Tháng Hai 28, 2020, 06:10:16 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 7   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG III -- 首楞嚴宗通經 3  (Đọc 16579 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Ba 20, 2011, 08:44:22 AM »

LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG - QUYỂN V

卍新纂續藏經第 16 冊 No. 0318 楞嚴經宗通


大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第五


  阿難白佛言。世尊。如來雖說第二義門。今觀世間解結之人。若不知其所結之元。我信是人終不能解。世尊。我及會中有學聲聞。亦復如是。從無始際。與諸無明。俱滅俱生。雖得如是多聞善根。名為出家。猶隔日瘧。唯願大慈哀愍淪溺。今日身心云何是結。從何名解。亦令未來苦難眾生。得免輪迴。不落三有。作是語已。普及大眾。五體投地。雨淚翹誠。佇佛如來無上開示。



CHƯƠNG II

NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU

MỤC MỘT :

NÊU RA CÁI CĂN ĐỂ CHỈ CHỖ MÊ

I. XIN KHAI THỊ CÁCH CỞI NÚT

Kinh : Ông Anan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, tuy Như Lai đã dạy Nghĩa Quyết Định Thứ Hai, nhưng nay tôi xem những người mở nút trong thế gian, nếu không biết đầu mối của nút ở đâu, thì tôi tin là người ấy rốt cuộc không thể mở được. Thưa Thế Tôn, tôi và hàng Thanh Văn Hữu Học trong hội cũng giống như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng tôi cũng với các thứ Vô Minh cùng sanh cùng diệt. Tuy được căn lành đa văn như thế này, mang tiếng là xuất gia nhưng cũng như người sốt rét cách nhật !

Xin nguyện Đức Đại Từ thương xót kẻ chìm đắm mà chỉ bày cho, giờ đây chính nơi thân tâm thế nào là nút, do đâu mà mở ? Cũng khiến cho chúng sanh khổ nạn đời vị lai được khỏi luân hồi, không rớt vào ba cõi”.
Nói lời ấy rồi, Ông Anan và cả đại chúng năm vóc gieo xuống đất, khóc lóc thành khẩn, mong chờ lời khai thị vô thượng của Như Lai.


通曰。前富樓那問一切眾生。何因有妄。自蔽妙明。受此淪溺。今阿難問今日身心。云何是結從何名解。皆欲窮極妄根。細研俱生無明。庶知所結之元。而破除之也。前答識迷無因。妄無所依。尚無所生。欲何為滅。今答相見無性。同於交蘆。觀交中性。空有俱非。前云狂性自歇。歇即菩提。今云知見無見。斯即涅槃。先後一轍。但前屬見道分。知妄即覺。覺即菩提。此屬修道分。離見即無。無即涅槃。結謂迷之縛於根塵。故淪生死。解謂悟之脫於根塵。故證妙常。此從耳根返聞。脫黏內伏。攝伏攀緣。入佛知見。屬功勛邊事。故云第二義。有僧問石頭。如何是解脫。頭曰。誰縛汝。問如何是淨土。頭曰。誰垢汝。問如何是涅槃。頭曰。誰將生死與汝。若於此得個安樂處。即不向第二頭作活計矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đoạn trước, Ông Phú Lâu Na đã hỏi : “Hết thảy chúng sanh, do đâu mà có vọng khiến tự mình che khuất tánh Diệu Minh, mà chịu sự chìm đắm ?” Ở đây Ông Anan hỏi : “Giờ đây, chính nơi thân tâm, thế nào là nút, thế nào là mở ?” Đó là đều muốn đi đến cùng cực cái vọng căn, nghiên cứu nhỏ nhiệm cái vô minh câu sanh, mới biết đầu gốc thắt nút mà phá trừ đi vậy.

Đoạn trước, đáp rằng : “Biết rõ cái Mê là không có nguyên nhân, thì cái Vọng cũng không có chỗ nào nương dựa. Còn không có chỗ sanh ra, muốn diệt dứt chỗ nào ?” Ở đây thì đáp : “Tướng Phần và Kiến Phần không có tự tánh, cũng như các nhánh lau gác lên nhau. Xét cái tánh giao nhau đó, thì không và có đều là chẳng phải”.

Trước nói, “Tánh điên tự hết, hết tức Bồ Đề”. Đây nói, “Thấy biết mà không có thấy biết, đó chính là Niết Bàn”. Trước sau suốt thông như một. Chỉ là ở trước thuộc về Kiến Đạo, biết Vọng tức là Giác, Giác tức Bồ Đề. Còn đây là phần Tu Đạo, lìa cái Thấy tức là Không, Không tức là Niết Bàn.

Nút là sự trói buộc nơi Căn Trần do mê, nên chìm sâu sanh tử. Mở là sự thoát khỏi Căn Trần do ngộ, nên thấy biết cái Diệu Thường. Đây là theo căn Tai mà nghe ngược trở lại, thoát khỏi sự dính kết mà quay về bên trong, nhiếp phục tâm bám nắm, nhập Tri Kiến Phật, thuộc về công phu tu tập, nên gọi là Nghĩa Thứ Hai.

Có nhà sư hỏi Tổ Thạch Đầu : “Như thế nào là Giải Thoát ?”

Tổ Đầu nói : “Ai trói buộc ông ?”

Hỏi : “Như thế nào là Tịnh Độ ?”

Tổ Đầu nói : “Ai làm dơ ông ?”

Hỏi : “Như thế nào là Niết Bàn ?”

Tổ Đầu nói : “Ai đem sanh tử lại cho ông ?”

Nếu nơi đây mà được liền cái chỗ an lạc, thì còn hướng chi đến cái đệ nhị đầu mà làm kế sanh nhai !

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, Ngoisaobiec, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Ba 20, 2011, 08:51:05 AM »

(tiếp theo)

爾時世尊憐愍阿難。及諸會中諸有學者。亦為未來一切眾生為出世因。作將來眼。以閻浮檀紫金光手。摩阿難頂。即時十方普佛世界。六種震動。微塵如來。住世界者。各有寶光從其頂出。其光同時於彼世界。來祇陀林。灌如來頂。是諸大眾。得未曾有。於是阿難及諸大眾俱聞十方微塵如來異口同音。告阿難言。善哉阿難。汝欲識知俱生無明。使汝輪轉生死結根。唯汝六根。更無他物。汝復欲知無上菩提。令汝速證安樂解脫。寂靜妙常。亦汝六根。更非他物。阿難雖聞如是法音。心猶未明。稽首白佛。云何令我生死輪迴。安樂妙常。同是六根。更非他物。



II. MƯỜI PHƯƠNG NHƯ LAI ĐỒNG MỘT LỜI CHỈ THỊ :

SÁU CĂN LÀ ĐẦU NÚT SANH TỬ VÀ NIẾT BÀN

Kinh : Bấy giờ, Thế Tôn thương xót Ông Anan và hàng Hữu Học trong hội, và cũng vì tất cả chúng sanh đời vị lai mà tạo cái nhân xuất thế, làm cái đạo nhãn tương lai. Ngài lấy tay sáng ngời xoa đỉnh đầu Ông Anan. Tức thời, trong khắp các thế gian của Chư Phật mười phương rung động sáu cách. Các Đức Như Lai nhiều như vi trần trụ các thế giới, mỗi Ngài đều có ánh sáng báu từ đỉnh đầu phóng ra. Các hào quang đó cùng lúc từ các cõi kia đến rừng Kỳ Đà, chiếu soi đỉnh đầu Như Lai. Tất cả đại chúng liền được cái chưa từng có.

Trong lúc đó, Ông Anan và cả đại chúng đều nghe các Đức Như Lai nhiều như vi trần trong mười phương, vô số miệng khác nhau đều dùng một lời, dạy Ông Anan : “Lành thay, Anan! Ông muốn biết cái câu sanh vô minh, khiến ông lưu chuyển, cái căn mối nút sanh tử. Đó chính là sáu Căn của ông, chứ chẳng phải vật gì khác! Ông lại muốn biết Bồ Đề Vô Thượng, khiến chóng chứng Tánh Diệu Thường an lạc, giải thoát, tịch tịnh thì cũng chính là sáu Căn của ông, chứ chẳng phải vật gì khác”.

Ông Anan tuy nghe pháp âm như thế, tâm còn chưa rõ, cúi đầu bạch Phật : “Làm sao cái khiến cho tôi luân hồi sanh tử hoặc an lạc diệu thường cũng chính là sáu Căn, chứ không phải vật nào khác ?”


通曰。前阿難云。我心何獨供養如來。乃至遍應恆沙國土。承事諸佛。及善知識。發大勇猛。行諸一切難行法事。皆用此心。縱令謗法。永退善根。亦因此心心既無二。六根亦無二。胡為明於彼而暗於此乎均此六根也。順之而出。背覺合塵。即入生死流。逆之而入。背塵合覺。即至不生滅。喻如翻手覆手。從上如來。當無異說。蹣庵成禪師上堂云。一念心清淨。佛居魔王殿。一念噁心生。魔王居佛殿。懷禪師曰。但恁麼信去。喚作腳踏實地而行。終無別法。亦無別道理。老僧恁麼舉了。秪恐你諸人見兔放鷹。刻舟求劍。何故功德天。黑暗女。有智主人。二俱不受。然大梅常禪師。聞鼯鼠聲。乃曰。即此物。非他物。汝等諸人。善自護持。言訖示滅。永明壽禪師贊曰。師初得道。即心是佛。最後示徒。物非他物。窮萬法源。徹千聖骨。真化不移。何妨出沒。信得大梅與鼯鼠聲無別。又何生死涅槃之異乎。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Trước kia, Ông Anan có nói “Tâm tôi nào chỉ cúng dường Như Lai, mà cho đến ứng khắp hằng sa quốc độ, phụng sự Chư Phật và các thiện tri thức, phát tâm đại dũng mãnh làm tất cả những sự việc khó làm, là đều dùng tâm này. Cho dù hủy báng pháp mà vĩnh viễn lui sụt thiện căn, cũng là do cái tâm này”.

Tâm đã không hai như thế, thì sáu Căn cũng không hai, cớ sao lại sáng ở nơi kia mà tối ở đây ư ? Chỉ là sáu Căn này đấy thôi. Thuận theo đó mà xuất ra, thế là trái với Giác hợp với Trần : liền vào ngay dòng sanh tử. Nghịch lại mà nhập vào, trái với Trần hợp với Giác : tức là ở trong cái chẳng sanh diệt. Giống như sấp tay, ngửa tay ! Xưa nay Như Lai không hề nói khác !


Thiền sư Bàn Am Thành thượng đường nói :

“Một niệm tâm thanh tịnh
Phật ở Ma Vương điện
Một niệm tâm ác sanh
Ma Vương vào Phật điện”.

Thiền sư Hoài nói rằng : “Chỉ như thế mà tin lấy. Đó gọi là chân dẫm lên Thật Địa mà đi, rốt là không có pháp nào khác, cũng không có đạo lý nào khác. Lão tăng bày thẳng ra như thế, chỉ sợ rằng các ông thấy thỏ thả ưng, khắc thuyền tìm kiếm ! Sao vậy ? Thần lành, quỷ ác thì chủ nhân có trí đều không lãnh thọ”.

Nhưng thiền sư Đại Mai Thường nghe tiếng kêu của con sóc cánh, bèn nói : “Tức là vật ấy, chẳng phải vật nào khác. Tất cả các ông hãy khéo tự hộ trì”.
Nói xong, thị tịch.

Thiền sư Vĩnh Minh Thọ ca ngợi rằng :

“Sư khi mới đắc Đạo
Thì, tức Tâm là Phật
Sau rốt dạy đồ chúng
Vật ấy, không vật khác
Cùng tột nguồn vạn pháp
Thấu đến xương ngàn Thánh
Chân vốn chẳng đổi dời
Ngại gì chuyện còn, mất”.

