Tháng Hai 28, 2020, 05:52:22 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG V -- 首楞嚴宗通經 5  (Đọc 12507 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 07:25:23 AM »

(tiếp theo)

阿難即從座起。聞佛示誨。頂禮欽奉。憶持無失。於大眾中。重複白佛。如佛所言。五陰相中。五種虛妄。為本想心。我等平常。未蒙如來微細開示。又此五陰。為並銷除。為次第盡。如是五重。詣何為界。唯願如來發宣大慈。為此大眾清明心目。以為末世一切眾生作將來眼。佛告阿難。精真妙明。本覺圓淨。非留死生。及諸塵垢。乃至虛空。皆因妄想之所生起。斯元本覺妙明真精。妄以發生諸器世間。如演若多迷頭認影。妄元無因。於妄想中。立因緣性。迷因緣者。稱為自然。彼虛空性。猶實幻生。因緣自然。皆是眾生妄心計度。阿難。知妄所起。說妄因緣。若妄元無。說妄因緣。元無所有。何況不知推自然者。

VIII. SANH TỬ LÀ VỌNG TƯỞNG NĂM ẤM MÀ CÓ, LÝ TUY ĐỐN NGỘ, SỰ PHẢI TIỆM TRỪ.


Kinh : Ông Anan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nghe Phật dạy bảo, đảnh lễ kính vâng, ghi nhớ không sót, ở trong đại chúng lại bạch Phật rằng : “Như lời Phật dạy, trong Tướng Ngũ Ấm có năm thứ hư vọng làm cái tâm tưởng cội gốc. Chúng tôi bình thường chưa được nhờ Đức Như Lai khai thị tỉ mỉ. Lại năm Ấm ấy là tiêu trừ một lượt hay theo thứ lớp mà hết ? Năm lớp như vậy đến đâu là giới hạn ? Xin nguyện Đức Như Lai phát rộng đại từ làm cho con mắt Tâm của đại chúng này được trong sáng để làm đạo nhãn tương lai cho tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp”.

Phật bảo Ông Anan : “Tánh Tinh Chân thì Diệu Minh, tánh Bản Giác là Viên Tịnh, chẳng có vết tích của sanh tử và các trần cấu, cho đến hư không cũng đều nhân vọng tưởng mà có ra. Tất cả cái ấy nguyên là Bản Giác diệu minh chân tinh vọng phát sanh ra các khí thế gian, như chàng Diễn Nhã Đa mê cái đầu mà nhận bóng trong gương. Vọng vốn không có nhân, mà ở trong vọng tưởng lập ra tánh Nhân Duyên. Mê lầm Nhân Duyên thì gọi đó là Tự Nhiên. Cái tánh của hư không kia còn thật là huyễn hóa sanh ra huống là Nhân Duyên hay Tự Nhiên đều là sự so tính của vọng tâm chúng sanh.

“Anan, biết là hư vọng khởi ra mà nói nhân duyên hư vọng. Như hư vọng gốc vốn không có thì cái nhân duyên hư vọng đó không chỗ có, huống gì là không biết mà suy rằng Tự Nhiên.



通曰。阿難所問。為並銷除。為次第盡。抉擇頓漸二門。作將來人天眼目。世尊先以最上一路。乘悟並銷者示之。唯在悟入精真妙明本覺圓淨。此體非留死生妄業。及諸塵垢妄緣。乃至虛空非業非緣者。如大海不宿死屍相似。即有五陰死生塵垢虛空等相。亦無處著。如是見得妙明原自精真。何有於妄。本覺故自圓淨。何有於染。而世間死生遷流屬受想行者。塵垢渾濁屬色者。依虛空而立屬八識者。皆由妄想生起。既是本覺妙明真精。何因起妄。發生諸器世間見相二分等。妄本無因。如前所云演若達多迷頭認影。人人皆知是妄。此妄從何而起。以為因緣。非因緣也。以為自然。非自然也。非因緣。非自然。無乃虛空性乎。亦非虛空性也。彼虛空性如海一漚發。以大覺觀之。猶然是幻。何況生死塵垢依虛空而立者。豈非幻中之幻乎。故說因緣性。說自然性。皆妄心計度。原非實有。既非因緣自然。則五陰之妄。本無自性。既無自性。本自不生。妄本不生。何處覓妄。故知妄起處。乃可說妄因緣。此妄如何而生。應當如何而息。斯有五陰銷滅次第可言。若妄元無。即妄即真。起處尚且不知。何從而名之曰因緣。又何從而推之曰自然。如眼無眚病。但見一月。本無第二月。何處更索第二月。而與之論因緣自然哉。此乘悟並銷。為最上圓頓法門。固不論云何銷除。而亦未嘗不併銷除。但唯悟入精真妙明本覺圓淨。更無餘事。僧問長沙岑。本來人還成佛否。沙曰。你道大唐天子還割茅刈草麼。投子頌云。苔殿重重紫氣深。星分辰位正乾坤。金輪不御閻浮境。豈並諸侯寶印尊。又僧問九峰滿禪師。人人盡道請益。未審師還拯濟也無。滿曰。汝道巨岳還乏寸土麼。曰四海參尋。當為何事。滿曰。演若迷頭心自狂。曰還有不狂者也無。滿曰有。曰如何是不狂者。滿曰。突曉途中眼不開。此於覺明為咎。已斷妄根。故演若迷狂。無自而起。非真見本來面目者。未易達此。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ hỏi của Ông Anan : “Tiêu trừ một lượt hay theo thứ lớp mà hết ?”, là chọn lựa dứt khoát hai pháp môn Đốn, Tiệm để làm con mắt Đạo cho hàng trời, người tương lai. Đức Thế Tôn trước hết dùng một đường tối thượng, nương Ngộ mà tiêu trừ hết một lượt để khai thị cho.

Độc chỉ tại ngộ, Thể nhập Tánh Tinh Chân diệu minh của Bản Giác viên tịnh. Cái Thấy này chẳng dung chứa vọng nghiệp sanh tử và các vọng duyên trần cấu nào.

 Cho đến cả hư không chẳng phải Nghiệp, chẳng phải Duyên. Thể Tánh ấy như biển lớn chẳng chứa thây ma, tức là các tướng hư không, tử sanh, trần cấu cũng không có chỗ nào mà dính bám. Thấy rõ được tánh Diệu Minh vốn tự tinh chân như thế thì còn có vọng gì ?

Tánh Bản Giác hằng nhiên tự toàn vẹn trong sạch, có dơ nhiễm nào đâu ?

Cho nên sự trôi lăn sanh tử của thế gian đều thuộc nơi Thọ, Tưởng và Hành Ấm, trần cấu vẩn đục thuộc Sắc Ấm. Nương hư không mà khởi lập thuộc nơi Thức Ấm. Tất cả đều do Vọng Tưởng sanh khởi. Đã là Bản Giác diệu minh chân tinh thì nhân đâu mà khởi vọng để phát sanh các khí thế gian, Kiến Phần, Tướng Phần v.v... ? Vọng vốn không có nhân, như ở trước đã nói “Chàng Diễn Nhã Đa mê cái đầu mà nhận bóng”. Ai ai cũng biết là Vọng, thì cái Vọng ấy từ đâu mà khởi ra ?

Cho là nhân duyên thì chẳng phải là nhân duyên, cho là tự nhiên thì chẳng phải là tự nhiên. Chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tự nhiên thì không phải là tánh hư không ư ? Cũng chẳng phải là tánh hư không vậy. Tánh hư không kia như một bọt nước phát ra trong biển.

 Trong tánh Đại Giác mà xem thì rõ ràng là Huyễn, huống gì các thứ sanh tử trần cấu nương nơi hư không mà khởi lập, há chẳng phải là Huyễn ở trong Huyễn ư ? Thế nên, nói tánh nhân duyên, nói tánh tự nhiên đều là sự so tính của Vọng Tâm, vốn nào thật có.

 Đã chẳng phải Nhân Duyên, Tự Nhiên thì cái Vọng của năm Ấm nguyên không có Tự Tánh. Đã không có Tự Tánh thì vốn chẳng sanh. Vọng vốn chẳng sanh, chốn nào tìm Vọng ? Cho nên biết chỗ khởi của Vọng mới có thể nói Nhân Duyên của Vọng. Cái Vọng này làm sao mà sanh, rồi phải làm sao mà dứt ?

Nghĩ thế mới có chuyện năm Ấm tiêu diệt theo thứ lớp. Bằng như Vọng vốn không có thì từ đâu mà gọi là Nhân Duyên, lại từ đâu mà suy tính là Tự Nhiên ? Như mắt không có bệnh nhặm, độc chỉ thấy một mặt trăng. Vốn làm gì có mặt trăng thứ hai, thì chốn nào lại tìm mặt trăng thứ hai để luận nhân duyên với tự nhiên ?

Cái chỗ nương Ngộ mà tiêu hết một lượt đây là pháp môn Viên Đốn Tối Thượng. Bởi thế mà chẳng luận làm sao tiêu trừ mà chẳng chưa từng không tiêu trừ hết một lượt ! Chỉ việc ngộ nhập Bổn Giác tinh chân diệu minh viên tịnh thì chẳng còn chuyện gì khác.


Có nhà sư hỏi Tổ Trường Sa Cảnh Sầm rằng : “Con người bổn lai thành Phật phải chăng ?”

Tổ Sa nói : “Ông nói Thiên Tử nước Đại Đường trở lại cắt cỏ, cắt tranh sao ?”

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Trùng trùng khí tía thẳm điện rêu
Sao phân ngôi vị trị Càn Khôn
Kim Luân  -(ct) Phật. ) chẳng ngự Diêm Phù cảnh
Há với chư hầu bảo ấn tôn”.

Lại có nhà sư hỏi thiền sư Cửu Phụng Mãn : “Ai ai cũng nói “Xin dạy nghĩa”, chưa rõ Thầy có cứu giúp không ?”

Tổ Mãn nói : “Ông nói núi lớn kia lại thiếu tấc đất nào ư ?”

Hỏi : “Bốn biển tìm cầu là vì chuyện gì thế ?”

Tổ Mãn nói : “Diễn Nhã mê đầu, tâm tự cuồng”.

Hỏi rằng : “Lại có người (hoặc : Cái) chẳng điên không ?”

Tổ Mãn nói : “Có”.

Hỏi rằng : “Thế nào là người chẳng điên ?”

Tổ Mãn nói : “Hốt nhiên hiểu giữa đường, mắt chẳng mở”.

Đây là trong Giác Minh mà làm ra lỗi, rồi lìa dứt Vọng Căn. Thế nên, chàng Diễn Nhã mê cuồng, đâu có từ đâu mà khởi. Chẳng phải là người thật thấy Bản Lai Diện Mục, dễ gì thấu rõ chỗ này.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 07:29:27 AM »

(tiếp theo)

是故如來與汝發明五陰本因。同是妄想。汝體先因父母想生。汝心非想。則不能來想中傳命。如我先言心想酢味。口中涎生。心想登高。足心酸起。懸崖未有。酢物未來。汝體必非虛妄通倫。口水如何因談酢出。是故當知汝現色身。名為堅固第一妄想。


Kinh : “Thế nên Như Lai phát minh cho các ông rằng bản nhân của năm Ấm đồng là Vọng Tưởng. Thân thể của ông trước hết nhân cái Tưởng của cha mẹ mà sanh.

Tâm của ông nếu chẳng phải là Tưởng thì đâu có đến trong Tưởng mà gá mạng.

Như Ta đã nói ở trước, Tâm tưởng đến vị chua thì trong miệng chảy nước bọt. Tâm tưởng việc lên cao, trong lòng bàn chân thấy ghê ghê. Dốc cao không có, vật chua chưa tới, thân thể của ông nếu chẳng cùng loài hư vọng thì cớ sao nghe nói tới chua thì nước miếng chảy ra ?

“Thế nên, phải biết Sắc Thân hiện giờ của ông chính là Vọng Tưởng kiên cố Thứ Nhất.


通曰。想胡為乎生哉。生於識也。識初動處。是謂想元。識是命根。依想而傳。識動則想生。想生則命立。命立則四大具。所謂命暖識三。和合而成人是也。故己之想與父母之想合。則福德優劣。隨其所願。而色身堅固。於是乎現。未生以前。但有想耳。未想以前。但有識耳。識神不死。是謂命根。命根欲其堅固長久。故既現色身。唯恐銷殞。此即妄想堅固之明驗也。若曰秉天地陰陽之氣。實有此身。非從妄立。則談酢必無涎生。談崖必無酸起。決不從妄流轉。今口中水出。足下酸起。未必實境。但因想生。則此身宛是妄想倫類。故與妄感相應。又何怪乎此身不從父母想生哉。唯以想從想。如水出酸起。現有色身。則此色身。明是一堅固妄想也。故謂色陰堅固妄想以為其本。若識此想非因緣生。非自然生。全體是妄。則當下寂滅。本自無色。孰與交織而為劫濁哉。故能空劫濁也。忠國師上堂。青蘿夤緣。直上寒松之頂。白雲淡濘。出沒太虛之中。萬法本閒而人自鬧。云門上堂。諸和尚子。莫妄想。天是天。地是地。山是山。水是水。僧是僧。俗是俗。良久曰。與我拈案山來。僧便問學人見山是山水是水時如何。門曰。三門為甚麼騎佛殿從這裡過。曰恁麼。則不妄想去也。門曰。還我話頭來。夫學人明知萬法本閒。色陰不有。明知妄想是妄。於我無與。為甚麼不空色陰。只未明云門話頭在。參。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Tưởng sanh ra ở đâu ? Sanh ở nơi Thức vậy. Chỗ Thức vừa bắt đầu động, đó là nguồn gốc cái Tưởng. Thức là Mệnh Căn, nương Tưởng mà truyền. Thức động ắt Tưởng sanh, Tưởng sanh thì Mạng lập, Mạng lập thì bốn Đại đầy đủ, đó là chỗ nói “Ba thứ Mệnh, Tưởng, Thức hòa hợp mà thành người” vậy.

 Bởi thế, cái Tưởng của mình hợp với Tưởng của cha mẹ thì phước đức tốt xấu tùy theo chỗ nguyện mà cái Sắc Thân kiên cố ở đó hiện ra vậy. Trước khi chưa sanh thì chỉ có Tưởng. Trước khi chưa có Tưởng thì chỉ có Thức. Cái Thức Thần chẳng chết gọi là Mệnh Căn. Mệnh Căn muốn sự kiên cố trường cửu, nên đã hiện ra Sắc Thân thì chỉ sợ tiêu mất. Đây là chứng cớ rõ ràng của Vọng Tưởng kiên cố.

Nếu cho rằng nương cái khí Âm Dương trời đất mà thật có thân này, chứ chẳng phải hư vọng mà lập ra, thì nghe nói đến me hẳn không sanh nước miếng, nghe nói đến bờ vực không cảm thấy ghê ghê, không theo vọng mà trôi lăn được.

Đàng này trong miệng thì nước miếng chảy ra, dưới chân thấy rợn rợn; chưa hẳn là cảnh thật, chỉ nhân Tưởng mà sanh ra thì quả thân này rõ ràng thuộc cùng loại Vọng Tưởng, nên cùng với Vọng Hoặc tương ứng. Thế thì còn lạ gì thân này chẳng do cái Tưởng của cha mẹ mà sanh ra ư ? Chỉ có Tưởng theo với Tưởng, như tưởng me sanh ra thì có nước miếng, tưởng vực thì ghê chân.

Cái Sắc Thân hiện có đây rõ ràng là một Vọng Tưởng kiên cố. Thế nên nói đến Sắc Ấm thì gốc là Vọng Tưởng kiên cố. Nếu biết rõ cái Tưởng này chẳng phải nhân duyên sanh, chẳng phải tự nhiên sanh, toàn là hư vọng, ngay đó là tịch diệt, vốn tự không có Sắc, thì có cái gì đan dệt mà làm ra Kiếp Trược ư ? Bởi thế mà hóa Không cái Kiếp Trược vậy.

Huệ Trung Quốc Sư thượng đường rằng : “Cây thanh la bám nương lên trên đỉnh cây tòng khô. Mây trắng lững lờ tụ tán trong Thái Hư. Muôn pháp vốn nhàn mà người tự náo !

Tổ Vân Môn thượng đường : “Này quí Thượng Tọa, chớ có vọng tưởng ! Trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục !”

Im lặng giây lát, rồi nói : “Cùng ta đem đặt vững ngọn núi lại đây !”

Có nhà sư bèn hỏi : “Kẻ học nhơn thấy núi là núi, nước là nước thì thế nào ?”

Tổ Môn nói : “Ba cửa để làm gì mà lại cỡi Phật điện từ trong ấy đi qua ?”

Hỏi rằng : “Như vậy thì đừng có vọng tưởng vậy”.

Tổ Môn nói : “Trả lại thoại đầu của ta đây !”

Phàm kẻ học nhơn rõ biết muôn pháp vốn nhàn, Sắc Ấm chẳng có, biết rõ Vọng Tưởng là hư vọng, ăn nhằm gì đến ta thì có gì mà chẳng “Không” cái Sắc Ấm. Chỉ vì chưa rõ thoại đầu của Vân Môn. Tham đi !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 07:33:31 AM »

(tiếp theo)

即此所說臨高想心。能令汝形真受酸澀。由因受生。能動色體。汝今現前順益違損。二現驅馳。名為虛明第二妄想。

Kinh : “Ngay nơi cái tâm tưởng tượng lên cao vừa nói đó mà có thể khiến thân ông thật thọ sự ghê rợn. Do các Thọ sanh ra mà có thể dao động Sắc Thân.

“Vậy hiện nay hai thứ Thuận Ích và Trái Tổn đang giong ruổi nơi ông chính là Vọng Tưởng hư minh Thứ Hai.


通曰。想在心而形乃酸澀。必有受之者。而後動其色體也。有想即有受。有受即有現。故樂受為順為益。苦受為逆為損。二現迭遷。驅馳不息。誰為之受。唯虛則受。唯明則領納。是虛明妄想。屬前五識。即是見分。見與相淆。故名見濁。若識此受非因緣生。非自然生。故屬虛妄。雖有虛明。原無自體。既無自體。本自不生。既本不生。誰為受者。誰為見者。故能破見濁也。趙州上堂。菩提涅槃。真如佛性。儘是貼體衣服。亦名煩惱。實際理地。甚麼處著。一心不生。萬法無咎。汝但究理坐看三二十年。若不會。截取老僧頭去。夢幻空華。徒勞把捉。心若不異。萬法一如。既不從外得。更拘執作麼。如羊相似。亂拾物安向口裡。老僧見藥山和尚道。有人問著。但教合取狗口。老僧亦教合取狗口。取我是垢。不取我是淨。一似獵狗專欲得物吃。佛法在甚麼處。千人萬人。儘是覓佛漢子。於中覓一個道人無。若與空王為弟子。莫教心病最難醫。又僧問洞山。時時勤拂拭。為甚麼不得缽袋子。山曰。直饒道本來無一物。亦不得他缽袋子。曰未審甚麼人合得。山曰。不入門者。曰祗如不入門者。還得否。山曰。雖然如是。不得。不與他。復曰。直饒道本來無一物。猶不合得他缽袋子。且道什麼人合得。這裡合得下一轉語。且道下得什麼語。一上座下九十六轉語。不契。末後云。設使將來。他亦不受。山深肯之。雪竇云。他既不受。是眼。將來必應是瞎。天童拈云。長蘆則不然。直須將來。若不將來。爭知不受。直須不受。若不不受。爭免將來。將來的必應是眼。不受的真個是瞎。還會麼。照盡體無依。通身合大道。此從長爪比丘兩處負墮化將來。直須不受亦不受。方能超越見濁。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Tưởng ở tâm mà Thân thấy ghê rợn, thì ắt là có Thọ rồi sau mới làm giao động Sắc Thân.
 Có Tưởng tức có Thọ, có Tho tức có Hiện Hành.

Bởi thế, Thọ vui là Thuận, là Ích. Thọ khổ là Trái, là Tổn.
Bởi thế, hai thứ hiện hành đắp đổi, giong ruổi chẳng ngừng.

Cái gì là Thọ ? Hễ Hư thì Tho, hễ Minh thì Lãnh Nạp.
 Cái Hư Minh Vọng Tưởng này thuộc năm Thức trước, tức là Kiến Phần.
Kiến Phần và Tướng Phần lẫn lộn nên gọi là Kiến Trược.

