Tháng Chín 25, 2018, 04:50:17 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4] 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG  (Đọc 11731 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2011, 05:44:55 pm »

(tiếp theo)

BÙI HÀNG

Bùi Hàng là một thư sinh, khoảng niên hiệu Trường Khánh đời Đường, do thi rớt ông bèn đi đến các nơi thăm bạn cũ. Đương thời, Thôi tướng quốc tặng cho ông 20 vạn tiền, lúc đó ông thuê chiếc thuyền lớn đi chơi ơ Nhương Hán. Đi cùng trên thuyền có Phàn Phu Nhân, là một mỹ nữ nổi tiếng, Bùi Hàng chưa có cơ hội gặp cô ta, bèn nhờ tỳ nữ đem thơ mình viết tỏ ý ái mộ. Qua mấy ngày, Phàn phu nhân cũng sai nữ tỳ đến mời Bùi Hàng để gặp mặt, nói với ông rằng:

“Chồng tôi ở Hán Nam, ông định không làm quan nữa chỉ lo tu đạo ở Nam Cốc, lòng tôi rất là lo âu, xin đừng đùa giỡn với tôi được không?’.

Bùi Hàng xem xong vừa ân hận vừa xấu hổ. Sau khi đến Nhương Hán, Phàn phu nhân không từ giã mà đi, Bùi Hàng tìm khắp nơi mà không gặp cô ta.

Có một hôm ông đến Lam Kiều Trạch vì khát nên muốn tìm nước uống. Ông trông thấy 3, 4 ngôi nhà  tranh, trong nhà có một bà lão đang dệt vải. Bùi Hàng hướng về bà lão chào hỏi và xin ít nước uống, bà lão kêu lớn nói:
“Vân Anh, nhanh đem lại đây một bình nước”.

Bùi Hàng sực nhớ tới Phàn phu nhân, trong thơ đưa có đề cập đến câu Vân Anh, đang kinh ngạc không bao lâu có thiếu nữ Vân Anh bưng ra một ly nước. Bùi Hàng uống cảm thấy ngọt như nước cam lồ.

Bùi Hàng vì có tình hiếu kỳ bèn nhìn trộm qua bức mành, ông phát hiện bên trong có một người con gái sáng chói đẹp đẽ, Bùi Hàng bất giác động lòng ông nói với bà lão:

“Con ngựa của tôi rất mệt mỏi, có thể cho tôi ngủ trong  phủ này một đêm chăng?”.
Bà lão nói: “Xin cứ tự nhiên”.

Qua một lát Bùi Hàng nhẫn nại không nổi, bèn nói với bà lão rằng:
“Vừa lúc nãy tôi thấy một cô gái rất đẹp đẽ, mỹ miều vo song, do đó không muốn rời khỏi nơi đây, mong được tiếp nhận hậu lễ của tôi, để tôi cưới cô ta làm vợ”.

Bà lão nói:
”Tôi vừa già vừa bệnh, dưới tôi chỉ có một đứa cháu gái. Hôm qua, có một vị tiên tặng tôi một ít linh dược, chỉ cần lấy cây chày ngọc để giã, 100 ngày sau uống có thể trường sanh bất lão. Người muốn cưới nó, chỉ cần tặng cây chày ngọc là được rồi, còn bao nhiêu của cải nữa tôi không cần”.

Từ Hàng cảm tạ nói:
“Mong bà đợi tôi 100 ngày, tôi chắc chắn đem chày ngọc tới, dù thế nào đi nữa bà không nên gả cô ta cho người khác”.

Bùi Hàng đến kinh thành, ông không làm việc gì cả, chỉ một lòng một ý tìm cây chày ngọc, gặp ai cũng hỏi, không kể người ta có biết hay không, vì vậy mọi người đều cho ông là điên.

Có một hôm ông gặp một ông già bán ngọc nói vôi với ông rằng:
“Gần đây bạn tôi là Lão Biện ở  Quắc Châu, viết thư lại, ông có cối chày ngọc muốn bán. Hôm nay, ông thành khẩn như vậy, tôi sẽ vì anh viết thư hỏi thử xem sao”.
Bùi Hàng vội vã không ngớt lời cảm ơn và còm mang thư giới thiệu của ông già bán ngọc lập tức đi tìm Biện Lão.
Biện Lão nói:
“Cối chày ngọc này đáng quý lắm, không đủ 200 xâu tiền không bán”.

Bùi Hàng lúc đó đổ số tiền ra đếm, bán cả một người tớ và con ngựa, mới vừa đủ số tiền. Cuối cùng, ông chỉ còn cách đi bộ về Lam Kiều.

Bà lão trông thấy ông về liền cười nói:
“Ở thế gian có người giữ chữ tín như vậy chăng?”. Liền nhận lời hứa hôn.

Cô gái đẹp kia cũng mỉm cười, nói với Bùi Hàng:

“Tuy ngài đúng kỳ hẹn trở lại, nhưng vẫn còn phải giã thuốc 100 ngày, mới có thể chính thức bàn đến việc hôn nhân”.

Bà lão lấy thuốc từ trong túi áo đưa ra cho Bùi Hàng. Bùi Hàng lập tức để trong cối ngọc dùng chày giã luyện. Đến tối, bà lão lấy thuốc trong cối mang về nhà, cách vách tường luôn luôn nghe tiếng giã thuốc vang ra. Bùi Hàng nhìn trộm qua khe cửa, phát hiện có con thỏ ngọc đứng bên trong giã thuốc, con thỏ trắng như tuyết chói sáng.

Một trăm ngày đã đủ, sau đó bà lão đem thuốc uống vào nói:

“Ta muốn đi đến động tiên, ta sẽ thông báo cho thân thích đến để làm lễ thành hôn”.

Bà dẫn cháu gái lên núi. Trước khi đi bà nói với Bùi Hàng:

“Người đợi một chút, chúng tôi đi rồi sẽ trở lại”.

Không bao lâu, quả nhiên từ xa có xe ngựa, đầy tớ tới đón Bùi Hàng. Bùi Hàng trông thấy một đám mây cao tầng tầng lớp lớp liên tục, trong cánh cửa có dán chữ Hỷ, ngọc ngà trân bảo không chi chẳng có. Tiên đồng ngọc nữ dẫn Bùi Hàng đi thẳng vào trong trướng hành lễ. Bùi Hàng hướng về bà lão quỳ lạy. Bà Lão nói:

“Bùi Lang, ngươi là cháu của Thanh Lãnh Chân nhân, ngươi số mệnh đã định nên vượt khỏi trần thế, không cần phải cảm động, bày tỏ đến thế”.

Bà lão giới thiệu thân thích của mình cho ông ta, họ đều là thần tiên.Trong đó, có một tiên nữ tự xưng là chị vợ. Bùi Hàng hướng về bà lễ lạy, bà nói :
“Bùi Lang, ngươi không nhận ra ta sao?”.

Bùi Hàng không nhớ ra chút nào cả, chỉ biết xin lỗi. Tiên nữ nói:
“Người quên chúng ta đi cùng thuyền trên sông Nhương Hán rồi à?”

Bùi Hàng cảm thấy xấu hổ, tả hữu nói:

“Bà là chị của Tiểu phu nhân, đã có tên trong tiên tịch sổ của tiên”.

Bà lão đó dẫn hai vợ chồng Bùi Hàng vào Ngọc Phong Động, chỗ ở là lầu quỳnh gác ngọc, thực phẩm là cạnh tiên, thuốc tiên. Bùi Hàng dần dần thoát thai đổi cốt, thần hóa tự tại , cũng tu thành tiên nhân.

Khoảng niên hiệu Thái Hòa, bạn của Bùi Hàng là Lô Hạo, gặp ông ở Lam Kiều Trạch biết ông đã thành tiên, bèn nhờ ông chỉ dạy bí quyết để tu đạo. Bùi Hàng nói:

“Lão Tử nói, muốn khiến tâm địa không linh, trung khí sung sức, mà hiện tại trong lòng đều vọng tưởng, phóng dục quá độ, tiết lậu nguyên khí, nên không linh thành bất không linh, nên sung phế thành bất sung phế, ngược lại đạo mà làm, như thế làm sao tu thành đại đạo”.

Lô Hạo nghe rồi cảm thấy rất có đạo lý, đang nghĩ tiếp tục được chỉ giáo, nào ngờ Bùi Hàng lại biến mất đâu không còn thấy nữa.
   
   
HẦU ĐẠO HOA

Hầu Đạo Hoa là người thành Nhuế, có người nói ông từ Nga Mi Sơn đến, ông ở Đạo Thanh Quan bái Châu Ngộ làm thầy. Ngày thường ông giống như người khùng khùng điên điên, chuyên môn thích leo cao chỗ nguy hiểm, những nơi người khác không dám đi, đối với ông đó lại là việc bình thường, lâu dần người ta cảm thấy ông không phải điên cuồng, mà là một đạo sỹ không lường cao sâu được. Nhưng ông và một vài đạo sỹ có chút ít khác nhau, đó là tính hiếu học của ông, ông thích nhất là đọc sách về sử, mỗi ngày không rời quyển sách, dụng công không thể lường được.

Có một hôm trần nhà bị hư, ông bò lên sửa lại, bất ngờ phát hiện trên cây cột có mấy hộp vàng nhỏ, trong hộp có đan. Ông nuốt nó luôn, bỗng cảm thấy thân thể nhẹ như chim én. Ông leo lên đọt cây tùng, và vui giỡn với hạc, rồi chầm chậm thân ông nhẹ nhàng cất lên, cuối cùng bay vào hư không đi luôn.
   
   
LIÊU SƯ


Liêu Sư là người Sâm Châu, Đường Thất Tông mời ông vào cung, nhờ ông dạy đạo thuật. Sau đó, vì ông không chịu nổi sự phồn hoa trong cung, lại xin Hoằng đế cho trở về trên núi.

Lúc ông ở Sâm Châu, quen biết nhà đại văn hào Hàn Dũ đương thời, Hàn Dũ tặng cho ông một thiên văn chương, đại ý nói rằng:

“Sâm Châu là nơi sơn minh thủy tú, do đó ông suy đoán nơi này chắc chắn có kỳ nhân. Mà Liêu Sư nguyên khí sung phế, dung mạo Thẩm  tĩnh, nhiều tài nhiều nghề lại khéo giao du, đây đại khái chỗ kỳ nhân tôi nói, người ham thích đạo của Lão Tử”.

Sau này, nghe nói Liêu Sư đắc đạo ở núi Tĩnh Phước và bay lên trời.
Hàn Dũ là một người nói rõ đạo lý của Khổng, Mạnh, nhưng ông, đạo sỹ và hòa thượng đều có qua lại, có thể thấy Nho, Đạo, Phật, ba nhà tư tưởng đương thời hấp dẫn lẫn nhau, dần dần trở thành tín ngưỡng phổ thông của người Trung Quốc.
   
   
LƯU ĐỨC BỔN

Lưu Đức Bổn là người Ngạc Châu, thích đọc sách của người xưa và có nhiều tài nghệ. Ông bình thường qua lại hai bên bờ Đại Giang để làm nghề buôn bán.

Khoảng năm Đường Càn Phù, dân chúng bị đói khát khắp nơi, Lưu Đức Bổn bố thí mấy vạn thạch gạo để cứu sống người dân bị đói, đương nhiên đây chỉ là một trong nhũng việc lành như thế mà thôi.

Sau này, Hoằng Sào làm loạn, ông ở dưới ngọn núi Ngũ Lão Phong, một hôm có một đạo sỹ mặc áo da nai đến hỏi thăm ông, lúc đó hai người cùng dắt tay nhau vào rừng sâu. Đi chưa được bao lâu bỗng có một ông già ra nói với họ: “Mời đi vào phía sau nhà mới được”.

Họ mới vừa đi vào, chỉ thấy toàn kỳ hoa di thảo, gác phụng lầu rông, ông già nói: “Đây là động Thiên Phước, bởi vì người đã làm nhiều điều lành, do đó có duyên đến đây, bây giờ ngươi đã có tên trong tiên tịch, đáng vui vẻ, đáng chúc mừng!”.

Lưu Đức Bổn sau này đi khắp các danh sơn nghe nói không bao lâu cũng bay thẳng lên trời.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2011, 01:57:25 pm »

(tiếp theo)


LƯU THẾ


Lưu Thế tên riêng là Nghi Ca, người ở thời nhà Đường. Tuy gia cảnh của ông nghèo nàn nhưng ông rất thích tu đạo. Anh của ông là Lưu Đạm nói với ông:

“Thần tiên chập chờn hư ảo như có như không, xa xôi mà khó tìm cầu, triều đình lại gần trong thước tấc, có thể nỗ lực tìm được, sao em không bỏ đạo mà cầu làm quan?”.

Lưu Thế nghe xong chỉ cười mà thôi, vẫn nỗ lực tiếp tục tu đạo.

Một hôm, có một đạo sỹ bỗng nhiên chạy đến nhà họ, ông ta nói với Lưu Thế rằng: “Người có muốn bái ta làm thầy không?”.

Lưu Thế nói: ‘Rất muốn, rất muốn, đây thật là may mắn cho tôi”.

Hai người họ cùng đi đến núi Nga Phù, ở trong núi này cùng tu 40 năm.

Trong thời gian này, anh của ông là Lư Đam làm quan được hanh thông, từng bước được thăng mãi cho đến chức Tể tướng. Nhưng con đường làm quan thì gồ ghề thăng Thẩm  không nhất định, sau đó lại bị giáng chức đày ra xứ ngoài. Lúc đó, ông đang ở Triều Đài đứng đơi thuyền qua sông, bỗng thấy Lưu Thế đầm mưa chạy tới, Lưu Đạm mừng rỡ vô cùng. Ông nhìn kỹ, thấy em mình dung mạo như lúc còn trẻ, còn mình thì tóc đã bạc trắng phau, già yếu vô cùng. Ông rất cảm khái, bèn hỏi Lưu Thế:

“Em hiện giờ có còn tu đạo không?”

Lưu Thế đáp:

”Tiên phàm hai con đường không giống nhau, bây giờ mọi việc quá muộn rồi”.
Hai anh em trò chuyện với nhau một buổi tối. Sáng hôm sau, Lưu Thế bèn đi. Không bao lâu sau đó, Lưu Đam quả nhiên chết do bị giáng chức quan ở địa phương.

   

   
HÀ LINH THÔNG


Hà Linh Thông là quốc sư của Nam Đường, ông trước kia ở Ngưu Đầu Sơn, sau này ông thấy ở Ngưu Đầu Sơn không có lợi cho tu đạo bèn dời về Tiên Dung Phong ẩn cư.

Hà Linh Thông đã không luyện đơn cũng không hái thuốc. Sự tu hành của ông rất đơn giản, chỉ ngồi để cầu chuyên tâm định ý, triệt ngộ bản nguyên. Ông không kể trời lạnh hay nóng, ngồi như thế 40 năm, cuối cùng một hôm thoát nhiên đại ngộ, thấu triệu đạo lý nguồn gốc của nhân sinh, từ đây ông đổi tên là “Mộ Chân” để bày tỏ lòng mình đã gần được chân lý, chỉ còn đợi ngày rất gần thoát khỏi “cái túi da hôi thối” ở cõi thế gian chịu tội này.
Khoảng năm Tống Thiên Hỷ, có một buổi sáng ông đang ngồi tịnh, bỗng trong lòng xuất phát một đốm chân hỏa, trong khoảng khắc đốt tiêu tấm thân của ông, đương nhiên đây là một phương thức tu thành đại đạo rất đặc thù mà ít thấy.
   
MA - Y  TIÊN CÔ

Ma Y Tiên Cô là người Phần Châu, họ Nhâm.Bà ẩn cư ở Bạch Đường Sơn, người nhà mấy lần đến trong núi tìm bà,  tìm khắp nơi mà không gặp.

Có một lần vô ý bà bị một người làng kế bên gặp, người đó định níu bà lại hỏi một vài câu, không ngờ bà chạy thẳng môt mạch vào trong vách đá, và còn phát ra tiếng ầm ầm như tiếng trời gầm.  Sau khi bà chạy đi rồi, vách đá tự nhiên hợp lại không còn một kẽ nhỏ. Chỉ có dấu chân của bà in lại rõ ràng trên vách đá.
Người nhà của bà biết sự việc này, bèn chạy đến dấu chân trên vách đá lạy. Kẻ xa gần không quen biết nghe tin đồn cũng đi tới cầu phước. Ma Y Tiên Cô tuy thề quyết chí ẩn cư, mà danh tiên của cô lại không có đường mà đi, đây là việc xảy ra ngoài dự tính của bà.
   
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, dieunha, quycoctu, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2011, 02:00:06 pm »

(tiếp theo)

NHĨ CHÂU ĐỘNG

Nhĩ Châu Động tự là Thông Vi, tổ tiên của ông tộc Nhĩ Châu lệ thuộc Nguyên, Ngụy. Ông lúc nhở gặp người lạ day tu đạo, do đó tự lấy cho mình một biệt hiệu là “Quy Nguyên Tử”. Ông lúc đầu ẩn cử ở Phùng Sơn, sau đó lại đến Tứ Xuyên đi bán thuốc. Ngày thường ông đi bộ như bay, thích uống máu lợn làm rượu. Uống rượu xong lại ngâm thơ tự vui một mình.

