Tháng Hai 24, 2020, 11:23:17 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4] 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG II -- 首楞嚴宗通經 2  (Đọc 15855 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Ba 16, 2011, 08:26:44 PM »

(tiếp theo)

富樓那。想愛同結。愛不能離。則諸世間父母子孫相生不斷。是等則以欲貪為本。貪愛同滋。貪不能止。則諸世間卵胎濕化。隨力強弱。遞相吞食。是等則以殺貪為本。以人食羊。羊死為人。人死為羊。如是乃至十生之類。死死生生。互來相啖。惡業俱生窮未來際。是等則以盜貪為本。汝負我命。我還汝債。以是因緣。經百千劫。常在生死。汝愛我心。我憐汝色。以是因緣。經百千劫。常在纏縛。唯殺盜淫。三為根本。以是因緣。業果相續。富樓那。如是三種顛倒相續。皆是覺明明了知性。因了發相。從妄見生。山河大地。諸有為相。次第遷流。因此虛妄。終而復始。

Kinh : “Ông Phú Lâu Na, các Tưởng Ái cùng nối kết, lòng thương chẳng thể rời, thì cha mẹ, con cháu trong thế gian sanh nhau không dứt, họ lấy Dục, Tham làm gốc. Tham và Ái cùng nuôi nhau, tham muốn chẳng ngừng thì các loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh trong thế gian, tùy theo sức mạnh yếu, lần lượt ăn nuốt lẫn nhau, chúng lấy Sát, Tham làm gốc. Người ăn dê, dê chết làm người, người chết làm dê, như vậy cho đến mười loài chúng sanh chết sống, sống chết, ăn nuốt lẫn nhau, Nghiệp dữ cùng sanh, đến hết đời vị lai, loại này thì lấy đạo Tham làm gốc.

“Người này mắc nợ mạng người kia, người kia trả nợ cũ cho người này, do nhân duyên ấy, trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong sanh tử. Người này yêu cái Tâm của người kia, người kia thích cái Sắc của người này, do nhân duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong trói buộc. Chỉ ba thứ Sát, Đạo, Dâm làm gốc rễ, mà do nhân duyên đó, nghiệp quả cứ tiếp tục.
“Phú Lâu Na, ba thứ tiếp nối nhau điên đảo ấy, đều là cái thấy biết của Giác Minh. Nhân biết mà phát ra có hình tướng, từ cái vọng thấy sanh ra có núi sông đất đai, các tướng hữu vi, thứ lớp đổi dời, đều nhân cái hư vọng đó mà hết rồi lại bắt đầu.


通曰。世界屬依報。依報無情。故不結業。眾生屬正報。正報有情。即有業也。業莫大乎殺盜淫三者。而根從淫始。以同想成愛。異見成憎。只此愛憎。便是作業根源。想愛不結。則猶可離。既彼此同結。則生生世世。自不能離。父母子孫。相生不斷。皆淫為之本。貪愛同滋。便覺有味。而殺於是乎生焉。貪味不止。必求得之。而盜於是乎生焉。其實始於一愛。愛不遂。則強吞為殺。陰取為盜。皆所以成其愛也。故淫中自具殺盜二業。憎結則償債償命。常在生死。愛結則憐心憐色。常在纏縛。是憎愛即業因。而生死纏縛。即業果也。通上世界眾生三種顛倒。背真合妄。皆覺明之所生。覺明虛妄。妄立能所。故有山河大地。世界相續。眾生業果。諸有為相。生滅滅生。相續不已。若悟妄無自性。當體即是無生。誰為次第遷流。誰為終而復始。而根塵處界。居然一清淨本然。如來藏性矣。永嘉曰。了即業障本來空。未了應須還宿債。有味哉其言之也。云居膺在洞山作務。誤 剗 殺蚯蚓。山曰。這個 聻。膺曰。他不死。山曰。二祖往鄴都又作麼生。膺不對。後有僧問。和尚在洞山 剗 殺蚯蚓因緣。和尚豈不是無語。膺曰。當時有語。秪是無人證明。看他云居三界外人。故非情想所及。更說甚眾生業果相。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Thế giới thuộc về Y Báo, Y Báo thì vô tình, do đó chẳng kết Nghiệp. Chúng sanh thuộc Chánh Báo, Chánh Báo thì hữu tình, tức là có Nghiệp. Nghiệp không gì lớn hơn Sát, Đạo, Dâm, mà gốc bắt đầu từ Dâm. Cùng tư tưởng thì thương, thấy khác thì ghét, chỉ là cái thương ghét này, ngay đó là căn nguyên gây Nghiệp. Tưởng, Ái không kết hợp thì còn có thể lìa, chứ cả hai bên đã kết nối, thì đời đời, kiếp kiếp, chẳng thể tự rời nhau. Cha mẹ, con cháu sanh nhau ra chẳng dứt, đều do Dâm làm gốc.

