Tháng Bảy 18, 2018, 10:29:23 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TIỂU SỬ LỮ TỔ -- PHÙ HỰU ĐẾ QUÂN--呂祖--孚佑帝君  (Đọc 14122 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Sáu 15, 2011, 02:21:04 pm »


Tiểu sử Lữ Tổ -Phù Hựu đế quân

呂祖--呂洞賓--孚佑帝君

***

Lữ Tổ là một trong Bát tiên

Bát tiên theo thứ tự gồm tám vị: Chung Ly Quyền,[1] Trương Quả Lão, Lữ Động Tân , Tào Quốc Cữu,[2] Lý Thiết Quải,[3] Hàn Tương Tử.[4] Lam Thái Hòa, và Hà Tiên Cô. Trong số này, vị thứ ba là đức Lữ Tổ , cũng là Phù Hựu Đế quân... Tiểu thuyết Đông du Bát tiên,[5] cho biết tiểu sử đức Lữ Tổ  với nhiều hư cấu. Ngoài ra, còn có thể căn cứ các sách sau đây để tìm hiểu thêm thân thế ngài:

[Mayers 1971], The Chinese reader’s manual.
[Werner 1969], A dictionary of Chinese mythology.
[Lai 1972], The Eight immortals.
[Lý Thúc Hoàn 1971], Đạo giáo yếu nghĩa vấn đáp tập thành
[Ngô Phong 1994], Trung Hoa Đạo học thông điển.





Bát tiên quá hải

呂洞賓,原名呂喦(「喦」或作「岩」、「巖」I. THÂN THẾ ĐỨC LỮ TỔ

1. Họ tên

Ngài họ Lữ; tên Nham [Ngô Phong 1994].[6]

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], ngài tên là Thiệu Tiên. (Thiệu Tiên: nối tiếp người xưa, kế nghiệp tiền nhân.)

2. Các hiệu

- Thuần Dương  Tổ  sư, Thuần Dương  tử [Ngô Phong 1994]. (Thuần Dương  tử: bậc chân nhân đã dứt hết âm trược.)

- Hồi đạo nhân [Ngô Phong 1994].

- Hồi đạo sĩ [Bát tiên 1950].

Nói thêm: Hồi 回 là biến thể của Lữ 呂  (đều gồm hai chữ khẩu 口). Có thể hiểu Hồi đạo nhân hay Hồi đạo sĩ là ông đạo họ Lữ; hoặc hiểu là người trở về với Đạo (Hồi nghĩa là trở lại.)

3. Ngày sinh

Ngài sinh đời Đường, nhưng không rõ ngày [Ngô Phong 1994].

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], ngài sinh ngày 14.4 Bính ngọ, đời Đường Thái tông, năm Trinh Quán thứ hai mươi (646).

Theo các tác giả khác, như [Lai 1972], [Mayers 1971] và [Werner 1969], ngài sinh năm 755, tức là vào đời Đường Huyền tông, năm Thiên Bảo mười bốn.

4. Nơi sinh

Ngài sinh ở huyện Vĩnh Lạc, phủ Hà Trung, là Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây sau này. Có thuyết bảo quê ở Đông Bình hoặc Bồ Bản, thuộc Kinh Xuyên.

5. Gia đình

- Ông nội: Lữ Vị [Ngô Phong 1994].

- Cha mẹ: [Ngô Phong 1994] không nói rõ.

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], mẹ ngài họ Vương; cha tên Nhượng, làm quan ở Hải Châu [thuộc Giang Tô].

Theo [Bát tiên 1950: 35], cha ngài là Lữ Nghị, làm quan thứ sử Hải Châu.

- Vợ: [Ngô Phong 1994] không nói rõ.

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], năm hai mươi tuổi, ngài cưới con gái quan hiệu úy họ Lưu.

Theo [Werner 1969], năm hai mươi tuổi ngài cao gần một mét sáu và vẫn chưa vợ.

Theo [Bát tiên 1950: 36], Lữ Nham không chịu lấy vợ, năm hai mươi tuổi xưng hiệu là Thuần Dương .

Như vậy truyện Bát tiên hiểu hai chữ Thuần Dương  nghĩa là đàn ông còn Tân ; vì thế một số người Việt gọi sai Lữ Động Tân  thành ra Lữ Đồng Tân .

6. Cử nghiệp

Ngài từng học theo Nho và Mặc, nhưng thi tiến sĩ ba lần không đậu, nản chí, phiêu lãng giang hồ [Ngô Phong 1994].

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], thời Vũ hậu, ngài ba lần thi hỏng tiến sĩ; năm Thiên Thụ thứ hai (691) đã bốn mươi sáu tuổi, lại đi thi lần thứ tư.

Theo [Werner 1969], ngài thi đậu năm 770, ra làm quan. Theo [Mayers 1971], ngài làm quan ở huyện Têh-hwa, nay thuộc tỉnh Giang Tây.
 
(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, SCC
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2011, 02:25:32 pm »

(tiếp theo)


****** 正陽渡純陽

呂純陽在長安酒肆遇正陽真人鐘離權,正陽收呂為徒,且對呂有「十試」的考驗:

第一試:呂純陽一日外出回來,突見親人悉皆病死,純陽既不悲傷,也不悔恨,只管置辦壽衣、棺木,準備料理喪事,不一會兒,親人又全都活過來,純陽無哀喜之情。

第二試:純陽上街賣貨,與買主討價還價後,說好了價錢,但買主又反悔變卦,只付給一半價錢,純陽不惱,讓買主大搖大擺地把貨物拿走。

第三試:春節正月初一,純陽正欲出門,遇一乞丐倚門乞討,純陽急施財物,但乞丐卻沒完沒了,一討再討,口出穢言,純陽只是滿臉堆笑。

第四試:純陽牧羊山中,忽遇一餓虎追捕羊群。純陽保護羊群下坡躲避,自己上前以身擋虎,老虎見之悻悻而去。

第五試:純陽居山中茅舍讀書,忽然來了一個美女,聲稱自己迷路前來求宿。繼而,這女子百般挑逗,夜逼共寢,純陽始終神態自若。

第六試:純陽一日外出歸來,發現家中遭竊,財產洗洗劫一空,純陽沒有頹喪,沒有報官,乃躬耕自鋤。鋤地時忽然挖出十幾錠黃金,純陽趕緊用土掩埋,分毫未取。

第七試:純陽一次上街買些銅器,回到家中一看,全都是金器,純陽馬上退還給貨主。

第八試:有個顛狂道士在街巷裡賣藥,聲稱服者立死,來世可以得道。人們聽了,誰個肯自尋死路?純陽不信邪,買回服之、安然無恙。

第九試:河水氾濫,純陽與眾人乘舟渡河,行至中游,狂風暴作,波濤洶湧,眾人驚懼,唯純陽神態自若,端然不動,視生死之度外。

第十試:純陽獨坐室中,忽見無數奇形怪狀的妖魔鬼怪欲殺欲打,純陽毫不畏懼。又一群夜叉,押著一個血淋淋的死囚,前來索命:「你前世殺了我,今當還命!」純陽道:「殺人償命,欠債還錢。」神態自若,端然不動。忽然見空中大喝一聲,鬼怪皆無。一人撫掌大笑,卻是正陽真人鐘離權。

十試,純陽皆無得失心,以平常心態對待,鐘離權極為滿意。帶著純陽至終南山鶴嶺,傳以靈寶秘法,上真秘法,共同開創了鐘呂金丹派。

但純陽不執著於煉丹、點石成金的法術,改「丹鉛」與「黃白之術」為內功,只以慈悲度世為成道路徑。修仙成功之後,時常下山云游四方,為百姓解除疾病,不要任何報酬。

(一說正陽真人鐘離權的師傅東華帝君,是純陽真人呂洞賓的前身。該說法多見明清章回小說以及降筆揮鸞勸善文中,如《八仙得道傳》、《東遊記》等。另據《歷代神仙通鑑》,呂洞賓是上古聖王「皇覃氏」轉世。)




7. Thọ pháp

Theo [Ngô Phong 1994], ngài lần lượt được nhiều vị truyền dạy nhiều pháp môn tu luyện khác nhau: Khổ trúc Tiên sinh truyền pháp Cao bôn thượng thánh; Thái tố Chân quân truyền pháp Thái huyền nhật nguyệt; Hỏa long Chân nhân truyền dạy Thiên độn kiếm pháp.

Theo [Werner 1969], ngài gặp Hỏa long Chân nhân ở Lư Sơn, Giang Tây khoảng năm hai mươi tuổi.

Theo [Bát tiên 1950: 36], ngài được Hoàng long Chân nhân truyền dạy kiếm pháp chém yêu. Do đó, dân gian tin rằng đức Lữ Tổ  rất giỏi kiếm pháp, truyền tụng rằng ngài mang gươm đi trừ yêu diệt quái; lại vẽ tranh ngài đeo gươm sau lưng như kiếm khách.

Chung Ly Quyền thử thách ngài mười lần mới truyền pháp Kim đan thái ất [Ngô Phong 1994].

Về cuộc hội ngộ của hai vị Chung, Lữ, [Bát tiên 1950: 36-37] kể tỉ mỉ rằng năm sáu mươi bốn tuổi Lữ gặp đức Chung Tổ  ở Trường An. Trong lúc Tổ  nấu kê vàng, Lữ nằm ngủ trên gối phép của Tổ , mơ thấy mình thi đậu, làm quan tới thừa tướng, cưới vợ, có con cháu, rồi bị triều đình trị tội, bắt lưu đày, gia sản bị tịch biên... Lữ giật mình tỉnh dậy thấy nồi kê vẫn chưa chín. Ngẫm lại, thấy rằng bao nhiêu vinh hoa phú quý, thăng trầm kiếp người, tất cả chỉ thoảng qua như một giấc mộng, còn ngắn ngủi hơn cả thời gian nấu chín một nồi kê, Lữ giác ngộ lẽ vô thường, chán chường tuồng ảo hóa, liền xin theo đức Chung Tổ  học đạo tiên. Do tích này, để ám chỉ chuyện công danh phú quý thế gian chỉ là hư ảo, phù du, trong văn học có thành ngữ giấc mộng hoàng lương, giấc mộng kê vàng (hoàng lương mộng).

Về mười lần đức Chung Tổ  thử thách tâm đạo của Lữ, theo [Bát tiên 1950: 37-39], Lữ đã vượt qua mười cảnh ảo sau đây:

(1) Thấy toàn gia quyến bị bệnh dịch chết hết mà không hề oán trách Trời;

(2) Bị người mua gian bán lận mà không buồn;

(3) Cho tiền kẻ xin ăn, bị họ mắng mà vẫn cười;

(4) Thấy cọp đói vồ dê, Lữ hy sinh thân mình để cứu dê;

(5) Gặp gái trẻ đẹp lả lơi mà không động lòng tà;

(6) Bị trộm ăn cắp hết của; rồi cuốc đất gặp vàng mà thản nhiên không thèm nhặt;

(7) Mua đồ đồng, người bán đưa lộn vàng thật, liền đem ra tiệm trả lại;

(8 ) Chịu uống thuốc độc bỏ kiếp này miễn là kiếp sau thành tiên; [7]

(9) Bị nạn lụt lớn mà không kinh hãi;

(10) Bị âm hồn đòi mạng vẫn vui lòng trả nợ kiếp trước; không tham học phép hoàng bạch (chỉ đá hóa vàng) để khỏi gây hại đời sau vì khi hết thời hạn, vàng ấy sẽ trở lại thành đá.


Theo [Mayers 1971], trong khi Lữ đang làm quan ở huyện Têh-hwa, nay thuộc tỉnh Giang Tây, thì ngài gặp đức Chung Tổ  ở Lô Sơn.[8]

Theo [Werner 1969], ngài gặp đức Chung Tổ  ở kinh thành Trường An, tỉnh Thiểm Tây; rồi theo Tổ  đến Hạc Lĩnh, Chung Sơn, Thiểm Tây.