Lúc ở Tứ Xuyên ông ở lâu trong một khách sạn. Ông chủ khách sạn mỗi đêm đều nghe trong phòng ông có tiếng. Một hôm, chủ quán nhìn trộm qua khe hở, phát hiện ông tuy ngồi trên giường nhưng thân thể lại từ trên giường từ từ cất lên, mãi cho đến khi đụng trần nhà mời dừng. Thì ra âm thanh ở trong phòng là do đầu ông dụng trần nhà mà gây ra tiếng.

Vào năm chót triều Đường, Vương Kiến lãnh binh vây đánh Thành Đô, Nhĩ Châu Động lúc ấy cũng mắc kẹt trong thành, Vương Kiến công thành rất lâu mà không phá nổi. Vương Kiến nổi giận, tuyên hô một ngày nào thành bị phá, ông nhất định sẽ giết hết tất cả. Dân chúng trong thành biết vậy đều sợ hãi, Nhĩ Châu Động lại nói với họ rằng: “Không cần phải lo sợ!”. Lúc đó, ông đem một chiếc chiếu làm phép. Lúc ấy, Vương Kiến và thuộc hạ của ông đều trông thấy một thần nhân đạp mây đen mà đến, và còn nhìn vào Vương Kiến chửi lớn rằng:

“Ai muốn làm hại nhân dân trong thành, ta sẽ để cho họ gặp tai ương!”.

Vương Kiến vừa thấy quỳ xuống đất, cầu xin tha mạng. Sau này, Vương Kiến vào thành rồi, ra lệnh nghiêm cấm binh sỹ không được làm tổn thương một người nào, cả thành nhân dân được bảo toàn.

Nhĩ Châu Động cũng ở Thành Đô bán thuốc như trước, mỗi lần bán một viên ông thâu 12 vạn tiền, đương thời có một thái thú muốn mua thuốc của ông, Nhĩ Châu Động đối với ông ta nói:
“Nhà của thái thú tiền bạc một vạn xâu, 1 viên không lấy 120 vạn tiền thì không bán”.
Thái thú nổi giận, cho là ông dối trá mê hoặc quần chúng, kêu người bắt ông giam trong một cái lồng trúc, sau đó đem cái lồng ngâm dưới sông. Cái lồng này theo dòng sông trôi đến Bồi Giang. Có hai người đánh cá vô tình đánh được cái lồng. Vừa mở ra xem thì rõ ràng Nhĩ Châu Động ở bên trong. Người đánh cá nói:
“Đây chắc chắn là dị nhân, ông ta đại khái là nhập định rồi”.

Hai người đánh thau đồng kêu ông dậy. Nhĩ Châu Động từ từ mở mắt ra, ông hỏi người đánh cá rằng:
“Ở đây cách Đồng Lương bao xa? Có phải đi qua 3 ngọn núi này không”.
Người đánh cá đáp:
“Chúng tôi là người Bạch Thạch Giang, ở đây cách Đồng Lương 400 dặm, từ đó đi về hướng đông là huyện Phong Đô, núi Bình Đô, trên núi có Tiên Đô quan”.

Nhĩ Châu Động nghe xong rồi nói:
“Sư phụ ta bảo ta đợi ta đến Tam Đô, khi trông thấy “Bạch Thạch Phù Thủy” thì có thể thành tiên, ta nghe nói nơi này chắc là chỗ ông vừa chỉ đó”.
Nguyên trước kia Nhĩ Châu Động dọc bờ sông mà đi, mỗi khi đến nơi nào đều quăng cục đá trắng xuống dòng sông, xem nó có nổi lên mặt nước hay không, người xung quanh đều không hiểu ý của ông. Thì ra sư phụ ông nói “Bạch Thạch Phù Thủy” là chỉ hai người đánh cá!

Nhĩ Châu Động lên bờ nói với hai người đánh cá: “Ta xem hai vi cũng giống đạo sỹ, dám hỏi sư phụ của hai vị là ai?”.
Người đánh cá trả lời:
“Chúng tôi lúc trước ở trên biển gặp một ông tiên, ông dạy cho chúng tôi tu luyện đã được vài năm rồi”.
Nhĩ Châu Động lúc đó cùng họ uống rượu, và đem đan dược chia cho họ ăn, cuối cùng họ đến một vườn vải, ba người cùng nhau cưỡi mây đi.
   
   
TRẦN BỘ

Trần Bộ tự là Đồ Nam, hiệu Phù Dao Tử người ở Hào Châu Chân Nguyên. Khi ông mới sanh mãi không biết nói chuyện, khi đến 4, 5 tuổi, có một lần đi chơi trên sông nước, bên bờ sông có một bà già mặc áo xanh, nắm ông ôm vào lòng cho bú. Trần Bộ mới bỗng nhiên khai khẩu nói chuyện. Ông lúc nhỏ nhanh nhẹn hơn người; sau khi lớn lên,  kinh sử vừa xem qua đã thuộc làu. Mới 15 tuổi, sách Lễ Ký, Kinh Thi các thứ sách Y không thứ gì không thông hiểu.

Sau khi cha mẹ ông đều chết, Trần Bộ nói với chú rằng:
“Sở học của cháu từ trước tới nay chẳng qua học thuộc tên người chết mà thôi.Bây giờ cháu muốn đến núi Thái Sơn tìm An Kỳ Sinh, Hoằng Thạch Công và một vài tiên nhân để hỏi đạo, từ đó cũng không bị trôi nổi, đắm chìm trong sanh tử luân hồi”.

Trần Bộ dùng gia tài để cứu tế nên chóng trở thành nghèo nàn, ông chỉ mang một cái Thạch Đương thong dong đi. Sĩ đại phu của các triều Lương, Đường ngưỡng mộ sự thanh cao của ông, đều cho gặp ông là vinh hạnh. Còn Trần Bộ xam thường vinh hoa, đối với họ hoàn toàn không hiểu biết. Đường Minh Tông nghe nói thanh danh của ông, đích thân viết thư mời ông. Kết quả, ông vào trong triều cũng chỉ làm lễ mà không quỳ lạy. Minh Tông nhân đây càng thêm quý trọng, và ban cho ông ba cung nữ. Trần Bộ viết bài thơ cự tuyệt, ông đến Vũ Đang Sơn ẩn cư, mỗi ngày ở trong nham động tinh thành tu đạo, cho đến 20 năm, sau đó dời về Hoa Sơn, lúc ấy ông đã hơn 70 tuổi, ngày thường đóng của ngủ, vừa tỉnh dậy thì hơn 1 tháng, do đó người ta gọi ông là “Trần Bộ Cao Ngọa”.

Khoảng niên hiệu Hiển Đức Châu Thế Tông, có một tiều phu lên núi Hoa Sơn phát hiện một thi thể đầy bụi bặm, tới gần xe thì ra Trần Bộ. Ông từ từ mở mắt nói:
“Ta đang ngủ rất ngon, người làm gì đến làm ồn ta vây?”’
Châu Thế Tông từng triệu ông và ban cho ông là “Văn tiên sinh”.

Một hôm Trần Bộ cưỡi lừa đi dạo chợ Hoa Âm, bỗng nghe nói Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lên ngôi làm vua, ông bất giác vỗ tay cười lớn:
“Tốt a! Từ đây thiên hạ thái bình!”.
Tồng Thái Tổ biết được, bèn mời được gặp ông và phong ông làm quan.Trần Bộ khách sáo khéo chối từ, ông nói với Thái Tổ:
“Tấm lòng của tôi sớm bị mây trắng giữ chặt rồi!”.

Tống Thái Tông kế vị sau đó cũng mời ông vào cung. Ông không thể chối từ được mới miễn cưỡng vào kinh. Nhưng ở trong cung ông cần được một gian phòng yên tịnh, để tiện tu hành. Thái Tông ban cho ông Kiến Long Quan, kết quả ông ở trong quan ngủ một tháng, tỉnh dậy ông cáo từ đòi đi.Thái Tông giữ ông không được, tốt hơn để ông đi về, ban cho ông hiệu “Hy Di tiên sinh”. Do đó, người sau này quen gọi ông là “Trần Hi Di”.

Đoang Cung Nguyên Niên, có một hôm ông nói với đệ tử rằng: Ta sang năm tết Trung Nguyên muốn đến núi Nga Mi”.
Năm thứ hai ông kêu đệ tử ở Trương Siêu Cốc đục một cái động làm thạch thất, đục xong rồi, Trần Bộ bèn nói: “Chỗ này đại khái là chỗ ta về nghỉ”.

Trần Bộ lúc đó ngồi trong thạch thất, chuẩn bị tọa hóa trong đó. Ông kêu đệ tử nửa đêm đốt đuốc thắp đèn. Cuối cùng, thời khắc đến, ông dùng tay trái đỡ đầu, như vậy từ giã trần thế. Mãi cho đến 7 ngày, sắc diện của ông không thay đổi, toàn thân ấm áp, và năm sắc mây lành vây chật cửa động, trải qua một tháng không tan. Ông sống cộng được 118 tuổi.
Trần Bộ sinh tiền đối với Kinh Dịch rất có nghiên cứu, đặc biệt tinh vi phân biệt được người thiện, ác, hiền, ngu, trung, gian. Cuối thời Ngũ Đại thiên hạ đại loạn, lúc đó mẹ Triệu Khuông Dẫn dùng gánh quảy 2 anh em (tức là Tống Thái Tổ, Thái Tông sau này) lánh nạn. Trần Bộ giữa đường gặp họ nói:
“Không nên nói hiện nay chưa có thiên tử, thiên tử đang ở trên đòn gánh bị gánh chay”.
Sau này, có một lần gặp lại Thái Tổ, Thái Tông và Triệu Phổ đồng đi chơi ở Trường An, Trần Bộ cũng đi vào một phố rượu. Triệu Phổ ngồi bên phải của Thái Tổ Thái Tông, Trần Bộ nói với Triệu Phổ:
“Ông chẳng qua là một vì sao nhỏ bên Tử Vi tinh, làm sao có thể tùy tiện ngồi trên chiếu nay!”.

Lại có một lần, Châu Thái Tông và Tống Thái Tổ cùng đi, Trần Bộ bèn nói:
“Ngoài thành hiện nay có hai lằn khí Thiên Tử tụ lại một chỗ”.
Chủng Phóng lúc đầu tới lui với Trần Bộ, Trần Bộ nói với ông:
“Ông sau này sẽ gặp Hoằng đế anh minh và vang danh bốn biển, mà tên là tạo vật có chỗ ghét kỵ đồ vật, trong trời đất không có cái tên hay thủy chung bất hoại, tiếng tăm của ông e sợ cũng gặp phải đả kích, phải nên chú ý”.
Chủng Phóng không ngờ lúc già giống như lời dự đoán của Trần Bô.

Thời đó, có một người tên là Trần Nghiêu Tử khi ông thi đậu tiến sỹ từng thăm hỏi Trần Bộ. Ông ở trong nhà Trần Bộ trông thấy một Đạo sỹ, trên đầu búi tóc, nhìn thẳng vào ông và nói với ông rằng:
“Nam Am., Nam Am!”.
Nói xong Đạo Sỹ rời chỗ ngồi mà đi.

Trần Nghiêu Tư rất lấy làm lạ, liền hỏi Trần Bộ rằng:
“Vừa rồi, vị đạo sỹ đó là ai thế?”.
Trần Bộ đáp:
“Ông ta là Chung Ly Tử (một trong Bát Tiên) đó!”.
Trần Nghiêu Tử vừa nghe rất lấy làm hối hận, bởi vì ông đã nhận lầm mặt một vị đại tiên nổi tiếng. Ông rất muốn đuổi theo. Trần Bộ cười nói:
“Không cần, ông ta bây giờ đã đi xa ngoài mấy ngàn dặm rồi”.

Trần Nghiêu Tư lại hỏi:
“Vừa rồi ông ta nói liên tục Nam Am đó là ý nghĩa gì?”
Trần Bộ đáp:
“Việc này tự nhiên sau này ông sẽ biết”.
Sau này, Trần Nghiêu Tử đến Phúc Kiến làm quan, tình cờ đi qua ruộng, nghe thấy người đàn bà kêu con của bà nói:
“Con đi đến Nam Am giục cha con trở về”.

Trần Nghiêu Tử giật mình, liền hỏi người đàn bà là Nam Am ở đâu, kết quả ông đi đến phát hiện đó là một ngôi chùa đã bị hoang phế. Trong chùa có một tấm bia, trên mặt bia khắc: “Ngày đó…  năm đó… tháng đó, chủ nhân Nam Am qua đời, chân thân của ông được cúng tại đây”. Trần Nghiêu nhìn kỹ, thì ra đó là ngày sinh của mình.

Trần Bộ lúc sinh tiền đã có khả năng biết trước. Trong nhà ông máng một trái hồ lô lớn, đạo sỹ Giang Hưu trong lòng rất muốn nó nhưng ngoài miệng ngại không dám nói ra. Trần Bộ biết được, nói với ông: “Ông cần trái hồ lô phải không?”, nói xong kêu người hầu mang trái hồ lô tặng ông ta.

Lại có một người tên là Quách Hàng ở nhờ trong quan của ông, nửa đêm Trần Bộ kêu ông dậy, bảo ông lập tức đi vè nhà, và còn đi cùng với ông. Đi được 1, 2 dặm, có người kêu lớn rằng mẹ ông đã chết rồi.Trần Bộ tặng cho ông một ít thuốc, kêu ông chạy nhanh về còn cứu được, kết quả mẹ ông chết đi được cứu sống lại.
Đương thời huyện Hoa Âm ra lệnh Vương Mục hỏi Trần Bộ rằng: “Tiên sinh rốt cùng ở đâu, khi đi ra ngoài ai trông nom cửa nhà?”.

Trần Bộ an nhiên dùng thơ trả lời rằng, đại ý nói vùng Cao Hoa Sơn là nhà của tôi, khi tôi ra khỏi của vút lên trời cao cưỡi gió đi, nhà tôi không dùng ống khóa vàng, tự có mây trắng phủ chặt nó.

Có một hôm, một người khách tới thăm ông, ông đang ngủ bên cạnh một người lạ, lắng nghe nhịp đập của ông ta và dùng bút đen ghi lại, đầy trên giấy màu đen thui. Người khách lấy làm lạ hỏi ông hỏi ông làm gì? Người đó trả lời rằng: “Đây là Hoa tư điều, hỗn thuần phá của Trần tiên sinh”.

Ý của ông nói nhịp mạch của Trần Bộ đã giống như Thiên lai (tiếng ống tiêu trời). Trần Bộ đã gặp Mao Nữ, Mao Nữ tặng cho ông một bài thơ, đại ý nói:
“Thuốc của ông vẫn chưa đầy đủ, cần phải leo lên núi càng cao, ngoái cổ lại đi về đường lộ, để tôi dẫn vào mây mù trong núi”.

Tống Thái Tông nghe nói Trần Bộ biết xem tướng, bèn mời ông ta đi xem Chân Tông, ông vừa đến cổng liền trở lại. Thái Tông  hỏi vì sao không đi vào. Ông nói:

“Ngay cả nô bộc ở cổng đều là tướng sau này, đâu cần xem chủ nhân của họ”.

Bởi vi câu nói của ông, Thái Tông quyết tâm lập Chân Tông làm thái tử để thừa kế đế thống.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, dieunha, quycoctu, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2011, 02:03:15 pm »

(tiếp theo)

LƯU HUYỀN ANH

Lưu Huyền Anh là người ở Quảng Lăng, hiệu Hải Thiềm Tử, đầu tiên tên Tháo, sau này đắc đạo đổi xưng hiệu chữ. Ở trong triều làm quan rất được sủng ái.

Có một hôm, có đạo sỹ tự xưng là Chánh Dương Tử tới thăm ông, ông chiêu đãi đạo sỹ này ngồi ở trên Đại đường, đối với ông ta rất hiếu khách. Vị đạo sỹ này vì ông giảng đạo lý thanh tịnh vô vi, cho đến việc luyện các loại đơn, nói xong lại kêu ông đưa 10 quả trứng gà, 10 văn tiền vàng, sau đó dùng một văn để dưới đáy, phái trên đồng tiền chất 10 trứng gà, hình giống như cái tháp Phật. Lưu Hải Thiềm vừa thấy rất kinh ngạc, ông lập tức ngộ đạo, bất giác mở miệng nói:

“Rất nguy hiểm a!”.

Đạo nhân lúc đó nói với ông:
“Trong cảnh giàu sang rất nhiều ưu hoạn, cái nguy hiểm đó so với ngôi tháp này còn hơn nữa!”. Đạo sỹ nói xong, lại dùng đồng tiền vàng còn dư đạp phá tòa tháp bằng trứng gà 10 tầng, sau đó quay đầu đi mất.
Trải qua một màn, Hải Thiềm phút chốc đại ngộ, đêm hôm đó đi sai tất cả người nhà đi thu dọn đồ đạc từ quan mà đi ở ẩn dưới Chung Nam Sơn.

