Tháng Hai 28, 2020, 05:22:37 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG V -- 首楞嚴宗通經 5  (Đọc 12506 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 06:40:06 AM »

(tiếp theo)

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明。三摩地中。心愛懸應。周流精研。貪求冥感。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人元不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求應善男子處。敷座說法。能令聽眾。暫見其身。如百千歲。心生愛染。不能舍離。身為奴僕。四事供養。不覺疲勞。各各令其座下人心。知是先師本善知識。別生法愛。黏如膠漆。得未曾有。是人愚迷。惑為菩薩。親近其心。破佛律儀。潛行貪慾。口中好言我於前世於某生中。先度某人。當時是我妻妾兄弟。今來相度。與汝相隨歸某世界。供養某佛。或言別有大光明天。佛於中住。一切如來所休居地。彼無知者。信是虛誑。遺失本心。此名癘鬼。年老成魔。惱亂是人。厭足心生去彼人體。弟子與師。俱陷王難。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề lại ưa biết các việc trước sau, cứu xét cùng khắp, tham cầu được thầm cảm.

 Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi cũng tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu cảm ứng kia, trải tòa thuyết pháp.

Có thể khiến cho thính chúng tạm thấy cái thân như đã trăm ngàn tuổi, tâm sanh ái nhiễm, không thể rời bỏ; đem thân làm nô bộc, cúng dường tứ sự chẳng biết mệt mõi.

Lại khiến cho mỗi ai nghe pháp dưới tòa tâm biết đó là vị tiên sư, là vị thiện trí thức của mình, riêng sanh lòng yêu pháp, khắn khít như keo sơn, được sự chưa từng có.

Người tu hành mê dại, lầm cho là Bồ Tát, gần gũi tâm Ma, phá Luật Nghi Phật, lén làm chuyện tham dục. Miệng Ma ưa nói ta ở kiếp trước, trong đời X độ người Y, lúc đó là thê thiếp, anh em của ta, nên nay lại đến độ cho nhau, ta sẽ cùng các người theo nhau về thế giới X cúng dường Đức Phật Y.

Hoặc nói có cõi trời Đại Quang Minh riêng biệt, Phật trụ nơi ấy, là chỗ nghỉ ngơi của tất cả Chư Phật.

 Hạng không biết kia tin những lời lừa gạt đó, bỏ mất tự tâm.

Đây gọi là giống Lệ Quỉ, lâu năm thành Ma, khuấy phá người tu.

 Khuấy rối chán rồi, bỏ thân người không gá nữa thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên tỏ biết trước thì khỏi lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục Vô Gián.

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明三摩地中。心愛深入。克己辛勤。樂處陰寂。貪求靜謐。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人本不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求陰善男子處。敷座說法。令其聽人。各知本業。或於其處語一人言。汝今未死。已作畜生。敕使一人於後蹋尾。頓令其人起不能得。於是一眾傾心欽伏。有人起心。已知其肇。佛律儀外。重加精苦。誹謗比丘。罵詈徒眾。訐露人事。不避譏嫌。口中好言未然禍福。及至其時。毫髮無失。此大力鬼。年老成魔。惱亂是人。厭足心生去彼人體。弟子與師。俱陷王難。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề tâm lại ưa đi sâu vào, cần khổ ép mình, thích chỗ vắng vẻ, tham cầu sự yên lặng.

Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu thầm lặng kia, trải tòa thuyết pháp, khiến cho thính chúng mỗi người đều biết nghiệp cũ của mình.

Hoặc ở nơi đó, bảo với một người : “Ngươi nay chưa chết đã làm súc sanh”, rồi bảo một người khác đạp cái đuôi đằng sau, thì khiến người đó đứng dậy không được. Cả thảy chúng ấy đều hết lòng khâm phục. Có người móng tâm thì liền biết ý.

Ngoài Luật Nghi của Phật ra, nó lại còn gia thêm khắc khổ, chê bai Tỳ Kheo, mắng nhiếc đồ chúng, phơi lộ việc người ta chẳng tránh sự cơ hiềm.

Miệng Ma ưa nói những việc họa phúc chưa đến và khi đến thì không sai mảy may.

 Đây gọi là Đại Lực Quỉ, lâu năm thành Ma, khuấy rối người tu hành.

 Khuấy rối chán rồi, bỏ thân người không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên tỏ biết trước thì khỏi lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục Vô Gián.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 06:42:55 AM »

(tiếp theo)

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明三摩地中。心愛知見。勤苦研尋。貪求宿命。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人殊不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求知善男子處。敷座說法。是人無端於說法處。得大寶珠。其魔或時化為畜生。口銜其珠。及雜珍寶。簡冊符牘。諸奇異物。先授彼人。後著其體。或誘聽人。藏於地下有明月珠。照耀其處。是諸聽者得未曾有。多食藥草。不 嘉饌。或時日 一麻一麥。其形肥充。魔力持故。誹謗比丘。罵詈徒眾。不避譏嫌。口中好言他方寶藏。十方聖賢潛匿之處。隨其後者。往往見有奇異之人。此名山林土地城隍川岳鬼神。年老成魔。或有宣淫。破佛戒律。與承事者。潛行五欲。或有精進。純食草木。無定行事。惱亂是人。厭足心生。去彼人體。弟子與師。多陷王難。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề tâm lại ưa thấy biết, cần khổ xét tìm, tham cầu biết túc mạng.

Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu hiểu biết kia, trải tòa thuyết pháp.

Người tu hành bỗng nhiên ở chỗ thuyết pháp được hạt châu báu lớn. Hoặc có khi Ma hóa làm súc sanh, miệng ngậm hạt châu cùng những vật kỳ lạ như đồ trân bảo, giản sách, phù độc, đến trao trước cho người tu hành, rồi sau đeo vào mình.

Hoặc có khi Ma bảo người nghe pháp có hạt châu minh nguyệt chôn dưới đất chói sáng chỗ đó, làm cho các thính giả được sự chưa từng có. Ma thường ăn cây thuốc chứ không ăn cơm.

Hoặc có khi mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, hoặc hạt mạch, do sức Ma giữ gìn, thân hình vẫn béo tốt. Ma lại chê bai Tỳ Kheo, nhiếc mắng đồ chúng, chẳng tránh sự cơ hiềm.

 Miệng Ma ưa nói kho báu ở phương khác và chỗ ẩn cư của Thánh Hiền thập phương. Những người đi theo sau Ma thường thấy có những người kỳ lạ.

Đây gọi là giống Quỉ Thần Rừng Núi, Thổ Địa, Thành Hoàng, Sông Núi lâu năm thành Ma.

Hoặc có khi kêu gọi làm điều dâm dục, phá Giới Luật Phật, cùng với kẻ thừa sự lén làm việc Ngũ Dục. Hoặc có khi tinh tấn, ăn toàn cỏ cây.

Việc làm không nhất định, cốt để khuấy phá người tu hành.

Khuấy rối chán rồi, bỏ thân người không gá nữa thì đệ tử và thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên tỏ biết trước thì khỏi lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục Vô Gián.

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明。三摩地中心愛神通。種種變化。研究化元。貪取神力。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人誠不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求通善男子處。敷座說法。是人或復手執火光。手撮其光。分於所聽四眾頭上。是諸聽人。頂上火光。皆長數尺。亦無熱性。曾不焚燒。或水上行。如履平地。或於空中。安坐不動。或入瓶內。或處囊中。越牖透垣。曾無障礙。唯於刀兵。不得自在。自言是佛。身著白衣。受比丘禮。誹謗禪律。罵詈徒眾。訐露人事。不避譏嫌。口中常說神通自在。或復令人傍見佛土。鬼力惑人。非有真實。讚嘆行淫不毀粗行。將諸猥媟以為傳法。此名天地大力山精海精風精河精土精。一切草木積劫精魅。或復龍魅。或壽終仙。再活為魅。或仙期終。計年應死。其形不化。他怪所附年老成魔。惱亂是人。厭足心生。去彼人體。弟子與師多陷王難。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề tâm lại ưa các thứ thần thông biến hóa, nghiên cứu nguồn gốc biến hóa, tham cầu có thần lực.

Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu thần thông kia, trải tòa thuyết pháp.

Người đó hoặc tay cầm ngọn lửa, nắm chia ngọn lửa trên đầu bốn chúng nghe pháp, ngọn lửa trên đỉnh đầu những người nghe pháp đều dài vài thước mà không nóng, cũng không đốt cháy.

 Hoặc đi trên nước như đi trên đất bằng, hoặc giữa hư không ngồi yên không động, hoặc vào trong bình, hoặc ở trong đãy, hoặc vượt cửa sổ, hoặc xuyên qua tường không chút ngăn ngại. Chỉ đối với đao binh thì không được tự tại.

Người đó tự bảo là Phật, thân mặc bạch y, chịu Tỳ Kheo lễ bái, chê bai luật Thiền, mắng nhiếc đồ chúng, phơi lộ việc người không tránh sự cơ hiềm.

Trong miệng thường nói thần thông tự tại, hoặc cho người thấy cõi Phật cạnh bên.

Đó là do sức quỉ mê hoặc, không có gì chân thật. Người đó khen ngợi việc hành dâm, không từ bỏ những việc làm thô tục, đem những việc bậy bàn với nhau cho là truyền pháp.

Đây gọi là những giống Sơn Tinh, Hải Tinh, Phong Tinh, Hà Tinh, Thổ Tinh và những loài Tinh Mỵ của tất cả cỏ cây đã sống nhiều kiếp có sức lớn trong trời đất.

 Hoặc là Long Mỵ, hoặc là tiêu hết kiếp sống lại làm Mỵ.


Hoặc tiêu đến hồi hết quả báo, kể năm thì phải chết, nhưng hình hài không tiêu mất, nên loài quái khác bám vào. Bọn ấy lâu năm thành Ma, khuấy rối người tu hành.

 Khuấy rối chán rồi, bỏ thân người không gá nữa, thì đệ tử và thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên tỏ biết trước thì khỏi lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục Vô Gián.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 06:45:41 AM »

(tiếp theo)

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明。三摩地中。心愛入滅。研究化性。貪求深空。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人終不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求空善男子處。敷座說法。於大眾內。其形忽空。眾無所見。還從虛空突然而出。存沒自在。或現其身。洞如琉璃。或垂手足。作旃檀氣。或大小便。如厚石蜜。誹毀戒律。輕賤出家。口中常說無因無果。一死永滅。無復後身。及諸凡聖。雖得空寂。潛行貪慾。受其欲者。亦得空心。撥無因果。此名日月薄蝕精氣。金玉芝草。麟鳳龜鶴。經千萬年。不死為靈。出生國土年老成魔。惱亂是人。厭足心生。去彼人體。弟子與師。多陷王難。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề tâm lại ưa các thứ thần thông biến hóa, nghiên cứu nguồn gốc biến hóa, tham cầu cái rỗng không sâu nhiệm.

Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu rỗng không kia, trải tòa thuyết pháp. Ở trong đại chúng, hình người ấy bỗng hóa thành không, cả chúng không thấy gì, rồi lại từ hư không bỗng hiện ra, khi còn khi mất rất tự tại.

Hoặc hiện cái thân rỗng suốt như ngọc lưu ly. Hoặc duỗi tay chân xuống phát mùi hương chiên đàn. Hoặc đại, tiểu tiện như đường phèn cứng ngắc.

Người đó chê phá Giới Luật, khinh rẻ bậc xuất gia, trong miệng thường nói không nhân không quả, một lần chết là xong hết vĩnh viễn, không còn có thân sau.

Lại nói phàm, Thánh tuy đắc không tịch, vẫn lén làm chuyện tham dục, thọ Dục ấy mà vẫn đắc tâm không, bác không Nhân Quả.

Đây gọi là những giống Tinh Khí của Nhật, Nguyệt giao che; vàng, ngọc, chi thảo, lân, phụng, quy, hạc trải ngàn vạn năm không chết trở thành tinh linh, sanh ra trong cõi nước, lâu năm thành Ma, khuấy rối người tu hành.

Khuấy chán rồi, bỏ thân người không gá nữa, thì đệ tử và thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên tỏ biết trước thì khỏi lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục Vô Gián.

又善男子受陰虛妙。不遭邪慮。圓定發明。三摩地中。心愛長壽。辛苦研幾。貪求永歲。棄分段生。頓希變易。細相常住。爾時天魔候得其便。飛精附人。口說經法。其人竟不覺知魔著。亦言自得無上涅槃。來彼求生善男子處。敷座說法。好言他方往還無滯。或經萬里。瞬息再來。皆於彼方取得其物。或於一處。在一宅中。數步之間。令其從東詣至西壁。是人急行累年不到。因此心信。疑佛現前。口中常說十方眾生。皆是吾子。我生諸佛。我出世界。我是元佛。出世自然。不因修得。此名住世自在天魔。使其眷屬如遮文茶。(瞰精氣鬼)及四天王毗舍童子。(即毗舍遮隸四天王)未發心者。利其虛明。食彼精氣。或不因師。其修行人。親自觀見稱執金剛與汝長命。現美女身。盛行貪慾。未踰年歲。肝腦枯竭。口兼獨言。聽若妖魅。前人未詳。多陷王難。未及遇刑。先已干死。惱亂彼人。以至殂殞。汝當先覺。不入輪迴。迷惑不知。墮無間獄。

“Lại nữa, thiện nam tử kia, Thọ Ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, Định tròn đầy phát sáng, trong Tam Ma Đề tâm lại ưa sống lâu, cần khổ nghiên cứu tinh vi, tham cầu sống mãi, bỏ cái sống phần đoạn mà trông mong cái tướng vi tế của biến dịch được thường trụ.

Bấy giờ, Thiên Ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không biết bị Ma gá vào, rồi tự bảo đã đắc Vô Thượng Niết Bàn, đến chỗ thiện nam tử cầu sống lâu kia, trải tòa thuyết pháp.

Người đó ưa nói đi qua phương khác rồi trở về không trở ngại, hoặc trải qua muôn dặm, giây lát trở lại mà đều lấy được đồ vật ở phương kia.

Hoặc ở một chỗ hay trong nhà, cách chỉ vài bước bảo người ta đi từ vách phía Đông qua vách phía Tây, nhưng người ta đi mau cả năm không đến.

 Nhân đó người tu hành tin tưởng, cho là Phật hiện tiền.

 Miệng Ma thường nói mười phương chúng sanh đều là con ta, ta sanh Chư Phật, ta sanh thế giới. Ta là Phật nguyên thủy, tự nhiên ra đời, chẳng nhờ tu mà đắc.

Đây gọi là Thiên Ma trụ thế tự tại, nó khiến bọn quyến thuộc chưa phát tâm như bọn Giá Văn Trà hay đồng tử Tỳ Xá cõi Tứ Thiên Vương thích cái hư minh đến ăn tinh khí người tu hành.

 Hoặc không nhân ông thầy, người tu hành chính tự mình xem thấy bọn đó đến xưng là thần Chấp Kim Cang ban cho trường thọ.

Bọn đó hiện thân gái đẹp, thịnh hành việc dâm dục, làm cho chưa đến một năm, gan óc người tu khô kiệt, miệng lẩm bẩm một mình nghe như yêu mỵ.

Người ngoài chưa rõ biết, nên phần nhiều mắc phải lưới pháp luật, và chưa kịp xử hình đã chết khô trước. Thế là bọn Ma khuấy phá người tu hành đến phải ốm chết.

Ông nên tỏ biết trước thì chẳng lọt luân hồi, còn mê lầm không biết thì đọa ngục vô gián.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 06:49:55 AM »

(tiếp theo)

阿難。當知是十種魔。於末世時。在我法中。出家修道。或附人體。或自現形。皆言已成正遍知覺。讚嘆淫慾。破佛律儀。先惡魔師。與魔弟子。淫淫相傳。如是邪精魅其心腑。近則九生。多逾百世令真修行。總為魔眷。命終之後。必為魔民。失正遍知。墮無間獄。

“Anan, phải biết rằng mười thứ Ma đó, trong thời Mạt Pháp, hoặc xuất gia tu hành trong giáo pháp của Ta, hoặc gá thân người, hoặc tự hiện hình, đều nói là đã thành Chánh Biến Tri Giác, khen ngợi dâm dục, phá Luật Nghi Phật. Trước là thầy Ác Ma cùng đệ tử Ma dâm dục truyền nhau, tà ma như vậy mê hoặc lòng dạ, ít thì chín đời, nhiều thì trăm đời, khiến cho người tu hành chân chánh đều làm quyến thuộc của Ma. Sau khi chết đi hẳn làm dân Ma, bỏ mất Chánh Biến Tri, đọa ngục Vô Gián.