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], năm 691, bốn mươi sáu tuổi, Lữ đi thi tiến sĩ lần thứ tư. Đến kinh thành Trường An, ngài được đức Chung Tổ  mời uống rượu, Lữ ngủ say, mơ một giấc kê vàng, khi tỉnh dậy chán ngán mùi đời, bỏ nhà theo đức Chung Tổ  đến ngọn Hạc Lĩnh, Nam Sơn, tu tiên; lúc này Ngài đổi tên là Nham, tự Động Tân .

- Nham: núi cao ngất; hang núi. Tên này cũng ngụ ý người tu tiên thường vào núi ẩn cư (chiết tự, tiên là người sống ở núi).

- Động: còn là cõi tiên. Trong đạo Lão, động không phải chỉ là hang động thông thường trong núi; nơi tiên ở gọi là động phủ; nhiều cuộc lễ quan trọng của đạo Lão xưa kia đã được Tổ  chức trong hang động. Vậy, Động Tân  nghĩa là người khách ở động, cũng hiểu là người cõi tiên.

傳說呂祖作百字銘傳世: 「養氣忘言守,降心為不為,動靜知宗祖,無事更尋誰。 真常須應物,應物要不迷,不迷自性住,性住氣自回。 氣回丹自結,壺中配坎離,陰陽生反覆,普化一聲雷。 白雲朝頂上,甘露灑須彌,自飲長生酒,逍遙誰得知。 坐聽無弦曲,明通造化機,都來二十句,端的上天梯。」

傳說呂祖《沁園春》:「暮宿蒼梧,朝游蓬島,朗吟飛過洞庭邊。岳陽樓酒醉,借玉山作枕,容我高眠。出入無蹤,往來不定,半是風狂半是顛。隨身用、提籃背劍,貨賣云煙。人間飄蕩多年,曾佔東華第一筵。推倒玉樓,種吾奇樹;黃河放淺,栽我金蓮。捽碎珊瑚,翻身北海,稽首虛皇高座前。無難事,要功成八百,行滿三千。 」

《宋史•藝文志》神仙類著錄呂洞賓《九真玉書》1卷。《全唐詩》有其詩四卷、詩二百多首, 如《直指大丹歌》。《道藏》收錄呂洞賓的傳說和署名呂洞賓著的作品,集為《呂祖志》。
[編輯] 職能

相傳明太祖朱元璋因頭上爛瘡劇痛難忍,常殺理髮師洩憤,而呂仙化身理髮師將朱元璋治療好,救了不少理髮師性命,故被理髮業者奉為保護神。另說則是柳樹成仙,作弄理髮師,頭髮即剃即長。呂祖師化身理髮師,以寶劍化剃刀,將之降伏。故理髮界都奉之為保護之神。

有一些金礦工人或商人,因相傳鍾離權、呂純陽師徒能「點石成金」(將石頭變為黃金),故奉二仙為保護神、財神。

某些妓女也以呂仙為保護神。

由於呂仙善於煉丹,時常濟世救人,也被認為有醫神的性質。

另外,士人學子將呂祖師與文昌君、魁星、關帝君、朱衣神合奉,稱「五文昌」,相傳能保佑文運,金榜題名。

俗說呂祖以黃梁夢點醒盧生,故向呂祖祈求之後,許多人會在廟中或神像旁睡覺,期待呂祖示夢於人。
***** 傳說

呂祖的傳奇可說是道教神仙人物中最多者,北宋的《夷堅志》一書就收錄了近三十條。其他諸如救人濟世,拔劍助弱,斬妖除魔,點化迷途等等,多不勝數,《呂祖志》中說,其師正陽真人鐘離權將升天,呂祖曰:「岩之誌異于先生,須度盡天下眾生方上升未晚也」。從此,歷史上關於呂祖現身度化、濟困助人的傳說絡繹不絕。

民間的呂祖,是「八仙」中最負傳奇色彩的人物。五代以後,一直有人借呂祖的名義出山,讓他的傳說更加豐富而且神奇,比如「呂洞賓三醉岳陽樓」、「四下鶴城」、「呂洞賓賣湯糰」、「呂洞賓黃梁夢度盧生」、「呂洞賓飛劍斬黃龍」、」「呂洞賓三戲白牡丹」等等。
邯鄲黃粱夢鎮呂仙祠中的呂祖像

北宋開始,民間關於呂祖的傳說愈來愈多。苗善時收編為《純陽帝君神化妙通紀》。傳說呂祖曾師苦竹真君,習得日月交拜之法;又游廬山,遇火龍真人,習得天遁劍法,民間甚至傳說,呂祖身有飛劍,可飛出千里尋人並將其斬首。

南宋初人吳曾所撰的《能改齋漫錄》卷十八中,記有呂祖自傳。據說呂洞賓曾自言:「世言吾飛劍取人頭,吾甚哂之。實有三劍,一斷無明煩惱,二斷無明嗔怒,三斷無明貪慾。」


8. Năm tạ thế (quy thiên)

[Ngô Phong 1994] không nói.

Theo [Werner 1969], ngài mất năm 805.

Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], căn cứ vào Lữ Tổ  toàn thư và Lữ Tổ  bản truyện, cho biết đức Lữ Tổ  về chầu đức Nguyên thủy Ngọc hoàng năm sáu mươi bốn tuổi.

9. Đạo nghiệp

Trước đức Lữ Tổ , đã có các thuật sĩ đạo Lão chú trọng thuật luyện đan, tức ngoại đan. Thuật ngữ đạo Lão gọi là phép đan diên và hoàng bạch [Ngô Phong 1994].

Đan là đan sa, chu sa, thần sa, màu đỏ thắm. Trong kinh cúng tứ thời có câu Đơn tích vi mang, thì đơn chính là đan sa. Diên là chì. Hoàng bạch thường được phái ngoại đan giảng là phép luyện đá (màu trắng) hóa vàng.

