Tháng Tư 25, 2018, 01:16:04 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 5 6 [7]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ ĐẠO GIÁO *** Nguyên tác:- 仙 學 辭 典  (Đọc 14291 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #90 vào lúc: Tháng Năm 07, 2011, 11:28:32 pm »

(tiếp theo)

TIỀN HẬU HUYỀN 前後弦


Nguyệt vào ngày mùng tám là tiền huyền, trong âm sinh ra nửa chân dương, dược miêu còn mới không thể sử dụng làm thành đan . Nguyệt vào ngày 23 là hậu huyền, trong dương đã sinh ra nửa âm, dược khí già hỏa hậu quá độ, dương quang suy yếu, dùng nó không giúp gì được. Chung Tổ nói: “Sau khi tiền huyền tìm dược vật, trước khi hậu huyền khí lưỡng toàn. Giữa lúc hai huyền là thái thủ, tiên hậu tồn vong định gốc rễ”.
 


TIỀN HẬU HUYỀN GIAN 前後弦間


Nguyệt vào ngày 15, ngày 16 là lúc ánh sáng rực rỡ tròn đầy, trong khoảng không tiền không hậu ắt có hiện tượng mờ mịt, là đúng lúc nên thái dược. Tổ Tử Dương nói: “Sau khi tiền huyền trước khi hậu huyền, dược vị bình thường khí tượng toàn, thái dược đem về nung trong lò, nung thành ôn dưỡng tự nấu sắc”.

TIỀN HẬU TAM TAM 前後三三


Trước ba ba là quẻ Càn của quẻ Cấu về trước, thuần dương trong dương, dương khí tiền huyền nửa cân. Sau ba ba là quẻ Càn của quẻ Quải  về sau, thuần dương trong âm, dương khí hậu huyền nửa cân. Hai thứ nửa cân hợp làm 16 lượng. Mười sáu là số ánh sáng đầy đủ một cân. Như con người đến năm 16 tuổi là thời kỳ dương khí thịnh nhất, là thể trinh nguyên tiên thiên. Một trăm sáu mươi cân là một đảm, đều là tiên thiên âm dương, là thời kỳ chưa phân xét. Tổ Đan Dương nói: “Trước ba ba, sau ba ba, sắp xếp thành một đảm”.

TIỀN NHẤT VỊ 前一位

Lúc ngủ, thần tiên giác là chân ý. Nếu giác rồi mà giác nữa thì đã là hậu giác, không thể coi là tiền nhất vị. Cổ nói: “Hằng tháng thường thêm Tuất, hằng giờ thấy Phá quân, Phá quân tiền nhất vị, thệ nguyện không truyền người”.

TIÊU BẢO TRÂN (TIÊU TỔ) 蕭保珍

(?-1166) Đạo sĩ thời Kim, sáng lập ra đạo Thái Nhất. Người Vệ Châu (nay là huyện Cấp, Hà Nam). Đầu đời Thiên Khoán Kim Hi Tông (1138-1140), sau khi đắc đạo, tức là sau khi được tiên thánh truyền cho bí lục để cứu người, thì mọi việc cầu cùng cấm đoán, không gì là không linh nghiệm. Đầu đời Thiên Khoán, đạo này lan rộng rất nhanh từ nơi ở phát triển đến phía đông Vệ Châu, rồi được học trò truyền bá tới vùng Triệu Châu, Hà Bắc, Chân Định. “Xa gần hưởng ứng, nhận bùa làm môn đồ, trong vòng một năm đã tới con số hàng nghìn”. Năm Hoàng Thống 8 (1148), Hi Tông nghe tin, cho vời đến kinh khuyết, lấy lễ tiếp đón, ban am cho ông ở gọi là “Thái Nhất Vạn Thọ quán”. Mất năm Kim Định 6 (1166). Sau này được Nguyên Thế Tổ ban cho hiệu là “Thái Nhất Nhất Ngộ Truyền Giáo chân nhân”, đổi quán Thái Nhất Vạn Thọ thành “Thái Nhất Quảng Phúc Vạn Thọ cung”.

TIÊU TỨC 消息

Chỉ sự vật thịnh suy, vinh khô. “Tiêu” nghĩa là tiêu vong. “Tức” nghĩa là tăng trưởng. Quẻ Phong, Kinh Dịch ghi: “Trời đất đầy vơi, theo thời vận mà tiêu vong, sinh trưởng” (Thiên địa doanh hư, dữ thời tiêu tức). Còn chỉ sự biến hóa tiêu trường của âm dương trong một quẻ, là một hình thức quái biến trong quẻ Dịch. Trong một thể quái, phàm là hào dương ra đi, hào âm trở về thì gọi là “Tiêu”, hào âm ra đi mà hào dương trở về thì gọi là “Tức”.

TIỂU CHU THIÊN 小周天

Pháp luyện đan  có thời gian có hỏa hậu, có sổ tức, có khởi chỉ, có động tĩnh như nhật nguyệt vận hành, có quy luật nhất định, không thể nói xằng làm bậy. Tổ Trùng Dương nói: “Ngủ thì bắt vượn giữa ngựa, tỉnh rồi lại hái quỳnh chi. Mỗi khi tựa vào chỉ cho tâm biết, công phu này trong trăm ngày thành tựu”.

TIỂU HÀ XA 小河車


Tức là sự vận hành thăng giáng lúc thực hành tiểu chu thiên. Muốn được Huỳnh nha ắt trước phải tưới mát, giống như nông cụ guồng nước, chuyển nước ngược lên mà chu lưu không dứt. Tiên Tông ghi: “Đan điền thẳng đến đỉnh nê hoàn, tự vận hà xa mấy trăm lần”.

TIỂU VÃNG ĐẠI LAI 小往大來


Vận kỷ hống là tiểu vãng, được chân diên là đại lai, đây là long hổ giao chiến, nhật nguyệt đồng cung. Tham Đồng ghi: “Âm dương giao tiếp, tiểu vãng đại lai, tụ tập nơi Dần vận chuyển theo giờ”.

TIỂU DƯỢC 小藥


Ở nơi thần khí giao hội lâu dài mà hỏa đan  điền phát, sản sinh giống như xích tử, trong lúc trên dưới xung đột, tức chẳng phải khí, nhưng có thể ngăn cho lục dục thất tình không sinh, nên dụ  là dược. Do sức dược còn yếu không thể trị cái khổ sinh tử nên còn gọi là tiểu dược. Nhưng dược này là dụng của hậu thiên, bỏ Quý lấy Nhâm mà được, vì từ không mà sinh có. Thể Chân Tử nói: “Lúc tiểu chu thiên lấy nguyên khí làm tiểu dược, lúc đại chu thiên lấy nguyên thần làm đại dược”.

TINH HOA 精華


Tinh là nguyên tinh, hoa là huyết. Đọng thì là tinh, tĩnh thì làm khí. Tinh khsi một thể, huyết là chỗ biểu hiện của tinh khí cho nên gọi là hoa. Luận Quy Nguyên ghi: “Cỏ cây tích chứa một năm tinh mới phát ra hoa, cây không hao thì không trái, phụ nữ không huyết thì không thể có thai”.

TINH KHÍ 精炁

Tinh hay sinh khí,khí cũng có thể sinh tinh giống như nước có thể hóa khí làm mây, mây cũng có thể hóa khí làm nước, như mùa xuân hạ mây nhiều mưa cũng nhiều, thu đông mây ít mưa cũng ít. Con người khi còn trẻ khí đủ tinh vượng, tuổi già khí suy tinh cũng giảm đây là lý tự nhiên của trời đất con người. Tiềm Hư Tử nói: “Âm trong dương gọi là tinh, dương trong âm gọi là khí, hai thứ cần nhau mà vạn vật sinh ra”.

TINH KHÍ THẦN 精氣神

Tinh của hậu thiên sinh ra từ thận, phát ra nơi tai mà tai không nghe bên ngoài thì tinh được giữ nơi thận.
Khí của hậu thiên sinh ra từ thân hình, bày ra nơi mũi mà mũi không hô hấp thì khí ẩn nơi rốn.
Thần của hậu thiên gá nơi tâm, ngụ nơi mắt mà mắt không nhìn bên ngoài thì thần ẩn nơi tâm.

Tinh giống như thủy vị trí ở hướng Bắc, khí giống như kin vị trí ở hướng Tây, thần giống như hỏa vị trí ở hướng Nam.

Tinh hậu thiên nhờ khí tiên thiên đủ mà sinh tinh, bởi khí có thể hóa thủy. Khí tiên thiên nhờ tinh hậu thiên thịnh mà dưỡng khí, bởi tinh có thể hóa khí.

Thần hậu thiên nhờ khí tiên thiên sung mà nuôi thần, bởi khí tiên thiên có thể hóa thần. Khưu Tổ nói: “Hóa ra đều là tinh khí thần, gìn giữ cẩn thận chớ để rỉ chảy”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 07, 2011, 11:42:22 pm gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #91 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 02:29:19 am »

(tiếp theo)

TINH MÔN 精門

1.  Chỉ Mệnh môn. Vân Cấp Thất Thiêm ghi: “Giữa hai thận, nam là Tinh môn, nữ là tử cung, Tinh môn đã mở, thận khí đã hết thì chẳng riêng nội dương bị tiêu tán mà nội âm cũng kiệt”.

2.  Chỉ Hạ đan  điền.Vân Cấp Thất Thiêm ghi: “Hạ nguyên đan  điền, đó là khí hải
(biển khí), cũng gọi là Tinh môn”.

TINH THẦN 精神

Tinh là tiên thiên nhất khí hóa thành, thần là tiên thiên chân nhất sinh ra. Thần là hỏa, là quang, là ý. Tinh hao tán là do hỏa của thần bay lên, thần trụ thì tinh yên không chảy ra ngoài cho nên thần ở trong tinh thì gọi là tinh thần. Đan Thư ghi: “Tinh là mẹ của khí, thần là con của khí”.

TINH THẤT 精室

Chỉ Tam đan  điền. Hoàng đế nội cảnh ghi: “Tinh thất chỉ Tam đan  điền. Trên dưới tư vận không ngừng, được chế ngự ở tâm, tâm tức là Trung đan  điền”.

TINH TRIỀU 星潮


Tinh là kim quang chứa trong đôi mắt phát sáng như kim tinh. Triều là khí động trong nguyên hải giống như sự dâng lên của thủy triều. Nhập Dược Cảnh ghi: “Trời ứng tinh, đất ứng triều”.

TÍNH CĂN 性根

Tính vốn không chỗ nhất định cũng không hình tượng, vì gốc nó vốn phát ra từ não hải mà hình ở đỉnh thì in tuồng có căn. Khuê Chỉ ghi: “Tính là tâm chưa nảy sinh, không tâm thì không ý, không ý thì không phách, không phách thì không thọ sinh mà dứt hẳn luân hồi”.

TÍNH HỌC MỆNH HỌC 性學命學

Tính học là ly cung tu định, tông chỉ quán diệu. Mệnh học là thủy phủ cầu huyền, môn học quán khiếu. Kinh Đạo Đức ghi: “Vô dục vì quán diệu, hữu dục vì quán khiếu”.

TÍNH MỆNH 性命

Tính tức lý tính, mệnh tức sinh mệnh, tu tính tức tu tâm, tu mệnh tức dưỡng thân. Ngộ Chân biên chú: “Tính mệnh vần phải song tu, công phu còn cần hai đoạn. Đạo của kim đan  là đạo tu tính mệnh, tu mệnh là hữu tác, tu tính là vô vi, đạo của “hữu tác” là dùng thuật để kéo dài thọ mệnh; đạo của “vô vi” là dùng đạo để bảo toàn hình thể”.
 

TÍNH MỆNH CĂN NGUYÊN 性命根源


Tính từ trước khi trời đất cha mẹ sinh ra, một điểm linh quang tản trong hư không, nhìn chẳng thấy, lắng chẳng nghe; lúc hai khí cha mẹ giao nhau, nó đến ở trong, giống như làn sóng điện tản trong hư không, khi máy thu âm mở, điện âm dương tiếp xúc nhau làn sóng điện trong hư không đến phụ ở trong sau đó mới có thể phát âm thanh. Tính không mệnh thì chẳng lập, mệnh không tính thì chẳng linh. Tổ Tiềm Hư nói: “Nhân sinh là chân thật vô cực, nhị ngũ tinh, khéo hợp mà thành. Chỗ gọi là tính tức là vô cực, chỗ gọi là mệnh tức là nhị ngũ tinh”.

TÍNH MỆNH HỢP NHẤT 性命合一


Chỉ hoạt động tư duy ý thức và khí hô hấp hòa làm một. Còn gọi là Thần khí hợp nhất. Tính mệnh khuê chỉ ghi: “Chí tâm vô niệm, chí thành vô tức thì hơi thở (tức) và ý nghĩ (niệm) đều tiêu biến, tính mệnh sẽ hợp nhất”.

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ 性命圭旨


“Tính mệnh khuê chỉ” là một tập đại thành về luyện đan  của Đạo gia, là một tác phẩm tiêu biểu có trình độ cao trong lý luận về tu luyện nội đan .

 Cuốn sách này có nhiều lý luận tinh túy về tu luyện nội đan  được lưu truyền rộng rãi, ảnh hưởng lớn. Tác giả và niên đại của tác phẩm “Tính mệnh khuê chỉ” hiện chưa được biết rõ là ai, chỉ biết trong lời từ nói rằng: “Tính mệnh khuê chỉ” không biết người sáng tác, tương truyền là do Y chân nhân Cao Đệ  viết.

Có thể đó là tác phẩm của Y chân nhân, nhưng Y chân nhân là ai thì cũng chưa khảo được. Sách được làm vào thời Minh Thanh, từ triều Thanh bắt đầu phát hành rộng rãi trong dân gian.

Toàn sách lấy thứ tự bằng bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh trong “Chu dịch”, chia làm bốn tập. Tập thứ nhất là cơ sở lý luận của tu luyện nội đan , ba tập còn lại tập trung nói về phương pháp cụ thể để tu luyện nội đan .

 Toàn sách là sự phát huy tinh túy của tu luyện nội đan  nà các phương pháp cụ thể của nó hoàn toàn không giống với những phương pháp của những người đi trước.

