Tháng Năm 26, 2018, 06:34:07 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 7   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ ĐẠO GIÁO *** Nguyên tác:- 仙 學 辭 典  (Đọc 14698 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:09:20 am »


TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ ĐẠO GIÁO

***

*Nguyên tác:- 仙學辭典
戴源長著

TIÊN HỌC TỪ ĐIỂN
Tác giả:- Đới Nguyên Trường

*Biên dịch
TẤN TÀI – PHƯỚC ĐỨC


LỜI NGƯỜI DỊCH

*****

Trong Giới Bản Khất Sĩ Tân Tu (Đạo tràng Mai thôn thực hiện, NXB Lá Bối), điều giới thứ 27 trong 70 giới uy nghi có đề cập đến việc một vị nam khất sĩ phải nên thường xuyên vận động để sức khoẻ được tráng kiện, nên học kỹ phương pháp tồn tinh, khí và thần.

Thứ đến, người tu thiền cũng cần phân biệt những thuật ngữ đạo giáo với thuật ngữ thiền tông cùng đồng âm nhưng không đồng nghĩa, chẳng hạn như: Bất nhị pháp môn, Một huyền cầm, Vô khổng địch, Chính pháp nhãn tạng, Tham đồng khế, Kinh diệu pháp liên hoa, Kim cương kiếm, Pháp thân, Pháp trung vương, Tam giới, Tam thừa, Tam yếu, Tiền tam tam hậu tam tam, Thánh thai…

Đối với người thế gian chưa tu theo Phật giáo, muốn sống khoẻ mạnh trường thọ cũng cần biết qua một số kiến thức về bí quyết dưỡng sinh nằm rải rác trong sách này.

Chính vì những lý do trên, chúng tôi cảm thấy việc chuyển ngữ quyển Tiên học từ điển 仙學辭典của Đới Nguyên Trường 戴源長著 (Nhà xuất bản Chân Thiện Mỹ, Đài loan năm1970) từ Hán sang Việt là cần thiết, và xin phép đổi tên là “Từ điển Thuật ngữ Đạo giáo”.

Nay việc phiên dịch và hiệu đính đã hoàn tất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu quyển “Từ điển Thuật ngữ Đạo giáo” đến quý độc giả gần xa.


TẤN TÀI - PHƯỚC ĐỨC

 
MỤC LỤC



A ...1

B ...5

C...15

D ... 40 Đ ... 49
G ... 64

H ...67

K...94

L ... 106

M ...120

N...125

NG... 133

NH ... 149

O ...167

P ...168

Q ...174

S ...178

T ...182

U ... 254

V ... 255

X ... 261

Y ...264
 



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, tuanlong, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:15:37 am »

(tiếp theo)

A

AN LÔ LẬP ĐỈNH 安 栌 立 鼎

“Dựng lò đặt bếp”. Thân phải thẳng, ngồi phải yên, vững như Thái Sơn là bên ngoài vững vàng như lô đỉnh. Lấy thần chế ngự khí được an định là bên trong vững vàng như lô đỉnh (lò, lư hương). Thái Thanh Tu Đan Quyết ghi: “Thân vững vàng như lô đỉnh, âm dương khó lường gọi là thần”.

AN TÂM 安 心


Danh từ Nội đan  Đạo  giáo. Toạ vong luận ghi: “Tâm không đuổi theo cảnh bên ngoài. Tâm an nhiên mà trống rỗng (hư) thì đạo tự đến”. Chỉ trạng thái thu gom tình cảm, tập trung ý nghĩ vào bên trong (nội cảnh), điềm đạm vô vi.

AN THẦN 安 神

Thuật ngữ Nội đan  Đạo giáo. Trọng Trường Thống truyện ghi: “An thần như khuê phòng, tư Lão Tử chi huyền hư, hô hấp tinh hoà, cầu chí nhân chi phảng phất”. Tức là thu liễm thần chí, tập trung tinh thần, vô dục vô niệm, ninh tĩnh tâm tư.

ANH NHI 嬰 兒

Lúc ngọc dịch hoàn đan  (luyện tinh hoá khí), đan  ấy mới thành hình gọi là anh nhi (trẻ sơ sinh); do vì từ nơi không mà sinh ra có, khi công phu tiểu chu thiên (luyện đan ) hoàn tất mới thấy được. Tố Hải Thiềm nói: “Sau khi luyện đan  hoàn tất, sinh một anh nhi tại hạ điền”.

ÂM DƯƠNG 陰 陽


Nơi trời là nhật nguyệt, nơi đất là thuỷ hoả, nơi người là nam nữ, nơi thân là tim thận, nơi phương hướng là đông nam tây bắc, nơi quẻ hào là càn không khảm ly, nơi thời gian là tý ngọ, nơi hư không là gió mây, nơi vật loại là diên hống, long hổ. Vũ trụ vạn vật đều có âm dương; luyện đan  cũng thế, không có âm dương đâu thể thành đan ; không thể thành đan  mà muốn thành chân nhân là việc khó có!

Cổ tiên nói: “Nhất âm nhất dương gọi là đạo, chẳng biết âm dương thì dù bận rộn cũng không mang lại kết quả gì”. Lữ Tổ nói: “Hai thứ âm dương ẩn trong vi, chỉ kẻ ngu si chẳng tự tri, cho rằng thật sự là nam nữ, quả quyết không nhận là khảm ly”. Tổ Tam Phong nói: “Âm dương nam nữ cùng giao phối, cháu cháu con con đời đời truyền; thuận là phàm, nghịch là tiên, chỉ tại nhân gian còn đảo điên”. Lại nói: “Miên mật điều hoà sự hô hấp, nhất âm nhất dương nấu trong lò”.

ÂM DƯƠNG ĐỘNG TĨNH  陰 陽 動 靜


Dương trong âm lấy động làm chủ, cho nên trong lúc lấy cung khảm để rình động. Âm trong dương lấy tĩnh làm chủ, cho nên sau khi bổ sung cung ly để dưỡng tĩnh. Đạo Tạng nói: “Động là nền tảng của tĩnh, động chẳng phải là tâm ý mà là khí đan điền động”. Lữ Tổ ghi: “Động  tức là thi công, tĩnh tức là ngủ”. Tiên Tông ghi: “Động thuộc dương, tĩnh thuộc âm, dương tột thì âm tĩnh, âm tột thì dương động”

ÂM DƯƠNG HỖ TÀNG 陰 陽 互藏

Dương thần nhật hồn chứa trong âm, âm thần nguyệt phách chứa trong dương. Hồn kia ở trong nhà của phách, tức là tính chủ bên trong; phách nọ ở trong nhà của hồn, tức là tình chủ bên ngoài. Yên tĩnh hư vô thì làm chủ bên trong; quy căn phục mệnh, đóng chặt tam bảo (tai, mắt, miệng) thì làm chủ bên ngoài. Tích tinh đủ khí, quy căn phục mệnh thì ngân ngạc lập dựng; tính tình đủ khí thì thành quách toàn vẹn, sau đó mới có thể phối hợp càn khôn. Tham Đồng ghi: “Dương thần nhật hồn, âm thần nguyệt phách. Hồn với phách cùng ẩn náu trong một nhà, tính chủ ở trong sắp đặt ngân ngạc, tình chủ bên ngoài củng cố thành quách”.

ÂM DƯƠNG LƯỠNG THẦN 陰 陽 兩 神


Người chỉ tu tính mà thành gọi là Âm thần, gọi là Quỷ tiên, xuất hiện có bóng mà không có hình. Còn người tính mạng song tu gọi là Thần tiên, gọi là Dương thần, xuất hiện thì có hình mà không có bóng. Tiên Kinh ghi: “Đạo vốn không có tướng, Tiên quý trọng có hình”. Đông Hoa Đế Quân nói: “Pháp thân rộng lớn trùm trời đất, chân tính tròn sáng thấu cổ kim. Nếu người trên trán mắt chưa mở, chớ khoe tán ảnh với phân hình”.

ÂM ĐAN 陰 單

Đan dược kết thành khi đã luyện đến phản bổn hoàn nguyên nhưng chưa đến chỗ luyện khí hoá thần, gọi là âm đan , tức là tên khác của Ngọc dịch hoàn đan , chỉ nước bọt. Tổ Hàm Hư nói: “Máu hoà làm cao, ý ngưng làm thổ, trong thổ sinh ra thuỷ ngân, tính thuỷ ngân tròn sáng, gặp vật không biến đổi, gươm linh trong tay, tiên gia gọi là âm đan ”.

ÂM HÀO 陰 爻

Hào quẻ đại biểu âm tính, đối lại với dương hào. Vạch hào âm biểu hiện bằng ký hiệu – –. Lấy “Lục” (6) làm đại biểu. Trong quẻ Dịch, hào âm phần nhiều tượng trưng cho âm tính và các sự vật nhu tính, như nữ tính. Đất thai nghén dưỡng dục muôn vật, thần dân bị thống trị và tiểu nhân không có tài đức, người yếu đuối, đức nhu thuận, vật mềm yếu v.v.. Trong quẻ Dịch ngoài hoà Sơ lục ra, các hoà Lục nhị, Lục tam, Lục tứ, Lục ngũ; Thượng lục đều là hào Âm.

ÂM HỔ 陰 虎


Chỉ thứ nước chân nhất trong thận. Luận Long Hổ ghi: “Thận thuỷ sinh khí, trong khí có nước chân nhất, gọi là Âm hổ”.

ÂM KHÍ 陰 氣


Luyện đan  hoả hầu (độ lửa) chưa đủ làm cho khí mới sinh ra không đến được đan  điền nấp kín bên ngoài, biến thành âm khí, ắt sẽ hiện nhiều hiện tượng kỳ lạ, phải mau dùng vũ hoả nung luyện cho âm khí tan hết mới thôi. Nếu không là thế, âm khí chất chứa bên trong tụ lại càng lúc càng nhiều, rất nguy hiểm! Luận Huyền Cương ghi: “Một chút dương không diệt không thể thành ma, Chút xíu âm khí chưa hết không thể làm tiên”.

ÂM KIỂU 陰 蹻


Khoảng giữa hai âm, hai mạch Nhâm Đốc nhờ đây thông qua nên gọi là âm kiểu. Thông các mạch trên dưới chu lưu khắp thân, có thần chủ coi giữ, còn gọi là Phong Đô Dã. Tổ Tử Dương nói: “Mạch âm kiểu là chỗ bí mật của chư Thánh, bậc cao nhân giấu không nói ra”. Mai chí Tiên nói: “Âm kiểu Nê hoàn, nhất khí tuần hoàn dưới xuyên qua cửa đất, trên đẩy tung cổng trời”.

ÂM LÔ 陰 櫨


Vì trong lò không còn thuốc, chỉ có khí long huyền. Khi rồng vào hang cọp, chưa được tuỷ cọp chỉ có một chút thuỷ ngân âm khí mà thôi. Tham Đồng ghi: “Miệng lò ngang bốn tấc Tàu (1,2dm), dài tám tấc (2,4dm), môi hai tấc (0,6 dm), cao thước hai (3,6 dm) thành lò dày mỏng phân bố đồng đều”.

ÂM PHÙ 陰 符


Âm là âm, phù là hợp; âm phù ý nói nhân sự phải phù hợp với thiên đạo. Khi công phu tiểu chu thiên qua giờ Ngọ nội khí xuống thấp cũng gọi là âm phù. Tào chân nhân nói: “Trong 24 giờ luôn luôn có dương hoả âm phù, hễ tiến tới là dương hoả, thoái lui là âm phù”.

ÂM THẦN 陰 神


Người chưa được nguyên khí tiên thiên phối hợp mà xuất thần, cũng có thể tự do tự chủ, liễu thoát sinh tử, tránh khỏi cái khổ luân hồi. Người công hạnh sâu dày có thể bay lên trời làm thần, một khi phước trời hết vẫn phải đoạ xuống trần đầu thai, khó tránh khỏi bị luân hồi. Cổ Tiên nói: “Dù ông thọ tám trăm kiếp cuối cũng rồi cũng không được gì”.

ÂM THƯỢNG DƯƠNG HẠ 陰 上 陽下


Cũng gọi là “hư tâm thực phúc”. Chu dịch tham đồng khế của Viên Nhân Lâm (thời Thanh) chú rằng: “Âm ở trên, là âm khí trong Khảm đi lên, bởi nó từ trong cung Khảm đến, nên nói là âm; Dương đi xuống, là âm dịch trong ly rót xuống, vì nó đi đến cung ly, cho nên gọi là dương. Phải lấy nghĩa hư tâm thực phúc, thượng bộ xoá hết thèm muốn, quy về hư tĩnh, là âm. Hạ bộ tụ tập dương khí, cho nó phát sinh là dương”. Trong thuật Nội đan , thần chảy vào (chú) Huyền quan, gọi là Dương hạ; Khí thăng lên Nê hoàn, gọi là Âm thượng.

ÂM TINH 陰 精

Tinh hoa của ngũ cốc thay đổi rất dễ tác yêu tác quái, nếu không dùng chân tức thì không thể tiêu hoá, phải nhờ hai lửa thần khí hợp thành một lửa mới có thể tiêu hoá hết. Tẩy Tâm Tử nói: “Âm tinh chẳng phải chân tức không thể tiêu hoá, chân dương chẳng phải yểu minh chẳng thể sinh”.
 

ÂM TRUNG DƯƠNG, DƯƠNG TRUNG ÂM  陰 中陽 , 陽 中 陰


Trời là dương, đất là âm. Mọc lên là dương, rơi xuống là âm. Vạn vật từ đất sinh ra là dương, sinh ra từ trong âm mà mọc lên. Mưa móc từ trời rơi xuống là âm, sinh ra từ trong dương mà rơi xuống. Con người trên đời hàng ngày lao động mệt mỏi, động tột thì âm sinh. Âm sinh thì buồn ngủ, đây là âm sinh ra từ trong dương. Ban đêm nằm yên, sáng sớm muốn cử động, cần thức dậy, tĩnh tột thì dương sinh. Dương sinh thì sự ham muốn khởi dậy, đây là dương sinh ra từ trong âm. Luyện đan  cũng không  ngoài việc động tĩnh mà hạ thủ. Tổ Tam Phong nói: “Long  thuộc dương, từ dương một khi mất đi là âm. Hổ thuộc âm, trong âm có vật báu, một khi được liền thành dương”. Lại nói: “Những lỗ phía trên là chân âm trong dương, những lỗ phía dưới là chân dương trong âm”.

ẨN NGỮ 隠 语

Ẩn ngữ trong Đan kinh rất nhiều khiến cho độc giả khó lường, bởi tôn trọng chỗ cốt yếu của đạo. Nhưng có tà sư mượn ví dụ để phản lại điều chân chính, phỏng đoán sự việc, xuyên tạc công lao huyền bí để mê hoặc kẻ hậu học, đến nỗi về sau những kẻ có chí hướng đạo càng xem càng loạn, càng đọc càng không rõ, bối rối trước ngã ba đường, không biết từ đâu mà hạ thủ. Cho nên bộ sách này chọn dùng long môn chính tông Đan pháp, đem quyển Thành Đạo Tiên Chân Thân Chú Trực Thuyết mà tập hợp giải thích tỷ dụ ẩn ngữ, trong ấy nhận được pháp hữu vô. Quyển Tiên Chân Trực Giải Xứ cũng dùng Long môn Đan pháp làm tông chỉ, cố gắng chú giải. Đối với Đan pháp kia, không có chút đầu mối, mịt mù không căn cứ, nhất loại không liệt kê vào; ngoài trừ tính mệnh song tu, phép dưỡng sinh, trừ bệnh, sống lâu cũng không đưa vào. Bão Phác Tử ghi: “Kẻ nghiên cứu quyển sách đặc biệt này không phải ít, dẫn nhiều ẩn ngữ rất khó hiểu, còn những điều nghi thì không thể tư vấn”.


(Xem tiếp  Vần  B)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:21:39 am »

(tiếp theo)

B

BÁ TINH VU TÍ 播 精 于子


Gieo rắc tinh khí vào giờ Tý”. Khi nội tu nhập định tới mức hư tĩnh tột bực, trời người giao ứng, nguyên tinh nguyên khí tự hàm dục lẫn nhau, một điểm chân dương sinh ở Đan điền, chân cơ phát động bèn có thể dùng làm nền móng của đại đan . Cơ đó gọi là Tý thời (giờ Tý). Cho nên gọi là “Bá tinh vu Tý”.

BÁCH KHIẾU QUAN LIÊN 百 竅 关 連


Chỉ bách quan bách tiết, bách mạch bách khiếu trong cơ thể con người có liên quan chặt chẽ với nhau (tương vọng tương liên). Nếu biết tu luyện khí công thì sẽ có thể điều chỉnh quan hệ của các bộ, khử tà trị bệnh. Trung hoàng thiên ghi: “Bách khiếu thông với bách huyệt, bách huyệt thông với bách mạch… Đại để là bách mạch và bách khiếu tương vọng, bách quan và bách tiết tương liên. Vì vậy một huyệt bế thì một bệnh sinh, một mạch tắc thì một kinh loạn… Đó là bách khiếu tương liên”.

BÁCH NHẬT CÔNG LINH 百 日 功 灵


“Dụng công trăm ngày thấy linh nghiệm”. Kim đan  đại đạo nếu được chân truyền, y theo pháp mà dụng công không quá 100 ngày liền thấy công hiệu. Không như bàng môn tà đạo suốt đời trọn kiếp cuối cùng không thành tựu gì cả. Chung Tổ nói: “Trong 30 ngày tượng hình anh nhi, công phu được trăm ngày thì tạo hoá linh”.

BÁCH NHẬT PHÒNG NGUY HIỂM 百日房 危 險


“Trăm ngày phòng nguy hiểm”. Thời đến thì thuốc sinh, thần chẳng biết là nguy hiểm thứ nhất. Không rõ pháp khởi hoả, hoặc ngủ mê thần chẳng linh là nguy hiểm thứ hai. Những khâu tiến hoả, thoái phù, mộc dục, chỉ hoả, quy căn, tạo hoá, rối loạn là nguy hiểm thứ ba. Ngày xưa, Bạch Ngọc Thiềm Tổ 64 tuổi mới hạ thủ công phu, đến giai đoạn chỉ hoả ông đã bỏ lỡ thời cơ đến nỗi suýt bị nguy hiểm. Nhập Dược Cảnh ghi: “Thọ khí tốt lành, phòng thành xấu dữ, hoả hầu đầy đủ không làm tổn hại đến đan ”. Chung Tổ nói: “Quả nhiên trăm ngày phòng nguy hiểm”. Tiêu Tổ nói: “Phòng sự sai thất của hoả hậu, tránh sự hôn mê của mộng mị”.