Ngày nay, mượn thuật ngữ Tam công của Cao đài, có thể luận khái quát về đạo nghiệp của đức Lữ Tổ  hay Phù hựu Đế quân như sau:

• Về công phu, đức Lữ Tổ  có công đổi phép luyện ngoại đan (đan diên và hoàng bạch) thành phép tu nội đan, tức là tham thiền, tịnh luyện.

• Về công quả và công trình, đức Lữ Tổ  chủ trương lấy từ bi độ thế làm con đường ngắn để tu thành tiên. Đức Lữ Tổ  ôm hoài bão cứu đời, ngài luôn cho rằng người thế gian nếu biết trung với nước, hiếu hữu với gia đình, thành tín với bạn bè, nhân ái với kẻ dưới, không kiêu căng ngạo mạn, không làm việc sái quấy nơi vắng vẻ, biết dùng phương tiện vật chất cứu tế, như thế sẽ được người khác yêu mến, mà quỷ thần cũng kính trọng.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, SCC
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2011, 02:29:22 pm »

(tiếp theo)
** 生平

洞賓自小聰明過人,日記萬言,過目成誦,出口成章,長大後「身長八尺二寸,喜頂華陽巾,衣黃欗杉,系一皂鞗,狀類張子房,二十不娶。」禪宗馬祖道一大師見到就說:「此兒骨相不凡,自市風塵物處。他時遇盧則居,見鐘則扣,留心記取。」

唐寶歷元年(825年)中了進士,為官一段時間,不久因厭官場生活,棄官入道,隱居山10. Môn đệ

Theo [Ngô Phong 1994], một số học trò có tên tuổi của đức Lữ Tổ  là Quách Thượng Táo, Triệu Tiên cô, Nam Liễu, Hà Tiên cô (vị thứ tám trong Bát tiên)...

Tương truyền Vương Trùng Dương  đã được Tổ  truyền đạo pháp, cho nên phái Toàn chân (do Vương khai sáng) thờ Tổ  là một trong năm vị Tổ  Bắc tông; các đạo quán của phái này đều có điện hay miếu thờ Tổ , mà một trong ba Tổ  đình lớn nhất là cung Vĩnh lạc.

Nguyên ngài Lữ Nham sinh ở huyện Vĩnh Lạc, phủ Hà Trung. Vĩnh Lạc nằm ở phía tây nam tỉnh Sơn Tây. Theo [Lai 1972], năm 1272, Hốt Tất Liệt (Kublai Khan) đã cho xây dựng cung Vĩnh lạc, trong điện có một bức bích họa (tranh vẽ trên tường) rất lớn miêu tả những chuyến ngao du của ngài Lữ Động Tân  theo truyền tụng dân gian.

Về mối quan hệ thầy trò giữa hai vị Lữ và Vương, truyện Thất chơn nhơn quả đã kể ở hồi thứ nhất rằng ngài Vương Trùng Dương  được hai người khách phương xa hóa độ vào đạo. Khi Vương hỏi tên, hai vị ấy xưng danh là Kim Trọng và Vô Tâm Xương. Đây là hai tá danh, vì theo cách chiết tự thì:

- Kim và Trọng hợp thành Chung. Vậy Kim Trọng chính là đức Chung Tổ .

- Xương gồm hai chữ Viết chồng lên nhau; nay bỏ ruột (vô tâm) thì còn hai chữ Khẩu chồng lên nhau; tức là chữ Lữ (giản thể). Vậy Vô Tâm Xương chính là đức Lữ Tổ .

11. Thần tích

Đức Lữ Tổ  hành tung ẩn hiện, biến hóa không lường, tuy đắc đạo rồi vẫn nguyện thăng giáng nơi cõi trần ô trược để tìm cơ duyên độ dẫn người có thiện căn bước vào đường tu tiên giải thoát. Trải qua Đường, Tống, Nguyên các đời, Tổ  hiển hiện nhiều linh dị, dân chúng sùng bái, lập miếu thờ, lưu truyền nhiều kỳ tích huyền bí. Đời Thanh quy định nghi thức hành lễ tôn kính Đế quân.

Uy linh của đức Lữ Tổ  còn ảnh hưởng sang tận Việt Nam. Giữa lòng thủ đô Hà Nội, xưa là kinh thành Thăng Long, trên hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Gươm) là đền Ngọc sơn rất nổi tiếng. Lúc đầu đền này thờ đức Quan thánh Đế quân, sang thế kỷ thứ XIX thì thờ thêm đức Văn xương Đế quân, rồi sau lại thờ thêm đức Phù hựu Đế quân.

• Ngoài ra, vì xuất thân là nho sĩ, Tổ  cũng được người Trung Quốc tôn làm thánh Tổ  của nghề làm mực. Theo [Lai 1972], ngài là Tổ  của giới nho sĩ, mặc dù nhiều truyền thuyết chép rằng ngài thi đâu rớt đó.

• Theo [Werner 1969], dân gian Trung Quốc thường minh họa Tổ  qua những hình ảnh như sau:

- cầm phất trần [là một pháp khí của tiên gia];[9]

- hoặc đeo kiếm sau lưng [vì ngài đã học kiếm pháp trừ yêu với Hỏa long Chân nhân];

- hoặc bồng một bé trai [tượng trưng sự truyền tử lưu tôn mặc dù theo nhiều sách thì ngài chưa từng cưới vợ, không có con nối dòng];

• Theo [Lý Thúc Hoàn 1971], sách Thần tiên giám nói Tổ  là Hoàng Đàm giáng thế; nhưng theo [Bát tiên 1950: 35], Tổ  là Hoa Dương  Chân nhân giáng thế.

• Cũng theo [Bát tiên 1950: 45], đời Tống Huy tông, năm Chính Hòa (khoảng 1111-1117), Tổ  cùng Quan thánh Đế quân vào hoàng cung trừ yêu quái.

