Tháng Hai 24, 2020, 09:53:12 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 4 5 [6] 7   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG IV -- 首楞嚴宗通經 4  (Đọc 15570 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #75 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 06:39:10 AM »

(tiếp theo)

如是重重單復十二。方盡妙覺。成無上道。


Kinh : “Lớp lớp như vậy, đơn hay kép mười hai địa vị, mới cùng tột Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo.

通曰。單有七位。謂干慧暖頂忍世第一等覺妙覺也。復有五位。謂信住行向地也。每位疊成十位。故曰復。如是重重。漸修漸證。總有十二階級。方至妙覺。成無上道。而等覺尚居十一。故於妙覺未盡。惟至十二方為盡也。是妙豈有加於干慧哉。特即干慧磨礱瑩淨。以顯其妙爾。合論曰。三世如來。付授一切菩薩修證法式。銓量深淺力用。分別地位等差。始自十信。然以為信者。尚屬生滅。故當住心。乃立十住。又以為住者。缺資發方便之用。故成行心。乃立十行。又以為行者。蓋自利。未有以及眾生。故施回向。乃立十回向。自十信而至住行回向者。三賢位也。又自三賢即登初地。以大慈大悲。發生資養茂益成就之。故有地名。於初地。方曰證無生法忍。乃至十地之終。磨煉余習之效。與本覺真如相等。故名等覺。如易曰窮神知化者也。至入妙覺。則一而已。無有等相。如但曰神也。此經特異於十信前加干慧地。於十地前加暖頂忍世第一地。雜華於十住曰證無生法忍。諸經於十地曰證無生法忍。尚在五十五數之中。世尊於此。乃立三漸次。證無生法忍。三漸次。乃方便安立者。出於五十五數之外。世尊之意。蓋欲示從凡夫能實證之法故也。黃檗謂休曰。佛與眾生。更無別異。但是眾生著相外求。求之轉失。使佛覓佛。將心捉心。窮劫盡形。終不能得。不知息念忘慮。佛自現前。此心即是佛。佛即是眾生。為眾生時。此心不減。為諸佛時。此心不添。乃至六度萬行。河沙功德。本自具足。不假修添。遇緣即施。緣息即寂。若不決定信此是佛。而欲著相修行。以求功用。皆是妄想。與道相乖。此心即是佛。更無別佛。亦無別心。此心明淨。猶如虛空。無一點相貌。舉心動念。即乖法體。即為著相。無始以來。無著相佛。修六度萬行。欲求成佛。即是次第。無始以來。無次第佛。但悟一心。更無少法可得。此即真佛。佛與眾生。一心無異。猶如虛空。無雜無壞。如大日輪。照四天下。日昇之時。明遍天下。虛空不曾明。日沒之時。暗遍天下。虛空不曾暗。明暗之境。自相凌奪。虛空之性。廓然不變。佛及眾生心亦如是。若觀佛作清淨光明解脫之相。觀眾生作垢濁暗昧生死之相。作此解者。歷河沙劫。終不得菩提。為著相故。惟此一心。更無微塵許法可得。即心是佛。妙哉妙哉。非檗實證妙覺。不落階級。惡能洞朗若是。得是說而存之。庶於此經圓頓之旨。兩不相妨。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đơn có bảy địa vị, đó là Càn Huệ, Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất, Đẳng Giác và Diệu Giác.
Kép có năm địa vị, đó là Tín, Trụ, Hạnh, Hướng và Địa.


Mỗi địa vị lại có mười bậc nên gọi là kép. Lớp lớp như vậy, tiệm tu tiệm chứng, gồm tất cả mười hai tầng bậc mới đến Diệu Giác mà thành Vô Thượng Đạo. Nên bậc Đẳng Giác vẫn còn ở địa vị Thứ Mười Một nên chưa cùng tột, chỉ có địa vị Thứ Mười Hai mới cùng tột vậy.

Cái Diệu này há có thêm cho Càn Huệ ư ? Thật ra chỉ là Càn Huệ nhưng chà xát lau chùi cho rực rỡ trong trẻo thì hiển bày cái Diệu.

Hiệp Luận nói : “Ba đời Chư Như Lai trao truyền cái pháp thức tu chứng cho tất cả Bồ Tát : Chọn lựa lực dụng sâu cạn, phân biệt các chỗ sai biệt của các địa vị. Bắt đầu từ Thập Tín nhưng vì cái Tín này còn thuộc sanh diệt nên phải trụ tâm, bèn lập ra Thập Trụ. Lại vì Trụ còn thiếu vốn liếng để phát khởi cái Dụng của phương tiện nên thành tựu hạnh tâm, bèn lập ra Thập Hạnh. Lại vì Hạnh này mới chỉ tự lợi, chưa phổ cập đến chúng sanh, nên bày việc Hồi Hướng, bèn lập ra Thập Hồi Hướng”.

Từ Thập Tín cho đến Trụ, Hạnh, Hồi Hướng là địa vị Tam Hiền. Lại từ Tam Hiền thì lên Sơ Địa, vì Đại Từ Đại Bi phát sanh, được nuôi dưỡng sum xuê tươi tốt cho thành tựu mà có tên là Địa. Ở Sơ Địa mới cho là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, cho đến hết Thập Địa, do công hiệu mài xát, tôi luyện các tập khí còn sót bèn đồng đẳng với Chân Như Bản Giác, nên gọi là Đẳng Giác. Giống như Kinh Dịch nói “Cùng Thần tri hóa” vậy. Đến khi nhập Diệu Giác thì chỉ Một mà thôi, không có tướng nào nữa. Như chỉ nói là Thần thôi vậy.

Chỗ đặc biệt của kinh này là trước Thập Tín có thêm Càn Huệ Địa ; trước Thập Địa lại thêm Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất Địa.

Kinh Hoa Nghiêm, ở Thập Trụ nói là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Các kinh khác thì nói chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ở Thập Địa. Tất cả còn ở trong số năm mươi lăm địa vị. Đức Thế Tôn ở chỗ này bèn lập ra ba món tiệm thứ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ba món tiệm thứ là phương tiện an lập, ra ngoài số năm mươi lăm kia. Ý của Đức Thế Tôn là muốn khai thị theo phàm phu để có thể thật chứng Pháp vậy.


Tổ Hoàng Bá nói với Ông Bùi Hưu rằng : “Phật cùng chúng sanh thật không sai khác. Chỉ vì chúng sanh bám tướng cầu ngoài. Càng cầu càng thêm mất, đem Phật mà tìm Phật, lấy Tâm mà bắt Tâm, cùng kiếp hết đời, rốt chẳng thể được. Chẳng biết là dứt nghĩ quên suy thì Phật tự hiện tiền. Tâm đây chính là Phật. Phật tức là chúng sanh. Khi là chúng sanh, Tâm đây chẳng giảm. Khi là Phật, Tâm đây chẳng thêm. Cho đến hằng sa công đức, Lục Độ, Vạn Hạnh vốn tự sẵn đủ, chẳng nương mượn tu để có thêm. Gặp duyên thì bày trải, hết duyên thì lặng yên.

“Nếu chẳng quyết định tin đây là Phật mà muốn bám tướng tu hành để cầu công dụng, đó đều là vọng tưởng, cùng với Đạo tự trái. Tâm đây tức là Phật, chẳng có Phật nào khác, cũng chẳng có Tâm nào khác. Tâm này sáng sạch, dường như hư không, không có một điểm tướng mạo. Khởi tâm, động niệm liền trái Pháp Thể, tức liền bám tướng.

Từ vô thủy đến nay không có Phật bám tướng ! Tu Lục Độ, Vạn Hạnh muốn cầu thành Phật tức là thứ lớp.
Từ vô thủy đến nay không có Phật thứ lớp ! Chỉ ngộ Nhất Tâm, rốt không chút pháp gì khá đắc, đó là Chân Phật.
“Phật cùng chúng sanh, Một Tâm không khác.


Giống như hư không, không xen tạp, không hư hoại. Như mặt trời chiếu khắp bốn thiên hạ. Khi mặt trời lên cao, sáng khắp thiên hạ, hư không chẳng hề sáng. Khi mặt trời lặn, tối khắp thiên hạ, hư không chẳng hề tối. Cảnh sáng cảnh tối tự lấn đoạt nhau, cái tánh của hư không rỗng nhiên chẳng đổi. Tâm của Phật cùng chúng sanh cũng như thế.

Nếu xem thấy Phật cho là cái tướng trong sạch, sáng rỡ, giải thoát; xem thấy chúng sanh cho là tướng dơ bẩn, tối tăm, sanh tử, khởi cái thấy hiểu như vậy thì trải qua hằng sa kiếp rốt cuộc chẳng nắm được Bồ Đề, vì bám tướng vậy. Độc chỉ Nhất Tâm đây, ngoài ra chẳng có vi trần pháp nào có thể đắc. Tức Tâm là Phật !”

Nhiệm mầu thay ! Nhiệm mầu thay ! Chẳng phải Tổ Hoàng Bá thật chứng Diệu Giác, không rơi vào tầng bậc thì làm sao thông suốt như thế ? Đã lời dạy này mà lưu lại, để gần với ý chỉ Viên Đốn của kinh này bởi cả hai chẳng ngại nhau vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #76 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 06:43:04 AM »

(tiếp theo)

是種種地。皆以金剛觀察如幻十種深喻。奢摩他中。(此云止)用諸如來毗婆舍那。(此云觀)清淨修證。漸次深入。阿難。如是皆以三增進故。善能成就五十五位真菩提路。作是觀者。名為正觀。若他觀者。名為邪觀。

Kinh : “Các thứ Địa này đều dùng Trí Kim Cương quán sát Như Huyễn mười thứ ví dụ sâu xa. Trong Xa Ma tha (Chỉ) dùng Tỳ Bà Xá Na (Quán) của Chư Phật mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt tu nhập.
“Anan, như thế đều dùng ba tiệm thứ tăng tiến, khéo có thể thành tựu năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề Chân Thật.
“Làm cái Quán như vậy, gọi là Chánh Quán. Nếu Quán khác đi gọi là Tà Quán.


通曰。十種深喻者。應觀一切業如幻。一切法如幻。一切性如水中月。妙色如空。妙音如響。諸佛國土如乾闥婆城。佛事如夢。佛身如影。報身如像。法身如化。不可取捨。一切空故。深入此空。乃名實相。此非作法。無滅壞故。若異此觀。即生滅法。此不但觀有為法如夢幻泡影。乃至觀佛法身亦如夢幻泡影。故為深喻。如是觀察。非小乘觀法可擬。乃諸如來妙觀察智。具金剛慧。由寂而照。由止而觀。如水至清。微滓不染。如鑑至淨。纖垢不容。以是而修。修而無修。以是而證。證而無證。故由干慧漸次深入以至妙覺。皆不離此金剛觀察。地地俱壞。法法俱干。故能興妙覺合也。如是深喻。如是深入。豈有外於三增進中。返流全一。以逮獲無生法忍。從是漸修。隨所發行。安立聖位。善能成就五十五位真菩提路。信住行向地為五十。干慧及四加行為五。不言等覺妙覺二位者。二覺即是真菩提。是覺也。非路也。五十五位。乃所由入覺之路也。十方如來。得成菩提。皆有妙奢摩他三摩禪那。最初方便。至金剛觀察。如幻三昧。唯觀世音最為第一。故五十五位菩提之路。亦由三增進中。返流全一。始是返聞其最初方便。而如幻觀察。亦盡聞不住。覺所覺空。空所空滅。生滅既滅之次第也。作是觀者。即十方婆伽梵。一路涅槃門。若他觀者。非有十種深喻金剛觀察。即屬生滅。即為邪觀也。唐僧澄觀。作地住修證偈曰。修習空華萬行。宴坐水月道場。降伏鏡像天魔。證得夢中佛果。亦略有十種深喻之致。夾山上堂。有祖以來。時人錯會。相承至今。以佛祖言句。為人師範。若或如此。即成狂人無智人去。他祗指示汝無法本是道。道無一法。無佛可成。無道可得。無法可取。無法可舍。所以老僧道。目前無法。意在目前。他不是目前法。若向佛祖邊學。此人未具眼在。何故。皆屬所依。不得自在。本祗為生死茫茫。識性無自由分。千里萬里。求善知識。須具正眼。求脫虛謬之見。定取目前生死。為復實有。為復實無。若有人定得。許汝出頭。上根之人。言下明道。中下根器。波波浪走。何不向生死中定當。何處更擬佛擬祖。替汝生死。有智人笑汝。汝若不會。更聽一頌。勞持生死法。唯向佛邊求。目前迷正理。撥火覓浮漚。此可為正觀邪觀之定衡矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Mười thứ thí dụ sâu xa là nên Quán rằng :

 1. Hết thảy nghiệp như huyễn;
 2. Hết thảy pháp như bóng hơi nóng  -(ct) Diệm. );
 3. Hết thảy tánh như bóng trăng trong nước;
 4. Sắc diệu như hư không;
 5. Tiếng diệu như vang;
 6. Quốc độ Chư Phật như thành Càn Thát Bà;
 7. Phật sự như mộng;
 8. Phật Thân như ảnh;
 9. Báo Thân như hình tượng;
10. Pháp Thân như hoá.


Tất cả đều không thể nắm, bỏ bởi vì tất cả Không vậy. Thâm nhập cái Không này mới gọi là Thật Tướng. Đây chẳng phải là cái Pháp làm ra nên vốn không hoại diệt. Nếu khác với cái Quán này tức là pháp sanh diệt. Ở đây không chỉ Quán Pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng mà cho đến Quán Pháp Thân Phật cũng như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng nên là ví dụ thâm sâu.

Quán sát như thế thì chẳng phải Quán Pháp của Tiểu Thừa có thể so được, mà đó là Diệu Quan Sát Trí của Như Lai, sẵn đủ Kim Cương Huệ : do Tịch nên Chiếu, do Chỉ nên Quán. Giống như nước thật trong chẳng nhiễm một chút bẩn, như gương tột sạch chẳng dung một hạt bụi. Lấy đó mà tu thì tu mà không tu. Lấy đó mà chứng thì chứng mà không chứng. Nên do Càn Huệ lần lượt thâm nhập cho đến Diệu Giác, đều chẳng rời cái Trí Kim Cương quán sát này. Địa địa đều hoại, pháp pháp đều khô  -(ct) Càn. ) nên hợp với Diệu Giác.

Thí dụ sâu xa như thế, thâm nhập như thế, đâu có ra ngoài ba tiệm thứ tăng tiến, nghịch dòng toàn nhất, chờ đến được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Theo đó tiệm tu, tùy chỗ hành phát mà an lập Thánh Vị, khéo thành tựu năm mươi lăm địa vị của con đường Bồ Đề Chân Thật.

Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Địa là năm mươi, cọng với Càn Huệ và bốn Gia Hạnh là năm mươi lăm. Không nói đến hai Địa vị Đẳng Giác và Diệu Giác, vì hai Giác chính là Chân Bồ Đề, là Giác chứ chẳng còn là con đường. Năm mươi lăm địa vị là nguyên do, là con đường nhập Giác vậy.

Mười phương Như Lai thành tựu Bồ Đề đều có phương tiện ban đầu là Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề, Thiền Na mầu nhiệm. Cho đến Trí Kim Cương Quán Sát, Như Huyễn Tam Muội thì chỉ Đức Quán Thế Âm là Đệ Nhất.

 Do đó, năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề cũng do trong ba tiệm thứ tăng tiến, ngược dòng toàn nhất. Bắt đầu là xoay lại cái Nghe, cái phương tiện tối sơ này cũng là Như Huyễn Quán Sát theo thứ lớp : hết Nghe cũng chẳng trụ, Giác và Sở Giác đều Không; Không, Sở Không diệt, sanh diệt đã diệt đó là Tịch Diệt Hiện Tiền.

Làm cái Quán như thế đó là Một đường vào Niết Bàn của mười phương Chư Phật. Nếu Quán khác đi, chẳng trụ trong mười thứ thí dụ sâu xa của Kim Cang Quán Sát tức thuộc về sanh diệt, tức là Tà Quán vậy.

Ngài Trừng Quán  -(ct) Tổ Thứ Tư Tông Hoa Nghiêm. ) đời Đường có bài kệ Trụ Địa Tu Chứng :

“Tu tập “không hoa” vạn hạnh
Yên ngồi “trăng nước” đạo tràng
Hàng phục Thiên Ma “gương ảnh”
Chứng đắc Phật Quả “trong mộng””.
Cũng nói lên vắn tắt mười thứ ví dụ sâu xa.

Tổ Giáp Sơn thượng đường : “Từ khi có Tổ đến nay, người đời lầm hiểu. Cùng nhau thừa thọ cho đến nay, cứ lấy lời lẽ của Phật, Tổ làm kiểu mẫu cho người. Nếu mà như thế tức thành người cuồng, là người không có Trí vậy.
“Kia chỉ bày dạy rằng : “Ông không có pháp, cái không có pháp đó là Đạo. Đạo không có pháp gì, không có Phật để thành, không có Đạo để đắc, không có pháp để nắm, không có pháp để bỏ.

“Bởi thế, lão tăng này nói rằng : Trước mắt không có pháp, trước mắt là ý. Cái kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu hướng về phía Phật, Tổ mà học thì người đó chưa ở chỗ đầy đủ con mắt. Sao thế ? Vì đều thuộc về chỗ nương dựa, chẳng có tự tại, đó chỉ là gốc rễ sanh tử mang mang, là cái thức tánh trói buộc. Ngàn dặm muôn dặm tìm cầu thiện trí thức, phải cần đầy đủ cái Chánh Nhãn, cầu thoát cái Thấy Biết sai dối. Xác định lấy sanh tử trước mắt là thực có hay là thực không ?

Ai mà định được, cho người ấy thoát thân ! Người thượng căn nghe xong, rõ Đạo; người trung, hạ căn lại bôn ba theo sóng. Sao chẳng hướng về trong sanh tử mà định ngay ra ? Còn chỗ nào đi mong Phật, mong Tổ dẹp bỏ Sanh Tử cho nữa bây giờ ! Người trí cười vào mũi ông.

“Như chưa chịu hiểu thì nghe bài tụng :

“Nhọc giữ pháp sanh tử
Chỉ hướng phía Phật cầu
Mê Chánh Lý trước mắt
Khươi lửa tìm bọt sao ? ” ”.