Tin được rằng Ngài Đại Mai cùng tiếng kêu của con sóc cánh không khác, thì còn có sanh tử Niết Bàn nào khác nhau ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, nhuankiet, Ngoisaobiec, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Ba 20, 2011, 08:52:56 AM »

(tiếp theo)

佛告阿難。根塵同源。縛脫無二。識性虛妄猶如空華。阿難。由塵發知。因根有相。相見無性。同於交蘆。


II. THẤY RÕ TÁNH CỦA MỐI NÚT ĐỂ TỨC THỜI GIẢI THOÁT

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Căn, Trần cùng nguồn. Trói mở không hai. Tánh của Thức là hư vọng, cũng như hoa đốm giữa hư không. Anan, do cái Trần mà phát ra cái biết, nhân cái Căn mà có cái Tướng. Cả Tướng Phần và Kiến Phần đều không có tự tánh, giống như các nhánh lau gác lên nhau.

通曰。根屬見分。塵屬相分。皆由一念無明黏湛發起。故曰同源。但自源頭觀之。見相未形。根塵何有。自根合塵而逐流。則謂之縛。自根背塵而返源。則謂之脫。其縛也。此六根。非他物也。其脫也此六根。非他物也。無二體故。但自無二之體觀之。縛不為垢。脫不為淨。於無二之體。曾無加損。是根塵本同源也。孰見其異。縛脫本無二也。孰見其二。所以分別其間者識也。此識虛妄分別。猶如捏目妄見空華。本無根塵。妄見根塵。本無縛脫。妄見縛脫。知此識性。有如捏目。轉識歸源。即睛明眼。故速證安樂解脫寂靜妙常。非徒於根上返。猶繫於識上轉也。何以名識性虛妄猶如空華哉。非謂離識性虛妄而別有所謂寂靜妙常也。但信識性之為虛妄。而妙常即在於識性矣。但言空華之無自性。而晴明即在於空華矣。故由塵發識。識不自生。因根有相。相不自有。是根塵識三者。相交而立。同於交蘆。本無自性。以為交性是有。未交之時。何為無也。以為交性是無。既交之時。何為有也。既非空性。又非有性。故曰無性。相分見分。二俱無性。當體即是無生。故知生死結根之中。自足寂靜妙常也。是不可以信縛脫之無二哉。石頭示眾曰。吾之法門。先佛傳受。不論禪定精進。唯達佛之知見。即心即佛。心佛眾生。菩提煩惱。名異體一。汝等當知自己心靈。體離常斷。性非垢淨。湛然圓滿。凡聖齊同。應用無方。離心意識。三界六道唯自心現。水月鏡像。豈有生滅。汝能知之。無所不備。此最上第一義也。所云菩提煩惱。名異體一。非根塵同源之謂乎。體離斷常。性非垢淨。非縛脫無二之謂乎。三界六道。唯自心現。水月鏡像。豈有生滅。非相見無性同於交蘆之謂乎。交蘆空華。亦無生滅。故知識性虛妄。即是安樂解脫也。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Căn thuộc về Kiến Phần, Trần thuộc Tướng Phần. Chỉ đều do một niệm vô minh làm dính kín tánh trong lặng mà phát khởi, nên gọi là đồng nguồn. Chỉ ở nơi đầu nguồn mà xem thấy, thì Kiến Phần và Tướng Phần chưa thành hình, lúc ấy Căn, Trần ở đâu mà có ?

Từ lúc Căn hợp với Trần mà trôi xuôi thì gọi là buộc. Từ lúc Căn ngược với Trần mà trở về nguồn, thì gọi là mở. Cái trói chính là sáu Căn, chứ không phải vật gì khác. Cái mở cũng là sáu Căn, chứ không còn vật gì khác. Thể vốn không hai vậy. Trong cái Thể không hai này mà soi xét, thì trói buộc chẳng là dơ, cởi mở chẳng là sạch. Nơi Thể không hai đó, chưa từng có thêm bớt, đó là Căn, Trần vốn đồng nguồn vậy, ai thấy là khác được ? Trói, mở vốn không hai, ai thấy được là hai ?

Sở dĩ phân biệt chia tách, là do cái Thức vậy. Thức này hư vọng mà phân biệt, cũng như dụi mắt mà vọng thấy có không-hoa. Vốn nào có Căn, Trần lại vọng thấy Căn, Trần. Vốn nào có trói, mở mà vọng thấy trói, mở. Biết rõ cái Thức này, có cũng như do dụi mắt, bèn chuyển Thức về nguồn, thì con mắt trong sáng, nên chóng chứng an lạc giải thoát, Tịch Tịnh Diệu Thường.

Chẳng phải ở nơi Căn mà quay lại, nhưng ở nơi Thức mà chuyển. Sao gọi là Thức hư vọng giống như hoa đốm ? Chẳng phải bảo là lìa cái Thức tánh hư vọng mà riêng có cái gọi là Tịch Tịnh Diệu Thường đâu. Chỉ cần tin cái Thức là hư vọng, thì Diệu Thường ở ngay nơi Thức. Chỉ cần tin hoa đốm không tự tánh, thì con mắt sáng trong ở ngay tại không-hoa.

Bởi thế, do Trần mà phát ra Thức, chứ Thức chẳng tự sanh. Nhân Căn mà có Tướng, chứ Tướng không tự có. Ba cái Căn, Trần, Thức giao nhau mà lập, mà hợp, như lau gác lên nhau, vốn không tự tánh. Cho tánh giao nhau là có thật, thì khi chưa giao nhau sao lại không có ?

Cho tánh giao nhau là không có, thì khi đã gác lên nhau, làm sao lại có ? Đã chẳng phải là tánh Không, lại chẳng phải là tánh Có, nên nói là không có tánh. Tướng Phần và Kiến Phần, cả hai đều không có tự tánh, hiện thể bèn là vô sanh. Cho nên, biết rằng trong cái Căn mối nút sanh tử tự sẵn đủ Tịch Tịnh Diệu Thường vậy. Thế, chẳng đủ để tin rằng trói buộc hay cởi mở là không hai sao ?

Tổ Thạch Đầu dạy chúng rằng : “Pháp môn của ta, Phật trước truyền thọ, chẳng luận thiền định, tinh tấn, độc chỉ thấu đạt Tri Kiến của Phật. Tức Tâm là Phật. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ Đề, phiền não : tên khác mà một thể. Các ông phải biết, cái Tự Kỷ tâm linh, thể lìa thường đoạn, tánh nó chẳng dơ sạch, lặng tròn đủ như nhiên. Phàm Thánh đồng đều, ứng dụng khắp cả, lìa tâm, ý, thức. Ba cõi, sáu đường, duy tự tâm hiện. Trăng dưới nước, bóng trong gương, nào có sanh, diệt ? Các ông mà biết được nó thì có chỗ nào mà chẳng đầy đủ ?”

Đây là Đệ Nhất Nghĩa Tối Thượng vậy.

Chỗ nói, “Bồ Đề, phiền não, khác tên mà một thể”, chẳng phải là “Căn, Trần đồng nguồn” ư ? Chỗ nói, “Thể lìa đoạn thường, tánh nó chẳng dơ sạch”, chẳng phải là chỗ nói “Trói mở không hai” đấy sao ? Chỗ nói, “Ba cõi sáu đường, duy tự tâm hiện; trăng trong nước, bóng trong gương, nào có sanh diệt”, chẳng phải là chỗ “Tướng Phần, Kiến Phần không có tánh, cũng như hình cây lau gác nhau” đấy sao ? Hình lau gác nhau, hoa đốm giữa hư không, cũng không có sanh diệt. Thế nên biết rằng Thức tánh là hư vọng, bèn An Lạc Giải Thoát đó.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, nhuankiet, Ngoisaobiec, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Ba 20, 2011, 08:55:32 AM »

(tiếp theo)

是故汝今知見立知。即無明本。知見無見。斯即涅槃。無漏真淨。云何是中。更容他物。爾時世尊欲重宣此義而說偈言。


Kinh : “Thế nên, giờ đây chính nơi Thấy Biết mà lập ra Tướng có Thấy Biết, đó là cội gốc Vô Minh. Chính nơi Thấy Biết mà chẳng có Tướng Thấy Biết, đó là Niết Bàn chân tịnh, vô lậu. Làm sao trong ấy lại còn có vật gì khác !”
Khi ấy, Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này mà nói bài kệ :


通曰。知見立知。即因明立所。故知無明根本。乃所結之元。是生死結根者識也。不但根也。知見無見。即見猶離見。見不能及。故知解脫知見。乃無漏之果。是寂靜妙常者。轉識而成智也。亦不但根也。所以偈中頌出陀那微細識。備顯根識無二。非為孤起頌也。瑞鹿安禪師。於此嘗破讀。知見立句。知即無明本。知見無句。見斯即涅槃。洞然開悟。每習誦以為常。門人謂宜以四字為句。安曰。此是吾悟處。不可易也。時謂之安楞嚴。將示寂。偈曰。不是嶺頭攜得事。豈從雞足付將來。自古聖賢皆如此。非吾今日無君裁。付囑已。自入棺。右脅吉祥而臥。經三日。門人啟棺哀慟。乃再起升堂說法。訶責垂誡。再啟吾棺者非吾弟子。復入棺長往。非得無漏真淨。安能去來自由如此。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Trong thấy biết mà lập ra tướng thấy biết”, nghĩa là “Nhân cái Minh mà lập ra cái Sở”. Do đó, biết rằng cái căn bản Vô Minh, cái gốc của sự thắt nút, cái căn mối nút sanh tử chính là cái Thức vậy, mà chẳng phải chỉ là Căn. Thấy biết mà không có tướng thấy biết, tức là “Thấy do lìa cái thấy, Thấy ấy là siêu việt”.

Thế nên, phải biết rằng giải thoát khỏi cái thấy biết đó là cái quả vô lậu, đó là Tịch Tịnh Diệu Thường, là chuyển Thức thành Trí vậy, chứ cũng chẳng phải chỉ là Căn. Bởi thế, trong bài kệ ở sau tụng rằng “Thức A Đà Na vi tế” hiển bày đầy đủ Căn và Thức không hai.


Thiền sư Thùy Lộc An thường đọc kỹ càng chỗ này : “Tri Kiến lập Tri, tức Vô Minh bổn. Tri Kiến Vô Kiến, ấy tức là Niết Bàn”. Rỗng nhiên khai ngộ, thường đọc tụng luôn.

Học trò bảo rằng : “Nên lấy bốn chữ làm câu !”

Ngài nói : “Đây là chỗ ngộ của ta, không thể chuyển đổi !”


Thời ấy gọi Ngài là An Lăng Nghiêm.

Khi thị tịch, đọc kệ rằng :

“Chẳng thể đầu non mang lại được
Há từ Kê Túc  -(ct) ) Núi Kê Túc, nơi Đức Ca Diếp, vị được Đức Thích Ca truyền chánh pháp nhãn tạng làm vị Tổ đầu tiên của Thiền Tông, ngồi nhập định chờ Đức Phật Di Lặc tương lai. ) truyền mai sau

Từ xưa Hiền Thánh đều như thế
Há nay đặt chuyện với ông đâu ?”.


Phó chúc xong, tự mình bước vào trong hòm, nằm nghiêng bên hữu.

Trải qua ba ngày, đệ tử mở quan tài khóc lóc, bèn trỗi dậy lên tòa thuyết pháp, quở trách răn dạy : “Còn mở nắp hòm của ta thì không phải là đệ tử của ta”.

Rồi bước vào trong hòm đi luôn.