汝今未須先取寂滅。縱得無學。留願入彼末法之中。起大慈悲。救度正心深信眾生。令不著魔。得正知見。我今度汝已出生死。汝遵佛語。名報佛恩。阿難。如是十種禪那現境。皆是想陰用心交互。故現斯事。眾生頑迷。不自忖量。逢此因緣。迷不自識。謂言登聖。大妄語成。墮無間獄。汝等必須將如來語。於我滅後。傳示末法。遍令眾生開悟斯義。無令天魔得其方便。保持覆護。成無上道。

“Các ông nay chưa nên vội nhận lấy Niết Bàn tịch diệt trước. Dầu đắc quả Vô Học, cũng phát nguyện vào trong đời Mạt Pháp kia, khởi Tâm Đại Từ Bi mà cứu độ cho chúng sanh tâm địa ngay chánh, lòng tin tha thiết, khiến họ không mắc vào tà ma, được tri kiến chân chánh. Nay Ta đã độ các ông ra khỏi Sống Chết; các ông tuân theo lời Phật, đó gọi là báo Phật Ân.

“Anan, mười thứ cảnh hiện của Thiền Na như vậy đều thuộc về Tưởng Ấm, do dụng tâm giao xen lẫn nhau mà hiện các việc đó. Chúng sanh mê dại, chẳng biết tự xét, gặp nhân duyên ấy, mê chẳng tự biết, cho là lên bực Thánh, thành Đại Vọng Ngữ, đọa ngục Vô Gián.

Sau khi Ta diệt độ, các ông hãy đem lời nói này của Như Lai truyền dạy cho đời Mạt Pháp, khiến khắp chúng sanh đều tỏ ngộ nghĩa đó, không để cho Thiên Ma được dịp khuấy phá; giữ gìn che chở cho người tu hành thành Đạo Vô Thượng.

通曰。受陰既盡。想陰未除。何得成就六十聖位。謂五根既拔。心已離形。從是凡身。上歷菩提。始之以三增進。繼之以五十五位真菩提路。終之以等妙二覺。共成六十聖位。曰聖者。所以別於凡也。未脫根塵。為根塵所礙。如鳥在籠。既根塵銷落。寄根明發。如鳥出籠。得意生身。自初地至十地。有三種意生身。一入三昧樂意生身。謂心寂不動。即相似初信至七信入空位也。二覺法自性意生身。謂普入佛剎。以法為自性。即相似八信出假位也。三種類俱生無作意生身。謂了佛所證法。即九信十信修中位也。此意生身。乃初入三昧樂意生身耳。然想陰未破。即前如幽室見。如人寱語。已成音韻倫次。謂由是上歷六十聖位。決定成就。令想盡不寐者。咸悟其語。是名想陰區宇。若浮想銷除。如夢既覺。不復為想所覆。於覺明本體。毫無纖塵。則一倫生死。首尾圓照。生死與涅槃無異相。故曰一倫生死。其生也為首。其滅也為尾。不見生相。不見滅相。故曰首尾圓照。如明鏡垢除。不亂光輝。名想陰盡。一切煩惱。因想念有。唯念盡想亡。生滅心滅。煩惱從何而起。故能超煩惱濁也。想所由生。以融通妄想為之本。想能融變。使心隨境。使境隨心。若動念盡則心境俱亡。故能破融通妄想也。味著虛明之體。則魔入其心。今不耽著虛明。似有融通之妙。故曰受陰虛妙。不遭邪慮。然三摩地中。融通之意未化。則魔又乘其融通而惑之矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Thọ Ấm đã hết, Tưởng Ấm chưa trừ, làm sao được thành tựu sáu mươi địa vị Thánh ? Ấy là đã nhổ bật năm căn, tâm đã rời khỏi hình hài. Từ phàm thân đó, tiến lên trải nghiệm Bồ Đề : ban đầu dùng ba thứ tăng tiến, kế là dùng năm mươi lăm địa vị chân chánh của Bồ Đề, kết cuộc là, dùng hai cái Đẳng Giác và Diệu Giác, cộng thành sáu mươi Thánh vị. Gọi là Thánh là để phân biệt với phàm vậy.

Chưa thoát khỏi căn trần thì bị căn trần ngăn ngại, như chim ở trong lồng. Căn Trần đã tiêu tan, thì sự sáng suốt theo căn mà phát ra, như chim ra khỏi lồng, được Ý Sanh Thân.

Từ Sơ Địa đến Thập Địa, có ba thứ Ý Sanh Thân.

-Một là, Nhập Tam Muội Lạc Ý Sanh Thân, tức là tâm vắng lặng không động, tương tự với Sơ Tín đến Thất Tín, vào Không Vị.

-Hai là, Giác Pháp Tự Tánh Ý Sanh Thân, khắp vào Phật Sát, lấy Pháp làm Tự Tánh, tương tự Bát Tín, ra khỏi Giả Vị.

- Ba là, Câu Sanh Vô Tác Ý Sanh Thân, rõ chỗ chứng pháp của Phật, tức là Cửu Tín, Thập Tín, tu hành Trung Vị vậy.

Ý Sanh Thân ở đây là bắt đầu của Nhập Tam Muội Lạc Ý Sanh Thân. Nhưng Tưởng Ấm chưa phá, tức là như cái thấy trong nhà tối nói trước kia, như người ngủ nói mớ, lời nói đã thành âm vận thứ lớp, đó là do vậy mà tiến lên trải nghiệm sáu mươi Thánh vị, quyết định thành tựu, khiến cho những người hết Tưởng Ấm không còn ngủ say đều hiểu lời nói mớ ấy. Đây gọi là phạm vi của Tưởng Ấm.


Nếu cái vọng tưởng vật vờ tiêu trừ, thì như mộng đã tỉnh thức, không còn bị cái tưởng ngăn che, trong bản thể Giác Minh tuyệt không mảy bụi, một dòng sanh tử đầu đuôi vẹn toàn, sáng tỏ. Sanh tử với Niết Bàn không khác tướng, nên gọi là một dòng sanh tử. Sanh ấy là đầu, Diệt ấy là đuôi. Chẳng thấy tướng Sanh, chẳng thấy tướng Diệt, nên nói là “Đầu đuôi soi sáng khắp”. Như cái gương sáng hết bụi, ánh sáng rực rỡ không còn nhiễu loạn, gọi là Tưởng Ấm hết.

Tất cả phiền não, do Tưởng Niệm mà có. Thế nên, Niệm hết Tưởng tiêu, tâm sanh diệt liền diệt, phiền não từ đâu mà khởi, nên có thể vượt khỏi Phiền Não Trược. Nguyên do sanh khởi của tưởng là vọng tưởng dung thông làm gốc. Tưởng hay hòa hợp, biến đổi, khiến tâm theo cảnh, cảnh theo tâm. Bằng cái động niệm hết, tâm cảnh liền đồng đều tiêu mất, nên có thể phá trừ cái vọng tưởng dung thông vậy.

Tham luyến cái thể Hư Minh thì Ma vào trong tâm. Nay chẳng đắm luyến hư minh, tựa hồ có cái nhiệm mầu của sự dung thông, nên nói “Thọ Ấm hư diệu”, không còn mắc các tà lự. Nhưng trong Tam Ma Đề, cái ý dung thông chưa tiêu mất thì Ma bèn nương cái dung thông đó mà mê hoặc.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 09:01:13 PM »

(tiếp theo)

故心愛圓明。貪求善巧。則貪習怪鬼年老成魔者附人。說自化善巧等法以惑之。心愛遊蕩。貪求經歷。則淫習魃鬼年老成魔者附人。說他化邪見等法以惑之。心愛綿。貪求契合。則詐習魅鬼年老成魔者附人。說開悟他心宿命等法以惑之。心愛根本。貪求辨析。則冤習蠱毒及誑習魘勝惡鬼年老成魔者附人。說現前是佛等法以惑之。心愛懸應。貪求冥感。則瞋習癘鬼年老成魔者附人。說冥感度人等法以惑之。心愛深入。樂處陰寂。則慢習大力鬼年老成魔者附人。說未來因果等法以惑之。心愛知見。貪求宿命。則見習山林土地城隍川岳等鬼年老成魔者附人。說珠寶奇異等法以惑之。心愛神通。研究化元。則訟習依人之鬼。一切山河草木積劫精魅。及壽終仙為怪所附。年老成魔者附人。說撮光履水透垣入瓶神通等法以惑之。心愛入滅。貪求深空。則枉習休征之類。日月精氣。金玉芝草。麟鳳龜鶴。不死為靈。年老成魔者附人。說無因果。出入虛空等法以惑之。心愛長壽。貪求永歲。欲棄分段而求變易。細相常住。乃斷見思惑而生法性土者。非世間之魔可得而惑也。於是住世自在天魔。居欲界第六天者。使其眷屬毗舍遮等。惱亂是人。毗舍遮中。已發心者。則護持正法。其未發心者。則啖人精氣至現美女身。令人肝腦枯竭。亦太磣矣。此所謂道愈高則魔愈盛。防範不可不嚴也。夫圓明善巧。遊歷佛土。綿密契證。辨析根元。冥感懸應。深入寂靜。知通宿命。神通無礙。入滅盡定。永劫不毀。皆真修行分內之事。於此精研。亦不為過。但始之以愛。繼之以貪。則心有所著。有著便是欲。故魔得乘其愛。遂其貪。引之以淫慾。至破律儀而不顧也。魔亦究心涅槃。唯不能斷淫。故入鬼神邪定。而以害正為事。害正使歸其黨。不欲使正道成也。正道若成。意想俱滅。彼魔宮盡為摧裂。安得不百計相撓哉。


 Bởi thế, tâm mà ưa sự tròn đầy sáng suốt, tham cầu thiện xảo thì giống quái quỉ có tập quán tham lam, lâu năm thành Ma gá vào, nói và biến hóa các pháp thiện xảo để mê hoặc.

Tâm ưa ngao du phóng đãng, tham cầu dạo chơi thì giống Bạt Quỉ có tập quán dâm dục, lâu năm thành Ma gá vào, nói và biến hóa những pháp tà kiến để mê hoặc.

Tâm ưa thầm hợp, tham cầu được khế hợp thì giống Mỵ Quỉ có tập quán dối trá lâu năm thành Ma gá vào, nói và khai mở các pháp tha tâm và túc mạng thông để mê hoặc.

Tâm ưa biết cội gốc, tham cầu phân biệt chia chẻ thì giống Cổ Độc Quỉ có tập quán lừa dối lâu năm thành Ma gá vào, nói rằng hiện tiền là Phật để mê hoặc.

Tâm ưa sự cảm ứng huyền nhiệm, tham cầu sự cảm ứng linh nhiệm thì giống Lệ Quỉ có tập quán giận dữ, lâu năm thành Ma gá vào, nói các pháp linh ứng huyền nhiệm độ thoát để mê hoặc.

Tâm ưa sự thâm nhập, thích ở chỗ vắng vẻ thì giống Đại Lực Quỉ có tập quán kiêu mạn lâu năm thành Ma gá vào, nói các pháp nhân quả vị lai để mê hoặc.

Tâm ưa tri kiến, tham cầu túc mạng thì giống quỉ núi rừng, thổ địa, thành hoàng, sông núi có thói quen dòm ngó lâu năm thành Ma, nói các pháp châu báu kỳ dị để mê hoặc.

Tâm ưa thần thông, nghiên cứu nguồn gốc biến hóa thì giống Quỉ nương theo người có thói quen tranh tụng, tất cả loài tinh mỵ của núi sông, cây cỏ đã sống nhiều kiếp và loài tiên đến số chết bị loài quái bám vào, những loài ấy lâu năm thành Ma gá vào, nói các pháp thần thông nắm ánh sáng, đi trên nước, đi qua vách, vào trong hũ... để mê hoặc.


Tâm ưa nhập diệt, tham cầu cái rỗng không sâu nhiệm thì giống hưu trưng có tập quán cong vạy, giống tinh khí của nhật, nguyệt, giống vàng ngọc, chi thảo, giống lân, phụng, quy, hạc không chết thành linh, lâu năm thành Ma, gá vào nói các thứ thuyết không nhân quả, ra vào hư không... để mê hoặc.

Tâm ưa sự sống lâu, tham cầu sống mãi, muốn bỏ cái thân phần đoạn để cầu cái tướng biến dịch vi tế cho là thường trụ, bèn đoạn trừ Kiến Hoặc và Tư Hoặc mà sanh sang cõi Pháp Tánh Thổ. Ma của thế gian không thể mê hoặc được, nên Thiên Ma Trụ Thế Tự Tại ở cõi Trời thứ sáu của Dục Giới sai các quyến thuộc Tỳ Xá, Giá Văn Trà đến khuấy phá người tu. Trong đám Tỳ Xá Giá, nếu đã phát tâm thì hộ trì chánh, còn chưa phát tâm thi ăn tinh khí của người cho đến hiện thân làm gái đẹp khiến cho não, tủy của người khô kiệt, cũng thật ghê gớm vậy. Ấy là Đạo càng cao thì Ma càng thịnh, cho nên sự đề phòng không thể không nghiêm mật.

Phàm thiện xảo viên minh, du lịch cõi Phật, miên mật khế chứng, biện rõ cội nguồn, cảm ứng u huyền, thâm nhập tịch tĩnh, biết suốt túc mạng, thần thông vô ngại, vào Diệt Tận Định, vĩnh kiếp chẳng hoại, đều là việc trong phận sự của người chân tu.

Ở những điều đó mà cứu xét tinh tường cũng chẳng có gì là lỗi lầm, nhưng chỉ vì bắt đầu thì ưa, kế đó lại tham cầu, nên tâm có chỗ vướng mắc, có vướng mắc tức là Dục.

 Bởi thế, Ma nhân cái ưa này thỏa mãn cái tham cầu này mà dẫn dắt bằng sự dâm dục, cho đến nỗi phá Luật Nghi chẳng hề lưu ý. Ma cũng để tâm nghiên cứu Niết Bàn, mà chỉ vì không thể đoạn Dâm, nên lạc vào tà định của quỉ thần mà lấy việc phá hại người tu hành chánh đạo làm việc của mình.

Hại người tu chánh đạo để họ về phe đảng của Ma, chẳng muốn chánh đạo thành tựu vì chánh đạo mà thành tựu thì Ý và Tưởng đều diệt, cung điện của loài Ma kia bị đổ vỡ hết, há chẳng trăm mưu ngàn kế để phá ư ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Tư 19, 2011, 07:13:10 AM »

(tiếp theo)

阿難於選擇圓通之後。願度末劫一切眾生。深慮邪師說法如恆河沙。請問安立道場。遠諸魔事。於菩提心得無退屈。世尊至是盡數魔事而告之。令其留願於彼末法之中。起大慈悲。救度眾生。令不著魔。得正知覺。

Ngài Anan sau khi chọn lựa pháp viên thông nguyện độ hết thảy chúng sanh đời Mạt Pháp, Ngài suy nghĩ sâu xa rằng đời Mạt Pháp hạng tà sư nói pháp nhiều như cát sông Hằng, nên thừa hỏi cách an lập đạo tràng, lìa các Ma Sự, trong Bồ Đề Tâm được không lui sụt, khuất phục.

 Đến đây Đức Thế Tôn chỉ rõ về tất cả các Ma Sự, khiến cho những ai đã phát nguyện cứu độ chúng sanh đời Mạt Pháp khởi tâm đại từ bi khiến cho chúng sanh chẳng bị mắc vào tà ma, đắc Chánh Tri Kiến.