Chỗ này có thể làm cái cân để định Chánh Quán hay Tà Quán vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #77 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 06:46:44 AM »

(tiếp theo)

爾時文殊師利法王子。在大眾中。即從座起。頂禮佛足而白佛言。當何名是經。我及眾生。云何奉持。佛告文殊師利。是經名大佛頂悉怛多般怛囉無上寶印。十方如來清淨海眼。

MỤC BA :

CHỈ DẠY TÊN KINH


Kinh : Bấy giờ Ngài Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Phải gọi tên kinh này là gì ? Tôi cùng chúng sanh phụng trì như thế nào ?”
Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi : “Kinh này tên là Đại Phật Đảnh Tất Đát Đa Bát Đát Ra, Vô Thượng Bảo Ấn, Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn”.



通曰。自初抉擇真妄。宣勝義中真勝義性。為見道分。自天王華屋要因門入。揀選二十五圓通。以至奉持佛頂神咒。為修道分。又從於凡夫終大涅槃。懸示無上正修行路。為證果分。一經之大旨備矣。故文殊因是而有請也。既請經名。即當奉特。為流通分。何為種種發揮未盡。而遽以請名為哉。蓋五十五位真菩提路。是正因正果。唯不識真心。錯亂修習。故有輪轉地獄餓鬼畜生修羅人天等道。二十五圓通。三摩地中。本無魔事。唯不識真心。錯亂修習。故有五十種陰魔。皆所謂若他觀者。即名邪觀。下文特詳數之耳。是經雖因阿難啟教。而以佛頂神咒。表顯無上法門。然此大白傘蓋。體極含覆。超情離見。即如來藏之心印也。照窮剎海。淨絕纖塵。即爍迦羅之法眼也。印曰無上。非最上一乘。莫能印之。眼曰清淨。非纖翳悉除。莫能鑑之。印謂之寶。則常住不壞。眼謂之海。則含蓄無涯。是不可思議之咒。即不可思議之性也。性與咒。均之不可思議。寧有二乎哉。風穴在郢州衙上堂。祖師心印。狀似鐵牛之機。去即印住。住即印破。只如不去不住。印即是。不印即是。時有盧陂長老出云。某甲有鐵牛之機。請師不搭印。穴曰。慣釣鯨鯢澄巨浸。卻嗟蛙步展泥沙。陂佇思。穴喝云。長老何不進語。陂擬議。穴打一拂子云。還記得話頭麼。試舉看。陂擬開口。穴又打一拂子。牧主云。佛法與王法一般。穴云。見個甚麼。牧云。當斷不斷。返招其亂。穴便下座。天童頌云。鐵牛之機。印住印破。透出毗盧頂x行。卻來化佛舌頭坐。風穴當衡。盧陂負墮。棒頭喝下。電光石火。歷歷分明珠在盤。眨起眉毛還蹉過。又閩帥遣使送朱記到保福。福上堂曰。去即印住。住則印破。僧曰。不去不住。用印奚為。福便打。僧云。恁麼則山鬼窟裡。全因今日也。福默然。合二則觀之。無上寶印。電光石火。即蹉過也。矧可擬議卜度。故非清淨海眼。不足以矚之。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Từ chỗ ban đầu phân biệt chọn lựa hẳn Chân, Vọng, tuyên bày Tánh Chân Thắng Nghĩa trong Thắng Nghĩa, là Kiến Đạo Phần. Từ chỗ muốn do cửa mà vào nhà rực rỡ của Thiên Vương, lựa chọn hai mươi lăm Viên Thông, cho đến phụng trì thần chú Phật Đảnh là Tu Đạo Phần. Lại từ chỗ phàm phu rốt đến Đại Niết Bàn, chỉ rõ con đường chân chánh tu hành vô thượng là Chứng Quả Phần. Ý chỉ lớn lao của bộ kinh đủ rồi vậy. Nên Ngài Văn Thù nhân đấy mà thưa hỏi.

Đã hỏi tên kinh tức là phải phụng trì mà thành phần Lưu Thông, cớ sao có những điều chưa phát huy ra hết mà lại hỏi tên kinh ? Bởi vì, năm mươi lăm vị của con đường Bồ Đề Chân Chánh đó thật là nhân chánh, quả chánh. Chỉ là chẳng rõ Chân Tâm, tu tập lầm loạn nên mới có luân chuyển các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, người, Trời vậy. Hai mươi lăm Viên Thông đều trong Tam Ma Địa, vốn không có chuyện Ma. Chỉ bởi chẳng biết Chân Tâm, tu tập lầm loạn nên mới có năm mươi thứ Ấm Ma, đều là chỗ nói “Nếu quán khác đi, gọi là Tà Quán”. Đoạn sau sẽ kê rõ số mục.

Kinh này, tuy nhân Ngài Anan thưa hỏi, mà lấy Thần Chú Phật Đảnh nêu bày Pháp Môn Vô Thượng. Bởi thế, Đại Bạch Tán Cái  -(ct) Cây Dù Trắng Trùm Khắp. ) này, thể nó bao trùm hết thảy, siêu tình, lìa kiến, tức là Như Lai Tạng Tâm Ấn vậy. Soi chiếu cùng tột biển vô biên cõi Phật, sạch trong tuyệt không mảy bụi, tức là con mắt pháp Kim Cương vậy. Ấn nói là Vô Thượng, vì chẳng phải là Tối Thượng Thừa thì không thể Ấn được. Nhãn nói là thanh tịnh vì nếu còn một mảy bụi thì chẳng soi trùm được. Ấn, gọi là Bảo vì vốn thường trụ chẳng hoại. Nhãn, gọi là Biển, ắt bao trùm vô tận. Thần Chú bất khả tư nghì này tức là cái Tánh bất khả tư nghì vậy. Tánh cùng Chú bình đẳng, bất khả tư nghì, há có hai được ư !


Tổ Phong Huyệt ở Trình Châu Nha thượng đường, nói : “Tâm Ấn Tổ Sư giống như then chốt của con trâu sắt. Đi thì ấn đứng, đứng thì ấn phá. Chỉ như chẳng đi, chẳng đứng thì ấn là phải hay không ấn là phải ?

Khi ấy có Trưởng Lão Lư Ba bước ra, nói : “Tôi có then chốt của con trâu sắt, xin thầy đừng ráp thêm ấn vào !”

Tổ Huyệt nói :
 
“Quen câu kình nghê đầm lặng rộng
“Lại than ếch nhái bì bõm bãi cát bùn”.

Ông Lư Ba đang lưỡng lự suy nghĩ thì Tổ Huyệt quát : “Trưởng Lão, sao chẳng nói đi ?”

Lư Ba định nói, Tổ Huyệt đánh một cây phất tử : “Lại nhớ được thoại đầu ư, thử nói xem !”

Lư Ba định mở miệng, Tổ Huyệt lại đánh một phất tử.

Ông Mục Chủ nói : “Phật Pháp cùng Vương Pháp là một thứ”.

Tổ Huyệt nói : “Thấy cái gì nào ?”

Ông Mục Chủ nói : “Cần đoạn chẳng đoạn, lại chiêu thêm loạn !”

Tổ Huyệt bèn xuống tòa.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Then chốt trâu sắt, ấn trụ ấn phá
Suốt khỏi đỉnh Tỳ Lô mà đi
Lại đến ngồi đầu lưỡi hóa Phật
Phong Huyệt thử xem, Lư Ba rớt té
Đầu gậy hét rồi : Điện quang, lửa đá
Rờ rỡ rõ ràng, ngọc trên mâm
Nháy mắt, nhăn mày : lại than lỗi”.

Lại Ngài Mân Súy sai sứ giả đưa Ông Châu Ký đến Tổ Bửu Phước.

Tổ Phước thượng đường, nói : “Đi thì ấn trụ, trụ thì ấn phá”.

Nhà sư nói : “Chẳng đi chẳng trụ, dùng ấn làm gì ?”

Tổ Phước bèn đánh.
 
Nhà sư nói : “Như thế thì ở trong hang quỉ núi đều nhân vì ngày hôm nay vậy”.

Tổ im lặng.

Hợp hai tắc trên mà xem thì Vô Thượng Bảo Ấn, Lửa đá, Điện quang tức là lầm lỗi vậy. Há có thể suy nghĩ tính toán ư ? Cho nên chẳng phải là Hải Nhãn Thanh Tịnh thì không đủ để thấy !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #78 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 09:01:48 PM »

(tiếp theo)

亦名救護親因。度脫阿難。及此會中。性比丘尼。得菩提心。入遍知海。


Kinh : “Cũng gọi tên là Cứu Hộ Thân Nhân, độ thoát Anan cùng Tánh Tỳ Kheo Ni trong hội này, đắc Bồ Đề Tâm, nhập Biến Tri Hải”.



通曰。佛頂神咒。大不可思議。能使性比丘尼淫心頓歇。救護阿難。無毀戒體。亦已奇矣。然性比丘尼始得阿那含果。既證阿羅漢道。乃悟淫性本空。已得出纏。入正遍知。菩提心者。屬正知。為明本分事也。其中抉擇真妄。揀辦修治。一切因果。皆無疑惑。屬遍知。阿難已獲法身。得菩提心矣。今於一切顛倒錯亂修習。皆無不究竟。是為入遍知海也。雖然。明得一萬事畢。但於真心無眩。世間變態。何所不通。為一切由心造故也。岩頭豁禪師。在甘贄家過夏。一日把針次。贄自田中回。於豁前拄鍬亞身立。豁以針作劄勢。贄急入家。著衣欲拜謝。行婆問有何事。贄曰。不得說。婆曰。且要大家知。贄舉前話。婆失聲曰。此話三十年後須知一回飲水。一回著噎。女子聞舉。乃曰。還知盡大地人性命。被上座一針頭上劄卻麼。奇哉奇哉。何意岩頭一針鋒上。具有大佛頂悉怛多般怛囉咒。能令甘贄妻子。一時便爾得菩提心。入遍知海。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Phật Đảnh Thần Chú thật không thể nghĩ bàn, khiến cho Tánh Tỳ Kheo Ni lòng dâm liền khô cạn, cứu hộ Ngài Anan khỏi bị phá giới, cũng đã là lạ lùng. Như Tánh Tỳ Kheo Ni mới đầu đắc quả A Na Hàm, rồi chứng đạo A La Hán, bèn ngộ tánh dâm vốn không, đã được ra khỏi ràng buộc, thể nhập Chánh Biến Tri. Bồ Đề Tâm thuộc về Chánh Tri, vì rõ chuyện bổn phận vậy.

Ở trong ấy chọn rõ chân vọng, gạn lọc để tu sửa điều trị, thì hết thảy nhân quả chẳng còn nghi hoặc, là thuộc về Biến Tri  -(ct) Biết Khắp. ). Ông Anan đã được Pháp Thân, đắc Bồ Đề Tâm, nay trong tất cả điên đảo, lầm loạn tu tập, đều không gì chẳng thông suốt; đó là thể nhập Biển Khắp Biết vậy.

Thế đó, rõ được Một thì vạn sự xong. Chỉ ở nơi Chân Tâm không hoa mắt thì biến thái của thế gian, chỗ nào mà chẳng suốt thông, vì tất cả do Tâm tạo vậy.


Thiền sư Nham Đầu Khoát trải qua mùa Hạ ở nhà Ông Cam Chí.

Một hôm, đang cầm cây kim thì Ông Chí ở ruộng về cầm cái mai đứng sát trước Ngài. Tổ Khoát cầm kim làm thế đâm móc.

Ông Chí vội vàng vào nhà, mặc áo muốn ra lạy tạ ơn.
 
Bà vợ hỏi : “Có chuyện gì thế ?”

Ông Chí nói : “Chẳng được nói !”

Bà vợ nói : “Cần biết chỗ biết của ông”.

Ông Chí kể lại chuyện lúc nãy.

Bà la lên : “Chuyện ách yếu này ba mươi năm sau, phải biết một phen uống nước là một phen mắc nghẹn !

Cô con gái nghe cha nói ra, bèn nói : “Mới biết tánh mạng người ta khắp đại địa đều bị một đầu mũi kim của Thượng Tọa xuyên suốt !


Lạ thay, lạ thay ! Nào ngờ trên mũi kim may của Tổ Nham Đầu có đủ Đại Phật Đảnh Tát Đát Đa Bát Đát Ra Thần Chú, khiến cho cả nhà Ông Cam Chí trong khoảng sát na nhất thời đắc Bồ Đề Tâm, vào Biến Tri Hải vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, Ngoisaobiec, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #79 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 09:04:43 PM »

(tiếp theo)

亦名如來密因修證了義。

Kinh : “Cũng tên là Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa.

通曰。咒語者。不可解釋。是如來密語也。向上一路。千聖不傳。亦如來秘密也。既云秘密。豈修所能修。證所能證。凡有修有證者。皆屬不了。唯無修無證者。乃為修證了義也。既不可以修證得。必須密悟。一念熏修無漏善業。不以知知。不以識識。凡有知識。即為漏也。即非密也。以此密為因。如持咒等。乃所謂不思議熏修也。以不思議為因。必以不思議證果。如來者。則是不可思議。既證如來。安所不了哉。趙州因尼問如何是密密意。州以手掏之。尼曰。和尚猶有這個在。州曰。卻是你有這個在。慈受深頌曰。密密深深意最長。幾人冷地錯商量。師姑若會趙州掏。鐵打心肝此斷腸。德山圓明和尚示眾云。及盡去也。直得三世諸佛。口掛壁上。猶有一人呵呵大笑。若識此人。參學事畢。天童頌云。收。把斷襟喉。風磨云拭。水冷天秋。錦鱗莫謂無滋味。釣盡滄浪月一鉤。投子拈云。雖然如是。德山大似藏盡楚天月。猶存漢地星。頌曰。雙眉入暗路崎嶇。日落棲蘆暫得蘇。爭似石人眠半夜。免教舜讓守林居。須知華綻非干木。無腳行時早觸途。昨朝風起長安道。元是崑崙進國圖。如此等公案亦不可測識。若了此密語。即參學事畢。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Chú ngữ không thể giải thích, đó là mật ngữ của Như Lai. Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng truyền, cũng là bí mật của Như Lai vậy. Đã bảo là bí mật há có chỗ để Tu, có chỗ để Chứng ư ? Phàm có Tu, có Chứng đều thuộc về Bất Liễu  -(ct) Chẳng rõ ràng, chẳng rốt ráo. ).

Độc chỉ không Tu, không Chứng mới là Tu Chứng Liễu Nghĩa vậy. Đã không thể lấy Tu Chứng mà được, ắt phải là mật ngộ, một niệm huân tu thiện nghiệp vô lậu, chẳng lấy cái Trí mà biết, chẳng lấy cái Thức mà hay. Phàm có tri thức tức là hữu lậu, chẳng được là mật.

Lấy cái mật này làm nhân, như trì chú... ấy gọi là Bất Tư Nghì Huân Tu vậy. Cái Bất Tư Nghì này làm Nhân, ắt chứng Quả Bất Tư Nghì. Như Lai, đó là chẳng thể nghĩ bàn. Đã chứng Như Lai, thì chỗ nào chẳng tỏ suốt ư ?

Tổ Triệu Châu, nhân có vị ni hỏi : “Như sao là mật mật ý ?”

Tổ Châu lấy tay phất.

Vị ni nói : “Hòa Thượng còn có Cái Ấy, nhé !”

Tổ Châu nói : “Ấy, chính ngươi lại có Cái Ấy, đó !”


Ngài Từ Thọ Thâm tụng rằng :

“Mật mật, thâm thâm, ý tột cùng
Bao người lầm lạc giữa hư không
Sư cô nếu hiểu lay tay đó
Chắc nát tâm can cũng đoạn trường !”.

Hòa Thượng Đức Sơn Viên Minh dạy chúng rằng: “Cho đến hết rồi, dầu có được miệng của ba đời Chư Phật treo trên vách thì vẫn còn có một người ha hả cười lớn. Nếu rõ người này, việc tham học xong ngay!”


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Ôm nắm chỗ quan yếu
Gió mài, mây quét, nước lặng, trời thu
Chớ cho vảy gấm không mùi vị
Liềm trăng câu hết cả sông Thương”.


Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Tuy là như vậy, nhưng Đức Sơn quả giống như “Cất hết trăng trời Sở. Vẫn còn sao đất Hán””.

Tụng rằng :

“Đôi mày vào tối nẻo gập gềnh
Trời lặn nương lều tạm sống yên
Cũng tợ nửa đêm người gỗ ngủ
Khỏi học Thuấn nhường chịu ở rừng
Phải hay hoa rụng can gì mộc (cây)
Không cẳng vừa đi sớm gặp đường
Sáng qua gió nổi Trường An đạo
Nguyên đó Côn Lôn tiến quốc đồ”.

Các công án như thế cũng không thể đo lường được. Nếu rõ mật ngữ này thì việc tham học bèn xong!



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, Ngoisaobiec, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #80 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 09:09:58 PM »

(tiếp theo)

亦名大方廣妙蓮華王。十方佛母。陀羅尼咒(此云總持)。


Kinh : “Cũng gọi là “Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú”.(cũng gọi Tổng Trì)

通曰。圓教莫如大方廣佛華嚴經。頓教莫如妙法蓮華經。佛母神咒。莫如大准提。今楞嚴兼而有之。可謂極圓極頓極不可思議法門也。大者常遍。當法身。方者軌持。當般若。廣者包博。當解脫。理智用三德具備。可不謂圓乎。蓮華出污泥而不染。妙蓮華王。則所謂優曇缽華。異世間植者也。一彈指頃。入佛知見。是謂希有。非頓莫能當之。此圓此頓。當指何事。此事不容擬議。即所謂咒心也。十方如來。因此咒心。得成無上正遍知覺。乃至於滅度後付佛法事云云。非十方如來之所自出乎。雖謂之佛母神咒。得大總持。可也。合是三者。一大藏經教管是矣。青原一日問石頭曰。有人道嶺南有消息。頭曰。有人不道嶺南有消息。原曰。若恁麼。大藏小藏。從何而來。頭曰。盡從這裡去。原然之。云門垂語云。眼睫橫亙十方。眉毛上透乾坤。下透黃泉。須彌塞卻汝咽喉。還有人會得麼。若有人會得。拽取佔城共新羅斗額。妙喜曰。是大神咒。是大明咒。是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛。諸人要識云門麼。不見道三台須是大家催。云門妙喜。故是會中人。重宣咒心。指出不可思議境界。若有妙契其旨者。管取成佛無疑。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Về Viên Giáo thì không gì bằng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Về Đốn Giáo thì không gì bằng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Về Phật Mẫu Thần Chú, không gì bằng Chú Đại Chuẩn Đề. Nay kinh Lăng Nghiêm gồm có cả, có thể gọi là pháp môn Cực Viên, Cực Đốn, Cực Bất Khả Tư Nghì vậy.

