Tháng Tám 15, 2018, 01:31:05 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3] 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG  (Đọc 11377 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2011, 08:50:15 am »

(tiếp theo)

MA -  Y   TỬ

Ma Y Tử họ Lý, tên Hòa, tóc ông màu xanh tướng mạo rất đẹp. Ông lớn lên đối với cõi đời ô trọc có tâm chán ghét, lúc đó đi ẩn cư ở Chung Nam Sơn. Một hôm bất ngờ gặp một vị đạo sỹ, dạy ông khẩu quyết và bắt ông giữ giới cấm, nói: “Ở Nam Dương bên giòng nước phía Bắc có một ngọn núi Linh Dương, trong núi có một hang núi có một hang động, người có thể đến đó tu luyện, không bao lâu có thể tu luyện thành chân tiên”.

Ma Y Tử theo lời nói của Đạo Sỹ đi tìm, quả nhiên tìm được sơn động, ông ở trong đó tu hơn 19 năm khoảng năm Phổ Nghĩa Hi, bị hạn hán, dân chúng rầm rộ làm một hình nộm thật lớn để cầu mưa. Ma Y Tử không biết tính sao, thương mà  không giúp được gì, còn người tới cầu giúp đỡ ngày càng đông. Lúc tối có 12 chàng thiếu niên nói với Ma Y Tử: “Nếu họ tới thỉnh cầu, ngài nên nhận lời”. Ma Y Tử kinh ngạc tiếp nhận kiến nghị của họ.

Ngày thứ hai, trên trời bỗng nhiên mây đen mù mịt, trời sấm sét không bao lâu thì mưa xối xả, dân chúng đều mừng rỡ như điên cuồng, tranh nhau hướng về Ma Y Tử cảm ơn, nhưng Ma Y Tử ngơ ngác không rõ, bởi vì ông không có pháp thuật nào.

Nửa đêm hôm đó, thì ra 12 chàng thiếu niên lại đến, họ đồng hướng Ma Y Tử làm và nói với ông rằng: “Chúng tôi đều là Thiên Long, Thượng Đế trông thấy tiên sinh tu đạo sắp thành, đặc biệt sai chúng tôi đến giúp ngài hành đạo xong luôn.

Lưu Tống Đại Minh năm đầu, Y Ma Tử 101 tuôi, có một hôm  ông ngồi ngay thẳng trên giường đá, linh hồn lại lên trời thành tiên.

Chí thành cảm đến trời, Ma Y Tử đạo tâm chân thiết, do đó cảm động được Thiên Long tới làm mưa (tinh thành sở chi, kim thạch vi khai) có ý cương quyết thì sẽ vượt khó khăn, học đạo như thế, việc đời sao chẳng được.

   
NGHIỆP KHỨ XA

Nghiệp Khứ Xa là người Cù Châu Long Khưu, đang là đạo sĩ ở Sùng Tiên cung,nhà ở dưới Cửu Phong Sơn, từ nhỏ thích học đạo thuật, ham ưa không biết chán.

Lúc hơn 30 tuổi, Chánh Trực Lưu Tống năm thứ nhất, ông ẩn cư tại Huyện Cao Dương Quan An Toà.Quan Bắc năm dặm, bên ngoài có Mão Sơn, núi cao hơn 50 trượng, tương truyền Trương Đạo Lăng và Diệp Trịnh đều từng tu đạo ở trên ngọn núi đó. Phía đông nam Mão Sơn có một hòn đá lớn rộng hai trưọng, Khứ Xa thường ngồi trên đó Thẩm  tư mặc tưởng. Có một hôm, ông đựoc thiên thần cảm động giáng xuốn. Thiên thần bảo ông rằng: ”Trương Thiên sư có để kiếm trảm tà và cái bình Thạnh đơn dược giấu ở dưói hòn đó này, ngài có thẻ dời nó đi không?”

Nghiệp Khứ Xa không bị lời nói làm lay động, ông từ tốn nói: “Hòn đá này là Trời đặt tại đây, sức người không thể di chuyển được, tôi tự lấy xấu hổ bất tài, ở núi chỉ cầu bình an, không dám có ý nghĩ không yên phận, đan và kiếm tôi cũng không dám lấy”.

Thiên thần nghe rất cảm động nói với ông: “Chỉ cần tịnh tiến không lười biếng, đan và kiếm tự nhiên chạy đến hòn đá này”.

Qua ba năm, thiên thần mang kiếm và đan tặng cho Khứ Xa. Ông xem quả thật là Thất tinh kiếm của Trương Thiên Sư, còn đơn dược vẫn ở trong bình, khoảng chừng một đấu. Khứ Xa không những một mình uống mà còn đem nó cho những người bệnh uống nữa.

Thời gian ấy có một người ở huyện Lệ Thủy tên Nhân Hoa Tạo, thừa cơ hội triều đình có nạn chiếm lĩnh huyện thành, triều đình không còn cách nào, chỉ tốt hơn phong ông làm thích sử. Hoa Tạo rất hung bạo, ông nghe nói Nghiệp Khứ Xa có kiếm thần và đan thần, lúc đó dẫn binh bao vây Mao Sơn, còn bắt Nghiệp Khứ Xa. Không lấy được kiếm và đan của ông, đem ông nhốt vào trong một căn nhà trống. Lúc bấy giờ mùa hè thời tiết nóng bức, Nghiệp Khứ Xa một tháng không ăn uống. Hoa Tạo nghĩ trong lòng chắc chắn ông sẽ chết, khi mở cửa ra thấy Nghiệp Khứ Xa sắc mặt vẫn tươi hồng, Hoa Tạo kinh ngạc vội vàng đem ông trở về trên núi, nhưng giữ lại đan và kiếm của ông. Hôm đó, nửa đêm gió tuyết dữ dội, kiếm và đan trong luồng điện xẹt bây lên giống như bay về chỗ Khứ Xa.

Nghiệp Khứ Xa ở trong núi 15 năm, ông nói thường thấy rồng bay, lôi công và điện mẫu ở trong mưa, và còn có nhiều quỷ thần, thấy ông đều lần lượt hành lễ. Có một hôm ông nghĩ đến Đạo quán, đạo sỹ trong đêm nghe thấy trong phòng Khứ Xa có tiềng nói chuyện, đạo sỹ nhìn trộm, chỉ thấy mùi hương và tiếng vòng bội leng keng, có đội mũ mặc hồng bào, gái trai búi tóc, có mấy người cùng ngồi, người hầu đều là đồng nam đồng nữ. Lại  có thần minh đứng xa bảo vệ, thái độ rất kính cẩn.

Một hôm, Nghiệp Khứ Xa bảo đạo sỹ trong quán: “Ta e muốn rời khỏi núi này, sau này không thể thường thấy nhau”. Mấy tháng sau, trên trời bỗng xuất hiện từng đám mấy màu, nhạc tiên bềnh bồng, Nghiệp Khứ Xa ở trên núi đang bồi hồi. Không bao lâu tiên quan cưỡi mây ngũ sắc, rồng, nai tới đón ông ban ngày bay lên trời, dân ở chân núi đều chính mắt thấy cảnh kỳ lạ trang nghiêm.
   
   
ĐÀO HOẰNG CẢNH

Đào Hoằng Cảnh tự là Đạo Minh, người ở Mạt Lăng, mẹ ông nằm mộng thấy thanh long từ trong bụng chui ra, lại có tiên nhân ở bên vua bưng lư hương. Không bao lâu thì mang thai. Đào Hoằng Cảnh từ nhỏ khác thường, năm ông được 10 tuổi thấy truyện Thần tiên của Cát Hồng viết, ngày đêm nghiên cứu đọc. Có một lần ông nói với người khác rằng: “Tôi thấy mây xanh và ban ngày đều không cảm thấy xa”.

Cha của Đào Hoằng Cảnh bị người thiếp hại, ông nhớ lời dạy bảo, trọn đời không lấy vợ. Ông lớn lên thân cao 7 thước 7, khôi ngô tuấn tú, nghi biểu xuất chúng. Tướng mạo của ông có mấy tượng trưng kỳ quặc; Trên lỗ tai có bảy mươi mấy sợi lông dài, dái tai khỏi lỗ tai hơn hai phân, đầu gối bên phải có mấy mươi nốt ruồi đen, sắp hàng vị trí giống như Bắc đẩu thất tinh (bảy ngôi sao Bắc đẩu).

Đào Hoằng Cảnh đọc sách chừng một vạn quyển, cầm kỳ thi họa đều giỏi cả, năm 20 tuổi Tế Cao Đế mời ông làm Chư vương thi học, nhưng ông tuy sinh ra trong nhà giàu có lại không bước ra khỏi cửa, không giao thiệp với người quyền quí, chỉ thích nhất là đọc kinh.

Do đó, gia cảnh thanh bần, ông cũng muốn làm một ít việc cho huyện, nhưng không thành công. Năm Vĩnh Minh thứ 10, ông cởi áo quan mang trên Thần võ môn, dâng biểu từ quan. Hoàng đế chấp nhận và cho ông mỗi tháng 5 cân phục linh, hai thăng bạch mật, để giúp ông luyện thuốc, ngoài ra văn bó bá quan đều bái ông làm thầy, cung phụng phẩm vật chất cao như núi. Mọi người nói, đây là hiện tượng từ Tống,Tề trở về sau không bao giờ có. Tiêng tăm của ông làm cả triều đều tôn trọng. Sau khi từ quan, Đào Hoằng Cảnh ẩn cư ở Cau Dung trên Mẫu Sơn, tự xưng là Hoa Dương ẩn cư. Ông viết thư đều ghi nơi ẩn cư thay cho tên ông. Từ đó ông dạo khắp thanh sơn, tìm kiếm thuốc tiên, mỗi khi đến sơn cốc đều tịnh tọa trong chốc lát, ngâm vịnh bồi hồi, không làm chủ mình được.
Ông thường nói với đệ tử: “Nếu như lúc trước ta cầu làm quan thành công, ắt vì việc thế trói buộc, thì đâu có được ngày nay, có thể biết tu tiên không những cần có thiên phận mà cần có duyên phận phối hợp mới được”.

Đương thời, văn hòa Thẩm  Ước đang làm thái thú ở Đông Dương, rất kính ngưỡng khí tiết của ông, mấy lần viết thơ mời ông đều không đi. Đào Hoằng Cảnh người tràn đầy tính khiêm tốn, tâm như tấm gương trong sáng. Vĩnh Nguyên năm thứ nhất xây cất lên ba tầng lầu, Đào Hoằng Cảnh ngồi tại lầu trên, đệ tử lầu giữa, tân khách lầu dưới, từ đó không giao tiếp với người bên ngoài nữa. Chí có một người hầu có thể đến nơi ông ở thôi. Ông từ nhỏ giỏi cưỡi ngựa bắn cung, lúc già đều bỏ hết, ông thích thú nhất là thổi ống sênh, nhất là trong vườn cây phong tùng, thường thường nghe tiếng nhạc sênh của ông văng vẳng,  ông ngồi một mình trên hòn đá bên suối, trông về phương xa giống như một tiên nhân phóng khoáng tự nhiên.

Đào Hoằng Cảnh thích trước tác, nhất là tinh thông đạo lý biến hóa âm dương ngũ hành, y thuật di tích, lịch sử niên đại đều có nghiên cứu rất sâu sắc.Ồng rất khâm phục làm người như Trương Lương, thường nói: “Người xưa không ai sánh kịp Trương Lương”.

Triều đại Tề năm cuối, Đào Hoằng Cảnh căn cứ ca dao dân gian và sấm đương thời đoán triều đại Tề dứt ắt tới triều Lương, do đó Lương Vũ Đế lên ngôi đối với ông rất trọng đãi. Lúc đó, Đào Hoằng Cảnh đắc được bí quyết của bùa thần, cho thần đơn có thể căn cứ thần phù mà luyện thành, chỉ đáng tiếc thiếu một dược liệu, Lương Vũ Đế biết bèn ban cho ông các dược liệu quý trọng như Hoàng kim, Chu sa, v.v… giúp đỡ Đào Hoằng Cảnh luyện thành thần đơn. Đơn đã thành, sau đó uống thấy thân thể nhẹ nhàng, Vũ Đế thử nếm quả nhiên có hiệu quả, do đó đối với ông càng thêm trọng đãi. Nhưng triều đình nhiều lần mời ông làm quan, ông tuyệt đối từ chối. Ông vẽ hai con trầu, một con thả trên thảm cỏ, một con thì đeo xiềng vàng, có người bên cạnh cầm dây thừng buộc nó. Vũ Đế xem xong bức họa cười nói: “Vị tiên sinh này không chịu câu thúc (bó buộc). Chúng ta không thể mời ông ta ra làm quan”. Tuy nhiên như thế, mỗi khi quốc gia gặp đại sự gì, Vũ Đế đều nhất định tới mời ông chỉ dạy. Do vậy, người thời đó gọi ông là “Sơn trung tể tướng”.

Lúc Đào Hoắng Cảnh 80 tuổi, vẫn khỏe mạnh như người trung niên. Sách tiên nói: “Người có tròng mắt vuông có thể thọ ngàn tuổi”. Đào Hoằng Cảnh lúc về già tròng mắt có lúc biến thành hình vuông, ông thường mộng thấy Phật tới bảo ông, sau này sẽ tu thành chánh đạo, tên là Bồ Tát Thắng Lực. Do đó, ông đặc biệt đến A Dục Vương xây dựng tháp lập thệ, truyền ngũ giới cho vua, trở thành một Phật tử chính thức.

Giản Văn Đế khi đi tuần Từ Châu, khâm phục và ngưỡng mộ danh của ông, đặc biệt mời ông vào hậu đường. Đào Hoàng Cảnh đội mão bằng gai đến gặp vua, nói chuyện cùng Văn Đế mấy ngày mới đi, Văn Đế đối với ông rất kính phục. Đào Hoằng Cảnh có một đệ tử là Hằng Khải đắc đạo chưa bao lâu muốn lên trời. Hoằng Cảnh hỏi ông: “Ta tu cũng nhiều năm, tự hỏi vừa siêng năng vừa thành khẩn, vì sao ta vẫn lên trời không được, e rằng có lỗi chăng?” Ông liền ủy thác Hoàng Khởi lên trời hỏi, qua mấy ngày Hoàng Khởi lên trời về, nói với Hoàng Cảnh rằng: “Công đức của thầy rất lớn, chỉ là lúc luyện thuốc thường dùng cỏ các loại sinh vật trùng, nhái, tuy có công sức nhưng vi phạm lỗi nhỏ là sát sinh, vì duyên cớ này đợi mười hai năm sau mới có thể lên trời”.

Từ đó về sau, Đào Hoằng Cảnh không dùng  cỏ khô để thay thế tội giết sinh vật, làm riêng ba quyển bản thảo để chuộc tội. Có một hôm ông ngồi ngay ngắn tự biết là sắp quan đời, lúc đó ông làm thơ vĩnh biệt mọi người. Quả nhiên niên hiệu Đại Đồng năm thứ hai, lúc đó ông 85 tuổi từ giã cõi đời. Khi ông chết nhan sấc không thay đổi, tay chân vẫn mềm mại, mùi thơm khắp núi mấy ngày vẫn không tan.

Ông trước tác: Học Uyển: 100 quyển, Hiếu kinh, Luận ngữ tập chú, Đế Vương niên lịch, Bản thảo tập chú, Trửu hậu bách nhất phương, v.v… lưu truyền cho đời sau.

Trong Trang Tử có ngụ ngôn nói, vào Thái miếu làm con vật hy sinh không bằng làm con rùa kéo lê dưới sình lầy, đây là một thứ tinh thần xem nặng tự do là chủ yếu xuyên suốt của Đạo gia. Đào Hoằng Cảnh nói: “Hoàng Kim giá tỏa” cũng là ý này.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, quycoctu, dieunha, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, mavuong, tadamina, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 04, 2011, 01:55:05 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Sáu 04, 2011, 01:58:29 pm »

(tiếp theo)

HẰNG KHẢI

Hằng Khải là đệ tử của Đào Hoằng Cảnh, ông hầu hạ Đào Hoằng Cảnh ẩn cư ở Mẫu Sơn hơn 10 năm. Bản tính ông rất đoan chính, đạm bạc, vô vi. Một hôm trên trời bay đến hai người thanh đồng và một con hạc trắng.

 Đào Hoằng Cảnh vui vẻ đón tiếp họ, cho là đến đón mình lên trời. Không ngờ, thanh đồng nói với ông: “Thái Thượng muốn đón là Hằng tiên sinh”.

Đào Hoằng Cảnh mới phát hiện, mãi âm thầm vì ông mà Hằng Khải phục dịch, cuối cùng đã đạt đạo trước ông. Lúc đó bèn hỏi tu thành từ bao giờ, Hằng Khải về đáp nói ông mỗi ngày hướng về Thượng đế lạy liên tiếp đã chín năm rồi.

