Tháng Hai 28, 2020, 05:35:47 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 7   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG IV -- 首楞嚴宗通經 4  (Đọc 15585 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tư 05, 2011, 09:26:28 PM »

(tiếp theo)

由因世界留礙輪迴。障顛倒故。和合著成八萬四千精耀亂想。如是故有色相羯南。流轉國土。休咎精明。其類充塞。由因世界銷散輪迴。惑顛倒故。和合暗成八萬四千陰隱亂想。如是故有無色羯南。流轉國土。空散銷沉。其類充塞。由因世界罔象輪迴。影顛倒故。和合憶成八萬四千潛結亂想。如是故有想相羯南。流轉國土。神鬼精靈。其類充塞。由因世界愚鈍輪迴。痴顛倒故。和合頑成八萬四千枯槁亂想。如是故有無想羯南。流轉國土。精神化為土木金石。其類充塞。

Kinh : “Do nhân thế giới lưu ngại luân hồi, điên đảo về Chướng nên hòa hợp với Trước (Bám Níu) thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng tinh diệu. Do đó mà có yết nam sắc tướng, trôi lăn trong cõi nước : lưu cữu, tinh minh... các loài đầy dẫy.

“Do nhân thế giới tiêu tán luân hồi, điên đảo về Cảm, nên hòa hợp với Ám thành ra tám mươi bốn loạn tưởng âm ẩn. Do đó mà có yết nam vô sắc, trôi lăn trong cõi nước : không, tán, tiêu, trầm... các loài đầy dẫy.


“Do nhân thế giới ảo tưởng luân hồi, điên đảo về Ảnh, nên hòa hợp với Ức (Nhớ) thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng tiềm kết. Do đó mà có yết nam hữu tưởng, trôi lăn trong cõi nước : thần quỷ, tinh linh... các loài đầy dẫy.

“Do nhân thế giới ngu độn luân hồi, điên đảo về Si nên hòa hợp với Ngoan (Ngu Độn, Ngoan Cố) thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng khô cằn. Do đó mà có yết nam vô tưởng, trôi lăn trong cõi nước : tinh thần hóa làm đất, cây, sắt, đá... các loài đầy dẫy.



通曰。色屬相分。想屬見分。總不出四句。曰有。曰無。曰亦有亦無。曰非有非無。便窮盡世界變態。有色者著於色也。如事日月水火諸外道。其想已結成精耀。故但有色而已。精耀生於明。明生於覺。覺無住相。而精耀有麗。故名留礙。涅槃云。八十神皆因留礙想元。成此精耀。故一切精明神物。皆能預知休咎。未嘗離於覺體。特障礙而不流通耳。故謂之障顛倒。無色者著於空也。如厭有歸無諸外道。迷漏無聞。故名曰惑。晦昧陰隱。入無色界。此有想無色。不成業體。然生無色界。故亦有銷散羯南。神鬼精靈。無實狀也。似有若無。故名罔象。如禱祀祈求。依附影像。志慕靈通。但有憶想耳。潛結狀貌。非有實色。故唯有想相羯南。土木金石。有色無想。空頑為因。故名曰痴。外道計無情有命。金石堅牢。或習定灰凝。愚鈍枯槁。遇物成形。如黃頭化石之類。是為無想羯南。此由外道邪見所化。有色無想。不頑而為木石。則著而為精耀。是相分勝化而為物也。有想無色。不幽而為鬼物。則散而為空體。是見分勝化而為神也。舜若多神。無身覺觸。歸無色界。是皆六亂妄想所致。道眼不明。遂至於此。僧問金峰志禪師。是身無知。如土木瓦石。此意如何。師下禪床扭僧耳朵。僧負痛作聲。師曰。今日始捉著個無知漢。僧作禮出去。師召阇黎。僧回首。師曰。若到堂中。不可舉著。曰何故。師曰大有人笑金峰老婆心。又有一行者。坐靜室中。炯炯有光。某禪師恐其惑眾。逐之。此皆錯亂修習。不明乎平常至理也。劉經臣簽判。嘗著明道諭儒篇以警世。詞曰。明道在乎見性。余之所悟者。見性而已。孟子曰。口之於味也。目之於色也。耳之於聲也。鼻之於臭也。四肢之於安佚也。性也。揚子曰。視聽言貌思。性所有也。有見於此。則能明乎道矣。當知道不遠人。人之於道。猶魚之於水。未嘗須臾離也。唯其迷己逐物。故終身由之而不知。佛曰大覺。儒曰先覺。蓋覺此耳。昔人有言曰。今古應無墜。分明在目前。又曰。大道祗在目前。要且目前難睹。欲識大道真體。不離聲色言說。又曰。夜夜抱佛眠。朝朝還共起。起倒鎮相隨。語默同居止。欲識佛去處。秪這語聲是。此佛者之語道為最親者。立則見其參於前也。在輿則見其倚于衡也。瞻之在前也。忽焉在後也。取之左右逢其原也。此儒者之語道最邇者。奈何此道唯可心傳。不立文字。故世尊拈華。而妙心傳於迦葉。達磨面壁。而宗旨付於神光。六葉既敷。千華競秀。分宗列派。各有門庭。故或瞬目揚眉。擎拳舉指。或行棒行喝。豎拂拈捶。或持義張弓。輥毬舞笏。或拽石搬土。打鼓吹毛。或一默一言。一籲一笑。乃至種種方便。皆是親切為人。然祗為太親。故人多罔措。瞥然見者。不隔絲毫。其或沉吟。迢迢萬里。欲明道者。宜無忽焉。祖祖相傳。至今不絕。真得吾儒所謂無所不悅。聞而弗違者矣。余之有得。實在此門。反思吾儒自有其道。良哉孔子之言。默而識之。一以貫之。故目擊而道存。指掌而意諭。凡若此者。皆合宗門之妙旨。得教外之真機。然而孔子之道。傳之子思。子思傳之孟子。孟子既沒。不得其傳。而所以傳於世者。特文字耳。故余之學必求自得而後已。幸余一夕開悟凡目之所見。耳之所聞。心之所思。口之所談。手足之所運動。無非妙者。得之既久。日益現前。每以與人。人不能受。然後知其妙道。果不可以文字傳也。嗚呼。是道也。有其人則傳。無其人則絕。予既得之矣。誰其似之乎。終余之身而有其人耶。無其人耶。所不可得而知也。故為記誦歌語。以流播其事。而又著此篇以諭吾徒耳。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Sắc thuộc về Tướng Phần. Tưởng thuộc về Kiến Phần. Tóm lại thì chẳng ra ngoài tứ cú: Có, Không, cũng Có cũng Không, chẳng phải Có chẳng phải Không. Vậy là cùng tận sự biến thái của thế giới.

Hữu Sắc thì bám níu nơi Sắc, như sự thờ phụng mặt trời, mặt trăng, nước, lửa của ngoại đạo. Cái Tưởng đã kết thành tinh diệu cho nên chỉ có Sắc mà thôi. Tinh diệu sanh nơi Minh, Minh sanh nơi “Giác”. Giác không có trụ tướng mà tinh diệu có dính mắc nên gọi là lưu ngại. Kinh Niết Bàn nói “Tám mươi vị Thần đều nhận nguồn tưởng lưu ngại mà thành cái tinh diệu này”. Bởi thế tất cả tinh minh, thần vật đều có thể dự biết trước, sự cát hung chưa từng rời Giác thể. Chỉ bởi chướng ngại nên chẳng lưu thông nên gọi là điên đảo về Chướng.

Vô Sắc thì bám níu nơi Không, như sự chán cái có quay về cái Không của ngoại đạo, mê cái vô văn (không nghe) hữu lậu nên gọi là Hoặc (Mê Lầm). Mờ tối âm ẩn thì vào Vô Sắc Giới. Hạng hữu tưởng Vô Sắc này chẳng thành cái thân của nghiệp, nhưng sanh Vô Sắc Giới nên cũng có yết nam tiêu tán.

Thần quỷ tinh linh không có hình trạng thật sự, hình như có, hình như không nên gọi là ảo tượng. Như cúng vái cầu đảo thì nương tựa nơi ảnh tượng, hết lòng cảm mộ ứng thông thì chỉ có nhớ tưởng. Cái hình trạng tiềm kết chẳng phải có thực sắc nên chỉ có yết nam hữu tưởng.

Đất, cây, vàng, đá có Sắc mà không có Tưởng, ngoan không làm nhân nên gọi là Si. Ngoại đạo cho sắt, đá cứng rắn là vô tình mà hữu mệnh bèn tập định ngưng đọng như tro tàn, khô khan mê độn, gặp vật thành Hình, giống như tiên Hoàng Đầu hóa thành đá, đó là yết nam Vô Tưởng. Đây là do tà kiến ngoại đạo hóa ra vậy.

 Hữu Sắc Vô Tưởng không ngu ngoan mà làm cây, đá thì bám chấp mà làm tinh diệu, đó là Tướng Phần trổi vượt hóa nên mà làm vật vậy. Hữu Tướng Vô Sắc chẳng u ẩn mà làm quỷ vật thì tan ra mà làm không hình thể, đó là Kiến Phần trổi vượt hóa nên mà làm Thần vậy. Thần Thuấn Nhã Đa (Hư Không) không có thân mà có cảm giác là thuộc về Vô Sắc Giới.

Những thứ đó đều do sáu Vọng Tưởng lộn loạn mà ra, chỉ vì đạo nhãn chẳng sáng mà phải như vậy.

Có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí : “Thân này vô tri, như đất, cây, ngói, đá. Ý này ra sao ?”

Sư bước xuống thiền sàng, vặn tai nhà sư. Nhà sư đau quá la lên.

Ngài nói : “Ngày nay mới nắm đầu được cái gã vô tri !”

Nhà sư làm lễ, lui ra.

Ngài gọi : “Xà Lê !”

Nhà sư ngoái đầu lại.

Ngài nói : “Vào trong thiền đường, chớ có nói ra !”

Hỏi rằng : “Sao thế”.

Ngài nói : “Hẳn có người cười tâm lão bà  -(ct) Từ bi. ) của Kim Phong này”.

Lại có một hành giả ngồi trong tịnh thất, hào quang tỏa sáng ra, thiền sư trụ trì e mê hoặc trong chúng, nên đuổi đi. Đó là tu tập lầm loạn, chẳng rõ cái chí lý bình thường vậy.

Quan Thiêm Phán Lưu Kinh Thần có viết thiên Minh Đạo Luận Nho để cảnh tỉnh đời, có câu “Minh Đạo ở chỗ thấy Tánh. Chỗ ngộ của ta là thấy Tánh mà thôi vậy”.

Ông viết tiếp : “Mạnh Tử nói : “Miệng ở nơi Vị. Mắt ở nơi Sắc. Tai ở nơi Thanh. Mũi ở nơi Mùi. Tứ chi ở nơi Thong Dong. Đó là Tánh vậy”.

Ông Dương Tử nói : “Thấy, Nghe, Nói Năng, Suy Nghĩ là sở hữu của Tánh vậy. Thấy được như thế ắt là rõ Đạo.
“Phải biết Đạo chẳng xa người. Người ở nơi Đạo như cá ở trong nước, chưa hề có khoảnh khắc xa rời. Chỉ chẳng biết mình, chạy đuổi theo vật nên chung thân chẳng tự biết. Phật nói Đại Giác; Nho nói Tiên Giác, là chỗ Giác này vậy. Người xưa có câu “Xưa nay nào rớt lọt, rõ ràng ngay trước mắt”.

Lại nói : “Đạo lớn chỉ ngay trước mắt. Chính vì trước mắt nên khó thấy. Muốn rõ Chân Thể của Đạo thì chẳng rời ngôn ngữ, thanh sắc !

Lại nói :

“Đêm đêm ôm Phật ngủ
Sáng sáng lại cùng dậy
Đi đứng trọn theo nhau
Nói nín cùng yên ở
Muốn rõ chỗ Phật ư
Chỉ lời, tiếng là đó !”.

“Đó là chỗ nhà Phật nói Đạo là rất thân thiết vậy.

“Đứng thì thấy sờ sờ trước mắt. Ngồi trên xe liền thấy dựa nơi đòn ngang của xe. Ngắm xem thì ở trước, hốt nhiên là ở sau. Nắm qua tả hữu thì ngay đầu mối”.

“Đó là chỗ nhà Nho nói Đạo thật rất gần vậy.

“Khốn nỗi, Đạo này chỉ có thể tâm truyền, chẳng lập văn tự. Bởi thế, Đức Thế Tôn đưa hoa lên mà Diệu Tâm truyền cho Ngài Ca Diếp. Đức Đạt Ma ngó vách mà tông chỉ phó cho Ngài Thần Quang. Sáu Cánh đã bày (từ Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ) thì ngàn hoa đua nở, phân Tông khai Phái mà mỗi mỗi môn đình.