BẠCH HỔ 白 虎


Là chân diên, Vì nó chứa đựng khảm ly nên ví cho Ô tinh; vì nó hung ác cắn người nên ví cho là Bạch hổ. Ngộ Chân ghi: “Tây Sơn mãnh hổ quá càn rỡ, Đông  Hải Thanh Long không thể đương”. “Đem Bạch hổ về nhà nuôi dưỡng, sản sinh minh châu tợ trăng tròn”.

BẠCH HỔ THỦ KINH 白 虎 首 經


Bạch hổ là khí tiên thiên, thủ là ban đầu, kinh là chạy nghĩa là khí tiên thiên lần đầu tiên chạy ra. Tổ Tử Dương nói: “Bạch hổ thủ kinh chí bảo, hoa trì thần thuỷ chân kim”. Tổ Tam Phong nói: “Muốn đến phương tây bắt Bạch hổ, trước phục Thanh long ở phương đông”.

BẠCH HUYẾT 白 血


Khi luyện đan  đến tinh khí đầy đủ, huyết tố màu đỏ trong thân thể nhất loạt biến thành bạch huyết thì được quả tiên nhân sống lâu. Phép luyện đan  này bước đầu động ít tĩnh nhiều, giữ khí đến nỗi nhu nhuyễn mà hơi thở nổi theo tự có dương hoả phát hiện, nung đúc máu đỏ, tức là “Cao mỡ trắng” (Bạch chỉ cao). La Phù Ngâm ghi: “Từng bước thái thủ dần ngưng kết, hiện tại khắp thân là bạch huyết”. Chung Tổ Phá Mê Ca ghi: “Huyết hoá thành cao, hình dạng giống như bạc”.

BẠCH KIM 白 金


Là bản vị của kim phương tây, màu trắng nên gọi là bạch kim, nay nhập vào phương bắc chìm trong nước, vì phương bắc màu đen nên biến thành hắc diên (chì đen), dùng lửa nung luyện thì sinh hoá mà biến thành diên hoa. Tổ Ngọc Thiềm nói: “Bạch kim vốn là gốc của kim hoa, nếu chẳng phải được hắc diên thì hoa không sinh, Hắc diên là gốc của chân hống, Nếu chẳng phải bạch kim thì thần tự ẩn; bạch kim luyện ra chân hoàng kim, hoàng kim tách lấy kim hoa phấn, nung luyện lẫn nhau vốn là hắc diên, nếu chẳng phải được hắc diên thì thuỷ ngân chẳng khô”.

BẠCH NGỌC THIỀM  白玉 蟾


(1194-1229). Đạo sĩ Nam Tống. Vốn tên là Cát Trường Canh, tự là Như Hối, còn tự là Bạch Tẩu, hiệu là Hải Quỳnh Tử, còn có hiệu là Hải Nam Ông, Quỳnh Sơn đạo nhân, Vũ Di tản nhân, nguyên quán tại Mãn Thanh Phúc Kiến, Sinh tại Quỳnh Châu (nay là Quỳnh Sơn, đảo Hải Nam). Thuở nhỏ thi khoa Đồng tử, am hiểu Cửu Kinh, biết làm thơ phú. Theo thầy là Trần Nam học Nội đan  và lãng du các nơi. Sau khi Trần Nam mất, lại đi ngao du tại các núi La Phù, Vũ Di, Long Hổ, Thiên Thai v.v.. Năm Gia Định 11 (1218) đời vua Tống Ninh Tông, đã từng lập đàn tràng cầu đảo cho nhà vua ở cung Vạn Thọ, Ngọc Long Hồng Châu và ở cung Thuỵ Khánh núi Cửu Long. Năm Gia Định 15 (1222) tới Lâm An dâng thư lên cửa khuyết, bị ngăn trở không tới được, lại vì say rượu bị bắt giải tới quan Kinh doãn qua một đêm mới được tha. Từ đó, ông ở ẩn và chuyên chú trước thuật. Trong tác phẩm của ông rõ ràng có tư tưởng tam giáo hợp nhất. Ông đề ra trung tâm của việc tu luyện Nội đan  là tinh, khí, thần và lấy thần làm chủ. Cho rằng: “Thần tức là tinh, khí tức là mệnh”, Về trình tự tu luyện, chủ trương trước tiên tu Mệnh. Sau mới tu tính, giống như đường lối tu luyện trong Ngộ Chân Thiên của Trương Bá Đoan.  Tác phẩm có Thượng Thanh tập, Ngọc Long tập, Vũ Di tập, đệ tử của ông đã biên tập Tác phẩm của ông thành Hải Quỳnh Ngọc Thiềm tiên sinh văn tập, Hải Quỳnh vấn đạo tập, Hải Quỳnh truyền đạo tập, Hải Quỳnh Bạch chân nhân ngữ lục v.v.. Bạch Ngọc Thiềm là một trong 5 vị tổ Nam (Nam ngũ tổ) của đạo Toàn Chân. Sau khi mất, được vua hạ chiếu phong là Tử Thanh Chân nhân, đời gọi ông là Tử Thanh tiên sinh.
 

BẠCH NGUYÊN 白元


Chỉ có phế thần (thần phổi). Thượng Đỗ chương ghi: “Bên phải có Bạch nguyên tính lực xứ”.

BẠCH THẠCH NGUYÊN 白 石 源


Là tinh trong thận, là kim trong thuỷ, là tổ khí của trời đất, là cội nguồn của vạn vật, là khí chân nguyên đời đời chẳng dứt. Kinh Huỳnh Đình ghi: “Chu tước nở ra co lại Bạch thạch nguyên... giữ thai ngưng tinh thì có thể trường sinh”.

BẠCH TUYẾT 白 雪


Là tinh hoa của chân âm, trong lúc luyện công tĩnh định, đan  ở trung cung, chỉ thấy trước mắt xuất hiện một dải ánh sáng như tuyết trắng bay trong hư không, lú nhú như huỳnh nha nảy nở trên đất xuân. Lúc này không được dùng lửa quá ráo, chỉ nên giữ ấm áp lâu dài là đủ. Lữ Tổ nói: “Bạch tuyết hướng trên đỉnh đầu, cam lộ rưới Tu-di”, Tiên thi ghi: “Trước mắt bạch tuyết rơi tới tấp”.

BẠN LỮ 伴 侶


Luyện đan  lấy chính thân mình làm lô đỉnh, điều dưỡng hoả ắt phải có bạn lữ riêng, vì bản thân người dụng công không thể chú ý nhiều mặt. Sinh hoạt hằng ngày như sự ăn uống chi phối ắt phải có người này. Sự việc bên ngoài ắt phải có người ứng đối, công phu đến phục thực đại dược, bảy ngày chết rồi tái sinh, cực kỳ nguy hiểm, ắt phải nhờ bạn đạo đồng chí chăm sóc, tấc bước không rời; còn phải có một đạo hữu khác phụ trách cung ứng lương thực cùng nhu yếu phẩm hàng ngày, cho nên phải có ba người đồng chí mới có thể thực hành.

Chung Tổ nói: “Trên đời này khó kiếm được bạn chân tu”.

Lữ Tổ nói: “Toàn nhờ bạn lữ điều hoà thuỷ hoả”. Lại nói: “Đang đem tính mệnh để song tu trước tiên kết bạn đồng tâm làm phụ tá”. Lại nói: “Tìm liệt sĩ kiếm hiền tài, cùng đặt lô đỉnh hoá phàm thai”.

Âm Chân Quân nói: “Muốn tu đạo này cần phải nhờ của cải tiền bạc, ba người đồng chí làm bạn tốt mới có thể tu luyện”. Tổ Tử Dương nói: “Ba người đồng chí cẩn thận đề phòng nguy hiểm”.

Thượng Dương Tử nói: “Cầu tiền nhờ bạn luyện kim đan , tiền không khó tìm, bạn khó tìm được tiền được bạn lo ngoại hộ, làm tiên cần gì đến thâm sơn”.

Thiên Lai Tử nói: “Muốn luyện đan  phải kết bạn, ba người đồng chí giúp đỡ nhau. Nếu không có những bạn đồng chí, đại dược khó thành, kim hống cũng không có luôn”.

BÀNG MÔN TÀ ĐẠO 旁 門 邪 道


Bàng môn là pháp đồng mà công không đồng, vì bàng môn đi theo con đường khác nên chưa thể thành chính quả mà chỉ thành tiểu quả, cho nên bàng môn dễ gặp mà khó thành. Còn đại đạo khó gặp mà dễ thành rất là giản dị, tuy kẻ tiểu nhân ngu muội biết được mà thực hiện theo cũng bước lên đất Thánh, thì làm sao thế nhân không biết kim đan  đại đạo! Ngẫu nhiên được tiểu thuật có công hiệu làm hết bệnh bèn cho là diệu pháp duy nhất, chân truyền không hai, rồi làm thầy lập giáo, thu đệ tử truyền pháp nhưng không cho thưa hỏi, dối mình gạt người. Thiên sai vạn biệt này không thể nói ra hết. Tà đạo với bàng môn cũng không giống nhau, bời bàng môn vẫn còn gần đại đạo, công phu của họ tuy chưa được chân sư chỉ dạy mà theo đường bên mà đi, rốt ráo không thể siêu phạm nhập thánh.
Tà đạo dùng thái chiến gạt người, đem phòng thuật để dẫn dụ, hại người lợi mình,mục đích là thu tiền góp của người khác. Còn có một loại thần tác quái, làm người nghe kinh hãi, lời nói yêu ma mê hoặc mọi người, không sao kể xiết. Thiên Cốc Thần ghi: “Bàng môn nhiều kỹ xảo đều không tránh khỏi vô thường”, Ngộ Chân ghi: “Không biết chân diên chánh tổ tông, mọi loại tác dụng chỉ uổng công”.

BÀNH TÍ (BÀNH HẠC LÂM) 彭子 (彭 鶴 林)


Đạo sĩ thời Tống, Người Tam Sơn (nay là thành phố Phúc Châu, Phúc Kiến), tự là Quí Ích, hiệu là Hạc Lâm, Vốn xuất thân từ quý tộc, khá nổi tiếng về văn chương, nhưng chẳng thích làm quan. Sau thờ Bạch Ngọc Thiềm làm thầy, được truyền thụ “Thái ất đao khúc hoả phù” cùng sách Cửu đỉnh kim diên sa hống và bài văn Tử tiêu khiếu phong đình, thông hiểu phù lục đan  pháp, thường cứu khổ chữa bệnh cho người, lại có tài hô phong hoán tuyết. Tác phẩm có Hạc lâm phú, Đạo đức chân kinh tập chú, Kim hoa xung bích đan  kinh v.v..

BÀNH TỔ THUẬT 彭 祖 術


Cách gọi khác của Phòng trung thuật. Theo truyền thuyết Bành Tổ rất giỏi Phòng trung thuật, tác phẩm có Bành Tổ kinh. Vì vậy sau này người ta gọi Phòng trung thật là Bành tổ thuật.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 09:07:06 am »

(tiếp theo)

BÃO NHẤT 抱 一

“Giữ lấy cái Một”. Đạo giáo nói Đạo sinh ra từ cái Một, cho nên gọi tinh tư cố thủ là bão nhất. Bão Phác Tử ghi: “Nho gia vội lo về danh lợi, còn Đạo gia chỉ giữ cái Một (bão nhất) làm cái Thiện của riêng mình (độc thiện)”.

BÃO PHÁC TỬ NỘI THIÊN  抱 樸 子 内 篇

“Bão phác tử” là một kiệt tác về luyện đan  của Đạo giáo đồng thời cũng là một kiệt tác về khoa học kỹ thuật mà tác giả là Cát Hồng, một danh y đời Tấn. Sách “Bão phác tử” được chia làm hai bộ “Nội thiên” và “Ngoại thiên”, “Nội thiên” là một tập đại thành về tu luyện nội đan  của Đạo giáo, có giá trị sử liệu rất quý, đó là một tư liệu quan trọng để nghiên cứu về lý luận Đạo giáo và phép thuật tu luyện nội đan .

Cát Hồng, hiệu là Bão phác tử, tự là Tri Xuyên, người đất Câu Dung, đời Tấn, năm sinh khoảng 281, năm mất 341. Thuở thiếu thời Cát Hồng theo học đạo Nho, say mê pháp thuật thần tiên, từng theo học Trịnh Ẩn, một đệ tử phái huyền học. Tác phẩm của ông, ngoài “Bão phác tử” ra, còn có “Thần tiên truyện” và các sách về đông y như: “Trứu hậu bị cấp phương”, “Kim quỹ diệu phương” và một số bài thời phú khác.

Sách “Huyền phẩm lục” còn chép rằng: “Thời nguyên đế Cát Hồng được gọi về kinh phong cho làm tướng, diệt giặc có công, được phong đến chức Quan nội hầu. Về sau nghe nói đất Giao Chỉ có nhiều Đan-sa, liền đến núi La Phù để luyện đan , công việc luyện đan  thành công, thì ông cũng qua đời...”
Sách “Bão phác tử” Nội thiên gồm 20 quyền. Ngoại thiên gồm 50 quyển. Cát Hồng là một nhà tư tưởng thần tiên, vì vậy tác phẩm của ông đều thấm đậm tư tưởng thần tiên. Người đời gọi sách “Bão phác tử nội thiên” là một tập đại thành của tư tưởng thần tiên.

Cát Hồng là một tín đồ của thuật kim đan , ông chủ trương dùng đan  dược, phản đối bùa bèn phù chú. Ông là đại biểu cho phái đan  đỉnh của Đạo gia, là người đối lập với Lý Khoan, thủ lĩnh phái bùa chú, “Bão phác tử nội thiên” lấy tư tưởng Nho Gia làm trung tâm, luận bàn về đạo lý của xã hội, sự thịnh suy của thời cuộc, và sự được mất của con người. Vì vậy, người đời coi Cát Hồng là đại biểu cho tư tưởng ngoại Nho, nội Đạo,  Sách “Bão phác tử” không chỉ có giá trị cho việc nghiên cứu tư tưởng Đạo giáo, mà còn có vai trò quan trọng trong sự phát triển chuyên ngành hoá học, hoá dược phẩm của Trung Quốc, thông qua những ghi chép tỉ mỉ về thuật luyện kim đan .

BẢO VẬT 寶物

Đó là tiên thiên nhất khí, vì khí này một khi mất thì khí hô hấp hậu thiên liền dứt, khí đan ứt thì bị chết, khí tiên thiên này là cội nguồn của tính mệnh đâu chẳng phải là vật báu vô giá. Tổ Tử Dương nói: “Vật chí bảo này nhà nhà đều có, chỉ tại kẻ ngu chẳng biết thôi”.

BÁT BÁT THANH LONG 八 八 青 龍

Bổn tượng của Thanh Long sắc phương Đông, từ mùng một đến bảy ngày sau là tiền huyền, sau ngày rằm tám ngày là hậu huyền; đều là huyền khí của long. Long ở vị trí phương Đông nên gọi là Thanh Long, huyền khí này ở trước ngày rằm 8 ngày và ở sau ngày rằm 8 ngày cho nên gọi là Bát Bát Thanh Long. Chung Tổ nói: “Sau khi tiền huyền tìm dược vật, trước khi hậu huyền khí lưỡng toàn, ở giữa hai huyền là thái thủ, tiên hậu mất còn định căn bản”.

BÁT CẢNH 八 境

“Tám thứ cảnh giới”. 1- Thân tự đứng thẳng. 2- Toàn thân dung hoà. 3- Tâm trong sáng như trăng sáng. 4- Đan điền ấm áp. 5- Ngứa sinh ra từ lỗ chân lông. 6- Hô hấp ngẫu nhiên gián đoạn. 7- Thần khí hợp nhau. 8- Khi thấy huyền khiếu có khí xông lên. Thúy Hư Ngâm ghi: “Khi tinh thần hoà hợp khí trở về, xương thịt dung hoà đều chẳng biết”.

BÁT LẬU 八 漏

Chỉ tám trường hợp rò rỉ. Theo các sách Đạo giáo, thì: Nước mắt là Can lậu, nước mũi là Phế lậu, nhổ nước bọt là Thận lậu, đổ mồ hôi là Tâm lậu, đổ mồ hôi trộm là Tiểu trường lậu, ngủ mà chảy nước dãi là Não lậu. Nằm mơ giao hợp với ma là Thần lậu, dâm dục là thân lậu. Đạo giáo cho rằng tâm quân định thì mới có thể dừng rò rỉ.

BÁT NAN 八 難

“Tám điều khó”. 1- Dương khó được. 2- Vật khó điều phục. 3- Ruộng khó làm cỏ.
4- Tượng khó hợp. 5- Hành khó tụ hội. 6- Căn khó tịnh. 7- Tình khó khiển. 8- Thức khó diệt. Đây là tám điều khó.

Người tu luyện chẳng lẽ nghe đến mà lui bước. Tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Ý nói gặp việc khó mà thành công
 

là do sự quyết tâm và nghị lực của con người. Tham đồng ghi: “Đứa con hiếu dụng tâm cảm động đến trời”.

BÁT HIỆU  八 效

Khi luyện đan  thành công có tám thứ hiệu nghiệm:

1- Tai phải nghe tiếng gió thổi là hiệu nghiệm của cọp rống, khí đủ.
2- Tai trái gào thét là hiệu nghiệm của rồng ngâm tình đủ.
3- Trong miệng nhiều tân dịch là hiệu nghiệm của Tỳ kinh chân khí đủ.
4- Mặt như trùng bò là hiệu nghiệm của chân khí kích phát mao quản, khai thông.
5- Mắt có kim quang là hiệu nghiệm của tinh khí thần sung túc.
6- Não hậu thứu minh là hiệu nghiệm của chân hoả xung động, lực lượng sung túc.
7- Tướng mã âm tàng là hiệu nhiệm của dương quan đã bế, vĩnh viễn không lọt ra.
8- Đan điền nóng bỏng là hiệu nghiệm của đan  thục hoả túc, tinh khí đầy đủ, phát sinh chân hoả.

Hứa Tuyên Bình nói: “Thần ở khiếu thì ngàn trí sinh ra, đan  nhập đỉnh thì muôn thứ thay đổi”

BÁT PHONG 八 風

Gió của tám phương. Hoài Nam Tử Thuỵ hình: “Thế nào là Bát phong. Gió đông bắc gọi là Viêm phong, đông phương gọi là Điều phong, đông nam là Cảnh phong, nam phương là Cự phong, tây nam là Lương phong, tây phương là Cù phong, tây bắc là Lệ phong, bắc phương là Hàn phong”. Sách Thuyết văn thì nói: “Đông  là Minh thứ phong, đông nam là Minh phong, nam là Cảnh phong, tây nam là Lương phong, tây là Xương hạp phong, tây bắc là Bất chu phong, bắc là Quảng mạc phong, đông bắc là Dung phong”. Tam động quần tiên lục thì nói: “Ngu Thuấn lên ngôi, Tây Vương Mẫu sai sứ dâng ống sáo bạch ngọc thổi lên để điều hoà Bát Phong”.

