Tháng Hai 19, 2018, 11:22:24 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: **LUẬN VỀ PHẬT PHÁP  (Đọc 7615 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Ba 25, 2011, 08:43:40 am »


LUẬN VỀ PHẬT PHÁP

***


01.- ĐỨC PHẬT ĐÃ DẠY CHÚNG TA NHỮNG GÌ?

Cách trả lời hay nhất là trích dẫn những lời Phật dạy:

“Nầy các Tỳ Kheo, Như Lai chỉ dạy về Đau Khổ và cách loại trừ Đau Khổ”.

Dầu câu trả lời nầy có phù hợp với ý  nghĩ của bạn hay không thì cũng nên ghi nhớ lấy. Có nhiều cách trả lời câu hỏi nầy, nhưng câu nói trên của Đức Phật đã tóm gọn một cách rõ ràng những lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật chỉ dạy về Đau Khổ và sự dập tắt Đau Khổ. Do đó, những câu hỏi chẳng liên quan đến Đau Khổ và dập tắt Đau Khổ là những câu hỏi không thích nghi. Các bạn chẳng cần quan tâm đến những câu hỏi như: “Sau khi chết có tái sanh hay không?” hoặc: “Sự tái sanh diễn ra như thế nào?”. Các câu hỏi như thế sẽ chưa cần bàn đến.

Tóm lại, khi được hỏi rằng:

“Đức Phật đã dạy chúng ta những gì?”.

Hãy trả lời:

“Đức Phật chẳng dạy gì ngoài Đau Khổ và cách loại trừ Đau Khổ”.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, byphuong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, Yahoo, nhuocthuy, chonhoadong, quycoctu, SCC, dieunha, Daihongcat, batkhong, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 31, 2011, 06:13:01 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Ba 31, 2011, 06:07:18 am »


02.-ĐỨC PHẬT ĐÃ DẠY ĐẶC BIỆT NHỮNG ĐIỀU GÌ?

A.-Đây là một vấn đề lớn, có thể trả lời bằng nhiều cách. Nếu được hỏi như thế, trước tiên, chúng ta có thể trả lời rằng:

Đức Phật dạy chúng ta đi trên Trung Đạo, đừng quá khổ hạnh mà cũng đừng quá dãi đãi; đừng ngã theo cực đoan nầy cũng chẳng ngã theo cực đoan kia.

 Một mặt, chúng ta tránh quá ép xác khổ hạnh vì như thế sẽ tạo ra nhiều khó khăn và rối rắm; mặt khác hãy tránh xa những phương pháp thực hành khiến cho dục lạc ngũ trần phát sinh.

Cũng như bảo rằng:

“Hãy ăn, hãy uống, hãy vui đùa, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”.

Đây là một câu nói trơ trẽn, chỉ thích hợp với hạng người đắm đuối trong dục lạc thế gian.

Ngược lại với hai thái cực trên, Trung Đạo bao gồm: một mặt, không tạo nên những cực nhọc cho ta; mặt khác không để cho tâm đắm chìm trong dục lạc giác quan.

Đi trên Trung Đạo là tạo cơ duyên và điều kiện thuận lợi cho sự học hỏi và thực hành, đem đến kết quả là chấm dứt Đau Khổ. Chữ Trung Đạo có thể được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Trung Đạo chẳng thể nào đưa bạn đi lạc đường. Trung Đạo tạo phương tiện tốt đẹp để chúng ta thấy rõ được chân lý:biết nhân, biết quả, biết đủ, biết đúng thời, biết mình, biết người, biết cộng đồng. Bảy đức tính cao thượng nầy tạo thành những bước đi trên Trung Đạo.

Đó là một cách trả lời câu hỏi trên.

B.-Chúng ta cũng có thể trả lời câu hỏi nầy bằng cách nói rằng Đức Phật dạy Tự Lực. Một cách ngắn gọn, tự lực là không dựa vào thời vận hay số mạng.

Chúng ta không dựa vào các bậc Trời, ngay cả các bậc thường được gọi là Thượng Đế.

Chúng ta phải tự lực. Hãy nhớ lời Phật dạy: “Ta là nơi nương tựa của Ta”.

Ngay cả trong những tôn giáo hữu thần cũng  nói rằng: “Thượng Đế chỉ cứu giúp những ai biết tự cứu lấy mình”.

Trong các tôn  giáo khác, vấn đề tự cứu hay tự lực có thể được nói đến hoặc ít hoặc nhiều, nhưng trong Phật giáo, vấn đề tự cứu hay tự lực rất quan trọng. Người nào bị phiền muộn, đau khổ chi phối, bị gạt gẫm, đau thân, khổ tâm thì phải biết quay về con đường tự cứu.

Đức Phật dạy: “Chư Phật chỉ đơn thuần chỉ cho ta con đường. Còn việc đi trên con đường ấy, mọi người phải tự cố gắng làm lấy”.

Tóm lại, Đức Phật dạy “tự lực, tự cứu”. Chúng ta hãy ghi nhớ điều nầy.

C.-Một cách khác để trả lời câu hỏi trên là nhắc lại lời Phật dạy: “Mọi sự vật đều bị chi phối bởi Nhân và Duyên (điều kiện). Mọi sự vật nảy sinh tùy thuộc vào nguyên nhân và điều kiện, đúng theo định luật tự nhiên”.

Tôn giả A-Xà-Chí đã lập lại lời dạy nầy để giải đáp cho Tôn giả Xá-Lợi-Phất, lúc Ngài chưa gia  nhập Tăng Đoàn:

“Đức Phật dạy rằng, mọi sự vật khởi lên đều có nguyên nhân; phải biết nguyên nhân của chúng cùng sự chấm dứt nguyên nhân đó”.

Đây là một nguyên lý rất phù hợp với khoa học, và chúng ta có thể nói rằng tất cả những lời dạy của Đức Phật đều phù hợp với nguyên lý của khoa học. Đức Phật không dùng những dữ kiện cá nhân hay chủ quan để làm tiêu chuẩn trong sự dạy dỗ; nói cách khác, Phật giáo là một tôn giáo của lý trí.

D.-Một cách trả lời khác là: Đức Phật dạy những quy tắc thực hành: “tránh làm điều ác, siêng làm việc lành, thanh lọc tâm ý”. Ba điều trên được gọi là Giới Bổn Căn Bản, có nghĩa là “tóm lược những lời khuyên dạy”.