Thế nên có nháy mắt, nhướng mày, đưa nắm tay, dựng ngón tay, hoặc vung gậy, quát hét, dựng phất, dỡ chùy, hoặc cầm chĩa, dương cung, đá cầu, múa hốt. Hoặc đào đá, ban đất, đánh trống, thổi lông, hoặc nín hoặc nói, hoặc hô hoặc cười, cho đến hết thảy phương tiện đều chỉ thân thiết vì người. Nhưng chỉ vì cực kỳ thân thiết mà người ta phần đông hoang mang. Chớp mắt là thấy, chẳng cách mảy tơ ! Giả như trầm ngâm thì xa vời muôn dặm ! Muốn rõ Đạo này chớ để trợt qua !

 Tổ Tổ truyền nhau đến nay chẳng dứt, quả là đắc cái mà nhà Nho ta gọi là “Không đâu chẳng đẹp lòng, nghe gì cũng chẳng trái” đó vậy.

“Chỗ tâm đắc của tôi thật ở môn này. Suy nghĩ lại thì đạo Nho tự có Đạo ấy. Lành thay lời nói của Đức Khổng Tử : “Im lặng mà biết đó, một Thể mà suốt thông”. Cho nên mắt thấy mà Đạo còn, tay chỉ mà ý dụ. Phàm như thế thì đều hợp với diệu chỉ của Tông Môn, đắc cái Chân Cơ của giáo ngoại biệt truyền vậy.

Thế mà Đạo của Khổng Tử truyền cho Tử Tư, Tử Tư truyền cho Mạnh Tử, Mạnh Tử mất mà chẳng có ai để truyền, nên cái được truyền lại ở đời chỉ là văn tự. Bởi thế cái học của tôi ắt là cầu tự được mới thôi. Hạnh phúc cho tôi là một đêm nọ được khai ngộ nên phàm mắt thấy gì, tai nghe gì, tâm nghĩ gì, miệng nói gì, tay chân vận động gì đều không gì chẳng là mầu nhiệm (diệu). Được rồi càng lâu ngày càng thêm hiện tiền. Có khi đem trao cho người, người chẳng lãnh nhận, mới biết Diệu Đạo quả chẳng có thể lấy văn tự mà truyền.

“Hởi ôi, Đạo là vậy, có được người thì truyền, không có người thì tuyệt mất. Tôi đã được thế, có ai giống vậy không nhỉ ? Suốt đời tôi có người ư ? Không có người ư ? Trong chỗ “Chẳng thể đắc” mà biết vậy. Nên tôi làm lời ký, tụng, ca để lưu truyền việc này, lại trước tác thiên này để chỉ dạy học trò của tôi đó”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Tư 05, 2011, 09:30:52 PM »

(tiếp theo)

由因世界相待輪迴。偽顛倒故。和合染成八萬四千因依亂想。如是故有非有色相成色羯南。流轉國土。諸水母等。以蝦為目。其類充塞。由因世界相引輪迴。性顛倒故。和合咒成八萬四千呼召亂想。由是故有非無色相無色羯南。流轉國土。咒詛厭生。其類充塞。由因世界合妄輪迴。罔顛倒故。和合異成八萬四千回互亂想。如是故有非有想相成想羯南。流轉國土。彼蒲盧等。異質相成。其類充塞。由因世界怨害輪迴。殺顛倒故。和合怪成八萬四千食父母想。如是故有非無想相無想羯南。流轉國土。如土梟等。附塊為兒。及破鏡鳥。以毒樹果。抱為其子。子成。父母皆遭其食。其類充塞。是名眾生十二種類。

Kinh : “Do nhân thế giới tương đãi luân hồi, điên đảo về Ngụy nên hòa hợp với Nhiễm thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng nhân y. Do đó mà có yết nam “Không phải có Sắc mà có Sắc” trôi lăn trong cõi nước : những loài sứa lấy tôm làm mắt... các loài đầy dẫy.

“Do nhân thế giới tương đãi luân hồi, điên đảo về Tánh nên hòa hợp với Chu” thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng hô triệu. Do đó mà có yết nam “Chẳng phải Vô Sắc mà Vô Sắc” trôi lăn trong cõi nước : Chú trớ, yếm sanh... các loài đầy dẫy.

“Do nhân thế giới hợp vọng luân hồi, điên đảo về Võng nên hòa hợp với Dị thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng hồi hỗ. Do đó mà có yết nam “Không phải Có Tưởng mà Có Tưởng” trôi lăn trong cõi nước : các loài tò vò, lấy chất khác thành thân mình... các loài đầy dẫy.

“Do nhân thế giới oán hại luân hồi, điên đảo về Sát nên hòa hợp với Quái thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng ăn thịt cha mẹ. Do đó có yết nam “Không phải Vô Tưởng mà Vô Tưởng” trôi lăn trong cõi nước : như con thổ kiêu ấp đất cục làm con, hay chim phá kính ấp quả cây độc làm con, con lớn lên thì trở lại ăn thịt cha mẹ... các loài đầy dẫy.

“Đó là mười hai chủng loại chúng sanh.



通曰。色想有無。如陰陽義。足該萬變矣。然陰中有陽。陽中有陰。似陰而實陽。似陽而實陰。其變叵測。亂想無涯。眾生無盡。非佛大圓鏡智。其熟能窮之相待輪迴。假物者也。故名為偽。水母以蝦為眼。本非有色待物成色。彼此異質。猶曰染緣合也。至邪業相引。但憑咒術呼召。非此有性。彼亦能引。故曰性顛倒。此咒詛魘魅。亦能變現。非無色相也。然藉聲誕質。不由生理。故本無色。此其咒力自人為之。無足異者。若蒲盧等。本為桑蟲。非有蜂想。而成蜂想。以異質故。非如胎卵想中傳命其卒相成。咒彼類我。以妄化妄。誣罔取他。納為己有。回他作己。故名回互。此異類相附。雖云合妄。猶未至於怪也。如土梟破鏡。以他物為子。子成而反遭其食。棄絕倫義。非常理也。故名為怪。皆由多生怨害。相生相食。反怨為愛。反愛為怨。子子相酬自成一類。梟食母。破鏡食父。非無想也。然塊與毒果。豈有想乎。至於戒阇黎人面瘡者。乃袁盎晁錯多生怨害。一身而自相毒。又非梟類隔體者比。盎錯非無想。而瘡非有想也。此其煩惱所結。各各有八萬四千輪迴。逐業生生未已。充寒一時。則無界不有。充寒多劫。則無世不然。非眾生正報。無以感依報。非世界依報。無以成正報。是世界之顛倒。即眾生之顛倒。皆由背覺合塵始。非有二因也。此於眾生略示其顛倒之原。於世界詳示其顛倒之實。顛倒即是業果。而前所云三相續者。咸統是矣。僧問百丈。如今受戒。身口清淨。已具萬善。得解脫否。丈曰。少分解脫。未得心解脫。亦未得一切處解脫。曰如何是心解脫。及一切處解脫。丈曰。不求佛法僧。乃至不求福智知解等。垢淨情盡。亦不守此無求為是。亦不住盡處。亦不欣天堂畏地獄。縛脫無礙。即身心及一切處。皆名解脫。汝莫言有少分戒。身口意清淨。便以為了。不知河沙戒定慧門。無漏解脫。都未涉一毫在。努力向前。須猛究取。莫待耳聾眼暗。面皺發白。老苦及身。悲愛纏綿。眼中流淚。心裡慞惶。一無所據。不知去處。到恁麼時節。整理手腳不得也。縱有福智名聞利養。都不相救。為心眼未開。唯念諸境。不知返照。復不見佛道。一生所有善惡業緣。悉現於前。或忻或怖。六道五蘊。俱時現前。盡敷嚴好宅舍。舟船車輿。光明顯赫。皆從身心貪愛所現。一切惡境。皆變成殊勝之境。但隨貪愛重處業識所引。隨著受生。都無自由分。龍畜良賤亦總未定。問如何得自由分。丈曰。如今得即得。或對五欲八風。情無取捨慳嫉貪愛。我所情盡。垢淨俱亡。如日月在空。不緣而照。心心如木石。唸唸如救頭然。亦如香象渡河。截流而過。更無疑滯。此人天堂地獄所不能攝也。嗟乎。百丈叮嚀教誡。不靳慈悲。須於諄切處猛省提撕。方知顛倒之因。不由乎他。而真三摩地。原自具足。至於垢淨俱亡。天堂地獄所不能攝。又何十二種類之所能轉哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Sắc, Tưởng là có hay là không, cũng như nghĩa Âm Dương đủ bao gồm muôn biến hoá. Nhưng trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, tựa như Âm mà thật là Dương, hình như Dương mà thật là Âm, sự biến hóa không lường nổi. Loạn tưởng không cùng, chúng sanh vô tận, chẳng phải cái Trí Đại Viên Cảnh của Phật thì ai mà thấu suốt cho nổi ?

Tương đãi luân hồi là nương mượn vật, nên gọi là Ngụy. Con sứa dùng con tôm làm mắt, nghĩa là chẳng phải có Sắc mà đợi vật khác để thành Sắc. Đây kia khác chất nên gọi là hòa hợp với Nhiễm Duyên.

Còn như tà nghiệp dẫn nhau chỉ nhờ Chú Thuật hô triệu, chẳng phải đây có tánh kia cũng có thể dẫn, nên gọi là điên đảo về tánh. Bùa Chú trù yếm này cũng hay biến hiện được, chẳng phải là Vô Sắc Tướng. Nhưng mượn Âm Thanh mà tạo ra hình chất, không do sanh lý nên vốn là Vô Sắc. Cái sức Chú này từ con người làm ra, không có gì lạ lắm.

Con tò vò vốn là sâu lá dâu, chẳng phải có cái Tưởng con ong mà lại thành cái Tưởng con ong, vì lấy chất khác nên chẳng phải như thai hay trứng là truyền mạng trong Tưởng, rốt là thành lẫn nhau. Chú kia theo ta, lấy Vọng hóa ra Vọng, cái khác mà lấy cho là của mình, nên gọi là hồi hỗ. Đây là loài khác nhau mà nương nhau, tuy gọi là hợp vọng cũng chưa là kỳ quái.

Như con thổ kiêu, phá kính, lấy vật khác làm con, con lớn lên thì trở lại ăn thịt, mất hết luân thường đạo nghĩa, chẳng phải là cái lý thường nên gọi là kỳ quái. Tất cả đều do nhiều đời oán hại nên sanh lẫn nhau, giết lẫn nhau, đổi thương thành oán, đổi oán thành thương, vay trả trả vay mà thành ra một chủng loại.

Con thổ kiêu ăn mẹ, con phá kính ăn cha chẳng phải là Vô Tưởng, nhưng đất cục và quả độc thì “Có Tưởng” sao ? Đến như Ghẻ-Mặt-Người  -(ct) Xem tích Ông Ngô Đạt trong kinh Thủy Sám. Ở đây sơ lược như sau. Ông Ngô Đạt, kiếp trước tên Viên Án, có hại một người tên Triều Thố. Kiếp này y đi theo báo oán: làm một cái mụt ghẻ lồi lên hình mặt người, hành hạ đau đớn để trả thù. ) của Quốc Sư Ngô Đạt là mối thù oán nhiều đời giữa Viên Án và Triệu Thố, nơi một thân mà tự hại nhau, thì loài thổ kiêu, phá kính cách thân mà hại nhau đâu có thể so sánh. Viên Án, Triệu Thố chẳng phải là Vô Tưởng, mà cái Ghẻ-Mặt-Người chẳng phải là Hữu Tưởng. Đây là do phiền não kết thành, mỗi mỗi có tám mươi bốn ngàn luân hồi, theo nghiệp đời đời không cùng. Một thời đầy dẫy, thì không cõi giới nào chẳng có, nhiều kiếp đầy dẫy thì không đời nào mà chẳng thế !

 Không có chúng sanh Chánh Báo lấy gì mà cảm thọ Y Báo ? Không có thế giới Y Báo lấy gì mà thành ra Chánh Báo ? Vậy điên đảo của thế giới chính là điên đảo của chúng sanh. Cũng đều do phản bội cái Giác, hợp với Trần chứ chẳng có hai nhân nào hết vậy. Chỗ này đối với chúng sanh thì chỉ dạy sơ lược về nguồn gốc điên đảo, còn đối với thế giới thì chỉ rõ thực trạng của điên đảo. Điên Đảo chính là nghiệp quả mà ở trước nói là “Ba cái tương tục”, là gồm chung hết vậy.


Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Như nay thọ Giới, thân khẩu trong sạch, đã đủ muôn thiện, có được Giải Thoát không ?”

Tổ Trượng nói : “Giải Thoát chút ít ! Nhưng chưa được Tâm Giải Thoát, cũng chưa được Nhất Thiết Xứ  -(ct) Cả thảy chỗ. ) Giải Thoát”.

Hỏi rằng : “Thế nào là Tâm Giải Thoát và Nhất Thiết Xứ Giải Thoát ?”