TÍNH MỆNH NHẤT THỂ 性命一體


Chỗ gọi là tính, đứng về tiên thiên trong hậu thiên thì gọi là nguyên thần, đứng về tiên thiên trong tiên thiên thì gọi là nguyên khí. Có kẻ hỏi đã gọi là nguyên thần sao lại gọi là khí? Bởi chỗ chí linh của nguyên khí là nguyên thần; cho nên gọi là tiên thiên trong tiên thiên.Đạo tu đan , sau khi luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần mới phục hồi tiên thiên trong hậu thiên. Lại tiếp tục luyện thần hoàn hư, luyện hư hợp với không mới phục hồi tiên thiên trong tiên thiên. Nhưng nguyên khí vốn thuộc vô hình, đan g lúc tĩnh tột cùng mà động, phân làm âm dương, đây là thái cực. Dương thăng lên tiên là thiên, giống như người có tính. Âm chìm xuống dưới là địa, giống như người có mệnh, cho nên nói thân người là một tiểu chu thiên địa. Tính mệnh trước khi có thái cực là một vật, sau khi có thái cực là hai vật. Trong thân người, tính là linh quang trong tâm phát ra nơi hai mắt, mệnh là nguyên khí trong thận phát từ dâm căn. Lữ Tổ nói: “Lúc chưa có thân ta, nguyên khí núp nơi hư không; khi sắp có thân ta, nguyên khí núp ở trong thai”.
 

TÍNH MỆNH NHỊ KHIẾU 性命二竅


Tính khiếu ở trong thóp trên đầu con người, trước có minh đường, sau có ngọc chẩm. Mệnh khiếu bắt đầu từ cuống rốn nối liền với cuống rốn của mẹ, đến khi xuất thai, cắt đi cuống rốn, một điểm tinh khí ghé nơi khí huyệt phía trước đối rốn, phía sau đối thận. Tính khiếu ngoài là tín môn (thóp), trong là nê hoàn. Mệnh khiếu ngoài là rốn, trong là khí huyệt. Tổ Tử Dương nói: “Dược vật sinh nơi huyền khiếu, hỏa hậu phát ở dương lô”.


TÍNH MỆNH SONG TU 性命雙修


“Tính” chỉ tính công, tức công pháp lấy luyện thần làm chính. “Mệnh” chỉ mệnh công, tức công pháp lấy luyện tinh khí làm chính. Tính mệnh song tuchỉ tính và mệnh được tu luyện đồng thời, đó là phép tu Thượng thừa. Tính mệnh khuê chỉ ghi: “Thần khí tuy có hai tác dụng, nhưng tính mệnh thì phải song tu... Tính mệnh song tu là phép Thượng thừa cao nhất, gọi là “Kim tiên”.


TÍNH MỆNH TỰ NGHĨA 性命字義


Chữ tính là là chữ tâm 心 đứng bên, thêm một chữ sinh 生, nghĩa là lòng người
ngay thẳng liền sinh quang, có quang thì sáng suốt, sáng suốt thì tự ngộ, tự ngộ là thấy tính. Chữ mệnh ở dưới chữ nhân 人 thêm chữ khấu 叩 và chữ nhất 一 ở giữa chữ nhân, nhất là tiên thiên nhất khí ẩn tại trung cung. Khí này là gốc của mệnh; con người có khí này mới sống, không có khí này thì chết. Muốn được nhất khí còn mãi phải khấu đầu cầu minh sư chỉ dạy; cho nên chữ mệnh, dưới chữ nhân có chữ khấu. Đan Kinh ghi: “Tính có thể tự ngộ, mệnh cần sư truyền”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #92 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 02:32:14 am »

(tiếp theo)

TÍNH QUANG 性光

Tâm tĩnh định gọi là tính, trong định huệ chiếu gọi là quang, Long My Tử nói: “Huệ chiếu bắt đầu từ trong định, niệm niệm biết rõ không một vật”.

TÍNH THIÊN 性天


Tức thiên tính, vốn không hình không tên, do động mà biến, biến thì có giác tri, là hỏa là nhiệt, vì nó thường ẩn nơi đỉnh gọi là thiên. Kinh Đạo Đức ghi: “Vô danh là khởi đầu của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật”. Trung Dung ghi: “Thiên tính gọi là mệnh, suất tính gọi là đạo”.

TÍNH TRỤ 性住

Ngày trụ nê hoàn chứa ở hai mắt, đêm trụ hai thận chứa ở đan  điền. Khuê Chỉ ghi: “Phải an trụ tâm vào nơi không chỗ trụ, thấu suốt viên minh mọi chỗ chân, ở ngay đỉnh môn mở to mắt, đại thiên sa giới hiện toàn thân”.

TÍNH TRỤ KHÍ HỒI 性住炁回

Dằn phẫn nộ thì hỏa giáng, ít tham dục thì thủy tăng; thân bất động gọi là luyện tinh, luyện tinh thì hổ rống; tâm bất động gọi là luyện khí. luyện khí thì long ngâm; niệm không khởi gọi là luyện thần thì khí giao, hai khí giao mà ba nguyên trộn lẫn, ba nguyên trộn lẫn thì nguyên khí trở về. Ba nguyên là tinh khí thần. Hai khí là âm dương. Ứng vật không mê thì nguyên thần tự quy, bản tính tự trụ, tính trụ thì khí tiên thiên trong thân tự hồi. Lữ Tổ nói: “Không mê thì tính tự trụ, tính trụ thì khí tự hồi”.

TÌNH DỤC KHÍ CHẤT 情欲氣質


Thần khí dùng một lượt gọi là tình, tính bám vào khí mà động là dục, thuận theo dục vọng kia mà làm khí chất. Tổ TIềm Hư nói: “Cha mẹ do tình dục mà sinh ra ta, cho nên hậu thiên là tính của khí chất, mỗi khi gặp vật mà sinh tình”.

TÌNH LAI QUY TÍNH 情來歸性


Tình tiên thiên là kim tình trong thủy, không phải là tình của tình dục hậu thiên. Tính là bản tính tiên thiên, không phải là tính của khí chất hậu thiên. Tình đến quy tính là tiên thiên, tính đi thuận tình là hậu thiên. Ngụy Tổ nói: “Bắt đầu kim đến quy tính thì được gọi là hoàn đan ”.

TĨNH CỰC NHI ĐỘNG 靜極而動

Tâm tĩnh là tính, khí động là mệnh. Động chẳng phải khí hô hấp động mà là nguyên khí tiên thiên động. Tĩnh cực mà động thì nguyên thần nguyên khí đều là tiên thiên. Quảng Thành Tử nói: “Tĩnh thì tĩnh nơi thần ý, động thì động nơi thần cơ”.

TOÀN CHÂN 全真


Danh từ Nội đan  Đạo giáo.

 1. Chỉ thủ phác dưỡng tố (nuôi dưỡng giữ lấy cái chất phác trong trắng), thanh tịnh vô vi, tu trì tâm tính. Chú thích bài U phẫn thi của Kê Thúc Dạ trong sách Văn tuyển nói: “Toàn chân có nghĩa là nuôi dưỡng cái chất để bảo toàn cái tính”.

 2. Chỉ việc bảo toàn ba thứ quý báu. Trung hòa tập-Kim đan  hoặc vấn: “Gọi là Toàn chân, có nghĩa là bảo toàn Bản chân. Toàn tinh, toàn khí, toàn thần mới gọi là Toàn chân”.

 3. Chỉ ẩn dưỡng tuổi đời, giữ gìn bản tính. Bão Phác Tử ngoại thiên: “Vui với cảnh bị đói nơi ngõ hẻm để gắng giữ khí tiết cao thượng; giấu mình, Toàn chân để đợi lúc sau tuổi trời (Lạc cơ lậu hạng dĩ lệ cao thượng chi tiết, tàng vũ Toàn chân dĩ đãi thiên niên chi hậu)

 4. Đạo Toàn chân thời Kim-Nguyên coi Công hành song toàn là Toàn chân. Tấn chân nhân ngữ lục: “Toàn chân là đạo hợp với lòng trời” (Phù, Toàn chân giả hợp thiên tâm chi đạo dã). Chân hành chân công, song tu song toàn, mới là Toàn chân.

TOÀN CHÂN ĐẠO 全真道

Còn gọi: Toàn Chân giáo, Toàn Chân phái. “Đạo Toàn Chân”, cùng Chính Nhất đạo đều trở thành hai phái lớn của Đạo giáo sau này, do Vương Trùng Dương sáng lập sau khi tụ tập đồ đệ giảng đạo ở am Toàn Chân tại Ninh Hải (nay là Mâu Bình) tỉnh Sơn Đông vào năm Đại Định 7 (1167) đời vua Kim Thế Tông, Toàn Chân đạo hấp thu một phần tư tưởng Nho Phật, nói rằng ba giáo chung dòng, chủ trương Tam giáo hợp nhất.

Vương Trùng Dương và đệ tử đã từng làm thơ nói rằng: “Cổng Nho cửa Phật lối tương thông, Ba giáo xưa nay một tổ phong” (Nho môn thích hộ đạo tương thông, Tam giáo tông lai nhất tổ phong), “Giáo tuy chia ba, Đạo chỉ là một” (Giáo tuy phân tam, Đạo tắc duy nhất) v.v...

Hơn nữa, họ còn lấy Đạo đức kinh, Bát nhã tâm kinh và Hiếu kinh làm kinh điển chủ yếu, dạy người ta phải “hiếu cẩn thuần nhất”. “chính tâm thành ý, thiểu tư quả dục”, về phương pháp tu hành chuyên chủ tu luyện Nội đan , chẳng chuộng phù lục (bùa ngải) phản đổi thuật Hoàng bạch (tức thuật luyện đan ). Họ chủ trương người tu đạo cần phải xuất gia, phải biết nhẫn nhục, khổ mình, lợi người, giới sát giới sắc, giảm ăn uống, ít ngủ nghê.

Sau khi Vương Trùng Dương mất, đệ tử là bọn Mã Ngọc, Khâu Xử Cơ v.v... tất cả gồm 7 người chia nhau đi các vùng thuộc Thiểm Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông v.v... để tiếp tục truyền đạo, lần lượt chia thành 7 chi phái: Ngộ Tiên, Nam Vô, Tùy Sơn, Long Môn, Luân Sơn, Hoa Sơn, Thanh Tĩnh, song tôn chỉ cà phương thức tu luyện đại để giống nhau. Khoảng từ năm 15 tới năm 18 đời Nguyên Thái Tổ (1220-1223) Khâu Xử Cơ được Nguyên Thái Tổ vời vào hệ kiến và ban cho danh hiệu “thần tiên”. tước “Đại tông sư”, cho nắm giữ cai quản Đạo giáo trong thiên hạ, nhờ vậy mà đạo Toàn Chân đạo được truyền bà rộng rãi, bược vào thời kỳ toàn thịnh.

 Nhưng sau này do quá trình phát triển, đạo Toàn Chân đã không ngừng xâm chiến chùa chiền của Phật giáo, tuyên truyền thuyết “Lão Tử hóa Hồ”, khiến sư sãi bất mãn, dẫn tới hai cuộc biện luận giữa Tăng và Đạo vào năm thứ 8 đời Nguyên Hiến Tông (1258) và năm Chí Nguyên 18 đời Nguyên Thế Tổ (1281).

 Kết quả là đạo Toàn Chân bị thua, bị đả kích nặng nề. Thời Nguyên Thành Tông, đạo Toàn Chân lại khôi phục trở lại. Triều đình nhà Minh coi trọng đạo Chính Nhất, đạo Toàn Chân bị suy yếu đi và tới thời nhà Thanh trở đi lại càng sa sút.

TOÀN CHÂN PHÁI 全真派

“Phái Toàn Chân”. Một trường phái khí công Đạo giáo. Vương Trùng Dương sáng lập ở Ninh Hải, Sơn Đông (nay là Mâu Bình) vào năm Đại Định 7 (1167) đời Kim Thế Tông. Chủ trương và đặc điểm của phái mày là “Lắng lòng định ý, ôm Nguyên thủ Nhất, gìn thần vững khí” (trừng tâm định ý, bão nguyên thủ nhất, tồn thần cố khí) coi đó là “chân công”, “giúp nghèo cứu khổ, trước người sau mình, vô tư với vật” (tế bần bạt khổ, tiên nhân hậu kỉ, dữ vật vô tư), coi đó là “chân hành”. Công – Hành vẹn toàn, nên gọi là Toàn Chân.

“Bản lai chân tính đó gọi là kim đan , lấy tứ giả làm lò mà mà luyện thành hòn” (Bản lai chân tính hoán Kim đan , Tứ giả vi lô luyện tác đoàn).  Sau đó đệ tử của Vương  Trùng Dương là Khâu Xử Cơ được Nguyên Thái Tổ tôn làm Quốc sư, chủ trương tính mệnh song tu “Bí mật của Kim đan  chỉ ở một Tính một Mệnh mà thôi. Tính là trời thường lặn ở đỉnh (đầu). Mệnh là đất thường lặn ở rốn”. Sau trường phái này chia làm 7 chi phái: Ngộ Tiên, Nam Vô, Tùy Sơn, Long Môn, Luân Sơn, Hoa Sơn, Thanh Tĩnh, X.Toàn Chân đạo.

TOÀN CƠ 琁璣

Thần khí tuần hoàn theo hoàng đạo, xích đạo gọi là toàn cơ, cũng như sự tuần hoàn xoay quanh của nhật nguyệt trên trời. Huyền Hạc Chính Tông ghi: “Bao lần phấn chấn len Côn Lôn, vận chuyển toàn cơ tạo hóa phân”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #93 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 02:36:22 am »

(tiếp theo)

TOẢN NIÊN Ư KHẮC  攅年于刻


Nửa khắc trên là ấm mà tiến dương hỏa, là ngày rằm, là thượng huyền, là sáng sớm, là xuân hạ. Nửa khắc dưới là mát mà thoái âm phù, là ngày 30, là hạ huyền, là chiều tối, là thu đông. Tụ năm về tháng, tụ tháng về ngày, tụ ngày về khắc, tụ khắc về hơi thở. Lớn như thế giới, nhỏ tợ một hơi thở đều có sự vận hành một vòng. Người đạt lý này thì tự nhiên thấu suốt sự cần thiết của tiến hỏa thoái phù, đạo lý thăng giáng của chu thiên. Đan đạo dùng quẻ, hỏa hậu dùng hào, đều là tỷ dụ, người học không nên chấp chước. Chân Quyết ghi: “Trong năm chọn tháng, trong tháng chịn ngày, trong ngày chọn giờ, trong giờ chọn khắc”.