Tránh ác và làm lành là những điều dễ hiểu nhưng giữ tâm trong sạch là điều cần giải thích rõ ràng. Một người cứ nắm giữ và dính mắc, ngay cả dính mắc vào điều lành thì cũng làm cho tâm thức người ấy bất an vì lo sợ không nhận được kết quả lành, lo sợ mất mát  những điều tốt đẹp đang có; âu sầu, phiền muộn, và cho những cảm tính đó  là “của tôi”. Tất cả những điều đó tạo nên đau khổ. Mặc dầu chúng ta có thể thành công trong việc tránh ác và làm lành, nhưng chúng ta vẫn cần phải biết cách làm thế nào để tâm được thanh tịnh.

Đừng nắm giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì, đừng xem cái gì là “ta” hay “của ta”, nếu ngược lại thì sự khốn khó và đau khổ sẽ đè nặng trên vai ta. 

Vậy thì, đừng đội trên đầu một bao ngọc ngà châu báu, vì cũng nặng y như đội một bao sỏi đá vậy.
 
Hãy đặt chúng xuống, đừng để vật nào trên đầu (không nắm giữ việc thiện hoặc ác trong tâm). Đó là ý nghĩa của việc thanh lọc.

Tóm lại, Đức Phật dạy: thứ nhất là tránh làm điều ác, thứ hai là siêng làm những điều lành và thứ ba là thanh lọc tâm.

E.-Và đây là lời dạy quan trọng khác cần được nhắc nhở luôn. Đức Phật dạy rằng: “Các pháp hữu vi, tức là mọi sự vật và mọi chúng sanh trên thế gian đều Vô Thường vì chúng luôn luôn trôi chảy, biến đổi, hoại diệt. Chúng ta phải luôn tỉnh thức”. Hãy thận trọng ghi nhớ lời dạy nầy.

Mọi sự vật trên thế gian đều luôn luôn trôi chảy, biến đổi, hoại diệt, nghĩa là đều Vô Thường. Đừng đùa với chúng! Chúng sẽ cấu xé bạn, sẽ cột trói và giữ chặt bạn. Rồi bạn sẽ ngã quị mà khóc than, và biết đâu …  lại muốn tự tử nữa!

Bây giờ hãy đúc kết lại những cách trả lời về câu hỏi trên. Nếu được hỏi Đức Phật đã dạy những gì, thì ta nên trả lời bằng một trong các câu sau đây:

-   Ngài dạy chúng ta đi trên Trung Đạo;

-   Ngài dạy chúng ta tự lực, tự cứu;

-   Ngài dạy chúng ta hiểu rõ luật Nhân Quả, phải biết tạo nhân như thế nào để được hưởng quả tốt đẹp như ý muốn;

-   Ngài dạy chúng ta nguyên tắc thực hành: làm việc lành, tránh việc ác, thanh lọc tâm ý;

-   Và Ngài nhắc nhở chúng ta rằng: tất cả mọi sự, mọi vật đều vô thường, biến đổi, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Ngoisaobiec, mavuong, Yahoo, nhuocthuy, chonhoadong, byphuong, quycoctu, SCC, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 31, 2011, 06:16:49 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tư 09, 2011, 05:22:32 am »


03.-XIN NÓI MỘT CÁCH VẮN TẮT THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO LÀ GÌ?

Chúng ta có thể trả lời ngắn gọn bằng một câu mà chính Đức Phật đã dạy:

“Không nên bám víu, nắm giữ vào bất cứ điều gì”.

Câu nầy do chính Đức Phật dạy và đã được lưu truyền đến bây giờ. Chúng ta chằng cần phí thời giờ tra cứu Tam Tạng Kinh Điển, vì câu ngắn gọn nầy đã nói lên đầy đủ giáo pháp của Đức Phật:

“Không nên bám giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì?”.

Lời dạy nầy cho chúng ta biết rằng bám víu, nắm giữ là Đau Khổ. Một khi đã hiểu rõ điều đó, thì có thể coi như là ta đã hiểu biết tất cả những lời dạy của Đức Phật, gồm trong bốn vạn tám ngàn pháp môn. Và khi chúng ta thực hành lời dạy nầy tức là chúng ta đã thực hành Phật Pháp một cách đầy đủ và trọn vẹn.

Vì sao một người thất bại trong việc giữ gìn giới cấm?

Chính là vì y đã “bám víu và nắm giữ” vào sự vật. Nếu y biết tự kiềm chế, chẳng bám víu vào bất cứ vật gì, loại bỏ được tham ái và sân hận, thì y chẳng thể nào phạm giới.

Vì sao tâm trí một người lại luôn luôn xao lãng và chẳng thể định tâm?

Là vì y đang dính mắc vào một điều gì. Một người không có được trí tuệ nội quán cũng là do bám víu, dính mắc. Một khi đã biết tập cách buông bỏ, không nắm giữ nữa, liền đó người ấy đạt được các quả vị và cuối cùng thành tựu Niết Bàn.

Đức Phật là bậc hoàn toàn không hề bám víu vào điều gì.

Ngài dạy phương pháp thực hành và kết quả của việc thực hành đó là sự không nắm giữ. Tăng Già bao gồm những người thực hành sự không nắm giữ: một số còn đang thực tập và một số đã hoàn tất.

Vậy, khi được yêu cầu tóm tắt Giáo Pháp của Đức Phật trong một câu ngắn. Đức Phật đáp:

“Không nên bám víu, nắm giữ bất cứ điều gì”.


***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

***

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Ngoisaobiec, Yahoo, nhuocthuy, chonhoadong, byphuong, quycoctu, SCC, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 09, 2011, 05:26:50 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tư 18, 2011, 08:29:57 am »


04.-LÀM THẾ NÀO ĐỂ THỰC HÀNH SỰ KHÔNG BÁM VÍU, NẮM GIỮ?

Nếu nột người hỏi bạn làm thế nào để thực hành việc không bám víu, nắm giữ, thì bạn nên một lần nữa đem câu nói của chính Đức Phật ra mà trả lời, chứ không nên đưa ý kiến riêng của chúng ta. Đức Phật chỉ dẫn cách thực hành thật đầy đủ như sau:

Khi thấy một vật, chỉ đơn thuần là thấy vật ấy.
Khi nghe  một âm thanh, chỉ đơn thuần là nghe âm thanh ấy.
Khi ngửi một mùi gì, chỉ đơn thuần là ngữi mùi ấy.
Khi nếm một vị gì, chỉ đơn thuần là nếm một vị đó.
Khi thân xúc chạm một vật gì, chỉ đơn thuần là sự xúc chạm.
Khi một đối tượng của tâm, chẳng hạn một ý nghĩ bất thiện khởi sinh, hãy nhận biết và ghi nhận ý nghĩ bất thiện ấy”.


