Tháng Tư 25, 2018, 01:28:40 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG  (Đọc 10386 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 03:35:09 am »

(tiếp theo)

LAM THÁI HÒA

Lam Thái Hòa, lý lịch ông không rõ ràng. Truyền thuyết rằng ông thường mặc y phục rách rưới, eo buộc đai cây đen dài 3 tấc, một chân mang giầy, một chân để trần, mùa hạ trong quần áo nhét đầy bông sợi, mùa đông thì nằm trên tuyết, hơi thở như sương mù, mồ hôi nhễ nhại.

Ông thường ở trong thành cầm cái phách lớn dài 3 tấc say ngất ngưỡng ca hát, người già trẻ con đều bị tiếng ca của ông mê hút. Ông giống như khùng mà không phải khùng, lời ca mang dệt thành đầy đủ ý tiên. Người phàm đối với ông không đo lường được cao sâu. Khi có tiền bèn dùng dây xâu lại, kéo dài trên đường mà đi, tiền bị rớt mất cũng không để ý. Có lúc ông đem tiền cứu giúp người nghèo khổ, không để lại một đồng trên mình, lại có thể vân du khắp bốn phương lang thang tiêu dao. Có người lúc còn nhỏ gặp ông, đến lúc già lại gặp ông, thấy ông vẫn như gương mặt trẻ thơ, không một chút thay đổi.

Có một lần ông uống rượu trên tửu lầu Hào Lương, bỗng nhiên nghe thấy tiếng tiêu, sánh từ trên trời vang lại, ông lập tức nhảy lên hư không, cưỡi con hạc bay vòng tròn đi luôn. Ông từ trên không trung quăng xuống áo giầy, đai và cái phách, đảo một vòng tròn rồi bay đi xa, mấy thứ đồ vật quần áo không bao lâu cũng không thấy nữa.
   
   
HÀ TIÊN CÔ


Hà Tiên Cô là người Quảng Châu, huyện Tăng Thành, bà sinh ra trên đỉnh đầu có 6 sợi lông vàng xán lạn. Thời Đường Võ Tắc Thiên, ở suối Vân Mẫu, lúc 14, 15 tuổi, bà mộng thấy thần nhân dạy bà ăn bột vân mẫu, cơ thể thân thể nhẹ nhàng không chết. Do giấc mộng rất rõ ràng, bà y theo lời ăn, từ đó lập thệ không lấy chồng, thường tới Sơn Cốc đi bộ như bay. Sáng sớm ra đi đến tối trở về nhà phụng dưỡng mẫu thân.

Sau này, bà dần dần tuyệt thực, không nấu nướng ăn uống, lời nói thường cao sâu khó lường. Võ Tắc Thiên phái người mời bà vào cung, đi được nửa đường không thấy bà đâu nữa.

Đương Trung Tông khoảng niên hiệu Cảnh Long, có người trông thấy bà ban ngày bay lên trời. Năm Thiên Bảo thứ 9, bà lại xuất hiện trên Ma Cô đàn, có mấy ngũ sắc quấn bên mình. Khoảng niên hiệu Đại Lịch bà lại hiện thân ở Quảng Châu Tiểu Thạc Lầu, Thích Sử Cao Thúy từng thương tấu trình bày tường thuật về sự tích của bà. Bà là một tiên nữ trong Bát Tiên.
   
   
HÀN TƯƠNG TỬ

Hàn Tương Tử tự là Thanh Phu, là cháu của đại văn hào  Hàn Dũ. Khi ông còn trẻ phóng đãng không ràng buộc, có một lần gặp được Thuần Dương tiên sinh, bèn cùng ông ngao du học đạo.

Hàn Dũ thấy ông cả ngày không lo việc chánh đáng, bèn khuyến khích ông nên cố gắng tu học, không ngờ Hàn Tương Tử cuối cùng lại trả lời nói chí hướng của ông và Hàn Dũ không giống nhau, Hàn Dũ nghe rồi không vui, kêu ông làm bài thơ để nối rõ ý chí của mình.

Hàn Tương Tử vừa cầm bút vừa vung bút là xong một bài thơ, trong thơ toàn là lời nói việc học tiên. Hàn Dũ xem xong hỏi ông, người có thể biến hóa được không? Hàn Tương Tử lập tức vì ông biến ra rượu ngon và từ trong bình rượu lấy ra một cánh hoa mẫu đơn màu xanh, trên cánh hoa còn có một câu liễn đối “Vân hoành Tần  lĩnh gia hà Tuyết củng Lam Quan mã bất tiền”. Hàn Dũ đọc xong hoàn toàn không hiểu được, Hàn Tương Tử nói ngày sau ông sẽ hiểu rõ.

Chưa được bao lâu, Hàn Dũ vì dâng sớ phản đối nghinh đón xá lợi Phật vào cung làm Hoàng  đế nổi giận, cuối cùng bị giáng chức đi đày triều châu xa xôi. Trên đường đi gặp phải tuyết lớn đang lo lắng thì bỗng trông thấy một người đội tuyết chạy lại, đên gần mới thấy rõ là Hàn Tương Tử. Hần Tương Tử nói với ông:

“Ngài còn nhớ câu đối trên cánh hoa mẫu đơn kia không?”.

Hàn Dũ như có chỗ tỉnh ngộ, bèn hỏi đây là nơi nào, Hàn Tương Tử nói với ông ta đây là Lam Quan, lời đoán mấy năm trước thật là linh nghiệm. Vì thế mà Hàn Dũ rất cảm khái, ông còn đặc biệt dùng hai câu đối làm một bài thơ thất ngôn.

Hai chú cháu ở trong dịch quán nói chuyện cả đêm. Hàn Tương Tử an ủi chú nói không bao lâu thì sẽ về kinh, không những được khỏe mạnh mà còn được thăng quan. Hàn Dũ hỏi ông có còn cơ hội gặp nhau không, Hàn Tương Tử đau buồn nói cũng không biết được.

Tiên phàm khác đường, Hàn Tương Tử đã ra khỏi hồng trần! Gia nhập Lữ Động Tân, Lam Thái Hòa, hành vi của họ bất hủ, trừ phi Hàn Dũ thành tiên,nếu không thì làm sao có thể gặp lại được ông?


   
TÀO QUỐC CỰU


Tào Quốc Cựu là em trai của Tào Thái Hậu triều Tống. Bởi vì ông có người em ỷ mình thường cậy thế giết người, làm xằng làm bậy, ông rất đau lòng bèn vào núi ẩn cư, chuyên tâm tu đạo. Sau này, ông gặp Chung Ly Quyền và Lữ Động Tân hỏi ông rằng:

“Nghe nói ông đang tu đạo, đạo của ông ở chỗ nào?”.

Tào Quốc Cựu đưa tay chỉ trời. Lữ Động Tân lại hỏi:
“Trời ở đâu?”.

Tào Quốc Cựu liền chỉ tâm mình, Chung Ly Quyền cười nói:
“Tâm là trời, trời là đạo. Ông đã nhận ra bản lai diện mục rồi!”.

