Tháng Tư 23, 2018, 03:06:02 am -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG  (Đọc 10357 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Năm 30, 2011, 08:42:06 am »

(tiếp theo)

AN KỲ SINH

An Kỳ Sinh người thôn Lang Đa, ông trước kia vốn bán thuốc ở bờ biển, người đương thời gọi ông là “Thiên Tuế Công”.

Tần Thủy Hoàng ngưỡng mộ đại danh của ông, từng mời ông vào trong cung gặp nhau, cùng ông bàn luận ba đêm và ban cho ông vàng bạc gấm vóc vô số. Nhưng An Kỳ Sinh không có một chút có ý cầu của cải, giàu sang, lúc ông rời thôn ấp đem tất cả của cải vàng bạc gấm vóc cho người trong thôn. Ông để lại một bức thư và một cặp hài ngọc màu đỏ.

Trước khi đi ông nói với người chung quanh, 1000 năm sau có thể đến Phùng Lai Sơn tìm tôi. Tần Thủy Hoàng biết được phái nhiều sứ giả lên biển tìm kiếm ông, nhưng không tìm được Phùng Lai Sơn mà gặp phải gió lớn, chỉ uổng công rồi trở lại.

Trần Thủy Hoàng thất vọng thương cảm ông, chỉ lập miếu thờ An Kỳ Sinh tại Phụ Hương Đình.

   
TU DƯƠNG CÔNG

Tu Dương Công là người nước Ngụy, ông ở trong hang Hoa Âm Sơn treo một cái giường đá, tự mình nằm trên giường đá, cục đá thấu qua ông cũng không nhúc nhích. Ông bình thường dùng Hoàng Tinh để ăn. Hán Cảnh Đế từng mời ông vào trong cung, qua một thời gian rất lâu cũng không học được pháp thuật của ông. Cảnh Đế rất vội vã hỏi ngày nào mới chuẩn bị mở lời. Tu Dương Công vừa nghe hỏi một câu đã biến thành con dê trắng, giống như châu ngọc và còn chấp tay nói: “Tu Dương Công cảm ơn Thiên tử”. Cảnh Đế chỉ có cách mang con dê lên đài Linh Thông, không bao lâu con dê trắng này biết nói chuyện rồi không thấy nữa.

Tu Dương Công vì sao chầm chậm không mở lời? Chắc là ông muốn dò xét tâm đạo của Cảnh Đế có thành tâm hay không, và muốn hàng phục sự tôn quí đế vương của ông. Nam Diện làm vua tuy cực quí một thời, nhưng mặt trước của đạo vĩnh hằng, là nhún nhường không đủ, vi tế không đủ đạo.
   

TƯ MÃ QUÝ CHỦ


 Tư Mã Quý Chủ là người Sở, vốn trước kia ở Trường An làm thấy toán số, sau đó lại đến An Vũ Sơn ẩn cư, luyện thành pháp thuật tàng hình. Sau khi đắc đạo dung mạo tươi đẹp như thiếu nữ, râu dài ba thước đen bóng.

Tư Mã Quý Chủ dắt một người đệ tử là Phạm Linh Tử một mạch vào trung sơn thạch thất, trong thất có cái giường bằng đá. Một hôm Tư Mã Quý Chủ muốn đi ra ngoài chơi, kêu Phạm Linh Tử trông coi tủ đá, và dặn anh ta không nên mở ra.

Ông đi rồi, sau đó Phạm Linh Tử vì nhớ nhà muốn mở trộm cũi đá, kết quả anh phát hiện cha mẹ anh em đều ở trong đó, lúc đó anh rất buồn.

Qua mấy năm, Tư Mã Quý Chủ kêu anh giữ cái cũi đồng, kết quả anh lại phạm luật ngăn cấm, và lại gặp cha mẹ anh em lần nữa trong cũi đồng, cuối cùng từ đấy tu thành tiên mà đắc đạo.

Tư Mã Quý Chủ thành tiên, sau đó chỉ để lại một chiếc giường bằng đá.

   

Y TRỪNG

Y Trừng tự là Sơ Mạc, sau sửa lại tên là Lâm, người Phần Dương. Có một hôm ông qua núi Thái Sơn, thấy trên hòn đá dính một nhánh Thanh Chi, ban đêm phát ra ánh sáng, lúc đó Y Trừng đem nó về làm thức để ăn, từ đó ông có thể đi mỗi ngày sáu bảy trăm dặm đường.

Không bao lâu, Y Trừng đến núi Nga Mi gặp được tiên nhân Tống Quân, Tống Quân dạy cho ông kinh điển thời đại Tam Hoàng và Cửu Đan bí quyết. Y Trừng nỗ lực tu luyện, cuối cùng thành công. Pháp thuật của ông rất nhiều , ví như quẳng thần phù nước đổi sóng liền đổi ngược dòng. Ông lại có thể khiến sóng to trở lại yên lặng. Người chết có thể khiến cho sống lại, thậm chí ông còn có thể mệnh lệnh quỷ quái tự trói buộc mình nhận tội.

Y Trừng sống ở thế gian hơn 340 tuổi. Hán Chiêu Đế niên hiệu Nguyên Thủy năm đầu, Thái Vị Đế Quân sai tiên quan tới đón tiếp ông, phong ông làm Thái Vi Chân Nhân.
   
   
LƯU AN

Lưu An là cháu Hứa Cao Tổ, nhưng làm Hoài Nam Vương, ông thích nho thuật, chiêu hiền đãi sĩ, từng cùng họ hạ lệnh tân khách biên trước thành sách, người đời sau gọi là “Hoài Nam Tử” hay là “Hoài Nam Vương Thư”. Ông lại trước tác hai quyển Hồng Bảo Vạn Niên, chuyên môn thảo luận về đạo lý biến hóa.

Có một hôm không biết từ nơi nào tới tám ông già (Bát Công) lên cửa cầu kiến Hoài Nam Vương, tiểu sứ giữ cửa định gây khó khăn họ, bèn nói: “Đại Vương muốn cần ba điều kiện, thứ nhất là muốn trường sinh bất lão, thứ hai là muốn nhà nho học rộng nghe nhiều, thứ ba hy vọng được trai có sức khỏe võ thuật, dũng cảm hùng mạnh mà các ông già thế này, dù không thể trước tác sách, cũng không có võ thuật, ba điều hy vọng của đại vương các ông một điều cũng không đạt thành, tôi không dám dẫn các ông đi bái kiến”.

Bát Công nghe xong không nhịn cười được, họ trả lời: “Chúng tôi nghe nói Hoài Nam Vương chiêu hiền đãi sỹ, chỉ cần chút tài năng, không chỉ chẳng được làm quan thượng khách. Chúng tôi đây có mấy thứ tài năng, tuy không hợp với yêu cầu nhưng bái kiến Đại vương cũng không hại gì. Anh vì sao làm khó chúng tôi, nêu như Đại vương cho rằng thiếu niên mới là đạo sỹ, già không có khả năng, sợ e chưa tránh khỏi bị lầm hình tướng bên ngoài”.

Bát Công nói xong, liền cùng biến thành đứa tre 15 tuổi, đầu tóc đen bóng mặt hồng như trái đào. Người giữ cửa vừa trông thấy kinh ngạc thất sắc, vội vàng chạy đi thông báo. Hoài Nam Vương vội vã chưa kịp mang giày, đi chân không ra ngoài nghinh đón, ông mời Bát Công thiết trí tư tiên đãi, giường ngà voi, dùng hương rất thơm và bàn ghế bằng vàng ngọc để chiêu đãi họ, tự mình mặc phục trang làm đệ tử, hướng về Bát Công chấp tay hành lễ. Bát Công lúc đó hiện nguyên hình người giá, họ thấy Hoài Nam Vương thành tâm mới hỏi rằng:

“Chúng tôi nghe nói Đại vương ham thích đạo thuật, do đó đến bái kiến thăm hỏi, không rõ Đại vương hy vọng những gì? Chúng tôi một người có thẻ kêu mưa hú gió, chế tạo mấy mù, vẽ đát làm sông hồ, rưới đất thành núi.

Một người có thể dời non lấp biển, ra lệnh cho hỏ báo rồng rắn, sai khiến quỷ thần.
Một người có thể phân thân biến hình, lẩn trốn trong ba quân, một tay che mặt trời.
Một người khác có thể vào lửa không cháy, vào nước không ướt, đao chém không đứt, tên bắn không lủng, mùa đông không lạnh, mùa hạ không nóng,
Một người có thể thiên biến vạn hóa, muốn gì được nấy, có thể biến ra bất kể cầm thú,,cây cổ gì, dời núi lấp sông. Một người có thể phòng tránh tai họa điều xấu ác, tránh tà trừ họa, kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất lão.
 Một người có thể luyện bùn thành vàng, luyện chì thành bạc, cưỡi rồng cưỡi mấy, rong chơi trên hư không. Tám pháp thuật này tùy Đại vương lựa chọn”.

Lưu An nghe xong thán phục không ngớt, bèn đích thân dâng rượu, trái cây, đối với họ bái cầu chỉ dạy, mong được mỗi vị thử tài, kết quả Bát Công đều hiện thần thông, quả thật tiếng đồn không sai. Lưu An lúc đó học đan kinh với họ và các thứ đạo thuật khác.

Đơn dược của Lưu An không bao lâu luyện xong, ông vẫn chưa dùng, còn con trai của ông là Lưu Thiên ham thích kiếm thuật. Lang Trung Lôi được cùng anh ta so kiếm, không cẩn thận đâm trúng Lưu Thiên, Lôi sợ bị giết bèn dâng sớ vu Lưu An định tạo phản, thiên tử phái người đến trị tội Lưu An. Bát Công lúc đó bảo ông rằng: “Anh nên đi, đây là trời cho anh cơ hội, không nên chần chừ”.

Lưu An chấp nhận kiến nghị  của họ, chọn ngày tốt giờ hoàng đạo lên núi mà đi, đem vàng chôn dưới  đất, ông bèn leo lên núi ban ngày bay lên trời luôn. Bát Công và Lưu An đi qua nơi nào ngay cả hòn đá cũng đều rớt xuống, đến ngày nay vẫn còn dấu chân của người ngựa. Chỗ ông để cái vạc nấu thuốc, gà chó liếm cũng đều bay lên trời, một chốc chỉ nghe trong mấy có tiếng gà gáy, trên trời có tiếng chó kêu, thật náo nhiệt. Cho đến ngày nay chúng ta lưu truyền câu thành ngữ:”gà, chó bay lên trời” là có từ chuyện Hoài Nam Vương Lưu  An mà ra.

Tiên thuật của Hoài Nam Vương không có cách nào giải thích, nhưng ông đã chủ trì biên cuốn “Hoài Nam Tử” lại là tổng hợp lại tư tưởng Hán Tần, không những có giá trị về học thuật, có tài về văn chương, nó cống hiến cho đời sau tiên thuật rất sấu xa, rất nhiều.
   
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 30, 2011, 08:44:41 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Sáu 01, 2011, 03:21:25 am »

(tiếp theo)

CÂU TIÊN CÔ

Câu Tiên Cô là người Trường Sa, tu ở Hoành Sơn, 80 tuổi vẫn cô đơn một mình. Kế bên bà ở là tiên đàn của Nam Nhạc Ngụy phu nhân. Một hôm, bỗng nhiên từ ngoài trời bay tới một con gà màu xanh, con gà này lại còn biết nói chuyện, nó nói: “Tôi là sứ giả của Nam Nhạc Phu nhân, bởi vì thấy bà tu hành kham khổi, cho nên ra lệnh tôi đến đây làm bạn với bà”.

Sau này, mỗi khi có người tới núi chơi, gà xanh đều có thể đoán được tên người du sơn. Có một hôm nó bảo Tiên Cô: “Hôm nay có bạo khách tới, nhưng không nên sợ”. Kết quả có một đám hòa thượng, họ cầm đuốc, đao trượng giơ cao định hại Tiên Cô, nhưng Tiên Cô cứ ngồi yên trên giường  mà các hòa thượng không trông thấy bà. Cuối cùng các hòa thượng chỉ có cách đi, không ngờ mới ra khỏi cửa chưa bao lâu thì bị cọp bắt ăn.

Câu Tiên Cô sau đó về Hồ Nam ở, gà xanh cũng theo bà đi, sau đó lại nghe nói bà dời đi về Cưu Nghi Sơn, rồi không ai biết bà đi đâu nữa.
   
   
KIM THẦN

Kim Thần là người Lệ Thành, từ nhỏ đã thông minh hơn người, mà lại thích giả bộ làm khùng làm ngu. Ông đã từng gặp một người lạ dạy cho pháp thuật “Thái Âm luyện hình”.  Kim Thần luyện thành công rồi sau đó có thê mình trần nằm trên băng tuyết, ông còn có thể tiên đoán thủy tai, hạn tai, tốt xấu và thọ yểu nữa.

Kim Thần chết rồi, sau khi an táng hơn 100 ngày, có một đêm bỗng nhiên lôi sấm nổ ầm ầm, sau đó sáng ra mới thấy ngôi mộ của ông bị đánh nứt ra mấy tấc, trong mộ chỉ để lại một đôi giày và một cái quạt, người ta vẫn không biết ông đi đâu.

Đạo thuật riêng từng phương diện mà nhìn, đem tiềm năng của từng người giải thích cặn kẽ, nằm trên băng là một công phu không lạnh. Phật giáo Mật tông ở phương diện này tu luyện rất nổi tiếng, còn có nhiều người Yoga có thể hiển thị thể năng và lực lượng tinh thần siêu phàm. Ví như trên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn, mình trần nằm trên tuyết, làm tuyết tan ra, đây chỉ là bước đầu của công phu mà thôi. Có thể thấy tiềm năng con người vô cùng, chỉ cái tầm nhìn của chúng ra không khai phát hết được.
   
   
TÔ ĐAM


Tô Đam là người huyện Sâm, ông rất hiếu thuận với cha mẹ, ông đã gặp người lạ truyền cho tiên thuật.

Tô Đam mỗi ngày tự tay hầu hạ cơm nước cho mẫu thân, có một hôm mẹ ông bỗng nhiên  muốn ăn cá Xạ. Tô Đam liền đi mua cá Xạ mang về. Mẹ ông hỏi mua cá ở đâu ông nói mua ở Tiên huyện. Mẹ ông rất kinh ngạc bởi vì Tiên huyện cách xa huyện Sâm có hơn 100 dặm.

Lại có một hôm bỗng nhiên ông dùng rượu quét rửa nhà mình, bà mẹ hỏi có duyên cớ gì mà làm như thế, Tô Đam nói ông đã thành tiên, Thượng Đế muốn gọi ông về trời. Bà mẹ nói: “Con đi mẹ phải làm sao?”. Tô Đam để lại một cái tủ nói: “Mẹ cần thứ gì trong đó có thứ ấy!”. Lại nói: “Sang năm bệnh dịch lan rộng, mẹ có thể hái lá quýt trước miệng giếng ở sân nhà mà cứu người”.

Tô Đam lên trời, sau đó quả nhiên không bao lâu ôn dịch hoành hành, mẹ của ông đã dùng cách đó cứu sống được hơn 100 người.

Qua một thời gian, Tô Đam hóa thân làm một con hạc trắng đậu trên lầu Quận thành đông bắc, có người muốn dùng cung bắn ông, lại làm gì bắn cũng không trúng. Bạch Hạc dùng móng viết chữ trên lầu:

“Thành quách thị, nhân dân phi. Tam bách giáp tý nhất lai quy, ngô thị Tô Đam, đàn ngã hà vi!”.

Ý của ông nói thành quách không thay đổi mà nhân dân lại đổi mấy triều đại, ông ngàn năm mới về quê một lần, các người không nhận ra ta là Tô Đam thì thôi, vì sao lại dùng cung bắn ta hở!”.

   
   
ĐÔNG PHƯƠNG SÓC

Đông Phương Sóc tự là Mạn Sảnh, thuộc người Bình Nguyên.

 Có một lần ông ta ra khỏi cửa, khoảng một năm mới trở về nhà. Anh của ông hỏi vì sao ông đi lâu thế, Đông Phương Sóc nói rằng: “Tôi đến bờ biển rong chơi, biển có chỗ nước màu tím làm dơ y phục của tôi, tôi chỉ có cách chạy đến Ngô Uyên để rửa sạch. Tôi buổi sáng ra khỏi cửa, trưa lại trở về, vì sao anh nói tôi đi mất một năm?”.

 Sự thật, Ngô Uyên cách biển ít nhất một vạn dặm đường.

Thời Hán Vũ Đế, Đông Phương Sóc dâng thư tự cử Mao Toại, ông viết: “Thần là Sóc, từ nhỏ mất cha mẹ được anh và chị dâu nuôi dưỡng.

Năm mười hai tuổi đi học, ba năm hiểu rành văn sử vận dụng rành mạch. Mười lăm tuổi học kiếm, mười sáu tuổi học Thi thư, có thể thuộc hai mươi vạn chữ, năm mười chín tuổi học binh pháp Tôn Tử, tất cả chiến thuật đều thông suốt. Năm nay tôi hai mươi hai tuổi, người cao chín thước ba, môi đỏ như son, răng đều như bắp, dũng  mãnh lanh lẹ, thanh liêm và uy tín, nhân tài giống y như tôi, giới thiệu cho ngài Mao Toại không có vấn đề gì”.

 Ngữ khí của Đông Vương Sóc không có một chút gì khiêm tốn, và còn có thổi phồng mình nữa, nhưng bậc anh tài đại lược như Hán Vũ Đế dĩ nhiên có măt sáng nhận biết được anh hùng, xem biết người này không phải là một thiếu niên bình thường. Đồng thời lập tức phong ông làm quan, muốn ông ở Kim Mã Môn hầu Hán Vũ Đế, phong và thưởng ban ông rất ưu đãi.

Đông Phương Sóc dùng tiền vua ban thưởng cưới một thiếu phụ ở Trường An,  cứ y như vậy, mỗi lần được vua ban thưởng ông đều mang về tặng cho vợ con. Người ta đều cười ông là ngu ngốc, Đông Phương Sóc vội nói: “Ta tránh thế gian làm người trong triều đình”. Có lúc ông uống rượu say ngồi trên đất ca hát, lời ca đại ý là: “Người đời thường nhơ nhớp, do đó ta muốn ẩn cư trong Kim Mã Môn, cung điện có thể bảo tồn tính mạng, đâu cần đi vào trong rừng sâu mà trốn”.

Đông Phương Sóc trước khi chết đối với các bạn đồng liêu nói: “Thiên hạ chưa ai biết được lai lịch của ta, người biết ta chỉ có một người là Đại Ngũ Công!”.

Đông Phương Sóc chết rồi, sau đó Há Vũ Đế biết việc này , bèn triệu Đại Ngũ Công đến hỏi, Đại Ngũ Công  thề thốt không nhận, ông nói không biết Đông Phương Sóc là thần thánh cõi nào. Hán Vũ Đế hỏi các tinh tú trên trời phải không? Đại Ngũ Công nói đúng vậy, các tinh tú đều đầy đủ, chỉ có Tuế Tinh không biết 40 năm nay không biết đi đâu, không ngờ ngày gần đây lại xuất hiện. Vũ Đế ngước lên trời thở dài than rằng: “Đông Phương Sóc sống bên ta mười tám năm, mà không biêt ông ta là Tuế Tinh”.