Chúng ta hãy nhắc lại lời dạy trên, để giúp cho những bạn nào chưa từng được nghe đến những câu ấy:

Khi thấy, chỉ “biết”: hình thể, màu sắc;

Khi nghe, chỉ “biết”: âm thanh;

Khi ngửi, chỉ “biết”: mùi;

Khi nếm, chỉ “biết”: vị;

Khi thân xúc chạm vật gì, chỉ “biết”: cảm giác;

Và khi một đối tượng trong tâm khởi sinh (hình ảnh, tư tưởng…) chỉ “biết”:  chính đối tượng đó.

Điều nầy có nghĩa là khi sự vật tiếp xúc qua giác quan, chúng ta chỉ “đơn thuần ghi nhận” mà không nên để cho ý nghĩ “tôi, ta” khởi lên. Nếu chúng ta thực hành như thế thì ý niệm về “ta, tôi” không khởi sinh được; và một khi cái ta không có mặt, đau khổ sẽ chấm dứt.

Cần giải thích thêm câu: “Khi thấy một vật gì, chỉ đơn thuần là thấy”. Khi có vật tiếp xúc với mắt, hãy quan sát và nhận diện chúng, để biết cần phải làm gì, nhưng đừng để cho yêu hay ghét khởi sinh. Nếu để cho yêu hiện khởi thì tham muốn sẽ phát sinh, và bạn sẽ nắm giữ nó; nếu để cho ghét nổi lên thì sân hận sẽ phát sinh, và bạn sẽ muốn hủy hoại nó.

Thế là “người thương” hay “người ghét” đã có mặt. Đấy là điều được gọi là “Cái Ta” hay “Tự Ngã”. Vì dính mắc vào cái Ta, cái Tự Ngã nên chúng ta Đau Khổ.

Khi một sự thấy xảy ra, hãy tỉnh giác. Đừng để phiền não lôi cuốn để phải dính mắc. Hãy trao dồi trí tuệ để biết điều gì cần phải làm cho đúng và thích nghi. Nếu thấy không cần phải làm điều gì, thì phải quên ngay điều đó.

Nếu đang chờ đợi một kết quả nào về điều ấy thì cứ tiến hành với Tỉnh Thức, đừng để cho ý tưởng về cái ta có dịp sanh khởi. Bằng cách nầy, bạn sẽ đạt được kết quả mong muốn mà không có sự đau khổ nào xảy ra. Đó là nguyên tắc để thực hành Giáo pháp, đáng được xem là tuyệt hảo.

Đức Phật dạy: “Khi thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm chỉ thuần là thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác;
khi tâm nhận biết một đối tượng chỉ thuần là sự nhận biết".

 Hãy để sự vật ngưng ngay tại đó và trí tuệ quan sát nội tâm sẽ vận hành một cách tự nhiên. Hãy chọn lối đi đúng đắn và thích hợp.

 Đừng tạo thêm “người thương” hay “người ghét”. Đừng để tham ái tác động theo sự yêu ghét, vì đấy là nguồn gốc của phiền não. Một tâm tư như thế sẽ bị náo loạn, chẳng tự do. Tâm ấy hoạt động không có một chút trí tuệ nội quán nào.

Tại sao ta không đề cập tới những công đức đầy thắng quả  như: Giới, Định, Huệ, tạo phước hay bố thí?

 Chúng ta làm phước, bố thí, giữ giới, phát triển định tâm và đạt trí huệ để trở nên một người an định.
Làm phước và bố thí nhằm mục đích để loại bỏ tự ngã. Giữ gìn giới luật là một phương thức để chế ngự cái Ta. Tập trung tâm ý hay phát triển trí huệ cũng để loại trừ chấp ngã.

Chúng ta chẳng bàn đến những vấn đề đó, ở đây chúng ta chỉ nói đến những vấn đề khẩn cấp hằng ngày. Hằng ngày, mắt ta thấy vật nầy, vật nọ, tai ta nghe tiếng nầy, tiếng kia, mũi ta ngửi mùi thơm, mùi hôi, cả sáu giác quan đều có sự tiếp xúc hằng ngày.

Khi tâm ta an ổn, không lay chuyển và quân bình, dầu cho đủ loại sự vật tiếp xúc với chúng ta bằng nhiều cách qua nhiều ngả giác quan khác nhau nhưng tự ngã vẫn không phát sinh được. 
Như thế, chỉ cần thực tập công phu “thấy, chỉ biết thấy; nghe, chỉ biết nghe…” cũng đủ bao trùm mọi công phu thực tập. Đó chính là cốt tủy của sự thực hành Giáo pháp.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Ngoisaobiec, nhuocthuy, chonhoadong, byphuong, quycoctu, SCC, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 07, 2013, 02:37:45 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tư 25, 2011, 03:29:47 am »


05.-NƠI NÀO CHÚNG TA CÓ THỂ TU HỌC ĐƯỢC?

Đức Phật dạy rằng:

“Dùng  ngay chính trong cái thân vật chất nầy, với các tri giác và những hoạt động tâm ý để tu học”.

Hãy học trong tấm thân con người cùng với các tri giác và hoạt động tâm ý.

Tấm thân vật chất nầy, còn đang sống động cùng với các tri giác, các tác động tâm ý; tất cả các phần đó lập thành con người. Sự hiện diện của Thức bao hàm các tri giác và sự hiện diện của các hoạt động tâm ý bao hàm các kiến thức và tư tưởng.

Trong tấm thân vật chất đó cùng với các tri giác và các hoạt động tâm linh, Đức Phật đã cho biết rõ ràng: thế gian, nguồn gốc thế gian, sự tận diệt của thế gian cùng đường lối thực hành để hoàn thành sự tận diệt chính nó.

Khi Ngài nói đến nguồn gốc thế gian, sự hoại diệt của thế gian cùng đường lối thực hành đưa đến sự tiêu diệt hoàn toàn thế gian đó, là Ngài muốn nói rằng: toàn thể Giáo Pháp đều phải tìm thấy trong tấm thân nầy.

Không cần phải đến trường, vào hang động, lên rừng hoang, trèo núi cao, hay vào tu viện. Các nơi đó đều nằm bên ngoài chúng ta. Hãy xây dựng một ngôi trường bên trong, thiết lập một đại học đường ngay trong thân thể nầy rồi hãy nghiên cứu, học tập, sưu tầm, thám thính tìm ra sự thật về sự tạo khởi của thế gian.

