh phu thuyết, Tứ thư ước giải, Xuân Thu lược luận. Trong thư gửi La Sơn Phu Tử, Quang Trung vẫn khẳng định nền học khi ấy là của Trình Chu. Không phải ngẫu nhiên mà ở Việt Nam, vào trường Nho được người ta gọi bằng một cái tên khá quen thuộc, vào cửa Khổng sân Trình. Cho nên ở Việt Nam, nói đến Nho là nói đến Khổng Mạnh, Trình Chu .

Nghiên cứu về Nho là nghiên cứu một hiện tượng vô cùng phức tạp. Người sáng lập ra Nho là Khổng Tử thời Xuân Thu. Sang Chiến Quốc, học thuyết của Khổng Tử đ-ợc Mạnh Tử phát triển. Về sau, mỗi thời ta có một loại Nho mang những sắc thái khác nhau, chẳng hạn như Hán Nho, Tống Nho, Minh Nho, Thanh Nho và mỗi Nho lại đề cao một Kinh… Lịch sử phát triển của Nho diễn ra theo cả bề rộng lẫn bề sâu. Bề rộng  là từ Trung Quốc lan sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, … Bề sâu là các giai đoạn sau thường phong phú hơn các giai đoạn trước. Như vậy, trong tiến trình lịch sử, mỗi khái niệm của Nho đều được mở rộng, phát triển dần dần ở ngay trên quê h-ơng của nó. Nhưng đồng thời, ở mỗi thời điểm, mỗi loại Nho đó lại có sự truyền bá đi nơi khác.  ở nơi nó đến có sự lệch không chỉ một pha mà đến hai, ba pha vì nó phải đ-ợc bản địa hoá, không chỉ lệch về thời gian mà cả về không gian nữa. Từ đó ta thấy, Nho ở nước ta như những lớp trầm tích đan xen, bện chặt lấy nhau, gần như một khu rừng nhiệt đới rậm rạp. Nhiều ng-ời cho rằng, Nho Việt chỉ là Nho ứng dụng, nó được lược giản, đơn giản hoá. Nói như vậy, theo tôi, cũng chưa thật thoả đáng. Học thuyết lí khí của Lê Quý Đôn sẽ nói lên điều đó. Theo GS. Cao Xuân Huy, Lê Quý Đôn có một vũ trụ quan rất đặc sắc; ông không nói vô cực như Chu Đôn Di mà chỉ nói thái cực. Ông đứng hẳn về phía Hữu  mà bác bỏ luận điểm Hữu sinh ư vô của Lão Tử. “Lê Quý Đôn không đối lập Lí và Khí, không những không đề cao Lí đối với Khí” (Lí là hình nhi thượng, Khí là hình nhi
hạ) như bọn Trình Chu, mà lại còn sát nhập Lí vào trong Khí, đem Lí làm một thuộc tính của Khí. Cái thuộc tính ấy là gì? Nếu dùng thuật ngữ ngày nay thì đó là quy luật tính, Lí là quy luật tính của Khí, của vật chất. Lê Quý Đôn không dùng những danh từ quy luật, định luật, nh-ng trong tư  tưởng của ông đã có những khái niệm ấy”(3). Rất tiếc, khuynh hướng thực học, khuynh hướng lí luận của ông và một số người khác như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Văn Siêu,… mặc dù có ảnh hưởng lớn đến một số nhà Nho đương thời, nhưng do cung cách khoa cử đã làm cho nó nhạt dần. Bởi vậy, Nho Việt về đại thể và chủ yếu là đi vào những vấn đề thiết thực, cấp bách do đời sống xã hội đặt ra. Khuynh hướng chủ đạo này có cái hay là
nó lược bỏ những cái rối rắm, phức tạp; nhưng cũng có cái dở là nó lược bỏ những chỗ thâm sâu vi tế; và như vậy, vô hình
trung, nó làm mất đi tính hệ thống, thiếu cơ sở lí luận, thiếu tính nhất quán, thiếu tính lôgic chặt chẽ. Điều này cũng nói lên tính thực tế của người Việt

Bây giờ ta chuyển sang phân tích việc ứng dụng, áp dụng Nho ở Việt Nam mà chủ yếu là xem xét phạm trù Nhân Nghĩa ở Nguyễn Trãi. Trước hết, Nhân ở Khổng Tử là phạm trù trung tâm và mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong  Luận ngữ  có tới 105 chỗ nói tới Nhân,  nhưng mỗi nơi một khác. Nhìn chung, Nhân là người, tính người, lòng thương người, đạo làm
người, v.v… ở Khổng Tử, Nhân gắn liền với Lễ, Mạnh Tử bổ sung phạm trù Nghĩa vào phạm trù Nhân và trở thành phạm trù  Nhân Nghĩa. Tư  tưởng Nhân và Nhân Nghĩa là cơ sở, nền tảng để xây dựng nên những quan hệ đạo đức, nhằm thực hiện sự ổn định trật tự xã hội. Đến Hán Nho, Đổng Trọng Thư đưa phạm trù Nhân Nghĩa vào Ngũ thường. Sang Tống
Nho, phạm trù Nhân Nghĩa càng bị trừu tượng hoá và bị khoác bởi màu sắc thần bí, siêu hình. Tống Nho quan niệm rằng, Trời có lí, người có tính bẩm thụ ở Trời. Xuất phát từ học thuyết Thiên nhân hợp nhất, Tống Nho cho rằng, Tứ đức của người (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí) tương cảm với Tứ đức của Trời (Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh). Trong quan hệ quân thần thì Nhân là đức của vua, Nghĩa là đức của tôi. Vua có Nhân thì yêu d-ới, bề tôi có Nghĩa thì trung với trên. 

Do hoàn cảnh đất nước ta thường xuyên phải chống giặc ngoại xâm hung ác, tàn bạo, nên Nhân ở Nguyễn Trãi là “khử bạo cho
dân”.  ở ông, Nhân không phải là một thứ đạo đức chung chung trừu tượng mà chính là yêu nước, nhân đạo. Yêu nước chân chính, đó là chí nhân. Nghĩa ở Nguyễn Trãi mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung đó là điều nên làm. Trong hoàn cảnh nước mất nhà tan thì điều nên làm là gì? Điều nên làm trước tiên là phải đứng ra đánh giặc cứu nước, giải phóng giang sơn đất nước đang bị quân thù dày xéo. Đó mới là Đại nghĩa. Như vậy, Nhân nghĩa ở đây không phải chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân (quân thần, phụ tử, phu phụ, bằng hữu) mà  được mở rộng thành quan hệ của công dân đối với đất nước, dân tộc. ở đây, đối tượng của Nhân là dân, đối tượng của Nghĩa là nước. Càng yêu dân (Nhân) thì lại càng phải đem lại độc lập, hạnh phúc cho dân (Nghĩa). Mà đem lại hạnh phúc cho dân (Nghĩa) cũng tức là yêu dân (Nhân). ởnđây, ta thấy Nghĩa có phần  ưu trội hơn Nhân; trong khi đó ở Trung Quốc, Nhân là hàng đầu, là cơ sở của Nghĩa; còn ở Nhật Bản cái mà  họ  đề  cao  là Trung. Ngay chữ Trung ở Nguyễn Trãi cũng khác.  ở ông, trung quân là phải gắn liền với ái quốc. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua với nước thì nước được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy mà ông quyết định đi theo Lê Lợi chứ không đi theo con cháu nhà Trần.

Như vậy, Nho ở mỗi nước nhấn mạnh theo những khía cạnh khác nhau, những phạm trù đuợc đưa lên hàng đầu cũng khác nhau, chẳng hạn, ở Trung Quốc là Nhân, ở Nhật Bản là Trung, còn ở Việt Nam là Nghĩa. Theo Nguyễn Trãi, Đại Nghĩa sẽ dẫn đến Chí Nhân. Kẻ thù  Bại Nhân Nghĩa nát cả càn khôn, cho nên ta phải Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo. Ông cho rằng, điều cốt yếu của Nhân Nghĩa là phải đem lại cho dân cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc (Điều Nhân Nghĩa cốt ở yên dân). 