Nếu biết cái Thọ này chẳng phải nhân duyên sanh, chẳng phải tự nhiên sanh nên là hư vọng; tuy hư minh nhưng vốn không có Tự Thể. Đã không có Tự Thể thì vốn tự chẳng sanh. Đã vốn chẳng sanh thì cái gì là Thọ, cái gì là Kiến Phần ? Thế nên, có thể phá tan Kiến Trược vậy.


Tổ Triệu Châu thượng đường rằng : “Bồ Đề Niết Bàn, Chân Như Phật Tánh đều là y phục dính nơi thân, cũng gọi là phiền não. Chỗ Thật Tế Lý Địa có gì mà bám níu ? Một tâm chẳng sanh, vạn pháp không lỗi. Ông chỉ tham cứu cho suốt, ngồi xét xem hai, ba mươi năm, nếu chẳng hội cứ chặt đầu lão tăng đi. Mộng huyễn, Không hoa uổng công nắm bắt ! Tâm mà chẳng khác, vạn pháp nhất như. Đã không từ ngoài mà được thì còn nắm giữ làm gì ? Tương tự như con dê, tóm lung tung thứ bỏ vào miệng. Lão tăng nghe Hòa Thượng Dược Sơn nói : “Có người hỏi đó, chỉ bảo : “Ngậm mõm chó lại !” Lão tăng cũng dạy : “Ngậm mõm chó lại !” Giữ lấy cái Ta là dơ, chẳng giữ cái Ta là sạch. Thật như con chó săn chuyên muốn có được vật gì để ăn. Phật Pháp ở tại chốn nào ? Ngàn người, vạn người đều là những tên tìm Phật, trong đó tìm một đạo nhân cũng không có. Nếu cùng Không Vương làm đệ tử, chớ bảo tâm bệnh nan y !

Lại có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Mỗi mỗi siêng chùi lau  -(ct) Bài kệ của Thần Tú. )”, vì sao chẳng được y bát ?”

Tổ Sơn nói : “Dù cho nói “Xưa nay không một vật” cũng chẳng được y bát kia !”

Hỏi rằng : “Chưa rõ người nào thì được ?”

Tổ Sơn nói : “Kẻ chẳng nhập môn”.

Hỏi rằng : “Chỉ như kẻ chẳng nhập môn lại có đắc không ?”

Tổ Sơn nói : “Tuy vậy, chẳng được thì chẳng trao kia”.

Lại nói tiếp : “Dù cho nói “Bổn lại vô nhất vật” vẫn còn chẳng được y bát. Hãy nói người như sao thì hợp được ? Trong ấy hợp được, hạ một chuyển ngữ, hãy nói hạ được lời gì ?”

Một vị Thượng Tọa hạ chín mươi sáu chuyển ngữ mà chẳng khế hợp, sau cùng nói : “Giả sử có đem lại đi nữa, kia cũng chẳng lãnh thọ”.

Tổ Sơn rất chịu.

Ngài Tuyết Đậu nói : “Kia đã không nhận là có mắt, đem đến thì ắt hẳn là mù”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Trường Lư  -(ct) Tự xưng. ) thì không thế ! Cần nên đem lại, nếu chẳng đem lại, làm sao biết chẳng thọ ? Cần nên chẳng thọ, nếu chẳng có chẳng thọ làm sao khỏi đem lại ? Đem lại hẳn nhiên là mắt, chẳng thọ đích thật là mù. Có hiểu chăng ?

“Chiếu khắp, thể không nương
Thông thân hợp Đại Đạo”.
Đây là từ hai chỗ thua rớt của Tỳ Kheo Trường Trảo  -(ct)  Cậu của Ông Xá Lợi Phất tên là Kausthila. Ông nói với Phật : “Này Thầy Cù Đàm, ta đây chẳng lãnh thọ các pháp” ...) mà giáo hóa hàng vị lai.

Cần phải ngay cái “Chẳng thọ” cũng chẳng thọ nhận, mới có thể siêu khỏi Kiến Trược.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 07:36:48 AM »

(tiếp theo)

由汝念慮。使汝色身。身非念倫。汝身何因隨念所使。種種取像。心生形取。與念相應。寤即想心。寐為諸夢。則汝想念搖動妄情。名為融通第三妄想。


Kinh : “Do những niệm lự sai khiến Sắc Thân của ông, nếu Sắc Thân chẳng phải cùng loại với Niệm thì cớ sao thân ông lại theo Niệm mà bị sai sử, mỗi mỗi nhận lấy hình tượng, tâm khởi nắm giữ hình tượng tương ứng với Niệm ? Thức là tưởng Tâm, ngủ làm chiêm bao.

“Vậy Vọng Tình, Tưởng Niệm dao động của ông chính là Vọng Tưởng dung thông Thứ Ba.


通曰。念慮無形。色身有質。念動身隨。何因為其所使。由想融之也。心生虛想。形取實物。種種心酬。與念相應。由想通之也。使心隨境。使境隨心。搖動妄情。無間寤寐。此屬妄想本際。力能融通無礙。蓋第六識作用也。是為煩惱窠臼。若識此想。非因緣生。非自然生。當體虛妄。即當體空寂。想本無生。又何煩惱之為祟哉。昔仰山於僧堂三昧次。夜半。不見山河大地。寺宇人物。以至己身。全同空界。明晨舉似溈山。溈曰。我在百丈時得此境。乃是融通妄想銷明之功。汝向後說法。有人過者。無有是處。天童舉圓覺經云。居一切時。不起妄念不。於諸妄心。亦不息滅不。住妄想境。不加了知不。於無了知。不辨真實不。頌云。巍巍堂堂。磊磊落落。鬧處刺頭。穩處下腳。腳下線斷我自由。鼻端泥盡君休斫。莫動著。千年故紙中合藥。琅玡覺嘗問講僧曰。如何居一切時不起妄念。對曰。起即是病。又問如何是於諸妄心亦不息滅。對曰。息即是病。又問如何是住妄想境不加了知。對曰。知即是病。又問如何是於無了知不辨真實。對曰。辨即是病。覺公笑曰。汝識藥矣。然未識藥中之忌也。寶覺為之偈曰。黃華熳熳。翠竹珊珊。江南地暖。塞北春寒。遊人去後無消息。留得云山到老看。此諸尊宿。可謂腳下線斷。縱橫自由。足為破想陰者規則。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Niệm lự thì vô hình, thân thể có hình chất. Niệm động thì thân theo, do đâu lại bị sai sử ? Do cái Tưởng dung thông vậy. Tâm sanh cái Tưởng hư vọng mà thân giữ nhận vật thật, mỗi mỗi thù đáp, tương ứng với Niệm. Do cái Tưởng dung thông nên khiến tâm theo cảnh, khiến cảnh tùng tâm. Cái Vọng Tình giao động, thức ngủ không gián đoạn, đó thuôc về gốc rễ Vọng Tưởng, sức có thể dung thông không ngăn ngại. Ấy là tác dụng của Thức Thứ Sáu, là sào huyệt của phiền não.

Nếu rõ cái Tưởng này chẳng phải nhân duyên sanh, chẳng phải tự nhiên sanh, đương thể hư vọng, tức đương thể không tịch. Tưởng vốn không sanh thì phiền não nào có ra gì nữa ?

Xưa, Ngài Ngưỡng Sơn đang chánh định trong tăng đường, nửa đêm không thấy núi sông, đất đai, chùa chiền, người vật cho đến mất luôn thân, toàn vẹn đồng như hư không.

Sáng hôm sau Ngài kể lại với Tổ Quy Sơn.

Tổ Quy Sơn nói : “Tôi hồi ở với Tổ Bách Trượng cũng được như vậy, đó là công dụng tiêu minh cái Vọng Tưởng dung thông. Ông về sau thuyết pháp, có người vượt hơn thì không đâu có chuyện đó”.

Ngài Thiên Đồng nêu kinh Viên Giác : “Ở tất cả mọi thời, chẳng khởi vọng niệm chăng ? Ở nơi vọng tâm cũng chẳng dứt diệt chăng ? Trụ cảnh viên thông chẳng thêm sự hiểu biết chăng ? Ở chỗ không hiểu biết chẳng phải biện chân thực chăng ?” (Ở đây Tổ thêm các chữ “chăng” để thành câu hỏi).

Tụng rằng :

“Đường đường nguy nga, lỗi lỗi lạc lạc
Chỗ náo cắm đầu, chỗ ổn hạ chân
Dưới chân dây đứt, tự do thay !
Đầu mũi hết bùn, ông khỏi cạo !
Đừng động đậy,
Giấy cũ ngàn năm đúng là thuốc !”.


Tổ Lang Nha Giác có lần hỏi một vị tăng giảng kinh : “Thế nào là ở tất cả mọi thời chẳng khởi vọng niệm ?”

Đáp rằng : “Khởi tức là bệnh”.

Lại hỏi : “Thế nào là ở nơi vọng tâm cũng chẳng dứt diệt ?”

Đáp rằng : “Dứt tức là bệnh”.

Lại hỏi : “Thế nào là trụ cảnh vọng tưởng chẳng thêm sự hiểu biết ?”

Đáp rằng : “Biết tức là bệnh”.

Lại hỏi : “Thế nào là ở chỗ không hiểu biết chẳng phân biện chân thực ?”

Đáp rằng : “Phân biện tức là bệnh”.

Tổ Giác cười mà rằng : “Ông biết thuốc đấy, nhưng chưa biết cái kỵ trong thuốc vậy”.

Ngài Bửu Giác làm bài kệ :

“Hoa vàng ắp ắp, trúc xanh ràng ràng
Giang Nam đất ấm, ải Bắc xuân hàn
Khách du đi rồi không tin tức
Còn lại Vân Sơn ngắm đến già !”.

Các vị tôn túc ở đây có thể nói là “Dưới chân dây đứt”, tung hoành tự do, đủ để làm quy tắc phá Tưởng Ấm.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 09:17:23 PM »

(tiếp theo)

化理不住。運運密移。甲長發生。氣銷容皺。日夜相代。曾無覺悟。阿難。此若非汝。云何體遷。如必是真。汝何無覺。則汝諸行唸唸不停。名為幽隱第四妄想。

Kinh : “Sự chuyển hóa không dừng, xoay vần âm thầm dời đổi, móng tay dài, tóc mọc lên, khí lực tiêu, dung mạo nhăn, ngày đêm thay thế, không hề hay biết. Anan, nếu cái đó không phải là ông thì cớ sao thân ông lại thay đổi ? Còn nếu nó thật là ông, thì cớ sao ông không hay biết ?

“Vậy các Hành Ấm của ông niệm niệm chẳng dừng chính là Vọng Tưởng u ẩn Thứ Tư.


通曰。堅固妄想。不離色塵。虛明妄想。猶與色對。融通妄想。即屬內塵。有像可取。有境可得。至幽隱妄想。無像可窺。無境可執。新新不住。運運密移。趣乎生則爪生發長。趣乎滅則氣銷容皺。日夜相代乎前而我不覺。以為非我乎而我體日遷。以為即我乎而我又無覺。蓋至幽至隱之妄想。唸唸遷流。莫可方物。不知者第歸之於化理而已。行陰屬第七識。已離諸想。故不可覺。而生滅流注。最為微細。總不出於三界輪轉。故命之曰眾生濁。若於唸唸不停。有個停處。即不受眾生輪轉。僧問龍牙遁禪師。二鼠侵藤時如何。牙云。須有隱身處始得。僧云。如何是隱身處。牙云。還見儂家麼。丹霞頌云。寒月依依上遠峰。平湖萬頃練光封。漁歌驚起汀洲鷺。飛出蘆華不見蹤。故知此隱身處。神鬼也覷不著。而行陰不能惑已。蓋微細生滅。即系明暗二境。日夜相代。而形體遷變如二鼠侵藤。日就銷滅。此屬幽隱妄想。而藏身處無蹤跡者。足以破之。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Vọng Tưởng kiên cố thì chẳng rời Sắc Trần. Vọng Tưởng hư minh còn đối đãi với Sắc Trần. Vọng Tưởng dung thông thì thuộc về Nội Trần, có hình tượng để nắm giữ, có cảnh để đắc. Đến cái Vọng Tưởng u ẩn thì không còn hình tượng để nhìn thấy, không có cảnh để bám giữ, thay đổi chẳng dừng, xoay vần âm thầm dời đổi.

Về phương diện sanh thì móng tay mọc, tóc dài ra; về phương diện diệt thì khí lực suy, dung mạo nhăn, ngày đêm thay nhau biến dịch trước mắt mà ta chẳng hay biết. Nếu cho rằng chẳng phải là mình thì thân thể ngày mỗi thay đổi, nếu cho rằng tức là mình thì mình lại chẳng hay biết !

 Bởi cái Vọng Tưởng rất u ẩn, niệm niệm trôi lăn không thể xác định, kẻ không biết thì chỉ quy cho sự chuyển hóa mà thôi.

Hành Ấm thuộc Thức Thứ Bảy, đã lìa các Tưởng nên không thể biết, mà sự sanh diệt trôi chuyển rất là vi tế cũng đều chẳng ra khỏi sự luân chuyển của ba cõi, nên gọi là Chúng Sanh Trược. Nếu nơi chỗ “niệm niệm chẳng dừng” mà có chỗ dừng thì chẳng chịu sự luân chuyển của chúng sanh.

Có nhà sư hỏi thiền sư Long Nha Độn : “Khi hai con chuột cắn dây leo thì sao ?”

Tổ Nha nói : “Cần có chỗ ẩn thân mới được”.

Nhà sư hỏi : “Thế nào là chỗ ẩn thân ?”

Tổ Nha nói : “Lại thấy nhà ta không nhỉ ?”


Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Đỉnh xa trăng lạnh trổi mơ màng
Bình Hồ muôn mẫu sáng miên man
Ngư ca đánh thức cò sông bãi
Bay khỏi Lư Hoa, dấu chẳng còn”.

Bởi thế mà biết chỗ ẩn thân kia quỷ thần nhìn ngó cũng chẳng ra, nên Hành Ấm đâu còn có thể mê hoặc. Bởi vì sự sanh diệt vi tế, tức là hai cảnh sáng tối, ngày đêm thay nhau mà hình thể đổi dời, như hai con chuột cắn dây, ngày càng tiêu diệt.

Chỗ này thuộc về Vọng Tưởng u ẩn, nhưng cái chỗ ẩn thân không tung tích thì đủ để phá đi vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 09:22:25 PM »

(tiếp theo)

又汝精明湛不搖處名恆常者。於身不出見聞覺知。若實精真。不容習妄。何因汝等曾於昔年睹一奇物。經歷年歲。憶忘俱無。於後忽然覆睹前異。記憶宛然。曾無遺失。則此精了湛不搖中。唸唸受熏。有何籌算。阿難。當知此湛非真。如急流水。望如恬靜。流急不見。非是無流。若非想元。寧受妄習。非汝六根互用開合。此之妄想。無時得滅。故汝現在見聞覺知。中串習幾。則湛了內罔象虛無。第五顛倒微細精想。阿難。是五受陰。五妄想成。

Kinh : “Lại chỗ tinh minh đứng lặng không dao động của ông mà gọi là thường hằng thì nơi thân ông chẳng ra ngoài những sự Thấy, Nghe, Hay, Biết. Nếu nó thật là tính tinh chân thì chẳng chứa nhóm hư vọng, vì sao các ông trong năm xưa đã từng thấy một vật lạ, trải qua nhiều năm không hề nghĩ đến, về sau bỗng nhiên thấy vật lạ đó thì nhớ lại rõ ràng, không hề sót mất. Vậy trong cái tinh minh đứng lặng không lay động này, niệm niệm chịu sự huân tập không thể tính toán hết được.

“Anan, nên biết cái trong lặng này chẳng phải chân thật, như dòng nước chảy xiết, trông như đứng yên, vì chảy nhanh nên không thấy chứ chẳng phải không chảy. Nếu chẳng phải là nguồn Tưởng thì đâu chịu tập khí hư vọng. Nếu sáu Căn của ông chưa được chia hợp, dùng thay lẫn nhau thì cái Vọng Tưởng đó không khi nào diệt được. Vậy nên hiện nay cái tập khí tập hợp quán xuyến những sự Thấy, Nghe, Hay, Biết của ông là cái Tưởng tinh vi tế nhiệm, điên đảo, ảo tượng rỗng không Thứ Năm trong tánh trong lặng thấu suốt của ông.

“Anan, năm cái Thọ Ấm đó do năm Vọng Tưởng tạo thành.


通曰。行陰生滅。唸唸不停。但幽隱不可見耳。至湛不搖處。已滅生滅。何以名妄想耶。為有識體精明在也。即此精明體段。善惡不萌。意識俱泯。湛然常凝。似有類於本覺精真者。而實非本覺精真也。本覺精真。不落見聞覺知。故不受熏。今湛不搖處。識無所存。落在無記。無記之性。通於現量。不出前五識見聞覺知境界。此見聞覺知。雖無擬議卜度。卻能領納受熏。故所見奇物。憶忘俱無。偶一覆睹。記憶宛然。真如夾冰之魚。觸境即發。而生滅未嘗泯也。當知此湛非真。唸唸受熏中。串習幾習氣。幾微常習未已。如串珠相似。有此精明。即有此見聞覺知。有此見聞覺知。不離根塵。即能攪境受熏。容習妄業。故知非真湛也。必須返流全一。銷磨六門。迥脫根塵。六根互用。但一精真。寄根明發。開合自由。妄習無寄。故口如鼻孔。眼似眉毛。以耳觀色。色不能搖。以目聽聲。聲不能引。如是乃為妙湛總持。妄想無自而入也。蓋前五識未入思惟。與八識貼體而近。故六七因上轉。五八果上圓。非有後得智。不能轉前五識也。至轉識成智。得其真湛。然後信八識種子微細生滅。流急不見。非是無流。雖似恬靜。不名真湛。彼湛了內。罔象虛無。微細精想。似有若無。未嘗無想。故亦謂之妄想也。蓋第八識依不生不滅與生滅和合。而成識。若背塵合覺。依不生滅。即名正知。若背覺合塵。依於生滅。即名顛倒。想元乃識初動處。五種妄想。皆由此起。由一念迷妄。受此取此。以自蔽覆。故名五受陰。亦名五取蘊。悉妄想為之本也。永嘉曰。明識一念之中。五陰者。謂歷歷分明。即是識陰。領納在心。即是受陰。心緣此理。即是想陰。行用此理。即是行陰。穢污真性。即是色陰。此五陰者。舉體即是一念。一念者。舉體全是五陰。歷歷見在一念之中。無有主宰。即是人空慧。見如幻化。即是法空慧。必如永嘉所言。人法俱空。識陰乃盡。而後能超越命濁也。趙州問投子。大死底人卻活時如何。子曰。不許夜行。投明須到。雪竇頌云。活中有眼還同死。藥忌何須鑑作家。古佛尚言曾未到。不知誰解撒塵沙。天童頌云。芥城劫石妙窮初。活眼空中照廓虛。不許夜行投曉到。家音未肯付鴻魚。此妙絕想元。不容習妄。實際理地。不動步而到。分明畫轉識成智底格則也。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Sự sanh diệt của Hành Ấm, niệm niệm chẳng dừng, chỉ là u ẩn không thể thấy. Còn đến chỗ lặng trong chẳng dao động là đã diệt sự sanh diệt, vì sao còn gọi là Vọng Tưởng ? Vì còn cái Thức Thể tinh minh vậy. Cái Thức Thể tinh minh này, thiện ác chẳng manh động, Ý Thức đều mất, trong lặng thường ngưng, tương tự cùng loại với Bản Giác tinh chân nhưng thật chẳng phải là Bản Giác tinh chân.

Cái Bản Giác tinh chân chẳng rơi vào Thấy, Nghe, Hay, Biết nên không chịu sự huân tập. Nay cái chỗ lặng trong chẳng giao động, cái biết không còn, lạc vào chỗ vô ký. Tánh của vô ký thông với Hiện Lượng, chẳng ra ngoài cảnh giới Thấy, Nghe, Hay, Biết của năm Thức trước.

Cái Thấy, Nghe, Hay, Biết này tuy không suy nghĩ so tính, nhưng có thể lãnh nạp, chịu sự huân tập. Bởi thế hễ thấy vật lạ, dầu không nghĩ đến, nhưng một lần thấy lại là nhớ rõ ràng. Thật giống như con cá bị băng giá ép, gặp cảnh bèn nhảy ra, thì sự Sanh Diệt chưa từng mất hết vậy. Thế nên biết rằng cái trong lặng này chẳng phải chân thật, niệm niệm chịu sự huân tập, quán xuyến tập hợp các tập khí, tinh vi tế nhiệm thường huân tập chẳng ngừng, giống như xâu chuỗi kết nhau vậy.