Vì đâu thế gian lại là suối nguồn của đau khổ, thế gian có được hủy diệt hoàn toàn chăng? (tức sự hủy diệt của đau khổ) và làm cách nào để tận diệt được nó. Nói cách khác hơn là để diễn đạt ý nầy, đó là hãy tự mình khám phá trở lại Bốn Chân Lý Cao Thượng (Tứ Diệu Đế).

Đôi khi Đức Phật dùng danh từ “thế gian”, đôi khi Ngài dùng danh từ “đau khổ”:

*Bản chất của thế gian hay của sự đau khổ,
*Bản chất sanh khởi của thế gian, của đau khổ và nguồn gốc của thế gian, của đau khổ;
*Bản chất của sự hoàn toàn diệt tận thế gian, của đau khổ;
*Cùng với bản chất của sự tu tập để đi đến chấm dứt thế gian, chấm dứt đau khổ.

Những vấn đề đó cần được tìm tòi và nhận thấy ngay trong tấm thân nầy, chớ chẳng phải ở nơi nào khác. Nếu ai đã tìm thấy các vấn đề trên tại một nơi nào khác, thì đó là những bản tường trình ghi trong sách vở, hoặc là lời đồn đãi hay những danh từ rỗng suông mà thôi chứ không phải là Chân Lý.

Nếu những vấn đề trên đã được tìm thấy ngay trong tấm thân vật chất nầy cùng với tâm ý thì đó mới thật là Chân Lý.

Vậy thì nếu được hỏi:

“Cần phải tu học nơi nào?”

Bạn hãy đáp:

“Chúng ta tu học ngay trong tấm thân vật chất nầy cùng với tri giác và các hoạt động tâm ý”

***

NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, Ngoisaobiec, chonhoadong, byphuong, quycoctu, SCC, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 03, 2011, 09:42:05 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Năm 03, 2011, 09:39:52 am »


06.-GIÁO PHÁP ĐƯỢC SO SÁNH VỚI ĐIỀU GÌ?

Đức Phật dạy:

“Giáo Pháp có thể được so sánh với chiếc bè”.

Đức Phật dùng chữ bè, bởi  vì ngày xưa bè thường được dùng để sang sông, và cách giải thích Giáo Pháp như một chiếc bè như thế rất dễ hiểu. Ví dụ nầy mang một ý nghĩa quan trọng. Chúng ta không nên quá dính mắc vào Giáo Pháp đến nổi quên cả chính mình hoặc hãnh diện cho mình là “ông thầy”, học giả hay bậc tri thức.

Nếu chúng ta quên rằng Giáo Pháp chỉ như một chiếc bè, thì các nguy cơ trên sẽ phát sinh. Giáo Pháp chỉ là một chiếc bè, một phương tiện chuyên chở để đưa ta sang đến bờ bên kia. Khi đã đến bờ bên kia và đặt chân lên đất liền rồi, chúng ta chẳng dại gì mà vác chiếc bè đi theo ta nữa.

Ví dụ đó nhằm mục đích dạy cho chúng ta nhận chân và sử dụng Giáo Pháp như một phương tiện để đạt đến mục đích, chớ không phải để bám víu, nắm giữ, dính mắc vào Giáo Pháp mà quên cả chính mình.

Nếu chúng ta không nhận chân ra được chức năng thật sự của chiếc bè nầy thì chúng ta sẽ giữ nó lại để phô trương hoặc để tranh cãi với kẻ khác. Đôi khi lại còn dùng chiếc bè để… đua thuyền, thật là hao phí và vô dụng.

Chiếc bè phải được sử dụng đúng với mục đích của nó là để đưa ta sang sông. Cũng vậy, kiến thức về Giáo Pháp cần phải được sử dụng để vượt qua biển khổ. Không nên dùng vào các mục đích tai hại như để tranh cãi, hay được dùng như một vật để tôn thờ, lễ bái. Cuối cùng, xin đừng bám chặt vào chiếc bè đến nỗi đã sang bờ bên kia, chân đã đặt trên đất liền rồi mà vẫn còn muốn mang chiếc bè kè kè theo bên mình.

Giáo Pháp được ví như chiếc bè phải được áp dụng cho cả người xuất gia lẫn tại gia.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Ngoisaobiec, chonhoadong, byphuong, chanhnguyen, quycoctu, SCC, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Năm 22, 2011, 09:04:16 am »

07.-NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA CẦN PHẢI TU HỌC NHỮNG GÌ?

Chúng ta đừng mất thời giờ tìm câu trả lời theo ý riêng của mình. Nếu người nào có ý riêng thì cũng tốt thôi. Nhưng nếu muốn có một câu giải đáp phù hợp với lời Phật dạy thì chúng ta phải nói: “Người tại gia cư sĩ phải nghiên cứu tất cả kinh điển, nghĩa là những bài giảng mà Đức Phật đã dạy về “Vô Ngã, Rỗng Vắng, Không Có Tự Thể”.

Trước hết, Kinh là những lời dạy cốt yếu của Đức Phật, được hệ thống hóa, trình bày khéo léo và xếp đặt có thứ tự.

Sự Vô Ngã, Rổng Vắng, Không Có Cốt Lõi có thể dường như xa lạ đối với bạn, nhưng xin đừng vội chán nản, bởi vì đây là những chữ rất quan trọng trong Phật Giáo.

Chữ Rổng Vắng thường có nhiều nghĩa và cách dùng khác nhau. Chữ Rổng Vắng trong Phật Giáo không phải là sự rổng vắng về mặt vật chất. Nó chẳng phải là một khoảng trống không chẳng chứa đựng một chất liệu nào.

Rổng Vắng ở đây có nghĩa là không có một chút bản chất riêng nào.

Mặc dầu có rất nhiều sự vật tràn đầy khắp thế gian nhưng Đức Phật dạy rằng: chúng là rổng không bởi vì không có lấy một chút gì nơi muôn vật đó có cái đáng xem là Tự Ngã, là Ta hay thuộc về Tự Ngã , thuộc về Ta. Lời dạy ấy nhằm mục tiêu chỉ rõ lại một lần nữa chẳng có gì đáng để bám víu, nắm giữ cả.

Khi tâm nhận ra rằng không có gì là Tự Ngã cũng không có gì thuộc về Tự Ngã thì tâm sẽ trở thành Rổng Vắng và Tự Do.