TOÀN THẦN 全神

Tức là thu liễm tâm ý, khiến thần trở lại Toàn chân. Tâm tĩnh thì thần thành, thần thành thì không hao, công lực tích lâu thì thần trở lại chân tĩnh mà hoàn toàn. Kim đan  hoặc vấn ghi: “Toàn thần có thể trở về với ý. Muốn toàn được thần, trước phải thành ý. Ý thành thì thân tâm hòa hợp mà trở về với Hư vậy”.

TOẢN THỐC NGŨ HÀNH 攅簇五行

Đông hồn là mộc, tây phách là kim, nam thần là hỏa, bắc tinh là thủy, trung thổ là ý. Đem năm thứ này tụ hội một chỗ thì gọi là toàn thốc ngũ hành. Nhập Dược Cảnh ghi: “Trộm thiên địa cướp tạo hóa, tụ ngũ hành, hội bát quái”.

TỔ KHÍ 祖炁

Là tinh của chân dương tiên thiên, bên trong là nguồn gốc sinh khí, bên ngoài là gốc của mọi vật, cầu trong ngoài không dính mắc, được công phu khoảnh khắc. Tổ Tiềm Hư nói: “Vô hình vô tượng, phi sắc phi không, tuy vô hình mà hay sinh hữu hình, vô tượng mà hay sinh hữu tượng, phi sắc mà hay sinh diệu sắc, phi không mà thật sự chân không, gốc từ tiên thiên, chứa ở hậu thiên, là nguồn gốc của tính mệnh”.

TỔ TÔNG 祖宗

Tổ là tính tổ, do tĩnh mà được; tông là mệnh tông, không phải do động mà lập. Biết tính tổ nên tu định nơi ly cung. Biết mệnh tông nên cầu huyền nơi thủy phủ, đây là tính mệnh song tu. Lữ Tổ Bách Tự Bi ghi: “Động tĩnh biết tổ tông, vô sự sòn tìm ai:”.

TÔN BẤT NHỊ 孙不二

(1119-1182) Cũng gọi là Tôn Tiên Cô. Nữ đạo sĩ thời Kim.Tên là Phú Xuân, pháp danh là Bất Nhị, hiệu là Thanh Tịnh Tản Nhân. Người Ninh Hải (nay là Mâu Bình, Sơn Đông). Vợ của Mã Đan Dương, người sáng lập Ngộ tiên phái đạo Toàn Chân. Khi Vương Trùng Dương đến Sơn Đông sáng lập đạo Toàn chân vào năm Đại Định 7 (1167) nhà Kim, bà cùng Mã Đan  Dương thờ Vương Trùng Dương làm thầy.

Năm thứ 9 (1169) bỏ nhà vào Đạo,  là một trong 7 đại đệ tử của Vương Trùng Dương. Năm thứ 15 (1175), tu đạo ở động Phượng Tiên cô ở Lạc Dương, thu nhận đồ đệ rất đông sáng lập Toàn chân Thanh Tịnh phái. Bà bàn về Đan  đạo rằng: “ Trước hết học định tâm, tâm định thì khí tồn, khí tồn thì thần toàn, thần toàn thì hình vững, dai dẳng còn mãi mà không dứt, dùng mãi mà không hết mà thấy thành công”.

Lại bàn về công phu Khôn đạo phải thu tâm, dưỡng khí, hành công, trảm long, dưỡng đan ... cả thảy 12 thứ bậc được Đan pháp Khôn đạo đời sau noi theo. Tác phẩm có Tôn Bất Nhị nguyên quân pháp ngữi, 1 quyển, Tôn Bất Nhị nguyên quân truyền thuật Đan đạo bí thư,3 quyển. Là một trong Bắc thất chân. Năm Chí Nguyên 6 (1269) Nguyên Thế Tổ tặng hiệu là “Thanh Tịnh Uyên Trinh Thuận Đức  chân nhân”,  niên hiêu  Chí Đại gia phong  “Thanh  Tịnh Uyên Trinh Huyền Hư Thuận Hóa nguyên quân”.

TỐN PHONG 巽風

Là khí hô hấp, thở ra là càn, hít vào là tốn. Đông nam là dụng của tốn, trung cung là thể của tốn. Tổ Nê Hoàn nói: “Tốn phong thường thổi từ cung khảm, đi ngồi ăn ngủ đều như như, chỉ sợ lửa tắt sức đan  yếu, một năm chu thiên trừ mão dậu”.

TỒN NHẤT 存一

Vân cấp thất thiên ghi: “Tông tâm tức tồn khí, tồn khí tức tồn nhất, nhất tức là Đạo”. Đạo bắt đầu ở Một, Một là Nguyên khí sở tại, Tồn nhất tức là Thủ nhất.

TỒN VONG 存忘


Trước hết giữ thần nơi khí huyết rồi sau đó cùng nó quên nhau thì thần tự ngưng, tức tự định. Nhưng phải biết hỏa bổn muốn quy về không; nếu không biết trước diện hữu thì ắt phải rơi vào không vô mà chỉ được cái tiểu quả thi giải mà thôi. Kinh Kim Bích Long Hổ Thượng ghi: “Điểm  trọng yếu của tự nhiên là trước tồn sau vong”.

TỒN VÔ THỦ HỮU 存無守有


Giữ cái tâm thanh hư thì tiên thiên nhất khí từ hư vô đến, tồn vô thì inh không mê muội mà làm chân hữu. Kinh Tâm Ấn ghi: “Vô vô thủ hữu khoảnh khắc mà thành”.

TỔN CHI HỰU TỔN 損之又損

Tức là vứt rồi lại vứt, bỏ rồi lại bỏ, vứt bỏ hết đến không còn gì cả mới là thuần dương thì âm khí hoàn toàn dứt hết. Khưu Tổ nói: “Tổn rồi lại tổn thì thiên diệu cùng trong sáng, khí từ tiên thiên thì lúc này thần đầy đủ”.

TRẠCH ĐỊA 擇地


“Chọn đất”. Luyện đan  hạ thủ trước hết phải chọn phúc dịa, chẳng nên gần đường giao thông tấp nập, xa lìa rừng rậm để tránh tiếng ồn ào của chim muông, tránh xa nhà cửa chung đụng để tránh tiếng chó sủa gà gáy, ở xa mồ mả để tránh nhơ uế âm khí, cần gần thị trấn để tiện việc cung cấp y thực, nơi ở phải có tường dày bao quanh để tránh bên ngoài quấy nhiễu, giường ngủ phải có nệm dày để nằm ngồi thư thái, uống ăn phải thanh khiết có chừng mực, ăn chay lạt không ăn mặn để trong sạch bao tử và hợp vệ sinh. Hứa Chân Quân nói: “Chọn phúc địa, lựa danh sơn, vô vi thanh tịnh khiến tâm nhàn rỗi”.

TRẦN MỘNG 塵夢

Trong thời gian mới tu một trăm ngày luyện đan  vẫn chưa dứt hết trần với mộng. Trần là một trần trong sáu trần. Có mộng ắt có tỉnh, tỉnh là diệu giác. Diệu giác là dương, trần mộng là âm. Luyện đan  thái dược dùng chân thần của diệu giác kia phối hợp với chân khí của nhất dương mới động, dụ cho ohu thê, thư hùng, nam nữ, long hổ, quy xà, ô thố và các thứ tên gọi khác để hình dung đan  pháp. Lữ Tổ nói: “Nhất dương vừa động liền thành trần mộng”.
 

TRI BẠCH THỦ HẮC 知白守黑


Sắc trắng thuộc kim, sắc đen thuộc thủy. Biết trong khảm thủy có bạch kim mà giữ hắc thủy. Tham Đồng ghi: “Biết bạch giữ hắc, thần minh tự đến, bạch là kim tinh, hắc là thủy cơ”.

TRI HÙNG THỦ THƯ 知雄守雌

Hùng chủ về động, dương tính. thư chủ về tĩnh, âm tính. Biết nó động mà không chịu vọng động, giữ cho nó tĩnh mà chờ sự biến hóa của nó thì là diệu dụng. Nếu biết mà không giữ để nó thuận theo tự động, đây là vọng động. Giữ mà không biết sự biến hóa của nó thì là giữ vô ích. Biết mà giữ nó bởi động tĩnh hỗ dụng. Thái Thượng nói: “Biết hùng mà giữ thư là khe nước của thiên hạ, biết vinh mà giữ nhục là hang núi của thiên hạ”.

TRÍ HƯ CỰC THỦ TĨNH ĐỐC 致虚極守靜篶

Hư là vô, cực là trung cực, tĩnh là yên tĩnh, đốc là chuyên đốc, giống như nói tập trung tinh thần nơi hư vô mà theo đúng chỗ trung cực kia, giữ tinh thần ở nơi yên tĩnh ắt phải sử dụng hết công phu chuyên đốc. Tổ Tam Phong nói: “Trí hư thủ tĩnh hơi thở mỗi lần động huyền quan chẳng xa, y theo đây tiến công trúc cơ có khó gì”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #94 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 02:40:25 am »

(tiếp theo)

TRIỂN KHIẾU 展竅

Luyện đan  trước tiên phải mở khiếu, nếu khiếu chưa mở cũng như hạt giống chưa nảy mầm thì từ đâu có sự um tùm tươi tốt. Tổ Hàm Hư nói: “Bỗng nhiên nội đỉnh vọt ra một vật, nhảy nhót bắn ra từ mạch xung lên đến tâm điền chính là lúc triển khiếu”.

TRIÊU TRUÂN MỘ MÔNG 朝屯暮蒙


Triêu truân là tiến hỏa, là lúc dương động khởi hỏa.Mộ mông là thoái phủ, là lúc âm tĩnh dứt hỏa. Kim Cáo ghi: “Triêu truân là ý nghĩa nắm lấy nhất dương ở dưới cong mà chưa duỗi, mộ mông là ý nghĩa đem đồng mông cầu ngã sáng sủa, lấy âm cầu dương”.

TRIỀU NGUYÊN 朝元

Nhất dương mới sinh, khí của ngũ tạng hướng về trung nguyên. Nhất âm mới sinh, dịch của ngũ tạng hướng hạ nguyên. Lại có dương trong âm, âm trong dương, dương trong âm dương, hợp ba dương lại hướng về thượng nguyên. Chung Tổ nói: “Tiên đồng tiếp dẫn triều nguyên đi, bạch nhật bay lên ra mắt ngọc kinh”.

TRIỀU THỊ 朝市

“Phú quý”. Triều là quý, thị là phú. Luyện đan  phải có quí nhân ngoại hộ để tránh sự quấy nhiễu cảu kẻ xấu. Được phú là giúp nhau để khỏi có sự lo toan về lương thực. Bởi trước khi chưa hoàn đan  vẫn cần dùng y thực hằng ngày, sinh hoạt không khác gì người bình thường, lại còn phải chọn đất xây cất đan  phòng tiêu phí quá độ, ba người cùng chí hướng sau đó tu tập.

 Nhưng đại đạo kim đan , nếu không phải đến lúc sơn cùng thủy tận ai có thể hết lòng hướng đạo, cho nên người phú quí trước hết phải vứt bỏ phú quí, kẻ ham thích trước phải vứt bỏ ham thích thì chân sư mới chịu truyền thọ chân quyết. Song người được đạo này phần lớn không có của cải tiền bạc, nên phải nhờ phú quí làm ngoại hộ.

Những người phú quí đa số tu phước báo thì nhiều, bàn về tính mệnh thì ít, bọn họ nhất hô bá ứng, trước mắt là thần tiên há chịu vứt bỏ hiện thực mà mong cầu tương lai mờ mịt, hà huống thế nhân lại chưa từng thấy thần tiên. Ngộ Chân ghi: “Phải biết đại ẩn nơi triều thị, đâu cần cô độc giữa rừng sâu”.

TRIỀU TÍN 潮信

“Tin tức thủy triều”. Dương khí sung túc, nó phát động như nước thủy triều. Phát động dù không nhất định thời gian, nếu công phu theo đó không gián đoạn tất nhiên phát động nên gọi là tín. Bách Cú Chương ghi: “Trong đây có tin chân thật, tin phát ra chắc là ông kinh hãi”.

TRINH NGUYÊN 貞元


Thời gian là trong khoảng tối đến sáng, giờ hợi tý, hỏa hậu là trong lúc tính tình động mà chưa hình thành. Thiên địa mở ra nơi đây, nhật nguyệt hợp bích nơi đây, âm dương giao hội nơi đây, bởi nó là chí diệu của thiên địa nhân tiên, là điều huyền bí của tác đan . Tham Đồng ghi: “Lúc từ tối đến sáng phù hợp trong thực hành lúc hỗn độn hồng hoang tẫn mẫu (đực cái) theo nhau”.

TRÚC CƠ 築基


Hoàn hư là luyện kỷ, tích lũy tinh khí là trúc cơ, răn đe giận hờn dứt trừ dục vọng là hạ thủ. Thái Thượng nói: “Đi ngàn dặm bắt đầu từ dưới chân, đài chín tầng khởi đầu bằng đất xây đắp”.

TRÚC PHÁ TU TRÚC BỔ 竹破须竹補


ĐỒ bằng trúc hư thì phải dùng trúc tu sửa, nguyên khí tổn ắt phải đem nguyên khí tu bổ, không cùng loại không thể phối hợp. Ngộ Chân ghi: “Trúc hư phải dùng trúc sửa, diệt gà phải dùng trứng thay thế, mọi thứ không cùng loại uổng công lao, đâu giống chân diên hợp thánh cơ”.

TRUNG ĐIỀN 中田

Ở dưới giáng cung ba tấc sáu phân, ở giữa trống không một lỗ một tấc hai phân, đến dưới rốn ba tấc sáu phân, tức là địa giới của nội thận. Khưu Tổ nói: “Kim đan  đại dược không khó cầu, ngày nhìn trung điền đêm giữ lại”.

TRUNG ĐÌNH 中庭

Trung đình chính là phần giữa thân người. Đình là hư không trong đó không còn một vật. Ở trên đan  điền trong có một hư vô, hàm dưỡng chỗ này có thể trường sinh. Lữ Tổ nói: “Vì sao dùng môi giới hướng ngoại cầu, trường sinh chỉ phù hợp với sự tu hướng nội, đừng nói đại đạo rất khó được, tất nhiên do thực hành không đến cùng”.
 