 Đại là thường khắp, chỉ Pháp Thân. Phương là nắm trọn, chỉ Bát Nhã. Quảng là rộng trùm, chỉ Giải Thoát. Ba đức Lý, Trí và Dụng đầy đủ, thế chẳng gọi là Viên sao ? Hoa sen mọc lên từ bùn dơ mà chẳng nhiễm. Diệu Liên Hoa Vương tức là hoa Ưu Đàm Bát, khác với loại thế gian trồng vậy.

Trong khoảnh khắc gảy móng tay nhập Tri Kiến Phật, đó là hy hữu, chẳng phải là Đốn thì không thể đảm đương. Viên ấy, Đốn ấy chỉ việc gì thế ? Việc ấy không thể nghĩ bàn, tức gọi là Thần Chú của Tâm vậy.

 Mười phương Như Lai nhờ Chú Tâm này đắc thành Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác, cho đến sau khi diệt độ cùng nhờ Chú Tâm này mà phú chúc việc Phật Pháp v.v... Thì há chẳng phải là chỗ từ đó mà ra của mười phương Chư Phật ư ? Nên có thể gọi đó là Phật Mẫu Thần Chú đắc Đại Tổng Trì vậy. Hợp cả ba cái thì Giáo Pháp của cả Đại Tạng Kinh đều gồm đủ.

Tổ Thanh Nguyên Hành Tư một hôm hỏi Ngài Thạch Đầu rằng : “Có người nói “Lãnh Nam có tin tức””.

Ngài Đầu nói : “Có người chẳng nói “Lãnh Nam có tin tức””.

Tổ Nguyên nói : “Nếu thế thì Đại Tạng, Tiểu Tạng từ đâu mà đến ?”

Ngài Đầu nói : “Đều từ trong ấy hết !”

Tổ bằng lòng.

Tổ Vân Môn mở lời rằng : “Nháy mắt ngang cả mười phương, trên lông mày suốt đến càn khôn, dưới suốt đến suối vàng. Núi Tu Di lấp nghẹt cuống họng của ông. Có ai hiểu không ? Ai mà hiểu được thì đem dẫn xứ Chiêm Thành đánh nhau với xứ Tân La !”

Ngài Diệu Hỉ nói : “Là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú hay trừ tất cả khổ, chân thật không hư. Các ông có rõ Vân Môn không ? Há chẳng nghe nói “Tam đài (tam quán) cần phải chính ông thúc giục”.

Tổ Vân Môn, Diệu Hỉ quả là người trong hội, tuyên nói lại Chú Tâm, chỉ ra cảnh giới không thể nghĩ bàn. Ai mà diệu khế ý chỉ này, tự cai quản giữ lấy mà thành Phật không sai !

  

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, Ngoisaobiec, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #81 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 09:14:28 PM »

(tiếp theo)

亦名灌頂章句。諸菩薩萬行首楞嚴。汝當奉持。

Kinh : “Cũng tên là “Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm”. Ông hãy phụng trì”.


通曰。諸菩薩萬行具足。至一切事究竟堅固。是名灌頂菩薩。此菩薩將成妙覺。於色究竟天上。現大寶蓮華王座。量等百萬阿僧祇三千大千世界。菩薩欲登此座。先於身中出現十道百寶光明。照燭有情。最後從頂門放光。入諸佛足。於是諸佛從面門放百寶光明。流灌此菩薩頂。直至心源。此但以流光交相涉入。名為灌頂受佛職位。前覺際入交。即此景象。若妙覺以上。則不容說。唯灌頂以下。則有章句。如交光相入。章句亦無。於無章句中而有章句。第謂此妙湛總持首楞嚴王具足萬行十方如來一門超出妙莊嚴路云爾。故謂萬行具足。而後究竟堅固者。是漸非頓。謂自性堅固。而無藉萬行者。是頓非圓。不知此妙莊嚴路。莊嚴萬行。本自具足。不假修為。一切堅固。不但內外身心。得大定力。性周性界。山河大地。明暗色空。一切事法。當處寂滅。入乎大定。即此為常住真心。即此為妙湛總持。蓋圓頓具備者也。故謂之首楞嚴經。未至灌頂法王子位。惡能知其妙哉。故曰汝當奉持。佛鑑和尚示眾。舉僧問趙州如何是不遷義。州以兩手作流水勢。其僧有省。又僧問法眼。不取於相。如如不動。如何不取於相。見於不動去。法眼曰。日出東方夜落西。其僧亦有省。若也於此見得。方知道旋嵐偃岳。本來常靜。江河競注。元自不流。其或未然。不免更為饒舌。天左旋。地右轉。古往今來經幾遍。金烏飛。玉兔走。才方出海門。又落青山後。江河波渺渺。淮濟浪悠悠。直入滄溟晝夜流。遂高聲云。諸禪德還見如如不動麼。又云蓋智和尚示眾云。唯有堅密身。一切塵中現。云蓋今日。千山郁茂。烏獸嘶鳴。百華競發。萬木抽枝。儘是諸佛。個個真如。汝等諸人。遊山玩水。直須急著眼睛。莫被伊謾。是二尊宿。直於一切塵境中。拈出如如不動。堅密真身。不離萬行。而得究竟堅固。是深於楞嚴之旨者。於此咬嚼得破。方得名為奉持。如其空守章句。未知入路。縱能莊嚴萬行。終屬生滅法爾。於自性堅固。妙湛總持。何啻霄壤哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Muôn Hạnh của Chư Bồ Tát đều đầy đủ, cho đến tất cả Sự rốt ráo kiên cố thì gọi là Quán Đảnh Bồ Tát. Vị Bồ Tát này sắp thành Diệu Giác thì ở trên cõi trời Sắc Cứu Cánh hiện ra tòa Đại Bửu Liên Hoa Vương rộng lớn trăm vạn a tăng kỳ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Bồ Tát muốn lên tòa này trước hết ở trong thân phóng hiện mười đạo quang trăm báu, chiếu soi loài hữu tình, sau cùng từ cửa đỉnh đầu phóng ánh sáng nhập vào chân Chư Phật. Khi ấy, Chư Phật từ nơi mặt phóng ra quang minh trăm báu chảy tuôn rót vào đảnh đầu của vị Bồ Tát ấy, thẳng đến nguồn tâm. Ở đây, chỉ lấy ánh sáng tuôn chảy tương giao hòa nhập mà gọi là Quán Đảnh, thọ lãnh chức vụ Phật.

Ở trước, có nói “Ranh giới của Giác thể nhập vào nhau” tức là cảnh tượng này. Nếu từ địa vị Diệu Giác thì chẳng còn lời nói, duy từ Quán Đảnh trở xuống thì cùng chương cú. Như ánh sáng giao nhập nhau, chương cú cũng không có.

Ở trong chỗ không có chương cú mà có chương cú, nên mới gọi là chỗ này là “Diệu Trạm Tổng Trì, Thủ Lăng Nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh, một đường Diệu Trang Nghiêm siêu xuất của mười phương Như Lai” vậy.

Cho nên, nói “Muôn hạnh đầy đủ” mà sau là “Rốt ráo kiên cố”, đó là Tiệm chứ không phải Đốn. Nói rằng “Tự Tánh kiên cố mà không nhờ muôn hạnh”, đó là Đốn chứ không phải Tiệm. Chẳng hay biết rằng con đường Diệu Trang Nghiêm này vốn tự đầy đủ muôn hạnh trang nghiêm, chẳng mượn đến sự trau làm, tất cả vốn kiên cố. Không phải chỉ có thân tâm trong ngoài đắc Đại Định Lực, mà trong Bản Tánh trùm khắp pháp giới, núi sông, đất đai, sáng tối, sắc không, tất cả mọi sự, tất cả mọi Pháp, hiện đây là tịch diệt, vốn trong Đại Định.

Chính đây là Chân Tâm thường trụ, chính đây là Diệu Trạm Tổng Trì, vốn là Viên Đốn, sẵn sàng đầy đủ. Nên gọi đó là Thủ Lăng Nghiêm kinh.

Chưa đến địa vị Quán Đảnh Pháp Vương Tử thì sao mà biết được chỗ nhiệm mầu, bởi thế nói rằng “Ông hãy phụng trì”.

Hòa Thượng Phật Giám khai thị cho đại chúng.

Ngài kể chuyện : “Nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Thế nào là nghĩa chẳng biến đổi ?”

“Tổ Châu dùng hai tay làm cách thế nước chảy.

“Nhà sư có chỗ tỉnh ngộ”.

Ngài lại kể chuyện : “Nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhãn : “Chẳng giữ lấy tướng, như như chẳng động. Thế nào là chẳng giữ lấy tướng mà thấy chỗ chẳng động đó ?”

“Tổ Pháp Nhãn nói : “Mặt trời mọc phương Đông, lặn phương Tây !”

“Nhà sư cũng có chỗ tỉnh ngộ”.

Ngài nói tiếp : “Ngay nơi đó mà thấy được, mới biết rằng “Khí núi trùm non, bổn lai thường lặng. Sông nước cuộn chảy, nguyên tự chẳng trôi”. Chưa được như vậy thì không khỏi lại phải nhiều lời. Thiên xoay trái, Địa chuyển phải, xưa qua nay lại trải bao lần biến đổi. Mặt trời bay qua, mặt trăng chạy mất vừa mới ló trên biển lại chìm sau núi xanh. Sóng sông nước mịt mù, Hoài, Tế  -(ct) Tên hai con sông. ) gợn xa xăm, thẳng vào biển cả ngày đêm trôi chảy”.

Rồi lớn tiếng rằng : “Này Chư Thiền Đức, có thấy như như bất động chăng ?”


Hòa Thượng Vân Cái Trí khai thị cho đại chúng rằng : “Độc chỉ là cái Thân liền kín kiên cố kia trong tất cả trần bày hiện. Nay đây Vân Cái này nói : Ngàn núi sum xuê, cầm thú hót kêu, trăm hoa đua nở, muôn cây nảy cành, hết thảy đó là Chư Phật, mỗi mỗi Chân Như. Các ông dạo chơi non nuớc phải kịp để con ngươi ngay đó, chớ để bị nó lừa !

Hai vị tôn túc ấy, ngay trong tất cả trần cảnh mà nắm ra cái như như chẳng động, cái Thân chân thật liền kín kiên cố. Ấy là chẳng lìa muôn Hạnh mà đắc rốt ráo kiên cố, quả là thâm nhập ý chỉ Lăng Nghiêm vậy.

Ở chỗ này mà cắn nát được mới được gọi là phụng trì. Còn bám suông chương cú, chưa biết lối vào thì dù có trang nghiêm muôn Hạnh, rốt cuộc cũng là chuyện sanh diệt.

Trong Tự tánh kiên cố, Diệu Trạm Tổng Trì sao những cách xa như trời đất vậy ư?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, Ngoisaobiec, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #82 vào lúc: Tháng Tư 13, 2011, 09:22:48 PM »

(tiếp theo)

佛說是語已。即時阿難及諸大眾。得蒙如來開示密印般怛囉義。兼聞此經了義名目。頓悟禪那修進聖位。增上妙理。心慮虛凝。斷除三界修心六品微細煩惱。即從座起。頂禮佛足。合掌恭敬而白佛言。大威德世尊。慈音無遮。善開眾生微細沉惑。令我今日身心快然。得大饒益。世尊。若此妙明真淨妙心。本來遍圓。如是乃至大地草木。蠕勤含靈。本元真如。即是如來成佛真體。佛體真實。云何復有地獄餓鬼畜生修羅人天等道。世尊。此道為複本來自有。為是眾生妄習生起。世尊。如寶蓮香比丘尼。持菩薩戒。私行淫慾。妄言行淫非殺非偷。無有業報。發是語已。先於女根生大猛火。後於節節猛火燒然。墮無間獄。琉璃大王。善星比丘。琉璃為誅瞿曇族姓。善星妄說一切法空。生身陷入阿鼻地獄。此諸地獄。為有定處。為復自然。彼彼發業。各各私受。惟垂大慈。開發童蒙。令諸一切持戒眾生。聞決定義。歡喜頂載。謹潔無犯。



CHƯƠNG V

PHÂN BIỆT CÁC NGHIỆP QUẢ TẠO THÀNH TAM GIỚI. CHỈ RÕ CÁC CẢNH GIỚI TU CHỨNG VÀ CÁC CHƯỚNG NGẠI

I. HỎI VỀ SỰ SANH KHỞI VÀ NHÂN QUẢ CỦA LỤC ĐẠO


Kinh : Phật nói lời ấy xong, liền khi đó, Ông Anan và cả đại chúng nhờ được Như Lai khai thị ý nghĩa mật ấn Bát Đát Ra, lại nghe được những tên gọi Liễu Nghĩa của kinh này, đốn ngộ được diệu lý tăng thượng để tu, tiến vào các Thánh Vị trong Thiền Na. Tâm tư rỗng lặng, đoạn trừ sáu phẩm phiền não vi tế tư-hoặc về tam giới.

Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính, bạch Phật rằng : “Đại oai đức Thế Tôn, Từ Âm không che ngại, khéo khai ngộ những lỗi lầm sâu kín nhỏ nhiệm của chúng sanh, khiến chúng tôi ngày nay thân tâm khoan khoái rỗng nhiên, được lợi ích lớn.
 
Thưa Thế Tôn, cái Chân Tâm diệu minh trong sạch nhiệm mầu này bổn lai toàn khắp viên mãn, như thế cho đến đất đai, cỏ cây, các loài máy động vốn nguyên là Chân Như, đó là Chân Thể thành Phật của Như Lai. Nếu Phật Thể vốn chân thật như thế thì cớ sao lại có các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu la, người, Trời. Bạch Thế Tôn, những nẻo ấy là bổn lai tự có hay do tập khí hư vọng của chúng sanh khởi ra ?

“Bạch Thế Tôn, như Tỳ Kheo Ni Bảo Liên Hương giữ Bồ Tát Giới, lén làm việc dâm dục, rồi nói càn rằng hành dâm chẳng phải sát sanh, chẳng phải trộm cắp, không có nghiệp báo ! Phát lời ấy rồi, trước hết nơi nữ căn sanh ra ngọn lửa hừng lớn, sau nơi mỗi mỗi đốt xương lửa cháy phừng phừng, đọa địa ngục Vô Gián.

“Như Đại Vương Lưu Ly và Tỳ Kheo Thiện Tinh: Lưu Ly vì giết hai họ hàng Cù Đàm; Thiện Tinh vì thuyết bậy rằng tất cả pháp đều rỗng không mà thân đang sống đọa vào địa ngục A Tỳ.

“Các địa ngục này là có chỗ nhất định, hay là tự nhiên mà khi mỗi người kia phát nghiệp thì mỗi mỗi riêng chịu ?

“Xin Phật rủ lòng Đại Từ, khai thị cho kẻ non dại mê muội, khiến cho tất cả các chúng sanh trì giới nghe nghĩa quyết định, hoan hỉ đội đầu, cẩn thận giữ gìn không phạm”.


通曰。阿難聞佛所云密印了義。單明向上一路。固無事修矣。然曠劫無明。豈能頓除。故於修進聖位增上妙理。得個悟門。循省身心。心慮虛凝。已得斷除三界修心。六品微細煩惱。三界分九地。地各九品。斷欲界九品。前六品證二果。斷後三品證三果。斷上二界各九品證無學。斷此六品微細煩惱。蓋指身見邊見邪見。在初果地斷。見取戒取貪。在二果地斷。尚餘嗔慢痴。至三果地方斷。阿難僅證二果。故但斷六品耳。不斷無明。則不證無生。雖證無生。而無明煩惱不盡。猶未得為真悟也。故欲如來精研七趣。以解其惑。令持戒者謹潔無犯云爾。阿難疑處。雖與前清淨本然云何忽生山河大地相似。然三種相續。因妄見生。又十二類生。皆由顛倒。阿難豈不領略。而復有此問。正恐有妙悟者。執此真淨妙心本來遍圓。乃認大地草木。本一真如。成佛真體。何至有地獄等事。此執妙圓而撥諸趣。單明向上而不斷煩惱者。往往有此病也。使果無地獄等趣。則善星比丘及寶蓮香比丘尼。應無顯報矣。而感應灼然不爽。則地獄等趣應是有。毋亦錯亂修習之所致乎。唯本於錯亂修習。不得定執為有。不得定執為無。修習不錯。則有者成無。修習既錯。則無者成有。此其機全繫於修習也。持戒律。斷煩惱安可不競競耶。百丈上堂。常有一老人聽法。隨眾散去。一日不去。丈乃問立者何人。老人云。某甲於迦葉佛時。曾住此山。有學人問大修行底人。還落因果也無。對他道不落因果。墮野狐身五百生。今請和尚代一轉語。丈云。不昧因果。老人於言下大悟。告辭丈云。某甲已免野狐身。住在山後。乞依亡僧燒送。師令維那白捶告眾。齋後普請送亡僧。大眾不能詳。師領眾至山後岩下。以杖挑出一死狐。乃依法火葬。至晚參。師舉前因緣次。黃檗便問。古人錯對一轉語。落在野狐身。今日轉轉不錯是如何。師云。近前來向汝道。黃檗近前。打師一掌。師拍手笑曰。將謂鬍鬚赤。更有赤須胡。天童頌云。一尺水。一丈波。五百生前不奈何。不落不昧商量也。依前撞入葛藤窠。呵呵呵。會也麼。若是你灑灑落落。不妨我哆哆和和。神歌社舞自成曲。拍手其間唱哩囉。圓禪師在南公會中。聞二僧舉此話。一僧曰。只如不昧因果。也未脫得野狐身。一僧應聲曰。便是不落因果。亦何曾墮野狐身耶。圓悚然異其語。急上黃檗。積翠庵頭過澗。忽大悟。見南公。敘其事。未終。涕交頤。南公令就侍者榻熟寐。忽起作偈曰。不落不昧。僧俗本無忌諱。丈夫氣宇如王。爭受囊藏被蓋。一條楖栗任縱橫。野狐跳入金毛隊。南公大笑。故此一野狐也。從前云何有。從後云何無。諸家於此因緣覆蓋多少人。出脫多少人。是知所貴者真悟也。若執妙圓而撥諸趣。正是野狐精見解。



*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan nghe Phật bảo rằng “Mật ấn liễu nghĩa chỉ là một con đường hướng thượng rõ ràng, hẳn không có sự Tu vậy”. Nhưng vô minh bao kiếp bời bời há có thể trừ hết ngay sao ? Do đó, nơi Diệu Lý tăng thượng tu lên các Thánh Vị được cái cửa ngộ vào thì tuần tự mở tỏ thân tâm, tâm tư rỗng lặng, đã được đoạn trừ sáu phẩm phiền não nhỏ nhiệm của Tư Hoặc thuộc về tam giới.