“Thế giới nầy trở thành Rổng Vắng, Tự Do”

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Năm 29, 2011, 07:01:48 am »


08.-THẾ NÀO LÀ PHÁP BẤT TỬ?

Đức Phật đã dạy:

“Sự chấm dứt Tham, Sân, Si chính là Pháp Bất Tử”.

Chừng nào chúng ta còn có Tham, Sân, Si thì còn có sự chết, còn có sự đau khổ. Vì còn Ngã Kiến, còn Tôi, Ta nên ta phải chịu sanh, già, bệnh, chết.

Khi tham, sân, si chấm dứt, ý niệm sai lầm về tự ngã không khởi sinh thì làm gì có cái Ta để chết đi? Do đó, nếu muốn đi tìm một trạng thái bất tử, thì chúng ta phải tìm những nguyên nhân và điều kiện để loại trừ Tham, Sân, Si.

Đó là lời dạy của Đức Phật. Pháp Bất Tử mà chúng ta thường được nghe là những lời dạy thâm sâu trong Phật Giáo, khác với pháp bất tử được các tôn giáo khác nói đến. Bất tử trong Phật Giáo chỉ có nghĩa là chấm dứt tham, sân, si. Trong khi “Bất Tử” được nói đến trong các tôn giáo khác là có một đời sống an vui vĩnh viễn khác hẳn trần thế.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, quycoctu, chanhnguyen, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Sáu 09, 2011, 06:34:22 am »


09.-PHÁP NÀO LÀ PHÁP CAO THƯỢNG VÀ THÂM SÂU NHẤT ĐỂ VƯỢT KHỎI THẾ GIAN VÀ SỰ CHẾT DƯỚI MỌI HÌNH THỨC?

Đức Phật gọi pháp đó “Pháp dẫn đến Vô Ngã” hay chính là Vô Ngã. Pháp đưa đến Vô Ngã là pháp cao thượng nhất và thâm sâu nhất. Pháp ấy vượt cả thế gian, vượt cả sự chết. Pháp ấy ấy không gì khác hơn là Pháp Bất Tử.

Đức Phật nói :

“Một bản kinh, bất cứ thuộc loại nào, thuộc cấp bậc nào, dầu do một thi sĩ hay một nhà hiền triết nào sáng tác, dầu dưới hình thức văn vần, hoa lệ hay âm vận du dương nào, cũng không là Chánh Pháp nếu không có sự liên hệ đến Vô Ngã”.

Xin các bạn hãy nhớ kỹ các chữ quan trọng nầy:

“Nếu không có sự liên hệ đến Vô Ngã”.

Vì thế, nếu một bài kinh nào không liên hệ đến Vô Ngã thì đó là lời nói của một đệ tử về sau, một sự canh tân, một giáo lý mới, chớ không phải là lời nói của Đức Như Lai, và do đó phải được xem là yếu kém hơn.

Nếu lời nói của một vị đệ tử mà không liên hệ đến Vô Ngã thì xem như ở ngoài Giáo Pháp.

Nếu chúng ta muốn tìm thấy Giáo Pháp trung thực với lời dạy nguyên thủy của đức Phật, chẳng có cách nào khác hơn là tìm các bài giảng về Vô Ngã.

***

NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2011, 06:31:29 am »


10.-TRONG KINH TẠNG ĐIỀU GÌ ĐƯỢC ĐỨC PHẬT NHẤN MẠNH NHIỀU NHẤT?

Đức Phật dạy:

“Ngũ Uẩn là Vô Thường và Vô Ngã”.

Ngũ uẩn là năm nhóm tập họp mà gộp chung lại thì thành một cá nhân.

*Phần thân thể vật chất được gọi là Sắc Uẩn;

*nhóm cảm thọ: cả lạc thọ lẫn khổ thọ, được gọi là Thọ Uẩn;

*ký ức và các tri giác gọi chung là Tưởng Uẫn;

*các động tác của tâm được gọi là Hành Uẩn;

*và tâm nhận biết được mọi đối tượng qua các giác quan được gọi là Thức Uẩn.

Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn được gọi là Ngủ Uẩn. Năm uẩn là Vô Thường và Vô Ngã. Đó là điểm giáo lý được Đức Phật nhấn mạnh đến nhiều nhất. Năm uẩn Vô Thường, liên tục trôi chảy, liên tục thay đổi. chúng không có tự ngã vì chúng luôn luôn trôi chảy; không nên cho rằng chúng là Ta, là của Ta.

Tôi xin tóm lược lại lần nữa, xin ghi nhớ kỹ, Đức Phật luôn nhấn mạnh đến điều nầy:

“Tất cả sự vật đều Vô Thường, đừng nên xem chúng là Tôi hay của Tôi”.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 16, 2011, 06:33:23 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Sáu 23, 2011, 06:22:40 am »



11.-ĐỨC PHẬT DẠY CHÚNG TA PHẢI TIN VÀO AI?

Đức Phật đã dạy dỗ cho người Kalama trong kinh Kalama Sutta: chúng ta chỉ tin tưởng điều gì mà chính chúng ta thấy rõ ràng. Cần phải hiểu rõ từ ngữ “thấy rõ ràng” là như thế nào. Thấy rõ ràng có nghĩa là thấy chính xác, rõ ràng mà không cần xuyên qua sự lý luận, suy diễn hay đặt giả thuyết. Trong Phật Giáo, chúng ta được dạy là không nên tin tưởng vào người nào hay điều gì mà trước đó tự mình chưa thấy rõ ràng chính xác.

Chúng ta có thể hiểu biết ý nghĩa trên qua những câu hỏi sau đây:

Tại sao chúng ta được khuyên, được cảnh giác là:

*đừng tin mù quáng vào Tam Tạng Kinh Điển;

*đừng tin vào một vị Thầy nào;

*đừng tin những gì do lý luận hay suy tư, biện giải.

Các nguyên tắc trên giúp chúng ta có sự hiểu biết đúng đắn, bởi vì sự tin tưởng mù quáng là điên rồ khờ dại.

Giả sử chúng ta mở Tam Tạng Kinh Điển đọc vài đoạn rồi tin ngay mà chẳng cần suy nghĩ, thẩm xét, kiểm chứng thì đó là tin tưởng mù quáng. Đức Phật dạy rằng tin tưởng mù quáng vào Tam Tạng Kinh Điển là một sự sai lầm khờ dại lớn lao.