Nếu chẳng được vô lậu chân tịnh, làm sao đến đi tự do như thế ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, nhuankiet, Ngoisaobiec, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Ba 20, 2011, 08:57:35 AM »

(tiếp theo)

真性有為空。
緣生故如幻。
無為無起滅。
不實如空華。


IV. KỆ TỤNG

Kinh :

(Trong) Chân Tánh, hữu vi (là) không
Duyên sanh nên Như Huyễn
Vô vi, không khởi diệt
Chẳng thật, như Không-hoa


通曰。有為隨緣起滅。是生死法。無為起滅俱無。是涅槃法。真性中本無生死涅槃之相。結從何起。解從何名。故以有為如幻。無為如涅。二俱虛妄。此頌根塵同源。縛脫無二。於同源無二處。見得有無皆為虛妄。百丈云佛是無求人。求之即乖。理是無求理。求之即失。若著無求。復同於有求。若著無為。復同於有為。故經云。不取於法。不取非法。不取非非法。又云。如來所得法。此法無實亦無虛。但能一生心如木石相似。不被陰界諸入五欲八風之所飄溺。即生死因斷。去住自由。不為一切有為因果所縛。不被有漏所拘。他時還以無自縛為因。同事利益。以無著心。應一切物。以無礙慧。解一切縛。亦云應病與藥。此百丈直指真性不落有無。並示解脫方便。所謂發明成解脫者也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Hữu vi tùy theo duyên mà khởi diệt, đó là Pháp Sanh Diệt. Vô Vi không có chuyện khởi diệt, đó là Pháp Niết Bàn. Trong Chân Tánh vốn không có Tướng Sanh Tử hay Niết Bàn. Nút buộc do đâu mà khởi ? Cởi mở từ đâu mà có tên ? Thế nên, Hữu Vi là Như Huyễn, Vô Vi cũng là dụi mắt mà sanh, cả hai đều hư vọng. Ở đây, là tụng Căn và Trần đồng nguồn, trói và mở không hai. Ở trong chỗ đồng nguồn, không hai, thì thấy được hữu vô đều là hư vọng.

Tổ Bách Trượng nói : “Phật là người không cầu, tìm cầu tức là trái. Lý là Lý không cầu, hễ cầu là mất. Nếu bám lấy sự không cầu, thế cũng lại giống với có cầu. Nếu bám lấy Vô Vi, thì đó cũng lại là Hữu Vi. Nên kinh Kim Cang nói : “Chẳng nắm giữ nơi pháp, chẳng nắm giữ cái chẳng phải là pháp, chẳng nắm giữ cái không phải là chẳng phải pháp”.

Ngài lại nói : “Chỗ đắc pháp của Như Lai, Pháp ấy không thật, cũng không hư. Chỉ suốt một đời tâm như gỗ đá, chẳng bị Ấm, Giới, Nhập, Ngũ Dục, Bát Phong chìm đắm, thì cái nhân sanh tử đoạn trừ, đi hay ở đều tự do, không bị tất cả nhân quả hữu lậu móc níu.

Lúc ấy mới lấy sự không trói buộc làm nhân mà đồng sự lợi ích cho người. Lấy tâm không trụ trước mà ứng với hết thảy vật. Dùng cái Huệ Vô Ngại mà cởi mở tất cả trói buộc, nên cũng nói là theo bệnh cho thuốc”.


Ở đây, Tổ Bách Trượng chỉ thẳng cái Chân Tánh chẳng sa vào hữu vi, đều chỉ bày phương tiện giải thoát, đó là chỗ nói “Phát minh tức thành giải thoát vậy”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, nhuankiet, Ngoisaobiec, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, ngodao
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Ba 21, 2011, 09:21:22 PM »

(tiếp theo)

言妄顯諸真。
妄真同二妄。
猶非真非真。
云何見所見。


Kinh :

Nói Vọng để hiển Chơn
Vọng, Chơn đều là vọng
Còn không (phải) Chơn, Phi Chơn
Lấy đâu Kiến, Sở Kiến ?


通曰。有為之法。緣根塵而生。固可謂之妄。無為之法。脫於根塵。離起滅相。何謂不實如空華乎哉。言生滅之妄。所以顯涅槃之真。既有真與妄對。真亦成妄。故曰二妄。何以故。謂有真可得故。若真性之中。真與非真。俱不可得。遣妄之真。固不可得。遣真之真。亦不可得。即真而非真。即性而無性。云何更有能見之根。所見之境乎。見有者。固是見幻。見無者亦是捏目。凡有見者。即落方所。故見有涅槃可成。即謂之妄也。謂之曰真。原不容妄。況非真非不真。真且無之。妄從何起。僧問黃檗。妄能障自心。未審而今以何遣妄。檗云。起妄遣妄亦成妄。妄本無根。只因分別而有。你但於凡聖兩處。情莫計念。自然無妄。更擬如何遣他。都不得有纖毫依執。名為我舍兩臂。必當得佛。僧曰。既無依執。當何相承。檗云。以心傳心。僧曰。若心相傳。云何言心亦無。檗云。不得一法。名為傳心。若了此心。即是無心無法。僧曰。若無心無法。云何名傳。檗曰。汝聞道傳心。將謂有可得也。所以祖師云。認得心性時。可說不思議。了了無所得。得時不說知。此事若教會。何堪也。知之一字。尚自不容。始可言真。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Các pháp Hữu Vi duyên theo Căn Trần mà sanh, nên gọi là hư vọng. Còn pháp Vô Vi thoát khỏi Căn và Trần, lìa tướng khởi và diệt, cớ sao lại gọi là chẳng thật như hoa đốm ?

Nói sanh diệt là Vọng là để hiển cái Chân của Niết Bàn, mà đã nói có Chân để đối với Vọng, thì Chân cũng thành Vọng, nên nói cả hai thứ đều Vọng. Vì sao thế ? Vì có cái Chân để đắc vậy.

Như ở trong Chân Tánh, thì Chân với chẳng phải Chân đều bất khả đắc. Tức là Chân mà chẳng phải Chân, tức là Tánh mà không Tánh, còn làm sao có được cái Căn năng kiến và cái Cảnh sở kiến ư ?

Thấy là Có, là cái thấy huyễn. Thấy là Không, cũng là dụi mắt sanh ra. Phàm là có thấy, liền rơi vào nơi chốn, cho nên thấy có Niết Bàn để thành, tức là hư vọng đó vậy. Cái gọi là Chân, vốn nào có hư vọng, huống là cái chẳng phải Chân hay chẳng Chân, trong ấy Chân còn không thể có, thì Vọng từ đâu mà sanh ?

Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Vọng hay chướng ngại tự tâm, chưa rõ nay lấy gì để bỏ Vọng ?”

Tổ nói : “Khởi lên cái Vọng để bỏ Vọng cũng thành ra Vọng. Vọng vốn không gốc, chỉ nhân phân biệt mà có. Ông chỉ nơi hai đầu phàm Thánh chớ khởi suy lường, nhớ nghĩ, thì tự nhiên không có Vọng. Lại toan tính đuổi bỏ nó là thế nào ? Tuyệt chẳng có được một mảy tơ nương bám, thì gọi là buông bỏ cả hai tay, ắt hiện thành Phật”.

Nhà sư hỏi rằng : “Đã không có chỗ nương bám, thì lấy gì trao truyền ?”

Tổ nói : “Lấy tâm truyền tâm”.

Nhà sư hỏi : “Nếu lấy tâm trao truyền, sao lại nói tâm cũng là không ?”

Tổ Bá nói : “Không đắc một pháp gọi là truyền Tâm. Nếu ngộ Tâm này, liền thật không thấy Tâm, không thấy Pháp”.

Nhà sư hỏi : “Nếu không có Tâm, không có Pháp, làm sao gọi là truyền ?”

Tổ Bá nói : “Ông nghe nói truyền Tâm, bèn cho là có thể đắc. Bởi thế, Tổ Sư dạy :

“Khi nhận được Tâm Tánh
Mới là chẳng nghĩ bàn
Rõ ràng không chỗ đắc
Khi đắc chẳng nói tri”.

Chỗ này mà muốn dạy tỏ hiểu, làm sao được ! Một chữ Tri còn chẳng tự mang lấy, mới có thể nói là Chân.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Ba 21, 2011, 09:24:13 PM »

(tiếp theo)

中間無實性。
是故若交蘆。
結解同所因。
聖凡無二路。
汝觀交中性。
空有二俱非。
迷晦即無明。
發明便解脫。

Kinh :

Ở giữa, không thật tánh
Nên giống lau gác nhau
Buộc, mở đồng một nhân
Thánh phàm không hai lối
Hãy xem tánh giao nhau
Có, Không đều chẳng phải
Mê lầm là Vô Minh
Phát minh liền Giải Thoát


通曰。中間指見所見。中間也。由塵發知。知即識也。屬能見。因根有相。相即塵也。屬所見。是塵識根三。相藉而有。本無實性。如交蘆然。相依而立。原無自性。試觀交中之性。以為空。則相依似有。以為有。則不依本無。非有性。非空性。是謂無性。本是無性。結者此六根。非有所損也。解者此六根。非有所益也。何以解之即名聖。而結之即名凡哉。為不達無生之旨。一念自迷。內有能見。外有所見。為根塵所縛。無自由分。是晦昧即無明之本。結之所由起也。若真見無性之妙。脫黏內伏。發本明耀。明不循根。見不藉緣。六根互用。超越世間。是發明即解脫之因。解之所由名也。結則俱生無明。生死結根。故為凡夫。因此六根。非他物也。解則速證安樂。寂靜妙常。故謂聖人。因此六根。非他物也。同此六根。更無二路。彼縛於有為者。猶以交蘆為性有也。而性實有嘗有也。彼縛於無為者。猶以交蘆為性空也。而性實未嘗空也。達非空有無凡聖等見。乃可語真性矣。僧問黃檗。本既是佛。那得更有四生六道。種種形貌不同。檗云。諸佛體圓更無增減。流入六道。處處皆圓。萬類之中。個個是佛。譬如一團水銀。分散諸處。顆顆皆圓。若不分時。秪是一塊。此一即一切。一切即一。種種形貌。喻如屋舍。舍驢屋入人屋。舍人身至天身。乃至聲聞緣覺菩薩佛屋。皆是汝取捨處。所以有別。本源之性。何得有別。至哉言也。於此發明。可使博地凡夫。立躋聖位。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ở giữa là ở giữa Năng Kiến và Sở Kiến. Do Trần mà phát ra cái Biết, thì cái Biết ấy là Thức, thuộc về Năng Kiến. Nhân Căn mà có Tướng, Tướng là Trần, thuộc về Sở Kiến. Ba cái Căn, Trần, Thức này nương nhau mà có, vốn không có thật tánh, cũng như cây lau gác nhau, nương nhau mà đứng, nguyên không có tự tánh.

Thử xem cái tánh của lau gác nhau, nếu cho là không thì khi nương nhau lại tựa hồ như có. Nếu cho là có, thì khi nương nhau lại vốn là không.

 Chẳng phải là có chẳng phải là không, đó là không có tánh. Buộc đó, cũng là sáu Căn này mà chẳng phải có chỗ bớt đi; mở đó, cũng là sáu Căn này mà cũng chẳng có chỗ tăng thêm, lấy đâu mà gọi mở ra là Thánh, buộc lại là phàm ư ?

Vì chẳng thấu cái ý chỉ vô sanh, một niệm tự mình không biết, trong thì thấy có Năng Kiến, ngoài thì thấy có Sở Kiến, nên bị Căn Trần ràng buộc, không còn cái vốn liếng tự do.

Cái mê mờ đó tức là cội gốc Vô Minh, cái chỗ cột buộc do đó mà khởi sanh vậy. Nếu như thật thấy được chỗ không có tánh, mà thoát khỏi sự dính kín, phát ra cái sáng chói vốn có của mình, khi ấy thì ánh sáng không theo Căn và thấy chẳng cần mượn Duyên. Sáu Căn dùng thay nhau, siêu việt các hình tướng thế gian.

 Đó là cái nhân của “Phát minh liền giải thoát”, là cái do đó mà có tên là cởi mở vậy.

