Tháng Hai 24, 2020, 09:30:21 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 7   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG III -- 首楞嚴宗通經 3  (Đọc 16562 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 06:34:45 AM »

(tiếp theo)

阿難及諸大眾。蒙佛開示。慧覺圓通。得無疑惑。一時合掌頂禮雙足而白佛言。我等今日身心皎然。快得無礙。雖復悟知一六亡義。然猶未達圓通本根。世尊。我輩飄零。積劫孤露。何心何慮。預佛天倫。如失乳兒。忽遇慈母。若復因此際會道成。所得密言。還同本悟。則與未聞無有差別。唯垂大悲。惠我秘嚴。成就如來最後開示。作是語已。五體投地。退藏密機。冀佛冥授。爾時世尊普告眾中諸大菩薩。及諸漏盡大阿羅漢。汝等菩薩及阿羅漢。生我法中。得成無學。吾今問汝。最初法心。悟十八界。誰為圓通。從何方便。入三摩地。

MỤC BA :

HỎI ĐẠI CHÚNG VỀ VIÊN THÔNG

Kinh : Ông Anan và cả đại chúng nhờ Phật chỉ dạy, Trí Huệ viên thông, được không nghi lầm, cùng lúc chấp tay đảnh lễ chân Phật, thưa: “Ngày nay chúng tôi thân tâm sáng suốt, vui thích mà được không ngăn ngại. Mặc dầu tỏ ngộ được nghĩa Một và Sáu mất hết, mà còn chưa rõ cội gốc viên thông. Thưa Thế Tôn, chúng tôi phiêu linh bơ vơ nhiều kiếp, may đâu lại được dự vào dòng giống của Phật, như đứa con mất sữa, bỗng nhiên gặp được mẹ hiền. Nếu nhân nơi đây mà được thành Đạo, thì chỗ được mật ngôn đồng với nguồn tỏ ngộ, mà cùng với lúc chưa nghe không có sai khác. Xin Phật rủ lòng Đại Bi ban cho chúng tôi Pháp bí mật trang nghiêm, thành tựu sự chỉ bày tối hậu của Như Lai”.

Nói xong lời ấy, năm vóc gieo xuống đất, lui ẩn vào trong tâm cơ sâu nhiệm, mong Phật tâm truyền.
Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo khắp các vị Đại Bồ Tát và các vị lậu tận Đại A La Hán trong hội rằng : “Các ông là những vị Bồ Tát và A La Hán sanh trong Phật Pháp mà đắc thành Vô Học. Nay Ta hỏi các ông : Trong lúc ban đầu phát tâm, trong mười tám giới, ngộ được viên thông ở giới nào, và do phương tiện gì mà vào Tam Ma Địa ?”.


通曰。開示慧覺圓通。即前六解一亡。乃至得無生忍也。由六解故。身得無礙。由一亡故。心得無礙。雖未至於六根清淨。然一拔六銷。六銷一亡。固已皎然無惑。特未知圓通本根所在。何根最為圓通。循何根而入。即證圓通。循圓通之根。證圓通之果。在阿難因此而道成。在如來即為最後之開示。故願世尊不惜秘嚴而冥授之也。若論圓根。前已顯示十方如來於十八界一一修行。皆得圓滿無上菩提。於其中間。亦無優劣。今復普告菩薩及阿羅漢等。最初發心。悟十八界。誰為圓通。從何方便。入三摩地。較量圓根。猶自可說。至方便悟入。此在各人自知自證。豈言說所可及乎。言說所不及。而可以冥授乎。據阿難之請。冀佛以冥授。不以言言。我以冥授。不以聞聞。不以言言。是謂密言。不以聞聞。是謂本悟。故得佛之密言。即同我之本悟。雖若有聞。同於未聞。聞而不聞。是謂真聞。所以退藏密機而冀得之也。向使佛可授。阿難可得。即非密矣。非秘矣。以是而證圓通。非圓通矣。悟由自悟。豈人所可與乎。盤山積禪師上堂。向上一路。千聖不傳。學者勞形。如猿捉影。影可捉則秘嚴可授也。荊南節度使成汭。入云居設供。問曰。世尊有密語。迦葉不覆藏如何。膺召尚書。汭應諾。膺曰。會麼。汭曰不會。膺曰。汝若不會。世尊有密語。汝若會。迦葉不覆藏。故知此事。非自悟徹不可。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỉ bày cái Huệ Giác Viên Thông, tức ở trước là Sáu mở Một tiêu cho đến đắc Vô Sanh Nhẫn. Do Sáu mở mà thân suốt thông vô ngại. Do Một tiêu mà tâm vô ngại. Tuy chưa đến chỗ sáu căn thanh tịnh, nhưng Nhổ Một Sáu tiêu, Sáu tiêu Một mất nên đã sáng suốt không còn nghi lầm. Có điều chưa rõ gốc Căn Viên Thông ở đâu. Căn nào là Viên Thông nhất ? Theo Căn nào mà nhập để chứng Viên Thông ?

Theo Căn Viên Thông mà chứng Quả Viên Thông, với Anan thì nhân chỗ này mà thành Đạo, với Như Lai thì đó là sự khai thị tối hậu, nên Ông Anan mới xin Phật mật trao cho pháp sâu nhiệm trang nghiêm.

Nếu luận về Căn Viên Thông, thì trước đã bày rõ rằng mười phương Như Lai ở nơi mười tám giới mỗi mỗi tu hành đều đắc viên mãn Bồ Đề Vô Thượng, trong đó không có hơn kém. Nay lại bảo khắp các vị Bồ Tát và A La Hán lúc mới đầu phát tâm ngộ Viên Thông ở giới nào, do phương tiện gì mà vào Tam Ma Địa ? So sánh Căn Viên Thông, còn tự có thể nói được. Đến phương tiện ngộ nhập thì mỗi người tự biết, tự chứng, há lời nói có thể đến được ư ? Lời nói không thể đến, thì chỉ có thể tâm truyền.

Căn cứ vào sự cầu xin của Ông Anan, là mong Phật tâm truyền, chứ không lấy lời mà nói, còn Ông Anan cũng lấy tâm mà nhận lãnh, chứ không phải lấy sự nghe mà nghe. Không lấy lời nói mà truyền, đó là mật ngôn. Không lấy sự nghe mà nghe, đó là cội nguồn tỏ ngộ. Cho nên được mật ngôn của Phật, thì đồng với cội nguồn tỏ ngộ, nên tuy có nghe mà cũng như chưa nghe. Nghe mà chẳng nghe, đó là thực nghe. Bởi thế mới “Lui ẩn vào trong tâm cơ sâu nhiệm, mà mong đắc vậy”.

Giả sử, Phật có thể ban cho, Ông Anan có thể đắc, thế chẳng phải là Mật. Lấy đó mà chứng Viên Thông, thì chẳng phải là Viên Thông vậy. Ngộ là do tự ngộ, há ai có thể đưa cho mình ư ?

Thiền sư Bàn Sơn Tích thượng đường nói : “Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng truyền. Người học mệt nhọc hình hài, như vượn bắt bóng !”

Bóng mà bắt được, thì cái Bí Mật Trang Nghiêm mới truyền được !

Tiết Độ Sứ Kinh Nam là Thành Nhuế, vào cúng dường Ngài Vân Cư, hỏi rằng : “Đức Thế Tôn có Mật Ngữ, Ngài Ca Diếp chẳng che giấu là thế nào ?”

Tổ Ứng gọi : “Thượng Thơ !”

Ông Nhuế ứng tiếng : “Dạ !”

Tổ Ứng nói : “Hội chăng ?”

Ông Nhuế nói : “Không hiểu”.

Tổ Ứng nói : “Nếu ông không hiểu, thì Thế Tôn có Mật Ngữ. Nếu ông mà hiểu, thì Ngài Ca Diếp chẳng che giấu !

Thế nên biết chuyện này, chẳng tự ngộ suốt thì không thể được.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 06:38:34 AM »

(tiếp theo)

憍陳那(家治火器)五比丘。即從座起。頂禮佛足而白佛言。我在鹿苑及於雞園。觀見如來最初成道。於佛音聲。悟明四諦。佛問比丘。我初稱解。如來印我名阿若多。(此云解)妙音密圓。我於音聲得阿羅漢。佛問圓通。如我所證。音聲為上。


I. VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN


Kinh : Nhóm Ông Kiều Trần Na năm vị Tỳ Kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Ở Lộc Uyển và ở Kế Viên, chúng tôi được nhìn thấy Như Lai khi mới thành Đạo. Chúng tôi do Âm Thanh của Phật mà tỏ ngộ Tứ Đế. Phật hỏi trong hàng Tỳ Kheo, thì trước tiên tôi thưa là hiểu. Thế Tôn ấn chứng cho tôi tên A Nhã Đa (Hiểu), là Âm Thanh nhiệm mầu toàn vẹn. Tôi ở nơi Âm Thanh, đắc A La Hán.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ tu chứng của tôi, thì Âm Thanh là trên hết”.

通曰。憍陳那初悟客塵二字。已得解名。茲於佛音聲悟明四諦。佛初於鹿苑三轉四諦法輪。一示相轉。二勸修轉。三作證轉。示相者。示其相狀。謂是苦。是苦集。是若滅。是苦滅道也。勸修者。勸其令修。謂苦應知。乃至道應知也。作證者。引己證彼。謂苦我已知。不復更知。乃至道我已修。不復更修也。悟明四諦。僅解生滅法爾。於客塵二字無異。乃因是得阿羅漢。豈謂音聲皆生滅。而我非生滅者倫乎。音聲皆客塵。而我非客塵者倫乎。然謂妙音密圓。圓妙又在於音也。豈以音聲即生滅而非生滅者乎。音聲即客塵而非客塵者乎。此其悟唯憍陳那自知之。而不可以語人。故謂之密。彼其證在音聲。故以音聲為圓通也。香岩智閒禪師。在百丈時。性識聰敏。參禪不得。洎丈遷化。遂參溈山。山問我聞汝在百丈先師處。問一答十。問十答百。此是汝聰明靈利意解識想生死根本。父母未生時。試道一句看。閒被一問。直得茫然。歸寮將平日著過底文字。從頭至尾。要尋一句酬對。竟不能得。乃自嘆曰。畫餅不可充飢。屢乞溈山說破。山曰。我若說似汝。汝以後罵我去。我說底是我底。終不干汝事。閒遂將平昔所看文字燒卻。曰此生不學佛法也。且作個長行粥飯僧。免役心神。乃泣辭溈山。直過南陽。睹忠國師遺蹟。遂憩止焉。一日芟除草木。偶拋瓦礫。擊竹作聲。忽然省悟。遽歸沐浴。遙禮溈山。贊曰。和尚大慈。恩逾父母。當時若為我說破。何有今日之事。乃有頌曰。一擊忘所知。更不假修持。動容揚古路。不墮悄然機。處處無蹤跡。聲色外威儀。諸方達道者。咸言上上機。溈山聞得。謂仰山曰。此子徹也。仰曰。此是心機意識著述得成。待某甲親自勘過。仰後見閒曰。和尚讚嘆師弟發明大事。你試說看。閒舉前頌。仰曰。此是夙習記持而成。若有正悟。別更說著。閒又成頌曰。去年貧未是貧。今年貧始是貧。去年貧無卓錐之地。今年貧錐也無。仰曰。如來禪許你會。祖師禪未夢見在。閒復有頌曰。我有一機。瞬目視伊。若也不會。別喚沙彌。仰乃報溈山曰。且喜閒師弟會祖師禪也。玄覺云。且道如來禪與祖師禪分不分。長慶棱云。一時坐卻。又葉縣省和尚。因僧請益趙州柏樹子話。省曰。我不辭與汝說。還信否。僧云。和尚重言。爭敢不信省曰。汝聞簷前雨滴聲麼。其僧豁然。不覺失聲云 。省曰。汝見個甚麼道理。僧即以頌對云。簷頭雨滴分明歷歷。打破乾坤。當下心息。若閒與此僧所證。亦以音聲為上。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Kiều Trần Na ban đầu ngộ hai chữ Khách Trần, đã được đặt tên là Giải. Ở nơi Âm Thanh của Phật tỏ ngộ pháp Tứ Đế. Đức Phật ban đầu ở vườn Lộc Uyển chuyển ba pháp luân Tứ Đế. Một là, Tướng Chuyển. Hai là, Khuyên Tu Chuyển. Ba là, Chứng Chuyển.

Một là, Tướng Chuyển : chỉ bày cái tướng trạng, đây là Khổ, đây là Khổ Tập, đây là Khổ Diệt, đây là Đạo Khổ Diệt.
Hai là, Khuyên Tu : khiến nên tu, nên biết cái Khổ, nên biết Khổ Tập... nên biết Đạo.

Ba là, Chứng Minh : đưa mình ra chứng minh cho chân lý ấy. Khổ ta đã biết, chẳng cần trở lại biết, cho đến Đạo ta đã tu, không cần tu lại nữa.

Tỏ ngộ Tứ Đế thì chỉ mới cởi bỏ được cái pháp sanh diệt, đó là tỏ ngộ nơi hai chữ Khách Trần, nhân đó đắc A La Hán. Há bảo rằng Âm Thanh đều là sanh diệt, mà ta chẳng sanh diệt theo sao ? Âm Thanh đều là Khách Trần, mà ta chẳng phải là Khách Trần sao ? Nhưng nói cái Âm Thanh nhiệm mầu, ẩn mật tròn vẹn, thì cái ẩn mật tròn vẹn ấy lại ở nơi Âm Thanh vậy. Há cho Âm Thanh là sanh diệt, mà nó là chẳng phải sanh diệt đấy chứ ! Cho Âm Thanh là Khách Trần, mà nó thật là chẳng phải Khách Trần đấy chứ ! Cái ngộ này là chỉ có Ông Kiều Trần Na tự biết, đâu nói với ai được, nên mới gọi là Mật. Chỗ Chứng của ông là ở Âm Thanh, nên lấy Âm Thanh làm Viên Thông vậy.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn lúc ở với Tổ Bách Trượng, tâm trí thông minh, mà tham thiền chẳng được.
Đến khi Tổ Bách Trượng tịch, bèn đến tham học với Tổ Quy Sơn.

Tổ Quy Sơn nói : “Ta nghe ông ở chỗ Tiên Sư Bách Trượng, hễ hỏi một thì đáp mười, hỏi mười đáp trăm. Cái thông minh lanh lợi đó là cái ý thức vọng tưởng của căn bản sanh tử. Giờ đây, khi cha mẹ chưa sanh ra, hãy nói một câu xem !”
Trí Nhàn bị hỏi, lập tức ngẩn ngơ.