Bao nhiêu năm sau, Hải Thiềm tu thành đại đạo, nghe nói khi ông qua đời, trên đỉnh đầu xông ra một làn khói trắng, khí trắng ấy biến thành chim hạc bay lên không trung, ông không những mãi mãi rời xa trường danh lợi, cũng từ đó rời bỏ mãi mãi rời bỏ tất cả các rời buộc của cõi hồng trần.

   
   
TÔ TRỪNG ẨN


Tô Trừng Ẩn là người Chân Định, đang là một đạo sỹ trong Long Hưng Quan, hơn 80 tuổi không thấy một chút già yếu.

Thời Ngũ Đại có rất nhiều vua chúa liên tục đem lễ vật mời ông vào cung, ông đều nhất nhất chối từ, mãi cho đến khi Tống Thái Tổ đánh Thái Nguyên, khi về đến Trấn Dương, triệu kiến ông và cầu ông dạy thuật trường sinh, ông đáp lới Hoằng đế:

“Thuật dưỡng sinh của tôi chẳng qua là thuật công phu luyện khí, đến như thuật dưỡng sinh của đế vương phần nhiều không giống nhau. Lão Tử nói” Ta có thể vô vi, trăm họ tự nhiên cảm hóa, ta có thể vô dục, trăm họ tự nhiên nương theo chánh đạo. Ngày xưa nhà Đường, Nghiêu sở dĩ nước được hưng thịnh lâu dài, chính vì họ làm được điều này”.
   
TRƯƠNG CỬU CA

Trương Cửu Ca là người thời Bắc Tống, khoảng niên hiệu Khánh Lịch, ở trong kinh sư, mặc dù mùa đông tuyết nhiều ông chỉ mặc một cái áo, do đó mọi người coi ông là dị nhân.

Yên Vương thời đó từng mời ông vào cung và chiêu đãi ông tiệc tùng. Rượu uống được ba tuần, ông bỗng nhiên nói với Vương Yên rằng:

“Tôi muốn ra khỏi kinh đo đi chơi xa, bây giờ thử biểu diễn một phép vui nhỏ để kỷ niệm trước lúc chia tay”.

Nói xong, ông nhấc cây kéo lấy mảnh vải và cắt thành hình con bướm, mấy miếng vải hình con bướm vừa cắt xong thì bay tứ tung đầy trời, được chốc lát thì ông kêu thâu mấy con bướm về, không bao lâu lại biến ra thành vải. Yên Vương vừa thấy rất vui, liền hỏi ông tuổi thọ của mình được bao lâu? Ông bảo rằng thọ bằng tháp Phật của chùa Khai Bảo. Không bao lâu thì tòa tháp này bị cháy bởi hỏa tai. Yên Vương quả nhiên chết cùng lúc đó.
   
   
MÃ TƯỜNG

Mã Tường tự là Tự Nhiên, tổ tiên của ông ta đã từng làm Gián quan, nhiều đời làm tiểu lại. Còn Mã Tường ngược lại thích kinh sử, có công với văn học. Ông từng giao kết rộng với tăng đạo, đi khắp các chùa, quán, có một lần ở Hồ Châu vì say rượu té xuống sông, cả buổi mới bò lên được, mà y phục rốt cùng không bị thấm ướt chút nào. Sau sự việc ấy, ông nói với bạn bè, thì ra hôm ấy ông được Hạng Vũ mời đi uống rượu.

Mã Tường tinh thông đạo thuật, ông có thể dùng nắm tay nhét vào trong lỗ mũi rồi rút ra mà lỗ mũi cũng không sao cả. Ông có thể dùng tay chỉ, khiến khe nước chảy ngược lại, lại vừa chỉ cây cầu liền gãy. Các loại như thế chỉ là phép thuật nho nhỏ. Có người tìm ông khám bệnh, ông cũng không dùng thuốc, chỉ lấy cây gậy trúc đánh vào chỗ bị  bệnh, hoặc cùng cây gậy trúc chỉ nhè nhẹ, sau đó dùng miệng thổi đầu cây gậy phát ra tiếng sét, người bệnh lên tiếng trả lời rồi mạnh khỏe. Ông khám bệnh không nhận tiền, trừ khi họ nài nỉ quá, ông bèn lấy tiền phân phát cho người nghèo khổ.

Ông bình sinh rất thích đi chơi, mỗi khi đến một nơi nào đó đều có thơ, ca, đề, vịnh. Sau đó, ông về nhà đi thăm anh, đang lúc anh ông ra khỏi cửa, ông bèn nói với chị dâu rằng: “Tôi lần này muốn cùng anh chia gia tài, mà tôi thích nhất chỉ có Đông Viên, ngoài ra tôi không thích cái gì nữa cả”.

Chị dâu cầm ông ở lại ăn cơm, ông không ăn, chỉ uống rượu, đợi ba ngày anh cũng chưa trở về, còn Mã Tượng tự nhiên không nói không rằng gì chết queo luôn. Ông anh trở về, nghe vợ kể không cầm được đau đớn nói:
“Em học đạo bao năm nay, lần này trở về lại chết ở quê hương”.

Lúc đó, liền chuẩn bị quan tài an táng ông ở Đông Viên.
Qua một năm, Động Xuyên đạo sỹ tấu lên nói Mã Tượng ban ngày bay lên trời. Trong triều phái người xuống mở quan tài kiểm tra, không ngờ trong quan tài chỉ có cây gậy trúc, ngoài ra không có vật gì khác.
   
   
VƯƠNG ĐỈNH

Vương Đỉnh là người Nhượng Dương, đầu tiên ông làm nghề y để nuôi sống gia đình. Sau khi gặp được Chung Ly tiên sinh không bao lâu đắc được tiên thuật, từ đó đổi thành Vương Phong Tử.

Vương Đỉnh đắc đạo rồi sau đó hành vi mười phần cổ quái, ông hầu như từ nào đến giờ không cần ăn uống, mà dung mạo đẹp đẽ tỏa sáng hơn người thường. Có một hôm ông đi tản bộ bên bờ sông có người phát hiện tự nhiên trên nước có hai cái bóng của ông. Lúc đó bèn hỏi ông nguyên nhân, ông làm vẻ tự nhiên hỏi ngược lại:
“Các ông còn muốn xem lại không?”.

Nói xong ông lập tức hiện ra mười cái bóng, uyển chuyển rõ ràng như người sống, mọi người đều kinh ngạc nói không ra lời.

Tống Chân Tông triệu kiến ông, ông gặp Hoằng đế chỉ chắp tay chào mà không lạy. Không bao lâu mất tiêu tông tích, chỉ để lại một quyển trước tác “Tu Chân thư”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, dieunha, quycoctu, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2011, 02:07:18 pm »

(tiếp theo)

HẦU TIÊN SINH

Hầu Tiên Sinh không biết là ký nhân xứ nào, chỉ biết ông ở niên hiệu khoảng Đại Trung triều Tống, ở trong kinh sư bán thuốc, tuổi hơn 40 mà râu tóc không có, toàn thân nổi đầy thịt thừa.

Có một lần ông uống rượu say nhảy xuống ao tắm, bạn của ông là Mã Nguyên trên bờ nhìn trộm, không ngờ Hầu Tiên Sinh vừa xuống ao liền biến thành con tôm lớn. Mã Nguyên giật mình né tránh. Hầu Tiên sinh tắm xong, mặc quần áo, Mã Nguyên hướng về ông vái chào.Hầu Tiên sinh cười hỏi ông rằng:
“Ông vừa lúc nãy trông thấy tôi chăng?”.

Sau này không biết cuối cùng Hầu Tiên sinh như thế nào, nhưng ở Tứ Xuyên có người thấy ông thường tới lui bán thuốc, ông rốt cùng là người hay ếch nhái? Hay là do một đạo nhân biến hóa? Việc này người thường không thể đo lường được.
   
TRƯƠNG BÁ ĐOAN

Trương Bá Đoan là người Thiên Thai, từ nhỏ đã có tính hiếu học, trở về già học đạo, đi khắp bốn phương. Đời Tống Thần Tông niên hiệu Hy Ninh thứ hai, gặp được Lư Hải Thiềm ở Tứ Xuyên, đắc được chân truyền của Tiên đạo, lúc đó đổi tên là Dụng Thành, tự Bình Thúc, hiệu Tử Dương.

Đương thời có vị hòa thượng tu tập giỏi đinh huệ, tự cho mình đã đắc đươc cảnh giới tối cao, có thể nhập định và ở trong định xuất thần hồn đi chơi, mấy trăm dặm đường đi trong khoảng khắc thì tới. Ông cùng với Trương Bá Đoan chí thú hợp nhau. Có một hôm Trương Bá Đoan nói với ông rằng:
“Thiền sư hôm nay có muốn cùng ta đi chơi không?”.

Hòa thượng đáp: “Được thôi!”.
Bá Đoan hỏi: “Đi đây vây?”.
Hòa thượng nói: “Đi Dương Châu ngắm hoa!”.

Hai người ngồi ngay thẳng trong căn phòng yên tĩnh, mặt đối mặt nhắm mắt ngồi kiết gà, không bao lâu hồn bay khỏi thân thể.
Khi Bá Đoan đến nơi thì hòa thượng đã đến trước, và đang ở trong vườn hoa đi dạo 3 vòng. Bá Đoan nói:
“Sao không hái một đóa hoa làm kỷ niệm?”.

Do đó, hai người mỗi vị ngắt một cành hoa mang về, không bao lâu Bá Đoan và thiền sư cùng một lúc mở mắt ra. Bá Đoan hỏi thiền sư: “Hoa của ngài đâu?”. Thiền sư vừa cúi đầu xem chỉ thấy hai tay không. Bá Đoan lúc ấy mới rút tay áo ra một cành Quỳnh hoa và cùng thiền sư vui cười.

Vì sự việc này, đệ tử hỏi Bá Đoan rằng:
“Thiền sư và tiên sinh cùng thần thông dạo chơi, vì sao thầy mang hoa về mà ông ta lại không có?”.
Bá Đoan nói:
“Ta gồm tu cả tính và mạng, do đó tụ thì thành hình, tán thì thành khí. Còn thiền sư thì cầu hiệu quả cấp tốc, chỉ tu tính mà không tu mạng, do đó đến chốn mà người khác không nhìn thấy ông, mà ông cũng không thể biến thành sự vật, đây so sánh vì sao ông có thể đến trước ta mà không thể mang hoa trở về”.

Mùa hạ niên hiệu Nguyên Phong thứ 5, Trương Bá Đoan ngồi kiết gà mà hóa, sống được 99 tuổi, đẹ tử của ông mang ông đi hỏa táng, được 100 viên xá lợi, màu sắc xanh đẹp, mọi người đều nói trong sách đạo thuật nghĩa là “ Xá Lợi Ki, Tử” là một thứ tướng lành của sự thành đạo.

   
TƯ VẤN CHƠN


Tư Vấn Chơn là người Đông Lai Duy Châu, ông có đạo thuật và nhà đại văn hào Âu Dương Tử thời đó là bạn thân. Có một hôm, bỗng ông muốn ra đi. Âu Dương Tử cầm giữ ông thế nào cũng không được, ông nói:
“Bạn đạo của tôi trách tôi kết giao với người quyền quý, do đó là trái phạm quy luật đạo”.

Âu Dương Tu không biết làm sao, đành sai đồng tử tiễn ông đi. Đi chưa được bao xa, quả nhiên có một người to lớn đội mão đứng đợi ở bên đường. Lúc đó, Từ Vấn Chơn lấy bầu châm rượu cho đồng tử uống một hớp, đồng tử vừa ngóng lên thì Từ Ván Chơn và người to lớn kia đâu mât không thấy.

Tù Vấn Chơn đã dạy Âu Dương Tử phương pháp để trị bênh thấp khớp chân. Tô Đông Pha có thực hành qua phương pháp này, quả nhiên linh nghiệm.
   
   
THẦN ĐỒ HỮU NHAI

Trần Đồ Hữu Nhai là người thời triều Tống, sống ở Nghi Hòa, ông thường mang theo mình một cái bình bằng sành. Có một hôm ông cùng mọi người sang sông, ông ở trên thuyền coi như không có ai bên cạnh, đưa rượu trong bình ra uống, uống say thì ói, dẫn đến mọi người trên thuyền đều ghét ông. Cuối cùng họ khiêng ông quăng xuống sông., lúc đó ông xách cái bình ra lay động từ từ lên bờ.

Sau khi lên bờ, Thần Đồ Hữu Nhai vừa chống gậy vừa hát:
“Khổng Tử không phải không hiền đức à, mà người đời không tha thứ ông. Các người đều ở trên thuyền ngu si, nhận không ra rồng ở trong người”.

Hát xong, ông đứng thẳng người nhảy vào trong bình, lúc ấy mọi người giật mình vây quanh xem. Họ vội đập bể cái bình, nhưng thấy cái bình trống không, hoàn toàn không có một bóng người.
   
   
LÔI ẨN CÔNG


Lôi Ẩn Công tên là Bổn, lúc thiếu thời lòng dạ quang minh chính đại không giống như đám trẻ con khác. Sau khi thành niên cũng không cầu tiến sỹ, chỉ ngồi tĩnh tọa cả ngày. Có người chê cười ông ngu si. Ẩn Công chỉ cười nói:
“Tôi không muốn đem cái ngu của tôi đổi lấy cái thông minh của ông”.

Có một hôm ông đưa toàn bộ đạo thuật của ông truyền cho con trai ông, từ đó đi ngao du không trở lại. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu đời Tống, có người ở La Phù Sơn, trông thấy ông ngồi ở dưới gốc cây tùng tự xưng là Lôi Ẩn Công.
   
   
SA -  Y  ĐẠO NHÂN

Sa Y Đạo Nhân nguyên quán ở Hoài Dương, họ A, tổ tiên của ông từng làm đại phu bàn luận triều chính. Đạo Nhân vì tránh loạn qua sông, lúc trẻ thi rớt tiến sỹ, cuối năm Thiệu Thánh ông đến Bình Giang.

Đạo nhân bình thường mặc đồ trắng, lâu ngày áo rách, dùng sa để vá. Có một lần ông ở trên hồ nước, bất ngờ thấy cái bóng của mình chiếu trên nước, lúc đó hoát nhiên đại ngộ, từ đó có người đến hỏi ông việc vị lai tốt xấu, ông đều có thể nói chính xác. Có người tới khám bệnh, ông chỉ cầm bụi cỏ cho người bệnh, bệnh liền khỏi. Cho đến một đôi khi, không tìm được cỏ thì bệnh không cứu được.

Hiếu Tông Hoằng đế mời ông làm quan, ông đều từ chối. Lại ban cho ông mấy bộ y hoa, ông không nhận. Sau này, không biết ông đi đâu.

Cách ngộ đạo giống như ông trong đạo giáo hiếm có, còn ở trong thiền môn thì thường thấy.
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, dieunha, quycoctu, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2011, 02:11:20 pm »

(tiếp theo)

VƯƠNG VĂN KHANH


Vương Văn Khanh là người Vũ Châu, Lâm Xuyên, ông tinh thông kêu mưa làm gió, có pháp thuật sai khiến quỷ thần. Tống Chính Hòa năm đầu, triều đình Mông Triệu Kiến, đang lúc gặp mưa lớn hoài không dứt, sợ trở ngại tiến hành điền lễ. Hoàng Đế bèn ngờ ông cầu đảo để mong mưa tạnh. Ông vừa định thần, lập tức mưa tạnh, sau khi điền lễ làm xong, trời tiếp tục mưa xuống nữa.

Có một lần Dương Châu bị đại hạn, thỉnh ông cầu mưa, ông liền vung kiếm phun nước nói: “Mượn ba thước sông Hoàng Hà dùng đỡ”.

Không bao lâu, thành Dương Châu quả nhiên mưa thật lớn, mà nước đều rất vàng, thật giống nước mượn từ sông Hoàng Hà cuồn cuộn lại.

Có một hôm ông nói với đệ tử rằng: “Trên Trời phía Tấy Bắc khi nổi mây đen lên nhanh thì bảo ta!”.

Không bao lâu, quả nhiên xuất hiện một đám mây đen, ông lập tức tĩnh tọa mà mất, phảng phất cùng đám mây đen nhỏ giống như có hẹn ngầm cái gì đó.
   
   
LƯU ÍCH

Lam Ích là người Lam Điền, ẩn cư ở Trực Am Lư 60 năm ròng. Da thịt của ông trắng trong như ngọc.Bình thường, dù cho ông đi bộ trên đường sình lầy, người khác cưỡi ngựa cũng không đuổi kịp.

Tống Huy Tông đối với ông rất trọng hậu, nhưng Lưu Ích không động lòng chút nào. Ông chỉ muốn ẩn cư trong núi sâu, tránh xa sự vinh hoa phú quí.

Huy Tông niên hiệu Tuyên Hòa năm cuối, ông thường nói với người ta, núi sông cây cỏ có mùi tanh khó ngửi. Không bao lâu sau, ông đắc đạo thành tiên. Khi ông qua đời kim binh thiết kỵ theo xuống phương nam, mùi tanh khét y như ông đoán.
   