Cột nút là câu sanh Vô Minh, cái Căn mối nút sanh tử, nên là phàm phu, đó là do sáu Căn này chứ không phải vật gì khác. Cởi mở chóng chứng an lạc, tịch tịnh diệu thường, gọi là Thánh Nhân, đó cũng do sáu Căn này, nào có vật gì khác ! Đồng sáu Căn này, đâu có hai đường. Kia thì ràng buộc nơi hữu vi, giống như tánh Có của cây lau gác nhau, mà tánh thật ra chưa từng có. Nọ thì ràng buộc nơi vô vi, giống như tánh Không của cây lau gác nhau, mà tánh thực ra chưa từng không. Thấu đạt cái chẳng phải có, chẳng phải không này, cái thấy không phàm không Thánh, mới có thể nói đến Chân Tánh vậy.


Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Vốn đã là Phật, sao có bốn loại sanh, sáu đường, đủ thứ hình tướng chẳng đồng ?”

Tổ Hoàng Bá nói : “Chư Phật thể vốn tròn đủ, nào có tăng giảm. Trôi vào sáu đường, chốn chốn đều tròn đủ. Trong muôn loài ấy, mỗi mỗi đều là Phật. Thí như một cục thủy ngân, phân tán các nơi, mỗi hột đều tròn đủ. Như khi chẳng chia, chỉ là một khối. Đó là một tức tất cả, tất cả là một. Đủ thứ hình tướng ví như nhà cửa. Bỏ “nhà” của lừa, vào “nhà” của người; bỏ thân người để đến thân của Chư Thiên; cho đến “nhà” của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật, đều là do chỗ nắm, bỏ của ông mà có ra khác biệt. Tánh vốn xưa nay nào có khác biệt ?”

Rốt ráo thay lời nói này ! Ở ngay đây mà phát sáng được, thì có thể khiến hạng bạc địa phàm phu bước vào Thánh vị.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Ba 21, 2011, 09:27:23 PM »

(tiếp theo)

解結因次第。
六解一亦亡。
根選擇圓通。
入流成正覺。



Kinh :

Mở nút theo thứ lớp
Sáu mở, một cũng mất
Nơi Căn, chọn Viên Thông
Vào dòng, thành Chánh Giác !


通曰。發明便解脫。此是頓門。何為有解結次第之說。頓不廢漸。所以為圓頓法門也。若是大根大器。一悟便至佛地。更不假於修證。其次莫若選擇耳根圓通。一根返元。六根解脫。先銷六根。次亡其一。此觀世音。入流亡所。乃至寂滅現前。而成正覺之次第也。即如頓門。大悟小悟。不記其數。何嘗無次第哉。昔灌溪閒禪師。初參臨濟。濟擒住良久。溪曰。領也。濟托開曰。且放你一頓。溪住後。乃示眾曰。我見臨濟無言語。直至如今飽不飢。後到末山。先自約曰。相當則住。不然則推倒禪床。既入堂內。山聞新到至。令侍者問。上座遊山來。為佛法來。溪曰。為佛法來。山乃升座。溪上不禮拜。山問今日離何處。溪曰路口。山曰。何不蓋卻。溪無語。末山代云。爭得到這裡。始禮拜。起問。如何是末山。山曰。不露頂。溪曰。如何是末山主。山曰。非男女等相。溪曰。何不變去。山曰。不是神。不是鬼。變個甚麼。溪於是伏膺。作園頭三年。臨濟放他一頓。到此方吃。後垂語云。我在臨濟處得一杓。我在末山處得一杓。又云。十方無壁落。四面亦無門。露裸裸。赤灑灑。沒可把。天童拈云。灌溪恁麼說話。且道是臨濟處得底。末山處得底。雖然一箭雙鵰。奈有時走殺有時坐殺。且作麼生得恰好去。捏聚放開都在我。拈來拋去更由誰。於此透得盡。始亡其一。始可名真解脫也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  “Phát minh liền giải thoát”, đây là Đốn Môn, sao còn có lời nói “Mở nút theo thứ lớp” ?

Đốn mà chẳng bỏ Tiệm nên mới là pháp môn Viên Đốn vậy. Nếu là người đại căn, đại khí, một ngộ liền đến Phật địa, còn mượn gì đến tu chứng. Kế đó là hạng mà không gì bằng là chọn Nhĩ Căn Viên Thông, một Căn trở về nguồn thì sáu Căn liền giải thoát. Trước là tiêu mất sáu Căn, kế đó mất luôn cái Một. Đó là Pháp Môn của Đức Quán Thế Âm, nhập vào Dòng, mất cái Sở, rốt ráo tịch diệt hiện tiền mà thành Chánh Giác. Ngay trong Đốn Môn, có đại ngộ tiểu ngộ, kể không xiết, đâu phải không từng có thứ lớp ?

Xưa, thiền sư Quán Khê Nhàn ban đầu tham vấn Tổ Lâm Tế.

Tổ Lâm Tế nắm đứng Ngài hồi lâu.

Ngài nói : “Lãnh hội vậy”.

Tổ Lâm Tế buông ra nói : “Tha cho ông một gậy đó”.

Sau, thiền sư Quán Khê trụ núi, mới dạy chúng rằng : “Ta gặp Tổ Lâm Tế, không có ngôn ngữ gì, mà cho đến nay no mãi chẳng đói !”

Sau, Ngài đến Tổ Mạt Sơn, trước tự giao ước rằng : “Tương đương thì ở, còn không thì lật ngược thiền sàng”.

Khi vào nhà giảng, Tổ sai thị giả hỏi : “Thượng Tọa đến thăm núi, hay vì Phật Pháp mà đến ?”.

Ngài đáp : “Vì Phật Pháp mà đến”.

Tổ Sơn bèn lên tòa giảng, Ngài Quán Khê vẫn chẳng làm lễ.

Tổ Sơn hỏi : “Hôm nay rời chỗ nào ?”

Ngài đáp : “Lộ Khẩu  -(ct) Lộ bày cái miệng. )”.

Tổ Sơn nói : “Sao chẳng che lại đi !”

Ngài Khê không có lời đáp.

Tổ Mạt Sơn thay thế nói rằng : “Sao đến trong ấy được !”

Ngài Quán Khê mới lễ bái, rồi hỏi : “Như sao là Mạt Sơn ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng lộ đỉnh”.

Ngài Khê hỏi : “Như sao là chủ của Mạt Sơn ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng phải tướng nam nữ”.

Ngài Khê hỏi : “Sao chẳng biến hóa đi ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng là Thần, chẳng là Quỷ, biến cái gì ?”

Ngài Quán Khê chịu phục, làm người giữ vườn ba năm.

Tổ Lâm Tế tha cho Ngài một gậy, đến đây mới liên tục.

Sau, Ngài nói : “Tôi ở chỗ Lâm Tế, được một lần thoát, tôi ở chỗ Mạt Sơn được một lần thoát”. Ngài lại nói : “Mười phương không tường vách, bốn mặt cũng không cửa. Bày trần trụi, sáng rực rỡ, không thể nắm !”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngài Quán Khê nói như thế, thì thử nói ở chỗ Lâm Tế được hay ở chỗ Mạt Sơn được ? Mặc dầu một mũi tên mà hai con chim. Nhưng có lúc chạy đi, có lúc ngồi lại. Làm sao cho hợp ? Tóm lại, mở ra đều ở ta, cầm đến, ném đi nào do ai khác ?”

Ở chỗ này mà thấu suốt được, mới mất cái Một, lúc ấy mới gọi là Chân Giải Thoát !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, ngodao, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Ba 21, 2011, 09:30:59 PM »

(tiếp theo)

陀那微細識。
習氣成暴流。
真非真恐迷。
我常不開演。


Kinh :

Thức Đà Na vi tế
Tập khí thành dòng xiết
Sợ lầm Chân, Phi Chân
Ta thường chẳng khai diễn


通曰。六根非能為凡為聖。所以主之者識也。六識既銷。我見猶存。是第七識境界。六解一亡。歸於如來藏海。是第八識境界。馬鳴曰。依如來藏。有生滅心。轉不生滅與和合。非一非異。名阿賴耶識。此識最為微細。含藏種子為習氣。莫知其所藏。積生識浪成暴流。莫知其所生。故曰微細。以依不生滅。則謂之出纏如來藏。似乎真矣。以依生滅心。則謂之在纏如來藏。又似乎非真矣。真與非真。總是這個識。所以難辨。將謂之真。恐認賊作子。將謂之非真。恐認子作賊。世尊所以不輕談也。若能轉第八識為大圓鏡智。非真非非真。乃可語無上菩提。真如佛性也。後來性宗不明。只緣相宗不徹。以第七識中我見為佛性。以第八識剎那中生滅相為真如。故謂之顢頇佛性。儱侗真如。認定湛不搖處以為究竟。故知其一未亡也。僧問長沙岑。第六第七及第八識。畢竟無體。云何得名轉第八識。為大圓鏡智。沙示偈曰。七生依一滅。一滅持七生。一滅滅亦滅。六七永無遷。由此觀之。不但六解一亡。更有所謂七解一亡者。微哉微哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Sáu Căn chẳng có thể làm phàm, làm Thánh, mà cái làm chủ là Thức vậy. Sáu Thức đã tiêu mất, mà cái Ngã Kiến vẫn còn, đó là cảnh giới của Thức Thứ Bảy. Sáu mở, Một mất, là trở về biển Như Lai Tạng, đó là cảnh giới của Thức Thứ Tám.

Ngài Mã Minh dạy : “Y vào Như Lai Tạng, có cái tâm sanh diệt hòa hợp với cái chẳng sanh diệt, chẳng phải là một, chẳng phải khác, gọi là Thức A Lại Da”. Thức này rất là vi tế, ngậm chứa chủng tử làm tập khí, chẳng biết được chỗ ẩn núp của nó. Tích chứa sanh ra sóng Thức thành dòng chảy xiết, mà chẳng biết được chỗ sanh của nó. Thế nên gọi là vi tế.

Vì y vào cái chẳng sanh diệt, nên gọi là Như Lai Tạng xuất triền  -(ct) Ra khỏi trói buộc. ), tợ hồ như là Chân vậy.

Vì y vào tâm sanh diệt, nên gọi là Như Lai Tạng tại triền  -(ct) Còn trong trói buộc. ), hình như chẳng phải Chân vậy.

Nhưng Chân và chẳng phải Chân, đều là cái Thức ấy, cho nên khó mà phân biệt. Gọi đó là Chân, thì sợ rằng nhận giặc làm con ! Mà gọi đó chẳng phải Chân, thì e rằng nhận con cho là giặc. Do vậy, Đức Thế Tôn chẳng khinh xuất mà bàn đến vậy”.

Nếu có thể chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí, chẳng phải Chân, chẳng phải không Chân, mới có thể nói đến Chân Như, Phật Tánh, Vô Thượng Bồ Đề vậy.

Sau này không rõ được Tánh Tông, đó chỉ vì không thấu đáo Tướng Tông, lấy cái Ngã Kiến trong Thức Thứ Bảy mà cho là Phật Tánh, lấy cái tướng sanh diệt trong từng sát-na của Thức Thứ Tám làm Chân Như, nên gọi là “Mập mờ Phật Tánh, lầm lạc Chân Như”.

Nhận định chỗ đứng yên không chao động cho là cứu cánh, thế là một chưa tiêu mất vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Trường Sa Sầm : “Thức Thứ Sáu, Thứ Bảy và Thứ Tám, rốt ráo không có tự thể, thì sao lại nói là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí ?”


Tổ Sa chỉ dạy bằng bài kệ :

“Bảy “sanh” y một “diệt”
Một “diệt” giữ bảy “sanh”
Một diệt, diệt cũng diệt
Sáu, bảy rốt không động”.