Đông Phương Sóc bay lên trời, nhưng ông để lại cho người đời sau rất nhiều văn chương, văn bút của ông tung hoành thoải mái, du dương Thẩm  bổng, và phong phú u mặc, ông dùng thứ văn bút này ám chỉ Hán Vũ Đế phải theo thiện bỏ ấc, Do ở bộ óc khôi  hài của ông, không những được Vũ Đế tin yêu, mà còn được nhã hiệu là “Hoạt kê chi hùng” (người hùng có tài châm chọc người tài).



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Sáu 01, 2011, 03:25:55 am »

(tiếp theo)

HOÀNG AN

Hoàng An là người Đại Quận, ước chùng hơn một vạn tuổi. Ông lớn lên gương mặt hồng đẹp như da em bé, do ông thường ăn Châu Sa, toàn thân ông đều hồng. Ngày thường cũng không mặc y phục, ngồi trên lưng con rùa thần. Rùa thần dài ba thước, thời đó có người hỏi Hoàng An tuổi tác của rùa thần, ông đap: “Con rùa này ba ngàn năm mới ló đầu một lần, từ khi tôi gặp được nó đến nay đã ló đầu được năm lần rồi”. Người đời do đây mới biết Hoàng An đã có hơn một vạn tuổi.

Hán Vũ Đế ham mộ danh ông, từng mời ông luận đạo, đối với ông rất tôn kính. Lúc Vũ Đế muốn đi tế Kỵ Thái Sơn, mời Hoàng An cùng Đồng Cát, Lý Sung, Mạnh Chi, Quách Quỳnh cả thảy năm người cùng lên xe đi, người ta gọi là “Ngũ tiên thần”. Sau khi Vũ Đế băng hà, Hoàng An rời khỏi kinh thành mãi mãi không biết đi về đâu.

Người dân thường gọi vua là “Vạn Tuế”, thực tế ở trên đời có ông vua nào một vạn tuổi không?
   
   
QUÁCH QUỲNH

Quách Quỳnh là người Đông Phương Quận, tướng cao xấu xí vô cùng, nhưng tấm lòng thì vô cùng rộng rãi. Lúc nhàn rỗi ông thường chống gậy dạo chơi, mệt thì tá túc tại nhà người ta, nhờ chủ nhà cho củi đốt để lấy ánh sáng mà đọc sách. Sách vở đồ thư quí báu bí mật ở trong tủ  của chủ nhân, niêm phong rất cẩn mật, mà Quách Quỳnh có thể đoán nội dung trong đó rõ ràng như đồ ở trong nhà mình, nói rõ không sai, nhân đấy cả nhà đều thán phục. Nhưng cũng chính vì lẽ đó, người trong làng vừa nghe Quách Quỳnh xin ta túc, họ đều vội vàng đóng của lại, sợ ông biết chuyện riêng tư giấu kín trong nhà.

Quách Quỳnh không vì lẽ đó mà bỏ qua việc làm của mình, ngược lại mỗi lần ông đên nhà người ta, liền từ trong tay áo móc ra một bàn kính, để trên đầu gối, lấy tay tùy ý rút, thì có thể tính ra nhà nào có chuyện kín riêng tư. Quách Quỳnh hiểu rõ đến chân tơ kẽ tóc, lúc ngủ cũng không nhắm mắt, đến nơi nào có loạn, thì ông mặc áo bày ngực lưng ra giống như người khùng.

“Chân Nhân bất lộ tướng” nhưng ở đây ngược lại lộ chân tướng khác người. Quách Quỳnh thuộc loại người này.

   
   
QUYỀN PHU NHÂN

Quyền Phu Nhân là phi của Hán Vũ Đế.  Có một lần Hán Vũ Đế tuần thú qua sông trông thấy một làn khí màu xanh tía từ mặt đất vọt thẳng lên trời, một đại thần biết xem khí nói đó chắc chắn sẽ có một kỳ nữ, mà cô ta nhất định là điềm lành cho thiên tử. Vũ Đế lúc đó đi theo nơi có làn khí tìm kiếm, không bao lâu trông thấy một người con gái nằm trong quan tài trên không, rất là mỹ miều, hai tay đang nắm lại. Vũ Đế ra lệnh thuộc hạ mở nắm tay cô ta, kết quả thử mấy trăm lần vẫn không ra. Lúc đó Vũ Đế đích thân tời mở cửa, không ngờ vừa mới đụng đến tay người con gái đó hai nắm tay liền mở ra, mà đôi mắt cũng mở ra luôn. Vũ Đế liền đem cô ta về trong cung, cho nên gọi là Quyền Phu Nhân.

Quyền Phu Nhân không những dung mạo đoan trang diễm lệ, đẹp như thiên nga, mà còn thông hiểu đạo thuật.Sau này cô mang thai mười bốn tháng sinh ra Hán Chiêu Đế. Do ngày trước Đường, Nghêu cũng mười bốn tháng sỉnh ra, do đây Vũ Đế gọi cung môn của Quyền Phu Nhân là “Nghiêu ngẫu môn”.
   
   
TRÌNH VĨ THÊ

Thời đại nhà Hán, Hoàng môn Lan Trình vì thích luyện đan thuật, lấy vợ là Phương Thị. Do Trình Vĩ thường đi hầu Hoàng đế tả hữu y phục không đồng dạng, lúc đó vợ ông biến ra hai cây lụa.Trình Vĩ dựa theo trong sách “Chẩm trung Hần tân” do Phương Tử ghi mà luyện kim, không may luyện mãi cũng không thành, ngược lại vợ ông dùng tay rưới thuốc trong lò đan của Trình Vĩ trong khoảng khắc luyện ra vàng.

Trình Vĩ vừa thấy giật mình kinh ngạc hỏi: “Thì ra nàng cũng thông đạo thuật, sao không sớm chỉ bảo ta?”. Vợ ông trả lời rằng: “Học đạo ẳt cần có mệnh”. Trình Vĩ lúc ấy không kể ngày đêm dụ cô ta nói, và còn mua ruộng vườn nhà cửa, thức ăn ngon, quần áo đẹp cho cô, nhưng vợ ông cũng khăng khăng không chịu chỉ dạy. Trình Vĩ hết kế, chỉ còn cùng bạn bè bày kế, dùng đao trượng ép cô nói. 

Vợ ông sớm đã biết rõ tâm tư của ông, về nói: “Đạo nên truyền cho bậc chính nhân quân tử, nếu quả thật có số trời, thì kẻ ở ngoài đường cũng truyền cho, bằng ngược thì thà chết cũng không truyền”. Lúc đó bèn giả khùng rồi trốn đi, không biết đi về đâu.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Sáu 01, 2011, 03:29:39 am »

(tiếp theo)

TRANG QUÂN BÌNH

Triều Hán có một đạo sỹ từng cùng một ông lão ở chung nhà, được khoảng chuừng một năm, ông lão bảo ông ta: “Tôi là Trang Quân Bình”, và tặng ông một bộ sách. Sáng hôm sau lão bèn đi. Đạo sĩ mở thư ra xem, đều là đạo lý tu thân đạo đức, trong thư có một câu rằng: “Sự nghiệp và công danh không giá trị bằng một ly nước”.
   
KẾ TỬ HUẤN

Kế Tử Huấn là một người đắc đạo rất cao. Ông đi chơi trong kinh thành, công danh, vương hầu đều nhiệt liệt chào đón ông, và vì ông bày tiệc, ban ngày cho đển ban đêm chiêu đãi ông thật long trọng.
Ông rời bỏ kinh thành sau đó mất luôn tung tích. Mọi người chỉ thấy lúc ông đi, mười mấy nơi đều thấy từng đóa mây trắng bay lên. Không bao lâu, có người ở trên đường phố kinh thành Trường An thấy ông đang cùng một ông già, hai người nắm tay nhau đang sờ mặt người đồng vừa sờ vừa ngước lên trời nói: “Mới vừa trông thấy Vũ Đế đúc người đồng, làm gì mới có một phút mà đã mất 500 năm rồi”.
Có người nhận ra dung mạo của ông, bèn đến trước bắt tay với ông nói: “Kế tiên sinh! Xin đợi một chút chúng tôi cùng đi chung đường”. Kế Tử Huấn gật đầu đồng ý và đi chầm chậm lại từng bước, mặc dù tuy chậm như thế, nhưng tốc độ của ông ngay cả ngựa chạy cũng không kịp,
   
   
ÂM TRƯỜNG SINH

Âm Trường Sinh là người Tân Dã, làng Tằng Tổ Phụ của Hán Hoàng Đế. Ông không ham thích vinh hoa chỉ chuyên tâm tu đạo, ngưỡng mộ cao danh của Mã Minh Sinh, bèn đi khắp các danh sơn để tìm thầy học đạo, cuối cùng ở núi Nam Dương Thái Hòa gặp được Mã Minh Sinh, liền bái ông ta làm thầy.

Nhưng Mã Minh Sinh không dạy ông bất cứ đạo thuật nào, chỉ cùng ông mỗi ngày bàn chuyện thời sự, tất cả hơn mười năm, mà Âm Trường Sinh không một chút mỏi mệt. Đồng thời với ông có hơn mười hai người bái kiến Mã Minh Sinh làm thầy đều oán trách mà bỏ đi hết, chỉ còn lại Âm Trường Sinh đối với ông càng thêm kính trọng. Như vậy hơn mười hai năm.

Mã Minh Sinh mới tin ông là thật sự cầu đạo, bèn dẫn ông vào Thanh Thành Sơn, nấu Hoàng Thổ thành vàng, và dạy ông các thứ đạo thuật.

Sau đó, Âm Trường Sinh ở trong thạch thất Vũ Đương Sơn ăn uống một nửa là thần đan, nhưng cũng không thể bay lên trời. Lúc đó ông lại luyện mấy vạn cân vàng ròng để cứu giúp thiên hạ nghèo khổ, bố thí xong rồi lại uống một nửa tiên đan, quả nhiên thành nguyện vọng, giữa ban ngày ông bay lên trời.
   
LOAN BA

Loan Ba là người Thành Đô, sau khi đắc đạo được phong làm Thượng Thư. Có một năm nọ, sáng sớm ngày 13 tháng giêng, lúc thượng triều Hoàng Đế ban rượu cho ông, ông lặng lẽ không uống lại ngậm rượu trong miệng, quay  qua hướng Tây Nam phun ra, Nhân đây ông bị đàn hặc thành tội bất kính. Loan Ba phun rượu xong thảnh nhiên nói: “Nhà tiểu thần trong Thành Đô đang bị hỏa tai, do đó tôi mới dùng rượu phun tưới để cứu hỏa”.

Qua mấy ngày trong Thành Đô quả nhiên tâu lên nói đang lúc một trận lửa cháy dữ dội, may thay có một trận mưa từ phương đông rơi xuống mới dập tắt được lửa, thật kỹ quáí, trận mưa đó nồng nặc mùi rượu.
   
   
MAO BÁ ĐẠO VÀ LƯU ĐẠO CUNG

Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung, Tạ Nhã Khiên và Trương Triệu Kỳ đều là người của thời Đông Hán, họ cùng vào Vương Ốc Sơn học đạo hơn bốn mươi năm, hợp tác luyện thành thần đơn.

Mao Bá Đạo uống trước,  không ngờ vừa uống vào chết liền, Lưu Đạo Cung cũng ăn lại chết luôn. Ba người còn lại thấy hiện tượng như thế nên không dám uống, lúc đó bèn bỏ đan dược chuẩn bị về nhà. Không ngờ vừa ra khỏi Vương Ốc Sơn thì xa xa trông thấy Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung cưỡi con nai trắng  ở trên núi rong chơi, phía sau lưng còn có tiên nhân cầm trướng theo hầu bên cạnh.

Nhã Kiên và Triệu Kỳ không ngớt hối tiếc, may thay Lưu Đạo cung dạy họ uống phục linh, hai người lòng tin không vững mới miễn cưỡng nghe theo cũng tu thành tiên. Tu đạo vốn không là việc bình thường, cần nhất thiết phải có cái tâm phi thường. Người tham sống sợ chết ngay cả nghiệp lớn ở đời còn chưa thành tựu , huống là Đại đạo xuất thế gian? Học đạo phải chịu thử thách là các điều Tôn giáo đều có, mà thử thách lớn nhất là chấp sinh mệnh, nhà Phật gọi là “Sinh Tử quan” (ải sinh tử) có vị cao tăng là Hoa Sinh ngồi xoay mặt vào vách, thì gọi là “Tọa Sanh tử quan”.

      
TRIỆU BÍNH

Triệu Bính là người Đông Dương, thời Hậu Hán, thích đi các nơi rong chơi, mỗi lần gặp bạn thân thì rót nước làm rượu để uống và còn tùy tiện cắt một vật gì biến thành thịt, cứ như thế khiến cho mọi người rượu mồi no đủ,chủ khách tàn tiệc vui.

Có một lần ông ở trên bờ không đợi được thuyền, liền quăng chiếc chiếu xuống nước, dẫm lên trên chiếu mà vượt qua con sông lớn.

Trong sử gọi Đạt Ma Tổ Sư là “Nhất Vĩ Độ Giang”. Triệu Bính giống như vậy, nhưng so ra ông học được pháp thuật này sớm hơn.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Sáu 01, 2011, 03:32:22 am »

(tiếp theo)

TRANG BÁ VI


Trang Bá Vi lúc còn trẻ rất ham thích đạo thuật, nhưng ông không biết nên tu như thế nào, lúc đó mỗi ngày khi mặt trời vừa lặn, ông hướng về hướng Tây tĩnh tọa, chuyên tâm định ý tưởng tượng hình núi Côn Lôn.

Núi Côn Lôn là thánh sơn của Trung Quốc, trên núi đều là thần tiên và thánh hiền ở, có các cầm thú quí hiếm,và hoa thơm cỏ lạ, dưới chân núi có một dòng nhược thủy, chất nước rất yếu ngay cả lông chim cũng không trôi được, người phàm càng đừng nên qua,  trừ khi là thành tiên thành thánh. Ở trên đỉnh núi Côn Lôn có một cấy kêu là bất tử, nó cao chọc trời che cả đất, phủ khắp muôn dân, mà Vương Mẫu Nương Nương ở trong vườn hoa trên đỉnh núi ấy,  giữ tòa Kim hỏa lập lòe, để thần tiên trường tồn mãi mãi.
 
Trang Bá Vi định tưởng như thế ba năm, Cuối cùng một hôm trông thấy núi Côn Lôn. Tiên nhân ở trên núi chỉ điểm xuống, ông cũng được thành đạo và lên núi Côn Lôn.

Tịnh độ tông của Phật giáo có một pháp môn quán tưởng Phật và cõi Tây phương cực lạc quán tưởng thành thục rồi sau đó có thể vãng sanh tịnh độ được thấy Phật Di Dà (muốn hiểu rõ điều này hãy xem kinh “Quán Vô Lượng Thọ”).

Trang Bá Vi hầu như cũng tu theo pháp môn náy, về phuơng diện Phật đạo có thể có chỗ tương thông cũng chưa biết được.
   
GIANG PHI NHỊ NỮ

Giang Phi Nhị Nữ không biết người thời đại nào. Thời đó có một người thanh niên tên là Trịnh Giao Phụ đi đến bến Hán Thủy dạo chơi, bỗng trông thấy hai thiếu nữ tyệt đẹp trên áo còn đính hai viên minh châu ánh sáng rực rỡ chói mắt.Trịnh Giao Phụ rất đông tâm, không cầm được sự ngăn cách dòng sông dài dằng dặc, bèn ngâm lên bài thơ tỏ ý ái mộ. Ông vừa ngâm xong, không ngờ hai người con gái cũng ngâm tặng lại một bài thơ, tiếng ngâm du dương Thẩm  bổng trong cảnh mấy nước bồng bềnh dường như đang ở trong cảnh thần tiên.

Trịnh  Giang Phụ ở bên dòng nước không muốn đi, nhưng trời dần dần tối, ông chỉ còn cách tạm rời hai thiếu nữ này. Trước khi lên đường hai thiếu nữ gỡ viên minh châu trên áo tặng cho ông làm kỷ niệm. Trịnh Giao Phụ cầm viên minh châu đi được vài bước quay đầu lại xem thì hai thiếu nữ đâu mất. Cúi đầu nhìn hạt minh châu trong lòng bàn tay cũng không thấy nữa, ông mới sực tình mình đã gặp tiên nữ trên sông.

Người và thần tiên mến yêu nhau, đã tự thành một loại hình trong văn học nghệ thuật Trưng Quốc, như Tào Thực và Mặc Phi, cũng là một trong những chuyện ái tình lạc thần. Còn chuyện Trinh Giao Phụ cho đến chuyện Sở Vương và U Sơn Thần Nữ cũng lưu truyền ngàn đời như nhau, trở thành điển cố người đời thường gọi, không ngừng xuất hiện trong thi, văn, đề, vịnh. Thí dụ như thơ Đường: “Khúc chung nhân bất kiến, giang thượng số phong thanh” là một câu nổi tiếng.Ngoài ra trong Cửu ca của Sở Từ cũng có rất nhiều tình tiết luyến ái giữa người và thủy tiên.
   
   
LƯU CĂN

Lưu Căn người ở Trường An, thời Hán Thành Đế đi lên núi cao học đạo, bỗng được một vị thần truyền cho bí quyếp, lúc đó ông đã tu thành tiên. Bình thường, ông hay dùng đạo thuật cứu người, mà Thái Thú Sử Kỳ Dĩnh Xuyên lại cho ông làm yêu thuật, muốn giết ông. Ông ta đem Lưu Căn giải về phủ, nói với ông rằng: “Nếu như người triệu tập quỷ đến đây thì ta mới thả ra, nếu không, ngươi sẽ mang tội chết”.Lưu Căn ung dung đáp: “Việc này rất đơn giản, chỉ cần cho tôi mượn cây bút  vẽ một lá bùa thì xong”. Chưa được bao lâu thì có thân binh giải hai con quỷ tới.Thái Thú xem kỹ càng mới phát hiện chính là cha mẹ mình, đã chết từ lâu, bất giác thất kinh biến sắc, quỳ xuống than khóc thảm thiết. Quỷ trách móc Thái Thú đã làm gì đắc tội với thần tiên mà phải liên lụy đến cha mẹ. Thái Thú vội vàng cúi đầu nhận tội, Lưu Căn mới thả hai con quỷ ra, còn mọi người bỗng nhiên cũng không thấy Lưu Căn đâu cả.
   
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Sáu 01, 2011, 03:37:33 am »

(tiếp theo)

MAI PHÚC


Mai Phúc tự là Tử Chân, từng làm Nam Xương Úy thời Đông Hán.Ông thấy Vương Bôn chuyên chính, không chịu nổi than rằng: “Sinh mạng hình phạt ta, hình thể khiến ta chịu nhục, tri thức là họa hoạn của ta, thể xác là công cụ hành hình của ta”.

Lúc đó, bỏ nhà đi cầu tiên, đi khắp  các núi Mạc Đăng Sơn và Mẫn Nan Sơn.Sau đó, ông đến Tiên Hà Sơn gặp được Không Động Tiên Quân, học rành nội ngoại đan pháp. Ông lại đến Kê Long Sơn, kết quả tu luyện không thành, lại dời vào Kiếm Cang Tây Lĩnh, lại gặp Không Động Tiên Quân trong mấy trắng đáp xuống nói với ông rằng: “Mai Phúc, duyên phần của ngươi ở Phi Hồng Sơn”.