Lúc đó 3 người nhìn nhau cười, nắm tay nhau vân du bốn biển, cũng do nhân duyên này.

Bát Tiên trở thành chuyện thần tiên rất nổi tiếng ở dân gian Trung Quốc, chuyện của họ lưu truyền ở đời rất nhiều, nhất là “Bát Tiên quá hải”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 11:11:46 pm »

(tiếp theo)

NGŨ NHẠC ĐẠI ĐẾ

Ngũ Nhạc là năm ngọn núi nổi tiếng, đó là: Đông Nhạc Thái Sơn, Nam Nhạc Hoành Sơn, Tây Nhạc Hoa Sơn, Trung Nhạc Tung Sơn, Bắc Nhạc Hành  Sơn, mà Ngũ Nhạc Đại Đế quản lý năm ngọn núi này, ở đời cổ đại trên từ thiên tử dưới đến dân chúng họ đều rất sùng tín.

Đông Nhạc Đại Đế gọi là “Đông Nhạc Thái Sơn Thiên Tai Nhân Thánh Đại Đế” gọi tắt là “Thiên Trai Vương”, hay là “Đông Nhạc Thái Sơn Thần”, “Thái Sơn Phủ Quân”. Nghe người ta nói ở thời cổ đại, đã có phong tục lên núi Thái thờ cúng trời đất. Ví dụ trong “Thần Dị điển” ghi các vị như Thái Hạo Phục Nghĩa, Diêm Đế Thần Nông, Hoàng  Đế Hữu Hùng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vv… đây là việc Thánh vương phong Thái Sơn, phong thần trở thành việc lớn của Quốc Gia.

Hán, Đường trở về sau, đối với cúng tế Đông Nhạc Đại Đế cũng không gián đoạn, dần dần trở thành một thứ tín ngưỡng dân gian. Ở trong truyền thuyết, phàm người chết rồi, hồn phách bèn trở về Thái Sơn. Trong Thi cố “Oán Thi Hành” nói:

“Nhân gian lạc vi ương, hốt nhiên quy Đông Nhạc” là chỉ về sựu việc này. Do đó, nhân gian tin tưởng, Đông Nhạc Đại Đế triệu hồn phách người ta, giữ thọ mạng con người, chủ thể sanh tử báo ứng, thưởng phạt lành dữ, cũng như phán quan của âm phủ. Do đó, một só người đối với Đông Nhạc đều giữ lòng kính sợ.

Đông Nhạc Đại Đế sinh ngày 1 tháng 10.

Nam Nhạc Đại Đế còn gọi là “Nam Nhạc Hoành  Sơn Tư Thiên Thỉ Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên là Sùng Khắc Hổ, sinh ngày 16 tháng 12, cũng đã có trước Đào Đường Thị, Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều từng cúng tế, các đời vua chúa không vị nào không tôn sùng và cúng tế, trải qua các đời vương đều có tế điển. Quản lý về tình trạng ranh giới cúa thế giới kiêm thủy tộc rồng cá.

Tây Nhạc Đại Đế còn gọi là “Tây Nhạc Hoa Sơn Kim Thiên Thuận Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên Trương Hùng, sinh ngày 06 tháng 11. Căn cứ sách ghi chép, Huỳnh Đế từng phong là Hoa Sơn, Nghiêu Thuấn cũng từng hiến tế, các vị vua chúa không vị nào không tôn sùng và cúng bái. Tên của Đại Đế còn có mấy thừ gọi là bất đồng, có chỗ nói ông họ Hạo tên Thọ, hoặc nói ông tên Thiên Lũy, chưa biết cái nào đúng.

Bắc Nhạc Đại Đế còn gọi là “Bắc Nhạc Hoàn Sơn An Thiên Huyền Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên Thôi Anh, sinh ngày 10 tháng 8. Từ Đào Đường, Đé Nghiêu Thuấn, vv… Trải qua các đời vua chúa đều có thờ cúng. Tên của Bắc Nhạc Đại Đế cũng có mấy thứ gọi khác nhau, như “Trùng Hôi Đình, Thần, Phục Thông Manh”.   

Cuối cùng, ai đúng cũng không có cách khảo tra.

Trung Nhạc Đại Đế còn gọi là “Trung Nhạc Tung Sơn Thiên Sùng Thánh Đại Đế”. Đại Đế sinh ngày 18 tháng 3. Từ Huỳnh Đế bắt đầu có phong trải qua các đời vua chúa sau này đều thờ cúng. Tên của Đại Đế cũng có mấy thứ truyền thuyết như: Thọ Dật Quần, Huy Thỉ, Giác Phổ Sinh, vv…

Đối với tư liệu của Ngũ Nhạc Đại Đế có thể tham khảo các sách: Thần Dị Điển, Văn Hiển, Thông Khảo, Thông Điển,Nhật Tri Lục, Long Ngư Hà Đồ, Thị Tộc Bác Khảo, Ngũ Nhạc chân hình đồ, Chân Linh vị nghiệp đồ, vv…
   
   
VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN

Văn Xương Đế Quân còn gọi là “Tử Đồng Đế Quân”, gọi tất là “Tử Đồng Quân”, “Văn Xương Quân”.

Văn Xương Đế Quân bình thường có nhiều cách nói bất đồng. Căn cứ vào cách nói “Cai Dư Tùng Khảo” là: Văn Xương Quân vốn là con trai Huỳnh Đế, tên Huy, giỏi về tạo ra dây trướng lưới, do đó lấy họ Trương, là con trai của Sơn Âm Trương Thị thời nhà Châu, công tinh thông y thuật, từng phò tá Châu Công. Sau khi chết tái sinh vào nhà Trương Vô Kỵ là Di Phục Tử, trong Kinh Thi gọi “Trương Trọng Hiếu Hữu” là nói chỉ về ông.

Ông vì dâng sớ can gián  bị U Vương hại chết, hồn vân du ở Tuyết Sơn, ông có công với Thục. Không bao lâu ông thác sanh làm con trai Hán Cao Tổ là Triệu Vương như ý, sau này bị Lã Hậu giết chết hồn hóa thành một con rắn . Thời đó Lã Hậu cũng đã chuyển kiếp làm Cung Trì Linh, ông vì báo cừu mượn nước biển làm mưa, làm cho huyện Công Trì chìm ngập, do đó sát sanh quá nhiều, bị phạt làm rồng Cung Trì, toàn thân đều tiểu trùng nhiệt sa, ngày đêm bị cắn đau đớn vô cùng. Sau này gặp Bồ Tát Vân Thù quy y mới được giải thoát.

Sau này ở nước Triệu thác sanh làm Trương Huân, thời Hán Thiệu Đế làm Hiếu Trọng, thời Tây Phổ làm Việt Tuyển. Trương Thị, 73 tuổi ở trong hang đá ngộ đạo, lúc đó đã hoán thân đổi xác đến Hàm Dương, gặp Đào Trương, theo Đào Trương đến Tứ Xuyên, thiên thân đối với Đào Trương nói: “Tần không có chủ, người nên trở về đi” . Đào Trương sau này vì ông lập đền thờ ở Tứ Xuyên, cũng gọi là miếu Trương Tướng Công.