Có cái Tinh Minh này tức là có cái Thấy, Nghe, Hay, Biết này. Có cái Thấy, Nghe, Hay biết này tức là chẳng lìa căn trần thì hay quấy loạn cảnh mà chịu huân tập, dung chứa kết tập vọng nghiệp, nên chẳng phải là tánh trong lặng chân thật. hẳn phải ngược dòng toàn nhất, tiêu tan sáu cửa, thoát suốt căn trần, sáu căn dùng lẫn nhau.

Chỉ một cái Tinh Chân, nương căn phát sáng, đóng mở tự do, tập khí hư vọng không có chỗ nương tựa. Bởi thế, miệng như lỗ mũi, mắt tựa lông mày ! Lấy tai xem sắc, sắc chẳng động lay. Lấy mắt nghe thanh, thanh không níu kéo. Như thế mới là Diệu Trạm Tổng Trì, vọng tưởng không do đâu mà vào được.

Năm Thức trước chưa hợp vào tư duy thì cái thể gần với Thức Thứ Tám. Cho nên Thức Thứ Sáu và Thức Thứ Bảy chuyển ở trên nhân thì Thức Thứ Tám và năm Thức trước mới viên mãn ở trên quả. Nếu chẳng có Hậu Đắc Trí thì không thể chuyển năm Thức trước.

Cho đến khi chuyển Thức thành Trí, đắc cái trong lặng chân thật thì sau đó mới tin Thức Thứ Tám là chủng tử vi tế sanh diệt, chảy nhanh nên không thấy, chứ không phải không chảy, tuy giống như lặng yên, không thể gọi là trong lặng chân thật.

Trong Tánh trong lặng thấu suốt cái Tưởng tinh vi tế nhiệm, ảo tượng rỗng không, hình như có hình như không, nhưng chưa từng không có cái Tưởng. Cho nên cũng gọi đó là Vọng Tưởng vậy. Thức Thứ Tám nương nơi cái Chẳng Sanh Chẳng Diệt hòa hợp với cái Sanh Diệt mà thành.

Bằng như ngược Trần hợp Giác, y vào cái Chẳng Sanh Diệt thì gọi là Chánh Trí.

 Nếu ngược Giác hợp Trần y vào nơi Sanh Diệt thì gọi là Điên Đảo.


Cội nguồn Tưởng tức là cái chỗ động ban sơ của Thức, năm thứ Vọng Tưởng đều do đây mà khởi. Do một niệm mê lầm hư vọng, nhận lấy nó, giữ lấy nó mà tự che khuất. Thế nên mới gọi là năm Thọ Ấm, hay năm Thủ Ấm đều do Vọng Tưởng làm gốc vậy.

Thiền sư Vĩnh Gia nói : “Biết rõ trong một Niệm đủ cả năm Ấm : Rành mạch phân minh tức là Thức Ấm. Thu lãnh nơi Tâm tức là Thọ Ấm. Tâm duyên theo lý ấy tức là Tưởng Ấm. Hành dụng lý ấy tức là Hành Ấm. Làm dơ Chân Tánh tức là Sắc Ấm. Năm Ấm này toàn thể là một Niệm. Một Niệm khởi lên toàn là năm Ấm. Rõ ràng thấy trong một Niệm không có gì là chủ tể, tức là Huệ Nhân Không. Thấy như huyễn hóa tức là Huệ Pháp Không”.

Hẳn như chỗ Tổ Vĩnh Gia nói : “Nhân Pháp đều Không thì Thức Ấm mới hết rồi sau mới có thể siêu vượt Mệnh Trược vậy”.

Ngài Triệu Châu hỏi Tổ Đầu Tử : “Khi người chết sống lại thì sao ?”

Tổ Đầu Tử nói : “Chẳng được đi đêm, đến trong chỗ sáng”.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Trong “sống” có mắt lại như “chết”
Thuốc kỵ khỏi cần khám “tác gia”
Phật xưa còn nói “chưa từng đến”
Chẳng biết ai đây thoát trần sa”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Thành (hạt) cải kiếp đá diệu tột sơ
Mắt “sống” “trong Không chiếu rỗng hư
Chẳng được đi đêm, về ngày sáng
Tin nhà chưa khứng phó chim, sò”.

Cái Diệu này tuyệt hết “Nguồn Tưởng”, không dung chứa tập khí hư vọng. Ấy là Thật Tế Lý Địa, không động bước mà tới, rõ ràng cái cách chuyển Thức thành Trí vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 09:25:26 PM »

(tiếp theo)

汝今欲知因界淺深。唯色與空。是色邊際。唯觸及離。是受邊際。唯記與忘。是想邊際。唯滅與生。是行邊際。湛入合湛。歸識邊際。

Kinh : “Ông nay muốn biết nhân do và giới hạn sâu cạn, thì Sắc và Không là biên giới của Sắc Ấm; Xúc và Lìa là biên giới của Thọ Ấm; Nhớ và Quên là biên giới của Tưởng Ấm ; Diệt và Sanh là biên giới của Hành Ấm ; lặng trong nhập hợp với lặng trong là biên giới của Thức Ấm.

通曰。前阿難問如是五重。詣何為界。此詳答有因有界。自淺及深。色不自色。因空顯色。是色空邊際。乃色界也。受不自受。因觸有受。是觸離邊際。乃受界也。想不自想。因記名想。是記忘邊際。乃想界也。行不自行。因生滅不停名行。是生滅邊際。乃行界也。識稱湛了。已滅生滅。性入元澄。而合乎湛。有入有合。即有邊際。乃識界也。蓋湛入為識陰。真湛為性識明知。明知即智。智之與識。有邊際存焉。真性不名湛入者。周遍法界。無出入故。湛出為行。湛入為識。內內湛明。入無所入。即至不生滅地。此以漸入微。由五塵五識。六識七識。而至八識。又五陰淺深之界也。既合乎湛。得無生法忍。又何邊際而可窺測哉。既無邊際。即空五陰。五陰皆空。即超五濁。所云分汝湛圓妙覺明心。為視為聽。為覺為察。從始入終。五疊渾濁。至是同歸於湛矣。還原觀曰。由於塵相。唸唸遷變。即是生死。由觀塵相。生滅相盡。空無有實。即是涅槃。智證傳曰。於色聲等法。唸唸分別。名為變遷。觀此色聲等法。起滅無從。當處解脫。先觀己眼曰。是眼即不能自見其己體。自體尚不見。云何見餘物。次觀前境曰。若見是樹。復云何樹。若見非樹。云何見樹。次觀三際曰。若見在是有耶。則過去未來亦應是有。若過去未來是無耶。則見在亦應是無。此還原之要旨也。溈山上堂。夫道人之心。質直無偽。無背無面。無詐妄心。一切時中。視聽尋常。更無委曲。亦不閉眼塞耳。但情不附物。即是。從上諸聖。祗說濁邊過患。若無許多惡覺情見想習之事。譬如秋水澄渟。清淨無為。澹濘無礙。喚他作道人。亦名無事人。溈山數語。直示湛入合湛消息。但令識陰都消。更有何事。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ở trước, Ông Anan hỏi rằng “Năm lớp như vậy đến đâu là giới hạn ?” Ở đây trả lời rõ ràng, có nguyên nhân, có giới hạn từ cạn đến sâu.

Sắc không tự nó là Sắc, nhân Không mà hiển Sắc. Biên giới của Sắc và Không là Sắc Giới vậy.
Thọ chẳng tự nó là Thọ, nhân Xúc Chạm mà có Thọ, thì biên giới của Xúc và Lìa là Thọ Giới.
Tưởng chẳng tự nó là Tưởng, nhân Nhớ mà gọi là Tưởng, thì biên giới của Nhớ và Quên là Tưởng Giới.
Hành không tự nó là Hành, nhân Sanh Diệt chẳng ngừng mà gọi là Hành, biên giới ấy của Sanh Diệt là Hành Giới. Thức gọi là trong lặng thấu suốt đã diệt sự Sanh Diệt, tánh nó nhập với nguồn tánh bất động mà hợp với lặng trong.


 Mà có nhập, có hợp tức là có biên giới, đó là Thức Giới vậy. Vì cái “Trong lặng nhập vào” là Thức Ấm, còn tánh “Trong lặng chân thường” là Tánh Thức Minh Tri. Minh Tri là Trí. Giữa Thức và Trí còn có biên giới vậy.

Chân Tánh không gọi là “Trong lặng nhập vào” vì toàn khắp pháp giới không hề có ra vào. Cái trong lặng mà xuất ra là Hành, cái trong lặng mà nhập vào là Thức. Suốt cả bên trong lặng sáng, nhập không-chỗ-nhập, tức là địa chẳng sanh diệt. Đây là lần lần vào chỗ tinh diệu.

Từ năm Trần, năm Thức trước, Thức Thứ Sáu, Thức Thứ Bảy cho đến Thức Thứ Tám là giới hạn cạn sâu của năm Ấm vậy. Đã hợp cùng tánh lặng trong rồi, được Vô Sanh Pháp Nhẫn thì còn có biên giới nào để xem xét nữa ư ? Đã không biên giới, tức không năm Ấm, năm Ấm đều Không, tức siêu năm Trược.

Ở trước, nói “Các ông phân Diệu Giác Minh Tâm trong lặng toàn vẹn của mình làm ra cái Thấy, cái Nghe, cái Hay, cái Biết từ đầu đến cuối thành năm lớp vẫn đục”. Đến đây thì đồng quy về tánh trong lặng vậy.

Sách Hoàn Nguyên Quán nói “Do nơi Trần Tướng mà niệm niệm dời đổi, đó là Sanh Tử. Do quán Trần Tướng mà tướng sanh diệt dứt hết, rỗng không, không có thật, đó là Niết Bàn”.

Cuốn Trí Chứng Truyện viết : “Nơi sắc thanh các pháp niệm niệm phân biệt, gọi là Dời Đổi. Quán sắc thanh các pháp ấy không từ đâu khởi lên, không từ đâu diệt mất, ngay đây Giải Thoát”.

Cuốn Tiên Quán Kỹ Nhãn viết : “Thật vậy, con mắt không thể tự thấy cái Thể của nó. Tự Thể còn chẳng thể thấy, làm sao thấy gì khác ?”

Cuốn Thứ Quán Tiền Cảnh viết : “Nếu cái thấy là cây thì đâu còn cây ?”

Cuốn Thứ Quán Tam Tế viết : “Nếu hiện tại là có thì quá khứ, vị lai đáng lẽ cũng có. Nếu quá khứ, vị lai là không có thì hiện tại đáng lẽ cũng không”.

Đây là yếu chỉ về nguồn vậy.

Tổ Quy Sơn thượng đường : “Phàm cái tâm của đạo nhân thì thẳng ngay không giả dối, không sau, không trước, không dối trá hư vọng. Trong hết mọi thời, thấy nghe bình thường, không quanh co khuất lấp, cũng chẳng bịt mắt bưng tai. Chỉ là tình chẳng dựa vật, thì thật như Chư Thánh xưa nay chỉ nói cái lầm hại bên phía dơ uế. Như không có các thứ tưởng tập, biết bậy, tình kiến bèn như nước Thu trong lặng, thanh tịnh vô vi, trong ngần không ngại. Gọi đó là đạo nhân, cũng gọi là người vô sự”.

Đôi lời của Tổ Quy Sơn chỉ thẳng cái tin tức của Lặng trong nhập hợp lặng trong. Chỉ việc tiêu hết Thức Ấm thì đâu còn chuyện gì nữa ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 09:30:03 PM »

(tiếp theo)

此五陰元。重疊生起。生因識有。識從色除。理則頓悟。乘悟並銷。事非頓除。因次第盡。我已示汝劫波巾結。何所不明。再此詢問。汝應將此妄想根元。心得開通。傳示將來末法之中諸修行者。令識虛妄。深厭自生。知有涅槃。不戀三界。

Kinh : “Năm Ấm ấy vốn trùng điệp sanh khởi. Sanh thì nhân Thức mà có, diệt thì từ Sắc mà trừ. Lý ắt đốn ngộ, nương Ngộ tiêu sạch. Sự chẳng phải đốn trừ, theo thứ lớp dứt hết.

“Ta đã chỉ cho ông về cái nút khăn Kiếp Ba La, có chỗ nào chẳng suốt tỏ, mà phải hỏi lại như vậy. Ông nên dùng cái tâm được khai thông về căn nguyên Vọng Tưởng này, truyền dạy cho tương lai những người tu hành trong đời mạt pháp, khiến cho họ rõ hư vọng, tự sanh nhàm chán sâu xa, biết có Niết Bàn, chẳng luyến mê ba cõi.


通曰。前阿難問為並銷除。為次第盡。初答直示。向上一著。唯在悟入精真妙明。本覺圓淨。更無妄想可除。更無次第可指。所謂乘悟並銷者也。此答事非頓除。因次第盡。慈悲之故。稍涉廉纖。所謂頓而不遺乎圓者也。此五陰根元。重疊生起。其生也有因。所因八識想元。生起見相二分。由內造外。由細至粗。今欲滅此五陰。其滅也有漸。先從色陰銷除。由外及內。從粗入細。不無次第。若論真如之理。一悟便至佛地。有何階級。了陰無體。當體全空。故乘悟並銷。當下無事。乃若無始習氣。熏染日久。現行無明。纏縛五重。豈能一旦而拔。故須漸漸淘汰。因次第盡。如劫波巾結。巾本無異。結必漸除。先得人空。次得法空。次得空空。乃得無生法忍。寂滅現前。故不識虛妄根元。心逐識轉。不得開通。今明知是妄。妄本無因。當下心開。證涅槃樂。既證涅槃。至不生滅。視彼五陰虛妄。無因自生。原無自性。深為可厭。若五陰不滅。流轉三界。生死循環。更有何樂。而戀戀不捨哉。此覺妄根元。遠離五十種魔事。尤先佛世尊妙奢摩他三摩禪那最初方便。所當次第而修者。皆足為末法明訓也。故囑令流通云。圭峰禪師答史山人十問。一問如何是道。何以修之。必須修成。為復不假功用。答。無礙是道。覺妄是修。道雖本圓。妄起為累。妄念都盡。即是修成。二問道若因修而成。即是造作。便同世間法。虛偽不實。成而復壞。何名出世。答。造作是結業。名虛偽世間。無作是修行。即真實出世。三問其所修者為頓為漸。漸則忘前失後。何以集合而成。頓則萬行多方。豈得一時圓滿。答。真理即悟而頓圓。妄情息之而漸盡。頓圓如初生孩子。一日而肢體已全。漸修如長養成人。多年而志氣方立。此三答可為此段經文註疏。又圭峰答溫慥尚書問曰。真理雖然頓達。此情難以卒除。如風暫止。波浪暫停。豈可一生所修。便同佛用。但可以空寂為自體。勿認色身。以真如為自心。勿認妄念。妄念若起。都不隨之。即臨命終時。自然業不能系。黃龍晦堂答韓宗古侍郎問曰。然心外無剩法者。不知煩惱習氣是何而欲盡之。若起此心。翻成認賊為子也。從上以來。但有言說。乃是隨病設藥。縱有煩惱習氣。但以如來知見治之。皆是善權方便誘引之說。若是定有習氣可治。卻是心外有法而可盡之。譬如靈龜曳尾於途。拂跡跡生。可謂將心用心。轉見病深。苟能明達心外無法。法外無心。心法既無。更欲教誰頓盡耶。據晦堂見處。即本來無一物。何處惹塵埃也。據圭峰答處。即時時勤拂拭。休使惹塵埃也。晦堂主於頓。喻如人夢被枷鎖。覺來更須脫枷鎖乎。斷無此事。圭峰主於漸。喻如水結成冰。失灌溉之用。須火日漸鄰始是流通。宗鏡錄云。入吾宗者。先須知有。然後保任。又頭尾須得相稱。不可理行有闕。心口相違。若入宗鏡。理行俱圓。據宗鏡斷。大鑒祗具一隻眼。大通雙眼圓明。何者。大鑒具理而無行。謂本來常淨。不假拂塵。大通已悟須修。拂塵鑑朗。所以道。正雖正卻偏。偏雖偏卻圓。非久參洞上之宗。未可容易談也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ở trước, Ông Anan hỏi là tiêu trừ một lượt hay theo thứ lớp mà hết ? Trước hết, đáp ngay rằng “Một đường hướng thượng, độc chỉ ở chỗ ngộ nhập Tánh Tinh Chân Diệu Minh, Bản Giác Viên Tịnh, thì chẳng còn Vọng Tưởng nào để trừ, không còn thứ lớp nào để chỉ bày”. Ấy là chỗ nói “Nương ngộ tiêu sạch”.

Ở đây trả lời rằng “Sự chẳng phải đốn trừ, theo thứ lớp dứt hết”, là do lòng từ bi, lắc rắc chút mưa phùn, chỗ gọi là Đốn mà chẳng sót Viên vậy.

Căn nguyên này của năm Ấm trùng điệp sanh khởi, đã sanh thì có nguyên nhân. Cái Sở Nhân là Nguồn Tưởng của Thức Thứ Tám, sanh khởi ra Kiến Phần và Tướng Phần. Do trong tạo ngoài, từ tế đến thô. Nay muốn diệt năm Ấm này, sự diệt phải lần lần. Trước hết từ Sắc Ấm tiêu trừ, do ngoài vào trong, từ thô vào tế, không phải là không có thứ lớp.

Nếu luận cái lý Chân Như thì một Ngộ liền đến Phật Địa, có đâu tầng bậc giai cấp ? Rõ Ấm không có tự thể, đương thể toàn Không, nên nương Ngộ tiêu sạch một lượt, ngay đây vô sự. Thế nhưng tập khí từ vô thủy huân tập ô nhiễm lâu ngày, cái vô minh đang hiện hành, năm lớp buộc ràng đâu thể nhổ sạch một sớm một chiều. Bởi thế, phải đào thải dần dần, theo thứ lớp mà hết sạch.

Giống như cái nút của khăn Kiếp Ba, khăn vốn không khác mà nút phải mở tháo lần lượt. Trước được Nhân Không, kế đắc Pháp Không, sau nữa là đắc Không Không, bèn được Vô Sanh Pháp Nhẫn, tịch diệt hiện tiền.

Cho nên, chẳng rõ căn nguyên hư vọng thì tâm đuổi theo Thức mà chuyển, chẳng thể khai thông. Nay biết rõ ràng là Vọng, Vọng vốn không có nguyên nhân, ngay ấy tâm khai, chứng cái vui Niết Bàn. Đã chứng Niết Bàn, vào chỗ chẳng sanh diệt, thấy năm Ấm kia là hư vọng, không nhân tự sanh, nguyên không tự tánh, quả đáng nhàm chán sâu xa vậy.

 Nếu năm Ấm chẳng diệt thì lưu chuyển ba cõi, sanh tử xoay vần, có gì mà vui để mê luyến chẳng bỏ ư ? Sự Giác Ngộ căn nguyên hư vọng này, xa lìa năm mươi thứ Ma Sự lại là phương tiện ban đầu : các pháp Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na vi diệu của Phật Thế Tôn xưa trước, phải theo thứ lớp mà tu, đều đủ để làm lời minh huấn cho đời mạt pháp, nên Thế Tôn dặn dò khiến cho lưu thông.

Thiền sư Khuê Phong trả lời mười câu hỏi của Ông Sử Sơn Nhân :

Câu hỏi Một : Thế nào là Đạo ? Thế nào là Tu ? Phải Tu mới thành hay chẳng cần mượn công dụng ?

Đáp : Vô Ngại là Đạo. Biết Vọng là Tu. Đạo tuy vốn tròn đầy mà vọng khởi thành vướng mắc. Vọng niệm hết ráo tức là Tu thành.

Câu hỏi Hai : Đạo nếu do Tu mà thành, tức là tạo tác, thì giống pháp thế gian, giả dối chẳng thật, thành rồi lại hoại, sao gọi là xuất thế được ?

Đáp : Tạo tác là kết nghiệp, gọi là “Thế gian giả dối”. Vô Tác là tu hành, tức xuất thế chân thật.

Câu hỏi Ba : Sự Tu đó là Đốn hay Tiệm ? Tiệm thì quên trước, mất sau, làm sao tập hợp mà thành tựu. Đốn thì vạn hạnh đa phương, làm sao một lúc mà viên mãn được ?

Đáp : Chân Lý thì Ngộ mà Đốn Viên. Vọng tình dứt mà hết lần lần. Đốn Viên như trẻ nhỏ sơ sanh, trong một ngày mà cơ thể đã đầy đủ. Tiệm Tu như nuôi lớn thành người, nhiều năm thì chí khí mới lập.