Thế nào gọi là tin tưởng mù quáng vào Thầy dạy? Đó là tin tưởng vào lời dạy của Thầy mà không dùng mắt, dùng tai để kiểm lại đó đúng hay sai.

Cũng vậy, tin tưởng vào những lời đồn đãi cũng là thái độ không khôn ngoan, thiếu trí tuệ.

Tin tưởng xuyên qua lý luận biện giải, có nghĩa là tin tưởng vì đã có học qua  và đã có kinh nghiệm qua sự biện giải phân tích để đi đến một kết luận nào đó là một thái độ nên khuyến khích, tuy nhiên những kiến giải như vậy cũng chưa đủ đúng đắn, chính xác. Không nên đặt tin tưởng vào lối thuần túy như vậy.

Nhưng phải thận trọng sáng suốt để biết rằng bài kinh nầy không cấm ta đọc Tam Tạng Kinh Điển, cũng không phải bảo ta đừng nên học hỏi nơi các bậc Thầy, cũng chẳng bảo ta không cần để ý đến các báo cáo, các lời đồn đãi, hay bảo ta đừng dùng phương pháp luận lý học hỏi tìm hiểu vấn đề.
Bài kinh nầy dạy chúng ta đừng dễ dãi tin ngay vào cái gì ta đọc được, nghe được hay biết được; mà phải: tư duy cặn kẻ, quan sát mọi khía cạnh, thấy rõ ràng và sau cùng là chính chúng ta đã tự chứng nghiêm sự thật là vậy.

Hãy lấy một thí dụ, Đức Phật dạy rằng Tham, Sân, Si là nguyên nhân gây ra đau khổ. Nếu chúng ta không biết thế nào là tham, sân, si thì chúng ta không thể nào tin rằng tham, sân, si là nguyên nhân gây ra đau khổ. Nhưng nếu chính bản thân ta đã kinh nghiệm để biết tham là như thế nào, sân, si ra làm sao, và khi ba điều nầy khởi lên trong tâm như những ngọn lửa thiêu đốt chúng ta, gây ra đau  khổ cho chúng ta. Khi đó chúng ta tin vào lời dạy của Đức Phật một cách chắc chắn, bởi vì ta đã có kinh nghiệm của chính bản thân chúng ta.

Bởi vậy Đức Phật dạy về đức tin như sau: Khi nghe điều gì, chúng ta nên dò xét cho đến khi sáng tỏ điều ấy. Bằng còn chưa thấu suốt được thì nên dùng lý luận để phân tích vấn đề rồi hãy để yên vấn đề một thời gian xem sao.

Như vậy, khởi đầu chúng ta hãy đem những gì mà chúng ta đã tin tưởng mà thực hành để kiểm chứng lại. Dần dần qua sự thực hành, chúng ta sẽ thấy rõ ràng, sẽ tin tưởng hơn, sẽ tiếp tục thực hành nhiều hơn và càng thấy rõ ràng hơn nữa.

Đó là lời Phật dạy. Vậy nếu có người hỏi bạn về lòng tin, hãy nên giải thích cho đúng đắn. Bằng không bạn sẽ giải thích sai lời Phật dạy.

Không tin tưởng vào Tam Tạng Kinh Điển; không tin tưởng vào vị Thầy; không tin lời đồn đãi; không tin vào những gì do lý luận, biện giải. Những điều không nên tin kể trên còn có nhiều nghĩa ẩn tàng, cần phải được tìm hiểu. Nhẹ dạ mà tin ngay là điên rồ.

Đức Phật kết án việc ấy rất nặng. Ngài dạy trước khi đặt niềm tin vào đâu, hãy trắc nghiệm nó cho đến  khi nào thấu suốt được nó rồi mới thật sự tin.

Tin ngay là ngu dại; chỉ tin tưởng sau khi đã thấy rõ ràng mới là thái độ đúng đắn.

 Đó là chủ trương của Phật Giáo về lòng tin: chẳng tin tưởng một cách ngây thơ, không chỉ dựa vào con người, vào sách, vào giả thuyết, lập luận hay bất cứ điều gì mà đa số đều tin theo, nhưng hãy tin vào những gì mà chính chúng ta đã thấy và thân chứng rõ ràng.

Đó là chủ trương của Phật Giáo. Người Phật Tử chúng ta nên theo chủ trương đó.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, byphuong, chanhnguyen, Ngoisaobiec, dieunha, SCC, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Sáu 30, 2011, 02:49:11 am »


12.-TÂM CỦA NGƯỜI THƯỜNG VÀ CỦA PHẬT TỬ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Giờ đây chúng ta sẽ cứu xét sự khác biệt giữa tâm trí của người thường và của người Phật Tử đúng nghĩa.

Người thường ở đây có nghĩa là người chưa thông hiểu và chưa hề tu tập theo đường lối đích thực của Phật Giáo. Một người có thể được gọi là Phật Tử vì có cha mẹ theo đạo Phật, vì theo trong sổ khai sanh hay lý lịch. Nhưng người đó vẫn chỉ là một người thường.

Để trở thành một Phật Tử thật sự, một vị Thánh nhân, tức là một người có trình độ tu tập thâm sâu, thì người đó cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn (chánh kiến) về rất nhiều điều chung quanh mình bằng một trình độ thâm sâu hơn người thường.

Đức Phật có nói:

“Giữa cái nhìn của bậc Thánh và cái nhìn của người thường có một sự khác biệt rất lớn”.

Như thế, dưới mắt của bậc Thánh: ca hát cũng giống như than khóc, khiêu vũ là động tác múa may của người khùng, còn cười ha hả là thái độ ấu trĩ của trẻ con.

Người thường cũng ca hát, cũng cười ha hả để hưởng vui mà chẳng để ý đến cái lúc họ thấm mệt.

Trong giới luật của bậc Thánh, ca hát bị xem như khóc lóc. Thử nhìn một người đang hát và cố gân cổ lên để hét to, đó chẳng khác gì như đang khóc; vì nó xuất phát từ xúc động tình cảm.

Khiêu vũ cũng giống như kẻ điên khùng; hãy cứ quan sát thì thấy khi chúng ta đứng trên sàn nhảy; nếu chúng ta tỉnh giác thì chẳng thể nào chúng ta nhún nhảy được?

Nhưng đa số đều nghĩ đấy là cuộc vui giải trí nên không nhận ra đó là bộ dạng của người mất trí. Có người thích cười to, cười lớn là vì có điều thích ý. Người ta rất hay cười như thế, cười ngay cả những lúc không đáng cười hoặc chẳng có gì để cười. Nhưng đối với bậc Thánh nhân và trong giới hạnh của họ thì cười lớn tiếng là thái độ ấu trĩ trẻ con. Vậy chúng ta nên cười ít đi và đừng cười to như thế thì lại càng tốt hơn nữa.