Bèn trở về liêu phòng, lấy hết sách vở từng đọc qua, tìm từ đầu chí cuối một câu để trả lời mà không thể nào có. Bèn tự than rằng “Bánh vẽ chẳng làm cho hết đói !” Mấy lần cầu xin Tổ Quy Sơn nói vỡ ra cho.

Tổ Sơn nói : “Nếu ta nói cho ông, ngày sau ông sẽ chửi ta. Cái ta nói ra đó là cái của ta, nào có ăn nhằm gì đến ông !”

Trí Nhàn bèn đem hết sách vở đã đọc ra đốt sạch, nói : “Đời này chẳng có học Phật Pháp ! Cứ làm hoài một ông tăng cơm cháo khỏi nhọc mệt tâm thần ư ?”

Rồi khóc mà từ giã Tổ Quy Sơn.

Đến Nam Dương, thấy di tích của Huệ Trung Quốc Sư bèn dừng ở đó.

Một hôm đang giãy cỏ, tình cờ một miếng ngói văng chạm cây tre thành tiếng, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Vội vàng trở vào tắm gội, hướng về núi Quy Sơn đảnh lễ, ngợi ca rằng : “Hòa Thượng từ bi, ơn hơn cha mẹ. Lúc ấy vì tôi nói ra, thì làm sao có được chuyện ngày nay”.


Rồi làm bài tụng :

“Một chạm, mất sở tri
Nào còn mượn tu trì
Động thân, bày lối cổ
Chẳng rơi (vào) cơ lặng im
Nơi nơi không dấu vết
Oai nghi ngoài sắc thanh
Mười phương người đạt Đạo
Đều nói : “Thượng Thượng căn”.

Tổ Quy Sơn nghe được, bảo với Ngài Ngưỡng Sơn: “Tay ấy thấu suốt rồi”.

Ngưỡng Sơn nói : “Đây là cái tâm cơ ý thức sách vở mà thành, để con đích thân tự khám nghiệm đã !”

Rồi Ngài Ngưỡng Sơn gặp Ngài Trí Nhàn, hỏi : “Hòa Thượng khen ngợi sư đệ phát minh được đại sự, ông hãy nói ra xem !”


Ngài Trí Nhàn lại đọc bài tụng trước kia.

Ngưỡng Sơn nói : “Đây là sự kết tụ ghi nhớ mà thành. Nếu là chánh ngộ, thử nói ra cái khác đi !”


Ngài Trí Nhàn bèn tụng :

“Năm xưa nghèo, chưa thật nghèo
Năm nay nghèo, mới thật nghèo
Năm xưa nghèo không đất cắm dùi
Năm nay nghèo dùi cũng không có !”.

Ngưỡng Sơn nói : “Như Lai Thiền thì cho là ông hiểu, còn Tổ Sư Thiền  -(ct) Đời nhà Đường, Tổ Ngưỡng Sơn lập ra đề mục Tổ Sư Thiền trước tiên. Gọi chỗ tâm ấn của Tổ Đạt Ma truyền lại là Tổ Sư Thiền, cái pháp thiền tột mức riêng truyền ngoài giáo pháp. Gọi Như Lai Thiền chỉ cái ý tu chưa đến chỗ minh tâm kiến tánh. ) thì chưa mơ màng thấy !”


Ngài Trí Nhàn lại tụng :

“Tôi có một Cơ
Chớp mắt thấy Nó
Vậy bằng chẳng hiểu
Hãy gọi Sa Di !”.

Ngài Ngưỡng Sơn báo lại cho Tổ Quy Sơn : “Mừng cho Nhàn sư đệ đã hội Tổ Sư Thiền”.

Tổ Huyền Giác nói : “Hãy nói xem Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền phân hay chẳng phân ?”

Tổ Trường Khánh Lăng nói : “Cùng lúc thong dong”.

Có nhà sư hỏi Hòa Thượng Diệp Huyện Tỉnh về công án “Cây Bách trước sân” của Tổ Triệu Châu.

Hòa Thượng nói : “Ta không từ nan mà nói với ông, nhưng liệu ông có tin không ?”

Nhà sư nói : “Lời của Hòa Thượng đáng kính trọng, đâu dám không tin !”

Hòa Thượng nói : “Ông có nghe tiếng giọt mưa trước mái nhà chăng ?”

Nhà sư hoát nhiên mở tỏ, bất giác la lên : “Chao ôi !”

Ngài bảo : “Ông thấy đạo lý gì ?”


Nhà sư dùng kệ đáp :

“Giọt mưa đầu mái
Rõ ràng rành rẽ !
Phá nát Càn Khôn
Ngay đó tâm dứt”.

Như chỗ chứng của Ngài Trí Nhàn và nhà sư trên đây, cũng lấy Âm Thanh là hơn hết vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 06:42:13 AM »

(tiếp theo)

優波尼沙陀即從座起。頂禮佛足而白佛言。我亦觀佛最初成道。觀不淨相。生大厭離。悟諸色性。以從不淨。白骨微塵。歸於虛空。空色二無。成無學道。如來印我名尼沙陀。(此云塵性空)塵色既盡。妙色密圓。我從色相得阿羅漢。佛問圓通。如我所證。色因為上。

II. VIÊN THÔNG VỀ SẮC TRẦN

Kinh : Ông Ưu Ba Ni Sa Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi cũng được thấy Phật trong lúc mới thành Đạo. Tôi quán Tướng Bất Tịnh, sanh lòng nhàm chán lìa bỏ rốt ráo, ngộ tánh của các Sắc, từ Tướng Bất Tịnh đến Tướng Xương Trắng và vi trần, chung cuộc về hư không, cả hai, Không và Sắc, đều Không, thành Đạo Vô Học. Đức Như Lai ấn chứng cho tôi cái tên Ni Sa Đà (Trần Tánh Không). Cái Sắc Tướng của Trần đã hết, thì Sắc nhiệm mầu toàn vẹn. Tôi do Sắc Tướng mà đắc A La Hán.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì Sắc Trần hơn cả”.


通曰。優波尼沙陀。貪著色塵。故佛教以不淨觀。使對治之。色雖可好。以從不淨。大可厭也。況身後白骨微塵諸不淨相。一膀脹。二膿爛。三異赤。四青瘀。五啄啖。六離散。七骸骨。八焚燒。九一切世間不可保。是名九想法。九想成時。色性畢竟歸空。空無所空。是為色空二無。得慧解脫。成無學道。塵色既盡。妙色密圓。豈離塵色而別有所謂妙色者乎。豈空其色相而能空者即為妙色乎。豈色相有生滅。而色性無生滅。即為妙色乎。抑豈心無貪著。而一切色皆妙色乎。此尼沙陀悟處。應難以口吻宣述。但謂之曰妙曰密曰圓而已。昔七賢女游屍陀林。一女指屍曰。屍在這裡。人向甚麼處去。一女曰。作麼作麼。諸姊諦觀各各契悟。感帝釋散華曰。唯願神姊有何所須。我當終身供給。女曰。我家四事七珍。悉皆具足。唯要三般物。一要無根樹子一株。二要無陰陽地一片。三要叫不應山谷一所。帝釋曰。一切所須。我悉有之。若三般物。我實無得。女曰。汝若無此。爭解濟人。帝釋罔措。遂同往白佛。佛言。憍屍迦。我諸弟子大阿羅漢不解此義。唯有諸大菩薩乃解此義。此亦觀不淨相而得證者也。又靈云因見桃華悟道。有頌云。三十年來尋劍客。幾回落葉又抽枝。自從一見桃華後。直至如今更不疑。舉似溈山。山云。從緣入者。永不退失。汝善護持。玄沙云。諦當甚諦當。敢保老兄未徹在。云云師兄徹也未。覺范頌云。靈云一見不再見。紅白枝枝不著華。叵耐釣魚船上客。卻來平地捷魚蝦。投子頌云。山前桃發故園春。華綻紅枝省此身。證處謝君旁著力。笑顏雖展意生嗔。煙鎖綠楊鶯囀緩。雨侵石筍倚空鄰。金烏放出無消息。木馬嘶聲過漢秦。據靈云見處。亦以色因為上。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Ưu Ba Ni Sa Đà ham Sắc Trần nên Phật dạy dùng Quán Bất Tịnh để đối trị. Cái Sắc tuy là dễ ưa nhưng vì bất tịnh mà có thể sanh nhàm chán tột bậc, huống gì là các Tướng Xương Trắng, vi trần sau khi chết đi.
Một là sình chướng; hai là máu mũ hôi thối; ba là đổi sắc; bốn là bầm xanh; năm là giòi bọ đục khoét, rã rời; bảy là trơ xương; tám là thiêu đốt; chín là tất cả thế gian không giữ được.

Đó là chín Pháp Quán Tưởng. Khi chín Pháp Quán này thành tựu, Sắc Tánh rốt ráo quy về Không. Không mà không có chỗ Không, thế là Sắc và Không đều Không, đắc Trí Huệ Giải Thoát, thành Đạo Vô Học. Cái Sắc Trần đã hết sạch, thì cái Sắc mầu nhiệm ẩn mật vẹn toàn. Há lìa ngoài Sắc Trần mà riêng có cái gọi là Diệu Sắc sao ? Há không cái Sắc Tướng mà cho cái năng không ấy là Diệu Sắc ư ? Há Sắc Tướng có sanh diệt, còn Sắc Tánh không sanh diệt mà cho là Diệu Sắc ư ? Phải chăng tâm không tham trước, thì tất cả Sắc đều là Diệu Sắc ?

Chỗ Ngộ này của Ông Ni Sa Đà thật khó lấy lời lẽ mà thuật bày, chỉ có thể gọi là Diệu, là Mật, là Viên thôi vậy.
Xưa, có bảy hiền nữ đi chơi trong rừng, nơi bỏ thây ma.

Một cô chỉ xác chết nói : “Thây thì ở đó, người ở chốn nào ?”

Một cô nói : “Sao ? Sao ?”

Các cô quán kỹ, mỗi người đều khế ngộ.

Cảm đến Trời Đế Thích rãi hoa và nói : “Nguyện các chị Thần Nữ cần dùng cái chi, tôi sẽ suốt đời cung cấp”.

Các cô nói : “Chúng tôi thì tứ sự  -(ct) Y phục, ngọa cụ, y dược, ẩm thực. ) và bảy báu  -(ct) Vàng, bạc, ngọc, châu, san hô, hổ phách, mã não. ) đều có đủ, chỉ cần ba vật. Thứ nhất là cần một cây không rễ. Thứ hai là một mảnh đất không có âm dương. Thứ ba là một hang núi kêu không dội tiếng”.

Đế Thích nói : “Hết thảy món cần dùng, tôi đều có. Còn ba vật ấy tôi thật không thể có”.

Các cô nói : “Nếu Ngài không có các thứ ấy, thì làm sao giúp người ?”

Đế Thích ngỡ ngàng, bèn cùng các cô đến thưa với Phật.

Phật nói : “Này Kiền Thi Ca, các đệ tử Đại A La Hán của ta chẳng hiểu được nghĩa ấy. Chỉ có các Đại Bồ Tát mới hiểu nghĩa ấy”.

Đây cũng là Quán Tướng Bất Tịnh mà chứng vậy.

Lại như Ngài Linh Vân nhân thấy hoa đào mà ngộ Đạo, bèn có bài tụng :

“Ba chục năm nay tìm kiếm-khách
Bao lần lá rụng lại đâm cành
Từ lần thấy được đào hoa đó
Đến mãi ngày nay chẳng muốn nghi”.

Trình chỗ ngộ với Tổ Quy Sơn.

Tổ dạy : “Theo duyên mà nhập, vĩnh viễn chẳng lui sụt mất mát, ông hãy khéo hộ trì”.

Ngài Huyền Sa nói : “Đích đáng thì thật đích đáng, nhưng dám chắc Lão Huynh chưa thấu suốt trong đó !”

Ngài Linh Vân nói : “Sư Huynh suốt được chưa ?”


Ngài Giác Phạm tụng rằng :

“Người  -(ct) Linh Vân. ) thấy một lần không thấy lại
Cành cành trắng đỏ, thấy đâu hoa
Chẳng chịu khách trên thuyền câu cá
Hóa ra trên đất cứu ngư, sò”.

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Trước núi đào sanh, vườn cũ xuân
Hoa ngập cành hồng, tỉnh lại thân
Chỗ chứng, thôi ông đừng phụ lực
Vẻ cười tuy mở, ý sanh sân
Khói tỏa liễu xanh, oanh thả giọng
Mưa xoi nham thạch, dựa xóm không
Mặt trời lố dạng, không tin tức
Ngựa gỗ hý vang quá Hán, Tần”.

Theo chỗ thấy của Ngài Linh Vân, cũng lấy Sắc làm tột bực.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 06:44:38 AM »

(tiếp theo)

香嚴童子即從座起。頂禮佛足而白佛言。我聞如來教我諦觀諸有為相。我時辭佛。宴晦清齋。見諸比丘燒沉水香。香氣寂然。來入鼻中。我觀此氣。非木非空。非煙非火。去無所著。來無所從。由是意銷。發明無漏。如來印我得香嚴號。塵氣倏滅。妙香密圓。我從香嚴得阿羅漢。佛問圓通。如我所證。香嚴為上。


III. VIÊN THÔNG VỀ HƯƠNG TRẦN

Kinh : Ông Hương Nghiêm đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch rằng : “Tôi nghe Như Lai dạy tôi quán sát chân chánh các tướng hữu vi. Khi ấy tôi từ giã Phật, đầu hôm về tĩnh tọa trong nhà thanh trai, thấy các vị Tỳ Kheo đốt hương trầm thủy, hơi hương vắng lặng bay vào trong mũi tôi. Tôi quán hơi hương ấy, chẳng phải là cây, chẳng phải là không, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, bay đi không dính vào đâu, bay đến không từ nơi đâu. Do đó mà cái ý tiêu tan, phát minh Vô Lậu. Như Lai ấn chứng cho tôi cái hiệu là Hương Nghiêm. Cái Hương Trần vừa diệt, thì cái Diệu Hương bí nhiệm toàn vẹn. Tôi do cái hương trang nghiêm ấy đắc A La Hán.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì Hương Trần là hơn cả”.