BÁT QUỲNH 八 瓊

1- Chỉ nước bọt, cũng gọi là Ngọc dịch. “Bát quỳnh của nội đan  là thứ nước chân nhất, tức là ngọc dịch của Hoàn đan ”.
2. Chỉ tạng phủ con người. “Từ trên xuống dưới, hoặc trước hoặc sau, được ghi trong bát quỳnh”.

BÁT THẠCH 八 石

Tám loại khoáng thạch dược vật mà đạo sĩ thường dùng để luyện đan . Gồm: Hùng  hoàng, Chu sa, Lưu hoàng, Không thanh, Vân mẫu, Nhung diêm, Tiêu thạch, Thư hoàng.

BÁT TIÊN 八 仙

“Tám vị tiên”. 1-Chỉ 8 vị tiên theo tục truyền gồm: Hán Chung ly. Lã Động Tân, Thiết Quái Lý (Lý Thiết Quải), Trương Quả Lão, Tào Quốc Cữu, Lam Thái Hoà, Hàn Tương Tử, Hà Tiên Cô. 2-Chỉ 8 vị tiên của đất Thục theo Tiều tú Thục kỷ: “8 vị tiên ở đất Thục: đầu tiên là Dung Thành Công, ở ẩn tại Hồng mông tức là núi Thanh Thành ngày nay, thứ đến Lý Nhĩ sinh ra ở đất thục, ba là Đổng Trọng Quân cũng là ẩn sĩ ở núi Thanh Thành, bốn là Trương Đạo Lãng ở quán Hạc Minh ngày nay, năm là Nghiêm Quân Bình mở cửa hàng bói toán ở Thành Đô, sáu là Lý Bát Bách ở ẩn tại động Long môn tại Tân đô, bảy là Phạm Trương Sinh ở núi Thanh Thành, tám là Nhĩ Chu tiên sinh tại Nhã Châu”.

BÁT TỐ八素

Chỉ não thần muốn tĩnh thì khí của tám cung Minh đường, Động phòng, Đan điền, Lưu châu, Thiên đình, Cực chân, Huyền đan , Thái hoàng trắng tinh như lụa bạch (tố).

BÁT TRỤ 八 柱

Chỉ người tu trì giữ quan khiếu hư tĩnh, cố đóng chặt môn hộ, hàm dưỡng tinh khí, đó là công phu cơ bản của việc Nội luyện.

BẮC ĐẨU 北斗

Chỉ chòm sao sáng hình cái đấu (có cán) ở vùng trời phía bắc (Bắc thiên) gồm các sao Thiên Khu, Thiên Triền, Thiên Cơ, Thiên Quyền, Ngọc Hành, Khai Dương và Dao Quang.  Chòm sao này nay gọi là chòm Đại Hùng tinh. Còn gọi là Thiên Cương. Đạo giáo cho rằng Bắc Đẩu chủ sự sống, có nghĩa làm chủ thọ mệnh dài vắn của mỗi người.

BẮC THẦN 北 晨

Là sao bắc đẩu trên trời, dụ cho lúc con người luyện đan , lúc thần làm chủ tể đan  điền. Khuê Chỉ ghi: “Ngoài vẫy gọi chính khí của thiên địa linh dương, trong tóm lấy tinh hoa của diên hống toàn thân, cũng như các vì sao vây quanh sao Bắc Đẩu”.

BẤT CẢM VI THIÊN HẠ TIÊN 不 敢 為 天 下 先

“Không dám làm tổ tiên thiên hạ”. Thiên cơ chưa phát thì hư theo đó mà chờ, tĩnh theo đó đợi, nhất niệm chẳng sinh, mọi duyên dứt liền, gọi đó là “bất cảm vi thiên hạ tiên” (không dám làm tổ tiên thiên hạ). Khi thấy thiên cơ đã phát thì mau lấy pháp thái thủ mà cất chứa. Tam Dược ca ghi: “Trừng tâm tuyệt lự chờ tinh ngưng”.

BẤT HÀNH CHÍNH ĐẠO 不 行 正 道

“Không đi theo chính đạo”. Không thiên không lệch là chính, luyện đan  lấy hoàng đạo và xích đạo làm con đường chính để vận hành đan  dược, ngoài hai đạo này ra tuy cũng có con đường thông khác nhưng đều thuộc kinh lạc tế quản là con đường quanh co xiên vẹo, tu theo đó không thành tựu. Kinh Ngọc Thanh Thượng Diệu Công Đức ghi: “Chẳng khéo tu trì lại mất pháp bổn thì không thể nào trường sinh”

BẤT NHỊ PHÁP MÔN 不 二 法 門

Thiên tiên kim đan  đại đạo từ xưa đến nay chỉ có một phương pháp có thể tu thành, ngoài pháp này ra, bất luận tu pháp môn nào khác đều không thể đạt đến địa vị thiên tiên; không thể vượt ra ngoài trời đất. Đan Kinh ghi: “Xưa nay không có hai đạo, thánh nhân không có hai tâm, ngoại trừ pháp nhất thừa này, hơn hai chẳng phải chân”.
 

BẤT THẦN THẦN 不 神 神

Chỉ sự quay trở về cái chất phác, chân chất. Phục hồi bản tính tự nhiên gọi là “Bất thần thần”. Có xuất xứ từ Âm phù kinh - Thiên sinh chương ghi: “Người ta chỉ biết cái thần mà không biết tại sao cái thần lại thần”. Tức Bất thần chi thần, ở đây “thần chính là tính vậy”.

BẤT THỰC BẤT THUỲ 不 食 不 垂

“Không ăn không ngủ”. Lúc luyện khí hoá thần, mười tháng dưỡng thai, luyện đến một tháng thì giảm ăn, đến ba tháng thì dứt ăn, đến năm tháng thì dương sáng mà không ngủ giống như đứa bé ở trong bào thai không phân biệt được ngày đêm. Lãnh Khiêm chân nhân nói: “Mang thai luyện khí hoá thần lúc nhập định, do định lực mà có thể không ăn uống gì cả, hoặc có kẻ 4 tháng, 5 tháng, nhiều tháng có thể không ăn gì cả”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 09:12:23 am »

(tiếp vần B)

BẾ KHÍ 閉 氣

1. Chỉ điều hoà hơi thở. Mạch vọng ghi: “Bế khí không phải là đóng nghẹt khí, mà là thần định khí hoà, tuyệt tư vong lự, thì hơi thở mũi thanh thản nhẹ nhàng, như có như không”.

2. Chỉ việc lấy ý chế ngự hô hấp. Huyền Chân tiên sinh nội phục nguyên khí quyết pháp ghi: “Một khi tu dưỡng trái phép sinh ra bệnh tật, thì nên vào ngay phòng kín, theo phép phục khí, “bổ túc” xong thì điều khí nuốt đi, để niệm vào nơi đan , dùng ý tưởng chuyên chú bế khí, khí cực thì nhả ra”.

BẾ QUAN 閉 关

Một là dùng ý cắt đứt khí hô hấp ra vào. Mạch vọng ghi: “Mũi là thiên khiếu, thông với phổi, phổi chủ phách, hoàn toàn bất động, dứt hơi thở đi lại, gọi là Bế quan”. Hai là chỉ “bế tức” tức là điều tiết hô hấp lúc hành công, trong không ra, ngoài không vào, khiến khí tương đối ổn định. Thiên tiên chính lý - Phục khí trực luận ghi: “Thác danh bế tức, mà trong lòng thì trống rỗng như Thái hư chẳng có vật gì”.

BẾ TỨC 閉 息

Cũng gọi là Bế khí (nín thở). Loại kinh ghi: “Mỗi đêm sau giờ tý trước giờ dần đều khoác áo ôm chăn, ngoảnh mặt về hướng đông hoặc hướng nam, ngồi xếp bằng tròn, gõ răng 36 lần, hai tay nắm chặt, chống vào thắt lưng. Trước hết cần nhắm mắt tĩnh tâm, xua hết vọng niệm, tức ngậm miệng và mũi, chẳng để hơi thở ra, đó gọi là Bế tức (nín thở) là bí quyết mầu nhiệm quan trọng nhất của Đạo gia”.

BÍ MẬT  秘 密

Thiên cơ sâu xa bí mật không thể dễ tiết lộ, cho nên đan  pháp bí mật từ xưa đến nay chẳng dính líu đến văn tự, chỉ truyền miệng trao tâm khiến người học đem tâm thần lãnh hội mà thôi. Hứa Tổ nói: “Đan thành tự có khí xung thiên, chỉ để lại bí quyết trên đời”. Ngộ Chân ghi: “Chỉ là kim đan  không khẩu quyết, làm sao anh biết kết linh thai”.
 

BỈ NGà 彼 我

Tính là chủ, là ngã; mệnh là khách, là bỉ. Phép tiên trước biết mệnh, sau biết tính; trước theo bỉ mà bắt đầu, sau theo ngã mà xong việc. Vô tâm làm gọi là ngã, tự nhiên làm gọi là bỉ. Bỗng nhiên mà giác là ngã, tự nhiên mà động là bỉ. cổ tiên nói: “chờ bảy xảo nguỵ làm công lực, nhận phương thuốc bất tử của người”. Tổ Tiềm Hư nói: “Ngôi nhà âm dương cùng chứa tinh, lúc này long hổ chưa giao, huyền tẫn chưa lập, còn thuộc hai nhà, nên gọi là bỉ gia, ngã gia”.

BIẾN HOÁ 變 化

Biến là biến hình, hoá là biến hình đã thành, như ban đầu thay máu, kế thay gân, kế nữa thay xương, đã nói rõ lý do lần biến đổi. Tham Đồng  ghi: “Các tà trừ sạch, chính khí thường còn, tích luỹ lâu dài, biến hình thành tiên”.

BIỆT CỔ MỘT HUYỀN CẦM 別 鼓 沒 弦 琴

Công phu tiểu chu thiên hoàn toàn nhờ vào khí hô hấp xuy động gọi là vô khổng địch (sáo không lỗ). Công phu đại chu thiên không hình không tiếng gọi là một huyền cầm (đàn không dây). Cổ Tiên nói: “Về sau không thổi sáo không lỗ, từ nay chỉ đánh đàn không dây”.

BIỂU LÝ THĂNG GIÁNG 表 裏 升 降


Khí ngoài biểu thăng lên là thở ra, là mở cửa thì khí trong lý tự giáng. Khí ngoài biểu giáng xuống là thở vào, là đóng cửa thì khí trong lý thăng lên. Thế nên hô hấp là đầu mối cho sự thăng giáng trong ngoài. Phạm Đức Chi Chiêu nói: “Nếu chẳng rõ lý hô hấp, thì không thể luyện đan  trong lò”.

BÌNH TÂM 平 心

Nước không dậy sóng gọi là bình, tâm cố giữ trong đó gọi là bình; bình tức là tĩnh định trong đó, bình ở trong đó thì niệm không khởi dậy. Trong đó tức là huyền khiếu. Xao Hào Ca ghi: “Có kẻ bình được gai góc trong lòng liền đem thiên cơ nói cùng anh”.

BỔ HƯ 補 虛

Tuổi già tinh ít khí yếu ắt trước hết cần phải bổ túc hư tổn, rồi sau đó mới có thể luyện đan . Nhưng cũng có kẻ thể chất chẳng đồng cho nên có sự khó dễ khách nhau. Khó là người có dương suy sụp, tinh khí sắp tuyệt không thể bổ. Hoặc trong dùng xao trúc cổ cầm (gõ trúc đánh đàn), ngoài dùng cỏ cây uống ăn để mong được hoàn dương, nếu không thì chỉ có luyện tính hoán hình rồi tái sinh tu hành lại. Dễ là người lớn tuổi tinh khí dù suy, nhưng mỗi ngày vẫn còn cơ hội luôn luôn phát sinh, được bí quyết vẫn có thể làm, đây goi là một năm bổ được mười năm tổn, tinh khí có thể đầy đủ trở lại mà thành hình thể trẻ con. Chung Tổ nói: “Tuổi già thờ đạo mà khí không đủ, sự hao tổn trong mười năm chỉ cần một năm công phu bổ túc. Bão Phác Tử ghi: “Trước uống cỏ cây để cứu chỗ thiếu khuyết, sau uống kim đan  để định cái vô cùng”.
 

BỔN HƯƠNG 本 鄊

Quẻ khôn thuộc thổ là mẹ già, vị trí hậu thiên ở hướng tây nam, vì khuôn khổ hay sinh ra đoài kim; kim thuộc hướng tây, cho nên hướng tây nam gọi là bổ hương. Ngộ Chân ghi: “Muốn biết chỗ xuyên nguyên sinh sản được, chỉ tại tây nam là bổn hương”.

BỔN MẠNG  本 命

Nguyên khí là gốc sinh thân, khí hô hấp là đồ bảo mạng, hai khí ngưng tụ ở trung cung là bổn mạng. Nhập Dược Cảnh ghi: “Ban đầu kết thai xem bổn mạng, sau cùng thoát thai xem tứ chánh”.

BỨC TẤU 蝠 奏

Là xa luân (bánh xe), vì lúc vận chuyển trục bánh xe không hề di động. Pháp luyện đan  lúc vận chu thiên rất giống việc này, thần khí tuy hành mà thiên tâm không rời khỏi chỗ của nó. Tham Đồng ghi: “Bức tấu vào giờ Dần, lúc xoay chuyển đi tới lần lần lớn mạnh; hiệp bày nơi Mão môn, quả du (dâu) rụng xuống trở về gốc rễ”.


(xem tiếp Vần  C)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 09:18:39 am »

(tiếp theo)

C

CÁCH THỂ THẦN GIAO 隔 體 裙 交

Khi điều dược ngưng thần vào khí huyệt phải âm thầm chú ý cả huyệt âm kiểu thì thần với khí giao hợp. Tổ Tam Phong nói: “Thể cách thần giao lý rõ ràng, phân minh hạ thủ ngang ngửa nhau”.

CAM LỘ 甘露

Là ngọc tương, là quỳnh tương ngọc dịch. Chỉ nước bọt sinh ra trong miệng khi luyện tinh hoá khí, khi vận chuyển hai mạch Nhâm Đốc. Còn gọi là “đề hồ quán đỉnh”. Ngộ Chân ghi: “Khi cam lộ giáng thì trời đất hợp, chỗ huỳnh nha sinh thì khảm ly giao”.

CÁN VẬN 幹 運

Thần trụ khí huyệt là cán, đồng thời trông coi luôn việc vận hành của Chu thiên là vận. Vì lúc chu chuyển hai khí tự hành ắt cần phải có chủ cán làm cơ bản. Khưu Tổ nói: “Trong lúc thu nhập hai khí thăng giáng, nếu không đem ý giữ ở lại trung cung, thì dược vật làm sao vận chuyển được”.

CÀN ĐỈNH KHÔN LÔ 乾 鼎 坤 爐

Trong đan  pháp, càn khôn là đỉnh khí (lò, lư hương), khảm ly là dược vật (thuốc); quẻ không có hình 6 đoạn, thể của nó vốn hư; quẻ càn có hình 3 gạch liền, thể của nó vốn thật. Hư thì có thể nhận lãnh, thật thì không thể dùng chứa. Thật của quẻ càn hợp vào hư mà tạo thành khảm ly, từ đây tiên thiên càn kim ẩn cư nơi khôn vị, là trong âm ngậm dương. Tuy giống như trong khảm có một càn dương ẩn náu hình dưới đáy nước, giữ kín chưa lộ ra, đến lúc trong thuỷ kim hiện ra có hình tượng, như đoài tây nguyệt mọc ở canh phương mới là kim có thể dùng được, nắm lấy khoảng khắc nhất phù liền được, đây chính là lúc có khí vô chất. Lấy nơi đoài giống như lấy nơi khảm, sản sinh nơi đoài giống như sản sinh nơi khôn, nhưng nếu không phải tinh quang của càn phụ thì không thể sản sinh ra dược vật, bỉ nổi lên, ngã lại chìm xuống, tân chủ nổi chìm đều ở trong đỉnh lô mà tác dụng. Đỉnh khí thiết kế kỳ diệu nơi hư không. Trong càn đỉnh xưa nay không có vật, lúc thái thủ hấp thụ, Khôn lô dương diên mà kim đan  mới ngưng tụ, đều vạch hư không tạo tác ra, goi là đỉnh lô khí mãnh, chẳng qua là mượn nó làm đồ đựng vật. Đào chân nhân nói: “Trong đỉnh khí xưa nay không có vật, trong 14 ngày cảm xúc tinh quang của càn phụ mà dương khí bắt đầu động”.

CÀN KHÔN 乾 坤

Quẻ Càn là đại biểu cho thế lực dương tính, tượng của nó là trời. Quẻ Khôn là đại biểu cho thế lực âm tính, tượng của nó là đất. Trời đất mênh mông, bao gồm bên ngoài, hình tượng bất động, ở nơi quẻ là tiên thiên, ở nơi người là đầu bụng. Kim Đan Tứ Bách Tự ghi: “Khảm ly chưa từng nhàn, càn khôn kinh qua bao thời”.
 

CÀN KHÔN ĐIÊN ĐẢO 乾 坤 顛 倒

Chỉ âm dương giao cấu, thần khí tương thông. Tiên Phật hợp tông ngữ lục ghi: “Càn Khôn điên đảo là Khôn chủ âm chủ tĩnh ở dưới”. Càn chủ động ở trên, cái tĩnh ở dưới không thể tự thăng lên được, do cái động giáng xuống dưới, âm dương hoà hợp mà sau đó cùng thăng lên, cái cơ thăng giáng này được gọi là “điên đảo”. Phàm hai khí trời đất thăng giáng đều như vậy, chỉ có điên đảo như vậy mới có thể sinh sinh không ngừng. Do vậy, việc luyện Kim dịch hoàn đan , hai khí âm dương diệu hợp điên đảo thăng giáng đều như vậy cả. Thành tựu được một hạt kim đan  như vậy, uống vào có thể trở thành “thiên tiên” (vị tiên trên trời).

CÀN KHÔN GIAO CẤU 乾 坤 交 媾

Sau khi phục thực đại dược là lúc chân dương điểm hoá âm thần, đây gọi là “càn khôn giao cấu xong, một điểm rơi xuống huỳnh đình”. Đạm Viên Chủ Nhân Lãnh chân nhân nói: “Đại dược chạy xuống bụng vào trong đan  điền thần thất, khảm thật sự điểm hoá ly âm, lúc ấy gọi là càn khôn giao cấu”.

CÀN KHÔN KHẢM LY 乾 坤 坎 离

1. Tên quẻ. Tức Càn Khôn Khảm ly. 2. Càn Khôn là kinh, Khảm ly và vĩ, vận động biến hoá, tác động lẫn nhau, để chế tạo thành kim đan  đại dược. Tham đồng khế khảo dị ghi: “Càn Khôn ngôi vị ở trên dưới, mà khảm ly lên xuống ở trong khoảng đó, thì được gọi là “Dịch” vậy”. Phàm khi nói về “Dịch” tức là nói về âm dương biến hoá. Ở người tức là nói về “kim đan  đại dược”.