[Bát tiên 1950: 41-42] lại kể: Tổ  đến thành Nhạc Dương  uống rượu ở quán Tân  thị nửa năm, không hề bị chủ quán đòi tiền. Tổ  hóa phép vẽ hình chim hạc trên vách, dặn có khách tới thì vỗ tay, hạc sẽ bay ra múa, hết khách thì hạc lại nhập vào tranh trên vách. Vài năm sau, Tổ  trở lại, chủ quán đã quá giàu; Tổ  lấy sáo thổi, hạc bay ra chở Tổ  đi mất.

Giai thoại hạc múa ấy có lẽ trùng lắp với một truyền thuyết khác về ông tiên Phí Văn Vi. Vị này thường cỡi hạc đến chơi trên một cái lầu ở phía tây huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Lầu ấy vì thế được gọi tên là lầu Hoàng hạc.

Đời Đường, nhà thơ Lý Bạch đến đây chơi, thấy phong cảnh xinh đẹp, muốn làm một bài thơ, nhưng lại thôi, chỉ để lại hai câu ngắn:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.[10]

Là hai nhà thơ đồng đại, Lý Bạch (701-762) và Thôi Hiệu (704-756) cùng vang danh từ đời Đường.

• Về việc đắc đạo của đức Lữ Tổ , [Bát tiên 1950: 41] kể rằng Chung Tổ  bảo Lữ Tổ : “Ta về chầu Trời sẽ tâu ghi tên ngươi vào sổ tiên. Mười năm nữa hãy gặp ta ở hồ Động Đình.”.

Tỉ mỉ hơn, theo [Lý Thúc Hoàn 1971], trong Lữ Tổ  toàn thư và Lữ Tổ  bản truyện cho biết: “Lữ Tổ  đắc đạo do Chung Tổ  sư truyền, lại đắc kiếm pháp do Hỏa long Chân nhân truyền. Kiếm pháp có ba điều: một là đoạn phiền não; hai là đoạn sắc dục; ba là đoạn tham sân. Lúc đầu Lữ Tổ  đến sông Hoài thử kiếm linh, diệt được cái họa giao long [thuồng luồng] ở đây. Rồi Tổ  đến hồ Động Đình lên lầu Nhạc Dương  uống rượu một mình. Bỗng Chung Tổ  sư hiện ra, bảo: ‘Đúng lời hẹn trước, Thượng đế ban mệnh cho ngươi và quyến thuộc cư ngụ ở động phủ Kinh sơn; còn tên ngươi đã ghi vào sổ bộ Ngọc thanh.’ Lúc năm mươi ba tuổi, Tổ  về Lư sơn. Khi sáu mươi bốn tuổi, Tổ  triều kiến Nguyên thủy Ngọc hoàng.”

Về việc luyện kiếm pháp của Tổ , nếu xét về thiền, thì có lẽ là ẩn dụ. Đoạn văn trích dẫn ở trên có câu: “Kiếm pháp có ba điều: một là đoạn phiền não; hai là đoạn sắc dục; ba là đoạn tham sân.” - vậy, kiếm tức là huệ kiếm (gươm trí huệ); cho nên thanh kiếm giắt sau lưng đức Lữ Tổ  có thể cũng là lưỡi kiếm mà ngày nay trong kinh cầu siêu  rằng:

Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,

Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi thiên.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, SCC
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2011, 02:31:59 pm »

(tiếp theo)

* 尊號

呂洞賓樂善好施,扶危濟困,深得百姓敬仰,被信徒尊稱為呂仙、呂祖、呂仙祖、呂祖師、純陽祖師。閩南、台灣民間信仰俗稱其為「呂仙公」,簡稱「仙公」

扶鸞的信眾則時常稱之為呂恩主,與關帝君、岳鄂王、灶君張單、王靈官合稱為「五恩主」。

道教、佛教及其他教派尊稱其為:純陽祖師、靈寶真人、孚佑真人,孚佑帝君、一炁真君、廣濟正道神人、圓通文尼真佛、光圓自在通佛、興隆大道天尊、伭元廣法天尊、妙通宏仁普惠帝君、道法玄明仁極無上天尊等。

一般普遍稱「玉清內相金闕選仙純陽演正警化孚佑帝君三曹主宰興行妙道天尊」。

中國歷史朝廷敕封:

宋朝封「妙道真君」(一作:妙道真人)。

元朝封「純陽演政警化真君」,後加「純陽演政警化孚佑帝君」。

明朝封「護國天尊」。

清朝封「妙化真君」,加封「文尼真佛」。

「純陽」含義的現代解釋:陰陽能量的共同作用形成了創造的基本構架。其中陰傾向於連結和追求整體,而陽製造分離和個體化。後者跟前者是一樣有價值的。擁抱個體性、獨特性,這是極為重要的事情。生命中有著一種本然的個體感,它與孤獨無關,而只是因為你是一個獨特的個人。接納這種個體性並不會妨礙跟其他人有深入的聯繫。只有真正接納了這種個體性,你才能成為有力量的、有創造性的人,你才能把你的能量與任何人、任何事物分享,你不再擔心會因此而失去自我,或是放棄自己的個性。真正明白個體性與整體性是統一的人,即是純陽真人。

12. Tôn hiệu

Hồng danh Phù hựu Đế quân của đức Lữ Tổ  có lẽ xuất phát từ tôn hiệu Thuần Dương  Diễn hóa Cảnh hóa Phù hựu Đế quân mà vua Nguyên Vũ tông đãõ hiến Tổ  vào năm Chí Đại thứ ba (1310).

Các đời vua trước cũng hiến Ngài hai tôn hiệu khác:

- Diệu thông Chân nhân: vào đời vua Tống Huy tông tôn, năm Tuyên Hòa thứ nhất (1119), theo [Werner 1969] là năm 1115.

- Thuần Dương  Diễn chính Cảnh hóa Chân quân: vào đời vua Nguyên Thế Tổ , năm Chí Nguyên thứ sáu (1269).