Tổ Trượng nói : “Chẳng cầu Phật, Pháp, Tăng cho đến chẳng cầu Phước Trí, Tri Giải hết thảy đó. Cái tình Sạch Dơ hết ráo mà cũng chẳng giữ cái không cầu này cho là phải. Cũng chẳng trụ nơi chỗ hết này, cũng chẳng khoái Thiên Đường, sợ Địa Ngục, trói buộc hay giải thoát đều không ngại. Như thế thì thân tâm cùng nhất thiết xứ đều là Giải Thoát.

“Ông chớ nói có chút phần Giới Thân, Khẩu, Ý trong sạch bèn cho là xong, mà chẳng biết hằng sa Giới Định Huệ, Vô Lậu giải thoát đều chưa ăn nhằm một mảy lông. Hãy nỗ lực tiến tới, cần dũng mãnh cứu xét lấy, chớ đợi đến tai điếc mắt mờ, da nhăn tóc bạc, già khổ đến thân, sầu thương rối buộc, nước mắt lưng tròng, tâm hồn sợ sệt, hoàn toàn không có chỗ tựa nương, chẳng biết chỗ về. Đến lúc đó rồi thì sửa sang lo liệu chẳng được đâu ! Dù có Phước Trí, danh văn, lợi dưỡng đều chẳng thể cứu.

Cũng bởi Tâm Nhãn chưa mở ra, chỉ nghĩ nhớ theo cảnh, chẳng hề chịu soi trở lại, lại không thấy Phật Đạo. Bao nhiêu nghiệp duyên thiện ác một đời hiện ra trước mắt, hoặc vui mừng hoặc khủng khiếp. Năm uẩn, sáu đường cùng lúc hiện ra trước mặt, phô bày nhà cửa đẹp đẽ, thuyền bè xe cộ tráng lệ huy hoàng. Tất cả đều từ thân tâm tham ái mà hiện ra. Đường ác mà mê mờ đều biến thành cảnh tốt đẹp, chỉ tùy theo chỗ nghiêng nặng của tham ái, sự dẫn dắt của nghiệp thức, theo chỗ bám níu mà thọ sanh, tuyệt chẳng có chút gì tự do. Rồng, thú, tốt, xấu mịt mờ đều chưa định”.

Hỏi rằng : “Như sao là được phần tự do ?”

Tổ Trượng nói : “Ngay đây thì được. Hoặc là đối với ngũ dục, bát phong, tình không lấy bỏ, tiếc lẩn, tham ái. Tình ngã sở tuyệt mất, dơ sạch tiêu vong. Như mặt trời, mặt trăng giữa không chiếu soi không dính dáng. Tâm tâm như gỗ đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, hay như con hương-tượng vượt sông, chặt đứt dòng mà qua, không còn nghi ngờ vướng víu. Người như thế thì Thiên Đường, Địa Ngục làm sao nhiếp giữ”.

Than ôi, Tổ Bách Trượng đinh ninh răn dạy, chẳng tiếc từ bi. Cần ở nơi chỗ căn dặn mà dũng mãnh tỉnh thức, dựng đứng tâm tư, mới hay rằng cái nhân điên đảo nào có do ai, mới hay cái Chân Tam Ma Địa vốn tự sẵn đủ xưa giờ.

Đến chỗ “Sạch dơ đều mất, Thiên Đường Địa Ngục làm sao nhiếp giữ” thì còn mười hai chủng loại nào mà xoay chuyển được ư ?


----------------------------
HẾT QUYỂN VII

*Xem tiếp Quyển  VIII



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Tư 05, 2011, 09:34:45 PM »

(tiếp theo)

LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG - QUYỂN VIII

卍新纂續藏經第 16 冊 No. 0318 楞嚴經宗通


大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第八


  阿難。如是眾生。一一類中。亦各各具十二顛倒。猶如捏目。亂華發生。顛倒妙圓真淨明心。具足如斯虛妄亂想。汝今修證佛三摩提。於是本因元所亂想。立三漸次。方得除滅。如淨器中。除去毒蜜。以諸湯水。並雜灰香。洗滌其器。後貯甘露。云何名為三種漸次。一者修習。除其助因。二者真修。刳其正性。三者增進。違其現業。


III. KHAI THỊ BA TIỆM THỨ TU TẬP


Kinh : “Anan, như thế chúng sanh trong mỗi mỗi loài cũng đều đầy đủ hết mười hai thứ Điên Đảo. Cũng như dụi mắt thì hoa đốm cuồng loạn phát sanh, Chân Tâm tròn sáng trong sạch nhiệm mầu mà Điên Đảo thì đầy đủ loạn tưởng hư vọng như thế. Nay ông tu chứng Tam Ma Đề của Phật thì đối với các loạn tưởng làm nguyên nhân cội gốc của các Điên Đảo, phải lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt được. Cũng như trong đồ đựng sạch sẽ trừ bỏ mật độc, dùng nước nóng và chất tro, chất thơm rửa sạch đồ đựng, rồi sau mới chứa nước cam lồ.

“Thế nào là ba món tiệm thứ ? Một là, tu tập trừ các Trợ Nhân. Hai là, chân tu, nạo sạch Chính Tính. Ba là, tăng tiến trái lại Hiện Nghiệp.


通曰。十二顛倒。皆從真淨明心變起。始於愛取一念。有愛則有憎。有取則有舍。故胎卵濕化。皆由情想輕重。各從其類。有色無色。有想無想。只是有無二句。第由想而化。其想漸微。其化漸潔。若非有色。若非無色。若非有想。若非無想。內含雙亦雙非。實由情而化。其情漸滯。其化漸苦。情想愛憎。紛然雜陳。無類不有。故一一類中。各各互具十二顛倒也。情想猶捏目。顛倒猶亂華。亂華在太虛之中。不礙太虛。顛倒在妙圓之內。無妨妙圓。唯具足如斯虛妄亂想。卒於真淨明心不相妨礙。然後見其妙圓也。妙圓真心。即三摩地廓微洞朗。猶如晴空。十二顛倒。惟茲六亂妄想以為本因。翳眼若除。狂華自息。然除亂想。必立三漸次。何也。譬如淨器。本貯甘露之器。一為毒蜜所染。驟投甘露而甘露反為毒藥矣。必滌之以湯水。助之以灰香。需之以歲月。然後毒氣漸消。而甘露可入。此三漸次。正滌除亂想之湯水灰香也。前四種明誨。殺盜淫妄。已具正戒。今又除其淫怒痴之助因。刳其殺盜淫之正性。漸與現行無明遠矣。由是增進。反流全一。六用不行。竟與現業違。而心不流逸。情愛乾枯。亂想無自而起。顛倒又何因而生乎。但一真心。然後安立聖位四十四心。以入妙覺真三摩提。如毒蜜既消。而甘露可貯也。大隨 □禪師上堂。此性本來清淨。具足萬德。但以染淨二緣□有差別。故諸聖悟之。一向淨用。而成覺道。凡夫迷之。一向染用。沒溺輪迴。其體不二。故般若云。無二無二分無別無斷故。若信得大隨所云其體不二。本一淨器也。毒蜜貯之不加損。甘露貯之不加益。直趣無上菩提。染淨俱無交涉。然後掃除三漸次之說。亦無不可者。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Mười hai thứ Điên Đảo đều từ trong Chân Tâm minh tịnh biến khởi. Bắt đầu trong một niệm Ái Thủ. Có Thương thì có Ghét, có Thủ thì có Xả. Do đó, bốn thứ Thai, Noãn, Thấp, Hóa đều do Tình, Tưởng, nặng nhẹ tùy theo mỗi loài.

Các loài Hữu Sắc, Vô Sắc, Hữu Tưởng, Vô Tưởng chỉ là hai câu Hữu, Vô. Nhưng do cái Tưởng mà sanh hóa, thì Tưởng càng ngày càng vi tế, sự sanh hóa càng lần lần thuần khiết. Các loài hoặc chẳng phải Hữu Sắc, hoặc chẳng phải Vô Sắc, hoặc chẳng phải Hữu Tưởng, hoặc chẳng phải Vô Tưởng gồm ở trong ấy hai cái “Cũng Là”, hai cái “Chẳng Phải”. Quả là do Tình mà biến hóa, Tình càng vướng mắc thì càng biến hóa càng khổ. Tình, Tưởng, Thương, Ghét phô bày lẫn lộn, không loài nào chẳng có, nên trong mỗi loài mỗi mỗi đều đủ mười hai thứ điên đảo.

Tình, Tưởng giống như mắt nhặm; Điên Đảo giống như hoa đốm lăng xăng. Hoa đốm lăng xăng ở trong hư không mà chẳng ngăn ngại được hư không. Điên Đảo ở trong Chân Tâm Diệu Viên mà chẳng thể chướng ngại Tánh Diệu Viên. Dù đủ loạn tưởng hư vọng thế kia, rốt ráo nơi Chân Tâm minh tịnh chẳng hề ngăn ngại, rồi sau thấy được cái Diệu Viên vậy. Chân Tâm Diệu Viên tức là Tam Ma Địa, rỗng suốt nhiệm mầu bao la như hư không tạnh ráo. Mười hai thứ Điên Đảo chỉ do sáu Vọng Tưởng hỗn loạn làm Bổn Nhân. Mắt nhặm nếu trừ, hoa cuồng tự dứt.

Nhưng trừ loạn tưởng phải lập ra ba món tiệm thứ. Vì sao ? Vì như một cái bình sạch, vốn là đồ chứa đựng nước cam lồ, một khi bị mật độc nhiễm dơ mà đổ ngay cam lồ vào thì cam lồ trở thành thuốc độc. Ắt là phải súc rửa bằng nước sôi cọng với tro, chất thơm cho trơn sạch, trải qua tháng năm, thì độc khí dần dần tiêu, cam lồ mới có thể cho vào. Ba món tiệm thứ này chính là nước sôi, tro, chất thơm để rửa sạch loạn tưởng vậy.

Bốn thứ khuyên dạy ở trước là Sát, Đạo, Dâm, Vọng đã đủ Chánh Giới, đây lại trừ Trợ Nhân của Dâm, Nộ, Si, nạo sạch cái Chánh Tính của Sát, Đạo, Dâm, Vọng, dần dần xa lìa Vô Minh hiện hành. Do đấy tăng tiến, ngược dòng toàn nhất, sáu cái Dụng chẳng hiện hành, trái nghịch Hiện Nghiệp thì tâm không trôi dạt. Tình ái khô khan, loạn tưởng không tự khởi lên thì Điên Đảo lấy đâu mà sanh ? Chỉ một Chân Tâm rồi sau mới lập các Thánh vị. Bốn mươi bốn Tâm để nhập chân Tam Ma Địa của Diệu Giác. Cũng như mật độc đã tiêu, bèn chứa được cam lồ vậy.

Thiền sư Đại Tùy Chân thượng đường nói : “Tánh này vốn xưa nay thanh tịnh, sẵn đủ muôn đức. Chỉ bởi hai duyên nhiễm, tịnh mà có sai khác. Cho nên các Thánh ngộ nó thì cứ một bề dùng trong sạch mà thành đạo Giác. Người phàm mê nó thì cứ một bề dùng dơ nhiễm mà chìm đắm luân hồi. Thể nó không hai, nên kinh Bát Nhã nói “Không hai, không hai phần vì không riêng không dứt vậy”.

Nếu tin được lời nói của Ngài Đại Tùy, “Thể nó không hai”, thì vốn là một bình chứa tinh sạch, chứa độc mật chẳng có hao bớt mà đựng cam lồ cũng chẳng tăng thêm. Thẳng đến Bồ Đề Vô Thượng, nhiễm tịnh đều không dính dáng, thì sau có dẹp bỏ chỗ nói về ba món tiệm thứ cũng không phải là không thể được vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Tư 06, 2011, 07:17:01 AM »

(tiếp theo)

云何助因。阿難。如是世界十二類生。不能自全。依四食住。所謂段食觸食思食識食。是故佛說一切眾生。皆依食住。阿難。一切眾生。食甘故生。食毒故死。是諸眾生求三摩提。當斷世間五種辛菜。是五種辛。熟食發淫。生啖增恚。如是世界食辛之人。縱能宣說十二部經。十方天仙。嫌其臭穢。咸皆遠離諸餓鬼等。因彼食次。X 其唇吻。常與鬼住。福德日銷。長無利益。是食辛人。修三摩地。菩薩天仙。十方善神。不來守護。大力魔王。得其方便。現作佛身。來為說法。非毀禁戒。贊淫怒痴。命終自為魔王眷屬。受魔福盡。墮無間獄。阿難。修菩提者。永斷五辛。是則名為第一增進修行漸次。


Kinh : “Thế nào là Trợ Nhân ?

“Anan, mười hai loài chúng sanh đó trong thế giới không thể tự toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà sống, đó là Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư Thực, Thức Thực.

 Vậy nên Phật bảo tất cả chúng sanh đều nương cái ăn mà sống còn.
“Anan, tất cả chúng sanh ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết. Vậy những chúng sanh cầu Tam Ma Đề phải dứt bỏ năm thứ rau cay trong thế gian. Năm thứ rau cay này, ăn chín phát lòng dâm, ăn sống thêm lòng giận.