通曰。凡所有相。皆是虛妄。見諸相非相。即見如來。如來者。即諸法如義。來無所從。去無所至。故名如來。此金剛般若之旨。香嚴與聞此教。恆自諦觀。偶觸香氣。遂爾發明。此香寂然。入我鼻中。非煙非火。非木非空。非自相。非他相。非共相。非無因相。去無所著。來無所從。本自無生。此見諸相非相即見如來義也。故得無漏。凡夫不能無漏者。意根未銷也。意根未銷。故著有為。一著有為。即落生滅。意銷即證無為。無為即無生滅。故塵氣倏生倏滅。而妙香無生無滅。香嚴悟處。一切分疏不下。曰密曰圓。乃其所自證者耳。昔黃山谷太史。因圓通秀激發。往依晦堂。乞指徑捷處。堂曰。秪如仲尼道。二三子以我為隱乎。吾無隱乎爾。太史居常如何理論。公擬對。堂曰。不是不是。公迷悶不已。一日侍堂山行次。時岩桂盛放。堂曰。聞木犀華香麼。公曰聞。堂曰。吾無隱乎爾。公釋然。即拜之曰。和尚得甚麼老婆心切。堂笑曰。秪要公到家耳。又尼有悟道者。偈曰。終日尋春不見春。芒鞋踏遍隴頭云。歸來笑拈梅華嗅。春在枝頭已十分。此尼與山谷所證。亦以香嚴為上。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Phàm là có Tướng, thảy đều hư vọng. Thấy các Tướng chẳng phải Tướng, đó là thấy Như Lai. Như Lai ấy, là nghĩa Như của tất cả các pháp. Đến không từ đâu, đi không về đâu, thì gọi là Như Lai”. Đó là ý chỉ của Kinh Kim Cang Bát Nhã.

Ông Hương Nghiêm được nghe lời dạy này, hằng tự đế quán. Tình cờ gặp mùi hương, bèn đấy phát minh, “Hương này là vắng lặng, vào trong mũi tôi, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, chẳng phải cây, chẳng phải không, chẳng phải tự tướng, chẳng phải tha tướng, chẳng phải cọng tướng, chẳng phải vô nhân tướng, bay đi không dính vào đâu, bay đến không từ nơi đâu, vốn tự vô sanh”. Cái thấy này chính là cái thấy “Các Tướng chẳng phải Tướng, liền thấy Như Lai”. Thế nên đắc Vô Lậu.

Phàm phu chẳng được Vô Lậu vì Ý Căn chưa tiêu vậy. Ý Căn mà chưa tiêu nên bám lấy Hữu Vi. Một khi bám lấy Hữu Vi, liền lọt vào sanh diệt. Ý Căn tiêu liền chứng Vô Vi. Vô Vi là không sanh diệt. Thế nên Hương Trần thì chợt sanh chợt diệt, mà cái Diệu Hương kia thì nào có chuyện diệt sanh. Chỗ tỏ ngộ của Ông Hương Nghiêm thì cả thảy phân giải đều chẳng được. Thế nên nói là Mật, là Viên, chỉ có tự chứng biết thôi vậy.

Xưa, Thái Sử Hoàng Sơn Cốc nhân bởi Ngài Viên Thông Tú phấn khích nên đến chỗ Tổ Hối Đường xin chỉ chỗ “Nhậm lẹ”.
Tổ Hối Đường  -(ct) Tổ Hối Đường Bửu Giác thiền sư, tên là Tổ Tâm, đời Tống, tại Huỳnh Long Sơn. Nối kế pháp của Tổ Huỳnh Long Nam thiền sư. ) nói : “Như Đức Khổng Tử nói, “Các ngươi cho ta là che giấu ư ? Ta không có chỗ nào giấu giếm !” Thế thì Thái Sử lý luận làm sao ?”

Thái Sử định đáp, Tổ Đường liền nói : “Chẳng phải, chẳng phải”.

Thái Sử mờ mịt chẳng cùng.

Một hôm, cùng Tổ Hối Đường đang đi dạo núi, khi ấy cây nham quế nở thơm đầy.

Tổ nói : “Có nghe thấy hương hoa nham quế không ?”

Ông đáp : “Dạ, có”.

Tổ nói : “Ta không có chỗ nào giấu giếm vậy”.

Thái Sử tiêu tan nghi ngờ, làm lễ mà thưa : “Hòa Thượng, tâm lão bà từ bi quá tha thiết !”

Tổ cười đáp : “Chỉ mong ông đến được nhà thôi”.


Lại có vị ni sư ngộ Đạo làm bài kệ :

“Suốt buổi tìm Xuân chẳng thấy Xuân
Giày rơm dẫm khắp mấy non mây
Về đây cười nắm hoa mai ngửi
Xuân ở đầu cành đã trọn phần”.

Chỗ chứng của vị ni sư này và Ông Sơn Cốc cũng lấy Diệu Hương là hơn cả.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 06:48:23 AM »

(tiếp theo)

藥王藥上二法王子。並在會中五百梵天。即從座起。頂禮佛足而白佛言。我無始劫。為世良醫。口中嘗此娑婆世界草木金石。名數凡有一萬八千。如是悉知苦酢鹹淡甘辛等味。並諸和合俱生變異。是冷是熱。有毒無毒。悉能遍知。承事如來。了知味性。非空非有。非即身心。非離身心。分別味因。從是開悟。蒙佛如來印我昆季藥王藥上二菩薩名。今於會中為法王子。因味覺明。位登菩薩。佛問圓通。如我所證。味因為上。

IV. VIÊN THÔNG VỀ VỊ TRẦN



Kinh : Hai vị Pháp Vương Tử Dược Vương, Dược Thượng cùng với năm trăm vị Phạm Thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Từ vô thủy lâu xa, chúng tôi làm thầy thuốc cho đời, trong miệng thường nếm cỏ cây, kim thạch của thế giới Ta Bà này, số mục lên đến mười vạn tám ngàn, như thế biết tất cả các vị đắng, chua, mặn, lạt, ngọt, cay... cùng các vị biến đổi do các vị kia hòa hợp mà sanh ra, nào lạnh, nào nóng, có độc hay không độc đều biết khắp cả. Được thừa sự các Đức Như Lai, rõ biết tánh của Vị Trần, chẳng phải không, chẳng phải có, chẳng phải tức là thân tâm, chẳng phải lìa thân tâm. Do phân biệt được tánh của mùi vị, do đó mà khai ngộ. Được Phật Như Lai ấn chứng cho anh em chúng tôi danh hiệu là Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát, nay ở trong hội này làm Pháp Vương Tử. Chúng tôi nhân Vị Trần mà giác tỏ, lên bậc Bồ Tát.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của chúng tôi, thì do Vị Trần là hơn cả”.


通曰。無始劫來。為世良醫。但能知味冷熱。足以療病而已。及事如來。始知知味性空有俱非。不即不離。夫空有俱非。不即不離。如來藏中。妙明圓心。體本如是。因味開悟。覺明自性。故登菩薩位。彼所云覺者。如來藏中。性味真空。性空真味。清淨本然。周遍法界。即味即覺。即覺即味。此其悟有難以語人者。大愚辭歸宗。宗問甚麼處去。曰諸方學五味禪去。宗曰。諸方有五味禪。我這裡秪有一味。曰如何是一味禪。宗便打。愚曰。會也會也。宗曰道道。愚擬開口。宗又打。後僧到黃檗舉前話。檗上堂曰。馬大師出八十四人善知識。問著。個個屙漉漉地。秪有歸宗較些子。唯檗深明一味禪。故與歸宗相見。後即用此機接臨濟。濟不契。指往大愚。既見大愚。述三度被打因緣。愚曰。黃檗為你得徹困。卻來這裡問有過無過。濟言下大悟。曰元來黃檗佛法無多子。愚搊住曰。速道速道。濟從肋下祝三祝。愚托開曰。汝師黃檗。非幹我事。愚方欲展歸宗家風。早被臨濟奪卻。故知濟見處先一頭地。隆興法居禪師。晚見黃龍。深蒙印可。上堂云。此事如醫家驗病。方且雜毒滿腹。未易攻治。必瞑眩之藥而後可瘳。就令徇意投之。適足滋其狂惑。增其沉痼。求其已病。不亦左乎。法堂前草深。於心無愧。即此數則融通。不唯知味。且能療人。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Từ vô thủy kiếp đến nay làm thầy thuốc cho đời, chỉ có thể biết các Vị, đủ để trị bệnh mà thôi. Đến khi phụng sự Như Lai mới biết Tánh của mùi vị, không hay có, đều chẳng phải, không phải Tức, không phải Lìa. Phàm đều chẳng phải không hay có, chẳng Tức chẳng Lìa, đó là cái thể vốn như thế của Tâm Mầu Nhiệm tròn sáng trong Như Lai Tạng vậy. Do Vị Trần mà khai ngộ, giác tỏ Tự Tánh, nên vào địa vị Bồ Tát. Chỗ gọi là Giác đó, nghĩa là trong Như Lai Tạng, Tánh của vị là Chân Không, Tánh Không là Chân Vị, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới. Tức Vị là Giác, tức Giác là Vị, cái ngộ này thật khó nói cho người vậy.

Ngài Đại Ngu  -(ct) Tổ Cao An, tự Đại Ngu, tự hiệu Đại Ngu Sơn. Nối pháp Tổ Qui Tông. Tổ Qui Tông nối pháp Đức Mã Tổ. ) từ giã Tổ Quy Tông.

Tổ hỏi : “Đi đến chỗ nào ?”

Đáp : “Đi các nơi học Ngũ Vị Thiền  -(ct) Năm loại Thiền : ngoại đạo, phàm phu, Tiểu Thừa, Đại Thừa, Tối Thượng Thừa. )”.
Tổ Quy Tông nói : “Các nơi có Ngũ Vị Thiền, ta trong ấy chỉ có một Vị”.

Hỏi : “Thế nào là Một Vị Thiền  -(ct) Nhứt vị thiền. Là phép thiền mau tỏ ngộ, mau thấm vào ( tức đốn ngộ, đốn nhập). ) ?”

Tổ bèn đánh.

Ngài Đại Ngu nói : “Hiểu vậy, hiểu vậy !”

Tổ nói : “Nói đi, nói đi !”

Ngài Đại Ngu định mở lời, Tổ lại đánh.

Sau, có nhà sư đến Tổ Hoàng Bá kể lại chuyện trên.

Tổ thượng đường nói : “Đại sư Mã Tổ có được tám mươi bốn vị Thiện Trí Thức, vậy mà hỏi ai nấy cái chỗ đại tiện đầy đất, thì chỉ có Quy Tông là được chút ít”.

Chỉ có Tổ Hoàng Bá tỏ biết sâu xa cái Thiền Một Vị nên cùng Tổ Quy Tông thấy mặt nhau. Sau này, Tổ Hoàng Bá dùng cái cơ Thiền này để bắt Lâm Tế. Ngài Tế không khế ngộ được, bèn chỉ sang Tổ Đại Ngu. Gặp Tổ Đại Ngu, Lâm Tế kể lại nhân duyên ba lần bị đánh cho.

Tổ Ngu nói : “Hoàng Bá giúp ông trừ hết nỗi khốn khó, lại ở trong ấy mà hỏi có lỗi với không lỗi”.

Ngài Lâm Tế ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói : “Té ra Phật Pháp của Hoàng Bá cũng chẳng có gì !”

Tổ Ngu nắm đứng lại hỏi : “Nói mau, nói mau !”

Ngài Lâm Tế thoi ba thoi vào sườn Tổ Đại Ngu.

Tổ thả ra, nói : “Thầy ông là Hoàng Bá, chẳng can dự gì đến ta”.

Tổ Ngu vừa muốn thi triển cái gia phong của Quy Tông, thì đã bị Lâm Tế đoạt mất, thế mới biết chỗ thấy của Lâm Tế vượt trước một bậc vậy.

Thiền sư Long Hưng Pháp Cư đã lớn tuổi mới gặp Tổ Hoàng Long và được ấn khả.

Ngài thượng đường nói : “Việc này cũng như thầy thuốc xem bệnh, hiện thời vả chăng tạp độc đầy bụng chưa dễ chữa trị. Vậy phải cho thuốc để chữa sự chóng mặt tối tăm do bệnh gây ra, rồi sau mới hết được. Còn cứ theo ý mình mà uống thuốc, thì chỉ thêm cuồng loạn, tăng thêm nặng mà thôi. Thế mà mong hết bệnh chẳng phải là lầm ư ? Cỏ trước pháp đường đã mọc dày, mà trong lòng không hổ thẹn !”

Ở nơi các tắc trên mà thông hội được, thì chẳng những biết được mùi vị ấy, mà còn có thể trị bệnh cho người.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 07:36:04 PM »

(tiếp theo)

陀婆羅(此云賢護)並其同伴十六開士。即從座起。頂禮佛足而白佛言。我等先於威音王佛聞法出家。於浴僧時。隨例入室。忽悟水因。既不洗塵。亦不洗體。中間安然。得無所有。宿習無忘。乃至今時。從佛出家。令得無學。彼佛名我陀婆羅。妙觸宣明。成佛子住。佛問圓通。如我所證。觸因為上。

V. VIÊN THÔNG VỀ XÚC TRẦN

Kinh : Ông Bạt Đà Bà La cùng mười sáu vị Khai Sĩ đồng bạn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch rằng : “Xưa kia, chúng tôi ở nơi Đức Phật Oai Âm Vương, nghe pháp mà xuất gia. Vào giờ tắm của các tăng, tôi theo thứ lớp vào phòng tắm, bỗng ngộ được Tánh Nước : đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, khoảng giữa an nhiên, đắc Vô Sở Hữu. Chỗ học xưa không quên, cho đến ngày nay theo Phật xuất gia, được quả Vô Học. Đức Phật xưa ấy gọi tôi tên là Bạt Đà Bà La. Cái Diệu Xúc khai mở rõ ràng, thành bậc Phật Tử Trụ.

“Phật hỏi về Viên Thông, theo như chỗ chứng của tôi, thì do Xúc Trần là hơn cả”.