Tham và Ái cùng nuôi dưỡng nhau, nên cảm thấy vui thích mùi vị mà Sát từ đó sanh ra. Tham mùi vị không ngừng, thì cầu cho được, Đạo (trộm cắp) từ đó sanh ra. Kỳ thật, chỉ bắt đầu từ một cái ưa thích : Ái. Yêu thích chẳng được thì ép uổng mà sát hại. Âm thầm lấy là đạo (trộm cắp), đều để thành tựu sự Ái cả. Cớ nên, trong cái Dâm, có đủ Sát, Đạo hai Nghiệp. Ghét mà kết tụ thì đền nợ, đền mạng, thường ở trong sanh tử. Thương mà kết tụ, thì thích tâm, thích sắc, thường ở trong trói buộc. Đó là thương ghét là nguyên nhân của Nghiệp, mà sanh tử trói buộc là quả của Nghiệp.

Hết thảy ba loại điên đảo của chúng sanh trong thế giới đều là do trái với Chân mà hợp với Vọng, đều là do Giác Minh sanh ra. Cái Giác Minh hư vọng, vọng lập nên có Năng, có Sở, nên có ra núi sông, đất đai, thế giới tiếp nối, nghiệp quả chúng sanh, các tướng hữu vi, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, tiếp tục chẳng ngừng. Nếu liền ngộ Vọng vốn không tự tánh, hiện tại tức là Vô Sanh, thì còn cái gì thứ lớp đổi dời, cái gì hết rồi lại bắt đầu sanh ? Thế là Căn, Trần, Xứ, Giới rõ ràng là một cái Thanh Tịnh bổn nhiên, Như Lai Tạng Tánh vậy.

Tổ Vĩnh Gia nói : “Ngộ tức nghiệp chướng bổn lai Không. Chưa ngộ đành trả hoàn nợ cũ”. Lời nói có ý vị biết bao !

Ngài Vân Cư Ứng, tham học tại Tổ Động Sơn, khi làm việc vô ý cuốc chết con trùn.

Tổ Động Sơn nói : “Đồ quỷ ấy.”

Ngài Ứng nói : “Nó chẳng chết”.

Tổ Sơn nói : “Nhị Tổ đi qua Nghiệp Đô, lại làm sao ?”

Ngài Ứng chẳng trả lời.

Sau có vị tăng hỏi Ngài : “Lúc Hòa Thượng ở Tổ Động Sơn, về nhân duyên giết chết con trùn, phải chăng Hòa Thượng không có lời đáp ?”

Ngài Ứng nói : “Lúc ấy có lời chứ, chỉ là không có người để chứng minh !”

Xem Ngài Vân Cư Ứng, thật là người ở ngoài ba cõi. Nên cái chỗ Tình và Tưởng không tới được, thì nói gì đến tướng nghiệp quả, chúng sanh !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, anhlam, dailuc, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Ba 16, 2011, 08:30:59 PM »

(tiếp theo)