Sau đó, Đào Hoằng Cảnh đưa mắt tiễn đưa buồn bã, Hằng Khải cưỡi hạc trắng chầm chậm bay lên trời xanh.
Hàn Dũ nói: “Văn đạo hữu tiên hậu thuật nghiệp hữu chuyên chính”. Do đó, thầy không cần sự tôn kính nơi trò. Hằng Khải thành đạo trước Đào Hoằng Cảnh là một ví dụ rất hay. Mục đích giáo dục là hy vọng “thanh xuất ư lam” (màu xanh có từ màu lam), nếu như học sinh mãi mãi không bằng thầy, văn minh như thế vẫn có thể tiến bộ ư? Thầy là giá trị phải tôn trọng, nhưng thầy dẫn đường lại chẳng cần đồng đẳng ở quyền uy.


   
LỘC BÌ ÔNG


Lộc Bì Ông là người Lưu Xuyên, lúc tuổi trẻ giỏi về nghề mộc, trên Lĩnh Sơn có một dòng suối thần, nguời phàm không có cách tìm đến mà Lộc Bình Ồng có thể ở trên dòng suối làm cái gác quay như bánh xe (chuyển luân các), lại ở trên đỉnh núi cất một cái miếu, và ở bên miếu này 70 năm.

Một hôm Lộc Bì Ông xuống núi, kêu gia tộc hơn 60 người đi lên núi, mọi nguời đều không biết cần gì. Đang đoán thì nước lớn bỗng nhiên dâng lên  ngập chìm cả thôn. Sau này, hơn một trăm năm, có người còn thấy ông bán thuốc trong thành.

Thợ mộc cũng có thể trở thành đạo, cho nên thấy tu hành thì không có giai cấp, trái lại, người có quan niệm giai cấp cũng rất khó thành đạo.
   
   
KHẤU KHIÊM

Khấu Khiêm là người ở Xương Bình. Lúc còn nhỏ ông gặp được tiên nhân Thành Công Hưng, hai người cùng đi chơi Tung Hoa Sơn, hái thuốc núi, từ đó ẩn cư trên núi.

Thời Bắc Nguỵ trong năm niên hiệu Thuỷ Quang, triều đình mời ông vào trong cung. Thôi Hạo đích thân bái ông làm thầy, có một hôm ông nói với đệ tử rằng: “Đêm qua ta mộng thấy Thành Công Hưng mời ta đi Trung Nhạc tiên cung”.

Nói xong, ông ngồi ngay thẳng qua đời, chỉ thấy một làn khói xanh từ trong miệng  bay ra, bay thẳng lên không trung rồi dần dần tiêu mất, đồng thời thân ông cũng dần dần rút nhỏ lại, có nguời nói thi thể của ông đã tan ra. Sau này, Trần Dư ở Đông Quận, gặp được Khấu Khiêm trên Trung Sơn, toàn thân đều xuất ra ánh sáng bạc, sáng như mặt trời mới biết ông đã thành tiên.

Lại có người nói, Thành Công đã từng nói với Khấu Khiêm: “Ta muốn đi du ngoạn, không bao lâu có người đưa thuốc cho ngươi, ngươi cứ uống”.

Kết quả thật như Thành Công nói, nhưng Khiếu Khiêm vừa nhìn, lại phát hiện thuốc đó đều là cac loại đồ đỏ như trùng, Khấu Khiêm uống không nổi, người đó đi và báo cáo với Thành Công Hưng, Công Hưng bèn than rằng: “Khấu Khiêm e khó thành tiên”. Có một hôm Thành Công Hưng nói với Khấu Khiêm rằng: “Trưa mai, ta đi, ngươi vì ta mà tắm rửa, sau này sẽ có người đến đón ngươi”.

Thành Công Hưng nói xong vào trong hang đá chết. Khấu Khiêm tự tay mình tắm rửa cho ông, rửa xong quả nhiên có người tới kêu cửa. Khiêm ra xem, đó là hai đồng tử, một người nâng lên pháp phục, một người nâng tích trượng. Khấu Khiêm mời họ vào thạch thất, không ngờ Thành Công Hưng đứng dậy mặc y phục cầm tích trượng đi.

Nguỵ Minh Đế niên hiệu Thần Đoan năm thứ hai, có một hôm Thái Thượng Lão Quân đi xe ngựa trắng chở chín con rồng đến trên đỉnh núi Tung Dương, mệnh lệnh Tiên Bá Vương, Phương Bá Lịnh, Khấu Khiêm đến trước mặt ông, nói: “Ngươi thành tâm tu hành, bây giờ ta truyền nhiệm vụ Thiên Sư cho ngươi, ngươi nên tự cố gắng”.

Sau đó, ông gặp lại thần nhân Lý Phả Văn, Lý tự xưng là cháu của Lão Tử. Phả Văn truyền cho ông Đỗ triện chân kinh hơn 60 quyển, từ đó Khấu Khiêm công lực tăng nhiều, không bao lâu thì đắc thành tiên.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, dieunha, chonhoadong, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Sáu 04, 2011, 02:02:47 pm »

(tiếp theo)

BẠCH HẠC ĐẠO NHÂN

Thời Lương Vũ Đế có một đạo sỹ, ông thấy phong cảnh kỳ tuyệt ở trên Dã Châu Tiềm Sơn, rất muốn được lên núi ẩn cư. Đồng thời có một vị hòa thượng Thiến sư Bảo Chí cũng hy vọng tu hành ở Tiềm Sơn. Vũ Đế kêu hai người, mỗi người đem đồ đạc của mình để trên núi, ai đem để trước trên núi là núi của người đó. Đạo sỹ lấy Bạc Hạc làm dấu hiệu còn thiền sư thì lấy tích trượng làm dấu hiệu, hai nguời nói xong bắt đầu một trận thi đấu kỳ quặc.

Đầu tiên Đạo Nhân cưỡi Bạch Hạc bay vọt lên trời, đang lúc bay tốc lực bỗng nhiên nghe thấy giữa hư không có tiếng thiền trượng bay đi vù vù. Sau đó, hầu như cùng một lúc thiền trượng rơi xuống lưng chừng núi, còn Bạch Hạc cũng rớt riêng một bên núi.

Lương Vũ Đế thấy thế vỗ tay cười lớn, cho rằng hai vị thần thông không phân cao thấp, lúc đó công bố hai người đều thắng, nhân đó hai vị đều có quyền làm nhà tranh tu hành nơi vật và mình rơi xuống.
   
   
VƯƠNG DIÊN

 Vương Diên tự là Tử Nguyên, người Phù Phong, mới 9 tuổi đã ham tu đạo, bái Tiêu Khoáng chân nhân làm thầy, đắc được chân truyền của Tam Động bí quyết, mỗi ngày chỉ uống nước lã và ăn hạt thông mà có thể sống.

Châu Võ Đế mời ông  vào kinh sư, nhưng ông không quen sinh hoạt trong cung đình, không bao lâu trở vè núi. Lúc đó, ông ở Tây Nhạc, không có dầu đèn, liên đặt một đồ đựng, trong khoảng khắc liền biến ra đầy dầu. Nếu có khách đến, tiên đoán sẽ có ba con chim xanh bay tới báo tin cho ông. Chỗ ông ở thường có cọp beo rất hiền vây quanh, dáng điệu giống như đang bảo hộ ông.

Mùa xuân niên hiệu Nhân Thọ năm thứ tư, Vương Diên nói với đệ tử rắng: “Ta muốn đi về Tây Nhạc chỉ sợ Hoằng thượng tới đây”. Nói xong ông ngồi ngay ngắn qua đời. Tùy Văn Đế sai sứ thần an táng ông ở Tây Nhạc, lúc an táng mới phát hiện quan tài trống không.


   
LÝ THUẬN HƯNG

Lý Thuận Hưng là người xứ Đỗ Lăng, ông có lúc rất thông minh có lúc lại ngu muội, tiên đoán việc vị lai đều rất ứng nghiệm. Bình thường ông đội mão đạo sỹ, thích uống rượu, điệu bộ trông giống như con ngựa, buông thả không ràng buộc gì.

Tiêu Bảo Dân muốn tạo phản, liền mời Thuận Hưng đến hỏi: “Ngài xem ta có thể làm vua mấy năm?’. Thuận Hưng đáp: “Thiên tử có một trăm năm, cũng có một trăm ngày.” Sau này, Tiêu Bảo Dân bại, quả nhiên mới có đúng một trăm ngày. Đồ đảng của Bảo Dân vì hận Lý Thuận Hưng dùng gậy đập chết ông, bỏ thi thể trong miếu thành hoàng. Không ngờ chốc lát ông sống lại . Lý Thuận Hưng từng nằm ở nhà của Thái Bảo Lương Lãm và còn mặc y áo ngược nữa. Sau này Lương Lãm thất bại khi bị giết quả nhiên mặc y phục ngược. Ông từng cùng Châu Văn bàn về vùng đất hoang dưới Lệ Sơn. Châu Văn hỏi ông chỗ dùng làm sao. Ồng chỉ nói: có chỗ dùng. Không bao lâu Châu Văn gặp nạn, chết ở Lệ Sơn chính tại mảnh đất hoang đó.

   
   
TÔN TƯ MẠO

Tôn Tư Mạo là người Trung Nguyên, từ nhỏ thông minh trí tuệ hơn người, mới 7 tuổi mà mỗi ngày có thể đọc thuộc ngàn chữ, danh nhân thời ấy ca ngợi ông rằng:

“Đây là Thánh Đồng! Đáng tiếc tài chí quá cao, sợ e không ở trong thế tục phát triển”.

Tôn Tư Mạo lớn lên sau này quả thật ham thích tư tưởng Lão Trang, thời Châu Tuyên Đế vì thời cuộc không yên, lúc đó ông ẩn cư dưỡng thần học đạo ở Thái Bạch Sơn, đối với thiên văn, y dược ông đều nghiên cứu rất sâu, ông thích nhất là làm việc thiện một cách âm thầm.

Có một hôm ông đi bách bộ trên núi bất ngờ gặp một con rắn nhỏ, bị mục đồng đánh đập bị thương chảy máu. Tôn Tư Mạo lập tức cởi áo trên mình chuộc con rắn đem về chữa trị, ông cho con rắn uống thuốc cẩn thận, xong đem thả nó về trong đám cỏ. Qua mấy ngày ông đi tản bộ bên ngoài, giữa đường gặp một chàng thiếu niên mặc bộ đồ trắng xuống ngựa hướng về ông hành lễ, nói: “Em tôi là Thừa Mông được tiên sinh cứu mạng thật cảm kích vô cùng”.

Tôn Tư Mạo cảm thấy ngơ ngác, lúc đó không biết trả lời thế nào. Chàng thiếu niên đó lại mời ông về nhà, thiếu niên còn dẫn ngựa cho ông cưỡi, họ cùng nhau rong duổi đi, không bao lâu đến một cái thành nhỏ, cây cối tươi tốt, vàng ngọc óng ánh, tôn nghiêm giống như nhà Vương hầu, chàng thiếu niên Bạch y mời Tôn Tư Mạo vào nhà, ông trông thấy một người mặc áo hồng đội nón nhỏ, người hầu đứng đầy bên ông, người này vừa thấy Tôn Tư Mạo tới, liền tươi cười ra nghinh tiếp. Ông nói:

“Thừa Mông tiên sinh ân sâu, do đó đặc biệt phái con trai tôi tới đón rước ngài”.

Ông vừa nói vừa lấy tay chỉ đứa trẻ áo xanh nói: “Mấy ngày trước, đứa bé này đi ra ngoài đường bị mục đồng đánh bị thương, may được ngài cởi áo chuộc cứu mạng, nó mới sống đến ngày nay.”

Nói xong ông kêu đứa bé áo xanh bái tạ Tôn Tư Mạo, Tư Mạo mới nhớ lai mấy ngày trước cởi áo chuộc con rắn, nhưng trong lòng vẫn không yên, ông mới hỏi người bên cạnh đây là xứ nào. Người nhà nói với ông đây là Kinh Dương Thủy Phủ. Người Vương giả Hồng Y kia ra lệnh bày tiệc rượu, vũ nữ, chiêu đãi Tôn Tư Mạo, nhưng vì ông tu luyện đoạn thực nên từ chối, chỉ uống một ít rượu, lưu lại liên tực 3 ngày, sau đó vương giả lai tặng ông nhiều trân châu, bửu bối. Tôn Tư Mạo khăng khăng không nhận. Vương giả hồng y kên con trai của ông lấy ngọc quý, thuốc trong long cung 30 thứ tặng cho Tôn Tử Mạo nói:

“Mấy thứ thuốc này có thể giúp tiên sinh cứu dân độ thế”.

Sau cùng vương giả mặc hồng y sai người dùng ngựa đưa Tôn Tư Mạo trở về nhà. Sau này, Tôn Tư Mạo dùng thuốc này chữa bệnh rất công hiệu, lúc đó ông bèn biên thành sách tính dược Thiên Kim.

Tùy Văn Đế ngưỡng mộ đại danh của Tôn Tư Mạo, muốn mời ông làm quan, ông khéo từ chối, ông từng nói riêng với người khác rằng: “Năm mươi năm sau sẽ có thánh nhân ra đời trị bệnh cho thiên hạ, lúc đó ta sẽ hiệp sức giúp ông ta cứu nhân độ thế”.

Sau này quả nhiên tới thời Đường Thái Tông cai trị, ông mới chịu lên kinh đô bái kiến Hoằng Đế. Đường Thái Tông rất kinh ngạc, ông dung mạo  hãy còn trẻ, bèn nói với ông: “Tôi nghe nói người có đạo đều có giá trị tôn trọng, lại không ngờ tu đạo chân thành thanh xuân mãi mãi, trường sanh bất lão.”
Niên hiệu Vĩnh Trinh năm thứ ba, Tôn Tư Mạo hơn 100 tuổi. Một hôm ông tắm rửa xòng, ngồi ngay ngắn trên giường nói với con cháu rằng:

“Hôm nay ta muốn đi học hỏi không định nơi nào”
. Không bao lâu ông tắt thở, nhưng sắc mặt ông vẫn tươi nhuận cả một tháng không thay đổi, lúc nhập quan chỉ còn thấy một bộ đồ không, còn xác thịt đi đâu không rõ.

Lúc Đường Mịnh Hoằng tránh nạn ở Tứ Xuyên, mộng thấy Tôn Tư Mạo hướng về ông xin Võ Đế hùng hoàng, lúc đó kêu người tặng cho ông 10 cân đem lên đỉnh núi Nga Mi. Sứ giả lên đến lưng chừng núi trông thấy một người râu mày đều trắng phau, có hai đồng tử mặc áo xanh đứng hầu. Họ thấy sứ giả tời liền dùng tay chỉ thạch bàn nói:
“Có thể đem thuốc để trên hòn đá náy, trên cục đá có tấm biểu trang, ngài có thể đem nó sao lại để cảm tạ với Hoằng thượng”.

Sứ giả nhìn kỹ, trên hòn đá quả thật có hơn 100 chữ lớn, lúc đó bèn cung kính sao lại, ông vứa sao chữ thì mặt chữ cũng tiêu mất, sao xong dấu tích chữ trên đá cũng không còn nữa, trong chốc lát khói trắng đầy khắp, ông lão và thanh đồng cũng mất tiêu hình bóng.

Thời đó có một vị hòa thượng sống ở thành đô Tứ Xuyên chuyên nhất tu theo kinh Pháp Hoa, tuy có binh loạn cũng không thể làm hại ông được. Có một hôm người đầy tớ ăn mặc trang điểm đàng Hoằng tới nói với ông rằng: “Tiên sinh thỉnh pháp sư đi tụng kinh”.

Họ đi ngang qua một cái đồi sương mù, đi vào một sơn gia. Người đầy tớ nói: “Tiên nhân vẫn còn bệnh (già bệnh) thỉnh tiên sinh tụng đến phẩm Bửu Tháp, tiên sinh muốn nghe chính miệng ngài tụng”.

Hòa thượng có chút buồn trong lòng, nhưng ông vẫn thành tâm một lòng tụng niệm lanh lảnh, đợi đến khi tụng “Pháp Bửu Tháp” xong, quả nhiên từ trong nhà đi ra một ông lão tiên phong đạo cốt, hai trái tai thòng tới vai, tay cầm gậy, vừa đốt hương vừa nghe kinh.

 Hòa thượng tụng kinh xong, ông đem cái bàn bằng mây và đũa tre, bên trong một thau cơm mấy ly trà cúc. Hòa thượng ăn xong cảm thấy không có một chút vị muối, lại thơm tho vô cùng, như cam lộ.

Ăn xong, chủ nhân đưa ông một xâu tiền, người đầy tó tiễn ông ra lộ, hòa thượng không nhịn được sự hiếu kỳ hỏi: “Vị tiên sinh đó là ai?’.

Người đầy tớ mỉm cười nói họ Tôn, sau đó mới viết hai chữ trong lòng bàn tay “Tư Mạo”. Hòa thượng kinh ngạc,vừa ngẩng đầu thì người đầy tớ đã biến mất, không thấy tông tích đâu.Ông cúi đầu xuống đi vừa mới phát hiện tiền thưởng đều là vàng.

Từ đó về sau, vị hòa thượng này cảm thấy thân thể khỏe mạnh, ngày thường không bệnh tật, mãi đến thời đại Tống, hòa thượng này đã hơn 200 tuổi, sau đó lại giống hệt tướng Tôn Tư Mạo, sau này sống chết ra sao cũng không rõ được, không biết có thành Tiên hay là thành Phật chăng?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, dieunha, chonhoadong, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 04:20:00 am »

(tiếp theo)

THÔI CHI ĐẠO

Thôi Chi Đạo là người Dã Thành, làm đạo sỹ ở Trấn Nguyên Cung.