CÀN KIM 乾 金

Là khí tiên thiên, ở khôn vị hướng tây nam có thể sinh đoài kim, kim sinh thuỷ; thuỷ một khi động thì kim khí sẽ tiết ra, phải thừa lúc quý thuỷ chưa sinh mau mau nhặt lấy kim này. Thái dược như gây rượu, ba ngày lên men mà gây ra thành ngăn hũ, khi ấy dù mùi vị chưa ngon nhưng phải biết chụp lấy thời cơ; nếu rượu đã chín thì không còn tác dụng gì cả, không thể biến hoá, không thể phối hợp. Đan Kinh ghi: “Diên gặp quý sinh đến giờ sửu, kim gặp sau rằm trăng sắp khuyết”.

CÀN NGUYÊN VÔ THỦ 乾 元 無 首

Càn số 9 (cửu), vô thủ là tàng (chứa đựng). Giữ sự mềm mại, giữ sự bí mật đều nói lên nghĩa tàng cửu, tức là để yên một điểm mà diệt chín điểm. Khuê Chỉ ghi: “Thần an một điểm mà hàm dưỡng ở trong Tổ khiếu chẳng siêng năng cũng chẳng lười. Chẳng phải vì thế phục lai càn nguyên của thân ta ư?”.

CANH GIÁP 庚 甲

Canh là dương thỉ, hiện ngày mùng 3, giáp là dương cực, thịnh ngày 15; đinh là dương bán, ở tại thượng huyền ngày mùng 8; tân là âm sơ sinh ngày 18; bính là âm bán ở hạ huyền ngày 23; ất là dương chung giảm ngày 28; nhâm là âm cực, thịnh ngày 30; quý là âm chung, mất ngày 14. Tám thiên can là phương vị của nhật nguyệt mọc lặn, như ngày mùng 3 nguyệt xuất nơi canh, nhật ở nơi giáp, ngày 15 nguyệt tròn đầy ở nơi giáp, nhật ở nơi càn. Canh giáp do nhật nguyệt mà xác định thân người cũng thế. Thái dương chứa ở bàng quang, thái âm chứa ở tỳ, thái âm thái dương ở nơi khí hải. Mùng hai thái âm đến vị trí tỳ, mùng 3 đến phế, theo thứ tự mà đi. Tin đến là canh, triều hết là giáp, khí đến là đinh, chất sinh là quý. Sinh canh thì khảm mậu sinh diên, chấn đoài trở về càn; sinh giáp thì ly kỷ sinh hống, cấn tốn về khôn. Canh là dương kim, tượng trưng cho chân tình, giáp là dương mộc, tượng trưng cho chân tính. Xao Hào Ca ghi: “Canh muốn sinh, giáp muốn sinh, sinh canh sinh giáp đạo nảy sinh”.

CĂN BẢN 根 本

Luyện đan  căn bản ở nơi thái cực, trời đất lấy sự hỗn độn sơ khai là thái cực, thân người lấy sự thâm u mờ mịt làm thái cực. Trời đất lấy sự giao cấu âm dương này mà sinh vạn vật, thân người lấy sự âm dương này mà sinh đại dược, Đại dược sinh ra từ thân cùng với trời đất sinh ra vạn vật không khác. Lữ Tổ nói: “Bố trí bếp lò luyện huyền căn, tiến thoái phải nhờ cửa Mão Dậu”. Kinh Nam Hoa ghi: “Tinh hoa của chí đạo thâm u mờ mịt”.

CĂN ĐẾ 根 蔕

Luyện đan  phải lấy tinh làm căn (rễ), lấy khí làm đế (cuống). Rễ cuống kỵ sự lay động, lay động thì cành lá khô héo và quả rơi rụng. Kinh ghi: “Đam mê nuôi dưỡng cành cây linh thiêng chẳng để khô héo”. Quảng Thành Tử nói: “Không lao nhọc hình hài, không lung lay tinh khí thì có thể trường sinh”.

CẤM KHÍ 禁 气

Tức thuật bế khí, giữ hơi, nín thở. Thần tiên truyện ghi: “Lưu Bằng đến năm hơn 300 tuổi, mà dung nhan như trẻ thơ, càng giỏi về thuật cấm khí”.

CẦM KIẾM 琴 劎

“Đàn, gươm”. Cầm (đàn) là nhu hoà, kiếm (gươm) là cương nghị. Dùng cương nhu để điều hoà sự kiện thuận. Ngưng thần là nhu, thái thủ là cương, cương nhu giúp nhau đan  đạo mới thành. Tổ Hàm Hư nói: “Ngưng thần điều tức, tĩnh hầu động cơ, thu nhập bằng kiếm, điều hoà bằng cầm, vận hành hà xa, phủ kín nơi huỳnh đình”.

CẦM LONG TRÓC HỔ 檎 龍 捉 虎

Tay trái bắt rồng là văn hoả, tay phải bắt cọp là vũ hoả, long (rồng) là tâm là hống (thuỷ ngân), hổ (cọp) là khí là diên (chì). Vô Căn Thụ nói: “Muốn đến phương tây bắt bạch hổ, phải qua phương đông phục thanh long”. Tổ Tam Phong nói: “Thanh long khoá chặt ly cùng khảm, bạch hổ dắt về đoài vào càn”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 09:23:55 am »

(tiếp theo)

CẦM VIÊN TRÓC MÃ 檎 猿 捉 馬

Chế phục tâm ý.
Viên (vượn) dụ cho tâm, mã (ngựa) dụ cho ý. Bởi tâm như con vượn trọn ngày động đậy không ngừng; ví ý của con ngựa suốt đêm đứng chứ không nằm. Do vì tâm ý luôn tương tục, không một khắc dừng nghỉ. Tổ Trùng Dương nói: “Ngủ thì cầm viên tróc mã, lúc tỉnh lại liền thu nhập quỳnh chi, thường y như thế trong 100 ngày chỉ cho tâm biết, tiếc chân khí, tàng đan  điền, người ấy bất tử”.
 

CHÂN ÂM 真 陰

Lúc lặng tĩnh tột cùng, in tuồng như ngủ mà chưa ngủ, chỉ có riêng nhất linh kích động mà không nhiễm trước, nhất linh này chính là chân âm. Tổ Ngọc Thiềm nói: “Hoa cúc mùa thu phần lớn màu vàng là do trong 3 tháng mùa hạ chân âm tu dưỡng mà thành. Ngọc Thư ghi: “Chân âm chân dương tương sinh tương thành, Như nhìn lên trời ta biết tích dương thành thần, trong thần có hình tượng, tựa vào trời đó là nhật nguyệt”.

CHÂN CẢNH GIỚI 真 境 界

Trương Bá Đoan - Kim đan  tứ bách tự - Tự ghi: “Tu luyện tới mức này thì Nê hoàn gió sinh, Giáng cung trăng sáng, Đan điền lửa cháy, Cốc hải sóng êm, xương cốt như bánh xe, tứ chi như đá núi, mao khiếu như được tắm mà dựng lên, cốt mạch thì như đan g say ngủ, tinh thần như vợ chồng giao hoan, hồn phách như mẹ con quyến luyến. Đây gọi là chân cảnh giới vậy. Không có gì có thể tả xiết được”. Tức trạng thái tinh thần tuyệt vời khi tu luyện Nội đan  tới mức thần khí giao dung, như mê như say.

CHÂN CHỦNG 真 種

Là chân khí của hậu thiên đỉnh, chỗ gọi là “nhất đắc vĩnh đắc”. Cái được chính là thân thể khinh an, trăm mạch điều hoà, mọi bệnh tật tiêu trừ mà có thể trường sinh. Tổ Hàm Hư nói: “Chân chủng là của chân khí hậu thiên đỉnh; hậu thiên đỉnh là chỗ nguyên thần nguyên khí giao hợp”.

CHÂN CHỦNG TỬ 真 種 子

Long hổ luyện thành một vật hay động hay lắc, cái có được trong lúc chân tĩnh là chân chủng tử. Tổ Trùng Dương nói: “Trong đỉnh nếu không có chân chủng tử thì cũng như đem thuỷ hoả nấu trong cái chõ trống không”.

CHÂN CƠ 真 機

Trong lúc lờ mờ hoặc mờ mịt, bên trong bỗng có cơ, đây là chân cơ. Du Ngọc Ngô nói: “Chân cơ diệu xứ ở trong chỗ mờ mịt”.

CHÂN DIÊN 真 铅

Lúc trong thận sinh khí, tinh của chân nhất, vô tình là diên hống, hữu tình là long hổ. Thiên Huyền Yến ghi: “Hậu thiên cặn đục là vô dụng, tiên thiên nhất điểm hiệu chân diên”. Ngộ Chân ghi: “Chẳng biết chân diên chánh tổ tông, mọi thứ tác dụng luống uổng công”.

CHÂN DƯƠNG 真 陽

Sau khi công phu Tiểu chu thiên hoàn thành, trước khi thu nhập đại dược, dương khí phát động đây là chân dương. Tổ Ngọc Thiềm nói: “Hoa đào mùa xuân rực rõ là trong ba tháng mùa đông chân dương tích chứa mà thành”.
 

CHÂN ĐẠO 真 道

Phép tiên gọi là đạo, chẳng phải ngoài việc mọi người dùng hằng ngày mà riêng có cái gọi là chân đạo, chẳng qua đo thấu hiểu âm dương, thâm đạt tạo hoá, ở trong nhà cũng chứa âm dương, chiếm lấy khí chân nhất kia để làm nền tảng lập mệnh mà thôi. Tổ Tiềm Hư nói: “Đạo này rất giản dị, rất u vi, chí thần chí thánh, là yếu đạo truyền tâm của ngàn thánh, là bực thang để bậc thánh đi lên chân đạo. Bỏ đây là bàng môn tiểu thuật, không đáng gọi là đạo”.

CHÂN ĐỊNH 真 定

Động huyền linh bảo định quan kinh ghi: “Hữu sự vô sự, thường như vô tâm. Ở chỗ yên tĩnh hay ở chỗ huyên náo, ý chí duy nhất. Nếu mà tâm gấp quá thì sẽ thành bệnh, khí phát cuồng điên. Nếu tâm bất động, thì phải buông thả, khoan cấp đúng chỗ, điều hoà thích nghi, giữ không nổi rõ, thả ra bất động, xử huyên không chán ghét, gặp việc không phiền não, như thế thì gọi là chân định”. Đây là nói về tình trạng của một loại luyện công nhập tĩnh.

CHÂN ĐỘNG 真 動

Khi vô tri vô giác, trong lúc lờ mờ bỗng nhiên lay động, đây gọi là động mà bất động mới là chân động. Tổ Tử Thanh nói: “Thu nhập dược vật ở trong bất động”.

CHÂN GIẢ ÂM DƯƠNG 真 假 陰 陽

Tu chân biện nan tham chứng ghi: “Âm trong dương là chân âm, Dương trong âm là chân dương”. Âm dương dùng ở đây tức là cái mà cổ kinh gọi là “dương đắc loại”. Chỉ có dương không có âm tức là “giả dương”, chỉ có âm không có dương tức là “giả âm”. Âm dương không dùng này tức là cái mà cổ kinh gọi là “Cô âm quả dương” vậy.

CHÂN GIÁC 真 覺

Trong vô tư lự tự nhiên mà giác, trong khoảng khắc tĩnh định bỗng nhiên mà biết; hoặc đan g ngủ một khi thức dậy đều là chân giác. Khuê Chỉ ghi: “Ngồi lâu quên sở tri, chợt biết nguyệt nơi đất, bày cái thể bất động, ngộ chân giác trong mộng”.


CHÂN HOẢ 真 火


Trong thận sinh khí là hoả hay hun đốt bốn đại, toàn thân dựa vào để hoạt động, hoả ở trong thuỷ mà không tắt mới là chân hoả. Nhập Dược Cảnh ghi: “Thuỷ chân thuỷ, hoả chân hoả, thuỷ hoả giao hợp vĩnh viễn không già”.

CHÂN HOẢ HẬU 真 火 候

Không hô không hấp gọi là tức (hơi thở), bên trong hàm chứa chân ý không tan gọi là chân hoả hậu, có diệu dụng hoá tinh thành khí. Tổ Hư Am nói: “Cho dù anh quyết chí tu hành, nếu không có chân hoả hậu đạo khó thành, chu thiên hoả hậu phải do tiên truyền, nếu thế nhân chỉ dạy thì có ai chân”.
 

CHÂN HỐNG 真 汞

Lâm Nguyên Đỉnh (thời Tống) - Nội nghĩa đan  chỉ cương mục cử yếu ghi: “Chân hống (thuỷ ngân, dương, nguyên thần) không phải là vật âm tạp hậu thiên, mà là thần khí tiên thiên. Hàng ngày phát sinh, dương khí bốc lên, cảm khí chì (diên, âm, nguyên tinh) mà ngưng kết, khiên cưỡng gọi là “sa” (chu sa), âm cực thì giáng, gọi là “rút ra từ trong chu sa” (sa trung trừu biểu). Hống (thuỷ ngân) là âm trong dương vậy”.

CHÂN HUYỀN 真 玄

Chỉ huyệt khí. Đạo hương tập ghi: “Kinh nói rằng: Cái huyền diệu của sự huyền diệu, là cái cửa để bước vào mọi cái huyền diệu (Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn). Lấy không sinh có, lấy tĩnh sinh động, chẳng phải là “Huyền chi hựu huyền” đó sao! Một khiếu này mở, trăm mạch lưu thông, chẳng phải là “chúng diệu chi môn” đó sao! Biết rõ cửa này, thì là Chân huyền”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 09:27:50 am »

(tiếp theo)

CHÂN KHÍ 真 炁

Là tiên thiên nhất khí đến từ trong hư vô, chỗ động là khí của long hổ lưỡng huyền. Trời dùng nguyên khí sinh người vật, đạo dùng chân khí sinh tiên thánh. Chung Tổ nói: “Thử đem thiên cơ tuỳ phát động, chân khí luôn luôn tụ thượng thanh”. Tổ Trùng Dương nói: “Thần chiếu càn cung, chân khí tự quy”.

CHÂN KHÔNG 真 空

Vốn là thuật ngữ Phật giáo. Về nghĩa của “chân không”, Phật giáo tiểu thừa cho là “Niết bàn”. Không giả nguỵ tức là “chân”, lìa sắc tướng là “không”, là cái “thiên đơn không” (chỉ quan niệm thuần tuý cho vạn vật là không) không có một vật gì. Đạo giáo mượn dùng khái niệm này để biểu thị một khái niệm chỉ thành quả của Đan đạo. Là một trong “Ngũ không” mà sách Đạo khu-Quan không thiên ghi chép. Không thứ tư là “chân không”: “Biết sắc không phải là sắc. Biết không không phải là không, chân không biến hoá mà sinh chân đạo, chân đạo biến hoá mà sinh chân không, chân không biến hoá mà vạn vật đầy đủ vậy. Đó gọi là bậc thần tiên”.

CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU 真 空 妙 有

Tĩnh cực không có gì cả gọi là chân không, trong cái không đó mà có linh giác gọi là diệu hữu, biết rõ cái động đó chẳng không gọi là diệu dụng, tức là không mà chẳng không. Tổ Ngọc Thiềm nói: “Không, không không, trong không có thật công, nếu hoàn toàn tịch diệt thì rốt cuộc rơi vào chấp không”.

CHÂN KIM 真 金


Tức là nguyên thần ngàn đời chẳng hoại, càng luyện càng sáng, tục ngữ có câu: “Vàng thật không sợ lửa”. Cảnh Dương Tử nói: “Diệu hợp chân thường thể, vẻn vẹn không có một điểm âm, mờ mịt gìn chí bảo, lờ mờ sinh chân kim”.
 

CHÂN NGŨ HÀNH 真 五 行

Mộc hoả kim thuỷ hợp, long hổ tính tình thông, tứ tượng hội trung ương, quy công mậu kỷ thổ, đan  đọng lại trong thổ, đây là chân ngũ hành. Chung Tổ nói: “Tính sinh mậu kỷ, phát tướng của ngũ hành triều nguyên, sức nhờ xuy hư (thổi lửa), bát quái thành hình là do nét hào định vị”.

CHÂN NGUYÊN 真 元

Là gốc của luyện đan , còn gọi là đan  đầu, chân chủng, diệu miên, tiên thiên, bạch nguyên, chân khí. Danh mục tuy rất nhiều song đều là một thứ. Khuê Chỉ ghi: “Chỗ vọng niệm khởi lên chính là gốc của sự sinh diệt. Khi vọng niệm dấy lên bèn là chủng tử luân hồi. Chỗ vọng niệm ngưng dứt chính là cội gốc của chân nguyên”.

CHÂN NHÂN 真 人

Là người bất sinh bất diệt, siêu xuất ba cõi. Lúc chưa thành đạo là bản thể của tâm thần, là khí của chân chất. Tham Đồng ghi: “Chân nhân chí diệu dường có dường không, lờ mờ vực sâu chợt chìm chợt nổi”. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ghi: “Chẳng kẹt hữu vô, dứt hết sinh diệt gọi là chân nhân”. Cảnh Dương tử nói: “Kết thai cần kết bổn lai chân, chẳng lìa trong thân tinh khí thần, ngưng kết từ từ chớ gián đoạn, công phu mười tháng sinh chân nhân”.

CHÂN NHẤT 真 一

1- Chỉ thân thể âm dương hoà hợp. Tồn thần cố khí luận ghi: “Người có thể đem cái thiên chân của mình mà an ở Thiên cốc, chính là giữ con đường chân nhất vậy”.

2- Chỉ hô hấp bình hoà nhập định (đều đặn, ổn định). Mạch vọng ghi: “Giữ được chân nhất, hơi thở không giao động qua lại. Lại nói: “Giữ được chân nhất, thì chân khí tự ngưng, dương thần tự tụ”

CHÂN QUẢ 真 果

Phàm tất cả cỏ cây từ lúc nở hoa đến kết trái báo hiệu kết thúc một giai đoạn. Con người từ nhỏ đi học kết hôn lập nghiệp đến già chết là một kết quả. Quả này tuy kết thúc song khó bảo đảm chuyển sinh lại đời sau làm người hay làm vật, không thể dự đoán. Không như cỏ cây đến mùa đông thì héo khô, mùa xuân sinh sôi, mùa hạ nở hoa, mùa thu kết trái, có sự tuần hoàn nhất định. Con người là loài linh của vạn vật, có pháp tu luyện, tu đến kim dịch hoàn đan  mới hoàn thành chân quả, ra khỏi ba cõi vĩnh viễn không bị cái khổ luân hồi. Kinh Nội Bí Chân Tạng ghi: “Sự nhiệm mầu của tính tịch diệt do ý căn bất động nên gọi là diệu quả. Không sinh không diệt, không nhân không quả thì gọi là chân quả”.