Ngoài ra, theo một bản kinh Cảm ứng dùng trong Cao đài Chiếu minh, đức Lữ Tổ  còn có hồng danh là Ngọc hư Sư tướng, Kim khuyết Tuyển tiên, Phù hựu Đế quân, Diệu đạo Thiên tôn.

Trong một bản kinh của đạo Lão nhan đề Lữ Tổ  bửu cáo, lại thấy ghi tôn hiệu ngài là Ngọc thanh Nội tướng, Kim khuyết tuyển tiên. Tôn hiệu này cho thấy ngài có vai trò và tầm quan trọng rất lớn:

(1) Ngọc hư Sư tướng: ngài là tướng súy của cung Ngọc hư (nơi Trời ngự);
(2) Ngọc thanh Nội tướng: ngài là tướng súy của cung Ngọc thanh;
(3) Kim khuyết Tuyển tiên: ngài là giám khảo xét tuyển những bậc chơn tu xứng đáng để sau đó họ được Thượng đế sắc phong vào hàng tiên gia nơi Huỳnh kim khuyết (cung Trời).
(4) Phù hựu Đế quân: ngài là bậc Đế quân linh hiển, dân chúng rất tin cậy ở sự che chở, bảo hộ của ngài (Phù: được tín nhiệm; hựu: bảo hộ, phù hộ).
(5) Diệu đạo Thiên tôn: ngài là đấng được cõi trời tôn kính bậc đạo pháp huyền diệu.

13. Tác phẩm

Nhiều bậc hành giả tu đơn, chuyên về tâm pháp (thiền) thường không muốn lập ngôn (viết sách). Trái lại, đức Lữ Tổ  dù coi trọng tu thiền hay pháp môn vô vi (công phu), ngài vẫn tích cực nhập thế phổ độ và hăng say trứ tác để giáo hóa (công quả, công trình). Điều đó giải thích vì sao xưa nay Tổ  đã là một tên tuổi lừng lẫy của đạo Lão Trung Quốc.

Tác phẩm của đức Lữ Tổ  rất nhiều, được chép trong Đạo tạng tập yếu, một số có thể do đời sau ngụy tạo, một số do cơ bút Đạo giáo dân gian (như bài Ngọc hoàng Thiên tôn bửu cáo đời Thanh, đã dẫn ở bài trước). Lược kể một số tác phẩm chính:

(1) Bách vấn thiên
(2) Bí truyền Chính Dương  Chân nhân Linh bảo tất pháp
(3) Chỉ huyền thiên
(4) Cửu chân ngọc thư
(5) Linh bảo thiên
(6) Phá mê chính đạo ca
(7) Thập giới công quá cách
(8 ) Truyền đạo thượng thiên; trung thiên; hạ thiên
(9) Trửu hậu tam thành thiên
(10) Chung, Lữ truyền đạo tập [11]
(11) Hoa Dương  thiên
(12) Hội chân thiên
(13) Tây Sơn chúng tiên hội chân ký
(14) Tu chân chỉ huyền thiên, v.v...


SÁCH BÁO THAM KHẢO CHỌN LỌC

[Bát tiên 1950] Khuyết danh, Đông du Bát tiên. Tô Chẩn dịch. Sài Gòn: Nxb. Tín đức Thư xã.

[Huệ Chương 1953]. Đại đạo truy nguyên & Phu thê yếu luận. Quyển thứ nhứt. Sài Gòn: nhà in Võ Văn Vân, 201-211 Kitchener, 1953.

[Lai 1972] T. C. Lai, The Eight Immortals. Hong Kong: Swindon Book Co.

[Lý Thúc Hoàn 1971]. Đạo giáo yếu nghĩa vấn đáp tập thành. Đài Loan: Cát liên ấn loát xưởng, tr. 31.

[Mayers 1971] William Frederick Mayers. The Chinese reader’s manual. Taipei: Ch’eng Wen Publishing Co.

[Ngô Phong 1994] (chủ biên). Trung Hoa Đạo học thông điển. Nam hải xuất bản công ty, tr. 1062.

[Werner 1969] E. T. C. Werner. A dictionary of Chinese mythology. New York: The Julian Press, Inc., Publishers.

----------------------------------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, NguyenThu62, Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 15, 2011, 02:38:48 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2011, 02:35:44 pm »

(tiếp theo)




CHÚ  THÍCH

[1] Chung Ly là họ, tên Quyền, cũng gọi là Hán Chung Ly vì sống vào đời Hán; tự Tịch Đạo; hiệu Vương Dương  tử và Vân phòng Tiên sinh.

[2] Tên là Cảnh Hưu và là em trai của Tào hậu, mà Tào hậu là vợ vua Tống Nhân tông, tức là mẹ vua Tống Anh tông. Xét về vai vế, ngài là em vợ Tống Nhân tông và là cậu của Tống Anh tông. Theo người Hoa, anh hay em của mẹ và anh hay em của vợ đều gọi là cữu, và do ngài thuộc hoàng tộc nên được gọi là Quốc cữu, nhưng người Việt thường gọi sai là Tào Quốc cựu.

[3] Cũng gọi Thiết quải Lý. Thiết quải nghĩa là cây gậy sắt, nhưng người Việt thường gọi sai là Lý Thiết quài. Ngài tên thật là Lý Huyền, thường chống gậy sắt.

[4] Tên thật là Thanh Phu.

[5] [Bát tiên 1950: 35-45] Hồi thứ 12, 13, 14...

[6] Trong bài này, [Ngô Phong 1994] được sử dụng là chính; các tác giả khác được dùng để đối chiếu, khảo dị, bổ sung.

[7] Đây là ẩn dụ, người tu muốn được giải thoát hãy coi thân mình như cái xác chết rồi nhưng chưa chôn, có vậy thì dứt bỏ được mọi ham muốn, và được vững vàng, tinh tiến trên đường đạo.

[8 ] Lư  và lô viết gần giống nhau, có lẽ Mayers lầm.