Có một hôm ông vào núi chơi, bắt gặp hai vị tiên nhân đánh cờ, ông đứng im lặng bên cạnh xem, đang xem thì có một vị tiên ngước lên nhình, rồi mỉm cười nói:

“Người làm gì tìm đến nơi này? Chắc cũng là người có duyên”.

Còn vị tiên kia cũng ngước mặt lên nói: “Người cũng muốn học đạo tu thành tiên không? Thử đi, ăn thử cái này đi”. Nói xong, thuận tay lấy một con cờ đưa cho Thôi Chi Đạo. Thôi  Chi Đạo không chút ngại ngùng bỏ vào miệng nuốt luôn, chỉ cảm thấy man mác, rồi trố mắt nhìn hai vị tiên đã đi đâu mất.

Từ đó, Thôi Chi Đạo có thể đoán biết việc tốt xấu, họa phúc, không bao lâu cũng tu thành tiên.

   
   
TỪ TẮC

Từ Tắc người xứ Đông Hải Diệm, tính tình ít ham muốn, từ lúc nhỏ đã có chí nguyện ẩn cư. Ông tu đạo ở Bạch Vân Quan, có một hôm Thái Cực Từ Chân nhân giáng lâm nói với ông:

“Năm ngươi 80 tuổi làm thầy của Đế Vương, sau đó có thể tu thành Tiên”.

Từ đó về sau Từ Tắc ở núi Thiên Thai, thực hành tuyệt thực, mỗi ngày chỉ ăn một ít trái thông. Lúc Tùy Thang Đế đến Dương Châu, từng viêt thư mời gặp ông. Từ Tắc nhận thư nói với đệ tử rằng: “Ta năm nay đúng 80 tuổi, mà vua mời ta vào cung. Từ chân nhân dự đoán quả là linh nghiệm”.

Từ Tắc vào cung sau đó vua thỉnh ông truyền giao đạo pháp, lúc ông tịnh khẩu chưa đúng giờ thì không đáp ứng, ngay đêm hôm đó ông bỗng nhiên qua đời. Tùy Thang đế phái người đến núi Thiên Thai mai táng, nhưng đồng thời có người trông thấy ông cùng đệ tử đi bộ về trên núi.

Ông trở về núi Thiên Thai một cách thần kỳ, sau đó đem kinh sách đạo pháp truyền thọ cho đệ tử, kêu người quét dọn một cái phòng sạch sẽ, dặn dò nói:

“Lập tức sẽ có sứ giả triều đình tới, các ngươi có thể ở phòng này chiêu đãi họ”. Nói xong, ông liền bay đi, năm đó ông 82 tuổi. Ngày thứ hai quả nhiên có sứ giả tới thăm hỏi, nhưng đến nơi đều tìm không thấy ông. Tùy Khang đế buồn bã, tìm một họa sư vẽ bức tượng của ông để ký niệm.
   
   
THÔI TỬ NGỌC

Thôi Tử Ngọc tên Quyết, người ở Bành Thành, mọi người đều gọi ông là Thôi Phủ Quận, bởi vì ban ngày ông xử lý án kiện của dương quan, ban đêm lại đến âm phủ xử án. Trước khi ông sinh ra, cha mẹ ông đồng đến Hoành Sơn cầu thọ, ban đêm hôm đó mẹ ông mộng thấy tiên đồng mang một cái hộp nói:

“Thượng đế ban cho người cái hộp bảo vật muốn cho vợ chồng ngươi nuốt nó vào”.

Họ mở ra xem, chí thấy bên trong có hai hột ngọc đẹp, hai vợ chồng mỗi người uống một viên. Mẹ ông tỉnh dậy cảm thấy mang thai. Triều nhà Tùy niên hiệu Đại Nghiệp năm thứ ba, mồng sáu tháng sáu hạ sanh Thôi Tử Ngọc.
Thôi Tử Ngọc lúc nhỏ thần sắc rạng rỡ, sách đọc qua thì không quên. Ông không thích cùng trẻ em khác vui chơi, hoàn toàn đi tới đi lui một mình.

Đời nhà Đường niên hiệu Trịnh Quán năm thứ 7, ông được phái làm huyện bộ Châu Trường Tử, từ lúc đó xét xử hình án hai cõi âm dương, minh trí quyết đoán như thần minh. Có một hôm, ông dán bố cáo, thông lệnh cho dân cư ngày 15, 16 tháng 5 hai ngày đó không được giết hại săn bắn. Lúc đó, có một người thợ săn lén đi ra ngoài thành bắn giết một con thỏ, lúc về nhà bị quan lại bắt được. Thôi Tử Ngọc nói với anh ta rằng:

“Ngươi rõ biết mà cố phạm, ta không thể tha cho ngươi, nhưng ngươi có thể lựa chọn, hoặc là chịu tội nha môn, hay là tình nguyện đến âm phủ chịu phạt”.

Thợ săn suy nghĩ âm dương mơ hồ, có thể chạy trốn tội, liền đáp tình nguyện đến âm phủ chịu tội phạt. Ngay tối hôm ấy, người thợ săn mới lên giường, thì có một con quỷ mặc áo vàng bắt đêm đến quan phủ. Anh ta ngẩng đầu lên nhìn, người ngồi trên chính là Thôi Tử Ngọc. Ông mặc y phục của Vương Giả, đang thẩm xét tội phạm, có một vài tội phán họ bị đoản mạng, có một vài tội giảm tổn phước lộc của họ. Người săn bắn kia cũng chịu tội giảm thọ. Ngày thứ  hai vừa tỉnh dậy trong lòng còn lo sợ nhưng hối hận cũng không kịp rồi.

Lại có một lần, trên Điêu Hoằng Lĩnh, có con cọp làm hại người ta. Thôi Tử Ngọc lập tức sai người lên sơn miếu bắt con cọp, cọp ngậm công văn của ông đến nha môn. Thôi Tử Ngọc thấy cọp đến chửi lớn rằng:

“Người là súc sinh mà dám ăn thịt người, tội không thể tha thứ được”.

Con cọp bị ông chửi lập tức đập đầu vào tường tự sát mà chết.

Thôi Tử Ngọc xử qua nhiều án như vậy, do đó gần xa đều nổi tiếng. Đường Thái Tông gọi ông là “Thiên Sứ”. Không bao lâu ông chuyển về huyện Phủ Dương làm quan, cách phía tây huyện thành năm dặm có một con sông, thường bị tai nạn nước dâng ngập ruộng vườn. Lúc đó, Thôi Tử Ngọc lập thần đàn trên sông và hướng về thượng đế cầu cáo, không bao lâu bỗng có một con rắn lớn chết nổi trên mặt nước, nước không còn dâng cao nữa.

Một hôm, Thôi Tử Ngọc cùng một người bạn đánh cờ, có mấy người bưng một tấm trạng giống như Thánh chỉ tới nói với ông rằng: “Chúng tôi vâng lệnh thượng đế, triệu Thôi Tử Ngọc làm thần Thổ địa ở Từ Châu”.Theo sau có hơn 100 người bưng ngọc giai, ngọc đới, y phục tía, mão xanh, cờ xí ngũ nhạc, vừa tấu nhạc tiên vừa cưỡi bạch mã tới nói với ông:

“Thượng đến bảo các vị khởi hành”.

Thôi Tử Ngọc dặn dò hai đứa con: “Ta sắp qua đời, các con không nên buồn bã”. Ông lấy bút viết bài minh 100 chữ để dạy dỗ ngăn cấm đệ tử, sau đó an nhiên nằm ngủ, rồi qua đời, lúc đó ông thọ 64 tuổi.
(sau gọi là BÁ TỰ CHÂM)

Khi An Lộc Sơn tạo phản, Đường Huyền Tông ban đêm mộng thấy thần nhân bảo ông rằng: “Giặc chắc chắn sẽ bị tiêu diệt, bệ hạ chớ nên lo sợ”.

Đường Huyền Tông hỏi họ tên ông ta, ông đáp: “Ta là Thôi Tử Ngọc”.

Đường Huyền Tông sau khi về kinh thành, liền xây miếu thờ ông và phong cho ông Linh Thánh hộ quốc thần.

Lúc Tống Cao Tông chạy đến Cự Lộc, giữa đường ngựa chết, phải đội mưa đi một mình, không bao lâu gặp một ngã ba đường, không biết đi phải chọn đường nào.

Đang bồi hồi thì thấy một con ngựa trắng đi phía  trước, Cao Tông vội vã muốn cưỡi ngựa, thì phía sau nó liền chạy tới. Đến tối, tới một ngôi miếu, trông thấy một con bạch mã bằng đất nung, nhìn kỹ thấy con ngựa đó còn đổ mồ hôi đầy mình.

Đêm ấy, Tống Cao Tông ngủ trong miếu, mộng thấy người mặc áo bào tía, càm gậy kêu cửa, miệng nói: “Đi nhanh”. Cao Tông giật mình tỉnh dậy,cảm thấy bụng đói vô cùng, ông đang lo lắng bỗng thấy trong điện có tiếng truyền ra, lúc đó đi lên điện để xem, không ngờ trên điện tượng thần được thờ chính là Vị ông thấy trong mộng. Trên điện đề rằng: “Từ Châu Thổ Địa Thôi Phủ Quận”.

Phía sau bức hoành có giấu một cái hộp, trong hộp đựng đầy rượu thịt. Cao Tông ăn uống no nê. Ăn xong sau đó ông định đi, con bạch mã lúc này tự động chạy ra, chở ông đi đến Kiều Cốc rồi biến mất không thấy nữa.

Tống Cao Tông nhân đây mà được cứu nạn, khi ông sang nam, việc trước tiên là lập miếu thờ Thôi Phủ Quận.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, dieunha, chonhoadong, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 04:24:35 am »

(tiếp theo)

KHUÔNG TRÍ

Khuông Trí là người Trường An, khoảng niên hiệu Trịnh Quán nhà Đường, ông từ bỏ vợ con cùng một đứa cháu là Đại Lang vào Lô Sơn tu đạo.

Buổi tối ngày thứ 7 khi họ đã đến được Lô Sơn, bỗng có một ông già nói với họ: “Lô Sơn phong thủy không tốt, các vị tu ở đây không thành tiên, phía Nam có một ngọn núi nổi tiếng, có thể đến đó tu hành”.

Lúc đó, Khuông Trí và Đại Lang dời đến Kiết Châu, xa xa trông thấy Nghĩa Sơn. Một đêm có sơn thần làm tiều phu dẫn họ vào trong núi, và nói với họ rằng:

“Ở đây rất an ổn, có thể yên tâm tu hành”.

Hai chú cháu tu hành nhiều năm, có một bữa nọ trên trời bay xuống một bộ đồ tiên nhân. Khuông Trí mặc vào, chỉ thấy dưới chân mây tụ lại, không hiểu sao cả, tự nhiên bay lên trời.

   
   
MINH SÙNG NGHIỄM

Minh Sùng Nguyễn là người Lạc Châu, lúc nhỏ theo cha ở huyện An Hỉ, ở đó có một đạo sỹ có thể kêu gọi quỷ thần. Sùng Quảng  học pháp thuật với ông, từ đó xa gần điều biết danh.

Đường Cao Tông từng mời gặp ông, đối với ông rất yêu thích. Lúc ấy đang mùa hạ, Hoằng đế muốn làm một ít tuyết cho bớt nóng. Sùng Quảng  ngồi ngay thẳng trong khoảng khắc, biến ra tuyết rất nhanh, nghe ông nói là đến Âm Sơn lấy về.

Lúc mùa đông, Cao Tông lại muốn ăn dưa. Sùng Quảng  nhờ vua đưa cho ông 100 đồng tiền, không bao lâu dâng lên cho vua trái dưa mùa hạ mới có. Nghe ông nói dưa này là từ trong vườn dưa của Duy Thị Lão nhân đem về, lúc đó Hoằng đế mới sai người kêu lão nhân tới hỏi, lão nhân nói rằng ông ta chôn dưới đất một trái dưa, hôm đó bỗng nhiên mất tích, chỉ thấy trong đất chôn 100 đồng tiên.
   
   
VI THIỆN TUẤN

Vi Thiện Tuấn là người Kinh Triệu, mẹ ông là Vương Thị lúc mang thai ông, mỗi lần ăn thịt thì bụng đau đớn, ăn chay thì lành yên vô sự. Do đó, Vị Thiện Tuấn 13 tuổi bắt đầu ăn chay.

Vi Thiện Tuấn học bí thuật với đạo sỹ Hàn Nguyên, ngày thường ông có hai thanh đồng hầu hạ hai bên. Có một lần ông ngụ ở trong Thăng Tiên Quan, có một thần nhân lớn tiếng nạt với ông rằng:

-“Người là gì mà dám đến chốn này, còn không mau đi hả?”.

Vị Thiện Tuấn không vội vàng trả lời, nói: “Thần nhân tự xét tôi đi, đâu cần ép bức người ta quá như thế”. Thần nhân thấy ông thần thái tư nhiên thì xin lỗi bỏ đi.

Có một hôm Vi Thiện Tuấn trên đường đi đến Đàn Hư Điếm, bỗng có một con chó đen đi vòng quanh bên ông không chịu đi, lúc đó ông bắt đem về nuôi, đặt cho nó tên là “Ô Long”. Qua một thời gian Vi Thiện Tuấn nói với đệ tử rằng: “Ta một trăm năm học đạo, hôm nay Thái Thượng Lão Quân muốn triệu ta đi”.

Nói xong, con chó đen bỗng dài ra mấy trượng, vừa trở mình biến thành một con rồng đen. Vi Thiện Tuấn cưỡi lên lưng nó bay lên trời. “Đại hiền hổ biến ngu bất trắc, đương thời phả tự tầm thường nhân”. Đây là thơ Lý Bạch, đạo nhân và thường dân không khác, anh hùng và người đi đường không khác, nhưng chỉ có tâm hữu vi hữu thủ, đâu phải phàm phu tục tử có thể tưởng tượng được. Công phi thường trong lúc bình thường lặng lẽ nuôi dưỡng, một ngày bay lên biến hóa mới hiện ra cái phi thường, người thành tiên, chó hóa rồng, há là một sớm một chiều mà được ư?

      
VƯƠNG MẠO TIÊN

Vương Mạo Tiên bình thường tính tình thích vào nhà người ta, sửa mũ nón cho người, do đó người ta đều gọi ông là “Vương Mạo Tử”. Vương Mạo Tử tướng mạo bình thường, không ai biết ông có đạo thuật, chỉ biết mỗi tối ông đều ngủ trong Thiên Khánh Quan.
Một hôm, Vương Mạo Tử ngồi ngay ngắn qua đời, đạo sỹ trong quan cùng nhau an táng ông. Không ngờ, sau hơn một tháng Thiên Khách Quan nhận được một bức thư từ Quả Châu gởi đến, mở ra xem thì ra là thư cảm tạ của Vương Mạo Tử. Đạo sỹ trong quan nhìn nhau  kinh ngạc không yên, tin tức truyền ra người trong thành đều tin ông đã bí mật tu thành tiên, lúc đó cái tên “Vương Mạo Tử” từ đấy đổi thành “Vương Mạo Tiên”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, dieunha, chonhoadong, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 04:29:49 am »

(tiếp theo)

VƯƠNG DAO

Vương Dao là người Giang Tây. Phàn Dương học đạo lúc còn trẻ, ông giỏi về y thuật, trị bệnh không dùng kim, thuốc mà chỉ lấy một tấm khăn bố dài 8 thước , trải lên chỗ bị bệnh, người bệnh khó chịu chốc lát thì khỏi bệnh. Nếu như có người trúng tà, ông vẽ một cái ngục trên mặt đất, vừa gõ cục đá, vừa chửi tà mị vội chạy nhanh vào “lao ngục”. Vương Dao có người đệ tử, anh ta thường mang theo cái giỏ trúc sau lưng. Không kể mưa to gió lớn thế nào, y phục của anh ta cũng không bị ướt.

Có một hôm Vương Dao đi vào trong một cái sơn động, có hai người la lớn tiếng với ông rằng: “Vì sao người lại nhảy vào chốn phàm trần này?”.

Vương Dao đáp, ông đi chơi tự nhiên đưa đến đây. Hôm đó, ông quảy giỏ trúc ra về, rồi thành tiên luôn.

   
TƯ MÃ THỪA TRINH

Tư Mã Thừa Trinh tự là Vi, người ở Lạc Châu, bái Sư Phan Chánh học đạo, sau đó đắc đạo đi khắp các danh sơn. Đường Võ Hiệu từng mời ông vào cung, nhưng không bao lâu ông ra đi. Bạn bè ông thích nhất có một vài văn nhân đương thời như: Vương Duy, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Hạ Tri Chương, Hộ Tạng Dụng, Tồng Chi Vân, Vương Địch, Hoa Câu, v.v… Thời bấy giờ người ta gọi họ là “Tiên tông thập hữu”. Đường Duệ Tông ngưỡng mộ cao danh của ông, cũng từng đón ông về kinh sư, thỉnh ông dạy đạo thuật, Tư Mã Thừa Trinh đáp lời nói:

Nguyên tắc tu đạo nên giảm bớt tình dục, cho đến đạm bạc vô vi”.