通曰。拳拳以淫淫相傳為戒。誠懼淫機之難斷也。如摩登伽殊為眇劣。梵天神咒。亦未為奇。尚能破佛律儀。為毀一戒。何況飛精附人。現種種神變。有不為其所惑者乎。大都魔具五通而止。眩之以五通。而要歸於贊淫。伎倆止此矣。若破想陰。證漏盡通。內無其應。外無能為。魔且不能正眼而覷。敢為煩亂耶。天衣懷示眾云。二千年前。大覺世尊。欲將諸聖眾。往第六天上。說大集經。敕他方此土。人間天上。一切獰惡鬼神。悉皆集會。受佛付囑。擁護正法。設有不赴者。四天門王。飛熱鐵輪。追之令集。既集會已。無有不順佛敕者。各發宏誓。擁護正法。唯有一魔王謂世尊曰。瞿曇。我待一切眾生成佛盡。眾生界空。無有眾生名字。我乃發菩提心。臨危不變。真大丈夫。諸仁者。作麼生著得一轉語。與黃面瞿曇出氣。尋常神通妙用。智慧辨才。到此總使不著。盡閻浮大地人。無不愛佛。到這裡。何者是佛。何者是魔。還有人辨得麼。良久云。欲識魔麼。開眼見明。欲識佛麼。闔眼見暗。魔之與佛。以拄杖一時穿卻鼻孔。妙喜為代一轉語云。幾乎錯喚你作魔王。此語有兩負門。若人指點得出。許你具衲僧眼。




 Đinh ninh dặn kỹ về Giới Dâm, vì sợ rằng cơ Dâm khó đoạn trừ vậy. Như Cô Ma Đăng Già sức yếu, dùng loại thần chú Phạm Thiên cũng chưa có gì là độc đáo mà còn suýt phá Luật Nghi Phật, suýt hủy một Giới, huống gì loại Ma cho tinh thần gá vào người, hiện ra đủ thứ thần biến thì há chẳng dễ bị mê hoặc ư ?

Đại khái, Ma chỉ có Ngũ Thông mà thôi, mê hoặc bằng Ngũ Thông, mà cốt yếu là khen ngợi Dâm Dục, tài nghề chỉ có vậy. Nếu phá Tưởng Ấm, chứng Lậu Tận Thông, trong không có gì ứng theo, thì ngoài có thể làm gì được ? Như thế, Ma còn không thể nhìn thẳng mặt há dám khuấy rối ư ?

Thiền sư Thiên Y Hoài khai thị đại chúng rằng : “Hai ngàn năm trước, Đức Đại Giác Thế Tôn muốn đem các Thánh Chúng lên cõi Trời Thứ Sáu để nói kinh Đại Tập, ra lệnh cho tất cả Quỉ Thần hung ác ở phương kia hay cõi này, dù nơi nhân gian hay trên trời đều đến tụ hội để nhận sự phó chúc của Phật mà ủng hộ Chánh Pháp. Nếu có ai không đến thì bốn vị Thiên Vương cỡi bánh xe sắt lửa bay đi tìm bắt đến nhóm hội. Khi đã tụ hội rồi, không có ai không theo lệnh của Phật, mỗi vị đều phát nguyện rộng lớn ủng hộ Chánh Pháp.

 
“Chỉ có một vị Ma Vương nói với Thế Tôn : “Ngài Cù Đàm ! Tôi đợi tất cả chúng sanh thành Phật hết rồi, cõi giới chúng sanh không còn, không còn cả cái danh từ chúng sanh, tôi mới phát Bồ Đề Tâm”.

“Lâm nguy chẳng đổi, chánh thật đại trượng phu !

“Này các nhân giả ! Làm sao nói được một chuyển ngữ cho ông lão Cù Đàm mặt vàng hả hơi ? Cái thần thông diệu dụng, trí huệ biện tài hàng ngày đến chỗ này đều xài chẳng được ! Người khắp cõi Diêm Phù đại địa chẳng có ai không thích Phật. Đến trong ấy, cái gì là Phật ? Cái gì là Ma ? Liệu có ai biện ra được không ?”

Giây lâu, Ngài nói : “Muốn rõ Ma ư ? Mở mắt thấy sáng. Muốn rõ Phật ư ? Nhắm mắt thấy tối. Ma với lại Phật, lấy cây trụ trượng xuyên suốt lỗ mũi cùng một lúc !”

Ngài Diệu Hỷ thay thế nói một chuyển ngữ : “Xém nữa gọi lầm ông là Ma Vương !”

Câu này có hai cửa phụ, có người nào chỉ điểm ra được, hứa cho là đủ con mắt của ông tăng tu Thiền!

五台山秘魔岩和尚。常持一木叉。每見僧來禮拜。即叉卻頸曰。那個魔魅教汝出家。那個魔魅教汝行腳。道得也叉下死。道不得也叉下死。速道速道。學徒鮮有對者。法眼代云。乞命。法燈代云。但引頸示之。玄覺代云。老兒家放下叉子得也。霍山通和尚訪之。才見。不禮拜。便攛入懷裡。岩拊通背三下。通起拍手曰。師兄三千里外賺我來。三千里外賺我來。便回。此諸尊宿播弄神通。直使魔等覷不著。溈山一日問仰山。涅槃經四十捲。多少是佛說。多少是魔說。仰曰。總是魔說。溈曰。已後無人奈子何。仰曰。慧寂即一期之事行履在甚麼處。溈曰。祗貴子眼正。不說子行履。故能具仰山擇法眼。則無虞魔事矣。

Hòa Thượng Bí Ma Nham ở Ngũ Đài Sơn thường cầm một cây gậy chảng hai, khi thấy vị tăng nào đến lễ bái liền lấy chảng hai kẹp cổ mà nói : “Con Ma Quỷ nào dạy ông xuất gia ? Con Ma Quỷ nào dạy ông hành cước ? Nói được thì xỉa chết tươi, nói không được cũng xỉa chết tươi. Nói mau, nói mau !”

Đám học trò ít ai đối đáp được.

Ngài Pháp Nhãn thay thế nói rằng : “Xin tha mạng !”

Ngài Pháp Đăng thay thế nói : “Chỉ cần đưa cổ ra dạy cho !”

Ngài Huyền Giác thay thế nói : “Này ông già, ném cây chảng hai đi được rồi đấy !”

Hòa Thượng Hoắc Sơn Thông đến thăm Hòa Thượng Bí Ma Nham, vừa thấy chẳng lễ bái, liền ném tuốt cây chảng hai vào trong bọc.

Ngài Nham vỗ lưng Ngài Thông ba cái.

Ngài Thông đứng lên, vỗ tay, nói : “Sư huynh ngoài ba ngàn dặm gạt tôi, nhé ! Ngoài ba ngàn dặm gạt tôi, nhé !”

Rồi bỏ ra về.

Ở đây, các vị tôn túc hiển lộng thần thông, ngay đó mà khiến Ma nhìn không ra.


Một hôm, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Kinh Niết Bàn bốn mươi quyển, nhiều ít là Phật nói, nhiều ít là Ma nói”.

Ngài Ngưỡng : “Đều là Ma nói”.

Tổ Quy nói : “Về sau không có người nào chịu ông cho nổi”.

Ngài Ngưỡng : “Huệ Tịch tức là chuyện một lần, đi đứng tại chỗ nào ?”

Tổ Quy nói : “Chỉ quý trọng con mắt ngay chánh của ông, chẳng nói sự đi đứng của ông !”

Cho nên nếu có thể có đủ con mắt pháp phân biệt thì không lo gì việc Ma vậy.



HẾT QUYỂN  IX   XEM  TIẾP  QUYỂN   X

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Tư 19, 2011, 07:16:59 AM »


LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG - QUYỂN X

卍新纂續藏經第 16 冊 No. 0318 楞嚴經宗通


大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第十


  阿難。彼善男子修三摩提。想陰盡者。是人平常夢想銷滅。寤寐恆一。覺明虛靜。猶如晴空。無復粗重前塵影事。觀諸世間大地山河。如鏡鑑明。來無所黏。過無蹤跡。虛受照應。了罔陳習唯一精真。生滅根元。從此披露。見諸十方十二眾生。畢殫其類。雖未通其各命由緒。見同生基。猶如野馬。熠熠清擾。為浮根塵究竟樞穴。此則名為行陰區宇。若此清擾熠熠元性。性入元澄。一澄元習。如波瀾滅。化為澄水。名行陰盡。是人則能超眾生濁。觀其所由。幽隱妄想以為其本。阿難。當知是得正知奢摩他中諸善男子。凝明正心。十類天魔。不得其便。方得精研窮生類本。於類本中生元露者。觀彼幽清。圓擾動元。於圓元中起計度者。是人墜入二無因論。一者是人見本無因。何以故。是人既得生機全破。乘於眼根八百功德。見八萬劫所有眾生。業流灣環。死此生彼。祗見眾生輪迴其處。八萬劫外。冥無所觀。便作是解。此等世間十方眾生。八萬劫來。無因自有。由此計度。亡正遍知。墮落外道。惑菩提性。二者是人見末無因。何以故。是人於生既見其根。知人生人。悟鳥生鳥。烏從來黑。鵠從來白。人天本豎。畜生本橫。白非洗成。黑非染造。從八萬劫。無復改移。今盡此形。亦復如是。而我本來。不見菩提。云何更有成菩提事。當知今日一切物象。皆本無因。由此計度。亡正遍知。墮落外道。惑菩提性。是則名為第一外道立無因論。


E. PHẠM VI CỦA HÀNH ẤM


Kinh : “Anan, thiện nam tử kia, tu Tam Ma Đề, khi Tưởng Ấm hết rồi thì những mộng tưởng bình thường của người ấy tiêu diệt. Thức, ngủ là một, tánh Giác Minh rỗng lặng như hư không trong trẻo, không còn những sự tướng tiền trần thô trọng. Xem những núi sông, đất liền của thế gian như gương soi sáng, đến không chỗ dính, đi không dấu vết, rỗng thọ chiếu ứng, rõ ràng không còn các tập khí, chỉ thuần một tính Tinh Chân.

“Căn nguyên của Sanh Diệt từ đó phơi lộ ra, thấy được mười hai loài chúng sanh mười phương, rõ hết các loài. Tuy chưa thông suốt manh mối của mỗi chúng sanh nhưng đã thấy cái cơ sở sanh diệt chung, giống như bóng dã mã, vùn vụt lăng xăng sơ tượng hiện ra, làm cái then chốt phát sanh của Phù căn trần. Đây gọi là phạm vi của Hành Ấm.


“Nếu cái nguồn gốc của những chớp nhoáng lăng xăng đó nhập vào tánh lặng trong bản lai, những tập khí nguồn gốc lặng trong thành một phiến, như sóng mòi diệt hóa thành nước đứng, thì gọi là Hành Ấm hết. Người đó liền vượt khỏi Chúng Sanh Trược. Xét lại nguyên do, cội gốc là Vọng Tưởng u ẩn.

“Anan, ông nên biết rằng các thiện nam tử được sự Chánh Tri trong Tam Ma Đề thì Chánh Tâm đứng lặng sáng suốt, mười loài Thiên Ma không còn được dịp khuấy phá, mới được cứu xét cùng tột cái cội gốc sanh loại. Nơi cái cội gốc sanh loại, nguồn gốc sự sống bày lộ ra. Xét cái cội nguồn máy động lăng xăng tròn khắp giản phác u ẩn kia ở trong Tánh vốn toàn vẹn lại mống tâm so đo suy diễn, thì người đó rơi lọt vào hai thứ luận Vô Nhân.

“Một là, người đó thấy cái gốc vốn không có Nhân. Vì sao thế ? Người đó đã phá lộ hoàn toàn được cơ quan của Sanh Diệt, nương theo tám trăm công đức của Nhãn Căn, thấy được trong tám muôn kiếp tất cả chúng sanh đều do dòng nghiệp lực mà xoay vần, chết đây sanh kia.

Chỉ thấy chúng sanh luân hồi trong đó, ngoài tám muôn kiếp thì mờ mịt không thấy gì, bèn khởi tâm suy diễn rằng những loài chúng sanh mười phương trong thế gian này trước tám vạn kiếp không có Nhân, mà tự có. Do sự suy diễn này, bỏ mất Chánh Biến Tri, rơi lạc vào ngoại đạo, mê lầm Tánh Bồ Đề.


“Hai là, người đó thấy cái ngọn không có Nhân. Vì sao thế ? Người đó nơi sự Sanh Diệt đã thấy cội gốc, biết rằng người sanh người, rõ chim sanh chim, quạ xưa nay đen, hộc xưa nay trắng, người, trời thì thân đứng, súc sanh thì thân ngang, màu trắng không phải do tẩy mà thành, màu đen chẳng phải do nhuộm mà ra.

Suốt tám muôn kiếp không hề dời đổi, sống hết đời này cũng lại vẫn vậy, mà mình xưa nay chẳng thấy Bồ Đề, làm sao có chuyện thành tựu Bồ Đề, rồi cho rằng tất cả sự vật ngày nay đều vốn không có Nhân. 


“Do so đo suy diễn như vậy, bỏ mất Chánh Biến Tri, rơi lạc vào ngoại đạo, mê lầm Tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Nhất, lập ra luận Vô Nhân.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Tư 19, 2011, 07:20:16 AM »


(tiếp theo)

通曰。想陰未盡。寤則取像。寐則成夢。故逐前塵粗重影事。想陰既盡。內守幽閒。寤寐恆一。覺明虛靜。如鏡鑑明。雖無去來蹤跡。卻有光明影子。猶為法塵邊事。向來前塵昏擾。但隨生滅流轉。不睹根元。今虛受照應。惟一精真。生滅既停。而其根元從此披露。見同生基。綿綿密密。微細遷流。是為無風匝匝之波。野馬者。游埃也。熠熠者。螢光也。行陰微細。如日光所照隙塵。熠熠然了無住相。乍生乍滅。無復粗影。故曰清擾。清擾四大為浮根四塵根元。其體本空。究竟樞穴。實在於此。黏湛發起。故有六根。自人天以至螻蟻。莫不各有四大六根。故為十二眾生同生之基。是名行陰區宇。若通別相。能見眾生各命由緒。慧福不齊。由於多生積習種子發現。屬識陰邊事。故非行陰所測。然此行陰清擾之性。本自無擾。故曰元性。其不能不擾者。多生習氣也。故曰元習。習不能澄習。唯性歸元。則能澄靜。以一澄靜之性。澄其元習。則遷流相盡。無風匝匝之波滅。則化為澄水矣。化為澄水。至湛不搖處。名行陰盡。是人則能超眾生濁。眾生濁者。生滅不停。業運常遷。今於不停者停矣。常遷者不遷矣。幾入滅盡。故能超也。然行陰密移。曾無覺悟。以幽隱妄想為本。於其幽閒隱密而破除之。非徹悟性體者不能也。彼寤寐恆一。是得正知。與前動靜不移。憶忘如一。當住此處。入三摩地。同一脈路。以此為發悟階級則可。便執以為實證則不可。故想陰盡者。凝明正心。邪慮無自而生。即十類天魔。亦無緣而入。天魔未離邪想而現神變。今想陰盡。觀見幽清動元。蓋已入乎無想之天矣。六慾天魔所不得而窺也。幽清。本無所動也。圓擾。則動而未嘗動也。故謂之動元。動元雖圓。不離生滅。於此生計度者。總於生滅中計無因也。一者見本無因。不悟善惡業緣。唯識所造。祗憑生相暫無。行流不息。於其定中。發宿命通。見八萬劫來。眾生輪迴。如環無端。便以眾生無因。自然而有。自八萬劫外。冥無所觀。固不知菩提為正因也。二者見末無因。不悟善惡業果。唯心所召。祗憑通力。能見八萬劫後。長時業果。未轉移相。便以人畜黑白橫豎從來如此。非因修得。固不知菩提為極果也。惑菩提性。不名正知。止知前後八萬劫。不名遍知。外道末伽黎。謂眾生苦樂。不因行得。皆自然爾。正坐此見。此二無因。僅見七識無根。傳送暫息。而生此計度。以七識內但依於八識。生之無本。遂謂本無因。以七識外但依於六識。推之無用。遂謂末無因。唯見其流注不息。乃謂自然如此。鏡清問靈云。混沌未分時如何。云曰。露柱懷胎。清云。分後如何。云曰。如片云點太清裡。清云。祗如太清還受點也無。云不對。清云。恁麼則含生不來也。云亦不對。清云。直得純清絕點時如何。云曰。猶是真常流注。清云。如何是真常流注。云曰。似鏡常明。清曰。向上更有事否。云曰有。清曰。如何是向上事。云曰。打破鏡來。與子相見。天童拈云。分與未分。玉機夜動。點與不點。金捘暗拋。直是一色純清。未得十成安隱。且道打破鏡來。向什麼處相見。還會麼。清秋老兔吞光後。湛水蒼龍蛻骨時。此真常流注。恰與行陰相符。而似鏡常明。亦與如鏡鑑明無異。若能破鏡相見。如湛水蒼龍。蛻骨而出。則幾轉成智矣。寧但破行陰而已哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Tưởng Ấm chưa hết thì khi thức bám lấy hình tướng, khi ngủ thành ra mộng mị, bởi thế đuổi theo bóng dáng tiền trần thô trọng. Tưởng Ấm đã hết, bên trong giữ lấy sự yên tĩnh, vắng vẻ, thức ngủ là một, sự giác minh rỗng lặng như gương soi sáng, tuy không có dấu vết tới lui, vẫn còn có bóng dáng quang minh, vẫn còn là việc bên phía pháp trần.