TRUNG HÒA 中和


Một là chỉ con đường tu dưỡng hình thần duy trì sự ổn định. Hai là chỉ hoạt động ý thức không thiên lệch, không thiên về trái không lệch về phải, không quá về phía trước không quá về phía sau. Trung Dung ghi: “Vui buồn mừng giận chưa phát ra gọi là Trung, phát ra mà đều trúng tiết gọi là Hòa. Trung, đó là gốc của thiên hạ; Hòa, đó là đạt đạo của thiên hạ. Đạt đến Trung hòa thì đất trời ở đúng vị trí, vạn vật được nuôi dưỡng”.

TRUNG KHÍ 中氣

Thần ở trung cung sai khiến vận hành như trung quân nguyên soái ra lệnh các tướng khiến trật tự không loạn, tiến hành được thuận lợi. Thần làm chủ ở trong khiến cho khí hành cho nên gọi là Trung khí. Khưu Tổ nói: “Vận chuyển vòng quanh tự có đường thẳng, không được trung khí xoay vần thì khí không chuyển”.

TRUNG THỔ 中土


Bốn thổ Thìn Tuất Sửu Mùi là chu du bốn phương, kiêm nhiệm bốn mùa. Lúc vận chu thiên phải nhờ vào thổ này mà vận chuyển, hoàn toàn dựa vào thổ này để làm chủ trung cung, đây là cơ sở của sự luyện đan . Tổ Đạo Quang nói: “Tứ tượng bao hàm tại mậu kỷ”. Khưu Tổ nói: “Nếu không đem ý giữ trung cung, dược vật làm sao vận chuyển được?”.

TRUNG TIÊU LẬU VĨNH 中宵漏永

Trung tiêu là nửa đêm, lậu vĩnh là thời khắc không dùng, tỉ mỉ mà đếm, giọt giọt mà đánh dấu, trong thời gian hợi tý. Khưu Tổ nói: “Hỏa cần có hầu, sổ tức ra vào gọi là khắc lậu, dùng để định giờ”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #95 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 02:46:55 am »

(tiếp theo)

TRUY NHIẾP 追攝


Tinh như đá nam châm, tình như cục sắt, vì nam châm hút sắt cách ngại ngầm thông. Hai vật tuy có tình hợp nhau nhưng không biết dược vật không đều thì không thể tương hội.

Như con gái đến tuổ cập kê (cài trâm) mà con trai tuổi còn bé thì hai tình chưa thông hiểu. Cần phải đợi đến nam nữ trưởng thành hai bên đều hiểu biết về tình yêu mới có thể phối hợp, mới chịu sinh con.

Thế nên luyện đan  mà tin tức chân thật thì kim thủy không bình quân, tính tình không tương xứng, tuy gặp mà hai bên không thích nhau cho nên đan  không kết. C

ần phải luyện đến khi hai vật tương đương, dùng chân ý truy nhiếp mới có thể phối hợp. Tổ Tam Phong nói: “Tiền huyền tám lạng, hậu huyền tám lạng, lúc nội dược hoàn thì ngoại dược cũng hoàn”.

TRUYỀN PHÁP NGHI THỨC 傅法儀式


Thầy trò phải thông báo ngày truyền pháp cho vị khoa niên truyền đạt ba tháng trước, phải chuẩn bị tám lượng vàng, chín thước lụa thưa ngũ sắc, năm đôi vòng vàng. Phương thuốc kim đan  phải thề trên lụa bạch được hai quan tả hữu khảo xét, thề với cửu thiên rằng không tiết lộ bí mật. Nếu không thề mà độ thì thầy với trò đều bị ba vị quan phạt. Lúc truyền độ, trước phải thanh tịnh trai giới, lập đàn cầu cúng làm khoa điều, chích máu ăn thề ở trên cửu thiên, tâu lên Thượng đế, tam thai bắc đẩu, nam tinh tam quan, tứ thánh ngũ đế, các vị tự lệnh ở dưới. Bão Phác Tử ghi: “Điều bí mật quan trọng chẳng gì qua phương thuốc trường sinh, cho nên phải chích máu ăn thề được trời đồng ý mới truyền”.

TRUYỀN THỌ ĐAN PHÁP 傅授丹法


Trước hết phải xem xét quá khứ người học đạo, như tiên tổ hoặc tiên phụ có làm điều ác chưa trả mà chết, gây vạ đến con cháu, kế đó điều tra chính người học đạo, nếu bất trung bất hiếu, làm nhiều việc ác đức thì không thể truyền. Kẻ được truyền phải là người có lòng nhân nghĩa đạo đức, ông bà cha mẹ hiền đức, hành thiện tích đức, kính lão trọng hiền, tuân giữ pháp tắc, trung hiếu lưỡng toàn, tôn sư trọng đạo, sau đó mới chiếu theo nghi thức truyền đạo mà truyền thọ. Hứa Tổ nói: “Tĩnh nghĩ đến bậc triêt gia, động nhớ đến bậc thánh hiền, nếu không công hạnh đâu thể truyền dễ dàng”.


TRỪNG PHẪN THẤT DỤC 懲忿室慾


Trừng phẫn thì tâm hỏa giáng xuống, thất dục thì thận thủy thăng lên. Dịch ghi: “Quân tử dùng trừng phẫn thất dục”.

TRƯƠNG QUẢ 張果


Còn gọi là Trương Quả Lão. Một trong 8 vị tiên Đạo giáo trong truyền thuyết. Đạo sĩ thời Đường  gọi ông là Trương Quả, chữ “Lão” là cách gọi tôn kính của mọi người đối với ông.

Tương truyền ông là tinh của con dơi trắng từ thưở hỗn độn chưa phân, tu luyện mà thành, Trương Quả đi đâu cũng thường cưỡi một con lừa trắng, ngày đi mấy vạn dặm. Tân Đường thư-hương kĩ truyện: “Trương Quả, ẩn núi Trung Điều, thường qua lại sông Phần.

Thời nhà Tấn người đời truyền ông là người mấy trăm tuổi. Thời Vũ Hậu, cho sứ mời, thì ông đã chết, người đời sau lại thấy ông ở trong núi Hằng Châu”.

Năm Khai Nguyên 21, đời Huyền Tông (733) vua nhiều lần sai người mời hỏi về việc đạo thần tiên, ông nói bí mật không truyền.

Vua muốn gả công chúa Ngọc Chân cho, ông cười, không vâng chiếu, cho làm Ngân Thanh Quang Lộc đại phu, hiệu Thông Huyền tiên sinh, tha thiết từ chối rồi về núi. Đến huyện Bồ Ngô, Hằng Sơn không lâu thì mất. Người đời lập quán Khê Hà thờ ông.


TRƯƠNG TAM PHONG 張三丰


Đạo sĩ nổi tiếng khoảng giữa Nguyên Minh. Tên là Thông, còn có tên Toàn Nhất, tự là Quân Thực (có chỗ viết là Quân Bảo), hiệu là Huyền Huyền Tử, còn gọi tên là Trương Lạp Đạp, người ở Ý Châu, Liêu Đông (nay ở tây nam Chương Vũ, Liêu Ninh).

Tương truyền ông đọc sách cứ qua mắt là thuộc, mùa lạnh mùa nóng chỉ có một chiếc áo nạp, một áo tơi, một bữa có thể ăn hết cả thăng đấu, hoặc mấy ngày mới ăn một bữa, hoặc mấy tháng chẳng ăn, có thể biết trước sự việc.

Còn tương truyền, vào cuối thời Nguyên ông ở quán Kim Đài tại Bảo Kê, một hôm ông từ giã cõi đời, những người theo hầu đã khâm niệm đưa vào áo quan, tới lúc sắp chôn, mở ra xem thì ông sống lại. Sau vào Thục, đến Tần, chơi ở Tương Đặng, qua lại Trường An, tới Lũng Miên, Cam Túc. Đầu niên hiệu Hồng Vũ vào Vũ Đương, Hồ Bắc sai đệ tử là Khâu Huyền Thanh ở Ngũ Quán; Lưu Cổ Tuyền, Dương Thiện Đăng ở Tử Tiêu; Lư Thu Vân ở Nam Nham, còn mình thì làm lều tranh ở Nhật Ngộ chân quán tại phía bắc ngọn núi Triển Kì.

Năm Hồng Vũ 23 (1300), dời Vũ Đương, không biết đi đâu.

Năm sau Minh Thái Tổ sai sứ đi tìm. Đầu niên hiệu Vĩnh Lạc (1402-1424) Thành Tổ lại sai sứ đi tìm, nhiều lần đều không gặp.
Năm Thiên Thuận 3 (1459) được Minh Anh Tông phong là Thông Vi Hiển Hóa chân nhân.
Năm Thành Hóa 22 (1486) được đặc cách phong là Thao Quang Thượng Chí chân tiên.
Năm Gia Tĩnh 42 (1563) lại được phong là Thanh Hư Nguyên Diệu chân nhân.

Tác phẩm được người đời sau biên tập lại trong bộ Trương Tam Phong tiên sinh toàn tập được đưa vào Đạo tạng tập yếu.

TRƯỜNG CỐC 長谷

Không ở tại my tâm (ấn đường), cũng không ở giữa hai mắt mà là ở giữa mặt mũi dưới ấn đường, trên sơn căn tức là thiên cốc huyệt. Tổ Ngọc Thiềm nói: “Trên đến thiên cốc, dưới đến âm đoạn, hai cảnh gặp nhau nhồi thành một khối”.

TRƯỜNG SINH 長生

Dương khí trời đất đời đời không dứt, luyện đan  tức là nhiếp thu dương khí tích lũy mà thành. Trình Y Xuyên nói: “Nếu không cướp cơ tạo hóa thì đâu thể trường sinh”.

TRƯỜNG SINH CỬU THỊ 長生久視

“Nhìn mãi sống lâu”. Dùng mắt nội quán gọi là nội thị (nhìn vào bên trong) cần phải nhìn mãi không rời thì thì tính mệnh không mất có thể trường sinh. Kinh ghi: “Trường sinh cần phải cửu thị, cửu thị tức trường sinh”.

TRƯỜNG SINH TỬU 長生酒

“Rượu trường sinh”. Lúc luyện ngọc dịch hoàn đan , trong khi khí hóa thủy ngon ngọt không gì sánh, con người không thể biết, mùi vị như rượu ngon thơm nồng gọi là ngọc dịch quỳnh tương. Bách Tự Bi ghi: “Tự uống rượu trường sinh, tiêu dao ai biết được?”.

TRƯỜNG SINH YẾU DIỆU 長生要妙


Chữ yếu 要 là người con gái ở phương tây (西 女) là đoài kim; chữ diệu 妙 là thiếu với nữ (少 女) hợp thành cũng thuộc đoài kim. Thiếu nữ chưa biết gì về tình yêu,hoàn toàn đồng trinh, tức là nguyệt xuất hiện ở phương Canh ánh sáng vừa lộ ra. Muốn được trường sinh phải lấy Đoài kim phương tây phối hợp chấn mộc phương đông, kim mộc hợp với nhau liền thành an trường sinh bất lão. Kinh Huỳnh Đình ghi: “Trường sinh yếu diệu phòng trung cấp, hô hấp nguyên khí để cầu tiên”.

TRƯỜNG THÀNH 長城


Hai mạch nhâm đốc, trên thông trời, dưới thông đất, ở giữa có lục phủ ngũ tạng, chỗ chư thần tụ hội. Hai mạch như trường thành bao quanh bên ngoài, cho nên dụ cho trường thành. Cổ tiên nói: “Tu tâm dưỡng tính là tu sửa tâm tính vi diệu của ta, thái dược luyện đan  không rời con đường nhâm đốc”.

TRỪU DIÊN THIÊM HỐNG 抽涎添汞

Gọi tắt là: “Trừu thiêm”, chỉ trạng thái khí định, thần định. Trung hòa tập q3 ghi: “Định thân bất động khí gọi là “trừu”, định tâm bất động thần gọi là “thiêm”, thân tâm bất động, thần ngưng khí kết gọi là Hoàn nguyên, là để thủ dương ở trong Khảm, bổ âm ở trong Ly mà thành căn, thì gọi là Trừu diên Thiêm Hống”.

TRỪU THIÊM 抽添

Trước ngày rằm nguyệt rút hồn, nhật thêm phách, sau ngày rằm nhật rút hồn, nguyệt thêm phách. Oánh thiềm tử nói: “Thân không động khí định gọi là trừu, tâm không động thần định gọi là thiêm. Lấy dương trong khảm, bổ âm trong ly goi là trừu diên thiêm hống”.

TU TÍNH TU MỆNH 修性修命

Tu tính là việc nhập thánh, tu mệnh là việc siêu phàm. Nhập thánh cho nên thoát pháp thân, siêu phàm cho nên thoát huyễn thân. Xao hào ca ghi: “Mệnh cần truyền, tính cần ngộ, nhập thánh siêu phàm do ông làm… chỉ tu tính không tu mệnh đây là bệnh thứ nhất của sự tu hành. Chỉ tu tổ tính không tu đan . Muôn kiếp âm linh khó nhập thánh. Đạt mệnh Tông, mê tổ tính giống như soi hình dung mà không có gương báu. Thọ cùng trời đất một kẻ ngu, nắm lấy gia tài không có chủ; tính mệnh song tu huyền lại huyền, sóng cả biển khơi cưỡi thuyền pháp, linh hoạt nắm đầu giao long hung dữ mới biết tay giỏi bất hư truyền”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #96 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 08:42:36 am »

(tiếp theo)

TU THÂN DƯỠNG TÍNH 修呻養性

Tu thân là tỉnh xét sửa đổi mong sớm thay đổi, công phu siêng năng, kết quả mau lẹ mà dễ dàng, ngoài thân có thân liền thấy trước mắt có thể một đời thành đạo. Dưỡng tính là hàm dưỡng huân tập chờ nó tự thay đổi, công phu âm thầm, hành trình xa xôi mà thật khó cho nên bỏ thân này vào thân kia trải qua nhiều kiếp mới thành đạo. Tây sơn Ký ghi: “Tuy biết pháp dưỡng sinh mà chẳng ngộ lý tu hành thì sống không trường thọ. Tuy biết cách tu luyện mà không được đạo trường sinh thì tu cũng không hiệu nghiệm”.