   
TÔN MẠI NGƯ

Tôn Mại Ngư tên thật của ông chưa ai biết, chỉ biết rằng ông bán cá ở chợ Sở Châu. Có một năm lúc mùa hè, ông gặp một vị đạo sỹ nói với ông rằng:

“Cá của người sắp chết hết, nếu như người chịu mời ta uống rượu, ta có thể khiến cá của người chết rồi sống lại”.
Lúc đó, Tôn Mại Ngư liền mời ông ta đi uống rượu cả một đấu rượu, đạo sỹ vừa uống rượu vừa luận đạo với ông. Sau khi đi rồi, cá cũng sống lại liền, từ đó Tôn Mại Ngư có thể tiên đoán họa phước, linh nghiệm không lường.

Khoảng năm Tống Tuyên Hòa, triều đình mời gặp ông và ban cho ông hiệu là Trần Ẩn Xứ Sỹ. Không bao lâu ông về Sở Châu. Đầu năm Tĩnh Khang, có một hôm không có duyên cớ gì ông tự nhiên khóc lớn, không ai biết nguyên nhân gì. Sau đó, mới hiểu, hôm đó Biện Kinh bị thất hãm, ngày mất nước của Bắc Tống.
   
   
NGỤY NHỊ ÔNG

Ngụy Nhị Ông là người ở Bộc Châu Lôi Trạch, từng được gặp dị nhân mà đắc đạo. Ngày thường ông cầm quạt Hương bồ, tiên đoán việc họa phúc, không chi chẳng linh nghiệm, do đó người trong làng rất tôn trọng ông.
Mùa đông năm ấy ông tự tay mình may áo để chống lạnh rét. Buổi tối đó có tên trộm rình định lấy đồ. Nhị Ông bèn kêu đúng tên của nó, do đó kẻ ăn trộm đều hoảng chạy.

Tống Huy Tông mộ cao danh của ông, từng phái người đến mời và thăm hỏi ông. Sứ giả đến cổng nhà của ông, chỉ nghe tiếng ngáy như sấm, lại tìm khắp nơi không gặp. Sau đó, chỉ tìm được một tờ giấy trong nhà, viết mấy câu nhận lời xã giao. Sứ giả đem tờ giấy trình lên Hoằng đế, rốt cuộc là tờ báo cáo kết quả.
   



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, dieunha, quycoctu, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 07:34:50 am »

(tiếp theo)

LÂM LINH TỐ


Lâm Linh Tố tự là Thống Tẩu, người Vĩnh Gia. Mẹ của ông một lần nằm ngủ trong phòng  mơ thấy mây hồng phủ khắp người, sau đó mang thai ông. Hai mươi bốn tháng sau, có một hôm mộng thấy thần nhân mặc áo bào xanh đai ngọc, mắt chiếu sáng như ánh mặt trời, cầm cây bút nói với bà:
“Ta muốn đến đây ở nhờ!”.

Ngày thứ hai, Lam Linh Tố khóc oa oa sinh ra. Khi sinh ra, ánh sáng vàng đầy khắp nhà, nhưng ông không biết nói chuyện mãi đến lúc năm tuổi. Sau này, có một đạo sỹ không mời tự đến, nhìn Lâm Linh Tố mà nói với ông rằng: “Lâu lắm không gặp, tôi riêng biệt đến thăm”.

Hai tiếng vỗ tay cười lớn, thật kỳ lạ, từ đó Lâm Linh Tố có thể nói chuyện được luôn. Không những thế, năm lên bảy tuổi ông còn biết làm thơ, mỗi ngày viết ít nhất cũng hơn một vạn chữ. Đại thi nhân đương thời Tô Đông Pha đưa Lịch Thư cho ông đọc, ông xem qua đều thuộc lòng hết. Tô Đông Pha rất kinh ngạc bèn khen ngợi ông rằng: “Đứa trẻ này thông minh hơn ta, công danh phú quý dễ như nhổ nước bọt trên tay!”.

Không ngờ, Lâm Linh Tố cười nói:

“Sanh tiền phong hầu, chết rồi lập miếu, cuối cùng chỉ là đường quỷ, chí ta không ở chỗ này”.

Năm 20 tuổi, ở Tây Lạc ông gặp một vị đạo sỹ họ Triệu, dạy cho ông thuật biến hóa của thần tiên, từ đó ông có khả năng kêu mưa gọi gió, trừ đuổi quỷ quái, sai khiến tinh linh, không việc gì mà chẳng làm được. Năm thứ hai ở tửu lâu Lạc Dương lại gặp vị đạo sỹ họ Triệu, đạo sỹ nói với ông:

“Ta là Triệu Thăng, dạy đạo thuật cho ngươi nên cẩn thận mà làm. Không bao lâu sẽ được phong Thần Tiêu Giáo Chủ, kiêm lĩnh Lôi Đình đại phán quan, để phụ tá Đông Hoa Đế Quân.

Niên hiệu Sùng Ninh thứ năm, đêm rằm tháng tám, Tống Huy Tông mộng đi tới Thần Tiêu phủ, và được mời thăm Ngọc Đế. Ông bay lên hư không mà đi, xa xa trông thấy ngoài cửa trời có một người, đội mũ thất tinh, mặc đại bào, tay cầm ngọc khuê, dẫn ông đi vào cửa trời. Trên cửa có tấm biển màu hồng đề: “Thần Tiên Ngọc Quyết chi môn”. Lại đi ngang qua một ngôi tiểu viện đề: “Ngọc Khu viên”, có vị quan sử mặc áo hồng đón Tống Huy Tông đi, nói với ông:

“Ở đây chính là chỗ tiếp ngài”.

Sau khi gặp Ngọc Đế, Ngọc Đế truyền chỉ rằng: “Người nên nhậm dụng trung hiền, gạt bỏ gian tà để bảo hộ xã tắc”.

Huy Tông từ cửa trời đi hơn 100 bước, trông thấy một vị đạo nhân mặc áo xanh mão lam, cưỡi con trâu xanh đi lên trời tiền hô hậu ủng, uy nghi lẫm liệt. Ông đến trước mặt Huy Tông hô lớn một tiếng: “Vạn tuế”. Sau đó, trâu xanh đi thẳng lên cửa trời.

Huy Tông sau khi tỉnh dậy, nhớ lại toàn bộ trong giâc mộng, vẽ lại tỉ mỉ (Tống Huy Tông còn là một họa sỹ nổi tiếng). Năm Đại Quan thứ 2, ông ra lệnh tìm cầu đạo sỹ trong thiên hạ. Mâu Sơn Tông, Sư Thôi Tồn, Lâm Linh Tố. Huy Tông hỏi ông:
“Ngài có pháp thuật gì?”.

Linh Tố đáp: “Thần trên thông cõi trời, giữa biết nhân gian, dưới biết địa phủ. Đêm trung thu năm rồi tôi gặp Ngọc Đế, trên đường đã bái chào, nhận ra thánh nhan của bệ hạ”.

Huy Tông như sực nhớ, nói:
“Trẫm nhớ lại, trâu xanh của ngài cưỡi bây giờ đâu rồi?”.

Linh Tố đáp: “Gửi nuôi ở nước ngoài, không bao lâu có thể hiến cho bệ hạ”.

Huy Tông rất tán thưởng Lâm Linh Tố, thường mời ông vào cung, mời ông sang đính kho Kinh Sử đạo, Hoàng  Đế thậm chí trọng ông như thầy, đặc biệt xây dựng Thần Tiêu Cung. Ngày khánh thành cung, Hoàng  đế ra lệnh bá quan vào cung vui chơi, ông lúc đó trong lòng nổi hứng còn ngâm một câu thơ:

“Tuyên đức ngũ môn lai vạn quốc”.

Quan thần đương nhiên Thẩm  ngâm cả buổi cũng không ngâm tiếp được, không ngờ Lâm Linh Tố lên tiếng nói:
“Thần Tiêu nhất phủ tổng chư thiên”.

Huy Tông trong lòng rất vui, từ đó với Linh Tố càng nhìn với con mắt khác.

Năm Chính Hòa thứ 7, nước Cao Lệ (bây giờ là Hàn Quốc) tiến cống con trâu xanh, Huy Tông vừa nhìn rất mừng, bèn mang trâu ban cho Lâm Linh Tố.

Đầu năm Trọng Hòa, Hoa Sơn vì xây dựng điện Tam Thanh, lúc đào móng phát hiện một cái hộp, trong hộp có một quyển sách thư pháp giấy bằng vàng, trình lên Hoàng  đế. Không ngờ, Lâm Linh Tố trong tay đã có một phần, hai bên đối chiếu không sai một chữ. Huy Tông vẫn không phục, bèn nửa đêm tự tay viết một bức thư dâng lên Ngọc Đế, Sáng sớm ngày thứ 2, Hoàng  Đế hỏi Lâm Linh Tố:

“Tối hôm qua trẫm thượng biểu cho Ngọc Đế,  không biết Ngọc Đế nhận được chưa?”.
Lâm Linh Tố bình tĩnh đáp:
“Vẫn chưa được, khổ nỗi trong tờ biểu của bệ hạ viết sai một chữ, tôi không dám chuyển đến thượng tấu chuyện này”.

Nói xong, ông bèn đọc thuộc lòng tấu chương của Hoàng  Đế từ đầu đến cuối một lần, vang vang từng tiếng không sai một chữ. Huy Tông rất là nể phục, lúc đó vỗ vai Linh Tố nói: “Tiên sinh thật không hổ là thần tiên”.

Nhân đây, ban hiệu “Kim Môn Vũ Khách”.

Có một lần Lâm Linh Tố đãi tiệc ở dưới lầu Thái Thanh, trông thấy một cái bia của những người theo đảng Nguyên Hựu, thì cúi đầu chào. Hoàng  Đế hỏi ông vì lý do gì, ông nói:

“Khắc trên bia này đều là tinh tú ở trên trời, thần làm sao không cúi đầu”.

Chỗ ở thường ngày của Lâm Linh Tố luôn luôn đóng cửa, dù cho Hoàng  Đế cũng không mở vào. Gian thần Tế Kinh nhân cơ hội này nói nhỏ với Hoàng  Đế:

“Lâm Linh Tố trong nhà có trướng Hoàng  La, giường bằng vàng ròng, ghế bàn đều bằng châu đỏ, tự coi mình bằng đế vương, do đó không dám để Hoàng  Đế trông thấy! Bệ hạ không tin có thể đích thân tới kiểm tra bất ngờ!”.

Huy Tông nửa tin nửa ngờ, lúc đó đến Thần Tiêu Cung cùng Tế Kinh xông xáo vào nhà Lâm Linh Tố, nhưng chỉ thấy vách tường cửa sổ trống, bàn ghế hai cái, ngoài ra ông không còn cái gì khác. Tế Kinh thấy thế không lợi, bèn vội vã cúi đầu nhận tội. Lâm Linh Tố hỏi ông có việc gì, Hoàng  Đế nói mọi chuyện cho ông nghe, Lâm Linh Tố cười, dùng tay chỉ lên vách tường, liền xuất hiện một tòa lầu vàng điện ngọc, long sàng la trướng, gồm thiết bị ngự dùng, có thể nói muốn gì có nấy. Huy Tông thấy như thế cũng thẫn thờ hết cười, nói:

“Tiên sinh dựa hết vào thần thông du hí, so với trẫm giàu sang hơn nhiều!”.

Qua mấy năm, Linh Tố thấy triều đình ngày mỗi sai trái, lúc đó dâng sớ lên Hoàng  Đế, đau đớn vạch trần thói xấu của Tế Kinh, và khuyên Hoàng  Đế sửa lỗi lầm làm lành, không thì sao chổi hiện ra khó có thể tránh. Và ông cáo biệt Hoàng  Đế, trốn khỏi cung đình, Nguyên trước kia Hoàng  Đế thưởng cho ông 300 gánh trân bảo, một khu nhà ở cũng trả lại Hoàng  Đế luôn.

Có một hôm ông nói với đệ tử Trương Như Hối rằng:

“Cõi trần không thể lưu luyến lâu, huống là họa lớn sắp đến, bây giờ ta muốn đi, sau này gặp lại ở Thần Tiêu trên trời”.

Nói xong, ngồi ngay thẳng nhắm mắt qua đời.

Lâm Linh Tố đi về tiên không bao lâu, người Kim quả nhiên xuống phương Nam, bắt Huy Khâm Nhị đế.
   
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 07:38:23 am »

(tiếp theo)

LÝ TỴ THẾ

Lý Tỵ Thế là người triều Tống, niên hiệu Thiệu Thánh năm đầu. Danh nhân đương thời Lưu Diên Trọng ngụ ở Tứ Châu, từng có đạo nhân đi ngang qua cổng nhà ông, bên đường có người hướng về ông cầu thuốc, ông ta liền dùng nước mũi với cáu ghét trên người vo thành viên, uống vào lập tức khỏe liền, do đó mọi người gọi ông là “Lý Tỵ Thế”.

Lưu Diên Trọng thấy hành động kỳ lạ bèn mời ông ngồi nói với ông: “Đáng tiếc hôm nay tôi không có rượu đãi ngài”.
Đạo nhân cười đáp lai:

“Trên đầu giường của ngài có bình rượu Trân Châu Truyền, sao không lấy ra đãi khách?”.

Lưu Diên Trọng rất hổ thẹn, vội kêu đầy tớ lấy rượu lại, Đạo nhân lại nói:

“Không cần khách sáo, chỉ cần lấy bình không lại là được rồi”.

Đạo nhân cùng Lưu Diên Trọng lấy giấy trùm lên bình rượu, trong chốc lát mùi thơm ngọt ngào bay bốn phía, một bình rượu ngon đã để trước mặt.

Mọi người ngồi ở đấy không ai không say bí tỷ.

Ngày thứ 2 Lưu Diên Trọng lại mời khách quý khác tới, muốn khoe khoang Trân Châu Truyền của ông một lần, không ngờ trong bình rượu trống rỗng trống lơ, không còn một giọt rượu nào cả.
   
   
VƯƠNG KIẾT


Vương Kiết hiệu là Trùng Dương Tử, người Hàm Dương. Mẹ ông nằm thấy giấc mộng kỳ lạ mà sinh ra ông. Ông thân thể khôi ngô, tướng mạo cao lớn, năm 20 tuổi thi đậu tiến sỹ, tài trí mẫn tiệp, văn chương vang dội khắp nơi.
Đầu năm Phụng Xương, địa phương bị nạn đói khát, cho đến người ta phải ăn thịt lẫn nhau. Vương Kiết gia đình giàu có, bị dân làng cướp giật hết trơn, quan lính bắt kẻ trộm dẫn tới Vương Kiết, ông lại nói: “Tôi không nhẫn tâm để họ chết, tha cho họ đi”.

Có một hôm ông gặp Lữ Thuần Dương, Lữ Tiên truyền cho ông khẩu quyết tu tiên, và nói với ông rằng:
“Nhanh đi đến Đông Hải, đến nhờ Đàm bắt ngựa”.

Nói vừa xong, Lữ Tiên tiêu mất không thấy.

Vương Kiết lúc đó dẫn vợ và con gái đưa về nhà mẹ vợ, tự mình đi đến Đông Hải.

Vương Kiết quang minh chính đại không bị ràng buộc, người đời đều gọi ông là “Vương Hạ Phong”. Ông thường cầm cái lon sắt đi ăn xin, đi qua Lam Điền, Đăng Châu, Côn Lôn. Đi theo sau ông là Mã Ngọc, Đàm Ngọc, Lưu Xứ Huyền, Khưu Xứ Huyền đều là đệ tử của ông.

Có một hôm ông làm thơ cáo biệt mọi người, rồi ngồi ngay thẳng qua đời, năm 58 tuổi. Mã Ngọc được ông truyền dạy, cùng 3 người nữa là Đàm, Lưu, Khưu tiếp tục vì Tống Minh. Triều đại nhà Nguyên năm thứ 6 triều đình truy tặng ông là “Trùng Dương Toàn Chân Khai Nguyên chân quân”, ông trước tác có “Thao quang tập” lưu truyền ở đời.

   
   
MÃ NGỌC


Mã Ngọc là người Ninh Hải, vợ ông là Tôn Tiên Cô. Ông lúc đầu tên là Tùng Nghĩa tự là Nghi Phủ, sau này đổi tên là Ngọc, hiệu Đơn Dương Tử. Mẹ ông khi mang thai mộng thấy Ma Cô ban cho một viên đơn, nuốt vào liền tỉnh dậy. Ông sinh ra vào thời Kim Thái Tông, niên hiệu Thiên Hội năm thứ 5.

Mã Ngọc lúc nhỏ thích đọc thi biên về cưỡi mây cưỡi hạc, thời đấy có một đạo sỹ tên là Lý Võ Mộng, vừa thấy ông liền biết diện mạo phi phàm, ông nói với Mã Ngọc rằng:

“Trên trán của người nổi lên như ba ngọn núi, tay dài quá gối, là tướng của Đại tiên”.
Có một hôm Vương Trùng Dương tổ sư từ Chung Nam Sơn tới thăm ông, nói với ông là “Túc hữu tiên duyên”. Vương Trùng Dương ăn dưa, ăn luôn cả cuống dưa. Mã ngọc hỏi ông vì sao thế, ông nói đây là ngọt từ trong đắng mà có.Mã Ngọc lại hỏi ông, ông đáp:

“Ta không từ ngàn dặm xa đến, đặc biệt vì dùi dắt người say mà tới”.