Mai Phúc lập tức đi đến Phi Hồng Sơn,dựng nhà tranh chuyên tâm tu luyện,quả nhiên thành công. Lúc đó, ông thu xếp hành trang về nhà mừng xuân. Có một hôm mây tía xuất hiện trên bầu trời, trong mấy trắng có Kim Đồng, Ngọc Nữ cưỡi loan bay xuống. Mai Phúc từ biệt thân quyến,cưỡi thanh loan bay lên trời.
   
   
NGỤY BÁ DƯƠNG

Ngụy Bá Dương người nước Ngô, tính tình thích đạo, không chịu làm quan.Ông vào núi luyện đan có dẫn ba người đệ tử theo hầu. Ông có hai đứa đệ tử lòng tin không vững, lúc đó đan đã luyện thành, hôm ấy đem thử họ nói: “Kim đan tuy thành, nên cho chó nếm trước, chó uống không chết sau đó mới yên tâm dùng”.Nói xong, cho chó uống một viên, chó tức khắc chết liền.

Ngụy Bá Dương trông thấy không cầm được than rằng: “Đây cũng là ý trời”. Đệ tử của ông nói: “Sư phụ! Ngài uống hay không uống?”. Ngụy Bá Dương trả lời: “Ta bỏ nhà cửa quê hương mà tu thất bại, còn mặt mũi nào mà trở về? Sự sống chết vốn không giống nhau, ta quyết định thử xem sao!”.

Nói xong nuốt đan vào mà chết. Trong lúc đó một đệ tử nghĩ thầy vốn bậc phi phàm, dùng đan mà chết chắc có thâm ý gì, cũng uống đan mà chết. Còn hai người đệ tử kia trông thấy như thế bình luận: “Luyện đan là mong cầu trường sinh, mà nay uống tiên đan phản ứng rồi chết, chi bằng không uống, trở về nhà cũng có thể sống thêm mấy mươi năm!”.Lúc đó, quyết định không uống, cùng xuống núi mua quan tài cho Ngụy Bá Dương và vị đệ tử kia.

Không ngờ hai người này vừa xoay lưng đi, Ngụy Bá Dương từ đất đứng dậy.Ông cầm một viên diệu đan vừa luyện xong nhét vào miệng đệ tử và cũng nhét vào một viên đan vào miệng con chó chết, chốc lát cả người và chó đều sống lại. Ngụy Bá Dương liền dẫn người đệ tử họ Ngu và con chó trắng cùng đi du tiên. Sau đó, họ gặp một ông tiều phu đốn củi, Ngụy Bá Dương viết thư nhờ ông chuyển cho hai người đệ tử, họ nhận được thư hối tiếc vô cùng, hối hận vì ban đầu không chịu làm theo.

Ngụy Bá Dương đã viết quyển “Tham Đồng Khế” là đạo lý của Kinh Dịch để ám chỉ phương pháp luyện đan, là một quyển Kinh trọng yếu của Đạo Giáo, Nam Tống Châu chú giải quyển sách này.
   
   
VƯƠNG LÃO

Vương Lão chỉ ham thích người hàng xóm tu đạo. Có một hôm, một đạo sỹ đến hỏi thăm ông, còn ở lại nhà ông hơn một tháng. Bỗng nhiên Đạo Sỹ phát sinh ra ghẻ độc đầy mình, ông nói với Vương Lão, ông cần mấy ang rượu để tẩm ngâm thì ghẻ mới lành. Vương Lão theo lời ông mua về mấy ang rượu đầy, đạo sỹ ngồi trong ang rượu, trải qua ba ngày ba đêm mới bò ra, chỉ trông thấy ông râu tóc biến thành đen, dung mạo biến già thành trẻ. Đạo Sỹ nói vời Vương Lão: “Nếu ngài có thể uống hết ang rượu này thì có thể thành tiên”.

Vương Lão không chút do dự, ông ra lệnh mọi người trong nhà đem ang rượu Đạo Sỹ rửa ghẻ ra uống hết, chốc lát đều say té. Họ vừa uống vừa say, bỗng nhiên trên trời nổi lên mây gió, cả nhà đều bay bổng lên trời.
Nhà Phật nói: “Phá chấp trước”, không nên dùng mắt trâu dê mà nhìn người, cũng không nên dùng mắt chó mà xem thấp người ta. Lão Đạo Sỹ giống Tế Công, ông vừa có ý thử thách, vừa muốn phá trừ tâm thế lợi của Vương Lão, chúng ta không thể người người khám phá được hồng trần, nhưng ngược lại nên ra sức bài trừ tính thế lực, lợi dưỡng. Tự do bình đẳng không chỉ là chính trị, lý luận, mà nó càng là sự tu dưỡng của Đạo đức.
   
   
LƯU THẦN

Lưu Thần là người huyện Diệm, cuối đời nhà Hán cùng Nguyễn Triệu đi vào núi Thiên Thai, hái thuốc, lạc đường về, kẹt lại trong núi 30 ngày. Họ vừa đói vừa khát, bỗng nhiên gặp trên núi có cây đào, trái quằn nhánh, hai người bèn hái mà ăn, không bao lâu phục hồi lại sức khỏe. Lúc đó vội vàng xuống núi,ở bên khe suối uống nước, đang uống bỗng nhiên nổi lên trên mặt nước một cái ly, trong ly còn có cơm gạo Hồ. Hai người rất mừng, thầm nghĩ gần đây chắc chắn có người dân ở, liền nhanh chóng leo qua núi, qua một con sông, bờ sông có hai người con gái rất đẹp, trông thấy họ cầm cái ly, liền cười nói: “Lưu, Nguyễn tiên sinh, mời hai vị mang ly đến đây”.

Lưu Thần và Nguyễn Triệu nghe đến rất kinh ngạc,  họ ngớ ngẩn nhìn nhau, không nói được. Hai thiếu nữ vui vẻ dường như bạn thân của họ: “Các vị vì sao đến muộn thế?”, rồi mời họ về nhà.

Nhà của nữ lang rât hào hoa, bốn bức tường đều treo trướng lưới, góc trước buộc cái linh vàng, trân châu, bảo ngọc để cho cái trướng không phất lên. Họ còn dùng rất nhiều tỳ nữ, mỗi người làm món ăn khác nhau, bên trong đầy các thứ cơm gạo Hồ, thịt sơn dương khô, thịt bò, v.v… mùi vị rất thơm ngon. Vừa ăn xong lại bưng đào lại, và còn đồng thanh hướng về Nhị Nữ Lang chúc mừng họ được chàng rể đẹp. Sau đó, lại uống rượu vui vầy, mãi cho đến khuya. Các Tỳ nữ đưa Lưu, Nguyễn lên giường, hai người thiếu nữ cũng e thẹn đi vào.

Thử rươu nồng, gái đẹp, ca hát mê say hơn mười mấy ngày, Nguyễn Lưu hai người muốn trở về nhà, lại bị thiếu nữ cầm ở lại nửa năm. Khí hậu ở đây cỏ cây luôn là mùa xuân, chim kêu khiến họ càng nhớ nhà. Thiếu nữ mời họ ở lại không được, chỉ còn tiễn họ đi, trước khi đi thiếu nữ than rằng: “Các vị là người trần tội nghiệp, sau này sẽ hối tiếc”. Lúc đó, chỉ đường đi thả họ về nhà.

Nguyễn Triệu và Lưu Thần về đến quê hương mới phát hiện nhà cửa đường sá đều thay đổi, thân bằng quyến thuộc xưa không còn người nào.Hỏi ra mới biết trong khoảng thời gian đó, nhân gian đã trải qua bảy đời,họ vừa kinh ngạc vừa cảm khái, không biết làm thế nào, chỉ còn cách lên núi lại, nhưng họ cũng không tìm được chỗ ở của thiếu nữ ấy.

Văn nhân đời sau vì kỷ niệm chuyện du sơn lãng mạn, đặc biệt chế ra Từ Bia, đề mục là: “Nguyễn Lang qui”. còn điển cổ của Lưu Nguyễn cũng ở lại trong thi từ lưu luyến mãi đến ngày nay. Trong bài thi “Vô đề” của Lý Trương Ẩn nói: “Lưu lang dĩ hận Phùng Sơn viễn, cách cách Phùng Sơn nhất vạn trùng”. Có thể dùng điển cổ này, sự thật một điển cổ đẹp đẽ là do nhiều thi nhân từ khách yêu thích.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2011, 03:42:29 am »

(tiếp theo)

VƯƠNG KIỀU

Vương Kiều người Hà Đông, thời Hán Minh Đế làm Lang Thượng Thư, về sau làm Huyện lệnh ngoài. Triều Hán quy định pháp lệnh quan viên Kinh Cơ nội, mỗi tháng mồng một về kinh triều kiến Hoàng Đế. Vương Kiều tuy ở huyện xa, lại mỗi tháng về kinh đúng giờ, hoàng đế cảm thấy rất ký lạ, bởi vì không thấy Vương Kiều ngồi xe. Lúc đó ra lệnh Thái Tử âm thầm theo dõi. Kết quả phát hiện ra ông mỗi lần đến bằng hai con chim nước từ phương Đông Nam bay tới. Hoàng đế hạ lệnh dùng lưới bắt, không ngờ cuối cùng lọt vào lưới là một đôi giày quan đã ban cho Thượng Thư.

Vương Kiều mỗi lần lên kinh đô triều kiến hoàng đế, trống ngoài cửa huyện tự động phát ra tiếng, tiếng trống tùng tùng mãi cho đến kinh thành. Có một hôm chiếc quan tài bằng bạch ngọc từ trên trời rơi xuống trước nhà ông, mọi người hiệp lực đẩy không nổi. Vương Kiều nói đây là trời triệu ta về, lúc đó tắm rửa rồi nằm trong quan tài tự động khép lại. Ông qua đời buổi tối hôm đó, trâu bò trong huyện đều chảy mồ hôi thở vội, không ai biết nguyên nhân gì. Dân chúng lập một cái miếu thờ ông, gọi là “Diệp Quân Tự” hễ cầu tất ứng, rất là linh nghiệm.
   
   
TRƯƠNG ĐẠO LĂNG

Trương Đạo Lăng tự là Phụ Hán, là cháu tám đời của Trương Lương. Ông cao chín thước ba tấc, mặt to mày rậm, trán hồng, mắt xanh, mũi cao, tròng mắt có ba cạnh. Tay thòng quá gối, râu đầy hàm, ông đi như rồng bay cọp bước, mười phần uy vũ. Hán Quang Đế năm Tiến vũ thứ mười ông sinh ra ở Thiên Mục Sơn, mẹ ông mộng thấy người to lớn tự xưng là Đẩu tinh xuống, mình mặc cẩm tú và đưa cho bà cành hoa lạ. Mẹ ông tiếp lấy liền tỉnh dậy, cảm thấy mùi hương lạ khắp nhà cả tháng chưa tan, do đó cảm ứng mà mang thai Trương Đạo Lăng đản sinh ngày ấy, có mây vàng bao phủ trên nhà, sương màu tía khắp trong sân. Trong phòng sáng sửa như có mặt trời mặt trăng chiếu soi. Và còn ngửi được mùi hương lạ như trong giấc mộng rất lâu không tan.

Trương Đạo Lăng từ lúc nhỏ thông minh hơn người, bảy tuổi học rành Lão Tử Đạo Đức Kinh, thiên văn, địa lý, Hà Đồ Lạc Thư, không chi là chẳng thông suốt. Sau đó được tuyển làm quan hiền lương phương chánh, tuy làm quan nhưng ý chí thích tu đạo, không bao lâu bèn ẩn cư ở Bắc Mạnh Sơn, có một con Bạch Hổ ngậm thần phù đến bên cạnh giường ông, Hán Hoa Đế từng ban cho ông làm Thái Truyện, và phong cho ông Ký Huyện Hầu, ba lần hạ lệnh triệu về, ông đều khéo từ chối. Sau này ông đến Tứ Xuyên, thích lên non xanh nước biếc của Tứ Xuyên, lúc đó ông ẩn cư trên Hạc Minh Sơn. Trên núi có một con hạc bằng đá, mỗi lần kêu là biểu thị có người đắc đạo tới. Trương Đạo Lăng ở đây khổ tu luyện, không bao lâu nghe tiếng hạc thần kêu.

Trương Đạo Lăng và đệ  tử Vương Trường cùng nhau tu luyện Long Hổ đại đan một năm có ánh sáng hồng chiếu trong nhà, hai năm có thanh long bạch hổ đến giữ vạc nấu đan, ba năm đan mới thành, ông cũng thành bậc chân nhân. Không bao lâu ông gặp được thần tiên chỉ điểm, tu hành đạo thuật rất cao. Ông có thể bay được lên trời, có thể  nghe được âm thanh rất xa, lại có thể tàng hình, ví như ông có thể vừa dưới hồ chèo thuyền, đồng thời vừa trên nhà ngâm thơ, thiên biến vạn hóa thần ký khôn lường.

Khoảng năm Thuận Đế, mỗi đêm Thái Thượng Lão Quân giáng lâm nơi ông ở, truyền cho ông kiếm thư hùng và rất nhiều bùa triện, muốn ông tru diệt lục đại thần quỷ (sáu con quỷ lớn) hoành hành ở Tứ Xuyên. Trương Đạo Lăng  ròng tu một ngàn ngày, luyện thành các thứ pháp thuật hàng ma quái. Không bao lâu bát bộ quỷ soái, thống lĩnh binh quỷ khoảng vạn ức làm hại nhân gian, chúng nó mang các bệnh dịch tàn hại chúng sanh. Lúc đó, Trương Đạo Lăng ở Thanh Thành Sơn bảo thiệt lập đạo tràng, rung chuông đánh khánh kêu gọi mưa gió chỉ huy thần binh đại chiến với ác quỷ. Trương Đạo Lăng đứng trên tòa lưu ly, bất cứ cung tên nào vừa đến gần ông đều biến thành hoa sen. Các quỷ lại phóng lửa đốt, chân nhân dùng tay chỉ lửa xoay đốt trở lại. Quỷ soái vừa giận vừa triệu tập lại thiên quân vạn mã bao vây trùng trùng, không ngờ chân nhân dùng bút đỏ vẽ một nét, các binh quỷ và tám con quỷ vương đều lần lượt cúi đầu xin tha mạng. Nhưng chúng nó dâng rượu phục mà tâm không phục, trở về mời lại sáu con quỷ vương lớn, soái lĩnh binh quỷ trăm vạn vây đánh Thanh Thành Sơn. Trương Đạo Lăng ngưng thần định khí, không đả động gì, ông chỉ dùng bút đỏ vẽ nhè nhẹ, sáu con quỷ có mặt đều chết sạch, chỉ còn sáu con quỷ vương ngã lăn ra đất, bò dậy không nổi, dập đầu xin tha mạng. Trương Đạo Lăng lại dùng bút lớn chỉ một cái, ngọn núi phân làm hai đè nhốt sáu con quỷ vương trong đó, nhúc nhích mãi không được, lúc đó quỷ vương mãi mãi không trở lại làm hại người đời.

Do Trương Đạo Lăng trừ được ma quỷ cứu sống muôn người, dân chúng đều theo ông bái làm sư phụ, một lúc có đến mấy vạn người. Trương Đạo Lăng dùng họ tổ chức lại và còn đính định luật lịnh phân phối chức vụ, dạy đạo lý cho họ, khuyên họ gắng làm lành, dần dần thành lập một đoàn thể đạo giáo, mà Trương Đạo Lăng cũng trở thành tổ sư của Đạo giáo.

Đông Hán Hoàng Đế niên hiệu Vĩnh Thọ nguyên niên ngày chín tháng chín, ở Tú Xuyên trong núi Xích Thành Cử Đình, thượng đế phái sứ giả cầm ngọc sách, phong Trương Đạo Lăng làm chánh nhất chân nhân, ông bay lên trước thuyền của Trương Tử Hoành hai cấy kiếm phá tà, để anh đuổi tà trừ yêu, hộ quốc an dân, đời đời còn một đứa con nối dõi địa vị Giáo chủ của ông.Dặn dò xong, Trương Đạo Lăng bèn cùng đệ tủ Vương Trường, Triệu Thăng cả ba người cùng bay lên trời mà đi, còn Đạo giáo của ông sáng lập lưu truyền ở dân gian còn mãi đến ngày nay, do ông quy định vào Đạo giáo phải giao cho năm đấu gạo, nhân đây cũng gọi là “Ngũ đấu mễ giáo”.
   
   
VƯƠNG VIỄN


Vương Viễn tự là Phương Bình, người Đông Hải. Ông ở thời Đông Hán nhậm chức Trung Tân đại phu, học rộng biết nhiều, thiên văn địa lý đều thông suốt, và còn có thể đoán biết xấu tốt. Hoàng Đế nhiều lần mời ông làm quan nhưng ông không chịu đi, cuối cùng phái người ép bức ông phải tới kinh thành. Nhưng Vương Viễn cuối cùng cúi đầu nhắm mắt, không chịu đáp lời.Chỉ đề trên cửa cung hơn bốn trăm chữ, đều có liên quan đến việc sắp phát sinh ra. Hoàng Đề rất ghét mấy lời tiên đoán không rõ ràng đó, bảo người xóa bỏ đi, nhưng bên ngoài vừa xóa đi, chữ bên trong lại nổi lại, dấu mực thẩm thấu vào trong gỗ.

Vương Viễn ở nhờ nhà Thái Úy Trần Đam, trong nhà hơn 40 người, do đó trong nhà Trần Đam không có chút bệnh tật nào. Có một hôm Vương Viễn nói với Trần Đam: “Đại hạn tôi sắp đến, không thể ở lại được, trưa mai tôi muốn đi”. Đến giờ đó, Vương Viễn quả nhiên chết, Thẩm  Đam biết ông có đạo thuật nên không đám liệm liền, chỉ đốt nhang khóc mà thôi. Khoảng ba ngày hai đêm, Vương Viễn không thấy mà ý phục của ông rõ ràng chưa cởi ra, giống như con rắn lột vỏ vậy.

Vương Viễn đi rồi, hơn 100 ngày sau, Trần Đam cũng qua đời. Nghe nói Trần Đam cũng được đạo thuật của Vương Viễn, thành tiên theo ông luôn.

Năm cuối cùng Đông Hán, triều chính suy yếu, loạn lạc, nho sinh có tâm tính toan dấy thanh nghị phê bình thời chính, kết quả hy sinh nặng nề. Đạo sỹ đối với chính trị tích cực tham dự không giống như nho sinh, nhưng họ khí cốt kiên cường, giống như Vương Viễn không màng sinh tử dự đoán đều khiến người cảm thấy kính phục.Cách “tiểu ngôn”của họ càng thần ký thú vị.

Trong Kinh dịch nói ẩn sỹ “cao thượng kỳ vị, bất sự vương hầu”. Vương Viễn đối với Hoàng đế không cần lý lẽ thêm là người rất dũng khí, cũng chính vì ông thấy đoán tương lai, do đó mới không tích cực tham gia chính trị. Thái Sử Công nói: “Lão Từ thâm viễn” đại khái là ý nghĩa như vậy.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, anhlam, dieunha, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2011, 03:46:22 am »

(tiếp theo)

TẾ THÁI

Tế Thái là người Cô Tô, thời Đông Hán hoàng đế, tiên nhân Vương Phương Bình giáng lâm ở nhà ông, nói với ông rằng: “Người sau này sẽ thành tiên, do đó ta đến đây chỉ dạy người, nhưng người khí ít thịt nhiều, không thể bay lên trời được, phải học thuật thi giải”. Lúc đó, Vương Phương Bình lấy nguyên tắc bảo ông, sau đó bồng bềnh bay đi.
Không bao lâu về sau, Tế Thái quả nhiên khắp mình phát nhiệt, trong ba ngày cơ thể ốm bớt, xương cứng lại.Ông chạy vào nhà lấy mền trùm kín người, trong chốc lạt bỗng mất tiêu không thấy nữa, trong cái mền chỉ còn một lớp da người, giống như con rắn lột vỏ không khác.