Trên đời do vi ông nhiều kiếp làm nho sinh, lưu tâm đến kinh điển, đặc biệt là mệnh ông quản lý hộ tịch của thiên tào, phàm học sinh trong thiên hạ công danh thi cử làm quan đều do ông trong coi cả.

Còn có một cách nói ông sinh ở nước Tấn, họ Trương tên Á Tử, vốn là người Việt sau này đến nước Thục ở huyện Tử Đồng. Vì ông là người thanh tú đẹp đẽ, văn chương bóng bẩy trở thành một bậc tôn sư ở Tứ Xuyên. Ông nhận thấy đời người vô thường, thích tới lui với tăng sĩ, học trò của ông sau khi ông chết rồi họ lập đền thờ đề là “Văn Xương Quân”.

Khi Đường Huyền Tông đến Tứ Xuyên lánh nạn, ông đã từng hiển linh  hộ giá, sau khi bình yên, chiếu phong Tấn Vương, người đời sau gọi thêm Đế, ông đặc biệt được học sĩ văn nho trong thiên hạ sùng phụng.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 11:17:50 pm »

(tiếp theo)

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

Quan Thánh Đế Quân, một số người tôn xưng là Quan Công. Ông vốn là họ Quan, tên Vũ, tự là Vân Trường, là người thôn Bình Thường, huyện Hà Đông Giải, sinh ngày 13 tháng 5 thời Đông Hán Hoàng  đế niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ hai.

Ông từ nhỏ vâng theo theo gia học, rất thích đọc dịch truyện và Xuân thu, do đó bồi dưỡng ra một luồng khí trung nghĩa. Ông tướng mạo to lớn, uy vũ bức người, khiến người ta trông thấy tự nhiên kính phục.

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” mô tả ông “thân cao 9 thước, râu dài 2 thước, mặt như trái táo chín đỏ, môi giống như bôi son, mắt phụng, mày tằm, tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt”.

Linh Đế Kiến Ninh năm thứ 2, ông trốn đi đến huyện Trác cùng Lưu Bị,Trương Phi ba người kết nghĩa tại vườn đào, bái làm huynh đệ khác họ, đây là câu chuyện “Đào viên tam kết nghĩa” rất nối tiếng. Ba người họ hy vọng đồng tâm hiệp sức, cứu khốn, phò nguy, trên báo đền quốc gia , dưới an cư trăm họ. Do đây, họ làm điều gì đều là đại nghĩa lẫm liệt, khiến người kính phục. Quan Công hỗ trợ Lưu Bị xây dựng nước Thục, và Ngụy, Ngô hình thành thế đứng chân vạc, nhân đây sử gọi là “Thời đại Tam quốc”.

Quan Công từng bị Tào Tháo uy hiếp dụ dỗ, nhưng ông giải quyết cứng rắn, tuyệt không khuất phục, dũng mãnh của ông càng lừng danh gần xa, ví như qua 5 cửa ải chém 6 tướng, một mình một đao đi họp, thủy yêm thất quân, trí thủ Hoàng  trung, nạo xương trị độc, vv… đều là chuyện khoái miệng người đời. Ông phò ta Lưu Bị, tiêu diệt Hoàng  Cân, phá Tào Tháo, an định Tây Thục, đốc chiến Kinh Châu đại nhân, đại dũng, đại trí làm vinh quang một thời. Bởi họ ở vườn đào kết nghĩa tuyên thệ “Bất cầu đồng niên đồng nguyệt sanh, đản nguyện đồng niên đồng nguyệt tử - Không cầu cùng ngày cùng tháng năm sinh ra, nhưng nguyện chết cùng ngày tháng năm”. Phần tinh thành này đã ảnh hưởng người đời sau, tạo thành một phong khí (tập tục) kết nghĩa lễ bái, hình thành một thế lực rất lớn trong xã hội.

Sau này, Quan Công bị người gian hại, chạy lại Lăng Thành ngày 17 tháng 2, Hiến Đế Kiến An năm thứ 24, ông chết ở Hồ Bắc.

Miếu của Quan Công thường gọi là miếu Vũ, dùng để đối xướng với miếu Văn của Khổng Tử. Truyền thống này được bắt đầu từ triều đại nhà Đường, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh,Thanh vẫn không suy yếu.

Quan Công không những được người đời xem là anh hùng và thần minh, người buôn bán coi ông như thần bảo hộ, hay thần tài. Do đó, trong nhiều phố, tiệm thương gia đều có thờ cúng vị thần Quan Công.

Trải qua các triều đại vua chúa, đối với Quan Công đều có sắc phong, khen ngợi ông có công giữ nước giúp dân. Thục Hậu Chúa Kiến hưng năm thứ 7 truy thụy là Trang Mậu Hồng, nhà Tùy truy phong Trung Huệ Công, Đường phong ông Lam Thần, đời Tống phong ông làm Trung Huệ Vương, Vũ An Vương; đời Nguyên phong Vũ An Anh Tề Vương, Phụ chánh lợi tế chiêu Trung Hầu, triều Minh phong là Tam giới phục ma Đại đế, Thần Uy Viễn chấn Thiên Tôn, Quan Thánh Đế Quân, Chân nguyên hiển ứng Chiêu Minh Vũ Hán thiên tôn; triều Thanh phong Trung Nghĩa thần Vũ quan thánh đại đế; Ung Chánh phong ông Công Tước, vua Càn Long phong ông Sơn Tây phu tử; Gia Khánh phong ông Linh Hựu, Đạo Quang phong ông Trung Nghĩa thần Vũ linh hựu nhân uy hiển Quan Thánh đại đế. Từ xưa phong hiệu rất nhiều, sợ e không hơn đối với Quan Thánh Đế Quân. Triều Đường trở về sau, trải qua các đời vua chúa đều thờ ông làm Điền phạm của nhà Võ, đến ngày kỵ Vũ miếu, đều sắc lệnh toàn quốc phủ huyện cúng mừng tuổi nhang khói nghi ngút.
   
   
LAI LỊCH QUAN CÔNG


Tương truyền ở vùng Giải Lương, Hà Đông (nay là Gải Châu tỉnh Sơn Tây) có một thôn trang tên là Bạch Gia Trang. Thôn trang này không lớn lắm nhưng vô cùng tú lệ, ba mặt núi vây quanh, một mặt kề với nước. Bến nước đó gọi là “Bach Sa Hà”, cát trong sông trắng như ngọc trân châu, hễ tới mùa đông, nước sông rút xuống, lộ ra thành từng lớp cát trắng chất chồng, mặt trời chiếu dọi, trong suốt như pha lê.

Núi đó tên là Linh Tiên, trên đỉnh Linh Tiên cây cối mọc cao tới trời. Trong núi có một ngôi chùa, trong chùa có một hòa thượng già tên gọi là Tri Chân, trên 120 tuổi, là người rất có đạo hạnh, thấu hiểu được mọi điều, biết cả quá khứ và tương lai, quả thật Trí Chân chẳng khác gì Thần Nhân.