Trong thế gian, những người ăn rau cay đó dầu có thể tuyên thuyết mười hai bộ kinh, thì Tiên Thiên mười phương không thích hôi nhớp đều lánh xa cả. Các loài quỷ đói v.v... nhân lúc người ấy đang ăn bèn liếm môi mép. Thường ở với quỷ, nên phước đức ngày càng tiêu mòn, lâu dài không được lợi ích.

Người ăn rau cay ấy, tu Tam Ma Địa, Bồ Tát, Thiên Tiên, Thiện Thần mười phương không đến thủ hộ.
 Đại Lực Quỷ Vương thừa cơ hội đó hiện làm thân Phật đến thuyết pháp cho, chê phá Cấm Giới, khen Dâm, Nộ, Si. Khi chết tự làm quyến thuộc Ma Vương, hưởng phước Ma hết, đọa vào ngục Vô Gián.

Anan, người tu Đạo Bồ Đề vĩnh viễn dứt bỏ năm thứ rau cay.

“Đó là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.


通曰。段食亦云摶食。謂手摶而食之。然有不可摶者。故翻為段。段者如刀段。食飯面菜等。有形段故。人間食也。觸食者。根境識觸之而成。但觸其氣而已。鬼神食也。禪天無段食。但有思食。故云思食得食。識無邊處無思食。但有識食。識取法味。充然而飽。亦皆有以自養如段食。故曰皆依食住。合論云。識食者。即阿賴耶識。依前三種食而住。何以知之。五識者。賴耶之自證相分。六識及意識者。賴耶之自證見分。五識之區依段食。六識分別依觸食。七意識依思食。故識食依前三種食而住。一切眾生。食甘故生。食毒故死。豈有五辛臭穢之物。而不能助淫生恚。究竟天仙遠離。常與鬼伍。亦與食毒無異。然而淫恚日益。必且非毀禁戒。墮無間獄。是可不謹之於微乎。金牛和尚每至齋時。自將飯桶於僧堂前作舞。呵呵大笑云。菩薩子。吃飯來。雪竇云。雖然如此。金牛不是好心。僧問長慶。古人道菩薩子吃飯來。意旨如何。慶云。大似因齋慶贊。雪竇頌云。白雲影裡笑呵呵。兩手持來付與他。若是金毛獅子子。三千里外見誵訛。又僧問趙州。學人乍入叢林。乞師指示。州云。吃粥了也未。僧云吃了。州云。洗缽盂去。其僧有省。云門云。且道有指示無指示。若言有。趙州向伊道個甚麼。若言無。這僧為甚悟去。天童頌云。粥罷令教洗缽盂。豁然心地自相符。而今參飽叢林客。且道其間有悟無。合諸老宿提唱而詳味之。縱是百般異品珍羞。亦須抉出。何況五辛毒藥豈容入口。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đoạn Thực cũng gọi là Đoàn Thực, nghĩa là lấy tay viên tròn lại mà ăn. Nhưng có thứ không thể vê tròn nên đổi thành đoạn.

Đoạn là cắt ra từng khúc, như dao cắt. Các thức ăn cơm, bún, rau... ăn theo lối cắt. Đó là cách ăn của con người.

Xúc Thực là ăn theo lối Căn, Cảnh, Thức tiếp xúc nhau mà thành. Chỉ tiếp xúc cái khí vị mà thôi, đó là cách ăn của Quỷ Thần.

Tư Thực là cõi Thiền Thiên không có Đoạn Thực, chỉ có ăn bằng tư tưởng, nên nói “Nghĩ đến ăn thì được ăn”.

Thức Thực là cõi Vô Biên Xứ, không ăn bằng tư tưởng mà chỉ có cái Thức biết ăn, Thức thủ (hiểu lấy) mùi vị Pháp đầy đủ nên no.

Các lối ăn Xúc, Tư, Thức Thực cũng đều có thể nuôi sống như đoạn thực, nên nói “Đều nương theo cái ăn mà sống còn”.

Bộ Hiệp Luận nói : “Thức thực là A Lại Da Thức nương theo ba cách ăn trước mà tồn tại. Làm sao để biết ? Năm Thức trước là Tướng Phần Tự Chứng của A Lại Da. Thức Thứ Sáu và Thức Thứ Bảy là Kiến Phần Tự Chứng của A Lại Da. Phạm vi của năm Thức trước nương vào Đoạn Thực. Thức Thứ Sáu phân biệt nương vào Xúc Thực. Thức Thứ Bảy nương vào Tư Thực. Cho nên Thức Thực nương vào ba loại ăn trước mà tồn tại”.

Tất cả chúng sanh ăn thức ăn lành thì sống, ăn thức ăn độc thì chết, thì há năm loại rau cay nhớp mà không trợ Dâm, sanh Giận ư ? Rốt cục Trời, Tiên xa lánh, thường ở với Quỷ, cũng chẳng khác gì ăn thức ăn độc. Nhưng Dâm, Giận ngày càng tăng, hẳn là chê phá Cấm Giới, đọa vào ngục Vô Gián. Như vậy há có thể không cẩn thận ngay ở chỗ vi tế ư ?

Hòa Thượng Kim Ngưu mỗi lần đến giờ ăn, tự đem thùng cơm đến trước tăng đường, múa cười ha hả mà rằng : “Bồ Tát ơi, đến ăn cơm !”

Ngài Tuyết Đậu nói : “Tuy nhiên như thế, Kim Ngưu chẳng phải hảo tâm !”

Nhà sư hỏi Tổ Trường Khánh : “Cổ nhân nói “Bồ Tát ơi, đến ăn cơm”, ý chỉ như thế nào ?”

Tổ Khánh nói : “Cũng giống nhân bữa ăn mà ca mừng”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Trong bóng mây trắng cười ha hả
Hai tay bưng đến trao người ta
Nếu quả Kim Mao Sư Tử nhỏ
Ngoài ba ngàn dặm thấy sai ngoa”.

Lại có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu : “Kẻ học nhơn mới vào tùng lâm, xin thầy chỉ bày cho”.

Tổ Châu nói : “Vậy ăn cháo rồi chưa ?”

Vị tăng : “Dạ, ăn rồi”.

Tổ Châu nói : “Thì rửa chén bát đi !”

Vị tăng tỉnh ngộ.


Tổ Vân Môn nói : “Hãy nói là có chỉ bày hay không chỉ bày ? Nếu nói có thì Triệu Châu nói cái gì với ông ta vậy ?
Nếu nói không thì vì sao vị tăng kia lại ngộ ?”


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Cháo xong thì dạy rửa bát đi
Rỗng rang tâm địa tự dung thông
Như nay, khách tham thiền no đủ
Thử hỏi khoảng này có ngộ không ?”.

Hợp lại chỗ đề xướng của các vị lão túc để rõ ràng mùi mẽ, thì dầu trăm thứ món ngon của lạ cũng cần móc ói ra, huống chi thứ thuốc độc năm loại rau cay há có thể cho vào miệng ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Tư 06, 2011, 07:20:41 AM »

(tiếp theo)

云何正性。阿難。如是眾生。入三摩地。要先嚴持清淨成律。永斷淫心。不x 酒肉。以火淨食。無啖生氣。阿難。是修行人。若不斷淫。及與殺生。出三界者。無有是處。當觀淫慾。猶如毒蛇。如見怨賊。先持聲聞四棄八棄。執身不動。後行菩薩清淨律儀。執心不起。禁戒成就。則於世間。永無相生相殺之業。偷劫不行。無相負累。亦於世間不還宿債。是清淨人。修三摩地。父母肉身。不須天眼。自然觀見十方世界。睹佛聞法。親奉聖旨。得大神通。游十方界。宿命清淨。得無艱險。是則名為第二增進修行漸次。


Kinh : “Thế nào là Chính Tính ?

“Anan, chúng sanh như thế vào Tam Ma Đề trước hết cốt phải nghiêm trì Giới Luật thanh tịnh, vĩnh viễn đoạn trừ lòng Dâm, chẳng dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ ăn trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống. Anan, người tu hành đó, nếu chẳng đoạn Dâm Dục và Sát Sanh mà ra khỏi ba cõi, thì không thể có. Phải quan sát sự Dâm Dục như rắn độc, như thấy giặc thù.

“Trước hết, hãy giữ gìn Tứ Khí, Bát Khí của Giới Luật Thanh Văn, nắm giữ thân chẳng động. Sau đó, hành trì Luật Nghi thanh tịnh của hàng Bồ Tát, nắm giữ tâm chẳng khởi. Giới Cấm thành tựu thì trong thế gian đời đời không còn nghiệp sanh sát nhau. Trộm cướp chẳng làm, thì không còn mắc nợ nhau, và khỏi trả nợ đời trước trong thế gian. Người trong sạch đó tu Tam Ma Địa, ngay nơi thân xác thịt cha mẹ sanh, không cần thiên nhãn tự nhiên xem thấy mười phương thế giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng lĩnh Thánh Chỉ của Phật, đắc đại thần thông, dạo khắp mười phương thế giới, túc mạng được thanh tịnh, được không khó khăn nguy hiểm.

“Đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.



通曰。殺盜淫何以謂之正性。圓覺云。一切眾生。皆以淫慾而正性命。眾生正報從淫感生。故以淫慾為正性。即前所云。性業遮業。又對助因而言。此為正性也。刳之云者。如刳木為舟。漸漸空之。乃能載物。故性業遮業俱空。乃合於刳之義。淫根最難斷。必觀如毒蛇。為害法身故。見如怨賊。為戕慧命故。先持聲聞戒。使無身犯。後持菩薩戒。使無思犯。禁戒成就。戒無所戒。淫斷則無相生業。殺斷則無相殺業。偷斷則無相酬業。即此身心。六根清淨。不須天眼而證五通矣。眼通故觀見十方。耳通故聞佛說法。神通故能游十方界。宿命通故無艱險。而他心通自在其中。唯漏盡不易證也。此如法華現身所得六根清淨。即相似位。然則嚴持清淨戒律。烏容自緩乎。湧泉欣禪師上堂。我四十九年在這裡。尚自有時走作。汝等諸人。莫開大口。見解人多。行解人萬中無一個。見解語言。總要知通。若識不盡。敢道輪迴去在。為何如此。蓋為識漏未盡。汝但盡卻今時。始得成立。亦喚作立中功。轉功就他去。亦喚作就中功。親他去。我所以道親人不得度。渠不度親人。恁麼譬喻。尚不會薦取渾侖底。但管取性亂動舌頭。不見洞山道。相續也大難。汝須知有此事。若不知有。啼哭有日在。可知兢兢戒行。要在盡卻今時。轉功就位。入三摩地。不然。以幻修幻。徒自勤苦耳。於自性何與。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Sát, Đạo, Dâm sao gọi là Chính Tinh ?

Kinh Viên Giác nói : “Hết thảy chúng sanh đều lấy Dâm Dục mà “chính  -(ct) Tạo thành. )” tánh mạng”. Vì Chánh Báo của chúng sanh do cảm lấy Dâm Dục mà sanh ra, nên lấy Dâm Dục làm Chính Tinh, tức là ở trước có nói Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp. Lại vì đối với Trợ Nhân mà nói, nên gọi là Chánh Tính. Nói là Nạo Sạch, ví như nạo khoét cây làm thuyền, dần dần làm cho trống không để mang chở. Nên Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp đều không mới hợp với nghĩa nạo vét.

Cái Căn Dâm rất khó đoạn, phải xem như rắn độc, vì hại đến Pháp Thân vậy. Phải thấy như giặc thù vì làm tổn thương Huệ Mạng. Trước giữ Giới Thanh Văn khiến không có thân phạm. Sau giữ Giới Bồ Tát khiến không có tư tưởng phạm.
Cấm Giới thành tựu thì Giới mà không có chỗ Giới.
Dâm dứt thì không còn Nghiệp tương sanh.
Sát dứt thì không có Nghiệp tương sát.
Trộm cắp dứt thì không có Nghiệp trả nợ.

Ngay nơi thân tâm này sáu Căn thanh tịnh, không cần Thiên Nhãn mà chứng Ngũ Thông.
Nhãn Thông nên xem thấy mười phương.
Nhĩ Thông nên nghe Phật thuyết pháp.
Thần Thông nên có thể dạo khắp mười phương cõi.
Túc Mạng Thông nên không có khó khăn nguy hiểm.
Tha Tâm Thông, tự tại ở trong ấy.
Duy chỉ có Lậu Tận Thông thì không dễ chứng.

Chỗ này giống kinh Pháp Hoa dạy rằng : “Thân hiện tại được sáu Căn thanh tịnh tức là địa vị tương tự. Thế thì nghiêm giữ Giới Luật thanh tịnh đâu có thể tự trễ nải ư ?