Mười mấy năm sau ông mới trở về nhà, trông dáng người già biến thành trẻ, ông bảo mọi người nói: “Mồng bảy tháng bay Vương Phương Binh sẽ trở lại, nên thiết đãi ông thật nhiều rượu”.

Đến ngày ấy,Vương Phương Bình quả nhiên tới thật, cả nhà ai cũng đều nghe thấy tiếng trống, xênh, tiêu. Chỉ thấy Vương Phương Bình đội mão ở xa xa, mây ngũ sắc gác bảo kiếm, mặt hiện lên màu vàng, để chòm râu nhỏ, cưỡi xe năm rồng, tiền hô hậu ủng, cờ xí tung bay uy phong như một đại tướng quân. Vương Phương Bình vừa vào cửa, người hầu đều không thấy.Mọi người trong nhà đối ông hành lễ. Vương Phương Bình phái người đi mời Ma Cô tới, thì ra Ma Cô là em gái của Vương Phương Bình. Chốc lát, Ma Cô cũng tới luôn.

Tế Thái và mọi người trong nhà đều trông thấy một tiên nữ đẹp đẽ. Cô ta ước chừng 18 tuổi, trên đầu búi một chùm tóc, tóc còn dư xõa xuống tới lưng. Cô ta mặc áo cẩm tú màu sắc rực rỡ, đều là vật không thấy ở thế gian. Mọi người đã an tọa, sau đó Ma Cô nói muốn trông thấy mẹ và vợ của Tế Thái, lúc ấy vợ Tế Thái vừa sinh được mấy ngày. Ma Cô vừa thây thì biết liền, bảo cô ta không cần phải ra.

Sau đó Ma Cô lấy một hạt gạo quẳng xuống đất liền biến thành đan sa. Vương Phương Bình cười cô ta nói: “Này Ma Cô em! Em còn thích đùa giỡn như lúc còn trẻ à!” Ma Cô đáp: “Từ khi chia tay tới nay, Đông Hải đã ba lần biến thành ruộng dâu, em vừa trông thấy biển Phùng Lai lại cạn lắm!” Vương Phương Bình cười nói: “Thánh nhân cũng nói, trong biển không bao lâu khói bụi lại nổi lên”.

Ngón tay của Ma Cô nhỏ dài như móng chim, Tế Thái thầm nghĩ trong lòng, nếu như sau lưng nổi mụn nhờ móng tay của Ma Cô gãi chắc sướng lắm. Vừa khởi niệm Vương Phương Bình biết ngay liền dùng roi đánh Tế Thái, và còn cấm ông, nói: “Ma Cô là thần tiên, người là gì có thể vọng tưởng móng tay của cô ấy gãi mụn ư?”

Sau đó, cha mẹ của Tế Thái hỏi ông về Vương Phương Bình, Tế Thái đáp: “ông ta bình thường ở tại Côn Lôn, La Phù, ở vòng quanh ba ngọn núi đó.Ba núi này đều là cung điện Vương Phương Bình thường quản lý công việc trên trời, trong một ngày tới lui với thiên tiên mấy mươi lần. Ông cưỡi kỳ lân đi, nơi nào ông đi qua, chư thần núi, biển đều ra nghênh tiếp”.

Tế Thái sau này cũng thành tiên bay lên trời, ông bỗng về nhà để lại nhiều thư pháp, nét bút thần kỳ, có thể nói các nhà đại thư pháp Vương Hi Chi, Nhan Chân Khanh đều đã thấy qua.
   
   
TỬ ANH

Tử Anh là người thôn dã, ông xuống nước bắt cá rất giỏi. Có một lần ông bắt được con cá chép màu hồng. Tử Anh thấy con cá màu sắc đẹp đẽ dễ thương nên đem nó thả nuôi trong ao. Được một năm, lớn dài đến một trượng, và còn mọc cánh bên mang. Tử Anh rất kinh ngạc, không ngờ con cá quái dị mở miệng nói với ông: “Tôi tới đón ngài, hôm nay tôi cùng ngài về trời”.

 Nói xong, lập tức mưa xuống một trận dữ dội. Tử Anh cưỡi trên lưng con cá bay lên.
Một năm sau Tử Anh lại trở về, ông cùng vợ con ăn cơm như cũ, mấy ngày sau cá trở lại đón ông, cứ như thế liên tục 70 năm.

Do đó mà ở địa phương làm miếu thờ để nhớ một vị tiên nhân bay lên trời.
   
   
ĐỔNG PHỤNG

Đổng Phụng tự là Quân Di, làm quan ở Tứ Xuyên dưới sự cai quản của Lưu Bị. Ông không những thông đạo thuật mà còn thông y thuật. Ông trị bệnh không lấy tiền, những người bệnh nặng được khỏe, ông yêu cầu họ đưa năm cây hạnh giống, bệnh nhẹ thì một quả. Như vậy, sau mấy năm trị bệnh, trong nhà ông có hơn 7 vạn cây hạnh giống, tốt tươi um tùm như một đám ruộng, rất nhiều dã thú chạy vào đó vui chơi. Điều rất kỳ lạ là dưới gốc cây không hề mọc cỏ tạp, nó sạch sẽ mãi mãi như vừa mới cắt dọn.

Một khi hạnh chín, Đổng Phụng làm một cái kho dưới vườn cây, và tuyên bố: “Ai muốn mua trái hạnh không cần tốn tiền, chỉ cần tự mình mang theo một cái sọt hạt kê đổi một sọt trái hạnh thì được”. Thường có một vài người không tốt, muốn dùng sọt hạt kê thật nhỏ để đổi lấy một sọt trái hạnh lớn, lúc ấy bỗng nhiên hiện ra một con cọp ở phía sau lưng vừa rống vừa đuổi cho đến khi nào bung sọt trái hạnh đổ trên đất mới thôi. Có người đến trộm trái hạnh về đến nhà thì chết liền, nhưng chỉ cần người nhà mang họ đến chỗ cũ, cúi đầu nhận tội thì người đó liền sống lại. Từ đấy, không ai dám động đến vườn hạnh. Lúc đó Đổng Phụng đem hạt kê có được bố thí cho người nghèo khổ, mỗi năm bố thí ước khoảng hơn 300 hộc.

Đổng Phụng sau khi bay lên trời, người nhà của ông tiếp tục chăm sóc vườn hạnh, nếu có kẻ trộm cọp cũng xuất hiện như cũ. Sau này nhân dân vì cảm ân đức của ông, lập đền thờ trong vườn hạnh.Cho đến ngày nay, người Trung Quốc gọi giới y học là Hạnh lâm, do trong câu chuyện giống hạnh của Đổng Phụng mà có.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, anhlam, dieunha, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2011, 03:51:31 am »

(tiếp theo)

GIỚI TƯỢNG

Giới Tượng tự là Nguyên Tắc, người ở Tằng Khê, thông suốt bách gia ngũ kinh và các thứ học vấn khác..Ông có thể viết một mạch xong bài văn, càng có sở trường về thuật tiên đạo.

 Ông từng đến Đông Nhạc học vài phép thuật khác lạ, ví như có thẻ đốt cỏ tranh nướng gà, gà chín mà cỏ không cháy hết. Ông lại có thể khiến cho người trong nhà không nhóm lửa nấu cơm, có thể khiến cho chó, gà không, kêu không gáy 3 ngày, có thể khiến mọi người trong thành ngồi hết mà không đứng dậy.

Ông cũng có thể tàng hình, thậm chi còn biến hóa thành cây cỏ dã thú.
Có một lần ông đi xa mấy ngàn dặm cầu tiên, kết quả không gặp được gì, phải vào núi ngồi Thẩm  tư. Do ông quá mệt mỏi, nằm trên hòn đá nghỉ ngơi, lúc bấy giờ có một con cọp đến ăn thịt ông, ông giật mình tỉnh dậy nói với con cọp: “Nếu như ngươi ở trên trời phái đến bảo hộ ta thì im lặng đứng hầu, còn nếu như người là sơn thần sai đến thử ta thì chạy đi mau”, con cọp gật đầu ngoắc đuôi rồi đi.

Sau đó, Giới Tượng đi đến Cốc Sơn. Ở trên núi ông trông  thấy hòn đá phát ra ánh sáng tía, hòn đá lớn như trứng gà, ông bèn lấy hai hòn. Lúc đi qua khe nước, do nước sâu quá ông không thể đi qua được, bỗng nhiên trông thấy người con gái ước chừng 15, 16 tuổi, nhan sắc tươi đẹp không giống người thường, mặc áo ngũ sắc, phất phơ giống như tiên nhân.

Giới Tượng hướng về cô cúi đầu và cầu dạy phương pháp trường sinh bất lão. Tiên Nữ nói: “Người nên đem cục đá để lại y như cũ, ta ở đây đợi ngươi”. Giới Tượng y lời cô ta làm, quay trở lại thì quả nhiên Tiên Nữ hãy còn đợi. Giới Tượng lại hướng về cô ta cúi đầu lần nữa.

Tiên Nữ nói: “Ngươi có thói quen ăn thịt, đợi người giữ giới ăn chay 3 năm nữa đến đây tìm ta”. Giới Tượng đi về sau đó ăn chay đúng 3 năm, trở lại trên núi, quả nhiên gặp được Tiên Nữ. Tiên Nữ dạy ông phương cách luyện đan.

Giới Tượng về nhà sau đó vẫn chưa bắt đầu luyện đan, có người mật cáo với Ngô chúa. Ngô chúa mời Giới Tượng vào trong cung, đối với ông rất kính trọng, và còn tôi xưng với ông là Giới Quân, cho ông nhà ở, ban cho ông vô số báu vật, vàng bạc nhưng Giới Tượng từ chối dạy cho các thứ pháp thuật.

Đương thời ở trên núi có một người trồng mạch, khổ nỗi bị khỉ ăn hết, bèn nói: “Chúng mi đến đây, ta đi báo Giới Quân!” Khỉ nghe nói chạy hết.  Có một hôm Ngô chúa và Giới Tượng bàn về loại cá nào ăn ngon nhất, Giới Tượng có nói ca Lưu có mùi vị rất ngon. Ngô chúa nói: “Thứ cá này ở trong biển, ngài có cách nào làm cho nó tới đây không?”.

 Giới Tượng nói: “Không sao cả, chỉ cần trước điện đào một cái hầm đổ đầy nước, câu thì có cá”. Ngô chúa nghe rất kinh ngạc, vui mừng, làm y như thế quả nhiên câu được cá. Ngô  chú hỏi: “Cá này có thể ăn được không?”.Giới Tượng nói: “Đây là chuyên môn, vì bệ hạ mà thiết đãi, sao không thể ăn được?”. Giới Tượng mấy lần muốn từ biệt Ngô chúa về nhà, Ngô chúa đều không chịu.Một hôm, Ngô chúa ban cho ông một thùng trái lê. Giới Tượng vừa ăn liền chết.

 Ngô chúa kinh sợ liền đem ông chôn xuống đất. Không ngờ ngày thứ hai Giới Tượng sống lại, xuất hiện ở Thành Kiến Nghiệp và còn lấy trái lê được Ngô chúa ban cho đem tặng các quan làm lễ cho ông.Các quan rất kinh ngạc, đem sự việc trình báo lên Chúa Ngô, Ngô chúa hét nhảy lên, lập tức hạ lệnh mở quan tài, xem xét tử thi, không ngời trong quan tài trống không, chỉ còn một tờ tấu, mặt trên viết: “Xin lỗi, tôi đi”.

Ngô chúa vì tưởng nhớ ông, lập một đền thờ nơi ông qua đời và đích thân tới bái lễ. Thường có hạc trắng bay lên đậu ở nóc đền, lâu lâu mới bay đi. Sau này đệ tử của ông ở Tân Trúc Sơn gặp ông, trong tay cầm một cành hoa đào trắng, dung mạo trẻ hơn trước nhiều.

Trong đạo thuật là nơi không thể nghĩ bàn, thường chứa ngụ ý rất sâu.Ví như lửa mạnh thiêu không cháy cỏ tranh ở đây ám chỉ đạo là siêu việt và thống nhất của mâu thuẫn, nó có thể kết hợp được nước và lửa, thiện và ác, sống và chết, thay lời, nó có thể vượt ngoài thế giới tương đối.

Đạo lý này trong Lão Tử, Trang Tử đêu có phân tích rõ ràng.


   
LÝ A

Lý A người nước Thục, thuộc thời đại Tam Quốc, trông ông luôn trẻ trung. Mỗi ngày ông ở trong thành thị xin cơm.Xin được chỉ đem cho người nghèo hết. Ông mỗi ngày đi từ sáng sớm đến chiều tối, không ai biết lai lịch của ông. Đương thời, có một người kêu là Cố Cường, hoài nghi Lý A là dị nhân, bám theo sau cùng ông về đến nhà, hai người bèn đi vào Thanh Thành Sơn. Cố Cường vì sợ trong núi có cọp, bèn giấu riêng một cây đao lớn. Lý A thấy thế tức giận nói: “Ông đi theo tôi, đâu cần gì phải sợ con cọp nữa”, rồi đem đao chém xuống đất gãy thành từng đoạn từng đoạn. Cố Cường trong lòng vẫn còn lo lắng, sáng sớm ngày thứ hai, Lý A liền hỏi ông: “Ông vì đao gãy mà không yên lòng phải không?”. Cố Cường đáp: “Tôi sợ cha trách mắng”. Lý A lấy dao gãy để trên mặt đất, cây đao tự nhiên y nguyên như trước.

Mồ hôm Cố Cường cùng Lý A về Thành Đô, trên đường đi bỗng gặp một người kéo xe ngang qua.Lý A dùng chân chống chiếc xa, xương chân bị gãy người cũng chết. Cố Cường đang giữ thi hài của ông, không bao lâu Lý A sống lại, chân ông cũng lành như cũ.

Lúc Cố Cường 18 tuổi gặp Lý A chừng 50 tuổi, đến khi Cố Cường 80 tuổi, dung mạo Lý A cũng không già thêm mà còn trẻ hơn lúc mới gặp nữa.

Một hôm, Lý A bỗng nói với Cố Cường rằng: “Núi Côn Lôn muốn mời ta đi”.Từ đấy không ai trông thấy Lý A nữa.
Trong Phật giáo có La Hán hàng long phục hổ, trong Lão giáo cũng thấy nhiều, đây là kết quả của nhân cách tu dưỡng, bỏ tâm sát cùng sự vật. Một mặt rồng cọp tượng trưng cho dục vọng của con người. Thơ của Vương Duy: “An tường chế độc long”. Rồng độc và cọp dữ đều là tượng trưng tính dục con người, muốn khắc phục nên biến hóa tài năng, minh tâm, kiến tánh, tương ứng với đạo.
   
   
TẢ TỪ

Tả Từ tự là Nguyên Phòng, người Lô Giang, ông học đạo ở Thiên Trụ Sơn biết biến hoá có thể sai khiến quỷ thần.Tào Tháo từng triệu kiến ông, bắt ông nhốt trong nhà tối không thông gió, nhịn ăn một năm, khi ra dung nhan vẫn như cũ. Có một lần Tào Tháo mở yến tiệc cho tân khách nói: “Hôm nay thức ăn gì cũng có, chỉ thiếu món cá Lô ở Tùng Giang”. 

Tả Từ liền đem thau đồng để đầy nước, dùng cần câu trúc câu cá. Không bao lâu câu được cá Lô. Tào Tháo lại nói: “Đáng tiếc, không có gừng của Tứ Xuyên!”. Tả Từ nói: “Việc này đơn giản”. Vừa nói xong, thì từ trong tay áo biến ra rừng.

Có một lần Tào Tháo ra ngoài thành đi chơi, sỹ đại phu cùng đi có hơn 100 người. Tả Từ vì họ biến ra một thăng rượu, một cân thịt, tự tay rót rươu mời rượu, bá quan đều no say. Tào Tháo rất kinh ngạc hỏi ông làm thế nào, lại xem trong hành lý của ông rượu thịt đều không thấy.

Tào Tháo rất ghét đạo thuật của Tả Từ, do đó muốn định giết ông.Ý niệm vừa khởi Tả Từ liền phát giác, ông bèn xẹt vào trong vách tường không  ai tìm thấy được. Có người nói ông xuất hiện trong thành thị.

Tào Tháo vội hạ lệnh bắt ông, không ngờ người trong thành đều biến thành hình giống Tả Từ, không biết làm cách nào. Lại có người nói thấy Tả Từ xuất hiện ở Dương Thành Sơn, Tào Tháo lại đi bắt, Tả Từ lại hóa thân làm con dê, núp trong đàn dê.

Tào Tháo biết mình không thể bắt ông được, bèn hạ lệnh không bắt ông nữa, vừa nói xong có một con dê già chắp tay nói: “Có thật thế không?”. Vừa nói xong, Tào Tháo lại bắt ông, không ngờ đàn dê đều biến thành dê già, đồng lời nói: “Có thật như vậy chăng?”. Tào Tháo không còn cách nào, cuối cùng phải chịu thua.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, anhlam, dieunha, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2011, 03:53:39 am »

(tiếp theo)

VƯƠNG PHẠM CHÍ

Vương Phạm Chí là người Lê Dương, nơi đây, có một người gọi là Vương Đức Tổ, trong nhà ông mọc một cây hồng, trên thân cây có một cục bướu to, cục bướu lóng lánh. Vương Đức Tổ lấy đao đẽo ngoài da của cây, không ngờ từ trong cây có một đứa bé chạy ra ngoài.

Thằng bé lớn lên đến 7 tuổi mới biết chuyện, nó vừa mở miệng liền hỏi: “Ai sinh ra tôi thế?”. Vương Đức Tổ nói sự thật cho nó biết, do đây mà đặt tên là Phạm Thiên, sau này đổi là Phạm Chí.

Vương Phạm Chí bình thường ngoài tu tập còn làm thơ, thơ của ông tràn đầy tư tưởng Phật giáo, hoàn toàn không khuyên người tu đạo. Thi của ông rõ ràng như nói chuyện, lại u mặc chịu khó đọc. Có một bài thơ nói: “Thành ngoại thổ mạn đầu, hãm thực tại thành lý, nhất nhân ngật, nhất cả mạc hiểm một từ vị!”. Đương nhiên, thổ mạn đầu không cái gì khác là ngôi mộ.
   
HOÀNG SƠ BÌNH

Hoàng Sơ Bình là người Đan Khê triều Tấn, lúc 15 tuổi chăn dê trên núi, gặp được đạo sỹ, đạo sỹ dẫn ông đến trong hang đá của Kim Hoa Sơn. Hơn 40 năm trôi qua, anh của ông ta là Hoàng Sư Khởi tìm khắp nơi mà không gặp ông. Cuối cùng cũng gặp đạo sỹ, bảo ông ở trong Kim Hoa Sơn có một thằng bé chăn dê. Hoàng Sơ Khởi đi quả nhiên liền gặp Sơ Bình. Anh của ông hỏi dê đâu rồi? Sơ Bình nói dê đang ăn ở  phía đông núi này, anh ông chạy đi kiếm chỉ thấy một đống đá trắng, lúc đó nổi giận chửi mắng, không ngờ đang chửi mắng, mấy cục đá bỗng nhiên đứng dậy biến thành mấy vạn con dê. Anh của ông kinh ngạc, cũng bỏ vợ con đi học đạo luôn.
   