Tam Giới  -(ct) Ba cõi. ) phân ra chín Địa, mỗi Địa có chín Phẩm.

Đoạn trừ chín Phẩm của Dục Giới : Trừ sáu Phẩm đầu chứng quả Thứ Nhì, trừ ba Phẩm sau chứng quả Thứ Ba, A Na Hàm. Đoạn trừ hết mười tám Phẩm của hai giới Sắc và Vô Sắc, chứng bậc Vô Học A La Hán.

Đoạn trừ sáu phẩm phiền não vi tế này là chỉ Thân Kiến, Biên Kiến và Tà Kiến đoạn trừ ở địa vị Sơ Quả. Kiến Thủ, Giới Thủ và Tham đoạn trừ ở địa vị Nhị Quả. Còn lại Sân, Mạn và Si đến địa vị Thứ Ba mới đoạn trừ.


Ông Anan mới chứng Nhị Quả nên chỉ đoạn trừ được sáu Phẩm.

Chẳng đoạn Vô Minh thì chẳng chứng Vô Sanh. Tuy chứng Vô Sanh mà phiền não vô minh vi tế chưa hết thì chưa đắc Chân Ngộ vậy. Nên ông xin Phật nói rõ sâu xa về bảy nẻo luân hồi để mở chỗ nghi lầm, khiến cho người trì giới cẩn thận giữ gìn không phạm.

Chỗ nghi của Ngài Anan tuy tương tự với cái nghi “Bổn nhiên thanh tịnh sao bỗng sanh núi sông đại địa” ở trước. Nhưng ba thứ tương tục là do vọng kiến mà sanh ra, lại nữa, mười hai loại sanh đều là do điên đảo. Ông Anan há chẳng lãnh hội sao mà lại có nghi vấn này ? Đó chính là vì sợ có người diệu ngộ trở lại chấp cái Chân Tâm trong sạch nhiệm mầu này xưa nay toàn khắp viên mãn, bèn nhận là đại địa, cỏ cây vốn một Chân Như, Chân Thể thành Phật, sao còn có các thứ địa ngục v.v... Đây là chấp cái Diệu Viên mà bác bỏ các nẻo, chỉ riêng rõ ràng việc hướng thượng mà chẳng đoạn dứt phiền não thì thường thường có cái bệnh này.

Nếu quả không có các nẻo địa ngục v.v... thì Tỳ Kheo Thiện Tinh và Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương đúng ra không có báo ứng rõ ràng. Nay cảm ứng rõ ràng, chẳng sai chạy thì các nẻo địa ngục phải là có. Há chẳng do tu tập lầm loạn mà đưa đến ư ? Chỉ do nơi tu tập lầm loạn, nên không được chấp chặt nhất định là có, cũng không được chấp chặt nhất định là không. Tu tập chẳng lầm thì có cũng thành không. Tu tập đã lầm thì không cũng thành có. Chỗ này hoàn toàn do ở sự tu tập vậy. Trì Giới Luật, đoạn phiền não há có thể chẳng chăm chỉ cẩn thận ư ?


Khi Tổ Bách Trượng thượng đường thì thường có một ông già nghe pháp rồi theo đại chúng đi ra.

Một hôm ông chẳng về, Tổ hỏi : “Đứng đó là ai?”

Ông già nói : “Vào thời Phật Ca Diếp tôi đã từng ở núi này. Có người học Đạo hỏi rằng : “Người tu hành còn rơi vào (lạc) nhân quả không ?” Tôi đáp : “Chẳng rơi vào nhân quả”, bị đọa vào thân chồn năm trăm kiếp. Nay xin Hòa Thượng thay thế cho một chuyển ngữ””.

Tổ Bá Trượng nói : “Chẳng mê mờ nhân quả”.

Ông già nghe xong đại ngộ, cáo biệt rằng : “Tôi đã khỏi thân chồn rồi, ở phía sau núi, xin theo nghi thức tăng qua đời mà thiêu cho”.

Tổ khiến Ông Duy Na  -(ct) Quản chúng. ) đánh bản, báo với đại chúng sau khi thọ trai thì mời hết, đi đưa vị tăng qua đời. Đại chúng không hiểu gì.

Tổ dẫn đại chúng đến cái hang ở sau núi, lấy trượng khều ra một xác chồn, rồi theo nghi thức hỏa táng.

Đến buổi tham học chiều, Tổ đang nêu lại câu chuyện thì Ngài Hoàng Bá bèn hỏi : “Người xưa đáp sai một chuyển ngữ mà đọa vào thân chồn hoang. Còn ngày nay chuyển chuyển đều chẳng lầm thì thế nào ?

Tổ nói : “Đến gần đây ta nói cho nghe !”

Hoàng Bá đến gần, đánh Tổ một cái.

Tổ vỗ tay cười rằng : “Sắp nói Hồ râu đỏ, lại có đỏ râu Hồ !”


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Một thước nước,
Một trượng sóng !
Năm trăm kiếp trước chẳng hề gì
Chẳng “lạc”, chẳng “mờ” thương lượng đi
Y xưa, rớt vào bộng cát đằng
Ha ha ha, hiểu vậy chăng ?
Nếu mà ông liên miên lỗi lạc
Nào ngại ta ha hả cười hoài
Thần ca Thánh múa thành ra khúc
Khoảng ấy vỗ tay hát lý la”.

Viên thiền sư ở trong hội của Tổ Nam Công nghe hai nhà sư nhắc lại câu chuyện trên. Một vị nói “Chỉ như “Chẳng mờ nhân quả” thì cũng chưa thoát được thân cáo chồn !”

Vị kia lên tiếng : “Vậy thì “Chẳng sa nhân quả” thì cũng có bao giờ đọa vào thân cáo chồn ư ?”

Ngài Viên hoảng hồn, kinh dị với các lời trên, vội lên Tổ Hoàng Bá, khi qua cái khe đầu am Tích Thúy, bỗng nhiên đại ngộ. Gặp Tổ Nam Công, kể bày câu chuyện chưa xong mà nước mắt ướt má.


Tổ Nam Công bảo Ngài lại chỗ nằm của ông thị giả mà ngủ.

Bỗng Ngài ngồi dậy đọc bài kệ :

“Chẳng “lạc”, chẳng “mờ”
Tăng tục vốn không kiêng cữ
Trượng phu khí phách như Vương
Nào chịu túi, chăn che đậy
Một cành liễu táo mặc tung hoành
Chồn cáo nhảy vào đàn sư tử”.


Tổ Nam Công cười lớn.

Vậy thì một cái anh chồn cáo này, trước kia sao là có, về sau sao là không ? Các nhà ở nơi cái nhân duyên này, che đậy biết bao kẻ, mở thoát biết bao người. Thế mới biết chỗ đáng quý là Chân Ngộ vậy. Nếu chấp Diệu Viên mà bác bỏ các nẻo nghiệp thì quả là kiến giải của loài tinh chồn cáo vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dailuc, Ngoisaobiec, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #83 vào lúc: Tháng Tư 14, 2011, 06:45:03 AM »

(tiếp theo)


佛告阿難。快哉此問。令諸眾生。不入邪見。汝今諦聽。當為汝說。阿難。一切眾生。實本真淨。因彼妄見。有妄習生。因此分開內分外分。阿難。內分即是眾生分內。因諸愛染髮起妄情。情積不休。能生愛水。是故眾生心憶珍羞。口中水出。心憶前人。或憐或恨。目中淚盈。貪求財寶心發愛涎。舉體光潤。心著行淫。男女二根。自然流液。阿難。諸愛雖別。流結是同。潤濕不升。自然從墜。此名內分。阿難。外分即是眾生分外。因諸渴仰。發明虛想。想積不休。能生勝氣。是故眾生心持禁戒。舉身輕清。心持咒印。顧盼雄毅。心欲生天。夢想飛舉。心存佛國。聖境冥現。事善知識。自輕身命。阿難。諸想雖別。輕舉是同。飛動不沉。自然超越。此名外分。阿難。一切世間。生死相續。生從順習。死從變流。臨命終時。未舍暖觸。一生善惡。俱時頓現。死逆生順。二習相交。純想即飛。必生天上。若飛心中兼福兼慧。及與淨願。自然心開。見十方佛。一切淨土。隨願往生。情少想多。輕舉非遠。即為飛仙。大力鬼王。飛行夜叉。地行羅剎。游於四天。所去無礙。其中若有善願善心。護持我法。或護禁戒。隨持戒人。或護神咒。隨持咒者。或護禪定。保綏法忍。是等親住如來座下。情想均等。不飛不墮。生於人間。想明斯聰。情幽斯鈍。情多想少。流入橫生。重為毛群。輕為羽族。七情三想。沉下水輪。生於火際。受氣猛火。身為餓鬼。常被焚燒。水能害己。無食無飲。經百千劫。九情一想。下洞火輪。身入風穴。二交過地。輕生有間。重生無間。二種地獄。純情即沉。入阿鼻獄。若沉心中。有謗大乘。毀佛禁戒。誑妄說法。虛貪信施。濫膺恭敬。五逆十重。更生十方阿鼻地獄。循造惡業。雖則自招。眾同分中。兼有元地。


II. KHAI THỊ VỀ PHẬN TRONG, PHẬN NGOÀI CỦA CHÚNG SANH

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Hay thay lời hỏi đó, khiến cho chúng sanh chẳng rơi vào tà kiến. Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

“Anan, tất cả chúng sanh thật ra vốn Chân Tịnh, nhân tự có vọng kiến mà có các tập khí hư vọng sanh ra. Do đó mà có phân ra phận trong và phận ngoài.

“Anan, Phận Trong tức là trong phần của chúng sanh. Do các ái nhiễm phát khởi vọng tình, tình tích chứa mãi không ngừng thì hay sanh ái thủy. Bởi thế chúng sanh hễ tâm nhớ món ăn ngon thì trong miệng nước chảy ra; hễ tâm nhớ người trước, hoặc thương hay ghét thì trong mắt lệ tràn. Tham cầu của báu thì tâm phát ái diên (nước dãi), cả mình đều trơn nóng. Tâm dính vào chuyện hành dâm thì hai căn nam, nữ tự nhiên chảy nước dịch.

“Anan, các ái tuy có khác nhau, nhưng kết quả chảy nước là đồng, thấm ướt không lên được, tự nhiên theo đó mà sa xuống, ấy gọi là phận trong.

“Anan, Phận Ngoài tức là ngoài phần của chúng sanh. Nhân các lòng khao khát, trông mong, phát sanh ra các hư tưởng. Cái Tưởng chứa chất mãi không thôi thì hay sanh ra sự trội hơn về khí. Bởi thế chúng sanh tâm giữ Giới Cấm thì cả thân mình nhẹ nhàng trong suốt. Tâm giữ Chú Ấn thì mắt nhìn hùng dũng, nghiêm nghị. Tâm muốn sanh cõi Trời thì chiêm bao thấy bay lên. Tâm để nơi cõi Phật thì Thánh cảnh thầm hiện. Phụng sự bậc thiện trí thức thì tự coi nhẹ thân mệnh mình.

“Anan, các Tưởng tuy khác nhau, nhưng sự nhẹ nhàng cất lên thì đồng. Cất bay lên không chìm xuống, tự nhiên vượt lên, ấy gọi là Phận Ngoài.

“Anan, hết thảy thế gian sống chết nối nhau : Sanh thì theo tập khí quen thuộc; tử thì theo sự đổi dòng. Lúc mệnh chung, chưa hết hơi ấm thì thiện ác một đời cùng lúc liền hiện ra. Sống thuận, chết nghịch, hai tập khí giao nhau.
“Thuần là Tưởng thì bay lên, hẳn là sanh trên cõi Trời. Nếu trong tâm bay lên đó gồm cả Phước Đức và Trí Huệ cùng với tịnh nguyện thì tự nhiên tâm mở tỏ, thấy tất cả Tịnh Độ của mười phương Chư Phật, rồi tùy nguyện mà vãng sanh.

“Tình ít, Tưởng nhiều thì cất lên chẳng xa mà làm các loài Phi Tiên, Đại Lực Quỷ Vương, Phi Hành Dạ Xoa, Địa Hành La Sát dạo trong bốn cõi trời không bị ngăn ngại. Nếu có thiện nguyện, thiện tâm hộ trì Phật Pháp hoặc hộ trì Cấm Giới thì theo người trì Giới, hoặc hộ trì Thần Chú thì theo người trì Chú, hoặc hộ trì thiền định thì giữ an pháp nhãn, hết thảy đều được gần gũi dưới pháp tòa của Như Lai.

“Tình và Tưởng ngang nhau thì không bay lên, không đọa xuống, sanh nơi cõi người. Tưởng sáng thì thông minh, Tình tối thì ngu độn.

“Tình nhiều Tưởng ít thì trôi dạt vào cầm thú : Nặng thì làm giống mang lông, nhẹ thì làm loài có cánh.
“Bảy phần Tình, ba phần Tưởng thì chìm xuống Thủy Luân, sanh nơi mé Hỏa Luân, chịu ngọn lửa mạnh, thân làm ngạ quỉ, thường bị thiêu đốt. Vì nước có thể hại mình nên trải trăm ngàn kiếp không ăn không uống.


“Chín phần Tình, một phần Tưởng thì xuống thấu Hỏa Luân, thân đi vào ranh giới giao nhau của Phong Luân và Hỏa Luân, nhẹ thì sanh vào Hữu Gián, nặng thì sanh vào Vô Gián, hai thứ địa ngục.

“Thuần là Tình thì chìm sâu vào ngục A Tỳ. Nếu trong tâm chìm đắm đó mà có sự hủy báng Đại Thừa, phá Cấm Giới của Phật, nói pháp láo dối, tham bậy của tín chủ, lạm nhận sự cung kính hoặc Ngũ Nghịch, Thập Trọng thì lại sanh vào địa ngục A Tỳ mười phương.

“Theo sự tạo ác nghiệp, tuy tự chuốc lấy nhưng trong nghiệp đồng phận chung đó vẫn có chỗ sẵn.


通曰。此總答諸趣為複本來自有。為是眾生妄習生起。據七趣所惑。或天堂。或地獄。或人間。苦樂不同。莫不各有同業相成。是同分中本有元地。不可掃歸於無本之由妄習生也。眾生性本真淨。不落聖凡。自瞥起情見。不知是妄。妄而習之。遂復不捨。從軀殼起念者。是見是習。在身份以內。從意想起念者。是見是習。在身份以外。身份以內。因愛著情。口之於味。目之於色。心之於財。能生愛水。水性流下。故從墜。身份以外。因思著想。或存佛國。或欲生天。或持善法。能生勝氣。氣必飛揚。故從升。純想則生忉利以上。有淨願者。則生淨土。九想則為飛仙。八想則為大力鬼王。七想則為飛行夜叉。六想則為地行羅剎。以想勝故。所去無礙。然情有邪正。正者不離如來座下。以平昔持戒持咒。事善知識。故終為護法神也。情想均等。則生人間。六情則為毛群羽族。七情則為餓鬼。八情生有間獄。九情生無間獄。純情即沉入阿鼻獄。有毀佛謗法等罪。此劫雖壞。更生十方阿鼻獄。無有出期。是妄業自招。清濁有間矣。若能不著於情。則地獄空。不著於想。則天堂空。情想俱空。雖在人間心游佛國。七趣有元地。則淨土亦有元地審矣。還我眾生真淨本來。不生淨土而誰生哉。僧問百丈。對一切境。如何得心如木石去。丈曰。一切諸法。本不自言空。不自言色。亦不言是非垢淨。亦無心繫縛人。但人自虛妄計著。作若干種解會。起若干種知見。生若干種愛畏。但了諸法不自生。皆從自己一念妄想顛倒取相而有。知心與境本不相到。當處解脫。一一諸法。當處寂滅。當處道場。又本有之性。不可名目。本來不是凡。不是聖。不是垢淨。亦非空有。亦非善惡。與諸染法相應。名人天二乘界。若垢淨心盡。不住繫縛。不住解脫。無一切有為無為縛脫心量。處於生死其心自在。畢竟不與諸妄虛幻塵勞蘊界生死諸入和合。迥然無寄。一切不拘。去留無礙。往來生死。如門開相似。百丈大慈。縱口發揮。暗合此段經旨。能於此承當得去。則情想頓超。不入邪見。如來當必更為稱快矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là trả lời chung câu hỏi “Các nẻo là vốn tự có hay là do tập khí hư vọng của chúng sanh sanh khởi ra ?”

Căn cứ theo chỗ chiêu cảm của bảy nẻo tùy nghiệp thọ sanh, hoặc thiên đường, địa ngục... hoặc cõi người thì khổ vui chẳng đồng, nhưng mỗi nẻo đều có đồng nghiệp tương thành, tức là trong đồng phận vốn có chỗ sẵn, không thể cho là không có, vì nó vốn là do tập khí hư vọng sanh ra vậy. Tánh của chúng sanh vốn là Chân Tịnh, chẳng rơi vào Thánh, phàm. Bởi tự dấy khởi tình kiến, chẳng biết đó là hư vọng, hư vọng mà huân tập hoài thì không bỏ được nữa.

Từ thân xác khởi vọng niệm thì cái vọng kiến đó, tập khí hư vọng đó ở trong phần của thân xác. Từ ý tưởng khởi vọng niệm thì cái kiến, cái tập khí hư vọng đó ở ngoài phần của thân xác. Trong phần của thân xác, do Ái mà mắc Tình : miệng đối với vị, mắt đối với sắc, tâm đối với của cải hay sanh ra ái thủy. Tánh nước chảy xuống nên theo đó mà rớt xuống. Ngoài phần của thân xác, do Suy mà mắc vào Tưởng : hoặc để tâm nơi cõi Phật, hay muốn sanh lên cõi trời, hoặc giữ thiện pháp, nên hay sanh ra cái khí trội hơn. Khí thì bay lên, nên theo đó mà đi lên.

Thuần là Tưởng thì sanh từ cõi Đao Lợi trở lên, có tịnh nguyện thì sanh cõi Tịnh Độ. Chín phần Tưởng thì làm Phi Tiên; tám phần Tưởng thì làm Đại Lực Quỷ Vương. Bảy phần Tưởng thì làm Phi Hành Dạ Xoa. Sáu phần Tưởng làm Địa Hành La Sát. Bởi vì Tưởng trội vượt nên chỗ đi không ngăn ngại vậy.