[9] Phất trần (phất chủ) cùng với kinh Xuân thu (Nho), bình bát vu (Thích) được Cao đài coi là ba pháp khí tượng trưng Tam giáo.

[10] Trước mắt có cảnh đẹp mà không tả được, / trên đầu đã có Thôi Hiệu đề thơ rồi. Lý Bạch ám chỉ bài Hoàng hạc lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, sau này được Tản Đà dịch rất tài với bốn câu đầu như sau:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà nay Hoàng hạc riêng lầu còn trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay...
[11] Một số nhà nghiên cứu ngờ rằng năm tác phẩm từ số 10-14 đều do môn đệ của Tổ  soạn.

[12] Theo một nghiên cứu của Lê Anh Minh (bản thảo), công quá cách đã có từ đời Hán. Đến đức Lữ Tổ , ngài đưa ra mười giới răn để làm một bảng tiêu chuẩn (cách) rất tỉ mỉ, phân định rõ đâu là những tư tưởng và hành vi thiện (công) hay ác (quá).

[13] Nhật lục giả, sở dĩ tu kiểm thiện ác chi xứ.
   


HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, vongminhnguyet, Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, huyenphong, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 15, 2011, 02:37:39 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
chanquangtu
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 1

Cảm Ơn
-Gửi: 0
-Nhận: 6


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2011, 01:27:16 pm »


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Thiên Vương, byphuong, nguyenthuy, dieunha, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 29, 2011, 01:30:23 pm gửi bởi chanquangtu » Logged
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Tư 24, 2014, 01:48:53 pm »

Thêm ảnh đẹp


Lữ (Lã) Động Tân (chữ Động cũng đọc thành Đồng) là người đất Kinh Triệu đời nhà Đường, tên là Nham (Động Tân là tự), hiệu là Thuần Dương Tử.

Đời Đường Vũ Tông, hai lần thi tiến sĩ không đỗ mà tuổi đã sáu mươi tư. Trong khi giang hồ lãng du, gặp Chung Ly Quyền, học được thuật kéo dài tuổi thọ.

Ban đầu ở núi Chung Nam, sau được Chung Ly Quyền đưa đến núi Hạc Lĩnh mà truyền nốt cho bí quyết trên.

Động Tân đắc đạo rồi bèn đi qua các miền Giang, Hoài, Tương, Đàm, Nhạc, Ngạc và Lưỡng Chiết, người khác không thể biết, tự xưng là Hồi Đạo Nhân.

Người đời còn gọi là Lữ Tổ, nhà Nguyên phong là Thuần Dương Diễn Chính Cảnh Hóa Tôn Hựu Đế Quân.


(An Chi :- http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/4324-4324-633760808272500000/Hoi-dap-Dong-Tay/Bat-tien-la-nhung-ai-Su-tich-cua-tung-vi.htm )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 24, 2014, 02:00:07 pm gửi bởi nguyenthuy » Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tư 24, 2014, 01:54:55 pm »


Lữ Ðồng Tân

Lữ Ðồng Tân, con của Thứ Sử Hải Châu, sanh ngày 14 tháng 4. Khi bà mẹ mới sanh Ông thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất. Ấy là Huê Dương Chơn Nhơn đầu thai xuống trần làm Lữ Ðồng Tân.

Lữ Ðồng Tân lớn lên, mắt phụng mày ngài, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chơn mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chơn có chỉ như lưng qui, mình cao 8 thước 2, tánh ưa bịt khăn huê dương (bao đảnh xanh), mặc áo đạo sĩ.

Khi ấy có thầy coi tướng Mãn Tổ đến coi đoán rằng: "Người trẻ nầy tướng khác phàm tục, sau gặp chữ Lư thì đắc thời, gặp chữ Chung thì thành đạo."

Mọi người trong nhà đều nghe nhưng không hiểu gì.

Năm 20 tuổi, Lữ Ðồng Tân xưng hiệu là Thuần Dương, nên gọi là Lữ Thuần Dương, đi thi đỗ Tú Tài, tiếp theo đỗ luôn Cử Nhân, nhưng khi thi Tiến Sĩ thì rớt. Khi đến núi Lư sơn, gặp Huỳnh Long Chơn Nhơn dạy cho phép tu luyện và tặng cho một thanh gươm chém được yêu quái.

Ngày kia, Lữ Ðồng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu, gặp một đạo sĩ mặc áo trắng đang đề thơ trên vách ba bài thi như sau:

Ngồi đứng hằng mang rượu một bầu,
Chẳng cho cặp mắt thấy Hoàng Châu.
Dạo chơi ít kẻ tường tên họ,
Trên thế thanh nhàn muốn được đâu?

Thần Tiên tìm bạn khó không nài,
Có phước theo ta dễ mấy ai?
Ðông Hải rõ ràng nhiều động đá,
Ít người được thấy núi Bồng Lai.

Dạo chơi theo thuở, ở theo thời,
Danh lợi làm chi mắc nợ đời.
Nằm nghĩ co tay hằng đếm mãi,
Mấy ai ao ước được như lời.

Lữ Ðồng Tân thấy đạo sĩ cốt cách Thần Tiên, đề thơ thanh thoát thì cảm phục lắm, liền đến làm quen, chắp tay chào hỏi và xin Ðạo sĩ cho biết họ tên. Ðạo sĩ mời ngồi, rồi nói rằng:

- Ông hãy làm một bài thơ cho ta biết ý trước đã.

Lữ Ðồng Tân liền đọc:

Cân đai ràng buộc ý không màng,
Áo vải coi ra rất nhẹ nhàng.
Danh lợi cuộc đời chưa phỉ nguyện,
Làm tôi Thượng Ðế mới nên trang.


Ðạo sĩ nói:

- Ta là Chung Ly Vân Phòng, tu ở núi Triều Hạc, Ông có muốn đi chơi với ta không?