(Thất sanh y nhất diệt
Nhất diệt trì thất sanh
Nhất diệt, diệt diệc diệt
Thất lục vĩnh vô thiên).

Do đây mà xem, thì không những “Sáu mở, Một mất”, mà lại còn “Bảy mở, Một mất”. Vi diệu thay, vi diệu thay !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Ba 21, 2011, 09:34:08 PM »

(tiếp theo)

自心取自心。
非幻成幻法。
不取無非幻。
非幻尚不生。
幻法云何立。


Kinh :

Tự tâm nắm  -(ct) Giữ. ) tự tâm
Chẳng huyễn, thành pháp huyễn
Không giữ : không “chẳng huyễn”
“Chẳng huyễn” còn không sanh
Pháp huyễn làm sao lập ?


通曰。真性有為空。緣生故如幻。真性本空。何得幻生。良由第八識。內緣真如。外生有為法。故如幻耳。深密經云。阿賴耶識甚微細。一切種子如暴流。我於凡愚不開演。恐彼分別執為我。此自心取自心。正自分別執為我也。一執為我。於非幻中生起幻法。湛由是分。結由是始。此六根所以逐塵而輪轉也。不執為我。則非幻尚無。幻從何立。湛入合湛。同源無二。此六根所以清淨。而並亡其一也。六根屬幻。一屬非幻。一六俱亡。故曰非幻尚不生。幻法云何立。此轉識成智。在取不取之間耳。楞伽云。分別是識。無分別是智。生滅是識。不生滅是智。但無分別。即是不生滅真性。故不為識陰所覆。僧問黃檗。文殊執劍於瞿曇前者。如何。檗云。五百菩薩。得宿命智。見過去生業障。五百者。即你五陰生是。以見此宿命障故。求佛求菩薩涅槃。所以文殊將智解劍。害此有見佛心故。故言你善害。僧云。何者是劍。檗云解心是劍。僧云。解心既是劍。斷此有見佛心。秪如能斷見心。何能除得。檗云。還將你無分別智。斷此有見分別心。僧云。如作有見。有求佛心。將無分別智劍斷。爭奈有智劍在何。檗云。若無分別智。害有見無見。無分別智亦不可得。僧云。不可以智更斷智。不可以劍更斷劍。檗云。劍自害劍。劍劍相害。即劍亦不可得。智自害智。智智相害。即智亦不可得。母子俱喪。亦復如是。此等妙論。不但於取處不許出頭。即不取處亦無蹤跡。微乎其微矣。須如是透徹。乃可語轉第八識成大圓鏡智。


*Giải nghĩa rộng ra:-  “Trong Chân Tánh, hữu vi là không. Do Duyên sanh nên như Huyễn”. Chân Tánh vốn là Không, sao lại có Huyễn sanh ra ? Do vì Thức Thứ Tám, trong thì duyên với Chân Như, ngoài sanh ra các pháp hữu vi, nên là như Huyễn vậy.

Kinh Giải Thâm Mật nói “A Lại Da Thức rất vi tế. Hết thảy chủng tử như dòng xiết. Ta chẳng khai diễn với phàm ngu. E họ phân biệt chấp làm Ngã”.

Đây là tự tâm chấp lấy tự tâm, chính là tự phân biệt mà chấp làm cái Ngã. Một khi đã chấp làm Ngã, thì ở trong cái chẳng phải huyễn lại sanh khởi pháp huyễn. Tánh trong lặng do đó mà phân, nút buộc do đó mà bắt đầu. Từ đó sáu Căn đuổi theo sáu Trần mà thành luân chuyển. Chẳng chấp lấy làm Ngã, thì cái chẳng-phải-huyễn còn không có, huống là cái huyễn do đâu mà lập ? Lặng trong hợp vào lặng trong, đồng nguồn không hai, do đó mà sáu Căn thanh tịnh cùng mất đi cái Một vậy.

 Sáu Căn thuộc về huyễn, cái Một thuộc về chẳng-phải-huyễn. Một và Sáu đều tiêu mất, nên nói “Chẳng huyễn còn không sanh, Pháp huyễn làm sao lập ?” Đây là sự chuyển Thức thành Trí, ở giữa khoảng nắm lấy và chẳng nắm lấy vậy.

Kinh Lăng Già nói “Phân biệt là Thức, vô phân biệt là Trí. Sanh diệt là Thức, Chẳng sanh diệt là Trí”. Chỉ không phân biệt thì đó là Chân Tánh bất sanh diệt. Do thế mà không bị Thức Ấm che chướng”.

Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Ngài Văn Thù cầm kiếm ở trước Đức Cù Đàm là thế nào ?”

Tổ Hoàng Bá nói : “Năm trăm vị Bồ Tát đắc Túc Mạng Trí, thấy nghiệp chướng đời quá khứ. Năm trăm ấy là Ngũ Ấm của ông sanh ra đó. Bởi thấy cái nghiệp chướng túc mạng này, nên cầu Phật, cầu Niết Bàn Bồ Tát. Do đó, Ngài Văn Thù dùng Kiếm Trí Giải giết cái tâm có thấy Phật này vậy. Nên mới nói, “Ông khéo giết””.

Nhà sư hỏi : “Cái gì là kiếm ?”

Tổ Bá nói : “Tâm Giải Thoát là kiếm”.

Nhà sư hỏi : “Tâm Giải Thoát đã là kiếm, dứt lìa cái tâm có thấy Phật, thì như cái hay dứt lìa cái tâm có thấy, làm sao trừ nó được ?”

Tổ Bá nói : “Lại dùng cái Trí vô phân biệt của ông mà dứt lìa cái tâm có thấy phân biệt này”.

Nhà sư hỏi : “Như khởi ra cái tâm có thấy, có cầu Phật thì lấy kiếm Vô Phân Biệt Trí mà đoạn dứt; thế còn cái kiếm Trí ấy thì sao ?”

Tổ Bá nói : “Nếu thật là Trí vô phân biệt giết được cái thấy có, thấy không, thì Trí vô phân biệt ấy cũng bất khả đắc”.

Nhà sư hỏi : “Không thể lấy Trí lại đoạn Trí, không thể dùng gươm để đoạn kiếm sao ?”

Tổ Bá nói : “Kiếm tự hại kiếm, kiếm kiếm hại nhau, tức là kiếm cũng bất khả đắc. Trí lại tự hại Trí, Trí Trí hại nhau, tức là Trí cũng bất khả đắc. Mẹ con chôn nhau, cũng là như thế”.

Các luận bàn vi diệu này, không những ở chỗ Nắm lấy không được phép ló đầu, mà ngay chỗ Chẳng nắm lấy cũng không có dấu vết. Nhỏ nhiệm càng nhỏ nhiệm thay ? Cần thấu rõ như thế, mới có thể nói tới việc chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Ba 22, 2011, 06:30:48 AM »

(tiếp theo)

是名妙蓮華。
金剛王寶覺。
如幻三摩提。
彈指超無學。
此阿毗(此無比法)達磨。
(速證寂常)十方薄伽梵。
一路涅槃門。


Kinh :

Đó là Diệu Liên Hoa
Bảo Giác Kim Cương Vương
Như huyễn Tam Ma Đề
Gẩy móng (tay) vượt Vô Học
Đây là pháp Vô Thượng
Một đường đến Niết Bàn
Của mười phương Chư Phật.


通曰。初阿難謂從無始際與諸無明俱滅俱生。不能降伏摩登伽難。慇勤啟請十方如來。得成菩提妙奢摩他三摩禪那最初方便。今十方如來異口同音。汝欲識知俱生無明。使汝輪轉生死結根。唯汝六根。更無他物。汝復欲知無上菩提。令汝速證安樂解脫。寂淨妙常。亦汝六根。更非他物。如前冰水之喻。水凝則成冰。豈容他物參之而為冰。冰釋則成水。豈容他物參之而為水。六為賊媒。自劫家寶。此六根也。六解一亡。速登正覺。此六根也。即妄即真。即真即妄。有妙悟存乎其間。妙之一字。難以言語形容。必其轉識成智。與性覺妙明。本覺明妙。有相當處。方可語無上菩提也。喻如蓮華出於淤泥而不染。此在尋常蓮華皆然。若優曇缽華。異世間相。所謂瑞應妙蓮華也。此唯發明最上一路。入佛知見。乃足當之。金剛王寶覺。即金剛心中初干慧地也。金剛能摧毀一切。十地皆云金剛心。亦以壞滅前地故。即所謂慧劍也。此覺一現。不但無始無明頓息。即佛見菩薩見。亦無出頭處。三摩提。正受也。而曰如幻者。幻人作為。本於無作。即寂而照。即照而寂。忘情絕解。不可思議。即所謂如幻聞熏聞修金剛三昧也。此妙奢摩他三摩禪那唯在一悟。一悟便至佛地。故彈指頃即超二乘無學之上。無學猶落功勛。猶執無見在。此真性現前。有無俱離。一超直入。更不假於勛級。乃頓門也。如太子處胎。貴壓群臣。頻伽在鷇。聲逾眾鳥。豈尋常禪定觀行所可擬乎。故曰。此無比法而速證寂常者也。薄伽梵具六義。曰自在。曰熾盛。曰端嚴。曰名稱。曰吉祥。曰尊貴。眾德成就之故。故不翻。僧問乾峰。十方薄伽梵。一路涅槃門。未審路頭在甚麼處。峰以拄杖一畫云。在這裡。僧請益云門。門拈起扇子云。扇子  跳上三十三天。築著帝釋鼻孔。東海鯉魚打一棒。雨似盆傾。會麼會麼。黃龍南云。乾峰一期指路。曲為初機。云門乃通其變。故使後人不倦。竹庵頌云。乾峰不用指陳。云門休打骨董。自然東海鯉魚。築著帝釋鼻孔。天童頌云。入手還將死馬醫。返魂香欲起君危。一朝拶出通身汗。方信儂家不惜眉。此何等事。詎可道理解說。令人得入。須是自家徹底開悟。方得其妙。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ban đầu, Ông Anan nói rằng từ vô thủy đến nay cùng với các thứ Vô Minh cùng sanh cùng diệt, không thể hàng phục được sắc nạn của Cô Ma Đăng Già, mới ân cần cầu xin cái phương tiện đầu tiên là Xa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na để đắc thành Bồ Đề của mười phương Như Lai.

Nay, mười phương Như Lai khác miệng đồng một lời rằng : “Ông muốn biết cái câu sanh Vô Minh khiến ông lưu chuyển, cái căn mối nút sanh tử đó, chính là sáu Căn của ông, không phải vật gì khác. Ông lại muốn biết cái Bồ Đề Vô Thượng khiến ông chóng chứng an lạc giải thoát, tịch tịnh diệu thường, thì cũng là sáu Căn của ông chứ không phải vật gì khác”.

Như thí dụ ở trước về băng và nước. Nước đông lại thành băng, đâu có vật gì khác để làm thành băng ? Băng tan thành nước, đâu có vật gì khác để làm ra nước ?

Sáu cái làm môi giới cho giặc, tự cướp của báu nhà mình, đó là sáu Căn này vậy. Sáu mở Một mất, liền thành Chánh Giác, cũng là sáu Căn này vậy. Tức Vọng tức Chân, tức Chân tức Vọng, trong ấy có diệu ngộ. Một chữ Diệu rất khó dùng ngôn ngữ để hình dung, phải chuyển Thức thành Trí.

Tương ưng với Tánh Giác Diệu Minh, Bổn Giác Minh Diệu mới có thể nói đến Bồ Đề Vô Thượng. Ví như hoa sen, mọc ra từ bùn mà chẳng dơ nhiễm. Hoa sen thường còn vậy, huống là hoa Ưu Đàm, khác hẳn tướng thế gian, gọi là hoa ứng điềm lành, để chỉ cho sự phát minh một con đường tối thượng. Nhập chỗ thấy biết của Phật mới lãnh nhận nổi.