Lại nói có một năm, đúng vào dịp cuối thu, dân chúng đang bận rộn gặt hái, nước trong dòng Bạch Sa khô hạn, cát lộ ra như một dải lụa trắng. Ngày lúc đó, đúng lúc Thái Bạch Kim Tinh trên Thượng Giới từ Nam Hải trở về cung, cưỡi mây qua thôn Bạch Sa, bỗng dưng ngó nhìn xuống dưới. Người già hoa mắt nhìn cát trắng trên sông lại cho là “gạo trắng”, Thái Bạch Kim Tinh bực tức nghiến răng.

 Sau khi trở về cung, bèn dâng lên Ngọc Hoàng  Đại Đế một bản tấu:
“Muôn tâu Ngọc Hoàng, dân cư dưới hạ giới hết thảy an cư lạc nghiệp. Duy chỉ có một lũ diêu dân ở Giải Lương, chẳng tiếc ngũ cốc, đem những hạt gạo trắng ngần đổ xuống lòng sông. Hành vi tội ác như vậy, thượng giới đâu có thể ngồi nhìn. Xin bệ hạ giáng tôi!”.

Ngọc Hoàng  Đại Đé nghe nói giận dữ vô cùng, lập tức hạ chỉ: “Bắt địa phương Giải Lương chịu hạn hán 3 năm, không được trái lệnh”.

Và như vậy đã thực sự làm khổ dân chúng ở Gải Lương. Gần một trăm gia đình ở Bạch Sa Trang hoàn toàn dựa vào sự cần cù trồng cấy vất vả để sống qua ngày. Đừng nói tới 3 năm không mưa, cho dù chỉ đại hạn trong 1 năm cũng đã nguy khốn. Dòng sông Bạch Sa lại là dòng sông theo mùa, do nước trong núi chảy qua hội họp mà thành, hễ tới cuối năm là dòng lại cạn khô. Làm sao có thể chịu đựng được 3 năm đại hạn?

Đại hạn năm đầu tiên, nước sông khô cạn, cát trắng bốc hơi nóng, may mà mọi nhà còn có chút ít tích lũy. Năm thứ 2 bị đại hạn, cát trắng bị nắng phơi bốc lửa hoa, cây cỏ cháy vàng, bệnh tật hoành hành, chó gà chết sạch. Sang năm thứ 3, mặt trời đổ lửa, đất cát nứt vỡ, cây cỏ tự cháy. Nơi nơi là bãi đất vàng, trong thôn làng mười người chết chín. Những người sống sót đều tới chùa Bạch Sa suốt ngày cầu thần cho mưa, diệt tai khỏi bệnh. Thế nhưng, vị hòa thượng già Trí Chân chỉ nhắm mắt dưỡng thần, chẳng hề mở miệng nói câu gì, thật đúng là “Sinh linh lầm than, thần phật chẳng xót”.

Bỗng một hôm, hòa thượng Trí Chân bỗng nhiên mở con mắt và nói với mọi người rằng:
“Cứu được rồi! Bạch Sa Trang có một vị thần trung nghĩa, đã lên thượng giới cầu mưa rồi. Ba ngày sau tất có trận mưa tràn trề mặt đất”.

Dân chúng đang thoi thóp thở, nghe được lời nói này, lập tức tinh thần tỉnh táo. Thế nhưng, bước ra cửa nhìn xuống dưới vẫn là nắng soi vạn dặm, sợi mây chẳng có, nào đâu dấu tích gì mưa? Họ cùng thở dài ngao ngán, chỉ cho rằng hòa thượng nói an ủi mọi người mà thôi!

Vốn là một con lươn đã thành tinh, trước làm thần ở trên thiên đình, vì bị hãm hại nên bị đẩy xuống nhân gian tu đạo chịu tội, vừa hay người này ở cách Bạch Sa Trang không xa. Khi ngài nghe thấy những tiếng khóc bi ai thảm thiết truyền tới, mở mắt ra nhìn mới biết dân chúng chịu nỗi oan tày trời ghê gớm, bấm đột ngón tay mới biết việc oan nghiệt này từ Thái Bạch Kim Tinh mà ra. Tức thì người ấy đã thác mộng cho Trí Chân trưởng lão sẽ tới thiên đình minh oan cho dân chúng.

Lại nói tới con lươn đã thành tinh lên đến thiên đàng bí mật tìm đến Vũ Sư, Vân Thần, Phong Bá kể cho các chúng thần hiểu rõ nguyên do. Các thần nghe xong không ai không đồng tình.

Thiện Ngư Tinh – con lươn đã thành tinh nói:

“Sinh linh bị oan uổng như vậy, lũ chúng ta có thể ngồi yên được sao? Các vị cao thần chỉ cần làm mưa thôi, mọi trách nhiệm, tội lỗi do một mình tôi gánh chịu hết, quyết chẳng liên lụy đến một người”. Các thần nghe xong đều gật đầu đồng ý.

Buổi trưa ngày hôm đó, quả nhiên có mây đen dày đặc, chỉ trong chốc lát, sấm chớp giao nhau, mưa như trút nước. Trận mưa lớn đủ 3 canh giờ đổ thẳng xuống ruộng đồng quanh dải núi tràn ngập nơi nơi, ào ào như tái ngoại Cửu Hà, cuồn cuộn Ba Trung Tam Hiệp. Sau đó, năm ngày một trận mưa nhỏ, mười ngày một trận mưa lớn, quả thực là gió hòa mưa thuận.

Đến mùa thu hoạch, thực sụ một năm được mùa. Để cảm tạ công đức của trưởng lão Trí Chân ở chùa Bạch Sa, dân chúng đến quét dọn sửa sang miếu Vũ, còn làm một con đường thông tới chùa Bạch Sa, rải lên một tầng cát trắng, người đến thắp hương bái lễ không ngớt.

Nháy mắt đã tới đêm 30 tết, nhà giàu giăng đèn kết hoa, nhà nhà trồng cành đào treo câu đối, pháo nổ vang trời, tiếng cười vui dậy đất. Chẳng ngờ lại là cảnh lạc cực sinh bi, từng trận pháo nổi vang trời này đã xuyên chín tầng mây, xông thẳng tới Linh tiêu bảo điện, Ngọc Hoàng  Đại Đế nghe thấy hỏi:

“Đất nào ở dười hạ giới ồn ào làm cho trẫm tâm thần bất an thế?”

Thái Bạch Kim Tinh vội vàng ban tấu trình:

“Bạch Sa Trang vùng Giải Lương hạ giới, bởi đem gạo trắng đổ xuống lòng sông, bệ hạ đã giáng tội 3 năm không mưa, không hiểu tại sao lại có mưa được, dân chúng reo hò rối rít đang chúc mừng đấy ạ. Như vậy là không ăn năn hối tội trước, nên phải trị tội nặng hơn”.