Trước đây, tiền trần ám che quấy nhiễu, chỉ tùy sanh diệt mà trôi lăn, chẳng thấy cái gốc nguồn, nay đã rỗng thọ chiếu ứng, chỉ thuần một tính Tinh Chân, Sanh diệt đã dừng, do đó mà cái căn nguyên hiển lộ, thấy được cái cơ sở Sanh Diệt chung, miên miên mật mật, đổi dời vi tế, ấy là sóng lăn tăn mà không gió. Dã mã là bụi lăng xăng, vùn vụt là chớp nhoáng vậy. Hành Ấm vi tế giống như bụi lăng xăng khi mặt trời chiếu qua khe cửa. Vùn vụt chớp nhoáng thì rõ là không có tướng trụ, chợt sanh chợt diệt, không còn ảnh tướng nặng nề nên gọi là lăng xăng sơ tượng (thanh nhiễu).

Bốn Đại, cái lăng xăng sơ tượng là căn nguyên của phù căn tứ trần, thể của nó vốn không, là cái then chốt phát sanh, thật là ở chỗ này. Dính che tánh lặng trong mà phát khởi, thì có sáu Căn.

Từ người, trời cho đến trùng, kiến, không loài nào không có bốn Đại, sáu Căn, nên cái lăng xăng sơ tượng của bốn Đại là cơ sở Sanh Diệt chung của mười hai loài chúng sanh. Đây gọi là phạm vi của Hành Ấm.

Nếu thông đạt được biệt tướng thì có thể thấy mối manh của chúng sanh, Huệ Phước chẳng đồng đều vì do nhiều đời tích tập chủng tử mà phát hiện ra. Đó thuộc về phía Thức Ấm, cho nên mới đến Hành Ấm thì không có lăng xăng, nên nói là nguyên tánh.

Cái chỗ không thể không bị nhiễu loạn ấy là do tập khí nhiều đời vậy, nên gọi là tập khí nguồn gốc. Tập khí không thể làm lặng đứng tập khí, chỉ có tánh về nguồn thì có thể lắng trong, dùng cái tánh lắng trong mà lắng đứng tập khí nguồn gốc thì sự trôi lăn dứt hết, như không có gió thì sóng lăn tăn diệt, liền hóa thành nước đứng vậy. Nước đứng yên cho đến chỗ lắng trong chẳng chao động thì gọi là Hành Ấm hết, người ấy liền siêu việt Chúng Sanh Trược.


Chúng Sanh Trược nghĩa là sanh diệt chẳng dừng, dòng nghiệp thường trôi dời. Nay cái chẳng dừng đã dừng, chỗ thường trôi dời ấy chẳng trôi dời nữa, hầu như vào Diệt Tận Định, nên là siêu việt. Nhưng Hành Ấm âm thầm dời đổi, chưa từng là Giác Ngộ, lấy cái Vọng Tưởng u ẩn làm gốc. Ở chỗ u nhàn ẩn mật mà phá trừ được, chẳng phải là người triệt ngộ thì không thể làm nổi.

 Người đó thức ngủ là một, đó là được Chánh Tri, cũng như ở trước, Động tĩnh chẳng dời, nhớ quên như một, trụ ngay chỗ ấy mà vào Tam Ma Đề, cùng một đường mạch. Dùng đó làm tầng bậc phát ngộ thì nên, còn nắm giữ mà cho là thật chứng thì không nên.

Bởi thế, Tưởng Ấm hết thì chánh tâm lặng sáng, các tà lự tự chúng không từ đâu mà sanh, ắt mười loại Thiên Ma cũng không có cơ duyên gì để vào. Thiên Ma chưa từng rời tà tưởng mà hiện được thần biến, nay Tưởng Ấm hết sạch, xem xét thấy cái cội nguồn lay động u ẩn giản phác là đã vào cõi trời Vô Tưởng vậy. Thiên Ma của sáu cõi trời Dục Giới chẳng thể trộm thấy được.

U ẩn giản phác là vốn không có chỗ động. Lăng xăng tròn khắp là động mà chưa từng động vậy, nên gọi là cội nguồn máy động. Cái cội nguồn máy động tuy là tròn khắp mà chẳng là sanh diệt, nên ở đây mà suy diễn thì đều là ở trong sanh diệt mà suy diễn ra sự Vô Nhân vậy.

Một là, thấy cái gốc vốn không có Nhân, chẳng ngộ được nghiệp duyên thiện ác là duy Thức tạo ra. Chỉ bằng vào cái sanh tướng tạm thời không có mà cái Hành Ấm trôi chảy chẳng ngừng, ở trong Định này phát ra Túc Mạng Thông, thấy trong tám vạn kiếp chúng sanh luân hồi như chiếc vòng không có đầu mối, bèn cho chúng sanh là không có Nhân, tự nhiên mà có. Ngoài tám vạn kiếp mờ mịt không thấy gì, nên chẳng biết Bồ Đề là Chánh Nhân vậy.

Hai là, thấy cái ngọn không có Nhân, chẳng ngộ được nghiệp quả thiện ác là do Tâm chiêu cảm. Chỉ cậy vào sức thần thông có thể thấy sau tám vạn kiếp, mà cái tướng chưa dời đổi của nghiệp quả lâu dài, bèn cho rằng người, vật, đen, trắng, dọc, ngang xưa nay như vậy, chẳng phải do tu mà được, nên không biết Bồ Đề là cực quả.


Mê lầm tánh Bồ Đề thì chẳng gọi là Chánh Tri. Chỉ biết trước sau tám vạn kiếp thì chẳng gọi là Biến Tri. Ngoại đạo Mạt Già Lê nói rằng khổ vui của chúng sanh không do hành vi mà được, đều tự nhiên như vậy, chính là kiến giải này.

Hai cái thuyết Vô Nhân này chỉ thấy đến chỗ Thức Thứ Bảy không có gốc, nên sự truyền tống vào Thức Thứ Tám tạm ngừng mà sanh ra sự so đo này. Vì Thức Thứ Bảy bên trong chỉ nương theo Thức Thứ Tám, sanh mà không có gốc, nên cho là gốc vốn không Nhân. Vì Thức Thứ Bảy bên ngoài chỉ nương theo Thức Thứ Sáu, nên cho là vô dụng, bèn bảo là ngọn không có Nhân. Chỉ thấy sự trôi chảy không ngừng của Thức Thứ Bảy, bèn cho rằng tự nhiên như vậy.

Thầy Kính Thanh hỏi Tổ Linh Vân : “Hỗn độn chưa phân thì thế nào ?”

Tổ Vân nói : “Cây lộ trụ mang thai !”

Thầy Thanh : “Phân rồi thì thế nào ?”

Tổ Vân nói : “Như điểm mây trong bầu trời”.

Thầy Thanh : “Thế thì bầu trời có bị chấm không ?”

Tổ Vân không đáp.

Thầy Thanh rằng : “Như thế thì cả hàm linh chẳng có đến vậy ?”

Tổ Vân cũng không đáp.

Thầy Thanh : “Ngay đây được ròng trong không một điểm thì thế nào ?”

Tổ Vân nói : “Vẫn còn là cái chân thường trôi chảy”.

Thầy Thanh : “Như sao là chân thường trôi chảy”.

Tổ Vân : “Tương tự gương thường sáng”.

Thầy Thanh : “Hướng thượng lại có việc gì chăng?”

Tổ Vân : “Có”.

Thầy Thanh : “Như sao là việc hướng thượng ?”

Tổ Vân : “Đập vỡ gương rồi; cùng ông tương kiến!”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Phân với chưa phân : khung cửi ngọc ban đêm động. Điểm với chẳng điểm : thoi vàng trong tối vất. Dầu là một sắc vàng ròng trong, chưa được mười phần yên ổn. Hãy nói đập vỡ gương rồi hướng về đâu tương kiến ? Có hiểu chăng ?

“Thỏ ngọc mất rồi trời thu sáng
Nước trong rồng thoát cốt tức thời”.

Cái chân thường trôi chảy nhặt nhiệm này vừa vặn phù hợp với Hành Ấm, Tương tự gương thường sáng, cũng là Gương soi sáng của Kinh không khác. Nếu đập vỡ gương đi mà tương kiến, như rồng nơi nước trong thoát cốt mà ra thì chuyển ngay thành Trí vậy. Đâu phải chỉ phá Hành Ấm mà thôi ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Tư 19, 2011, 07:23:48 AM »


(tiếp theo)

阿難。是三摩中諸善男子。凝明正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於圓常中起計度者。是人墜入四遍常論。一者是人窮心境性二處無因。修習能知二萬劫中十方眾生。所有生滅。咸皆循環。不曾散失。計以為常。二者是人窮四大元。四性常住。修習能知四萬劫中十方眾生。所有生滅。咸皆體恆。不曾散失。計以為常。三者是人窮盡六根末那執受。心意識中本元由處。性常恆故。修習能知八萬劫中一切眾生。循環不失。本來常住。窮不失性。計以為常。四者是人既盡想元。生理更無流止運轉。生滅想心。今已永滅。理中自然成不生滅。因心所度。計以為常。由此計常。亡正遍知。墮落外道。惑菩提性。是則名為第二外道。立圓常論。


Kinh : “Anan, trong Tam Ma Đề đó, các thiện nam tử chánh tâm lặng trong, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột cội gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, trong Tánh Viên Thường lại khởi lên so tính thì người ấy sa vào bốn cái Luận Biến Thường.

Một là, người ấy xét cùng tánh của Tâm Cảnh, cả hai đều không có Nhân. Tu tập biết được trong hai vạn kiếp mười phương chúng sanh, chỗ có sanh diệt đều là xoay vần, chưa hề tan mất, nên chấp đó là Thường.

Hai là, người ấy xét cùng nguồn gốc tứ Đại, thấy bốn Đại thường trụ. Tu tập biết được trong bốn vạn kiếp, mười phương chúng sanh, chỗ có sanh diệt đều nằm trong bản thể thường hằng, chưa hề tan mất, nên chấp đó là Thường.

Ba là, người ấy xét cùng sáu Căn, trong Tâm, Ý và Thức của Mạt Na Thức chấp thọ thì thấy cái gốc gác nguyên do tánh vẫn thường hằng. Tu tập biết được trong tám vạn kiếp, tất cả chúng sanh xoay vần chẳng mất, bản lai thường trụ. Xét cùng cái tánh chẳng mất đó, chấp ấy là Thường.

Bốn là, người ấy đã hết Tưởng Ấm, cái lẽ sanh diệt không còn, sự trôi chuyển dừng lặng, tâm tưởng sanh diệt nay đã vĩnh viễn diệt dứt. Trong lý tự nhiên thành ra cái chẳng sanh diệt. Do tâm so tính mà chấp đó là Thường.

“Do những sự Chấp Thường ấy, bỏ mất Chánh Biến Tri, sa vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Hai, lập ra những luận Viên Thường.


通曰。立無因論者。見其斷。立圓常論者。見其常。推之亦斷亦常。非斷非常。總不出斷常邪見也。窮生類本。至圓擾動元。見其虛而愈出。動而不窮。便計為常。從廣至狹。從粗入精。略有次第。一者通五陰四大心境二處。皆無因自有。循環不失。二者但指地水火風清淨四大之性。能成眾生色陰。體恆不變。三者但指心識六根所依末那七識。執受之心。執受之意。執受之識。本元由處。即行陰也。眾生雖有循環。而行陰不失。即此七識為常住性。如見細流。謂之止水。無始以來生死本。痴人喚作本來人。此之謂也。四者妄認行陰為自然理。謂生滅想心既已滅盡。其永滅處。自然成不生滅。於此生滅中。計不生滅。如見虛空謂之常住。不知虛空亦可滅也。且又因心計度為常。非真見其常者比。此四尚未睹八識真常流注。何況轉識而見菩提性乎。瑞岩問岩頭。如何是本常理。頭曰動也。岩曰。動時如何。頭曰。不見本常理。岩佇思。頭曰。肯即未脫根塵。不肯即永沉生死。岩乃禮拜。天童頌云。圓珠不穴。大璞不琢。道人所貴無棱角。拈卻肯路根塵空。脫體無依活卓卓。此於本來常住。見之極真。肯之一字。尚須拈卻。而況計度執受神我。墜入圓常窟中。終從淪墮。豈能常也。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Lập ra luận Vô Nhân là vì thấy Đoạn, lập ra luận Viên Thường là do thấy Thường. Suy ra Cũng Đoạn cũng Thường, chẳng phải Đoạn, chẳng phải Thường đều không ra khỏi tà kiến Đoạn-Thường. Cứu xét cùng tột cội gốc sanh loại cho đến cội nguồn máy động thì thấy nó hư rỗng mà càng phát ra, động mà chẳng cùng, bèn chấp là Thường.

Từ rộng đến hẹp, từ thô đến tinh, đại khái có thứ lớp :

-Một là, thông đạt rằng năm Ấm, bốn Đại, Tâm Cảnh cả hai đều không có Nhân mà tự có, tuần hoàn chẳng mất.

-Hai là, chỉ thấy cái tánh của bốn Đại thanh tịnh, có thể thành cái Sắc Ấm của chúng sanh, thể thường bất biến.

- Ba là, chỉ thấy Tâm Thức, sáu Căn nương vào Thức Thứ Bảy Mạt Na, chấp thọ là Tâm, chấp thọ là Ý, chấp thọ là Thức. Bổn nguyên của các thứ này là Hành Ấm. Chúng sanh tuy có tuần hoàn mà Hành Ấm chẳng mất, thì cái Thức Thứ Bảy này là tánh thường trụ. Như nhìn nước chảy xiết mà cho là đứng yên. Đây chính là Vô thủy đến nay, nguồn sanh tử. Người si lại gọi Bổn Lai Nhân.

-Bốn là, nhận lầm Hành Ấm là lý Tự Nhiên, cho rằng cái tâm tưởng sanh diệt đã diệt hết, thì chỗ diệt dứt vĩnh viễn đó tự nhiên thành cái chẳng sanh diệt. Vậy là ở trong sanh diệt mà chấp là chẳng sanh diệt. Ví như thấy hư không bèn cho là Thường Trụ, chẳng biết hư không cũng có thể diệt. Lại nữa, nhân nơi tâm mà so tính cho là thường, thì chẳng thể so sánh với cái thấy chân thật cái Thường vậy.

Bốn cái chấp này còn chưa thấy được sự trôi chảy thường hằng của Thức Thứ Tám, huống là chuyển Thức để thấy Tánh Bồ Đề ư ?

Thầy Thụy Nham hỏi Tổ Nham Đầu : “Như sao là lý bổn thường ?”

Tổ Đầu nói : “Động”.

Thầy Nham : “Khi động thì sao ?”

Tổ Đầu : “Chẳng thấy lý bổn thường !”

Thầy Nham dừng lại suy nghĩ.

Tổ Đầu nói : “Chịu thì chẳng thoát căn trần. Không chịu thì mãi chìm sanh tử”.