TUẦN HOÀN 循儇

Người vật ăn tinh của Thổ Địa,  thân chết trở về với đất. Tiên thánh ăn khí của nguyên hòa trên trời, thân chết trở về với trời, Đây là lý của sự tuần hoàn biến hóa. Hứa Chân Quân nói: “Nước nhớ biển, biển nhớ nguồn, hướng về sao Đẩu sao Ngưu phải tuần hoàn”

TUẦN THIÊN THỜI 循天時

Luyện tinh bắt đầu vào đông chí, vì tinh vượng vào tháng Hợi Tý. Gặp tháng ngày giờ Canh Tân Thân Dậu nên tăng thêm công phu, vì nó tương sinh Đến tháng ngày giờ bính đinh tỵ ngọ nên thả lỏng công phu vì nó tương xung. Dưỡng khí bắt đầu vào mạnh xuân, gặp tháng ngày giờ Dần Mão nên tăng thêm công phu, đến tháng ngày giờ Thân Dậu thì công phu giảm thiểu vì nó tương xung tương khắc. Ngưng thần bắt đầu vào bốn mùa, gặp tháng ngày giờ Thìn Tuất Sửu Mùi nên tăng thêm công phu. Phàm gặp ngày hợp thì nên ngồi im lặng nhiều hơn. Chỉ có hai ngày Bính Đinh là mẹ của thổ, nhằm hai ngày này nên lúc ngồi lúc đi, đi một vòng để giữ lấy cái động sắp sinh. Thần cao quý sinh mà đời đời không dứt, bèn chứa linh trong nhà tất cả đạt được ánh sáng. Khế Kinh ghi: “Thuận thời phải để ý thời tiết”.

DỤC TÌNH 浴情

Vũ trụ là một phủ chứa tình. Tình chính là mai mối tạo nghiệt. Tình hay dẫn dắt tình đi phiêu bạt mà không biết chỗ đến, thế nên đời có tình yêu nồng thắm thì rốt cuộc sinh làm trâu ngựa. Tình hừng hực tranh danh lợi thì trọn đời bị trói buộc. Nếu dục tình không dứt thì đừng nghĩ đến việc học đạo. Trần Chân Nhân nói: “Tham sân ái dục không lìa được, làm sao thân này được sống lâu”.

HUỆ MỆNH KINH 慧命涇

“Huệ mệnh kinh” là một tác phẩm nội đan  khá đặc sắc, tác giả của nó là Liễu Hoa Dương. Một nhà đan  thuật nổi tiếng đời thanh. “Huệ mệnh kinh” cả thảy gồm 20 chương như: “Lậu Tận đồ”, “Lục hầu đồ”, “Hoàn hư đồ”, “Tập thuyết tuệ mệnh kinh”, “Chính đạo tu luyện trực luận”, “Chính đạo công phu trực luận”, “Chính đạo thiên cơ trực luận”, “Tạp luận thuyết”, “Lý Hàm Hư hậu thiên xuyên Thuật” và “Cửu tầng luyện tâm”…

Trên cơ sở của Đại tiểu chu thiên giai luận đặc biệt nói rõ về Đại chu thiên công. Đặc biệt là nó đã du nhập vào trong lý luận tu luyện của đạo Phật (thích gia), vì vậy “Tuệ mệnh kinh” trở thành một trong những tác phẩm Thích – Đạo hợp nhất điển hình, là một trong những sử liệu để nghiên cứu sự tu luyện của Đạo gia và Phật học có giá trị tham khảo rất quan trọng.
Do cuốn sách có lý luận tương đối thành thực, rõ ràng lại tương đối thông tục cho nên được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian, được sự tôn sùng của không ít đan  gia.

TÙNG HỮU NHẬP VÔ 從有入無

Lúc thái đại dược là tùng hữu (từ có), đến lúc hoàn hư là Nhập vô (vào không) Tổ Ngọc Thiềm nói: “Thái dược vật ở trong bất động, hành hỏa hầu ở trong vô vi, để mộc dục thần khí, phối hợp hình thần, sau đó biết hữu vô trong tâm”.

TÙNG VÔ NHẬP HỮU 從無入有

Lúc luyện tinh là tùng vô (từ không), lúc luyện khí là nhập hữu (vào có). Vì lúc luyện tinh không thấy một mảy lông gọi là vô (không), đến khi luyện khí đã có đan  có thể thấy gọi là hữu (có), Khưu tổ nói: “Luyện khí hóa thần chừ tùng vô nhập hữu”.

TÙY CƠ MẶC VẬN 随機默運

Chu thiên vận hành phải tùy thời cơ mà đến mới có thể khởi vận; nếu không phải tùy thời tùy địa để vận mà khởi vận bừa thì gọi là không vận. Không vận thì có hại mà không có ích, Tiên Tông ghi: “Tùy cơ mặc vận vào huyền huyền, hô hấp phân minh chắc thành tiên”.
 

TÙY THUẬN 随順

Địa khí vốn không tự thăng do thiên khí giáng xuống trộn lẫn lúc cùng tột mới thăng. Bởi dẫn dắt đi lên một cách tự nhiên cho nên lúc luyện đan  tiểu chu thiên vận hà xa, cũng phỏng theo thiên thăng giáng. Không cần để tâm giúp nó hướng về phía trước, mặc cho nó tự thăng, chẳng tức chẳng lìa chắng nắm chẳng buông, không trước không sau, đây gọi là tùy thuận. Tiên tông ghi: “Cổ thánh nói rõ chỉ có hỏa dược, chẳng rời thần khí tự tương tùy”.

TUYẾT HOA PHIÊU KHÔNG 雪花膘空


Mười tháng công phu viên mãn, dưỡng được thai trọn vẹn thời tiết đến, chợt thấy hoa tuyết bay lả tả cần phải động niệm hướng về thái không mà xuất định, nhất thiết chớ lưu luyến. Khưu Tổ nói: “Thiên đình nhìn thấy hoa trời bay, là thời tiết xuất dương thần đã đến”.

TUYỆT TRẦN 絕塵

Là tâm niệm không dính với trần duyên thì những vọng tưởng hư dối không từ đâu phát sinh, tức là không vọng tưởng, liền có thể chuyên tâm quán nhất khí qua lại. Nếu chuyên tâm nhất khí, đan  đạo chẳng khó thành. Tích Tổ nói: “Hỏa hầu trừu thiêm cần tuyệt trần, một hào xem qua một hào sinh”.

TỨ CÁ ÂM DƯƠNG 四個陰暘



“Bốn thứ âm dương”, càn khôn tiên thiên là hai thứ âm dương, khảm ly hậu thiên là hai thứ âm dương. Tu đan  chẳng qua do phép tu luyện tiên thiên hậu thiên bất đồng mà thôi. Lữ tổ nói: “Đan kinh đều nói âm với dương, hai chữ ấy gọi là vạn pháp vương”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #97 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 08:47:06 am »

(tiếp theo)

TỨ CHÍNH 四正

1.  Chỉ bốn nguyên tắc lớn trong việc tu trì hằng ngày. Đó  là “hành chính, tọa chính, lập chính, ngôn chính” (đi đúng đắn, ngồi đúng đắn, đứng đúng đắn, nói đúng đắn).

2.  Chỉ bốn chỗ hiểm là huyệt hội âm, cung nê hoàn, mệnh môn và giáng cung.

3.  Chỉ bốn giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

4.  Chỉ bốn phương đông, tây, nam, bắc.

TỨ CỐC 四谷

“Bốn hang” chỉ mắt, tai, mồm, mũi. Thái thượng linh bảo tịnh minh trung hoàng bát trụ kinh ghi: “Mắt là hang của thần quang, tai là hang của hòa thanh, miệng là hang của Linh tuyền, mũi là hang của chân hương”.

TỨ CÔNG 四功


“Bốn thứ công phu”.

1.    Công luyện khí ngưng thần
2.    Công tận tính chí mệnh.
3.    Công nung diên khô hống.
4.    Công lấy diên bồi ly.


Vạn vật ly thì tan rã, hợp thì lâu dài, pháp luyện đan  cũng chẳng qua là sự hòa hợp ngưng tập mà thôi, Hạ Vân Phong nói: “Trời đất vò lại lớn bằng hạt gạo, song ắt phải hòa hợp ngưng tập rồi sau mới có vật”.

TỨ DỊ 四易

“Bốn thứ dễ”. Thể đồng trinh chưa phá không cần công phu thái bổ, là một dễ. không cần nhiều người hộ trì, bớt tiền bớt bạn, là hai dễ. Tình yêu chưa biết, lòng ưa thích thinh sắc chưa có nên tán loạn với hôn trầm ít, không cần phòng nguy lự hiểm, là ba dễ, Tiết kiệm công phu một trăm ngày trúc cơ, thời gian ngắn có thể thành tựu, là bốn dễ.

TỨ DƯỠNG 四蔏

Tức là dưỡng đạo, dưỡng đức, dưỡng tính, dưỡng thần do phái toàn chân đề xướng. Theo Chân tiên trực chỉ ngữ lục ghi: “Giữ thanh tĩnh điềm đạm là để duỡng đạo, ở cảnh ô nhục thấp hèn, đó là để dưỡng đức. Trừ giận dữ, diệt vô minh đó là để dưỡng tính, giảm ăn uống, bớt vị ngon đó là để dưỡng khí”.

TỨ HẢI 四海


Tu chân bí yếu ghi: “Trong thân con người có tứ hải: một là Khí hải, hai là Huyết hải, ba là Thủy hải, bốn là Cốc hải, tuy có Tứ hải nhưng đều từ một khí mà sinh ra”. Tức là chỉ các chỗ hội họp của tứ hải trong cơ thể con người. Linh khu Hải luận ghi: “Người có tủy hải (não), có huyết hải (xung mạch), có khí hải (Đản trung), có thủy cốc hải (vị: dạ dày), tất cả bốn chỗ đó để ứng với Tứ Hải”.

TỨ HỎA 四火

“Bốn thứ lửa” chỉ kiếp hỏa, văn hỏa, vũ hỏa, phù hỏa. Cứu khổ diệu kinh ghi: “Phàm là sự tiếp xúc giữa vợ chồng thì gọi là kiếp hỏa, cũng thông với Tam quan mà thấu cả vĩ lư, cho nên thuận ra thì thành người, còn như co duỗi kim qui (rùa vàng) thì là văn hỏa, nín thở mà làm, đó gọi là vũ hỏa, khế hợp với nhật nguyệt, thì gọi là Phù hỏa”.

TỨ HỢP 四合

Chỉ trạng thái Hình thần hợp nhất trong quá trình luyện công, tức là “thể hợp với tâm, tâm hợp với khí, khí hợp với thần, thần hợp với nguyên”.

TỨ GIAO TỨ HỢP 四交四 合

Âm giao dương, dương giao âm, âm giao âm, dương giao dương, dương hợp âm, âm hơp âm, dương hợp dương, là bốn hợp. Vân Dương Tử nói: “Nhật giao nguyệt gặp tại hư nguy, thiên nhập địa nguyệt bao nhật, nhật nguyệt ngừng xoay thì trở lại thời hỗn độn, tự giao cấu nhau, lâu dần từ từ ngưng tụ thì bốn chấn dương xuất hiện mà thọ phù”.
 

TỨ NAN 四難

“Bốn việc khó”

1.    Tuổi già thân thể suy kiệt, dược ít thái bổ là khó.
2.    Tâm đã tán loạn, trừng trị quy phục là khó.
3.    Thái bổ phải cần tiền của, bạn bè đầy đủ, được chánh pháp là khó.
4.    Việc đời ràng buộc thân, cởi bỏ trần duyên, chọn địa rất khó.

Kính nội quán ghi: “Biết đạo dễ, tin đạo khó, tin đạo dễ, hành đạo khó, hành đạo dễ, đắc đạo khó, đắc đạo dễ, thủ đạo khó, nếu chẳng khó thì khắp nơi đều là thần tiên”.

TỨ THẦN 四伸

“Bốn loại thần”

1.    Nguyên thần là một điểm linh quang tiên thiên. Gọi là tính bổn nguyên, không có tri giác ý thức.
2.    Dục thần là tính khí chất có được khi cha mẹ giao cấu.
3.    Thức thần là tính túc mệnh nhập vào trong lúc lìa thai, cho nên nhiều trí nhiều thức.
4.    Chân thần do trong ba thân nói trên luyện ra cho nên đầy đủ trí huệ.


Ngộ Chân ghi: “Dù ông liễu ngộ tính chân như, khó tránh khỏi bỏ thân lại lấy thân”.

TỨ THỜI 四時


“Bốn thời”. Bốn thời thuận hành bốn mùa, trời đất, không thể sinh bốn thời mà được hình thành do nhật nguyệt chiếu soi đến. Xung Hư Tử nói: “Trong thời có bốn thời tý ngọ mão dậu, trong năm có bốn thời xuân hạ thu đông, trong ngày có bốn thời mộc dục xung hòa, sử dụng nó nên thuận theo phép tắc”.

TỨ TÔNG 四宗

“Bốn tôn chỉ” đó là bốn điểm quan trọng lớn trong việc dưỡng thân luyện khí. “Lấy Ý mà định tưởng, lấy niệm mà quét trần (trần tục). Lấy Kinh là liễm Tâm. Lấy tọa (ngồi) mà ngưng thần” (Đạo pháp hội nguyên q.154).

TỨ TU 四修

Tức là Tu Đạo, Tu Tính, Tu Tâm và Tu Đan . Tiên Học Chính Truyền ghi: “Vì trời đất muôn vật đều do đó mà sinh ra, thì đó gọi là Đạo. Vì người vật đều nhờ Đạo mà sinh ra thì đó gọi là Tính. Vì vận dụng tính này. Nên đó gọi là Tâm. Vì Thủy Hỏa luyện tâm đồng tính. Luyện tính hợp đạo, vĩnh viễn chẳng hoại nên gọi là đan . Nói một thứ bao gồm cả bốn thứ ở trong”.