Thiền sư Dũng Tuyền Hưng thượng đường nói : “Tôi bốn mươi chín năm ở trong ấy mà còn tự có khi lộn xộn (tẩu tác). Này các ngươi chớ múa mỏ khua môi. Người kiến giải thì nhiều, người hành giải cả vạn, trong đó không có một người hiểu rõ lời lẽ biết suốt cái cần yếu. Nếu Thức chẳng hết, dám nói hết chuyện luân hồi ư ? Vì sao như vậy ? Bởi vì Thức Lậu chưa hết. Ông mà hết sạch ngay giờ mới được thành lập. Cũng gọi là Lập Trung Công, chuyển công tựu thành cái kia. Cũng gọi là Tựu Trung Công, thân với cái kia vậy. Bởi thế, tôi mới nói : Người thân chẳng được độ, hắn chẳng độ người thân. Thí dụ như vậy còn chẳng hiểu thì chỉ tiến lên hít lấy cái hơi mù mịt, chỉ nắm giữ cái tánh loạn động nơi đầu lưỡi. Chẳng thấy Tổ Động Sơn nói “Tương tục, ấy là đại nạn”. Các ông cần biết có sự việc này, nếu không biết, có ngày rồi khóc lóc !

Mới biết rằng Giới Hạnh dũng mãnh, cốt yếu là dứt sạch tức thì, chuyển công thành vị, vào Tam Ma Địa. Chẳng thế thì dùng huyễn để tu huyễn, uổng công siêng nhọc, ăn nhằm gì đến Tự Tánh đâu !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Tư 06, 2011, 07:24:17 AM »

(tiếp theo)

云何現業。阿難。如是清淨持禁戒人。心無貪淫。於外六塵不多流逸。因不流逸。旋元自歸。塵既不緣。根無所偶。反流全一。六用不行。十方國土。皎然清淨。譬如琉璃。內懸明月。身心快然。妙圓平等。獲大安隱。一切如來密圓淨妙。皆現其中。是人即獲無生法忍。從是漸修。隨所發行。安立聖位。是則名為第三增進修行漸次。


Kinh : “Thế nào là Hiện Nghiệp ?

“Anan, người giữ gìn Cấm Giới thanh tịnh như vậy, Tâm không tham dâm, đối với sáu Trần ở ngoài không hay giong ruổi theo. Do không giong ruổi nên tự quay về Tánh gốc. Trần đã chẳng duyên, Căn không chỗ hợp, ngược dòng toàn nhất, sáu Dụng chẳng hành. Mười phương cõi nước sáng suốt thanh tịnh, như ngọc lưu ly bên trong treo mặt trăng sáng. Thân Tâm rỗng khoái, bình đẳng diệu viên, được đại an ổn. Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện trong đó. Người ấy liền được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Từ đó lần lượt tu hành, tùy chỗ phát Hạnh mà an lập các Thánh vị.

“Đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.



通曰。現業者。現行無明所造之業。即上淫殺盜諸業也。持禁戒者。於外六塵。不多流逸。能斷客塵煩惱。能除見惑矣。塵既不緣。根無所偶。能破微細無明。能除思惑矣。二惑未除。猶與現業隨順。未肯相違。今旋元自歸。反流全一。則湛入合湛。與現業違矣。唯流逸。則六用行。故背覺合塵。為六亂妄想起現前業。唯返流。則六用不行。故背塵合覺。為一湛性圓明。一切如來寂圓淨妙。皆現其中。密理圓智淨行妙合無跡。法身清淨。猶如琉璃。真智皎潔。猶如明月。身心快然。根境俱融。妙圓平等。獲大安隱。即得無生法忍。而入三摩地矣。從是漸修。安立聖位。至於等覺。是覺始獲金剛心中初干慧地。即還佛證三摩地。究盡本因。窮盡妙覺也。此其所入者。下文其所修者。究竟其所證者。皆佛三摩地。所謂十方薄伽梵。一路涅槃門也。此取頓證。何得復立漸次而加之以增進乎。理須頓悟。事以漸除。先除助因。次刳正性。茲違現業。皆就事上漸漸消融之。境漸入真。功漸增密。雖主頓悟。不廢漸修。此三根俱接。所以為圓頓法門也。徑山了一禪師上堂。參玄之士。觸境遇緣不能直下透脫者。蓋為業識深重。情妄膠固。六門未息。一處不通。絕點純清。含生難到。直須入林不動草。入水不動波。始可順生死流。入人間世。諸人要會麼。以拄杖畫曰。祗向這裡薦取。設使有個漢。於此薦得。如淨琉璃內含明月。還喚作了事人也。無不見南泉與趙州玩月次。州云。幾時得似這個去。泉云。王老師二十年前。也曾恁麼來。州云。即今作麼生。泉便歸方丈。天童拈云。二十年前且置。二十年後又作麼生。還知王老師行履處麼。屋裡無靈床。渾家不著孝。夫淨如琉璃。內懸明月。即下文所云干慧地也。一切如來密圓淨妙。皆現其中。見地何所不燭尚欠行履在。故能知南泉行履處。則二十年前得似這個。猶為未了。



*Giải nghĩa rộng ra:-  Hiện Nghiệp là Nghiệp tạo ra của Vô Minh hiện hành, tức là các Nghiệp Sát, Đạo, Dâm ở trên.
Giữ Cấm Giới thì đối với sáu Trần ở ngoài chẳng hay giong ruổi theo, hay đoạn trừ phiền não khách trần, hay trừ được Kiến Hoặc. Trần đã chẳng duyên theo thì Căn không chỗ gặp hợp, hay phá Vô Minh vi tế, hay trừ được Tư Hoặc. Chưa trừ hai cái Hoặc thì cũng còn tùy thuận theo Hiện Nghiệp, chưa chịu nghịch lại. Giờ tự quay vào lặng trong, nghịch lại với Hiện Nghiệp vậy.

Vì giong ruổi nên sáu Dụng hiện hành, thế là trái với Giác, hợp với Trần thành sáu Vọng Tưởng loạn khởi ra Nghiệp hiện giờ. Bởi ngược dòng nên sáu Dụng chẳng hiện hành, thế là trái với Trần, hợp với Giác thành một Tánh trong lặng tròn sáng, Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó.

Lý mật trí viên tịnh hành nhiệm mầu phù hợp không dấu vết. Pháp Thân thanh tịnh như ngọc lưu ly. Chân Trí trong suốt giống như trăng sáng. Thân Tâm rỗng khoái, Căn, Cảnh đều dung thông, Diệu Viên bình đẳng, được đại an ổn bèn được Vô Sanh Pháp Nhẫn mà vào Tam Ma Địa. Từ đó tiệm tu, an lập Thánh Vị cho đến bậc Đẳng Giác.

Cái Giác này mới được vị Càn Tuệ Địa ban đầu trong Tâm Kim Cang, bèn chứng Tam Ma Địa của Phật, cứu xét tận hết bổn nhân, cùng tột vị Diệu Giác vậy. Đây là chỗ bước vào, đoạn văn sau là chỗ tu, rốt ráo chỗ chứng, đều là Tam Ma Địa của Phật, đó gọi là “Cửa vào một đường Niết Bàn của mười phương Chư Phật”.

Chỗ này cốt ở Đốn Chứng, cớ sao lại lập thêm các món tiệm thứ để tăng tiến ? Bởi vì Lý cần Đốn Ngộ, Sự theo đó lần hồi dứt trừ. Trước hết, trừ cái Trợ Nhân, kế nạo sạch Chánh Tánh, rồi trái với Hiện Nghiệp. Tất cả đều ở trên Sự mà tiêu dung dần dần. Cảnh càng vào Chân thì công phu càng thêm tế mật. Tuy chủ Đốn Ngộ, chẳng bỏ Tiệm Tu. Đây là gồm trọn cả ba căn Thượng, Trung và Hạ nên là Pháp Môn Viên Đốn vậy.

Thiền sư Kính Sơn Liễu Nhất thượng đường, nói: “Người học Đạo chạm cảnh, gặp duyên mà không thể lập tức thấu thoát (tỏ suốt) đều vì Nghiệp Thức sâu nặng, Vọng Tình gắn chặt. Sáu cửa chưa dứt thì một chỗ chẳng thông. Cái Tánh thuần túy trong sạch không một điểm vết thì phàm phu khó đến. Cần ngay “Vào rừng không động lá, vào nước không nổi sóng” mới có thể thuận dòng sanh tử, vào với nhân gian. Chư vị ơi, có hiểu chăng ?

Bèn lấy cây gậy quơ vẽ mà nói : “Chỉ hướng trong ấy mà tiến nhận”.

Giả sử có tay nào ở đây tiến nhận được, giống như lưu ly trong sạch ngậm trăng sáng ở trong, thì có gọi là người xong việc không, nhỉ ?

Chẳng thấy Tổ Nam Tuyền đang cùng Ngài Triệu Châu thưởng trăng.

Ngài Châu nói : “Bao lâu thì được tương tự như cái kia ?”

Tổ Tuyền nói : “Vương lão sư này hai mươi năm trước đã từng như vậy đó”.

Ngài Châu : “Nay thì sao ?”

Tổ Nam Tuyền bèn quay về phương trượng.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hai mươi năm trước để yên đó. Hai mươi năm sau làm sao đây ? Có biết chỗ bước của Vương lão sư chăng ? Trong nhà không linh sàng, vợ đâu mặc đồ tang !”

Ôi, “Thanh tịnh như lưu ly bên trong treo trăng sáng” tức là chỗ đoạn sau nói “Càn Tuệ Địa” vậy.

Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó thì chỗ thấy chốn nào chẳng sáng tỏ, nhưng còn thiếu bước dẫm đi.

Thế nên, có biết chỗ dẫm đi của Tổ Nam Tuyền thì hai mươi năm trước được tương tự cái kia cũng là chưa xong.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Tư 06, 2011, 07:27:38 AM »

(tiếp theo)

阿難。是善男子。欲愛乾枯。根境不偶。現在殘質。不復續生。執心虛明。純是智慧。慧性明圓。鎣十方界。干有其慧。名干慧地。


MỤC HAI :

AN LẬP CÁC THÁNH VỊ


I. CÀN TUỆ ĐỊA

Kinh : “Anan, người thiện nam ấy, Dục Ái cạn khô, Căn Cảnh chẳng phối hợp, cái Thân Tâm hiện tại không còn sanh tiếp nữa. Nắm lấy Tâm rỗng sáng, thuần là Trí Huệ. Tánh Huệ toàn sáng tỏ sáng mười phương thế giới. Mới có cái Huệ khô khan, gọi là Càn Huệ  (Tuệ) Địa.


通曰。欲愛潤業。根境造業。故生死相續。迷而不返。今欲枯境謝。故人世殘質。不復續生。返流全一。則執心虛明。六用不行。則純是智慧。慧不用之於欲愛。而唯不離乎自性。如珠之光。不用照物。而但自照其體。此其明不至立所而明圓矣。十方國土。皎然清淨。譬如琉璃。內懸明月。故謂之鎣。此以欲乾髮慧。乃名干慧。又以干有其慧。未至妙圓。故為初地。大品十地。初名干慧。天台於圓教十信前。立五品位。且曰。義推如大品干慧地也。此經未至。而所立名位。懸契佛心。非靈山親到。曷克有此。陸亙大夫謂南泉曰。弟子亦薄會佛法。泉便問十二時中作麼生。曰寸絲不掛。泉曰。猶是階下漢。又曰。不見道有道君王。不納有智之臣。後僧問金峰志禪師。千山無云萬里絕霞時如何。志曰。飛猿嶺那邊何不吐卻。此與南泉先後一轍。故知干慧地。亦是小歇場處。若窮盡妙覺。意致當自別。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Dục Ái thấm nhuần thành nghiệp, Căn và Cảnh tạo nghiệp nên sanh tử nối tiếp, mê muội chẳng quay về. Nay lòng Dục khô cạn, Cảnh lui đi, nên cái Thân Tâm nhân thế chẳng còn sanh tiếp.

 Ngược dòng toàn nhất ắt giữ lấy cái Tâm rỗng sáng. Sáu Dụng chẳng hiện hành tức thuần là Trí Huệ. Chẳng dùng gì nơi Dục Ái thì Huệ chẳng lìa ngoài Tự Tánh, như ánh sáng viên ngọc không dùng soi chiếu vật mà chỉ tự chiếu cái Thể của nó.

Đây là cái sáng suốt cho đến chỗ không lập ra cái Sở, thì cái sáng toàn vẹn vậy. Mười phương cõi nước rỗng sáng thanh tịnh, ví như lưu ly ở trong treo trăng sáng, nên gọi là “Tỏ sáng”.

Đây là Dục Ái cạn khô nên phát Huệ, mới gọi là Càn Huệ. Lại chỉ mới có cái Huệ khô khan, chưa đến chỗ Diệu Viên, nên là Sơ Địa.

Trong Thập Địa của kinh Đại Phẩm thì Địa đầu tiên gọi là Càn Huệ. Trong Viên Giáo của Ngài Thiên Thai, trước Thập Tín lập ra Ngũ Phẩm Vị, gọi là nghĩa Thôi  -(ct) Chuyển đổi, từ bỏ. ) cũng giống như Càn Huệ Địa của kinh Đại Phẩm. Kinh này chưa đến đây mà chỗ lập ra danh vị của Ngài Thiên Thai đã thầm hợp với Tâm Phật. Chẳng phải là bậc tự thân đến được hội Linh Sơn thì làm sao có được như thế !