Mã Ngọc trong lòng tỉnh ngộ, thì ra ông ta từng đi ngang qua đấy làm một bài thơ, trong thơ có câu: “Túy trung khước hữu na nhân phù” (trong lúc say lại có người đó dùi dắt). Đo đó, Mã Ngọc biêt Vương Trùng Dương là bậc đạo sỹ, lập tức bái ông làm thầy.

Lúc trước Mã Ngọc từng mộng thấy một con hạc vọt lên, ông liền tới chỗ đó xây một tòa Nam Viên, để thờ cúng Trùng Dương và đặt tên là am là “Toàn Chân”. Không bao lâu, Trùng Dương có ý đi chơi phương Tây, còn Mã Ngọc không có cách nào bỏ lại gia nghiệp, Trùng Dương dùng các thứ phương cách điểm hóa cho ông. Có một lần ông kêu Mã Ngọc khóa của am lại, mỗi ngày chỉ ăn một lần, lúc đó gió tuyết từ bốn phương tám hướng thổi vào trong am, Trùng Dương thần sắc thoải mái như ngồi trước gió xuân, mà mỗi ngày còn lấy ra lê, khoai lang ăn. Mã Ngọc trông thấy hình ảnh ấy mới nhất định quyết tâm lấy tài sản chia cho ba đứa con, cùng Trùng Dương đi đến động Yên Hà, còn vợ ông Lưu Tiên Cô thì ở lại am tu hành.

Như vậy, trải qua hơn 20 năm, một hôm Mã Ngọc nói với đệ tử rằng:

“Hôm nay sẽ có chuyện hay xảy ra mà nghĩ không tới được”.

Tôn Tiên Cô đang cưỡi mây bay qua, tiên đồng, ngọc nữ tiền hô hậu ủng, uy nghi mười phần trang nghiêm. Tôn Tiên Cô cúi đầu nói với Mã Ngọc rằng:

“Tôi đi đến trước tiên đảo Phùng Lai đợi ngài”.

Chiều hôm đó, bỗng nhiên mưa gió rất lớn, sấm chớp ầm ầm, Mã Ngọc lấy cánh tay gối đầu, an nhiên qua đời. Ông chết rồi còn để lại bài thơ, nói:

“Trường niên sáu mươi mốt
Ở đời không người biết
Sấm dữ gầm một tiếng
Bồng bềnh theo gió đi”
   
   
TÔN TIÊN CÔ

Tôn Tiên Cô hiệu là Bất Nhị, hiệu là Thanh Tịnh Tán Nhân, là vợ của Mã Ngọc. Hai vợ chồng đều người Ninh Hải. Mẹ của bà mộng thấy hạc trắng vào thai mà sinh ra bà.

Tiên Cô từ nhỏ đã thông tuệ, nhân từ. Tổ Sư Trùng Dương từ núi Chung Nam tới, hai vợ chồng đối với ông kính như thần minh. Một hôm Trùng Dương quá say rượu, nằm ngủ trên giường của Tiên Cô, Tiên Cô nổi giận kêu đầy tớ khóa cửa lại và nói với Mã Ngọc. Mã Ngọc rất kinh ngạc, ông nói Trùng Dương lúc đó đang luận đạo với ông, không rời nửa bước. Hai vợ chồng vội vã đi xem, chỉ thấy phòng trống không, còn Trùng Dương đang ngủ ngáy khò khó ở một gian phòng khác. Hai vợ chồng từ đó đối với ông càng kính trọng.
Tôn Tiên Cô ở Lạc Dương sáu năm thành đạo, một hôm bà nói với đệ tử muốn đi Diêu Trì, lúc đó tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ mới, làm một bài thơ nói:

“Tam thiên công mãn siêu tam giới.
Đào xuất âm dương bao lý ngoại
Ẩn hiện tung hoành đắc tự do
Túy hồn bất phục qui Ninh Hải”.

Dịch nghĩa là:

“Đầy đủ 3000 công đức vượt ngoài ba cõi
Nhảy ra khỏi sụ bao bọc của âm dương
Lúc ẩn hiện qua lại được tự do
Hồn say không trở lại Ninh Hải”.

Viết xong, sau đó ngồi kiết gà mà hóa, mùi hương thoang thoảng xa mấy ngày không tan.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 07:41:30 am »

(tiếp theo)

ĐÀM XỨ ĐOAN


Đàm Xứ Đoan tự là Thông Chánh, đầu tiên tên Ngọ, hiệu Trường Chân Tử, người xứ Ninh Hải. Ông tướng mạo phi phàm, năm 6 tuổi lọt chân xuống giếng không những không chìm mà còn an nhiên ngồi trên mặt nước. Lại có một lần trong nhà bị tai nạn lửa cháy, cột nhà gãy rớt xuống trước giường ngủ, còn Xứ Đoan thì đang ngủ, người nhà kêu ông dậy, tinh thần ông thản nhiên mảy may không vội vã.

 Khi ông 10 tuổi, làm một bài thơ vịnh Bồ đào rằng: “Nhất triều hành thượng long giá, kiến giã nhân nhân ngưỡng diện khang”. Ông là một người rất hiếu thuận, học rộng nhiều tài,  nhất là giỏi chữ thảo, chữ lệ. Có một lần ông say nằm trong tuyết, bị lạnh mà tê liệt, ông chỉ phải niệm thầm kinh Bắc Đẩu để cầu khỏe mạnh.

 Bỗng nhiên có một hôm ông mộng thấy một chiếc chiếu lớn bay ngang qua hư không, phía trên có các vị tinh quân ngồi, ông lập tức cúi đầu bái, sau khi tỉnh dậy tình trạng bệnh như không có gì, từ đó ông quyết lòng học đạo.

Kim Thế Tông niên hiệu Đại Định năm thứ 7, ông nghe nói Tổ sư Vương Trùng Dương nhà ở Mã Đang Sơn, ông vội vã đến bái làm thấy. Vương Trùng Dương đối với ông cũng rất tán thưởng, mời ông ở lại trong am, lúc ấy trời lạnh đóng băng.

Vương Trùng Dương ôm ông lại, vừa mới một chút thôi ông đã nóng đổ mồ hôi ròng ròng, giông như ngồi trên lò lửa. Ngày thứ hai, Vương Trùng Dương lại kêu ông dùng nước rửa tay dư đem rửa mặt, không ngờ mặt của ông đang mệt nhọc bỗng thấy khỏe khoắn. Sau này, ông đi theo Vương Trùng Dương đến núi Côn Lôn. Có một hôm ngồi nghỉ ở Tân Hưng Phủ Quận miếu, tùy tùng thì đên Vệ Châu, Tăng Hương miếu, là miếu quan của Ôn Lục, nửa đêm bỗng nhiên trong am đèn đuốc sáng trưng, ông trộm nhìn xuống phát hiện, thấy Xứ Đoan đối mặt với lửa ngồi một mình.

Ôn Lục hướng về phía trước lạy, Xứ Đoan mỉm cười không nói từ từ đi ra. Ôn Lục ở trong am đợi Xứ Đoan, cuối cùng cũng không chịu nổi, liền chạy ra ngoài tìm, tìm khắp nơi cả buổi không gặp. Ông vội kêu người đi đến Vệ Châu hỏi, tin tức được truyền lại nói, Đàm Xứ Đoan từ lúc đến Vệ Châu, vốn không đi ra ngoài nửa bước. Ôn Lục lúc này mới tin ông chỉ gặp dương thần của Xứ Đoan.

Sau này Đàm Xứ Đoan đến Từ Châu khuất thực, có một người điên vô cớ tát ông gãy răng chảy máu, mà thần khí ông vẫn không biến sắc chút nào, chỉ lãnh đạm nói:

“Ta nên cảm tạ thường ngày thầy từ bi dạy dỗ”.

Lúc đó, Vương Trùng Dương ở trong am nghe thấy sự việc này, khen ông rằng:

“Cái đánh này sẽ tiêu diệt mọi cái xấu xa của Xứ Đoan trong đời thường”.

Không bao lâu, ông đến huyện Cao Đường, lấy bút lớn viết hai chữ “ Quy Xà” tặng cho chủ quán Ngô Lục. Ngô Lục đem treo trong quán. Mấy ngày sau, dân làng bị lửa cháy, chỉ có nhà Ngô Lục không bị tai nạn gì cả. Do đó, mọi người nói hai chữ đó là bùa tránh lửa của Lữ Động Tân.

Ông đi chơi về hướng đông đến Dương Võ, ban đêm thấy sao Bắc Đẩu dời vị trí, xoay như bánh xe. Ông liền nói với Thạch Khổng: “Ở đây không bao lâu nữa sẽ xảy ra thủy tai”. Đến năm đó, quả nhiên Hồng Hà vỡ đê. Đàm Xứ Đoan cuối cùng cũng thành tiên, ông có trước tác quyển “Thủy Vân tiền hậu tập” lưu truyền ở đời.

   
   
DƯƠNG QUẢNG CHÂN


Dương Quảng Chân người Nghiêm Châu, bà xuất giá sau này bị bệnh thiếu máu, đêm nằm mộng thấy Đạo nhân cho bà thuốc uống, do đó mà hết bệnh, từ đó bà không ở chung với chồng nữa mà di xa ở xứ khác học đạo. Bà lạy Hà Tiên Cô làm thầy, khoảng năm Tống Thuần Hi bà đang ngồi ăn cơm ở nhà một người bạn, bỗng nhiên có người đứng ngoài cửa kêu bà, bà ra cửa xem, có ba vị tiên nhân đến đón bà. Họ dẫn bà đến bờ biển lớn, nhảy lên lưng con tôm lớn mà đi qua biển cả. Tiên nhân hỏi bà:

“Bà có muốn vượt phàm trần vào cõi thánh? Hay vẫn muốn ở thế gian? Hay là đổi lốt thành tiên?”.

Ba trả lời:

“Mẹ tôi vẫn còn sống, mong muốn cả đời phụng dưỡng bà cụ”.

Tiên nhân lúc đó dạy bà cách ở lại thế gian, và tặng bà một viên đan, từ đó bà không cần ăn uống. Bà là một hiếu nữ trong các vị thành tiên.
   
   
KHƯU XỨ CƠ

Khưu Xứ Cơ tự là Thống Mật, hiệu Trường Xuân Tử, người Đăng Châu, từ nhỏ thông minh, năm 19 tuổi dời về ở núi Côn Lôn. Sau này ông nghe nói Vương Trùng Dương ở am Toàn Chân biển Ninh Hải, lập tức đi đến bái làm thầy.

Không bao lâu Vương Trùng Dương quy tiên, ông cùng ba người nữa là Mã Ngọc, Đàm Xứ Đoan, Lưu Trường hộ tống di thể của sư phụ, an táng ở núi Chung Nam, và còn che trại ở bên mộ  3 năm mới đi.

Kim Thế Tông đối với ông rất trọng hậu, nhưng ông tính tình đạm bạc thà về ẩn cư ở núi Chung Nam chớ không chịu nhận 10 vạn tiền của Thế Tông ban cho. Nguyên Thái Tổ từng hướng về ông hỏi đạo, ông trả lời rằng:

“Đời người sau khi 40 tuổi, khí huyết dần dần suy yếu, nên tu đức bảo hộ thân, để bảo dưỡng thiên niên”.

Ông còn tiến thêm một bước nữa khuyên Hoàng  đế tiết dục, không thể ỷ lại vào các vị thuốc. Ông nói thuốc ví như cỏ, tinh thần cũng như tủy, bỏ tủy mà thêm cỏ cũng như trong kho vàng, bỏ vàng mà đổi sắt, dần dần vàng hết sạch chỉ còn sắt, đối với thân thể này có lợi ích gì? Ỷ lại thuốc men là việc làm ngu muội, bỏ gốc theo ngọn vậy”.

Nguyên Thái Tổ lại hỏi ông về đạo trị nước, ông trả lời rằng:

“Đạo cai trị phải kính trời, thương dân, lòng trong sạch ít ham muốn”.

Thái Tổ nghe rồi trong lòng rất vui, ban thưởng rất hậu nhưng đều bị Xứ Cơ từ chối.

Có một hôm Khưu Xứ Cơ tay cầm một cành hoa lê tặng cho Trương Khứ Hoa. Trương Công đem hoa trồng ở trong bình, đến mùa thu tự nhiên trổ được 24 đóa hoa.

Lại có một lần, một gốc cây hòe của Dương Tường Quan bị khô chết, Khưu Xứ Cơ dùng gậy đập, trong miệng ngâm rằng: “Cây hòe sống lại”. Gốc cây hòe này quả thật sống lại tươi tốt, mãi cho đến triều Minh vẫn tươi phơi phới.

Đến triều Nguyên năm thứ 6, Đông hồ nước cạn, Bắc Khẩu núi lở, Khưu Xứ Cơ nói:

“Đây là điềm báo ta sắp xa trần thế”.

Mồng chín tháng sáu năm đó, ông lên Bảo Huyền Đường, miệng bói một bài thơ nhỏ, ngồi yên lặng mà hóa.

Khưu Xứ Cơ hưởng thọ 80 tuổi, ông có trước tác “Phan Khuê Minh Đạo tập” lưu truyền ở đời.
   



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 07:45:16 am »

(tiếp theo)

HÁCH ĐẠI THÔNG

Hách Đại Thông tự là Thái Cổ, hiệu Điềm Nhiên Tử, cũng là người Ninh Hải. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, thờ mẹ rất hiếu thảo, thường mộng thấy thần nhân dạy nghĩa Huyền ảo về Châu Dịch, từ đó tinh thông âm dương, ngũ hành, tinh tường bói quẻ. Khi Vương Trùng Dương đến Ninh Hải, rất chú ý tới ông, do đó mà điểm hóa ông ngộ đạo. Sau này ông ở Cổ Sơn gặp thần nhân, dạy ông Kinh Dịch, từ đó tiên đoán kiết hung không việc gì không linh nghiệm.

Hách Đại Thông có một lần ngồi dưới cầu Triệu Châu, mặc nhiên không nói, có một đám con nít nghịch ngợm hiếu kỳ lấy gạch đá chất trên đầu ông, chất thành một cái tháp gạch, còn dặn ông không được đụng đậy một viên gạch nào. Hách Đại Thông không nhúc nhích tý nào, nước sông dâng lên ông cũng không tránh, ngồi ngay thẳng như vậy qua 6 năm, đỉnh của tháp gạch cũng y như ban đầu.

Niên hiệu Bảo Quanh năm đầu, ông ngồi hóa ở Tiên thiên Quan, Ninh Hải, hưởng thọ 73 tuổi. Đạo nhân có pháp thuật rất nhiều nhưng thứ định lực như ông thật là hiếm thấy.
   
TỬ ĐÁN

Tử Đán là người Trần Lưu, thầy của ông là Mã Ngọc và Khưu Xứ Cơ. Ông từng đặt hiệu là Ninh Chân Tử, người ta gọi ông là Tử Tiên Ông.

Ông từng đi chơi qua Tế Nam, đến lâu đài của Trịnh Châu đời nhà Kim khoảng niên hiệu Thái Hòa, trời rơi tuyết lớn, dày hơn một trượng. Tử Đán không đi ra khỏi nhà, liên tục mười mấy ngày trời.Mọi người đều cho ông chắc chắn đã chết rồi, đợi băng tuyết tan ra, sau đó họ phát hiện ông vẫn ngôi ngay thẳng, không một chút có vẻ đói lạnh.

Khoảng niên hiệu Trịnh Hựu, đại binh phá ở Quan Ích, quân dân kinh sợ, Tử Đán lại nói không phải lo sợ, sau đó quả nhiên như lời ông nói. Ai Tòng bôn tẩu đến Tế Châu, hỏi làm sao thành trì thiên hạ đều bị chiếm đóng, chỉ riêng có thành này không bị phá vỡ. Mọi người đều đồng lời bởi vì có Tử Đán ở trong. Không bao lâu Tử Đán quan đời, vẫn chưa an táng, ngày thứ hai thành Tế Châu liền bị địch công phá luôn.
   
   
MẠI KHƯƠNG ÔNG

Lai lịch của Mại Khương Ông không rõ ràng, chỉ biết ông từng gánh gừng bán ở chợ Hoành Châu hơn 30 năm mà dung mạo vẫn không già yếu chút nào.

Có một hôm ông ở trong quán trà gặp một đạo nhân, đạo nhân đó nói với ông rằng:
“Ta sẽ luyện kim thuật, rất muốn tìm người có đức truyền thọ cho ông”.

Mại Khương Ông không nói không rằng, từ trong đòn gánh lấy ra một cử gừng để vào trong miệng, một lát sau nhổ ra cục vàng.

Đạo sỹ thấy thế, hai người bất giác nhìn nhau mà cười. Họ liền cùng đi ra khỏi quán trà, từ đó không thấy tung tích hai vị này nữa.
   