Nhưng Tình có tà, chánh. Chánh thì không rời pháp tòa của Như Lai, bởi trước giờ giữ Giới, trì Chú, phụng sự thiện tri thức, nên rốt cuộc làm Thần Hộ Pháp. Tình và Tưởng ngang nhau thì sanh ở cõi người. Sáu phần Tình thì làm cầm thú. Bảy phần Tình thì làm ngạ quỷ. Tám phần Tình thì sanh vào địa ngục Hữu Gián. Chín phần Tình thì sanh vào địa ngục Vô Gián. Thuần là Tình thì chìm vào địa ngục A Tỳ. Có thêm các tội chê Phật, báng Pháp thì lại sanh vào địa ngục A Tỳ mười phương không có ngày ra. Ấy là vọng nghiệp tự chuốc lấy, sạch dơ có khác vậy.


Nếu chẳng vướng mắc nơi Tình ắt địa ngục không. Chẳng vướng mắc nơi Tưởng ắt thiên đường không. Tình, Tưởng đều không thì tuy ở nhân gian mà tâm dạo nơi cõi Phật. Bảy nẻo nghiệp vẫn có sẵn thì Tịnh Độ cũng có sẵn rõ ràng vậy. Trở lại cái bổn lai chúng sanh chân tịnh của ta mà chẳng sanh nơi Tịnh Độ thì sanh về đâu ?

Có nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Đối với tất cả cảnh, như sao mà được tâm như gỗ đá nhỉ ?”

Tổ Trượng nói : “Tất cả các pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, cũng chẳng tự nói trái phải, dơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người. Chỉ tại con người tự hư vọng dấy nghĩ mà vướng mắc, tạo ra đủ thứ giải thoát tìm hiểu, khởi bao nhiêu thứ tri kiến, sanh bao nhiêu thứ thương ghét. Chỉ rõ các pháp vốn chẳng tự sanh, hết thảy đều từ một niệm vọng tưởng điên đảo bám giữ tướng của tự mình mà có. Biết Tâm cùng cảnh vốn chẳng đến nhau, ngay đây là Giải Thoát. Mỗi mỗi các pháp, hiện đây tịch diệt, hiện đây là đạo tràng. Cái Tánh vốn hiện có, chẳng thể đặt tên, phân hạng. Xưa nay chẳng là phàm, chẳng là Thánh, chẳng là dơ sạch, cũng chẳng không hay có, cũng chẳng phải thiện, ác. Tương ưng với các pháp nhiễm ô thì gọi là cảnh giới Trời, người, Nhị Thừa.

Bằng như tâm dơ sạch hết tuyệt, chẳng trụ ràng buộc, chẳng trụ giải thoát, không có hết thảy tâm lượng hữu vi, vô vi, ràng buộc, giải thoát, thì ở ngay trong sanh tử, mà tâm đó tự tại. Rốt ráo chẳng cùng các thứ trần lao hư huyễn, uẩn giới sanh tử giả dối. Các thứ nhập, hòa hiệp rỗng nhiên không nhờ gởi. Hết thảy chẳng dính giữ, ở đi không ngăn ngại. Tới lui sanh tử giống như cửa thường mở hoác !”

Tổ Bách Trượng đại từ thuận lời phát huy, thầm hợp với ý chỉ đoạn kinh này. Nơi đây mà thừa thọ, đảm đương được ngay thì Tình, Tưởng liền vượt thoát, chẳng kẹt vào tà kiến. Rốt là Như Lai hẳn khen “Hay thay” vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #84 vào lúc: Tháng Tư 14, 2011, 06:51:06 AM »

(tiếp theo)

阿難。此等皆是彼諸眾生自業所感。造十習因。受六交報。云何十因。阿難。一者淫習交接。發於相磨。研磨不休。如是故有大猛火光。於中發動。如人以手自相摩觸。暖相現前。二習相然。故有鐵床銅柱諸事。是故十方一切如來。色目行淫。同名慾火。菩薩見欲。如避火炕。二者貪習交計。發於相吸。吸攬不止。如是故有積塞堅冰。於中凍冽。如人以口吸縮風氣。有冷觸生。二習相陵。故有吒吒波波羅羅青赤白蓮寒冰等事。是故十方一切如來。色目多求。同名貪水。菩薩見貪。如避瘴海。三者慢習交陵。發於相恃。馳流不息。如是故有騰逸奔波積波為水。如人口舌自相綿味。因而水發。二習相鼓。故有血河灰河熱沙毒海融銅灌吞諸事。是故十方一切如來。色目我慢。名飲痴水。菩薩見慢。如避巨海。四者瞋習交沖。發於相忤。忤結不息。心熱發火。鑄氣為金。如是故有刀山鐵橛劍樹劍輪斧鉞槍鋸。如人啣冤。殺氣飛動。二習相擊。故有宮割斬斫剉刺槌擊諸事。是故十方一切如來。色目瞋恚。名利刀劍。菩薩見瞋。如避誅戮。五者詐習交誘。發於相調。引起不住。如是故有。繩木絞校。如水浸田。草木生長。二習相延。故有扭械枷鎖鞭杖檛棒諸事。是故十方一切如來。色目奸偽。同名讒賊。菩薩見詐。如畏豺豹。六者誑習交欺。發於相罔。誣罔不止。飛心造奸。如是故有塵土屎尿穢污不淨。如塵隨風。各無所見。二習相加。故有沒溺騰擲飛墜漂淪諸事。是故十方一切如來。色目欺誑。同名劫殺。菩薩見誑。如踐蛇虺。七者怨習交嫌。發於啣恨。如是故有飛石投 礰 匣貯車檻甕盛囊撲。如陰毒人懷抱畜惡。二習相吞。故有投擲擒捉擊射拋撮諸事。是故十方一切如來。色目怨家。名違害鬼。菩薩見怨。如飲鴆酒。八者見習交明。如薩迦耶 (此云身) 見戒禁取。邪悟諸業。發於違拒。出生相反。如是故有王使主吏證執文籍。如行路人。來往相見。二習相交。故有勘問權詐考訊。推鞫察訪。披究照明。善惡童子手執文簿辭辯諸事。是故十方一切如來。色目惡見。同名見坑。菩薩見諸虛妄遍執。如臨毒壑。九者枉習交加。發於誣謗。如是故有合山合石碾磑耕磨。如讒賊人。逼枉良善。二習相排。故有押捺槌按蹙漉衡度諸事。是故十方一切如來。色目怨謗。同名讒虎。菩薩見枉。如遭霹 [靂 - 秝 + 林] 。十者訟習交諠。發於藏覆。如是故有鑑見照燭。如於日中。不能藏影。二習相陳。故有惡友業鏡火珠披露宿業對驗諸事。是故十方一切如來。色目覆藏。同名陰賊。菩薩觀覆。如戴高山履於巨海。


III. CHỈ RA MƯỜI TẬP NHÂN VÀ SÁU GIAO BÁO

Kinh : “Anan, những điều như thế đều do nghiệp báo của các chúng sanh tự chiêu cảm lấy : Tạo mười Tập Nhân thì chịu sáu Giao Báo.

“Anan, thế nào là mười Tập Nhân ?

-Một là thói quen dâm dục giao tiếp, phát sanh nơi sự cọ xát lẫn nhau. Cọ xát không thôi, như vậy cho nên trong ấy có ngọn lửa lớn phát động ra, như người lấy hai tay xoa xát lẫn nhau thì cảm giác nóng hiện ra. Hai cái tập khí thiêu đốt nhau, nên mới có các thứ giường sắt, cột đồng. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem việc Hành Dâm đồng gọi là lửa dục. Bồ Tát xem thấy Dâm Dục như tránh hầm lửa.

-“Hai là, thói quen tham lam, so đo tính toán, phát sanh nơi sự thu hút lẫn nhau. Hấp thu ôm ấp chẳng ngừng, như vậy cho nên trong ấy có chứa hơi lạnh thành giá cứng đông đặc, như người hút hơi gió vào thì cảm giác lạnh sanh ra. Hai cái tập khí lấn nhau, nên có những sự tra tra, ba ba, la la, sen sanh, đỏ, trắng, giá lạnh v.v... Bởi thế tất cả mười phương Như Lai xem việc Tham nhiều đồng gọi là nước tham. Bồ Tát xem thấy Tham như tránh biển độc.

-“Ba là, thói quen kiêu mạn lấn lướt lẫn nhau phát sanh nơi chỗ ỷ thế với nhau, giong ruổi không thôi, như vậy cho nên có sự phóng túng, bôn ba, chứa sóng thành nước, như người miệng lưỡi tự chép làm cho nước bọt sanh ra. Hai cái tập khí chọi nhau nên có các việc sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, nước đồng bắt uống... Thế nên, tất cả mười phương Như Lai xem lòng Ngã Mạn, đồng gọi là uống nước si mê. Bồ Tát xem thấy Kiêu Mạn như tránh vực thẳm lớn.

-“Bốn là, thói quen nóng giận xung đột lẫn nhau, phát sanh nơi sự chống đối lẫn nhau. Chống đối hoài không thôi, tâm nổi nóng phát ra lửa, nấu cái khí thành kim loại, như vậy cho nên có núi dao, đòn sắt, cội cây gươm, bánh xe gươm, búa rìu, thương, cưa, như người bị hàm oan thì sát khí nổi lên. Hai tập khí đánh nhau, nên có các sự thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Nóng Giận đồng gọi là kiếm, dao bén. Bồ Tát xem thấy Nóng Giận như tránh chém, giết.

-“Năm là, thói quen giả dối, dụ gạt lẫn nhau, phát sanh nơi sự lôi kéo lẫn nhau. Dẫn dụ chẳng ngừng, như vậy cho nên có dây, cây thòng lọng, căng nọc, như nước thấm xuống ruộng thì cỏ cây sanh trưởng. Hai tập khí kéo nhau nên có các sự gông, cùm, xiềng xích, roi, gậy, qua, bổng. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Giả Dối đồng gọi là Sàm Tặc. Bồ Tát xem thấy Gian Dối như sợ sói, beo.

-“Sáu là, thói quen lừa gạt, phỉnh dối lẫn nhau, phát sanh nơi sự phỉnh gạt lẫn nhau. Phỉnh gạt chẳng thôi, phát tâm gây điều gian dối, như vậy cho nên có bụi, đất, đại tiện, tiểu tiện, dơ nhớp chẳng sạch; như bụi theo gió không thấy lẫn nhau. Hai cái tập khí dìm nhau nên có các sự chìm đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi lăn. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Lừa Gạt đồng gọi là cướp giết. Bồ Tát xem thấy việc Lường Gạt như dẫm rắn độc.

-“Bảy là, thói quen thù oán, hiềm khích lẫn nhau, phát sanh nơi chỗ ôm ấp lòng giận. Như vậy cho nên có quăng đá, ném gạch, cũi nhốt, xe tù, bình đựng, đảy bọc, như người hiểm độc ôm ấp điều dữ. Hai cái tập khí nuốt nhau, nên có các việc ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, vất, ôm. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Thù Oán đồng gọi là quỉ Vi Hại. Bồ Tát xem thấy Thù Oán như uống rượu độc.

-“Tám là, thói quen tà kiến, tranh cãi với nhau. Như thân kiến, giới cấm thủ và các nghiệp hiểu biết sai lầm, phát sanh nơi chỗ chống trái lẫn nhau. Như vậy cho nên có quan lại chứng thực, nắm giữ giấy tờ, nhiều như người đi đường qua lại gặp nhau. Hai cái tập khí giao nhau nên có các sự khám hỏi, mưu chước, vặn hỏi, đòi hỏi, gạn xét, cứu tra cho rõ ràng và những đồng tử thiện ác tay cầm sổ sách, biện bạch, hạch sách. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem Ác Kiến đồng gọi là hố kiến chấp. Bồ Tát xem thấy các Thiên Chấp hư vọng như nhìn xuống hố độc.

-“Chín là, thói quen vu vạ làm hại cho nhau, phát sanh nơi chỗ phao vu, bài báng. Như vậy cho nên có núi khép, đá khép, cối nghiền, cối xay, như kẻ sàm tặc, áp bức vu oan người lương thiện. Hai cái tập khí bài xích lẫn nhau, nên có các việc áp giải, đè đập, ép máu, tuốt mình. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Vu Vạ đồng gọi là cọp sàm báng. Bồ Tát xem thấy sự Vu Vạ như bị sấm sét.

-“Mười là, thói quen thưa kiện, cãi vã lẫn nhau, phát sanh ở chỗ che đậy. Như vậy cho nên có gương soi, đuốc chiếu, như giữa ban ngày chẳng thể giấu bóng. Hai cái tập khí phơi bày lẫn nhau, nên có các việc bạn ác, kiếng soi nghiệp, hỏa châu phơi bày nghiệp xưa mà đối nghiệm. Thế nên tất cả mươi phương Như Lai xem sự Che Đậy đồng gọi là giặc ngầm. Bồ Tát xem thấy sự Che Đậy như đội núi cao lội trong biển lớn.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #85 vào lúc: Tháng Tư 14, 2011, 07:01:10 AM »


(tiếp theo)

通曰。世尊說十習因。一一配合地獄中事。毫髮無爽。習必有因。所因者但能生水火等相。而無其用。復以所習交加。使成熱鐵寒冰等事。然十方如來。即於因生處。洞見好惡。固無事修。菩薩明知是害。乃謹潔無犯。而遠避之。縱有地獄。先無其因。故唯佛與菩薩說無地獄可也。未至如是心行。安得一切而空之。彌勒曰。於欲界中。有三十六處。謂八大那落迦。(此云地獄) 何等為八。一等活。二黑繩。三眾合。四號叫。五大號叫。六燒熱。七極熱。八無間。此諸大那落迦處。廣十千逾繕那。(此云四十里) 此外復有八寒那落迦處。何等為八。一皰。二皰裂。三郝凡。四郝郝凡。五虎虎凡。六青蓮。七紅蓮。八大紅蓮。從此下三萬二千逾繕那。至等活。從此復隔四千逾繕那。有餘那落迦。如等活大那落迦處。初寒那落迦處亦爾。從此復隔二千逾繕那。有餘那落迦。又曰。於等活大那落迦中。多受如是極治罰苦。謂彼有情多共趣集業增上。生種種苦具。次第而起。更相殘害。悶絕躄地。次虛空中。有大聲發。唱如是言。此諸有情。可還等活。次復有情歘然復起。觀此則地獄非無定處明矣。淨土三昧經曰。昔毗沙國王。與維陀始王共戰。自惟陣敗。立誓願為地下王。時臣佐一十八人。領百萬眾。願頭生角。助王法化。治其罪人。今所謂閻羅天子牛頭阿傍等是也。觀此則地獄及身。非十方來。但由惡業纏縛生地獄身明矣。是淫貪慢嗔詐誑怨見枉訟十法。與五十一心所法忿恨惱覆誑諂憍害略同。何為總括之以十也。此但指十不善業。故貪瞋慢及邪見屬意業。而慢名飲痴水。痴在其中矣。怨瞋淫屬身業。而怨瞋殺氣云云。即殺偷在其中矣。誑詐枉訟四者。語意相類。何為分四。該四口業。故誑者妄語。詐者綺語。枉者惡言。訟者兩舌。淫者身見之所自來。尤造業之本始。故首舉淫。淫以磨生火。貪以吸生水。與陽盛夢火。陰盛夢水相似。鐵床銅柱。是其抱持。寢臥堅覺妄想之餘習也。波波吒吒羅羅。忍寒聲。即郝郝虎虎之異名。青赤白蓮。塞冰之色也。痴水。西方有此水。飲之則痴。如貪泉啞瘴之類。驕逸亦有滋味。故人共 x 之。如浸溺惡水中而不自覺。淫習以熱惱發火。自耗其精。瞋習以氣忤發火。益銳其氣。火克金。則鑄氣。氣雖剛。徒自傷耳。詐習依奸起惡。始於調笑。遂至滋蔓。智如水。故詐以智勝。如豺狼甚小。而力能食虎。誑習矯現有德。令他暗昧。如風鼓塵。使人無見。故劫殺欺其不見。而蛇虺亦以不見傷人。即其類也。怒形於外。故殺氣飛動即屬殺。怨藏於中。故懷抱蓄惡如囊撲。以囊貯人而撲殺之。皆陰隱事。即屬偷。違害鬼鴆酒。皆陰毒也。見習有五。一身見。謂執身有我。種種計著。二邊見。於一切法。執斷執常。三邪見。邪悟錯解。撥無因果。四見取。非果計果。如以無想為涅槃之類。五戒禁取。非因計因。如持牛狗等戒。為生天因。此五總名惡見。彼此相反。如行路人。一往一來所見違反。故須勘問。逼枉良善。不宜曲而曲之。故蹙其體。漉其血。或衡度其體與血而稱量之。如畜物然。訟習惡友交唆。彼此發覆。適足自壓。如戴山而履於海耳。菩薩肯蹈之哉。五見及貪嗔痴慢斷。即證三果。斷上地九品惑。唯此惑不斷。故造業不已。有是因即有是報也。昔李留後端願問達觀禪師曰。人死後當何所歸。觀曰。未知生。焉知死。李曰生則端願已知。觀曰。生從何來。李擬議。觀揕其胸曰。只在這裡。思量個甚麼。李曰。會也。只知貪程。不覺蹉路。觀拓開曰。百年一夢。又問地獄畢竟是有是無。答曰。諸佛向無中說有。眼見空華。太尉就有中覓無。手揸水月。堪笑眼前見牢獄不避。心外見天堂欲生。殊不知欣怖在心。善惡成就。太尉但了自心。自然無惑。李曰。心如何了。答曰。善惡都莫思量。又問不思量後。心歸何所。觀曰。且請太尉歸衙。洞山問僧。世間甚麼物最苦。僧云。地獄最苦。山曰。不然。向此衣線下。不明大事。始是苦。丹霞頌云。鑊湯爐炭幾何般。地獄三涂最苦酸。須信新豐親切語。袈裟之下莫顢頇。能明大事。即無地獄因。故地獄未為苦。而不了自心最為苦也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đức Thế Tôn nói về mười Tập Nhân, mỗi mỗi phối hợp với sự việc trong địa ngục, không sai mảy tơ. Tập quán thì hẳn có nguyên nhân. Cái nhân đó chỉ có thể sanh ra các tướng nước, lửa, nhưng chưa có cái Dụng, lại thêm vào các thói quen giao tiếp đối đãi nhau mà thành sắt nóng, giá lạnh... các thứ.