Hoàng đế lại hỏi: “Đây là nguyên tăc tu thân, còn nguyên tắc trị quốc?”.

Tư Mã Thừa Trinh đáp: “Trị thần tức là trị quốc. Do đó, tâm đạm bạc, tự nhiên vô tư thì thiên hạ thái binh”.
Hoàng đế nghe rất khen ngợi rằng: “Thì ra đạo lý của tiên nhân cổ đại, Quảng Thành Tử cũng chẳng qua như thế thôi”.

Sau đó, Tư Mã Thừa Trinh lại về ẩn cư ở núi Thiên Thai. Hộ Tạng Dụng rất hâm mộ Hoằng đế, đặc biệt sủng ái với ông, liền chỉ Chung Nam Sơn nói” Ngọn núi này phong cảnh cực đẹp, đâu cần về núi Thiên Thai”. Tư Mã Thừa Trinh đáp lại nói:

“Để tôi xem, đó chẳng qua là con đường tắt làm quan thôi”.

Ông nói như thế vì thuở trước Hộ Tạng Dụng ẩn cư ở Chung Nam Sơn, giành được cao danh, rộng kết giao với người quyền quí, do đó cuối cùng làm được quan lớn. Như nay bị ông nói phá, Hộ Tạng Dung xấu hổ không biết trốn vào đâu.

Thời ấy, Nữ Trinh Quốc có người tên là Tiêu  Tịnh Trinh vượt biển đi tìm Phùng Lai Tiên Sơn, sau đó ông ở trên một hòn đảo gặp một đạo nhân nói với ông rằng:

“Tư Mã Thừa Trinh tiên sinh ở núi Thiên Thai đã có tên trong tiên tịch, ông ta chính là thầy tốt của ngươi”.

Tịnh Trinh trở về, sau đó bái Thừa Trinh làm thầy, học đạo không bao lâu bay về trời trước thầy. Sau này, ông giáng lâm vào nhà Tiết Lý Xương, nói với ông rằng:

“Đạo hạnh của Tư Mã tiên sinh sơ với Đào Hoằng Cảnh còn cao hơn, sau này được phong thành Đông Hoa Thượng Thanh chân nhân”.

Thời Đường, khoảng niên hiệu Khai Nguyên, Văn Thanh Thiên Sư và Tư Mã Thừa Trinh cùng đi dự tiệc tiết Thiên thu, hai người dùng cơm chay ở điện Trường Sanh. Nửa đêm tu hành xong dựa vào đám mây cả hai người đều ngủ, bỗng nhiên Thiên Sư nghe tiếng tụng kinh của đứa trẻ, trong trẻo như vàng ngọc.

 Văn Thanh Thiên Sư lúc đó liền khoác áo ra đi, lại thấy trên trán của Tư Mã Thừa Trinh có một mặt trời cỡ đồng tiền lớn đang chiếu rực đầy nhà. Ông tiến lại gần xem, thì ra âm thanh ấy từ trong đầu của Tư Mã Thừa Trinh phát ra.

Thiên Sư sau khi về núi nói với đệ tử ông ta rằng: “Hoàng Đình kinh lý nói, trong não con người có Nê hoàn, có thể phát ra âm thanh thần kỳ. Tư Mã tiên sinh quả thực đã tu đạt cảnh giới ấy”. Một hôm, Tư Mã   Thừa Trinh nói với các đệ tử của ông rằng: “Ta đứng trên (đỉnh) Ngọc Tiêu Phong, phía đông trông về Phùng Lai, trông thấy có tiên nhân giáng lâm, thì ra Đông Hoa Quân đến mời ta lên trời, ta khỏi cần cáo biệt cùng các người”.

Nói xong, không bao lâu, ông ngồi ngay ngắn qua đời, đệ tử an táng ông, lúc đó ông 89 tuổi. Đường Huyền Tông còn đích thân làm bài Mộ Chí Minh cho ông.

Người đời sau gọi chỗ ông ở là “Mã Tiên thôn”, thân sau của ông để lại rất nhiều trước tác, như các sách: Tu chân bí chỉ, Thiên Địa quan phủ đồ, Tọa vọng luận, Đăng chân hệ, v.v… Hoằng thất vì đạo hạnh công mà treo cờ, lại ban tặng hàm tước cho ông  “Ngân Thanh Quang Lộc đại phu”. Thụy hiệu Trinh Nhất tiên sinh.

Giả mượn ẩn cư để rộng tiếng tăm và kết giao quyền quý làm môi giới tiếp thân, đây là một việc rất lưu hành ở đời nhà Đường. “Chung Nam tiệp kinh” do đó trở thành châm biếm có hiệu lực đối với vài ẩn sỹ giả danh. Kỳ thật, tiến thân bằng con đường làm quan không hoàn toàn là một việc xấu, thật có thể “lấy thiên hạ làm trách nhiệm cho mình”.Và tấm lòng “Tiên ưu hậu lạc” cũng là “tiên hiển sở cộng”.

Nhưng làm quan và làm việc là hai việc, làm việc và phục vụ là hai thứ cảnh giới.Vị làm đại sự phục vụ xã hội mà thăng tiến làm quan là con đường chính. Gom khéo thiên hạ đương nhiên cao đối với khéo một mình, do đó tiến thân bằng con đường làm quan, chưa ắt là thấp, ẩn cư chưa chắc là cao.

Nhưng dùng thủ đoạn ân cư để làm quan, ngoại trừ không dùng thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi, thì trong mắt họ sợ sẽ chẳng có được thiên hạ , so với ham thích làm quan, ẩn sỹ thật là cao khiết khả kính hơn nhiều.


BAN MẠNH


Quê hương của Ban Mạnh hiện nay đã khó tra khảo, chỉ biết ông ở đời thường thích uống rượu và dùng đan dược, hơn 400 tuổi mà như một chàng thiếu niên.

Pháp thuật của Ban Mạnh cũng rất nhiều và kỳ dị. Ông có thể bay đi tự tại, lại có thể ngồi trong không trung trò chuyện với người khác, có thể Thẩm  mình sâu dưới đáy nước. Ông có thể dùng tay khắc xuống đất biến thành miệng một cái giếng, đề cho moi người lấy nước dùng. Khi ông chỉ ngón tay lên nóc nhà người khác, ngói liền tốc bay lên.

Ông từng hái mấy ngàn trái dâu chất đống như núi sau đó vừa thổi nhè nhẹ mấy trái dâu ấy đều trở về chỗ cũ trên cây.

 Ban Mạnh còn có một tuyệt chiêu, ông viết chữ không cần gấy mực, chỉ cần dùng miệng ngậm nước phun ra liền có văn tự, mà văn tự đó còn hàm chứa ý nghĩa sâu sắc nữa chứ.
Sau này nghe nói,ông vào núi Đại Trì và đắc đạo thành tiên.
 
   
   
Ô THÔNG VI

Ô Thông Vi là một đạo sỹ, ông đẹp trai, từ tốn, thần khí trong sáng, mỗi ngày vui chơi trên đường phố. Không ai biết ông từ đâu tới và đi về đâu.

Ông thường thích đến quán uống rượu, mối khi đến liền say, say rồi thì lớn tiếng đọc thơ, coi như xung quanh không có người. Tuy cử chỉ của ông có chút ít suy đồi phóng túng, nhưng rất kỳ quái, dung mạo ông không một chút tiều tụy, lại càng ngày càng trẻ hơn.

Có một hôm, Ô Thông Vi uống rượu say trên tửu lầu, nhưng cái say của ông không giống bao người khác, từ trên lầu té xuống, ngoài ý định dự kiến của người ta,chân ông tự nhiên có mây bồng bềnh bay lên trời. Một lúc, làm cho người ta tụ lại, tranh nhau xem một cảnh kỳ lạ hiếm có này, xa xa còn nghe tiếng ngâm thơ của ông, sự mơ hồ cuối cùng ông thành tiên là thi ca và mỹ nữ tửu.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, dieunha, chonhoadong, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 01:47:30 pm »

(tiếp theo)

HỨA TUYÊN BÌNH


Hứa Tuyên Bình là người huyện Tân An Hiệp, vào thời Đường Dự Tông khoảng niên hiệu Cảnh Vân, ông ẩn cư ở Thành Dương Sơn, bình thường không uống đơn dược, mà nhan sắc vẫn giữ như người 40 tuổi không khác. Thân ông nhẹ nhàng, mạnh khỏe, làm việc nhanh như ngựa chạy, ngày thường gánh củi vào trong thành bán, trên đòn gánh mang một bông bí, tay cầm cây gậy trúc cong cong, mỗi lần như thế đều say rượu ngâm thơ đi về.

Cứ qua lại Sơn Thành như thế khoảng chừng 30 năm, bình thường ông hay cứu giúp người gặp khó khăn, có một vài ông quan muốn tìm ông thì không thấy ông ở nhà. Khách đến thăm hỏi ông chỉ thấy trên vách nhà tranh của ông đề một bài thơ, ý bài thơ đều hình dung sự tiêu dao vui vẻ của du tiên.

Loại thơ trên của ông như vậy rất nhiều, mỗi khi đến một nơi nào đó đều đề một bài thơ. Khoảng năm Thiên Bảo, nhà thơ lớn Lý Bạch đi chơi ghé qua mỗi khách sạn cũng thấy thơ ông đề, khen là thơ của tiên làm nhà, vừa hỏi ra thì là thơ của Hứa Tuyên Bình, lúc đó bèn đến Thành Tân An bái kiến ông, được hiệu là Thi tiên Lý Bạch cũng không có duyên gặp ông như thế, buồn bã.

Lý Bạch sẵn tay viết lưu lại trên vách một bài thơ tỏ bày sự thành khẩn ngưỡng mộ của ông.Hứa Tuyên Bình về sau đó thấy bài thơ của Lý Bạch, lúc đó tự mình cũng đề thơ đáp lại, đại ý của ông nói là chỗ tiên ở không nên bị người đời tìm kiếm đến, một khi tìm đến được sẽ dời đi chỗ khác. Đại khái, sau duyên cố này, nhà tranh của Hứa Tuyên Bình bị lửa thiêu cháy, tung tích của Hứa Tuyên Bình rốt cuộc cũng không ai biết cả.

Hơn 100 năm sau, đến  thời Đường Ý Tông niên hiệu Hàm Thông năm thứ 12, tỳ nữ của Hứa Minh Nhự có một lần vào núi đốn củi, vô ý đến Nam Sơn gặp một người ngồi trên hòn đá đang ăn một trái đào rất lớn, người này trông thấy có người đi đến, bèn hỏi:

“Người là tỷ nữ của Hứa Minh Nhự ư?”, nữ tỳ đáp “Phải”.

Người đó nói: “Ta là Hứa Tuyên Bình, tổ phụ của Hứa Minh Nhự”.

Nữ tỳ đáp: “Con từng nghe chủ con nói Tổ phụ của ông đã đắc đạo thành tiên, nhưng không biết tìm hởi ở nơi nào”.
Hứa Tuyên Bình nói với người tớ gái:

“Người trở về nói với Hứa Minh Nhự, ta ở trong ngọn núi này. Bây giờ ta đưa cho ngươi một trái đào ăn, nhưng dù thế nào đi nữa cũng không đem nó đi ra khỏi núi, bởi vì sơn thần rất mến tiếc thứ đào này, mà trong núi này hổ lang cũng rất nhiều”.

Người tớ gái ăn, cảm thấy mùi vị rất ngon ngọt, ăn xong thấy gánh nặng trên vai cũng trở nên nhẹ nhàng. Sau khi về đến nhà, cô ta trình báo cho người chủ biết, không ngờ Hứa Minh Nhự nổi giận, bởi vì đứa đầy tớ gái gọi mãi tên tổ phụ của mình. Ông liền lấy gậy đập cô ta, còn cô gái đó nương cái gậy ấy bay lên, không biêt bay về hướng nào.
Sau này, có người vào núi thấy cô gái ấy đã biến thành trẻ, toàn thân mặc bằng vỏ cây, đi như bay trốn vào trong rừng sâu, từ đó không thấy bóng dáng đâu nữa.

Lý Bạch được gọi là “Thi Tiên”, nhưng ông chỉ là tiên trong thơ đâu phải là tiên nhân như thật sự. Lý Bạch mến đạo nhưng không thể quyên được thế tình, tìm cầu việc công, do đây mà có kê kề cận là Vương Lãng tạo phản làm nhục. Đạo là việc trở vè với sự chất phác chân thực, không phải là việc theo đuổi tìm cầu bên ngoài. Nhân đây, Hứa Tuyên Bình có thể thành tiên, còn Lý Bạch chỉ trở thành “Thi tiên”, văn tự mặc dù bất hủ, mà người lại không biết đi nơi nào.
   
   
NHIẾP SƯ ĐẠO


Nhiếp Sư Đạo là người Huyện Hấp, học đạo từ thưở nhỏ, sau khi đắc đạo lên Tích Khê núi cao 100 trượng để hái linh chi và hỏi thăm Chi Nam Nhạc Chiêu Tiên Quân. Ông nghe nói Tế Chân Nhân lúc trước ẩn cư ở cách đây không xa, lúc đó trai giới 7 ngày rồi một mình đi tới phía trước. Giữa đường gặp một ông già hỏi ông từ đâu tới, và còn bứt một bụi cỏ tặng cho ông. Nhiếp Sư Đạo vừa ăn cảm thấy rất ngọt, từ đó tinh thần và sức khỏe càng thêm dồi dào, mỗi lần vào núi hổ báo trông thấy ông đều thuần phục quỳ sát xuống đất.

Có một lần ông nói với đệ tử rằng: “Ta được tiên quan mời nên muốn rời xa các ngươi”.

Nói xong, liền nhắm mắt qua đời. Nhưng đợi đến khi táng, trong quan tài trống không. Sau này, có người từ Dự Chương vôi vàng tới đưa đám tang, nghe nói trên đường đi đang gặp ông tản bộ rong chơi.

   
   
PHỤ TIÊN SINH

Phụ Tiên Sinh học đạo ở Tiêu Sơn, ông 7 năm siêng năng tu tập, sau đó gặp được Thái Thượng Lão Quân. Lão Quân cho ông một cây dùi để cho ông dùng dùi khoan cục đá, đá dầy hơn 5 thước. Lão Quân đến lúc đi đặc biệt dặn ông:
“Đợi đến khi dùi thủng đá bàn, tiên đạo của ngươi cũng sẽ tu thành công”. Từ đó, Phụ Tiên Sinh mỗi ngày chuyên một lòng dùi mài đá bàn, gió mưa cũng không trở ngại, ông dùi được 47 năm, kết quả bàn đá bị dùi thủng qua.
Hôm đó, có một tiên nhân tới tìm ông, nói với ông rằng: “Chí hướng của ngươi thật là vững chắc”.
Tiên nhân tặng cho ông vàng lỏng và Kim Đan, Phụ Tiên Sinh uống xong sau đó thành tiên bay đi. Đại khéo như vụng, đại trí như ngu, đại khí muộn thành. Lời của Lão Tử, do Phụ Tiên Sinh chứng minh.
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 01:53:21 pm »

(tiếp theo)

VƯƠNG KHẢ GIAO



Vương Khả Giao là người Hoa Đình, nghề nghiệp đánh cá và cày ruộng, một hôm ông bơi thuyền trên sông, bỗng thấy trên mặt nước xuất hiện một chiếc thuyền hoa, trong thuyền có 7 người đạo sỹ đang ngồi, xa xa ông còn nghe thấy có người đang kêu tên mình. Lúc đó, ông chèo thuyền đến sát thuyền hoa, sau đó tự mình bước lên thuyền hoa ấy.

Trong đó, có một đạo sỹ nói: “Cốt tướng đẹp, có thể thành tiên”.

Riêng có một đạo sỹ tặng cho ông hai trái lặc, mùi vị rất ngọt. Sau đó, đạo sỹ phái một người mặc áo vàng đưa ông lên bờ. Đương lúc ông vừa quay đầu, mới phát hiện chiếc thuyền đâu mất không thấy, mà mình đang đứng trên núi Thiên Thai phía trước thác nước cửa chùa. Xa xa đi tới một vị hòa thượng hỏi ông từ đâu tới. Khả Giao nói sáng hôm nay mới ở nhà ra đi, là ngày mồng 3 tháng 3. Hòa thượng nói: “Hôm nay đã là mồng 9 tháng 9, hơn nửa năm rồi a”.

Sau này, Vương Khả Dao vào tu đạo ở Từ Minh Sơn, từ đó không thấy hình bóng của ông ở đâu nữa.

   
   
LÝ THUYÊN

Lý Thuyên hiệu là Đạt Quan Tử, sống ở núi Thiếu Thất, tính tình ham thích đạo thần tiên, ông bất ngờ được cuốn “Âm phù kinh” của Hoằng Đế, là cuốn sách nguyên trước kia Khấu Khiêm cất giữ, cuốn kinh đã gần mục nát, Lý Thuyên sao mấy ngàn biến, rôt cục không thể lý giải ý nghĩa sâu sắc trong đó. Sau này, ông xuống núi Lệ Sơn gặp một bà già đầu tóc rối bù, hình tướng quái lạ, đang ngồi đốt củi bên đường, bà vừa đốt vừa tự lẩm bẩm rằng: “Lửa sanh nơi cây, họa phát tức khắc”. Lý Thuyên vừa nghe kinh ngạc vô cùng, bèn vội vàng hỏi: “Đây là câu trong Hoằng Đế Âm phù kinh, vì sao Lão Bà Bà biết vây?”.