CHÂN QUYẾT 真 訣

Bí quyết chân chính cần phải đủ chí lý, có bằng cứ, không còn lý luận suông, không trọng thù lao, không do truyền bá rộng rãi, không lộ tài năng. Y theo pháp mà tu tất nhiên thành công, đây gọi là chân quyết. Tổ Tam Phong nói: “Thánh sư chân khẩu quyết, lời dạy để lại ngàn đời, truyền cho người thế gian, song có mấy ai biết được”. Tổ Nê Hoàn nói: “Tu tiên chỉ có kim đan  quyết, chân đan  không có quyết thứ hai”.
 
Liễu Chân Nhân nói: “Cầu pháp tầm sư hỏi chánh truyền, nếu không chân quyết khó thành tiên”.

CHÂN SA 真 砂

Sau khi chân hoả nung đúc, hoả bị dập tắt hoá làm thổ, rồi trong thổ có chân sa. Chân hống nếu không có chân diên thì làm sao có thể chế phục sa hống. Bởi hai tác dụng tính tình đều ở trong tinh, hai tác dụng sa hống đều ẩn trong diên. Sa hống là vô trong hữu, chân thổ là hữu trong vô, bởi hữu chế phục vô. Cảnh Dương Tử nói: “Muốn luyện chu sa hoạt thuỷ ngân, phải biết ngân chính là sa thần, phần lớn chỉ có một bật chớ ngờ hai, chủ thì chìm chứ khách thì nổi”.

CHÂN THANH DƯỢC VẬT 真 清 藥 物

Không phơi bày tính của khí chết, không chuyển động thần của tư lự, không dùng tinh của giao cảm, không dùng khí của hô hấp. Phải biết chân tinh động vào lúc nào, chân tình sinh ở chỗ nào, chân khí vận chuyển ở phương nào, chân tính dưỡng vào lúc nào, mới có được dược vật thanh chân. Đan  Kinh ghi: “Chân quyết ắt phải truyền cho chân tiên, người đời nói ra có ai nhận được chân”.

CHÂN THẦN 真神

Trong lúc định tĩnh không có cái gì cả, chỉ có nhất thần độc chiếu, thần này mới được gọi là chân thần. Chỗ gọi là an định thì sinh trí tuệ, toàn trí toàn năng, không thể nghĩ bàn. Kinh Sinh Thần ghi: “Thân tâm hợp nhất ấy là chân thần”.

CHÂN THỜI 真 時

Trong hư tĩnh tột độ, lúc có manh động, đây là chân thời, là thời gian khởi đầu luyện đan . Nếu không có thời gian này thì luyện đan  không thành. Tổ Tam Phong nói: “Kim Hà Mô, Ngọc Lão Nha biết được chân thời là tác gia”. Lữ Tổ nói: “Y thời liền thấy Huỳnh kim Phật, về sau khó gặp bích ngọc tiên”.

CHÂN THỔ 真 土

Chỉ tim thận, Trong Đan Kinh nói tim là Kỷ thổ, thận là Mậu thổ. Mậu Kỷ hai thổ hợp thành, đó là chân thổ. Lại nói: “Chân thổ cũng chính là chân ý, tứ tượng hoà hợp phải lấy Chân thổ làm nền”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 12:35:41 pm »

(tiếp theo)

CHÂN THUỶ 真 水

Trong tâm hoả sinh ra dịch là thuỷ hay tưới mát trăm mạch, toàn thân nhờ đó mà tư nhuận, thuỷ ở trong hoả không tiêu không diệt, mới là chân thuỷ. Tổ Tam Phong nói: “Chân thuỷ hoả, phối hợp âm dương, thế nhân chớ dạy loạn tư tưởng; cho dù vô vi không đả toạ, khó tránh chôn thân núi Bắc Mang”.

CHÂN TIÊU TỨC 真 消 息

Trong Đan Kinh có những chữ: tiên thiên, chân, nguyên v.v… thêm vào phía sau những chữ: tinh, khí, thần, tính, mạng, tình, diên, hống, kim, thuỷ, hoả, dược vật v.v.. đều là chân tiêu tức sinh ra từ trong đỉnh âm dương mờ mịt tối tăm, hỗn độn sơ khai. Tổ Tam Phong nói: “Sinh ra vốn khí tiên thiên, ẩn trong thân thể người khó gặp”.

CHÂN TINH 真 精


Cần chân thời, chân hậu, lại phải vô niệm vô tưởng, khi ấy cái nhận được mới là chân tinh, chỗ ở của nó là bỉ gia (nhà kia), là khí của hoa trì hưng thịnh; Ngộ Chân gọi là Thủ Kinh, lúc ấy là rằm tháng 8, kim khí đầy đủ, thuỷ triều dâng cao, thích hợp cho thái dụng, tinh này ngưng kết trong trời đất, ấy là kim ngọc (vàng ngọc) trải qua trăm ngàn năm cũng không hư hoại. Nếu người nào quay lại cầu nơi mình, được thì trở thành chí bảo. Doãn chân nhân nói: “Nhà rách nát sửa chữa dễ dàng, thuốc khô héo làm xanh tươi lại cũng không khó, chỉ cần biết pháp quy phục thì kim bảo chất đống như núi”.

CHÂN TÍNH MỆNH 真 性 命

Thần của thiên cốc sáng suốt lặng yên mà hư tĩnh, là chân tính. Trong thân lô, chân khí chan hoà không ngưng dứt, là chân mệnh. Khuê Chỉ ghi: “Bản lai chân tính hiệu kim đan , bổn đại làm lò lửa luyện thành bầu”. Đông Hoa Đế Quân nói: “Pháp thân rộng lớn trùm trời đất, chân tính tròn sáng thấu xưa nay”.

CHÂN TÌNH 真 情

Phi phàm tình là nhất dương trở lại, lúc vô niệm vô tưởng thì tình này lay động. Tình này một khi lay động liền biết tin tức huyền quan, vốn là mọi người sẵn đủ, sử dụng hàng ngày mà không biết. Còn gọi nó là chân hoả hậu thiên nhiên mà chẳng bị mọi cảnh giới thuận nghịch chuyển dời, tất cả phàm tình thế tục không thể nào sánh được. Đan Kinh ghi: “Đạo dùng chân tình tình đến luyện, nếu không chân tình đạo bất thành”. Tổ Tam Phong nói: “Muốn cho ba nhà tình ý hợp, chỉ nhờ một điểm đạo tâm kiên”.

CHÂN TỨC 真 息


“Hơi thở của chân nhân”. Phương hồ ngoại sử - Huyền phu luận ghi: “Tức (hơi thở) có 2 loại: Phàm tức (hơi thở người phàm) và Chân tức (hơi thở của chân nhân). “Phàm tức” là hơi thở ra từ mồm mũi, “Chân tức” là thai tức lên xuống, đi vào trong bản huyệt... “Phàm tức” một khi dừng thì “Chân tức” cứ tạ động. Mà “phàm tức” sở dĩ dừng là không phải do tâm ngăn trở. Hư cựu tĩnh đốc, cho nên tâm đập càng nhẹ nhàng, hơi thở càng vi diệu”.

CHÂN VÔ LẬU 真 無 漏


Thiên tiên chính lý thiển thuyết ghi: “Chân vô lậu, thì âm co lại như đứa trẻ con, không hề cử động, không hề có cái lý sinh tính, làm sao mà “hữu lậu” được”.

CHÂN Ý 真 意

Tâm mới thức dậy và tâm không tán loạn do giữ gìn cẩn thận đều gọi là chân ý. Bởi “bất động” là thể của nguyên thần; “cảm thông” là dụng của chân ý. Doãn chân nhân nói: “Chân ý là căn nguyên, là mẹ của trời đất, là gốc của âm dương, là cội của thuỷ hoả, là nguồn gốc của nhật nguyệt, là tông của tam tài, là tổ của ngũ hành, vạn vật nhờ đó mà sinh ra”.

CHẤN LÔI 震 雷

Chấn (sét) là lôi (sấm), vì quẻ thuộc về địa lôi, lại còn nhất dương lay động ở phía dưới. Vân Dương Tử nói: “Lúc giao thời từ tối đến sáng, nhật nguyệt tụ hội chỗ hư nguy, trời nhập vào đất, mặt trăng bao phủ mặt trời, trái lại hỗn độn tự giao cấu dần dần ngưng tụ, nhất dương chấn động xuất hiện mà thọ phù”.

CHỈ HOẢ 止 火

Chỉ công lực đã đến, hoả hậu đã đầy đủ, thì cần phải tắm gội ôn dưỡng để đề phòng thương đan . Ngộ Chân Thiên ghi: “Hoàn đan  chưa luyện cần luyện gấp, luyện rồi còn phải biết dừng lại khi đã đủ”. Lưu Nhất Mình chú: “Nếu đan  đã về, phải ngưng thổi lửa, dụng công ôn dưỡng”.

CHỈ HOẢ CẢNH TƯỢNG 止 火 景 象

Lúc luyện tinh hoá khí, bên trong chợt hiện dương quang. Bên ngoài dương co lại không cất lên, nếu dương quang tái hiện phải dừng ngay thăng giáng, bỏ vũ hoả mà chỉ dùng văn hoả để ôn dưỡng nó. Chung Tổ nói: “Đan chín rồi không cần hành hoả hậu, còn hành hoả hậu ắt tổn thương đan ”. Liễu Chân Tử nói: “Phải tránh không cần hành hoả hậu, chẳng biết dừng lại ắt lên hiểm nguy”.

CHỈ LẬU 止 漏

Công phu bước đầu luyện đan  trước tiên phải bắt tay vào việc chỉ lậu (dừng sự rỉ chảy). Những người bình thường khoảng 16 tuổi tinh quan đã mở, từ đây mỗi tháng ắt rỉ chảy từ 1 đến 3 lần. Cũng có người tự nhiên bất lậu, đây là thể cách đặc biệt, trong ngàn vạn người khó được một. Mệnh công khởi đầu là luyện chỉ lậu, nếu như chân sư chân pháp một khi hạ thủ liền bất lậu. Còn như lậu chưa dừng được mà tuỳ tiện thông Nhâm Đốc, chuyển Chu Thiên, đều là bàng môn. Lữ Tổ nói: “Ngưng tinh cần phải sớm, tiếp mệnh chớ day trễ”. Tiên Tông ghi: “Nếu chẳng khiêm tốn cầu thầy chỉ dạy, tuỳ tiện tu luyện đến ngàn năm cũng khó tránh khỏi tai hoạ”.

CHỈ QUÁN DIỆU LUÂN 止 觀 妙 論

Quán là hồi quang, tư duy tập trung; quán là trí sáng suốt, nhìn sâu sa. Chỉ mà không quán là có hồi mà không có quang; quán mà không chỉ là có quang mà không hồi, Liễu chân nhân nói: “Nội quán mà vô tâm, ngoại quán mà vô thể, bồng bềnh tìm kiếm không được, phảng phất biết là hư linh, như cá bơi theo nước, như sương che phủ khói”.

CHÍNH GIÁC 正 覺

Chỉ giác ngộ chân chính, tức là chỉ ngộ tính nguyên bản cụ hữu (sự giác ngộ vốn có sẵn), chẳng cần nghĩ ngợi. Tính mệnh khuê chỉ toàn thư - Di thần nội viện, Đoan củng minh tâm ghi: “Chẳng nghĩ mà giác ngộ thì gọi là Chính giác”.
 

CHÍNH KHÍ 正 氣

Hô là nguyên khí của cha mẹ, hấp là chính khí của trời đất. Chính khí hết khiến cho nguyên khí hợp thành hình hài này, thần của ta hợp thành khí kia thì mệnh ở nơi ta. Phàm phu không biết gom chứa chỗ hô hấp nên cố gượng bế khí ra vào khiến cho nguyên khí bị trời đất đoạt. Có người tuỳ tiện để khí ra vào thì nguyên khí theo sự hô hấp mà đi, nguyên tinh theo dục niệm mà rỉ; trên tản dưới rỉ thì đâu thể sống lâu. Người ta chỉ biết hấp (thở vào) ở bên trong, mà chẳng biết hô (thở ra) cũng ở bên trong. Nếu biết được cách hô hấp thì có thể đoạt được chánh khí của trời đất mà trường sinh bất lão. Kinh Huỳnh Đình ghi: “Tán phát vô dục để thường còn, ngũ vị đều đến chính khí hoàn”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 12:41:14 pm »

(tiếp theo)

CHÍNH NGỌ 正 午


Trong một thế kỷ là tiết trung nguyên, trong một năm là tháng Ngọ, trong một ngày là giờ ngọ, trong thân người là tâm (trái tim), trong luyện đan  là khoảng khắc dương cực nhất âm vừa mới sinh. Đào chân nhân nói: “Hỏi ta Ngọ là giờ nào, chẳng qua dược chầu nơi kim khuyết”.

CHÍNH NHẤT 正 一

1. Chỉ ý niệm thuần chính, tập trung thống nhất. Huỳnh Đình nội cảnh kinh- Hô hấp chương ghi: “Chính nhất ngậm hoa mới dồi dào” (Chính nhất hàm hoa nãi sung danh).

2. Chỉ hình thần ổn định. Đàm Tử hoá thư ghi: “Mệnh thì là bốn, Căn thì là một, giữ mà chẳng được, bỏ mà chẳng mất, đó gọi là Chính nhất”.

CHÍNH PHÁP NHÃN TẠNG 正 法 眼 藏


Công phu chính thu nhập đại dược hoàn toàn dựa vào đôi mắt, chặt chẽ chuyên chú nhìn trung điền, không thể xa lìa trong chốc lát. Nếu loại trừ ánh mắt này mà thái thủ thì không phải chánh pháp. Kinh Chân Nguyên Thông Tiên Đạo ghi: “Được cái lớn lao là do hoà hợp và nhìn lâu”. Khưu Tổ nói: “Kim đan  đại dược không khó, mắt nhìn trung điền đêm giữ lại, thuỷ hoả tự giao không trên dưới, một bầu sức sống ở đôi ngươi”.

CHÍNH TÝ 正 子

Khác với giờ Hoạt Tý, vì chỉ sau khi đã thực hành Tiểu chu thiên động pháp thuần thục, tinh khí thịnh vượng thêm, sắp tiến vào Đại chu thiên là thời cơ từ biến đổi về lượng thành biến đổi về chất, thì mới có thể sản sinh ra hiện tượng này. Loại cảnh tượng này trong Đan kinh gọi là “Lục căn chấn động”. Loại cảnh tượng này chỉ có trên cơ sở tích luỹ Tiểu chu thiên thì mới sản sinh ra được, bởi vậy nên gọi là “Chính”.

CHÍNH TOẠ 正 坐

Chỉ một loại tư thế luyện công. Còn gọi là Đoan toạ. Yêu cầu thân thể ngay ngắn, thẳng đứng, ngồi yên trên ghế, hai đùi dang tự nhiên, rộng ngang với vai, hay đầu gối co lại thành 90 độ, hai bắp chân song song rủ thẳng xuống đất, hai bàn chân dẫm chắc trên mặt đất, hai bàn tay úp xuống đất một cách tự nhiên ở chỗ một phần ba hai đùi. Ưỡn ngực, buông vai, khuỷ tay rũ xuống, toàn thân có cảm giác rủ xuống.

CHU DỊCH THAM ĐỒNG KHẾ 周 易 参 同 契


Kinh điển Đạo  giáo. Gọi tắt là Tham đồng khế. Nguỵ Bá Dương thời Đông Hán soạn 3 quyển. Trong sách đã mượn các pháp tượng như: Càn, Khôn, Khảm, Ly, Thuỷ, Hoả, Long, Hổ, Diên, Hống để bàn về phương pháp luyện đan  tu tiên. Đại ý là tham dự cùng lý pháp của 3 nhà “Đại Dịch”, “Hoàng Lão” và “Lô Hoả” rồi quy tụ làm một là có thể “Hợp với đại đạo” (Diệu khế đại đạo) nên gọi tên như vậy. Là tác phẩm sớm nhất bàn về luyện đan  một cách có hệ thống của Đạo gia. Nội dung sách này đề cập cả Nội đan  lẫn Ngoại đan , có ảnh hưởng rất lớn đến thuật luyện dưỡng (đặc biệt là Nội đan ) của Đạo giáo, được coi là “Tổ của Đan kinh”. Sau này. Đạo  sĩ nước Thục là Bành Hiểu có Chu dịch tham đồng khế phân chương thông chân nghĩa, 3 quyển. Ngoài ra còn có chú giải của trên 40 nhà. Phần nhiều được thu vào trong Đạo Tạng s.621-629.

CHU KỲ 周 期

Cuối cùng rồi trở lại ban đầu gọi là chu, âm dương tuần hoàn đó là tý tự nhiên. Vạn vật trong trời đất đều theo chu kỳ và vận hoá, luyện đan  đâu thể trái với lý tuần hoàn của trời đất? Ngũ chân nhân nói: “Một động một tĩnh đây là chu, luyện rồi luyện lại có thuỷ chung”.

CHU LÝ HỐNG 硃 裡 汞

Cái lay động trong hư vô, cái hay biết trong tĩnh định, mới là chân hống; nếu có mảy may vọng tưởng tình chẳng phải là chân hống. Đan Kinh ghi: “Kim đỉnh muốn lưu lại chu lý hống, ngọc trì trước hạ xuống thuỷ trung ngân”.

CHU SA 硃 砂

Lưu Nhất Minh thời Thanh chú Ngộ Chân Thiên ghi: “Chu sa, là một điểm khí hư linh ở trong Ly, tức linh tri, thuộc về tâm của con người”. “Vì nhân tâm linh tri, ngoài sáng trong tối, sáng thuộc lửa, lửa màu đỏ nên lấy tượng là chu sa”. Chỉ cái khí hư linh tiên thiên, là cái đạo tâm có linh giác, tức là nguyên thần.

CHU SA ĐẢNH 硃 砂 鼎


Là dương đảnh, trong có âm khí của thuỷ ngân là huyền khí của rồng. Khuê Chỉ ghi: “Trong yển nguyệt lô (lò có hình mặt trăng nằm ngửa) ngọc nhuỵ sinh ra, trong chu sa đỉnh thuỷ ngân cân bằng, chỉ nhờ sức lửa điều hoà rồi mới trồng được huỳnh nha dần trưởng thành”.

CHU THIÊN 周 天


Lễ kí-Nguyệt lệnh thiên sớ ghi: “Nhị thập bát tú và các sao khác đều đi vòng theo phía tả của vòng trời, 1 ngày 1 đêm là 1 chu thiên (vòng trời)”. Khí công học lấy chu thiên để nói rõ 1 vòng vận hành của tinh khí trong cơ thể con người. Có sự khác biệt giữa Tiểu chu thiên và Đại chu thiên. Mạch Nhân Đốc tuần hoàn 1 vòng từ Tiểu chu thiên, bắt đầu đi từ Thủ thái âm phế kinh đến Túc quyết âm can kinh là cuối mà dừng lại, tuần hoàn qua lại, ngày đêm không nghỉ, gọi là Đại chu thiên.