Nhưng mười phương Như Lai ở ngay trong chỗ nhân sanh khởi mà thấy suốt sự tốt, xấu nên chẳng có sự gì để tu. Bồ Tát thì biết rõ đó là cái họa hại nên thận trọng thanh khiết mà không phạm nên xa lánh chúng. Dù có địa ngục mà trước đã không có nhân, nên chỉ có Phật cùng Bồ Tát mới có thể nói là không có địa ngục vậy. Còn chưa đến Tâm, Hạnh như thế làm sao mà cho rằng tất cả là Không.

Đức Di Lặc nói : “Trong Dục Giới có ba mươi sáu chốn. Đó là tám đại địa ngục. Sao là tám ? Một là Đẳng Hoạt, hai là Hắc Thằng, ba là Chúng Hợp, bốn là Hiệu Khiếu, năm là Đại Hiệu Khiếu, sáu là Thiêu Nhiệt, bảy là Cực Nhiệt, tám là Vô Gián. Các chốn địa ngục này rộng mười ngàn do tuần.

“Ngoài những chỗ này lại có tám chốn địa ngục lạnh. Sao là tám ? Một là Pháo, hai là Pháo Liệt, ba là Hác Phàm, bốn là Hác Hác Phàm, năm là Hổ Hổ Phàm, sáu là Thanh Liên, bảy là Hồng Liên, tám là Đại Hồng Liên. Từ chỗ này xuống ba mươi hai ngàn do tuần thì đến Đẳng Hoạt. Từ chỗ này lại cách bốn ngàn do tuần thì có địa ngục khác như chốn đại địa ngục Đẳng Hoạt. Chốn địa ngục lạnh ở trước cũng vậy. Từ chỗ này lại cách hai ngàn do tuần có các địa ngục khác nữa”.

Ngài lại dạy : “Ở trong đại địa ngục Đẳng Hoạt chịu nhiều cực hình khổ sở. Các hữu tình kia phần nhiều hướng về chỗ tạo nghiệp tăng thượng, sanh ra đủ thứ khổ, lần lượt khởi lên mà tàn hại lẫn nhau, chết giấc nằm lăn lóc trên đất. Khi ấy trên không có tiếng nói lớn, xướng lên rằng “Các hữu tình kia được sống trở lại hết thảy”. Liền đó, các hữu tình lại bỗng đứng dậy”.

Xem đây thì rõ là địa ngục không phải là không có chỗ nhất định.

Kinh Tịnh Độ Tam Muội nói : “Xưa Quốc Vương Tỷ Sa và Thủy Vương Duy Đà đánh nhau. Vua Duy Đà thua, phát thệ nguyện làm vua dưới đất. Khi ấy, bề tôi vua có mười tám người dẫn một trăm vạn người nguyện trên đầu mọc sừng theo vua giúp trị theo pháp để xử trị người có tội. Nay gọi là vua Diêm La, Ngưu Đầu, A Bàng đó vậy”.

Xem đây thì rõ ràng địa ngục cùng thân thể chẳng phải từ mười phương đến, mà chỉ do ác nghiệp trói buộc sanh ra thân địa ngục vậy.

Mười Tập Nhân : Dâm, Tham, Mạn, Sân, Trá, Cuống, Oán, Ác Kiến, Vu Vạ và Kiện Tụng tương tự như năm mươi mốt Tâm Sở : Phẫn, Hận, Não, Phú, Cuống, Siểm, Kiêu, Hại... Nhưng vì sao tóm lại thành mười ? Ở đây, chỉ kể các nghiệp bất thiện. Cho nên Tham, Sân, Mạn và Tà Kiến thuộc về Ý Nghiệp, mà Mạn được gọi là uống nước Si, thì trong đã có Si vậy. Oán, Sân và Dâm thuộc về Thân Nghiệp mà tập khí Oán, Sân, Sát... thì Sát, Đạo đã ở trong đó vậy.

Cuống, Trá, Vu Vạ, Kiện Tụng thì ý nghĩa cũng tương tự. Vì sao phân ra bốn ? Vì đó là bốn cái thuộc về Khẩu Nghiệp. Cho nên Cuống là Vọng Ngữ, Trá là Ỷ Ngữ, Vu Vạ là Lời Ác, và Kiện Tụng là Lưỡng Thiệt.

Dâm là chỗ tự đến của thân kiến, lại là gốc ban đầu tạo nghiệp nên đầu hết nêu ra Dâm. Dâm do cọ xát mà sanh lửa. Tham do thu vào mà sanh nước. Tương tự như người dương thịnh thì nằm mộng thấy lửa, người âm thịnh thì nằm mơ thấy nước. Giường sắt, cột đồng là cái thói quen chồng chất của Vọng Tưởng ôm giữ, nằm nghỉ lâu dài vậy.

Ba ba, tra tra, la la là âm thanh rên chịu lạnh. Đó là tên khác của hổ hổ, hác hác. Sen xanh, đỏ, trắng là màu của băng lạnh vậy. Nước Si ở Thiên Trúc có, hễ uống vào thì si mê, cùng loại với nước suối tham, uống vào thì á khẩu, to bụng. Sự kiêu dật cũng có mùi vị ấy nên người cùng siểm nịnh thì như ngâm trong nước bẩn mà chẳng tự biết.
Thói quen dâm dục do nóng bức mà phát hỏa, tự hao tinh khí.

Thói quen nóng giận do nghịch khí phát hỏa, làm mạnh thêm khí nóng. Hỏa khắc Kim nên nung đốt cái Khí khiến cho Khí tuy cứng mà phải tự thương tổn.

Thói quen dối trá nương nơi gian dối mà khởi ác, ban đầu là cười vui, kế đến là lan man. Cái trí xảo như nước nên giả dối lấy trí mẹo làm đầu, như beo sói tuy rất nhỏ mà có thể ăn cọp.

Thói quen lừa gạt thì giả vờ có đức hạnh khiến người khác mê mờ, ví như gió nổi bụi khiến người không thấy. Bởi thế sự cướp hại, lừa người không thấy cũng như rắn độc bất ngờ cắn người vậy.

Giận dữ lộ ra ngoài nên sát khí nổi lên, thuộc về Sát. Oán ghét chứa bên trong nên ôm giữ độc ác như lấy bao trùm người mà đánh, đó là việc ám muội, tức thuộc về trộm. Quỉ Vi Hại, rượu chim Cưu đều là âm độc.

Thói quen tà kiến có năm :

- Một là Thân Kiến, là chấp thân có thực nên toan tính đủ điều.

-Hai là Biên Kiến, đó là với tất cả các pháp chấp là Đoạn, là Thường.

-Ba là Tà Kiến, là hiểu sai ngộ lầm, bác bỏ không có Nhân Quả.

-Bốn là Kiến Thủ, đó là chẳng phải thật Quả mà cho là Quả, ví như lấy cõi trời Vô Tưởng mà cho là Niết Bàn.

-Năm là Giới Cấm Thủ, đó là chẳng phải Nhân mà cho là Nhân, ví như giữ giới chó, bò... mà cho là Nhân để sanh cõi Trời.

Năm Tà Kiến này gọi chung là ác kiến, tương phản lẫn nhau, như người đi đường, kẻ đi người lại, chỗ thấy biết trái khác nhau, nên cần phải khám hỏi. Ép uổng người lương thiện, chẳng vặn vẹo mà làm ra vặn vẹo, nên bị ép cái xác, khô kiệt máu huyết, hoặc cân đo máu và xác cho đúng lượng, như loài súc vật vậy.
Thói quen kiện tụng thì do đây kia, sanh ra chuyện kiện thưa, đâm ra nhọc nhằn, giống như đội núi mà đi dưới biển, Bồ Tát há chịu làm ư ?

Năm Kiến Chấp và Tham, Sân, Si, Mạn đoạn rồi thì chứng quả Thứ Ba là Đoạn Trừ Hoặc của chín phẩm của địa dưới. Còn các Hoặc  -(ct) Lầm lạc. ) này chẳng có đoạn thì tạo nghiệp không ngớt, có nhân thế nào thì quả phải thế ấy.


Xưa, có Ông Lý Lưu Hậu, tự Đoan Nguyện hỏi thiền sư Đạt Quan rằng : “Người chết rồi đi về đâu ?”

Tổ Quan nói : “Chưa biết sống sao biết chết ?”

Ông Lý nói : “Sống thì Đoan Nguyện này biết rồi”.

Tổ Quan nói : “Sống từ đâu đến ?”

Ông Lý trầm ngâm.

Tổ vỗ vào ngực, nói : “Chỉ tại trong ấy, suy nghĩ cái gì ?”

Ông Lý : “Dạ, hiểu. Chỉ biết đường ham, ngờ đâu lạc nẻo !”

Tổ khoát gạt ra, bảo : “Trăm năm một giấc chiêm bao”.

Ông Lý lại hỏi : “Địa ngục rốt cùng là có hay không ?”

Tổ đáp : “Chư Phật hướng về trong Không mà nói Có : mắt thấy Không-hoa. Ông lại ở trong Có tìm Không : tay mò trăng dưới nước. Nực cười thay trước mắt thấy nhà tù mà không tránh, ngoài tâm thấy thiên đường mà muốn sanh về ! Đâu biết thích sợ tại tâm thì thiện ác thành tựu. Ông chỉ rõ biết Tự Tâm, tự nhiên không nghi hoặc !”

Ông Lý hỏi : “Tâm làm sao rõ ?”

Tổ đáp : “Thiện ác thảy chẳng suy lường !”

Ông lại hỏi : “Chẳng suy lường rồi, tâm về chốn nào ?”

Tổ nói : “Mời Thái Úy về sở làm”.

Tổ Động Sơn hỏi nhà sư : “Ở đời cái gì là khổ nhất ?”

Nhà sư đáp : “Địa ngục khổ nhất”.

Tổ Sơn nói : “Không phải đâu ! Ngoảnh về dưới sợi chỉ dệt áo này mà chẳng rõ chuyện đại sự, ấy mới khổ”.


Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Vạc sôi lò lửa bao nhiêu chuyện
Địa ngục, tam đồ khổ hết than !
Phải tin Tổ Động, lời thân thiết
Dưới lớp cà sa chớ mơ màng !”.

Rõ đại sự thì không có nhân địa ngục, nên địa ngục chưa phải là khổ. Còn chẳng rõ Tự Tâm thì khổ hết chỗ than !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #86 vào lúc: Tháng Tư 14, 2011, 07:06:31 AM »

(tiếp theo)

云何六報。阿難。一切眾生。六識造業。所招惡報。從六根出。云何惡報從六根出。一者見報。招引惡果。此見業交。則臨終時。先見猛火滿十方界。亡者神識飛墜乘煙。入無間獄。發明二相。一者明見。則能遍見種種惡物。生無量畏。二者暗見。寂然不見。生無量恐。如是見火。燒聽。能為鑊湯洋銅。燒息。能為黑煙紫焰。燒味。能為焦丸鐵麋。燒觸。能為熱灰爐炭。燒心。能生星火迸灑。煽鼓空界。二者聞報。招引惡果。此聞業交。則臨終時。先見波濤沒溺天地。亡者神識。降注乘流。入無間獄。發明二相。一者開聽。聽種種鬧。精神愗亂。二者閉聽。寂無所聞。幽魄沉沒。如是聞波。注聞。則能為責為詰。注見。則能為雷為吼。為惡毒氣。注息。則能為雨為霧。灑諸毒蟲。周滿身體。注味。則能為膿為血。種種雜穢。注觸。則能為畜為鬼。為糞為尿。注意。則能為電為雹。摧碎心魄。三者嗅報。招引惡果。此嗅業交。則臨終時。先見毒氣。充塞遠近。亡者神識。從地湧出。入無間獄。發明二相。一者通聞。被諸惡氣。熏極心擾。二者塞聞。氣掩不通。悶絕於地。如是嗅氣。沖息。則能為質為履。沖見。則能為火為炬。沖聽。則能為沒為溺。為洋為沸。沖味。則能為餒為爽。沖觸。則能為綻為爛。為大肉山。者百千眼。無量x x 食。沖思。則能為灰為瘴。為飛砂礰。擊碎身體。四者味報。招引惡果。此味業交。則臨終時。先見鐵網 x x 熾烈。周覆世界。亡者神識。下透掛網。倒懸其頭。入無間獄。發明二相。一者吸氣。結成寒冰。凍裂身肉。二者吐氣。飛為猛火。焦爛骨髓。如是嘗味。歷嘗。則能為承為忍。歷見。則能為然金石。歷聽。則能為利兵刃。歷息。則能為大鐵籠。彌覆國土。歷觸。則能為弓為箭。為弩為射。歷思。則能為飛熱鐵。從空雨下。五者觸報。招引惡果。此觸業交。則臨終時。先見大山。四面來合。無復出路。亡者神識。見大鐵城。火蛇火狗。虎狼師子。牛頭獄卒。馬頭羅剎。手執槍槊。驅入城門。向無間獄。發明二相。一者合觸。合山逼體。骨肉血潰。二者離觸。刀劍觸身。心肝屠裂。如是合觸。歷觸。則能為道為觀。為廳為案。歷見。則能為燒為爇。歷聽。則能為撞為擊。為剚為射。歷息。則能為括為袋。為考為縛。歷嘗。則能為耕為鉗。為斬為截。歷思。則能為墜為飛。為煎為炙。六者思報。招引惡果。此思業交。則臨終時。先見惡風。吹壞國土。亡者神識。被吹上空。旋落乘風。墮無間獄。發明二相。一者不覺。迷極則荒。奔走不息。二者不迷。覺知則苦。無量煎燒。痛深難忍。如是邪思。結思。則能為方為所。結見。則能為鑑為證。結聽。則能為大合石。為冰為霜。為土為霧。結息。則能為大火車。火船火檻。結嘗。則能為大叫喚。為悔為泣。結觸。則能為大為小。為一日中萬生萬死。為偃為仰。阿難。是名地獄十因六果。皆是眾生迷妄所造。若諸眾生。惡業同造。入阿鼻獄。受無量苦。經無量劫。六根各造。及被所作。兼境兼根。是人則入八無間獄。身口意三。作殺盜淫。是人則入十八地獄。三業不兼。中間或為一殺一盜。是人則入三十六地獄。見見一根。單犯一業。是人則入一百八地獄。由是眾生別作別造。於世界中。入同分地。妄想發生。非本來有。


Kinh : “Thế nào là sáu Giao Báo ?

“Anan, hết thảy chúng sanh sáu Thức tạo nghiệp nên chiêu lấy ác báo từ sáu căn ra.

“Thế nào là Ác Báo từ sáu Căn ra ?

-“Một là, Ác Báo về Thấy chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về thấy này là khi lâm chung, trước hết thấy lửa hừng đầy cả mười phương, thần thức người chết bay đọa theo khói vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :

-Một là, thấy sáng thì thấy khắp các thứ vật dữ, sanh sợ hãi ghê gớm.
-Hai là, thấy tối thì lặng soi chẳng thấy gì sanh hoảng sợ vô cùng. Lửa-thấy như vậy đốt cái nghe thì có thể làm thành vạc sôi, đồng chảy; đốt hơi thở thì có thể làm thành lửa đỏ, khói đen; đốt cái nếm thì có thể làm thành hòn lửa, cơm sắt; đốt cảm xúc thì có thể làm tro nóng, lò than; đốt tâm thức thì có thể sanh sao lửa rưới khắp, làm rung động cõi hư không.


-“Hai là, Ác Báo về Nghe chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Nghe này là khi lâm chung, trước hết thấy sóng cuộn ngập chìm trời đất, thần thức người chết sa xuống theo dòng nước vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :
- Một là, nghe rõ thì nghe đủ thứ ồn ào, tinh thần bấn loạn.
-Hai là, điếc hẳn, lặng ngất không nghe thấy gì, thần phách chìm đắm. Sóng nghe như vậy rót vào cái nghe thì có thể làm thành trách móc, cật vấn; rót vào cái Thấy thì có thể làm thành sấm, thành tiếng rống, làm hơi độc dữ; rót vào hơi thở thì có thể làm thành mưa thành mù, rưới các sâu độc đầy khắp thân thể; rót vào cái nếm thì có thể làm thành mủ, máu, các thứ dơ bẩn; rót vào cảm xúc thì có thể làm súc vật, làm quỉ, làm phân, làm nước tiểu; rót vào tâm ý có thể làm thành chớp, mưa đá, đập nát tâm phách.


-“Ba là, Ác Báo về Ngửi chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao báo về ngửi này là khi lâm chung, trước hết thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ đất trỗi lên vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :
- Một là, ngửi thông thì bị các hơi độc xông tột bực làm cho tâm rối loạn.
- Hai là, nghẹt mũi, hơi ngạt không thông, nằm chết giấc trên đất. Hơi ngửi như vậy xông vào hơi thở thì có thể làm thông, làm ngạt; xông vào cái thấy thì có thể làm thành lửa, thành đuốc; xông vào cái nghe thì có thể làm chìm ngập, làm chết đuối, làm nước lớn, làm nước sôi; xông vào cái nếm thì có thể làm sình, làm thối; xông vào cái cảm xúc thì có thể làm xấu, làm nát, làm ra núi thịt lớn có trăm ngàn con mắt, hút ăn không cùng; xông vào ý nghĩ thì có thể làm ra tro, ra khí độc, làm gạch đá bay lên đánh nát cơ thể.


-“Bốn là, Ác Báo về Nếm chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về nếm này là khi lâm chung, trước hết thấy lưới sắt nung đỏ che khắp thế giới, thần thức người chết từ dưới tung lên, mắc lưới treo ngược đầu xuống vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :
-Một là, nuốt vào thì kết thành giá lạnh làm nứt nẻ thân thể.
-Hai là, mửa ra thì bay lên thành lửa hừng, tiêu rụi xương tủy. Nếm biết như vậy, qua cái nếm thì có thể làm ra nhận ra chịu; qua cái Thấy thì có thể làm ra các thứ kim thạch đốt cháy; qua cái Nghe thì có thể làm binh khí sắc bén; qua hơi thở thì có thể làm lồng sắt rộng che hết cõi nước; qua cảm xúc thì có thể làm thành cung, thành tên, làm nỏ, làm bắn; qua ý nghĩ thì có thể làm sắt nóng bay, từ trên không rưới xuống.


-“Năm là, Ác Báo về Xúc chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Xúc này là khi lâm chung, trước hết thấy núi lớn bốn mặt áp lại không còn lối ra, thần thức người chết thấy thành sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, cọp sói, sư tử, lính ngục đầu trâu, la sát đầu ngựa tay cầm giáo chĩa lùa vào cửa thành hướng về ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :

-Một là, hợp xúc thì núi ép kẹp mình, xương thịt nát ra máu.