Bà lão ấy trả lời: “Ta đã nghiên cứu liên tục mấy trăm năm, này người thiếu niên, người từ nơi nào đến đây?”.
Lý Thuyên đem sự thật câu chuyện cung kính báo cho bà biết, bà già nghe xong liền nói: “Người thiếu niên, ta xem ngươi tướng mạo phi thường, Trí Nhân Dũng Liêm, là có thể tạo thành tài”.

Lúc đó, bà liền thâu Lý Thuyên làm đệ tử. Lão Bà ngồi trên một hòn đá, giảng ý nghĩa thâm sâu của Âm phù kinh rõ ràng cho ông nghe. Hơn nửa ngày, bà lão thấy trên trời sắp tối, muốn đem cơm mời ông ăn, và từ trong áo lấy ra một trái bầu, kêu Lý Thuyên đi vào trong hang lấy nước, múc nước đầy xong, bỗng cảm thấy nặng ngàn cân. Lý Thuyên dốc hết sức cũng xách không nổi. Trái bầu cứ chìm lỉm trong nước, đang lúc anh ta chạy trở về, thì lão Bà Bà đi đâu mất không thấy, trên hòn đá còn để lại mấy thăng gạo mạch mà thôi. Lý Thuyên ăn hết, từ đó không cảm thấy đói nữa. Sau này, ông vào danh sơn học đạo không biết đi đâu.

Lý Thuyên thông binh pháp, ông trước tác 10 quyển Thái Bạch Âm phù kinh, lưu truyền cho đời sau.

   
   
LÝ BẠCH

Lý Bạch tự là Thái Bạch, là con cháu đời sau của tôn thất nhà Đường, tổ tiên của ông năm cuối đời Tùy dời về ở Tây Vực, niên hiệu Thần Long năm đầu lại dời về Tứ Xuyên. Mẹ Lý Bạch trước khi sanh ông ra, từng mộng thấy sao Trường Canh bao vào trong bụng, nhân đấy mà lấy tên ông là Bạch.

Lý Bạch lúc 10 tuổi đã thông hiểu Kinh thi, khi trưởng thành ẩn cư ở núi Mãn. Triều đình nhà Tùy tìm ông ra làm quan, ông không chịu đi. Sau này, ông đến Trường An, hỏi thăm Hạ Trí Chương, và tự mình viết bức thơ cầu chỉ dạy.

 Hạ Trí Chương xem thơ xong không ngớt khen ngợi, gọi ông là “Trích Tiên”, và còn giới thiệu ông cho Đường Huyền Tông. Huyền Tông tiếp kiến ông đặc biệt ở Kim Loan đối với ông bàn luận về văn chương rất thích thú. Lúc đó, vua tự tay múc canh chiêu đãi ông và phong ông làm Hàn lâm.

Có một lần Huyền Tông ngồi ở Thẩm  Hương Đình, đang lúc hoa Mẫu đơn nở đầy sân, Hoàng đế hy vọng Lý Bạch làm một bài thơ Phả Khúc, Lý Bạch lúc đó uống say, người hầu tả hữu lấy nước lạnh làm tỉnh ông. Đường Huyền Tông chính mình hạ lênh Dương Quý Phi vì ông bưng nghiên mực, Lý Bạch dùng bút lớn vừa vung một cái liền viết thành Thanh Bình điệu tam chương.

Huyền Tông rất khen ngợi sự tài hoa của ông, bình thường cùng ông tiệc tùng. Do Lý Bạch đã từng kêu Cao Lực Sỹ cởi dầy giùm ông, Cao Lực Sỹ rất bất mãn, do đó trước mặt Dương Quý Phi cố ý xuyên tạc thơ Lý Bạch, nói Lý Bạch châm biếm Quý Phi, hai người từ đấy thường nói xấu ông trước mặt Huyền Tông, làm trở ngại bước phát triển của ông.

Lý Bạch tự biết không được mời đón nữa càng thêm phóng đãng, hầu như mỗi ngày cùng nhà Đại thư pháp Trương Cửu uống rượu say bí tỉ. Thời ấy, người ta gọi họ, mấy người danh nhân văn sỹ thích uống rượu là “Ẩm trung bát tiên”.

Cuối cùng, Lý Bạch chán nản cuộc sống trong cung đình, khẩn cầu về quê, Huyền Tông ban cho ông nhiều vàng bạc để ông đi về.

Khi An Lộc Sơn làm phản, Vĩnh Vương Lãn mời ông làm tham mưu, sau đó binh Vĩnh Vương bại trận, Lý Bạch cũng bị trị tội chết luôn. Nhưng do ông từng nhiều năm trước cửu Quách Tử Nghi, do đó Quách Tử Nghi cũng đích thân ra cứu mạng

Thời Đường Đại Tông, dân gian đồn đãi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm ánh trăng mà chết, nhưng đầu năm Nguyên Hòa, có người lại nói trông thấy Lý Bạch cùng một Đạo sỹ ở trên núi cao trò chuyện vui vẻ, không bao lâu lại cùng Đạo sỹ đó ở trong sương khói màu xanh cưỡi rồng đỏ mà đi.

   
LÝ TRƯỜNG GIẢ

Lý Trường Giả tự xưng là Thương Châu tới, ông mỗi ngày chỉ ăn 10 trái táo, ngoài ra còn thêm một cái bánh nhỏ gói bằng lá hách. Việc gì ông cũng không làm, chỉ đóng cửa trước tác sách, lập thuyết không nghỉ ngơi.
Có một lần ông gặp con cọp ở thôn Quán Lam, cọp vừa thấy ông liền quỳ mọp trên đất. Trường Giả  nói với cọp rằng:

“Ta muốn chú thích kinh Hoa Nghiêm, người có thể giúp đỡ ta tìm một nơi thanh tịnh không?”.

Con cọp chồm, dậy cõng ông đến một thạch thất của núi Thấn Phước. Từ đấy, Lý Trường Giả đinh cư tại đó, chuyên tâm trước tác cho đến lúc 96 tuổi.
   
   
LÃN TÀN


Lãn Tàn, không ai biêt lai lịch của ông. Triều Đường đầu năm Thiên Bảo, ông ở trong chùa Hoành Sơn vì tăng chúng làm lộn xộn, mỗi lấn chúng tăng ăn cơm xong mới lấy cơm và thức ăn thừa mà ăn. Do thiên tính của ông lười biếng, lại ăn thức ăn nguội lạnh dư thừa, nên người ta gọi ông là “Lãn Tàn”.

Lý Bí lúc còn trẻ từng ngụ ở chùa Hoành Sơn, buổi tối khi đi hởi thăm Lãn Tàn, trông thấy Lãn Tàn đang dùng phân trâu nướng khoai môn để ăn, ông phát giác Lý Bí tới liền chia cho ông ta một nửa.

Họ mặt đối mặt ngậm im cả buổi, Lãn Tàn mới nói nhở với Lý Bí rằng:

“Xử thế phải cẩn thận lời nói là quý, sau này ông sẽ làm Tể tướng 10 năm”.

Sau này quả thật Lý Bí làm Tể tướng 10 năm như lời tiên đoán của Lãn Tàn.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 01:57:25 pm »

(tiếp theo)

VƯƠNG GIẢO

Vương Giảo là người có đạo thuật kỳ lạ, ông giỏi nhất về quan sát tinh tướng. Khoảng năm Thiên Bảo, ông tình cờ cùng bạn bè buổi tối hóng mát, bỗng nhiên chỉ trăng sao trên trời nói: “Thiên hạ sắp đại loạn”.

Người hàng xóm này nghe câu nói của ông, liền bí mật báo cáo với triều đình, lúc đó hạ lệnh tử hình ông. Khi hành hình, đao phủ phải chém mấy mươi nhát đao mới chém đứt đầu ông.

Vương Giảo vốn cùng Thị Lang Đạt Khê chơi rất thân, sau khi loạn được bình định rồi, Vương Giảo tự nhiên chết đi sống trở lại, cầm gậy đi hỏi thăm Đạt Khê, mọi người mới biết Vương Giảo có đạo thuật.

Vương Giảo từng thăm hỏi Đỗ Phủ ở Cán Hoa Khê. Ông nói với thi nhân này rằng: “Tiên sinh nay tuy là quan, tương lai ắt nổi tiếng muôn đời”.
   
   
HÌNH HÒA PHÁT

Hình Hòa Phát ẩn cư ở biển, giỏi về thuật tri tâm. Phàm lòng người mưu kế thế nào ông vừa bói toán biết liền, sau đó ông bói chọn chỗ ở Tung Sơn, trước tác lập thuyết.

Đường Minh Hoằng Khai Nguyên năm thứ 12, ông đi đến Bắc Kinh, đang có một người bạn qua đời, người nhà khóc lóc rất đau buồn. Hoàn Hình Phát lập tức kêu người mang thi thể đặt ở trên giường, tự mình lấy miền đắp chung nằm ngủ cả ngày mới thức dậy, không ngờ người bạn kia đã chết rồi tự nhiên ngồi dậy sống lại.

Thôi Tư Mã là bạn tốt của Hình Hòa Phát, có một hôm ông ta bị bệnh khốn, bèn la rằng:

“Hình tiên, ông vì sao không quan tâm đến ta”.

Không bao lâu ông nghe thấy tiếng vách tường xuyên thủng, vừa nhìn thấy một lỗ thủng ngày càng lúc càng lớn, có mấy trăm người trong đó. Hình Hòa Phát mặc áo tía, đội mũ lớn, ngồi trên xe nói với ông:

“Ta đã mời Thái Ất Chân Nhân tới cứu người”.

Vừa nói xong, liền biến mất không thấy. Nói cũng thật kỳ quái, Thôi Tư Mã bệnh không uống thuốc  mà khỏe mạnh.
Phòng Quản đang làm quan huyện ở Đồng Lô, ông rất thích Hình Hòa Phát. Có một hôm Hình Hòa Phát cười nói với Phòng Quản rằng:

“Ông sau này sẽ làm Tể tướng, nên tự làm điều tốt nhá. Nhưng cuối cùng ông ăn cá cối mà chết, quan tài dùng gỗ Quy Từ làm thành. Nơi ông chết không ở trong nhà, không ở công quan, không ở trong miếu, không ở ngoài nhà”.
Phòng Quản sau này quả nhiên làm Tể tướng, lúc già giáng chức về ở Lãng Châu, bệnh nằm trong Tử Cực Cung. Ông bệnh vừa khỏi, thái thú chiêu đãi ông ăn cơm, trong tiệc có con cá cối. Phòng Quản ăn xong tức khắc bệnh cũ tái phát. Ông nằm mộng thấy thần nhân bảo ông rằng: “Lời đoán cùa Hình chân nhân rất ứng nghiệm”.

Ngày thứ 2, Phòng Quản quả nhiên mệnh chung. Lúc ấy, có một tín sỹ bố thí một tấm gỗ Quy từ để làm thần tòa của Lão Quân, do đó bèn dùng nó làm quan tài.

Hình Hòa Phát ẩn cư ở Chung Nam Sơn, có rất nhiều người tu đạo đều tới nương ông. Ông có một người bạn tên là Thôi Thư hầu hạ bên ông rất cung kính. Có một hôm Hình Hòa Phát nói với đệ tử của ông rằng:

“Hai ngày sau sẽ có một quái khách, các người sửa soạn bố trí cho ông ta một cái phòng”.

Ông còn cấm đệ tử không thể nhìn trộm. Ngày thứ 2 quả nhiên có một người tới, thân cao 5 thước, rộng 3 thước, đầu dài chiếm một nửa, mặc áo hồng, tay cầm một cái hốt, vuốt râu cười lớn, nói là rất giỏi. Nội dung nói chuyện hơn phân nửa là không phải chuyện phàm tục của thế gian. Đang lúc ấy Thôi Thự từ ngoài cửa băng ngang, người khách nhìn ông nói:

“Đây há chăng là Thái Sơn Lão Sư chăng?”.

Hình Hòa Phát nói: “Đúng vậy. chính ông ta”.

Hai người họ cùng nhau dùng cơm, người khách bèn cáo lời ra đi, Hình Hòa Phát nói với Thôi Thự rằng:

“Vị khách kỳ lạ đó là thần của Thượng đế ông ta vừa nói Thái Sơn Lão Sư, ông hiểu ý của ông ta không?”.
Thôi Thự trả lời:

“Lúc trước tôi nghe tiên sinh nói, tôi là thân sau của Thái Sơn Lão Sư, còn việc đời trước, một chút tôi cũng không nhớ nữa”.


   
NGÔ ĐẠO TỬ

Ngô Đạo Tử là người Dương Dịch, lúc trẻ thường cùng Hạ Trí Chương và Trương Điền học thư pháp, kết quả học không thành, nhân đó mà chuyển sang học hội họa. Ông chưa đến 12 tuổi mà đạt đến trình độ nghệ thuật rất cao, đây hoàn toàn do thiên tài và cố gắng mà đạt được.

Lúc mới bắt đầu ông làm họa sư trong cung Đường Minh Hoàng, do đó nổi danh hiệu thiên hạ. Bút pháp của ông đại thể thoát thai từ Trương Tăng Đạo, do đó mọi người đều nói ông là hậu thân của Trương Tăng Đạo.

Thế gian còn lưu truyền môt thuyết, hồi trước nhà danh họa đời Tấn, vì vẽ bức họa cho người hàng xóm, dùng kim gai vẽ đâm ngay vào tim thiếu nữ, cô ta phát ra tiếng rên rỉ. Còn Ngô Đạo Tử ở trong Tàng phong vẽ lừa, mối khi tối đến nghe tiếng chân lừa dậm đạp, khiến cho các hòa thượng đều không vui.

Lại nói Trương Tăng Đạo vẽ rồng điểm nhãn, con rồng đó vừa nghe sấm sét liền tung vách tường bay đi, còn Ngô Đạo Tử vẽ rồng, lân , quỷ đều cử động giống y như thế, mỗi khi mưa xuống trong lúc vẽ thì mây khói từ từ kéo lại mờ mịt.

 Do đó, có thể nói hội hoạ của ông thần diệu, gồm cả hai nhân vật Cố Khải và Tương Tăng Dao. Trong Hoằng cung có bức tường cao mấy trượng, Đường Minh Hoằng muốn ông vẽ bức tranh sơn thủy trên đó.

Ngô Đạo Tử lấy một thau mực, toàn bộ vẩy lên tường, sau đó ông dùng vải che trùm lên, trong chốc lát mở vải ra, Minh Hoằng vừa xem, trên bức tường tự nhiên có núi sông cây cỏ  người thú mây khói đến cứ trên đó.

Minh Hoằng tới lui thưởng thức, lưu luyến không chịu đi, khen ngợi thật là tuyệt. Ngô Đạo Tử chầm chậm đi đến bên Minh Hoằng giải thích:

“Ngọn núi đá này phía dưới có một cái động nhỏ, trong đó có một tiên nhân, kêu cửa thì mở”. Đường Minh Hoằng thử dùng tay gõ, bỗng nhiên cánh cửa nhỏ được mở ra, có một tiểu đồng nghinh đón, Ngô Đạo Tử nói với Hoằng Đế:

“Tiểu thần tôi đi trước, mời Bệ hạ vào cùng ngắm cảnh chơi”.

Ngô Đạo Tử rút nhỏ thân lại vào động, còn lấy tay ngoắc Minh Hoàng, đáng tiếc Minh Hoằng không chịu đi vào, chốc lát cửa đóng lại, ngoái lại trên tường không có vết mực nào cả.
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 02:00:06 pm »

(tiếp theo)

LA CÔNG VIỄN


La Công Viễn là người thời vua Đường Huyền Tông. Có một đêm trung thu khoảng năm Khai nguyên, trong cung ngắm trăng, La Công mời Huyền Tông đi chơi cung trăng. Sau này Huyền Tông học pháp thuật của La Công Viễn, nhưng không hoàn toàn học được, có khi còn thừa một mảnh áo, hoặc một góc áo, không thể tàng hình hết được. Huyền Tông hỏi ông duyên cớ vì sao, ông nói: “Bệ hạ không thể bỏ sự giàu  sang, mà đạo thuật là du hí, nếu như học được hoàn toàn, vả lại không phải là phước của trăm họ thiên hạ ư?”.

Huyền Tông vừa nghe nổi giận, Công Viễn lập tức đi vào trong cột cung điện, còn tiếp tục phê bình Huyền Tông. Hoằng đế  nổi giận ra lệnh chém ngay cây cột, Công Viễn lại nhảy vào trong khúc than chì. Huyền Tông lại chặt than chì thành mấy mươi khúc, không ngờ mỗi khúc than đều có hình Cồng Viễn. Huyền Tông vội vã xin lỗi, hình bóng của Công Viễn mới tiêu mất.

Sau này, có sứ giả đến Tứ Xuyên, trông thấy Công Viễn ở trong mực nước, cười nói với sứ giả:
“Xin ngài vì ý của tôi nói với Bệ hạ, tôi họ La, tên Công Viễn, mời ngài đem đương quy sản phẩm của Tứ Xuyên hiến cho ông ta”.