Đây là những thí dụ về sự khác biệt trong cách hành sử của một vị Thánh nhân có giới hạnh và người thường. Theo các truyền thống của người thế gian ngoài đời thì ca hát múa vũ, cười to tiếng không hại gì mà còn là những cuộc vui thông thường. Trong khi các bậc giới hạnh thì cho đó là một cái gì thật đáng thương hại và đánh giá những điều ấy theo chiều suy nghĩ đó. Đây là cái nhìn của một người mà tâm đã được huấn luyện thuần thục.

Đức Phật không cấm đoán những việc làm trên nếu chúng ta thích làm, nhưng Ngài muốn chúng ta hiểu rằng có thái độ trưởng thành và có thái độ ấu trĩ và chúng ta không nên có thái độ không cần thiết.

Khi chúng ta còn chưa là bậc Thánh, có thể chúng ta muốn thử làm chơi vài cử chỉ tầm thường đó. Nếu thử một đôi lần, ta sẽ thấy lúc đầu có sự thích thú, nhưng về sau, ta sẽ chán ngấy. Và như thế, ta có thể vươn lên gần đến hàng thánh thiện.

Vài người chẳng thích nghe nói đến kỷ luật hay bàn đến giới luật. Họ ngại rằng sự kềm chế sẽ đưa đến đau khổ. Tuy nhiên, huấn luyện tâm để không buông trôi theo tính khí thay đổi thất thường là một nguyên tắc quan trọng trong Phật Giáo. Kềm chế thân tâm để khỏi chiều theo tính khí như thế đâu phải là đau khổ. Ta phải tìm cách tránh bị thúc bách bởi các cảm xúc vị kỷ hay ô nhiễm cám dỗ, thúc dục và ngự trị chúng ta. Hãy nhìn vào các cặp khiêu vũ và xem các ô nhiễm kích thích họ ra sao, áp đảo và chế phục họ như thế nào; ta gọi đó là tự do sao?

Cho nên, chúng ta phải tìm cách cải thiện thân phận của chúng ta. Đừng mãi mãi là “người thường”! Hãy ghi tên gia nhập vào cộng đồng của Đức Phật, tức là thâu thập Kiến Thức, Trí Huệ, Tỉnh Thức và Chánh Kiến để đau khổ giảm dần.

Tránh làm các điều không cần thiết, chỉ tạo thêm bất lợi và khó nhọc cho chúng ta. Đấy chính là phần thưởng mà bạn sẽ gặt hái được: bạn bước từ cấp thường nhân lên hàng Phật Tử chân chánh, rồi đến bậc Thánh và an trú trong giới luật của hàng Thánh nầy. Đức Phật khi xưa vẫn hi vọng rằng sẽ có thật nhiều bậc Thánh nhân trong hàng những người muốn thoát khỏi đời trần tục.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, byphuong, chanhnguyen, Ngoisaobiec, dieunha, SCC, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Bảy 14, 2011, 04:56:56 am »


13.-TU TẬP NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐI ĐÚNG TRÊN CON ĐƯỜNG ĐẠO?

Trong giáo lý căn bản, Bát Chánh Đạo gồm có: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Tám yếu tố nầy có thể được qui về ba nhóm: Giới, Định, Huệ, hợp thành một hệ thống để thực hành Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất đưa đến giải thoát giác ngộ.

*Giới:  Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn.
*Định: Chánh Niệm, Chánh Định.
*Huệ:  Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy.


Trong thực hành, chúng ta phải “luôn luôn quan sát thân tâm mà không có một ý niệm nào khởi sanh”.

Khi chúng ta chỉ đơn thuần quan sát thân tâm, biểu hiện qua sáu giác quan mà không thêm bất kỳ một yếu tố nào, có nghĩa không xem thân tâm là “Tôi”, “Ta”, tức là chúng ta thực hành Bát Chánh Đạo.

Trước mắt chúng ta nên biết đến sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Mỗi giác quan có năm yếu tố.

Chẳng hạn về sự thấy, ta có:

1.-Mắt: cơ quan thâu nhận hình sắc.
2.-Vật bị thấy: đối tượng.
3.-Cái thấy: sự xúc chạm xảy ra giữa mắt, vật bị thấy .
4.-Cảm thọ: khổ, lạc hoặc không khổ không lạc.
5.-Thức: sự phân biệt đối tượng (ý niệm tốt-xấu, hay- dở…)  .


Nếu thiếu sự Tỉnh Giác (=sự quan sát=  nhận biết)  ta sẽ nắm giữ vào một hay nhiều yếu tố trên của sự thấy và xem chúng là Tôi, Ta… Chẳng hạn như chúng ta bám víu vào sự nhận biết vật thấy (nhãn thức) và xem nó là Tôi, Ta hay Tự Ngã. Bởi vì qua nhãn thức ta có thể nhận biết được đối tượng nên ta kết luận ngay là phải có cái Ta để làm công việc nhận biết đó.

Tương tự như thế, chúng ta bám víu vào xúc, thọ… và xem chúng là của Tôi, của Ta.

Đôi khi một âm thanh du dương đến với ta và ta bám víu vào sự nhận biết (nhĩ thức) và xem nó là Ta, Tôi hay Tự Ngã.

Mỗi giác quan có năm yếu tố, tổng cộng là ba mươi yếu tố. Mỗi yếu tố đều có thể bị ta nắm giữ lấy làm “Ta”, nhiều lần trong ngày một cách dễ dàng.

Vừa mới có sự dính mắc vào sự vật thì liền sau đó đau khổ khởi sinh (ham thích thì muốn chiếm giữ, bực bội thì muốn chối bỏ hoặc suy nghĩ liên miên về cái lợi cái hại do đối tượng đem lại…). Thế là ta đã lầm lỡ và tự đẩy mình vào mạng lưới chằng chịt khổ đau.

Đó không phải là đang đi trên đường đạo vì đức Phật dạy chúng ta đừng chấp chặt vào sáu giác quan cùng các đối tượng liên hệ với chúng.

 Nhờ luôn canh phòng bằng sự Tỉnh Giác nên chúng ta không nhận giác quan nào làm “cái ta” cả, và chính ngay lúc đó Bát Chánh Đạo (Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định) khởi sinh.