   
CHÂU QUẤT


Châu Quất tự Thùy Dương, người Hoài Tây. Mẹ ông nằm mộng thấy nuốt một vì sao sáng lớn bằng cái đấu, do đó mà mang thai, mang thai 15 tháng vẫn chưa sinh được, do đó cả ngày bà buồn bã không vui. Có một hôm trước cổng nhà có một đạo sỹ tới, trên tay cầm một trái quýt nói:

“Ăn trái quýt này người sẽ sinh dễ dàng”.

Mẹ ông rất mừng, há mồm nuốt luôn. Sau đó bà hỏi đạo nhân cho biết quý danh, đao nhân chỉ nói:
“Tên tôi Cúc Quân Tử”

Lại vừa nói xong biến mất không thấy. Qua chưa được một giờ, Châu Quất quả nhiên khóc oa oa ra đời, cha mẹ của ông nhân đó mà đặt tên cho ông là Quất.

Châu Quất tuy riêng có huệ căn, nhưng trên đường công danh lại không thuận toại, hai lần ông thi hương đều rớt, bất giác có tâm chán nản. Một hôm ông đang bồi hồi buồn bã ngồi bên hồ, vô ý thấy bóng mình trong hồ nước, bỗng nhiên trong lòng có nhớ ngộ, từ đó chán ghét công danh mà quyết tâm tu đạo.

Có một hôm ông lại gặp vị đạo nhân đó, đạo nhân vẫn cầm trái quýt trên tay cuống cuồng điên điên vừa đi vừa ca. Ông hát rằng:

“Trái quýt a trái quýt
Không có người biết ngươi a
Chỉ có người họ Châu kia
Ông rốt cũng hiểu người”
Mọi người trên đường đều ngó ngang tránh đi, chỉ có Châu Quất trong lòng có chỗ cảm, ông theo đạo sỹ đến ngoại thành, mật thiết vừa bái nói:

“Ngài đây chẳng phải là Cúc Quân Tử à?”.

Châu Quất nói tên họ thật của mình cho ông biết.

Đạo nhân lại hỏi ông rằng:

“Đời người giàu sang cũng như bọt bèo trên mặt biển, như đám mây nhỏ trên không trung, đâu có đủ để luyến mến, chỉ có đạo thần tiên bất tử là chỗ tôi hướng tới.

Đạo nhân trông thấy thời cơ đã chín, lúc đó liền điểm hóa ông, và trao giới cho ông, muốn ông đến Hoãn Công Sơn xây nhà.tu luyện. Chỉ có đạo là nên làm theo Sau này có ngươi đi vào núi trông thấy một đứa trẻ trắng trong như ngọc, đi nhanh như sao xẹt, mới thấy trước am lập túc không thấy liền. Chỉ thấy Châu Quất ngồi ngay ngắn trong am. Mọi người đều hiểu đứa bé ấp là phân thân của ông.

Có một ngày nọ ông nói với một người cùng quê là Trần Đại rằng:

“Hôm nay ta muốn đứng trước Huyện Nha mà hóa, mong ông dùng đất sạch mà lấp trên thân tôi”.

Trần Đại y theo lời ông mà làm chỗ ông lên tiên, sau đó dùng đất bùn phủ lại. Mỗi đêm tiểu lai của nha môn uống rượu say rồi, chỉ tượng bằng bùn của Châu Quất chửi lớn nói đó là đồ giả, và còn lấy roi đánh đùng đùng, chỉ thấy bùn đất từng cục rớt ra, các xác người bên trong cũng không biết đi đâu.

 Lúc đó, mọi người mới biết Châu Quất đạo hạnh rất cao sâu, ông dùng phương pháp này để cảnh giác người thường nên khám phá vô thường.
   
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 08:10:11 am »

(tiếp theo)

VƯƠNG XỨ NHẤT
Vương Xứ Nhất người Ninh Hải Đông Mậu, hiệu Ngọc Dương. Mẹ là Châu Thị khi mang thai ra ông, ban đêm mộng thấy mây hồng vây quạnh thân, tỉnh dậy thì sinh ra ông.

Khi còn nhỏ, ông đi chơi trong núi, gặp một ông già ngồi trên hòn đá lớn, nói với ông rằng:
“Say này người sẽ nổi danh ờ triều đình, trở thành tông chủ của Đạo giáo”.

Niên hiệu Đại Định năm thứ 8, gặp Tổ sư Trùng Dương ở am Toàn Chân, ông và mẹ ông cùng bái lạy Tổ sư Trùng Dương tu học đạo pháp, từ đó tự xưng là Huyền Tịnh Tán Nhân.

Có một lần Vương Xứ Nhất ở một mình trên núi Thiết Tra, Vương Trùng Dương và Mã Ngọc thì đi bộ trên đường Long Tuyền, lúc đó trời đang nắng nóng, Vương Trùng Dương bỗng nhiên cầm dù đằng hư không mà đi, qua một chút cấy dù đó rớt xuống trước am của Vương Xứ Nhất, trên dù có đề chữ Tổ sư. Long Tuyền cách xa Núi Tra khoảng 200 dặm.

Vương Xứ Nhất ngày thường ẩn cư trong động Vân Quang, ông thường đứng bên vực nguy hiểm, đứng thế nhón chân, mỗi lần đứng như thế mấy ngày không nhúc nhích, do đó người đương thời gọi ông là “Thiết Khước Tiên Nhân”.

Niên hiệu Đại Định thứ 27, Nguyên Thế Tông mời ông vào cung. Chương Tông năm thứ 2 lại mời ông vào cung hỏi đạo. Chương Tông vì thử đạo hạnh của ông, cố ý hỏi một vài việc bí mật, còn Vương Xứ Nhất có hỏi ắt là đáp, có đáp ăt là trúng. Chương Tông rất kinh ngạc hỏi ông duyên cớ, Vương Xứ Nhất đáp:

“Gương sáng có thể soi vật, huống chi là trời đất xét soi đến, không cái gì chẳng quán sát, không vật gì có thể chạy trốn, còn gọi là Thiên địa minh giám, cũng là bản tâm linh diệu của chính mình”.

Chương Tông vừa nghe, rất là thán phục nói: “Cổ nhân nói: “Trong sạch ở thân, chí khí như thần” thật là viết theo của tiên sinh đấy!”.

Năm thứ hai, Nguyên Phí bố thí một kho kinh đạo, hy vọng thâu chứa ở trong Ngọc Hư quán, mà trước thủy động của quán có một tảng đá lớn làm trở ngại đường đi, dưới chân tảng đá có mấy lằn nứt rất sâu, tảng đá lớn lúc lắc muốn rớt, không có ai dám đi ngang qua dưới đó. Mấy người thợ bàn bạc đục tảng đá đó ra, đục liền mấy ngày chỉ được một phần trăm. Vương Xứ Nhất thấy tình trạng này không nhịn được cười, nói:

“Đây không phải sức người có thể làm được”.

Ông nói xong cầm chùy đứng trước tảng đá gõ nhẹ 3 cái, mà mỗi lần gõ đều phát ra tiếng sấm sét ầm ầm, chấn động cả núi hang, tảng đá đó cũng theo tiếng sét mà vụn ra, vấn đề giải quyết được thuận lợi, mọi người xung quanh đều trố mắt nhìn.

Khoảng tháng 4 năm thứ 2, bỗng nhiên ông nói với đệ tử rằng các vị tiên hẹn ông đi dự tiệc.

Lúc đó tắm gội mặc đồ mới, đai mão chỉnh tề, đốt hương lễ lạy 10 phương xong, an nhiên qua đời.

Ông có trước tác một quyển sách “Vân Quang tập”.

   
   
NHAN BÚT TIÊN

Nhan Bút Tiên là người Cao Bưu, lúc trẻ rất phóng khoáng, đầu năm Bảo Khánh triều Tống, ông ở đầu đường bán bút mà gặp được tiên ông. Mỗi lần ông bán được 19 cây bút thì nghỉ không bán nữa, lúc đó có một viên quan tới thăm ông, hỏi ông có thể uống rươu không, ông nói có thể uống một đấu, uống xong sau đó bái chào mà đi, đem bút bỏ hết trên thuyền. Quan viên ra lệnh tả hữu đem bút trả lại cho ông, có mấy người dùng hết sức mình mà không nâng nổi cây bút.

Ông có lúc đem bút tặng cho bạn bè, chẻ cây bút ra trong đó tất nhiên có bài kệ , bà thơ, tiên đoán cây bút này năm nào tháng nào sẽ bị gãy, và còn đoán họa phước tốt xấu của người đó, rất là linh nghiệm. Do đó, mọi người gọi ông là “Bút Tiên”.

Năm ông 97 tuổi, có một hôm ông ở trong sân chất đống cỏ rơm, châm lửa vào mình và nhảy vào đó, ở trong lửa phừng phừng, mọi người trông thấy Bút Tiên cưỡi mây lửa mà đi.


MẠC NGUYÊN ĐỈNH


Mạc Nguyên Đỉnh tự là Khởi Viêm, vốn tên Động Nhất, người Hồ Châu. Ông thiên bẩm tài năng, tướng mạo thanh tú, da dẻ như ngọc, mắt rực sáng long lanh, cử chỉ nhanh nhẹn.

Ông ở Thanh Thành Sơn Trượng Nhân Quan gặp được Từ Vô Cực, tu học Ngũ Lôi pháp. Lại nghe nói Nam Phong có Trịnh Tiền Bích tinh thông đạo pháp bí mật mà không truyền, ông bèn hạ mình làm người hầu, hết lòng phụng sự, sau cùng cảm động được Trịnh Tiền Bích, cuối cùng trước lúc chết đem đạo pháp truyền cho ông, từ đó, Nguyên Đỉnh xứng là Lôi Sư, có thể sai khiến quỷ thần, lúc động lúc tịnh điều hợp đạo. Ông có lúc vui, cười, giận, chửi giống như đang có thần tiên cùng trò chuyện.

Nguyên Thế Tổ triệu kiến ông, đang lúc đo sắc trời trong sáng, vạn dặm không có một chút mây, hoàng đế hỏi có thể làm tiếng sấm được chăng? Nguyên Đỉnh đáp không có vấn đề gì. Ông cầm hạt đào vừa quang xuống đất, lôi đình bỗng phát ra chấn động cả triều đình. Nguyên Thế Tổ bất giác lộ vẻ xúc động trên khuôn mặt, lúc đó lại mời ông làm mưa, cũng được mãn nguyện. Nguyên Thế Tổ rất mừng trọng thưởng cho ông vàng bạc tơ lụa. Nguyên Đỉnh đem mấy phẩm lụa quý giá cắt thành từng đoạn, phân chia cho dân chúng nghèo khó.

Mạc Nguyên Đỉnh rất thích uống rượu, hầu như ngày nào cũng say sưa. Sau khi say bèn ngước mắt lên nhìn trời tiếp theo có âm phong ù ù từ trong tay áo bay ra.  Ông từng cùng bạn bè thả thuyền trên Tây Hồ uống rượu, lúc đó mặt trời nóng như lửa, bạn bè ông nhờ ông mượn một đám mây tới che cho mát mẻ. Nguyên Đỉnh cười, lượm một miếng vỏ trái cây để trong ly  rượu, trong khoảng khắc có mây từ bến hồ bay lên, dần dần che kín mặt trời.

Có một lần các đạo sỹ của Phiên Lý Quan nhân tết trung thu tụ lại ăn tiệc, đang lúc cầm sừng để cụng ly thì bỗng nhiên có mây đen kéo tới che lấp mặt trăng, rất lâu không tan. Nguyên Đỉnh lúc ấy đang ở nhờ trong quan, đạo sỹ muốn đố ông ra tay thử, vội vàng mời ông cùng dự tiệc và trịnh trọng hướng về ông cáo lỗi, Nguyên Đỉnh dùng tay chỉ nhè nhẹ một cái, lập tức mây tan, trăng lộ ánh sáng rực rỡ.

Năm 73 tuổi, ông ngồi ngay thẳng mà qua đời, lúc đó mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm mà mặt ông nhan sắc vẫn tươi sáng mêm mại như lúc còn sống.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 08:13:48 am »

(tiếp theo)

TRƯƠNG TAM PHONG

Trương Tam Phong là người Liêu Đông Nhất Châu, tên Quân Bảo, tự Huyền Huyền, sinh ra có tướng lạ, quy hình hạc cốt, tai to mắt tròn, thân cao 7 thước, râu như lưỡi kiếm. Trên đầu chải búi tóc, tay cầm cây đao một thước, bình thường trên đầu chỉ đội cái nón lá, mặc trên mình chiếc áo bá nạp, không kể lạnh nóng, không chú ý đến ăn mặc. Do đó, mọi người đều gọi ông là “Trương Lạp Thạp”.

Trương Tam Phong hành vi rất đặc biệt, lúc động thì đi ngàn dặm, lúc tịnh thì nhắm nghiền mắt 10 ngày, mỗi khi gặp ăn uống cả thăng cả đấu ăn hết luôn, có lúc lại mấy tháng không ăn gì cả, coi như không có chuyện gì.

Cuối triều Nguyên, ông ở Bảo Kê Kim Đài Quan, không bao lâu ngồi hóa luôn trong quan. Bạn của ông Dương Chấn Sơn vì ông sắp đặt làm Kim Quan, vừa muốn nhập liệm. Trương Tam Phong bỗng nhiên sống lại.

Sau khi sống lại, Trương Tam Phong đi đến Tứ Xuyên, ở lại núi Thái Hòa cất am tu luyện. Trước am có năm gốc cổ thụ, ông nằm dưới gốc cây, thú dữ cũng không dám xúc phạm, chim uyên cũng không dám công kích, người ta đều kinh ngạc vì kỳ tích ấy.

Sau này, ông lại đến núi Võ Đang, ông nói với dân làng: “Ngọn núi này về sau sẽ nổi tiếng trong thiên hạ”.

Hơn mươi năm sau, ông phất vạt áo mà chu du tứ xứ. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc, triều đình vì ông dựng cung kỷ niệm ở núi Võ Đang.

Khoảng năm Thiên Thuận lại phong ông là “Thông vi hiển hóa chân nhân”.

 Còn Trương Tam Phong thật đúng như tên gọi, lúc ẩn lúc hiện xuất quỷ nhập thần, không biết rồi đi đến đâu.
   
   
TRƯƠNG TRINH

Trương Trinh tự Cảnh Hòa, người Lâm Xuyên, lúc nhỏ gặp dị nhân dạy cho Thái Ất thần số, có thể tiên đoán họa phước, không sai một chút nào. Ông lúc bình thường đầu đội mão, do đó mà gọi là “Thiết quan đạo nhân”.

Đương thời Minh Thái Tổ vì sáng lập sự nghiệp đuổi quân Trừ Dương, mời Trương Trung phổ kiến. Ông nói với Thái Tổ rằng:

“Như nay thiên hạ đại loạn, nếu chẳng phải mạng chúa, không dễ gì bình định, theo cái thấy của tôi, ngài có thể đáng làm lắm!”

Thái Tổ hỏi ông duyên cớ, ông đáp:

“Minh Công mắt phụng, tướng mạo phi thường, quí không thể nói, đợi đến lúc vẻ mặt ngài rạng rỡ như gió thổi mây, lúc đó cũng là ngày ngài lên xưng ngôi đế”.

Minh Thái Tổ rất khen ngợi ông, mời giữ ông lại ở trong dinh nhậm chức, mỗi lần cùng xuất chinh, ông đều có thê quan sát khí sắc phân biệt tốt xấu. Trận chiến Phiên Hồ, Trần Hữu Kinh bị trúng tên mất mạng, mà quân hai bên chưa biết sự tình, tiếp tục chiến đấu. Trương Trinh ngước nhìn mây khí phát hiện sự việc này bèn tấu nói:
“Trần Hữu Kinh đã chết rồi, mà bộ hạ của ông ta không biết, vẫn vì ông ta hết sức chiến đấu, sao ngài không viết một bức văn tế, để cho tử tù đọc vang ra, thì trí khí quân sĩ của địch chắc chắn dao động, mà quân ta có thể đánh được không?”.

 Như lời nói, lính của Trần Hữu Kính tự nhiên tan vỡ.

Khi Từ Vũ Ninh Vương đang làm tướng, Trương Trinh nói với ông:
:Hai gò má của ngài tươi hồng, mắt sáng như lửa, quan chức rất cao, đáng tiệc chỉ được trung thọ, không thể lâu dài!”.

Sau này, Vũ Ninh Vương quả nhiên được phong vương, ngược lại lúc 59 tuổi ông qua đời.
Quốc công nước Lương là Lam Ngọc từng mang rượu đi thăm Trương Trinh, Trương Trinh bèn ra nghinh đón, Lam Ngọc không vui. Do đó, mà đùa với ông rằng:

“Tôi có câu nói, mời tiên sinh làm một câu đối: Chân mang dày cỏ đón khách, dưới chân vô lễ”.

Trương Trinh lập tức chỉ Lam Ngọc đang ôm trài dừa nói: “Tay cầm trái dừa làm cái ly, trước tôn bất trung”.

Trương Trinh mấy năm ở trong kinh thành, có một hôm không có việc gì cả mà ông từ trên cầu Đại Trung gieo mình xuống sông mà chết. Hoàng  đế ra lệnh tìm thi thể của ông, tìm khắp nơi mà không được.
Năm thứ hai Đổng Quan thủ nha tâu lên nói: “Ngày đó… tháng đó  …. Thiết quan đạo nhân chống gậy ra khỏi quan, vừa đúng ngày đó là ngày ông gieo mình xuống nước”.
   