Ngọc Hoàng  Đại Đế nghe tấu liền giận dữ lập tức triệu Vũ Sư đến hỏi tội:

“Trẫm đã có chỉ, đại hạn 3 năm ở Giải Lương Hà Đông, tại sao các người lại dám làm mưa hở?”

Vũ Sư khoái thác nói:

“Tâu bệ hạ, từ xưa đến nay mưa phải theo mây, xin cứ hỏi Vân Thần ạ”.

Triệu Vân Thần đến, thần mây đáp:

“Mây hành động theo gió, xin cứ hỏi Phong Bá ạ”.

Lại hỏi Phong Bá, Phong Bá đành phải chịu nói thực:

“Tâu bệ hạ, lời tấu của Thái Bạch Kim Tinh quả thực oan tình. Sông Bạch Sa vốn toàn cát trắng chứ đâu phải là gạo trắng. Đại hạn từ mấy năm nay khiến cho nông dân vùng Hà Đông, mười người chết chín. Vốn trước Thiện Ngư Tinh là thần ở Thái Hư cung cũng bị Kim Tinh tấu bừa mà mang tội, phải đày xuống phàm trần, may mà ngài ở gần Bạch Sa Trang, mắt thấy cảnh sinh linh chịu khổ nạn như vậy, đành lẻn trộm về cầu mưa, để cứu vạn dân. Xin Ngọc Hoàng  Đại Đế anh minh xem xét!”.

Thử nghĩ xem, Ngọc Hoàng  Đại Đế là bậc chí tôn ở Thượng Giới, miệng vàng lời ngọc, làm sao có thể để người bên cạnh chống đối lại được? Ngài không những không suy nghĩ đến lỗi lầm của mình, mà còn đập bàn quát tháo:
“Một tội thần khốn khiếp lại có thể xâm phạm thiên quy hay sao? Lý Tịnh nghe lệnh đây: Phải lập tức cử Thiên Binh tới tróc nã Thiện Ngư Tinh về hỏi tội chém đầu. Vũ Sư, Vân Thần, Phong Bá làm việc tư tình vi phạm luật trời, xét cho lần đầu phạm tội, đánh mỗi tên tám chục gậy lớn, để tỏ rõ thiên uy!”.

Thiện Ngư Tinh biết mình khó thoát khỏi tội, liền thác mông cho Trí Chân trưởng lão, nhờ trưởng lão đặt một cái chum lớn trên đinh núi sau chùa Bạch Sa, sau buổi trưa ngày mai lại dùng chiêc chum lớn đậy chặt miệng lại, chép lấy một thiên Trung Nghĩa Chân Kinh dán chặt lên miệng chum, sau bảy bảy bốn chín ngày mới được mở ra. Trưởng lão Trí Chân biết rằng Thiện Ngư Tinh này đã vì dân mà phạm thượng và bị chém đầu, Ngài liền đọc câu “a di đà phật”, thế rồi liền sai các tiểu hòa thượng y lệnh làm theo.

Buổi trưa ngày hôm sau, bỗng nhiên Nam Thiên Môn hồng quang sáng láng, một cột máu tươi hồng đổ thẳng xuống đỉnh núi phía sau chùa Bạch Sa, vừa hay lại trút vào trong miệng chiếc chum lớn đó. Chưa đầy một khối, tia sáng hồn biến mất, chum to đựng đầy máu đặc, Trí Chân vội vàng ra lệnh đậy chặt miệng chum, niêm phong kinh vận lên trên. Lại phân mười hai tiểu hòa thượng luân lưu canh giữ, không được để có sai sót.

Lại nói, số tiểu hòa thượng này, ngày đêm canh giữ chum máu đã được 48 ngày. Một vị tiểu hòa thượng nói:
“Sư phụ bắt chúng ta canh giữ trò chơi này, chẳng biết là có ý gì. Hôm nay đã được 48 ngày rồi, đừng ngại ta cứ mở xem thử”.

Đề nghị này được các tiểu hòa thượng đồng ý, thế là họ vội vàng mở ngay miệng chum ra. Vừa mở họ bèn thấy một sự việc vô cùng kinh sợ, làm cho các tiểu hòa thượng sợ hãi hết hồn, họ liền chạy vào trong chùa bẩm báo với trưởng lão.

Trí Chân vội chạy lên đỉnh núi xem thì ra ở trong chum có một vị đang ngồi máu thấm đẫm toàn thân, nhắm mắt và luôn miệng kêu “ Ta chết ngạt mất” Trưởng lão chắp hai tay, niệm câu “A di đà phật”, nhìn người này thân cao 9 thước, vai tròn lưng thô, mắt liễu râu dài, chỉ có đôi mắt là nhắm nghiền. Trí Chân trưởng lão ra lệnh đưa nước cho người này tắm gội, lại tiện tay chặt một cây cỏ tranh, khía đứt một khe nhỏ ở dưới mi mắt, đó chính là “Đan Phượng Nhãn” (mắt phượng đỏ).

Người này tắm gội thay quần áo xong, vái ba cái lạy Trí Chân trưởng lão, xin trưởng lão đặt cho cái tên, Trí Chân suy nghĩ giây lát nói:

“Người bị nhốt trong chum nước mà lớn lên, nên ta đặt họ “Quan” nhé. Mong muốn gặp được minh chủ sải cách bay khắp bốn phương trời, nên ta đặt tên cho chữ “Vũ”. Người hóa thành hình người trong máu từ trên trời đổ xuống, nên biểu tự chính là “Vân Trường”. Không biết ý ngươi thế nào?”.

Quan Vũ gật đầu cảm tạ. Về sau, liền ở lại Gải Lương làm nghề kéo xe, khi nhàn rỗi thì tới chùa Bạch Sa học chút võ nghệ.

Ngài Trí Chân quả là một bậc dị nhân đã đem đao pháp bí truyền, truyền hết lại cho Quan Vũ. Sau này Quan Vũ gặp Lưu Bị, Trương Phi kết làm anh em, đã lập nên sự nghiệp lớn oanh liệt rực rỡ.

Sau khi trở về trời, bước vào của Phật, cho nên trong rất nhiều chùa miếu đến nay vẫn còn thờ tượng Quan Công.
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 11:20:06 pm »

(tiếp theo)

BẢO SANH ĐẠI ĐẾ

Bảo Sanh Đại Đế vốn gọi tắt “Ngô Chân Nhơn”, “Ngô Chân Quân”, “Đại Đạo Công”, “Hoa Kiều Công”, vv… Tuy xưng hô không giống nhau, ngược lại đều thừa nhận ông là một vị Thần y, người người đều kính trọng, càng kính trọng nhất là bác sĩ và người buôn bán dược liệu.