Như vậy, Nhân Nghĩa ở Nguyễn Trãi tuy bắt nguồn từ Nho, nhưng đã được ông vận dụng trên quan điểm dân tộc, vì lợi ích
của dân tộc, đất nước, nên nội dung của nó có những điểm sáng tạo, độc đáo, mang màu sắc Việt Nam. Nhiều người gọi đó là
hiện tượng Việt Nam hoá hay là tái cấu trúc. Nếu vận dụng, áp dụng một cách sáng tạo là một cống hiến thì Nho Việt có những cống hiến, đóng góp đáng kể.

Nếu như ở Trung Quốc, Nho là cột trụ, cột xương sống xuyên suốt hệ tư tưởng, thì ở Việt Nam, Phật lên Nho xuống, Phật xuống Nho lên. Điều này vừa phản ánh tồn tại xã hội, vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội. Xã hội phong kiến càng lên cao thì với tư cách là
hệ tư  tưởng, vai trò của Phật giáo ngày càng giảm và ng-ợc lại, vai trò Nho giáo ngày càng tăng. Điều này ta có thể chứng minh bằng triều Lê, đỉnh cao của xã hội phong kiến Việt Nam. Đi sâu chút nữa ta thấy, nếu Nho sĩ Trung Quốc chủ yếu gắn liền với thành thị thì Nho sĩ Việt Nam chủ yếu gắn liền với nông thôn. Dĩ nhiên, đặc điểm của Nho Việt là một vấn đề lớn mà ở đây bước đầu tôi chỉ nêu một vài nét, mong có được sự tiếp tục sau này./.

Chú thích:
(1) Nếu Tống Nho xem Kinh Dịch là nổi trội hơn cả thì Hán Nho xem Kinh Xuân Thu là đứng đầu các Kinh.
 
(2). Lý Thường Kiệt, người có tài, muốn ra làm quan, theo  một số sách, phải tự hoạn.

(3). Cao Xuân Huy. Tư tưởng
Phương Đông, Nxb Văn học. Hà Nội 1995, tr. 188-189.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, byphuong, Archéo, SCC, Daihongcat
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 03, 2011, 05:19:52 pm »

SỰ THÂM NHẬP CỦA NHO GIÁO  VÀO LÀNG XÃ VIỆT NAM QUA TƯ LIỆU HƯƠNG ƯỚC

Tác giả: Đinh Khắc Thuân



Nho giáo là hệ tư  tưởng được triều đình sử dụng để cai quản đất nước. Song, việc thâm nhập của Nho giáo vào làng xã không phải không có rào cản lớn, bởi làng xã người Việt cổ truyền là cụm dân cư khép kín với phong tục tập quán riêng, được bao bọc bởi luỹ tre làng, với các hoạt động kinh tế cơ bản là tự cung tự cấp, có bộ máy lí dịch điều hành riêng, nên thường được gọi là “tiểu triều đình” đối diện với nhà  nước phong kiến. Tuy nhiên, quá trình san định và thực thi hương ước do các Nho sĩ đảm trách là cầu nối cho sự thâm nhập của Nho giáo với làng xã.

1. Hương ước là tên gọi chung chỉ quy ước của làng xã. Những quy ước này của làng xã được tuân thủ từ lâu đời và  được văn bản hoá từ giữa thế kỉ XV trở đi, khi xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở và làng xã được tổ chức ngày càng chặt chẽ. Nhà nước phong kiến ban hành chính sách quân điền, quy chế hoá việc chia cấp phần ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước nằm trong các làng xã, nhằm can thiệp sâu vào từng đơn vị tụ cư đó. Tuy vậy, làng nào cũng có lệ chia cấp riêng. Bởi thế, nhà nước có luật nước thì làng xã có lệ làng. Điều này thường được ghi trong các bài tựa của mỗi hương ước, như hương ước xã Mộ Trạch (Hải Dương) cho biết: “Nhà  nước giữ đạo trị bình ắt phải nêu rõ kỉ cương, xóm làng giữ tục thuần hậu cần phải làm rõ quy ước, theo khuôn mẫu một điều mà lập ra các điều”.

Tuy nhiên, các điều ước này trở thành lệ làng, đôi khi đối lập với luật nước. Vì vậy, nhà  nước phong kiến thời Lê sơ đã hạn chế dân gian thiết lập tư ước. Đạo dụ của Lê Thánh Tông khuyên các làng xã không nên có khoán ước riêng chứng tỏ rằng từ giữa thế kỉ XV trở đi, hương ước đã tồn tại song song và phần nào mâu thuẫn với luật pháp nhà nước, làm cho luật nước ít nhiều bị giảm hiệu lực trong từng luỹ tre xanh. Trải qua thế kỉ XVI, Nho giáo phần nào nhường chỗ cho Phật giáo và Đạo giáo, song sang thế kỉ XVII, Nho giáo lại được đề cao. Bên cạnh các đạo luật có từ thời Hồng Đức được bổ sung sử dụng rộng rãi, nhà nước phong kiến thời Lê - Trịnh thế kỉ XVII còn ban bố 47 điều giáo hoá theo khuôn mẫu kinh điển Nho gia. Chính vì vậy, hương ước ở làng quê được tái biên một cách phổ biến. Số lượng hương ước cổ hiện biết chủ yếu là các văn bản biên soạn từ đầu thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX (đầu thế kỉ XX là hương ước cải lương).

Nội dung chính của các hương  ước người Việt cổ truyền thường tập trung ở một số điều khoản liên quan đến việc tế tự, cúng lễ trong làng và xác định rõ tôn ti trật tự; ngoài ra là các điều khoản về bảo vệ nông nghiệp, ruộng đồng, đóng góp với làng xóm, vấn đề khuyến khích học tập, tinh thần trọng lão... Tuy nhiên, đối với làng nghề hay làng khoa bảng thì hầu như không cócác điều khoản liên quan đến sản xuất nông nghiệp mà thay vào đó là các điều ước về nghề thủ công, về khuyến học. Nội dung hương ước khá phong phú phản ánh nét đặc thù về phong tục tập quán của từng làng, của từng thời kì lịch sử khác nhau, đồng thời cùng mang dấu ấn khá rõ nét của tư tưởng Nho giáo. 

Hơn nữa, hương  ước được biên soạn bởi các bậc Nho học với các kinh điển Nho gia như sách Chu Lễ, Lễ Kí, Kinh Thi, Luận Ngữ, Lam Điền, Lã Thị Hương Ước  làm nền tảng lí luận, đạo lí, chỗ dựa tinh thần để xây dựng nên quy  ước. Hương  ước làng Đồng Lương, xã Thanh Bạn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá (soạn năm 1868) dẫn sách  Lễ Kí rằng: “Lễ theo nghi thức là khiến cho nó theo về điều mà mình mong muốn là có nguyên nhân vậy. Nếu bất cập thì tăng thêm, nếu thái quá thì bớt đi để cho cái đức của dân trở nên đầy đặn”. Hương ước xã Phù Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ghi: “Sách Lễ Kí có các thiên hương sạ, hương ẩm tửu đều là để phân biệt trưởng ấu, định ra tôn ti rõ ràng để phong tục nhân luân được đầy đặn. Vậy nên, Phu Tử ta quan sát hương đảng mà biết vương đạo để đổi thay, tin chắc có điều đó. Nay các vị  trưởng lão trí thức, kính lễ nghĩa tiếng tăm, nắm chắc kỉ cương, dạy bảo người ta hướng về nơi sáng sủa, khiến cho dân trí được mở mang, dân đức được đầy đặn. Đó là lí do đặt ra lệ này”. 

Như vậy, hương  ước do các bậc Nho gia trong làng biên soạn, cho dù chỉ văn bản hoá các phong tục tập quán vốn có của làng thì cũng đều thổi vào đó tư tưởng Nho gia luôn thường trực trong tầng lớp Nho sĩ này. Do đó, các điều ước đều gián tiếp hoặc trực tiếp thấm nhuần giáo lí Nho gia. Mặt khác, hương ước của làng thường được đọc trước toàn dân vào dịp lễ hội đầu xuân của làng và được duy trì thường ngày, vì vậy các điều khoản liên quan đến giáo lí Nho gia này được thâm nhập ngày một sâu rộng trong cộng đồng làng xã.