Mấy năm sau, Huyền Tông vì loạn An Sứ tránh nạn ở Tứ Xuyên, mới hay La Công Viễn tặng ông đương quy Tứ Xuyên là ý như thế.
   
   
THÂN THÁI CHI

Thân Thái Chi tự là Nguyên Chi, người Lạc Dương triều Đường, mẫu thân là Dương Thị mộng thấy nuốt linh chi mà mang thai, do đó đặt tên ông là Chi. Ông với Đường Huyền Tông cùng một ngày sinh, ông đã từng đi hết các danh lam thắng cảnh, sau đó đến tu luyện ở Thiệu Lãng Từ Hồ Sơn.

Đường Huyền Tông có một lần mộng thấy Hồ Nam Cơ có Bạch Vân Cư Sỹ, ông căn cứ tình cảnh trong mộng tìm đến Từ Hồ Sơn, lúc đó bèn mời Thân Thái Chi vào cung. Huyền Tông vừa nhìn thấy Thân Thái Chi đã nhận ra Bạch Vân Cư Sỹ trong mộng của ông. Vua rất mừng và ban cho ông danh hiệu là “ Đại Quốc Sư”, và còn nhường ông ở trong Huyền Chân Quan, đồng thời trong đấy còn có mấy vị cao sỹ đương thời như Trương Quả, Hình Hòa Phát, La Công Viễn, Diệp Pháp Thiện, Y Tâm, Hà Tư Viễn, Sử Sùng Bí, v.v…. họ thường du ngoạn cùng Huyền Tông.

Thân Thái Chi giỏi về tán dóc, mỗi lần Huyền Tông cùng ông tán gẫu, nói chuyện chơi hàng giờ vẫn không chán. Dương Quý Phi và Trương Văn Dung tiếp đãi Huyền Tông nhân đây cũng thường chiêu đãi trà, thuốc với Thân Thái Chi. Trương Văn Sinh thừa cơ hội xin ông thuốc trường sinh, Thân Thái Chi đáp lời bà ta nói:

“Ta không phải không cho bà, còn bà sống trên đời này không bao lâu đâu”.

Trương Văn Dung vẫn cầu khẩn mãi, Thân Thái Chi thương xót sự thành khẩn cung kính của bà, bèn tặng cho bà một viên Phong Tuyết Đơn, nói với bà rằng:

“Bà uống xong sau đó thi thể chắc chắn sẽ không hư hủy, nên nhớ kỹ lúc mai táng nên dùng quan tài lớn, mộ huyệt phải rộng rãi, trong miệng nên cho ngậm châu ngọc, mới có thể khiến hồn phách của bà không bị trôi dạt để dễ trở về. Như thế, một trăm năm sau, gặp được hơi thở của người sống, bà có thể sống lại. Đây là đạo thuật của Thái Âm luyện hình, nếu như thành công, bà sẽ tu thành địa hành Tiên, lại trải qua 100 năm, mới có thể biến thành Thiên Tiên”.

Sau đó, không bao lâu, Trương Văn Dung bệnh chết ở Lan Xương Cung, bà khẩn cầu Huyền Tông dựa theo phương pháp này của Thân Thái Chỉ an táng cho bà. Hoằng đế nhận lời. Đến đời Dương Hiến Tông niên hiệu Nguyên Hòa năm cuối, đã tròn 100 năm, Trương Dung quả nhiên gặp Tiết Chiêu mà được sống lại.

Thân Thái Chi về trên núi sau đó không bao lâu thì thành Tiên bay lên trời. Thời Tống, ông được phong là Diệu Tịch Linh Tu chân nhân.


TIẾT XƯƠNG


Tiết Xương là một tiến sỹ đời nhà Đường, khoảng năm Thiên Bảo, ông ẩn cư ở Thanh Thành động thiên quan thuộc Tứ Xuyên.
Có một ngày nọ ông vô tình uống phải Thương Lục tửu, bỗng nhiên tai, mũi chảy máu chết luôn. Nhưng qua 3 ngày, tự nhiên ông sống lại, mà da dẻ so với lúc trước càng trắng hơn, dung mạo cũng trẻ hơn nhiều. Thân thể ông cảm thấy nhẹ nhàng, nhãn lực cũng rất mạnh.

Bềnh bồng dáng giống như bay, ông có thể thấy xuyên suốt đồ vật xa gần, dù cho núi rừng ngăn cách cũng không ảnh hưởng.

Đương thời, Huyền Tông rất thích kết giao với đạo sỹ, mòi ông đến tân quán, đang định dùng ngựa mời ông vào kinh. Không ngờ, ông ngồi ngay thẳng mất tiêu trên lưng ngựa. Không bao lâu có người phát hiện ông đang ở Đại Diện Sơn, chầm chậm rong chơi.
   
   
TIẾT LÝ XƯƠNG


Tiết Lý Xương là người Hà Đông, có một lần ông gặp Tư Mã Thừa Trinh ở Nam Nhạc, từ đó ông đắc được một vài sách đạo, lúc đó ông thành tâm nghiên cứu, siêng năng tu tập. Sự thành tâm của ông cảm động tiên nhân trên trời, mỗi khi ông tụng kinh thì từ trên trời bay xuống rất nhiều thuốc thần đập vào mũi thơm phức.

Đường Minh Hoằng từng mời ông vào cung, nhờ ông dạy về đạo thuật, ông đều đáp lại bằng thi ca. Minh Hoằng hài lòng lắm, đối với ông rất ân sủng.

Có một hôm, ông bỗng nhiên nói với tả hữu rằng: “Chúc Dung Phong hôm nay có đại hội của tiên nhân, ta đã nhận lời mời, bây giờ ta sắp ra đi”.

Nói xong, ông nhảy lên đám mây, bay bềnh bồng vào bầu trời bao la.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2011, 02:03:25 pm »

(tiếp theo)

TỪ TẢ KHANH

Từ Tả Khanh là người Tứ Xuyên, là một đạo sỹ triều Đường khoảng niên hiệu Thiên Bảo.

Ông thường hóa thân làm con hạc bay trên trời. Huyền Tông có một lần săn bắn ở Tây Phạm, ngước đầu nhìn lên thấy một con hạc, liền bắn một mũi tên. Hôm đó, Từ Tả Khanh lúc trở về trên tay cầm một cây tên, ông nói với đệ tử rằng:

“Hôm nay ta ngao du bên ngoài, không ngờ bị tên bắn trúng”.

Nói xong, sau đó đem mũi tên treo lên vách tường, lại nói với đệ tử:

“Đợi chủ nhân của mũi tên. Khi đến một mình trả lại cho ông ta”.

Qua mấy năm, Huyền Tông quả nhiên vì tránh nạn đến Tứ Xuyên, ông đến đạo quan của Tả Khanh, phát hiện trên vách tường treo mũi tên của mình, không khỏi muôn phần kinh ngạc, thì ra nhiều năm trước đó ông ở Tây Phạm bắn trúng một con hạc, đó chính là đạo sỹ Từ Tả Khanh.
   
VÔ DU TỰ

Vô Du Tự là cháu của nữ Hoằng đế Võ Tắc Thiên, triều Đường. Ông vốn tính không ham thích vinh hoa, năm 14 tuổi làm nghề thấy bói ở chợ Trường An, vì tránh tai mắt người ta, mỗi khi ông đến một nơi nào, không quá 5, 6 ngày thì dời đi nơi khác. Cuối cùng ông ẩn cư ở Trung Nhạc, ngày thường chỉ dùng Phục Linh làm thức ăn. Vương Công quý nhân đã tặng cho ông các đồ dùng bằng cây mây và áo da nai, ông đều bỏ không dùng.

Vô Du Tự một đời tu hành, lúc già cơ thịt đều khô khan, hai con mắt rực sáng có thần và còn phát xuất điện quang màu tía. Dù cho ban ngày ông cũng thấy trăng, sao. Thính giác của ông cũng rất nhạy cảm, có thể phân biệt rõ ràng tiếng nói ở cách mấy dặm.

Sau này, triều đình mời ông vào cung, ông tránh nạn ấy mà đi, nhưng đối với thân quý triều Mãn, trừ Hàn Tuyên ra, một câu cũng không nói. Hoàng Đế phong ông  làm Quốc Công, ông cũng không chịu, ông lặng lẽ tới rồi cũng lặng lẽ ra về trên núi, từ đấy mãi mãi không ra khỏi núi nữa.
   
   
BÙI HUYỀN TĨNH

Bùi Huyền Tĩnh không biết người xứ nào, chỉ biết bà là vợ của Lý Ngôn đời Đường. Có một lần bà ngồi một mình trong nhà, nửa đêm nghe tiếng cười nói.

Lý Ngôn cảm thấy kỳ lạ, bèn nhìn trộm qua kẽ tường, mới phát hiện bên trong có hai người con gái ước chừng khoảng 16, 17 tuổi, tóc búi cao mặc áo nghê thường, mỹ lệ vô cùng, còn có mấy người hầu gái đứng bên, đều chải tóc đẹp mượt mà, mặc áo hồng, dáng vẻ yểu điệu.

 Lý Ngôn không cầm được kinh ngạc kêu lên, làm kinh động mấy người hầu gái, họ bỗng nhiên cùng hòa tấu nhạc tiên, một con phụng trắng bay tới, Bùi Huyền Tĩnh nhẹ nhàng cưỡi bay lên trời.

Đáng thương cho Lý Ngôn, ở lâu như vậy mà không biết vợ mình là Tiên nữ.

   
BẠCH HÒA


Bạch Hòa tự là Trọng Lễ, đầu tiên bái Đổng Tiên sinh làm thầy, tu tập tiên đạo. Sau này, ông lại đến núi Tây Thành, bái Vương Quân làm thầy, có một hôm Vương Quân nói với ông rằng:

“Đại đạo không phải dễ dàng được, bây giờ ta muốn đi đến Doanh Châu một lần, người ở lại trong vách đá này, mỗi ngày đều chăm chú nhìn vào vách đá, lâu thật lâu, người sẽ trông thấy các văn tự xuất hiện, đọc xong một số văn tự này người có thể đắc đạo”.

Bạch Hòa làm y theo lời thầy, hàng ngày định thần nhìn vách đá. Năm thứ nhất không trông thấy gì cả, năm thứ hai trông thất mập mờ nét chữ, năm thứ ba mới thất văn  tự nổi lên rõ ràng, thì ra là Thái Thanh Kinh, Thần đơn phương, Tam Hoằng văn và Ngũ nhạc đồ. Bạch Hòa kinh ngạc mừng rỡ vô cùng, không kể sớm tối chuyên lòng tụng, luyện.

Không bao lâu thì Văn Quân trở lại, ông thấy Bạch Hòa tụng kinh liền nói với ông rằng: “Chúc mừng ngươi đã đắc đạo”.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, quycoctu, tadamina, mavuong, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2011, 05:27:18 pm »

(tiếp theo)

TRƯƠNG HUÂN

Trương Huân người Tấn Châu, hiệu là Hồng Nhai Tử, ẩn cư ở trong Cô Xạ động, tất cả các bí quyết của tiên ông đều thông suốt cả. Đường Huyền Tông mời ông nói:

“Tiên sunh giỏi về thổi sáo, có thể mời biểu diễn thử xem?”.

Trương Huân lập tức thổi sáo, lúc ấy cây rừng chấn động, bầy chim cùng hót, tùng reo trước gió, nước đì đùng dưới khe, kết thành một cảnh tuyệt đẹp ngoài thế giới, phảng phất cả vũ trụ đều nhịp nhàng ngân lên. Huyền Tông vừa cảm động vừa cao hứng, lúc đó muốn ban cho ông làm quan, nhưng ông cũng giống như các đạo nhân khác, Trương Huân cự tuyệt, thà chịu về núi ẩn cư chuyên lòng tu đạo.

Trải qua mấy năm, ở Hồng Châu bị bệnh ôn dịch lan rộng, có một đạo sỹ cuống đi vào thành bán thuốc, thuốc vừa uống là mạnh khỏe, cứu sống rất nhiều người. Huyền Tông biết được suy đoán ắt là Trương Huân, vừa hỏi quần thần, quả nhiên không sai, lúc đó bèn mời ông làm quan, không ngờ Trương Huân biến thành một trận sương mù lớn theo tiên mà đi luôn.
   
   
TRIỆU HUỆ TÔNG

Triệu Huệ Tông là đạo sỹ Hiệp Châu Nghi Đô. Ông thông hiểu Cửu Thiên tiên triện và Tam động bí pháp, sau này ông ẩn cư ở Quách Đạo Sơn. Đường Minh Hoằng niên hiệu Thiên Bảo năm chót ông trở về Hiệp Châu.

Có một hôm, ông chất một đống củi, chuẩn bị tự thiêu. Quan viên và dân chúng của Hiệp Châu chạy đến vây quanh xem. Chỉ thấy Huệ Tông ngồi ngay thẳng thoải mái trong lửa. có tiếng tụng kinh, không một chút kinh hoàng, đâu vào đấy cả, còn lửa mặc dù phừng phừng cháy lại không tổn thương đến ông chút nào. Từ trong lửa cháy rừng rực, tiếng tụng kinh của ông rõ ràng, làm cảm động mọi người, cũng làm tỉnh ngộ mọi người không ít.
Không bao lâu sau đó, tiếng kinh dứt, theo một làn khói xanh, Huệ Tông hóa thân thành con hạc tiên bay lên trời. Cây củi đã cháy thành tro hết, nhưng cỏ cây sát mặt đất vẫn xanh mượt, không có một chút dấu tích gì bị thiêu cháy.
   
   
VƯƠNG XƯƠNG NGỘ


Vương Xương Ngộ là quan giữ ngục Từ Châu. Có một hôm ông gặp lạc phách tiên nhân họ Trương, người tiên này đang bán thuốc chuột ở trong thành Từ Châu. Vương Xương Ngộ nhớ đến tù phạm thường bị chuột cắn bị thương, lúc đó mua một bình rồi trở về. Không ngờ chuột ăn thuốc độc của tiên nhân, sau này không những không chết mà còn mọc cánh bay lên trời.

Vương Xương Ngộ vội vàng chạy vào trong thành, lại cũng mua thuốc chuột như tiên nhân đó, ông uống một hơi hết trơn, quả nhiên cũng thành tiên. Lúc đó, ông bèn đổi tên là Dịch Huyền Tử. Lạc Phách tiên nhân trông thấy chuyện như thế bất giác cười lớn, và còn khẳng khái tặng ông một con ngựa về nhà, đợi ông về đến cửa, con ngựa đó dao động thân biến thành một con rồng. Hôm đó, ngày mồng 9 tháng 9, Vương Xương Ngộ cũng thành đại đạo, ban ngày bay lên trời.
   
   
NHAN CHÂN KHANH

Nhan Chân Khanh tự là Thanh Thần, cháu năm đời của đại học giả Nhan Cổ Sư học rộng tài cao, giỏi nhất là thư pháp, triều Đường khoảng năm Khai Nguyên trúng tiến sĩ, quan bái Lâm tế ngự sử.

Năm Kiến trung thứ tư, Đức Tông sai Nhan Chân Khanh đi lần này dữ nhiều lành ít, có đi không có trở về, lúc đó thân nhân bạn bè điều đến Trường Lạc Ba tiễn ông đi. Hôm đó, Nam Chân Khanh uống rượu say, ông bước lên xe nói với mọi người rằng:

“Tôi mấy năm trước có gặp một đạo sỹ tên là Đào Bát Bát, ông truyền thọ cho tôi cây đao bằng ngọc khuê và thần đơn, do đó đến nay vẫn không thấy già yếu. Đạo sỹ nói tôi đến năm 70 tuổi có tai ách, sau này ông sẽ ở La Phù Sơn gặp tôi, tôi sợ lời tiên đoán của ông là tai ách trước mắt chăng?”.

Nhan Chân Khanh đến Đại Lương quả nhiên bị Lý Hy Liệt treo cổ giết chết, thi thể táng tại phía Nam thành. Sau này, Lý Hy Hiệt thất bại, người nhà là Nhan Thị mở quan tài ra chỉ thấy dung mạo ông như bình thường, không chút thay đổi, toàn thân màu vàng, móng tay và râu tóc đều mọc rất dài. Người nhà đem ông về an táng tại Yển Sư Bắc Sơn.
Sau này, có một thương nhân đến La Phù Sơn, trông thấy hai đạo sỹ đang ngồi đánh cờ dưới gốc cây. Một đạo sỹ nói: “Ai tới thế?”.

Người kia trả lời rằng: “Tôi là thương nhân ở thành Lạc Dương”.

Đạo sỹ kia cười nói với ông rằng: “Phiền ông mang bức thư cho người nhà của Nhan tiên sinh được chăng?”.