Quan Đại Phu Lục Tuyên thưa với Tổ Nam Tuyền : “Đệ tử cũng hiểu sơ sơ Phật Pháp”.

Tổ Tuyền bèn hỏi : “Trong mười hai thời, ông làm gì ?”

Đáp : “Chẳng dính mảy lông”.

Tổ Tuyền nói : “Còn là kẻ dưới thềm”.

Lại nói : “Ông há chẳng nghe “Quân Vương có Đạo chẳng thu bầy tôi có Trí” ư ?”

Về sau, có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí rằng : “Khi “Ngàn núi không mây, ngàn dặm tuyệt ráng” thì sao ?”

Tổ Chí nói : “Ngọn Phi Thiên Lãnh, phía nào mà chẳng mửa hết ra !”

Quả là cùng Tổ Nam Tuyền trước sau một vết bánh xe.

Thế biết Càn Tuệ Địa cũng là chỗ tạm nghỉ. Bằng như cùng tận Diệu Giác thì cái ý rốt ráo phải tự riêng khác.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Tư 06, 2011, 07:32:22 AM »

(tiếp theo)

欲習初干。未與如來法流水接。即以此心中中流入。圓妙開敷。從真妙圓。重發真妙。妙信常住。一切妄想。滅盡無餘。中道純真。名信心住。

II. THẬP TÍN

Kinh : “Cái tập khí của ngũ dục mới khô cạn chưa tiếp thông được với dòng nước pháp của Như Lai. Tức nhân tâm này, ngay giữa lần vào Viên Diệu mở bày, theo Diệu Giác Viên chân thật, càng phát ra chân diệu. Diệu Tín thường trụ, tất cả vọng tưởng hết sạch chẳng còn. Trung Đạo thuần Chân, gọi là Tín Tâm Trụ.


通曰。中中流入。不偏於空。不偏於假。乃中道妙觀也。於方入觀。三諦圓融。如伊三點。則曰圓妙。此人力可為也。於觀已成。從真發妙。契合圓理。則曰妙圓。此非人力所能與也。中道依真。妙猶非真。從真發妙。妙為真妙。妙猶非真。故不可常。中道純真。故妙常住。妙既常住。則一切妄想。無佇足之地矣。妙之云者。有獨覺其妙之趣。不可以言語示人。此其信為最真。故名信心住。溈山謂仰山曰。汝須獨自迴光返照。別人不知汝解處。汝試將實解獻老僧看。仰曰。若教某甲自看。到這裡。無圓位。亦無一物一解得獻和尚。溈曰。無圓位處。是汝作解處。未離心境在。仰曰。既無圓位。何處有法。把無物作境。溈曰。適來是汝作與麼解是否。仰曰是。溈曰。若恁麼。是具足心境法。未脫我所心在。元來有解獻我。許汝信位顯。人位隱在。後仰山問雙峰。師弟近日見處如何。曰據某見處。實無一法可當情。仰曰。汝解猶在境。曰某祗如此。師兄又如何。仰曰。汝豈不知無一法可當情者。溈山聞曰。寂子一句。疑殺天下人。如此勘驗。如此縷析。方知從真妙圓。重發真妙。其真信處。與解路迥然懸隔。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ngay giữa lần vào, chẳng nghiêng về Không, chẳng nghiêng về Giả, đó là Trung Đạo Diệu Quán vậy. Vừa mới vào Quán, Tam Đế viên dung, như ba điểm của chữ Y ( 伊 ) nên gọi là Viên Diệu, đây là chỗ sức người có thể làm. Nơi Quán đã thành, theo cái Chân phát ra Diệu, khế hợp với lý Viên, nên gọi là Diệu Viên, đây là chỗ sức người không thể đáp ứng nổi.

Trung Đạo thì y nơi Chân, Diệu thì có cái chẳng phải do Chân. Từ Chân phát ra Diệu thì Diệu đó là Chân Diệu. Diệu mà chẳng phải do Chân nên chẳng thể Thường. Trung Đạo thuần Chân nên Diệu ấy thường trụ. Cái Diệu đã thường trụ thì hết thảy vọng tưởng không còn đất để chân vậy. Cái gọi là Diệu ấy chỉ riêng người ấy rõ biết ý thú của Diệu này, không thể dùng lời nói chỉ bày cho người được. Đức tin này rất chân thật nên gọi là Tín Tâm Trụ.

Tổ Quy Sơn nói với Ngài Ngưỡng Sơn : “Ông nên riêng tự hồi quang phản chiếu, người khác không biết chỗ tri giải của ông. Ông thử đem cái kiến giải chân thật trình lão tăng xem !”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Như dạy con tự xem thì vào trong ấy không có viên vị, cũng không có một vật, một giải nào để trình Hòa Thượng”.

Tổ Quy nói : “Chỗ không có viên vị là chỗ kiến giải của ông thì chưa rời tâm, cảnh”.

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Đã không viên vị, chỗ nào có pháp ? Lấy không vật làm cảnh”

Tổ Quy nói : “Vừa rồi, chính ông có kiến giải ấy, phải không ?”

Ngài Ngưỡng đáp : “Dạ, phải”.

Tổ Quy nói : “Nếu như thế thì đầy đủ tâm, cảnh lẫn pháp, chưa thoát khỏi tâm Ngã-Sở. Nguyên vì có kiến giải trình tôi. Cho ông rõ được Tín Vị, còn Nhân Vị thì chưa !”

Về sau, Ngài Ngưỡng Sơn hỏi Ngài Song Phụng : “Sư đệ, gần đây chỗ thấy thế nào ?”

Đáp rằng : “Theo chỗ thấy của tôi, thật không có một pháp để lưu tình”.

Ngài Ngưỡng nói : “Kiến giải của ông còn ở trong Cảnh”.

Đáp rằng : “Tôi chỉ như vậy. Sư huynh thì sao ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Ông há chẳng biết “Không có một pháp để lưu tình” ư ?”

Tổ Quy Sơn nghe được, nói : “Một câu của Huệ Tịch e giết hết người trong thiên hạ”.

Xét nghiệm như vậy, chẻ bửa như vậy mới biết “Theo Tánh Chân Thật, Diệu Viên càng phát ra Chân Diệu”.

 Cái chỗ Chân Tín cách nhau xa hẳn với con đường tri giải vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 07:13:10 AM »

(tiếp theo)

真信明了。一切圓通。陰處界三。不能為礙。如是乃至過去未來無數劫中。捨身受身。一切習氣。皆現在前。是善男子。皆能憶念。得無遺忘。名念心住。


Kinh : “Chân Tín sáng rõ, hết thảy viên thông. Ba thứ Ấm, Xứ, Giới không thể ngăn ngại. Như vậy cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai tất cả tập khí bỏ thân, thọ thân đều hiện ra trước mắt, người thiện nam này đều có thể nhớ tưởng không quên mất, gọi là Niệm Tâm Trụ.

通曰。此十信中宿命通也。前禁戒成就。六根清淨。不須天眼。觀見十方。宿命清淨。得無艱險。亦有出礙之漸。此兼過去未來無數劫中。皆能憶念。則明了圓通。此真信中發起。性無不圓。故通無不徹。此已證真。非相似位可比。不能證真。則陰處界為之礙。故不能通。今執心虛明。根境不偶。久之則真妙獨露。超出根境之上。故過去捨身。將來受身。一切習氣思惑所結。朗然在前。故得無遺忘也。念心原屬生滅。今以真信持之。而念亦住。即念即真。將融真妄而一之矣。宿命通。自阿羅漢以逮非非想諸外道。前後通知八萬劫。而無數劫。即所謂阿僧祇劫也。非佛種不證。此土能知過去者。往往有之。能知未來者。指不多屈也。牛頭山慧忠禪師。聞威禪師出世。乃往謁之。威才見曰。山主來也。忠感悟。遂給侍左右。後辭詣諸方巡禮。威於具戒院。見凌霄藤遇夏萎悴。人欲伐之。因謂之勿翦。慧忠還時。此藤更生。及忠回。果如其言。遂以山門付之。又靈樹二十年不請首座。常云。我首座生也。我首座牧牛也。我首座行腳也。一日令擊鐘。三門外接首座。眾出迓。云門果至。直請入首座寮。解包後。遺書劉主云。堂中首座。人天眼目。劉遂請云門開堂。此二尊宿。可謂得念心住者。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Niệm Tâm Trụ ở trong Thập Tín này là Túc Mạng Thông. Trước có nói “Cấm Giới thành tựu, sáu Căn thanh tịnh không cần Thiên Nhãn, xem thấy mười phương túc mạng thanh tịnh, được không khó khăn nguy hiểm, cũng lần lần ra khỏi ngăn ngại”

 Ở đây, cả quá khứ, vị lai trong vô số kiếp đều có thể tưởng nhớ, ắt viên thông sáng rõ. Đây là trong Chân Tín phát khởi, Tánh Không đâu chẳng toàn khắp, nên suốt thông không đâu chẳng thấu đến. Đây là đã chứng Chân nên địa vị “Tương Tự” chẳng thể sánh được. Không chứng Chân thì Ấm, Xứ, Giới làm ngăn ngại, nên không thể thông suốt.

Nay nắm giữ cái tâm rỗng sáng; căn, cảnh chẳng dính nhau, lâu ngày thì Chân Diệu một mình bày lộ, siêu vượt lên căn, cảnh. Do đó, tất cả tập khí do Tư Hoặc kết thành như quá khứ bỏ thân, vị lai thọ thân đều rõ ràng trước mắt, mà không quên mất.

Cái Niệm Tâm vốn thuộc sanh diệt, nay lấy Chân Tín mà nắm giữ nó thì niệm cũng an trụ, tức niệm tức Chân, lấy Chân, Vọng dung nhau thành một. Túc Mạng Thông từ bậc A La Hán cho đến cõi Phi Phi Tưởng, các ngoại đạo thì biết trước sau đến tám vạn kiếp. Nhưng vô số kiếp tức là A Tăng Kỳ kiếp thì ngoài Phật không ai chứng được. Xứ này, người biết quá khứ thì cũng đã có, còn người biết vị lai thì không nhiều.

Thiền sư Huệ Trung ở núi Ngưu Đầu nghe thiền sư Uy ra đời bèn đến thăm.

Thiền sư Uy vừa thấy, nói rằng : “Sơn chủ đến vậy”.

Ngài Huệ Trung cảm ngộ, ở lại hầu hạ.

Sau này, Huệ Trung xin đi các nơi tham học.

Một hôm, thiền sư Uy thấy cây Lăng Tiêu nơi Viện Cụ Giới gặp mùa Hạ nên héo úa. Có người muốn chặt đi, Ngài bảo : “Đừng chặt, khi Huệ Trung về, nó sẽ sống lại !”

Sau, Ngài Huệ Trung trở về, quả như lời nói, bèn giao Sơn Môn cho Huệ Trung.

Lại như Ngài Linh Thọ, suốt hai mươi năm không có Thủ Tòa. Ngài thường nói : “Thủ Tòa của ta đã sanh rồi ! Thủ Tòa của ta đang chăn trâu ! Thủ Tòa của ta đang hành cước !”

Một hôm, bảo đánh chuông, ra ngoài tam môn tiếp đón vị Thủ Tòa. Đại chúng ra đón thì quả là Ngài Vân Môn đến, bèn mời thẳng vào liêu Thủ Tòa.

Mở gói hành lý xong, trình thơ cho Tổ Linh Thọ, viết rằng : “Đây là vị Thủ Tòa trong chùa, con mắt của trời, người”.
Ngài bèn mời Tổ Vân Môn khai đường.

Hai vị tôn túc trên, có thể nói là đắc Niệm Tâm Trụ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 07:15:18 AM »

(tiếp theo)

妙圓純真。真精發化。無始習氣。通一精明。唯以精明進趣真淨。名精進心。


Kinh : “Diệu Viên thuần Chân, Chân Tinh phát hóa ra, các tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh. Chỉ nhân Tinh Minh ấy tiến đến chỗ Chân Tịnh, gọi là Tinh Tiến Tâm.

通曰。從真信流入。故能憶念。從純真流入。故得精明。真能化妄。真精發化。不可思議。故無始習氣。化為精明。前云習氣現前。至此化為無上知覺矣。淨與染對。未為真淨。不垢不淨。始為真淨。以此精明。進趣真淨。將欲並其通一精明之跡而俱化之也。此化不可為。其進不亦精乎。僧問黃檗。何者是精進。檗云。身心不起。是名第一牢強精進。才起心向外求者。名為歌利王愛遊獵去。心不外游。即是忍辱仙人。身心俱無。即是佛道。法句經云。若起精進心。是妄非精進。若能心不妄。是名真精進。天台智者。在南嶽誦法華。至藥王品云。是真精進。是名真法供養如來。於是悟法華三昧。獲旋陀羅尼。見靈山一會儼然未散。可謂無始習氣通一精明矣。是必進於身心俱無。乃名真淨。若離真淨而別求精進者妄也。


*Giải nghĩa rộng ra:- 

Từ Chân Tín lần vào nên có thể tưởng nhớ.