   
LAN CÔNG

Lan Công người Khúc Phụ, Sơn Đông, tính tình rất hiếu thuận, do đó mà cảm động được tiên nhân trong Đẩu tinh giáng xuống trong nhà ông. Tiên nhân tự xưng là Hiếu Đệ Vương, tên là Hoàng Khang.

Ông ta nói với Lan Công: “Đời sau sẽ có tiên nhân chân chánh tới truyền hiếu đạo cho tôi, người này sẽ thành bậc lãnh tụ của tiên nhân”.  Nói xong liền tặng cho Lan Công nhiều tấm bùa và kinh điển tu đạo, nhờ ông chuyển cho tiên nữ Thẩm  Mẫu của Đơn Dương Hoàng Đường Thanh.

Và dặn dò ông: “Sau này sẽ có một người học tiên tên là Hứa Tốn, ông nên cùng ông ta tu tập”. Tiên nhân nói xong liền dẫn ông ta ra ngoài thành dạo chơi. Họ trông thấy bên đường có ba ngôi mội cổ, tiên nhân chỉ Lan Công nói: “Đây là chỗ ba đời chôn thân ông. Mộ thứ nhất trong mộ để quần áo của ông khi chết. Mộ thứ hai chứa hình thể tu luyện của ông, mộ thứ ba chứa hình thể lột xác của ông. Bây giờ ông nên dời ngôi mộ này đến bên đường, đừng để cho người chăn dê, thú đạp lên”. Tiên nhân nói xong liền bay lên trời đi.

Lan Công đem đồ phó chúc của tiên nhân đưa cho Thẩm  Mẫu xong, trở lại dời ba ngôi mộ. Người đi đường cho ông là kẻ xấu trộm mộ, bèn mời huyện làng tới bắt ông. Lúc đó Lan Công nói qua một lượt lời của tiên nhân và cùng mọi người khai quật mộ.Mọi người nhìn thấy mộ thứ nhất có áo vàng, trong một thứ hai có người trẻ yếu ớt, mọi người như tỉnh cơn đại mộng. T

rong mộ thứ ba có một bộ xương, mọi người đều trố mắt câm miệng. Huyện lệnh bèn đưa bộ y phục cho Lan Công. Lan Cồng mặc vào liền nhập với người trong mộ làm một, mọi người chưa thấy rõ chuyện thế nào thì ông đã nhảy vọt lên mấy trắng bay đi.

Hiếu đứng đầu trăm hạnh, không kể là nho gia, tôn quí. Đạo gia cũng cho nó là nền tảng của tu đạo, người bất hiếu ngay cả con người còn không tốt huống nữa là tiên? Tiên thuật cua Lan Công khó bì kịp, nhưng hiếu để của ông đáng học tập.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, anhlam, dieunha, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2011, 03:57:12 am »

(tiếp theo)

PHÍ TRƯỞNG PHÒNG

Phí Trưởng Phòng là người Nhữ Nam, ông làm chức quan nhỏ ở thị tỉnh.

Một hôm, có một ông lão vào trong thành bán thuốc. Ông ở trước cửa tiệm bán một cái hũ, bán xong thì nhảy vào trong hũ, người ở chợ không ai phát hiện được chuyện kỳ lạ này, chỉ có Phí Trưởng Phòng ở trên lầu bất chợt nhìn thấy. Ông vì hiếu kỳ chạy đi hỏi thăm ông lão đó, không ngờ ông lão đó lại cùng ông nhảy vào trong hũ.  Phí Trưởng Phòng định mắt nhìn chỉ thất trong hũ toàn ngọc đường giàu đẹp đàng hoàng, đến đâu cũng đều rượu ngon người đẹp, ông lão mời ông ngồi cùng ăn uống, ăn no xong mới nhảy ra khỏi cái hũ nhỏ. Ông lão dặn ông dù thế nào cũng không nên tiết lộ bí mật.

Dần dà, Phí Trưởng Phòng cùng ông lão trở thành bạn tốt, hai người họ thường trong hũ uống rượu làm vui, nói chuyện rất ăn ý. Có một hôm ông lão tiễn Phí Trưởng Phòng lên lầu, bảo ông vốn là thần tiên trên trời, vì phạm tội mà bị đày đọa xuống nhân gian, nay kỳ phạt sắp hết, ông muốn về trên trời, ông còn hỏi Phí Trưởng Phòng muốn cùng ông lên trời không, nếu như không được, ông lão hy vọng cùng ông uống rượu chia tay.

Phí Trưởng Phòng kêu người xuống lầu lấy rượu, rươu nặng quá người kia cả buổi xách lên không được, ông gọi mười người đi khiêng không nhúc nhích. Ông lão cười không nói, đi xuống lầu, không bao lâu, thấy ông chỉ dùng một tay xách bình rượu đưa lên. Phí Trưởng Phòng chỉ thấy có hơn một thăng rượu, không ngờ hai người uống cả ngày không hết.

Phí Trưởng Phòng rất muốn cầu đạo, nhưng ông không yên lòng cho người nhà. Ông lão biết tâm ý của ông, bèn chặt gẫy cây trúc xanh, độ  dài bằng dáng người Trưởng Phòng, đem cây trúc treo phía sau nhà, người nhà thấy đều cho Trưởng Phòng chết treo, cả nhà khóc lóc đau đớn, rồi đem “ông”đi táng. Phí Trưởng Phòng đang đứng bên cạnh mà mọi người không trông thấy ông. Lúc đó, ông đi theo ông lão vào núi sâu tu tập.

Ông lão vì muốn thử ý chí của Trưởng Phòng, biến ra nhiều huyền thuật thử ông. Ông ta bảo Trưởng Phòng nằm trong nhà trống, trên cột nhà treo một cục đá nặng vạn cân, lại phóng ra một bầy rắn cắn dây thừng, mắt nhìn dây thừng muốn đứt,mà mảnh đá thì muốn rơi, còn Trường Phòng thì bất động. Ông lão rờ đầu ông nói: “Ngài thật giỏi!”. Ngày thứ hai, ông lão kêu Phí Trưởng Phòng ăn phân, trong phân có ba con trùng, vừa đỏ vừa thối. Phí Trưởng Phòng bất giác khởi tâm nổi giận chán ghét. Ông lão than nói: “Ông hầu như muốn đắc đạo, đáng tiếc chưa qua cuộc thử thách!”. Phí Trưởng Phòng tự cảm thấy xấu hổ, lúc đó bèn cáo từ với lão ông. Lão đưa cho ông một cây gậy trúc nói: “Cưỡi cây gậy trúc này, ông có thể đi đến nơi nào ông muốn, khi đã đến không nên quăng cấy gậy trúc xuống đất”. Lão ông còn cho ông một đạo bùa, nói: “Đạo bùa này có thể sai khiến quỷ thần”.

Phí Trưởng Phòng nhảy lên trên cây gậy trúc ông lão đưa, trong chốc lát thì đã về đến nhà, ông cảm thấy mình đi chẳng qua mới chừng mười ngày, không ngờ thực tế nhân gian đã hơn 10 năm. Ông quăng cây gậy trúc xuống đất, quay đầu lại xem thì là một con rồng. Người nhà của ông cho ông là đã chết, trông thấy ông về đều kinh ngạc không tin. Phí Trưởng Phòng nói: “Các con đã chôn ta, kỳ thật chỉ là một cây gậy trúc”. Người nhà quật mồ xem, trong quan tài đỏ choét chỉ có một cây gậy trúc, bây giờ mới tin Phí Trưởng Phòng nói thật.

Phí Trưởng Phòng được ông lão chỉ điểm, bây giờ có thể trị bách bệnh, trừ đuổi quỷ thần. Có khi thấy ông bỗng nhiên nổi giận, người nhà hỏi, mới biết  ông trách phạt quỷ mỵ. Có lúc lại trông thấy ông trong vòng một ngày xuất hiện các nơi xa ngoài ngàn dặm.

Thời đó, có người tên là Hoàng Cảnh, từng học đạo với Phí Trưởng Phòng. Một hôm, ông nói với Hoàng Cảnh rằng: “Mồng 9 tháng 9 hôm đó, nhà của ngươi sẽ bị tai nạn lớn, người nên làm một cái túi màu hồng, lấy dậy thù du buộc trên cánh tay, sau đó đi lên núi cao, uống rượu hoa cúc, thì tai họa có thể tránh khỏi”. Hoàng Cảnh làm theo lời ông dặn dò, đến hôm mồng 9 tháng 9,cả nhà họ đều đi lên núi, chạng vạng mới về, phát hiện trâu, dê, gà, chó đều chết hết. Do sự việc này,sau này dân gian có phong tục đến ngày trùng cửu thì lên núi cao. Trải qua các đời thi nhân, mặc khách vì chuyện này làm rất nhiều thơ hay trong đó có bài thơ nổi tiếng của Vương Duy “Cửu nguyệt cửu nhật ức sơn đông huynh đệ”:

“Độc tại dị hương vi dị khách
Mỗi phùng giai tiết bội tư nhân
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
Thiên pháp thái du thiếu nhất phân”.

Trưởng Phòng tuy là người có pháp thuật nhưng cuối cùng không thành tiên. Ngược lại, ông lão dạy đạo thuật cho ông, ông ta tuy không để lại tên tuổi, nhưng hành tung kỳ lạ của ông trái lại làm người đời sau tôn xưng là đạo.

   
   
VƯƠNG CHẤT


 Vương Chất người địa phương Cù Châu triều Tấn. Một hôm ông vào núi đốn cây, bất  ngờ đi đến trong hang đá, thấy trong hang có mấy đồng tử đang đánh cờ. Vương Chât để cái búa xuống nhìn. Đang lúc chăm chú nhìn, có một đồng tử đưa cho vật gì giống con cờ màu đỏ cho ông và bảo để vào trong miệng. Vương Chất hiếu kỳ tiếp lấy,  không ngờ ông chỉ nuốt vào một chút ít nước bọt thì cảm thấy không khát, cũng không thấy đói nữa.
Qua một lát sau, một đồng tử nói với ông: “Ông đến đây rất lâu rồi, nên trở về nhà đi!” Vương Châu vác chiếc búa lên, không ngờ cán búa gỗ đã mục nát. Ông rất kinh ngạc vội vàng chạy xuống núi, về đến nhà thì nhân gian đã mấy trăm năm, bạn bè thân thích không còn một người. Vương Chất hiểu ra bèn trở lại trên núi, không bao lâu cũng được đắc đạo.
   

PHÙNG CẦU

Phùng Cầu tự là Bá Kiên, người Bắc Hải, Tấn Võ Đế khoảng niên hiệu Thái Thủy, ông đến. Bối Khưu Tây Ngọc Nữ sơn đi đốn cây, bỗng nghe có mùi hương lạ.Phùng Cầu không nhịn được hiếu kỳ bèn theo gió đi tìm, không bao lâu núi đá lại tự động mở ra, chỉ thấy bên trong xuất hiện cung điện đền đài nguy nga, tráng lệ. Phùng Cầu nhè nhẹ đi vào lại phát hiện năm cây ngọc đứng cao vòi vọi, dưới gốc cây có tiên nữ đang đánh cờ. Lúc ấy họ phát giác có người đi tới, đều chạy lại nói: “Phùng Sinh, ngài đến đây làm gì?” Phùng Cầu chỉ còn nói thật. Tiên nữ nghe xong yên lòng đánh cờ.

Phùng Cầu ở dưới gốc cây cả ngày bụng đói, bèn dùng đầu lưỡi liếm sương trên lá cây, bỗng nhiên có một tiên nữ cưỡi hạc bay qua, kêu lớn nói: “Ngọc Hoa, Ngọc Hoa, các ngươi làm gì để cho người trần tục đến đây?” Phùng Cầu kinh ngạc bỏ chạy. Vừa quay đầu thì tất cả đều không thấy, về đến nhà thì nhân gian đã qua mấy đời.

   
   
TÔN ĐĂNG

Tôn Đăng tự là Công Hòa, ông ở trên hang trong Hấp Quận Bắc Sơn. Mùa hạ bện cỏ làm áo mặc, mùa đông thì xõa tóc để ấm. Ông khéo về thổi tiêu, thích đọc Kinh Dịch, rãnh rỗi thì đàn cầm, tính tình ôn hòa, không thường thay đổi vui hay giận hờn.

Danh sĩ đương thời là Kê Khang Tằng cùng ông qua lại, trải qua ba năm.Kê Khang hỏi mãi không hiểu chí nguyện của Tôn Đăng. Nhưng sự thần diệu của Tôn Đăng khiến Kê Khang kính phục. Có một hôm Kê Khang hỏi đạo riêng với Tôn Đăng: “Cùng ngài tới lui lâu như thế, lẽ nào không cho tôi một chỉ giáo!”.

Tôn Đăng nói: “Ông hiểu rõ tính lửa không? Lửa, trời sinh ra có ánh sáng lại không dùng ánh sáng, người sinh ra có tài lại không dùng cái tài của họ, nếu dùng ánh sáng phải dùng củi để giữ ánh sáng, dùng tài nên có kiến thức để giữ sinh mạng”. Kê Khang nhờ dạy nghệ thuật đàn cầm, Tôn Đăng lại không chịu dạy, ông nói: “Tài của ông nhiều nhưng kiến thức không sâu xa, sợ e gặp họa!”.

Sau này quả nhiên Kê Khang bị hại hạ ngục, lúc này ông mới hối hận, làm thơ nói: “Tích tạm hạ huệ, Kim Quí Tôn Đăng”. Còn Tôn Đăng, không bao lâu đắc đạo về trời.

Lão Tử nói: “Quang nhi diệu”. Đạo lý này do Tôn Đăng giải thích rất rõ ràng tháu thiết.
   
   
(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, anhlam, dieunha, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2011, 03:33:48 am »

(tiếp theo)

CÁT HUYỀN


Cát Huyền tự Hiếu Tiên, người Đơn Dương Cú Dung, biệt hiệu Cát Tiên Công, ông học đạo với Tả Từ, từng cùng tân khách ăn uống bàn chuyện đạo lý biến hóa. Khách yêu cầu ông biểu diễn thử, Cát Huyền bèn ho một tiếng, cơm trong miệng lập tức biến thành cả trăm con ong mật bay tụ quanh mấy người khách. Cát Huyền lại há mồm, ong mật lại đều bay trở lại biến thành hạt cơm. Pháp thuật của Cát Huyền rất nhiều, ông có thể chỉ điểm người đã nhường đường ông đi, lại có thể bảo bảo tôm hùm, côn trùng, chim sẻ v.v… ca múa.

 Lúc ông mời khách, mùa đông biến ra dưa táo, mùa hạ biến ra băng tuyết. Có một lần ông cầm mười mấy tấm phách đồng cho người quăng xuống giếng, sau đó lại đến miệng giếng kêu to, mấy tấm đồng vừa nghe kêu từng cái bay khỏi đáy giếng.

Cát Huyền cùng khách đối ẩm không cần tự mình cầm ly, cái ly tự động bay qua. Tấn Vũ Đế có một lần đi tìm ông, hỏi lâu quá vì sao không mưa, có thể tạo mưa được không. Cát Huyền nói có thể, liền vẽ một đạo bùa dán ở trong nông xá, không bao lâu mưa xuống như xối.

Cát Huyền từng qua miếu thần, phàm ai qua đó, cách khoảng trăm bước đều phải xuống xe đi bộ, nếu không sẽ gặp điều bất lợi. Bên miếu có mười mấy gốc đại thọ, trên cành có nhiều chim thú, mọi người không ai dám bắt. Cát Tiên Công hiểu việc này, ra lệnh cho xe thẳng qua. Vừa đi, bỗng nhiên gió lớn nổi dậy, bụi bay mịt mù, người  hầu đều kinh hãi. Tiên Công chửi lớn: “Tiểu quỷ sao dám vô lễ?”.Ông đưa tay chỉ gió, gió liền ngừng, ông lại vẽ một đạo bùa, để tùy tùng dán trước cửa miếu. Vừa dán xong chim ở trên cấy té xuống đất chết, còn miếu cũng tự động thiêu cháy luôn.

Có một lần Cát Tiên Ông qua đường Võ Khang, thấy một người trong nhà kia phát bệnh, thì ra là yêu quái nhập vào, yêu quái mời Tiên Công uống rượu, Tiên Công cự tuyệt không uống, yêu quái chửi lời thô tục.Tiên Công nghe xong bảo nó rằng: “Yêu quái sao dám vô lễ!” Nói xong, ông lập tức triệu Ngũ Bá đến bắt nhốt lại, buộc trên cấy cột. Một lúc chỉ nghe tiếng yêu quái bị roi da đánh, máu chảy khắp đất, yêu quái cuối cùng nhận tội.

Lại một lần Tiên Công đi qua đường Hoa Âm, trông thấy một chàng thư sinh bị xà tinh mê hoặc. Tiên Công biến thành một người nông phu, dắt bò cày ruộng, ông vừa nói với chàng thư sinh: “Người hãm thân vào một nơi đáng sợ, vợ của ngươi là một con rắn, trước đến nay đã ăn thịt rất nhiều người”. Thư sinh không tin. Tiên Công bèn dẫn anh ta đi xem một cái miệng giếng cũ, trong giếng có một đống xương người. Thư sinh kinh hoàng thất sắc. Tiên Công lại bảo anh ta âm thầm quan sát, phát hiện vợ anh ta thật sự là một con rắn, nhăn nanh trợn mắt khoanh tròn trong màn trướng, bên mình còn có một con rắn nhỏ.Tiên Công thừa cơ hội, bất ngờ rút kiếm chặt, lập tức có vô số con rắn con bò ra cầu cứu. Tiên Công giết sạch toàn bộ chúng nó. Trước khi đi, Tiên Công cho thư sinh một đạo bùa, thư sinh uống vào sau đó đi tiêu ra các loại trùng, giun, tôm, tép… Thư sinh do đây mà luyện tập cứu mạng mình.

Cát Tiên Công từng ở Kinh Môn Quận, Tử Cái Sơn tu luyện, trời lạnh băng giá,mà Tiên Công đi chân trần, y áo lam lũ. Lúc đó, có người nhà của ông họ Khuất, hai người con gái của ông này trông thấy Tiên Công thương xót, bèn bện một đôi giày biếu cho ông mang. Nhưng đợi họ làm xong Tiên Công đã đi rồi, chỉ để lại một cái lò, tro hãy còn nóng. Hai người con gái bới tro tìm được một viên thần đơn, hai chị em chia nhau uống mỗi người nửa viên, từ đấy tinh thần mạnh khỏe, không đói, không khát, cuối cùng nghe nói họ cũng thành tiên.

Cát Tiên Công từng cùng Ngô Chúa mỗi vị một chiếc thuyền đi đến Tam Giang Khẩu, lúc đó gió bỗng nhiên nổi dậy, nhiều thuyền bè bị đánh chìm, thuyền của Tiên Công không biết đi đâu, Ngô Chúa không nén nổi than rằng: “Cát Tiên Công đã có đạo, vì sao không tránh được họa chứ!”. Qua một đêm, ông thấy  Tiên Công từ trên mặt nước đi đến, gương mặt còn nét say rượu. Ông nhìn Ngô Chúa xin lỗi nói: “Hôm qua Ngũ Tử Đế cương quyết mời tôi đi uống rượu, do đó đã làm dây dưa cuộc hành trình của bệ hạ.”