Bảo Sanh Đại Đế họ Ngô, tên Bổn, tự Hóa Cơ, biệt hiệu Vân Đông, cũng có một thuyết nói họ Ngô, tên Mãnh, tự Thế Vân, kỳ Sanh Đại Đế ở vào thời Tống thái bình niên hiệu Ninh Quốc năm thứ tư, sinh ngày 15 tháng 3 tại tỉnh Phước Kiến, phủ Tuyền Châu, huyện Đông An, thôn Bạch Tiêu, ông từ nhỏ đã thông minh hơn người, hiểu rộng các sách thiên văn, địa lý, lễ, dược, hành, chính,  không chi không hiểu, xem qua có thể thông thuộc ngay, đối với y đạo càng nghiên cứu nhiều nhất.

 Nghe nói ông từng đi chơi Côn Lôn thấy Vương Mẫu, ở lại 7 ngày, học được phép thần cứu thế, các thứ phép thuật đuổi trừ ma tà, sau này ông lui về ân cư cả đời không lấy vợ. Sau khi đắc đạo ông đi tứ xứ hành nghề y, trị bệnh như thần, thậm chí còn có thể làm chết đi và sống lại, đuổi lôi đánh ma, bố thí giúp đỡ quần chúng, cứu người không tính kể.

Trong thời gian ông lui về ẩn cư, có rất nhiều nghe tiếng đến xin ông học y đạo, như Hoàng  Y Quan, Trịnh Chân Nhân, Ngân Tiên Cô, vv… đều là đệ tử của ông. Do đó, ông không những hành nghề y cứu đời, mà còn có đệ tử khắp thiên hạ nữa, Quảng  nhiên trở thành một thời làm đại tông sư y thuật. Ông còn để lại trước tác y thuật về ngoại khoa châm có hơn 30 quyển sách để lưu truyền ở đời.

Theo truyền thuyết, tháng 5 niên hiệu Cảnh Hựu thứ 3 ông tu luyện thành công, khi hai giờ Ngọ đều cùng cha mẹ, chị em thằng bé hầu hạ đèn sách, vv…. đều  cùng cưỡi hạc bay lên trời, lúc đó ông được 58 tuổi, trong thôn xa gần đều cùng bày hương án tiễn đi và lập đền thờ ông.


   
THANH THỦY TỔ SƯ

Thanh Thủy Tổ sư còn gọi là “Ma Chương Thượng Nhân”.

Thanh Thủy Tổ Sư họ Trần, tên ứng, pháp danh Phổ Túc, đời Tống Nhân Tông niên hiệu Khánh Lịch năm thứ 4 ngày 6 tháng giêng ông sinh ra ở tỉnh Phúc Kiến, huyện Vĩnh Xuân, làng Tiểu Cô. Xuất gia từ thưở nhỏ, đầu tiên ở Viện Đại Vân, sau này một mình lên núi Cao Thái, kết tranh làm am tu tập, giới luật nghiêm túc.

Ông tự cảm thấy tu học một mình không có thấy rất khó thành đạo, bèn đến núi Đại Tĩnh bái thiền sư Minh Tùng làm thầy, tham học 3 năm cuối cùng ngộ đạo, ông trở về núi Cao Thái lúc trước. Thiền sư Minh Tùng khuyên bảo ông nên làm việc nhân từ cứu đói, từ đó ông vâng lời trị bệnh cho thuốc cứu giúp người nghèo khổ bị bệnh hoạn.

Thần Tông niên hiệu Nguyên Phong thứ 6, ở Thanh Khê (huyện An Khê, tỉnh Phúc Kiến) bị gặp hạn hán, người trong làng nghe nói ông đạo hạnh cao siêu bèn đi mời ông cầu mưa. Không bao lâu mưa xuống ở Cao Lâm, nước mưa đầy đủ giải trừ hiện tượng hạn tại địa phương. Người trong làng mời ông ở lại núi Phùng Lai, đặc biệt vì ông mà xây tịnh xá để cúng đường ông.

Ông trông thấy trước cổng có một suối nước trong sạch mát lạnh, bèn bảo đặt tên tịnh xá là “Thanh Thủy nham”, ông ở lại Thanh Thủy nham tu hành 19 năm. Trong 19 năm ông tự lực đi hóa duyên, sửa cầu đắp đường, rộng kết duyên lành.

Thời đó Chương Châu, Định Châu người cả vùng này rất sùng kính ngưỡng mộ ông, thường thường tìm ông cầu phước tiêu tai. Tống Huy Tông Kiến Trung Tĩnh Quốc năm thứ 9 ngày 13 tháng 5, ông sáng sớm dặn dò xong rồi sau đó nơi kệ ngồi ngay thẳng mà tịch, hưởng thọ 65 tuổi.

Khi ông còn sống, từng đi chơi Lãng Sơn ở phía nam Thanh Khê, nói với người ta rằng: “Đây thật là đắt của nhà Phật, mấy mươi năm sau ta sẽ hiện thân ở đây”. Tống Cao Tông Thiệu Hưng thứ 4 ngày mồng 10 tháng 7 sét đánh cháy núi từ sáng tới tối sức lửa không ngừng, người trong làng vội chạy đến thạch môn nơi ít có dấu chân người lui tới, thấy có một bụi cúc trắng, ba bó gừng, lò hương nghi ngút khói, người bề trên khi ẩn khi hiện ngồi ngay thẳng trong đó, người ta liển ở thạch môn nơi ông hiện thân lập đền thờ, tên là “Thanh Thủy Biệt Nham”, đệ tử của ông biểu dương đạo và lập tháp Chân Không vì ông an trí xá lợi.

Văn sĩ địa phương vì thấy ông sanh tiền đức hạnh rộng lớn, sau khi chết hiển linh, tâu báo Cao Tông, sắc lệnh phong hiệu “Chiêu Ưng Đại Sư”, thời Hiếu Phong lại phong “Từ Tế Đại Sư”, thời Bình Tông phong thêm “Chiêu Ứng Từ Tế  Quảng Huệ Đại Sư’, thời Minh Cảnh Tông sắc phong “ Chiêu Ưng Từ Tế Quảng Huệ Thiên Lợi Đại Sư”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 11:23:20 pm »

(tiếp theo)

MA TỔ

Chính thức tôn hiệu của Ma Tổ là “Thiên Thượng Thánh Mẫu” có thể nói dân gian Đài Loan tín ngưỡng vị thần này rất cao. Miếu Ma Tổ rất nhiều gần giống như đức Quan Thế Âm. Ma Tổ còn có tên là Mi Châu Ma, Ôn Linh Ma, Ngân Đồng khác nhau. Mi Châu Ma là phần linh của “Mi Châu Ma Tổ”, Ôn Linh Ma là phần linh của “Truyền Châu Ma Tổ” , Ngân Đồng Ma là phần linh của “Đồng An Ma Tổ”. Ma Tổ tuy tên gọi khác nhau, nhưng trên sự thật vẫn là cùng một vị tôn thần , mà các tín đồ vẫn tôn bà là Thiên Hậu, do đó miếu của bà còn gọi là Cung Thiên Hậu.