Từ Thuần Chân lần vào nên được cái Tinh Minh. Chân hay chuyển hóa cái Vọng thì Chân Tinh phát hóa là không thể nghĩ bàn, nên tập khí từ vô thủy hóa thành Tinh Minh.

Ở trước nói “Tập khí hiện tiền”, đến đây hóa thành Tri Giác Vô Thượng vậy. Tịnh mà đối với nhiễm thì chưa là Chân Tịnh. Chẳng dơ, chẳng sạch mới là Chân Tịnh.

 Nhân dùng cái Tinh Minh này tiến đến Chân Tịnh, ấy là muốn dẹp bằng dấu vết của cái “Thông thành một Tinh Minh” mà đều chuyển hóa hết vậy.

Sự chuyển hóa này chẳng thể làm được thì sự Tiến cũng chẳng Tinh vậy.

Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Thế nào là Tinh Tiến?”

Tổ Bá nói : “Thân tâm chẳng khởi, đó là Tinh Tiến mạnh mẽ đệ nhất. Vừa khởi Tâm hướng ngoài tìm cầu thì gọi là “Vua Ca Lợi ưa đi săn bắn”. Tâm chẳng đi rong ở ngoài tức là “Tiên nhơn nhẫn nhục”. Thân tâm đều không, đó là Phật đạo”.

Kinh Pháp Cú nói : “Nếu khởi tâm Tinh Tiến, đó là vọng chứ chẳng phải Tinh Tiến. Nếu Tâm thường chẳng vọng, đó là Chân Tinh Tiến”.

Ngài Thiên Thai Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa ở núi Nam Nhạc đến chỗ phẩm Dược Vương : “Đó là Chân Tinh Tiến, đó gọi là Chân Pháp cúng dường Như Lai”, ngay đó ngộ nhập Pháp Hoa Tam Muội, được gọi là Toàn Đà La Ni, thấy Pháp Hội Linh Sơn rõ ràng chưa tan.

Đây có thể nói là tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh vậy.

Hẳn là tiến đến chỗ thân tâm đều Không, mới gọi là Chân Tịnh. Lìa ngoài Chân Tịnh mà riêng cầu chuyện tinh tiến đó là vọng vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 07:18:47 AM »

(tiếp theo)

心精現前。純以智慧。名慧心住。

Kinh : “Tâm Tinh hiện tiền, thuần dùng Trí Huệ, gọi là Huệ Tâm Trụ.



通曰。前干慧地。何以不名慧心住也。前云執心虛明。尚有執在。此云心精現前。則其執化矣。前云純是智慧。猶帶是在。此云純以智慧。則在在慧用。並忘其是矣。此非精明瑩徹。靈光顯現。未易語此。始而曰有其慧。至是有而且住。更進一步矣。宗門中純以慧用。唯臨濟一人。罕遇其匹。嘗云。山僧此間。作三種根器斷。如中下根器來。我便奪其境。而不除其法。或中上根器來。我便境法俱奪。如上上根器來。我便境法人俱奪。如有出格見解人來。山僧此間。便全體作用。不歷根器。大德。到這裡。學人著力處不通風。石火電光。即過了也。學人若眼定動。即沒交涉。擬心即差。動念即乖。有人解者。不離目前。大德。你擔缽囊屎擔子傍家走。求佛求法。即今與麼馳求底。你還識渠麼。活潑潑地。祗是勿根株。擁不聚。撥不散。求著即轉遠。不求還在目前。靈音囑耳。若人不信。徒勞百年。嗟嗟。若信得活潑潑地。去慧心住不遠矣。

*Giải nghĩa rộng ra:- 

Càn Huệ Địa ở trước sao không gọi là Huệ Tâm Trụ ? Trước nói : “Nắm giữ Tâm rỗng sáng”, là còn có nắm giữ vậy.

Đây nói : “Tâm Tinh hiện tiền”, tức là cái nắm giữ đã chuyển hóa rồi vậy.

Trước nói : “Thuần là Trí Huệ”, tức còn mang lấy cái “Là”.

Đây nói : “Thuần dùng Trí Huệ”, tức đâu đâu cũng là cái dùng của Trí Huệ, đều mất cái Là vậy.

Chỗ này nếu chẳng phải Tinh Minh rõ suốt, linh quang hiển hiện thì chưa dễ nói ra được. Ban đầu thì nói có cái Trí Huệ ấy. Đến chỗ thuần là Trí Huệ thì có mà an trụ rồi, lại tiến thêm một bước.

Trong thiền môn thuần dùng Trí Huệ, duy chỉ có một tay Lâm Tế thật khó gặp một người thứ hai.

 Ngài thường nói : “Sơn tăng chốn này đoán định ba thứ Căn Khí :

- như hàng căn khí trung hạ đến, ta bèn đoạt Cảnh nó mà chẳng trừ Pháp nó.

-Nếu là hàng căn khí trung thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp đều đoạt.

-Như có người căn khí thượng thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp, Người đều đoạt.

-Như có người kiến giải xuất cách đến thì sơn tăng chốn đây bèn toàn thể tác dụng, chẳng cần Căn Khí.

 Các Đại Đức, đến trong ấy mà chỗ nỗ lực của học nhơn chẳng thông rõ phong đại, lửa đá, chớp xẹt tức qua liền vậy.

Người học mà con mắt định nếu động, liền mất giao thiệp. Tâm nghĩ tức sai, động niệm tức trái ! Có người nào rõ biết, chẳng lìa trước mắt. Các Đại Đức, các ông mang bát phẩn, vác con chạy nhà người, cầu Phật, cầu Pháp tức nay cùng cái gì chạy tìm thế ?

Các ông chẳng biết nó chăng ? Sống sờ sờ ra đó, chỉ cái chẳng bám níu. Ôm lấy chẳng tụ, vứt đi chẳng tan. Tìm cầu liền mất xa, không cầu là trước mắt”.


Linh âm phó chúc bên tai, như chẳng có tin uổng nhọc trăm năm lần lữa. Như tin được “Sống sờ sờ ra đó” thì với Huệ Tâm Trụ đâu có xa !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 07:22:17 AM »

(tiếp theo)

執持智明。周遍寂湛。寂妙常凝。名定心住。

Kinh : “Nắm giữ Trí sáng, lặng trong cùng khắp, lặng lẽ nhiệm mầu thường lắng đọng, gọi là Định Tâm Trụ.


通曰。既純以智慧。而慧心常住矣。何更用執持也。執持云者。忘機泯智之意。智慧常用。用則應物。便於湛寂之體。不得總持。今收斂光華。持而不用。如臨濟云。吹毛用了急須磨。則於妙湛得總持矣。總持不動。則常凝矣。夫寂湛之性。清淨本然。周遍法界。本無搖動。寂而非寂。與靜沉死水不同。故曰寂妙。此定心住。即定之時慧在定。與人力修持。先定後慧。先慧後定之說。了不相干也。智隍初參五祖。庵居長座。積二十年。玄策往訪之。問云。汝在此作什麼。曰入定。策曰。汝云入定。為有心入耶。無心入耶。若無心入者。一切無情草木瓦石。應合得定。若有心入者。一切有情含識之流。亦應得定。隍曰。我正入定時不見有有無之心。策曰。不見有有無之心。即是常定。何有出入。若有出入。即非大定。隍無對。良久問曰。師嗣誰。策曰。吾師六祖。隍曰。六祖以何為禪定。策曰。我師所說。妙湛圓寂。體用如如。五陰本空。六塵非有。不出不入。不定不亂。禪性無住。離住禪寂。禪性無生。離生禪想。心如虛空。亦無虛空之量。隍聞是說。徑走謁六祖。具述前語。六祖云。誠如所言。汝但心如虛空。不著空見。應用無礙。動靜無心。凡聖情忘。能所俱泯。性相如如無不定時也。隍於是大悟。二十年所得心。都無影響。其夜河北土庶。聞空中有聲云。隍禪師今日得道。隍復歸河北。開化四眾。又僧問白鹿山顯端禪師。凝然湛寂時如何。端曰。不是阇黎安身立命處。曰如何是學人安身立命處。端曰。云有出山勢。水無投澗聲。於是會得。常寂寂。不離常惺惺。足知定慧不二法門矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đã thuần dùng Trí Huệ thì Huệ Tâm thường trụ, sao lại còn dùng sự nắm giữ ? Nói nắm giữ ý là quên cơ bỏ trí. Trí Huệ thường dùng, dùng tức ứng vật, bèn ở trong thể lặng trong chẳng được Tổng Trì. Nay gom lại ánh sáng rực rỡ, giữ mà chẳng dùng.

Như Tổ Lâm Tế nói : “Kiếm xuy mao dùng xong cần mài ngay !”, tức là trong Tánh Diệu Trạm được Tổng Trì vậy.

Tổng Trì tánh chẳng động thì thường lắng đọng. Phàm, tánh lặng trong, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới, vốn không động lay, lặng mà chẳng phải lặng, chẳng đồng với tĩnh-chết, nước đọng, nên gọi là Tịch Diệu.

Cái Định Tâm Trụ này là “Khi Định thì Huệ ở tại Định”, hoàn toàn chẳng liên can gì với cái thuyết “Trước Định sau Huệ, trước Huệ sau Định” do sức người tu trì.

Ngài Trí Hoàng ban đầu ra mắt Ngũ Tổ, sau đó ở trong am ngồi thiền suốt hai mươi năm.

Ngài Huyền Sách, đệ tử của Lục Tổ, đến thăm, hỏi rằng : “Ông ở đây làm gì vậy ?”

Đáp : “Nhập định”.

Ngài Sách nói : “Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay không có tâm nhập ? Nếu không tâm nhập thì tất cả vô tình cỏ cây, ngói đá cũng là đắc định. Nếu có tâm nhập thì tất cả hữu tình các loài hàm thức cũng đều đắc định”.

Ngài Hoàng nói : “Chính khi tôi nhập định chẳng thấy có tâm “Có-Không”.

Huyền Sách nói : “Chẳng thấy có cái tâm Có-Không, đó là thường định, nào có xuất nhập ! Nếu có xuất, có nhập ắt chẳng phải là Đại Định”.

Trí Hoàng không đáp được.

Giây lâu hỏi rằng : “Thầy ông là ai ?”

Ngài Sách đáp : “Thầy tôi là Lục Tổ”.

Trí Hoàng hỏi : “Ngài Lục Tổ lấy gì làm thiền định ?”

Huyền Sách đáp : “Thầy tôi nói rằng : “Cái Diệu Trạm Viên Tịch, thể dụng như như. Năm Ấm vốn Không, sáu Trần chẳng có. Chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn. Tánh thiền không trụ, lìa trụ thiền tịch. Tánh thiền vô sanh, lìa sanh thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng không có cái lượng hư không””.

Ngài Trí Hoàng nghe nói vậy, bèn đến ra mắt Lục Tổ, kể lại hết sự việc.

Lục Tổ nói : “Quả đúng như vậy. Ông chỉ Tâm như hư không, chẳng giữ không kiến, ứng dụng không ngại, động tĩnh vô tâm, tình phàm Thánh mất, Năng Sở đều tiêu. Tánh Tướng như như, không lúc nào mà chẳng là Định”.

Trí Hoàng ngay đó đại ngộ, cái tâm sở đắc trong hai mươi năm trọn chẳng có ảnh hưởng gì. Đêm ấy ở Hà Bắc  -(ct) Chỗ ở của Ngài Trí Hoàng. ), quan dân nghe trên không có tiếng nói “Hoàng Thiền Sư ngày nay đắc Đạo !”

Ngài trở về Hà Bắc khai hóa cho bốn chúng.

Lại có vị tăng hỏi thiền sư Hiển Đoan : “Lắng đọng lặng trong thì như thế nào ?”

Tổ Đoan nói : “Chẳng phải là chỗ an thân lập mạng của thầy Xà Lê”.

Hỏi : “Như sao là chỗ an thân lập mạng của học nhân này ?”

Đáp : “Mây có thế ra núi, nuớc không tiếng vào khe”.

Ngay đây hiểu được thì hằng vắng lặng mà chẳng lìa hằng tỏ soi. Đủ biết Định Huệ là pháp môn không hai vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 07:24:49 AM »

(tiếp theo)

定光發明。明性深入。唯進無退。名不退心。


Kinh : “Ánh sáng của Định phát ra vào sâu tánh sáng, chỉ có tiến chớ không lui, gọi là Bất Thối Tâm.