Bảo Giác Kim Cương Vương, tức là Sơ Càn Tuệ Địa trong Tâm Kim Cương vậy. Kim Cương có thể phá hủy tất cả. Hàng Thập Địa đều gọi là Tâm Kim Cương, cũng vì là phá hủy cái “Địa” trước, tức cái gọi là gươm Huệ vậy. Một khi cái Giác này hiện ra, thì không những Vô Minh từ vô thủy diệt ngay, mà cái Phật Kiến, Bồ Tát Kiến cũng không có chỗ nào ló đầu ra nữa.

Tam Ma Đề là Chánh Định. Nói là như huyễn vì như người huyễn đang làm mà vốn không có chỗ nào làm. Tức là Tịch mà Chiếu, tức là Chiếu mà Tịch, quên Tình bặt Thức, không thể nghĩ bàn, tức là chỗ gọi là Kim Cương Tam Muội, văn, huân, tu vậy.

 Các pháp Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na nhiệm mầu này, độc chỉ bởi một phen ngộ. Một khi ngộ liền đến Phật địa, nên trong khoảng khảy móng tay mà vượt hàng Vô Học Nhị Thừa. Hàng Vô Học còn rơi vào công phu tu tập, còn chấp nơi Vô Kiến.

Cái Chân Tánh này hiện tiền, thì hữu, vô đều lìa hết, vượt lên một lần là vào thẳng, chẳng còn mượn công phu thứ bậc, là Đốn Môn vậy. Như Thái Tử còn ở trong thai, đã quý hiển hơn hàng quan, hay như chim Tần Đà trong trứng, tiếng đã vượt hơn các loài chim. Há các loại thiền định, quán hạnh tầm thường có thể so sánh sao ? Nên nói “Pháp không gì sánh này chóng chứng Tịch Thường vậy”.

Nhà sư hỏi Tổ Càn Phong : “Một đường vào Niết Bàn của mười phương Chư Phật, chưa rõ đầu đường ở chỗ nào ?”

Tổ Phong lấy cây gậy vạch một nét, bảo : “Ở trong ấy”.

Nhà sư xin Tổ Vân Môn chỉ thêm.

Tổ Môn cầm cây quạt đưa lên nói : “Cây quạt nhảy tót lên tầng Trời Thứ Ba Mươi Ba, xây đắp các lỗ mũi của Đế Thích. Đánh con cá Lý Ngư ở biển Đông một gậy, mưa như cầm chậu đổ ! Hiểu chăng ? Hiểu chăng ?”


Tổ Hoàng Nam nói : “Càn Phong một phen chỉ đường, giúp đỡ kẻ sơ cơ. Vân Môn thông suốt chỗ biến hoá, nên khiến người sau không mỏi mệt !”

Ngài Trúc Am tụng rằng :

Càn Phong khỏi dùng sự chỉ bày.
Vân Môn thôi đánh đồ vặt vãnh.
Tự nhiên con Lý Ngư ở biển Đông xây đắp lỗ mũi của Đế Thích
”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Vào tay phương thuốc để cứu đời
“Hương hoàn hồn” muốn cứu nguy ngay
Một mai toát mồ hôi khắp hết
Mới tin ai chẳng tiếc lông mày”
.

Đây là việc gì mà há nên nói lý giải thoát khiến người vào được ? Cần phải tự mình khai ngộ thấu suốt mới được cái kỳ diệu.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Ba 22, 2011, 06:36:03 AM »

(tiếp theo)

於是阿難及諸大眾。聞佛如來。無上慈誨。祗夜(此云重頌)伽陀(此云諷頌)雜糅精瑩。妙理清徹。心目開明。嘆未曾有。阿難合掌頂禮白佛。我今聞佛無遮大悲。性淨妙常。真實法句。心猶未達六解一亡舒結倫次。唯垂大慈。再愍斯會。及與將來。施以法音。洗滌沉垢。即時如來於師子座。整涅槃僧(此云裡衣)斂僧伽黎。(此云大衣)攬七寶幾。引手於幾。取劫波羅(此云時分夜摩天也)天所奉華巾。於大眾前。綰成一結。示阿難言。此名何等。阿難大眾俱白佛言。此名為結。於是如來綰疊華巾。又成一結。重問阿難。此名何等。阿難大眾。又白佛言。此亦名結。如是倫次綰疊華巾。總成六結。一一結成。皆取手中所成之結。持問阿難。此名何等。阿難大眾。亦復如是。次第酬佛。此名為結。佛告阿難。我初綰巾。汝名為結。此疊華巾。先實一條。第二第三。云何汝曹復名為結。阿難白佛言。世尊。此寶疊華緝績成巾。雖本一體。如我思惟。如來一綰。得一結名。若百綰成。終名百結。何況此巾秪有六結。終不至七。亦不停五。云何如來。秪許初時。第二第三。不名為結。佛告阿難。此寶華巾。汝知此巾。元止一條。我六綰時。名有六結。汝審觀察。巾體是同。因結有異。於意云何。初綰結成名為第一。如是乃至第六結生。吾今欲將第六結名。成第一不。不也。世尊。六結若存。斯第六名。終非第一。縱我歷生盡其明辯。如何令是六結亂名。佛言如是。六結不同。循顧本因。一巾所造。令其雜亂。終不得成。則汝六根。亦復如是。畢竟同中生畢竟異。佛告阿難。汝必嫌此六結不成。願樂一成。復云何得。阿難言此結若存。是非鋒起。於中自生此結非彼。彼結非此。如來今日若總解除。結若不生。則無彼此。尚不名一。六云何成。佛言。六解一亡。亦復如是。由汝無始心性狂亂。知見妄發。發妄不息。勞見發塵。如勞目睛。則有狂華。於湛精明。無因亂起一切世間山河大地。生死涅槃。皆即狂勞顛倒華相。



MỤC HAI :

CỘT KHĂN ĐỂ CHỈ MỐI NÚT
VÀ CÁCH MỞ NÚT


I. CỘT NÚT

Kinh : Khi ấy, Ông Anan và cả đại chúng nghe lời dạy từ bi vô thượng của Phật, kệ tụng cốt tủy, diệu lý trong suốt, mắt tâm mở tỏ, tán thán là Pháp chưa từng có.
Ông Anan chấp tay đảnh lễ, bạch Phật : “Nay tôi nghe Phật mở lòng đại bi dạy cho những câu Pháp về tánh chân thật thanh tịnh diệu thường, nhưng tâm còn chưa rõ thứ lớp mở nút của việc “Sáu mở một mất”. Xin Phật rủ lòng đại bi thương xót hội này cùng với đời sau, bố thí cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm nặng nề của chúng tôi”.
Liền khi ấy, Đức Như Lai nơi sư tử tòa, sửa áo Niết Bàn Tăng, vén áo Tăng Già Lê, dựa ghế thất bảo, đưa tay lên ghế, lấy cái khăn hoa do Trời Dạ Ma dâng cúng, rồi ở trước đại chúng, cột thành một nút, đưa cho Ông Anan xem và bảo rằng : “Cái này gọi là gì ?”
Ông Anan và đại chúng đều bạch Phật rằng : “Cái ấy gọi là nút”.
Lúc ấy, Như Lai lại cột khăn hoa thành một nút nữa và hỏi Ông Anan : “Cái này gọi là gì ?”

Ông Anan và đại chúng lại bạch Phật rằng: “Cái ấy cũng gọi là nút”.

Phật tuần tự cột khăn hoa như vậy, tất cả sáu nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều lấy cái nút vừa cột xong trong tay, đưa hỏi Ông Anan : “Cái này gọi là cái gì ?” Ông Anan và đại chúng cũng tuần tự đáp lại Phật : “Cái ấy gọi là nút”.

Phật bảo Ông Anan : “Khi Ta mới cột khăn thì ông gọi là nút. Cái khăn hoa này trước đây chỉ có một cái, cớ sao lần thứ hai, lần thứ ba, các ông cũng gọi là nút ?”

Ông Anan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, cái khăn hoa thêu dệt quý báu này vốn chỉ một thể. Nhưng theo ý tôi nghĩ, Như Lai cột một lần, thì được gọi là một nút, nếu cột trăm lần, thì rốt phải gọi là trăm nút; huống gì cái khăn này chỉ có sáu nút, chẳng lên đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Đức Như Lai chỉ cho cái đầu tiên là nút, còn cái thứ hai, thứ ba thì không gọi là nút ?”

Phật bảo Ông Anan : “Cái khăn hoa báu này, ông biết nó vốn chỉ có một cái, đến khi Ta cột sáu lần thì ông gọi là có sáu nút. Ông xét kỹ xem, thể của khăn là đồng, nhân vì cột mà có ra khác. Ý ông thế nào ? Cột nút đầu tiên thì gọi là nút thứ nhất, như vậy cho đến cột lần thứ sáu thì gọi là nút thứ sáu. Nay Ta muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất, được không ?”
- Bạch Thế Tôn, không. Cả sáu nút mà còn, thì cái gọi là thứ sáu nhất định không phải là cái thứ nhất. Cho dù tôi có biện giải suốt đời cũng không làm sao cho sáu nút đổi tên được”.

Phật bảo : “Thế đấy, sáu nút không đồng nhau. Xét theo bản nhân thì do một cái khăn tạo ra, nhưng rốt cuộc không thể làm cho sáu nút lẫn lộn với nhau. Sáu Căn của ông cũng là như thế. Trong chỗ rốt ráo đồng nhau, sanh ra rốt ráo khác nhau”.

Phật bảo Ông Anan : “Chắc là ông không muốn thành ra sáu nút, và trông mong chỉ thành một thể, thì phải làm sao ?”

Ông Anan thưa : “Nếu còn những nút này thì sự phải trái nổi lên, trong đó tự sanh ra nào là nút này không phải nút kia, nút kia không phải là nút này. Nếu giờ đây, Như Lai cởi bỏ tất cả, thì nút chẳng sanh ra, ắt là không có đây, kia. Như thế còn không có cái gọi là một, thì lấy đâu có sáu ?”

Phật dạy : “Sáu mở, một mất cũng như vậy đó. Do từ vô thủy, tâm ông cuồng loạn, mà cái thấy-biết vọng phát ra. Vọng phát chẳng ngừng, nên cái thấy mệt mỏi phát sanh trần tướng. Ví như mắt mỏi thì có hoa đốm. Trong Tánh trong lặng sáng suốt, không đâu mà lăng xăng sanh khởi tất cả thế gian, núi sông, đất đai, sanh tử, Niết Bàn... hết thảy đều là những tướng hoa đốm điên đảo mê dại cả”.


通曰。元依一精明。分成六和合。前已詳言之矣。何為復有此喻。前由明暗動靜等塵。黏湛發起六根。自外而內。故但不循動靜明暗等相。脫黏內伏。發本明耀。即得六根互用。是返流全一。所以制其外也。今由心性狂亂。勞見發塵。自內而外。故根結若除。塵相自滅。先得人空。乃至得無生忍。是解散結心。所以融其內也。於湛精明。無因亂起。迷本無因。因明立所。此知見妄發。即結起之由。以湛旋其虛妄生滅。生滅既滅。寂滅現前。此六用不行。即解散之義。方其結也。聽不出聲。見不超色。此結非彼。彼結非此。如勞目睛。別有狂華。及其解也。既銷其六。覆亡其一。一尚無名。云何成六。如清明眼。本自無華。故結之名生死。而未嘗損也。解之名涅槃。而未嘗益也。譬猶狂華。無端起滅。於太虛何增減哉。故知生死之為顛倒。則六解矣。知涅槃之為空華。則一亡矣。返流全一。一猶未亡。至亡其一。則結心解矣。僧問風穴沼禪師。一即六六即一。一六俱亡時如何。穴曰。一箭射雙雕。曰意旨如何。穴曰。身亡跡謝。又張拙秀才。初見石霜。霜問何名。拙曰。姓張名拙。霜曰。覓巧尚不可得。拙自何來。拙於言下契悟。
遂呈偈曰。

光明寂照遍河沙。
凡聖含靈共一家。
一念不生全體現。
六根才動被云遮。
斷除妄想重增病。
趣向真如亦是邪。
隨順世緣無罣礙。
涅槃生死等空華。

若拙者。深得六解一亡之旨。豈由次節而致者哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Vốn y nơi một Tinh Minh mà chia ra thành sáu cái hòa hợp, trước đã nói rõ rồi, sao lại có ví dụ này ?
Ở đoạn trước thì do các Trần sáng, tối, động, tĩnh... làm dính che Tánh trong lặng mà phát khởi ra sáu căn, từ ngoài vào trong, cho nên chỉ cần chẳng theo các tướng sáng, tối, động, tĩnh... thì thoát khỏi sự che dính, ẩn phục vào trong, liền phát ra cái sáng chói vốn có, thì được sáu Căn dùng thay nhau. Đó là ngược dòng mà toàn nhất, để chế phục cái bên ngoài vậy.