2. Nho giáo thâm nhập vào làng xã trước hết qua các điều lệ trong khoán ước của làng liên quan đến răn bảo, thưởng phạt hành vi đạo đức. Những hành vi đạo đức này lại hoàn toàn dựa theo khuôn mẫu giáo lí Nho giáo, như khuyên răn trung hiếu, lễ nghĩa, phẩm hạnh. Hương ước làng Quỳnh Đôi, xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An soạn năm 1638 có điều ước sau: “Người ta lấy luân lí làm trọng, nghĩa là người làm cha thì tính nết hiền lành, phận làm con thì thờ cha mẹ cho có hiếu, làm anh thì ăn ở với em cho thuận hoà, làm em thì cung kính với anh, chồng nói thì vợ nghe. Làm người cần cư xử là thế, nếu không chẳng khác gì loài cầm thú”. 

Hầu như  hương  ước nào cũng có điều khoản về hành vi đạo đức theo giáo lí Nho học như vậy, trong đó nổi bật là đạo hiếu đễ. Nhiều hương ước quy định mức phạt rất nặng với người bất hiếu (có cha mẹ mà bỏ bê không cung kính phụng dưỡng và chửi bới cha mẹ), bất uyên (chỉ người vợ có lỗi lăng nhục bất kính đối với cha mẹ chồng), bất mục (không hoà mục trong cửu tộc), bất thuận (không hoà thuận với xóm giềng). Điều  ước thứ 15 làng Hoàng, xã Cổ Mộc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá (năm 1898) quy định: “Đàn bà chửa hoang, nếu phạm vào luân thường và người đàn bà đang có tang hoặc có chồng thì phạt 12 quan tiền”. 

Người xưa coi trọng đạo hiếu, coi trọng sự báo hiếu, nên cũng hết sức coi trọng việc tang lễ. Vì vậy, trong các hương ước xuất hiện khá nhiều điều  ước về việc tang ma. Lễ tang phải đảm bảo đúng quy ước, từ việc để tang, đến các nghi thức cúng lễ, mai táng, chịu tang... Có khá nhiều điều khoản phạt nặng người đang chịu tang cha mẹ mà phạm tội như gian dâm, trộm cắp, ca hát. Tuy nhiên, việc báo hiếu đó đôi khi thái quá, dẫn đến tốn kém, phiền phức. Do vậy, đã có không ít điều khoản quy định cụ thể việc tang ma nhằm hạn chế sự thái quá này. Hương ước làng Phù Lưu Thượng, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh năm 1854 quy định: “Người chết ở giáp nào thì giáp đó đến viếng và đi đưa. Nếu nhà nghèo thì chỉ mời trầu, rượu tại chỗ, không ai được hạch hỏi. Nhiều đám tang bày cỗ linh đình mời người đến phúng viếng ăn uống. Tiếng là báo hiếu ông bà, cha mẹ, nhưng thực chất là trả nợ miệng. Một người chết mà muôn người say, gây tiếng xấu làm bại hoại phong tục”. Việc duy trì luân thường đạo lí theo khuôn mẫu lễ giáo Nho gia như vậy luôn được làng xã coi trọng và được định thành lệ làng. 

Ngoài việc đề cao đạo hiếu, luân thường theo Nho giáo, hương  ước còn phản ánh khá đậm nét về ngôi thứ ở đình trung, nơi tập trung quyền uy lớn nhất của làng. Đình làng là sản phẩm của Nho giáo xuất hiện từ khi Nho giáo trở thành độc tôn từ thế kỉ XV, vừa là nơi thờ phụng vừa là nơi phán quyết của chức sắc trong làng. Nói một cách cụ thể hơn, đình là nơi thực thi các nghi thức cúng rước thần, tổ chức lễ hội, hát xướng, hương ẩm cỗ bàn trong ngày hội hay ăn khao, ăn khoán, hội họp của chức sắc trong làng. Vì thế, thứ bậc ở đình trung hết sức quan trọng. Thứ bậc này thường được quy ước như sau:  Gian giữa đình là chiếu ngồi của chủ tế và các trợ tế (bao gồm các vị độc chúc, độc văn, đông tây xướng, hai vị phụ hoạ vị độc văn, bốn vị tiến tửu).
Gian bên phải là chiếu ngồi của các vị khoa trường đỗ đạt. Gian bên trái là chiếu ngồi của các cụ thượng thọ từ tuổi cao đến thấp, cùng các chức dịch hàng xã, các vị chức dịch binh lính mãn nhiệm và các trai đinh (từ 18 tuổi đến 37 tuổi). Nếu đình nào hẹp thì trai đinh phải đứng phía ngoài đình phục dịch việc tế lễ. Một số làng phân định chỗ ngồi ở chốn đình trung bằng ranh giới hai bên tả hữu đình cho quan văn ở bên phải, gồm các vị tiến sĩ, quan văn có phẩm tước từ nhất phẩm đến cửu phẩm; quan võ ở bên trái gồm các vị tạo sĩ, các võ quan có phẩm hàm từ nhất phẩm đến các chức chánh đội, suất đội. Cách sắp xếp này tương tự cách sắp đặt buổi thiết triều trong triều đình. Điều đó cho thấy tính tự trị nơi làng xã càng được định hình, như câu cửa miệng trong dân gian là “Hương đảng tiểu triều đình”.

3. Mối liên hệ chặt chẽ của tầng lớp Nho sĩ với làng xã là cầu nối giúp Nho giáo thâm nhập vào làng xã. Thực tế, Nho sĩ Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với làng xã và với sản xuất nông nghiệp hơn là gắn với đô thị và thương mại như phần đông Nho sĩ Trung Quốc. Dân cư người Việt trước đây tuyệt đại đa số sống ở làng xã. Những người có học trong làng đỗ đạt thì làm quan, nếu không thì trở thành hương sư dạy học ở làng, hoặc làm nghề thuốc, thầy địa lí... Số lượng người có học sống ở làng ngày một đông. Hơn thế nữa, ngay cả những người đỗ đạt làm quan thì khi trí sĩ cũng lại trở về sống với dòng họ, làng xóm. Thậm chí, khi đương chức, dù ở đâu thì họ đều có mối liên hệ thường ngày với làng xã, đều có quyền lợi và nghĩa vụ với làng xã và  đương nhiên có vị trí nhất định nơi làng xã. Chẳng vậy mà trước đây những người thành đạt rất coi trọng việc vinh quy bái tổ (tức là khi vinh hiển thì phải về làng bái tạ tổ tiên), lệ làng luôn coi trọng việc khao vọng, như khoán ước năm Cảnh Hưng 33 (năm 1772) làng Mộ Trạch quy định: "Ai ứng thí khoa bác cử mà đỗ Tạo sĩ, ngày vinh quy làng cũng làm lễ đón rước chúc mừng và đáp lễ giống như Tiến sĩ. Còn các chức Cai cơ, Thủ hiệu, Tạo sĩ thoát thủ kính cẩn nhận sắc mệnh thì cũng đón rước và đáp lễ như các quan lại khi được thăng chức".