CHU TƯỚC 朱 雀

1. Chu sa dùng trong việc nấu luyện ngoại đan . Vân cấp thất thiêm-Đại hoàn đan  khế bí đồ: “Chu tước, Nam phương Bính đinh hoả, đó là chu sa vậy”.

2. Danh từ Nội đan , chỉ chân khí tâm tạng. Nội đan  hoàn nguyên quyết ghi: “Tâm thuộc Nam phương Bính Đinh hoả, tâm là hoả tạng. Trong tâm có khí gọi là Chu tước”.

3. Còn gọi là Chu điểu. Là vị thần phương Nam trong thần thoại cổ đại Trung Quốc.

Là chỉ 7 vì sao (tinh tú) ở phương nam trong Nhị thập bát tú, gồm Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tính, Trương, Dực, Chẩn. Vì nó ở phương nam, thuộc Hoả, màu đỏ, lại giống hình chim, nên gọi là Chu tước. Chu tước cùng Thanh long, Bạch hổ, Huyền vũ là bốn vị thần bốn phương. Đạo giáo thường lấy Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ làm thần hộ vệ để tăng thêm uy nghi.

CHÚ KIẾM 鑄 劍


“Đúc kiếm”. Kim mộc rèn mãi trở thành đồ dùng ắt phải trước trồng cây sau luyện kim. Luyện dược cương nhu trở thành đan  ắt trước hàng long sau phục hổ, vì khí của kim mộc lưỡng huyền một cương một nhu. Giống như kiếm của Can Tương và Mạc Da phối hợp mà trở thành báu vật. Hàng long phục hổ là cái gì? Đó là kiếm trí huệ. Lữ Tổ nói: “Cô âm khó bay lên, lại cần đúc kiếm thần”. Tổ Đan Dương “Trong mơ đúc rèn kiếm vô ảnh. Trong pháp trừ sạch tâm hữu tình”.

CHÚ THẤT 鑄 室

Khởi đầu của sự luyện công trước hết đem rồng đặt nơi hang cọp, đây là chú thất. Sau đó hống xuất ra từ trong diên, đây là rồng ra khỏi hang cọp. Tổ Đan Dương nói: “Mau mau lật đổ núi ngã nhân, kíp kíp mở toang hang rồng cọp”.

CHỦ KHÁCH PHỤ MẪU 主 客 父 母

Hống là chủ, diên là khách. Hống là phụ (cha) có tánh ban cho; diên là mẫu (mẹ) có tình tụ họp. Phụ chủ trương theo hứng mà ban phát rộng dãi, mẫu dung chứa tư dịch để biến hoá tất cả. Ban cho là phụ, nhận lãnh là mẫu. Lúc hống cầu diên thì hống là chủ, diên là khách. Lúc kim chặt mộc thì diên là chủ hống là khách. Thái thượng nói: “Ta chẳng dám làm chủ mà làm khách, khuyên anh lâm trận chớ khinh địch, sợ mất của báu vô giá trong nhà”.

CHUNG LI QUYỀN 鈡 离 权


Còn gọi là Hán Chung Li. Một trong các thần tiên Đạo giáo trong truyền thuyết. Họ Chung Li, tên Quyền, hiệu là Hoà Cốc Tử, lại có hiệu là Văn Phòng tiên sinh. Người Hàm Dương, Kinh Triệu (nay thuộc Thiểm Tây). Toàn Chân đạo tôn là Chính Dương tổ sư. Kim liên chính tông kí xếp là một trong “Bắc ngũ tổ” (năm vị tổ phương bắc). Theo truyền thuyết, ông được Vương Huyền Phủ trao cho Xích phù ngọc lục, Kim khoa linh văn, Đại đan  bí quyết, Chu thiên hoả lậu, Thanh long kiếm pháp. Cuối cùng được Ngọc hạp bí quyết ở núi Tứ Hạo, Tử Kim, Không Động, mà thành chân tiên. Ngọc Đế phong làm “Thái Cực Tả Quan chân nhân”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Tư 26, 2011, 03:54:55 am »

(tiếp theo)

CHÚNG DIỆU MÔN HỘ 衆 妙 門 戶

Trong khoảng trên đỏ dưới đen, trái xanh phải trắng. ở giữa vàng, đúng ngay sau rốn trước thận, trên huỳnh đình dưới quan nguyên, là yểu minh phủ chứa nguyên tinh, là đan  nguyên cung kết thai tức. Kinh Huỳnh đình ghi: “Trên có huỳnh đình dưới quan nguyên, sau có u tịch trước mạng môn”. Liễu Chân Tử nói: “Lão Tử mở ra các diệu môn, bên ở bên đóng ứng càn khôn, nếu được ở nơi không hình tượng, có kẻ sống lâu không chết non”.

CHỦNG TỨC 踵 息

“Thở đến gót chân”. Một trong những phương pháp tu luyện của Đạo giáo. Trang Tử-Đại tông sư ghi: “Chân nhân thở đến gót chân, người thường thở bằng yết hầu”. Tính Mệnh Khuê Chỉ ghi: “Sự hô hấp của người thường đều là theo yết hầu mà xuống dưới tới Trung quản thì quay lại, chẳng thể nối tiếp với Tổ khí, giống hệt như cá uống nước vào miệng rồi thoát ra từ mang. Đó là người thường thở bằng họng vậy. Còn bậc chí nhân hô hấp thì xuyên thẳng vào Minh đường, rồi hướng lên trên tới hai bên xương sống mà chảy vào Mệnh môn, nối tiếp với tổ khí, giống như nam châm hút sắt mà cùng loại thân nhau (đồng loại tương thân). Đó là chân nhân thì thở đến gót vậy. Nói là “gót”, có nghĩa là hơi thở thực sự rất sâu. Bởi vậy nói rằng hơi của người thường là sự hô hấp của khí hậu thiên. Còn hơi thở (Tức, Chủng Tức) của bậc chân nhân là sự vận hành của tiềm khí tiên thiên”. Hơi thở ấy có thể thẳng tới được gót chân.

CHUYÊN KHÍ TRÍ NHU 専 气 致 柔

Làm cho cái khí đạt đến sự mềm mại. Chỉ trong quá trình hành công, khí hô hấp thở hít dưới tác dụng của ý thức mà trở nên mềm mại tự nhiên. Linh Nguyên Đại Đạo Ca ghi: “Chuyên khí trí nhu thần lưu lại mãi, chân tức qua lại tự bồng bềnh, dằng dặc quanh co quy nguyên mệnh, không khơi dòng mà suối thiêng thường tự chảy”.

CHỨNG NGHIỆM 證 醶


Tổ Nê Hoàn nói: “Khi mới tu đan  liền cảm thấy thần thanh khí sảng, thân tâm thư thái, bệnh tật tiêu trừ, trăm ngày không ăn, uống rượu không say, không còn mộng mị, đến địa vị này thì máu đỏ biến thành trắng, âm khí luyện thành dương khí, thân như lửa đốt, đi như bay, trong miệng có thể là cho thuỷ ngân khô, khí thổi có thể làm cho thịt chín, đối cảnh vô tâm, như như bất động, sai sứ quỷ thần, kêu gọi giông tố, tai nghe tới trời, mắt thấy ngàn dặm, thân thể thuần dương, xương ngọc gân vàng, dương thần xuất hiện, ra vào tự tại, đây là đạo trường sinh bất tử đã xong”.

CÔ ÂM 孤 陰

Người chuyên tu tính công mà không tu mệnh công thì không thể chí đạo, bởi tính là âm, chẳng được dương khí điểm hoá chẳng thể thành hình, vì thế quý trọng tính mệnh song tu. Tổ Tử Dương nói: “Âm trong dương tính chất không cứng rắn, riêng tu một vật chuyển yếu gầy”.
 

CÔ TU 孤 修

Trong lời chú về “Tĩnh toạ cô tu” của Lưu Nhất Minh thời Thanh ghi: “Hoặc Quan không, hoặc Định tức, hoặc Tư thần, hoặc Thủ xảo, hoặc Ban vận đều là “Tĩnh toạ cô tu”, chỉ có âm mà không có dương. Không chỉ vô ích cho tính mệnh, mà còn tương tổn đến tính mệnh. Càng tu thì khí càng khô”.

CỔ CẦM CHIÊU PHỤNG 鼓 琴 招 鳳

Cầm là âm điều hoà lẫn khí tiết, phụng là hình tượng của chu tước phương nam, là nhất âm trong ly. Oánh Thiềm Tử nói: “Cổ cầm là hư tâm, chiêu phụng là dưỡng thần; hư tâm dưỡng thần thì tâm minh thần hoá, hai chữ thổ tạo thành chữ khuê, tâm tính tròn sáng”.

CỔ TỨC 鼓 息

Là nghĩa dùng ý cổ động khí kia. Sử dụng sức gió mạnh thì sức lửa dụ. Bởi âm tính trong khảm khó chế phục ắt cần phong hoả (gió với lửa) đồng dùng. Thần khí chà xát nhau mà kích động mới có thể khắc phục, giống như hai vật ma sát lẫn nhau phát ra lửa, dùng lửa nung luyện bất cứ vật chất đều có thể nóng chảy mà biến chất biến khí. Tiên Tông ghi: “Cổ đoài phong, vận khôn hoả, phong luân kích động sinh chân diên”.

CỐC THẦN 谷 神

Cốc là hư rỗng, thần là linh giác. Đan pháp lấy sự hư linh không mê muội làm gốc, gọi là cốc thần, là nguyên thần hư linh. Hứa Tổ nói: “Cốc thần bất tử do thai tức, môn phái trường sinh được vững bền”. Tổ Tử Dương nói: “Nếu muốn cốc thần trường sinh, phải nhờ huyền tẫn lập nền tảng”. Bạch Tổ nói: “Đầu người có 9 cung, trong đó có một cung gọi là cốc thần; thần thường ở trong cốc, ngày tiếp xúc mọi vật, đêm tiếp xúc giấc mơ, không thể định được chỗ ở của nó”.

CỐC THẦN LAI KHỨ 谷 神 來 去


Cốc thần do hai khí âm dương hỗn hợp mà thành; âm dương phân tán thì thần kia tối tăm mà thể đen, vì mất sự sáng suốt nên thần minh ra đi; âm dương hợp lại thần kia sáng trong mà thể trắng và phục hồi sự sáng suốt nên thần minh trở lại. Thái Thượng nói: “Cốc thần bất tử gọi là huyền tẫn, cửa huyền tẫn gọi là cội gốc của trời đất”.

CÔN LÔN 崑 崙


Trong thân người có hai thứ Côn lôn: Hạ côn lôn ở càn vị phương tây, còn gọi là huyền môn, ở tại hạ nguyên, trong hải thuỷ sinh ra hoả, sự thực là chỗ phát hoả. Thượng côn lôn, ở tại nên hoàn cung là chỗ vận hoả, còn gọi là thiên môn.

 Đan Kinh nói: “Các loài hướng về càn gia giao cảm cung”, là hạ côn lôn. Lý Tông Dương nói: “Hà xa không dám tạm dừng, vận chuyển lên đỉnh côn lôn”, là thượng côn lôn.
 

CÔNG HẠNH 功 行

Tu đạo căn cơ có cao thấp, công hạnh có sâu cạn, cho nên nghe đạo, đắc đạo, liễu đạo có mau chậm sai khác. Khi xưa, Tổ Đan  Dương hai năm rưỡi liễu đạo; Tổ Trường Chân 5 năm liễu đạo, Khưu Tổ trăm cay ngàn đắng mới đắc đạo, thực hành 18, 19 năm còn chưa hiệu nghiệm, đủ 20 năm mới liễu đạo. Một mạch sư truyền há có đẳng cấp ư? Do vì công hạnh sâu cạn khác nhau cho nên liễu đạo có mau chậm chẳng đồng. Mã Tổ (Mã Đơn Dương) từ nhỏ đã hiểu đạo, khổ chí cần tu đến 64 tuổi vẫn chưa thành đạo, một hôm nổi giận muốn nhảy xuống sông huỷ mình, bỗng gặp Lưu Tổ bảo rằng: “Công hạnh của ông đã đầy đủ, chỉ vì một phen chưa tham thấu”. Mã Tổ liền bỏ ý định tự tử mà tu luyện lại, Quả nhiên đến 100 ngày liền liễu đạo. Tổ Tử Dương nói: “Đạo này chí thánh chí linh, chỉ sợ ông phước mỏng khó tiêu tội nghiệp”. Cảm Ứng Thiên ghi: “Muốn cầu thiên tiên phải làm 1300 điều thiện, muốn cầu địa tiên phải làm 300 điều thiện”.

CÔNG PHU BIẾN HOÁ 功 夫 變 化

Biết giờ mà giao cấu, dương sinh mà dã chiến, tiến hoả phải phòng nguy, hình đức cần mộc dục, cho đến ôn dưỡng mà thành đan . Đây là sự biến hoá của công phu. Tổ Nê Hoàn nói: “Công phu chưa tới mức thì không kết quả, ngôn ngữ không thông chẳng phải quyến thuộc”.

CÔNG PHU HIỆU NGHIỆM 功 夫 效 醶

Mỗi ngày công phu 3 giờ, liên tục thực hành không gián đoạn trong 3 tháng ắt có ứng nghiệm, nhưng cần phải được chân sư chỉ cho thông suốt rồi mới hạ thủ công phu, nếu không thì thực hành không đúng cũng khó được hiệu nghiệm.

Khuê Chỉ ghi: “Làm một bước tự có hiệu nghiệm một bước, lên một bậc tự có quy mô một bậc”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Tư 26, 2011, 03:59:34 am »

(tiếp theo)

CƠ ĐỘNG LẠI MINH 機 動 藾 鳴

Khi huyền cơ phát động như tiếng gió tự kêu, chẳng phải sức người có thể làm được, Khuê Chỉ ghi: “Tam cung khí đủ, cơ động lại minh thời một kiếm chẻ ra thời hồng hoang, đây gọi là trong cái không sanh ra cái có”.

CƠ GIAM 機 椷

Tượng trưng sự chẳng lộ, luyện đan  đến thần khí giao cấu như khi nhật nguyệt kết hợp, rất giống trạng thái hỗn độn hồn nhiên mà chẳng lộ. Tiên tông nói: “Một động một tĩnh chẳng mất cơ giam, đây là sự giao hợp của điều dược”.

CƠ TẠI MỤC 機 在 目

Tâm duyên dẫn do mắt, như nỏ phát động do cơ. Cơ không động thì nó đứng yên, mắt không động thì tâm an trụ, chẳng cảm thấy ham muốn thì tâm không loạn. Hoả Hậu Ca ghi: “Muốn thấu huyền huyền phải cẩn thận, công phu cẩn thận cơ tại mục”.
 

CƠ TỨC 機 息


Dương khí ẩn nấp là cơ tức, lúc này tuy dương khí không hình không tượng nhưng vẫn nấp ở trong tức cơ, chờ thời mà động giống như vạn vật ẩn náu vào mùa đông. Đan Kinh ghi: “Khí phát thì thành khiếu, cơ tức thì mù mịt”.

CÙNG LÝ TẬN TÁNH DĨ CHÍ Ư MỆNH 窮 理 盡 性 以 至 於 命

Đọc chân hàm, tìm chân quyết, quán tạo hoá, tham hà lạc, nhân tiện nhàn rỗi mà bảo vệ khí, giữ tinh thần để trúc cơ; chính một bước đuổi theo một bước, thứ lớp công phu. Một mặt cùng lý, một mặt tận tính để mưu tính diệu dược bất tử. Tính là bên trong, mệnh là bên ngoài hợp lại làm một, đại đạo đã thành. Tổ Tam Phong nói: “Nếu chưa gặp chân sư, hãy chuyên tâm xem sách, Đan Thư  của cổ thánh không dối gạt một chữ, chỉ vì người đời sau không phân biệt chính tà, lại không biết trong sách thánh hiền đều là ẩn ngữ, thí dụ, gặp phải ông thầy tầm thường. Khi thuốc độc vào tâm lại không biết thông biến, tợ thị tợ phi, tự cao tự thị, mắc kẹt âm thanh sắc tướng, cự tuyệt tất cả mọi người thì cao nhân còn chịu thua huống là bậc tiên thánh!”.

CÙNG THỦ SINH THÂN THỌ KHÍ SƠ 窮 取 生 身 受 氣 初

Muốn trường sinh bất tử, trước tiên phải cứu xét cùng tột về cội gốc sinh thân; cội gốc ấy là vật gì mà có trước khi sinh thân. Vật này trước khi cha mẹ giao hợp, tuyệt nhiên không một vật, không có tên gọi, hình trạng, miễn cưỡng gọi là đạo, gòn gọi là tiên thiên nhất khí. Được khí này mới có thể làm cơ bản cho kim đan . Lữ Tổ nói: “Huyền tẫn, huyền tẫn, chân huyền tẫn, không ở tâm chừ không ở thận, cùng thủ sinh thân thọ khí sơ, chớ trách thiên cơ tiết lộ hết”. Tổ Tử Dương nói: “Khuyên kẻ hậu học cần phải tỉnh ngộ mạnh mẽ, chớ phí công bỏ nhà đi tìm chỗ khác, diệu đạo không xa lìa tự thân mình, không phải tìm nơi trăm sông ngàn núi”.

CỰ THẮNG 巨 勝


1. Là một loại Ngoại đan . Vô Danh thị chú giải Chu dịch Tham đồng khế ghi: “Cự là to lớn. Do loại đan  này hơn hết thẩy các loại đan  khác, nên gọi là “Cự thắng””. Còn gọi là Thập thắng đan , Tử phần, Kim sa. Uống loại đan  này, có thể sống lâu tăng thọ.

2. Một loại dụng dược của Đạo gia. Tức Hắc chi ma. Còn gọi là Ô ma, Du ma, Hổ ma, Giáo ma… Thành phần chủ yếu gồm: chất mỡ, đường mía, lòng trắng trứng, phốt pho, yên toan, diệp toan, can xi, Mâu tụ đường v.v… Trong đó chất mỡ chiếm 60%. Công hiệu bổ trung ích khí, dưỡng ngũ tạng, tự bổ can tỳ, nảy nở da thịt, ích khí lực, hoạt huyết mạnh, điền tinh ích tuỷ, sống lâu tăng thọ.

CƯƠNG KIẾM 剛 劒

Âu Dã đúc kiếm, Thần nữ giữ lò, nửa tháng trên thuộc kim, nửa tháng dưới thuộc thuỷ, luyện bằng kim thì cương, luyện bằng thuỷ thì nhu, hoàn toàn dựa vào sự phối hợp kỳ diệu của cương nhu thì biết được ý nghĩa của nhân ngã. Lữ Tổ nói: “Lò hầm kiếm đúc nhờ vào cương nhu của kim thuỷ, dùng hống có thể chế phục diên”.
 