Nay đây thì do tâm cuồng loạn, cái thấy mệt mỏi phát ra trần tướng, là từ trong ra ngoài. Nên trừ được cái Căn cột buộc thì trần tướng tự diệt mất. Ban đầu đắc Nhân Không, cho đến đắc Vô Sanh Nhẫn. Đây là mở tan tâm bị cột trói, để viên dung cái bên trong vậy. Trong Tánh lặng trong sáng suốt, không do đâu mà sanh khởi lăng xăng. Cái Mê vốn chẳng có nguyên nhân, gốc gác gì; nhân nơi cái Minh lập nên cái Sở. Cái Thấy Biết vọng phát ra này, là nguyên do của sự phát sanh mối nút. Cái trong lặng bỗng xoay ra có hư vọng sanh diệt. Sanh diệt ấy mà đã diệt, đó là tịch diệt hiện tiền. Sáu cái dùng này chẳng hiện hành, đó là nghĩa mở tan vậy.

Còn bị cột, thì nghe chẳng ngoài tiếng; thấy chẳng vượt sắc. Nút này chẳng phải nút kia, nút kia chẳng phải nút này. Như mắt mệt mỏi thấy riêng hoa đốm. Đến khi cởi mở được, thì cái Sáu đã tiêu, cái Một cũng mất. Cái Một còn không có tên gì để gọi, huống là thành sáu sao ? Như mắt trong sáng, vốn tự không có hoa đốm. Nên cột đó, thì gọi là sanh tử, mà chẳng hề tổn giảm. Mở đó, gọi là Niết Bàn, mà chẳng hề thêm lên. Như hoa đốm khi không mà khởi, diệt ; hư không có chỗ nào thêm bớt ? Thế nên, biết sanh tử là điên đảo thì sáu liền được mở. Biết Niết Bàn là hoa đốm, thì cái Một liền tiêu vong. Ngược dòng toàn vẹn Một, cái Một dường chưa mất, đến khi Một cũng mất thì tâm trói buộc liền mở thoát.


Nhà sư hỏi thiền sư Phong Huyệt Chiểu : “Một tức Sáu, Sáu tức Một. Một và Sáu đều mất thì như thế nào ?”

Tổ Duyệt nói : “Một mũi tên bắn hai chim”.

Hỏi : “Ý chỉ thế nào ?”

Tổ Duyệt nói : “Thân mất, dấu tiêu”.


Ông Tú Tài Trương Chuyết ra mắt Tổ Thạch Sương.

Tổ Sương hỏi : “Tên gì ?”

Ông Chuyết đáp : “Họ Trương, tên Chuyết  -(ct) Vụng về. )”.

Tổ Sương nói : “Tìm cái khéo còn chẳng được thay, cái vụng từ đâu mà lại ?”


Ông Trương Chuyết ngay dưới lời nói khế ngộ, bèn trình kệ :

“Sáng trưng lặng chiếu khắp hà sa
Phàm Thánh sinh linh chung một nhà
Một niệm chẳng sanh : toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị mây mờ
Đoạn trừ vọng tưởng, càng thêm bệnh
Hướng tới Chân Như, ấy cũng tà
Tùy thuận duyên đời, không chướng ngại
Niết Bàn, sanh tử thảy không hoa”.

(Quang minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm thánh hàm linh cọng nhất gia
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục Căn tài động bị vân già
Đoạn trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh
Thú hướng Chân Như diệc thị tà
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại
Niết Bàn, sanh tử đẳng không hoa).

Như Ông Chuyết, quả là thâm đắc ý chỉ “Sáu mở Một tiêu”. Nào do thứ lớp mà đến đó sao ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 22, 2011, 06:37:55 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Ba 22, 2011, 06:41:09 AM »

(tiếp theo)

阿難言。此勞同結。云何解除。如來以手將所結巾。偏掣其左。問阿難言。如是解不。不也。世尊。旋復以手偏牽右邊。又問阿難。如是解不。不也。世尊。佛告阿難。吾今以手左右各牽。竟不能解。汝設方便。云何解成。阿難白佛言。世尊。當於結心解即分散。佛告阿難。如是如是。若欲除結。當於結心。


II. CÁCH MỞ NÚT

Kinh : Ông Anan thưa : “Cái bệnh mệt mỏi kia giống như cái nút, làm sao cởi bỏ ?”

Đức Như Lai dùng tay cầm cái khăn có cột nút, kéo riêng mối bên trái rồi hỏi Ông Anan : “Như thế này mở được không ?”

-Thưa Thế Tôn, không thể.

Đức Thế Tôn lại dùng tay kéo mối bên phải rồi hỏi Ông Anan : “Như thế này mở được không ?”

-Thưa Thế Tôn, không thể.

Phật bảo Ông Anan : “Nay Ta lấy tay kéo mối bên phải, bên trái mà rốt cuộc chẳng mở được, vậy ông dùng cách nào mà mở ra ?”

Ông Anan thưa với Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, phải ở ngay nơi trung tâm của nút, thì mở ra ngay”.

Phật bảo Ông Anan : “Đúng thế, đúng thế ! Nếu muốn hết cái nút, thì phải ở ngay nơi tâm của mối nút.


湧曰。舊說左右牽。喻依空有二邊。不能解結。須依圓觀。於根不生分別。於境不生取著。則解結矣。夫待觀而後解者。猶然左右牽也。於結心何與。不如衲僧家語更妙密。壽聖云。月半前用鉤。月半後用錐。僧便問正當月半時如何。聖云。泥牛踏破澄潭月。天童拈云。兩頭得用。壽聖作家。直下忘功。是誰體得。放行也。互換尊賓。把定也。不留朕跡。還有體得底麼。玉女夜拋梭。織錦於西舍。又云門示眾云。十五日以前即不問。十五日以後。道將一句來。自云。日日是好日。天童拈云。屬虎人本命。屬猴人相沖。石門聰云。十五日以前諸佛生。十五日以後諸佛滅。十五日以前諸佛生。你不得離我這裡。若離我這裡。我以鉤鉤你。十五日以後諸佛滅。你不得住我這裡。若住我這裡。我以錐錐你。且道正當十五日。用鉤即是。用錐即是。遂有頌云。正當十五日。鉤錐一時息。更擬問如何。回頭日又出。云門即不然。十五日以前。諸佛本不曾生。十五日以後。諸佛本不曾滅。十五日以前。你若離我這裡。我也不用鉤鉤你。一任橫擔拄杖。緊捎草鞋。十五日以後。你若住我這裡。我也不用錐錐你。一任拗折拄杖。高掛缽囊。且道正當十五日。合作麼生。乃云。十五日前後。鉤錐徒爾為。今朝十五日。正好用鉤錐。且作麼生用。路逢死蛇莫打殺。無底藍子盛將歸。若於此數則得端的去。結心一時頓釋。



*Giải nghĩa rộng ra:-  Các nhà chú giải xưa nói : kéo mối bên trái, bên phải là dụ cho sự nương y vào hai bên không, có, nên không thể mở nút. Nên cần phải ở trong Viên Quán, nơi Căn không sanh phân biệt, nơi Cảnh không sanh bám nắm, thì nút mở ra. Phàm đợi Quán rồi mới mở ra được, thế vẫn chỉ là kéo mối phải, mối trái mà thôi, nơi chỗ tâm của mối nút có ăn nhằm gì ? Chẳng như lời lẽ của nhà Thiền rất kín đáo nhiệm mầu vậy.

Tổ Thọ Thánh nói : “Nửa tháng trước dùng móc, nửa tháng sau dùng chùy”.

Nhà sư bèn hỏi : “Hiện ngay đang giữa tháng thì thế nào ?”

Tổ Thánh nói : “Trâu đất đạp vỡ trăng trên đầm trong”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra : “Hai đầu đều có chỗ dùng, ấy là Thọ Thánh ! Liền quên công sức, có ai để đắc ? Tha đi ấy : đổi làm khách quý. Nắm đứng lại : Chẳng còn dấu vết. Còn có đắc gì chăng ? Đêm khuya ngọc nữ vất bỏ gấm dệt nơi nhà Tây !

Lại Tổ Vân Môn dạy chúng rằng : “Ngày Mười Lăm về trước thì chẳng hỏi, ngày Mười Lăm về sau, thử nói một câu xem ?”

Rồi Ngài tự nói : “Ngày nào cũng là ngày tốt”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Người tuổi Dần bổn mạng. Người tuổi Thân tương xung !”

Tổ Thạch Môn Thông nói : “Ngày Mười Lăm về trước, Chư Phật sanh. Ngày Mười Lăm trở về sau, Chư Phật diệt. Ngày Mười Lăm về trước Chư Phật sanh, ông không được lìa cái Trong Ấy của ta. Nếu lìa cái Trong Ấy, ta lấy móc móc ông. Ngày Mười Lăm về sau chư Phật diệt, ông không được trụ cái Trong Ấy của ta. Nếu trụ cái Trong Ấy của ta, ta lấy dùi dùi ông. Thử nói hiện nay ngày Mười Lăm, dùng móc là phải hay dùng dùi là phải ?”


Rồi tụng rằng :

“Hiện ngay ngày Mười Lăm
Móc dùi đồng thời dứt
Vừa định hỏi thế nào
Quay đầu (mặt) trời lại mọc”.


Tổ Vân Môn thì chẳng thế : “Ngày Mười Lăm về trước, Chư Phật vốn chẳng từng sanh. Ngày Mười Lăm về sau, Chư Phật vốn chưa từng diệt. Ngày Mười Lăm về trước, nếu ông lìa cái Trong Ấy của ta, ta cũng chẳng dùng móc móc ông. Cứ thế vác ngang cây trụ trượng, dẫm nát đôi giày cỏ. Ngày Mười Lăm về sau, nếu ông trụ nơi Trong Ấy của ta, ta cũng chẳng lấy dùi dùi ông. Cứ việc bẻ gãy cây trụ trượng, treo cao đãy bát. Thử hỏi ngay ngày Mười Lăm, phải làm sao ?”


Bèn nói : “Trước, sau ngày Mười Lăm. Móc dùi dùng làm gì ? Sáng nay ngày Mười Lăm. Đúng lúc dùng dùi, móc ! Nhưng dùng làm sao đây ?”

Rắn chết giữa đường, đừng đập đánh
Giỏ không đáy ấy, đựng mang về.