Thầy Nham lễ bái.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Viên châu (ngọc) chẳng xoi lỗ
Ngọc khối chẳng phải mài
Đạo nhân vốn quý không góc cạnh
Khẳng định vất đi, căn trần không
Thoát thể vô y, đời tự tại”.

Đây là chỗ xưa nay thường trụ, thấy cái cực chân. Một chữ Khẳng  -(ct) Chịu. ) còn vất bỏ đi, huống là so đo chấp thọ Thần Ngã để sa vào hang tối Viên Thường, rốt rồi chìm đắm, há có thể Thường được ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Tư 20, 2011, 05:34:50 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於自他中起計度者。是人墜入四顛倒見。一分無常。一分常論。一者是人觀妙明心。遍十方界。湛然以為究竟神我。從是則計我遍十方。凝明不動。一切眾生於我心中。自生自死。則我心性。名之為常。彼生滅者。真無常性。二者是人不觀其心。遍觀十方恆沙國土。見劫壞處。名為究竟無常種性。劫不壞處。名究竟常。三者是人別觀我心。精細微密。猶如微塵。流轉十方。性無改移。能令此身即生即滅。其不壞性。名我性常。一切死生。從是流出。名無常性。四者是人知想陰盡。見行陰流。行陰常流。計為常性。色受想等。今已滅盡。名為無常。由此計度一分無常。一分常故。墮落外道。惑菩提性。是則名為第三外道一分常論。


Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề, các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, lại khởi tâm so tính ra cái Ta và cái khác Ta, thì người ấy sa vào bốn Kiến Chấp điên đảo, là những luận Một phần Vô Thường, một phần Thường.

“Một là, người ấy xét thấy cái tâm diệu minh lặng nhiên khắp mười phương cõi, cho là Thần Ngã rốt ráo. Từ đó suy diễn rằng Ta khắp cả mười phương, lặng sáng chẳng động, còn tất cả chúng sanh, ở trong tâm Ta tự sanh tự chết. Vậy thì tâm tánh của Ta gọi là Thường, còn các thứ sanh diệt kia là tánh Vô Thường.

“Hai là, người ấy không xét xem cái tâm, lại xét xem khắp mười phương hằng sa cõi nước, thấy chỗ kiếp hoại thì cho là chủng tánh rốt ráo Vô Thường, còn chỗ kiếp chẳng hoại thì gọi là rốt ráo Thường.

“Ba là, người ấy xét xem riêng cái Tâm mình, thấy nó tinh tế nhỏ nhiệm giống như vi trần, lưu chuyển mười phương, tính không dời đổi. Có thể khiến thân này liền sanh liền diệt. Cho cái tánh chẳng hoại đó là tính Thường của mình, còn tất cả sự sanh tử từ tánh ấy sanh ra thì gọi là tánh Vô Thường.

“Bốn là, người ấy biết Tưởng Ấm hết, thấy dòng Hành Ấm, chấp rằng sự trôi chuyển không ngừng của Hành Ấm là tánh Thường, còn Sắc, Thọ, Tưởng nay đã diệt hết thì cho là Vô Thường.

“Do sự so tính Một phần Vô Thường, một phần Thường đó mà sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Ba, lập ra những luận Một Phần Thường.


通曰。此亦常亦無常見也。本妙明心。遍十方界。未嘗不是。但執為神我則非也。唯執是我。正是末那執受意識。雖云凝明不動。其中微細遷流。即生滅種子。特不自覺耳。既以暫時不動心性名之為常。又以一切眾生生滅為無常性。則所謂遍十方者有二我也。豈不顛倒。無論心性。只論國土。則三禪以下。三災所及。名之無常。四禪以上。災不能及。名究竟常。無論國土。但論心性。性無改移。名我性常。死此生彼。名無常性。始合自他總計常無常。既分自他各計常無常。又復以行陰為自。色受想為他。行陰常流。名為常性。想等滅盡。名無常性。於一心中分常無常。是以心有二也。豈不顛倒。此視前圓常之論。稍無拘執。然源頭不清。總屬謬計。忠國師問僧何方來。曰南方來。師曰。南方知識如何示人。曰。彼方知識。直下示學人即心即佛。佛是覺義。汝今悉具見聞覺知之性。此性善能揚眉瞬目。去來運用。遍於身中。挃頭頭知。挃腳腳知。故名正遍知。離此之外。更無別佛。此身即有生滅。心性無始以來。未曾生滅。身生滅者。如龍換骨。蛇蛻皮。人出故宅。即身是無常。其性常也。南方所說。大約如此。師曰。若然者。與彼先尼外道。無有差別。彼云。我此身中。有一神性。此性能知痛癢。身壞之時。神則出去。如舍被燒。舍主出去。舍即無常。舍主常矣。審如此者。邪正莫辨。孰為是乎。吾比遊方。多見此色。近尤盛矣。聚卻三五百眾。目視云漢。云是南方宗旨。把他壇經改換。添糅雜譚。削除聖意。惑亂後徒。豈成言教。苦哉吾宗喪矣。若以見聞覺知是佛性者。淨名不應云法離見聞覺知。若行見聞覺知。是則見聞覺知。非求法也。僧又問法華了義經開佛知見。此復若為。師曰。他云開佛知見。不言菩薩二乘。豈以眾生痴倒。便同佛之知見耶。行昌問於六祖曰。弟子常覽涅槃經。未曉常無常義。乞為解說。祖曰。無常者。即佛性也。有常者。即一切善惡諸法分別心也。曰和尚所說。大違經文。祖曰。吾傳佛心印。安敢違於佛經。曰。經說佛性是常。和尚卻言無常。善惡諸法。乃至菩提心。皆是無常。和尚卻言常。此即相違。令學人轉加疑惑。祖曰。涅槃經。吾聽尼無盡藏讀誦一遍。便為講說。無一字一義不合經文。乃至為汝終無二說。曰。學人識量淺昧。願和尚委曲開示。祖曰。汝知否。佛性若常。更說什麼善惡諸法。乃至窮劫無有一人發菩提心者。故吾說無常。正是佛說真常之道也。又一切諸法若無常者。即物物皆有自性。容受生死。而真常性有不遍之處。故吾說常者。正是佛說真無常義。佛比為凡夫外道。執於邪常。諸二乘人。於常計無常。共成八倒。故於涅槃了義教中。破彼偏見。而顯說真常真樂真我真淨。汝今背義。以斷滅無常。及確定死常。而錯解佛之圓妙最後微言。縱覽千遍。有何所益。行昌忽然大悟。乃說偈曰。因守無常心。佛說有常性。不知方便者。猶春池拾礫。我今不施功。佛性而現前。非師相授與。我亦無所得。祖曰。汝今徹也。宜名志徹。禮謝而退。若此甚深常無常義。彼諸外道。未夢見在。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là kiến chấp Cũng Thường, cũng Vô Thường vậy. Cái Tâm vốn diệu minh, khắp cả mười phương cõi chưa từng chẳng phải, chỉ vì chấp đó là Thần Ngã thì liền chẳng phải vậy.

Riêng chấp đó là Ngã, chính là cái Ý Thức chấp thọ vào Mạt Na Thức, tuy nói là lặng sáng chẳng động mà thật ra trong đó trôi chảy nhỏ nhiệm, ấy là chủng tử sanh diệt lại chẳng tự hay biết.

Đã lấy cái tâm tánh tạm thời chẳng động mà cho là Thường, lại lấy sự sanh diệt của tất cả chúng sanh mà cho là Tánh Vô Thường, bèn cái cùng khắp mười phương ấy hóa ra có hai cái Ngã, há chẳng điên đảo ư ?

Không luận Tâm Tánh, chỉ luận về cõi nước, thì Tam Thiền trở xuống còn chịu Tam Tai nên cho là Vô Thường. Tứ Thiền trở lên chẳng còn Tam Tai nên cho là rốt ráo Thường.

Không luận về cõi nước, chỉ luận Tâm Tánh, thì tánh không dời đổi cho đó là tánh Thường của mình. Chết đây, sanh kia thì cho là tánh Vô Thường.

Ban đầu, hợp cái Ta và cái khác Ta gồm lại mà so tính Thường với Vô Thường. Rồi phân cái Ta và cái khác Ta để mỗi cái cho là Thường, Vô Thường. Rồi lại lấy Hành Ấm làm cái Ta, Sắc, Thọ, Tưởng làm cái khác Ta. Hành Ấm thường trôi chuyển, bèn cho là tánh Thường. Sắc, Thọ, Tưởng đã diệt hết thì cho là tánh Vô Thường. Ở trong Nhất Tâm mà phân ra Thường với Vô Thường, thế là Tâm có hai vậy. Há chẳng điên đảo ư ? Ở đây so với luận Viên Thường ở trước thì sự không câu chấp ít hơn, nhưng cái Đầu Nguồn (Nguyên Đầu) chẳng rõ nên đều thuộc về sự so tính lầm lẫn.


Quốc sư Huệ Trung hỏi nhà sư : “Phương nào đến ?”

Đáp rằng : “Phương Nam đến”.

Quốc sư rằng : “Tri thức phương Nam dạy người như thế nào ?”

Nhà sư đáp : “Tri thức phương kia chỉ bày cho người học Đạo ngay đây tức Tâm tức Phật. Phật là nghĩa Giác. Hiện nay các ông hẳn sẵn đủ cái tánh của thấy, nghe, hay, biết. Cái Tánh này đây thiệt hay nhướng mày, nháy mắt, vận dụng tới lui khắp ở trong thân. Chạm đầu, đầu biết; chạm chân, chân hay nên gọi là Chánh Biến Tri. Lìa ngoài cái ấy không còn Phật nào khác. Thân này thì có sanh diệt, còn Tâm Tánh vô thủy đến nay chưa từng sanh diệt. Thân sanh diệt thì như rồng thay cốt, rắn đổi da, người ra nhà cũ. Tức thân là Vô Thường, Tánh ấy là Thường vậy. Lời dạy phương Nam đại khái là thế”.

Quốc sư nói : “Nếu vậy, thì khác gì Tiên Ni ngoại đạo đâu ? - Họ nói rằng : Trong thân này của ta có một Thần Tánh. Tánh này hay biết đau, ngứa. Khi thân hoại rồi, cái Thần ắt ra đi, như nhà bị cháy thì chủ ra. Nhà thì vô thường, chủ nhà thì thường.

“Xét xem như vậy, thì tà chánh chẳng biện, gì là phải đây ? Ta từng du phương, thấy nhiều loại này, gần đây lại càng thịnh hành. Nhóm lại năm, ba trăm chúng, mắt thấy mơ hồ, bảo đó là “Tông Chỉ Nam Phương”. Lấy cuốn Đàn Kinh kia mà sửa đổi, thêm thắt lộn xộn, bỏ tiêu Thánh ý, làm cho lầm loạn người hậu học, há thành lời chỉ dạy ư ? Khổ thay cho Tông Chỉ nhà ta lấp vùi đó vậy. Nếu cho thấy, nghe, hay, biết là Phật Tánh thì lẽ ra Đức Tịnh Danh chẳng có nói “Pháp lìa thấy, nghe, hay, biết. Nếu hành thấy, nghe, hay, biết thì chỉ là thấy, nghe, hay, biết chẳng phải thật là cầu pháp””.

Nhà sư lại hỏi : “Kinh Pháp Hoa Liễu Nghĩa khai Phật Tri Kiến, đó lại là tại sao ?”

Quốc sư rằng : “Đấy nói “Khai Phật Tri Kiến, chẳng nói Bồ Tát, Nhị Thừa”, thì há có thể lấy chuyện si mê điên đảo của chúng sanh mà cho là đồng Tri Kiến của Phật ư ?”

Thầy Hành Xương hỏi Đức Lục Tổ : “Đệ tử thường xem kinh Niết Bàn mà chưa hiểu nghĩa Thường với Vô Thường. Xin thầy giải thích cho”.

Tổ nói : “Vô Thường đó, tức là Phật Tánh vậy. Hữu Thường đó, tức là hết thảy các pháp thiện, ác của tâm phân biệt vậy”.

Bạch rằng : “Chỗ nói của Hòa Thượng rất trái với kinh văn”.

Tổ nói : “Ta truyền tâm ấn Phật, đâu dám trái kinh Phật”.

Bạch rằng : “Kinh nói “Phật Tánh là “Thường”, Hòa Thượng lại nói là “Vô Thường”. “Các pháp thiện ác cho đến Bồ Đề Tâm đều là Vô Thường”, Hòa Thượng lại nói là “Thường”. Thế là trái nhau, khiến cho học nhơn này càng thêm nghi hoặc”.

Tổ nói : “Kinh Niết Bàn ta đã nghe ni cô Vô Tận Tạng đọc tụng một lần, bèn giảng nói cho nghe, không một chữ, một nghĩa nào chẳng hợp với kinh văn. Đến nay vì ông cũng không nói khác”.

Bạch rằng : “Chỗ biết của học nhân cạn cợt tối tăm, mong Hòa Thượng chỉ bày tường tận”.

Tổ nói : “Ông biết không ? Phật Tánh nếu Thường thì còn nói gì các pháp thiện ác, vì cho đến cùng kiếp cũng chẳng có một người nào phát Bồ Đề Tâm, cho nên ta nói Vô Thường, chính là cái mà Phật nói là Đạo Chân Thường vậy. Lại nữa, tất cả các pháp nếu Vô Thường thì mỗi vật đều có Tự Tánh, dung chứa sự sanh tử thì cái tánh Chân Thường có chỗ chẳng cùng khắp, cho nên ta nói Thường, chính là cái mà Phật nói là nghĩa Chân Vô Thường vậy. Xưa, Phật vì hàng phàm phu ngoại đạo chấp vào cái Tà Thường, hàng Nhị Thừa ở nơi Thường lại cho là Vô Thường, cộng lại thành Bát Đảo. Nên trong kinh Niết Bàn Liễu Nghĩa, phá các Biên Kiến kia mà hiển bày cái Chân Thường, Chân Lạc, Chân Ngã, Chân Tịnh.

“Ông nay nghịch với nghĩa kinh, lấy cái Vô Thường đoạn diệt với cái Tử Thường cố định mà hiểu lầm lời dạy tinh tế viên diệu sau cùng của Phật. Dẫu có xem cả ngàn lần, phỏng có ích gì ?”


Thầy Hành Xương hốt nhiên đại ngộ, bèn đọc bài kệ :

“Bởi giữ Vô Thường Tâm
“Phật nói Hữu Thường Tánh
“Chẳng biết pháp phương tiện
“Dường lượm sỏi ao xuân
“Giờ chẳng phải thi công
“Mà Phật Tánh hiện tiền
“Chẳng phải thầy trao cho
“Tôi cũng không chỗ đắc”.


Tổ nói : “Giờ ông đã thấu triệt, nên gọi là Chí Triệt”.

Thầy Hành Xương lễ tạ, lui ra.

Cái nghĩa Thường, Vô Thường rất sâu xa như thế này, thì các hàng ngoại đạo cũng chưa hề mộng thấy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Tư 20, 2011, 05:39:27 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於分位中生計度者。是人墜入四有邊論。一者是人心計生元。流用不息。計過未者。名為有邊。計相續心。名為無邊。二者是人觀八萬劫則見眾生。八萬劫前。寂無聞見。無聞見處。名為無邊。有眾生處。名為有邊。三者是人計我遍知得無邊性。彼一切人現我知中。我曾不知彼之知性。名彼不得無邊之心。但有邊性。四者是人窮行陰空。以其所見心路。籌度一切眾生。一身之中。計其咸皆半生半滅。明其世界一切所有。一半有邊。一半無邊。由是計度有邊無邊。墮落外道。惑菩提性。是則名為第四外道立有邊論。

Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột cội gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, lại sanh so tính về phận vị, thì người ấy sa vào bốn cái luận Hữu Biên.

“Một là, người ấy so tính cái cội nguồn Sanh Diệt lưu chuyển không ngừng, chấp quá khứ, vị lai là Hữu Biên, còn cái tâm tương tục là Vô Biên.

“Hai là, người ấy xét xem trong tám vạn kiếp thì thấy chúng sanh, còn trước tám vạn kiếp thì bặt không thấy nghe gì, rồi gọi chỗ không thấy nghe gì là Vô Biên, còn chỗ có chúng sanh là Hữu Biên.