Ba câu trả lời này có thể chú giải cho đoạn kinh văn này.

Lại nữa, thiền sư Khuê Phong trả lời cho quan Thượng Thư Ôn Tháo : “Chân lý tuy là đốn đạt, vọng tình ấy khó trừ ngay. Như gió tạm ngừng, sóng mòi tạm lặng, đâu có thể chỗ tu một đời bèn đồng với cái Dụng của Phật. Chỉ khá lấy Không Tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân; lấy Chân Như làm Tự Tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm khởi lên đều trọn chẳng theo. Như vậy thì khi mệnh chung tự nhiên nghiệp không thể ràng buộc”.

Tổ Hoàng Long Hối Đường đáp lời hỏi của quan Thị Lang Hàn Tông Cổ rằng : “Như thế, ngoài Tâm không có pháp gì nữa. Chẳng biết phiền não, tập khí là gì mà muốn dứt hết đi, thì nếu khởi cái tâm như vậy bèn thành ra nhận giặc làm con. Từ xưa đến nay chỉ có lời nói, ấy là tùy bệnh cho thuốc. Nếu có tập khí phiền não mà chỉ cần dùng Tri Kiến Như Lai để đối trị, đó đều là lời nói dẫn dụ, phương tiện thiện xảo quyền biến. Nếu thật có tập khí để trị, bèn là ngoài tâm có pháp để dứt diệt, giống như con linh quy kéo lê cái đuôi trên đường, quét dấu mà dấu sanh ! Có thể nói rằng “Lấy tâm dùng tâm, càng thấy bệnh nặng !” Bằng như rõ suốt ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, tâm pháp đã Không lại còn muốn dạy ai chóng hết đây ?

Cứ theo chỗ Thấy của Tổ Hối Đường thì “Xưa nay không một vật. Chỗ nào nhuốm bụi trần”. Cứ vào chỗ đáp của Tổ Khuê Phong thì “Thường thường siêng lau sạch. Chớ để nhuốm bụi trần”. Hối Đường chủ về Đốn, ví như người nằm mộng thấy bị xiềng xích, tỉnh dậy lại phải cởi thoát xiềng xích ư ? Hiển nhiên không có chuyện đó vậy. Khuê Phong chủ về Tiệm, ví như nước kết thành băng, không dùng tắm rửa được, phải gần ánh mặt trời mới thấy lưu thông.

Tông Cảnh Lục nói : “Vào Tông ta, trước tiên cần biết có. Sau đó giữ gìn. Lại đầu đuôi cần phải tương xứng, không thể Lý, Hạnh có chỗ thiếu sót, tâm miệng trái nhau. Nếu vào Tông Cảnh, Lý Hạnh đều tròn vẹn”.

Căn cứ theo sự quyết đoán của bộ Tông Cảnh thì Ngài Đại Giám (Huệ Năng) chỉ đủ một con mắt lẻ, Ngài Đại Thông (Thần Tú) thì hai mắt tròn sáng. Sao thế ?
Ngài Đại Giám đầy đủ Lý mà không có Hạnh, vì “Xưa ngay thường thanh tịnh, chẳng mượn lau chùi”.
Ngài Đại Thông, “Đã ngộ cần phải tu, lau bụi thì gương sáng”.

Bởi thế mà nói “Chánh tuy Chánh lại Thiên, Thiên tuy Thiên lại Viên”.

Chẳng tham dự lâu ngày cái Tông tỏ suốt thì chưa dễ bàn luận chỗ này.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Tư 23, 2011, 09:35:43 PM »

(tiếp theo)

阿難。若復有人。遍滿十方。所有虛空。盈滿七寶。持以奉上微塵諸佛。承事供養。心無虛度。於意云何。是人以此施佛因緣。得福多不。阿難答言。虛空無盡。珍寶無邊。昔有眾生。施佛七錢。捨身猶獲轉輪王位。況復現前虛空既窮。佛土充遍。皆是珍寶。窮劫思議。尚不能及。是福云何更有邊際。佛告阿難。諸佛如來。語無虛妄。若復有人身具四重。十波羅夷。(此云棄)瞬息即經此方他方阿鼻地獄。乃至窮盡十方無間。靡不經歷。能以一念將此法門。於末劫中。開示末學。是人罪障。應念銷滅。變其所受地獄苦因。成安樂國。得福超越前之施人。百倍千倍。千萬億倍。如是乃至算數譬喻所不能及。


PHẦN THỨ BA

PHẦN LƯU THÔNG

I. ĐƯỢC PHƯỚC, TIÊU TỘI HƠN CẢ


Kinh : “Anan, ví như có người đem các thứ thất bảo đầy dẫy hư không cùng khắp mười phương, dâng lên Chư Phật như số vi trần, vâng thờ cúng dường, Tâm không lúc nào xao lãng. Ý ông thế nào ? Người ấy do nhân duyên cúng dường Phật như vậy được phước nhiều chăng ?”

Ông Anan đáp rằng : “Hư không vô tận, trân bảo vô biên. Ngày xưa có chúng sanh cúng Phật bảy đồng tiền, đến lúc bỏ thân rồi còn được địa vị Chuyển Luân Vương, huống gì hiện tiền hư không cùng tột, cõi Phật đầy khắp, đều là trân bảo, thì dù suy nghĩ cùng kiếp còn chẳng thể thấy, phước ấy làm sao có bờ bến”.

Phật bảo Ông Anan : “Chư Phật Như Lai lời không hư vọng. Nếu lại có người thân đủ các tội Tứ Trọng, thập Ba La Di, giây lát phải trải qua địa ngục A Tỳ phương này phương khác, cho đến cùng hết các địa ngục Vô Gián mười phương, không đâu chẳng trải mà có thể trong một niệm đem pháp môn này khai thị cho người chưa học đời mạt pháp, thì tội chướng người ấy trong niệm đó liền được tiêu diệt, biến cái nhân phải chịu khổ địa ngục thành An Lạc Quốc, được phước siêu vượt trăm lần, ngàn lần, vạn lần, ức lần hơn người thí cúng trước, như thế cho đến toán số thí dụ không thể nói hết được.


通曰。遍滿虛空。盈滿七寶。世間豈有是事。以佛眼觀。攪長河為酥酪。變大地作黃金。亦尋常事耳。況妙真如性。清淨本然。周遍法界。是為家寶。能證清淨法身。即至寶所。此寶豈不遍滿虛空乎。故以世間金銀珠貝珊瑚瑪瑙車磲七珍之寶奉佛。尚且得福無量。將此深心奉塵剎。是則名為報佛恩。能使人人皆至寶所。此出世之寶。能分別世間寶者。故非世間之寶可及。其得福報尤不可勝計也。不但得福。且能銷罪。福有福報。罪有罪報。福罪兩不相準。故雖得天福。不能免地獄苦。罪莫重於五逆。殺父害母出佛身血破和合僧焚燒經像。此但舉四重。父母一體耳。三寶不可易也。前云四棄。指殺盜淫妄。又云八棄。此云十棄。總不出十惡業。即前十習因六交報也。罪業重者。此方無間獄壞。復移他方。至十方無間獄。一一經嘗。何其苦也。但一念回心。將此法寶。開示末學。轉迷為悟。轉煩惱為菩提。雖在生死海中。自有涅槃之樂。此自罪自懺。自業自解。雖佛亦不能與力焉。無罪即是得福。無苦即是受樂。故以法寶開示人者。不但自免罪。且令人人免其罪。不但自得福。且令人人得其福。不但自獲寶。且令人人皆獲至寶也。寶盈世間。寧有方所。何但以七寶奉佛所得之福。較量多寡哉。佛雖實語免罪得福。有如是無量功德。分明讚嘆此經。清淨本然。周遍法界。無窮無盡。尊貴無比。僧問大嶺禪師。如何是一切處清淨。嶺云。截瓊枝。寸寸是寶。折旃檀。片片皆香。丹霞頌云。乾坤儘是黃金骨。萬有全彰淨妙身。玉女背風無巧拙。靈苗華秀不知春。若是則更無地獄等相乎。何以調達生陷地獄也。調達謗佛。生身陷入地獄。佛令阿難傳旨。汝在地獄中安否。達云。我雖在獄中。如三禪天樂。佛又令阿難問。汝還求出否。達云。我待世尊來便出。阿難云。世尊是三界大師。豈有入地獄分。達云。我豈有出地獄分。翠岩真云。親言出親口。調達為佛堂弟。即阿難親兄。已得神通。推山壓佛。時有金剛護持。然亦傷其足指出血。既欲害佛。盡收其眾。行至中途。生身陷入地獄。然達自為鹿王時。已與佛同修行。今情均天倫。乃有此變。亦其迷心太重。未易回頭。須於地獄業火燒乾。乃能發悟。佛記調達於多劫後。亦當作佛。即在地獄中無出入見。安知其不能變地獄為安樂國哉。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đầy dẫy thất bảo khắp cả hư không, thế gian làm sao có chuyện ấy ư ? Lấy Phật Nhãn mà xem, quậy sông dài làm thành tô lạc, biến đại địa thành vàng ròng cũng là chuyện tầm thường vậy. Huống chi Tánh Diệu Chân Như, thanh tịnh bổn nhiên toàn khắp pháp giới, đó là gia bảo.

Chứng Thanh Tịnh Pháp Thân thì đến kho báu (bảo sở), kho báu đó há chẳng toàn khắp hư không ư ? Bởi thế, dùng bảy báu : vàng, bạc, trân châu, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách của thế gian để cúng Phật còn được phước vô lượng huống là “Nguyện đem toàn thể thân tâm này phụng sự cõi nước nhiều như bụi, thế mới gọi là báo Phật Ân”, thì có thể khiến cho người người đều đến kho báu.

Cái của báu xuất thế này phân biệt với đồ báu của thế gian, nên đồ báu thế gian nào so sánh được. Không chỉ được phước, mà còn tiêu tội. Phước thì có phước báo, tội thì có tội báo. Phước, tội cả hai không đo lường nhau được. Nên tuy được phước cõi trời, cũng chẳng miễn khỏi cái khổ địa ngục. Tội thì không gì nặng hơn tội ngũ nghịch : giết cha, hại mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá sự hòa hợp của Tăng Già, đốt thiêu kinh tượng. Đây chỉ nêu ra bốn, vì cha mẹ xem như một, còn Tam Bảo thì không thể thay đổi.

 Ở trước, nói Tứ Khí là chỉ Sát, Đạo, Dâm, Vọng, lại nói Bát Khí; ở đây nói mười tập nhân và sáu giao báo ở trước. Tội nghiệp nặng thì địa ngục Vô Gián mười phương, mỗi mỗi đều trải qua, khổ sở biết bao.

Chỉ một niệm hồi tâm, đem pháp bảo này chỉ bày cho người chưa học, chuyển mê thành ngộ, chuyển phiền não thành Bồ Đề thì tuy ở trong biển sanh tử mà tự có cái vui Niết Bàn.

 Đây là tự gây tội thì tự sám hối, tự gây nghiệp thì tự giải thoát, tuy Phật cũng không thể giúp cho sức về chỗ đó. Không có tội, tức là được phước. Không có khổ tức là hưởng an vui. Bởi thế, đem pháp bảo mà chỉ bày cho người thì không những tự mình khỏi tội mà còn khiến người người được phước. Không chỉ tự mình được của báu mà còn khiến người người đều được cái rất báu.

 Cái báu đầy ngập thế gian, nào có nơi chốn. Há chỉ lấy cái phước do cúng Phật bảy thứ báu mà so sánh được ư ?

Lời Phật chân thật, khỏi tội được phước, có vô lượng công đức như thế rõ ràng tán thán kinh này, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, không cùng không tận, tôn quý không gì so sánh nổi.

Có nhà sư hỏi thiền sư Đại Lãnh : “Sao là tất cả chốn thanh tịnh ?”

Tổ Lãnh nói : “Bẻ cành cây quỳnh, tấc tấc là của báu. Cắt cây chiên đàn, miếng miếng toàn là hương”.


Ngài Đơn Hà tụng rằng:-

“Khắp cùng trời đất thiệt xá lợi
Vạn hữu toàn bày tịnh diệu thân
Ngọc Nữ ngược trần không khéo vụng
Linh miêu hoa trổ chẳng hay xuân”.

Nếu vậy thì không còn các tướng địa ngục ư ? Cớ sao Ông Điều Đạt  -(ct) Tức Đề Bà Đạt Đa. ) đang sống mà sa vào địa ngục ?

-Điều Đạt báng Phật, nên đang sống mà sa vào địa ngục.

Phật khiến Anan hỏi rằng : “Ông ở trong địa ngục yên ổn chăng ?”

Ông Điều Đạt đáp : “Tôi tuy ở trong địa ngục mà vui như trời Tam Thiền”.

Phật lại khiến Ông Anan hỏi : “Ông có cầu ra khỏi không ?”

Ông Điều Đạt đáp : “Tôi chờ Thế Tôn đến thì ra khỏi !”

Ông Anan nói : “Thế Tôn là Đại Sư ba cõi há có phận vào địa ngục ư ?”

Ông Điều Đạt nói : “Tôi há có phận ra khỏi địa ngục ư ?”

Tổ Thúy Nham Chân nói : “Lời thân quen xuất từ miệng thân quen !”

Ông Điều Đạt là anh em chú bác với Đức Phật, là anh ruột của Ông Anan, đã đắc thần thông, xô núi đè Phật, khi ấy có thần Kim Cang hộ trì, nhưng cũng làm Phật bị thương, ngón chân út bị thương chảy máu. Ông muốn hại Phật để thu nhiếp hết đại chúng, mới đi nửa đường, thân đang sống mà sa vào địa ngục.

Nhưng Ông Điều Đạt từ khi làm Lộc Vương đã cùng tu hành với Phật, nay tình bà con ruột thịt thì lại có sự biến đổi này. Cũng là tâm mê quá nặng, chưa dễ quay đầu, cần phải thiêu sạch nơi lửa nghiệp địa ngục mới có thể phát ngộ.
Phật thọ ký cho Ông Điều Đạt sau nhiều kiếp cũng sẽ thành Phật. Ngay trong địa ngục mà không thấy có chuyện ra vào thì làm sao biết biến địa ngục thành cõi an lạc ư ?”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:42:59 AM »

(tiếp theo)

阿難。若有眾生。能誦此經。能持此咒。如我廣說。窮劫不盡。依我教言。如教行道。直成菩提。無復魔業。

II. TRỪ MA HƠN CẢ

Kinh : “Anan, nếu có chúng sanh tụng được kinh này, trì được chú này như Ta nói rộng ra thì cùng kiếp chẳng hết. Y theo lời dạy của Ta, như lời dạy mà hành đạo, thẳng vào Bồ Đề, không còn ma nghiệp.

通曰。一念轉移。便消罪業。得福無量。若能常誦此經。常持此咒。其獲福也。窮劫不盡。若能依教行道。必成正覺。無復魔業。此經此咒。所以發揮妙覺者。至為詳備。所以防範陰魔者。至為周悉。魔不能惑。而覺道成矣。若持咒誦經而不明自性。卻又被魔所縛。僧問百丈。依經解義。三世佛冤。離經一字。如同魔說時如何。丈云。因守動靜。三世佛冤。此外別求。如同魔說。後僧問同安。依經解義。三世佛冤。離經一字。即同魔說。此理如何。安云。孤峰迥秀。不掛煙霞。片月橫空。白雲自異。丹霞頌云。云自高飛水自流。海天空闊漾虛舟。夜深不向蘆灣宿。迥出中間與兩頭。此於經義不即不離。自有出頭處。若能悟此。魔不能惑。壽州道樹禪師。於神秀言下知微。乃卜壽州三峰山。結茅而居。常有野人。服色素樸。言談詭異。於言笑外。化作佛形。及菩薩羅漢天仙等形。或放神光。或呈聲響。學徒睹之。皆不能測。如此涉十年。後寂無形影。師告眾曰。野人作多色伎倆。眩惑於人。只消老僧不見不聞。伊伎倆有窮。吾不見不聞無盡。若會不見不聞無盡之旨。直至菩提曾無欠乏。陰魔銷盡。何天魔之足虞。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Một niệm chuyển hóa bèn tiêu tội nghiệp, phước đức vô lượng. Nếu thường tụng được kinh này, thường trì chú này phước đức cùng kiếp chẳng hết.

Như y theo giáo pháp mà hành đạo ắt thành Chánh Giác, không còn nghiệp ma. Kinh này, chú này phát huy tánh Diệu Giác đến sáng rõ hoàn bị, chỗ đề phòng Ấm Ma chu đáo, Ma không thể mê hoặc mà đạo Giác thành tựu vậy.

Nếu trì chú, tụng kinh mà không rõ ở trong Tự Tánh thì lại bị Ma trói buộc.

Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : ““Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng Ma thuyết”. Thì thế nào ?”

Tổ Trượng nói : “Do giữ động niệm, tam thế Phật oan. Ngoài đây riêng cầu liền đồng Ma thuyết”.

Sau này, nhà sư hỏi Tổ Đồng An : ““Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng Ma thuyết”. Lý ấy thế nào ?”

Tổ An nói : “Cô phong (đỉnh cô) ngút mắt, chẳng khoác ráng, sương. Vầng nguyệt giữa trời, bạch vân tự khác”.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Mây tự cao bay, nước tự xuôi
Mênh mông trời nước lắc thuyền không
Đêm khuya chẳng hướng bờ lau đậu
Khỏi hẳn trung gian với hai đầu”.

Chỗ này nơi nghĩa kinh, chẳng tức, chẳng lìa, tự có chỗ xuất đầu. Nếu ngộ chỗ này thì Ma không thể mê hoặc.
Thiền sư Thọ Châu Đạo Thụ dưới lời của Ngài Thần Tú biết được chỗ vi diệu, bèn cất am cỏ ở Thọ Châu Tam Phong. Thường có con dã nhân, mặc đồ trắng đơn giản, nói năng kỳ dị, ngoài chuyện cười nói còn hóa ra hình Phật, cho đến các hình Bồ Tát, La Hán, Trời, Tiên... hoặc phóng hào quang, hoặc phát lộ âm thanh tiếng dội. Hàng học trò thấy vậy đều không thể đo lường được. Như vậy trải qua mười năm, sau lặng mất, không còn hình ảnh.

Sư nói với đại chúng : “Dã nhân làm lắm màu mè mê hoặc người tu. Chỉ phải lão tăng không thấy, không nghe. Màu mè của y thì có chỗ cùng mà cái không thấy, không nghe của ta thì vô tận”.

Nếu hiểu cái ý chỉ “Chẳng thấy, chẳng nghe vô tận” này thì thẳng vào Bồ Đề không hề thiếu hụt, Ấm Ma tiêu ráo, Thiên Ma nào để phải lo !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:46:41 AM »

(tiếp theo)

佛說此經已。比丘比丘尼。優婆塞優婆夷。一切世間天人阿修羅。及諸他方菩薩二乘聖仙童子。並初發心大力鬼神。皆大歡喜。作禮而去。

III. LƯU THÔNG CHUNG

Kinh : Phật nói kinh này xong, hàng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La cùng các vị Bồ Tát, Nhị Thừa, Thánh Tiên, Đồng Tử ở phương khác và các Đại Lực Quỉ Thần mới phát tâm thảy đều hoan hỷ, làm lễ mà lui.

通曰。佛說此經。乃最上圓頓法門。佛以一音演法。隨類各解。故隨所證量。皆得法喜。踴躍而去。何以故。本有之性。各各具足。故趙州示眾曰。看經也在生死裡。不看經也在生死裡。諸人且作麼生出得去。僧便問。只如俱不留時如何。州曰。實即得。若不實。爭能出得生死。天童頌曰。看經也在生死裡。飯蘿裡坐無吃底。不看經也在生死裡。錦衣堆裡無著底。忽然烏鵲叫一聲。反身踴躍渾家喜。休擬議。如今拋向眾人前。千手大悲提不起。西川座主至華嚴。問祖意教意。是同是別。嚴曰。如車二輪。如鳥兩翼。主曰。將謂禪門別有奇特。元來不出教意。後聞夾山盛化。遣小師馳問前語。山曰。雕沙無鏤玉之談。結草乖道人之意。小師回。舉似主。主乃讚嘆遙禮曰。將謂禪門與教意不殊。元來有奇特事。不見僧問睦州。祖意教意。是同是別。州云。青山自青山。白雲自白雲。天童拈云。若向這裡識得睦州。釋迦出世。達磨西來。總是不守分底漢。還識得麼。臂長衫袖短。腳瘦草鞋寬。僧問洛浦。祖意教意。是同是別。浦云。日月並輪輝。誰言別有路。僧云。恁麼則顯晦殊途。是非一揆。浦云。但自不亡羊。何須泣歧路。丹霞頌曰。月篩松影高低樹。日照池心上下天。赫赫炎空非卓午。團團秋夜不知圓。會此。則日月不到處。別有一乾坤。豈沾沾宗教為活計者可擬哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  : Phật nói kinh này là pháp môn Tối Thượng Viên Đốn. Phật dùng một âm diễn pháp, tùy mỗi loại đều riêng hiểu, nên tùy chỗ chứng lượng đều được cái vui của pháp, hớn hở mà đi. Vì sao thế ? Tánh là cái vốn có, ai ai đều sẵn đủ.