Thương nhân đi về, đem thư cho con cháu Nhan tiên sinh. Họ mở ra xem, chính là chữ viết của Nhan Chân Khanh. Họ vôi vã chạy lên núi La Phù, trên núi không có một người nào cả.
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2011, 05:33:21 pm »

(tiếp theo)

TRƯƠNG CHÍ HÒA


Trương Chí Hòa tự là Bất Đồng, người Kim Hoa triều Đường. Mẹ ông mộng thấy trên bụng mọc một cây phong mà sinh ra ông. Thời Đường Tiêu Tông, ông thi đậu Minh Kinh, Hoằng đế ban cho ông tên Chí Hòa, từ đó làm hàn lâm.
Sau khi cha mẹ Trương Chí Hòa mất, ông bèn từ quan về ẩn cư, ngao du giang hồ và tự lấy hiệu “Yên Hà câu đồ”, lại còn hiệu là  “Huyền Chân Tử”. Ông bình thường câu cá không cần mồi , bởi vì ông không mong được cá. Ông rất tinh thông về hội họa, biết uống rượu ba đấu vẫn không say. Nhưng hứng thú chân thật của ông vẫn là tu đạo. Ông có thể nằm trong băng tuyết mà không cảm thấy lạnh, nổi trên mặt nước cũng không bị ướt.

Ông cùng danh nhân đương thời như Lục Vũ, Nhân Chân Khanh nhậm chức Thích sử ở Hồ Châu. Trương Chí Hòa  hầu như mỗi ngày đều cùng ông ta uống rượu ngâm thơ, cùng nhau họa xướng.

Khi Nhan Chân Khanh đi chơi ở Bình Vọng Dịch, Trương Chí Hòa thường uống say bí tỉ, uống say bèn trải chiếu trên mặt nước ngồi tiếp tục uống, trôi đi trôi lại, giống như chiếc thuyền.

Có một lần Trương Chí Hòa đang ngồi trên chiếu uống rượu trôi qua sông, bỗng từ trên mây có con hạc bay tới, mở rộng đôi cánh chở ông đi, người hai bên bờ sông kinh ngạc vô cùng. Lúc đó, Trương Chí Hòa vừa vẫy tay tạm biệt với Nhan Chân Khanh, vừa mỉm cười bay lên trời cao.

   
LÝ HẠ

Lý Hạ tự là Trường Kiết, là hậu đại tông thất triều Đường Trịnh Vương. Ông dáng người xấu xí nhỏ bé, mày rậm, móng tay dài, mới 7 tuổi liền có thể viết văn chương, do đó được gọi là thần đồng. Hán Vũ và Hoằng Phi không tin ông có kỳ tài như thế bèn đi đến nhà ông thử tài thi phú, không ngờ Lý Hạ cầm bút không do dự viết một bài thơ rất hay, “Cao Can Quá”, Hàn Dũ không khỏi kinh ngạc khen là thiên tài.

Lý Hạ do cha mẹ kêu tên Tấn Tiêu, vì tránh kiêng kỵ, do đó không thể thi tiến sỹ, rốt cùng vận quan không tốt, nhưng ông nhiệt tình thích viêt thơ, mỗi ngày cưỡi  con lừa nhỏ, chở sách thiếu nhi đến trong thành dạo chơi, vừa có linh cảm thì viết trên giấy, đem để trong cẩm nang.

Năm 27 tuổi, có một hôm ông bỗng thấy có một thiên sứ cưỡi con rồng đỏ, mặc áo hồng lớn, tay cấm cái bản phía trên khắc một vài văn tự rất cổ, giống như Tích Lịch thạch văn. Thiên sứ nói với Lý Hạ rằng:

“Thượng đế mời Lý Trưởng Kiệt”.

Lý Hạ đọc không ra văn tự kỳ quái này, lúc đó bèn ở trên giường không cầm được khấu đầu nói:

“Mẹ tôi vừa già vừa bệnh, tôi không thể bỏ mặc bà ta không chăm sóc”.

Người mặc áo đỏ cười nói:

“Làu Bạch ngọc của Thượng đế vừa khánh  thành muốn mời ngài đi làm tấm biển văn kỷ niệm, cuộc sống trên trời rất vui  vẻ, một chút cũng không khổ, ngài không cần lo lắng”.

Lý Hạ khóc, chầm chậm tắt thở. Chỉ thấy bên cửa sổ một trận khói mạnh mẽ, sau đó lai có tiếng bánh xe lăn chuyển động.

Người đời sau gọi Lý Bạch là Thi tiên, Lý Hạ là Quỷ tài, thi phong của ông quỷ quyệt kỳ dị, duy mỹ thi phong, gợi phát thời văn Đường, Lý Mục Tử, Lý Thương Ẩn đều rất kính trọng ông.

   
HÀ KHỨU TRỌNG

Hà Khứu Trọng người ở huyện Ninh, ngày thường làm nghề bán thuốc, nghe nói ông sống hơn 100 tuổi, ông đã bán thuốc hơn 100 năm.

Có một lần, huyện Ninh phát hiện một chấn động đất lớn, Khứu Trọng cùng mười mấy người, nhà cửa ông đều bị đổ ngã, mọi sự sống của ông đều bị đất lấp chết hết. Qua cuộc động đất, sau đó có người tìm thấy thi thể Khứu Trọng đem bỏ ở trong nước và lấy thuốc của ông còn dư lại đem bán. Đang bán chợt thấy Khưu Trọng mặc áo bào tới lấy thuốc. Người đó mặt tím ngắt bèn quỳ xuống cầu xin tha tội. Không ngờ, Khứu Trọng vui vẻ nói với ông:
“Đừng sợ, tôi không phải làm người sợ, chẳng qua chỉ để ngươi giật mình. Ta sắp đi, mong người tự làm tốt”.
Khứu Trong nói xong biến mất không thấy. Người ở xứ đó nói ông đã thành tiên.
   
   
GIANG TẨU

Gang Tẩu là một người thôn quê biết thổi sáo, tiếng sáo của ông thổi trong trẻo thật hay, khiến người ta có cảm giác đang ở ngoài thế giới.

Có một hôm, ông ngồi trên cây quế thổ sáo, tàn lá rất rộng, bóng quế khắp đất, chim ở trên cây xa gần đều ngừng huyên náo, lặng yên nghe tiếng sáo của ông ngân vang bồng bềnh trong trời xanh mấy trắng. Không biết thổi được bao lâu, dưới gốc cây quế bỗng có một vị thàn tiên già đi ra, mặt mày rất hiền từ. Nghe xong một đoạn, ông ta bèn ngước đầu hỏi Giang Tẩu:

“Người thổi rất hay, tiên nhạc ở trên trời cũng không hơn như thế. Người ở thôn nghèo bị mai một thế này thật đáng tiếc, người nên đến Kim Sơn tìm một vị Bào Tiên (tiên cá) để ông cho ngươi một vài chỉ điểm”.
Nói xong, ông già ẩn mất trong cây quế. Giang Tẩu quả nhiên đến Kim Sơn tìm được Bào Tiên, Bào Tiên tặng cho ông ông cây sáo ngọc. Ông tiếp lấy và thổi thì có một con rồng bay tới đón ông xuống trong nước đi làm thủy tiên.
   
   
HỨA TÂY NHAM

Hứa Tây Nham nhà ở dưới dốc núi, nhà Đường niên hiệu Trịnh Nguyên lên kinh đô thi bị rớt, ông bèn tạm thời ở lại Trường An.

Có một hôm, ông đi trên đường phố Trường An gặp một con ngựa Phiên to lớn khỏe mạnh, ông rất muốn mua nhưng giá thành quá cao, ông còn do dự chưa quyết định. Lúc đó, ông nhờ Đạo Sỹ bói cho một quẻ, bói ra quẻ Càn cửu ngũ hào, lời quẻ rằng: “Phi Long tại thiên, lợi kiến đại nhân”. (rồng bay trên trời, sẽ gặp bậc đại nhân”. Đạo Sỹ nói với ông: “Con ngựa này thuộc giống rồng, tiên sinh nếu như mua được nó, tương lai ắt có thể bay lên trời!”.
Tây Nham nghe nói rất vui mừng, không cần đắn đo chút nào bèn mua ngay.

Đương thời, danh thần Ngụy Linh Công trấn thủ Tứ Xuyên, Hứa Tây Nham bèn cưỡi ngựa đi thăm ông, giữa đường khi đi qua Kiếm Các, ngụa bỗng nhiên trượt chân ngã xuống sâu vạn tượng, tình huống lúc đó rất nguy hiểm, nhưng người ngựa đều an nhiên vô sự, Hứa Tây Nham vô cùng kinh ngạc, tiếp tục đi mấy mươi dặm sau đó đến một cái động, trông thấy trong động hoa nở tươi tốt, bên rừng cây còn có đá xanh hồ nước, bên bờ ao trong thạch thất có một vị đạo sỹ, tóc bạc mặt hồng, ngày thường nằm trên một cái sạp bằng đá, có hai tiên nữ đứng hầu hai bên. Sự xuất hiện của Hứa Tây Nham là kinh động hai tiên nữ đó, họ hỏi: “Ông là người gì, tự nhiên làm ồn đến tiên cư của Thái Ất Nguyên Quân?”.

Tây Nham đem tình hình thật nói với họ. Họ đi báo cáo với Nguyên Quân, Nguyên Quân hỏi ông:
“Ông ở nhân gian thích làm việc gì?”.

Tây Nham trả lời ông rằng ông rất thích tụng kinh Huỳnh Đình của Lão Trang.

Nguyên Quân lại hỏi ông: “Ông đối với Lão Trang có tâm đắc gì không?”.

Tây Nham trả lời nói: “Trang Tử nói chân nhân dùng chân để thở, Lão Tử thì cho rằng tình thần mới là chân thật, kinh Huỳnh Đình giảng về đạo lý trường sinh bất lão”.

Nguyên Quân nói: “Ông nói thật hay, xác thật phải lãnh hội”.

Bèn mời Tây Nham ngồi xuống, kêu ngọc nữ rót rượu cho ông uống. Nguyên Quân nói: “Năm nay Kê Khang không thể được, mà nay ông được âu cũng là cái mạng!”.

Hứa Tây Nham vội vàng cầu tạ, chỉ nghe Ngọc nữ nói: “Dĩnh Đạo sỹ đến rồi”.
Nguyên Quân dặn dò sắp đặt chỗ ngồi, Tây Nham định mắt nhìn vị Đạo sỹ họ Dĩnh thì ra chính là người ông nhờ xem bói mua ngựa ở Trường An năm xưa. Chính đang lúc kinh ngạc, đạo sỹ mở miệng nói: “Tôi năm trước phê quẻ nào hôm nay ứng nghiệm rồi”.

Không bao lâu có tiên đồng cưỡi rồng nai đến nói:

“Đông Hoằng Quân đón Nguyên Quân đến Khúc Long Sơn đi ngắm trăng”.

Nguyên Quân nói với Tây Nham: “Chúng tôi sao không được cùng đi?”

Lúc đó, họ mỗi người cưỡi một con rồng, con nai vẹt hư không mà đi. Chớp mắt thì đã đến Khúc Long Sơn, chỉ thấy quế cao, cầu nguy hiểm, ngọn núi quanh có hiểm trở, ngọn núi quanh có cao vạn trượng. Nguyên Quân muốn Tây Nham đi bái Đông Hoàng, Đông Hoằng nói với ông:

“Ngươi là con cháu của Hứa Trương Sử, hôm qua tôi mới uống rươu cùng ông ta, ông ta cũng biết ngươi đến đây”.
Trong tiệc rượu, Đông Hoằng sai ngọc nữ ca hát, loan phượng nhảy múa, để làm vui cho khách.

Sau khi ca múa xong, Nguyên Quân và Tây Nham lại cưỡi rồng trở về. Hứa Tây Nham từ trên không trung trông thấy trên mặt đất có một cái thành lớn, liền hỏi đây là nơi nào. Nguyên Quân bảo đó là nước Tân La. Đến bờ biển có cái thành nhỏ, Tây Nham lại hỏi, Nguyên Quân nói là Đường Quốc Đăng Châu. Trong khoảng khắc về đến động phủ.Tây Nham bái và cầu xin cho ông được về nhà, Nguyên Quân bảo ông rằng:

“Ngươi đã uống rượu tiên,có thể sống đến 1000 tuổi, chỉ mong người giữ kín miệng, không tiết lộ thiên cơ, lại càng không phóng đãng ham muốn, phải giữ thân tâm cho thanh tịnh, chúng ta còn có cơ hội gặp lại”.
Trước khi Tây Nham lên ngựa, Nguyên Quân nói:

“Con ngựa này là thân long trong động phủ tôi. Bởi vì nó làm tổn hại nhà nông nên bị giáng chức xuống nhân gian. Ngươi về đến nhân gian không thể cưỡi nó nữa, chỉ cần thả nó trở lại Vị Thủy, tự nhiên nó trở lại thân rồng”.
Lúc bấy giờ ngọc nữ cùng đi lại nói nhỏ với Tây Nham rằng:

“Ông đến huyện Hiệu, giúp tôi tìm Điền Bà, nói là gửi cho tôi mấy cấy kim được không?”.

Tây Nham nhận lời, ông nhảy lên long mã, trong khoảng khắc về đến huyện Hiệu, mà ở nhân gian đã trải qua 60 năm rồi. Thời ấy, Đường Huyền Tông niên hiệu Đại Trung thứ 5, Hứa Tây Nham quả đến Điền Bà và nói với bà về việc cần cây kim. Điền Bà nói:

“Thái Ất Gia Tử Tiêu Tỷ viết thư đến nói, nhờ người đến tôi lấy kim, ông chính là người họ nhờ cậy phải không?”.
Điền Bà đưa cái kim đem cho Tây Nham.Tây Nham lấy kim buộc trên bườm ngựa sau đó đến Vị Thủy thả nó. Quả nhiên, ngựa vừa thấy nước liền thân bay lên biến thành rồng.
Hứa Tây Nham sau này ẩn cư ở Khương Lô Sơn, ra vào không nhất định, không biết cuối cùng đi đâu.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2011, 05:36:43 pm »

(tiếp theo)

DU LINH


Du Linh là người Hà Gian, ông đến tu đạo ở Hoằng Sơn Cửu Chân Quan. Nam Nhạc Xích Quân dạy ông phép thuật Thiên lý nhãn. Ông siêng năng tu tập 20 năm, sau khi tu thành công ông ngồi trong nhà mà có thể trông thấy mọi việc khắp nơi trong thiên hạ. Việc to việc nhỏ không sót, rõ ràng như ở trong lòng bàn tay. Nhưng Du Linh ẩn không ra ngoài, từ đấy không còn thấy pháp thuật kinh hãi lòng người.

Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa Đường Hiến Tông, quan sứ Bân Châu phát hiện, ông có thể thấy mà người ta chưa thấy, nói điều mà người ta không thể nói, rất kinh ngạc liền bàn hỏi với ông. Du Linh từ chối nói đây chỉ là khéo kết hợp, ông chỉ là người bình thường không có chi hơn người cả.

Từ đấy, Du Linh đóng cửa không ra ngoài nữa, sau đó đến Cửu Nghi Sơn tu đạo nghe nói ông cũng tu thành thần tiên.
   
LÝ NGỌC

Lý Ngọc người Quảng Lăng triều Đường, ngày thường làm nghề bán gạo, mỗi đấu gạo chỉ lời 2 văn tiền vừa đủ để nuôi dưỡng cha mẹ. Mỗi lần ông bán gạo, đều cho người mua tự lấy đấu đong gạo, không một chút tính toán cũng không mảy may nghi ngờ.

Thừa Tương đương thời cũng tên Lý Ngọc. Khi ông ở Chuẩn Nam, nằm mộng thấy đi vào trong một cái động phủ, trông thấy trên vách đá có hai chữ thật lớn sắc vàng, đứng gần xem rõ ràng là tên của mình. Lý Ngọc (Thừa Tương) rất mừng cho là mình đã có tên trong bảng tiên, ông ta đang vô cùng khoái trá, bỗng nhiên có hai đồng tử đi lại nói với ông rằng:

“Đây chỉ là một người bình dân ở quận Giang Đương, ông ta và ông cùng họ cùng tên, cũng là Lý Ngọc. Ông ta cả một đời thuần hiếu mà còn thành, thật đáng lý phải thành tiên”.
Lý Ngọc ở thế gian sống hơn 100 tuổi, sau đó quả nhiên thành thần tiên. Có thể thấy điều kiện thành thánh, thành tiên là ở phẩm cách mà chẳng phải quyền thế.
   
   
Y   KỲ HUYỀN GIẢI

Y   Kỳ Huyền Giải, tên kỳ lạ mà người cũng kỳ lạ, ông lớn lên tóc thì bạc mà nhan sác thì trẻ, thân thể tỏa khắp hương thơm, ngày thường cưỡi con ngựa màu vàng, con ngựa này không ăn cỏ, cũng không dùng dây cương, chỉ cần dùng thảm màu xanh trải trên lưng nó thôi. Ông cưỡi ngựa dao du giữa Thanh Châu va Duyễn Châu, người thấy đêu nói việc ngàn năm. Họ đều đến để chính mắt nhìn thấy.

Đường Hiến Tông nghe nói đại danh của ông, liền mời ông vào cung, chiêu đãi ông ở trong cung Cửu Hoa là một nơi rất hào hoa, mỗi ngày mời ông uống rượu Long Cao là một loại rượu quý rất nổi tiếng, và còn đích thân hỏi đạo, đối với ông rất trọng hậu. Nhưng Huyền Giải vốn tính thẳng thắn, từ đấy không chịu câu thúc lễ tiết của quân thần, Hoằng đế hỏi:

“Tiên sinh tuổi thọ cao như núi mà dung mạo không già, do là có đạo lý gì?”.