TỨ TỰ QUYẾT 四字抉

Bốn chữ khẩu quyết là Hấp (hít vào), Để (chống lại), Toát (tập hợp), Bế (đóng lại). Khi một trăm ngày trúc cơ, đây là khẩu quyết của bước ngoặt khẩn yếu. Kinh Huỳnh Đình ghi: “Lấp bít mệnh môn là đóng kín đường tinh”.
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #98 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 08:50:22 am »

(tiếp theo)

TỨ TƯỢNG 四象

“Bốn hình tượng”. Đông là Thanh long tượng, tây là Bạch hổ tượng, nam là Chu tước tượng, bắc là Huyền vũ tượng. Hai tượng thái dương, thiếu dương do dương nghi sinh ra, hai tượng thái âm thiếu âm do âm nghi sinh ra. Khi bàn về thể dụng thì lấy càn không khảm ly làm tứ tượng. Tý ngọ là nam bắc dùng vũ, mão dậu là đông tây dùng văn, là tứ tượng cua chu thiên hỏa phù. Tổ Tử Dương nói: “Tứ tượng không rời nhị thể, bát quái cùng nhau làm con cháu, vạn tượng sinh ra biến động, kiết hung bói toán nay phân chia”.

TỬ KHÍ 死氣

Chỉ không khí hàng ngày từ 11 giờ đến 23 giờ, hoặc các thứ khí uế tiện, Vân cấp thất thiêm ghi: “Tử khí là khí chết của tứ thời ngũ hành”.

TỬ KIM ĐAN 紫金丹

Lúc thần siêu nội viện giống như hỏa long vọt bay lên hiện ra muôn đạo kim quang, kế đó kim quang biến thành tử quang, như vàng luyện đến sắc tía là do lửa lớn nung luyện ra, ánh sáng trong ngoài chí cương chí kiện, chí thánh chí thần, biến hóa tùy tâm, bay liệng như ý. Lên đến nhất thừa tối thượng. Thoát ra ngoài âm dương tạo hóa. Thần lúc này gọi là tử kim đan . Ngộ Chân ghi: “Bảo mệnh toàn hình biết tổn ích, tử kim đan  dược rất linh kỳ”.

TỪ MẪU CÂN LƯỢNG 子母斤亮

Thần trong tâm gọi là hống tính. Tính trong tâm gọi là hống dịch. Thâu hống tính nơi huỳnh đình, ngưng hống dịch trong tử phủ, đây là long hống, gọi là chân hống. hiệu là nội đan , tên là âm đan , là con của hậu thiên nửa cân khí trong thân gọi là diên tình, tình trong thân gọi là diên hoa, xét diên tình nơi cung ly, thái diên hoa nơi cửa đoài, đây là hổ diên, gọi là chân diên, hiệu là ngoại đan , tên là dương đan , là mẹ của tiên thiên tám lạng, Tổ Lê Hoàn nói: “Chân hống nửa cân, diên nửa cân, ẩn núp tại linh nguyên thái cực”.

TỰ GIA 咱家


Tức là tự kỷ, bàng môn giải thích chữ “gia” là nam nữ trong nhà đối địch nhau, Đạo âm dương phối hợp, họ hiểu ngược lại rằng: “Tổ sư nói tự gia vì sao không nói tự kỷ tự thân, khiến người sau tin cho là chân thật, không hướng về cái sẳn có của chính mình mà nghiên cứu, lại chạy theo bên ngoài lấy cái khác làm dược vật, dối người gạt mình mà không biết”. Lữ tổ nói: “Khảm ly khôn đoài gặp tý ngọ, phải nhận lấy căn tổ của tự gia”.

TỰ NHIÊN 咱然

Chí chuyên nhất sinh ra thiên cơ tự nhiên, không thể cưỡng chế, không thể phóng túng, phù hợp tự nhiên. Phép luyện đan  nếu như để theo phép tự nhiên thì tiến hỏa thoái phù tự được sự vận hành nhiệm mầu, tức là đem chân ý của mình ứng với sự động tĩnh của tự nhiên mà thôi. Lữ Tổ nói: “Thuận theo tự nhiên chẳng phải là để mặc đến đâu thì đến”.
 

TƯƠNG CỨ KIẾN VĨ 相據建娓


Tuơng cứ là long vốn ở hướng đông mà nay chiếm cứ hướng tây, hổ vốn ở hướng tây mà nay chiếm cứ hướng đông. Kiến vĩ là mão dậu ngưng vận hành. Hứa Tổ nói: “Thần vận khí hóa trên thì kinh thiên, dưới thì vĩ địa”.

TƯỚNG HỎA 相火

Can thuộc mộc, mộc hay sinh hỏa, thận thuộc thủy, trong thuỷ chứa hỏa, giận dữ phát khởi trong gan mà động lửa giận gọi là tướng hỏa, tham dục khởi lên trong thận mà động lửa dục cũng gọi là tương hỏa, đan  đạo tối kỵ hai thứ hỏa này, nếu hai hỏa này chưa trừ tuy được đạo yếu vẫn không được tu đan . Tiên Tông ghi: “Tướng hỏa là lửa giận dữ, lửa này một phen khởi ra là đốt sạch các công đức trước”.

TƯƠNG HỘI 相會


Lúc thần khí mới gặp nhau giống như mẹ con xa nhau lâu ngày gặp lại, quyến luyến không rời, lại như vợ chồng giao hợp, hai tình khế hợp thì vô cùng vui sướng, Cổ tiên nói: “Thường dạy mỹ nữ chải đầu và trang điểm (tỷ dụ nguyên thần bỏ hết tư dục), thiếu lang gặp gỡ tình nghĩa thêm lớn (tỷ dụ nguyên khí tĩnh cực mà động)”.

TƯỢNG TRƯNG 象徵

Thân tâm vô ngại, đan  đã thành tựu là dấu hiệu sắp thoát xác. Tổ Tam Phong nói: “Tượng Đại sĩ là chân tính ở giữa, Hồng Hài Nhi là chân hỏa ở bên phải trong dương chứa âm, Long Nữ là chân thủy ở bên trái trong âm chứa dương”.

TỬU NHỤC 酒肉

Chữ nhục trong có hình hai người, nam trên nữ dưới, dương trên âm dưới, khí trên thần dưới, là hiện tượng thần khí giao hợp, âm dương giao cấu, cũng là tiểu dược, Tửu là đại dược do tinh khí thần hợp nhất, gọi là kim dịch, quỳnh tương, cam lộ, Xao Hào ca ghi: “Cũng uống rượu, cũng ăn thịt…, giữ giới rượu thịt thường đầy bụng”.

TỬU SẮC 酒色


Tửu là đại dược, sắc là tiểu dược. Bắt đầu luyện lấy diên bồi đắp ly là tiểu dược, diên vốn sắc đen nhưng được ly hỏa nung luyện mà biến thành sắc trắng, cho nên chữ sắc đại biểu cho tiểu dược. Kim đã luyện đến trở về nguyên vị tức là hậu thiên luyện đến trở lại tiên thiên, cho nên chữ tửu đại biểu cho đại dược, bởi sau khi uống đại dược là có thể bước lên chỗ tiên ngồi. Lữ Tổ nói: “Sắc là dược, tửu là lộc trong tửu sắc không ràng buộc”.

TÝ NGỌ 子午

1.  Chỉ nguyên khí, nguyên thần, Viên Lâm thời Thanh ghi: “Tý là thủy, là khảm, là nguyên khí trong thận, ngọ là Hỏa, là ly, là nguyên thần trong tâm”.

2.  Chỉ Hỏa Hậu luyện dưỡng Nội đan , Tham đồng khế ghi: “Tý chuyển theo chiều tay phải tới tây, ngọ xoay theo hướng đông tới Mão, âm dương qua lại 12 giờ đó phù hợp với Hỏa Hậu”.
 
3.  Chỉ huyệt Vĩ lư và cung Nê hoàn. Tham đồng khế ghi: “Thân thể người ta, nói về định vị của Hình thể thì có Tý Ngọ Mão Dậu nam Bắc đông tây bất động. Vĩ lư ở hạ bộ là Bắc là Tý, cũng coi như là tây, Dậu; vì Đoài kim và khảm thủy cùng thuộc Hữu Phương, có thể nói chung với nhau. Nê Hoàn ở thượng bộ là nam, là Ngọ, cũng coi như là đông, Mão; vì Chấn mộc và Ly hỏa cùng thuộc tả phương, có thể nói chung với nhau”.

TÝ NGỌ MÃO DẬU 子午卯酉

Tý ngọ là bên lạnh bên nóng. Tiến thoái nơi đầu bụng, Mão Dậu là bên sống bên chết, mộc dục lưng bụng. Tổ Hoàn Dương nói: “Tý ngọ mão dậu định chân cơ, điên đảo âm dương ba trăm tức”.

TÝ NGỌ TRỪU THIÊM 子午抽添

Tam quan trước thuộc âm là ngọ, tam quan sau thuộc dương là tý, sau thăng lên là trừu diên, trước giáng xuống là thiêm hống. Oánh Thiềm Tử nói: “Lấy dương trong cung khảm, bổ âm trong cung ly, gọi là trừu diên thiêm hống”.


TỲ THẦN 脾神

Tỳ thần là mậu kỷ thổ ở giữa, là chân ý trong tâm, động mà biến thành hỏa hỉ nộ ái lạc, thì chẳng phải thổ. Chỉ có trong Tĩnh cực xuất hiện nguyên thần thì hỏa hóa làm thổ, cho nên Đan Kinh nói chân ý là Huỳnh Bà, là Kỷ thổ. Do tâm lặng lẽ an định thì chân ý thuần thục chiếu soi huỳnh đình và huỳnh đình cách tỳ trong gang tấc, tâm hỏa diệt mà biến thành thổ, kinh Huỳnh Đình ghi: “Tỳ thần trở về nơi vị gia, hoãn dưỡng linh căn chẳng khô nữa. Lấp bít mệnh môn bảo vệ Ngọc đô, muôn thần với mới dư thừa phúc thọ”.
 

(Xem tiếp  Vần U)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 09, 2011, 08:52:05 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #99 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 08:56:49 am »

(tiếp theo)

U

ƯNG LỤC THỌ PHÙ 應戮壽符

Ưng là tin phục, ghi tạc vào lòng kim lục bí văn, nhất định sẽ được phù hợp đạo phản hoàn, trở về mặt mũi xưa nay của mình, không còn phiêu lưu trôi nổi mới không rơi vào bàng môn tả đạo. Nhưng những bí văn này rất khó hiểu ắt cần chân sư chỉ dạy, nếu không thì những văn chương cổ đại, ẩn ngữ, tỷ dụ lại nhiều mà không làm sao hiểu hết. Bão Phác Tử ghi: “Năm ngàn lời dù Lão tử nói ra, trong đó không hoàn toàn nêu ra việc ấy, đọc mà không hiểu thì thật là vô ích. Văn chương của Văn Tử, Trang tử, Doãn Hỷ mãi không là lời chí lý, hoặc cho rằng cùng sinh tử là không khác, hoặc cho rằng còn sống là lao dịch, hoặc cho rằng chết mất là ngừng nghỉ”.
 

V


VÃNG LAI BẤT CÙNG 往來不窮

“Qua lại không ngừng”. Khi hô hấp con người chưa hề gián đoạn, gọi là bất cùng, Hơi thở hậu thiên nhời khí tiên thiên thúc đẩy chẳng dứt gọi là vãng lai. Ngũ Chân Nhân nói: “Dùng hô hấp hậu thiên tìm chỗ hô hấp của chân nhân, là theo dòng tìm đến nguồn”.

VĂN HỎA 文火


Tu đạo toàn chỉ ghi: “Văn hỏa là khí hô hấp, nhỏ nhẹ đạo dẫn. Tắm gội ôn dưỡng”. có người cho rằng vô ý tức là “Văn hỏa”. Nguyên thần vô ý, như lửa như ôn. Thức thần có ý thì gọi là “Vũ hỏa”.

VĂN VŨ HỎA HẬU 文武火候

Hỏa hậu như nấu cơm, lúc mới nhuốm lửa nước lạnh gạo sống. Phải dùng vũ hỏa mãnh liệt khiến nó mau nóng. Nếu hoãn gấp không điều hòa. Lúc cháy lúc tắt thì cơm được nấu sống chín không đều, vị cũng không ngon. Nếu đã dùng lửa lớn nấu qua thì nên dùng lửa nhỏ nấu từ từ cơm chín thì dừng lửa, nếu như vẫn dùng lửa lớn thì có sự sôi trào nước và cơm khê vị đắng. Luyện đan  vận dụng văn vũ hỏa hậu cũng thế, như trăm ngày tiểu chu thiên lúc luyện tinh nên dùng vũ hỏa, mười tháng đại chu thiên lúc luyện khí nên dùng văn hỏa. Nhưng nấu cơm là nấu vật có hình cho nên thời gian ngắn mà dễ, còn nấu luyện kim đan  là vật không hình không chất, nếu hỏa hậu không được thích hợp thì ít thành công. Vì thế phải cầu minh sư chỉ dạy, không cho phép sai khác mảy tơ, đan  kinh chẳng phải là lời giả dối. Hư Tỉnh thiền sư nói: “Lòng dục một khi sinh khởi mau dùng vũ hỏa”.

VẬT SẢN 物產

Dương sinh khí động vì nó không thể đoán được gọi là vật, trong không sinh ra có gọi là sản, Cái sản sinh ra không có nên gọi và hình dáng được ví von bằng vật. Du Tổ nói: “Diên được hống để sinh hình, thiên nhập địa để sản vật”.

VẬT VONG VẬT TRỢ 物忘物助

“Chớ quên chớ giúp”. Giữ nó thanh tịnh tự nhiên là vật vong (không quên), thuận theo tự nhiên kia là vật trợ (không giúp). Giống như lấy  tâm làm nhựa, lấy đan  điền làm cây cột, Tâm gìn giữ nơi đan  điền giống như buộc ngựa nơi cây cột khiến nó không lìa, không quên tức là dụng công không nghỉ, không giúp tức là không nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Ngộ Chân ghi: “Tự có thiên nhiên chân hỏa hậu, không cần than củi và thổi lửa”, “lấy mặc lấy nhu giữ gìn tính hỏa, không quên không giúp linh thai”.
 

VI DƯƠNG 微暘

Nghĩa là lúc cơ mới phát, như vào đông chí nhất dương mới động là vi, đến mùa xuân thiên dương vượng thì hay sinh vật, vì dương suy sức yếu không thể vọt quá quan vẫn phải hàm dưỡng, Đại Tượng nói: “Đến ngày bế quan để dưỡng vi dương”

VĨ LƯ 尾櫚

Chỉ đốt sống xương cùng của đuôi. Chính cốt Tâm Pháp Yếu Chỉ ghi: “Xương cùng tức là xương mông đít, hình dáng trên rộng dưới hẹp, đỡ các xương của sống lưng, hai bên đều có bốn lỗ, còn gọi là “bát liêu”, đốt cùng gọi là “Vĩ Lư”, còn gọi là đầu cùng (Để đoan), xương quyết (quyết cốt), xương cùng (Cùng cốt), tục gọi là Vĩ Xuân”.