通曰。雪竇舉古有十六開士。於浴僧時。隨例入室。忽悟水因。諸禪德作麼生會。他道妙觸宣明。成佛子住。也須七穿八穴始得。頌云。了事納僧消一個。長連床上展腳臥。夢中曾說悟圓通。香水洗來驀面唾。此現成公案。後來諸老宿更與重重發明。韶國師初參龍牙。問天不蓋。地不載。此理如何。牙曰。道者合如是。凡經十七次問。牙秪如是答。再請垂誨。牙曰。道者汝已後自會去。後於通玄峰澡浴次。忽省前話。遂具威儀。遙望龍牙禮拜。曰當時若向我說。今日決定罵也。後參法眼。有僧問法眼。如何是曹溪一滴水。眼曰。是曹溪一滴水。僧惘然而退。師於坐側豁然開悟。平生疑滯。渙若冰釋。至此方得七穿八穴。嘗有偈曰。通玄峰頂。不是人間。心外無法。滿目青山。法眼聞云。即此一偈。可起吾宗。又石梯和尚因侍者請浴。梯曰。既不洗塵。亦不洗體。汝作麼生。者曰。和尚先去。某甲將皂角來。梯呵呵大笑。幾被侍者驀面一唾。僧問天蓋幽禪師。有一院名無垢淨光禪院。化造浴室。有人問。既是無垢淨光。為甚麼卻造浴室。僧無語。天蓋代云。三秋明月夜。不是騁團圓。丹霞更為出語頌曰。雖然答盡深深意。爭奈投機句未親。欲會本來無垢的。更須入水見長人。空室道人智通者。龍圖范珣女。嘗謁死心印可。居金陵。設浴堂。揭榜於門曰。一物也無。洗個甚麼。纖塵若有。起自何來。道取一句子玄。乃可大家入浴。古靈秪。解揩背。開士何曾明心。欲證離垢地時。須是通身污出。盡道水能洗垢。焉知水亦是塵。直饒水垢頓除。到此亦須洗卻。後為尼。名惟久。諸尊宿夢中說夢。重重指出妙觸宣明。可與十六開士同參。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ngài Tuyết Đậu nêu ra việc xưa rằng : “Có mười sáu vị Khai Sĩ  -(ct) Bọn Ông Hiền Hộ, 16 Cư Sĩ Bồ Tát. ) gặp giờ các tăng tắm, theo thứ tự vào phòng tắm, bỗng ngộ tánh nước. Các vị Thiền Đức hiểu làm sao ?” Các vị ấy nói : “Cái Diệu Xúc khai mở rõ ràng, thành bậc Phật Tử Trụ  -(ct) Chỗ dựa nương của Phật Tử. ). Cũng cần xuyên thủng bảy lỗ tám hang  -(ct) Nghiã là lời nói rối rắm, vu vơ. Các thành ngữ đồng nghiã khác như: thất linh bát lạc, thất thượng bát lạc. ) mới được”.


Tụng rằng :

“Xong việc ông tăng thật rảnh rang
Trên giường thẳng cẳng duỗi chân nằm
Trong mộng từng thuyết Viên Thông Ngộ
Rửa nước thơm xong, nhè mặt khạc”.

Cái này đã thành công án, về sau các vị Lão Túc cùng nó phát minh rất nhiều.


Thiều Quốc Sư ban đầu ra mắt Tổ Long Nha, hỏi rằng : “Trời không che, đất không chở, lý ấy thế nào?”

Đáp : “Đạo thì hợp như thế”.

Phàm trải qua mười bảy lần thưa hỏi, Tổ chỉ đáp như vậy. Ngài lại xin dạy bảo, Tổ nói : “Đạo ấy về sau ông tự hiểu”.

Về sau, ở núi Thông Huyền, Ngài Thiều đang tắm, bỗng tỉnh ngộ chuyện trước, bèn đầy đủ oai nghi, hướng về chỗ Tổ Long Nha làm lễ, rồi nói : “Lúc ấy mà nói cho tôi, thì hôm nay nhất định phải bị mắng”.

Sau, Ngài đến tham học Tổ Pháp Nhãn.

Có nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhãn : “Như thế nào là một giọt nước Tào Khê ?”

Tổ Nhãn nói : “Là Tào Khê một giọt nước”.

Nhà sư ngơ ngẩn lui ra.

Ngài đang ngồi một bên hoát nhiên khai ngộ, cái nghi vướng bấy lâu như băng tan rã. Đến đây mới được suốt bảy lỗ, tám hang.

Ngài làm bài kệ :

“Thông Huyền chót đảnh
Chẳng phải nhân gian
Ngoài Tâm không Pháp
Ngập mắt núi xanh”.

Tổ Pháp Nhãn nghe qua, nói rằng : “Một bài kệ này, khá khởi lên Tông của ta”.

Hòa Thượng Thạch Thê nhân có thị giả mời đi tắm, bèn hỏi : “Đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, ông làm thế nào ?”

Thị giả đáp : “Hòa Thượng đi trước, rồi tôi đem thuốc tạo-giác  -(ct) Giống xà phòng, dùng để tắm. ) lại sau”.

Hòa Thượng cười ha hả, cơ hồ bị thị giả một phen nhổ nước miếng qua mặt !

Có nhà sư hỏi thiền sư Thiên U Cái : “Có một cái Viện tên là Vô Cấu Tịnh Quang Thiền Viện, sửa thành nhà tắm. Có người hỏi : “Đã là Vô Cấu Tịnh Quang, vì sao lại làm nhà tắm ?” Tôi không đáp được”.

Ngài Thiên Cái đáp thay rằng :

“Ba Thu đêm trăng sáng
Việc gì lại họp nhau”.
Ngài Đơn Hà lại tụng rằng :
“Tuy là đáp tận ý sâu xa
Khổ nỗi đem ra chẳng được gần
Muốn hiểu “xưa nay vô cấu” ấy
Phải vào trong nước gặp trưởng nhân”.

Con gái của Ông Long Đồ Phạm Tuân, từng được Tổ Tử Tâm ấn khả ở Kim Lăng, lập ra một nhà tắm, nơi cửa yết tấm bảng rằng : “Một vật cũng không, tẩy rửa cái gì ? Mảy bụi nếu có, khởi từ đâu lại ? Nói được một câu cho ra nghĩa lý, mới được vào nhà này mà tắm.

“Cổ Linh chỉ mới biết lau lưng ! Khai Sĩ nào từng rõ Tánh ! Muốn chứng Ly Cấu Địa, thì phải suốt thân chẳng nhiễm. Hết thảy đều bảo nước để rửa sạch cái dơ, nào hay nước cũng là trần (bụi). Dầu cho cả nước và dơ chóng trừ, đến đây cũng cần rửa sạch hết !”

Sau này cô xuất gia làm ni cô tên là Duy Cửu.

Các vị tôn túc trong mộng nói mộng, mỗi mỗi chỉ ra cái “Diệu Xúc rõ bày”, có thể cùng mười sáu vị Khai Sĩ cùng tham.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 07:39:23 PM »

(tiếp theo)

摩訶迦葉。及紫金光比丘尼等。即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我於往劫。於此界中。有佛出世。名日月燈。我得親近。聞法修學。佛滅度後。供養舍利。然燈續明。以紫金光涂佛形像。自爾以來。世世生生。身常圓滿。紫金光聚。此紫金光比丘尼等。即我眷屬。同時發心。我觀世間六塵變壞。唯以空寂。修於滅盡。身心乃能度百千劫。猶如彈指。我以空法成阿羅漢。世尊說我頭陀(此云抖擻)為最。妙法開明。銷滅諸漏。佛問圓通。如我所證。法因為上。

VI. VIÊN THÔNG VỀ PHÁP TRẦN

Kinh : Ông Ma Ha Ca Diếp và Tỳ Kheo Ni Tử Kim Quang v.v... liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Trong kiếp xưa ở cõi này có Phật ra đời, tên là Nhật Nguyệt Đăng, tôi được thân cận, nghe pháp, tu học. Sau khi Phật diệt độ, chúng tôi cúng dường Xá Lợi, thắp đèn sáng mãi; lại lấy vàng sắc tía đắp thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời đời kiếp kiếp, thân thể thường toàn vẹn sáng ngời như vàng thắm. Nhóm Tỳ Kheo Ni Tử Quang này tức là quyến thuộc của tôi lúc đó, cũng đồng một thời phát tâm như tôi. Tôi quán sát sáu Trần của thế gian thay đổi biến hoại, chỉ dùng pháp Không Tịch, tu Định Diệt Tận, thân tâm mới có thể trải qua trăm nghìn kiếp như thời gian khảy móng tay. Tôi do cái Pháp Không mà thành A La Hán. Đức Thế Tôn bảo tôi tu hạnh đầu đà bậc nhất. Pháp nhiệm mầu mở sáng, các lậu đều tiêu diệt.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì do Pháp Trần là hơn cả”.


通曰。前云諸滅盡定。得寂聲聞。唯大迦葉。久滅意根。圓明了知。不因心念。彼唯悟法空寂。成阿羅漢。六塵之生。依空而生。六塵之滅。滅歸於空。塵有生滅。空性不壞。抖擻法塵。即是空法。意不緣法。得無生滅。故能度百千劫猶如彈指。至今持佛金襕袈裟。於雞足山入定。待彌勒下生授之。亦其驗也。紫金光比丘尼。宿為貧女。迦葉為鑄師。女以金少許。托鑄佛面。願生生世世。為無情夫婦。感九十一劫生天。身常圓滿。紫金光聚。今值佛出家。果酬宿願。永嘉玄覺禪師。遍探三藏。精天台止觀圓妙法門。於四威儀中。常冥禪觀。後因左溪朗禪師激勵。與東陽策禪師同詣曹溪。初到。振錫繞祖三匝。卓然而立。祖曰。夫沙門者。具三千威儀。八萬細行。大德自何方而來。生大我慢。覺曰。生死事大。無常迅速。祖曰。何不體取無生。了無速乎。覺曰。體即無生。了本無速。祖曰。如是。於時大眾無不愕然。覺方具威儀參禮。須臾告歸。祖曰。返大速乎。覺曰。本自非動。豈有速耶。祖曰。誰知非動。覺曰。仁者自生分別。祖曰。汝甚得無生之意。覺曰。無生豈有意耶。祖曰。無意誰當分別。覺曰。分別亦非意。祖嘆曰善哉善哉。少留一宿。時謂之一宿覺。此非久滅意根。得無生忍。安能應答如響。一至於是。自憍陳那至此六聖。曰妙音。曰妙色。曰妙香。曰妙觸。皆曰妙者。不縛於塵者也。此由六塵而證圓通者。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Trước có nói các bậc Diệt Tận Định đắc bậc Thanh Văn Tịch Diệt, duy Ngài Đại Ca Diếp, ý thức diệt đã lâu, mà hiểu biết đều tròn vẹn, chẳng nhờ tâm niệm. Ngài ngộ được các pháp là Không Tịch mà thành A La Hán. Sáu Trần như sanh, là ở trong Không mà sanh; sáu Trần như diệt, về nơi Không mà diệt. Trần có sanh diệt, Tánh Không chẳng hoại. Trừ sạch Pháp Trần, đó là Pháp Không. Cái Ý chẳng duyên ra pháp, được không sanh diệt. Nên có thể vượt qua trăm ngàn kiếp như khảy móng tay. Cho đến nay, Ngài Ca Diếp vẫn giữ áo cà sa vàng của Phật, nhập định trong núi Kê Túc, chờ Đức Di Lặc hạ sanh mà trao lại, đó là sự linh nghiệm vậy.

Tỳ Kheo Ni Tử Kim Quang kiếp xưa là một cô gái nghèo. Thuở ấy, Ngài Ca Diếp làm người thợ đúc. Cô lấy vàng nhờ người thợ đúc thếp vàng mặt Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp làm vợ chồng không tình ân ái. Cảm ứng được chín mươi mốt kiếp sanh cõi trời, thân thường toàn vẹn vàng chói. Nay gặp Phật xuất gia, quả nhiên thỏa được nguyện xưa.

Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác tinh thâm hết ba tạng kinh điển, rành Thiên Thai Chỉ Quán, pháp môn viên diệu. Trong cả bốn oai nghi thường sáng rõ pháp thiền quán. Sau, nhân thiền sư Khê Lãng khuyến khích, cùng thiền sư Đông Dương Sách đến Tào Khê. Mới vừa đến, đi quanh Tổ ba vòng, rồi chống trượng đứng yên.

Tổ nói : “Phàm là Sa Môn, đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Đại Đức từ phương nào lại, mà tỏ ra quá nhiều ngã mạn ?”

Huyền Giác nói : “Việc sanh tử là lớn lao, cái vô thường rất nhanh chóng !”

Tổ nói : “Sao chẳng hội cái Vô Sanh, tỏ suốt cái không chóng ?”

Huyền Giác nói : “Thể tức Vô Sanh, rõ vốn không chóng.”

Tổ nói : “Y vậy”.

Khi ấy đại chúng đều kinh ngạc. Ngài Huyền Giác mới đầy đủ oai nghi làm lễ Tổ, chốc lát từ giã.

Tổ nói : “Về gấp thế sao ?”

Huyền Giác nói : “Vốn tự chẳng động, nào có sự gấp ư ?”

Tổ nói : “Ai biết là chẳng động ?”

Huyền Giác nói : “Đó là Ngài tự sanh phân biệt”.

Tổ nói : “Ông thật là được cái ý chỉ Vô Sanh”.

Huyền Giác nói : “Vô Sanh mà có ý ư ?”

Tổ nói : “Không có ý thì ai phân biệt ?”

Huyền Giác nói : “Phân biệt cũng chẳng phải ý”.

Tổ khen ngợi : “Hay lắm, hay lắm, ít ra hãy ở lại một đêm”.

Thời ấy gọi Ngài là “Một Đêm Giác”.(Nhất túc giác)

Chỗ này, nếu chẳng diệt Ý Căn từ lâu, đắc Vô Sanh Nhẫn, thì đâu có thể ứng đáp như âm vang dội theo tiếng vậy được. Từ Ngài Kiều Trần Na đến đây là sáu vị Thánh. Nói là Diệu Âm, Diệu Sắc, Diệu Hương, Diệu Xúc, đều gọi là Diệu, vì không ràng buộc nơi Trần vậy.

Đây chính là do sáu Trần mà chứng viên thông.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 07:43:39 PM »

(tiếp theo)

阿那律陀。即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我初出家。常樂睡眠。如來訶我為畜生類。我聞佛訶。啼泣自責。七日不眠。失其雙目。世尊示我樂見照明金剛三昧。我不因眼觀見十方。精真洞然。如觀掌果。如來印我成阿羅漢。佛問圓通。如我所證。旋見循元。斯為第一。

VII. VIÊN THÔNG VỀ NHÃN CĂN

Kinh : Ông A Na Luật Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi lúc mới xuất gia, thường thích ngủ nên Phật la tôi là loài súc sanh. Tôi nghe Phật mắng, khóc lóc tự trách, suốt bảy ngày không ngủ, hư cả hai con mắt.
“Đức Thế Tôn dạy tôi tu pháp Lạc Kính Chiếu Minh Kim Cương Tam Muội. Tôi chẳng do con mắt, xem thấy mười phương rỗng suốt rõ ràng như xem trái cây trong bàn tay. Như Lai ấn chứng cho tôi, thành A La Hán.

“Phật hỏi Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì xoay cái Thấy trở về Bản Tánh, đó là Thứ Nhất”.