Một hôm, Tiên Công đi chơi ở Hội Kê, có một thương nhân đi biển trở về, đi ngang qua một miếu thần. Thần miếu mời ông thuận tiện đưa một bức thư cho Cát Tiên Công, nói xong đưa bức thư để trên thuyền. Người thương gia khi về đưa cho Tiên Công. Ông mở thư xem thì ra thư của Đông Hoa Sơn Đông Quân gởi đến. Trên thư đề “Thái Cực Tả cung tiên thư”. Người đời mới biết Cát Tiên trước kia đã có tên trên trời.

Tiên nhân Cầm Cao nghe nói Cát Huyền đắc đạo, ở xa ngoài Đông Hải cưỡi con cá chép đến thăm ông.Tiên Công cùng ông đối ẩm, Cầm Cao không ngờ bị say mèm, Cao nằm chỗ mấy trắng ngủ, sau khi tỉnh rượu, con cá chép đã hóa thành đá. Tiên Công tặng cho Cầm Cao một con hạc, để ông cưỡi đi về, con cá biến thành đá đó nghe nói vẫn còn mãi đến bây giờ.
   
   
NGÔ MÃNH

Ngô Mãnh tự là Thế Văn, người Bộc Dương, từ thuở nhỏ rất hiếu thuận, làm quan Tây An Lịnh ở nước Ngô. Ồng từng được tiên chỉ điểm, và tinh thông các thứ pháp thuật.

Có một lần ông trông thấy gió biển dữ dội liền vẽ một đạo bùa quăng lên nóc nhà, lập tức có chim xanh bay lại ngậm lá bùa bay đi mà gió cũng ngừng luôn. Có người hỏi ông về việc này, Ngô Mãnh nói: “Thì ra Nam Hồ có chuyện sóng lớn, hai đạo sỹ nhờ ông cầu cứu!” Sau này sự thật quả nhiên chứng minh lời của ông nói đúng như thế.
Huyện lệnh Tây An là Can Khánh đã chết ba ngày, Ngô Mãnh lại nói:”Dương thọ của Huyện lệnh vẫn chưa kết thúc, tôi muốn lên trời xin cho ông”. Lúc đó, ông bèn nằm bên thi hài của huyện lệnh, qua mấy ngày lại cùng huyện lệnh sống lại.

Ngô Mãnh mỗi lần qua sông, gặp sóng to gió lớn, thì lay động cây quạt lông bơi qua sông. Hứa Chân Quân năm ấy bay lên trời, Ngô Mạnh cũng cưỡi xe trắng nai trắng bay lên trời luôn.
   
NGÔ THÁI LOAN

Ngô Thái Loan là con gái của Ngô Mãnh, bà lúc còn trẻ đã tu thành đạo rồi. Thời nhà Đường niên hiệu Thái Hòa năm cuối có một thư sinh tên Văn Tiêu, ở Trùng Lăng Tử Cực Cung, mùa thu năm đó đi chơi đến Tây Sơn, thấy một thiếu nữ dong dỏng cao, ca hát, trong tiếng hát nói ra tên của ông, bày tỏ ra tình cảm ái mộ.

Hai nhịp đập cùng hàm chứa một tình cảm, họ cùng nhìn nhau mãi cho đến tiếng ca ngừng lại, thì ra vị thiếu nữ này là Ngô Thái Loan.

Thái Loan dẫn vị thư sinh này leo lên cái nhà trên đỉnh núi, trong đó bày ra các thứ ký lạ, đều là đồ khéo léo ở nhân gian không tìm thấy được.

Hai người nồng nhiệt một lần, bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi dậy, đồ đạc bị hư hết, trong mưa gió xuất hiện một tiên đồng, chỉ họ chửi rằng: “Ngô Thái Loan vì sao có lòng dục riêng tư tiết lộ thiên cơ, phải chịu giáng chức xuống nhân gian 12 năm. Lúc đó Ngô Thái Loan chỉ còn cung Văn Tiêu trở về Trùng Lăng.

Văn Tiêu vốn là một thư sinh nghèo, cuộc sống cực khổ thanh đạm, Ngô Thái Loan vì giúp đỡ gia kế nên đi vào trong thành bán chữ, mỗi lần cô hạ bút vừa nhanh lại vừa đẹp, mỗi ngày bán một cuốn đươc năm xâu tiền vàng, viết như thế mười năm, cô dần nổi tiếng thành một nữ thư pháp được mọi người bội phục. Nhưng Ngô Thái Loan vốn là người thần tiên, đợi đến kỳ hạn giáng chức vừa mãn, cô cùng Văn Tiêu hai người về Tây Sơn tu luyện, sau này có thấy hai vợ chồng họ, mỗi người cưỡi môt con cọp , ở trên đỉnh núi hay đi rong chơi.
   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, mavuong, tadamina
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2011, 03:38:11 am »

(tiếp theo)

HỨA TỐN

Hứa Tốn tự là Kinh Chi, huyện Chiêu Quận, người Nam Xương. Triều Ngô niên hiệu Xích Ô năm thứ hai, mẹ ông nằm mộng thấy con Phượng Hoàng ngậm viên ngọc châu rơi trong lòng bàn tay, bà đùa chơi một lúc rồi nuốt vào, khi tỉnh mộng bỗng nhiên bị một trận đau bụng, do đó mang thai sinh ra Hứa Tốn.

Hứa Tốn lúc nhỏ thông minh hơn người, tướng mạo to lớn tuấn tú, tinh thần hiền hòa, không bao giờ cùng người khác tranh cãi. Có một lần ông cùng các bậc cha chú đi săn bắn, bắn trúng một con nai nhỏ mà nai mẹ lại đứng bên con lưỡi lè liếm đầu mãi. Hứa Tốn trông thấy tỉnh ngộ trong lòng, bẻ gãy cung tên, một lòng cầu đạo. Ồng đối với các phương diện kinh sử, thiên văn, địa lý, âm nhạc, ngũ hành đều rất tinh thông, say mê nhất là đạo thuật của thần tiên tu luyện. Ông nghe nói ở Tây An có Ngô Mãnh đắc đạo, bèn đi bái ông làm thầy, đắc được bí truyền của Ngô Mãnh. Sau đó, ông lại bái Quách Phác, định cư tu tập tại Tiêu Diêu Sơn. Lúc ấy ông mua một cái giá đèn bằng thiếc, tối dùng để đốt đèn. Có một hôm ông trông thấy nơi dầu nhiễu xuống có ánh sáng chớp chớp, ông nhìn kỹ thì ra là vàng. Ngày thứ ba, sáng sớm ông đem giá đèn trả lại cho người bán.

Tấn Vũ Đế niên hiệu Thái Khương nguyên niên, ông được tuyển cử làm Hiếu Liêm, phái đến huyện Kỳ Dương nhậm chức.Năm đó, ông bốn hai tuổi, thường ngày dạy chúng dân nên trung hiếu, nhân nghĩa, cần kiệm, nhẫn nhục. Ông phán án như thần, dân chúng đều phục tùng. Khi mùa thu bị thất, dân chúng không chịu nộp thuế, Hứa Tốn dùng linh đơn điểm ngói thành vàng, kêu người chôn dưới đất, sau đó để cho một vài người nông dân không có khả năng nộp thuế ở trên đất cày ruộng gieo giống, họ vừa cày thì bới lên gặp vàng, lúc đó đem vàng ấy đến nộp thuế.
Có một năm trong huyện bệnh ôn dịch lan rộng, dân chúng bị bệnh chết mười bay mười tám người. Hứa Tốn dùng thần dược tới cứu họ, một lúc trị được rất nhiều người.Quận kế bên người bệnh nghe nói cũng tới mỗi ngày hơn 1000 người. Hứa Tốn lúc đó cắm cấy trúc ở trên sông ngoài 10 dặm, người bệnh chỉ cần uống nước ở cây trúc thì mạnh khỏe.

Hứa Tốn làm huyện một thời gian ngắn, sau đó đoán triều Tấn sắp phát sinh ra biến loạn, ông từ qua về quê. Dân chúng ở Tứ Xuyên  vì cảm mến ân đức của ông, bèn lập miếu thờ nơi ông đã làm quan, mọi người đều cúng hình vẽ của ông.

Trước ngày ông đi, người ta chen chúc tiễn ông đầy cả làng, có người còn tiễn ông đi ngàn dặm mới trở về, thậm chí còn có người muốn đến nhà ông hầu hạ không chịu trở về nhà.

Có một lần Hứa Tốn nghỉ trong vườn cây, có năm nữ đồng (con gái nhỏ) mang kiếm báu hiến cho ông. Hứa Tốn cảm thấy kỳ lạ cũng tiếp nhận. Không ngờ năm đứa con gái này cũng muốn cùng ông trở về nhà, mỗi ngày luyện kiếm cho ông xem, cho ông giải sầu, Hứa Tốn mới biết họ là Tiên Kiếm, do đó không bao lâu Hứa Tốn cũng học được dụng pháp của thần kiếm.

Hứa Tốn cùng với đạo sỹ Ngô Quân cùng nhau đi đến Đơn Dương Hoàng Đường dạo chơi, họ nghe nói Thẩm  Mẫu có nhiều pháp thuật, bèn bái thăm bà, và nhờ bà chỉ dạy diệu đạo. Thẩm  Mẫu bảo họ rằng: “Hai vị đều là tiên phong đạo cốt, có tiên tịch tại thiên cung. Ngày xưa Hiếu Đế Vương từng tại Khúc Phụ, trong nhà Lan Công, từng nói với Lan Công, triều Tấn đời sau sẽ có thần tiên Hứa Tốn tới truyền pháp thuật cho ta, ông ta sẽ là lãnh tụ của chư tiên. Hiếu Đế Vương còn cất giữ kim đan bảo tánh, đồng phù thiết quyển giao cho tôi giữ lại để đợi ngài tới, tôi đợi rất nhiều năm, ngày nay chính là lúc phải giao cho ngài!”.

Lúc đó, Thẩm  Mẫu chọn ngày Hoàng Đạo, lên trên thần đàn lấy bảo vật của Hiếu Đế Vương để lại năm xưa, toàn bộ trao cho Hứa Tốn. Đồng thời, Thẩm  Mẫu lại nhìn Ngô Quân nói: “Ngài hồi trước đã từng sư phụ của Hứa Tốn, mà nay đạt đạo thuật của Hiếu Đế Vương chỉ có Hứa Tốn được chân truyền, ngài nên bái ông làm thấy trở lại mới đúng. Hà huống có huyền phả Ngọc Hoàng, chức vị của Hứa Quân rất cao, tổng lĩnh tiên tịch do đó ngài nên đối với ông ta tôn kính như bậc tôn trưởng mới phải”. Thẩm  Mẫu nói xong, hai người tạ từ mà đi. Hứa Tốn trước khi đi trong lòng nghĩ, nên mỗi năm đến bái thăm bà ta mới phải, ông mới vừa khởi nghĩ, Thẩm  Mẫu biết liền. Bà lập tức nói với Hứa Tốn: “Ông không cần phải tới, ta không bao lâu nữa sẽ lên trời rối!”. Bà đang nói liền cầm cây cỏ thơm, quăng lên phía nam nói: “Ông về mau đi, cỏ rớt chỗ nào, ông nên vì ta lập đền thờ ký niệm nơi đó, mỗi năm vào mùa thu ông đến đó một lần là đủ”.

Hai người về đến nhà sau đó tìm nơi cỏ thơm rớt, cuối cùng tìm được một vùng phía hướng nam hơn 40 dặm, lúc ấy cây cỏ đã mọc sum xê, lúc đó hai người liền xây dựng miếu thờ, mỗi năm trung thu đều đến lễ bái. Lúc bắt đầu làm, Hứa Tốn đi đến đền thờ, phát hiện dân ở thôn giết trâu dê để tế thần và còn nói không sát sinh thì thần sẽ nổi giận giáng họa. Hứa Tốn nói: “Đây nhất định là có yêu quái làm càn!”. Ông liền vào trong nhà trọ nghỉ, triệu lại sấm gió thổi tốc cây rừng hết. Ngày thứ hai ông thông báo với mọi người ở trong làng: “Yêu quái đã trừ khử, không cần phải sát sanh cúng lễ”.

 Lại có một lần Hứa Tốn thấy dân làng sử dụng nguồn nước rất xa, dùng nước thật khó khăn, ông liền lấy cây gậy đâm xuống mặt đất, nước suối vọt lên để cho mọi người trong làng uống, dòng suối này dù hạn hán thế nào cũng không khô cạn.
Một lần Hứa Tốn ở Tứ Xuyên, có người họ Châu tiếp đãi rất ân cần, ông rất vui mừng, bèn vẽ một cây tùng trên vách tường nhà họ Châu. Sau này sông Thục vỡ đê, nước sông tràn ngập, trong thành tất cả đều thiêu hủy hết, chỉ có bức tranh cấy tùng trên tường không một chút hư hao, cả nhà họ Châu nhân đó bảo tồn được tính mạng và tài sản.
Hứa Tốn đã từng luyện đan ở Nghê Thành Hoàng Long Sơn, trong núi có Giao Long thường dâng nước lớn phá hủy nhà cửa thuyền bè. Hứa Tốn lúc đó mới thân binh đến bắt Giao Long, đóng trên vách đá, từ đó không còn gây tai nạn nữa. Hứa Tốn trên đường qua huyện Tây An, thổ địa xứ này cũng bái kiến ông, Hứa Tốn hỏi ông ở đây có yêu quái hại không, thổ địa nói có Giao Long làm hại dân chúng, nhưng nó nghe Hứa Quân đến đã chạy trốn đến  bãi Ngạc. Hứa Tốn lập tức đuổi đến bãi Ngạc, trên đường gặp ba ông già vừa chỉ vừa nói: “Giao Long núp dưới cầu phía trước”.

ứa Tốn lên cầu cầm kiếm chửi lớn, Gao Long lập tức chạy loạn vào sông, nấp chỗ sâu. Hứa Tốn triệu tập thần binh lại đuổi, Giao Long từ trong dòng nước nhảy ra, Hứa Tốn chém một nhát chết tươi.Sau đó, ông nghe nói có một xứ khác ở đất Ngô cũng có Giao Long. Hứa Tốn lần này thay đổi biện pháp, ông vẽ bùa trên tảng đá, làm một bài văn trấn Giao Long, từ đó Giao Long cũng không thể làm hại được.

 Ngoài ra, ở Thượng Liêu cũng có một con rắn, dựa núi làm hang, phun khí thành mây, người và súc vật trong phạm vi hơi thở của nó 40 dặm đều bị nó nuốt hết, không sót một con nào, chiếc thuyền trên sông hồ thường bị con rắn lớn này đánh úp. Hứa Tốn biết sự việc này, bèn tập hợp đệ tử cùng truy sát.

Đúng lúc ông vừa tới, dân chúng xa gần hơn 300 người đều nghe gió thổi đến, họ đều nhờ ông cầu cứu. Hứa Tốn đáp lại lời chắc chắn vì họ trừ hại.

Ông đi đến nơi rắn ở, vung kiếm thần, rắn sợ hãi chui vào trong động. Hứa Tốn vẽ bùa triều thần biển rượt đuổi, con rắn bò ra, nó ngước đầu cao mấy trượng, mắt giống như lửa, khí độc xung thiên, dân làng la lớn để trợ chiến. Lúc bấy giờ Hứa Tốn kêu gió hú lôi,chỉ huy thần binh cùng tiến lên đè cứng nó, chân dẫm lên đầu nó chém một nhát đứt làm hai khúc. Đệ tử của ông cùng lúc đâm vào bụng rắn, có rắn con trong bụng bò ra, dài mấy trượng, đệ tử cầm kiếm chặt đứt. Hứa Tốn nói: “Rắn nhỏ không hại dân chúng, không nên giết loạn như thế”. Rắn nhỏ sợ hãi bò ra sáu bảy dặm, nghe thấy người ta lào xào cũng không dám quay đầu nhìn xác của mẹ chúng nó.

Đệ tử Hứa Tốn xin được đuổi theo giết, Hứa Tốn lại nói: “Rắn nhỏ này 1250 năm sau mới có thể hại dân chúng, lúc đó ta sẽ đích thân đến giết nó. Bây giờ trước đàn cây bách làm chứng, khi nào nhánh cấy rũ xuống mặt đất, chính là ngày ta xuống núi giết rắn”.  Ông còn có một lời tiên đoán” Khi ta lên trời 1240 năm sau, tại xứ Dự Chương sẽ xuất hiện 800 vị địa tiên, họ sẽ phát dương giáo nghĩa của ta. Khi giữa sông xuất hiện một bãi cát lâp miệng giếng thì ngày đó đến. Lúc đó, nếu như rắn con làm hại, 800 vị địa tiên sẽ giết nó”. Rắn con thừa cơ chạy chết non nửa.

 Hứa Tốn nói: “Rắn lớn tuy chết, tinh hồn của nó đã linh thông, chắc chắn biết cách nghĩ của ta, ta sợ nó sẽ trộm lén đánh thành để báo hận. Ta cần phải trở về quận thành.”.
Hứa Tốn do đạo thuật cao minh, xa gần nổi tiếng,có mấy trăm người muốn làm đồ đệ, ông đều không nhận, ông âm thầm lấy cây than biến thành người con gái đẹp, ban đêm để cho các đệ tử đến xem thử. Ngày thứ hai, sáng sớm chỉ còn lại mấy người không bị cám dỗ, còn lại xấu hổ đi dần hết.

Hứa Tốn bèn dẫn hai người đệ tử tốt nhất về quận.Lúc đó họ ở trong quận vui chơi gặp một thiếu niên phong độ nhẹ nhàng, biểu thị một nhân tài. Thiếu niên đó tự giới thiệu mình là họ Thận, lễ phép từ tốn, ứng đối tự nhiên, giới thiệu xong rồi đi, Hứa Tốn bảo với đệ tử rằng: “Vừa rồi thiếu niên ấy không phải là người, nó là con Giao Long già, cố ý hóa thân đến thử ta, tướng mạo nó giống chân thật nhưng cái mùi bức hiếp người, do đó ta làm bộ không biết để nó lộ mặt ra”.

Hứa Tốn dẫn đệ tử tiếp tục đi đuổi xét đến bờ sông quận thành, con Giao Long già hóa làm con bò nằm trên bãi cát. Hứa Tốn cắt chỉ biến thành con trâu đen đi đụng lộn với nó, chém trúng đùi của con bò, con bò chạy vào trong cái giếng của thành ở phía nam. Hứa Tốn vẽ đạo bùa đuổi theo dấu vết, phát hiện nó đến trong giếng ở Trường Sa biến thành hình người, bây giờ đã chạy vào nhà Giá Ngọc sứ quân.
Hứa Tốn đuổi theo la lớn: “Giang hộ giao long, hại ngườ quá lắm, ta đã tới rồi, ngươi còn không chịu  mau ra đây”. Giao Long cùng kế, chỉ còn hiện nguyên hình, bò trên mặt đất, bị sứ binh giết chết.Hứa Tốn dùng nước phun, hai con Giao Long nhỏ cũng chết luôn.