-Hai là, lìa xúc thì đao kiếm chạm đụng mình, tim gan cắt xẻ. Xúc hợp như vậy qua cái xúc thì có thể làm ra đường, ra quán, làm nha sảnh, làm tòa án; qua cái thấy thì có thể làm đốt, làm nung; qua cái nghe thì có thể làm thành đập, đánh, đâm, bắn; qua hơi thở thì có thể làm thành trùm, đẩy, tra, trói; qua cái nếm thì có thể làm cày, làm kềm, chém, chặt; qua ý nghĩ thì có thể làm rớt, làm bay, làm nấu, làm nướng.


-“Sáu là, ác báo về Ý chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Ý này là khi lâm chung, trước hết thấy gió dữ thổi nát cõi nước, thần thức người chết bị thổi lên trên không, xoay rơi theo gió, sa vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng :

-Một là, không biết, tột mê thì hoang mang, rông chạy không ngừng.

-Hai là, chẳng mê, hay biết thì khổ, bị nung đốt không cùng, đau buốt không chịu nổi. Ý lầm lạc như vậy kết vào ý nghĩ thì có thể làm thành nơi, làm chốn; kết vào cái thấy thì có thể làm gương soi, làm chứng cớ; kết vào cái nghe thì có thể làm ra núi lớn xáp vào nhau, làm ra giá, ra sương, ra đất, ra mù; kết vào hơi thở thì có thể làm ra xe lửa lớn, làm thuyền lửa, làm rọ lửa; kết vào cái nếm thì có thể làm kêu la to, làm ăn năn, làm khóc lóc; kết vào cái xúc thì có thể làm ra lớn, làm ra nhỏ, làm cho trong một ngày vạn lần sống, vạn lần chết, làm té sấp, té ngửa.


“Anan, đó là mười Tập Nhân và sáu Quả Báo của địa ngục. Nhân quả ấy đều do cái mê vọng của chúng sanh tạo ra. Nếu các chúng sanh tạo hết các nghiệp dữ thì vào địa ngục A Tỳ, chịu vô lượng khổ, trải qua vô lượng kiếp.

Các căn trong sáu căn tạo riêng và nghiệp tạo ra gồm cả căn lẫn cảnh thì người ấy vào tám địa ngục Vô Gián.
Ba thứ thân, khẩu, ý làm ra Sát, Đạo, Dâm thì người đó vào Thập Bát Địa Ngục.

Không đủ cả ba nghiệp, trong đó chỉ có một cái hoặc Sát hay Đạo thì người ấy vào trong Tam Thập Lục Địa Ngục. Chỉ có một Căn riêng phạm một nghiệp, người ấy vào Nhất Bách Bát Địa Ngục.


“Đó là do chúng sanh riêng làm, riêng tạo, nên ở trong thế giới vào chỗ đồng phận, duyên từ Vọng Tưởng phát sanh, chẳng phải vốn là tự có.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #87 vào lúc: Tháng Tư 14, 2011, 07:12:54 AM »

(tiếp theo)

通曰。十習所招現報。從見分生。有是因即有是報。各以類屬。此六交報。則以根塵六識兼相分所致。臨終現報。及生地獄果報。雖不離各根。然造十習惡業之時。六根俱用。故一根受報。而六根交相報也。如貪味一業。舌啖生命。使彼承忍。故舌受其報。為此食故。用火烹炮。故見為然金石。為此食故。用刀割剖。故聽為利兵刃。為此食故。炙熬香味。故息為大鐵籠。為此食故。射取鳥獸。故觸為弓弩箭。為此食故。懸想如渴。故思為飛熱鐵。此舌根之六交報也。余亦可以例推。合論引易以證。謂離為目。坎為耳。艮為鼻。兌為口。坤為身。思又心位之離火也。燒聽。則離火變於坎水。故為鑊湯洋銅燒息。則離火變於艮土。故為黑煙紫焰。燒味則離火變於兌金。故為焦丸鐵麋。燒觸。則離火變於坤土。故為熱灰罏炭。燒心。則變於心位之離火。故為星火迸灑。與燒見義同。故不重出。非闕文也。一一推之。頗符。似為新奇。質與躓同。踏也。魚敗曰餒Ly là mắt, Khảm là tai, Cấn là mũi, Đoài là miệng, Khôn là thân, suy nghĩ lại là Ly - Hỏa của địa vị tâm. Đốt cái nghe thì Ly Hỏa biến nơi Khảm Thủy nên làm ra vạc sôi, đồng chảy. Đốt hơi thở thì Ly Hỏa biến nơi Cấn Thổ nên làm ra khói đen, lửa đỏ. Đốt cái nếm thì Ly Hỏa biến nơi Đoài Kim nên làm ra hòn lửa, cơm sắt. Đốt cái xúc thì Ly Hỏa biến nơi Khôn Thổ nên làm ra tro nóng, lò than. Đốt tâm thức thì Ly Hỏa biến nơi Ly Hỏa của địa vị Tâm nên làm ra lửa sao rưới khắp. Đối với sự đốt cái thấy thì nghĩa đồng nhau, nên không lập lại, chứ không phải sót. Mỗi mỗi suy ra khá phù hợp, có vẻ mới lạ.

Sáu Căn cùng tạo tác đủ cả mười nghiệp thì quả là đọa vào địa ngục A Tỳ Vô Gián. Nghiệp đã không gián đoạn thì khổ cũng vô gián.

Nếu một căn mà gồm đủ ba, bốn căn; trong mười nghiệp mà thiếu hai, ba nghiệp; và ba thứ Thân, Khẩu, Ý chẳng hết cả sáu căn, tạo nghiệp Sát, Đạo, Dâm không đủ cả mười Tập Nhân, hoặc đủ hai khuyết một, hoặc phạm một thiếu hai thì nghiệp nhẹ hơn nên khổ ít hơn.

Nghiệp tuy mỗi người tạo riêng nhưng khổ thì cùng chịu, nặng nhẹ chẳng bằng nhau, mỗi mỗi đều có chỗ sẵn, hết thảy do sáu căn làm môi giới vậy.

Ở đoạn trước, mười phương vi trần Như Lai khác miệng đồng lời, nói với Ông Anan rằng : “Lành thay ! Anan, ông muốn biết về cái câu sanh Vô Minh. Cái khiến ông luân chuyển, kết căn của sanh tử chỉ là sáu căn của ông chứ chẳng phải gì khác. Ông lại muốn biết Vô Thượng Bồ Đề, khiến ông chóng chứng an lạc giải thoát tịch tỉnh diệu thường, cũng là sáu Căn của ông chứ chẳng phải gì khác !”

Ôi, một Căn tạo nghiệp thì sáu Căn chịu ác báo là như vậy. Một Căn thanh tịnh thì các Căn được thanh tịnh cũng là như vậy. Cơ mê ngộ chỉ trong khoảng sấp ngửa bàn tay ! Bởi thế, thấy biết mà xoay lại thì lửa chẳng thể đốt. Thấy, Nghe xoay về thì nước chẳng thể chìm. Chỉ khiến một Căn về nguồn, sáu Căn liền giải thoát. Đã không có nghiệp nhân thì cái gì là nghiệp quả ? Vọng Tưởng chẳng sanh, khắp khắp là chân tịnh. Lại còn có địa ngục nào ư ?

Tổ Dược Sơn chỉ dạy đại chúng rằng : “Tổ Sư chỉ dạy các ông bảo hộ. Tham, Sân nổi lên, một mực đề phòng, ngăn cấm. Chẳng có dạy thôi cảm xúc. Ấy là tự ông muốn như cây khô, tảng đá ! Lại cần gánh vác, thật không có lá cành chi khá được. Tuy nhiên như thế, lại nên tự xem, chẳng được tuyệt bỏ lời lẽ nói năng. Ta nay vì các ông nói ra cái lời lẽ ấy, hiển bày cái không lời. Cái ấy xưa nay vốn không có các thứ tai, mắt !”

Khi ấy, có nhà sư hỏi : “Sao có sáu đường chúng sanh ?”

Tổ Sơn nói : “Ta nơi yếu luân đây, tuy ở trong đó, vốn là chẳng nhiễm !”

Hỏi : “Chẳng rõ phiền não trong thân thì như thế nào ?”

Tổ Sơn nói : “Phiền não là cái tướng trạng gì ? Ta lại muốn ông xét xem coi, lại có một thứ gì chăng? Chỉ xem trên lưng giấy ba thứ ngữ ngôn ghi chép thì đa phần bị Kinh, Luận làm cho lầm lạc.
Tôi chẳng từng xem sách vở, Kinh, Luận gì ráo ! Ông chỉ vì mê nơi Sự mà bỏ chạy. Tự mình chẳng định nên bèn có sanh tử tâm ! Chưa từng học được một lời hay nửa câu, một Kinh một Luận nào thì nói cái gì Bồ Đề với Niết Bàn, thế với xuất thế ?
Còn cứ Bồ Đề, Niết Bàn, thế với xuất thế, đó là sanh tử. Như chẳng bị sự được, mất ràng buộc tức là không có việc sanh tử. Ông có thấy luật sư nói các đề mục trong Giới Luật thế ấy chính là cội gốc sanh tử. Tuy nhiên như thế, nghiên cứu rốt ráo sanh tử bèn chẳng thể đắc.

“Trên đến Chư Phật, dưới đến sâu kiến, trọn cả đều có Cái Ấy, dù cho dài ngắn tốt xấu chẳng đồng. Cái Ấy chẳng từ ngoài đến thì chỗ nào có người rỗi rảnh đào địa ngục chờ ông ? Ông muốn biết nẻo địa ngục thì nay đây chỉ cái kẻ nấu vạc nước sôi là đó.

Muốn biết nẻo ngạ quỉ thì nay đây chỉ cái kẻ nhiều dối, ít thật, khiến người không tin là đó. Muốn biết nẻo súc sanh thì hiện đây kẻ không biết nhân nghĩa, không rõ thân sơ là đó. Há đợi gì mang lông đội sừng, chặt cắt, treo ngược ư ?

Muốn biết trời, người thì chỉ nay đây người oai nghi trong sạch, ôm bát trì bình là đó. Thiết thân bảo nhậm thì khỏi đọa các nẻo. Thứ nhất là chẳng được vất bỏ Cái Ấy. Cái Ấy chẳng phải là dễ được. Cần hướng về đỉnh núi chót vót mà đứng, đáy biển mịt mù mà đi ! Chỗ ấy không dễ dàng đi đứng mới có chút phần tương ứng.

“Như nay bày ló ra đều là người lắm chuyện, thì làm sao mà tìm cái người si độn kia cho được ! Đừng chỉ ghi nhớ lời lẽ trong sách mà làm cái thấy biết của mình, thấy người không hiểu thì sanh ra khinh mạn. Cái đám đó đều là ngoại đạo, xiển đề có ăn nhằm gì cái Tâm Ấy đâu ! Cần miên mật mà xét cho thấu suốt ! Có nói như vậy cũng vẫn còn là chuyện bờ mé của tam giới !

“Ở dưới lớp áo thầy tu chớ có bỏ luống qua. Đến trong ấy lại càng tế vi nhặt nhiệm ! Chớ có rỗi nhàn, cần nên trân trọng !”

Lại như Tổ Mục Châu cùng vị giảng sư đang uống trà.

Tổ Mục Châu nói : “Tôi cứu ông chẳng được đâu !”

Nhà sư đáp : “Dạ, tôi hiểu, xin thầy chỉ bày”.

Tổ Châu chỉ cái bánh chiên, hỏi : “Đó là cái gì vậy ?”

Nhà sư đáp : “Sắc pháp !”

Tổ Châu nói : “Cái gã chun vào vạc dầu sôi này ! Chẳng kể tại gia hay xuất gia, chỉ là tự gây nghiệp, gồm căn, gồm cảnh mà chẳng được giải thoát !”

Kỳ dị thay lời lẽ của hai Ngài Dược Sơn, Mục Châu !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #88 vào lúc: Tháng Tư 15, 2011, 05:04:13 AM »

(tiếp theo)

複次阿難。是諸眾生。非破律儀。犯菩薩戒。毀佛涅槃。諸餘雜業。歷劫燒然。後還罪畢。受諸鬼形。若於本因。貪物為罪。是人罪畢。遇物成形。名為怪鬼。貪色為罪。是人罪畢。遇風成形。名為魃鬼。貪惑為罪。是人罪畢。遇畜成形。名為魅鬼。貪恨為罪。是人罪畢。遇蟲成形。名蠱毒鬼。貪憶為罪。是人罪畢。遇衰成形。名為厲鬼。貪慠為罪。是人罪畢。遇氣成形。名為餓鬼。貪罔為罪。是人罪畢。遇幽為形。名為魘鬼。貪明為罪。是人罪畢。遇精為形。名魍魎鬼。貪成為罪。是人罪畢。遇明為形。名役使鬼。貪黨為罪。是人罪畢。遇人為形。名傳送鬼。阿難。是人皆以純情墜落。業火燒乾。上出為鬼。此等皆是自妄想業之所招引。若悟菩提。則妙圓明。本無所有。


Kinh : “Lại nữa, Anan, nếu các chúng sanh đó chẳng phá Luật Nghi, phạm Bồ Tát Giới, hủy báng Niết Bàn của Phật mà chỉ phạm những tạp nghiệp khác thì sau nhiều kiếp bị thiêu đốt, đền hết tội rồi thì chịu những hình quỉ.

“Nếu nơi bản nhân do tham vật mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp vật thành hình gọi là Quái Quỉ.
Do tham sắc mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp gió thành hình gọi là Bạt Quỉ.
Do tham dối trá mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp súc vật thành hình gọi là Mỵ Quỉ.
Do tham hận mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp sân thành hình, gọi là Cổ Độc Quỉ.
Do tham ghi nhớ mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp sự suy tàn thành hình, gọi là Lệ Quỉ.
Do tham ngạo mạn mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp khí thành hình, gọi là Ngạ Quỉ.
Do tham lừa gạt mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp u uẩn thành hình gọi là Áp Quỉ.
Do tham vạch bày mà làm nên tội thì khi đền tội xong, gặp tinh hoa thành hình, gọi là Vọng Lượng Quỉ.
Do tham thành tựu mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp bóng sáng thành hình, gọi là Dịch Sử Quỉ.
Do tham bè đảng mà gây nên tội thì khi đền tội xong, gặp con người thành hình, gọi là Truyền Tống Quỉ.

“Anan, những người ấy đều do thuần Tình mà đọa lạc, khi lửa nghiệp đốt khô rồi thì lên làm Quỉ. Các thứ ấy đều do cái nghiệp tự vọng tưởng chiêu dẫn tới; nếu ngộ được Bồ Đề thì trong tánh Diệu Viên Minh, vốn nào đâu có.


通曰。純情業重。必從墮落。業火燒乾。神識不昧。故復帶業落於鬼趣。愛染生情。情始乎貪。故十習因俱以貪言也。貪物為怪。為其非理而取。晉有石言。有物憑之是已。貪色為魃。淫風鼓蕩。能散云雨中。州遇旱。則遍索魃鬼於冢。其頭大於斗。貪惑為魅。詐習未忘。猶變現美態以眩惑人。貪恨為蠱。結怨在意。甘為蛇虺毒蠱以肆其毒。滇黔多有之。唯主人意之所向。貪憶為厲。瞋恚不捨。深入骨髓。往往俟人之衰而報其忿。如伯有為厲是已。貪慠為餓鬼。內無實德。空腹高心。夫先自慢也已。貪罔為魘。誑習欺人。猶惑寐者。貪明為罔兩。各執所見。為山澤之精耀。如五行變怪是已。貪成為役使。枉習勞心。以成人之過。終役役不休。貪黨為傳送。訟習發覆。傳言送語。報在鬼類。猶托於人而報禍福。此皆自業之所招也。若悟菩提。如夢忽醒。安有寱語。故曰本無所有。僧問靈隱佛海禪師。昔有一秀才作無鬼論成。有一鬼叱曰。爭奈我何。意作麼生。師以手斫額曰。何似。僧曰。祗如五祖以手作鵓鳩觜曰。谷呱呱。又且如何。師曰。自領出去。雖然。不得一向。昔湛堂准禪師。聞 x 悟侍者見所擲 x 余有省。詣方丈。通所悟於泐潭深禪師。師喝出。因喪志自經於延壽堂廁。後出無時。眾憚之。准聞。特往登溷。方脫衣。悟即提淨水至。准曰。待我脫衣。脫罷。悟復到。未幾。悟供籌子。准滌淨已。召接淨桶去。悟才接。准執其手曰。汝是悟侍者那。曰諾。准曰是當時在知客寮見掉火柴頭有個悟處底麼。參禪學道。只要知個本命元辰下落處。汝剗地作此去就。汝在藏殿移首座鞋。豈不是汝當時悟得底。汝每夜在此提水度籌。豈不是汝當時悟得底。因甚麼不知下落。卻在這裡惱亂大眾。准猛推之。索然如倒壘甓。由是無復見者。准所執臂如泉。半月餘始復。此未入地獄而為鬼者。原無地獄因。故地獄不收。得此大甘露飲之。當隨願往生。若湛堂者。不獨知鬼神之情狀。且能為鬼眾說法也。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Thuần Tình, Nghiệp nặng ắt là đọa lạc. Lửa nghiệp thiêu khô, thần thức chẳng mê muội nên lại đới nghiệp mà lạc vào nẻo Quỉ. Ái nhiễm thì sanh Tình, Tình bắt đầu ở Tham nên mười Tập Nhân đều lấy tham mà nói vậy.

Tham vật thì làm Quái Quỉ, vì lấy chẳng đúng lý. Đời Tấn, có Thạch Ngôn, Vật Bằng là đó vậy.
Tham sắc thì là Bạt Quỉ, gió dâm càn quét làm tiêu tan mây, mưa. Đất Trung Châu gặp hạn hán thì cầu khắp Bạt Quỉ ở mồ mả, đầu lớn hơn cái đấu.
Tham dối trá thì làm Mỵ Quỉ, thói quen gian trá chưa quên nên biến hiện dáng dấp đẹp đẽ để lừa người.
Tham hận thì làm Cổ Độc Quỉ, kết oán hờn nơi ý nên chịu làm loài rắn độc để phun nọc độc. Ở Vân Nam, Quý Chân có nhiều, chỉ có điều là theo ý người.
Tham ghi nhớ thì làm Lệ Quỉ, giận hờn chẳng bỏ, khắc sâu vào cốt tủy, luôn luôn chờ người suy vi mà báo thù.
Tham ngạo mạn thì làm Ngạ Quỉ, trong không có Đức, bụng rỗng mà lòng cống cao, ấy là trước tự khinh dối lấy mình vậy.
Tham lừa gạt thì làm Áp Quỉ, thói quen dối trá lừa người, giống như dối gạt người ngủ say.
Tham vạch tội chỉ trích thì làm Vọng Lượng Quỉ, mỗi chấp lấy tà kiến của mình, làm yêu tinh ở núi, đầm, giống như Ngũ Hành hóa thành yêu quái.
Tham thành tựu thì làm Dịch Sử Quỉ, thói quen lao tâm uổng phí, để thành lỗi cho người, cứ mãi miết không thôi.
Tham bè đảng thì làm Truyền Tống Quỉ, thói quen kiện tụng úp mở, đưa lời chuyển lẽ, quả báo ở loài Quỉ mà còn nương nơi người để báo đền họa phước.