VỊ TẾ 未濟

Quẻ vị tế, hình quẻ là Khảm hạ Ly thượng là quẻ cuối cùng trong 64 quẻ Chu Dịch. Cùng với quẻ ký tế đều thể hiện tinh thần biện chứng, cái cũ đi qua, cái mới liền tới của Kinh dịch, Tự Quái truyện ghi: “Vật chẳng thể tận cùng, cho nên tiếp ngay sau quẻ Ký Tế là quẻ Vị Tế”. Có nghĩa là Càn Khôn chẳng nghỉ, tranh đấu không ngừng, sự vật không thể tận cùng.

VIÊN MÃN 圓滿

Trước hạ huyền, sau thượng huyền, huyền khí trên dưới hợp nhất là dương trong dương, hai cái tám lạng hợp làm một cân, là thời gian Viên Mãn, Tổ Tam Phong nói: “Trăng tròn tồn nơi khẩu quyết, giờ Tý diệu nơi tâm truyền”.

VÕNG TƯỢNG 罔象

“Không hình tượng”. Như nói tượng vô là vô vi, Phải dùng hỏa vô hình để cầu hạt châu hữu hình, võng tượng tức là nghĩa quên hình, luyện kim đan  ắt phải võng tượng vong hình ngõ hầu có được tiên thiên nhất khí. Nguyên Bảo Chương ghi: “Lặng lẽ không động căm mà thông, Nhìn thấy âm dương tạo hóa công”.

VÔ CĂN 無根

Chỉ Tiên Thiên nguyên khí ở con người. Cổ nhân cho rằng, vạn vật sinh ra từ khí, khí sinh ra ở chỗ hư linh. Nên gọi là vô căn. Nạn kinh ghi: “Khí là gốc rễ của con người, gốc rễ đứt thì cành lá khô héo”. Quản Tử: “Phàm đạo vô căn vô cơ, vô diệp vô vinh, vạn vật nhờ đó mà sinh, vạn vật nhờ đó mà thành”. Đạo nói ở đây chính là khí.

VÔ CỰC 無極

Đạo gia dùng “Vô cực” để hình dung trạng thái nguyên sơ vô hình vô tượng của vũ trụ. Đạo Đức Kinh ghi: “Biết cái trắng, giữ cái đen, làm gương mẫu cho thiên hạ, thường đức không hai, lại trở về vô cực”. sau Trần Đoàn phát triển, đưa Vô cực vào lý luận Nội Đan, trở thành cảnh giới cao nhất của việc tu luyện nội đan , chủ trương luyện thần hoàn hư trở lại vô cực.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #100 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 09:03:32 am »

(tiếp theo)

VÔ CỰC ĐỒ 無極圖

“Vô cực đồ” là tác phẩm của đạo sĩ nổi tiếng đời Tống tên là Trần Đoàn, được khắc trên vách đá núi Hoa sơn, đó là tác phẩm nổi tiếng về luyện đan , kết hợp nhuần nhuyễn lý luận trong “Chu dịch” và “Lão tử”.

Trần Đoàn là đạo sĩ đời Tống, tác phẩm của ông gồm có “Vô cực đồ”, “Thái cực đồ”, “Tiên thiên đồ” và “Chỉ huyền thiên”, Tư tưởng học thuật của ông sau này được Chu Đôn Di và Thiệu Ung tuyên truyền rộng rãi, đó là một bộ phận cấu thành của rất nhiều học thuyết thời Tống Minh nhất là việc Chu Đôn Di đã đảo ngược vị trí sắp xếp “vô cực đồ” ban rộng ra, biến lý luận thuật luyện đan  thành học thuyết về cội nguồn của vũ trụ, đó là một bước phát triển quan trọng của “Thái Cực Đồ”.

Trần Đoàn là một nhà tư tưởng Đời Tống, ngay từ nhỏ đã thông hiểu kinh, thư, tinh thông dịch lý, Từng ẩn dật ở đất Vũ Đương tỉnh Hồ Bắc và ở cả Thục Trung. Ông hiểu sâu, biết rộng rất được Tống Thái Tông kính nể, nổi tiếng khắp trong triều ngoài nội.

Cũng do Trần Đoàn là con người sùng nho ham Dịch, thông hiểu sâu sắc, cho nên sau các sách “Chu Dịch tham đồng khế”, “Thái bình kinh” và “Ngộ Chân Thiên” các tác phẩm của ông là những điển hình kiệt xuất của việc đưa dịch lý vào học thuyết Đạo gia. “Vô cực đồ” cũng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dịch lý và lý luận Đạo đan .

VÔ HÌNH KHIẾU 無形噭

Ở giữa bốn huyệt, ở dưới kim đỉnh Huỳnh Đình,  ở trên quan nguyên mệnh môn. Liễu Chân Tử nói: “Lão tử mở ra nhiều diệu môn, mỗi khi mở ra đóng lại ứng càn khôn, kết quả ở chỗ không hình tượng, trường sinh bất tử thật có hồn”.

VÔ HÌNH HỮU HÌNH 無形有形

Trong lúc một trăm ngày luyện tinh có cảnh tượng hóa khí. Nhưng khí làm sao có hình, chẳng phải thật sự có hình chất mà là có hình tợ như hỏa nhiệt, hình này trong tương lai có thể xuất ra thần, biến hóa chân hình là ngoài thân có thân, là trong không sinh ra có. Nhưng hình vô hình này thu nhặt nó rất khó vì nó sinh ra sau khi đã thu nhặt. Đan  kinh ghi: “Có đan  điền như lửa hừng hực, có hai quả thận như nước sôi, có hình tự hỏa châu, có tượng tợ ánh trăng”.

VÔ HỮU THỜI GIAN 無有時間

Thiên địa nhật nguyệt có thời gian nhất định để tính, duy hỏa hậu của luyện đan  dù có đan  trình quy định mà thời gian nếu không nhất định thì chỉ có hỏa hậu tự nhiên phát động mà thôi. Cổ tiên nói: “Ngày đêm sớm tối xem hỏa hậu”.

VÔ HUYỀN KHÚC 無弦曲


“Đàn không dây”, sau khi được đan , thái hòa tràn đầy, tai có linh hưởng như nhạc khúc, mắt có thần quang, mũi có mùi hương lạ, miệng có tân dịch kỳ lạ, các thứ cảnh tượng lạ lùng, đầy đủ mà không đồng đều. Kinh Thái thượng Nhật dụng ghi: “Tai nghe tiên âm vô huyền khúc, không nói mà tự nghe, không gõ mà tự kêu”.
 

VÔ KHỔNG ĐỊCH 無孔笛

“Sáo không lỗ”. Là khí huyệt vì hình dáng giống ống sáo, ở giữa không có lỗ, chỉ có lỗ ở hai đầu. Tổ Tam Phong nói: “Xá nữ thổi sáo không lỗ, Kim Công đánh  đàn không dây”.

VÔ NGÃ 無我

Luyện kỷ trước hết phải giữ cho vô ngã, Tâm ta một khi khởi liền thành tư tâm, tư tâm mỗi khi động liền thành dục niệm, dục niệm một khi sinh liền mờ tối lương tâm, tổn người lợi mình, không việc gì chẳng làm, nếu tâm giữ gìn vô ngã thì nhất cử nhất động đều cho công bình vô tư. Nhân ngã đều quên thì tự nhiên hơp chân với đạo. Thượng Dương Tử nói: “Mau mau xô ngã núi nhân ngã, khẩn cấp mở toang huyệt long hổ”.

VÔ NIỆM VÔ TƯỞNG 無念無想


Vô niệm là không có tạp niệm, chứ không phải là không có một chút niệm, không có chút niệm là rời vào ngoan không, vô tưởng là không nghĩ tưởng việc quá khứ hiện tại vị lai, chứ chẳng phải là không có một tưởng, nếu không có một tưởng thì tâm đặt ở chỗ nào? Tâm chuyên nhất thì tạp niệm tự không, thần quán nhất thì vọng tưởng tự trừ, giác ngộ chờ đợi sự sống chết liền có thể chuyên tâm, quán trụ nhất khí không nghĩ gì khác liền có thể đắc nhất. Tham đồng khế ghi: “Chứng nghiệm tự chuyển dời, tâm chuyên không tung hoành, ngủ say thần ôm ấp, giác ngộ chờ sống chết”.

VÔ SỐ 無數


Thực hành công phu đại chu thiên, đã không dùng số mục quy định, cũng không dùng khắc lậu tính đếm, tất cả vô vi để tùy thuận tự nhiên, như phụ nữ mang thai để nó tự nhiên thai sẽ tròn đứa trẻ được sinh ra, Tổ Ngọc Thiềm nói: “Tâm vào hư vô hành hỏa hầu, đan  pháp thượng phẩm không có quái hào”.

VÔ THỦ VÔ VĨ 無首無尾


“Không đầu không đuôi”. Nghĩa là chân dương không cần đầu đuôi. Không đầu chưa thấy vì dương khí không đủ. Không đuôi đã thầy vì trong dương đã có âm chất. cho nên đều kông thể dùng. Cần phải trong lúc sắp thấy chưa tấy mới dùng được. Ngộ Chân Ghi: “Thấy thì không thể dùng, dùng thì không thể thấy, trong chỗ lờ mờ gặp nhau, trong chốn mờ mịt có biển, một loáng ngọn lửa bay, chân nhân tự xuất hiện”.

VÔ TRUNG SINH HỮU 無中生有


“Trong không sinh có”. Như Lửa trong đá, ánh sáng trong hạt châu. Lửa hay ánh sáng này khi chưa phát hiện thì nhìn không thấy. Luyện đan  cũng thế, trước khi chưa được đan  cũng nhìn không thấy, lắng không nghe, Nhập Dược Cảnh ghi: “Chân thác thược, Chân đỉnh lô, có trong không, không trong có”.
 

VÔ TƯỢNG VÔ THỂ 無象無體


Vô tượng là khí, vô thể là thần. Lấy vô tượng hợp với vô thể khả dĩ lâu dài, thần khí hợp nhất thì khả dĩ kết đan . Kinh Xích Văn Động Cổ ghi: “Dưỡng cái vô tuợng thì tượng thường còn, giữ cái vô thể thì thể toàn chân. Toàn chân tương tế khả dĩ lâu dài”.

VÔ VI HỮU VI 無為有為


Vô vi là thiên tính, hữu vi là thiên mệnh, vô tri là nguyên thần, hữu giác là nguyên khí, Cốc Thần Tử nói: “Đạo lấy chí thần làm gốc, lấy chí tinh làm dược, lấy xung hòa làm dụng, lấy vô vi làm trị”. Khổng tử nói: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh ra”.

VÔ VI NHI VI 無為而為


“Không làm mà làm”. Trời đất vô vi mà sinh vạn vật, nhật nguyệt vô vi mà vận hành bốn mùa, thánh nhân vô vi mà cai trị thiên hạ, đều không làm mà làm, tự nhiên mà như thế. Như phụ nữ mang thai, bà mẹ vốn chưa làm gì cả mà thai nhi từ nơi không sinh có, bà mẹ không tự biết nó sinh trưởng thế nào. Công phu mười tháng dưỡng thai trong luyện đan  cũng giống y như thế. Tổ ngọc thiềm nói: “Không đến không đi không tiến thoái, chẳng thêm chẳng bớt chẳng triều thiêm”.

VŨ HỎA 武火

Còn gọi là Dương hỏa, Tu Đạo Toàn chỉ ghi: “Vũ hỏa là khí hít thở thổi mạnh đi khắp nơi, dùng vào việc nấu luyện”. Tham Đồng khế chú: “Diên (Chì) thuộc kim, tính chất rất cứng. Nằm ở trong Khảm, nếu không chưng luyện mạnh thì không thể bốc lên, nên dùng Vũ hỏa thúc ép nó, chứ không thể dùng Văn hỏa”. Đạo Hương Tập ghi: “Vũ Hỏa là gì? Liên miên không ngừng, ngừng thì trở lại như cũ, trong thuật nội đan , chỉ cho sự hít thở mãnh liệt không ngừng nói chung khi hít khí thì kéo dài, khi thở khí thì ngắn, mục đích làm cho nội khí bốc lên nhanh.

VƯƠNG CHỦ TRUNG TÂM 王注中心

Vạn vật đều có một điểm nhân từ, làm chủ bên trong, ra mệnh lệnh gọi là vương, chỗ gọi là Thiên quân, mệnh do đây lập, tính do đây tổn, hai thứ này cùng sinh ra mà khác tên, nguyên là vật cũ trong khiếu, Tổ Hải Thiềm nói: “Trung Ương chính vị vốn hư vô, tự có thần khí tiên thiên đến”.


VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG 王重暘


(1112-1170) Đạo sĩ nổi tiếng thời kim, người khai sáng ra đạo Toàn Chân. Vốn tên là Trung Phu, Tự là Doãn Khanh, sau đổi tên là Thế Hùng, tự là Uy Đức, sau khi nhập đạo, lại đổi tên là Triết, tự là Trí Minh, hiệu là Trùng Dương Tử. Ông người Hàm Dương, Thiểm Tây, xuất thân gia đình giàu có, Thuở trẻ là nho sinh, lại giỏi cưỡi ngựa bắn cung, năm Thiên Quyến đời Kim Huy Tông (1138-1140) ứng thi võ cử, trúng giáp khoa, ra làm chức quan nhỏ, ông hận có tài mà chưa gặp thời, sống ẩn cư. Năm Chính Long 4 đời Kim Hi Tông (1159) tự phao lên rằng đã gặp tiên ở trấn Cam Hà, được truyền chân quyết tu luyện, rồi ngộ đạo xuất gia. Ông tự xây huyệt cho mình ở núi Chung Nam, gọi là “mộ của người chết đang còn sống”.