通曰。阿那律陀。白飯王子。於佛為堂弟。過去世以一飯施辟支佛。感九十一劫受如意樂。佛嘗訶之曰。咄咄。何為睡。螺螄蚌蛤類。一睡一千年。不聞佛名字。因此激發喪目。乃得半頭天眼。智論云。那律天眼。四大造色。半頭清淨。佛天眼。四大造色。遍頭清淨。樂見照明金剛三昧。即旋見循元法門。明屬所。照屬能。明之所在。照能照之。照之所在。見能見之。照從何起。見從何來。至於見無所見。照無所照。即得金剛三昧。覿體見元矣。金剛能摧壞故。見照俱亡。三昧即正定。乃寂照本體也。樂此觀照。即是旋見循元。至得天眼。則非思議所及。德山初到龍潭。至法堂曰。久向龍潭。及乎到來。潭又不見。龍又不現。潭引身曰。子親到龍潭。據此初到機緣。合受龍潭衣缽。一夕侍立次。潭曰。更深何不下去。山珍重便出。卻回曰。外面黑。潭點紙燭度與山。山擬接。潭復吹滅。山於此大悟。便禮拜。潭曰。子見個甚麼。山曰。從今向去。更不疑天下老和尚舌頭也。來日潭升座。謂眾曰。可中有個漢。牙如劍樹。口似血盆。一棒打不回頭。他日向孤峰頂上。立吾道去在。山將疏鈔堆法堂前。舉火炬曰。窮諸玄辨。若一毫置於太虛。竭世樞機。似一滴投於巨壑。逐焚之。禮辭而去。若德山所得法眼。於阿那律陀較多少。臨濟將示滅。說偈曰。 流不止問如何。真照無邊說似他。離相離名人不稟。吹毛用了急須磨。復謂眾曰。吾滅後不得滅卻吾正法眼藏。三聖出曰。爭敢滅卻和尚正法眼藏。濟曰已後有人問。你向他道甚麼。聖便喝。濟曰。誰知吾正法眼藏。向這瞎驢邊滅卻。天童頌云。信衣夜半付盧能。攪攪黃梅七百僧。臨濟一枝正法眼。瞎驢滅卻得人憎。心心相印。祖祖傳燈。夷平海岳。變化鹍鵬。只個名言難比擬。大都手段解翻騰。到此分齊。即正法眼藏。也須滅卻。何況天眼。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông A Na Luật Đà là con Vua Bạch Phạn  -(ct) Em Vua Tịnh Phạn. ), với Phật là anh em chú bác. Trong đời quá khứ dâng cho một vị Bích Chi Phật một bữa cơm, cảm ứng được chín mươi mốt kiếp có cái Vui Như Ý. Phật thường la rằng “Ôi, ôi, sao lại ngủ. Như loài ốc, loài sò ngủ một giấc cả ngàn năm, chẳng nghe tên hiệu của Phật”. Từ đó, ông cố gắng đến mù cả mắt, bèn được một nửa phần Thiên Nhãn.

Đại Trí Luận nói “Thiên Nhãn của Ông A Na Luật do tứ Đại tạo sắc, thanh tịnh được một nửa. Thiên Nhãn của Phật cũng là tứ Đại tạo sắc mà thanh tịnh khắp cả”.

Cái Tam Muội Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang là pháp môn xoay cái Thấy trở về nguồn Tánh. Minh thuộc Sở, Chiếu thuộc Năng. Trong chỗ Minh, cái Chiếu thường soi tỏ. Trong chỗ Chiếu, cái Thấy thấy suốt. Chiếu từ đâu mà lại ? Thấy từ đâu khởi ra ? Cho đến chỗ thấy mà không có chỗ thấy, chiếu soi mà không có chỗ chiếu soi, liền được Kim Cương Tam Muội. Đó là Thể của cái Chiếu, Nguồn của cái Thấy vậy. Kim Cương phá nát tất cả, Thấy và Chiếu đều tiêu vong, ấy là Tam Muội Chánh Định, tức là cái Bản Thể Tịch Chiếu vậy. Vui theo cái quán chiếu này, nghĩa là xoay cái Thấy trở về nguồn Tánh. Cho đến được Thiên Nhãn, thì cũng chẳng phải chỗ luận bàn đến được.


Ngài Đức Sơn khi mới đến Tổ Long Đàm, tuốt vào pháp đường, nói : “Lâu nay vang tiếng Đầm Rồng (Long Đàm), nay đến nơi, đầm lại chẳng thấy, mà rồng cũng chẳng hiện”.

Tổ Đàm tiến lên, nói : “Ông đã đích thân đến Long Đàm (Đầm Rồng). Căn cứ vào cơ duyên lúc mới đến này thì đáng nhận y bát của Long Đàm”.

Một buổi tối, đang đứng hầu Tổ.

Tổ Long Đàm nói : “Khuya rồi sao chẳng về nghỉ?”

Đức Sơn chỉnh tề bước ra rồi trở lui, nói : “Ngoài tối lắm”.

Tổ Đàm đốt cây đuốc giấy đưa cho Ngài Đức Sơn, Ngài định cầm lấy, Tổ Đàm liền thổi tắt. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ, bèn lễ bái.

Tổ hỏi : “Ông thấy cái gì ?”

Ngài Sơn nói : “Từ nay trở đi, không còn nghi cái đầu lưỡi của Lão Hòa Thượng trong thiên hạ nữa”.

Hôm sau, Tổ Long Đàm lên tòa giảng, nói với đại chúng : “Trong đây có một gã răng như đao kiếm, miệng như chậu máu, một gậy đánh cho chẳng quay đầu, mai kia hướng lên đỉnh núi cô cao, lập đạo ta ở đó”.

Đức Sơn đem bộ Sớ Sao kinh Kim Cương, Ngài đã viết từ trước, chất trước pháp đường, cầm cây đuốc mà nói rằng : “Có cùng tột các lý lẽ diệu huyền cũng như một mảy lông để giữa thái hư ! Thấu suốt hết các mấu chốt của đời cũng nhưng một giọt nước rơi vào biển cả !”

Rồi đốt sạch, làm lễ từ giã Tổ mà ra đi.

Như cái pháp nhãn mà Ngài Đức Sơn đắc, so với Ông A Na Luật Đà nhiều ít giống nhau.

Tổ Lâm Tế lúc sắp tịch, nói bài kệ :

“Theo dòng không dứt, hơi đâu hỏi tại sao
Chân chiếu vô biên, lấy chi nói ta-người
Cái lìa tướng, lìa danh kia, người chẳng nhận
Kiếm bén đứt lông, dùng rồi phải gấp mài”.


Tổ lại nói với đại chúng : “Sau khi ta diệt độ, không được diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta”.

Ngài Tam Thánh bước ra, thưa : “Sao dám diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của Hòa Thượng !”

Tổ Tế nói : “Về sau, có người hỏi, ông nói thế nào với họ ?”

Ngài Thánh liền hét.

Tổ nói : “Ai biết Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta, hướng về con lừa mù ấy mà diệt mất”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Nửa đêm y bát truyền Huệ Năng
Rối loạn Hoàng Mai, bảy trăm tăng
Một chi Lâm Tế, Chánh Pháp Nhãn
Lừa mù diệt mất, người đắc đâu ?
Tâm Tâm ấn nhau
Tổ Tổ truyền đăng
Khỏa bằng núi, biển
Biến hóa đại bàng
Chỉ danh ngôn ấy khó suy lường
Đều là thủ đoạn thoát bay lên !”.

Đến chỗ này thì Chánh Pháp Nhãn Tạng còn lại diệt mất, huống gì là Thiên Nhãn kia ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 07:46:22 PM »

(tiếp theo)

周利槃特迦(此云蛇奴)即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我闕誦持。無多聞性。最初值佛。聞法出家。憶持如來一句伽陀。於一百日。得前遺後。得後遺前。佛愍我愚。教我安居調出入息。我時觀息微細。窮盡生住異滅。諸行剎那。其心豁然。得大無礙。乃至漏盡成阿羅漢。住佛座下。印成無學。佛問圓通。如我所證。反息循空。斯為第一。

VIII. VIÊN THÔNG VỀ TỶ CĂN

Kinh : Ông Châu Lợi Bàn Đặc Ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi thiếu tụng trì, không có tánh đa văn. Ban đầu gặp Phật, nghe pháp xuất gia, ghi nhớ một câu kệ của Như Lai trong một trăm ngày, thì nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước. Phật thương tôi ngu muội, dạy tôi an cư, đều hòa hơi thở ra vào. Tôi quán hơi thở, cùng tột sự nhỏ nhiệm của các tướng sanh, trụ, dị, diệt, các hành trong từng sát na, thì tâm hoát nhiên được Đại Vô Ngại, cho đến các lậu đều sạch hết, thành A La Hán. Trước pháp tọa của Phật, được ấn chứng thành quả Vô Học.

“Phật hỏi tôi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì xoay hơi thở theo về Không, đó là Thứ Nhất”.


通曰。此即誦帚比丘也。過去世為法師。吝法。感愚鈍報。雖乏多聞。終鮮散亂。故能於調息得入。息之粗細。由心生滅。心漸息故息漸微。心息相依。至窮盡生住異滅諸行剎那極微細相。息即無息。心即無心。一殺那頃。透入金剛干慧地。故得豁然無礙。此悟境也。非言思所及。昔莫將尚書因官西蜀。謁南堂靜禪師。咨決心要。堂使其向好處提撕。適入廁。俄聞穢氣。急以手掩鼻。遂有省。即呈偈曰。從來姿。韻愛風流。幾笑時人向外求。萬別千差無覓處。得來原在鼻尖頭。南堂答曰。一法才通法法周。縱橫妙用更何求。青蛇出匣魔軍伏。碧眼胡僧笑點頭。此亦反息循空。忽然證入。幾與誦帚比丘覿面。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là vị Tỳ Kheo đọc thuộc lòng chữ “Chữu= Trữu ” là cái chổi vậy.

Đời quá khứ là pháp sư mà bỏn sẻn Pháp, nên bị quả báo ngu độn. Tuy ít đa văn, nhưng ít bị tán loạn, nên có thể điều tức mà thấu nhập. Sự thô tế của hơi thở là do tâm sanh diệt. Tâm dần dần ngừng nên hơi thở từ từ vi tế. Tâm và hơi thở nương lẫn nhau, mà đến cùng tột các tướng sanh, trụ, dị, diệt, các tướng rất vi tế của các hành trong khoảng sát na, thì hơi thở tức là không hơi thở, tâm là vô tâm. Trong khoảng sát na, thấu nhập Kim Cang Càn Huệ Địa, nên được hoát nhiên Vô Ngại. Cảnh giới Ngộ này, thì ngôn ngữ, nghĩ suy không thể đến được.

Xưa, Thượng Thơ Mạc Tương khi làm quan xứ Tây Thục, ra mắt thiền sư Nam Đường Tỉnh, hỏi chỗ tâm yếu. Tổ bảo hãy hướng về chỗ tốt mà tỉnh thức. Vừa bước vào cầu tiêu, bỗng nghe mùi hôi, vội lấy tay bịt mũi, bèn chợt tỉnh ngộ. Liền trình bài kệ :

“Xưa ngay cốt cách thích phong lưu
Cười cho ai đó hướng ngoài cầu
Muôn sai ngàn khác, không đâu kiếm
Đắc cái xưa nay ở mũi đầu”.


Tổ Nam Đường đáp rằng :

“Một pháp vừa thông, pháp pháp Như
Dọc ngang diệu dụng còn tìm đâu
Rắn xanh khỏi hộp, quân ma nép
Bích nhãn Hồ Tăng cười gật đầu”.

Đây cũng là xoay hơi thở theo về Không, mà bỗng nhiên chứng nhập. Có thể cùng thầy Tỳ Kheo tụng chữ “Chổi” thấy mặt nhau !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Ba 23, 2011, 07:50:45 PM »

(tiếp theo)

憍梵缽提。即從座起。頂禮佛足而白佛言。我有口業。於過去劫。輕弄沙門。世世生生。有牛呞病。如來示我一味清淨心地法門。我得滅心入三摩地。觀味之知。非體非物。應唸得超世間諸漏。內脫身心。外遺世界。遠離三有。如鳥出籠。離垢銷塵。法眼清淨。成阿羅漢。如來親印。登無學道。佛問圓通。如我所證。還味旋知。斯為第一。

IX. VIÊN THÔNG VỀ THIỆT CĂN


Kinh : Ông Kiều Phạm Bát Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi mắc khẩu nghiệp, trong kiếp quá khứ coi thường, giỡn cợt Sa Môn nên đời đời kiếp kiếp mắc tật nhai lại như trâu. Như Lai chỉ dạy tôi pháp môn “Nhất Vị Thanh Tịnh Tâm Địa”, tôi diệt được tâm thức, vào Tam Ma Địa. Quán biết cái Vị không phải thân thể, không phải món vật, liền đó được vượt thoát các lậu của thế gian, trong thoát hết thân tâm, ngoài mất tan thế giới, xa lìa ba cõi như chim xổ lồng, rời hết dơ nhiễm, tiêu mất trần tướng, Pháp Nhãn thanh tịnh, thành A La Hán. Như Lai ấn chứng cho tôi thành đạo Vô Học.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi thì trả cái Vị, xoay cái Biết về gốc Tánh, đó là Thứ Nhất”.


通曰。憍梵缽提。異舌知味。以有牛呞病故。牛旁生。唯知草木而已。今舌相如牛。而能了別眾味。緣於舌本。觀味旋知。味有多種。知無兩般。此知未旋。心即未滅。即為有漏。旋知歸無。知無所知。故得無漏。此知不於根生。非體也。不於境有。非物也。非體故內脫身心。非物故外遺世界。以是離於心垢。銷於外塵。得意生身。常居天上。受天人供。佛為遮謗故。賜之數珠。令常唸佛。是謂一味清淨法門。無始以來。舌根所造諸業。應時清淨。因此得寂滅心。入乎正定。蓋味乎道矣。仰山送果子上溈山。溈接得。問子甚麼處得來。仰曰。家園底。溈曰。堪吃也未。仰曰。未敢嘗。先獻和尚。溈曰。是阿誰底。仰曰。是慧寂底。溈曰。既是子底。因甚麼教我先嘗。仰曰。和尚嘗千嘗萬。溈便吃曰。猶帶酸澀在。仰曰。酸澀莫非自知。溈不答。又玄沙與韋監軍吃果子次。韋問如何是日用而不知。沙拈起果子曰吃。韋吃果子了。再問。沙曰。秪這是日用而不知。仰山曰自知。玄沙曰不知。知而不知。不知而知。還味旋知。應如是見。如是知。方名法眼清淨。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Kiều Phạm Bát Đề lưỡi khác người mà biết Mùi Vị. Do có tật nhai lại như trâu, mà trâu là loài vật, chỉ biết cây cỏ mà thôi, nay hình dáng cái lưỡi như trâu, mà phân biệt rõ được các vị, là do nơi cái gốc của lưỡi. Quán xét mùi vị, xoay lại cái Biết, thì Vị có nhiều thứ mà cái Biết này không hai. Cái Biết này lúc chưa xoay lại, thì tâm thức chưa diệt, đó là hữu lậu. Xoay cái Biết về Không, biết mà không có chỗ biết, nên là vô lậu.