Cho nên, Tổ Triệu Châu khai thị đại chúng rằng: “Xem kinh cũng ở trong sanh tử, chẳng xem kinh cũng ở trong sanh tử. Vậy các ông làm sao ra cho khỏi ?”

Một nhà sư bèn hỏi : “Vậy như trọn chẳng lưu lại thì sao ?”

Tổ Châu nói : “Thật vậy thì được, còn chẳng thật vậy làm sao ra khỏi sanh tử”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Xem kinh cũng ở trong sanh tử
Ngồi trong rá cơm không biết ăn
Không xem kinh cũng trong sanh tử
Ngập đời áo ấm không ai mặc
Bỗng nhiên chim khách kêu một tiếng
Quay thân nhảy nhót khắp nhà vui
Thôi suy nghĩ !
Như nay vất ra trước mọi người
Đại Bi ngàn tay không giở nổi !”.

Vị Tọa Chủ Tây Xuyên đến Ngài Hoa Nghiêm hỏi rằng : “Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay khác ?”

Ngài Hoa Nghiêm nói : “Như hai bánh của xe, như hai cánh của chim”.

Tòa Chủ nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn riêng có chỗ kỳ đặc, té ra chẳng ra ngoài giáo ý !”

Sau này, nghe Tổ Giáp Sơn giáo hóa thịnh hành, lại bảo đệ tử sang hỏi câu trên.

Tổ Sơn nói : “Chạm cát không đủ bàn chạm ngọc, đền ơn trái với ý đạo nhân !”

Đệ tử về kể lại với Tòa Chủ, vị này khen ngợi, hướng về phía Tổ Sơn làm lễ mà nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn và giáo ý chẳng khác, té ra có chuyện kỳ đặc”.

Há chẳng nghe có nhà sư hỏi Tổ Mục Châu : “Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay khác ?”

Tổ Châu nói : “Núi xanh tự núi xanh, mây trắng tự mây trắng”.

Ngài Thiên Đồng nêu rằng : “Nếu hướng về trong ấy biết được Mục Châu thì Thích Ca ra đời, Đạt Ma Tây sang đều là tay không biết thủ phận ! Lại biết được chăng ? Tay dài, ống áo ngắn; chân gầy, giày cỏ dư (rộng) !”

Có nhà sư hỏi Tổ Lạc Phố : “Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay khác ?”

Tổ Phố nói :
 
“Trời, trăng cùng xoay sáng
Ai nói có riêng đường”.

Nhà sư hỏi : “Như vậy thì sáng tối khác đường, phải quấy một lối ?”

Tổ Phố nói : “Chỉ tự chẳng quên dê, nào phải là đường rẽ !”


Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Trăng rọi bóng tùng, cây cao thấp
Nhật chiếu lòng ao, trời dưới trên
Rực rỡ đương không, chẳng chánh Ngọ
Đêm thu vành vạnh, biết chi tròn”.

Hiểu chỗ này thì chỗ mặt trời, mặt trăng chẳng đến, riêng có một Càn Khôn ! Đâu phải hạng bo bo Tông Giáo làm kế sanh nhai có thể nghĩ lường sao !


-------------------------------------------------------------------------------------------------

HẾT



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:52:14 AM »


MỤC LỤC

Lời Nói Đầu      
Tiểu sử Ngài Thubten Osall Lama (Nhẫn Tế Thiền Sư)   

PHẦN THỨ NHẤT : PHẦN TỰA

Duyên khởi của Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông   11

QUYỂN I    

Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng
Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Kinh Thủ
Lăng Nghiêm Tông Thông.   15
Tựa chung   27
Duyên khởi của kinh   39

PHẦN THỨ HAI : PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I : CHỈ BÀY CHÂN TÂM    57

Mục Một : Gạn Hỏi Cái Tâm   57
I.      Nguyên do của thường trụ và lưu chuyển.   57
II.      Chấp tâm ở trong thân   66
III.      Chấp tâm ở ngoài thân   75
IV.      Chấp tâm núp sau con mắt   79
V.      Chấp nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong thân   85
VI.      Chấp tâm hợp với chỗ nào thì liền có ở chỗ ấy   88
VII.      Chấp tâm ở chặng giữa   93
VIII.   Chấp tâm không dính dáng vào đâu tất cả   97

Mục Hai : Chỉ Rõ Tánh Thấy   101
I.      Cầu đi đến chỗ chân thật   101
II.      Phóng quang nêu ra tánh thấy viên mãn sáng suốt   103
III.      Hai thứ căn bản   105
IV.      Nương cái thấy, gạn hỏi cái tâm   109
V.      Chỉ rõ tính thấy không phải là con mắt   121
VI.      Ý nghĩa chủ và khách   140

QUYỂN II   

VII.      Chỉ tánh thấy không sanh diệt   155
VIII.   Chỉ chỗ điên đảo   166
IX.   Lựa bỏ tâm phan duyên để chỉ tánh thấy không
thể trả về đâu   178
X.      Lựa riêng trần cảnh để nêu ra tánh thấy   191

Mục Ba : Phật Nêu Ra Tánh Thấy Ngoài Các Nghĩa
“Phải” Và “Chẳng Phải”   211

I.      Nghi tánh thấy hiện ở trước mắt   211
II.      Chỉ ra không có cái gì tức là cái thấy   214
III.      Chỉ ra không có cái gì ra ngoài tánh thấy   215
IV.      Ngài Văn Thù kính xin Phật phát minh hai thứ   222
V.      Tánh thấy không có phải hay chẳng phải   226

Mục Bốn : Phá Những Thuyết Nhân Duyên, Tự Nhiên   238
I.      Nghi Tâm Tính Tự Nhiên Như Thần Ngã   238
II.      Chỉ ra không phải là tự nhiên   241
III.      Nghi là nhân duyên   244
IV.      Tánh thấy không phải là nhân duyên,
rời các danh, tướng   245
V.      Bác nhân duyên, tự nhiên   249
VI.      Chỉ thẳng tánh thấy   252

Mục Năm : Chỉ Ra Cái Vọng Thấy   257
I.      Xin chỉ dạy tánh thấy chẳng do thấy   257
II.      Chỉ ra hai thứ vọng thấy   260

Mục Sáu : Chỉ Rõ Ý Nghĩa Tánh Thấy Không Phải Là Cái Thấy, Viên Mãn Bồ Đề.   273

Mục Bảy : Tóm Thu Về Như Lai Tạng   291

I. Tóm Thu   291
A. Thu sắc ấm   296
B. Thu thọ ấm   302
C. Thu tưởng ấm   305
D. Thu hành ấm   308
E. Thu thức ấm   311


QUYỂN III   

F. Thu sáu nhập   315
G. Thu mười hai xứ   336
H. Thu mười tám giới   356
I. Thu bảy đại   383
II. Đốn ngộ Pháp thân và phát nguyện   426


QUYỂN IV   

Mục Tám : Chỉ Rõ Căn Nguyên Hư Vọng Và Tánh Giác Toàn Vẹn   457

I.   Ông Mãn Từ trình bày chỗ nghi   457
II.   Vô minh đầu tiên   460
III.   Nguyên nhân vọng thấy có thế giới   468
IV.   Chỉ rõ giác chẳng sanh mê   486
V.   Chỉ các đại có thể tương dung   490
VI.   Chỉ tánh Diệu Minh là Như Lai Tạng,
rời cả hai nghĩa “Phi” và “Tức”   497
Chỉ mê vọng không có nhân, hết mê là bồ đề   510
VII.   Lại phá xích nhân duyên, tự nhiên   522
A. Xưa nay không vọng   522
B. Đưa vào bồ đề   528


Mục Chín : Chỉ Nghĩa Quyết Định   535

I.      Các phép tu hành sau khi đốn ngộ, phát bồ đề tâm   535
II.      Tâm nhân địa   541
A. Xét rõ gốc rễ phiền não   558
B. Đánh chuông để thể hiện tính thường   594
1. Nghi căn tánh không có tự thể   594
2. Chỉ bày tánh nghe là thường trụ   598


QUYỂN V   

CHƯƠNG II : NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU   607

Mục Một : Nêu Ra Cái Căn Để Chỉ Chỗ Mê   607
I.      Xin khai thị cách cởi nút   607
II.      Mười phương Như Lai đồng một lời chỉ thị.
Sáu căn là đầu nút sanh tử và niết bàn   609
III.      Thấy rõ tánh của mối nút để tức thời giải thoát   612
IV.      Kệ tụng      617

Mục Hai : Cột Khăn Để Chỉ Mối Nút Và Cách Mở Nút   635
I.   Cột nút      635
II.   Cách mở nút   641

Mục Ba : Hỏi Đại Chúng Về Viên Thông   650
III.   Viên thông về thanh trần   653
IV.   Viên thông về sắc trần   658
V.   Viên thông về hương trần   662
VI.   Viên thông về vị trần   665
VII.   Viên thông về xúc trần   668
VIII.   Viên thông về pháp trần   672
IX.   Viên thông về nhãn căn   675
X.   Viên thông về tỷ căn   679
XI.   Viên thông về thiệt căn   681
XII.   Viên thông về thân căn   684
XIII.   Viên thông về ý căn   688
XIV.   Viên thông về nhãn thức   692
XV.   Viên thông về nhĩ thức   695
XVI.   Viên thông về tỷ thức   699
XVII.   Viên thông về thiệt thức   702
XVIII.   Viên thông về thân thức   706
XIX.   Viên thông về ý thức   710
XX.   Viên thông về hỏa đại   714
XXI.   Viên thông về địa đại   717
XXII.   Viên thông về thủy đại   721
XXIII.   Viên thông về phong đại   729
XXIV.   Viên thông về không đại   735
XXV.   Viên thông về thức đại   739
XXVI.   Viên thông về kiến đại   744


QUYỂN VI   

Mục Bốn : Viên thông về nhĩ căn   751

I.      Diệu lực vô tác thành tựu ba mươi hai ứng thân   755
II.      Bốn công đức vô uý   825

Mục Năm : Chỉ Pháp Viên Tu   860
I.      Phóng hào quang, hiện điềm
 lành   860
II.      Phật bảo Ngài Văn Thù chọn căn viên thông   863
III.      Lựa ra những căn không viên   864
IV.      Nhĩ căn viên thông hơn hết   909
Phụ Lục      958


QUYỂN VII   

CHƯƠNG III : PHẬT KHAI THỊ VỀ MẬT GIÁO   963
I.   Khai thị đạo tràng tu chứng   963
II.   Khai thị đạo tràng tu chứng   966
III.   Tuyên thuyết thần chú   972
IV.   Khai thị đây là tâm chú của mười phương Như Lai   976
V.   Sức của thần chú làm tiêu nghiệp chướng   981
VI.   Chú là phước đức như ý cho mình
và cho cả nước, bảo hộ cho người sơ học   987
VII.   Các thần hộ pháp phát nguyện bảo hộ rộng rãi   991

CHƯƠNG IV : KHAI THỊ CÁC ĐỊA VỊ TU CHỨNG   996

Mục Một : Khai Thị Hai Cái Nhân Điên Đảo

Và Ba Món Tiệm Thứ   996
I.    Ông Anan xin khai thị những danh mục,
   Thứ bậc tu hành   996
II.    Khai thị hai cái nhân điên đảo   998

QUYỂN VIII
   
III. Khai thị ba tiệm thứ tu tập   1031

Mục Hai : An Lập Các Thánh Vị   1044

I.      Càn tuệ địa   1044
II.      Thập tín      1046
III.      Thập trụ      1067
IV.      Thập hạnh   1088
V.      Thập hồi hướng   1110
VI.      Tứ gia hạnh   1132
VII.   Thập địa      1142
VIII.   Đẳng giác và diệu giác   1164

Mục Ba : Chỉ Dạy Tên Kinh   1175

I.      Hỏi về sự sanh khởi và nhân quả của lục đạo   1175
II.      Khai thị về phận trong, phận ngoài
   của chúng sanh   1194
III.      Chỉ ra mười tập nhân và sáu giao báo   1200
IV.      Không tu theo chánh giác : thành các thứ tiên   1238
V.      Các cõi trời   1245

QUYỂN IX   

V.    Các cõi trời   1251
A. Sắc giới   1251
B. Vô sắc giới   1265
C. Bốn giống A Tu La   1272

VI. Khai thị sự hư vọng của bảy loài để khuyên tu chân chánh   1274

VII. Phân biệt các ấm ma   1280
A. Nguyên do khởi các ma sự   1280
B. Phạm vi của sắc ấm   1286
C. Phạm vi của thọ ấm   1295
D. Phạm vi của tưởng ấm   1308

QUYỂN X   

E. Phạm vi của hành ấm   1331
F. Phạm vi của thức ấm   1379
VIII.  Sanh tử là vọng tưởng năm ấm mà có,
   lý tuy đốn ngộ, sự phải tiệm trừ.   1427

PHẦN THỨ BA : PHẦN LƯU THÔNG   1454

I.      Được phước, tiêu tội hơn cả   1455
II.      Trừ ma hơn cả   1458
III.      Lưu thông chung   

------------------------------------------

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:55:09 AM »


CHỈ MỤC   1483
   
—A—

A Bàng, 1206
A La Hán, 754
A Lại Da, 626
A Lại Da Thức, 628
A Na Hàm, 754
A Na Luật Đà, 584, 675, 676
A Tu La, 1272
Am Đề Già, 845
an, 553
An Dân, 1001
An Lăng Nghiêm, 616
An Ổn Tràng, 826
An Tâm, 71
An Tâm Pháp Môn, 498
Ác Báo, 1211
Ái Tình, 478
Án Tử, 270
áo lót, 450
Áp Quỉ, 1221
Áp Thắng Quỉ, 1312
Át Bồ Đàm, 478
âm thanh, 34, 35, 58, 73, 653, 862, 911, 914,
Ấm, 296, 1284, 1292
Ấn, 1176, 1177, 1178
ăn cháo, 1037
ăn uống, 372


—B—

ba ba, 36, 233, 1201
ba cái Không, 754
ba cân gai, 1131
ba con mắt, 776
ba cõi, 1271
Ba La Đề, 316
Ba Lăng, 324
Ba Tiêu Triệt, 1421
Ba Tuần, 772
Ba Tư Nặc, 157
Bá Trượng, 19, 22, 64, 253, 855, 1153
Bách Môn Nghĩa Hải, 289
Bách Trượng, 617, 647, 700, 752, 841, 867, 1027, 1086, 1192, 1199, 1459
bánh chiên, 1220
Báo Ân Minh, 244, 314, 1286
Báo Từ, 342
Bát Hoàn, 191
Bát Nhã Tam Muội, 570
Bát Thức Quy Củ, 81
Bà Sa, 221
Bà Tu Bàn Đầu, 708
Bàn Am Thành, 611, 705
Bàn Sơn, 743
Bàn Sơn Tích, 652, 819
bàn tay, 142, 143
Bàng cư sĩ, 480, 560, 803
Bàng Uẩn, 783
Bản Căn Thanh Tịnh, 854
Bản Diệu Viên Tâm, 503
Bản Giác, 1114
Bản Lai Chân Thật, 1109
Bản Lai Diện Mục, 20, 527
Bản Nhân, 187
Bảo Cảnh Tam Muội, 455
Bảo Chí, 711
Bảo Chưởng, 1408
Bảo Giác, 1413
Bảo Giác Kim Cương Vương, 632
Bảo Giác Nhất, 1112
bảo hộ, 1217
Bảo Hương, 46
Bảo Tư, 494
bảy hiền nữ, 659
Bạch Giao Hương, 970
Bạch Tán Cái, 15, 16
Bạch Tịnh Thức, 1007
Bạch Vân Đoan, 482
Bạt Quỉ, 1220, 1310, 1324
bất biến, 386
Bất Động Địa, 1158
Bất Động Tôn, 433
Bất Động Trí, 62
Bất Hoàn Thiên, 1259
Bất Hoại Hồi Hướng, 1112
Bất Hồi Tâm Độn A La Hán, 1266
Bất Nhị, 112, 796
Bất Sanh Bất Diệt, 531
Bất Thối Tâm, 1056
Bất Thối Trụ, 1079
Bất Tử, 221
Bất Tử Càn Loạn, 1354
bầy kiến, 887
Bắc Tông Tú, 1305
bắt hư không, 249
Biến Hành, 709
Biến Kế, 1357
Biến Kế Chấp, 741, 742
Biến Kế Điên Đảo, 1354
Biến Tịnh Thiên, 1253
Biến Tri, 1336
Biến Tri Hải, 1178
Biết Tâm, 605
biển, 446
Biện Thông, 1092
binh khí, 830
Bí Ma Nham, 1328
Bích Chi, 1416
Bít, 577
Bì Thọ, 289
Bình thường tâm, 518
bịt mắt, 580
bóng, 724
bóng trăng, 729
bỏ Vọng, 619
bọt nước, 175, 314, 446, 867
bố thí, 42, 502, 635, 850, 855, 856, 857, 949
Bố Thí Hương, 970
Bốn biển, 1418
Bồ Đề, 123, 156, 512, 516, 596, 614
Bồ Đề Chánh Giác, 530
Bồ Đề Hương, 971
Bồ Đề Tâm, 516
Bổn Giác, 111
Bổn Không, 798
Bổn Lai Diện Mục, 170, 819
Bổn Lai Không, 294
Bổn Lai Nhân, 1340
Bổn Tánh, 62
Bổn Tâm, 764
bổn thường, 1341
Bổn Tiên, 356
Bổn Tịnh, 552, 770, 1113
Bộc Hạ, 1092
Buông bỏ, 99, 950
Buồm xưa chưa căng, 1003
Bùi Hưu, 429, 848, 1094
Bủu Thọ, 411
bức sáo, 694
bức tranh, 429
Bửu Chí, 853
Bửu Giác, 352
Bửu Liên Hương, 1232
Bửu Minh Diệu Tánh, 172
Bửu Phước, 351, 580, 895, 1135, 1178
Bửu Thọ, 819