 Năm Đại Định 7 nhà Kim (1167), ông đến Sơn Đông, lần lượt thành lập ra các hội tam giáo Thất  Bảo, Tam Giáo Kim Liên, Tam Giáo Tam Hưng, Tam Giáo Ngọc Hoa, Tam Giáo Bình Đẳng tại Văn Đăng, Ninh Hải, Phúc sơn, Đăng châu, Lai Châu…, để tiến hành thuyết pháp truyền đạo, cùng thời gian này ông tiếp nhận 7 đồ đệ là Mã Ngọc, Đàm Xử Đoan, Lưu Xử Huyền, Khâu Xử Cơ, Vương Xử Nhất, Hách Đại Thông, Tôn Bất Nhị, sáng lập ra đạo Toàn Chân.

Vương Trùng Dương kết hợp tư tưởng của Nho – Đạo – Thích với nhau, chủ trương tam giáo bình đẳng, tam giáo hợp nhất, kêu gọi “Nho – Thích – Đạo” tương thông, tam giáo vốn cùng một tổ”. Lấy Đạo Đức kinh, Bát nhã ba la mật đa tâm kinh và Hiếu kinh làm sách kinh điển mà các tín đồ đạo Toàn Chân bắt buộc phải học tập.

Ông không chuộng bùa chú, không  luyện vàng bạc, cũng không tin thuyết “Bạch Nhật Phi Thăng”, mà cho rằng cái căn bản của tu đạolà tu tâm, do đó cần dẹp tình bỏ dục, sao cho đạt tới mức tâm địa thanh tĩnh, thì thân thể tuy lại phàm trần nhưng cái tâm đã lên cõi thánh, tức “lòng mình luôn được thanh tĩnh, đó chính là con đường tu hành nhanh nhất”.

Tháng 1 năm Đại Định  10 (1170) Ông mất tại Đại Lương (nay là Khai Phong, Hà Nam). Năm Chí Nguyên 6 đời nguyên Thế Tổ (1269) được truy phong là Trùng Dương Toàn Chân Khai Hóa chân quân, năm Chí Đại 3 triều Vũ Tông (1310) được phong là Trùng Dương Toàn Chân Khai Hóa Phụ Cực chân quân, được đạo Toàn Chân tôn là một trong Bắc ngũ tổ. Tác phẩm có: Trùng Dương Toàn Chân Tập, Trùng Dương lập Giáo thập ngũ luận, Phân lê thập hóa tập.

VƯƠNG XỬ NHẤT 王處一


(1142-1217)  Đạo sĩ thời kim. Hiệu là Ngọc Dương  (Có thuyết  nói tự là Ngọc Dương, hiệu là Toàn Dương Tử, có thuyết nói hiệu là Hoa Dương Tử). Người Ninh Hải (nay là Mậu Bình, Sơn Đông). 

Thờ Vương Trùng Dương làm thầy, tu tiên ở động Yên Hà núi Côn Lôn, vào năm Thừa An (1196-1200) vua Chương Thông nhà Kim triệu kiến, hỏi rằng “có thể biết trước là vì sao?”

Ông trả lời: “Cái gương có thể chiếu vật, đây chỉ là cái diệu linh minh của mình mà thôi”. Sau ông sáng lập ra phái núi Côn Lôn Đạo  Toàn Chân, là một trong “Bắc thất chân”.

Tác phẩm có Vân Quang tập, Thanh Chân tập, Năm Chí nguyên 6 (1269) được tặng danh hiệu Ngọc Dương Thể Huyền Quảng Độ chân nhân, Đời gọi là Ngọc Dương chân nhân.
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #101 vào lúc: Tháng Năm 09, 2011, 09:10:13 am »

(tiếp và hết)

X


XÁ NỮ 奼女

1. Chỉ tâm

2. Chỉ một vị thuốc luyện đan , tên khác của thủy ngân.

 Tham Đồng Khế ghi: “Xá nữ trên bờ sông, linh thiêng rất thần diệu, gặp lửa thì bay lên, không thấy chút bụi bẩn”.

XAN TÂN 餐津

Chỉ luyện công dưỡng khí, nuốt tân dịch (tân dịch là nước bọt. nước dãi được tiết ra trong miệng, còn gọi là nước miếng).

XAO TRÚC HOÁN QUY  敲竹喚喚

“Gõ trúc gọi rùa”. “Xao” là động tác gõ khẽ, cũng có nghĩa là đi sâu nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề. “Trúc” là loại rỗng ruột, nếu gõ thì có tiếng vang lại ngay. “Minh tâm kiến tính” được đan  kinh ví với “xao trúc” gõ nhẹ vào trúc). “Quy” (rùa) là tượng trưng cho Nguyên Tinh. “Hoán quy” (gọi rùa) chính là Điều tinh luyện dược. Luyện âm luyện dược đồng thời hạ công. Dùng Tính công nhập tĩnh để chờ Mệnh công có động, đó là “xao trúc hoán quy”.

XÍCH ĐẠO 赤道


Là mạch nhâm, con đường tâm khí qua lại, vì tâm sắc đỏ cho nên gọi là xích đạo. Tâm hỏa bốc lên làm cho nó giáng xuống thì tâm mát thận ấm là thủy hỏa giao nhau. Ngũ chân nhân nói: “Hỏa hành sau giờ tý trước giờ ngọ, có hai đường hoàng xích là hỏa hậu của chu thiên”.

XÍCH THỦY HUYỀN CHÂU 赤水玄珠


Xích thủy là thần hống. Huyền châu là hắc diên. Là biệt danh của thần khí biến hóa khi công phu luyện đan  đạt đến thần khí hợp nhất. Tổ Tử Dương nói: “Mổ xẻ huyền châu nơi xích thủy, mài giũa bạch ngọc ở lam điền”.

XUẤT ĐỊNH NHẬP ĐỊNH 出定入定

Mới xuất định cần phải lúc nhập nhiều, lúc xuất ít, cần phải siêng năng xuất, mau chóng nhập. Mới xuất định tức là vừa nhập định nhất thiết không được lưu luyến ngoại cảnh. Tiêu Tổ nói: “Công thành phải chờ cảnh xuất thần, nội viện sấm uất không vướng thân, nắm lấy pháp siêu thoát của cổ tiên thì cưỡi hạc phiêu bồng hầu hạ Tam Thanh”.

XUẤT GIA 出家

Chẳng phải làm Tăng sĩ, làm Đạo sĩ, làm Giáo sĩ, Bởi vì tiên gia luyện đan  ắt phải lìa xa gia đình, vứt bỏ mọi việc thế gian, như công danh, phú quý, con cái, đây gọi là xuất gia. Sau khi hoàn đan  phải ở nơi thâm sơn cùng cốc, làm bạn với núi cao rừng thẳm. Tổ Tam Phong nói: “Luyện Kỷ nơi trần tục, dưỡng khí tại núi rừng”.

XUẤT HUYỀN NHẬP TẨN 出玄入牝


Xuất huyền là hô (thở ra), là dương, nhập tẩn là hấp (thở vào), là âm. Hô hấp ra vào, tại trời đất là trong 84.000 dặm, tại thân người là trong 8 tất 4 phân, Huyền là một khi tiến liền thở ra, tẫn một khi thoái liền thở vào; một đóng một mở mà phân ngày đêm, một tiêu một tức mà định cuối tháng đầu tháng; một co một duỗi mà phân lạnh nóng, một vui một giận mà ứng xuân thu, tứ thời ngũ hành không gì chẳng hoàn toàn đầy đủ, kinh Tâm Ấn ghi: “Xuất huyền nhập tẫn như mất như còn, kéo dài chẳng dứt, cố đế thâm căn”.

XUẤT NHẬT NHẬP NGUYỆT 出日入月

Huỳnh đình nội cảnh ghi: “Thứ thở ra đó là dương của mặt trời. thứ hít vào là âm của mặt trăng”. “Thở ra từ tim và phổi, hít vào tới thận và gan”. Thở hít ra vào, âm dương đổi nhau đó chính là “xuất nhật nhập nguyệt”.

XUẤT THAI 出胎

Có nghĩa la đan  thành thần hiệu. Tuệ Mệnh Kinh ghi: “Lăng nghiêm chú nói: bấy giờ Thế Tôn từ trong búi tóc tỏ ra trăm luồng ánh sáng báu, trong ánh sáng đó nẩy ra ngàn cánh sen báu. Có hóa thân Như Lai ngồi trong hoa báu, đỉnh đầu tỏ ra mười luồng ánh sáng báu trẳng, đều thị hiện khắp nơi, đại chúng ngẩng xem Phóng Quang Như Lai tuyên thuyết Thần chú, đó tức là Dương Thần xuất hiện cho nên gọi là Phật tử, nếu chẳng đắc đạo tuệ mệnh, khẩu thiền khô tích, thì làm sao mà có được tự thân, làm sao mà được nói rằng Thế Tôn làm đạo… Đó tức là bí mật của Lăng Nghiêm, bảo cho hạng hậu học rõ. Đắc đạo này rồi, lập tức vượt lên cõi thánh, chẳng rời vào cõi phàm trần”.

XUẤT THANH NHẬP HUYỀN 出倩入玄


Chỉ điều tiết hô hấp, thông thiên đạt địa, tức là “hô tiếp thiên căn, hấp thông địa mạch”, Huỳnh Đình ghi: “Xuất thanh nhập huyền hai khí đổi, ai mà gặp được lên Thiên hán”.

XUẤT THẦN 出神

Mười tháng công phu viên mãn, lúc tâm tức định một lượt, một khi thấy hoa trời loạn xạ liền có thể xuất thần ra khỏi đỉnh đầu đây là siêu thoát thân phàm. Nhưng công hạnh mỗi người khác nhau thì cảnh tượng xuất thàn cũng khác biệt, có người xuất thần từ bảo tháp, có người xuất thần từ hồng lâu, có người xuất thần khi xem trăng, có người xuất thần lúc đối cảnh v.v… Chung Tổ nói: “Sấm sét thiên quan quỉ thần kinh, lật ngã Vũ trụ tuyết trắng bay”.

XUẤT TRẦN  出塵

Sau khi kết đan  mà đan  động tức thì vận chu thiên, nếu khi ấy chẳng biết chuyển vận theo con đường chính quy để mặc cho nó đi theo đường tẻ thì công phu trước vứt bỏ hết. Nếu như có thể khởi vận chu thiên đây là thoát ly phàm trần cho nên gọi là xuất trần, Tiên tông ghi: “Bắc đẩu tàng thân dù có ngộ, tin tức xuất thần ít kẻ hay”.

XUNG HÒA 沖和

Xung hòa là lý, không bị hô hấp chướng ngại đây là hơi thở xung hòa, hơi thở không dứt thì lấp đầy trời đất, hun đốt thân thể gọi là xung hòa. Chỉ Huyền Thiên ghi: “Phải biết hội hợp lộ đông tây, thiết yếu xung hòa thượng hạ điền”.

XUY HƯ 吹噓

Nghĩa là không thêm hô hấp của thần hỏa, thần khí không động, đóng mở thì thần khí đều động là páp tắt lức Phong Cố. Tổ Tử Dương nói: “Tự có thiên nhiên chân hỏa hầu. Không cần than củi với thổi lửa”.

XUYÊN NGUYÊN 川源

Bản vị của Kim ở hướng tây mà nguồn nước sông phát xuất từ Tây Xuyên cho nên gọi là xuyên nguyên, Chân kim phát xuất từ thủy để cho nên gọi là kim trong thủy. Ngộ chân ghi: “Muốn biết chỗ xuyên nguyên sinh sản dược, chỉ tại tây nam là bổn hương”.

XƯỚNG HỌA 倡和


Tính mộc thích kim, tính kim ưa mộc, bên xướng bên họa, phát ra tự nhiên mảy may không miễn cưỡng. Ngộ Chân ghi: “Ban đầu mọc lá xanh dương xướng trước, kế đó trổ hoa hồng âm theo sau”.
 

Y


YÊN HOA 煙花

Yên là hình dung dương hỏa mới khởi vẫn chưa phát ra ánh sáng, như lửa bình thường vừa cháy lên liền tắt sinh ra khói, cần phải quạt lên thì lửa dần dần lớn mạnh ánh sáng rực rỡ khói tiêu tan. Hoa là hình dung dương hỏa đan g vượng như hoa đan g nở, trăng đan g tròn, đây là nghĩa hỏa hậu đã đến. Lữ Tổ nói: “Hoa nở cầm hoa phải kỹ lưỡng, trăng tròn thưởng trăng chớ diên trì”, còn nói: “Cũng uống rượu, cũng ăn thịt, giữ chắc yên hoa dứt dâm dục”.

YỂN NGUYỆT LÔ 偃月櫨

Là âm lô, trong có dương khí ngọc nhụy, là huyền khí của hổ, như trăng ở tây nam thuần âm có chút dương thổ lộ gọi là kim trong thủy, ánh sáng của nó ngửa lên là cơ hội nghinh dương thoái âm giống như ngọn lửa trong lò cho nên gọi là yển nguyệt lô. Tổ Hư Am nói: “Yển nguyệt lô ở phương nào, chỗ mày ngài hiện là tha hương”.

YẾT KHÍ 歇氣


“Ngừng khí”. Yết là ngừng khí hô hấp. Lúc vận hành chu thiên gặp tứ chánh mà đình chỉ sổ tức, để mặc cho nó hô hấp chứ không phải hoàn toàn đình chỉ hô hấp. Tiên Tông ghi: “Người đời nói mộc dục không hành hỏa, thử đem xuy hư gởi người nào?”

YỂU MINH HỮU TINH 杳蓂有精


Tĩnh tột mà động sinh ra, cái tự động gọi là tinh, tinh này là nguyên tinh, là chân dương trong cung khảm sắp động. Trong không sinh có, Ngộ Chân ghi: “Trong hoảng hốt tìm hữu tượng, trong yểu minh tìm chân tinh”

YỂU YỂU MINH MINH 杳杳蓂蓂


Lúc tĩnh tột sắp động, lúc ngủ say sắp tỉnh, tại ngày là sáng sớm, tại tháng là đầu tháng, tại năm là đông chí, tại thời là giờ tý, Tổ Tiềm Hư nói: “Yểu minh là mờ mịt khó lường, hoảng hốt là dường như có dường như không”.

------------------------- 




HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, byphuong, tadamina, mavuong, anhlam, nguyenthuy, quycoctu, dailuc, Ngoisaobiec, huyenphong, hut_mit
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 ... 5 6 [7]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.858 seconds với 24 câu truy vấn.