Trong tổ chức làng xã có hai thiết chế, một là chức dịch, hai là  kì  mục.  Chức dịch là đại diện của chính quyền nhà nước phong kiến ở làng xã, còn Kì mục hay Hội đồng kì mục bao gồm các quan lại các cấp về hưu, đứng đầu là một vị Tiên chỉ. Ngoài ra, còn có các vị đương triều, quan viên, tư văn tham gia vào các hoạt động chung của làng nhất là lễ hội, thờ cúng. Trong hầu hết các hương  ước đều thấy ghi rõ họ tên các vị chức sắc này. Chẳng hạn, hương  ước làng Mộ Trạch năm Cảnh Trị 3 (năm 1665) kê các vị triều quan gồm Bồi tụng Binh bộ Thượng thư Phượng Lĩnh hầu họ Vũ, Hưng Hoá xứ Thừa Chánh sứ Vũ Lương, Thái bộc tự khanh Vũ Phương Trượng, Giám sát ngự sử Thanh Hoa xứ Vũ Duy Đoán, Hiến sát sứ Thanh Hoa xứ Lê Công Triều, Hiến sát sứ Sơn Tây xứ Vũ Bật Hài, Hình khoa Cấp sự trung Vũ Công Lượng, Giám sát ngự sử Thái Nguyên xứ Vũ Trác Oánh;  Quan viên gồm Huyện thừa Phương Nhã Vũ Hạo, Đồng Tri phủ Khoái Châu Vũ Xuyền, Huyện thừa Thanh Lan Vũ Triệt, Huyện thừa Tân Minh Vũ Quyện; Văn thuộc gồm: Vũ Đức Thắng, Vũ Đăng Tiến; xã thôn trưởng gồm: Vũ Đình Sách, Lê Tiến Vinh, Nhữ Thế Lộc...

Những chức quan trên đều có mặt trong các kì lễ lớn của làng và  được định vị thứ bậc nơi đình trung, chốn linh thiêng trang trọng nhất của làng xã.  Thiết chế như vậy của làng xã khiến cho mối liên hệ giữa các Nho sĩ với làng xã ngày càng gắn bó chặt chẽ. 

4. Hương ước thực chất là công cụ  để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng làng xã, công cụ quản lí làng xã. Mặt khác, hương  ước cũng lại trở thành công cụ để nhà nước can thiệp vào làng xã và quản lí làng xã, điều hoà lợi ích giữa làng xã với nhà nước.

Chính vị trí của con người trong làng xã được xác định bởi các mối quan hệ xã hội dựa trên nền tảng tư  tưởng là ý thức hệ Nho giáo mà  hương  ước chính thức hoá và cụ thể hoá. Đó là quan hệ trong gia đình (dòng họ) và quan hệ cộng đồng. Trong quan hệ gia đình, làng xã khẳng định quyền của nam giới, quyền của người cha trong gia đình. Nam giới mới là thành viên chính thức đại biểu cho quyền thừa kế, thừa tự, và chỉ có người cha mới có quyền cao nhất trong quản lí gia đình. Bởi thế, con cái phải có trách nhiệm vâng lời, nuôi dưỡng, hiếu thảo cha mẹ, ông bà. Các quan hệ gia đình này mở rộng ra dòng họ, chỉ có nam giới mới được vào giáp, được ra đình trung, được chia ruộng và chịu nghĩa vụ nhà nước. Trong làng có một thành viên nào đó phạm tội thì cả dòng họ, thậm chí cả làng phải chịu phạt. Trong quan hệ cộng đồng, vị trí con người được phân định theo tuổi tác và chức vị. Quan hệ theo tuổi tác xác định vị trí của người hơn tuổi và người già, tuy nhiên quan hệ này luôn phải nhường bước cho các quan hệ theo bằng cấp, phẩm hàm và chức tước của nhà  nước. Mỗi thành viên trong làng, tùy theo bằng cấp, phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác, mà được phân định vào một cấp bậc riêng trong hệ thống ngôi thứ của làng. Từ đó được hưởng những quyền lợi riêng về khẩu phần ruộng công, phần chia đồ biếu, chỗ ngồi ở đình, có chức năng, quyền hạn riêng trong tế lễ, trong khi bàn bạc cũng như khi điều hành việc làng. Hệ thống thang bậc xã hội làng xã này theo mô hình dựa trên ý thức hệ Nho giáo càng củng cố thêm thế kiểm soát chặt chẽ của làng xã với con người.

Như vậy, làng xã tuy là một đơn vị tụ cư khép kín tự cung tự cấp, được xem như một “tiểu triều đình” đối lập với hệ thống tư  tưởng chính thống, trong đó tư tưởng Nho giáo là chủ đạo, song vẫn bị tư tưởng Nho giáo thâm nhập và thâm nhập khá sâu. Sự thâm nhập đó bằng chính việc văn bản hoá các tục lệ để làm thành hương  ước thực thi phổ biến ở mỗi làng xã. Trong đó có vai trò hàng đầu và mối liên hệ mật thiết với gia đình, dòng tộc, cũng như  làng xã của các Nho sĩ đương triều và các bậc Nho học sinh sống ở địa phương. Tuy nhiên, với việc kế thừa những tập tục dựa trên nền đạo đức và tín ngưỡng truyền thống, hương ước vẫn luôn đi vào lòng người và được duy trì như một truyền thống nghìn xưa

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, byphuong, Archéo, SCC
Logged
 
 
 
Archéo
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 87

Cảm Ơn
-Gửi: 1198
-Nhận: 389


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười 24, 2011, 04:27:47 pm »

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA  VIỆT NAM QUA HƯƠNG ƯỚC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG


Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, Nho giáo đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống xã hội và văn hóa. Những biểu hiện của văn hóa Nho giáo được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau: hệ tư tưởng, lối sống đạo đức, văn hóa tâm linh, giáo dục, văn học nghệ thuật,v.v... Tuy nhiên, Nho giáo cũng để lại một số những bất cập trong đời sống x  hội, nhất là tính giáo điều, khuôn mẫu, đẳng cấp trong quan hệ xã hội ở Việt Nam.

Tìm hiểu về văn hóa Nho giáo Việt Nam, bài viết này chủ yếu đề cập tới một vài yếu tố của Nho giáo có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam như phong tục, nghi lễ qua khảo cứu các bản hương ước làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng  thời kì cải lương hương chính. Trong các bản hương ước đó chứa đựng những giá trị văn hóa mà ngày nay chúng ta cần giữ gìn, kế thừa, và phát huy.

1. Những phong tục mang dấu ấn văn hóa Nho giáo qua hương ước

Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bám rễ, tồn tại, phát triển trong xã hội phong kiến Việt Nam qua nhiều thế kỉ. Trước hết, nó đáp ứng được yêu cầu củng cố chế độ quân chủ tập quyền theo tư tưởng Tam cương - Ngũ thường và những quy phạm của đạo Khổng. Những tư tưởng đó được thể hiện qua các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ,  anh em, bạn bè và qua các chuẩn mực đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Bên cạnh đó, Nho giáo còn tham gia vào sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, hoà quyện với Phật giáo và Đạo giáo, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của người dân.

Theo Nguyễn Đức Sự, niềm tin vào sức mạnh huyền bí của ông Trời, của thần thánh, ma quỷ, tin vào bói toán vốn có trong dân gian trước khi Nho giáo thâm nhập vào nước ta. Tuy nhiên Nho giáo vào Việt Nam đ  củng cố thêm niềm tin đó và đem lại cho nó những hình thức nghi lễ mới. Đó chính là  Tính chất tôn giáo của đạo Nho[1]

Có thể thấy tính chất tôn giáo của đạo Nho được biểu hiện thông qua việc thờ Trời - Đất, thờ Khổng Tử và các vị tiên Nho, thờ tổ tiên. Trước hết Thờ Trời - Đất được biểu hiện ở lễ nghi cúng tế của triều đình do nhà vua đích thân thực hiện (tế Nam Giao, Xã Tắc). Thờ Khổng Tử và  các vị tiên Nho được biểu hiện qua lễ tế hằng năm định kì (Xuân - Thu).  Thờ tổ tiên được thể hiện theo từng dòng họ, tất cả đều với mục đích mong được trời che, đất chở, trời sinh, đất dưỡng, tổ tiên phù hộ. Khi đề cập tới vấn đề thờ cúng Khổng Tử, L.Cadière đã nhận định: “... Người ta tôn thờ Khổng, nhưng sự tôn thờ ấy nào có khác gì đâu việc tôn thờ vô vàn các thánh nhân trong nhiều thế kỉ qua... Việc thờ kính Khổng Tử chẳng qua cũng giống như việc thờ kính các bậc vĩ nhân trong đạo thờ cúng tổ tiên ông bà và dĩ nhiên cũng như trong việc thờ kính thần thánh[2].