 Cái Biết này chẳng do Căn sanh nên không phải Thân, không do Cảnh mà có, nên không phải Vật. Không phải Thân nên trong thoát hết thân tâm; không phải Vật, nên ngoài mất tan thế giới. Do vậy, lìa tâm dơ nhiễm, tiêu mất ngoại trần, được Ý Sanh Thân, thường ở cõi trời, được người, trời cúng dường. Phật vì muốn xóa đi nghiệp nhạo báng nên cho Ngài xâu chuỗi ngọc, dạy niệm Phật, gọi là pháp môn “Nhất Vị Thanh Tịnh Tâm Địa”. Từ vô thủy đến nay, các nghiệp do căn lưỡi tạo ra, lập tức thanh tịnh, do đó được Tâm tịch diệt, vào định bình đẳng, bèn nếm mùi Đạo vậy.

Ngài Ngưỡng Sơn đem trái cây cho Tổ Quy Sơn.

Tổ nhận lấy, hỏi : “Ở đâu mà có vậy ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Trong vườn nhà”.

Tổ Quy Sơn nói : “Đã ăn chưa ?”

Đáp : “Chưa dám nếm, trước dâng lên Hòa Thượng”.

Tổ nói : “Là ai đó ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Là Huệ Tịch”.

Tổ nói : “Đã là ông đó, sao lại bảo ta nếm trước?”

Ngài Ngưỡng nói : “Hòa Thượng thì nếm ngàn nếm vạn”.

Tổ Quy Sơn bèn ăn mà nói : “Còn chua chát”.

Ngài Ngưỡng nói : “Chua chát vẫn là tự biết”.

Tổ Quy Sơn không nói gì.

Lại Tổ Huyền Sa cùng Ông Vi Giám Quân đang ăn trái cây.

Ông Vi hỏi : “Như thế nào là dùng hàng ngày mà chẳng biết ?”

Tổ Sa cầm trái cây đưa lên, nói : “Ăn đi”.

Ông Vi ăn trái cây xong, lại hỏi nữa.

Tổ Sa nói : “Chỉ cái ấy là dùng hàng ngày mà chẳng biết !

Ngài Ngưỡng Sơn nói Tự biết. Ngài Huyền Sa nói Chẳng biết. Đó là, Biết mà chẳng Biết, chẳng Biết mà Biết. “Trả Mùi Vị, xoay cái Biết về gốc Tánh”, là phải thấy như thế, biết như thế, mới gọi là Pháp Nhãn Thanh Tịnh.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Ba 24, 2011, 05:47:02 AM »

(tiếp theo)

畢陵伽婆蹉。(此云余習)即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我初發心。從佛入道。數聞如來說諸世間不可樂事。乞食城中。心思法門。不覺路中毒刺傷足。舉身疼痛。我念有知知此深痛。雖覺覺痛。覺清淨心無痛痛覺。我又思惟。如是一身。寧有雙覺。攝念未久。身心忽空。三七日中。諸漏虛盡。成阿羅漢。得親印記。發明無學。佛問圓通。如我所證。純覺遺身。斯為第一。


X. VIÊN THÔNG VỀ THÂN CĂN

Kinh : Ông Tất Lăng Già Bà Ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi thưa rằng: “Lúc ban đầu mới phát tâm theo Phật vào Đạo, thường nghe Như Lai dạy về những việc không thể vui được trong thế gian. Đang khi khất thực trong thành, giữa đường, tâm suy nghĩ về pháp môn Phật dạy; thình lình bị gai độc đâm chân, toàn thân đau đớn. Tâm niệm tôi có biết sự đau đớn ấy; tuy biết đau đớn mà cũng biết cái tâm thanh tịnh không có cái đau và cái biết đau. Tôi lại suy nghĩ, vậy thì chỉ một thân lại có hai cái biết. Nhiếp tâm chẳng bao lâu thân tâm bỗng nhiên rỗng không, trong khoảng hai mươi mốt ngày, các lậu đều tiêu hết, thành quả A La Hán, được Phật ấn chứng là bậc Vô Học.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi thì thuần một Giác Tánh, tan mất cái thân, đó là Thứ Nhất”.


運曰。畢陵伽婆蹉。呼河神為婢子。有宿生尊貴習氣在不能遺身。故於毒刺傷足。舉身疼痛。乃能省入。雖有能覺覺於所痛。覺乃清淨心。離於能所。非痛所及。痛是所覺。覺能覺之。覺是能覺。痛不能痛之。一痛一不痛。既覺痛。又覺不痛。豈一身而有雙覺耶。覺唯一真。覺痛是妄。由是攝念。外忘其身。所覺既泯。內忘其心。能覺亦化。身心忽空。斯證無學。止一清淨覺。故曰純覺。既證純覺。能所俱離。乃能遺身。既能遺身。則諸世間不可樂事。當即解脫。昔第四祖優婆鞠多。有著身見者求度。祖曰。求度之法。要信吾言。不違吾教。人曰。既來投師。固當聞命。祖乃化一險崖。山聳喬木。令其上樹。又於樹下化作大坑。深廣千肘。祖令放腳。其人受教。即放二腳。令放一手。便放一手。令復放手。其人答曰。若復放手。便墮坑死。祖曰。先約受教。如何違我。是時其人身愛即滅。放手而墮。不見樹坑。即證道果。玄沙初欲遍歷諸方。參尋知識。攜囊出嶺。築著腳趾。流血痛楚。嘆曰。是身非有。痛從何來。便回雪峰。峰問那個是備頭陀。沙曰。終不敢誑於人。又一日。峰召曰。備頭陀何不遍參去。沙白。達磨不來東土。二祖不往西天。峰然之。云門初參睦州。州才見來。便閉卻門。門乃扣門。州曰誰。門曰某甲。州曰作甚麼。門曰己事未明。乞師指示。州開門。一見。便閉卻門。如是連三日扣門。至第三日。州開門。門乃拶入。州復擒住。曰道道。門擬議。州便推出。曰秦時   轢鑽。遂掩門。損門一足。門遂徹悟。州乃指見雪峰。若玄沙云門。亦畢陵伽婆蹉再來者也。依然傷足。習氣不除。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Tất Lăng Già Bà Ta gọi thần sông là “con Tì  -(ct) Tì: đầy tớ gái.

   Ông Trưởng Lão Tất Lăng Già Bà Ta hay sợ đau mắt; ông đi khất thực thường phải qua sông Hằng. Đến bờ sông, khảy móng tay rồi nói: “Tớ gái nhỏ, ngừng lại, đừng cho chảy”. Nuớc liền rẽ hai cho ông đi qua.

Bà Thần sông Hằng đến nơi Phật bạch rằng: “Đệ tử Phật, Ông Tất Lăng Già Bà Ta, thường hay mắng tôi là : Tớ gái nhỏ, ngưng lại, đừng cho chảy”.

   Đức Phật dạy Ông Tất Lăng Già Bà Ta xin lỗi, ăn năn với Bà Thần sông Hằng.

   Ông Tất Lăng Già Bà Ta liền chấp tay, nói với Bà Thần sông: “Cô tớ gái nhỏ, nay ăn năn xin lỗi cô”.

   Đại chúng cười rộ. Nói rằng sao xin lỗi mà lại còn mắng vậy.

   Đức Phật dạy Bà Thần sông Hằng: “Bà thấy Ông Tất Lăng Già Bà Ta chấp tay ăn năn xin lỗi chăng ? Ăn năn xin lỗi không có kiêu căng, nhưng còn lời nói. Nên biết chẳng phải hung dữ. Người này năm trăm đời đến nay thường đầu thai vào nhà Bà La Môn. Hằng ỷ mình sang, khinh hèn người khác, là chỗ thói quen xưa nay. Chỉ miệng nói mà thôi, lòng không có kiêu ỷ. Các vị A La Hán cũng y như vậy: tuy dứt lìa các sự ràng buộc, sui khiến sai biểu, nhưng dường còn thừa thói cũ”. )”. Vì trong các đời trước có thói quen quí tộc, hiện tại không thể bỏ quên thân thể. Nên khi gai độc đâm vào chân, toàn thân đau đớn bèn tỉnh nhập.

Tuy có cái Biết để biết cái đau, nhưng cái Biết là Tâm Thanh Tịnh, lìa ngoài Năng và Sở, sự đau đớn không thể đến được. Đau là cái bị biết, thì cái Biết có thể biết nó. Còn cái Biết là cái Hay Biết, thì cái đau không thể làm nó đau. Một cái có sự đau, một cái không đau. Đã biết có đau lại biết không đau, thế thì một thân lại có hai cái Biết sao ?
Cái Biết duy chỉ Một cái Chân, biết đau tức là Vọng. Do đó, nhiếp tâm niệm : ngoài quên mất thân thể, chỗ biết đều biến mất; trong quên mất tâm, cái Hay Biết cũng tan. Thân và tâm bỗng nhiên rỗng không, liền chứng Vô Học. Chỉ còn một cái Giác Thanh Tịnh, nên gọi là thuần một Giác Tánh. Ở trong cái Thuần Giác, thì Năng và Sở đều xa lìa. Thế mới tan mất cái thân, thân đã tan biến, thì thoát khỏi lập tức các việc không thể vui thích của thế gian.

Xưa, Đức Tứ Tổ Ưu Bà Cúc Đa có gặp một người bám trước Thân Kiến xin cứu độ.

Tổ nói : “Cầu pháp cứu độ thì phải tin lời ta, chẳng trái lời ta dạy”.

Người ấy nói : “Đã đến cầu Thầy, thì phải nghe lời răn dạy”.

Tổ bèn biến ra một bờ núi hiểm trở, trên chót có nhô ra một cây cao. Tổ dạy người ấy trèo lên cây. Lại ở dưới cây, hóa ra một cái hố lớn, sâu rộng ngàn tầm. Tổ dạy buông chân, người ấy tuân lời, buông hai chân ra. Dạy buông một tay, người ấy thả một tay. Lại dạy thả tay kia, người ấy đáp rằng : “Nếu thả luôn tay kia thì rớt xuống hố chết mất”.

Tổ nói : “Trước đã cam kết là tuân lời dạy, nay sao trái với ta !”

Khi ấy, người kia sự thương thân liền diệt, thả tay rơi xuống, thì chẳng thấy cây, thấy hố đâu cả. Liền chứng đạo quả.


Ngài Huyền Sa ban đầu muốn đi khắp nơi tìm hỏi thiện tri thức. Quảy gói ra khỏi núi, ngón chân bị vấp chảy máu, đau nhức.

Ngài than : “Thân này chẳng phải có, đau từ đâu đến ?”

Bèn trở về Tổ Tuyết Phong.

Tổ Tuyết Phong hỏi : “Cái gì là Huyền Sa Sư Bị đầu đà ?”

Ngài nói : “Trọn đời chẳng dám dối gạt người”.

Lại một ngày nọ, Tổ kêu lại hỏi : “Bị đầu đà sao chẳng đi khắp nơi mà học hỏi ?”

Ngài nói : “Đạt Ma chẳng đến Đông Độ, Nhị Tổ chẳng qua Tây Thiên”.

Tổ ưng nhận.

Ngài Vân Môn mới đầu ra mắt Tổ Mục Châu. Tổ Châu vừa thấy, liền đóng cửa. Ngài Vân Môn bèn gõ cửa.

Tổ Châu hỏi : “Ai ?”

Ngài đáp : “Tôi đây”.

Tổ nói : “Làm gì thế ?”

Mục Châu nói : “Việc mình chưa rõ, xin thầy chỉ bày”.

Tổ Châu mở cửa, nhìn một cái, liền đóng lại. Cứ vậy, liên tiếp gõ cửa ba ngày. Đến ngày thứ ba, Tổ Châu mở cửa, Vân Môn bèn sấn vào. Tổ Châu nắm đứng lại, hét : “Nói, nói !”

Vân Môn suy nghĩ, thì Tổ Châu bèn xô ra, nói : “Cái đồ vô dụng hết xài !”

Rồi đóng sập cửa, làm kẹt một chân của Vân Môn. Vân Môn liền triệt ngộ.

Tổ chỉ qua tham vấn Tuyết Phong.

Như hai ngài Huyền Sa, Vân Môn cũng là sự trở lại của Tất Lăng Già Bà Ta vậy ! Còn mình đây cũng bị đau chân mà tập khí chẳng chịu trừ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Ba 24, 2011, 05:50:23 AM »

(tiếp theo)

須菩提。即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我曠劫來。心得無礙。自憶受生如恆河沙。初在母胎。即知空寂。如是乃至十方成空。亦令眾生證得空性。蒙如來發性覺真空。空性圓明。得阿羅漢。頓入如來寶明空海。同佛知見。印成無學。解脫性空。我為無上。佛問圓通。如我所證。諸相入非。非所非盡。旋法歸無。斯為第一。


XI. VIÊN THÔNG VỀ Ý CĂN

Kinh : Ông Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi từ mênh mông kiếp đến nay, tâm được vô ngại, tự nhớ thọ sanh, kiếp số nhiều như cát sông Hằng. Lúc còn trong thai mẹ đã biết Tánh Không Tịch, như thế cho đến cả mười phương đều rỗng không và cũng khiến chúng sanh chứng đắc Tánh Không. Nhờ Như Lai phát minh Tánh Giác là Chân Không, Tánh Không tròn sáng, đắc A La Hán, tức thời nhập vào Biển Không quý báu sáng ngời của Như Lai, đồng Phật Tri Kiến, được ấn chứng thành Vô Học. Tánh Không Giải Thoát, tôi là đầu hết.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, các Tướng nhập vào Phi Tướng, Phi và Sở Phi đều hết, xoay các pháp về Không, đó là Thứ Nhất”.