Nghe người ta nói Thiên Thượng Thánh Mẫu kiếp trước họ Lâm, tên Mặc Nương , là người tỉnh Phúc Kiến, phủ Hưng Hóa, huyện Bạc Điền, đảo Mi Châu. Bà nguyên quán ở Hà Nam, trải qua các đời đều làm quan lớn, thời Ngũ Đại cảnh chiến tranh loạn lạc, ông nội của bà bỏ quan về ở ẩn ở Đông Nam Bạc Điền. Ông nội của Mặc Nương thừa sủng công lao làm Tổng đốc ở Phúc Kiến rất nổi tiếng. Lúc già từ quan về quê, nhàn cư ẩn du rồi chết. Cha Mặc Nương là người đôn hậu, vui làm lành, thích bố thí, người trong làng đều gọi ông là “Lâm Thiện Nhân”. Lâm Thiện Nhân chỉ có một đứa con trai và năm đứa con gái, mà con trai thân thể lại yếu đuối, do đó hai vợ chồng hy vọng sinh thêm một đứa con trai nữa. Vì thế sáng tối thắp hương lạy Bồ Tát Quan Âm, liên tục mấy năm. Hiển Đức năm thứ 6, mùa hè ngày 15 tháng 6, hai vợ chồng trai giới tắm gội sạch sẽ, lại bàn hương án lặng lẽ cầu nguyện, đêm hôm đó bèn mộng thấy đức Quán Âm nói với họ rằng:

“Nhà họ Lâm các người nhiều đời tích đức, trời sẽ hộ cho các người!”.

Nói xong, lại đưa một viên thuốc tròn cho vợ ông ta và bảo:

“Nuốt viên thuốc này, người sẽ được toại nguyện như ý, sẽ sanh quý nhân, tương lai sẽ phổ độ chúng sinh!”.
Vương Thị vợ ông theo lời nuốt viên thuốc vào, sau khi tỉnh dậy, dường như có cảm ứng, không bao lâu có thai.Năm thứ 2 ngày 23 tháng 3, buổi tối bỗng thấy một luồng hào quang từ phía tây bắc bắn vào trong phòng Vương Thị, màu sáng chói mắt, mùi hương lạ khắp nhà. Vương Thị lập tức sinh con liền. Nào ngờ sinh lần này lại là gái, hai vợ chồng quá thất vọng, nhưng do có điềm lành càng thêm thương tiếc, đứa trẻ này mãi cho đến đầy tháng cũng không khóc một tiếng, do đó Lâm Thiện đặt tên là “Mặc Nương”.

Mặc Nương từ nhỏ đã thông minh hơn người, mới 7 tuổi liền nói: “Ta đã có tên “Mặc” thì phải có tâm “Tĩnh”.
Bà thích ở trước cửa sổ trong nhà yên tịnh, một mình một nơi, lúc 8 tuổi vào trường tư thục, không những nhìn qua mắt thuộc lòng mà còn hiểu sâu sắc. Khi 10 tuổi bà đã biết thắp nhang lễ Phật, sáng chiều tụng kinh. Khi Mặc Nương 13 tuổi trông xịnh đẹp quý phái. Bà không những học thức sâu rộng, mà còn đối với cha mẹ rất chí hiếu, đối với anh chị em kính thương, người trong làng đều khen ngợi. Năm đó có một lão đạo sỹ Huyền Thông đến nhà họ Lâm hóa duyên, Mặc Nương rất mừng đón tiếp ông, và cúng cho ông rất nhiều trái cây, trà, nhang, nhân đó Huyền Thông thường đến nhà họ Lâm. Mặc Nương hoàn toàn nhiệt tâm chiêu đãi, dâng hiến những gì đã có. Lão đạo sỹ rất cảm động nói với bà rằng:

“Người trời sinh ra đã có huệ căn, nên lòng dạ từ bị siêu độ người đời”.

Lão đạo sỹ truyền cho bà “Huyền Vi bí pháp”. Mặc Nương vừa nghe lĩnh hội ngay. Năm Mặc Nương 16 tuổi, có một hôm vui chơi trong sân, trông thấy một giếng nước lắng trong như tấm kính, liền đi soi cái bóng của mình, không ngờ lúc đó bỗng nhiên xuất hiện một thần nhân, tay cầm đồng phù từ đáy giếng bay lên không trung. Các đứa bạn khác chạy la tứ tán. Mặc Nương ngược lại bình tĩnh quỳ lạy, thần nhân liền đưa thần phù cho Mặc Nương, bay vào trong mây ngũ sắc đi luôn. Mặc Nương được thần phù sau đó chuyên tâm nghiên cứu, dần dần học được đạo thuật, đủ thần thông biến  hóa, đuổi tà cứu nguy. Bà thường ngày dùng pháp thuật cứu giúp dân làng, do đó càng được dân làng quý mến .Năm bà 18 tuổi, cha bà gặp nạn ngoài biển, bà phấn đấu không màng thân thể cứu cha về được, và khi biển ngưng sóng thì tìm được thi thể của anh cả.

Thái Tông Ung Hy năm thứ 4, Mặc Nương vừa tròn 23 tuổi. Mồng 8 tháng 9 hôm đó bà nói với người nhà rằng:
“Ngày mai là tiết Trùng Dương, ta muốn đi lên cao thanh tịnh một chút, do đó tới trước cáo biệt”.

Người nhà không chú ý. không ngờ ngày hôm sau, Mặc Nương dậy sớm tắm gội chải tóc, trang điểm đẹp đẽ cáo từ mà đi, chị của bà cũng muốn cùng đi lại bị bà cự tuyệt. Đến khi ly biệt, Mặc Nương tỏ ra lưu luyến không muốn rời, mọi người đều cười bà việc bé xé to. Không ngờ Mặc Nương đi lên Mi Phong, như chỗ đất bằng, trong chớp mắt đã nhảy lên mây, ở chân trời vọng lại tiếng nhạc du dương, tiếng sành, tiếng ca trong trẻo,ở dưới cờ xí của tiên đồng, ngọc nữ, bà bềnh bồng bay lên trời.


Mặc Nương lên trời rồi sau đó hiển linh. Thường có người trông thấy một vị nữ thần mặc áo đỏ, bay đi trên mặt biển, cứu giúp người bị nạn. Cư dân Mi Châu cảm nhớ ân đức của bà, xây dựng miếu thờ cúng, tôn xưng bà là “Thông hiển linh nữ”. Còn một số người cho là thân thiết gọ bà là Ma Tổ.

Linh tích hiển thánh của Ma Tổ rất nhiều, có thể nói mỗi thời đại đều có tin đồn, do đó sự tín ngưỡng Ma Tổ ngày càng sâu rộng, sắc phong càng lúc càng nhiều. Triều Thanh niên hiệu Ung Chánh thứ 4, truy phong bà là “Thiên Thượng Thánh Mẫu”, Đạo Quang năm thứ 19 lại phong bà là “Hộ quốc Tì dân Diệu Linh Chiêu Ứng Hoàng  Nhân Phổ Tế Thiên Thượng Thánh Mẫu”.