Sự tôn thờ Khổng Tử và các bậc tiên Nho tại Văn Miếu ở nước ta gắn liền với sự tôn sùng Nho học của nhà nước phong kiến. Ở làng xã thì có  Văn chỉ và  Nhà Thánh thờ Khổng Tử và các bậc tiên Nho. Văn chỉ, Nhà Thánh không những là nơi cử hành việc cúng tế Khổng Tử vào hai mùa xuân-thu, mà còn là nơi hội họp của Hội Tư văn trong làng để bảo tồn và phát triển đạo Nho cũng như bảo vệ quyền lợi của các Nho sĩ trong làng xã Việt.
 
Nói tới làng xã vùng đồng bằng sông Hồng không thể không nhắc tới hương ước - vừa là sản phẩm của văn hóa truyền thống làng xã, vừa là sản phẩm của văn hóa Nho giáo Việt Nam. Trong hương ước có những quy định điều chỉnh một số lĩnh vực của đời sống sinh hoạt làng xã như kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, văn hóa tâm linh,v.v… Với tư cách là sản phẩm văn hóa Nho giáo, hương ước mang trên mình nhiều yếu tố quan trọng, chi phối tư tưởng chính trị trong xã hội, như quy ước về nếp sống, quy ước về vị thứ đình trung, hay quy  ước về việc tế lễ Khổng Tử và các vị tiên hiền, v.v… 

Hương ước người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có 3 loại, tương ứng với ba giai đoạn:  giai đoạn trước cải lương hương chính (hương ước cũ, được viết bằng Hán - Nôm), giai đoạn cải lương hương chính (hương ước cải lương, được viết đồng thời bằng Quốc ngữ, Hán ngữ, hoặc Pháp ngữ) và  giai đoạn sau cải lương hương chính (hương ước mới, được viết bằng Quốc ngữ). Tài liệu được chúng tôi sử dụng trong bài viết này là những bản hương ước cải lương (1921-1944) của một số làng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng[3].

Một trong những yếu tố dễ nhận thấy của văn hóa Nho giáo còn lưu lại trong các bản hương ước làng Việt trước kia đó là việc lập hương ước tại các làng xã Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc lập hương ước của làng đều do những người đã học qua hoặc biết chữ Hán-Nôm (hay gọi là những người văn hay chữ tốt) tham gia và đó cũng là dịp để họ (thường là thành viên trong Hội tư Văn) thể hiện sự học của mình. Thông thường, lí do lập hương ước bao giờ cũng có  đoạn “Nước có luật, làng có lệ”, cụ thể trong hương ước xã Xuân Cầu (Hưng Yên) có quy định: “Một làng cũng như một nước, cần phải có thể lệ chung để mọi người tuân theo thời mới có trật tự, mới yên ổn, dân làng mới trở nên thịnh vượng được. Làng ta đây tuy trước vẫn có khoán lệ, nhưng so với cái trình độ tiến hóa của dân ngày nay thì có nhiều điều khuyết điểm, bởi vậy nay dân làng cùng hội họp tại đình cùng bàn bạc mà sửa đổi lại, châm chước các lệ bất tiện thủa trước mà lập ra tập khoán lệ này[4].

Những quy ước về hiếu đễ (một phần của tam cương) còn được thể hiện trong Điều lệ hương đảng dưới nhiều đời vua của triều Nguyễn. Trong bản  Điều lệ hương đảng của Gia Long có nhấn mạnh: “Đạo làm người duy trung với hiếu”, hay  trong  Điều lệ hương đảng thời Tự Đức: “Con thờ cha mẹ, cháu thờ ông bà, người nào sớm hầu hạ, tối thăm hỏi, biết trước ý, nối chí cha ông, ngày thường theo được hết đạo hiếu, gặp nạn một cứu khỏi, làng xóm đều khen”(Điều lệ năm Tự Đức thứ 21, 1868)[5].

Tìm hiểu về vấn đề này, trong văn bản hương ước các làng đều có những điều lệ quy định rõ về việc con cháu hiếu thuận với ông bà, cha mẹ... Trong điều 51, Hương ước làng Nghi Tàm (Hà  Nội) ghi:
ở chốn hương đảng thời người dân phải kính trọng các bậc tôn trưởng, ở trong gia tộc thời con cái phải kính trọng bậc phụ huynh, nếu người nào ăn ở trái đạo luân thường mà cần hình luật trừng trị thì làng không ăn ngôi với[6]

Việc gìn giữ thuần phong mĩ tục của làng rất được coi trọng, bởi vậy hương ước các làng đều có quy định việc những ai vi phạm vào các điều trái với đạo Hiếu đều phải xử phạt. Từ điều 93 đến 95 trong Hương ước làng Dư Hàng (Hải Phòng) quy định về phong hóa như sau: "Trong làng người nào hỗn loạn cương thường như con cháu đánh mắng cha mẹ, chú bác, hoặc người dưới đánh mắng người  trên thì bất cứ ở chỗ công tư trong làng, có người trình Hội đồng xét thực thì Hội đồng sẽ chiểu việc lớn nhỏ nghĩ phạt tự 0,20đ đến 1,00đ… "[7]. 

Việc học hành, thi cử  trước kia luôn được làng xã, gia đình, dòng họ đề cao và khuyến khích. Bởi nếu trong làng có người đỗ đạt làm quan thì trước hết làm vinh danh dòng họ vì một người làm quan, cả họ được nhờ, đồng thời làm rạng rỡ xóm làng. Trường hợp thi chưa đỗ thì vừa dạy học tại làng vừa tiếp tục sự nghiệp học tập để chờ kì thi năm sau. Cứ theo truyền thống đó cư dân trong làng xã vươn lên trong học tập theo quan niệm "Tiến vi quan, thoái vi sư"(Học để tiến thân làm quan, khi lui về thì làm thầy). Việc học  được quy định rất cụ thể, rõ ràng trong các bản hương ước. Điều đó cho thấy người dân trong các làng xã rất chú trọng tới việc học tập của trẻ em, đưa chúng vào nền nếp sinh hoạt truyền thống của làng. Nhiều hương ước làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng đều có ghi chép về việc này. Hương ước làng Phú Mỹ (Thái Bình), có quy định từ điều 65 đến 68, như sau: “Bổn phận cha mẹ phải nuôi con đi học. Bổn phận làm đàn anh trong làng cần phải tổ chức việc học để cho con em mở mang trí khôn thì mới có thể giữ gìn phong cương được. Vậy sau này làng có tiền sẽ mở trường trong làng để con trẻ giầunghèo đều được đi học. Tiền chi phí việc học và cấp lương thầy giáo phải lấy tiền công quỹ của làng hay giả bằng ruộng công cũng được. Trẻ con từ 8 tuổi đều phải đi học. Khi đã có trường chung thì phải để một món tiền để mua sách vở giấy bút cho thầy giáo dạy học[8].

Phần thưởng cho việc học hành, thi cử của các làng cũng được đề cập trong hương ước. Đó là những quy định về Học điền, một loại ruộng do làng trích từ ruộng công hoặc do người trong làng cúng, dùng vào việc nuôi thầy dạy hoặc treo giải thưởng cho những ai có cố gắng trong việc học hành.  Điều 13, Tục lệ xã Tuy Lai  chép: "Tôn Nho trọng đạo cốt là làm cho mạch tư văn thêm vững bền, do vậy Văn hội quy định, trong thôn vị nào thi đỗ cử nhân trở lên thì sẽ cấp cho ruộng tế, mỗi vị phỏng chừng 4 sào ruộng. Nếu như thi đỗ tiến sĩ trở lên thì  Văn hội sẽ kính cấp thêm ruộng tế tự, mỗi vị phỏng chừng một mẫu. Nếu thi đỗ thám hoa, bảng nhãn trở lên, thì Văn hội sẽ kính biếu thêm ruộng tế, mỗi vị phỏng 3 mẫu…"[9].