Thực tập không chấp chặt vào sáu giác quan là nguyên nhân khiến Bát Chánh Đạo khởi sinh tức thì.

*Tỉnh Giác trên mọi hoạt động của Thân tức là thực hành:
  Chánh Nghiệp -- Chánh Mạng – Chánh Tinh Tấn.
*Tỉnh giác trên mọi hoạt động của Khẩu tức là thực hành:
   Chánh Ngữ.
*Tỉnh Giác trên mọi hoạt động của Ý tức là thực hành:
   Chánh Tri Kiến – Chánh Tư Duy – Chánh Niệm – Chánh Định.


***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nhuocthuy, chanhnguyen, byphuong, dieunha, SCC, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 07, 2013, 02:54:15 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Bảy 22, 2011, 04:17:33 am »


14.- NGHIỆP LỰC CÓ VAI TRÒ NÀO TRONG PHẬT HỌC?

Nhiều người Tây Phương đã viết những sách về Phật Giáo và dường như họ lấy làm hãnh diện về chương nói về Nghiệp Lực và Tái Sanh. Nhưng họ đã giải thích rất sai lầm, hoàn toàn sai lầm. Họ muốn giải thích chữ Nghiệp Lực, nhưng tựu trung chỉ mang ý nghĩa “nghiệp thiện là tốt, nghiệp ác là xấu”, làm điều tốt, hưởng quả tốt, làm điều xấu, chịu quả xấu, chỉ chừng ấy thôi. Sự giải thích về nghiệp báo như thế thì cũng giống như sự giải thích về nghiệp báo trong các tôn giáo khác. Đó không phải là nghiệp báo được dạy trong Phật Giáo.

Đối với sự tái sanh cũng vậy. Họ tuyên bố rất mạnh mẽ như chính mắt họ trông thấy rõ ràng chính các cá nhân nầy đang tái sanh lại. Họ đã giải thích sai lầm điều chánh yếu mà đức Phật đã dạy là không có sự hiện hữu của “cá nhân” hoặc “tự ngã”. Mặc dầu tôi đang ngồi đây, nhưng chẳng có cá nhân nào ở đây cả. Khi đã không có cá nhân nào thì lấy ai để mà chết, lấy ai để tái sanh? Đức Phật đã giảng dạy sự bất hiện hữu của “cá nhân”. Như thế, Sanh và Tử dưới mắt của chúng ta thật ra chỉ là những danh từ chế định.

Chúng ta cần phải có sự hiểu biết rõ ràng hơn về nghiệp lực. Đối với Phật Giáo, thì vấn đề quan trọng là chấm dứt nghiệp báo, chứ không phải chính nghiệp báo và quả của nghiệp.

Đức Phật dạy rằng nghiệp lực chấm dứt khi tham, sân, si chấm dứt. Nói khác hơn, nghiệp lực chấm dứt khi phiền não chấm dứt. Điều nầy thật dễ nhớ. Khi còn tham, sân, si thì còn nghiệp lực. Một khi tham, sân, si chấm dứt, không tạo nghiệp hiện tại và cũng không tạo nghiệp tương lai. Như vậy, nghiệp quá khứ chấm dứt, nghiệp hiện tại và nghiệp tương lai không có. Đây là điểm khác biệt giữa nghiệp lực trong Phật Giáo và nghiệp lực trong các tôn giáo khác.

Có ba loại nghiệp nhưng phần đông chúng ta chỉ biết đến hai loại nghiệp: thiện nghiệp và ác nghiệp mà không biết đến nghiệp lực thứ ba. Đức Phật gọi loại thứ nhứt là bạch nghiệp hay thiện nghiệp tức là nghiệp trắng, nghiệp tốt; loại thứ hai là hắc nghiệp, tức là nghiệp đen hay nghiệp dữ; loại thứ ba có thể gọi là nghiệp không trắng không đen là loại nghiệp nhằm chấm dứt cả hai loại nghiệp trắng và nghiệp đen.

 Chính là loại thứ ba nầy mới đúng theo nghĩa nghiệp lực của Phật Giáo vì đây là loại nghiệp chấm dứt tham, sân, si; chấm dứt phiền não. Loại nghiệp lực thứ ba nầy chính là Bát Chánh Đạo; nghiệp lực nầy chẳng trắng cũng chẳng đen và có khả năng đưa đến chấm dứt bạch nghiệp và hắc nghiệp. Nó là con đường siêu thế thoát khỏi thế gian, vượt lên cả điều thiện lẫn điều ác.

Loại nghiệp thứ ba nầy không hề được các người Tây phương đề cập đến trong các chương sách của họ nói về “Nghiệp lực và Tái sanh”. Những lời dẫn giải của họ đa số đều phiến diện, thiếu chính xác. Để theo đúng giáo lý Phật Giáo, họ phải luôn chú trọng cả loại nghiệp lực thứ ba, tức là loại nghiệp lực có khả năng chấm dứt tham, sân, si, chấm dứt mọi nghiệp cũ, cả đen lẫn trắng.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, SCC, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 22, 2011, 04:19:04 am gửi bởi cong » Logged
 
 
 
cong
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 264

Cảm Ơn
-Gửi: 52
-Nhận: 1733


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2011, 02:01:40 pm »



15.- CÓ CẦN NGHE CHÍNH ĐỨC PHẬT GIẢNG PHÁP MỚI CÓ THỂ CHẤM DỨT ĐAU KHỔ CHĂNG?

Có vài người quả quyết rằng ta cần phải nghe chính Đức Phật thuyết giảng thì mới có thể thật sự hiểu rõ được Giáo Pháp. Nhưng Đức Phật cũng nói là có nhiều người, mặc dầu không được nghe Giáo Pháp do chính Ngài thuyết giảng, vẫn có thể đi theo con đường chánh đạo. Đã có nhiều người, dầu chẳng được nghe Pháp từ chính Đức Phật, nhưng qua sự thực hành Bát Chánh Đạo một cách bền bỉ và nghiêm mật, vẫn có thể đi đúng con đường chánh đạo.

Thế nên, chúng ta nên chấp tay ngưỡng mộ lòng từ bi của Đức Phật đã không xem Giáo Pháp là sở hữu độc quyền của mình và cũng chẳng hề tự xem mình là cần thiết.

***
NHẶT LÁ BỒ ĐỀ


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, Ngoisaobiec, dieunha, SCC, batkhong, nguyenthuy, google, tuanlong
Logged
 
 
Trang: [1] 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.774 seconds với 25 câu truy vấn.