通曰。須菩提自曠劫來識得空性。但知偏空而已。蒙佛發明性覺真空。乃知空生大覺中。如海一漚發。故謂寶明空海。偏空即不圓。真空即圓。偏空即未解脫。真空即解脫。非頓入真空者。猶坐二乘見。不能同佛知見也。諸相入非者。初以單空空其諸相。非所非盡者。次以重空空其空相。始也旋相歸無。既也旋法歸無。人法雙空。故能歸於寶明空海。如宴坐岩中。見如來法身。佛亦云須菩提先見我法身。此亦同佛知見之一驗也。僧智常參六祖。祖問曰。汝從何來。欲求何事。對曰學人近往洪州白峰山。禮大通和尚。蒙示見性成佛之義。未決狐疑。遠來投禮。伏望和尚指示。祖曰。彼有何言句。汝試舉看。曰智常到彼。凡經三月。未蒙示誨。為法切故。一夕獨入丈室。請問如何是某甲本心本性。大通乃曰。汝見虛空否。對曰見。彼曰。汝見虛空有相貌否。對曰。虛空無形。有何相貌。彼曰。汝見本性猶如虛空。了無一物可見。是名正見。無一物可知。是名真知。無有青黃長短。但見本源清淨。覺體圓明。即名見性成佛。亦名如來知見。學人雖聞此說。猶未決了。乞和尚開示。祖曰。彼師所說。猶存知見。故令汝未了。吾今示汝一偈。偈曰。不見一法存無見。大似浮云遮日面。不知一法守空知。猶如太虛生閃電。此之知見瞥然興。錯認何曾解方便。汝當一念自知非。自己靈光常顯現。此即寶明空海也。常聞偈已。心意豁然。乃述偈曰。無端起知見。著相求菩提。情存一念悟。寧越昔時迷。自性覺源體。隨照枉遷流。不入祖師室。茫然趨兩頭。可謂一念知非。非所非盡矣。自阿那律陀至此五聖。曰旋見。曰反息。曰還味。曰旋法。皆返流全一。由六根而證圓通者也。不以觀音返聞列於此者。圓通極果。鄰於佛位。故當壓後。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Tu Bồ Đề từ mênh mông số kiếp đến nay rõ được Tánh Không, nhưng chỉ biết ngả theo cái Không mà thôi. Nhờ Phật phát minh Tánh Giác là Chân Không, mới biết cái Không sanh trong Đại Giác cũng như một bọt nước sanh trong biển lớn, thế nên nói là cái Biển Không quý báu sáng ngời. Ngả qua cái Không thì chẳng toàn vẹn. Chân Không là toàn vẹn. Ngả về cái Không thì chưa giải thoát. Chân Không tức Giải Thoát. Chẳng đốn nhập Chân Không, thì còn ở trong cái Thấy của Nhị Thừa, chưa đồng với cái Thấy Biết của Phật vậy.

Các Tướng nhập vào Phi Tướng, ban đầu chỉ là cái Không đơn thuần, nghĩa là làm Không các Tướng. Cái Phi và Sở Phi đã mất hết, kế đó dùng cái không Không, tức là không luôn cái Không Tướng. Ban đầu là xoay các Tướng về Không, rồi xoay các Pháp về Không. Tướng Nhân, Tướng Pháp đều Không, nên trở vào trong Biển Không quý báu sáng ngời, như ngồi yên trong núi mà thấy Pháp Thân Như Lai. Phật cũng nói “Ông Tu Bồ Đề thấy trước Pháp Thân của Ta”. Đây là một chỗ để nghiệm ra là đồng với cái thấy biết của Phật.

Nhà sư tên Trí Thường ra mắt Đức Lục Tổ.

Tổ hỏi rằng : “Ông từ đâu đến đây, muốn cầu chuyện gì ?”

Đáp rằng : “Thưa, gần đây tôi đến Hồng Châu, núi Bạch Phong, lạy ra mắt Hòa Thượng Đại Thông, được chỉ dạy cái nghĩa thấy Tánh thành Phật, mà chưa giải quyết nổi nghi ngờ. Từ xa đến đây làm lễ, mong Hòa Thượng chỉ bày”.

Tổ nói rằng : “Vị kia nói gì, ông thử thuật lại xem”.

Đáp rằng : “Trí Thường này đi đến đó, trải qua ba tháng mà chưa được dạy bảo. Vì thiết tha với pháp, nên một đêm một mình vào phương trượng cầu hỏi :

“Như sao là Bản Tâm, Bản Tánh của tôi ?”

“Ngài Đại Thông bèn nói : “Ông có thấy hư không chăng ?”

“Đáp : “Dạ, thấy”.

“Hỏi : “Ông thấy hư không có tướng dạng gì không ?”

“Đáp : “Hư không vô hình, nào có tướng mạo gì”.

“Ngài Đại Thông nói : “Ông hãy thấy Bản Tánh cũng như hư không, rốt ráo không có một vật để thấy, gọi là Chánh Kiến. Không một vật để biết, gọi là thật biết. Không có xanh, vàng, dài, ngắn. Chỉ thấy cái Bổn Nguyên Thanh Tịnh, cái Giác Thể tròn đầy sáng suốt, thì gọi là thấy Tánh thành Phật, cũng gọi là cái Thấy Biết của Như Lai”. Kẻ học Đạo này tuy nghe dạy như vậy mà chưa rõ hiểu chắc chắn, xin Hòa Thượng chỉ dạy”.

Tổ nói : “Chỗ dạy của vị ấy vẫn còn nằm trong tri kiến, nên khiến ông chưa rõ, nay ta chỉ cho ông bài kệ :

“Chẳng thấy một pháp, là còn cái không thấy
Thật như mây nổi che mặt trời
Chẳng biết một pháp, là giữ cái không biết
Lại như thái hư sanh điện chớp
Cái thấy biết ấy vừa khởi lên
Nhận lầm, bao giờ hiểu phương tiện
Ông trong nhất niệm tự biết lấy Chẳng Phải  -(ct) Tự tri Phi. )
Thì cái linh quang chính mình thường rõ hiện”.

Trí Thường nghe kệ xong, tâm ý rỗng nhiên, bèn trình bài kệ :


“Không đâu, khởi thấy biết
Bám tướng, tìm Bồ Đề
Tình còn một niệm “Ngộ”
Sao thoát khỏi xưa mê
Tự Tánh Giác nguyên thể
Theo chiếu uổng trôi lăn
Chẳng vào Tổ Sư thất
Mờ mịt chạy hai đầu”.

Thế có thể nói là “Nhất niệm biết Chẳng Phải” thì Cái Chẳng Phải (Phi) và cái Chỗ Chẳng Phải (Sở Phi) đều dứt hết. Từ Ông A Na Luật Đà đến đây là năm vị Thánh, nói là xoay cái Thấy, quay hơi thở trở về, đem cái mùi vị trở lại, xoay cái pháp về nguồn, đều là ngược dòng về Một.

 Đó là do sáu Căn mà chứng viên thông vậy.

Cái xoay ngược cái Nghe của Đức Quan Âm kể riêng ra với chỗ này, vì là cực quả của Viên Thông, gần với địa vị Phật, nên để sau chót.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Ba 24, 2011, 05:53:29 AM »

(tiếp theo)

舍利弗即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我曠劫來。心見清淨。如是受生如恆河沙。世出世間。種種變化。一見則通。獲無障礙。我於中路。逢迦葉波兄弟相逐。宣說因緣。悟心無際。從佛出家。見覺明圓。得大無畏。成阿羅漢。為佛長子。從佛口生。從法化生。佛問圓通。如我所證。心見發光。光極知見。斯為第一。

XII. VIÊN THÔNG VỀ NHÃN THỨC


Kinh : Ông Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi nhiều kiếp đến nay, cái Thấy từ Tâm được trong sạch. Như thế mà thọ sanh, kiếp số nhiều như cát sông Hằng. Các pháp thế gian và xuất thế gian, thảy thảy biến hóa, trong một cái Thấy đều thông suốt, được không chướng ngại. Tôi ở giữa đường gặp Ca Diếp Ba, anh em hợp ý nhau, nói Pháp Nhân Duyên, ngộ được cái Tâm không bờ cõi, theo Phật xuất gia. Tánh Giác hằng thấy tròn đầy sáng ngời, được Đại Vô Úy, thành A La Hán, làm Trưởng Tử của Phật, từ miệng Phật mà sanh, do pháp mà hóa sanh.

“Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì cái Thấy của Tâm phát sáng, sáng tột cái Thấy Biết, đó là Thứ Nhất”.


通曰。舍利弗初在母腹。其母慧辨過於舅。舅曰。是兒生。智慧不可敵。乃往南天竺學法。無剪爪暇。是為長爪比丘。舍利弗生九歲。即能論議屈其眾。為國君所重。嘗與目犍連友善。約曰。得甘露味。幸相與共之。目犍連道逢馬勝比丘。問汝師說何法。勝曰。諸法從緣生。諸法從緣滅。我師大沙門。常作如是說。連即開明證初果。速往報舍利弗。亦於言下證初果。二人同往謁佛。佛遙見二子。謂眾曰。此吾二大弟子也。一智慧第一。一神通第一。舍利弗心見最利。從佛出家。七日而遍達佛法。經十五日。成阿羅漢。故稱智慧第一。為佛長子。心見不屬根識。故能內瑩發光。光極知見。即見覺明圓得大無畏也。見未徹者。即有疑即有畏。舍利弗九歲論議。已得無畏。至此遍達佛法。方名大無畏也。長慶棱禪師初參雪峰。問從上諸聖傳受一路。請師垂示。峰良久。棱設禮而退。峰乃微笑。如是往來雪峰玄沙二十年。坐破七個蒲團。不明此事。一日捲簾。忽然大悟。乃有頌曰。也大差。也大差。捲起簾來見天下。有人問我解何宗。拈起拂子劈口打。峰舉謂玄沙曰。此子徹也。沙曰。不可。此是意識著述。更須勘過始得。至晚。眾僧上來問訊。峰謂棱曰。備頭陀未肯汝在。汝實有正悟。對眾舉來。棱又有頌曰。萬象之中獨露身。唯人自肯乃方親。昔日謬向途中覓。今日看來火裡冰。峰乃顧沙曰。不可更是意識著述。夫看來如火裡冰者。一見則通。獲無障礙。棱禪師可謂具眼。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Xá Lợi Phất lúc còn trong bụng mẹ, thì bà mẹ biện luận sáng láng hơn người cậu. Ông Cậu bảo : “Thằng bé này sanh ra, trí huệ không ai địch nổi”. Rồi sang Nam Ấn học pháp, không rãnh thời giờ để cắt móng tay, đó là Tỳ Kheo Trường Trảo  -(ct) Móng Tay Dài. ).

Lúc chín tuổi, Ngài Xá Lợi Phất đã biện luận khuất phục mọi người, vua trong nước rất quý trọng. Ngài làm bạn với Ông Mục Kiền Liên, kết ước với nhau, hễ được mùi vị cam lồ của chánh pháp thì cũng hưởng với nhau.

Mục Kiền Liên giữa đường gặp Tỳ Kheo Mã Thắng, hỏi : “Thầy của ông thuyết pháp gì ?”

Mã Thắng đáp : “Các pháp theo duyên sanh, các pháp theo duyên diệt; Thầy ta, Đại Sa Môn, thường y như thế thuyết”.

Ông Mục Kiền Liên tỏ sáng, chứng Sơ Quả; vội qua báo cho Xá Lợi Phất, nghe xong Xá Lợi Phất cũng chứng Sơ Quả.

Cả hai ông cùng đến ra mắt Phật. Từ xa trông thấy hai người, Phật bảo với đại chúng : “Đó là hai đại đệ tử của Ta, một người Trí Huệ Đệ Nhất, một người Thần Thông Đệ Nhất”.

Ngài Xá Lợi Phất, cái Thấy của Tâm rất sáng lẹ, theo Phật xuất gia, bảy ngày thông suốt hết Phật Pháp, trong mười lăm ngày đắc A La Hán, nên gọi là Trí Huệ Đệ Nhất, làm Trưởng Tử của Phật. Cái Thấy của Tâm không thuộc về Căn hay Thức, nên có thể bên trong phát ra sáng ngời, sáng khắp cái Thấy Biết, Tánh Giác của cái Thấy tròn đầy sáng rỡ, được Đại Vô Úy. Cái Thấy chưa sáng suốt thì có nghi, có sợ, còn Ngài Xá Lợi Phất chín tuổi nghị luận đã đắc Vô Úy, đến đây lại thông đạt hết Phật Pháp, mới gọi là Đại Vô Úy.

Thiền sư Trường Khánh Lăng ban đầu ra mắt Tổ Tuyết Phong, hỏi : “Một con đường từ xưa các Thánh truyền thụ, xin thầy chỉ bày cho”. Tổ Phong im lặng hồi lâu. Ngài bèn lễ mà lui ra. Tổ Phong bèn mỉm cười.

Ngài đi qua lại Tổ Tuyết Phong và Huyền Sa như vậy trong suốt hai mươi năm, ngồi thiền rách hết bảy cái bồ đoàn, mà chẳng rõ được chuyện ấy. Một ngày kia, cuốn bức sáo lên, hốt nhiên đại ngộ, bèn làm bài tụng :

“Đã lầm to, đã lầm to !
Cuốn bức sáo lên thấy thiên hạ
Có người nào hỏi, ấy Tông gì
Cầm cây phất tử nhằm miệng đánh”.

Tổ Tuyết Phong nói với Tổ Huyền Sa : “Ông ấy tỏ suốt rồi vậy”.

Huyền Sa nói : “Chưa chắc. Đây là do ý thức thuật lại thôi, phải cần xét lại mới được”.

Đến tối, các sư đến làm lễ, Tổ nói với Ngài Khánh Lăng : “Đầu Đà Bị chưa chịu ông, nếu thật ngộ, trước chúng hãy nói ra đi !”


Ngài Lăng lại làm bài tụng :

“Ở trong muôn tượng lộ riêng thân
Chỉ người tự nhận ấy mới gần
Ngày xưa lầm lạc tìm đường đến
Ngày nay trong lửa thấy ra băng”.

Tổ Phong quay sang nói với Tổ Huyền Sa : “Không thể là sự trước thuật của ý thức đâu !”

Ôi, thấy ra băng trong lửa, là một cái nhìn thông suốt, được không chướng ngại. Thiền sư Lăng khá gọi là có mắt vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Ba 24, 2011, 05:56:43 AM »

(tiếp theo)

普賢菩薩即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我已曾與恆沙如來為法王子。十方如來教其弟子菩薩根者。修普賢行。從我立名。世尊。我用心聞分別眾生所有知見。若於他方恆沙界外。有一眾生心中發明普賢行者。我於爾時乘六牙象。分身百千。皆至其處。縱彼障深。未得見我。我與其人暗中摩頂。擁護定慰。令其成就。佛問圓通。我說本因。心聞發明。分別自在。斯為第一。

XIII. VIÊN THÔNG VỀ NHĨ THỨC

Kinh : Ngài Phổ Hiền Bồ Tát từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Tôi đã từng làm Pháp Vương Tử cho các Đức Như Lai như số cát sông Hằng. Mười phương Như Lai dạy các đệ tử có căn cơ Bồ Tát tu Hạnh Phổ Hiền, là do tôi mà đặt tên.

“Thưa Thế Tôn, tôi dùng cái Nghe của Tâm mà phân biệt tất cả thấy biết của chúng sanh. Nếu ở phương nào khác, cách ngoài hằng sa thế giới, có một chúng sanh trong tâm phát khởi Hạnh Phổ Hiền, thì liền ngay khi ấy, tôi cỡi voi sáu ngà, phân thân thành trăm, ngàn đến chỗ người ấy. Dầu cho người ấy nghiệp chướng còn sâu dày, chưa thấy tôi được, tôi cũng âm thầm xoa đầu, ủng hộ an ủi khiến cho người ấy được thành tựu.
“Phật hỏi về Viên Thông, tôi nói chỗ Bản Nhân của tôi là phát sáng cái Nghe của Tâm, tự tại mà phân biệt, đó là Thứ Nhất”.