Tại tỉnh nhà, miếu của Ma Tổ hương khói nghi ngút đó là “Triều Thiên Cung” cảu cảng trấn Vân Lâm Bắc. Bàn thờ đề “Bắc Cảng Ma Tổ”, dân gian gọi là “Bắc Cảng Ma Tổ Côn Thân Vương Da”. Có thể nói là già trẻ đều biết. Mỗi năm từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch thời gian tấn hương gồm có mấy mươi vạn tín đồ tổ chức đoàn thể đổ về hướng Bắc Cảng triều bái.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 11:26:27 pm »

(tiếp và hết)

CHÚ SANH NƯƠNG NƯƠNG


Chú Sanh Nương Nương gọi tục là “Chú Sanh Ma”, là thân chủ ty sanh dục, chuyên môn bảo hộ người đàn bà mang thai, sản phụ và thai nhi. Ngày xưa, phụ nữ là đối tượng rất tôn sùng bà, bởi vì y dược thời cổ đại chưa phát triển, sanh sản là việc rất nguy hiểm.

Lại nữa, trong quan niệm luân lý Trung Quốc, cho là “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, người con gái nếu không sanh cho nhà chông con trai, thậm chí sẽ cấu thành tội “thất xuất” bị đối xử lạnh nhạt, bị đuổi về nhà mẹ. Do đó, Chú Sanh Nương Nương đã trở thành một vi tôn thần cầu nguyện sanh con trai và bảo hộ sanh sản.

Truyền thuyết đối với Chú Sanh Nương Nương rất nhiều, các nơi cách nói cũng không nhất trí, trong đó “Kiến Ninh Phủ Chí” ghi chép so ra một số người tiếp nhận. Căn cứ Kiến Ninh Phủ Chí nói: Thời Tống, Từ Thanh Tẩu có một con dâu mang thai 17 tháng vẫn chưa sanh ra, trong khi nhà đang muôn phần lo lắng, bỗng nhiên từ ngoài cổng có một phụ nữ đi vào, tự xưng họ Trần, chuyên môn làm mụ.

Bà muốn Từ Thanh Tẩu cho riêng một căn phòng, sau đó ở trong phòng trên lầu khoét một cái lỗ bà đặt sản phụ trên lầu, lại sai đầy tớ cầm gậy ở dưới lâu trông coi. Không bao lâu sau đó,sản phụ sinh ra, nhưng ngoài ý tính người ta, bà sanh ra một con rắn trắng dài hơn một trượng, từ trong lỗ trên lầu lọt xuống dưới, người tớ cầm gậy đập chết con rắn, sản phụ lúc đó mới được bình yên.

Từ Thanh Tẩu rất vui mừng, ông cho người đàn bà họ Trần nhiều lễ vật quý giá, nhưng người đàn bà kiên quyết từ chối không nhận, chỉ cần Từ Thanh Tẩu một chiếc khăn tay, và mời ông đề chữ lên khăn tay: “Từ Thanh Tẩu tặng cứu sản Trần Thị”. Lại nói bà ở Phúc Châu quận Cổ Điền, sau đó đi ra khỏi cổng, xoay thân thì không thấy nữa.

Không bao lâu sau này này Từ Thanh Tẩu được điều nhậm Phúc Châu, ông phái người tìm kiếm người đàn bà họ Trần, nhưng kiếm khắp mà không gặp. Sau này, nghe người trong làng nói, xứ này có một ngôi miếu Trần phu nhân, khi người phụ nữ trong thôn sanh khó, chủ thần trong miếu thường hóa thân vì sản phụ cứu nạn.

Từ Thanh Tẩu đến trong miếu xem, chỉ thấy trên lưng tượng thần mang một chiếc khăn tay, đó chính là chiếc khăn năm trước ông tặng cho người đàn bà họ Trần, do đó, ông dâng biểu tấu triều đình cầu phong sắc.

Ở Kiến Ninh, phụ nữ ai ai cũng đều rất tin tưởng thờ Trần Phu Nhân, Khi sanh sản chắc chắn phải cúng tượng phu nhân, sanh sản xong rồi vẫn cúi về bức tượng bái tạ.  Do duyên cớ này,Trần phu nhân dần dần trở thành Ty Sản Đại Thần, mọi người đều gọi bà là “Chú Sanh Nương Nương
   
   
NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN


Nguyệt Hạ Lão Nhân còn gọi là Nguyệt Lão Công, gọi tắt là “Nguyệt Lão”, ở Trung Quốc ông là thần minh quản lý về việc hôn nhân.

Đối với Nguyệt Hạ Lão Nhân chưa có sử sách ghi chép hoàn chỉnh và nhất trí giữa các thuyết. So ra, hoàn chỉnh nhất đó là một câu chuyện nhỏ trong “Tục U Quái Lục”.

Triều Đường có người tên là Vi Cố, lúc nhỏ chưa lấy vợ, có một lần ông nghỉ ở trong Tống Thành gặp một dị nhân. Dị nhân này ngồi ở bên cạnh Thanh Tương, ở dưới ánh trăng đính chính sách. Vi Cố rất lấy làm lạ, bèn hỏi ông xem cái gì, người đó đáp rằng:
“Ta đang đối chiếu số bộ nhân duyên của thiên hạ”.

Vi Cố phát hiện ở trong túi của ông có rất nhiều sợi chỉ màu hồng, bèn hỏi ông để làm gì, người lạ đáp rằng:
“Ta dùng những sợi chỉ này để buộc chân vợ chồng, dù cho là nhà có oán cừu với nhau, dù cho cách xa vạn dặm, ta cũng có thể buộc nam nữ có duyên ở một chỗ”.

Vi Cố hiếu kỳ, bèn hỏi ông sẽ chọn người nào làm vợ của mình. Dị nhân nói:
“Vợ người là con gái của Trần Âu bán cải phía bắc khách sạn này”.

Mười bốn năm sau, Vi Cố nhậm chức ở Tương Châu Tham Quận. Thích Sử Vương Thái sắp gả con gái cho ông, ước khoảng 16, 17 tuổi.

Vi Cố thầm nghĩ lời tiên đoán của dị nhân năm đó chắc sẽ có vấn đề. Kết hôn xong rồi vợ ông nói với ông rằng:
“Thiếp là cháu gái của Quận Thú, cha của thiếp đã chết sớm, lúc đó thiếp còn trong nôi. Vú nuôi mỗi ngày dựa vào bán cải mà sống”.

Vi Cố hỏi cha cô ta chết ở đâu, vú nuôi là người nào. Đáp rằng: cha cô chết ở Tống Thành, Vú nuôi là Trần Âu. Vi Cố cười ngàn dặm nhân duyên dây chỉ buộc, ông rốt cùng chưa thoát khỏi sợi chỉ hồng của dị nhân.

Tống Thanh Tế biết sự việc này, bèn đổi khách sạn đó là “Định Hôn Điếm”, người dị nhân buộc chỉ hồng đó từ đâu được gọi là “Nguyệt Hạ Lão Nhân”.

--------------------------




HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, lethuytienac
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.765 seconds với 24 câu truy vấn.