通曰。由慧入定。其定也正。由定發明。其明也深。明不由定力生者。疏淺無根。不能深入。今定慧交資。明性益徹。何微不燭。何奧不窮。故能尋向上去。進進不已。有進無退。正以見其明之深也。若稍不明。便有退意。此不退位。由無始無明淘汰幾盡。無能搖惑。故不生退屈耳。乾峰上堂。法身有三種病。二種光。須是一一透得。始解歸家穩坐。須知更有向上一竅在。云門出問。庵內人為甚麼不知庵外事。峰呵呵大笑。門曰。猶是學人疑處。峰曰。子是甚麼心行。門曰。也要和尚相委悉。峰曰。直須與麼。始解穩坐地。門應喏喏。天童拈云。坐著病在膏肓。用著光不透脫。直饒縱橫十字。圓轉一機。也未知有向上一竅在。還得穩坐地麼。到頭霜夜月。任運落前溪。云門故是門內人。不復辨門外事。所以得穩坐地。若未到云門分劑。須向乾峰話頭。咬嚼一番。方解不退心真脈路。


*Giải nghĩa rộng ra:-

 Do Huệ vào Định, Định ấy chân chánh.

 Do Định phát sáng, cái sáng đó thâm sâu.

 Cái sáng không do định lực sanh thì nông cạn, không có gốc nên chẳng thể vào sâu.

 Nay Định Huệ giúp nhau nên tánh sáng càng thấu suốt, có chỗ nhỏ nhiệm nào mà chẳng soi, có chỗ mật nhiệm nào mà chẳng tột, cho nên có thể tìm đường hướng thượng.

Tiến tới không thôi, chỉ có tiến không có lui, đủ để thấy ánh sáng ấy là sâu xa vậy. Nếu có chút chẳng sáng thì phải có ý thối lui. Địa vị chẳng thối này do Vô Minh từ vô thủy bị đào thải gần hết, không thể bị chao động lầm lạc, cho nên chẳng thể lui sụt vậy.


Ngài Càn Phong thượng đường rằng : “Pháp Thân có ba loại bệnh, hai loại ánh sáng. Mỗi mỗi cần phải thấy suốt mới hiểu việc về nhà ngồi yên. Cần biết lại còn có hướng thượng nhất khiếu nữa”.

Ngài Vân Môn bước ra hỏi : “Người trong am cớ sao không biết chuyện ngoài am ?”

Tổ Phong ha hả cười lớn.

Vân Môn thưa : “Đó cũng là chỗ nghi của kẻ học nhơn này.”

Tổ Phong nói : “Ông là cái tâm hạnh nào đó ?”

Vân Môn nói : “Cũng xin Hòa Thượng giải quyết cho”.

Tổ Phong nói : “Ngay đây cần cái gì thêm nữa mới hiểu chỗ ngồi yên ?”

Ngài Vân Môn cất tiếng : “Dạ, dạ”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng :

“Ngồi kẹt, bệnh hết thuốc chữa. Dùng kẹt, ánh sáng chẳng thấu thoát. Dầu cho tung hoành ngang dọc, toàn chuyển nhất-cơ cũng là chưa biết còn một cái Hướng thượng nhất khiếu. Còn được cái địa vị ngồi yên đấy chăng ? Rốt cùng, sương trăng tối, mặc nhiên rớt đầu khe”.

Vân Môn thật là người trong cửa, còn chẳng biết việc ngoài cửa bởi vì đắc “Địa vị ngồi yên”. Nếu chưa đến chỗ phần hạn của Vân Môn thì phải hướng về câu nói của Tổ Càn Phong nhai nhấm một phen mới rõ đường mạch chân thật của Bất Thối Tâm.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 09:15:10 PM »

(tiếp theo)

心進安然。保持不失。十方如來。氣分交接。名護法心。


Kinh : “Tâm an nhiên tiến tới, giữ gìn chẳng mất, giao tiếp với khí phần của mười phương Như Lai, gọi là Hộ Pháp Tâm.

通曰。定慧雙融。入不生滅。心無其心。進無所進。一念相應。非有造作。故曰安然。未至於安。猶假矜持。既至於安。則保持不失矣。所云不失者何物。保持者何事。此諸佛命脈。洞貫十方。吾今已得總持。則諸佛之命脈在我。精神可以相通。氣分自然交接。我之氣分交於佛。是我護如來之法也。佛之氣分交於我。是佛護我之法也。至此則三界思盡。即六根清淨之正位也。對大品。當佛地。故曰諸佛所護念。昔六祖浣衣石上。忽有一僧來禮拜云。方辨是西蜀人。昨於南天竺國見達麼大師。囑方辨速往唐土。吾傳大迦葉正法眼藏。及僧伽梨。見傳六代於韶州曹溪。汝去瞻禮。方辨遠來。願見我師傳來衣缽。祖乃出示。此氣分交接之一驗也。風穴初到黃龍。龍問石角穿云路。垂條意若何。穴曰。紅霞籠玉像。擁障照州原。龍云。相隨來也。穴曰。和尚低聲。投子頌曰。無價明珠暗處懸。夜深將把木人穿。誰知卻被泥牛見。吞入紅霞碧浪淵。作家相見。未嘗不以珍重護持相勉旃。此亦可見彼此護法之心矣。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Định Huệ dung nhau vào bất sanh diệt. Tâm mà không cái tâm, tiến mà không chỗ tiến. Một niệm tương ưng, không có tạo tác nên nói là an nhiên. Chưa đến chỗ an thì còn mượn sự nỗ lực gìn giữ. Đã đến chỗ an thì gìn giữ chẳng mất vậy.

Nói rằng chẳng mất là chẳng mất vật gì ? Giữ gìn là giữ gìn việc gì ?

Đây là mạng mạch của Chư Phật, xuyên suốt mười phương.

Nay ta đã được Tổng Trì, ắt mạng mạch của Chư Phật là ở ta, tinh thần có thể thông nhau, khí phần tự nhiên giao tiếp. Khí phần của ta giao tiếp với Phật, đó là ta hộ trì Chánh Pháp của Như Lai.

Khí phần của Phật giao tiếp với ta, đó là Phật hộ trì Chánh Pháp của ta. Đến chỗ này thì Tư Hoặc về ba cõi hết sạch, ấy là Chánh vị của sáu Căn thanh tịnh vậy. So với Đại Phẩm là tương đương với Phật Địa, nên nói là “Chỗ hộ niệm của Chư Phật”.

Xưa, Đức Lục Tổ giặt áo trên tảng đá bỗng có một nhà sư đến lễ bái, bạch rằng : “Tên là Phương Biện, người xứ Tây Thục, mới rồi ở Nam Ấn mộng thấy Tổ Sư Đạt Ma phú chúc rằng “Phương Biện hãy qua ngay Trung Thổ, ta truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng từ Đại Ca Diếp và y Tăng-Già-Lê nay đã đến đời Thứ Sáu ở Thiều Châu Tào Khê, ông đến đó mà chiêm lễ”. Phương Biện này từ xa đến mong được thấy y bát của Tổ Sư truyền lại”.

Lục Tổ bèn đưa cho xem.

Đây là một chứng nghiệm về khí phần giao tiếp.

Ngài Phong Huyệt ban đầu đến Tổ Hoàng Long.

Tổ Long hỏi : “Sừng đá xuyên đường mây, ý nghĩa ấy thế nào ?”

Ngài Huyệt đáp : “Ráng hồng lồng tượng ngọc. Ngăn che chiếu đầu sông”.

Tổ Long nói : “Theo nhau đến vậy”.

Ngài Huyệt nói : “Hòa Thượng nói nho nhỏ !”

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Chỗ tối châu ngời vô giá treo
Đêm khuya định nắm mộc nhân  -(ct) Người gỗ. ) xeo
Ai ngờ lại bị trâu bùn thấy
Nuốt trọn ráng hồng sóng biếc theo”.

Nhà nghề gặp nhau thì chưa từng chẳng lấy sự hộ trì trân trọng mà khuyên gắng. Chỗ này cũng có thể thấy tâm hộ pháp của chư vị vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Tư 07, 2011, 09:17:35 PM »

(tiếp theo)

覺明保持。能以妙力回佛慈光。向佛安住。猶如雙鏡。光明相對。其中妙影。重重相入。名回向心。


Kinh : “Giữ gìn tâm giác sáng có thể dùng diệu lực xoay Từ Quang của Phật lại nơi mình và hướng về Phật mà an trụ, như hai tấm gương ánh sáng đối nhau, trong ấy các bóng nhiệm mầu trùng trùng tương nhập, gọi là Hồi Hướng Tâm.

通曰。回佛慈光回果而向因也。向佛安住。回因而向果也。果因一契。光相交入。此其妙難以言宣也。唯有妙力。不涉功勛。光因慈顯。不須方便。住與佛同。更無階級。本覺始覺。兩覺互融。譬如雙鏡光明相對。有此妙力。方有此妙影。覺明保持。無復妄覺。則明為妙明矣。妙明明妙。一即一切。一切即一。妙影重重。相為涉入。非復前塵法塵之影。故曰妙影。此其影將渾融於光。光亦將渾融於影。依稀一大圓鏡智矣。回佛之智。為我之智。回我之智。向佛之智。心心相照。幾與佛同。豈但氣分交接而已哉。溈山一日索門人呈語。乃曰聲色外與吾相見。仰山凡三度呈語。曰如兩面鏡相照於中無像。溈曰。此語正也。我是你不是。早立像了也。仰山卻問溈山。某精神昏昧。有拙祗對。未審和尚於百丈師翁處作麼生呈語。溈曰。我於百丈先師處呈語。如百千明鏡鑑像。光影相照。塵塵剎剎。各不相借。仰山於是禮謝。二尊宿善說楞嚴。一如雙鏡光明相對。一如妙影重重相入。合之而語意始足。雪峰上堂。要會此事。猶如古鏡當台。胡來胡現。漢來漢現。玄沙出眾曰。忽遇明鏡來時如何。峰曰。胡漢俱隱。沙曰。老和尚腳根尚未點地在。知玄沙不肯雪峰。則知仰山禮謝溈山處矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Xoay Từ Quang của Phật lại là xoay Quả mà hướng về Nhân vậy. Hướng về Phật mà an trụ là xoay Nhân mà hướng về Quả vậy. Quả, Nhân một niệm khế hợp thì ánh sáng giao nhau, nhập vào nhau, chỗ nhiệm mầu này khó dùng lời lẽ tỏ bày.

Chỉ có cái diệu lực chứ chẳng liên quan đến công phu. Ánh sáng nhân tâm Từ mà hiển, chẳng cần phương tiện. Chỗ trụ đồng với Phật, nên không còn thứ bậc. Bổn Giác và Thủy Giác hai cái Giác dung hòa lẫn nhau, ví như ánh sáng đối nhau trong hai tấm gương.

 Có cái diệu lực này mới có diệu ảnh này. Giữ gìn tâm Giác sáng, không trở lại cái biết hư vọng thì cái Minh này là Diệu Minh vậy.

Diệu Minh minh diệu, một tức tất cả, tất cả tức một, diệu ảnh trùng trùng dung nhập vào nhau. Nói là diệu ảnh thì chẳng phải ảnh của tiền trần hay pháp trần.

Ở đây, ảnh trộn lẫn trong ánh sáng, ánh sáng cũng hòa lẫn nơi ảnh, tương tự Một Trí Đại Viên Cảnh vậy.

Xoay Trí Phật làm trí mình, xoay trí mình về trí Phật, tâm tâm chế nhau, gần như đồng với Phật há chỉ có khí phần giao tiếp thôi ư !

Tổ Quy Sơn một hôm bảo các học trò trình ra chỗ hiểu biết.

Tổ nói : “Ngoài Thanh-Sắc, cùng ta thấy nhau”.

Ngài Ngưỡng Sơn qua ba lần trình lời đều nói : “Như hai mặt kính soi nhau, trong đó không có hình tượng”.

Tổ Sơn nói : “Lời này chân chánh nhưng ta phải mà ông chẳng phải, vì đã sớm lập hình tượng rồi”.

Ngưỡng Sơn lại hỏi Tổ : “Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về. Chưa rõ Hòa Thượng khi ở với Sư Ông Bách Trượng trình lời ra sao ?”

Tổ Quy Sơn nói : “Khi ở với Tiên Sư Bách Trượng, ta trình lời như vầy : “Như trăm nghìn gương sáng soi hình tượng, bóng sáng chiếu nhau, trần trần, sát sát, mỗi mỗi chẳng mượn nhau””.

Ngài Ngưỡng Sơn liền lễ tạ.

Hai vị tôn túc khéo nói Lăng Nghiêm. Một đằng như hai tấm gương ánh sáng đối nhau. Một đằng như diệu ảnh trùng trùng tương nhập. Hợp lại mà nói, ý nghĩa mới đầy đủ.

Tổ Tuyết Phong thượng đường : “Cần rõ việc này, như gương xưa trên đài, (người) Hồ đến Hồ hiện, Hán đến Hán hiện”.

Ngài Huyền Sa ra khỏi chúng, nói : “Bổng gặp gương sáng đến thì thế nào ?”

Tổ Phong nói : “Hồ, Hán đều ẩn”.

Ngài Huyền Sa nói : “Gót chân lão Hòa Thượng còn chưa chấm đất !”

Biết được vì sao Ngài Huyền Sa không chịu lời Tổ Tuyết Phong thì biết ngay chỗ Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ Tổ Quy Sơn vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 ... 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.196 seconds với 25 câu truy vấn.