Hứa Tốn đến bãi Dự Chương, dư đảng của Giao Long rất nhiều, sợ bị giết chết lúc đó bèn biến thành người, đi dạo trong thành,chúng nó chạy đi bái kiến đệ tử của Hứa Tốn, nói  dối: “Nhà tôi ở Trường An, đời đời làm lành, nghe nói thầy của các ông Hứa Chân Quân có thần kiếm không biết tính năng thế nào?”.

Đệ tử đáp nói: “Thần kiếm của thầy chúng tôi, chỉ trời trời vỡ,chỉ đất đất nứt ra, chỉ sao thì sao loạn, chỉ sông hồ thì sông hồ cháy ngược dòng, vạn tà không chống nổi, mà còn được thánh hiện bảo hộ nữa”. Giao Long lại hỏi: “Có phải kiếm thần hại không được vật gì chăng?”. Đệ tử giỡn nói: “Có hộ thần tuy bén nhưng không thể thương hại hồ lô!”. Mấy con Giao Long tinh tin là thật, lúc đó bèn biến thành hồ lô trôi đầy sông, muốn định trốn đi luôn.

Hứa Chân Quân vừa tỉnh dậy sớm, cảm thấy yêu khí mù mịt, nhìn trong dòng sông, chỉ phát hiện mấy trái hồ lô đều là hóa thân của giao long tinh. Ông lấy thần kiếm đưa cho đệ tử, lội xuống nước giết không còn sót một con nào. Kiếm thần vừa chạm vào nước ở sông đều biến thành một màu đỏ tươi.Hứa Chân Quân nói: “Đây là sào huyệt của Giao Long, không tìm cách trấn áp, sau này xuất họa loạn thì ngươi không thể chế phục được”.

Ồng nhân đây triệu tập quỷ thần ở thành nam, đúc thiết làm cột, lại ở ngoài miệng giếng mấy thước, buộc 8 cây cột vừa cao vừa to trát chất kim loại vào, để khóa chặt mạch nước, chú ngữ trên trên cột thiết rằng: “Cột thiết nếu như nghiêng lệch thì giao tinh sẽ sống lại, đệ tử ta sẽ đến tiêu diệt chúng nó.

Cột trụ này ngay thẳng thì yêu quái mãi mãi tiêu trừ.” Trải qua một lần thay đổi chính quyền thủy yêu, toàn bộ bị đuổi ra khỏi thành, dân chúng không còn phải lo âu. Hứa Chân Quân sắp xếp xong, lại dự đoán răng: “Trụ thiết trấn thần châu, mãi chẳng xuất gian cừu, nếu có kẻ hưng mưu, ắt cần chẳng đến đầu”. Ông làm như thế là phòng ngày sau có gian hùng nhiễu loạn bá tánh.

Quả nhiên, đến Minh Đế niên hiệu Thái Minh năm thứ hai, đại tướng quân Vương Đội hưng binh tạo phản, đóng binh tại Tỳ Hồ. Hứa  Chân Quân và Ngô Quân khuyên ông dừng quân, Vương Đội bày tiệc chiêu đãi họ, trong tiệc rượu Vương Đội hỏi Hứa Tốn rằng: “Tôi mộng thấy một cây gạo cao chọc trời, không biết xấu tốt thế nào?” Hưa Tốn đáp rằng: “Đây là điềm không được tốt.” Ngô Quận nói tiếp: “Cây gạo cao chọc trời là chữ Vị, tướng quân không thể vọng động cân nhắc”.

Vương Đội vừa nghe mặt liền biến sắc, bèn mời Quách Phách tới bói thử, không ngờ Quách Phách bõi cũng không thành công. Vương Đội không vui, liền hỏi: “Ngài xem ta sống được bao nhiêu tuổi?”. Quách Phách nói: “Trưa nay mạng người đã hết”. Vương Đội nổi giận lôi đình, lập tức mệnh lệnh quan sĩ đem Quách Phác ra chém. Hứa Chân Quân chính mắt trông thấy sự việc xảy ra như thế liền quang cái ly ra đất, cái ly biến thành con hạc trắng bay quanh cột nhà. Vương Đội ngước đầu nhìn, Hưa Tốn, Ngô Quận hai vị đã đi không biết đâu.. Sau này,quả nhiên Vương Đội bại binh

Hai người đến Kim Lăng muốn thuê thuyền đi. Dự Chương, người chủ thuyền nói họ không có người dẫn đi. Hứa Chân Quân nói: “Anh nhắm mắt ngồi yên, không nên nhìn trộm, tôi sẽ vì anh đẩy chiếc thuyền ấy đi”.  Nói xong, ông âm thầm triệu lại hai con rồng kẹp chiếc thuyền bay đi, dần dần bay lên trời, không bao lâu vượt qua đỉnh Lô Sơn, đến Tử Tiêu Phong, Kim Đồng Động.

Hai người muốn vào trong động dạo chơi một lần, mà chiếc thuyền thì mắc ở trên cây, phát ra tiếng vi vu. Chủ thuyền vì không chịu nổi bèn mở trộm mắt nhìn, rồng nổi giận hất thuyền của ông lên đỉnh núi, be thuyền vỡ tan nát rơi trong hang sâu. Hứa Chân Quân nói với chủ thuyền: “Anh không nghe lời của tôi bây giờ phải làm sao?”.

Chủ thuyền quì lạy cầu cứu giúp, Hứa Chân Quân bảo anh ăn linh thảo, không ăn cơm, không bao lâu được tiên thuật bất tử. Sau này hai người cưỡi rồng về quê ẩn cư. Khoảng mười năm không hỏi qua chuyện thế sự, họ chuyên tâm tu luyện, ngày thường tỏ ra như người thường, chỉ khác là chỗ của họ có nhiều hạc trắng bay qua, và mây mù vây khắp nơi. Tuy nhà Đông Tấn mới lên dân chúng mãi ưu lo chẳng yên, nhưng chỗ ở của Hứa Chân Quân chu vi trong mấy dặm đều bình yên vô sự, trộm cắp cũng không dám xâm phạm. Ngoài ra,mỗi năm đều được mùa, người vật đều bình an, không ai biết được việc này.

Tấn Võ Đế niên hiệu Ninh Khang năm thứ hai, Hứa Chân Quân được 136 tuổi, mồng một tháng 8 năm đó, có hai vị tiên từ trên trời xuống, tự xưng là phụng mệnh Ngọc Hoàng đại đế, phong Hứa Tốn làm Cửu Châu đô Tiên Sái Sử Cao Minh thái sử, và ban cho ông áo bào tía, đồ trang sức quý báu, ngọc cao, kim đan mỗi thứ một hộp,đồng thời cũng báo ngày ông lên trời.

Hứa Tốn lúc đó bèn về quê cáo biệt cha già, lại tặng cho đệ tử 10 bài thơ khuyên răn. Đến ngày 15 tháng 8, xa xa nghe tiếng nhạc trời vang, mây lành chầm chậm, Vũ cái long xa, trong mây dừng đầy tiên quan, tiên binh, và tiên đồng ngọc nữ, tiền hô hậu ủng cùng hướng về Hứa Chân Quân hành lễ.

 Hứa Chân Quân bước lên xe rồng, ông mệnh lệnh cho người đệ tử giỏi nhất dẫn đường, con cái nhà ông 42 người thân quyến cùng theo luôn, thậm chí còn có cả gà chó đều đi, thật là náo nhiệt!
   
   

TRỊNH TƯ VIỄN


Trịnh Tư Viễn lúc trẻ là một thư sinh anh tuấn, giỏi về lịch. Về già tìm thầy học đạo, ẩn cư trong Lô Giang Mã Tích Sơn. Trên núi có con cọp, cọp mẹ bị người giết, cọp cha cũng lo chạy để lại hai con cọp nhỏ, Trịnh Tư Viễn rất yêu thương chúng nó, đem, thực vật cho chúng nó ăn. Sau này cọp cha tìm được nhà Trịnh Viễn, quì trên đất đất hướng về ông khấu tạ, từ đó muốn ở lại với Trịnh Tư Viễn không chịu đi. Do đó, mỗi khi Trịnh Tư Viễn ra ngoài chơi thì cưỡi cọp đi, còn hai con cọp con chở trên lưng kinh sách và dược liệu của ông đi theo phía sau.

Có một lần Trịnh Tư Viễn gặp người bạn là Hứa Ẩn, Hứa Ẩn đang mắc bênh đau răng, không có râu cọp thì trị không hết, Trịnh Tư Viễn được cọp đồng ý, ông bèn động thử nhổ râu cọp, mà con cọp nằm sát trên đất không nhúc nhích để ông nhổ râu. Hứa Ẩn trông thấy trố mắt đờ đẫn. Sau này Trịnh Tư Viễn đắc đạo thành tiên, được  tôn xưng là Đơn Dương Chân Nhân. “Liệt hổ tu” là việc ở thế gian rất nguy hiểm, nhưng người nhân đức vô địch có lòng yêu mến rông lớn có thể cảm động được kẻ hung hãm ngoan cường, cảm thông được với loài vật. Trịnh Tư Viễn nhổ râu cọp nói lên tính Nhân của đạo lý cảm thông. Chúng ta không thể học được sự thần ký của ông ta, nhưng không ngại học cái tính nhân ái của ông.
   
   
QUÁCH PHÁC


Quách Phác tự là Cảnh Thuần, người Vân Hỉ Hà Đông, học rộng nhiều tài, tinh thông kinh thuật. Tài ăn nói của ông thì không giỏi nhưng văn chương của ông thì cực kỳ hay. Từ phú của ông là tác phẩm văn học đứng đầu Triều Tấn. Ông có thiên tính thích văn xưa chữ lạ, giỏi về toán số. Có người tên là Quách Công trọ ở Hà Đông, giỏi về bói cỏ thi, Quách Phác bái ông làm thầy và được truyền chín quyển sách Thanh Tương. Do đó, ông thông hiểu các đạo thuật âm dương, ngũ hành, thiên văn, bói toán, có thể vượt lên điều tốt tránh điều xấu, tiêu trừ tai họa, dù cho Quản Lộ, Đại sư Kinh Phòng của triều Đông Hán cũng sánh không nổi trình độ của ông.

Môn đồ của Quách Phác là Triều Tài trộm sách Thanh Tương của ông, chưa đọc xong đã bị lửa cháy hết. Khoảng thời gian Huệ Đế, Hoài Đế ở Hà Đông ưu nhường chẳng an, Quách Phác biết dân chúng sắp bị loạn, thì âm thầm cùng gia quyến và bạn bè khoảng 10 gia đình chạy trốn đến Đông Nam đầu hàng Triệu Cố. Chính lúc ngựa giỏi của Triệu Cố bị chết, Triệu Cố rất thương tiếc do đó không tiếp tân khách.

Quách Phác đi đến cổng, người gác cổng không chịu thông báo, Quách Phác nói với anh ta rằng: “Tôi có thể khiến cho ngựa chết sống lại được”. Người gác cổng vừa nghe kinh ngạc vội chạy đi thông báo, Triệu Cố chạy nhanh ra nói:  “Tiên sinh thật có thể khiến con ngựa của ta sống lại chăng?”.

Quách Phác nói: “Tìm ba mươi chàng trai vạm vỡ, mỗi người cầm một cây cần trúc dài, nhắm hướng đông nam đi 30 dặm, đến một cái miếu, trên gò có một rừng cây liền dùng cần trúc đập, đập xong sẽ hiện ra một vật, mang nó về nhà, cho ngựa ăn có thể sống lại”. Triệu Cố y theo lời ông, quả nhiên được một vật giống như con khỉ, mang về. Vật ấy vừa thấy con ngựa chết liền đến gần dùng sức lao vào mũi nó, trong khoảng khắc cong ngựa liền đứng dậy thở như bình thường, còn con vật đó cũng không biết đi đâu. Triệu Cố rất tán dương diệu đạo của Quách Phác, tặng cho ông nhiều lễ vật.

Từ đó, Quách Phác đến Lô An Giang, ông khuyên Thái Thú Mạnh Khang chạy sang Nam Đô, Hồ Mạnh Khanh không đáp lời, Quách Phác trong lòng thương mến nữ tỳ của ông, lúc đó bèn lấy đậu cỏ rải chung quanh nhà chủ nhân. Chủ nhân trông thấy người mặc áo hồng chạy xung quanh nhà mình, nhưng nhìn kỹ thì biến đâu mất, trong lòng rất ghét liền mời Quách Phác xem bói. Quách Phác nói: “Nhà của ngươi sở dĩ như thế là vì không nên thâu chứa nữ tỳ, ngươi nên đến một địa phương ở phía đông nam 20 dặm, đem họ bán đi, dù thế nào đi nữa cũng không nên tính giá tiền, làm như thế có thể tiêu trừ yêu quái”. Chủ nhân lập tức làm theo, Quách Phác tìm người cần dùng nữ tỳ giá tiền thấp nhất bán mấy người nữ tỳ này. Sau đó, ông quăng một đạo bùa vào trong giếng, có mấy ngàn người mặc áo hồng bỗng nhiên đều tự trói mình lại, từng người nhảy vào trong giếng, còn Quách Phác cũng dẫn các nữ tỳ đi luôn.

Qua mấy ngày, Lô Á Giang thất hãm, Vương Đạo dẫn bình sang sông, ông rất tôn kính Quách Phác, đặc biệt làm lễ mời ông làm tham mưa. Có một lần, Vương Đạo bói một quẻ, Quách Phác nói: “Ngài sắp có tai nạn, ngài đi về hướng tây mười dặm, gặp một cây bách thì đốn nó, chặt một đoạn dài cỡ bằng người của ngài, đem về để trong phòng ngủ thì có thể tránh được tai họa!” Vương Đạo y theo lời ông mà làm, qua mấy ngày, quả nhiên một hôm sét đánh khúc cấy bách ấy tét làm đôi.

Lúc mẹ Quách Phác qua đời, Quách Phác táng bà ta ở Tầm Dương, phần mộ cách dòng sông khoảng 100 bước. Thời đó, người ta cho rằng táng quá gần bờ sông sẽ không tốt, ngược lại Quách Phác nói: “Ở đây không bao lâu sẽ biến thành lục địa”. Sau này, chỗ đó do cát bồi, chung quanh ngôi mộ mấy mươi dặm đều thành ruộng đồng.
Có một lần Quách Phách xem phong thủy cho người ta, Minh Đế giả làm dân chúng âm thầm đi xem, ông hỏi nơi đất chủ chủ nhân nói: “Làm sao có thể chọn được long huyệt? Chỗ này sẽ bị diệt tộc ngài biết không?’. Chủ nhân trả lời: “Quách Phác tiên sinh đã từng nói, chỗ này nên táng, long huyệt đấy, ông nói không quá ba năm thiên tử sẽ xuất hiện chỗ này”. Minh Đế lại hỏi: “Chỗ này sinh ra thiên tử chăng?” Người đó nói: “Không sinh ra thiên tử, mà là có thể thiên tử đến chỗ này”. Minh Đế nghe xong bất giác thán phục.

Tài học của Quách Phác người đương thời rất kính trọng, tính tình của ông rất bình dị, không chú ý đến ăn mặc, lại  ưa thích tửu sắc, thường phóng túng ham muốn. Bạn của ông là Vu Bảo Thời khuyên ông nói: “Đó không phải là chánh đạo tu thân dưỡng tánh”. Quách Phác đáp lời ông nói: “Trời phú cho ta có hạn, sợ dùng không hết, ông đâu cần lo lắng tính tình tửu sắc của ta”.

Quách Phác mới cùng Hoàn Di rất quý mến nhau, lúc Hoàn Di bái thăm Quách Phác, thường đụng phải Quách Phách ăn ở với người con gái, Quách Phác nói với ông rằng: “Lời ngài nói, dù nơi nào đêu có thể đi, nếu không thì đến trong nhà cầu đánh tôi, không thì hai người chúng ta sẽ gặp tai họa”. Sau này, Hoàn Di vì say lạc vào nhà cầu, ông bèn đi phía sau cửa nhìn trộm, thấy Quách Phác đang xõa tóc, thân trần trụi. Quách Phác vừa thấy Hoàn Di không nhịn được, than rằng: “Tôi dặn dò ngài đừng nên đến đây, mà ngài cũng đến, không những tôi gặp tai ương mà ngài cũng không tránh được rủi ro, đây đều là ý trời có thể trách ai chăng!”. Không bao lâu,Quách Phác bị Vương Đội giết chết, Hoàn Di cũng chết dưới ngọn đao của Tử Tuấn (Muốn rõ tình tiết xem thêm bài “Hứa Tốn”).

Trong lúc Quách Phác bị hình phạt, từng hỏi đao phủ thủ đến đâu thì hành hình. Đao phủ thủ nói đến Nam Cương đầu, Quách Phác nói: “Nơi đó chắc chắn là dưới hai cây bách, trên cây còn có tổ chim khách.” Khi đến Nam Cương, tất  cả đều y như lời đoán của Quách Phác.

Nơi này nhiều năm trước, có một lần Quách Phác qua con đường vượt thành, bỗng nhiên gặp được một người, ông kêu người đó lại, nói tên họ của ông, Quách Phác cởi thắt lưng tặng cho ông ta, người kia từ chối không nhận, Quách Phác nói: “Ngài cứ thâu nhận, về sau ngài sẽ rõ”, người đó mới nhận. Không ngờ sau bao nhiêu năm, họ cuối cùng gặp nhau ở pháp trường, thì ra người đó là đao phủ thủ, phụ trách trảm Quách Phác.

Trước khi Quách Phách gặp nạn, đã dặn dò người nhà chuẩn bị quan tài đến chỗ hành hình, và còn di chúc chôn giữa hai cây tùng ở bến sông, có thể thấy ông đã sớm biết rõ ràng. Sau ba ngày ông bị giết, dân chúng ở chợ lại trông thấy Quách Phác ăn mặc như ngày thường cùng bạn bè ở đầu phố nói chuyện. Vương Đội vừa nghe rất đỗi kinh ngạc, lập tức mở quan tài xét tử thi, không ngờ trong quan tài trống không. Mọi người nói đấy là thuật “thi Giải”của Quách Phác.

Quách Phác sinh tiền trước thuật rất nhiều, ông đem sáu mươi mốt sự tình đoán quẻ ứng nghiệm biên tập thành sách, gọi là Đổng Lân văn sao. Còn có Tân Lâm tập biên, Bốc vận thập biên. Ồng từng chú thích sách Nễ Nhã, Phương ngôn, Mục Thiên tử truyện, Sơn hải kinh, v,v…. Ông có làm ra 14 bài thơ du tiên rất nổi tiếng, là một kiệt tác bất hủ truyền lại cho đời. Thân sau của Quách Phác được phong làm Thủy Phủ Tiên Bá. Con trai ông là Quách Ngao sau này làm Lâm giá thái thú.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, mavuong, tadamina
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2011, 03:41:28 am »

(tiếp theo)

MA CÔ

Ma Cô là người Thạnh Lạc. Bà là con gái của Ma Thu. Ma Thu tính tình hung bạo, lệnh dân chúng xây thành ngày đêm không cho nghỉ ngơi. Làm mãi cho đến gà gáy sáng mới được nghỉ. Ma Cô thương mến trăm họ cực khổ, lúc đó thường giả tiếng gà gáy, bà vừa gáy, đàn gà cũng gáy theo, công việc xây thành cũng sớm được nghỉ. Sau này, bị cha mẹ phát hiện, nổi giận dùng roi mây xử phạt bà. Ma Cô trốn đi, đến Tiên Cô động tu luyện, về sau ở Bắc Thạch Kiều bay lên trời, dân chúng vì cảm nhớ bà gọi cây cầu là Vọng Tiên Kiều.
   