—C—

Ca Diếp, 811
Ca Tỳ Ma La, 817
Cam Chi, 42
Cam Chí, 1179
Cam Tùng, 970
cao, 719
Cách Vật, 586
cái Ấy, 149, 165, 198, 1181, 1219
cái hay suy nghĩ, 111
cái khố, 769
cái mai, 1391
Cái Năng Biết Suy Nghĩ, 110
cái Nghe, 696, 752, 909, 918
Cái như-vậy-đến, 751
cái Thân, 706
cái Thấy, 214, 693, 877
cái Tưởng, 110
cánh tay, 109
Cáo Tử, 186
Cát gạo, 1121
Càn Huệ, 29, 70
Càn Huệ Địa, 996, 1044, 1383
Càn Khôn Nhãn, 319
Càn Phong, 633, 1056
cày ruộng, 752
Cảm, 836
Cảm Xúc, 350
cãi vã, 1204
Câu Chi, 144
cây bách, 1003
Cây Bách trước sân, 657
cây đuốc, 677
cây không ảnh, 258
cây kim, 1179
cây Lăng Tiêu, 1049
Cây quạt, 633, 913
Cây Xuân, 454
Cần Na Bạt Đà, 827
cầu con, 856
cầu con gái, 844
cầu con trai, 843
cầu Đại Niết Bàn, 856
Cầu hư vọng, 1400
cầu Phật Pháp, 520
cầu sống lâu, 856
cầu tiêu, 680
cầu vợ, 856
Căn, 580, 610, 612, 923
căn bản của sanh tử, 119
Căn Bản Phiền Não, 559
Căn Bản sanh tử, 107
Căn Dâm, 1039
Căn Khí, 1052
Căn và Thức, 81
cha con, 750
cha mẹ xưa nay, 750
chánh, 879
Chánh Biến Tri, 174
Chánh Giác, 337
Chánh Giác Dật, 1144
Chánh Quán, 1170
Chánh Tâm Trụ, 1078
Chánh Tri, 1336
Chạm mắt là Bồ Đề, 225
Chân Căn, 1123
Chân Giới, 1062
Chân Không, 301
Chân Kiến, 147
Chân Lý, 1451
Chân Ngộ, 1190
Chân Như, 596, 627, 1107
Chân Như Nhất Pháp, 999
Chân Như Tướng Hồi Hướng, 1125
Chân Pháp Thân, 738
Chân Phát Minh Tánh, 61, 63
Chân Quán, 753
Chân Tam Ma Địa, 1004
Chân Tánh, 193, 199, 617, 629, 632
Chân Tâm, 52, 59, 65, 185, 1002
Chân Tâm Thường Trụ, 59, 71, 116, 151, 185
Chân Thật Hạnh, 1106
Chân Thật Ngữ, 220
chân thường, 1337
Chân Tín, 1048
Chân Tịnh, 1051, 1131
Chân Vô Chân, 1411, 1413
Châu Ký, 1178
Châu Lợi Bàn Đặc Ca, 679
Châu Như Ý, 519
Chấp Không, 1403
chấp thọ, 1340
chăn trâu, 888
Chẳng ăn nhằm, 267
Chẳng làm, 1064
Chẳng mất, 1064
chẳng ngờ, 225
Chẳng phải, 734
che đậy, 1204
che mắt, 26
chết, 1209
Chiên Đàn, 970
chiếc dép, 1362
Chiếu, 632
Chiếu Hành Tiên, 1239
chim Trĩ, 1238
chim tu hú, 343
Chí Công, 123, 795, 980
Chí Đạo, 1376
Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng, 1116
Chí Triệt, 1348
Chín bậc Định, 121
Chính Tính, 1037
chỉ, 553, 1291
Chỉ Quán, 1291
Chỉ Về Tịnh Độ, 748
Chỉ Y, 555
chồn, 1192
chổi, 680
chỗ an trụ, 1224
Chỗ thấy, 885
Chơn, 618, 756
Chơn Chủ Nhân, 183
Chơn Kiến Tinh, 189
Chơn Như Triết, 209
Chơn Tâm, 183
Chơn Viên Thông, 847
Chu, 140
Chung Ly Quyền, 1243
chuông, 78, 598
chuỗi ngọc, 773
chuột, 1441
chuyển Thức, 629
chuyển vật, 208, 209
Chuyển Y, 1000
Chú, 17, 981
Chú Đại Bi, 853
chúng sanh, 512, 614, 1006, 1169
Chúng Sanh Trược, 547, 1335, 1441
Chùa xưa một lư hương, 324
Chủ Nhơn Ông, 151
Chủ trong Chủ, 152
Chương Kính, 285
Chướng, 125
Chướng Tế, 994
Chứng Đạo Ca, 962
Chứng Minh, 654
Chửi mắng, 840
chữ thập, 128
chữ Vạn, 128
chữ Y, 774
Chữu, 680
con chim, 313
con cho là giặc, 626
con chó, 1357, 1359
con cọp, 848
con hát, 704
con heo, 1093
con khỉ, 83
con lừa, 1079
con mắt lẻ, 19, 1390
con mèo, 945
con rắn, 946
con rồng một mắt, 248
con sò, 781
con trăn, 817
Con trùn, 418, 485
con trùng, 717
cong nịnh, 956
Có và Không đều chẳng phải, 1369
cõi Trời, 1246
công đức, 539, 564
công đức Vô Uý, 825
Cốc Ẩm Thông, 208
Cổ Độc Quỉ, 1220, 1312, 1324
Cổ Linh, 1004
Cổ Phong Kiền, 236
cột phướn, 777
cuốn Tây Sương Ký, 580
Cúng dường, 40, 41, 856
của báu, 836
Củng cố vọng thân, 1405
Cụ Túc Trụ, 1076
cục đất, 896
cướp, 66
Cưu Ma La Thập, 837
Cứt, 1407
cửa, 55, 743
cửa Tín, 537
Cửu Phong Kiền, 556, 1071
Cửu Phụng Mãn, 1431


—D—

danh mục, 1139
dâm, 714, 937
Dâm, Nộ, Si, 840
Dâm Dục, 46, 48, 1038, 1201
Dâm Nộ Si, 806
dâm nữ, 307
Dâm Tập, 47
Dâm Thần, 843
dép cỏ, 990
dẹp Trần, 92
dễ, 1014
Di Lặc, 715, 739, 1160, 1205, 1262
Diêm La, 1206
Diêm Quan, 832
Diêm Vương, 832
Diên Thọ Đường, 1223
Diễn Nhã Đạt Đa, 511
Diệm Huệ Địa, 1148
Diệt, 157, 158, 578, 1448
Diệt Tận Định, 585
Diệu, 465, 539, 631
diệu âm, 508
Diệu Dụng, 24
Diệu Đức, 1088
Diệu Giác, 422, 486, 1165, 1167
Diệu Giác Minh Thể, 291
Diệu Hỉ, 1184
Diệu Hữu, 389
Diệu Hỷ, 1328, 1398
Diệu Lực Vô Tác, 823, 825
Diệu Minh, 172
Diệu Minh Chân Tâm, 171
Diệu Minh Nguyên Tâm, 186
Diệu Phong, 1135
Diệu Quang, 442
Diệu Sắc, 659
Diệu Tịnh, 116
Diệu Tịnh Minh Tâm, 129
Diệu Tổng, 985
Diệu Trạm, 430, 453, 1053, 1086
Diệu Trạm Tổng Trì, 1444
Diệu Viên, 1046
Dị Kiến, 315
Dịch Sử Quỉ, 1221
dỗ trẻ, 506
Du Đạo Bà, 794
du-tư, 1294
Dung mạo, 1078
Duy Cửu, 672
Duy Đà, 1206
Duy Khoan, 1359
Duy Ma Cật, 49, 805
Duy Tâm, 308, 348, 424, 742, 1382
Duy Tâm Thức, 740
Duy Tâm Tịnh Độ, 751
Duy Thắng, 913
Duy Thức, 348, 424, 740, 742, 1382
Duyên Giác, 765, 1417
Duyên Sanh, 289
Dũng Tuyền Hưng, 1039
Dục, 483, 1248, 1254, 1326
dục chướng, 837
Dục Giới, 1205, 1259
Dục Sắc, 1304
Dục Vương Dụ, 1124, 1126
Dụng, 696, 923
dụng tâm, 208
Dương Kiệt, 749
Dương Tử, 1021
Dược Sơn, 26, 732, 829, 1063, 1217
Dược Thượng, 665
Dược Vương, 665


—Đ—

đao, 249
đau, 885
đám táng, 819
đánh trống, 1390
Đà La Ni, 974
Đà Na Thức, 1424
Đàm Dực, 697, 1238
Đàm Tử, 1396
đàn, 508
Đả Địa, 720
Đản Sanh, 1073
Đảnh Địa, 1134
Đảnh Tướng, 19
Đảo Hoá, 1401
Đảo Tri, 1395
Đảo Viên, 1392, 1394
Đại, 1182
Đại An, 1153
Đại Châu, 520, 879, 1397
Đại Điên, 182
Đại Đồng, 836
Đại Đồng Tế, 480
Đại Giác, 866
Đại Huệ, 136, 1099, 1104
Đại Hùng, 446
Đại Không, 848
Đại Lãng, 113
Đại Lực Quỉ, 1315, 1324
Đại Mai, 506, 611
Đại Ngu, 666
Đại Nhuận, 140
Đại Ninh Khoan, 1155, 1394
Đại Phạm Thiên, 1251
Đại Phật Đảnh, 16
Đại Quy, 889
Đại Thế Chí, 744
Đại Thừa Chung Giáo, 705
Đại Tuỳ, 698
Đại Tùy Chân, 1033
Đại Viên Cảnh Trí, 172, 626, 1007
Đại Vọng Ngữ, 952
Đạo, 157, 462, 467, 517, 543, 567, 596, 670, 708, 733, 749, 795, 879, 956, 1021, 1023, 1113, 1169, 1173, 1384, 1451
Đạo Chánh, 1387
Đạo Hành Tiên, 1239
đạo hóa chất, 1239
đạo khí tinh, 1239
Đạo Ngô, 592, 725, 810
đạo nhân, 1448
đạo nhân Vô Tâm, 41, 43
Đạo Quỳnh, 1362
Đạo Thai, 1076
Đạo Tham, 483
Đạo Thụ, 1460
Đạo Thư, 1393
Đạo Tín, 23, 551, 766
đạo tràng, 964, 967
đạo tràng vô tướng, 1366
đạo-ăn, 1238
đạo-thuốc, 1238
Đạt Ma, 539, 758
Đạt Quan, 1209
Đất, 473, 773
đầu, 1070, 1071
đầu mối, 537
Đầu sào, 240, 336
Đầu Tử, 25, 310, 357, 1157, 1181
đắc, 553
Đẳng Giác, 996, 1164, 1168
Đẳng Hoạt, 1206
Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng, 1114
Đặng Ẩn Phong, 711
đèn, 135, 136
Đế Thích, 771
Đệ Nhất Nghĩa Tối Thượng, 614
điên, 527
điên đảo, 167, 169, 1006, 1011
điên đảo tưởng, 434, 1010
Điên Hoá, 1399
Điều Đạt, 1457
điểu đạo, 169
đỉnh côi, 1416
Đỉnh Đoạ, 1135
Địa, 1168
Địa Đại, 388, 895
Địa Hành Tiên, 1238
địa ngục, 1189, 1205, 1209, 1278, 1279, 1457, 1458
Địa Tạng, 216, 1270
định, 553, 604, 904, 934, 1133
Định Huệ, 935
Định Hương, 970
định nghiệp, 836
Định Sơn, 294
Định Tâm Trụ, 1053
Định Thủ Lăng Nghiêm, 647
Đoan Nguyện, 1209
Đoan Nham, 1295
Đoan Sư Tử, 103, 190
đoạn diệt, 597, 1372, 1403
Đoạn Thực, 1035
Đông Kinh Tuấn, 1158
Đông Minh Thiên, 509
Đông Tự Hội, 507, 521
Đốn, 16, 623, 1428, 1451, 1452
Đốn Giáo, 705
Đốn Môn, 71, 291, 513, 633
Đốn Ngộ, 51, 70, 572, 1042
Đốn Viên, 1451
đốt tượng Phật, 1307
Đồng, 468, 1096, 1145
Đồng An, 1459
Đồng An Chí, 1141
Đồng An Phi, 1141
Đồng Chân Trụ, 1081
đồng gốc, 218
độ, 1111
Độc Giác, 765, 1417
Động, 577
Động Sơn, 151, 169, 329, 438, 645, 724, 749, 861, 1229, 1365, 1436
Động Sơn Lẫm, 887
Động Sơn Thuyên, 1279
đơn, 1167
Đơn Hà, 225, 1307
Đợi giả dối, 1400
đuôi, 1070, 1071
Đười ươi, 83
đường hiểm, 835
Đức, 696
Đức Mã Tổ, 113
Đức Sơn, 450, 677, 1121, 1181


—G—

gai độc, 684
gậy, 816, 1271, 1394
gậy chảng-hai, 1328
gặp Phật nói Phật, 824
gặp việc, 553
Gia Hạnh Diệu Viên, 1132
Giao Báo, 1200, 1211
Giá Nghiệp, 707
Giác, 447, 489, 1022, 1133, 1262
Giác Hải, 129
Giác Minh, 465, 472, 477, 580, 592
Giác Phạm, 661
Giáo, 780
Giáo-Ý, 1461, 1462
Giáp Sơn, 92, 256, 294, 295, 725, 798, 1128, 1173, 1462
Già Da Xá Đa, 900
giải thoát, 605, 609, 615, 620, 771, 1107, 1200, 1447
Giải Thoát Hương, 970
Giải Thoát Tri Kiến Hương, 971
giã gạo, 243
giãy cỏ, 655
giận dữ, 840
giặc, 118, 561, 562, 574, 589, 835
giếng, 739
gió, 406
gió động, 900
gió kêu, 900
giọt mưa, 207, 658
giọt nước, 670
Giới, 358, 934, 937
Giới Định Huệ, 936
Giới Hạnh, 707, 1040
Giới Hương, 970
Giới Luật, 29, 1062
Giới Tâm Trụ, 1062
giữ Giới, 890
gông, 834
gông cùm, 833
gỗ đá, 1199


—H—

Hạo Nguyệt, 974
Hàn Sơn, 228
Hàn Tông Cổ, 1452
hàng ma, 1306
Hàng Ma Tạng, 1305
hàng thịt, 819
Hành, 907
Hành Ấm, 549, 1331, 1440, 1445, 1446
hành dâm, 715
Hành khất, 43
Hành Xương, 1346
Hải Ấn, 508
Hải Ấn Tín, 1391
Hải Cự Xuyên, 140
Hải Triều Âm, 910
Hải Yến, 324
Hạ Ỷ, 352
Hạc Lặc, 843, 1248
Hạnh, 742, 1072
Hạnh Vô Niệm, 570
Hạo Nguyệt, 293, 418, 756
Hậu Đắc Trí, 747
Hậu Thiện, 841
hét, 705
hiến nhạc, 811
Hiến Tông, 1259
Hiển, 756
Hiển Đoan, 1055
Hiện Nghiệp, 1040
hiện tại, 1448
Hiện Tiền Địa, 1153
Hiện Tử, 944
Hoa, 771
Hoa Dược Lan, 1398
hoa đào, 661
Hoa Lâm, 847
Hoa Lâm Giác, 1087
Hoa Nghiêm, 971, 1461
Hoa Nghiêm Tịnh, 945
hoa vàng, 1396, 1397
Hoan Hỉ Địa, 1142
Hoan Hỷ Hạnh, 1088
Hoá Thơ, 1396
Hoài Nhượng, 21, 542, 544
Hoàn Nguyên Quán, 1447
Hoàng Bá, 17, 122, 292, 430, 434, 515, 619, 622, 629, 738, 869, 920, 997, 1111, 1115, 1165, 1192
Hoàng Bách Huệ, 891
Hoàng Long, 99, 951, 1243
Hoàng Long Chấn, 568
Hoàng Long Nam, 839
Hoàng Sơn Cốc, 663
Hoắc Sơn Thông, 1329
Hoằng Nhẫn, 1076
Hóa Sanh, 1074
Hỏa Đại, 398, 897
Hỏa Đầu, 714
Học Đạo, 1133, 1224
Hối Đường, 664, 1452
Hồ Đinh Giao, 411
hồ Động Đình, 402
Hồ râu đỏ, 1193
hồ sen, 370
Hồi Hướng Tâm, 1059
Hồi Tâm Đại A La Hán, 1265
Hỗn độn, 1337
Hộ Pháp Tâm, 1057
Hộ Quốc, 750
Hội Thông, 524
hột cải, 210
hột gạo, 125, 243
hơi thở, 699, 879
Hợp, 90, 578
Huân Lục, 970
Huệ, 604, 934, 1133
Huệ Hương, 970
Huệ Minh, 20
Huệ Năng, 1080
Huệ Nhân Không, 1445
Huệ Pháp Không, 1445
Huệ Siêu, 277, 1116
Huệ Sơn, 1362
Huệ Tâm Trụ, 1052
Huệ Tín, 584
Huệ Trung, 27, 138, 489, 495, 1049, 1350, 1396, 1433
Huệ Tư, 11, 1112
Huệ Vô Ngại, 618
Huyền Chỉ, 911
Huyền Giác, 674
Huyền Sa, 279, 342, 348, 364, 683, 687, 902, 946, 1227, 1407
Huyền Sách, 1054
Huyễn, 756
huyễn sư, 921, 922
Huỳnh Bá, 206
Huỳnh Long Tân, 908
Huỳnh Sơn Cốc, 881
Hư Không, 172, 472, 491, 736, 866, 1285, 1286
Hư Không Tạng, 735
Hư Vọng Phân Biệt, 1010
Hưng Dương Phẩu, 375
Hương, 577, 872, 971
Hương Lâm Viễn, 266
Hương Nghiêm, 662, 1084
Hương Nham, 1384
Hương Trần, 344, 662
hướng thượng, 357, 500, 929, 1337
Hướng Thượng Nhất Lộ, 65
Hưu Xá, 826
Hữu Biên, 1348
hữu hạn, 871
Hữu Học, 765, 923
Hữu Ngôn, 1370
Hữu Ngộ, 1223
Hữu Tình, 352
Hữu Tướng, 759
Hữu Vi, 1257


—K—

kép, 1167
Kê Thiệt, 970
Khai Thiện, 793
Khai Tiên Chiếu, 1372
Khác, 468, 1096, 1145
Khách, 140, 150, 182
Khách Trần, 140
Khánh Lăng, 657
Khánh Thiện Năng, 1017
Khắc Cần, 1130
Khắp Thân, 592
Khẳng, 1341
khéo, 640
khinh khi, 1232, 1234
khỉ, 1230
Kho báu, 520
kho bí mật, 774
Khoát Công, 940
khó, 1014
Khô Mộc Thành, 869
Không, 445, 1262
Không có Quỉ, 1223
Không Đại, 409, 424, 902
Không Giác, 753
Không Hành Tiên, 1239
không mặt mũi, 820
không một vật, 292
Không nhớ, không niệm, chớ vọng, 603
Không Vong, 1404
Không Xứ, 1266
khổ, 1210
Khổ nhọc lâu dài, 1405
Khổng Tử, 63, 647
khởi diệt, 560
Khuê Phong, 1094, 1450, 1451
Khuyên Tu, 654
khúc củi, 870
Khương Sơn Phương, 433
kiêu mạn, 1201
Kiến Chấp, 1342
Kiến Đại, 413, 416, 424
Kiến kiến chi thời, 252
Kiến Phần, 171, 612
Kiến Tánh thành Phật, 195
Kiến Tinh Minh Nguyên, 186
Kiến Trược, 546, 1437
Kiến Xư, 131
Kiếp Trược, 546, 1433
Kiều Phạm Bát Đề, 681
Kiều Thi Ca, 771
Kiều Trần Na, 140
Kim Cang Tề, 994
Kim Cương Càn Huệ Địa, 1422
Kim luân, 472
Kim Ngưu, 1036
Kim Phong Chí, 1020, 1418
Kim Xí Điểu, 815
Kinh, 25
Kinh Hoa Nghiêm, 1130
Kinh Kim Cương, 1232
Kinh Niết Bàn, 1329, 1376
Kinh Thư, 858
Kinh-Tượng-ma, 1307
Kính Sơn, 586, 1042
Kính Sơn Khâm, 176
Kính Thanh, 207, 1337
Kỳ Lâm, 1306
Kỳ Vực, 1237


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Tư 24, 2011, 10:58:39 AM »

(tiếp và hết)

—L—

La Hán Sâm, 580
La Hầu Đa La, 904
La Sơn Nhàn, 560
Lang Nha Giác, 459, 1439
lau gác nhau, 621
lá rụng, 1403
là Bồ Đề Tâm, 516
làm trò, 576
lãnh nhận, 836
lãnh thọ, 304, 1436
lạc, 1192
Lạc Phố, 125, 227, 1462
Lạc Phổ, 41, 1127
Lại Dung, 23, 527
Lạnh, nóng, 329
Lâm Tế, 387, 440, 517, 667, 678, 813, 824, 839, 851, 859, 876, 1052, 1117, 1122, 1151, 1306
Lăng Già, 629
Lặc Đàm Thâm, 1223
lễ tháp miếu, 1307
Lệ Quỉ, 1220, 1314, 1324
Liên Hoa, 1415
Liễu, 16
Liễu Nghĩa, 20
Liệt Tử, 922
Linh Ẩn, 1223
Linh Chi, 972
Linh Chiếu, 803
Linh Lăng, 970
Linh Sơn, 11
Linh Thọ, 1050
Linh Vân, 60, 661, 1337
Lìa, 578, 1125
Long Đàm, 677
Long Đàm Tín, 589
Long Nha, 669, 1133
Long Nha Độn, 1441
Long Nữ, 808
Long Tế, 165
Long Thắng, 396
Long Thọ, 25, 298, 818
Lỗ Tổ, 1401
Lộ Khẩu, 624
lời, tiếng, 1022
Lợi Sơn, 437
Luận Bảo Trượng, 742
Luận Biến Thường, 1338
luận Niết Bàn, 1374
Luật, 28
Luật Nghi, 963
Luật Nghi Giới, 891
Luyện Sư, 796
Lục Độ Vạn Hạnh, 1165
Lục Hợp, 313
Lục Nhập, 315
Lục Thông, 813
Lục Tổ, 20, 21, 112, 155, 499, 531, 570, 690, 851, 884, 900, 935, 1055, 1058, 1067, 1080, 1091, 1162, 1346, 1376, 1425
Lục Tuyên, 313, 1045
Lục Tuyệt Sư Tử, 980
Lục Xứ, 315
Lư Ba, 1177
Lương Võ Đế, 539
Lưỡi, 880
Lưu Kinh Thần, 1021, 1143
Lưu Ly Quang, 729
Lưu Thiết Ma, 791
lừa, 739
lừa gạt, 1203
lừa mù, 679
lửa, 266, 716, 898
lửa dục, 898
lửa lớn, 827
lửa Trí Huệ, 714
Lữ Động Tân, 1243
Lữ Nham, 1243
Ly Cấu Địa, 1145
Ly Si Loạn Hạnh, 1094
Lý, 553, 584, 742, 1448
Lý, Trí, Hạnh, 959
Lý Bột, 210
Lý Hạo, 787
Lý Pháp Giới, 1131
Lý tuy là đốn ngộ..., 555
Lý Văn Công, 829