Mọi thứ này đều là nghiệp báo tự mình chuốc lấy. Như ngộ được Bồ Đề thì giống như mộng bỗng tỉnh, đâu có lời nói mớ, nên nói là “Vốn không có gì”.

Có nhà sư hỏi thiền sư Linh Ẩn Phật Hải : “Xưa, có một ông Tú Tài làm xong bài luận Không có Quỉ thì có một con Quỉ quát rằng : “Còn ta thì sao ?” Ý ra làm sao ?”

Ngài lấy tay gãi trán, nói : “Đâu giống !”

Nhà sư hỏi : “Còn như Ngũ Tổ lấy tay làm mỏ chim Bột Cưu mà kêu : “Cúc cu cu !” lại là thế nào ?”

Ngài nói : “Tự đốc xuất đấy. Tuy vậy chẳng đặng cứ một bề”.

Xưa, thị giả Hữu Ngộ thấy chỗ củi cháy tàn, có sự tỉnh ngộ, bèn đến phương trượng báo chỗ tỏ ngộ với Lặc Đàm Thâm thiền sư.

Tổ hét đuổi ra.

Hữu Ngộ vì thế thất chí, tự đến nhà cầu của Tổ Diên Thọ Đường, sau đó không ra nữa.

Đại chúng lấy làm lạ.

Thiền sư Trạm Đường Chuẩn nghe được, một mình đến nhà cầu, vừa mới cởi áo thì Hữu Ngộ liền đưa nước sạch đến.

Tổ Chuẩn nói : “Chờ ta cởi áo đã !”

Cởi áo xong, Hữu Ngộ lại đến, chốc lát lại dâng cây chùi đít.

Tổ Chuẩn rửa sạch xong, kêu đem thùng nước đi. Hữu Ngộ vừa cầm lấy, Tổ Chuẩn nắm lấy tay, nói : “Ông là Ngộ thị giả đấy ư ?”

Đáp rằng : “Dạ, phải”.

Tổ Chuẩn nói : “Có phải là khi ở liêu tri khách, ông thấy khươi củi đỏ mà có chỗ ngộ đấy không ? Chuyện tham thiền học Đạo chỉ cốt yếu là biết chỗ an trụ của bổn mệnh nguyên thần. Ông gượng ép làm vậy thì khó thành tựu. Khi ông ở tàng điện, dời giày của vị Thủ Tọa, há chẳng phải là sự ngộ đắc ngay lúc ấy ư ? Mỗi đêm ông ở đây xách nước, đưa cây, há chẳng phải là sự ngộ đắc ngay lúc ấy ư ? Do đâu mà không biết chỗ an trụ ấy ? Lại ở trong cái ấy mà làm phiền rối đại chúng !”

Tổ Chuẩn xô mạnh, tan tác như vách đổ. Từ đó không còn thấy nữa. Chỗ tay Ngài nắm nổi lằn, hơn nửa tháng mới hết.

Đây là chưa vào địa ngục mà làm Quỉ, vốn không có cái nhân địa ngục nên địa ngục chẳng nhận ! Được thứ đại cam lồ đây mà uống thì liền vãng sanh tùy ý nguyện. Như Tổ Trạm Đường Chuẩn thì không chỉ biết tình trạng của Quỉ Thần mà lại còn có thể vì chúng Quỉ mà thuyết pháp cho nữa.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, chonhoadong, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #89 vào lúc: Tháng Tư 15, 2011, 05:08:52 AM »

(tiếp theo)

複次阿難。鬼業既盡。則情與想。二俱成空。方於世間與元負人。怨對相值。身為畜生。酬其宿債。物怪之鬼。物銷報盡。生於世間。多為梟類。風魃之鬼。風銷報盡。生於世間。多為咎徵。一切異類。畜魅之鬼。畜死報盡。生於世間。多為狐類。蟲蠱之鬼。蠱滅報盡。生於世間。多為毒類。衰厲之鬼。衰窮報盡。生於世間。多為蛔類。受氣之鬼。氣銷報盡。生於世間。多為食類。綿幽之鬼。幽銷報盡。生於世間。多為服類。和精之鬼。和銷報盡。生於世間。多為應類。明靈之鬼。明滅報盡。生於世間。多為休征。一切諸類。依人之鬼。人亡報盡。生於世間。多為循類。阿難。是等皆以業火乾枯。酬其夙債。旁為畜生。此等亦皆自虛妄業之所招引。若悟菩提。則此妄緣。本無所有。


Kinh : “Lại nữa, Anan, nghiệp Quỉ đã hết thì hai thứ Tình và Tưởng đều không, mới ở thế gian cùng người nợ cũ oán đối gặp nhau, thân làm súc sanh, để trả nợ xưa.

“Loài Quái Quỉ thì khi vật tiêu tan, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm chim Cưu.
Loài Bạt Quỉ thì khi gió tiêu tan, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài báo điềm kỳ dị.
Loài Mỵ Quỉ thì khi súc chết, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chồn, cáo.
Loài Cổ Quỉ thì khi sâu bọ diệt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài có độc.
Loài Lệ Quỉ thì khi sự suy dứt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài giun.
Loài Ngạ Quỉ thì khi khí tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài bị ăn thịt.
Loài Áp Quỉ thì khi u uẩn tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài cung cấp đồ mặc.
Loài Vọng Lượng Quỉ thì khi tinh hoa tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm chim mùa.
Loài Dịch Sử Quỉ thì khi bóng sáng diệt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài báo điềm lành.
 Loài Truyền Tống Quỉ thì khi người chết, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài thuần hóa.

“Anan, các loài ấy đều do lửa nghiệp đốt xong, sanh làm súc vật để trả nợ cũ. Hết thảy cũng đều tự hư vọng chiêu dẫn lấy nghiệp mà ra. Nhưng ngộ Bồ Đề thì các vọng duyên ấy vốn không chỗ có !


通曰。情想既空。應無所著。超然物外。而不免為畜類者。酬夙負故。所謂了即業障本來空。未了應須還宿債也。且以業火乾枯之故。情想暫時不生。如負重行遠。氣力消竭。萬慮俱空。彼非真能空者。梟類附塊為兒。不離乎怪。總之貪物所致也。咎徵預報不祥。如商羊水災。鶴舞多旱之類。魃煽淫風。亦不祥之物。故卒為咎徵。魅多憑狐。故卒為狐。狐多詐。余習尚存。蠱集諸毒蟲為之。故卒為毒。怨毒深矣。故屢遷不忘。衰厲托災附禍。入人身中。轉受蛔形。還託身內。瞋恨之遺也。鬼受飢虛。畜充他飽。慢習傲物。故為人所切齒。幽魘附人。故生於牛馬蠶繭之族。為人服用。終示誑眩耳目。明和於精。則為魍魎。明生於畜。則為應類。如社燕寒鴻。應四時節序不爽。彼各有所見也。枉習役使之鬼。何以多為休征。彼初顛倒是非。是非之心。非不明也。故虛誣情盡。真實心生。今為禎祥以報休美。所以終役使之勞也。訟習依人之鬼。何以多為循類。彼昔依人。故常循順於人。今報在黠慧。馴擾可畜。亦其爭心息而甘聽處分也。此等妄緣。由妄見生。若悟菩提。如目無眚。安得圓形。故亦曰本無所有。玄沙上堂。汝既有如是奇特當陽出身處。何不發明取。因何卻隨他向五蘊身田中鬼趣裡作活計。直下自謾去。忽然無常殺鬼到來。眼目诪張。身見命見。恁麼時大難支荷。如生脫龜殼相似。大苦。仁者莫把瞌睡見解。便當卻去。未解蓋覆得毛頭許。汝還知否。三界無安。猶如火宅。且汝未是得安樂底人。祗大作群隊。幹他人世。這邊那邊飛去。野鹿相似。但求衣食。若恁麼。爭行他王道。知麼。國王大臣不拘執汝。父母放汝出家。十方施主供汝衣食。土地龍神呵護汝。也須具慚愧知恩始得。莫孤負人好。長連床上排行。著地銷將去。道是安樂。未在。皆是粥飯將養得汝爛冬瓜相似。變將去。土裡埋將去。業識茫茫。無本可據。沙門因甚麼到恁麼地。祗如大地上蠢蠢者。我喚作地獄劫住。如今若不了。明朝後日入驢胎馬肚裡。牽犁拽把。銜鐵負鞍。碓搗磨磨。水火裡燒煮去。大不容易受。大須恐懼。好是汝自累。知麼。若是了去。直下永劫不教汝有這個消息。若不了此。煩惱惡業因緣。不是一劫兩劫得休。直與汝金剛齊壽。知麼。玄沙大慈。不惜苦口。足為末法中救療良藥。宜人寫一通。置之座右。密師伯與洞山行次。見白兔子面前走過。密雲俊哉。山云。作麼生。密雲。如白衣拜相。山云。老老大大。作這個語話。密雲。你又作麼生。山云。積代簪纓。暫時落魄。天童頌云。抗力霜雪。平步雲霄。下惠出國。相如過橋。蕭曹謀略能成漢。巢許身心欲避堯。寵辱若驚深自信。真情參跡混漁樵。大都密公見處。要藉積累功勛。洞山見處單明本來尊貴。古人即物明心。往往如此。又雪峰與三聖行次。見一隊猢猻。峰云。祗這猢猻。各各背一面古鏡。聖云。歷劫無明。何以彰為古鏡。峰曰。瑕生也。聖云。一千五百人善知識。話頭也不識。峰云。老僧住持事繁。天童拈云。當時若見雪峰道瑕生也。且近前云喏喏。且道何故如此。爭之不足。讓之有餘。觀此。則知作家機用。豈以強弱而論勝負者哉。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Tình, Tưởng đã không, đáng ra không còn chỗ vướng mắc, vượt ngoài sự vật, nhưng chẳng khỏi làm súc vật vì trả nợ cũ vậy. Đây là chỗ nói “Rõ, liền nghiệp chướng bổn lai không; chưa rõ, bèn đền xong nợ cũ”.

Bởi do lửa Nghiệp thiêu khô nên Tình, Tưởng tạm thời chẳng sanh. Giống như người vác nặng đi xa, khí lực kiệt quệ nên muôn mối lo nghĩ đều không, cái ấy chưa thật là Không vậy.

Chim Cưu nương cục đất cho là con, chẳng lìa nơi Quái, đều do tham vật mà ra.
Loài báo điềm xấu như chim Thương Dương báo về thủy tai, con Hạt Vũ báo về hạn hán.
 Bạt Quỉ quạt gió dâm cũng là thứ không lành, nên làm loài báo điềm xấu.
Mỵ Quỉ thường nương chồn, cáo nên làm chồn, chồn nhiều xảo trá vì thói quen còn sót vậy.
Cổ Quỉ nhóm tụ nhiều trùng độc mà ra, nên làm loài có độc, sự oán độc sâu xa nên nhiều lần biến đổi mà chẳng quên.
Lệ Quỉ dựa tai, nương họa, vào trong thân người chuyển làm loài giun sán nương tựa trong thân, là sự sót lại của sân hận vậy.
Ngạ Quỉ thì chịu đói, chuyển làm loài bị ăn thịt đó là do thói quen ngạo vật kiêu mạn, nên làm cái cho người nhai.
 Áp Quỉ nương tựa người, nên sanh làm trâu, ngựa hay tằm kén để người may mặc, rốt cuộc biểu lộ sự lừa dối tai mắt vậy.
Vọng Lượng Quỉ là do thói vạch lỗi hòa với khí ở núi, đầm thì sanh làm loài chim mùa, như chim Xả Yến, Hàm Hồng, ứng với thời tiết bốn mùa, mỗi thứ cũng có cái Sở Kiến riêng vậy.
Dịch Sử Quỉ cớ sao làm loài báo điềm lành ? Ấy là do ban đầu Điên Đảo thị phi, cái tâm thị phi chẳng phải là không sáng soi, nên khi tình chấp, hư dối hết thì tâm chân thật sanh. Nay làm loài báo điềm lành bởi vì chấm dứt sự nhọc nhằm bị sai sử vậy.
Truyền Tống Quỉ vì sao phần nhiều làm loài thuần hóa ? Vì trước nương người nên thường thuận theo người, nay quả báo có trí khôn, có thể nuôi dạy, ấy cũng là cái tâm tranh cạnh mà cam chịu nghe lời vậy.

Các thứ vọng duyên này do Vọng Kiến sanh. Như ngộ Bồ Đề, như mắt không nhặm thì đâu có bóng lòa, nên nói rằng “Vốn không chỗ có”.

Tổ Huyền Sa thượng đường : “Ông đã có cái chỗ xuất thân rỡ ràng hiện giờ kỳ đặc như thế, sao chẳng phát minh lấy ? Vì đâu lại theo phía khác để hướng trong miếng thân ngũ uẩn, trong chốn nẻo Quỉ làm kế sanh nhai ? Ngay đây mà tự lừa dối rồi đó ! Bỗng nhiên Quỉ Vô Thường giết hại đến đây thì với cái mắt mũi lừa dối, thân kiến, mạng kiến làm sao đảm đương cho nổi. Khác nào đang sống mà đòi thoát khỏi mu rùa, khổ thay !

“Này các nhân giả ! Chớ có nắm giữ cái kiến giải ngủ gật đó, ông có biết không ? Ba cõi không yên, giống như nhà lửa, vả chăng ông chưa phải là người đã an lạc, chỉ rặt ròng gây nhóm, tạo bầy, liên can đến đời người khác, bay đi mé này, mé kia, khác nào nai hoang chỉ tìm ăn mặc. Nếu như vậy là tranh giành vương đạo của người khác, biết chăng ?

“Quốc Vương, đại thần chẳng bó buộc ông; cha mẹ để cho ông xuất gia; mười phương thí chủ cúng dường các ông cơm áo; Thổ Địa, Long Thần la mắng, giữ gìn ông. Vậy cần đủ hổ thẹn, biết ơn mới được. Chớ cô phụ lòng tốt của người, cứ mãi xếp hàng trên sàng, bám níu, rục rã mà cho là an lạc. Chưa ở trong đó thì đều là hạng được nuôi cơm cháo để tương tự như trái bầu lông chín héo.

“Thay đổi đi ! Chôn xuống đất đi thôi ! Nghiệp thức mang mang, không gốc gác để nương nhờ. Sa Môn mà do sao đến nỗi thế này ? Chỉ giống như sâu bọ loi nhoi trên đất, tôi gọi là đời ở địa ngục !

“Như nay mà chẳng rõ, mai kia mốt nọ vào trong thai lừa, bụng ngựa, xỏ mũi kéo cày, mang yên đóng hàm, cối đâm chày giã, nước lửa nấu thiêu, không dễ gì chịu nổi, phải biết khủng khiếp. Ấy là tự ông làm lụy, biết chăng ?

“Như rõ được ấy, thì liền đây vĩnh viễn chẳng nói với mấy ông có các chuyện ấy. Còn không rõ cái ấy thì nhân duyên phiền não, ác nghiệp chẳng phải một hai kiếp là hết đâu, mà còn sống thọ như thể kim cương của chính các ông, biết chăng ?”

Tổ Huyền Sa đại từ bi, chẳng tiếc khô miệng, đủ để làm vị lương dược cứu trị đời mạt pháp, đáng để cho người ta chép mà để bên phải chỗ ngồi vậy.

Ngài Mật Sư Bá đang cùng đi với Tổ Động Sơn, thấy con thỏ trắng chạy qua trước mặt.

Ngài Mật nói : “Giỏi thay !”

Tổ Sơn rằng : “Là sao ?”

Ngài Mật : “Giống như thường dân mà được bái tướng  -(ct) Phong tướng. )”.

Tổ Sơn : “Bậc già cả mà nói lời lẽ ấy !”

Ngài Mật : “Thế ông thì sao ?”

Tổ Sơn : “Lâu đời quý phái, tạm thời bơ vơ”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Sức bằng sương tuyết
Nhẹ bước núi mây
Hạ Huệ bỏ nước
Tương Như qua cầu
Túc  -(ct) Lỗ Túc. ), Tào  -(ct) Tào Tháo. ), mưu lược nên nhà Hán
Sào  -(ct) Sào Phủ. ), Hứa  -(ct) Hứa Do. ) thân tâm muốn tránh Nghiêu
Vinh nhục bỏ rồi, thêm tự tín
Chân tình theo dấu lão ngư, tiều”.

Đại để, chỗ thấy của Ngài Mật là cần phải mượn sự tích lũy tu hành. Chỗ thấy của Tổ Động Sơn là riêng bày tỏ chỗ bổn lai tôn quý. Người xưa ngay nơi vật mà minh tâm, thường thường như thế.

Lại như Tổ Tuyết Phong đang cùng đi với Ngài Tam Thánh, thấy một bầy khỉ.

Tổ Phong nói : “Bầy khỉ này, mỗi con đều là bề trái của một mặt gương xưa !”

Ngài Thánh nói : “Bao kiếp vô minh, sao cho đó rõ ràng là gương xưa ?”

Tổ Phong nói : “Tỳ vết sanh ra rồi vậy”.

Ngài Thánh : “Thiện tri thức của một ngàn năm trăm người mà cái thoại đầu cũng không biết”.

Tổ Phong : “Việc trụ trì của lão tăng này phức tạp lắm !”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngay khi ấy mà thấy Tuyết Phong nói : “Tỳ vết sanh ra rồi” thì hãy đến gần trước mặt mà nói : “Dạ, dạ”. Hãy nói cớ sao như thế ? Tranh thì chẳng đủ, nhường thì có dư !”

Xem đây thì biết cơ dụng của nhà Thiền, há lấy chuyện mạnh yếu mà luận sự hơn thua ư ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, chonhoadong, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 ... 4 5 [6] 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.264 seconds với 25 câu truy vấn.