“Ba là, người ấy cho rằng mình biết cùng khắp là được cái tánh Vô Biên, còn tất cả các người kia hiện ra trong cái biết của mình mà mình không hề biết cái tánh biết của họ, vậy thì họ không được cái tâm Vô Biên, chỉ có tánh Hữu Biên.

“Bốn là, người ấy xét cùng Hành Ấm là Không, dùng chỗ thấy biết của mình mà so lường, trù tính rằng trong một thân của tất cả chúng sanh đều là nửa phần sanh, nửa phần diệt, và chấp rằng tất cả sự vật có ra trong thế giới đều một nửa là Hữu Biên, một nửa là Vô Biên.

“Do sự suy tính Hữu Biên, Vô Biên này mà sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Tư, lập ra những luận Hữu Biên.


通曰。此就常無常。例起邊無邊。論常無常以性言。屬見分。邊無邊以分位言。屬相分。一三際分位。二見聞分位。三彼我分位。四生滅分位。總局於行陰之分位。而妄生計度也。一者因行陰流用不息。以其流用也。成過未現三際。故名有邊。以其不息也。相續無際。故名無邊。二者但計眾生八萬劫內見聞所及。故名有邊。八萬劫外無聞見處。故名無邊。三者計我遍知一切眾生。名無邊性。彼之知性遍與不遍。但彼自知我曾不知。彼則局於自知。不能通之於我。但有邊性。四者窮行陰空。昔有今無。因計正報眾生。半生半滅。依報世界。亦半生半滅。半生為有邊。半滅為無邊。此四有邊總不出前眾生生滅循環及劫壞不壞等見。特以邊量論耳。僧問忠國師曰。有知識示學人。但自識性。了無常時。拋卻殼漏子一邊著。靈台智性。迥然而去。名為解脫。此復若為。師曰。前已說了。猶是二乘外道之量。二乘厭離生死。欣樂涅槃。外道亦言吾有大患。為吾有身。乃趣乎冥諦。須陀洹入八萬劫。余三果入六四二萬劫。辟支佛一萬劫住空定中。外道八萬劫住非非想中。二乘劫滿。猶能回心向大。外道還即輪迴。曰。佛性一種。為別。師曰。不得一種。曰何也。師曰。或有全不生滅。或半生半滅。半不生滅。曰孰為此解。師曰。我此間佛性。全無生滅。汝南方佛性。半生半滅。半不生滅。曰如何區別。師曰。此則身心一如。身外無餘。所以全不生滅。汝南方身是無常。神性是常。所心半生半滅。半不生滅。曰和尚色身。豈得便同法身不生滅耶。師曰。汝那得入於邪道。曰學人早晚入邪道。(猶言學人那曾入邪道也)師曰。汝不見金剛經。色見聲求。皆行邪道。今汝所見不其然乎。曰某甲曾讀大小乘教。亦見有說不生不滅中道正性之處。亦見有說此陰滅彼陰生。身有代謝而神性不滅之文。那得盡撥同外道斷常二見。師曰。汝學出世無上正真之道。為學世間生死斷常二見耶。汝不見肇公云。談真則違俗。順俗則違真。違真故迷性而莫返。逆俗故言淡而無味。中流之人。如存如亡。下士拊掌而笑之。今汝欲學下士笑於大道乎。曰師亦言即心是佛。南方知識亦爾。那有異同。師不應自是而非他。師曰。或名異體同。或名同體異。因茲濫矣。只如菩提涅槃真如佛性。名異體同。真心妄心。佛智世智。名同體異。緣南方錯將妄心言是真心。認賊為子。有取世智稱為佛智。猶如魚目而亂明珠。不可雷同。事須甄別。曰若為得離此過。師曰。汝但子細返觀陰入界處。一一推窮有纖毫可得否。曰子細觀之。不見一物可得。師曰。汝壞身心相耶。曰身心性離。有何可壞。師曰。身外更有物否。曰身心無外。寧更有物耶。師曰。汝壞世間相耶。曰世間相即無相。那用更壞。師曰。若然者。即離過矣。華嚴經曰。一念普觀無量劫。無去無來亦無住。如是了知三世事。超諸方便成十力。此所謂自他不隔於毫端。始終不離於當念。不知有邊無邊之見。從何建立。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là ở nơi Thường, Vô Thường theo đó mà khởi ra cái Hữu Biên, Vô Biên. Luận về Thường, Vô Thường thì dùng cái Tánh mà nói, thuộc về Kiến Phần. Về Hữu Biên, Vô Biên thì dùng phận vị mà nói, thuộc Tướng Phần. Một là, phận vị ba đời. Hai là phận vị Thấy, Nghe. Ba là, phận vị Ta-Người. Bốn là phận vị Sanh Diệt. Tất cả đều giới hạn trong phận vị của Hành Ấm mà vọng sanh ra so tính.

Một là, do Hành Ấm lưu chuyển không ngừng nên cho sự lưu chuyển là tam tế quá khứ, hiện tại, vị lai mà gọi là Hữu Biên. Còn cho sự không ngừng là tiếp nối không có bờ mé, mà gọi là Vô Biên.

Hai là, chỉ so tính trong chỗ thấy, nghe được chúng sanh trong tám vạn kiếp mà gọi là Hữu Biên, còn ngoài tám vạn kiếp không thấy, nghe gì nên gọi là Vô Biên.

Ba là, cho rằng mình biết cùng khắp tất cả chúng sanh, đó là tính Vô Biên, còn Tánh Biết của chúng sanh có cùng khắp hay không thì chỉ họ tự biết, chứ mình chẳng hề biết. Vậy chúng sanh bị hạn cuộc nơi sự tự biết, chẳng thể thông tiếp với mình, nên chỉ có tánh Hữu Biên.

Bốn là, xét cùng Hành Ấm là Không, thấy rằng trước có mà nay không. Do đó, so tính rằng Chánh Báo của chúng sanh nửa sanh, nửa diệt, thế giới Y Báo cũng nửa sanh, nửa diệt. Nửa sanh là Hữu Biên, nửa diệt là Vô Biên.
Bốn cái luận Hữu Biên này đều không ra khỏi sự tuần hoàn sanh diệt của chúng sanh và các kiến chấp kiếp hoại hay chẳng hoại nói ở trước, chỉ đặc biệt so tính về hữu biên và vô biên.


Có nhà sư hỏi Quốc Sư Huệ Trung (tiếp theo đoạn trước) : “Có vị trí thức chỉ bày kẻ học nhân này rằng : “Chỉ tự biết Tánh. Khi rõ Vô Thường, ném bỏ cái xác phiền não một bên rồi, cái chỗ cao linh trí tánh, rỗng rang mà lui về, gọi là giải thoát”. Theo đây thì thế nào ?”

Quốc sư nói : “Trước đã nói rồi, vẫn còn là cái hạn lượng của hàng Nhị Thừa, ngoại đạo. Nhị Thừa chán ghét sanh tử, ưa thích Niết Bàn. Ngoại đạo cũng nói “Ta có hoạn nạn lớn, vì ta có thân”, bèn vui về Minh Đế. Tu Đà Hoàn buộc vào tám vạn kiếp, ba quả kia buộc vào sáu, bốn, hai vạn kiếp. Bậc Bích Chi Phật trụ trong Không định một vạn kiếp. Ngoại đạo trụ trong Phi Phi Tưởng tám vạn kiếp. Nhị Thừa hết kiếp còn có thể hồi tâm hướng Đại Thừa, còn ngoại đạo liền trở lại luân hồi”.

Hỏi rằng : “Phật Tánh một giống hay khác ?”

Quốc sư nói : “Chẳng thể một giống”.

Hỏi rằng : “Sao vậy ?”

Quốc sư nói : “Hoặc có thứ toàn chẳng sanh diệt, hoặc nửa sanh nửa diệt, nửa chẳng sanh diệt”.

Hỏi rằng : “Vì sao mà giải thích như vậy ?”

Quốc sư nói : “Phật Tánh ngay đây của tôi hoàn toàn không có sanh diệt, Phật Tánh phương Nam của ông thì nửa sanh nửa diệt, nửa chẳng sanh diệt”.

Hỏi rằng : “Phân biệt chỗ nào ?”

Quốc sư nói : “Đây thì thân tâm nhất như, ngoài thân không có gì khác, thế nên toàn vẹn chẳng sanh diệt. Còn phương Nam của ông thì thân là Vô Thường, Thần Tánh là Thường, bởi thế mà nửa sanh nửa diệt, nửa chẳng sanh diệt”.

Hỏi rằng : “Cái sắc thân của Hòa Thượng há đồng được với Pháp Thân chẳng sanh diệt ư ?”

Quốc sư nói : “Sao ông lại vào tà đạo thế ?”

Thưa rằng : “Học nhơn này sao mà vào tà đạo ?”

Quốc sư nói : “Ông chẳng thấy kinh Kim Cương nói “Thấy sắc, cầu thanh đều là hành tà đạo” ư ? Nay chỗ thấy của ông chẳng phải vậy sao ?”

Thưa rằng : “Tôi đã từng đọc giáo lý Đại Thừa, Tiểu Thừa, cũng thấy có nói cái chỗ Trung Đạo chánh tánh chẳng sanh chẳng diệt, cũng thấy có nói rằng ấm này diệt, ấm kia sanh, thân có đổi thay mà Thần Tánh chẳng diệt. Đâu có thể bác bỏ hết giống như hai kiến chấp Đoạn, Thường của ngoại đạo ?”

Quốc sư nói : “Ông học cái đạo chân chánh xuất thế Vô Thượng hay là học hai cái kiến chấp Đoạn, Thường sanh tử của thế gian ? Ông há chẳng thấy Tổ Triệu Công nói “Nói chân thì ngược tục, theo tục thì ngược chân” ư ? Ngược với Chân nên mê Tánh mà chẳng quay lại. Nghịch với Tục nên lời nói đạm bạc không mùi vị. Hạng Trung Căn nghe thì như nhớ như quên. Hạng Hạ Căn nghe thì vỗ tay mà cười. Nay ông muốn học theo người hạ liệt mà cười Đại Đạo ư ?”

Đáp rằng : “Thầy cũng nói “Tức Tâm là Phật”, bậc trí thức phương Nam cũng nói thế, có gì là khác đâu ? Thầy lẽ ra chớ nên cho mình phải mà họ quấy”.

Quốc sư nói : “Hoặc là tên khác, thể đồng; hoặc là tên đồng mà thể khác. Bởi đó mà lầm lộn. Chỉ như Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh thì danh khác mà Thể đồng. Còn Chân Tâm, Vọng Tâm, Phật Trí, Thế Trí thì tên đồng mà thể khác. Vì phương Nam lầm đem cái Vọng Tâm mà cho là Chân Tâm : nhận giặc làm con. Nắm giữ cái Thế Trí mà xưng là Phật Trí, giống như mắt cá mà lầm lộn với ngọc minh châu. Không thể phụ họa theo được, cần phải phân biệt đúng sai rõ ràng”.

Hỏi rằng : “Làm sao lìa được lỗi ấy ?”

Quốc sư nói : “Ông chỉ khéo quan sát rõ ràng trở lại Ấm, Giới, Nhập, Xứ, mỗi mỗi đều tìm xem tận cùng, còn có được mảy tơ hào nào chăng ?”

Thưa rằng : “Rõ ràng quan sát đó, chẳng thấy có một cái gì khá được”.

Quốc sư nói : “Ông phá hoại tướng thân tâm ư ?”

Đáp rằng : “Thân tâm tánh lìa, có gì để hoại ?”

Quốc sư nói : “Ngoài thân lại có vật chăng ?”

Đáp rằng : “Thân tâm không có ngoài, đâu lại có vật ư ?”

Quốc sư nói : “Ông phá hoại tướng thế gian ư ?”

Đáp rằng : “Thế gian tướng chính là vô tướng, nào dùng đến chuyện hoại”.

Quốc sư nói : “Như thế đó, tức lìa lỗi vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói “Một niệm quán khắp vô lượng kiếp, không đi, không đến, cũng không trụ. Như thế rõ biết sự ba đời, siêu các phương tiện thành thập lực””.

Đây là chỗ nói “Tự, Tha chẳng cách hở mảy lông, thủy chung chẳng rời ngay đương niệm”. Chẳng biết cái kiến giải Hữu Biên, Vô Biên do đâu mà kiến lập ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Tư 20, 2011, 05:42:48 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清常擾動元。於知見中生計度者。是人墜入四種顛倒不死矯亂遍計虛論。一者是人觀變化元。見遷流處。名之為變。見相續處。名之為恆。見所見處。名之為生。不見見處。名之為滅。相續之因。性不斷處。名之為增。正相續中。中所離處。名之為減。各各生處。名之為有。互互亡處。名之為無。以理都觀。用心別見。有求法人。來問其義。答言我今亦生亦滅。亦有亦無。亦增亦減。於一切時。皆亂其語。令彼前人遺失章句。二者是人諦觀其心。互互無處。因無得證。有人來問。唯答一字。但言其無。除無之餘。無所言說。三者是人諦觀其心。各各有處。因有得證。有人來問。唯答一字。但言其是。除是之餘。無所言說。四者是人有無俱見。其境枝故。其心亦亂。有人來問。答言亦有即是亦無。亦無之中。不是亦有。一切矯亂。無容窮詰。由此計度。矯亂虛無。墮落外道。惑菩提性。是則名為第五外道。四顛倒性不死矯亂遍計虛論。


Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, trong chỗ tri kiến lại khởi sanh so tính thì người đó sa lạc vào bốn thứ luận hư vọng Biến Kế Điên Đảo, Bất Tử Càn Loạn.

“Một là, người ấy quan sát cái cội nguồn biến hóa, thấy chỗ dời đổi thì gọi là Biến, thấy chỗ tương tục thì gọi là Thường. Thấy chỗ thấy được thì gọi là Sanh, chỗ không thấy được thì gọi là Diệt. Chỗ các nhân tương tục, không có gián đoạn thì gọi là Tăng, chính trong tương tục, chỗ rời nhau ở giữa thì gọi là Giảm.

Chỗ sanh ra của mỗi cái thì gọi là Có, chỗ mất đi của mỗi cái thì gọi là Không. Dùng lý quán sát tất cả, dụng tâm thấy riêng biệt nhau. Có người cầu pháp đến hỏi nghĩa lý thì đáp rằng “Ta nay cũng sanh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng tăng, cũng giảm”. Trong mọi thời đều nói năng lộn xộn, khiến cho người nghe lầm loạn chữ nghĩa.

“Hai là, người ấy quán kỹ cái tâm đắp đổi không nơi chốn, nhân cái Không mà cho là chứng, có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là Không. Ngoài chữ Không ra không nói gì cả.

“Ba là, người ấy quán kỹ cái tâm mỗi mỗi đều có chỗ, nhân cái Có mà cho là chứng, có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là Phải. Trừ chữ Phải ra, không nói gì cả.

“Bốn là, người ấy chấp cả Có và Không. Cái cảnh đã phân chia như vậy thì cái tâm cũng lộn xộn. Có người đến hỏi thì đáp rằng : Cũng Có tức là cũng Không, trong cái Cũng Không chẳng phải là Cũng Có. Tất cả đều càn loạn, không thể nói hết được.

“Do những so tính, càn loạn trống rỗng như vậy mà sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Năm, lập ra bốn thứ luận hư vọng Biến Kế Điên Đảo, Bất Tử Càn Loạn.