Huyền Giải đáp:
“Tôi ở trên biển trồng cỏ Linh Chi, ai ăn thứ đó đều có thể trường sinh bất lão”.

Vì đáp lại sự trọng đãi của Hoằng đế, Huyền Giải đích thân mang gống cỏ Linh Chi về trồng trong vườn thú ở cung đình. Tất cả có 3 thứ: Song Lân Chi, Lục Hợp Quỳ và Vạn Cân Đằng, Hoằng đế sau khi ăn rồi, quả nhiên cảm thấy to lớn không giống lúc trước.

Trải qua thời gian không bao lâu, Huyền Giải muốn trở về Đông Hải, Hoằng đế không chuẩn, lúc đó Huyền Giải ở trong cung dùng gỗ khắc Phùng Loan Tam Sơn, Kim Bích Huy Hoàng, Châu Quang Bảo Khí, Hoằng đế được mời đến chiêm ngưỡng. Hoằng đế chỉ Phùng Lai nói:

“Nếu như không phải người thành tiên, làm sao có thể đi vào cảnh đẹp đẽ này?”.
Huyền Giải cười đáp:

“Tam đảo chỉ trong gang tấc, đến không khó gì. Tôi tuy không có khả năng, nhưng muốn cùng bệ hạ thử đi một chuyến”.

Nói xong, ông lập tức nhảy lên không trung, thân thể từ từ rút nhỏ lại, rồi chui qua trong cửa cung vàng bạc của giả sơn, tả hữu cung nhân liều mình kêu ông, ông cũng không chịu ra.

Xem thấy một màn “Tiên độn” (tiên ẩn), Hoằng đế rất hối hận, dường như muốn phát bệnh.Lúc đó bèn đặt ngọn giả sơn tên là Tàng Chân Đảo. Qua mấy ngày, Từ Thanh truyền lại một tin tức, nói là trông thấy Huyền Giải vượt biển mà đi.
   
   
TRỊNH TOÀN PHÚC


Trịnh Toàn Phúc là người Giang Tây Kỳ Lương, thời Đường An Tông ông đến Tân An động Chư Linh tu luyện, sau đó lại đến động Liên Hoa, du ngoạn ở suối Đào Hoa.

Lúc ở suối Đào Hoa, ông thường trông thấy một ông già ở trên suối Đào Hoa chèo chiếc thuyền bằng sắt qua qua lại lại. Nhìn kỹ từng chiếc thuyền nặng lắm, nhưng ông lão chèo nhẹ nhàng đi rất nhanh, cảm thấy không có một chút dùng sức, thuyền cũng không bị khẳm. Toàn Phúc trong lòng rất bồn chồn, thầm nghĩ ông già này chắc chắn không phải người bình thường. Một hôm, ông làm liều nói với ông già cho mượn chiếc thuyền về quê, không ngờ ông lão không một chút do dự nhận lời, nhưng ông yêu cầu Toàn Phúc mượn tối đa 3 năm phải trả lại.

Ba năm sau, Trịnh Toàn Phúc y lời hẹn trở lại. Ông già ở trên suối Đào Hoa chơi 3 năm, khi trở về đã hơn 100 tuổi. Sau đó, nghe đệ tử nói, ông chèo chiếc thuyền sắt ngược suối Đào Hoa cho đến khi thành tiên.
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, anhlam, dailuc, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Sáu 06, 2011, 05:39:53 pm »

(tiếp theo)

LIỄU THẬT VÀ NGUYÊN TRIẾT


Liễu Thật và Nguyên Triết là người Hoành Nhạc. Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa triều Đường, hai người kết bạn đến Hoan Khánh Nhị Châu đi tìm Tĩnh Thân, trên đường từ Đăng Châu qua biển Giao Chỉ, nửa đêm bỗng trông thất gió lốc nổi dậy. Thuyền bị vỡ, họ đều trôi dạt vào một hòn đảo trên biển.

Ngày thứ 2 khi trời sáng, họ leo lên đảo nhỏ, bốn bề vắng vẻ. Họ phát hiện trên đảo có một cái miếu, trong miếu có tượng của Bạch Ngọc Thiên Tôn, trên bàn thờ có cái lò bằng vàng. Họ đang nhìn dáo dác thì bỗng nhiên phía đông xuất hiện mây màu tía, từ mặt biển bay vọt thẳng lên đảo. Trong chớp mắt có hai thị nữ bưng tráp ngọc tới miếu Thiên Tôn vừa lễ lạy vừa đốt hương lạ tỏa thơm phức. Liễu, Nguyên hai người vội vàng đi tới hai thị nữ này giải thích sự việc họ bị nạn trên biển, nhờ tìm cách giúp đỡ. Thị nữ bảo họ rằng:

“Đợi một chút Tôn Sư đến đây và Nam Minh Phu Nhân gặp nhau, lúc đó các ông có thể cầu họ giúp đỡ chắc chắn sẽ có hiệu quả”.

Thị nữ vừa nói xong thì có hai vị Tiên nhân cưỡi nai trắng vẹt mây bay tới. Liễu, Nguyên hai người lạy họ cầu cứu.
Ngọc Hư Tôn Sư nói với họ rằng:

“Hai vị theo Nam Minh Phu Nhân đi, chắc chắn sẽ tìm được đường về, không cần phải lo lắng”.

Nam Minh Phu Nhân nhìn chăm chú Liễu, Nguyên hai người hồi lâu mới nói:

“Hai vị có nét tiên phong đạo cốt, sau này tu ắt thành thần tiên. Nhưng hai vị phải có thầy mà ta cùng hai vị hoàn toàn không có duyên phận thầy trò. Nhưng đã trôi nổi gặp nhau, ta cũng không thể không có chỗ chứng tỏ”.
Nói xong, bà kêu thị nữ tiễn họ đi về, đến lúc đi còn tặng cho họ hai cái bình ngọc.

Họ bái từ tiên nhân, vừa đi khỏi cửa bỗng nhiên trông thấy một cây cầu dài mấy trăm trượng, hai bên lan can mọc đầy hoa thơm cỏ lạ, thì ra cây cầu dài kia do một bầy rồng nối liên tiếp nhau mà thành. Khi họ đi đến bờ, thị nữ cởi vạt áo lấy ra một cái hộp, bên trong có một vật hình giống con nhền nhện, nói với họ rằng:

“Tôi là thủy tiên, trong mạng căn thuần âm, không có dương. Hồi trước đã một lần gặp một thiếu niên, hai mối tình cùng vui, cùng kết châu thai, ngày nay đứa trẻ đã lớn được 3 tuổi rồi. Nam Minh Phu Nhân ra lệnh tôi đem con cho thần Nam Nhạc làm nghĩa tử, mấy năm trước Nam Nhạc về Nhạn Phong Sơn, có sứ giả đến thủy phủ, đem đồ chơi của con tôi là ly ngọc cho tôi, mà sứ giả đó lại dấu không đem cho tôi. Hai vị lần này đi về, cảm phiền hai vị đến Nhạn Phong Sơn giúp tôi tìm đến sứ giả đó, sau đó lấy cái hộp này ra thì có thể được cái Ly Ngọc lại. Đến lúc đó, phiền các vị đem cái Ly Ngọc này đến Nhạn Phong Sơn đưa cho con tôi, con tôi chắc chắn sẽ hỏi hai vị, dù thế nào thì hai vị cũng không trả lời!”.

Liễu, Nguyên hai người hỏi thị nữ rằng:
“Phu nhân nói sau này chúng tôi đến nhân gian, nếu như đậy cái hũ ngọc này sẽ có sự tình phát sanh, đây rốt cuộc là ý gì vây?”.

Thị nữ trả lời rằng:
“Hai vị có tâm nguyện gì, vừa đậy hũ ngọc, việc gì cũng như ý”.

Họ lai hỏi thị nữ:
“Phu nhân nói chúng tôi riêng có thầy, người đó là ai thế?”
Thị nữ đáp:
“Đó là Nam Nhạc Thái Cực tiên sinh”.

Đối đáp xong hai người cáo từ ra đi. Khi về đến nhà nhân gian đã trải qua 10 năm dài.Mấy đứa trẻ lúc trước đã thành thanh niên. Vợ họ đều đã chết rồi.
Ngày thứ 3 hai người vội đậy hũ ngọc, trong hũ phát ra một tiếng nói: Có thể đến miếu sứ giả đưa cái hộp này, hai vị sẽ được thuốc hay”.

Hai người đó vội vã đi đến Nhạn Phong Sơn, tìm được miếu sứ giả, sau đó đem cái hộp trình lên rồi đi. Trong chốc lát một con rồng đen bay vượt không trung, quả nhiên quăng xuống một cái ly ngọc, họ nhặt lấy ly ngọc, đi nhanh đến miếu Nam Nhạc. Trong miếu có một thiếu niên áo vàng, lấy hai cái hộp chế bằng vàng, nói:
“Thuốc này tên là Phản Hồn Hào, trong nhà hai vị nếu có người chết, dù cho đã qua 60 năm, đem nó xoa lên đỉnh đầu thì có thể sống lại.”

Nói xong, thiếu niên liền biến mất.

Hai người lúc đó về nhà, và theo lời nói đem thuốc xoa lên đỉnh đầu vợ, quả nhiên vợ họ đều sống lại. Lúc đó, họ cùng nhau đi đến núi Nam Nhạc hỏi thăm Thái Cực Tiên sinh, nhưng cả năm cũng không tìm được.

Có một hôm họ trông thấy một ông già ở trong tuyết lớn, vác củi đi một mình, hai người không chịu được cảnh ông già bị lạnh, bèn lấy rượu mời ông uống. Mới vừa tới gần bỗng nhiên thấy hai chữ “Thái Cực” khắc trên gánh củi, hai người vui mừng lập tức quỳ xuống bái làm thầy, và lấy bình ngọc ra làm bằng chứng. Ông già trông thấy bình ngọc liền nói:

“Ta bình sinh luyện nước ngọc trữ chứa trong cái hũ này”.
Lúc đó ông già dẫn hai người cùng lên Chúc Dung Phong, từ đấy cũng không trở về nhân gian.

   
LƯ SƠN NHÂN



Lư Sơn Nhân lai lịch không rõ ràng, khoảng niên hiệu Bảo Lịch ông thường ẩn hiện ở Kinh Châu, bề ngoài là một nhà kinh doanh buôn bán, bỗng biểu lộ ra một chút dấu kỳ lạ, mọi người đều đối với ông không lường đươc sự cao sâu.
Có một thương nhân Triệu Văn Khanh muốn tới lui cùng ông, lúc đó thường tới mua đồ đạc và còn mượn cơ hội hướng về ông học hỏi đạo lý. Lư Sơn Nhân phát giác có khác lạ, bèn hỏi ông ta rằng:

“Ông tìm tôi với mục đích gi?”.

Triệu Văn Khanh đáp:
“Tôi biết ngài là bậc cao nhân ẩn kín không lộ diện, mong được sự chỉ dạy đôi chút”.

Lư Sơn Nhân cười nói:
“Tôi thấy chủ của ông trưa hôm nay sẽ bị cái họa lớn rơi vào đầu. Nếu như ông nghe lời khuyên của tôi, đại họa có thể khỏi. Khi đến giờ ngọ sẽ có một người bán bánh quảy cái túi đến nhà ông, trong túi ông ta có hai nghìn đồng tiền, anh ta sẽ tranh cãi vô lý, ông nhớ nên đóng cửa nhà, bảo với vợ con đừng nói chuyện với ông ta. Đối phương sẽ chửi lớn, cả nhà ông nên chạy đến bờ sông ẩn tránh, như vậy có thể tiêu phí tài sản ba ngàn tư đồng có thể tiêu tai”.

Đương thời Triệu Văn Khanh ở nhờ nhà của người họ Trương, sau khi ông trở về, lập tức đưa chuyện Lư Sơn kể cho họ nghe một lượt.

Trương Tiên Sinh cũng rất bội phục Lư Sơn Nhân, lúc đó mọi việc đều y theo đấy mà làm. Ông đóng cửa đúng giờ ngọ đã đến, quả nhiên có hình người giống như Lư Sơn Nhân tả, kêu cửa mua gạo. Do Trương Thị không trả lời, ông nổi cơn đại nộ dùng chân đạp mạnh cửa nhà. Do đó làm kinh động làng trên xóm dưới, đều ào ào chạy lại vây xem.

Đồng thời ông Trương dẫn vợ con hầu gái từ cửa sau chạy trốn bên bờ sông. Giờ ngọ vừa qua, người đó bực tức bỏ đi, nhưng mới đi được mấy trăm bước, bỗng nhiên ngã té mà chết. Vợ con người đó nghe tin vội chạy đến, đám người vây quanh đem tình huống lúc nãy kể lại cho bà ta. Bà rất khổ tâm, liền chạy đến ông họ Trương khóc thảm thiết, còn vu cáo nhà ông Trương hại chết chồng bà.

Kết quả một hàng người huyên náo tiến vào nha môn, huyện trưởng một lúc cũng không biết phán quyết thế nào, may thay có hàng xóm đến làm chứng cho họ, huyện trưởng mới rõ sự tình, ông nói với mọi người rằng:

“Họ Trương tuy không có tội, nhưng trên đạo nghĩa phải vì người chết lo liệu việc tang”.
Họ Trương vui vẻ nhận lời, vợ ông kia cũng không oán trách, họ vào trong thành làm việc tang xong, vừa tình lại quả thật tiêu đúng 3400 văn tiền, so với lời tiên đoán của Lư Sơn Nhân không sai mảy may.

Lư Sơn Nhân sau này đi Kinh Châu, chuẩn bị hỏi thăm Lục Tú Tài. Có người bảo Lục Tú Tài nói Lư Sơn Nhân có đạo thuật, lúc đó Lục Tú Tài mới đi trước đến thăm Lư Sơn Nhân. Lúc đó Lục Tú Tài định đi kinh thành ở nhà một người bạn, nhân đây mà thỉnh giáo Lư Sơn Nhân họa phước tốt xấu thế nào.

Lư Sơn Nhân nói với ông ta rằng:
”Ông bây giờ không nên đi, phía sau nhà ông có một chậu tiền, dùng ván gỗ đóng kín, dù đó không phải là tiền của chủ ngươi năm nay mới 3 tuổi, dù thế nào ông cũng đừng lấy một đồng tiền. Nếu ông lấy tiền thì có họa liền, ông có nghe lời khuyên của tôi không?”.

Lục Tú Tài kinh ngạc nhận lời.
Sau khi Lư Sơn Nhân đi rồi, Lục Tú Tài cười nói vớ vợ rằng:
“Lư Sơn Nhân đã nói như vậy, ta đòi làm gì”.

Ông bèn sai người đầy tớ đào đất vừa được mấy thước quả nhiên thấy một cái chậu, bên trong đầy tiền. Vợ ông lấy cái quần gói tiền lại, ước chừng được một xâu. Đang đếm, bỗng nhiên đứa con gái lớn của ông kêu đau đầu, Lục Tú Tài mới kinh hãi nói:

“Đây chẳng phải là lời tiên đoán của Lư Sơn Nhân linh nghiệm?”.

Ông lập tức cưỡi ngựa đuổi theo Lư Sơn Nhân, hướng về ông tạ tội. Lư Sơn Nhân tức giận nói:
“Cốt nhục và tiền bạc cái nào quan trọng! Ông thử cân nhắc xem”.

Nói xong quay đầu đi mất. Lục Tú Tài về đến nhà vội vàng gói tiền kỹ càng chôn trở lại, đứa con gái của ông cũng lập tức khỏe mạnh lại ngay.

Lư Sơn Nhân đến Phục Châu, cùng mấy người bạn dạo trên đường phố, bỗng gặp 6, 7 người ăn mặc coi chừng sang trọng, hơi rượu nực nồng. Lư Sơn Nhân vừa trông thấy họ đã lớn tiếng mắng rằng:

“Các người là những thằng làm xằng làm bậy, cách cái chết không xa đâu”.
Mây người đó lập tức quỳ xuống đất lạy và tạ tội nói:
“Từ đây về sau không dám nữa”.

Bạn của Lư Sơn Nhân đều rất kinh ngạc, hỏi ông ta chuyện gì thế, Lư Sơn Nhân nói:
“Mấy người này đều là cường đạo cướp thuyền trên sông”.

Có Triệu Nguyên rất thân quen với Lư Sơn Nhân, căn cứ theo tướng mạo ông có lúc thấy rất già, có khi lại nhìn thấy rất trẻ, đồng thời cũng ít thấy ông ăn uống. Ông từng nói với Triệu Nguyên:

“Ở thế gian kẻ thích khách ẩn hình không ít, con người đắc được thuật ẩn hình mà không dùng, qua 20 năm có thể phân thân biến hình, thoát ly thể xác. Lại qua 20 năm liền biến thành địa tiên”.

Lời nói và  việc làm của Lư Sơn Nhân rất kỳ dị, do vậy người thời đó suy đoán ông chắc có lẽ là người trong thần tiên.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, quycoctu, anhlam, dailuc, byphuong, lethuytienac
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 [3] 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.444 seconds với 24 câu truy vấn.