Ðồng Tân có vẻ lưỡng lự. Vân Phòng biết họ Lữ còn muốn đi thi Tiến Sĩ để trổ danh với đời, nên ý còn dùng dằng.
Vân Phòng muốn độ Lữ Ðồng Tân nên ngồi nấu một nồi huỳnh lương, tức là nồi bắp vàng. Trong lúc chờ cho nồi bắp chín, Vân Phòng đưa cho Lữ Ðồng Tân một cái gối, bảo nằm xuống nghỉ, còn mình thì tiếp tục chụm củi đun nồi bắp.

Ðồng Tân nằm xuống, kê đầu lên gối, giây lát chiêm bao thấy mình vác lều chõng đi thi, ngang qua nhà giàu nọ, gặp người con gái rất đẹp thì ướm lời. Nàng nói rằng: Nếu chàng thi đậu Trạng Nguyên thì thiếp nguyện nâng khăn sửa trấp.

Lữ Ðồng Tân vào khoa thi đỗ Trạng, về cưới nàng ấy, sau lại cưới thêm hầu thiếp, được vua bổ làm quan Gián Nghị, lần lần thăng lên. Sau 40 năm được vua phong tới chức Thừa Tướng, con cái đông đảo, sui gia cũng bực quan lớn, lại có cháu nội cháu ngoại. Thật là vinh sang phú quí tột bực.

Chẳng may, sau đó bị gian thần hãm hại, vu oan giá họa, vua tin lời, bắt tội, truyền tịch thâu gia sản, đày qua núi Lãnh Biển, cực khổ vô cùng. Kế giựt mình thức dậy.

Vân Phòng ngồi kế bên cười lớn, ngâm câu thơ:


Nồi bắp hãy còn ngòi,
Chiêm bao đà thấy cháu.

Lữ Ðồng Tân lấy làm lạ hỏi rằng:

- Thầy biết sự chiêm bao của tôi sao?
- Chiêm bao 50 năm, công việc cả muôn, thiệt không đầy một lát, đặng chẳng khá mừng, mất không nên thảm, hết vinh tới nhục là lẽ thường. (Do sự tích nầy mà người ta nói: Giấc Huỳnh lương, Giấc kê vàng, Giấc Hàm Ðan, là để chỉ giấc mộng của Lữ Ðồng Tân, xem vinh hoa phú quí là phù du mộng ảo).

Ðồng Tân nghe Vân Phòng nói vậy, liền tỉnh ngộ, ngẫm nghĩ thấy chán ngán cuộc đời, cầu xin Vân Phòng truyền đạo.

Vân Phòng nói:

- Việc nhà hãy chưa an, đời sau tu cũng không muộn.

Nói rồi liền bỏ đi. Lữ Ðồng Tân trở về nhà, bỏ việc công danh, lo tu tâm dưỡng tánh. Trong thời gian đó, Chung Ly Vân Phòng lần lượt bày ra 10 điều để thử tâm chí của Lữ Ðồng Tân. Vân Phòng rất hài lòng về người đệ tử nầy, nói:

- Ta đã thử 10 điều, khen ngươi bền chí, đáng được truyền đạo trường sanh. Song ngươi chưa có công quả bao nhiêu, nên ta rước gấp chưa được. Nay ta dạy ngươi phép chỉ đá hóa vàng, ngươi cứu đời cho có công quả, rồi ta sẽ rước ngươi về Thượng giới.

Lữ Ðồng Tân thưa rằng:
- Vàng ấy chừng bao lâu mới phai?
- Cách 3000 năm mới trổ.
Lữ Ðồng Tân châu mày thưa rằng:
- Như vậy thì cứu người nghèo bây giờ mà lại làm hại những kẻ 3000 năm sau nhiều lắm, thiệt tôi chẳng nỡ.
Vân Phòng khen:
- Lòng ngươi nhơn đức 10 phần, truyền đạo bây giờ cũng đặng.
Nói rồi dắt Lữ Ðồng Tân về núi Triều Hạc, và sau đó truyền hết các phép tu luyện cho Lữ.


Một ngày nọ, Vân Phòng gọi Lữ Ðồng Tân nói:
- Ta sắp lên chầu Thượng Ðế, sẽ tâu xin đem tên ngươi vào sổ Tiên. Cách 10 năm nữa, đến gặp ta tại Ðộng Ðình Hồ.
Xảy có một vị Tiên cỡi hạc bay đến nói:
- Có chiếu chỉ của Ðức Thượng Ðế phong Vân Phòng làm chức Kim Khuyết Thượng Tiên. Hãy mau lên lãnh sắc.
Vân Phòng liền từ giã Lữ Ðồng Tân rồi bay lên mây. Lữ Ðồng Tân vẫn ở núi Triều Hạc để tu và lập công quả.


Ngày nọ, Lữ Ðồng Tân đến sông Giang Hoài, được biết có một con giao thành tinh, phá hại dân chúng. Ðã có nhiều đạo sĩ đến trị nó không nổi. Lữ Ðồng Tân biết mình có gươm phép của Huỳnh Long Chơn Nhơn ban cho, chắc trừ nó đặng, nên nói với quan Phủ để mình lãnh cho.

Nói rồi, rút gươm phép ra, miệng niệm Thần chú, phóng gươm xuống sông Giang Hoài, giây phút thấy nước sông nổi sóng, máu tươi vọt lên thắm đỏ dòng sông, con giao long bị chém đứt họng nổi lên. Gươm linh nầy chém xong lại trở vô vỏ. Quan Phủ rất mừng, tặng cho Lữ vàng bạc để đền ơn, nhưng họ Lữ không nhận.

Lữ Ðồng Tân đi qua Châu Nhạc Dương, bố thí thuốc chữa bịnh, và tìm người lành độ dẫn tu hành. Kế tới ngày hẹn với Chung Ly, Lữ Ðồng Tân sắp đặt để đi đến Ðộng Ðình Hồ đón Vân Phòng và cùng Vân Phòng đi độ Hàn Tương Tử.

http://antruong.free.fr/8tienla8vitien.html

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, SCC
Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 2.335 seconds với 24 câu truy vấn.