Quy định về vị thứ đình trung cũng là yếu tố chịu ảnh hưởng của Nho giáo được thể hiện trong hương ước làng Việt nói chung và làng vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng. Vị thứ đình trung được tác giả Nhất Thanh cho biết: "Vị thứ đình trung rất quan trọng đối với người dân trong làng. Một người dân chưa đến tuổi lên lão, dù tài giỏi hay giàu có mấy mặc lòng, nếu không có ngôi thứ trong làng, là bị liệt vào hạng bạch đinh, không được dự việc làng (bất dự hương sự)"[10]. Bởi vậy,thường có việc mua, bán vị thứ đình trung tại các làng xã Việt Nam nói chung và làng xã vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng.  Hương ước làng Vô Hối (Thái Bình) có chép: “Người nào bằng lòng vọng ngôi hương trưởng thì nộp tiền tự năm mươi đồng bạc giở lên, vọng ngôi xã đoàn thì nộp tiền tự bốn mươi đồng bạc giở lên, đều tuỳ ngôi cao, thấp mà định số tiền vọng, đến như ngôi xã tư vọng mười đồng bạc, ngôi xã tư vọng lên ngôi hương tín vọng tiền hai mươi đồng, hương tín vọng lên ngôi dịch mục, nộp tiền mười lăm đồng…”[11].

Đình trung là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa của làng xã, vì thế quy định trật tự trong đình trung được hương ước làng ghi rất tỉ mỉ và cụ thể. Những người mua vị thứ trong làng, sau khi đã nạp đủ lệ làng được gọi với chức danh: bác nhiêu, ông hương, ông xã, v.v… Từ đó không  những được miễn tạp dịch mà còn có địa vị trong làng xóm, được dự tế lễ, có chỗ ngồi nơi đình trung, và cũng có thể dần dần lên dự hàng kì mục. Theo tục lệ thông thường, vị thứ đình trung được chiểu theo khoa mục, phẩm hàm, chức tước, dưới là những người mua ngôi thứ, nhiêu nam. Tuy nhiên, cũng tùy theo tục lệ từng làng đề cao Tước hay Xỉ mà vị thứ đình trung sẽ có sự thay đổi.

Ta có thể thấy vị thứ đình trung qua Lệ thứ 5 trong Hương ước làng Tiên Lãng (Hải Phòng)  như sau: "Bàn nhất: Cử nhân, Tú tài, Cao đẳng, Chánh tổng, Phó -tổng, Chánh quản, phó - quản. Bàn nhì: Nhất nhị trường, Thành chung, Lí trưởng Bá hộ, Lí trưởng cựu, Lí trưởng tân, Chánh hội cựu, Chánh hội tân, Chánh xuất đội. Bàn ba: Khoá sinh, Tuyển sinh, Phó xuất đội, Đội trưởng, Phó lí văn bằng, Phó hội, Thư kí, Chưởng bạ, Thủ quỹ. Bàn tư: Sơ học yếu lược, Trương tuần, Tộc biểu, Xã cựu"[12].

Thông thường lệ biếu xôi thịt thường phân theo vị thứ đình trung, tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng vẫn được ham chuộng hơn mâm cao cỗ đầy theo quan niệm: "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp". Sự  chênh lệch giữa các khẩu phần ở đây thể hiện sự chênh lệch về đẳng cấp xã hội trong làng. Trong Lệ thứ 5  Hương ước làng Tiên Lãng (Hải Phòng), có ghi chép về lệ kính biếu vị thứ qua các bàn như  sau: “Bàn nhất kính một cỗ bụng lợn. Bàn nhì kính nửa cỗ, nửa cái đầu lợn. Bàn ba kính nửa cỗ, nửa cái đầu lợn. Bàn tư kính nửa cỗ một giác đầu lợn. Còn những người khán thủ, xã nhiêu kính một giác cỗ, một giác dày lợn. Những người nào làm lên thứ vị mà chưa khao vọng là bất thành vị không phải kính biếu”.[13]

Như vậy, vị thứ đình trung trong các làng xã Việt Nam cho ta thấy rõ về sự phân biệt thứ bậc, đẳng cấp của xã hội phong kiến Việt Nam trước kia. Tuỳ theo từng làng mà sự phân biệt về vị thứ khác nhau ít nhiều. Vị thứ đình trung thể hiện tôn ti trật tự trong làng xã, có lẽ vì thế mà sự ổn định được duy trì ở nông thôn từ lâu. Vị thứ đình trung còn thể hiện sự đề cao những người có học tại các làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng.

Ngoài những yếu tố trên, Nho giáo còn in đậm trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt qua những lễ tiết và việc thực hành những lễ tiết trong năm có liên quan đến đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế, như: Lễ Minh niêm, lễ Nguyên đán, lễ Kì an, lễ Thượng điền, Hạ điền, v.v… Trong đó điển hình là Lễ tế Xuân – Thu nhị kì hằng năm do Hội Tư văn tiến hành. 
(còn nữa)
Dương văn Huy

Chú thích:
1. Viện Nghiên cứu Tôn giáo. Về tôn giáo tín ngưỡng  Việt Nam hiện nay, Nxb. KHXH, H  Nội 1998, tr.294.

2.  Đỗ Trinh Huệ. Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L. Cadière, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006. tr. 145.

3.  Hiện nay, các văn bản hương ước (kí hiệu HU) nói chung được lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam. Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi giữ nguyên tên làng theo địa danh cũ, còn các tỉnh,thành được trình bày theo địa danh mới như hiện nay (Theo Niên giám thống kê năm 2006, trang 21, của Tổng cục Thống kê, vùng ĐBSH bao gồm  11 tỉnh, thành: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Tây (cũ), Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định v  Ninh Bình).

4.  Hương ước xã  Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên, Kí kiệu HU 416.

5. Trần Văn Giàu. Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám, Nxb. KHXH, H  Nội, 1973, tr. 244-245.

6. Hương ước làng Nghi Tàm, Hoàn Long, Hà Nội, Kí kiệu HU 562.

7. Hương ước làng Dư Hàng, Hải An, Hải Phòng, Kí kiệu HU 3992.

8. Hương ước làng Phú Mỹ, Kiến Xương, Thái Bình, kí hiệu HU2994.

9. Tục lệ xã Tuy Lai, trích trong Hương ước cổ Hà Tây. Nguyễn Tá Nhí, Đặng Văn Tu dịch và  giới  thiệu, Nxb. Bảo tàng tổng hợp Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Hà Tây, 1993, tr. 113-129.

10. Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu. Phong tục làng xóm Việt Nam (đất lề quê thói), Nxb. Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh, 2005, tr. 473.

11. Hương ước làng Vô Hối, Đông Quan, Thái Bình, kí hiệu HU 2959.

12.  Hương ước làng Tiên Lãng, Tiên Lãng, Hải Phòng, kí hiệu HU 4117.

13. Hương ước làng Tiên Lãng, Hải Phòng… Sđd.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Archéo
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 87

Cảm Ơn
-Gửi: 1198
-Nhận: 389


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười 24, 2011, 04:43:28 pm »



2. Văn hóa Nho giáo qua các lễ tiết và thực hành lễ nghi
a) Các lễ tiết trong năm của Nho giáo
Sự truyền bá Nho giáo vào làng Việt nói chung và làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng  đã từng bước hình thành tầng lớp Nho học. Tầng lớp này không chỉ truyền bá tư tưởng Nho giáo mà còn duy trì việc thực hành các nghi lễ Nho giáo, đó là việc thờ cúng Khổng Tử và các vị tiên Nho. Đây là nghi lễ quan trọng của Nho giáo trong một năm được tổ chức vào hai mùa Xuân và mùa Thu. Do cốt lõi của Nho giáo là "Kính Thiên, tế Tổ”, nên ngoài lễ tế Xuân ưThu ra, còn có những lễ tiết khác như lễ tiết thờ cúng Tổ tiên, tế Thiên Địa, tế Thần Nông, lễ Thượng điền, Hạ điền. 