通曰。此猶然亦有亦無見也。上言常無常。邊無邊。尚有區別。未至溷淆。此則即常即無常。即邊即無邊。一切矯亂。無容窮詰。實為虛無荒唐之論。顛倒之甚者。就上遷流有邊處。名之為變。相續無邊處。名之為常。八萬劫內所見處。名之為生。八萬劫外不見處。名之為滅。又於相續中不斷處。計為增。如白黑月漸生。中所離處。計為減。如晦夕白黑俱盡。又於各各生處。總謂之有。互互亡處。總謂之無。於一行陰生滅。分為八義。以理都觀。兩可俱是。不能定其端的。於一切時。皆亂其語。沉溺於行陰之中。不能超越於行陰之外。故為生滅所轉耳。又從有無而分之。於唸唸滅相而得證者。但言其無。於唸唸生相而得證者。但言其是。又從有無而合之。言亦有即是亦無。亦無即是亦有。亦有之中不是亦無。亦無之中不是亦有。語雖互見。與前微有別。前兩端並陳。不能決了。此但舉一端。兩端具在。言亦有即是亦無。不專言無。亦無之中不是亦有。不專言是。知見紛錯。莫有定衡。儱侗慌惚。歸於虛謬。外道計天為常住。名為不死。計不亂答得生彼天。若實不知而輒答者。恐成矯亂。佛訶云。此真矯亂議論。故名為不死矯亂遍計虛論。曰遍計者。計有又計無。生滅增減恆變。一切遍計。其實無益於得。總為戲論。雖然。通方作家。道有也得。道無也得。在在有出身之路。僧問趙州。狗子還有佛性也無。州云有。僧云。既有。為甚麼卻撞入這個皮袋。州云。為他知而故犯。又有僧問狗子還有佛性也無。州云無。僧云。一切眾生。皆有佛性。狗子為甚麼卻無。州云。為伊有業識在。天童頌云。狗子佛性有。狗子佛性無。直釣元求負命魚。逐氣尋香云水客。嘈嘈雜雜作分疏。平展演。大鋪舒。莫怪儂家不慎初。指點瑕疵還奪璧。奉王不識藺相如。天童別有頌云。趙州道有。趙州道無。狗子佛性。天下分疏。面赤不如語直。心真必定言粗。七百甲子老禪伯。驢糞逢人換眼珠。又京兆惟寬禪師。僧問狗子還有佛性否。師曰有。曰和尚還有否。師曰。我無。曰一切眾生。皆有佛性。和尚因何獨無。師曰。我非一切眾生。曰。既非眾生。莫是佛否。師曰。不是佛。曰究竟是何物。師曰。亦不是物。曰可見可思否。師曰。思之不及。議之不得。故曰不可思議。外道欲於可思可議者遍計立論。豈不顛倒。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây vẫn là kiến chấp Cũng Có cũng Không vậy. Ở trên nói “Thường, Vô Thường”, “Hữu Biên, Vô Biên” thì còn có phân biệt, chưa đến nổi lộn xộn. Ở đây thì nói “Tức Thường, tức Vô Thường”, “Tức Hữu Biên, tức Vô Biên” tất cả đều càn loạn, không thể nói cho cùng. Thật là một thứ lý luận hư vô hoang đường, quá sức điên đảo vậy.

Theo sự trôi dời của chỗ Hữu Biên ở trên thì gọi là Biến, chỗ Vô Biên tương tục thì gọi là Thường, chỗ thấy trong tám vạn kiếp thì gọi là Sanh, chỗ không thấy ở ngoài tám vạn kiếp thì gọi là Diệt. Lại ở trong chỗ tương tục không gián đoạn so tính cho là Tăng như mặt trăng mọc đầy dần lên, ở trong chỗ lìa nhau thì cho là Giảm như mặt trăng khuyết lần lần. Lại ở nơi chỗ sanh ra của mỗi vật mà gọi là Có, chỗ mất đi mà gọi là Không.

Ở nơi sự sanh diệt của một cái Hành Ấm mà phân làm tám nghĩa. Dùng lý quán sát tất cả thì cả hai đều đúng, không thể xác định manh mối, nên trong mọi lúc, nói năng lộn xộn. Chìm đắm trong Hành Ấm, không thể siêu vượt ra khỏi Hành Ấm nên bị sự sanh diệt làm trôi lăn vậy.

Lại nữa, do từ cái Có, Không mà phân ra, ở chỗ niệm niệm diệt mà cho là chứng thì chỉ nói là Không; còn ở chỗ niệm niệm sanh mà cho là chứng thì chỉ nói là Phải. Lại nữa, từ Hữu Vô mà hợp lại thì nói “Cũng Có tức là cũng Không, cũng Không tức là cũng Có, trong cái cũng Có chẳng phải là cũng Không, trong cái cũng Không chẳng phải là cũng Có”.


Lời nói thì thấy giống, nhưng so với trước có sai khác.

Ở trước thì hai bên đều bày ra hết nên không thể xác quyết, còn đây thì chỉ đề ra một bên mà cả hai bên đều có trong đó. Nói rằng “Cũng Có tức là cũng Không” thì không chỉ một bề nói Không. Nói rằng “Trong cái cũng Không chẳng phải là cũng Có” thì không chỉ một bề nói Phải. Chỗ tri kiến lầm lộn, chẳng thể quyết đoán, mơ hồ lung tung, rốt rồi lầm lạc.

Ngoại đạo cho rằng trời là thường trụ, gọi là bất tử, cho rằng đáp được chẳng lầm loạn thì sanh về cõi trời đó. Nếu quả thật chẳng biết mà trả lời thì e thành càn loạn. Phật quở trách rằng : “Đó thật là nghị luận càn loạn”. Cho nên gọi là thứ Luận hư vọng “Biến Kế Điên Đảo, Bất Tử Càn Loạn”.

Gọi là Biến Kế, nghĩa là so tính khắp cả, nào là Có-Không, Sanh-Diệt, Tăng-Giảm, Thường-Biến, thật vô ích cho sự tu chứng, đều là hý luận cả. Tuy nhiên, bậc thông suốt nhà nghề thì nói Có cũng được, nói Không cũng được, chốn chốn đều có nẻo xuất thân.


Nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Con chó lại có Phật Tánh không ?”

Tổ Châu nói : “Có”.

Hỏi rằng : “Đã có thì sao lại chun vào cái bì da kia ?”

Tổ Châu nói : “Vì vẫn biết mà cố phạm”.


Lại có nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Con chó lại có Phật Tánh không ?”

Tổ Châu nói : “Không”.

Thưa rằng : “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh, con chó vì sao lại không có ?”

Tổ Châu nói : “Vì ở y có nghiệp thức”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Con chó, Phật Tánh có
Con chó, Phật Tánh không
Đi câu mà cầu tha mạng cá
Theo gió tìm hương, khách nước-mây
Om sòm, loạn xạ phân quen lạ
Bằng an trải khắp, thư thả rộng bày
Chớ lạ nhà nông chẳng biết lo
Chỉ ra vết ngọc lại đoạt châu
Vua Tần chẳng biết Tương Như Lạn !”.

Lại có bài tụng khác rằng :


“Triệu Châu nói có, Triệu Châu nói không
Con chó, Phật Tánh thiên hạ phân chia
Mặt đỏ chẳng bằng nói thẳng
Lòng ngay ắt hẳn lời thô
Cái lão thiền sư bảy trăm chúng
Cứt ngựa gặp người hóa nhãn châu  -(ct) Ngọc mắt. )”.


Lại có nhà sư hỏi thiền sư Duy Khoan : “Con chó lại có Phật Tánh chăng ?”

Sư nói : “Có”.

Hỏi : “Hòa Thượng lại có chăng ?”

Sư đáp : “Ta không có”.

Hỏi : “Cả thảy chúng sanh đều có Phật Tánh, vì sao chỉ một mình Hòa Thượng lại không có ?”

Sư nói : “Ta chẳng phải là cả thảy chúng sanh !”

Hỏi : “Đã chẳng phải chúng sanh thì chắc là Phật ?”

Sư nói : “Chẳng phải Phật”.

Hỏi : “Rốt ráo là vật gì ?”

Sư nói : “Cũng chẳng phải vật”.

Hỏi : “Thấy được, nghĩ được không ?”

Sư nói : “Nghĩ chẳng tới, bàn chẳng được, nên gọi là không thể nghĩ bàn”.

Hàng ngoại đạo thì ở chỗ có thể suy nghĩ, có thể luận bàn mà muốn so đo, lập luận, há chẳng điên đảo ư ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Tư 20, 2011, 05:46:19 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於無盡流生計度者。是人墜入死後有相。發心顛倒。或自固身。云色是我。或見我圓。含遍國土。云我有色。或彼前緣。隨我回覆。云色屬我。或復我依。行中相續。云我在色。皆計度言死後有相。如是循環。有十六相。從此或計畢竟煩惱。畢竟菩提。兩性並驅。各不相觸。由此計度死後有故。墮落外道。惑菩提性。是則名為第六外道立。五陰中死後有相心顛倒論。


Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột cội gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, ở nơi dòng sanh diệt vô tận khởi sanh so đo thì người ấy sa vào cái chấp điên đảo là sau khi chết có tướng.

“Hoặc tự củng cố sắc thân, bảo Sắc là Ta. Hoặc thấy cái Ta tròn đầy, bao trùm khắp các cõi nước, bảo ta có sắc. Hoặc thấy các tiền trần kia theo ta mà xoay trở lại, bảo sắc thuộc về Ta. Hoặc thấy cái Ta nương trong Hành Ấm mà tương tục, bảo Ta ở nơi sắc. Họ đều so tính mà cho rằng sau khi chết có tướng, tuần hoàn như vậy có đến mười sáu tướng.

“Từ đó mà suy tính rằng rốt ráo phiền não và rốt ráo Bồ Đề, hai tánh đó đi song song, không tiếp xúc nhau.
“Do sự so tính chấp rằng sau khi chết có tướng như vậy mà sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Sáu, lập ra những Luận điên đảo Trong năm Ấm, sau khi chết có tướng.


通曰。前五所計或有或無。或亦有亦無。不出三句。未見雙非。尚滯在行陰中。故今計及死後有相無相。及有無俱非。又於後後有無。起斷滅涅槃二見。蓋行陰幾空。而窺見識陰矣。且來先去後。唯識主之。故此以五陰並言。龍勝曰。五道中眾生身見力因緣故。見四種我。色眾是我。色是我。我中色。色中我。合云唯色是我。唯離色是我。我在色中。色在我中。如是推求。了不可得。受想行識。亦復如是。而外道返執為有相。或自固身。即色是我也。含遍國土。色在我中也。前緣回覆。離色是我也。依行相續。我在色中也。依此四計。受想行識皆然。乃至即行是我。離行是我。我在行中。行在我中。所計之我。即識陰也。皆計死後復有。成十六相。煩惱由陰而生。菩提由我而證。兩性並驅。入未來際。皆畢竟有。故云立五陰中死後有相心顛倒論。此從各各有處。因有得證而創為此論也。本庵道瓊首座。嘗舉只履西歸語謂眾曰。坐脫立亡倒化即不無。要且未有逝而後出遺履者。為復後代兒孫不及祖師。為復祖師剩有這一著子。仍大笑曰。老野狐。紹興庚申冬。信守迎主超化。不赴。貽偈得法弟子慧山曰。口觜不中祥老子。愛向叢林鼓是非。分付雪峰山首座。為吾痛罵莫饒伊。顧專使曰。為我傳語侍郎。行計迫甚。不及修答。聲絕而化。有僧問洞山。亡僧遷化後。向甚麼處去也。山云。火後一莖茅。投子頌云。野火燒時越轉新。至今煙 雨難霖。旱地紅蓮遮日月。無根樹長翠成陰。若識此有相。雖言有相也不妨。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Năm sự suy tính ở trước thì hoặc Có, hoặc Không, hoặc Cũng Có cũng Không, chưa ra khỏi ba cú, chưa thấy cả hai đều chẳng phải, còn mắc vướng trong Hành Ấm. Nên ở đây thì so tính việc sau khi chết có Tướng hay không có Tướng, và Có, Không đều chẳng phải. Rồi lại ở sau Có và Không, khởi lên hai kiến chấp về Niết Bàn đoạn diệt. Ấy là Hành Ấm đã gần không nên trộm thấy Thức Ấm vậy. Bởi đến thì trước, đi thì sau, chỉ do Thức làm chủ, nên chỗ này nói cả năm Ấm.

Đức Long Thắng nói : “Chúng sanh trong năm đường do nhân duyên của lực Thân Kiến mà thấy có bốn thứ Ta : Sắc hợp là Ta, Sắc là Ta, Ta trong Sắc, Sắc trong Ta. Hợp lại mà nói : Chỉ duy Sắc là Ta, chỉ duy lìa Sắc là Ta, Ta ở trong Sắc, Sắc ở trong Ta. Suy tìm như thế, rốt ráo chẳng thể đắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức lại cũng như vậy”.


Thế mà ngoại đạo lại chấp là có tướng. Hoặc tự củng cố cái thân, tức Sắc là Ta vậy. Hoặc Trùm khắp cõi nước, tức là Sắc ở trong Ta. Hoặc các tiền trần xoay trở lại, ấy là Lìa Sắc là Ta. Hoặc nương theo Hành Ấm tương tục, tức là Ta ở trong Sắc vậy. Nương theo bốn lối suy tính này thì Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều vậy cả. Cho đến chỗ Hành là Ta, lìa Hành là Ta, Ta ở trong Hành, Hành ở trong Ta. Cái suy tính đó là Ta, tức là Thức Ấm vậy. Thảy đều suy tính rằng sau khi chết lại có mà thành ra mười sáu tướng  -(ct) Bốn cách suy tính này lồng vào bốn Ấm : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành. ).

 Phiền não do Ấm mà sanh, Bồ Đề do Ta mà chứng. Hai tánh Bồ Đề, phiền não song hành cho đến đời vị lai, đều rốt ráo là có, thế nên nói là lập ra luận điên đảo Trong năm Ấm, sau khi chết có Tướng. Đây là theo mỗi mỗi chỗ có, rồi nhân có mà cho là chứng, nên lập ra các Luận này.

Thủ Tọa Bổn Am Đạo Quỳnh từng nêu lên câu chuyện “Một chiếc dép đi về Tây  -(ct) Chuyện Tổ Đạt Ma sau khi tịch. )”, rồi nói với đại chúng : “Ngồi chết, đứng tịch, chổng ngược đầu mà hóa thì chẳng phải không có. Nhưng chưa có ai tịch rồi mà sau lại để lại chiếc dép. Vậy là con cháu đời sau không bằng Tổ Sư hay là Tổ Sư có thừa một chiếc ấy ?”

Rồi cười lớn mà rằng : “Con chồn già !”

Mùa Đông Canh Thân, đời Thiệu Hưng được đón về kinh nhưng không đi, để lại bài kệ cho đệ tử đắc pháp là Huệ Sơn rằng :

“Miệng mồm chẳng trúng lão già lành
Thích hướng tùng lâm dóng thị phi
Dặn dò Tuyết Phong ông Thủ Tọa
Vì ta nhiếc mắng chớ tha y !”.

Quay về vị sứ giả đến đón, nói rằng : “Nói với quan Thị Lang giùm tôi rằng việc đi vội quá, không kịp bồi đáp !”

Dứt tiếng thì hóa.

Có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Nhà sư sau khi tịch rồi thì đi đâu vậy ?”

Tổ Sơn nói : “Cháy rồi một cọng tranh !”


Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Khi lửa đồng thiêu, thêm đổi mới
Đến nay khí nóng khó mưa, mây
Đất hạn sen hồng che nhật nguyệt
Không rễ, xanh hoài, mát bóng cây”.

Nếu biết cái “hữu tướng” này thì tuy nói là có tướng cũng chẳng sao.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Tư 20, 2011, 05:50:39 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於先除滅色受想中生計度者。是人墜入死後無相。發心顛倒。見其色滅。形無所因。觀其想滅。心無所繫。知其受滅。無復連綴。陰性銷散。縱有生理而無受想。與草木同。此質現前。猶不可得。死後云何更有諸相。因之勘校。死後相無。如是循環。有八無相。從此或計涅槃因果。一切皆空。徒有名字。究竟斷滅。由此計度死後無故。墮落外道。惑菩提性。是則名為第七外道。立五陰中死後無相心顛倒論。


Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, ở trong các Ấm : Sắc, Thọ, Tưởng đã diệt ở trước khởi sanh so tính, người ấy sa vào những tư tưởng điên đảo là sau khi chết không có Tướng.

“Người ấy thấy Sắc Ấm diệt, hình hài không nhân vào đâu. Xét Tưởng Ấm diệt, tâm không ràng buộc vào đâu. Biết Thọ Ấm diệt, không còn dính dáng. Tánh các Ấm được tiêu tan, dù có sanh lý mà không có Thọ, Tưởng : đồng như cỏ cây. Cái hình chất hiện tiền còn không thể nắm được, vậy sau khi chết làm sao còn có các Tướng ? Do vậy mà cho rằng sau khi chết không có Tướng. Xoay vần như vậy mà có tám thứ Vô Tướng.