Nếu nơi cái tắc này mà được ra manh mối, thì cái tâm buộc trói bấy lâu tức thời mở thoát.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Ba 22, 2011, 06:43:08 AM »

(tiếp theo)

阿難。我說佛法從因緣生。非取世間和合粗相。如來發明世出世法。知其本因。隨所緣出。如是乃至恆沙界外一滴之雨。亦知頭數。現前種種。松直棘曲。鵠白烏玄。皆了元由。


Kinh : “Anan, Ta thuyết Phật Pháp, từ nhân duyên sanh, chẳng phải giữ lấy các tướng hòa hợp thô phù của thế gian. Như Lai phát minh các pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ cái Bổn Nhân của chúng, theo duyên gì mà có ra. Như vậy cho đến một giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới cũng biết số mục. Hiện trước mặt đủ thứ : cây tùng thẳng, con hộc trắng, con quạ đen đều rõ nguyên do.

通曰。佛知世出世法。皆由於心。隨染緣則出九界。隨淨緣則出佛界。此因緣猶可解也。至恆沙雨滴。及現前種種。何因何緣而知其元由耶。佛有權實二智。實智冥理。權智鑑物。故知種種元由者。皆權智所鑑也。如來法身。圓滿周遍。無有一物能出法身外者。如來安得不知。洞山聰上堂云。教山僧道甚麼即得。古即是今。今即是古。所以楞嚴經道。松直棘曲。鵠白烏玄。還知得麼。雖然如是。未必是松一向直。棘一向曲。鵠便白。烏便玄。洞山道。這裡也有曲底松。也有直底棘。也有玄底鵠。也有白底烏。久立珍重。且道洞山是轉楞嚴。為楞嚴轉。畢竟作甚麼話會。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Phật biết pháp thế gian và xuất thế gian đều do nơi tâm. Tùy theo nhiễm duyên thì có ra chín cõi.

Tùy theo tịnh duyên thì có được Phật Giới. Cái nhân duyên này mà hiểu được thì cho đến hằng sa giọt mưa cùng các thứ hiện tiền Nhân gì, Duyên gì đều biết nguyên do.

Phật có hai Trí : Quyền Trí và Thật Trí. Thật Trí thì rõ Lý; Quyền trí thì soi chiếu Sự Vật. Thế nên, biết được các thứ nguyên do là do Quyền Trí soi chiếu sự vật vậy. Pháp Thân Như Lai tròn đầy toàn khắp, không có một vật nào ở ngoài Pháp Thân, vậy có gì mà Như Lai không biết ư ?


Tổ Động Sơn thượng đường nói : “Bảo sơn tăng này nói gì thì được ? Cổ tức kim, kim tức cổ. Vì thế kinh Lăng Nghiêm nói “Cây tùng thẳng, cây gai cong, con hộc trắng, con quạ đen”. Có biết không ? Tuy nhiên như thế, chưa chắc là cây tùng cứ một mực thẳng, cây gai một mực cong, con hộc thì cứ trắng, con quạ thì cứ đen. Động Sơn này nói : “Trong ấy cũng có cây tùng cong, cũng có cây gai thẳng, cũng có con hộc đen, cũng có con quạ trắng”. Đứng lâu rồi, trân trọng !”

Hãy nói xem, Động Sơn chuyển Lăng Nghiêm hay bị Lăng Nghiêm chuyển ? Rốt cuộc làm sao hiểu lời nói đó ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Ba 22, 2011, 06:46:39 AM »

(tiếp theo)

是故阿難。隨汝心中選擇六根。根結若除。塵相自滅。諸妄銷亡。不真何待。阿難。吾今問汝。此劫波羅巾。六結現前。同時解縈。得同除不。不也。世尊。是結本以次第綰生。今日當須次第而解。六結同體。結不同時。則結解時。云何同除。佛言。六根解除。亦復如是。此根初解。先得人空。空性圓明。成法解脫。解脫法已。俱空不生。是名菩薩從三摩地得無生忍。


Kinh : “Thế nên, Anan, tùy nơi tâm ông mà chọn lựa trong sáu Căn. Nếu trừ được cái nút của Căn, thì Trần Tướng tự diệt, các Vọng tiêu mất, còn đợi cái Chân nào nữa ?

“Anan, nay Ta lại hỏi ông : Cái khăn hoa này hiện có sáu nút, có thể cũng một lúc mở ra tất cả để trừ hết được không ?”
- Thưa Thế Tôn, không. Những nút ấy vốn theo thứ lớp cột lại mà sanh, thì nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút ấy tuy là đồng thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi cởi nút, làm sao cùng một lúc mà trừ hết được ?

Phật dạy : “Cởi trừ sáu Căn cũng như vậy. Căn ấy khi mới mở, thì trước hết được Nhân Không, đến khi Tánh Không tròn sáng thì giải thoát được Pháp Chấp. Giải thoát khỏi Pháp Chấp rồi, thì cả hai Nhân Không và Pháp Không đều chẳng sanh. Đó gọi là Bồ Tát do Tam Ma Địa mà đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”.



通曰。一根既返源。六根成解脫。詳如此喻。迷則六根同結。悟則六根互用。有何次第。但迷以積迷。由精而粗。悟以入悟。由粗而精。不無漸次云爾。非謂一根拔而余五以次拔也。佛語圓融。本無拘泥。即如初名為結。結處本同第二第三。不得復名為結。寧有結而又結者乎。故結即是一也。結既是一。第一即是第六。第六即是第一。彼此異名。未嘗不可。然人之生也。自胞胎以至具體。六根不無先後。及十八界成。而根有圓通者。有不圓通者。故循圓通。一日證道而有餘。不循圓通。百劫修道而不足。此日劫相倍。六根具有利鈍不同。故根有易拔者。有不易拔者。孔子六十而耳順。耳根化也。七十而從心所欲不踰矩。意根化也。是有多少次第。此結非一日所積。而解亦非頃刻能除也。初得人空。以至得無生忍。即入流亡所次第。隱然以返聞為圓通第一。待阿難自擇耳。人空是破五陰假名。即斷見惑也。法空是破五陰實法。即斷思惑也。乃至破涅槃淨法。即永斷根本無明也。俱空不生。即平等空。所空既盡。能空亦滅。境智雙泯。能所俱寂。即妙湛總持首楞嚴定也。故曰得無生忍。僧問百丈。如何是大乘頓悟法要。丈曰。汝等先歇諸緣。休息萬事。善與不善。世出世間。一切諸法。莫記憶。莫緣念。放捨身心。令其自在。心如木石。無所辨別。心無所行。心地若空。慧日自現。如雲開日出相似。但歇一切攀緣貪嗔愛取。垢淨情盡。對五欲八風不動。不被見聞覺知所縛。不被諸境所惑。自然具足神通妙用。是解脫人。對一切境。心無淨亂。不攝不散。透過一切聲色。無有滯礙。名為道人。善惡是非。俱不運用。亦不愛一切法。亦不捨一切法。名為大乘人。不被一切善惡空有垢淨。有為無為。在出世間。福德智慧之所拘繫。名為佛慧。是非好醜。是理非理。諸知見情盡。不能繫縛。處處自在。名為初發心菩薩。便登佛地。夫百丈縱口所談。默與經旨符契。非大解脫人。不能為此解脫語。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Một Căn đã trở lại nguồn, sáu Căn thành giải thoát”, thật rõ ràng như thí dụ này. Mê thì sáu Căn cùng cột nút, ngộ thì sáu Căn dùng thay nhau, có thứ lớp gì đâu ?

Chỉ vì mê lại càng tích chứa thêm mê, mà có từ tinh tế đến thô phù; ngộ thì càng ngộ, mà từ thô phù đến tinh tế. Chẳng phải là không có thứ lớp, nhưng chẳng phải nhổ thoát một Căn rồi các Căn kia theo thứ tự nhổ thoát theo.

Lời Phật viên dung, vốn nào có vướng mắc. Như gọi là nút thứ nhất, thì nút thứ hai, thứ ba cũng đồng là nút mà không thể gọi là nút thứ nhất được. Tên thì khác nhau mà đồng là nút, thì cái thứ nhất là cái thứ sáu, cái thứ sáu là cái thứ nhất.

Người ta sanh ra, từ trong thai cho đến khi đầy đủ hình thể, sáu Căn chẳng phải không có trước sau. Đến khi mười tám giới đã thành, thì Căn có cái viên thông, cái chẳng viên thông. Theo cái viên thông, dư sức chứng Đạo một ngày. Chẳng theo cái viên thông, trăm kiếp tu Đạo chẳng đủ. Ngày và kiếp khác xa nhau, thì sáu Căn có cái nhanh, chậm chẳng đồng. Thế nên, Căn có cái dễ nhổ dứt, có cái khó nhổ dứt.

Khổng Tử nói “Sáu mươi tuổi thì lỗ tai tùy thuận”, đó là nhĩ căn đã chuyển hóa rồi vậy. Lại nói, “Bảy mươi tuổi tùy theo tâm, mà chỗ muốn không ra ngoài khuôn phép”, đó là ý căn đã chuyển hóa rồi, cũng có ít nhiều thứ lớp.

Cái cột nút này chẳng tích chứa trong một ngày, thì cởi mở cũng không phải trong khoảng khắc mà trừ được. Ban đầu, được Nhân Không, cho đến đắc Vô Sanh Nhẫn, tức là thứ lớp Vào dòng mất cái Sở, để ám chỉ Xoay lại cái nghe là Viên Thông Đệ Nhất, chờ Ông Anan tự chọn đó.

Nhân Không là phá cái giả danh của năm Ấm, nghĩa là đoạn được Kiến Hoặc vậy. Pháp Không là phá cái thật pháp của năm Ấm, nghĩa là đoạn được Tư Hoặc. Cho đến phá cái pháp trong sạch là Niết Bàn, thì vĩnh viễn đoạn dứt căn bản Vô Minh.

Cả hai cái không ấy chẳng sanh, tức là Tánh Không bình đẳng. Cái Sở Không đã dứt thì cái Năng Không cũng diệt, Cảnh và Trí đều tiêu mất, Năng và Sở đều tịch diệt, đó tức là cái Định Thủ Lăng Nghiêm, “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn” vậy. Thế nên nói là đắc Vô Sanh Nhẫn.

Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Như thế nào là pháp yếu Đốn Ngộ của Đại Thừa ?”

Tổ Bá Trượng nói : “Các ông trước dứt hết các duyên, ngừng thôi muôn sự. Thiện cùng chẳng thiện, thế gian cùng xuất thế gian, hết thảy các pháp đều không nhớ nghĩ, đều không dính líu. Buông bỏ thân tâm, bèn được tự tại. Tâm như gỗ đá, không có chỗ biện biệt. Tâm không chỗ động. Tâm Địa nếu Không, mặt trời Trí Huệ tự hiện. Cũng như mây tan thì mặt trời hiện ra vậy. Chỉ hết tất cả bám níu, Tham, Sân, Yêu, Giữ, thì các Vọng Tình sạch dơ đều dứt, trước năm Dục, Bát Phong chẳng động, chẳng bị Thấy, Nghe, Hay, Biết buộc ràng, thế là tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, đó là người Giải Thoát.

Trước hết thảy cảnh, tâm không tịnh hay loạn, chẳng thu nhiếp, chẳng tán loạn, suốt qua tất cả thanh sắc, không có chỗ vướng ngăn, gọi là Đạo Nhơn. Thiện ác, phải trái đều chẳng vận dụng.

Chẳng lấy mà cũng chẳng bỏ tất cả pháp, gọi là người Đại Thừa.

Chẳng bị tất cả thiện ác, có không, dơ sạch, hữu vi vô vi, thế và xuất thế, phước đức trí huệ buộc ràng, thế gọi là Phật Huệ. Phải trái, tốt xấu, điều đúng điều sai, hết thảy thức tình thấy biết dứt sạch, không gì trói buộc được, chốn chốn đều tự tại an nhiên, gọi là Bồ Tát Sơ Phát Tâm, tiện bề chứng Phật Địa
”.


Tổ Bách Trượng lời lẽ nói ra thầm hợp với ý chỉ của kinh. Chẳng phải là người đại giải thoát làm sao có được lời giải thoát này ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, chonhoadong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.17 seconds với 25 câu truy vấn.