 Trước hết, đó là Lễ Thần Nông.  ở nước ta lễ nghi này xuất hiện đầu tiên vào thời Lê Đại Hành (năm 987) đó là lễ Tịch điền. Đến thời Lý, lễ tế Tiên Nông  và lễ Tịch điền được nhà vua cho tổ chức một cách quy củ hơn[14]
. Trong Khoán ước xã Duyên Trường, Thanh Trì (Hà Nội) tại điều 27 có ghi: “…Lại trích 5 hào giao đương dịch biện 1 con gà và lễ vật lễ Thần Nông…”[15].

Lễ Thượng điền, Hạ điền là hai lễ quan trọng của nhà nông trong làng xã Việt Nam, trong mục d, e, f, điều 62, Hương ước làng Yên Lệnh (Hà Nam), có ghi: “Lễ Thượng điền là tế tạ ơn vua Phục Hy dạy dân cày cấy, trước mùa thu hoạch hoa lợi vào thượng tuần tháng tư, lễ này thì công dân sửa lễ, còn lễ Hạ điền là xin phép Ngài cho cày cấy làm vào hạ tuần  tháng 10, lễ này thì thôn Yên Thái sửa lễ… Tế xong dư thần huệ lễ giáp nào giao về giáp ấy...”[16].

Lễ tế Thiên, Địa (trời, đất) cũng là tiết lễ được người dân coi trọng. Trong điều 68, Hương ước làng Yên Duyên (Hà Nội), quy định: "Ngày mồng 3 tháng 3 tế Thiên Địa thời 6 giáp phải sửa xôi lợn và mũ mã đem ra nghè tế, xong rồi giáp nào giáp ấy đem về công giáp ăn uống"[17]

Thờ cúng Tổ tiên là một phần của việc hiếu theo quan điểm của Nho giáo. Hiếu kính ông bà tổ tiên có công sinh thành và dạy dỗ mình nên người. Tôn kính ông bà tổ tiên không chỉ đơn giản là thờ cúng trong gia đình, nhà thờ họ, mà trước kia nhiều làng còn thờ cúng tổ tiên của dòng họ tại đình làng trong các dịp tế xuân và thu. Điều này được quy định rõ trong một số hương ước làng vùng đồng bằng sông Hồng. Xin lấy một số ví dụ về các  lễ tiết thờ Tổ tiên tại đình làng qua các bản hương ước mà chúng tôi sưu tập được.

Hương ước làng La Xuyên, (Nam Định) có quy định lệ tế Tổ các họ tại đình vào ngày 15 tháng 12 hằng năm do 14 giáp biện lễ.  Hương ước làng Quân Bác (Thái Bình) có chép về lệ này trong phần Tế lễ như sau: lễ tế Thuỷ tổ tại đình trong dịp tế Xuân. Hương ước làng Cao Mại –Đông Đoài (Thái Bình) có ghi tháng 12, hậu nhật đông chí, các họ có lệ giết lợn tế Thuỷ Tổ ở đình. Hoặc tại  Hương ước làng Trà Lũ Bắc (Nam Định) có quy định: Khi vào đám tháng 2 (tế Xuân) hoặc tháng 3 (đại kì phúc), đồng dân làm lễ rước Thành Hoàng và 7 đức tiên Tổ của 7 dòng họ (họ Bùi, họ Đỗ, họ Vũ, họ Nguyễn, họ Lê, họ Mai, và họ Trần Khải) đến đình rồi tế lễ trong 5 ngày.  Hương ước làng Trà Lũ Đông (Nam Định ) có lệ 3 năm 1 lần (vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) rước đức Thần cùng 8 vị tiên Tổ đến đình tế kì phúc trong 2 hay 3 ngày[18].

b) Thực hành các lễ nghi thờ cúng Khổng Tử và các vị tiên Nho

Sự ảnh hưởng của Nho giáo vào làng xã Việt Nam được quy định rất tỉ mỉ trong hương ước làng với việc tế lễ Khổng Tử và các vị tiên Nho. Việc tế lễ hàng năm trong hai kì Xuân – Thu là để tỏ lòng biết ơn người sáng lập ra đạo Nho, đồng thời để duy trì, phát triển  Hội tư văn trong làng xã Việt Nam. Như vậy, có thể thấy Nho giáo có vị trí quan trọng trong nền văn hóa Việt từ rất lâu. Khảo cứu các văn bản hương ước, chúng tôi thấy các làng có Văn chỉ, Nhà Thánh, thường tế đức Khổng Tử và các vị tiên Nho trong hai kì Xuân (tháng 2), và Thu (tháng 8) vào ngày Đinh, ngày Mậu theo cách tính ngày của cha ông ta xưa kia (Đinh ứng với mồng 4, Mậu ứng với mồng 5). Ngoài ra, ở một số làng lại tế Khổng Tử và các vị tiên Nho vào tháng giêng hoặc tháng 10 như ở làng Báo Đáp (Nam Định), tế đức Khổng Tử vào ngày 15, 16 tháng giêng tại Văn chỉ.  Làng Thân Thượng (Nam Định), lại tế đức Khổng Tử ở Văn chỉ vào ngày mồng 1 tháng 10, v.v… Thông thường, các lễ tiết trong năm được tế chung trong kì vào đám của làng, bởi vậy mà ở một số làng trong kì tế Khổng Tử và các vị tiên Nho thường đem lễ ra đình trước, sau đó mới về Văn chỉ tế đức Thánh Khổng. Những ai thi cử đỗ đạt cũng đến dâng đức Thánh Khổng tại Văn chỉ, nhà Thánh.

Với tư tưởng thờ trời, “kính thiên”, “thuận thiên”, “thừa thiên” và quan niệm mỗi con người đều có số mệnh đã định, nên trong dân gian có câu “mệnh trời đã định” dùng khi con người gặp phải điềm chẳng lành, hoặc trong việc học hành thi cử mà đỗ hay không đỗ cũng do phúc phận của mình có được thần linh phù trợ hay không. Vì vậy, những nhà nho khi đi thi thường đến Văn Chỉ hay nhà Thánh để lễ cầu xin, và sau khi đỗ đạt thường về lễ tạ. Trong điều 108,  Hương ước làng Xâm Bồ (Hải Phòng), ghi: "Tư văn mỗi năm đến tháng 3 thì kỉ niệm đức Thánh Khổng cùng những người lịch triều thí trúng phí 11đ,00 mà đã có 11 sào ruộng kị điền cho cấy lượt mỗi năm 11 người mỗi sào lấy hoa lợi để chi vào việc Tư văn"[19].
 
Để thực hành những lễ tiết trong năm được đầy đủ và linh ứng, vật phẩm dùng biện lễ được quy định khá rõ trong các bản hương ước. Việc cắt cử đội tế, bao giờ cũng do Hương hội, còn Hội Tư văn thường viết văn tế cho các kì tế đó. Về hình thức phải trang nghiêm, ăn mặc chỉnh tề đúng với lễ nghi. Trường hợp những ai không tuân thủ theo đúng  những quy ước, những điều kiêng kị của làng thì sẽ bị phạt; những ai được phân công trong đội tế mà đến muộn cũng bị phạt, hoặc không đến, hoặc là không sạch sẽ mà đến chỗ tế lễ cũng bị phạt. Có thể thấy một số ví dụ cụ thể sau:
Quy định về những vật phẩm đem dâng trong ngày tế Thánh được ghi trong điều 202,  Hương ước làng Tây Mỗ (Hà Nội): "Mỗi năm hội có hai kì tế Xuân và kì tế Thu, là 19 tháng 2, và 19 tháng 8, tức là sau các ngày tế Xuân tế Thu của cả làng. Lễ phẩm 2 kì tế ở Văn chỉ là: Hai con lợn, hai ván xôi, trầu rượu, hương nến, hoa quả và 1 bánh pháo. Khi tế lại phải sửa lễ cúng ở các nơi này: ở đình - 1 con lợn, 1 ván xôi, trầu, rượu, hương nến, hoa quả và 1 bánh pháo. ở đền Nhà Bà - 1 cái lầm (do cắt ở con lợn cúng ở đình ra), 1 đĩa xôi, trầu, rượu, hương nến, hoa quả. ở đền Phúc Vương - 1 con gà, 1 đĩa xôi, trầu, rượu, hương nến, hoa quả"[20].