通曰。行彌法界曰普。位鄰極聖曰賢。普賢已證果位。茲說本因。從心聞發明。分別自在。盡虛空界。無非心聞所及。分別修普賢行者而擁護之。中有一種自在三昧。非有一毫作為其間。良由所證法身。已充滿法界。念初動處。即為行願之所。德用無礙。體即用。用即體。故曰自在。觀音從耳根返聞。故得寂滅現前。普賢從耳識發明。故得分別自在。曰現前。則未嘗不分別。曰自在。則未嘗不寂滅。二聖所證。實無優劣。曇翼初入廬山依遠公。後還會稽。於秦望山誦法華經十二載。感普賢菩薩化女子身披采服。攜筠籠。一白豕。大蒜兩根。至翼前曰。妾入山采蕨。日已斜。豺狼縱橫。歸無生理。敢托一宿。翼卻之力。女復哀鳴不已。遂令居草床上。夜半號呼腹痛。告翼按摩。翼辭以持戒。不應手觸。女號呼愈甚。翼乃以布裹錫杖遙為按之。翼日。女以采服化祥云。豕變白象。蒜化雙蓮。凌空而上。謂翼曰。我普賢菩薩。特來相試爾。郡太守孟顗聞於朝。敕建法華寺。其事頗與觀音試吳道子略同。分身示現。摩頂安慰。蓋莫可殫述。東土如此。恆沙界外可知。僧問長沙。善財為甚麼無量劫游普賢身中世界不遍。沙曰。你從無量劫來。還游得遍否。曰如何是普賢身。沙曰。含元殿裡。更覓長安。又僧辭大隨。隨問什麼處去。僧曰。峨嵋禮普賢去。隨豎起拂子云。文殊普賢秪在這裡。僧畫一圓相。拋在背後。隨云。侍者將一貼茶與這僧。天童拈云。識法者懼。欺敵者亡。水中擇乳。須是鵝王。這僧既說禮普賢去。卻又拋在背後。難免大隨檢點。還識得在這裡麼。更覓長安則不可。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Hạnh khắp pháp giới là Phổ, địa vị gần với Phật gọi là Hiền. Đức Phổ Hiền đã chứng quả vị, nói lại cái Bản Nhân của mình là từ cái Nghe của Tâm phát sáng, mọi phân biệt đều tự tại. Tận khắp pháp giới rỗng rang như hư không, không đâu mà Tâm chẳng nghe đến. Biết rành người tu Hạnh Phổ Hiền mà ủng hộ cho, ấy là trong sự biết rành đó; có một loại Tam Muội Tự Tại, chẳng có một mảy tơ tạo tác, là do đã chứng Pháp Thân, nên đầy khắp pháp giới, nơi nào vừa khởi niệm, nơi đó có ngay hạnh nguyện. Đó là Đức và Dụng vô ngại : Thể là Dụng, Dụng là Thể, nên gọi là Tự Tại.

Đức Quán Âm theo Căn Tai mà xoay lại cái Nghe, nên được Tịch Diệt Hiện Tiền. Đức Phổ Hiền theo Nhĩ Thức mà phát sáng, nên được Tự Tại trong phân biệt. Nói là Hiện Tiền thì chưa từng chẳng phân biệt. Nói là Tự Tại, thì chưa từng không tịch diệt. Chỗ chứng của hai vị Thánh thật không có chỗ hơn kém.

Ngài Đàm Dực ban đầu vào Lư Sơn theo học Ngài Viễn Công. Sau trở về Hội Kê, ở núi Tần Vọng, tụng kinh Pháp Hoa. Trải qua mười hai năm, cảm Đức Bồ Tát Phổ Hiền hóa thân người nữ, mặc áo quần màu, xách lồng tre, một con heo trắng và hai củ tỏi, đến trước Ngài, nói : “Thiếp vào núi hái rau quyết, mặt trời đã xế, sói cọp tung hoành, trở về thì khó sống, xin ở nhờ một đêm”. Ngài hết sức từ chối, mà người con gái kêu khóc không thôi, bèn bảo nghỉ ở giường cỏ.

Nửa đêm cô kêu la đau bụng, xin Ngài xoa bóp giùm. Ngài từ chối vì giữ Giới, không được chạm tay. Cô gái càng kêu la quá lắm. Ngài mới lấy cây tích trượng quấn vải vào rồi ở xa mà xoa cho. Sáng hôm sau, cô gái hóa áo quần thành mây lành, heo biến thành voi trắng, hai củ tỏi biến thành hai bông sen, bay lên không mà bảo rằng : “Ta là Bồ Tát Phổ Hiền, đến để thử ông đó”.

Quan Thái Thú ở đấy là Mạnh Nghi, tâu lên vua, vua ra lệnh xây chùa Pháp Hoa. Chuyện này cũng giống chuyện Đức Quan Âm thử Ngài Ngô Đạo Tử.

Việc phân thân thị hiện, xoa đầu an ủi thì không kể xiết. Ở Trung Hoa như thế, thì ngoài hằng sa thế giới cũng có thể biết là như vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Trường Sa : “Vì sao đồng tử Thiện Tài đi dạo thế giới trong thân Bồ Tát Phổ Hiền suốt vô lượng kiếp mà không khắp hết ?”

Tổ Sa nói : “Ông từ vô lượng kiếp đến nay dạo chơi được khắp hết chăng ?”

Hỏi : “Như sao là Thân Phổ Hiền ?”

Tổ Sa nói : “Ở trong Hàm Nguyên điện, lại chạy kiếm Trường An !”

Lại có nhà sư từ giã Tổ Đại Tùy.

Tổ hỏi : “Đi đâu thế ?”

Nhà sư đáp : “Đến núi Nga Mi, làm lễ Đức Phổ Hiền”.

Tổ Tùy dựng đứng cây phất tử, nói : “Văn Thù, Phổ Hiền chỉ tại trong này !”

Nhà sư vẽ một vòng tròn, ném về sau lưng.

Tổ Tùy nói : “Thị giả ! Đem thêm trà cho vị sư này !”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Biết pháp thì sợ
Khinh địch thì mất
Trong nước phân sữa
Phải là ngỗng chúa !”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Ba 24, 2011, 06:03:33 AM »

(tiếp theo)

孫陀罹難陀(此云好愛歡喜)即從座起。頂禮佛足。而白佛言。我初出家。從佛入道。雖具戒律。於三摩地。心常散動。未獲無漏。世尊教我及拘絺羅。(此云大膝)觀鼻端白。我初諦觀。經三七日。見鼻中氣。出入如煙。身心內明。圓洞世界。遍成虛淨。猶如琉璃。煙相漸銷。鼻息成白。心開漏盡。諸出入息。化為光明。照十方界。得阿羅漢。世尊記我當得菩提。佛問圓通。我以銷息。息久發明。明圓滅漏。斯為第一。

XIV. VIÊN THÔNG VỀ TỶ THỨC

Kinh : Ông Tôn Đà La Nan Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Lúc tôi mới xuất gia, theo Phật vào Đạo, tuy đầy đủ Giới Luật, mà trong Tam Ma Địa thì tâm thường tán động, chưa được Vô Lậu. Thế Tôn dạy tôi và Ông Câu Hy La quán đầu mũi trắng. Lúc bắt đầu tu quán ấy trải qua ba lần bảy ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như khói. Thân tâm bên trong sáng rỡ, rỗng suốt vẹn khắp thế giới, khắp hết thành rỗng không, sáng sạch, như ngọc lưu ly. Tướng khói lần lần hết mất, hơi thở hóa thành trắng. Tâm khai ngộ, các lậu hết sạch thì các hơi thở ra vào hóa thành hào quang, soi khắp mười phương thế giới, đắc A La Hán. Thế Tôn thọ ký cho tôi sẽ đắc Bồ Đề.
“Phật hỏi về Viên Thông, tôi dùng sự tiêu mất hơi thở, yên lặng lâu thì phát ra sáng suốt, sáng suốt tròn khắp thì diệt hết các lậu, đó là Thứ Nhất”.


通曰。此難陀。佛親弟也。好愛其妻。心常散動。佛多方調伏之。乃得證果。前調息。依根也。由粗入細。由細入無。所以返乎根。此觀白。依識也。氣初如煙。既成白。卒化為光明。所以發乎識。鼻中之氣。何以如煙。息由風火而起。鼓煩惱濁。故其狀如煙。及淨觀發明。身心洞徹。煩濁漸消。故鼻息成白。心開漏盡。無復煩惱。內瑩發光。所見世界猶如琉璃。豈有鼻息不化為光明者乎。此二種。養生家以為秘傳。儻於圓通有證。安往而非佛種也。昔百丈侍馬祖行次。見一群野鴨飛過。祖曰。是甚麼。丈曰。野鴨子。祖曰。甚處去也。丈曰。飛過去也。祖遂把丈鼻搊。負痛失聲。祖曰又道飛過去也。丈於言下有省。歸侍者寮。哀哀大哭。同事問曰。汝憶父母耶。曰無。曰被人罵耶。曰無。曰哭作甚麼。曰我鼻孔被大師搊得痛不徹曰有甚因緣不契。丈曰。你問取和尚去。同事問大師曰。海侍者有何因緣不契。在寮中哭。告和尚為某甲說。大師曰。是伊會也。汝自問取他。同事歸寮曰。和尚道汝會也。教我自問汝。丈乃呵呵大笑。同事曰。適來哭。如今為甚卻笑。丈曰。適來哭。如今笑。同事惘然。次日馬祖升堂。眾才集。丈出卷卻席。祖便下座。丈隨至方丈。祖曰。我適來未曾說話。汝為甚便卷卻席。丈曰。昨日被和尚搊得鼻孔痛。祖曰。汝昨日向甚處留心。丈曰。鼻孔今日又不痛也。祖曰。汝深明昨日事。丈作禮而退。雪竇頌云。野鴨子。知何許。馬祖見來相共語。話盡山云海月情。依前不會還飛去。欲飛去。卻把住。道道。還有人道得麼。須如百丈鼻孔痛不徹。始得光明照十方界。頓證圓通。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Nan Đà là em ruột của Phật, rất thương vợ nên tâm thường tán động. Phật dùng nhiều phương tiện điều phục cho mà đắc quả. Trước điều khiển hơi thở là y nơi Căn, từ thô vào tế, từ tế vào Không, đó là xoay lại các Căn.

Cách quán lỗ mũi trắng này là y nơi Thức. Hơi thở ban đầu như khói, kế hóa thành trắng, sau cùng thành quang minh, đó là phát từ Thức. Hơi thở trong mũi, sao lại thành khói ? Hơi thở do gió và lửa khởi ra, làm động cái phiền não trược, nên hình dạng như khói.

Đến khi tịnh quán phát sáng, thân tâm rỗng suốt, phiền não trược dần dần tiêu, nên hơi thở nơi mũi hóa thành trắng. Tâm khai ngộ, hết sạch các Lậu, không còn phiền não, cái sáng suốt bên trong phát chiếu ra, thì thấy thế giới như ngọc lưu ly, thế hơi thở chẳng hóa thành quang minh ư ?

 Hai thứ này, các Đạo Gia dưỡng sanh cho là bí truyền; còn nếu nơi Căn Viên Thông mà chứng được, thì há chẳng phải là hột giống Phật ư ?

Xưa, Ngài Bách Trượng đang đi cùng Tổ Mã Tổ, thì thấy một bầy vịt trời bay qua.

Tổ nói : “Cái gì thế ?”

Ngài Trượng nói : “Vịt trời”.

Tổ nói : “Đi đâu rồi ?”

Ngài Trượng nói : “Bay qua rồi”.

Tổ bèn nắm mũi Bách Trượng kéo mạnh, Ngài đau quá la lên.

Tổ nói : “Còn nói bay qua nữa thôi ?

Ngài Bách Trượng liền tỉnh ngộ, về liêu thị giả, tấm tức khóc lớn.

Vị thị giả khác hỏi : “Ông nhớ cha mẹ ư ?”

Đáp : “Không”.

Hỏi : “Bị người mắng chăng ?”

Đáp : “Không”.

Hỏi : “Thế chuyện gì khóc ?”

Đáp : “Lỗ mũi tôi bị đại sư vặn đau quá mà chẳng thấu triệt”.

Hỏi : “Có nhân duyên gì chẳng khế hợp được ?”

Đáp : “Ông đi hỏi lấy đại sư đi !”

Vị thị giả ấy đi hỏi Mã Tổ : “Thị giả Hoài Hải Bách Trượng có nhân duyên gì không khế hợp, đang kêu khóc ở trong phòng, xin Hòa Thượng nói cho con!”

Đại sư nói : “Đó là hắn hiểu vậy, ông hãy tự mình hỏi lấy hắn ta xem”.

Vị ấy về phòng nói với Bách Trượng : “Hòa Thượng nói ông hiểu rồi, bảo tôi về tự hỏi ông ?”

Bách Trượng ha hả cười lớn.

Vị thị giả nói : “Vừa mới khóc, sao giờ lại cười ?”

Bách Trượng nói : “Hồi nãy khóc, bây giờ cười !”

Vị thị giả chẳng hiểu sao cả.

Hôm sau, Mã Tổ lên tòa giảng, đại chúng vừa nhóm họp, thì Bách Trượng bước ra cuốn chiếu. Tổ bèn xuống tòa.

Bách Trượng đi theo đến phương trượng. Tổ nói : “Hồi nãy ta chưa hề mở lời, tại sao ông lại cuốn chiếu ?”

Bách Trượng nói : “Hôm qua bị Hòa Thượng vặn lỗ mũi đau quá !”

Tổ nói : “Hôm qua ông lưu tâm chỗ nào ?”

Bách Trượng nói : “Lỗ mũi hôm nay lại không đau”.

Tổ nói : “Ông thật biết rõ chuyện hôm qua”.

Ngài Bách Trượng làm lễ rồi lui ra.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Con vịt trời, biết sao đây ?
Mã Tổ vừa thấy, nói cùng nhau
Nói hết núi mây, trăng biển, tình
Như xưa, chẳng hội, liền bay mất
Muốn bay chăng ?
Nắm đứng lại
Nói, nói !”

Lại có người nói được, thì phải như Bách Trượng lỗ mũi đau mà chẳng thấu triệt, mới được quang minh chiếu mười phương thế giới, đốn chứng Viên Thông.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 ... 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.233 seconds với 25 câu truy vấn.