“Từ đó mà suy tính rằng : Niết Bàn, Nhân Quả, tất cả đều Không, chỉ có danh tự suông, chứ rốt ráo là Đoạn Diệt.
“Do sự suy tính, chấp sau khi chết không có Tướng này mà sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Bảy, lập ra những luận điên đảo Trong ngũ Ấm, sau khi chết không có Tướng.


通曰。此斷見也。第於色受想滅而勘校之。即此行陰生理。將來究竟斷滅。行陰滅。則歸藏識海。彼之所計。未為無見。然藏識非可滅者。彼但見其滅。遂計涅槃因果。一切皆空。究竟斷滅。不知此特無相。非無其理也。故約四陰現在因亡將來果滅。合之成八無相。乃立五陰中死後無相心顛倒論。此亦從互互無處。因無得證。而創為此論也。長沙岑因僧亡以手摩之曰。大眾。此僧卻真實為諸人提綱商量。會麼。乃有偈曰。目前無一法。當處亦無人。蕩蕩金剛體。非妄亦非真。又曰。不識金剛體。卻喚作緣生。十方真寂滅。誰在復誰行。洞山將圓寂。謂眾曰。吾有閒名在世。誰人為吾除得。眾皆無對。時沙彌出曰。請和尚法號。山曰。吾閒名已謝。石霜云。無人得他肯。云居云。若有閒名。非吾先師。曹山云。從古至今。無人辨得。疏山云。龍有出水之機。無人辨得。大陽明安問梁山。如何是無相道場。山指觀音云。此是吳處士畫。陽擬進語。山急索曰。這個是有相底。如何是無相底。陽於言下有省。禮拜。乃歸本位立。山云。何不道取一句。陽云。道則不辭。恐上紙墨。山呵呵笑云。此語上石去在。後果上碑。投子拈云。道曠古今。行人難度。山危絕險。登者無因。倘不發明先蹤。履踐無期得入。所以悟由自己。印乃憑師。遞代證明。續佛慧命。此者窮崖問路。力盡指蹤。岩壁無門。力窮進退。既金龍失水。妙翅急提。別透波瀾復歸本位。諸仁者。正當恁麼時。還知古人退位處麼。若知得。可謂萬仞峰摧。千波竭沸。龍宮與天界分簷。鳳闕並星辰合彩。岩松籠瑞。川霧草薰。不犯化門。千山迥出。若不知落處。岩闊無人問。龍愁滄海深。頌曰。路窮崖仞問山翁。別指岩西嶺近東。擬進霧垂嵐氣重。回頭頃見太陽紅。若於此無相得個消息。雖言無相也不妨。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái Đoạn Kiến này là căn cứ nơi sự tiêu diệt của các Ấm Sắc, Thọ, Tưởng mà suy tính rằng cái sanh lý của Hành Ấm về sau sẽ rốt ráo đoạn diệt. Hành Ấm diệt thì quy về Biển Tạng Thức. Chỗ so đo của người ấy chưa là vô kiến, nhưng cái Tạng Thức chẳng thể diệt.

Người ấy chỉ thấy cái diệt bèn cho rằng Niết Bàn, nhân quả tất cả đều không, rốt ráo Đoạn Diệt, mà chẳng biết rằng cái Vô Tướng này không phải là không có sanh lý. Bởi thế, ước đoán cái nhân đã mất của bốn Ấm hiện tại mà cho rằng quả tương lai sẽ tiêu diệt, hợp lại thành ra tám thứ Vô Tướng, bèn lập ra những luận điên đảo Trong Ngũ Ấm, sau khi chết không có Tướng.

Đây cũng là theo cái tâm Đắp đổi không nơi chốn, nhân cái Không mà cho là Chứng, mà tạo ra luận này.


Tổ Trường Sa Cảnh Sầm nhân có vị tăng qua đời, lấy tay rờ mà nói : “Này đại chúng ! Vị tăng này lại chánh thực vì các ông mà đề khởi cương yếu, thương lượng đó ! Hiểu không ?”


Rồi đọc bài kệ :

“Trước mắt không một pháp
“Hiện đây cũng không người
“Rỗng rang Kim Cương Thể
“Chẳng vọng cũng chẳng chân !”.


Lại nói :

“Chẳng rõ Kim Cương Thể
“Lại gọi ấy duyên sanh
“Mười phương : Chân Tịch Diệt
“Ai trụ, lại ai hành ?”.

Tổ Động Sơn sắp viên tịch, nói với đại chúng : “Ta có cái tên tuổi suông ở đời, người nào vì ta dẹp được ?”
Đại chúng đều không đáp được.

Khi ấy, có vị Sa Di bước ra, nói : “Xin cái pháp hiệu của Hòa Thượng”.

Tổ Sơn nói : “Cái danh tiếng suông của ta đã rụng rồi !”


Tổ Thạch Sương nói : “Không có người để kẻ khác chấp nhận”.

Tổ Vân Cư nói : “Nếu có danh tiếng suông thì chẳng phải là Tiên Sư của tôi”.

Tổ Tào Sơn nói : “Từ xưa đến nay, không người biện được”.

Tổ Sớ Sơn nói : “Rồng có cách ra khỏi nước, không người biện được”.

Thầy Đại Dương Minh An hỏi Tổ Lương Sơn : “Như sao là đạo tràng vô tướng ?”

Tổ Sơn chỉ tượng Quan Âm, nói : “Đây là bức họa của Ngô cư sĩ”.

Thầy An định nói, Tổ liền hỏi : “Cái đó là cái hữu tướng, như sao là cái vô tướng ?”

Thầy An ngay lời nói có tỉnh ngộ, làm lễ rồi quay về chỗ đứng.

Tổ Sơn nói : “Sao không nói lấy một câu !”

Thầy An : “Nói thì chẳng từ chối, chỉ e lấm giấy mực !”

Tổ Sơn cười lớn, nói : “Lời này gắn trên đá rồi !”

Về sau quả đã khắc trên bia.


Ngài Đầu Tử nêu rằng :

“Đạo suốt cổ kim
Bộ hành khó trải
Núi cao hiểm tuyệt
Leo không chỗ nương
Hoặc chẳng phát minh dấu trước
Thuở nào dẫm bước được đâu
Thế nên ngộ ở tự mình
Ấn chứng nhờ nơi thầy
Thay nhau chứng minh
Nối Phật huệ mạng
Nơi đây tột đường hỏi lối, sức tận để chỉ bày
Vách ngất trời không cửa, sức hết chỗ tới lui
Rồng vàng đã mất nước, cánh mầu cất cánh
    mau !
Thấu qua sóng lớn, lại về bổn vị”.

“Này các nhân giả, chính đang lúc ấy, lại có biết chỗ thoái vị của người xưa không ? Như biết được, thì có thể nói là núi muôn trượng đổ, ngàn sóng hết gầm. Long cung và cõi Trời chung mái, cung điện cùng tinh tú hợp vẻ. Nham Tùng lồng đẹp, giòng móc (mưa móc) cỏ thơm. Chẳng phạm đến hóa môn mà ngàn núi đều lộ ra hẳn. Bằng chẳng biết chỗ về thì hang rộng không người hỏi, rồng buồn biển cả sâu”.


Tụng rằng :

“Vách núi cùng đường hỏi sơn ông
Lại chỉ ngọn Tây ngọn cận Đông
Định tiến, móc rơi thêm khí núi
Quay đầu bỗng thấy mặt trời hồng”.

Nếu ở chỗ Vô Tướng này mà được cái tin tức, thì tuy nói không có Tướng cũng chẳng hề gì.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, quycoctu
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Tư 21, 2011, 02:34:38 AM »

(tiếp theo)

又三摩中諸善男子。堅凝正心。魔不得便。窮生類本。觀彼幽清。常擾動元。於行存中。兼受想滅。雙計有無。自體相破。是人墜入死後俱非起顛倒論。色受想中。見有非有。行遷流內。觀無不無。如是循環。窮盡陰界。八俱非相。隨得一緣。皆言死後有相無相。又計諸行性遷訛故。心發通悟。有無俱非。虛實失措。由此計度。死後俱非。後際昏瞢。無可道故。墮落外道。惑菩提性。是則名為第八外道。立五陰中。死後俱非。心顛倒論。


Kinh : “Lại nữa, trong Tam Ma Đề các thiện nam tử đó chánh tâm đứng lặng kiên cố, Ma không còn cơ hội. Người ấy cứu xét cùng tột cội gốc sanh loại, xem thấy cái cội nguồn giản phác u ẩn thường máy động kia, trong chỗ Hành Ấm còn tồn tại và Thọ, Tưởng Ấm đã diệt, lại so tính cả cái Có và Không, tự thể phá nhau, thì người ấy lọt vào những luận điên đảo Sau khi chết, Có và Không đều chẳng phải.

“Người ấy trong Sắc, Thọ, Tưởng thấy Có mà chẳng phải Có, trong Hành Ấm chuyển biến thấy Không mà chẳng phải Không. Xoay vần như vậy cùng tột các Ấm thành ra tám Tướng Đều chẳng phải. Tùy gặp duyên gì đều nói sau khi chết có Tướng, không Tướng.

“Lại suy tính Hành Ấm tánh nó dời đổi nên tâm phát ra thông tỏ, cho rằng Có, Không đều chẳng phải, hư thật lộn lạo. Do sự so tính, chấp “Sau khi chết, Có và Không đều chẳng phải” mà việc về sau tối tăm mù mịt, không còn lối đi, sa lạc vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ Đề.

“Đây gọi là ngoại đạo Thứ Tám, lập luận điên đảo : Trong ngũ Ấm, sau khi chết, Có và Không đều chẳng phải.


通曰。此非有非無見也。起於雙計有無。自體相破。不但色受想滅。有即非有。行陰遷變。無即不無。於此循環返復觀之。向之滅者曾有。雖無不無。今之存者終滅。雖有非有。以是四陰雙計。故成八非。隨舉一緣。皆具有相無相。此但於緣觀其相之有無。未為精也。又於行性生滅流變之中。見生中即有滅。故非有也。見滅中即有生。故非無也。此有無俱非。於行性上觀。非心發通悟者不能。有而不有。是謂妙有。無而不無。是謂真無。乃道中第一義諦妙真如性也。彼但於行性見其俱非。後際識陰。尚昏瞢無睹。故虛實失措。莫知所歸。既無歸宿。即無可道。雖欲發揮藏識非生非滅境界。亦不可得。況真如第一義諦。不生不滅之至理乎。彼所謂通悟。僅同緣覺之悟。而不可語於正悟也。此有無俱非。亦從前矯亂言。亦有即是亦無。亦無之中不是亦有。推極死後。創為此論。均名顛倒。外道問佛。不問有言。不問無言。世尊良久。外道讚嘆曰。世尊大慈大悲。開我迷云。令我得入。外道去後。阿難問佛。外道有何所證而言得入。佛云。如世良馬。見鞭影而行。世尊以良馬許此外道。亦其心發通悟者。雪竇頌云。機輪曾未轉。轉必兩頭走。明鏡忽臨台。當下分妍丑。奸丑分兮迷云開。慈門何處生塵埃。因思良馬窺鞭影。千里追風喚得回。喚得回。鳴指三下。有僧問法眼。如何是亡僧面前觸目菩提。眼云。是汝面前。又問亡僧遷化。向甚麼處去。眼曰。亡僧幾曾遷化。僧云。爭奈即今何。眼云。汝不識亡僧。法眼盡力呼喚。尚不回頭。若於此省去。可謂四句俱離。靈根獨露。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là kiến chấp Chẳng phải Có, chẳng phải Không vậy. Đó là do nơi sự so tính cả Có lẫn Không, tự thể của chúng phá nhau. Không chỉ Sắc, Thọ, Tưởng Ấm diệt nên cho là Có tức chẳng phải Có mà Hành Ấm dời đổi cũng cho là Không tức chẳng Không.

Ở chỗ này mà xoay vần lui tới xét xem thì thấy cái đã diệt (Sắc, Thọ, Tưởng) trước đây đã từng có, nên tuy là Không mà chẳng Không. Cái hiện tồn tại (Hành) thì rốt rồi cũng diệt, thì tuy Có mà chẳng phải Có. Do so tính nước đôi về bốn Ấm như vậy nên thành ra tám thứ Chẳng Phải. Tùy nêu ra duyên gì đều đủ cả có Tướng và không Tướng. Đây chỉ ở nơi duyên mà xem thấy sự Có-Không của Tướng, chưa phải là tinh vi vậy.

Lại ở trong sự dời đổi sanh diệt của tánh Hành Ấm, thấy trong sanh tức có diệt, nên chẳng phải Có, thấy trong diệt tức có sanh, nên chẳng phải Không vậy. Ở trên tánh Hành Ấm mà quán xét để thấy Có, Không đều chẳng phải thì chẳng phải là người tâm đã phát thông tỏ làm sao thấy được. Có mà chẳng Có, đó là Diệu Hữu. Không mà chẳng Không, đó là Chân Không. Đó mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế Diệu Chân Như Tánh vậy.

Người ấy chỉ ở nơi tánh Hành Ấm thấy Có và Không đều chẳng phải, còn Thức Ấm ở sau vẫn còn mù mịt không thấy gì, nên hư thực lộn lạo chẳng biết chỗ về. Đã không có chỗ quay về an nghỉ thì không thể trọn xong cái Đạo.

Tuy muốn phát huy cái cảnh giới Chẳng phải Sanh, chẳng phải Diệt của Tạng Thức, cũng không thể được, huống nữa là cái Chân Lý bất sanh bất diệt của Chân Như Đệ Nhất Nghĩa Đế ư ? Cái gọi là thông tỏ của người ấy thì gần giống với cái ngộ của bậc Duyên Giác, chứ chưa có thể nói là Chánh Ngộ.

Thứ luận Có, Không đều chẳng phải này cũng từ lối nói càn loạn ở trước : Cũng Có tức là cũng Không, trong cái cũng Không chẳng phải là cũng Có. Suy tính cùng cực về việc sau khi chết mà sáng lập ra luận này, đều gọi là điên đảo.

Ngoại đạo hỏi Phật : “Chẳng hỏi Hữu Ngôn, chẳng hỏi Vô Ngôn”.

Đức Thế Tôn im lặng chập lâu.

Ngoại đạo tán thán rằng : “Thế Tôn đại từ đại bi, mở vẹt đám mây mê mờ cho tôi, khiến được thể nhập !”

Sau khi ngoại đạo đi rồi, Ông Anan hỏi Phật : “Bạch, ngoại đạo chứng chỗ gì mà nói là được nhập ?”

Đức Phật nói : “Như ngựa hay trong đời, thấy bóng roi mà chạy !”

Đức Thế Tôn ví người ngoại đạo với con ngựa hay, vì tâm ấy cũng phát thông tỏ vậy.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Máy tạo chưa từng chuyển
Chuyển ắt chạy hai đầu
Gương sáng bỗng trên đài
Ngay đó phân đẹp xấu
Đẹp xấu phân, hề, mây mê vẹt
Cửa Từ sanh bụi chốn nào đâu ?
Nhân đây ngựa giỏi theo roi bóng
Lướt gió dặm ngàn kêu được về
Kêu được về, búng tay ba tiếng !”

Có nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhãn : “Như sao là nhà sư tịch, trước mặt chạm mắt là Bồ Đề ?”

Tổ Nhãn nói : “Đó là trước mặt ông !”

Lại hỏi : “Nhà sư tịch thiên hóa về chốn nào ?”

Tổ Nhãn nói : “Nhà sư tịch thiên hóa hồi nào ?”

Nhà sư hỏi : “Thế bây giờ thì sao ?”

Tổ Nhãn nói : “Ông chẳng biết nhà sư tịch”.

Tổ Pháp Nhãn tận lực hô hoán mà chẳng biết quay đầu ở đây mà tỉnh ra thì có thể nói “Tứ cú đều lìa, linh căn độc lộ”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
quycoctu, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.214 seconds với 25 câu truy vấn.