Quy định về những nghi thức tế lễ trong ngày hội làng là một phần quan trọng biểu thị sự tôn kính của cộng đồng làng xã đối với thần, thánh. Cụ thể trong điều 118,  Hương ước làng Ngọc Hà (Hà Nội) quy định: “Tế chủ và quan viên trợ tế - chức sắc văn võ tự cửu phẩm dĩ thượng, mà đã vọng rồi - ai hàm cao hơn thì vào tế chủ. Nếu hàng chức sắc vắng, hoặc không vào tế, thì hàng lão tự 60 tuổi giở lên, hay là hàng Tổng lí vào thay còn thì vào bồi tế. Giai tự 18 tuổi phải mũ áo vào tế, chỉ trừ những đại tang hoặc cơ niên nghĩa là chín tháng giở lên, và những người đi làm xa biệt tỉnh. Còn những người tiểu cơ, nghĩa là từ 5 tháng giở xuống cũng phải đi tế. Nếu ai phương trở việc gì thì phải có ba chục khẩu giầu kiến ngay hôm yết tế[21].

Quy định về những kiêng kị trong ngày tế Thần, Thánh được chép từ  điều thứ 38 đến 40, Hương ước làng Xích Thổ (Hải Phòng): “Khi những ngày tiết lệ, ai ra đình thời phải tắm gội cho tinh khiết, quần áo cho sạch sẽ, khi ở đình đứng ngồi cho nghiêm trang, ăn nói có lễ phép, ai mà trái lệnh dân thời phải phạt 0đ,30 sung công. Khi tế lễ, những người vào việc hành nghi, nếu ai không được chỉnh tề nghiêm trang lễ phép thời phải phạt hai hào sung công. Lệ dân đã định, những người có chức phận thì tế lễ sự thần phải mặc áo tế vào hành nghi, ai vắng mặt thời phải phạt 0đ,20 sung công[22].
 
Điều 65, Hương ước làng Yên Lệnh (Hà Nam), cũng đề cập đến vấn đề này: “Dân có hòa, thần mới hưởng, vậy trong những ngày kì thần bái xã trong làng ai có ý tức nhau cũng nên nhịn để khi khác sẽ nói, xấu nhất là sự tranh ăn phần xôi, thịt, nếu ai phạm đến điều này làng phạt 0đ,50, tái phạm bội nhị[23]. (tức phạt gấp đôi).

Qua phân tích trên có thể thấy, trong làng Việt nói chung, những người học Nho không nhiều (chiếm một phần nhỏ trong cư dân làng xã), song do Văn Miếu, Văn chỉ nơi thờ đức Khổng Tử nằm trong "quần thể tôn giáo làng" và việc tế ở Văn chỉ gắn vào hội làng, kì làng vào đám nên những hình thức tế lễ Khổng Tử, Tiên hiền nằm trong tổng thể văn hóa tín ngưỡng làng xã. Những hình thức tế lễ đặc thù của Nho giáo đã góp phần làm phong phú đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, tạo nét đẹp của sự dung hợp văn hóa tôn giáo trong làng Việt.
Qua những quy định về việc thực hành lễ nghi, nghi thức trong ngày tế, có thể thấy, việc thờ cúng Thành Hoàng làng, thờ Khổng Tử cùng các vị tiên Nho và thờ tổ tiên cha mẹ rất quan trọng đối với người dân trong làng xã Việt Nam. ở đó, thể hiện được nếp phong hóa của mỗi làng, để rồi hình thành nên những tập tục đẹp, trong hoạt động văn hóa tâm linh cộng đồng, góp phần điểm tô thêm vẻ đẹp tạo sự phong phú và đa dạng trong nền văn hóa nước nhà.

3. Một vài nhận xét

Sự ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Nho giáo vào làng xã Việt Nam, trước và trong giai đoạn cải lương hương chính là rõ ràng. Nếu coi đặc trưng của văn hóa Việt là văn hóa làng thì hương ước là bức tranh phản ánh văn hóa làng một cách sinh động và trung thực. Những yếu tố văn hóa Nho giáo còn in đậm trong các bản hương ước làng Việt nói chung và hương ước làng vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng là những giá trị văn hóa  mà chúng ta cần gìn giữ và phát huy.
Nho giáo đã góp phần tạo ra kỉ cương, tôn ti trật tự và những quy định về phẩm tước tuổi tác qua vị thứ đình trung trong làng xã Việt Nam.  Với tư tưởng đạo đức ư hiếu đễ, Nho giáo có những đóng góp tích cực trong việc khuyên răn con người sống  đúng đạo làm người, biểu hiện tinh thần nhân đạo rõ nét. Một điều không thể không nhắc tới là những quy định và lễ nghi của Nho giáo còn đề cao, duy trì  và khuyến khích truyền thống học tập của người dân trong làng. Việc thưởng, phạt trong học hành, thi cử cũng được quy  định rõ trong hương ước. Những quy định này đã góp phần thúc đẩy truyền thống hiếu học trong làng xã cũng như trong toàn xã hội. Bên cạnh đó là những lễ nghi của Nho giáo với tinh thần tôn sư trọng đạo, “Tiên học lễ, hậu học văn” nhớ ơn tổ tiên, cha mẹ, thầy cô và bè bạn.
Tuy nhiên, những ảnh hưởng tiêu cực mà Nho giáo để lại trong văn hóa và mối quan hệ xã hội ở làng Việt là khó tránh khỏi. Có thể thấy một vài nét qua nội dung các bản hương ước: Vấn đề lễ giáo phong kiến dẫn đến tính gia trưởng, sự áp đặt trong gia đình, xã hội tại nông thôn ngày nay, vấn đề vị thứ,  khao vọng, v.v… đã và đang trở thành gánh nặng cho người dân. Tư tưởng “trọng nam kinh nữ”, hiện vẫn còn ảnh hưởng ở mộtt số vùng nông thôn có trình độ dân trí chưa cao.
Trong thời đại ngày nay, khi chúng ta tiến hành xây dựng nếp sống mới ở thành thị và nông thôn, những giá trị văn hóa, nhân văn của Nho giáo, nhất là vấn đề tu dưỡng bản thân, vẫn luôn là sự cần thiết trong xã hội hiện đại. Những ảnh hưởng  tiêu cực của Nho giáo cần phải được xem xét và loại bỏ với tư tưởng gạn đục khơi trong để mỗi cá nhân, mỗi gia đình chúng ta sẽ tự tu dưỡng bản thân, tạo ra một đại gia đình xã hội với ý thức đạo đức và trách nhiệm cao

Dương Văn Huy

Chú thích:

14. Nguyễn Hồng Dương. Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2004, tr. 159.
 
15.  Khoán ước xã Duyên Trường, trích trong cuốn Hương ước cổ Hà Tây… Sđd, tr. 28.

16. Hương ước làng Yên Lệnh, Duy Tiên, Hà Nam, Kí hiệu HU 759.

17. Hương ước làng Yên Duyên, Thanh Trì, Hà Nội, Kí hiệu HU 614

18. Xem thêm phần  Tín ngưỡng thờ Tổ tiên trong Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Thị Quế Hương. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước. Hà Nội, 2006, tr 57. Tại Thư viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo.

19. Hương ước làng Xâm Bồ, Hải An, Hải Phòng, kí hiệu HU 4016.

20. Hương ước làng Tây Mỗ, Hoài Đức, Hà Nội, kí hiệu HU 551.

21. Hương ước làng Ngọc Hà, Hoàn Long, Hà Nội, kí hiệu HU  564.

22. Hương ước làng Xích Thổ, An Dương, Hải Phòng, kí hiệu HU  3954.

23. Hương ước làng Yên Lệnh, Duy Tiên, Hà Nam… Sđd.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Ngoisaobiec, Daihongcat
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.237 seconds với 24 câu truy vấn.