—M—

Ma, 1283, 1305, 1326, 1327, 1328, 1329, 1412
Ma Cốc, 406, 734, 851
Ma Da, 857
Ma Hê Thủ La, 1390
ma nghiệp, 1458
Ma Sự, 1280
Ma Vương, 611, 994, 1327, 1328
mài gạch, 543
Mã Minh, 62, 178, 200, 432, 469, 505, 626, 999
Mã Thắng, 693
Mã Tổ, 148, 300, 506, 520, 542, 700, 704, 784, 795, 874, 1106
Mạc Tương, 680
Mạn, 1303
Mạng Căn, 1383
Mạnh Tử, 1021
Mạt Già Lê, 1336
Mạt Sanh, 1074
Mạt Sơn, 624
mâm đồng, 180
Mân Súy, 1178
mây trắng, 235, 1462
mất cái thân, 684
mẫu đơn, 427
Mật, 16, 20, 652
Mật Ngữ, 22, 652
Mật Sư Bá, 1229
mật truyền, 148
Mật Ý, 22
mật-mật ý, 1181
mắt, 360, 583, 1448
mắt nhặm, 263, 1278
mặt trăng, 178, 180, 232
mặt trời, 492
Mê, 486, 514
mê mờ, 1192
mê trong mê, 175
Mê trong Ngộ, 172, 174, 175
Mệnh Trược, 547, 1380
miếng ngói, 655
Minh, 465
Minh An, 1366
minh bạch, 462, 464
minh châu, 521
Minh Chiêu, 248
Minh Diệu, 463
Minh Đạo, 1021
Minh Đế, 102, 184, 185, 239
Minh Giác, 580
Minh Giáo Tung, 966
Minh Tánh, 186
Minh Tâm Diệu Tinh, 186
Mộc, 1295
Mộc Bình Đạo, 867
Một, 573
Một Đêm Giác, 675
một pháp, 1271
Một Phần Thường, 1343
Một tức Sáu, 639
Một Vị Thiền, 666
Một-ngón-tay-Thiền, 233
mơ mơ màng màng, 1387
Mở, 608, 641
Mở mắt, 1328
mở miệng, 1137
Mở nút, 623
mu, 1407
muôn tượng, 217, 218
múa rối, 922
mùi hôi, 680
mũi, 700, 878
Mục Châu, 537, 687, 1219, 1462
Mục Chủ, 1177
Mục Kiền Liên, 34, 710
Mười Tám Giới, 356
Mười Thân, 1081
Mỵ, 1317
Mỵ Quỉ, 1220, 1311, 1324


—N—

Na Tra, 780
Nam Công, 778
Nam Dương Trung, 770
Nam Đường, 681
Nam Đường Tỉnh, 680
Nam Nhạc, 375, 991, 1111
Nam Tuyền, 313, 406, 427, 467, 507, 888, 945
Nan Thắng Địa, 1150
này vốn Chơn, bởi tùy Vọng Tưởng, 231
Nạo Sạch, 1039
Năm Uẩn, 1378
Năng, Phi Năng, 1388
Năng Sự, 1388
Năng Vi, 1388
Nga Hồ, 1259, 1294
Ngã, 628
Ngã Kiến, 626, 627
Ngạ Quỉ, 1221
Ngậm mõm chó lại !, 1435
nghe, 886
Nghe cái tự nghe, 918
nghe Tự Tánh, 925
nghèo, 656
Nghi Thức, 45
Nghiêm Dương, 99
nghiệp chướng, 294
nghiệp quả, 512
Nghiệp Thông, 813
nghiệp thức, 261
Nghĩa Hải, 129
nghĩa quyết định, 934
Ngoan Không, 172, 410
Ngoại Sắc, 172
ngón tay, 179, 180, 508
ngón tay Thiền, 145
Ngọa Luân, 1080
ngọc ma-ni, 519
ngọn lửa, 399
ngôn ngữ, 464
Ngộ, 485, 486, 489, 498, 527, 652, 716, 1109, 1286, 1451
Ngộ Bổn, 509, 832
ngộ ở trong ngộ, 174
ngộ tánh nước, 669
Nguyên Am Từ, 892
Nguyên Khí, 879
nguyên minh, 865
Nguyện Tâm Trụ, 1064
Nguyệt Quang, 721
Nguyệt Thượng Nữ, 844
Ngũ Duệ, 149
Ngũ Đài Sơn, 228
Ngũ hành, 474
Ngũ Thông, 1039
Ngũ Tổ, 586, 1076, 1223
Ngũ Tổ Diễn, 922, 1119, 1122, 1138
Ngũ trược, 441
Ngũ Vân, 28
Ngũ Vị Thiền, 666
Ngũ Vị Vương Tử, 1073
Ngụy Sơn, 861
người huyễn, 632
người mù, 180
người xuất gia, 280
Ngưỡng Sơn, 38, 84, 128, 129, 130, 261, 263, 334, 339, 440, 441, 521, 570, 656, 682, 683, 712, 719, 769, 1047, 1061, 1083, 1097, 1160, 1329, 1438
Ngưỡng Sơn Dũng, 476
Ngưu Đầu, 1206
Ngưu Đầu Dung, 765, 1091
Ngữ Lục, 254
Nham Đầu, 53, 775, 940
Nham Đầu Khoát, 1179
nhánh lau, 612
nhà tắm, 671
Nhàn Lâm An, 1112
nhảy múa, 811
Nhãn Căn, 564
Nhãn Nhập, 318
Nhãn thức, 884
Nhãn Thức Giới, 358
Nhạt, 577
Nhân Duyên, 522, 523, 525, 1428
Nhân Địa, 239
Nhân Địa Phát Tâm, 541
Nhân Không, 638, 646
nhân quả, 1192
Nhân Sở Nhân, 1385
Nhân Vị, 1047, 1161
Nhân Y, 1392
nhất diệt, 627
Nhất Tâm, 924, 962, 1169
Nhất Thiết Trí, 108
Nhất Thiết Xứ Giải Thoát, 1027
nhất-điên-ca, 952
Nhẫn Địa, 1137
Nhẫn Hương, 970
Nhậm lẹ, 663
nhận bố thí, 856
nhận giặc, 110, 1452
nhận giặc làm con, 626
nhận lãnh, 114, 733
Nhập Địa, 996
nhập định, 1054
nhập Phật Tri Kiến, 536
Nhắm mắt, 1328
Nhiêu Ích Hạnh, 1090
nhiếp phục, 382
nhiếp tâm, 887, 934, 937
Nhĩ Căn, 564
Nhĩ Nhập, 321
Nhĩ Thức Giới, 361
Nhị Thiền, 1252
Nhị Tổ, 940
Như, 18
Như Hội, 133
Như Huyễn, 755
Như Lai Mật Nhân, 1180
Như Lai Tạng, 291, 503
Như Lai Tạng..., 501
Như Lai Thanh Tịnh Thiền, 1109
Như Lai Thiền, 657
Như thị, 27
Niết Bàn, 392, 596, 609, 616, 633, 1447
Niết Bàn Diệu Tâm, 530
niệm, 1373, 1437, 1445
niệm Phật, 907, 908
Niệm Phật Tam Muội, 745, 749
Niệm Tâm, 1049
Niệm Tâm Trụ, 1048
Noãn Địa, 1132
Noãn Pháp, 1262
Noãn sanh, 480
nón, 144
nóng giận, 1202
Nội Sanh, 1075
Nội Sắc, 173
Nội Trần, 875
núi sông, 494
Núi xanh, 60, 236, 670, 1462
Nút, 608, 636, 645
nút sanh tử, 610
Nước, 473, 721
nước lớn, 827
nước Quỷ, 828


—O—

oán giận, 838
Ô Sào, 524
Ô Sắc Ma, 47
Ô Sô Sắt Ma, 714
ôm Phật ngủ, 73, 1022
Ôn Lăng, 312
Ôn Tháo, 1451
ốc, 1295
Ối, 452


—P—

phận vị, 1348
Phá Táo Đọa, 821
pháp, 256, 578, 617, 620, 875, 883, 1146, 1173
Pháp Âm, 703
Pháp Bổn, 1264
Pháp Chân, 796
Pháp Chấp, 646
Pháp Cư, 668
Pháp Diễn, 586
Pháp Đăng, 1119
Pháp đục, 841
Pháp Giới, 1131
Pháp Giới Tánh, 975
Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng, 1130
Pháp Hoa, 697, 747
Pháp Hương, 970
Pháp Không, 646
pháp môn Giải Thoát, 551
Pháp Ngộ, 836
Pháp Nhãn, 180, 216, 359, 494, 567, 670, 725, 742, 890, 1116, 1123, 1371
Pháp Thân, 112, 434, 435, 437, 449, 453, 454, 725, 736, 1056, 1376, 1407
Pháp Thí, 42
Pháp trần, 353, 673, 875
Pháp trong, 841
Pháp Vân Địa, 1161
Pháp Vương Pháp, 33
Pháp Vương Tử Trụ, 1083
pháp yếu Đốn Ngộ, 647
Phát Quang Địa, 1147
Phát Tâm, 536, 538
Phát Tâm Trụ, 1067
phải, 734
Phản Văn, 826, 962
Phạm Âm, 910
Phạm Chúng Thiên, 1251
Phạm Hạnh, 708
Phạm Phụ Thiên, 1251
Phạm Tuân, 671
Phạm Vương, 770
Phần Dương, 587, 838
Phần Dương Chiêu, 1081
phận ngoài, 1194
phận trong, 1194
Phật, 24, 64, 114, 138, 148, 195, 315, 428, 489, 499, 515, 611, 614, 617, 622, 767, 876, 918, 926, 1108, 1111, 1113, 1115, 1131, 1137, 1146, 1153, 1154, 1165, 1169, 1173, 1328, 1329, 1430
Phật Ân, 439, 441
Phật Đại Thắng Đa, 758
Phật Đại Tiên, 758
Phật Đạo, 1404
Phật Địa, 1120
Phật Giác, 1132
Phật Giám, 266, 1185
Phật Hải, 1274
Phật Nhật Tài, 317
Phật oan, 1459
Phật Pháp, 524, 580, 624, 729, 1115
Phật Quang Mãn, 428
Phật Tánh, 62, 83, 112, 114, 316, 444, 447, 627, 716, 915, 1104, 1346, 1351, 1357, 1359
Phật Tâm, 444
Phật Thân, 758
Phật Tỳ Bà Thi, 442
Phật-Tổ-ma, 1307
Phi Hành Tiên, 1238
Phi Phi Tưởng Xứ, 1266
Phi Thiên, 1272
Phi Thị, 223
Phi Tư Lượng, 383
phiến đá, 219
phiền não, 139, 156, 499, 559, 1218, 1323, 1438, 1452
Phiền Não Trược, 546, 1323
Phong Can, 228
Phong Đại, 899
Phong Huyệt, 816, 1176
Phong Huyệt Chiểu, 31, 639
Phó Đại Sĩ, 73, 78, 200, 433, 1234
Phòng Dung, 11
Phổ An, 579
Phổ Hiền, 695, 697, 698, 859, 926, 929
Phổ Minh, 865
Phú Lâu Na, 702
Phúc Ái Thiên, 1253
Phúc Sanh Thiên, 1253
Phù Dung, 1014
Phù Trần Căn, 362
Phụng Lâm, 1151
Phương tiện, 868
phước, 1454
phướn động, 900


—Q—

Quan Âm, 858, 926, 929
Quan Âm Tam Muội, 859
Quan Công, 777
quan tài, 790
Quan Thế Âm, 858, 917, 927
Quang Âm Thiên, 1252
Quang Dũng, 1079
Quang minh tịch chiếu, 640
quá khứ, 1448
Quách Công Phủ, 481
Quái Quỉ, 1220, 1309
Quán, 751, 1170, 1291
Quán Âm Nhập Lý, 752
quán Âm Thanh, 826
Quán Đảnh Chương Cú, 24
Quán Đảnh Trụ, 1084
Quán Đảnh..., 1184
Quán Khê Nhàn, 623
Quán Thế Âm, 47, 592, 751, 758, 764
Quả Địa Giác Ngộ, 541
Quảng Lợi Dung, 1102
Quảng Pháp, 1069
Quảng Quả Thiên, 1256
quạ kêu, 604
quạt, 406
Quận Thú, 481
Quật Đa Tam Tạng, 767
que cứt khô, 1131
quét đất, 142
Quỉ, 1227
quỉ núi rừng, 1324
Quỉ Thần Rừng Núi, 1316
Quốc Thanh Tịnh, 381
Quy Ngưỡng, 1122
Quy Ngưỡng Tông, 1088
Quy Sơn, 247, 266, 334, 450, 571, 572, 682, 715, 719, 1047, 1060, 1083, 1087, 1097, 1329, 1438, 1448
Quy Tông, 210, 481, 666, 911
Quy Vô Quy, 1403
quyên gạo, 1091
Quyền Trí, 644


—R—

rỉ chảy, 567
Rồng, 808
Rồng ngâm, 1384
ruộng, 719
rượu, 372
rửa chén, 1037


—S—

sa di, 657
Sa di Cao, 732
sa môn, 174, 674, 1107
Sam Sơn, 327
Sanh, 157, 158, 578, 845, 1448
Sanh Lão Bệnh Tử, 60
Sanh Quý Trụ, 1072
sanh ra, 158
sanh tử, 295, 825, 1174, 1447
sanh vô sanh, 1399
sau khi chết có tướng, 1360
sau khi chết không có Tướng, 1364
Sám Hối, 966
Sáng, 577
Sáng suốt, 1148
Sát, 941
Sát, Đạo, Dâm, 483, 1038, 1275
sát na, 892
Sáu, 573
sáu cửa, 357
sáu tên giặc, 560
Sáu tức Một, 639
Sân, 838
Sắc, 445, 577, 863, 1262, 1448
Sắc Ấm, 1286, 1445, 1446
Sắc Cứu Cánh Thiên, 1260
Sắc Giới, 1261
Sắc Không, 392, 394
Sắc Thân, 719, 1376, 1432
Sắc Trần, 338, 659
Sắc Tưởng, 870
sét nổ, 785
Song Phụng, 1047
sóng là nước, 286
sọ khô, 1384
Số Luận, 185
Số lượng, 1139
Sống, 1209
Sơ Càn Tuệ Địa, 632
Sơ Sơn, 247
Sơ Tâm, 538, 541
Sơ Tâm Giác Ngộ, 538
Sơ Thiền, 1252
Sơ Thiện, 841
Sơ Tổ, 1306
Sở Nam, 533, 1014
sợi dây, 742
Suối, 896
Suốt Thân, 593
suy nghĩ, 382
súc sanh, 1224
Sùng Thọ Trì, 1234
Sư Tử, 830, 1085, 1398
sư tử con, 1085
Sư Tử Tôn Giả, 270
Sử Sơn Nhân, 1450
sữa lừa, 261
sữa sư tử, 261
Sự, 584, 1448
Sự Pháp Giới, 1131
Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới, 1131