CƯƠNG NHU ĐIỆT HƯNG 剛 柔 迭 興

Long tính thuộc mộc là đạo đức, vốn là hướng đông tại Mão làm dương vị, mà nay lại tạo ra đường ngang ở hướng tây tại Dậu làm âm vị, đây là lấy tính để cầu tình. Hổ tình thuộc kim la hình phạt, vốn ở hướng tây tại Dậu làm âm vị, mà nay lại tạo ra đường ngang ở hướng đông tại Mão làm dương vị, đây là lấy tình quy tính. Lấy tính cầu tình là trong hình có đức, đem tình quy tính là trong đức có hình. Hình đức tụ hội, tính tình gặp nhau, cương nhu hoà hợp cũng như vợ chồng tương đắc vậy. Tham Đồng ghi: “Cương nhu lần lượt nổi lên càng liệt bày phân bộ, long ở hướng tây, hổ ở hướng đông, tạo ra đường ngang tại mão dậu. Hình đức cùng hội tụ, gặp nhau vui vẻ. Hình chủ về việc sát phục, đức chủ về việc sinh khởi”.

CƯƠNG NHU TƯƠNG MA 剛 柔 相 摩

Cương là biểu (bên ngoài), nhu là lý (bên trong). Sáng sớm tiến hoả dùng cương, chiều tối thoái phù dùng nhu. Nội thể chủ về tĩnh, ngoại thể chủ về động, một động một tĩnh không lỡ mất thời cơ, thiên địa âm dương cọ xát nhau sanh ra vạn vật, vạn vật hợp tinh sanh ra hình tướng, luyện đan  dùng thần khí hoà hợp mà thành đan . Hệ từ ghi: “Nhật nguyệt luân phiên mà ánh sáng sinh ra…, lạnh nóng thay nhau mà mùa màng tạo thành”.

CƯƠNG NHU TƯƠNG THÔI 剛 柔 相 推


“Cương nhu thúc đẩy nhau”. Cương nhu tức là hào dương và hào âm trong quẻ. Âm dương và cương nhu vốn là một. Xét từ góc độ khí, thì gọi là âm dương, từ góc độ chất thì gọi là cương nhu. Do hào trong quẻ là cái có thể thấy được, cho nên xét từ góc độ chất, gọi là cương nhu mà không gọi là âm dương. Lời quẻ và lời hào toàn gọi hào là cương nhu chứ không hề có âm dương chính là vì thế. Hào dương tiến đến cửu (9) thì lui thoái, lui thoái đến bát (8) thì biến thành âm; hào âm lui thoát đến lục (6) thì tiến, tiến đến thất (7) thì biến thành dương. Hào dương hào âm cứ một tiến một thoái như vậy, gọi là “cương nhu tương thôi”.

CỬU 九

Nét gạch liền (_)đại biểu cho hào dương trong Kinh dịch thì gọi là cửu (số 9). Cho nên có các hào: Sơ cửu, Thượng cửu.. Dịch gọi số lẻ là dương, và số 9 gọi là Lão dương, Hoàng đế nội kinh ghi: “Chí số trong thiên địa bắt đầu là Nhất (1), kết thúc là Cửu (9)”.

CỬU BÁT THẤT LỤC 九 八 七 六

Cửu hoàn bát quy, thất phản lục cư là số tròn của kim mộc thuỷ hoả. Bởi nói đan  ở nơi trung cung thì ngũ hành tứ tượng là chân khí của bốn phương. Hoàn quy là khí đã tan, từ bên ngoài đến nên vẫn còn nguyên xứ. Cư là ở yên mà nuôi dưỡng. Cửu hoàn bát quy, thất phản lục cơ đều nghịch hành mà thành đan . Tham Đồng ghi: “Thi hành cứng rắn mà thoái lui, chuyển hoá mềm dẻo mà thêm lên, cửu hoàn thất phản, bát quy lục cư”.
 

CỬU CHUYỂN CỬU DỊCH 九 轉 九 易

Chỉ việc rèn luyện nhiều lần, cân bằng âm dương để bổ ích cho tinh thần. Nguyên khí luận ghi: “Thường yêu khí tiếc tinh, nắm chắc ngậm miệng, nuốt khí nuốt dịch, dịch hoá thành tinh, tinh hoá thành khí, khí hoá thành thần, thần lại hoá thành dịch, dịch lại hoá thành tinh, tinh lại hoá thành khí, khí lại hoá thành thần. Cứ như vậy xoay vòng 7 lần (thất phản thất hoàn), xoay vòng 9 lần (cử chuyển cửu dịch), tinh đã tăng rồi thì hình cũng đổi”.

CỬU CHUYỂN HOÀN ĐAN 九 轉 還 丹

Một chuyển là tiểu hoàn đan , hai chuyển là âm dương hoàn đan , ba chuyển là tam nguyên hoàn đan , bốn chuyển là ngọc dịch hoàn đan , năm chuyển là kim dịch hoàn đan , sau chuyển là đại hoàn đan , bảy chuyển là thất phản hoàn đan , tám chuyển là thượng trung hạ hoàn đan , chín chuyển là cửu chuyển hoàn đan . La Phù Ngâm ghi: “Chu thiên một năm trừ mão dậu, công phu cửu chuyển đan  dụng cửu”. Ngộ Chân ghi: “Nếu muốn tu hành cửu chuyển, trước phải luyện kỷ trì tâm”. Tây Tinh Tử nói: “Cửu chuyển là cửu đỉnh”. Tổ Tam Phong nói: “Cửu chuyển đan  sa tháng năm dài, dưỡng thành huyền châu quỷ thần khâm phục”.

CỬU CHUYỂN KIM ĐAN 九 轉 金 丹

“Cửu chuyển” (chín vòng) ý nói nấu luyện kim đan  nhiều lần. Đạo giáo cho rằng thời gian nấu luyện càng dài, số lần làm đi làm lại càng nhiều thì dược lực càng lớn, uống vào càng chóng thành tiên. Cửu chuyển kim đan  là loại Kim đan  quý báu nhất Bão Phác Tử ghi: “Đan kia là vật nấu luyện càng lâu thì càng biến hoá mầu nhiệm. Vàng ròng vào lửa, trăm luyện chẳng tiêu. Uống hai vật này luyện thân thể người. Cho nên khiến con người chẳng già chẳng chết… Nhất chuyển đan , uống 3 năm thì được thành tiên. Nhị chuyển đan  uống 2 năm thì thành tiên. Tam chuyển đan  uống 1 năm thì thành tiên. Tứ chuyển đan  uống nửa năm thì thành tiên. Ngũ chuyển đan  uống 100 ngày thì thành tiên. Lục chuyển đan  uống 40 ngày thì thành tiên. Thất chuyển đan  uống 30 ngày thì thành tiên. Bát chuyển đan  uống 20 ngày thì thành tiên. Cửu chuyển đan  uống 10 ngày thì thành tiên”.

CỬU CÔNG 九 功

“Chín công”. Chỉ 9 loại công đức mà người tu trì cần phải chấp hành: Một là khuyên các đạo hữu luôn nhớ là thân vô vi, luôn nghĩ là thân trong trắng, uỷ khí vô hình. Hai là giữ hình hư bạch, như ngọc không vết. Ba là tích tinh nội thị, sổ phát chí túc. Bốn là nghĩ tới Ngũ tạng thần, thấy mình nói chuyện với vị thần nào đó. Năm là niệm triệu Thể thần, sai khiến Tứ thời Ngũ hành. Sáu là cúng Lục giáp Bát lại, phù sắc Địa thần. Bảy là sai khiến các thần Xã tắc, núi sông. Tám là tập kéo dài khí, tinh, chiêm nghiệm nói rõ đúng sai. Chín gọi là gọi quỉ hỏi về chuyện cát hung lành dữ.

CỬU CUNG 九 宫

“Chín cung”. Còn gọi là Đẩu trung cửu cung (chín cung trong đầu), chỉ não chia ra làm 9 phần (bốn phương, bốn góc và trung ương) và đều là chốn thần linh cư trú. Động Chân Thái Thượng Đạo Quân nguyên đan  thượng kinh ghi: “Trong một đầu nào cũng có 9 cung, phía trên giữa 2 lông mày lùi vào 1 tấc là cung Minh đường; lùi vào 2 tấc là cung Động phòng, lùi vào 3 tấc là cung Đan điền, lùi vào 4 tấc là cung Lưu châu; lùi vào 5 tấc là cung Ngọc đế, trên Minh đường 1 tấc là cung Thiên đình; trên Động phòng 1 tấc là cung Cực chân; trên Đan điền 1 tấc là cung Huyền đan ; trên Lưu châu 1 tấc là cung Thái hoàng”.

CỬU CUNG CHÂN NHÂN 九 宫 真 人

Chỉ tên các thần của 9 khí quan như tim, thận, v.v.. Làm chủ trong cơ thể con người. Gồm: Tâm là Dịch cung chân nhân, thận là Đan Nguyên cung chân nhân, gan là Lan Đài cung chân nhân, phổi là Thượng Thư cung chân nhân, tỳ là Hoàng Đình cung chân nhân, ruột non là Huyền Linh cung chân nhân, ruột già là Vị Linh cung chân nhân, bàng quang là Ngọc Không cung chân nhân.

CỬU DỊ 九 異

Chín lần thay đổi tiên đạo có duyên gặp chân sư, nhận được chánh pháp, như dựng cây sào lên liền thấy bóng. Một năm thay đổi khí, hai năm thay đổi máu, ba năm thay đổi mạch, bốn năm thay đổi thịt, năm năm thay đổi tuỷ, sáu năm thay đổi gân, bảy năm thay đổi xương, tám năm thay đổi tóc, chín năm thay đổi hình. Tổ Tam Phong nói: “Tìm chân hỏi đạo nào khó gì? Chỉ cần biết rõ chỗ đảo điên, chớ hướng bên ngoài tìm chi dược, cần phải tìm chân diên trong thân”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Tư 26, 2011, 04:03:18 am »

(tiếp theo)

CỬU ĐAN 九 丹

Bão Phác Tử ghi: “Cửu đan  là điều quan trọng của phép trường sinh, được một đan  là thành tiên. Cửu đan  gồm: Đan  hoa, Thần phù đan , Hoàn đan , Nhị đan , Luyện đan , Như đan , Phục đan , và Hàn đan ”. Vân cấp thất thiêm ghi: “Con người được bẩm thụ khí của Cửu thiên, giáng tinh của âm dương, gọi là Cửu đan , hợp thành thân người”. Văn tuyển ghi: “Uống hoa Cửu đan  thì thành người của cõi tiên”.

CỬU ĐỈNH 九 鼎

1. Chỉ tâm. Tâm là cửu đỉnh. Vì nó trên thì thông với thất khiếu, dưới thì thông với nhị âm. 2. Chỉ tháng hoặc năm. Một tháng là cửu đỉnh vì trong một tháng có “cửu hoàn”; một năm có “cửu chuyển”; ba năm là “cửu đỉnh”. Vì một năm thành được ba họ, ba năm thành chín họ; chín năm là “cửu đỉnh”, vì một năm luyện được một đan , chín năm luyện được chín đan , tức “như nói một năm sinh con, con nào cũng biết cưỡi hạc”. 3. Chỉ Giáng cung. Vì Giáng cung trên thông với thất (7) khiếu tiết, dưới thông với lưỡng (2) thận.

CỬU HÀNH TAM NGHIỆP 九 行 三 业

Chỉ những điều cần phải giữ gìn của người tu trì dưỡng chân trong việc luyện công: “Cửu hành” là 9 điều thực hành, chia ra làm 3 phẩm Thượng Trung Hạ. Thượng phẩm là hành vô vi, hành nhu nhược, hành thủ thư (thực hành nguyên tắc giữ lấy con mái. “Thủ thư”: giữ lấy con mái. Điển cố trong Đạo đức kinh, chỉ cách ứng xử nhu hoà nhuần nhuyễn), chớ động trước. Trung phẩm là hành vô danh, hành chư thiện (làm các việc thiện). Hạ phẩm là hành vô dục, hành tri chỉ túc (thực hành nguyên tắc biết đủ, biết dừng. “Chỉ” là dừng), hành suy nhượng (thực hành đạo
 cung kính, khiêm nhường). “Tam nghiệp”; tức là thân nghiệp (chẳng sát sinh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm), khẩu nghiệp (chẳng nói láo, chẳng nói lời thêu dệt, chẳng nói hai lưỡi, chẳng ác khẩu), tâm nghiệp (chẳng ghen ghét, chẳng giận dữ, chẳng tà nghi).

CỬU HOÀN ĐAN 九 還 丹

“Hoàn” đây có nghĩa là “đan  sa nấu luyện thành thuỷ ngân, tích biến (nhiều lần biến đổi) lại trở lại thành đan  sa”. “Cửu hoàn” tức “Cửu chuyển” (qua chín lần nấu luyện). Đạo giáo cho rằng nấu luyện Kim đan  thành thuốc, uống vào có thể trường sinh, bởi vậy gọi là Cửu hoàn đan .

CỬU HOÀN THẤT PHẢN 九 還 七 返

Cùng với thất phản cửu hoàn khác nhau. Vì kim sinh số 4 thành số 9 là lão dương, từ thượng hoàn hạ gọi là cửu hoàn. Âm Chân Quân nói: “Từ Tý (đếm thuận đến vị thứ 9) đến đến Thân kim là cửu hoàn, cũng gọi là thuận hạ”. Vì hoả sinh số 2 thành số 7 là thiếu dương, từ hạ mà phản thượng gọi là thất phản. Âm Chân Quân nói: “Từ dần (đếm nghịch đến vị trí thứ 7) đếm đến thân kim la thất phản, cũng gọi là nghịch thượng”.

CỬU HOÀNG 九 皇


Đạo  gia đem 7 cung Bắc Đẩu gộp với Tả Phụ, Hữu Bật mà thành cửu cung tinh quân, gọi là Cửu Hoàng, gồm 1- Thiên Khu cung Tham Lang tinh quân. 2- Thiên Toàn cung Cự Môn tinh quân. 3- Thiên Cơ cung Lộc Tồn tinh quân. 4- Thiên Quyền cung Văn Khúc tinh quân. 5- Thiên hành cung Liêm Trinh tinh quân. 6- Khải Dương cung Vũ Khúc tinh quân. 7- Dao Quang cung Phá Quân tinh quân. Ngoài ra còn có: 8- Đông Minh cung Ngoại Phụ tinh quân và 9- Ấn Quang cung Nội Bật tinh quân. Tổng cộng là 9 cung, gọi là Bắc đẩu cửu cung.

CỬU HOẠNH 九 穫


Chỉ 9 loại hoạnh hoạ (đột tử). Đạo giáo coi chết vì 9 loại tai hoạ dưới đây là “cửu hoạnh thương vong”: 1- Mắc bệnh không có thuốc chữa. 2- Bị hành hình. 3- Quỷ đoạt tinh khí. 4- Sét đánh lửa thiêu. 5- Chết trôi ở sông biển. 6- Hổ xé rắn cắn. 7- Đổ tường lở đất. 8- Độc hại của thuốc. 9- Đói rét mà chết.

CỬU KHÍ 九 气

“Chín khí”. Thái thanh ngọc ghi: “Cửu khí tiên thiên gồm Thuỷ khí sinh Hỗn hỗn khí màu xanh nước biển. Hỗn khí sinh Đông động khí màu đỏ. Động khí sinh Hạo hạo khí màu xanh da trời. Nguyên khí sinh Mân mân khí màu xanh lá cây. Mân khí sinh Cảnh cảnh khí màu vàng. Cảnh khí sinh Độn độn khí màu trắng. Huyền khí sinh Dung dung khí màu tím. Dung khí sinh Viêm viêm khí màu biếc. Viêm sinh Diễn diễn khí màu đen”. Cửu khí (chín khí) này là do ba khí Huyền, Nguyên, Thuỷ sinh ra.
 

CỬU KHÚC LOAN 九 曲 灣

Vĩ lư có tam loan tam khiếu, ngọc chẩm có tam loan tam khiếu, giáp tích có tam loan tam khiếu, tam tam có cửu khúc cửu loan. Là con đường luyện đan  tất yếu. Nếu đi lạc vào đường rẽ thì không thể thành đạo. Tổ Nê Hoàn nói: “Kín đáo nhất khó qua cửu khúc loan”.

CỬU LỤC ĐIÊN ĐẢO 九六 顚 倒


Nhất bát là thể của càn khôn, cửu lục là dụng của càn khôn, bởi càn dùng cửu, khôn dùng lục, tức là đã điên đảo mà chưa điên đảo. Như sáng tối là truân mông, tý ngọ là trừu thiêm, văn vũ là tiến thoái, dương hoả âm phù là thăng giáng, mỗi từ đều có số. Đan Kinh ghi: “Thuỷ kim bát lưỡng cương nhu phổi, cửu lục số độ chu thiên hoàn”.

CỬU NAN 九 難

Trong thế gian kẻ có chí học tiên không phải là hiếm nhưng mỗi người có cơ duyên bất đồng, nên hoàn cảnh khác nhau. Chỗ gọi là khó như sau:
1- Ăn mặc bức bách,
2- Bị ân ái trói buộc,
 3- Bị danh lợi lôi kéo,
4- Gặp tai hoạ bất ngờ,
5- Bị thầy mù câu thúc,
6- Nghị luận bất minh làm mê hoặc,
7- Gặp phải thời ly loạn,
8- Không bền lòng tu tập,
9- Mặc cho năm tháng trôi qua vô ích.

Lữ Tổ nói: “Thương xót phàm phu chẳng ngộ không, say mê tửu sắc luỵ anh hùng”.

CỬU NGŨ 九 五


Chu dịch thuật 64 quẻ, dùng “cửu” biểu thị hào dương, “lục” biểu thị hào âm. Dùng Sơ, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Thượng đểu biểu thị vị số của mỗi hào trong quẻ. Hào từ hào thứ 5 của quẻ Càn nói: “Cửu ngũ, rồng bay tại trời, lợi thấy đại nhân”, Khổng Dĩnh Đạt ghi: “Ý nói Cửu ngũ dương khí thịnh tới tận trời, cho nên nói rằng: rồng bay tại trời, đây là hình tượng tự nhiên, giống như thánh nhân có long đức, bay vút lên mà ở ngôi trời”.

CỬU NGŨ PHI LONG 九 五 飛 龍

Phi long là cương kiến lập trung chánh, là tinh hoa thuần tuý, cương mà không nóng vội, nhu mà không hèn yếu, biết cách quyền biến, “chỉ có tính duy nhất lấp đầy chỗ khuyết”, giống như trăng tròn vào ngày 16, kim thuỷ ngừng lại, trăng mọc thì ánh sáng không rực rỡ, trăng lặn thì ánh sáng không tối hẳn. Đến địa vị này, đạo tâm thường tồn, nhân tâm an tĩnh, hồn nhiên thiên lý dừng ở chí thiện, lại thấy được bộ mặt xưa nay không khác, giống như mặt trăng ngày 23 hạ huyền, tại bát quái là cung cấn.