   
CHÂU ĐIÊN TIÊN

Châu Điên Tiên họ tên không rõ, ông tự xưng là người Nam Khang Kiến Xương, năm 14 tuổi bị mắc bệnh điên, ở Nam Xương đi ăn xin hơn 30 năm, có một hôm bỗng nhiên miệng phát cuồng.
Đương thời triều Nguyên thái bình lâu ngày, thiên hạ sắp loạn mà Châu Điên đã thấy người Hán có điểm muốn phục hưng.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương mỗi lần đi tuần, Châu Điên nhất đinh tới trước chặn lại bái, mỗi lần như thế đều nói: “Cao Thái Bình”. Thái Tổ rất giận ghét, hạ lệnh đưa rượu nóng đổ ông mà Châu Điên uống vẫn không say.Thái Tổ muốn giết ông, Châu Điên nói:

“Ngài có thể giết chết tôi không? Nước lửa, kim loại, gai góc đối với tôi vẫn không có vật gì”.

Thái Tổ vừa giận, hạ lệnh bắt ông giam vào trong cái khạp, phía dưới đốt củi lửa, sau khi lửa tắt,  mở khạp ra chỉ thấy Châu Điên ngồi đó, an nhiên tĩnh tọa không tốn một sợi lông. Thái Tổ ra lệnh đốt thêm lửa, đốt tiếp tục rất lâu, lại mở khạp ra xem chỉ thấy khói mịt mù.

Châu Điên đang ngủ, giống như mộng mới vừa tỉnh, còn tưởng như đang ngủ trong cái lồng, sắc diện càng rạng rỡ. Thái Tổ không biết làm sao đành để ông ở trong chùa Tương Sơn. Ông ở chùa Tương Sơn mỗi ngày đều có tranh chấp với các hòa thượng.

 Hơn một tháng các hòa thượng tâu cáo trạng nói hành vi cổ quái của ông. Lão Ái và Sa Di tranh giành cơm đã nửa tháng chưa ăn cơm. Hoàng  Đế vừa nghe lập tức xa giá đến xem, khi Châu Điên đi ra Phổ Kiến, không có một chút mệt mỏi. Hoàng  Đế đặc biệt thiết đãi ông ở điện Thúy Vi

Khi Chu Nguyên Chương đánh Thanh Sỹ Thành, Châu Điên cũng đồng đi theo quân. Lúc đó, Trương Sỹ Thành đã xưng đế. Chu Nguyên Chương hỏi ông như thến nào mới tốt, Châu Điên ngước nhìn lên trên không, hồi lâu như có chỗ thấy, ông ngoắc ngoắc tay nói:

“Trên trời chưa có ngôi vị của ông ta”.

Lúc đó, Chu Nguyên Chương mới yên lòng đánh, vừa khởi binh đánh thì được thắng.

Sau này, Châu Điên đi ẩn cư ở Lô Sơn, đi đâu không rõ. Sau khi bình định thiên hạ, Minh Thái Tổ đích thân làm bài văn và khắc cái biên dựng ở Lô Sơn để kỷ niệm hành vi kỳ quái này.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 08:18:00 am »

(tiếp theo)

LÃNH KHIÊM

Lãnh Khiêm tự là Khải Kính, đầu năm Hồng Vũ, từng nhậm Hiệp luật bộ, là chức quan quản lý âm nhạc của triều đình thời cổ đại. Nhiều nhạc chương chùa miếu ngoài thành, đều do ông soạn viết.

Ông có một người bạn, nghèo đến nỗi không thể tự sống được, chạy đến cầu Lãnh Khiêm xin cứu giúp. Lãnh Khiêm nói:
“Ta chỉ điểm ngươi một chỗ, người đi đến đó nhất thiết không nên tham cầu châu báu”.

Nói xong, ông vẽ trên vách tường một cái cánh cửa. Bên cửa có một con hạc trắng trông coi, ông gõ cửa kêu người bạn, cửa tự động mở ra, bạn của ông bất giác đi bộ đến chỗ đó. Ngước đầu vừa xem, vàng bạc châu báu xán lạn chóa mắt, người bạn này quên lời nói của Lãnh Khiêm, không quan tâm tới tất cả, liều mạng lấy đồ, trong cơn mê loạn đã làm một miếng tên của mình rớt xuống.

Qua mấy ngày, kho vàng trong cung phát hiện thiếu một tốp tài vật, quan giữ kho kiểm tra trong khố đến trang tên, bàn ghi họ tên bắt người bạn của Lãnh Khiêm đi. Trong lúc thẩm xét, Lãnh Khiêm cũng bị đem  ra,do đó liên đồng Lãnh Khiêm cũng cùng bị tội chết. Đang lúc bị đao phủ thủ áp ra cửa thành, Lãnh Khiêm nói với ông ta rằng:

“Tôi gần chết rồi, có thể cho tôi 1 ít nước giải khát được không?”.

Đao phủ thủ cho ông một bình nước, Lãnh Khiêm vừa uống vừa để chưng vào trong bình, nói cũng kì quái, thân thể của ông cứ từ từ rút nhỏ vào trong bình nước.Đao phủ thủ vừa thấy kinh ngạc vừa la lớn:

“Ngươi không ra, mấy bọn lâu la của chúng tôi đều phải chết hết”

Lãnh Khiêm đáp nói:

“Không cần vội vã, ngươi chỉ cần mang cái bình đến trước Hoàng  Đế thì không có việc gì”

Đao phủ thủ y theo lời ông đi gặp Hoàng  Đế. Phàm Hoàng  Đế hỏi chi, trong bình lập tức đáp ra lại, Hoàng  Đế nói:

“Người nhanh ra gặp ta, ta không giết ngươi”

Lãnh Khiêm nói: “Thần có tội không dám ra”

Hoàng Đế nổi giận đập nát cái bình, không ngờ mỗi mảnh vụn đều có tiếng Lãnh Khiêm phát ra nói: “Thần có tội không dám ra”, âm thanh vang bốn phía, nhưng không thấy người. Sau nầy có người ở Tứ Xuyên gặp ông, nghe người ta nói ông thành tiên rồi.
   
ĐỊCH  THIÊN  SƯ

Đich Thiền Sư  tên Càn Hưụ, người ở Hiệp Trung. Thân cao 6 mét, tay dài hơn một thước, lúc ngủ không dùng gối để gối đầu, về già hay tiên đoán. Ông có một lần đi đến chợ Quy Châu, la lớn rằng:

“Tối nay sẽ có tám người tới hỏi, mọi người tự bảo trọng”.

Trong chợ không ai hiểu lời nói của ông, không ngờ tối hôm đó phát sinh ra lửa lớn, đốt cháy mấy trăm căn nhà, mọi người mới hiểu lời nói của ông. “Tám Người” đó là chữ “hỏa”.

Địch Thiên Sư mỗi lần vào núi, phía sau đều có một bầy cọp đi theo. Ông thường ở bên bờ sông cùng mấy người đệ tử ngắm trăng, có một đệ tử hỏi ông trong mặt trăng có cái gì. Địch Thiên Sư cười nói: “Các con xem nè!”.
Ông dùng tay chỉ hai người đệ tử xem mặt trăng cả buổi, bên trong có lầu quỳnh gác ngọc, xán lạn đẹp đẽ, được chốc lát thì tiêu mất không thấy.
   
   
LÝ THIẾT QUẢI

Lý Thiết Quải vốn họ Lý. Ông thân tướng rất khôi ngô. Lúc trẻ đã đắc đạo, sau đó mãi ở trong hang. Lý Lão Quân và Uyển Khưu tiên sinh (hai vị tiên đương thời) thường giáng đến trên núi ông ở, dạy cho ông đạo pháp rất cao thâm.

Một hôm Thiết Quải tiên sinh muốn đến Hoa Sơn dự tiệc của Lão Quân, trước khi đi ông dặn dò đệ tử rằng:

“Ta để thân xác tại đây, các người khéo giữ hộ, hồn phách của ta đi dự tiệc của Lão Quân. Nếu như 7 ngày sau ta chưa trở về, các người quẳng cái xác của ta vào lò lửa thiêu đi”.

Sau khi ông đi rồi, người đệ tử bỗng nhiên nhận được tin tức mẹ bị bệnh nặng, rất nóng lòng, mới 6 ngày thì khiêng xác của  ông để vào lửa thiêu, còn tự mình đi về nhà.

Ngày thứ 7, tiên sinh trở về nhà, ông tìm khắp nơi mà không thấy xác của mình, du hồn không chỗ nương tựa chỉ còn tùy ý di chuyển tìm một thi thể mới chết để nhập vào, không ngờ thi thể lại là người chân thọt, từ đó Lý tiên sinh chỉ còn cách chống gậy, điên điên đảo đảo, lúc ấn lúc hiện ở nhân gian.

   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 08:25:43 am »

(tiếp theo)

CHUNG LY QUYỀN (HÁN CHUNG LY)

Chung Ly Quyền là người Yên Đài, sau này đổi tên thành Giác Tự Tịch Đạo, hiệu Vương Dương Tử, lại còn hiệu là Phùng Tiên Sinh. Cha ông làm quan ở triều Hán, có công hiển hách được phong làm hầu.

Khi đản sinh Chung Ly Quyền, hào quang lạ chiếu khắp nhà, giống như lửa rực, tả hữu thị vệ đều nhìn thấy thất sắc. Ông đầu tròn trán rộng, trái tai dài tới vai, mắt sâu mũi thẳng, miệng vuông cằm rộng, mắt tươi hồng như đan, hai cánh tay dài hơn người thường. Sau khi ông sinh ra không khóc không ồn ào, cũng không ăn uống, đến 7 ngày bỗng nhiên nói:

“Ta muốn đi đến Tử Phủ và Ngọc Kinh nơi tiên nhân ở để chơi!”.

Sau khi lớn lên ông làm quan trong triều đình, lên tới chức đại tướng quân. Có một lần xuất chinh đánh giặc Thổ Phiên bị thất lợi, ông một mình môt ngựa chạy vào hang núi, không ngờ bị lạc đường. Nửa đêm ông gặp một vi tăng người Hồ tóc rối, mặt dơ dáy, tiên sinh mặc áo bá nạp, dẫn ông đi mấy dặm đường, cuối cùng trông thấy một ngôi trang viên, Hồ tăng nói với ông:

“Đây là nơi Đông Hoa tiên sinh thành đạo, tướng quân có thể ở đây nghỉ ngơi”.

Nói xong vái chào mà đi, Chung Ly Quyền không dám làm kinh động người trong làng, chỉ hồi hộp nhìn ngó lâu mới nghe thấy có người nói:

“Đây chắc chắn là một người Hồ mắt xanh nhiều chuyện”.

Có một ông lão mặc áo da nai trắng, chống cây gậy lê màu xanh, lớn tiếng hỏi ông:

“Người có phải là đại tướng Chung Ly Quyền triều Hán chăng? Sao không ở trong phòng của sơn tăng?”.

Chung Ly Quyền vừa nghe giật mình trong lòng biết đây là dị nhân, lúc đó ông mới rời khỏi hang hùm sói, nhân đây mà có ý xuất thế. Ông liền nói với ông lão xin truyền dạy đạo pháp, ông lão dạy cho ông “Trường Chân Quyết” và nhiều tiên thuật khác cho ông. Chung Ly Quyền cáo từ ra khỏi cửa rồi quay lại nhìn trang viên đó, trong chớp mắt đã mất tiêu không thấy.

Sau này Chung Ly Quyền lại gặp Hoa Dương chân nhân, truyền giao cho ông đạo pháp càng thâm sâu hơn. Tiên nhân Vương Huyền Phủ cũng dạy cho ông bí quyết trường sinh. Từ đó, Chung Ly Quyền vân du bốn phương, dấu chân đi khắp Sơn Đông, Không Đồng, v, v…. Sau cùng ở Tứ Hạo Phong đắc được đạo pháp rất cao, rốt cùng tu thành tiên.

Do Chung Ly Quyền người triều Hán, nên người đời sau gọi ông là “Hán Chung Ly”.

   
TRƯƠNG QUẢ LÃO

Trương Quả Lão tên là Trương Quả, ông là người thời đại triều Đường ẩn cư trong dãy núi Hoàn Châu, ngày thường hay lui tới Phân Phủ, là một đạo sỹ có thuật trường xuân bất lão.Ông thường cưỡi một con lừa trắng, ngày đi hàng vạn dặm, khi nghỉ ngơi thì gấp con lừa lại, mỏng như tờ giấy, đem để trong cái thùng. Khi muốn cưỡi dùng nước phun lập tức biến thành lừa trở lại.

Đường Thái Tông, Đường Thế Tông đều mời ông làm quan, nhưng ông đều từ chối. Võ Tắc Thiên lại tìm ông, ông bèn giả bộ nằm chết trước Nữ Miếu, giữa lúc nắng gay gắt, không bao lâu thì thi thể thối hôi sinh ra giòi. Lúc đó, Võ Tắc Thiên mới tin là ông chết thật.

Sau này, có người trông thấy ông đi chơi trong núi Hoàn Châu. Năm Khai Nguyên thứ 23, Đường Minh Hoàng  phái Bùi Ngộ đến Hoàn Châu đón ông vào cung. Trương bèn ở trước mặt Bùi Ngộ mất thở mà chết.Bùi Ngộ chỉ còn biết đốt hương lễ lạy, đối với ông nói rõ ý thiên tử thành tâm của người hiền, qua một lát Trương Quả Lão từ từ tỉnh dậy, Bùi Ngộ không dám ép ông lên đường, chỉ có tâu với triều đình thỉnh cầu thánh chỉ. Hoàng  đế lúc đó lại phái Trung thư xá nhân Từ Kiếu và Thông sự xá nhân Lư Trọng Huyền, đích thân dâng thánh chỉ có dấu ấn ngọc tới nghinh đón Trương Quả đến Đông Đô. Sau đó, Minh Hoàng  sắp xếp ông ở trong viện Tập hiền, cư lễ trọng hậu. Công hầu danh tước đều tới trước bái ông.

Minh Hoàng  không lúc nào không hỏi ông về chuyện thần tiên. Trương Quả im lặng không đáp. Ông giỏi về dưỡng khí, có thể mấy ngày không ăn cơm mà chỉ uống một chút rượu. Hoàng  thượng ban rượu cho ông, ông chối từ nói:
“Tiểu thần uống không hơn hai thăng, đệ tử của thần có thể uống hết một đấu”.

Minh Hoàng  nghe thấy lấy làm vui mừng, lập tức mời gặp vị đệ tử đó. Không bao lâu thấy một đệ tử nhỏ từ dưới điện bay lên, khoảng chứng 15, 16 tuổi, dung mạo đẹp đẽ, cử chỉ nhàn nhã trong lúc uống ứng đối lời nói trong trẻo, lễ mạo vô cùng. Minh Hoàng  ra lệnh đạo sỹ ngồi, Trương Quả nói:

“Đệ tử nên đứng hầu Hoàng  đế”.

Minh Hoàng  vừa nghe càng thêm mừng, bèn ban rượu cho tiểu đạo sỹ uống, khi uống được một dấu, tiểu đạo sỹ quả nhiên cảm tạ nói:

“Không thể uống được nữa, quá độ ắt có lỗi, chỉ mong Hoàng  thượng cười thì tôi hài lòng  rồi”.

Hoàng đế 3 lần ép chàng ta uống, kết quả làm cho tiểu đạo sỹ say bí tỷ, chỉ thấy rượu từ trên đầu vọt ra, làm cho mão rớt xuống đất, trong phút chốc hóa thành ly vàng, Hoàng  đế và phi tần đều hết sức kinh ngạc. Lại định thần, tiếu đạo sỹ không biết đi đâu, chỉ còn lại cái ly vàng trên mặt đất, mọi người nhìn kỹ, hóa ra là cái ly vàng ở trong viện Tập hiền, dung lượng chỉ được một đấu rượu.

Trương Quả từng nói ông sinh thời nhà Nghiêu, mà sắc diện của ông lại giống như 70 tuổi. Thời đó, Hình Hòa Phát giỏi về xủ quẻ tuổi tác, Minh Hoàng  bèn chỉ thị ông bói mạng của Trương Quả. Hình Hòa Phác cố gắng bói cả ngày cũng tính không ra Trương Quả được bao nhiêu tuổi.

Có một lần Hoàng  đế nói với Cao Lực Sỹ:

“Ta nghe nói uống cẩn tửu mà không cho là khổ đó là kỹ sỹ, có phải việc này chăng?”.

Đang nói thì thời tiết lạnh lẽo, Hoàng  đế bèn ban cẩn tửu cho Trương Quả uống, rượu được ba tuần ông bèn uể oải cáo say nói:

“Rượu này không ngon”, nói xong bèn đi về ngủ, đơi khi tỉnh dậy răng đã nám co rút lại, người bên cạnh thử gõ bèn rớt ra hết, lúc đó đem răng của ông giấu trong túi để làm thuốc. Không bao lâu, trong miệng ông tự nhiên mọc răng mới, sáng trong như ngọc,chiếu lóng lánh.