—T—

Ta, 1360, 1361, 1378, 1389, 1435
tai, 583
Tam Bình, 275
Tam Ma Đề, 632, 938, 949, 953
Tam Ma Địa, 651, 753, 758
Tam Nhãn Quốc Độ, 1117
Tam Tạng Đại Nhĩ, 495
Tam Thánh, 678, 1230
Tam Thiền, 1253
Tam Tổ, 464, 551
tay mắt, 592
Tánh, 148, 164, 195, 206, 315, 531, 742, 981, 1021, 1166
Tánh Bản Minh, 840
Tánh Đức, 1130
Tánh Giác, 865
Tánh Giác Diệu Minh, 497
tánh Gió, 404
Tánh Không, 646, 727
tánh Lửa, 394, 490
Tánh Nghe, 604, 830, 831, 837, 914, 919
Tánh Nghiệp, 707
Tánh Nuớc, 722
tánh Nước, 400, 490, 668
Tánh Phân Biệt, 181
Tánh Quán, 826
Tánh Thấy, 133, 193, 201, 211, 230
Tánh Thức, 423
Tánh Tông, 627
Tánh-về-nguồn, 869
Tát Đát Đa Bát Đát Ra, 15
tà, 879
tà kiến, 1203
Tà Quán, 1170
Tài Thí, 42
Tài Tùng, 1076
Tào Động, 1076, 1122
Tào Khê, 670, 674
Tào Sơn, 29, 78, 189, 190, 233, 322, 329, 372, 399, 455, 738, 756, 1085, 1146, 1418
tảng đá, 575
Tảo, 449
Tâm, 148, 182, 231, 553, 704, 713, 864, 879, 886, 900, 1137, 1165, 1166, 1169, 1199, 1210, 1373, 1421, 1448
Tâm Ấn, 1176
Tâm Chân Như, 1108
Tâm Dâm, 939
Tâm Diệu Minh, 124
Tâm Địa, 282, 1070
Tâm Giải Thoát, 629, 1027
Tâm Kim Cương, 1164
Tâm Ngay Thẳng, 61
Tâm Nhãn, 1028
Tâm Nhân Địa, 552
Tâm Phan Duyên, 105, 538
Tâm Pháp, 865
Tâm Phật, 856, 857
Tâm Tánh, 620, 842
Tâm Tinh, 1052
Tâm và mắt, 65
tâm yếu, 589
Tây Đường, 144, 249, 1278
Tây lai, 874
Tây lai ý, 194
Tây Viên Tạng, 233
Tất Lăng Già Bà Ta, 684
tập khí, 572, 625, 1334, 1442, 1452
Tập Nhân, 47, 1200
Tăng Ca Nan Đề, 900
Tăng Già Nan Đề, 904
Tăng Phụng Nghi, 11
Tăng Triệu, 427
Tăng Tung, 442
Tăng Xán, 337, 551
tắm, 668, 669, 670, 671
tên kinh, 1175
tên tuổi, 1365
Tề Hầu, 270
Tề Kỷ, 907
tha tâm thông, 495
thai, 477
Tham, 483, 1237
tham dục, 837, 1010
tham lam, 1201
Tham Phi Tham, 1405
tham thiền học đạo, 596
Thanh Lâm, 258
Thanh Lâm Kiền, 1273
thanh lâu, 940
Thanh Mộc Hương, 970
Thanh Nguyên, 1062, 1183, 1425
thanh sắc, 1097
Thanh tịnh, 1147
Thanh Tịnh Pháp Thân, 1398
Thanh Tịnh Quán, 753
Thanh Trần, 341
Thanh Văn, 769, 1115, 1414, 1415
Thái Ất, 1393
Thái Nguyên Phu, 435
Thánh Con, 843
Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa, 540
Thánh Vị, 1161
Thành Hoàng, 1316, 1324
Thành Nhuế, 652
Thảnh Nữ, 586
Thạch Củng, 249, 888
Thạch Đầu, 614, 1062
Thạch Môn Thông, 643
Thạch Sương, 225, 243, 743, 1070, 1258
Thạch Thê, 671
Thân, 881, 1010, 1351, 1376
thân A Tu La, 812
thân Bà La Môn, 787
thân Ca Lâu Na, 814
thân Càn Thát Bà, 811
Thân Căn, 564
thân cư sĩ, 783
thân cư sĩ nam, 793
thân cư sĩ nữ, 794
thân Duyên Giác, 765
thân Dược Xoa, 809
thân Đại Tự Tại Thiên, 774
thân Đế Thích, 771
thân đồng nam, 798
thân đồng nữ, 802
thân Khẩn Na La, 815
Thân Kiến, 686
thân Ma Hô La Già, 817
thân người, 818
Thân Nhập, 328
thân Nữ Chúa, 795
thân Phạm Vương, 770
Thân Phật, 758
thân Phi Nhơn, 820
thân Quốc Phu Nhân, 795
thân Rồng, 808
thân Tể Quan, 785
thân Thanh Văn, 768
thân Thái Tử, 780
thân Thiên Đại Tướng Quân, 777
Thân Thức Giới, 374
thân Trời, 804
Thân Trung Ấm, 1073
thân trưởng giả, 782
thân Tứ Thiên Vương, 779
thân Tự Tại Thiên, 772
thân Tỳ Khưu Ni, 791
thân Tỷ Khưu, 788
Thân Vô Biên, 738
thân Vô Hình, 820
thân Vua, 781
thấp, 719
Thất sanh, 627
Thấy, 206, 253
Thấy Tánh, 51, 60, 137, 195, 197, 235, 315, 605, 690, 1164, 1397, 1425
Thấy Tánh Đệ Nhất Nghĩa, 542
Thấy Tánh thành Phật, 197
thấy xe, 363
Thần Chú, 849, 973
Thần Đảnh Nhân, 347
Thần Đỉnh, 1133
Thần Hội, 884
Thần Ngã, 1240, 1341, 1342, 1389, 1392
Thần Pháp Nhạc, 815
Thần Quang, 71, 1402
Thần Tánh, 1345
thần thông, 712, 813, 893, 895
Thần Tú, 498
Thập, 1182
Thập Đắc, 228
Thật Tánh, 156
Thật Trí, 644
Thật Tướng, 342, 392, 759
Thắng Nghĩa Căn, 362
Theo cửa, 148
Thế Đệ Nhất Địa, 1139
thế gian, 512
thế giới, 563, 1011, 1118
thềm bực, 1426
thể Chân Như, 810
Thiên Đồng, 267, 888, 1230, 1358, 1462
thiên đường, 1278, 1279
Thiên Hành Tiên, 1239
Thiên Hoàng Ngộ, 589
Thiên Long, 145, 254
Thiên Ma, 1301, 1320
Thiên Nữ, 805
Thiên Thai, 777, 1051, 1304
Thiên Thân, 1249
Thiên Tuế, 1408
Thiên U Cái, 671
Thiên Vương, 519
Thiên Vương Tứ Thiền, 1260
Thiên Y, 314
Thiên Y Hoài, 1117, 1327
Thiền, 183, 567, 1259
thiền định, 139, 155, 1054
Thiền Giới, 1259
Thiền Tịnh, 751
Thiều Quốc Sư, 460, 583, 669, 883, 901
Thiều Sơn, 235
Thiển Tịnh Thiên, 1252
Thiểu Quang Thiên, 1252
Thiện Hiện Hạnh, 1096
Thiện Hiện Thiên, 1260
Thiện Kiến Thiên, 1260
Thiện Minh, 337
Thiện Pháp Hành, 1103
Thiện Tài, 385, 698
Thiện Tinh, 1232
Thiện Tuệ Địa, 1159
Thiệt Giới, 371
Thiệt Nhập, 326
Thiệt Thức, 704
Thiệu Tiên, 289
Thí Vô Uý, 847
Thích Đề Hoàn Nhân, 771
Thích Phù, 1410
Thích Thanh Hư, 809
Thị, 223
Thị Phi, 228, 235
thỏ trắng, 1229
Thọ, 1434
Thọ Ấm, 1295, 1442, 1444, 1445, 1446
thọ Giới, 37, 732
Thọ Thánh, 642
Thọ Trì, 26, 1234
Thôi Công Quần, 133
Thông, 577
Thông Hành Tiên, 1239
Thổ Địa, 832, 833, 1316, 1324
Thời tiết, 716
thợ đàn, 704
Thuấn Nhã Đa, 452, 453
Thuấn Trưng Phụ, 11
Thuần Giác, 831
Thuận Ích, 1434
Thuận Mặc, 558
Thuận Tông, 428
thuốc, 385
thuyết pháp, 889
thuyền, 726
Thuyền Tử, 725, 726
Thú Tịnh, 1414
Thúy Nham Chân, 778, 1133, 1271
thù oán, 1203
Thùy Lộc An, 615
Thủ Ấm, 1444
Thủ Lăng Nghiêm, 1184
Thủ Sơn, 25
Thủ Sơn Niệm, 932, 1064
Thủ Tòa, 1050
Thủy Đại, 896
Thủy Lạo, 874
Thủy luân, 473
thủy táng, 727
Thụy Nham, 1146, 1341, 1426
thưa kiện, 1204
thương ghét, 464
Thước Ca Ra, 452
Thường, 1339, 1342, 1346
Thường Bất Khinh, 1124
Thường Chân Thật, 754, 914
Thường Đạo, 25
thường trụ, 428
thượng căn, 597
Thượng Lam, 1156
Thượng Lam Siêu, 202
Thượng Thơ, 107, 652
Thứ Quán Tam Tế, 1448
Thứ Quán Tiền Cảnh, 1448
Thức, 71, 310, 419, 475, 612, 613, 626, 629, 714, 742, 1109, 1211, 1448
Thức Ấm, 70, 549, 1380, 1424, 1445, 1446
Thức Đà Na, 625
Thức Đại, 422, 424, 904
Thức là Tánh, 424
Thức Lưỡi, 889
Thức Tâm, 391
Thức Thứ Bảy, 82, 102, 173, 309, 379, 380, 469, 549, 627, 1268, 1336, 1340, 1392, 1420, 1441, 1444
Thức Thứ Chín, 424
Thức Thứ Sáu, 81, 133, 173, 309, 378, 379, 422, 423, 469, 627, 1337, 1420, 1438, 1444
Thức Thứ Tám, 81, 82, 102, 173, 239, 309, 379, 380, 422, 626, 627, 628, 747, 1268, 1336, 1341, 1392, 1421, 1444
Thức Thực, 1035
Thức Tinh, 432
Thức Xứ, 1266
Thực Tế, 144
tia chớp, 527
Tiên, 1238, 1240
Tiên Giác, 1022
Tiên Quán Kỹ Nhãn, 1448
Tiến Phúc Tư, 518
Tiến Sơn Chủ, 531
Tiếng, 577
tiếng đàn, 510
tiếng linh, 900
Tiết Giản, 155
Tiểu Không, 848
Tiệm, 623, 1428, 1451, 1452
Tiệm Nguyên, 789
tiệm thứ, 1031
tiệm tu, 573, 1042, 1451
Tinh Chân, 1443
Tinh Diệu Minh, 192, 201
Tinh Hành Tiên, 1239
Tinh Khí, 1319, 1325
Tinh Minh, 1443
Tinh Mỵ, 1317, 1324
Tinh Tấn Hương, 970
Tinh Tiến, 1051
Tinh Tiến Tâm, 1050
Tinh Ứng, 1414
Tín Tâm, 1067
Tín Tâm Trụ, 1046
Tín Vị, 1047, 1161
tình, 1017, 1196, 1221, 1421
Tình Kiến, 147
Tình sanh Trí cách, 598
tĩnh, 553, 577
Tịch, 632
Tịch Diệt, 1386
Tịch Diệt Hiện Tiền, 514, 604
Tịnh Độ, 609
Tịnh Độ tam biến, 980
Tịnh Từ, 1159
Toàn ba thị thủy, 286
tòa sư tử, 1413
Tô Đông Pha, 180
Tô Hợp, 970
Tô Tử Do, 754
Tôn Đà La Nan Đà, 699
Tôn Trọng Hạnh, 1101
Tông, 780
Tông Cảnh Lục, 748, 1453
tông Định Huệ, 761
tông Giới Hạnh, 762
Tông Thông, 13, 15
tông Tịch Tịnh, 764
tông Vô Đắc, 763
Tối, 577
Tống Cảnh Công, 271
Tống Hiến Tông, 917
Tổ, 876, 1166
Tổ Ca Diếp, 777
Tổ Đạt Ma, 596
Tổ Nguyên, 136
Tổ Quy Sơn, 769
Tổ Sư Thiền, 657
Tổ Thứ Hai Mươi, 708
Tổ Thứ Hai Mươi Ba, 843, 1248
Tổ Thứ Hai Mươi Bảy, 96
Tổ Thứ Hai Mươi Mốt, 710
Tổ Thứ Mười Ba, 817
Tổ Thứ Mười Bảy, 900
Tổ-Ý, 1461, 1462
Tổng Trì, 1053
Tra Chỉ Ca La, 1412
Trang Tử, 1406
trái cây, 682
Trái Tổn, 1434
trái vải, 348
trả nợ, 1235
trả ơn, 440
Trạm, 430
Trạm Đường, 254
Trạm Đường Chuẩn, 1223
Trạm Minh, 430
Trạm Nhập, 431
Trạm Viên, 591
trâu, 1153
Trâu nái già, 791
trâu trắng, 1155
trâu trắng, 1154
Trầm Thủy, 971
Trần, 150, 612, 870
Trần Tháo, 262
Trần Tôn Túc, 990
Trần Tú Ngọc, 139
Trăng sáng, 1418
Tri, 620
Tri, Vô Tri, 1395
Tri Giác Vô Thượng, 588
Tri Kiến, 615
Tri Kiến Phật, 113, 503
Triền Không, 1414
Triều Sanh, 1074
Triệu Châu, 99, 141, 164, 208, 459, 462, 467, 499, 657, 898, 945, 1036, 1089, 1135, 1181, 1357, 1435
Triệu Luận, 212
Triệu Thanh, 785
Triệu Văn Nhụ, 307
Trí, 71, 629, 644, 742, 1109
Trí Cự, 259
Trí Đồng Chân, 1081, 1082
Trí Độ Giác, 1244
Trí Độ Luận, 930
Trí Giả, 11
Trí Hoàng, 1054
Trí Huệ Bát Nhã, 851
Trí Huệ Quán, 753
Trí Huy, 69
Trí Nham, 527
Trí Nhàn, 345, 654, 656
Trí Tánh, 117
Trí Tạng, 586
Trí Thông, 286
Trí Thường, 690
Trí Xuất Thế Gian, 981
trì bát, 45
trì chú, 1423, 1459
Trì Địa, 717
Trì Giám, 900
trì niệm, 846
Trị Địa Trụ, 1068
Trịnh Công, 786
Tro lạnh..., 557
trói buộc, 551, 609
tròn, 204
trống tẩm độc, 775
Trồng rau, 258
trộm cắp, 947
Trời, 1412
Trợ Nhân, 1034
Trung Ấp Hồng, 83
Trung Đạo, 383, 902, 1046, 1137
Trung Hội Cừu, 929
Trung Quán, 244
Trung Sơn An, 21
Trung Thiện, 841
Trung Tông, 789
Trung Ý, 748
Truyền Sơn Phổ, 777
truyền tâm, 619
Truyền Tống Quỉ, 1221
Trúc Am, 633
Trúc Am Khuê, 119
trúc biếc, 1396, 1397
trụ, 726, 888, 1089
Trụ Trì, 30, 32
Trụ Xứ Chân Thật, 334
Trương Chuyết, 640
Trương Tăng Diêu, 853
Trương Tử Thiều, 586
Trương Vô Cấu, 915
Trương Vô Tận, 1130
Trường Đinh Tử, 44
Trường Khánh, 31, 1135
Trường Khánh Lăng, 694
Trường Lô, 254
Trường Sa, 107, 174, 213, 381, 418, 627, 1365, 1430
Trường Sa Sầm, 1285
trường sanh, 1243
Trường Trảo, 304, 693
Trược, 545
Trượng Duy Chính, 940
Trừng Quán, 1173
trực tâm, 956
tu, 572, 1451
Tu Bồ Đề, 688, 771
tu chứng, 518, 530
Tu Chứng Liễu Nghĩa, 22, 1180
Tu Di, 210, 1373
Tu Đà Hoàn, 754
tu hành, 596, 1276
Tu Hành Trụ, 1070
Tu La, 1274
Tu Sơn Chủ, 228, 531, 1270
Tu Tập Vị, 1159
Tuyết Đậu, 31, 146, 198, 207, 311, 330, 339, 376, 385, 427, 451, 452, 669, 702, 728, 1233, 1398
Tuyết Phong, 52, 399, 687, 694, 901, 946, 1121, 1230, 1390, 1402
Tuyệt Hành Tiên, 1239
Tú Tài, 1223
Túc Tông, 495
Tùy Châu Pháp Vi, 58
tùy duyên, 386, 1088
Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng, 1120
Tùy Thuận Đẳng Quán Nhứt Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng, 1123
tụng kinh, 1459
Tư Đà Hàm, 754
Tư Ích, 334
Tư Mã Đầu Đà, 1086
Tư Thực, 1035
Tướng Chuyển, 654
Tướng Phần, 171, 612
tướng quân, 355
Tướng Tông, 627
tưởng, 471, 1196
Tưởng Ái, 482
Tưởng Ấm, 1308, 1445, 1446
Tưởng Niệm, 1323, 1437
Tứ Đế, 768
Tứ Thiền, 1254
Tứ Tổ, 551, 765
Tứ Tổ Đạo Tín, 989
Tức, 1125
Tức Chân, 1085
Tức Giới tức Định, 1062
tức Giới tức Huệ, 1062
tức là, 503
tức Tâm, 611, 614
Tức Tâm, tức Phật, 507
Tức Tâm là Phật, 148, 1170, 1352
Tức Tâm tức Phật, 506, 1274
tức thị, 148
Từ Minh, 838, 1394
Từ Thị, 428
Tử, 845
Tử Chiêu, 216
Tử Hồ Tung, 66
Tử Kim Quang, 672
Tử Lân, 489
Tử Tâm, 254
Tử Tâm Tân, 881
Tử Vi, 271
tự do, 1028
tự nghe, 916
Tự Nhiên, 525, 879, 1428
Tự Nhiên Trí, 108
Tự Tam Muội, 130
tự tánh, 519
Tự Tánh Di Đà, 751
Tự Tại, 696
Tỳ Kheo, 28
Tỷ Nhập, 323
Tỷ Sa, 1206
Tỷ Thức Giới, 367


—U—

u mê, 840
Uất Đầu Lam Phất, 1412
Uất Kim, 970
Uẩn Huy, 258


—Ư—

Ưu Ba Cúc Đa, 772
Ưu Ba Ni Sa Đà, 658
Ưu Bà Ly, 706
Ứng, 758, 836
Ứng Am, 787
Ứng Cúng, 957
Ứng Thân, 758, 891


—V—

vàng, 904
Vạn Thiện Đồng Quy, 748
Vạn Tùng, 139, 306
Vân Am, 62
Vân Cái, 1186
Vân Cái Sơn, 1387
Vân Cư, 158, 197, 357, 652, 1102, 1234
Vân Cư Giản, 1416
Vân Cư Hựu, 862
Vân Cư Trí, 194
Vân Cư Ứng, 471, 485, 769, 871, 1069, 1263
Vân Môn, 194, 301, 643, 687, 729, 834, 835, 889, 1050, 1056, 1122, 1183, 1373, 1398, 1403
Vân Nham, 232, 233, 402, 592, 724, 751, 862
Vân Phong Duyệt, 1421
Vật Cách, 586
Văn, Tư, Tu, 958
Văn Hỷ, 35
Văn Thù, 33, 38, 227, 228, 629, 698, 835, 845, 846, 853, 926, 927
Văn Thù Sư Lợi, 15, 34, 222
Văn Toại, 190
Văn Tông, 781
văn vẻ đã rỡ ràng, 1001
vặn tai, 1020
về nguồn, 382, 868, 1448
về quê, 932
về Thức Thứ Tám, 549
Vi Giám Quân, 683
Viên, 1417
Viên Chân Thật, 913
Viên Chiếu, 104, 500
Viên Diệu Minh Tâm, 172
Viên Đốn, 623, 1042
Viên Đốn Tối Thượng, 1430
Viên Giáo, 706
Viên Ngộ, 254, 1001
Viên Thành Thật, 741
Viên Thành Thật Tánh, 741
Viên Thông, 651, 652, 863
Viên Thông Ngộ, 669
Viên Thường, 1339
Viên Trạm, 430
Viên Tri, 1395
Viễn Công, 697
Viễn Hành Địa, 1155
việc bổn phận, 202
Vĩnh Gia, 485
Vĩnh Minh Thọ, 611, 747, 966
Vị, 347, 577, 578, 872
vị lai, 1448
Vị Trần, 665
vịt trời, 700, 702
vóc lụa trắng, 557
Vọng, 514, 515, 618, 619
Vọng Diên, 1406
Vọng Kế, 1392
Vọng Kiến Biệt Nghiệp, 262, 263
Vọng Kiến Đồng Phận, 268
Vọng Lượng Quỉ, 1221
vọng niệm, 1439
Vọng Phát Minh Tánh, 61, 63, 155
vọng tâm, 306
Vọng Tình, 1437, 1451
vọng trần, 833
Vọng Tưởng, 307, 471, 510, 1429, 1432, 1433, 1434, 1435, 1437, 1438
Vô Biên, 1348
Vô Biên Thân, 19
vô công dụng Đạo, 528
vô hạn, 872
Vô Lậu Đạo, 534
Vô Lậu Học, 934
Vô Lượng Quang Thiên, 1252
Vô Lượng Tịnh Thiên, 1253
Vô Minh, 112, 172, 869
vô minh hiện hành, 62
Vô Ngã, 906
Vô Ngại, 1451
Vô Ngại Trí, 108
Vô Nghiệp, 148
Vô Ngôn, 1370
Vô Nhãn, Tỷ,..., 584
Vô Nhân, 1332
Vô Nhiệt Thiên, 1260
Vô Niệm, 570, 605
Vô Phân Biệt Trí, 630
Vô Phiền Thiên, 1260
Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng, 1126
Vô Sanh, 91, 289, 539, 674, 1402
Vô Sanh Duyên Khởi, 343
Vô Sanh Nhẫn, 742, 753
Vô Sanh Pháp Nhẫn, 646, 1109, 1168, 1383
Vô Sân Hận Hạnh, 1091
Vô Sắc Giới, 1267
Vô Sở Chứng, 1425
Vô Sở Đắc, 516, 1425
Vô Sở Hữu, 668
Vô Sở Hữu Xứ, 1266
Vô Sự, 60, 447, 1448
Vô Tâm, 998
Vô Tâm Vô Đắc, 864
Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng, 1118
Vô Tận Hạnh, 1092
Vô Tận Ý, 855
Vô Thường, 1342, 1343, 1346
Vô Thượng, 1000
Vô Thượng Đạo, 1167
Vô Thượng Giác, 448
Vô Thượng Tu Chứng, 849
Vô Tình, 352
vô tình thuyết pháp, 584, 861
Vô Tránh Tam Muội, 177
Vô Trụ, 603, 1008, 1010
Vô Trước, 100, 1249
Vô Trước Hạnh, 1099
Vô Tu Vô Tác, 1114
Vô Tướng, 760, 1364
Vô Tưởng Thiên, 1254
Vô Úy Thí, 852
Vô Vật, 1118
Vô Văn, 1414, 1415
Vô Vi, 1257
Vô Vị Chơn Nhơn, 794
Vốn Diệu, 171
Vốn Tự Không Sanh, 157
vỗ tay, 233
vợ, 1279
vu vạ, 1204
Vua Túc Tông, 176
vui, 1258
vuông, 204
vụng, 640
Vương Tiêu, 1137
Vương Tử Đản Sanh, 1075
vượn, 652


—X—

Xá Lợi Phất, 692, 805, 844
xác chết, 660
Xà Dạ Đa, 708
Xả Cu Thiền, 1256
xe, 543
xem kinh, 26, 259, 1461
Xin dạy nghĩa, 1431
xoa đỉnh, 965
xoay các pháp, 689
xoay cái Biết, 682
xoay cái Thấy, 676
xoay hơi thở, 680
Xoay Lại Cái Nghe, 962
Xuân, 664
Xuất, 235
Xúc, 578, 874
Xúc Thực, 1035
Xúc Trần, 669
Xư, 336
Xứng Tánh, 424


—Y—

Y Tha Chấp, 741
Y Tha Khởi, 741
Y Tha Khởi Chấp, 742
Y Thông, 813
Yết La Lam, 478
yết nam, 1018
ý, 256
Ý Căn, 565, 882
ý huyễn, 756
Ý Nhập, 332
Ý Sanh Thân, 1092, 1322
Ý Thức Giới, 378
ý Tổ Sư, 21, 955
ý vào cửa, 334


HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 2 3 [4]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.645 seconds với 25 câu truy vấn.