Tham Đồng ghi: “Cấn chủ về tiến chỉ nên giữ cho chừng mực, cửu ngũ phi long nên ngôi trời càng vui”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Tư 26, 2011, 04:07:08 am »

(tiếp Vần  C)

CỬU NHẤT TIỀM LONG 九 一 潛 龍

Nhất là ban đầu, dương khí bắt đầu hiện ra giống như nụ hoa chưa nở hoàn toàn. Hoa này chưa nở nên không thể hái dùng, không thể làm thuốc. Xao Hào Ca ghi: “Tăng thêm hoả hậu phải phòng nguy, sơ cửu tiềm long không thể luyện”.
 

CỬU NHỊ KIẾN LONG 九 二 見 龍

Dương cung tiến vào trung chánh thì âm khí thuận theo không giấu giếm, không bị ngoại vật làm tổn thương, giống như mặt trăng ngày mùng 8 thượng huyền, tại bát quái là đoài. Tham Đồng ghi: “Cửu nhị kiến long, yên ổn sáng suốt, dương dùng tam lập, âm dùng bát thông, ngày mùng ba quẻ chấn động, ngày mùng tám quẻ đoài hành”.

CỬU NIÊN DIỆN BÍCH 九 年 面 壁


Mới luyện chưa thuần, dương thần xuất ra khó tránh khỏi cặn bã xen lẫn, cần phải lập lại lô đỉnh để luyện một đoạn công phu hoàn hư mới có thể liễu đáng. Cửu niên, không phải thật sự phải đủ 9 năm, vì cửu (9) là tột cùng của thuần dương số, luyện đến tột cùng của dương số, luyện đến tột cùng của thuần dương là dừng. Diện bích, chẳng phải bắt buộc xoay mặt vô vách mà là dụng chí không phân biệt, ngưng thần như vách đá thẳng đứng, một khi không còn sở kiến thì muôn pháp quy về không. Chung Tổ nói: “Cửu niên công việc đã xong, tung hoành thiên địa chẳng nhờ thân thuộc”.

CỬU TAM LANG QUÂN 九 三 郎 君


Đàn ông 27 tuổi. Cung ly vốn ở hướng đông thuộc mộc, tiên thiên bát quái số 3, do động mà sinh hoả, hoả ở hướng nam hậu thiên bát quái số 9, nên gọi là cửu tam, vì những số này đều thuộc dương và ngoại hình cũng dương, giả danh là lang quân, là ngoại dương mà nội âm, là âm trong dương. Năm đàn ông 27 tuổi thể chất đã tiêu hao, bên trong dương hư tổn giống như hình tượng cung ly cho nên Đan Kinh lấy cung ly làm ngã. Muốn trở lại thành thuần dương cần phải lấy lại một hào dưong trong cung khảm, bồi bổ một hào âm trong cung ly, mói là càn thể không hư tổn. Hội Tâm Tập ghi: “Đàn  ông hăm bảy đến tá túc, giai nhân mười sáu ngủ trên giường, Huỳnh bà nói hai người thật xứng đôi, vợ chồng ân ái như uyên ương, loan phụng đảo điên thần khí hợp, như say như si thật náo loạn, bỗng nhiên một giọt vào nguyên khiếu, cố giúp ngăn che đừng đắn đo, từ đây thánh thai đã tượng hình. Thái ất chân tinh tại nội tạng”.

CỬU TAM TỊCH DỊCH 九 三 夕 惕


Hai mươi bảy tuổi phòng nguy hiểm, Tịch dịch là phòng nguy lo hiểm, do phòng bị nên chẳng lo. Do trăng tròn đầy, tam dương thuần toàn, ánh sáng rực rỡ, ngày 15 hợp nhất, kim đan  tượng hình, dương tột cùng phía trên ắt phải thất khuyết phía dưới, thịnh suy thay nhau, cuối cùng rồi trở lại ban đầu, tại tháng là ngày 15, tại bát quái là càn. Tham Đồng ghi: “Cửu tam tịch dịch, khuyết mất thần phù”, “mười lăm đức tựu, càn thể tạo thành”.

CỬU THỊ 九 視

“Nhìn mãi”. Nhìn mãi thượng điền là thần trường sinh, nhìn mãi trung điền là khí trường sinh, nhìn mãi hạ điền là hình trường sinh. Nhật nguyệt chiếu soi trời đất, con trai hấp thu ánh sáng mà sinh ngọc trai, khối đá lưu giữ ánh sáng mà sinh ra ngọc; thân người cũng có nhật nguyệt, lặng lẽ thường chiếu nên có thể kết đan . Tiên Kinh ghi: “Muốn được trường sinh, trước phải cửu thị”.
 

CỬU THẦN ĐAN 九 神 丹

“Chín loại thần đan ”. Có xuất xứ từ Bão Phác Tử. Đệ nhất thần đan  gọi là Đan hoa, dùng đan  sa, đan  sa thăng hoa. Đệ nhị thần đan  gọi là Thần phù, cũng dùng như trên. Đệ tam thần đan  gọi là Thần đan . Dùng hùng hoàng, hùng hoàng, thăng hoa. Đệ  tứ thần đan  gọi là Hoàn đan . Dùng thuỷ ngân, hùng hoàng, tằng thanh, phàm thạch, thạch đình chi (lưu huỳnh), lỗ kiềm, thất ất vũ dư lương, dữ thạch. Hoàn đan  có nghĩa là thuỷ ngân do đan  sa chế thành rồi lại trở lại thành đan  sa. Đệ ngũ thần đan  gọi là Nhĩ đan . Dùng hùng hoàng, hống (thuỷ ngân), vũ dư lương, hùng hoàng thăng hoa. Đệ lục thần đan  gọi là Luyện đan . Dùng đan  sa, hùng hoàng, thư hoàng, tằng thanh, phàm thạch, thạch đảm, từ thạch, đan  sa, thư hoàng, hùng hoàng thăng hoa. Đệ thất thần đan  gọi là Nhu đan . Dùng hống (thuỷ ngân), hống hoá thành hơi rồi lại ngưng kết, trộn với vật khác. Đệ bát thần đan  gọi là Phục đan . Dùng huyền hoàng, tằng thanh, thuỷ ngân, từ thạch. Đệ cửu thần đan  gọi là Hàn đan . Dùng hống, hùng hoàng, thư hoàng, tằng thanh, dữ thạch, từ thạch (nam châm).

CỬU THIÊN CỬU ĐỊA 九 天 九 地

Từ tim trở lên là cửu thiên, từ thận trở xuống là cửu địa, khoảng cách giữa tim với thận là 8 tấc 4 phân, từ trùng lâu đến đỉnh đầu cũng là 8 tấc 4 phân; từ thận đến đỉnh cộng lại có 2 thước 5 tấc 2 phân. Nguyên khí của con người một ngày một đêm đầy 320 lần, mỗi lần có 2 thước 5 tấc 2 phân. Tính chung có 800. Sáu thước bốn tấc để ứng với số thuần dương cửu cửu. Sự hô hấp của con người một ngày một đêm thở được 21.600  lần, thở vào là trong sạch, thở ra là ô trược. Dùng hơi thở luyện khí, tan ra khắp trong thiên hạ tứ đại, trong sạch là vinh, ô trược là vệ, kinh hoành là lạc. Chân quyết ghi: “Tim dụ cho thiên, thận dụ cho địa, trên đến đỉnh dụ cho cửu thiên. Ngọc dịch luyện hình, từ thận đến đỉnh để thông cửu thiên. Ba trăm ngày đại dược thành tựu, thai tiên đầu đủ chân khí sinh”.

CỬU TIẾT 九 節


“Chín phần”. Phần thứ nhất là thanh tịnh tĩnh dưỡng, phần thứ hai là luyện kỷ chú kiếm, phần thứ ba là bổ khí trúc cơ, phần thứ tư là thái dược hợp đan , phần thứ năm là thất phản cửu hoàn, phần thứ sáu là ôn dưỡng trừu thiêm, phần thứ bảy là điều thần xuất sắc, phần thứ tám là thoát thai thần hoá, phần thứ chín là cửu cửu quy nguyên. Huyền Nguyên Tử nói: “Cửu tiết huyền công chẳng rời thần, khí thần hợp nhất liền thành chân”.

CỬU TRỤ 九 住

“Ở lâu”. Là công phu ôn dưỡng sau khi được thai, thực hành đạo vô vi lâu dài ở trong đó không chịu ra, cho đến 10 tháng thai đầy đủ, rồi xuất thần phát sinh cảnh tượng là thực hành công phu hữu vi.  Tiêu Tổ nói: “Hay gìn giữ chân nhất thì hơi thở không qua lại, tâm quy về nhất tức mà trụ định”.

CỬU TRÙNG THIẾT CỔ 九 重 鐵 鼓

“Chín lớp trống sắt”. Dược vật vận chuyển chu thiên phải trải qua tam quan cửu khiếu giống như những khúc quanh co của Hoàng Hà, nước chảy ngược dòng, quan khiếu quanh co không dễ lọt qua như trống sắt khó xuyên. Tổ Từ Phục Dương nói: “Thiết cổ tam tam, toàn nhờ một mũi tên”.

CỬU TỨ HOẶC DƯỢC 九 四 或 躍

Nghi ngờ sự tiến thoái của nó thì đối với đạo có nguy hiểm. Hết sức cẩn thận, vì một âm lén sinh, ánh sáng mới thiếu, cung tốn kế tiếp truyền thống, dương quang ở đây lui dần, cương khí tiến đến tột cùng cần phải lấy nhu tiếp nó, cố giúp giải quyết, bảo dưỡng cương khí, tại tháng là ngày 18, tại bát quái là tốn. Tham Đồng ghi: “Tốn kế tiếp truyền thống, cố giúp giải quyết, cửu tứ hoặc dược, tiến thoái đạo nguy”.
 
------------------------------------

(xem tiếp Vần  D + Đ )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, quycoctu, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Tư 26, 2011, 08:47:36 am »

(tiếp theo)

D


DÃ CHIẾN 野 戰

Khi dược vật sinh ra phải dùng lửa nung luyện không cho nó tung hoành. Còn gọi là hàng phục nội ma, vì dùng chân ý đánh đuổi nó cho nên ví dụ là dã chiến. Tổ Nê Hoàn nói: “Lấy sự chế phục thân tâm làm dã chiến”. Ngộ Chân ghi: “Giữ thành dã chiến biết hung kiết thêm được linh sa đầy đỉnh hồng”.


DÂM CĂN 淫 根


Là ngoại thận, là tiền âm. Bởi nó động và do dương khí gây nên, còn gọi là dương vật. Tiên Tông ghi: “Bản thể của tinh là nguyên tinh, sử dụng bừa bãi gọi là dâm tinh, và dựa vào dâm căn để sử dụng, cho nên lúc tĩnh thì chứa nơi khí huyệt, lúc động thì nhờ nơi dâm căn”.

DÂM CƠ 淫 機

Là cơ bất chính phát sinh, tức là có ý niệm dâm dục khiến cho cơ lay động sinh ra khí ô trược không thể dùng được. Tổ Nê Hoàn nói: “Nếu muốn sống lâu khỏi già suy, đoạn dâm tu tập môn an lạc”.

DÂM SỰ 淫 亊

Dâm sự có 7 loại. Mắt thấy có 4 loại: dâm thư, dâm hoạ, dâm hí, dâm cụ. Tai nghe có 2 loại: dâm thanh, dâm tứ. Thân chạm xúc chỉ có một loại là dâm thể. Bảy loại dâm này rất khó diệt trừ; luyện đan  trước phải loại bỏ; không mảy may nhiễm trước bảy loại dâm sự này mới có thể nhập thất mà luyện công phu trước cơ. Tiên Tông ghi: “Dâm tinh dâm sự là phàm tinh, nhơ uế làm sao chứng sạch trong”.

DÂM TINH 淫 精

Là tinh của chất lỏng hậu thiên, đã có chất nên nặng mà chảy xuống không ngừng. Tinh này vốn là nguyên tinh, nguyên khí hoá ra, dù là dâm tinh vô dụng nhưng tinh này tiêu hao khiến cho nguyên tinh nguyên khí giảm thiểu cho đến tuổi già, như nước biển khô cạn không tin tức thuỷ triều. Nếu người dương khí suy nhược thì dương ắt suy sụp, dương vật cũng mềm nhũn không thể cương lên. Lữ tiên nói: “Dè sẻn tinh nên gấp rút, tiếp nối mệnh chớ chậm trễ”.

DẦN THÂN 寅 申

Là cửa để âm dương xuất nhập, là thời gian để thuỷ hoả tiến thoái. Như hạ chí mặt trời mọc giờ dần, lặn giờ tuất; đông chí mặt trời mọc giờ thìn, lặn giờ thân; sau hạ chí mặt trời di chuyển dần sang hướng nam, sau đông chí mặt trời di chuyển dần sang hướng bắc, đây là phương hướng của mặt trời mọc lặn trong một năm. Tham Đồng ghi: “Thư hùng của trời đất quanh quẩn tý với ngọ, tổ âm dương dần thân mọc theo tuần hoàn”.
 

DI LÔ HOÁN ĐỈNH 移 爐 換 鼎

Công phu luyện đan , sau khi thành tựu tiểu chu thiên, nếu sáu căn đại định, trăm mạch hoà bình thì nên đem thần ngưng tụ dời lên trên một bước làm địa vị trung điền; hạ điền là lô, trung điền là đỉnh. Cốc Thần Thiên ghi: “Trăm ngày tắm gội bận dời đỉnh”. Toàn Chân Tập ghi: “Xá nương đùa bỡn, anh nhi nằm nghỉ, dời lên trung điền, đều đi qua minh đường”. Tổ Nê Hoàn nói: “Lấy di thần làm hoán đỉnh”.

DI THẦN CỬU ĐỈNH 移 神 九 鼎


Cửu đỉnh chính là cung nê hoàn, công phụ luyện khí hoá thần đầy đủ thì thần phải trụ nơi thượng điền, tiếp tục thực hành công phu hoàn hư. Tam Thừa Khẩu Quyết ghi: “Mười tháng thần toàn chớ ở lâu, từ trung lên thượng xuất trùng lâu”. Tổ Trường Chân nói: “Anh nhi dời đến thượng đan  điền, hễ thân ngay thẳng thì tâm thầm hợp với tự nhiên”.

DỊCH ĐẠO 易 道

Phủ thái giao nhau thì âm dương hoặc thăng hoặc giáng, truân mông tác động thì động tĩnh ở nơi sáng sớm hoặc chiều tối. Khảm ly là thuỷ hoả nam nữ, chấn đoài là hồn phách long hổ. Giữ cái vừa mức thì xiêm vàng vốn kiết, gặp bổn nguyên thì không có địa vị mà được tôn kính. Ký vị thận trọng sự thuỷ chung của vạn vật, quẻ Phục Cấu làm sáng tỏ sự trở về của nhị khí. Mặt trời mọc lên hợp với sự ấm lạnh của vinh vệ (khí huyết), mặt trăng tròn khuyết ứng với sự thịnh suy của tình thần. Tổ Tử Dương nói: “Bá tánh dùng mỗi ngày mà không biết, thánh nhân hay tham cứu bổn nguyên, chú ý dịch đạo khéo đạt hết lý càn khôn, bèn gởi hình tượng vào văn này”.


DỊCH LÝ 易 理


Chữ dịch có nghĩa là nhật nguyệt chồng lên nhau. Nhật nguyệt chính là hình tượng của khảm ly. Nguyệt phách cung khảm đầy khuyết, mỗi tháng một chu thiên, nhật hồn cung ly nam bắc mỗi năm một chu thiên. Hai dụng khảm ly không có vị trí nhất định, chu lưu trong hư không sáu hướng nam bắc đông tây thượng hạ, qua lại trên dưới không dừng một chỗ. Chu dịch lấy càn khôn làm đầu, khảm ly làm giữa, ký tế vị tế làm cuối. Để hiển bày sự tạo hoá của trời đất đều nhờ công của nhật nguyệt vận dụng qua lại lên xuống. Nguỵ chân nhân nói: “Trời đất thiết lập địa vị mà thay đổi đường đi trong đó. Dịch gọi là khảm ly, khảm ly là hai dụng của càn khôn, hai dụng này không có hào vị, chu lưu khắp lục hư”. Lại nói “Toàn cơ tuần hoàn thăng giáng thượng hạ, chu lưu lục hào khó mà quan sát”.

DIÊN HOA 铅花

Khi thu nhật tiểu dược là lúc chân chủng sắp sinh ra. Khoảng khắc này vừa mới sản sinh, cương trổ ra mầm được gọi là diên hoa. Thu nhặt diên hoa này không được quá sớm hay quá trễ, cũng phải đừng già đừng non mới có thể làm đan . Tổ Tam Phong nói: “Ở nơi ánh chớp tìm chân chủng, khi nghe tiếng gió ngộ bổn tông”.
 

DIÊN HỐNG 铅 汞

Chì, thuỷ ngân là hai loại nguyên tố hoá học. Đạo sĩ đã dùng hai nguyên tố chủ yếu này để nấu luyện đan  dược. Sau này được các nhà Nội đan  sử dụng, lấy chỉ biểu thị “nguyên tinh”, lấy thuỷ ngân biểu thị “nguyên thần”, trở thành danh từ lý luận của việc nấu luyện Nội đan . Họ cho rằng chì là do Thái âm nguyệt hoa sinh ra, thuỷ ngân là do Thái dương nhật tinh sinh ra, đều là linh khí của mặt trời, mặt trăng, là thứ quý báu nhất của trời đất. Họ cho rằng chì là chỉ thận, thận thuộc thuỷ, trong chứa chân khí nguyên dương, là tinh tiên thiên, tức là “chân diên”, Thuỷ ngân là chỉ “tâm”, tâm thuộc hoả, trong chứa tinh chính dương, là nguyên thần tiên thiên, tức là “chân hống”. Trộn chì và thuỷ ngân vào nấu luyện, chế phục lẫn nhau, thì thành đại đan .

DIÊN HỐNG BIẾN HOÁ 铅 汞 變 化

Một biển là nhâm thuỷ, hai biến là bính hoả, ba biến là long hổ, bốn biến là chân kim, năm biến là mậu kỷ. Khuê Chỉ ghi: “Người ta thấy kim sinh ra từ mặt trăng, mà chẳng biết ánh sáng vốn phát xuất từ mặt trời, diên hống tương sinh, phong hoả giao luyện, đến khi diên tận hống cạn, đây là kim đan ”. Đan  Kinh ghi: “Hai thứ cùng xuất hiện mà khác tên gọi”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, quycoctu, huyenphong, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.283 seconds với 24 câu truy vấn.