Hoàng đế ở Hàm Dương bắn được một con nai, mênh lệnh quân sỹ đem nó đi hầm. Trương Quả lại nói:

“Đây là con nai tiên đã được 1000 tuổi, ngày xưa Hán Vũ Đế niên hiệu Nguyên Thủ năm thứ 5, tôi từng hầu trên Lâm Uyển, bắt đươc con nai này. Nhưng Vũ Đế thả nó ra”.

Minh Hoàng  hỏi Trương Quả rằng:

“Nai trong thiên hạ rất nhiều, thời đại lâu xa làm sao có thể trường tồn được?”.

Trương Quả đáp:

“Khi Vũ Đế thả nó ra đã buộc một cái thẻ bằng đồng để nhớ, buộc ở bên góc mặt trái của nó”.

Minh Hoàng  lập tức sai người đi kiểm tra, quả nhiên tìm được tấm thẻ dài 2 phân, chỉ trên mặt đã mòn, Minh Hoàng  nói:

“Nguyên Thủ đến đây đã bao nhiêu năm?”.

Trương Quả nói: “Tất cả 852 năm”.

Minh Hoàng  ra lệnh Thái sử tra lịch, quả nhiên không sai một năm.

Có một hôm Minh Hoàng  hỏi Diệu Pháp Thiện rằng:

“Trương Quả nói cho cùng là người thế nào?”.

Diệu Pháp Thiện nói ông biết nhưng không dám nói, bởi vì nói sẽ chết, trừ khi Hoàng  thượng cởi áo mão đi chân không cứu ông thì ông mới dám nói. Minh Hoàng  nhận lời, Pháp Thiện lúc này mới nói, thì ra Trương Quả là con dơi tinh màu trắng từ thuở hỗn độn sơ khai. Diệu Pháp Thiện nói chưa xong, lập tức 7 khiếu ra máu ngã nằm trên đất. Minh Hoàng  thấy tình trạng như thế kinh ngạc vội cởi giày mão tự nói với ông có tội và cầu xin Trương Quả tha thứ. Trương Quả nói chầm chậm:

“Thằng nhỏ này quá nhiều chuyện, không phạt nó sợ sẽ tiết lộ thiên cơ!”.

Minh Hoàng  lại 3 lần cầu khẩn, hồi lâu Trương Quả mới dùng nước phun lên trên mặt của Pháp Thiện, cứu ông ta sống lại, từ đó Minh Hoàng  đối với ông càng thêm kính lễ, đặc biệt là ông vẽ một bức tượng trong viện Tập hiền và ban hiệu “Thông Huyền tiên sinh”

Trương Quả tính tình đạm bạc, không chịu nổi năm tháng ở trong cung, bao lần xin lui về ẩn núi rừng. Hoàng  đế không giữ ông lại được, chỉ còn cách ban cho ông 300 xấp lụa, hai người tùy tùng, dùng kiệu đưa ông đến Hàn Châu. Sau đó, một người đệ tử trở về, một người kia đi theo ông vào núi.

Đầu năm Thiên Bảo, Minh Hoàng  lại triệu Quả Lão vào cung. Trương Lão vừa nghe tin liền chết. Khi đệ tử mai táng ông mới phát hiện quan tài trống không. Minh Hoàng  biết sự việc này bèn xây Tây Hà Quan để thờ ông.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #59 vào lúc: Tháng Sáu 08, 2011, 08:30:45 am »

(tiếp theo)

LỮ ĐỘNG TÂN

Lữ Động Tân vốn tên là Nham, người triều Đường, xứ Bạc Châu Vĩnh Lạc. Ông nội là Lữ Vi đã nhậm chức Lễ bộ thi lang, cha là Lữ Nhượng cũng đã từng làm Thích Sứ Hải Châu.

Niên hiệu Trịnh Nguyên thứ 13, ngày 14 tháng 4 giờ tỵ, Lữ Động Tân sinh ra, do đó hiệu là Thuần Dương Tử.

Mẹ ông trước lúc sinh ông, mỗi đêm ngủ từng nghe hương thơm tỏa khắp nhà, nhạc trời văng vẳng trên hư không, một con hạc trắng từ trên trời bay xuống vào trong trướng rồi không thấy nữa.

Lữ Động Tân sinh ra, tướng mạo tiên phong đạo cốt, đầu hạc lưng voi, mắt rồng mình cọp, mắt phụng buổi sáng, hai chân mày  nối vào nhau.  Cổ của ông so với râu thì dài, hai má cao, thiên đình tròn đầy, mũi cao thẳng, góc chân mày bên trái có một nốt ruồi, dưới chân có nếp nhăn như lưng rùa. Từ nhỏ đã thông minh hơn người, mỗi ngày có thể đọc thuộc vạn lời, xuất khẩu thành chương, thân cao 8 thước 2, thích đội trên đầu khăn hoa dương, mặc áo dài vàng, có buộc một sợi đai vàng, dáng vẻ rất giống Trương Lương đời Hán.

Ông hai mươi tuổi vẫn chưa lấy vợ, khi còn nằm trên tã, Mã Tổ đã trông thấy ông nói rằng ông cốt tướng phi phàm, chắc chắn là bậc cao nhân ở thế gian, lại nói với ông rằng:

“Trương gặp Lô thì ở, gặp chuông thì gõ chớ nên quên”.

Sau này Lã Động Tân đi chơi trên Lô Sơn gặp Hỏa Long chân nhân, truyền cho ông Thiên tuần kiếm pháp. Khoảng năm Văn xương triều Đường, ông hai lần thi tiến sỹ đều rớt. Khi 60 tuổi, ông đang ở trong quán rượu tại Trường An, trông thấy một đạo sỹ mặc áo bào trắng quấn khăn xanh, và còn đề 3 bài thơ trên tường. Lữ Động Tân giật mình thấy ông tướng mạo cổ quái, ý thơ phóng khoáng, do đó bái chào xin hỏi họ tên. Đạo sỹ nói:

“Sao người không đề một bài thơ bày tỏ chí hướng của người đi!”.

Lữ Động Tân cầm bút lên đề một bài thơ thất ngôn tuyệt cú. Ý nghĩa nói là ông không muốn ở trên thế gian tranh danh đoạt lợi, chỉ mong tu đắc đạo thành tiên. Đạo sỹ vừa xem xong rất vui vẻ và nói:

“Ta là Vân Phòng tiên sinh ở Chung Nam Sơn Hạc Linh, người muốn theo ta chăng?”.

Lữ Động Tân nhất thời không quyết định được, Vân Phòng bên ông cùng nghỉ ngơi trên lầu quán trà. Vân Phong đích thân làm cơm, Lữ Động Tân bỗng nhiên ngã xuống giường ngủ luôn. Ông mộng thấy lên kinh đô thi, đỗ Trạng Nguyên, từ quan Lang thăng lên đến chức Hàn Phạm bí các, trải qua nhậm các hạng các chức, lấy vợ giàu sang ngàn vàng, sinh con cũng đều trai lấy vợ gái gả chồng, con cháu quây quần, cả nhà vinh hiển. Trải quan như vậy 40 năm, đã làm Tể Tướng được 10 năm, quyền thế cực thịnh một thời, bỗng nhiên có việc hỏi tội, gia đình gặp thảm hại nghiêm trọng, vợ con phân tán, giáng chức bị đày xuống Lĩnh Nam, đơn độc một thân, nghèo khổ tiều tụy. Ông đang dừng ngựa trong gió tuyết, than thở và cảm động, bỗng nhiên tỉnh dậy, lúc đó Vân Phòng tiên sinh nấu cơm vẫn chưa chín.

Vân Phòng hướng về ông cười nói:

“Cơm vẫn chưa chín, ngươi nằm mộng đã đến Hoa Tế Quốc”.

Lữ Động Tân kinh ngạc nói:

“Tiên sinh biết mộng của tôi ư?”.

Vân Phòng cười nói:

“Người vừa mới mộng, thăng Thẩm  vạn lần, vinh nhục ngàn mối, khoảng 50 năm chẳng qua vừa nháy mắt mà thôi, không giá trị vui mừng, càng sao đủ để cảm thương! Ở thế gian có người đại giác ngộ, sau này mới có thể thấy đại mộng của người đời”.

Lữ Động Tân nhân đó mà cảm ngộ, liền bái Vân Phòng làm thầy, hướng về ông học đạo.Vân Phòng cố ý thử ông nói:

“Cốt tiết của ngươi vẫn chưa có tốt, muốn cầu xuất thế, vẫn phải mấy đời nữa mới có thể”.

Nói xong rồi bỏ đi. Lữ Động Tân từ đó bỏ hết nho quan đi ẩn cư. Vân Phòng nhân cơ hội này đối với ông thử 10 lần:
-Thử lần thứ nhất:

Lữ Động Tân từ xa trở về nhà đều thấy người nhà bị bệnh chết hết, nhưng trong lòng ông không một chút hối tiếc, chỉ lo mua quan tài, chuẩn bị làm tang, trong phút chốc mấy người chết đều sống lại.

-Thử lần thứ hai:
Lữ Động Tân đang bán hàng trong thành, có người khách hàng chỉ đưa ông một nửa số tiền, Lữ Động Tân không tranh cãi với họ, người khách hàng đó để đồ lại chỗ cũ rồi đi.

-Thử lần thứ 3:
Lữ Động Tân tết Nguyên Đán ra khỏi cửa, bỗng gặp người ăn xin dựa cửa xin tiền, Lữ Động Tân cho anh ta rất nhiều tiền, người ăn xin đó xin hoài không chán và còn nói lời hung dữ nữa, Lữ Động Tân cười không mảy may gây gổ.

-Thử lần thứ 4:
Lữ Động Tân chăn dê trên núi, gặp con cọp đuổi bầy dê. Lữ Động Tân vì bảo vệ con dê, dùng thân mình làm bình phong, con cọp quay đầu chạy mất.

-Thử lần thứ 5:
Lữ Động Tân ở trong núi, đang ở trong nhà tranh đọc sách, có một người con gái 17, 18 tuổi, tự nhiên nói lạc đường xin ngủ nhờ, lại còn giễu cợt đủ điều, nửa đêm còn ép ông ngủ chung. Động Tân không lấy làm động lòng, như vây liên tiếp 3 ngày, người con gái ấy thấy khó quá rồi lui.

-Thử lần thứ 6:
Lữ Động Tân một hôm đi ra ngoài thành, sau khi về nhà mới phát hiện mất hết đồ đạc, ngay cả cuộc sống hàng ngày đều phải lo lắng. Động Tân không giận, tự mình đi cày ruộng, bỗng nhiên cày được 10 tấm thẻ vàng, ông bèn dùng đất lấp lại, không lấy chút nào.

-Thử lần thứ 7:
Lữ Động Tân gặp chủ quán đồng mua một bộ, sau khi về nhà, phát hiện ra bằng vàng, ông lập tức tìm chủ trả lại cho họ.

-Thử lần thứ 8:
Có một đạo sỹ điên ở trong thành phố bán thuốc, tự nói uống xong liền chết, lại ở đời thì sẽ đắc đạo, 10 ngày trời không bán được gì cả. Động Tân mua thuốc của ông ta. Đạo sỹ kêu ông về nhanh sắp xếp mọi việc sau này. Nhưng ông uống vào sau đó không có việc gì cả.

-Thử lần thứ 9:
Lúc mùa xuân nước dâng lên, Lữ Động Tân cùng mội người lội nước mà qua, thuyền đi được nửa sông thì sóng lớn nổi dậy, mọi người đều thất sắc, chỉ riêng Động Tân ngồi ngay ngắn bất động.

-Thử lần thứ 10:
Lữ Động Tân ngồi một mình trong phòng, bỗng nhiên trông thấy quỷ mị nhiều hình dáng kỳ quái, nhe nanh, vươn móng vuốt muốn giết hại ông. Động Tân không mảy may sợ hãi. Lại thấy Dạ Xoa mấy mươi con bắt một từ tù máu thịt nhễ nhại, khóc nói:

“Người đời trước giết ta, hôm nay hãy trả mạng cho ta”.

Lữ Động Tân nói: “Giết người thường mạng, lý đương như thế”. Nói xong, giơ đao tự tận, bỗng nhiên trong không trung có tiếng thét, quỷ thần đều không thấy. Có một người vỗ tay cười lớn chạy lại, thì ra là Vân Phòng tiên sinh. Ông nói với Động Tân:

“Ta thử ngươi liên tục 10 lần, do đó xem ra ngươi có thể chắc chắn đắc đạo, mà công đức của ngươi vẫn chưa đủ, còn phải lập 3000 công, 800 đức mới có thể viên mãn,  đên lúc đó ta sẽ đón ngươi xuất thế”.

Nói xong,liền dạy Động Tân thuật điểm đá thành vàng, để ông dùng pháp thuật này cứu giúp người đời, cho công đức mau được điền đây. Lữ Động Tân nghĩ một lát, bèn hỏi ông rằng:

“Do thuật điểm đá thành vàng, có thể khôi phục bản chất của đá không?”.

Vân Phòng đáp rằng:

“Sẽ khôi phục lại, bất quá chỉ là việc của 3000 năm sau”.

Lữ Động Tân không cầm được lo lắng nói:

“Đây há chẳng hại cho người 3000 năm sau chăng? Tôi không muốn dùng phương pháp này để tròn đầy công đức”.

Vân Phòng tiên sinh cười nói:

“Chỉ vào một điểm nhân tâm của ngươi, 3800 công đức đều đầy đủ trong đấy!”.

Lúc đó ông dẫn Động Tân về Hạc Lĩnh, đem các đạo thuật truyền dạy cho ông. Lữ Động Tân chuyên lòng khổ tu hơn 10 năm, một hôm từ trên trời đến hai vị tiên nhân, họ bưng bùa vàng nói với Vân Phòng tiên sinh rằng:

“Thượng đế mời ngài làm Cửu Thiên Kim Tiên, tức khắc lên nhậm chức”.

Văn Phòng tiên sinh liền nói với Động Tân:

“Ta đi bái yết với Thượng đế, người ở lại nhân gian tu công lập đức, ngày khác cũng sẽ được Thượng đế mời lên trời thành tiên giống như ta vậy”.

Lữ Động Tân đối với Vân Phòng tiên sinh cung kính bái chào, sau đó nói:

“Chí hướng của tôi và tiên sinh không giống, ắt cần phải độ hết chúng sinh. Sau đó mới yên lòng lên trời”.
Lúc đó Vân Phòng tiên sinh cưỡi mây từ từ bay lên, ông đứng trên đám mây lành hướng về phía Động Tân, gật đầu lia lịa khen ngợi.

Động Tân học được đạo thuật của Vân Phòng, cho đến kiếm pháp của Hỏa Long chân nhân, ông bắt đâu đi chơi ở Giang Đoài, trừ yêu biến hóa hơn 400 năm, dấu vết thường ẩn hiện ở khoảng Lưỡng Hổ, Lưỡng Triết, nhưng đầu đuôi chưa ai biết ông là người nào, ông tự xưng hai chữ “Đạo Nhân”.

Huy Tông niên hiệu Chánh Hòa năm thứ 2, trong cung có quỷ quái hiện hình ban ngày trộm lấy vàng bạc và cung tần. Huy Tông cung kính kỳ đảo 60 ngày, có một hôm ngủ trưa mộng thấy ngoài của Đông Hoa có vị Đạo sỹ, đầu đội mão Bích liên, mình mặc áo Tử hạc, tay cầm thủy tinh như ý bái chào Hoàng  đế, nói:

“Ta phụng mệnh Thượng Đế tới bắt yêu quái!”.

Đạo sỹ đưa tay mời một vị Kim Giáp Trượng Phu, trong chốc lát bắt được con yêu quái và nuốt vàomiệng. Hoàng  đế hỏi vị trượng phu đó là người gì, đạo sỹ nói:

“Ông ta là Sùng Kinh Chân Quân Quan Vũ mà bệ hạ đã phong hiệu đó”.

Hoàng đế rất vui mừng, lại hỏi hiện nay Trương Phi ở đâu, Quan Vũ nói:

“Trương Phi nay đã giáng sinh, có lẽ ở Trương Châu Nhạc Gia rồi”.

Hoàng đế hỏi đạo sỹ tên họ, ông chỉ nói mình họ Lữ, sinh ngày 14 tháng 4.Hoàng đế mộng tỉnh dậy sau đó ghi lại mới biết ông là Lữ Động Tân. Từ đó trong cung bình yên vô sự. Huy Tông vì cảm kích, hạ lệnh toàn quốc đốt hương nơi thờ Lữ Động Tân, đều đồng gọi là “Diệu Thông chân nhân”.

Lữ Động Tân thần thông quảng đại, ẩn trong nhân gian, thường thường hiển linh, đã làm nhiều việc có công đức khắp nơi, do đó nhân gian đối với truyền thuyết của ông khác biệt rất nhiều.

Sau này, cha của Nhạc Phi quả nhiên mộng thấy Trương Phi tới  gá sinh, do đó bèn lấy chữ “Phi” làm danh ông.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, byphuong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha, mavuong, lethuytienac
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 3 [4] 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.688 seconds với 24 câu truy vấn.