   
CÁT HỒNG

Cát Hồng tự là Trì Xuyên, người Cú Dung, vì nhà nghèo nên đi đốn củi đổi lấy giấy mực, ban đêm đọc sách học chữ, sau này trở thành một học giả nổi tiếng. Tính tình ông đạm bạc, không ham thích gì, ngày thường ít nói chuyện, cũng không thích vinh hoa phú quý, mỗi ngày đóng cửa tự tu, khỏng giao du với ai.

Khi ông đọc sách có vấn đề khó hiểu, dù xa ngàn dặm cũng nhờ bậc cao minh chỉ dạy, ông đặc biệt thích đạo thuật của thần tiên. Khi Tổ Huyền học đạo thành tiên, truyền đạo cho đệ tử là Trịnh Ẩn, Cát Hồng liền bái Trịnh Ẩn làm thầy, hoàn toàn được chân truyền của ông. Không bao lâu về sau ông bái Nam Hải Thái thú Bao Huyền, Bao Huyền tinh thông đạo thuật, biết bói quẻ, chiêm tinh, ông đoán biết Cát Hồng ắt thành bậc đại khí, liền đem con gái gả cho ông.

Cát Hồng được sự truyền thọ của Bao Huyền, lại thông y thuật, ông hạ bút ngàn lời trôi chảy, tài học hơn người. Vương Đạo hâm mộ tài nghệ mời ông làm quan, ông đều khéo từ chối. Sau này Cát Hồng nghe nói vùng nọ xuất đan sa, tiền tự động yêu cầu làm một chức quan nhỏ. Hoàng Đế vì dùng người tài không đúng chỗ, nên không nhận lời. Cát Hồng giải thích không phải vì vinh hoa hư dối, mà vì muốn luyện đơn, Hoàng Đế mới chịu để cho ông đi.

Cát Hồng sau khi nhậm chức ở La Phù Sơn, mỗi ngày luyện đơn, ở trên núi bảy năm, ưu du năm tháng, chuyên tâm trước thuật. Ông thấy một số người (đọc sách) học,chỉ biết phục nể Chu Công, Khổng Tử mà không tin thần tiên, không những cười mà còn phỉ báng, do đây viết thành lập thuyết, tất cả 116 thiên, phân làm hai thiên, nội thiên và ngoại thiên. Tên sách là “Bao Bốc tử”, từ đây hoằng dương giáo đạo, trở thành nền tảng trọng yếu kinh điển và lý luận của Đạo giáo.

Năm ông 81 tuổi có một hôm viết thư cho bạn là Đặng Nhạc, ông nói là sắp đi xa bái sư, liền xuất phát luôn. Đặng Nhạc tiếp được thư liền liền vội đến tiễn đưa ông còn Cát Hồng trưa hôm ấy ngồi ngay thẳng, không bệnh mà chết. Đặng Nhạc thấy sắc mặt của ông như còn sống, chân tay vẫn mềm mại, đem thi hài vào quan tài chỉ có một bộ đồ không.

Cát Hồng đi đâu? Chỉ có cõi thần tiên mới biết được.
   
   
HOÀNG DÃ NHÂN

Hoàng Dã Nhân là đệ tủ của Cát Hồng, lúc Cát Hồng ở trên núi luyện đơn, Dã Nhân thường theo hầu kề bên. Cát Hồng sau khi thành tiên, để lại tiên đơn ở trong trụ đá tại La Phù Sơn, Dã Nhân tìm được một viên uống, không bao lâu thì tu thành địa hành tiên. Nghe nói nhục thân của ông ta vẫn còn, người có duyên ngẫu nhiên sẽ gặp được ông. Sau này có người đi chơi La Phù Sơn, ngủ trong sơn động, ban đêm thấy một người thân thể trần trụi không mặc quần áo, còn toàn thân mọc đầy lông màu xanh dài thườn thượt, lúc đó bèn bái lạy ông, và hỏi đạo với ông. Người cả thân mọc lông xanh dài không có gì phải chú ý, chỉ nghe mấy tiếng cười lớn, âm thanh rất lớn chấn động khu rừng cây. Sau đó, ông lại hát bài ca rằng:

“Vận lai vạn linh động, vận khứ thiên nhất sắc
Trường tiểu lưỡng tam thinh, không động thu nguyệt bạch”.

Có người nói người lông dài màu xanh quái dị đó chính là Hoàng Dã Nhân.
   
   
PHẠM BÁO

Phạm Báo là người Tứ Xuyên, ông tu luyện ở cồn bãi sông, trăm dặm thở ra có màu sáng, mùa đông chỉ mặc một cái áo. Lúc Hoàn Ôn đương quyền, đầu tóc ông đã hoa râm, đến thời Tống Văn Đế dung mạo đều không thay đổi. Ông có thể đoán được kiết hung, do đó có người hỏi ông rằng ông ta có phải là tiên giáng chức không? Ông dáp rằng: “Tôi đã từng chính mắt trông thấy Châu Võ Vương thảo phạt vua Trụ”. Văn Đế triệu kiến ông, Phạm Báo đi ngang qua Thái tử, lấy tay chỉ cửa cung nói: “Trong đây có con chim Bá lao, nuôi dưỡng như thế nào thì cũng là giặc”. Văn Đế trong lòng không vui, bèn ra lệnh cho Phạm Báo nhảy xuống sông tự vẫn.

Năm thứ hai sau khi ông chết, đệ tử của Phạm Báo là Trần Chi, nửa đêm thức dậy, bỗng tháy ánh sáng  như ban ngày, thì ra Phạm Báo trở về, đi theo ông là một ông cụ. Phạm Báo đối với ông cụ rất mực tôn kính. Trần Chi hiếu kỳ hỏi người đó là ai. Phạm Báo cười mà không đáp, không bao lâu hai người ấy đều đi. Văn Đế nghe nói, mở quan tài Phạm Báo ra xem cũng không thấy thi thể.

Bạo quân thường căm giận chân lý, nhưng chân lý dĩ nhiên là chân lý, đâu có một quyền lực nào có thể áp bức tiêu diệt.

   
LƯU CƯƠNG


Lưu Cương tự là Bá Loan, triều Tống làm quan Huyện ở Thượng Ngô, ông và vợ ông là Phạm phu nhân đều có đạo thuật, có thể sai khiến quỷ thần, biến hóa nhiều thứ. Sau này, hai người âm thầm tu luyện, tuyệt đối không để cho người chung quanh biết. Lưu Cương cần, chính, thương dân, được dân chúng địa phương kính mến. Trong huyện ông không có tai nạn, hạn hán, thủy tai và ôn dịch, mỗi năm mùa màng đều trúng, nhà nhà an cư lạc nghiệp. Lúc nhàn rỗi, Lưu Cương thường cùng phu nhân so tài pháp thuật. Ví dụ, Lưu Cương nổi lửa thiêu đốt nhà cửa, lửa từ phương đông tới, còn phu nhân biến thành một trận mưa từ phương tây đến dập tắt. Lại như trong sân nhà có hai trái đào, phu nhân dùng chú niệm khiến một trái rụng trong gió, Lưu Cương ngược lại, niệm chú mấy lần đều rớt ngoài gió. Lại nữa, Lưu Cương nhỏ nước trong cái mâm, liền biến thành con cá, phu nhân có thể nhổ nước bọt biến ra con rái cá, bắt con cấ nuốt luôn.

Có một lần Lưu Cương cùng phu nhân đi đến Từ Minh Sơn, giữa đường gặp một con cọp, con cọp quỳ giữa đường không chịu đi, nhìn Lưu Cương rống hoài, phu nhân lập tức đi đến trước mặt cọp, con cọp liền cúi đầu xuống đất không dám nhìn phu nhân. Lúc đó, phu nhân lấy dây thừng trói con cọp dẫn về nhà, và buộc ở bên giường.
Cũng đều giống như thế, Lưu Cương mỗi lần so tài đều không thắng nổi phu nhân. Sau này, họ lên trời, trong huyện có một cây cao lớn, Lưu Cương leo lên mấy trượng mới có thể bay đi, còn phu nhân ngồi yên trên giường, từ từ bay lên, nhẹ nhàng như một đám mấy, hai người vừa trước vừa sau bay lên trời.

Ở trên trời, hai người vẫn không ngừng so tài pháp thuật, so tài hoài. Lưu Cương phải bái phục chịu thua, thật là một đôi  vợ chồng thần tiên đáng kính.

Trang Tử nói: “Tương như dĩ mạt, bất như tưởng, Vong Vu giang hồ”. Vợ chồng chẳng phải là kết hợp tình dục, cũng phải là đồng tu đạo đức, đồng tham chân lý.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, mavuong, tadamina
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Sáu 03, 2011, 03:45:05 am »

(tiếp theo)

ĐÔNG LÃNG THÁNH MẪU


Đông Lãng Thánh Mẫu là người Hải Lăng, bái Lưu Cương làm thầy, sau này đắc đạo có thể biến hóa tàng hình. Bà lấy chồng là Đỗ Thị, ông này không tin đạo, thường nổi giận với bà, có khi Thánh Mẫu đi trị bệnh cứu người, Đỗ Thị càng thêm nổi giận. Cuối cùng đi cáo quan phủ muốn đuổi Thánh Mẫu ra khỏi nhà. Lý do của ông là Thánh Mẫu không lo việc nhà, quan phủ tin cho là thật liền bắt Thánh Mẫu giam vào ngục. Nhưng không bao lâu, Thánh Mẫu từ trong cửa ngục bay ra, nhiều người đều trông thấy cảnh kỳ lạ này, Thánh Mẫu bay vào trong mây để lại đôi giày trước cửa.

Dân làng lập đền thờ cúng bái Thánh Mẫu, hễ cầu thì ứng liền (có cầu tất ứng). Thường ngày có con chim xanh bay đến nơi cúng, có người mất đồ đạc lại hỏi Thánh Mẫu. Con chim bèn bay đến nóc nhà kẻ trộm, do đó trong làng không ai dám trộm cắp.
   
   

GIAO CHỈ ĐẠO SỸ


Thành Vạn Châu ở  phương nam có một đạo sỹ, tự nói là 99 tuổi, người Giao Chỉ. Ông vượt trùng dương đến đây, vì thuyền bị hư nên ông ở lại kết cỏ tranh làm nhà ở.

Đạo sỹ nuôi một con gà, chỉ lớn bằng con nhền nhện, mỗi ngày đều để trên cái gối gác đầu, gà vừa gáy thì ông dậy liền. Ngoài ra, ông còn nuôi một con khỉ, chỉ lớn bằng con cua, con tôm. Ông dùng dây buộc con khỉ dưới chân bàn. Đạo sỹ ăn cơm xong, con khỉ bèn nhảy lên bàn ăn hết chỗ cơm còn lại. Ông lại còn nuôi một con rùa lớn bằng đồng tiên, đển nó trong cái hộp, rãnh rỗi đem nó ra chơi.

Thời đó có một hòa thượng là pháp sư Huệ Hồng, trông thấy đạo sỹ này có đồ vật nhỏ kỳ quái liền đùa nói với ông rằng: “Tiên sinh thật là một thần tư lệnh của nước người bé nhỏ”.

Nhà Phật nói: “Du hí thần thông”. Giao Chỉ đạo sỹ có thể là một bậc vô quý đương thời.
   
   
VƯƠNG HUYỀN PHỦ

Vương Huyền Phủ là người huyện Bái, bái sư dị nhân Đặng Bá Nguyên, học đạo ở Tiêu Sơn Xích Thành. Ông mỗi ngày chuyên tu phương pháp phản quang nội chiếu…34 năm sau có thể thấu rõ ruột gan nội tạng cơ thể mình, ban đêm không đốt đèn cũng có thể thấy chữ để đọc sách. Tần Mục Đế niên hiệu Vĩnh Hòa năm thứ nhất ngày mông 1 tháng giêng, Thiên Đế phái một chiếc xe có cặp cánh rước ông lên trời và còn phong ông là Trung Nhạc Chân Nhân.
Trong sách Trang Tử đề cập đến “Sở luận ngũ tạng, tháo huyết tinh thần”.Một số người cho là hình dung một thứ tâm lý hoàn cảnh nào, thì tinh thần trí tuệ vẫn trong sáng, nhưng cái học của người Đạo giáo là thực tiễn chứ không phải là lý luận, do đó có nhiều tư tưởng triết học của Đạo gia hoặc là trực giác tưởng tượng. Đến Đạo giáo thì biến thành sự thực hiện hữu, giống như Vương Huyền Phủ thấy nội tạng, ban đêm đọc được sách, cảnh giới này trong Phật giáo cũng có nhiều (đặc biệt là Mật Tông).
   
   
TẠ TRỌNG SƠ


Tạ Trọng Sơ là người Viễn Châu Vạn Giới, tu đạo ở Cát Vạn Sơn. Sau khi đắc đạo ông trở về quê hương, lúc đó đi ngang qua Huyện Thành, ông phát hiện tại đây một giọt nước cũng không có, ông nghĩ trong lòng ở nơi đây chắc chắn đã từng hạn hán, trên mặt đất một tấc cỏ cũng không mọc nổi. Ông không ngờ trong khoảng thời gian mình ẩn cư tu luyện, hoàn cảnh quê hương gặp bất hạnh như vậy, tìm kiếm bốn bề không gặp ai cả, bất giác sanh lòng thương tiếc, cảm khái vô ngần, mình đã tu thành đạo mà quê hương vẫn gặp tai nạn.

Đương nghĩ ngợi ông muốn làm việc gì đó cho quê hương. Chỉ thấy ông vèo một tiếng, rút bảo kiếm ra sau đó nhẹ nhàng đâm xuống đất, thật kỳ lạ trong đất bỗng nhiên vọt ra một dòng nước thơm trong sạch sẽ, ngọt ngào trong chốc lát biến thành một cái hồ. Tạ Trọng Sơ thuận tay phất một cái, biến ra một nhánh trúc xanh, ông đạp nhánh trúc đi qua hồ.

Tạ Trọng Sơ sau cùng ở tại Tạ Sơn bay lên trời.
   
   
VƯƠNG GIA


Vương Gia tự là Từ Niên, người làng Long Tây An Dương. Tướng mạo ông rất xấu nhưng tính tình dí dỏm rất thích vui đùa. Binh thường ông không ăn ngũ cốc, không chú ý ăn mặc cũng không tới lui với người đời. Mình ông ẩn cư ở Đông Dương cốc, đào một cái sơn động bên trong. Ông có thể dự đoán, nhưng lời dự đoán của ông mù mờ, đương thời không có người hiểu được, khi sự việc xảy ra ngồi ngẫm nghĩ mới thấy rất linh nghiệm.

Lúc Phù Kiên đi nam chinh, phái người tới Vương Gia xem bói. Vương Gia trả lời nói: “Kim kiên hỏa cường”, nói xong nhảy lên ngựa của sứ giả, áo mão chỉnh tề, đi từ từ về hướng đông mấy trăm bước, sau đó lại đánh ngựa quay về, cởi áo mão, xuống ngựa, ngồi trên giường buồn bã không nói lời nào. Phù Kiên không hiểu ý của ông, bèn phái người khác quay lại hỏi ông vận mệnh nước như thế nào? Vương Gia nói: “Vị ương”. Vận nước còn chưa dứt. Phù Kiên vui mừng cho là đều tốt, không ngờ năm thứ hai Phù Kiên đại bại ở Thọ Xuân, nước Tần cũng mất. Thì ra, ý nghĩa của Vương Gia là “nhất ngữ song quan” “vị ương” là tai ương vị niên, “tai ương ở năm chót”. Phù Kiên qua phương nam thất bại, năm đó chính đang là Quý Mùi niên. Cho đến như ý nghĩa của câu: “Kim kiên hỏa cương” thì ra là: Triều Tấn ở phương nam thuộc hỏa trong ngũ hành, Tấn ở phương bắc thuộc kim, lửa có thể đốt cháy vàng, do đó quả nhiên Phù Kiên bị đại bại.

Sau này, Vương Gia dời về ở Sùng Cao Sơn, Đào Tường và Phù Đăng ở thế giằng co, Đào Tường tới hỏi Vương Gia: “Nếu như ta giết được Phù Đăng, có thể lấy được thiên hạ không?”. Vương Gia đáp rằng:”Có thể đươc một chút”. Đào Tường nổi giận nói: “Được thì là được, tại sao chỉ được một chút”. Vừa giận lệnh đưa Vương Gia và hai người đệ tử ra chém. Nhưng đồng thời lúc đó, một bộ tướng của Đào Tường ở bên đường Long Thạch thấy Vương Gia và hai đệ tử đang bách bộ rong chơi. Đào Tường không tin, hạ lệnh mở quan tài khám thi thể, không ngờ trong quan tài chỉ có một cây gậy trúc, ngoài ra không có gì nữa cả.
   
   
UNG KHIÊM

Ung Khiêm người Ngụy Quân, tinh thông Kinh Dịch, từng làm nghề bói quẻ ở Thành Kiến Khang để sinh sống. Ông mỗi ngày bói năm quẻ, mỗi quẻ một trăm đồng. Ông đem 300 đồng phụng dưỡng cha mẹ, hai trăm đồng mua rượu uống, còn dư thì bố thí cho người nghèo. Mỗi ngày chỉ cần 500 đồng, có người bỏ ra 1000 đồng cũng không bói.

Vào triều Tấn, Hải Tây Cương, một hôm trông thấy một con rắn đỏ cuộn tròn trên long sàng, trong chốc lát thì không thấy nữa. Ông mời Ung Khiêm đến bói, Ung Khiêm nói với ông:

“Giang sơn của triều Tấn vững như bàn thạch, chỉ sợ bệ hạ có nguy hiểm thoái vị”.  Hải Tây Cương vội vàng hỏi: “Có biện pháp nào tiêu diệt không?” Ung Khiêm nói: “Năm sau nên có đại tướng quân thất lợi khi đi chinh phạt phương Bắc, đến lúc ấy tổn thất ba vạn người, như vậy mới có thể tiêu tai”.

Sau này, đại tướng quân Hoàn Ôn đi chinh phạt phương Bắc, quả nhiên thất bại, về đến Thành Thạch Đầu, thật sự phế Hải Tât Cương, lập riêng Giản Văn Đế. Hoàn Ôn sinh Hoàn Huyền, khi đó phu nhân sinh rất khó, cả buổi sanh không đặng. Ung Khiêm bói nói: “Chuồng ngựa thứ sáu bị hư, đứa con sẽ sinh ra dễ dàng. Nó là con trai, tiếng nói to lớn, sau naỳ sẽ vang danh bốn biển”.

Hoàn Ôn rất vui mừng, bèn tặng cho ông 30 vạn, phu nhân cũng tặng 30 vạn, Ung Khiêm định từ chối, Hoàn Ôn kiên trì muốn ông nhận. Ung Kiêm được tiền, ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ ra, mỗi ngày ông xem quẻ càng ít lại, chỉ bói ba quẻ thôi, tiền dư mời khách cùng uống rượu, cũng không cần quen hay lạ.Cho đến một hôm mẹ ông qua đời, Ung Khiêm an táng bà xòng rồi không biết đi đâu. Mấy ngày sau có người trông thấy ông nằm trên đường Lạc Tình, dường như bị say, lấy tay đẩy mới phát hiện một bộ đồ không, bên trong không có gì cả.

   


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dieunha, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, mavuong, tadamina
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.433 seconds với 24 câu truy vấn.