富樓那言。若此妙覺本妙覺明。與如來心。不增不減。無狀忽生山河大地諸有為相。如來今得妙空明覺。山河大地有為習漏。何當復生。佛告富樓那。譬如迷人。於一聚落。惑南為北。此迷為復因迷而有。因悟而出。富樓那言。如是迷人。亦不因迷。又不因悟。何以故。迷本無根。云何因迷。悟非生迷。云何因悟。佛言。彼之迷人。正在迷時。倏有悟人。指示令悟。富樓那。於意云何。此人縱迷。於此聚落。更生迷不。不也。世尊。富樓那。十方如來。亦復如是。此迷無本。性畢竟空。昔本無迷。似有迷覺。覺迷迷滅。覺不生迷。亦如翳人。見空中華。翳病若除。華於空滅。忽有愚人。於彼空華所滅空地。待華更生。汝觀是人。為愚為慧。富樓那言。空元無華。妄見生滅。見華滅空。已是顛倒。敕令更出。斯實狂痴。云何更名如是狂人為愚為慧。佛言。如汝所解。云何問言諸佛如來妙覺明空。何常更出山河大地。又如金礦。雜於精金。其金一純。更不成雜。如木成灰。不重為木。諸佛如來。菩提涅槃。亦復如是。


IV. CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ


Kinh : Ông Phú Lâu Na thưa : “Nếu cái Diệu Giác đó, bản tánh là Diệu Minh, cùng với Tâm Như Lai, không tăng không giảm, mà không cớ gì bỗng sanh các tướng hữu vi núi, sông, đất đai. Vậy nay Như Lai đã đắc Diệu Giác Minh Không đó, thì lúc nào lại sanh ra núi, sông, đất đai và các tập lậu hữu vi ?”

Phật bảo Ông Phú Lâu Na : “Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương Bắc, thì cái mê ấy nhân do Mê mà có hay nhân Ngộ mà sinh ra ?”

Ông Phú Lâu Na thưa : “Người mê như vậy, cũng chẳng nhân Mê, cũng chẳng nhân Ngộ. Vì sao thế ? Cái Mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân Mê ? Ngộ chẳng sanh ra Mê, làm sao mà nhân Ngộ ?”

Đức Phật nói : “Cái người mê kia, ngay trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ bày cho khiến tỏ ngộ. Này Phú Lâu Na, ý ông thế nào ? Người ấy đã thả cái Mê ra rồi, thì đối nơi xóm làng đó, có còn sanh mê lại không ?”

- Bạch Thế Tôn, không”.

- Phú Lâu Na, mười phương Như Lai lại cũng như thế. Cái Mê ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn chẳng có Mê, chỉ hình như có Mê, có Giác. Giác được cái Mê, thì Mê diệt mà cái Giác vốn chẳng sanh Mê. Cũng như người lòa mắt, thấy hoa đốm giữa hư không. Bệnh lòa nếu hết, thì hoa đốm ở hư không diệt mất. Bỗng có người ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt, đợi chờ hoa đốm sanh ra trở lại. Ông xét người đó là ngu hay là trí huệ ?”
Ông Phú Lâu Na thưa : “Hư không vốn không có hoa đốm, mà vọng thấy có sanh có diệt. Thấy có hoa diệt mất giữa hư không đã là điên đảo rồi. Lại còn muốn bảo nó sanh ra lại thì thật là điên dại, làm sao mà gọi người điên như vậy là ngu hay là trí.”

Phật dạy : “Ông hiểu như thế, sao lại còn hỏi : “Tánh Diệu Giác Minh Không của Chư Phật Như Lai khi nào lại sanh ra núi, sông, đất đai ?” Cũng như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng, một khi vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành dơ tạp. Như cây đã đốt thành tro, không trở lại thành cây nữa. Bồ Đề, Niết Bàn của chư Phật Như Lai cũng lại như thế.


通曰。圓覺經金剛藏菩薩問世尊曰。若諸眾生。本來成佛。何故復有一切無明。若諸無明。眾生本有。何因緣故。如來復說本來成佛。十方異生。本成佛道。後起無明。一切如來。何時復生一切煩惱。世尊答曰。善男子。一切世界。始終生滅。前後有無。聚散起止。唸唸相續。循環往復。種種取捨。皆是輪迴。未出輪迴而辨圓覺。彼圓覺性。即同流轉。若免輪迴。無有是處。今富樓那所疑。與金剛藏無二。世尊但就彼生滅之見破之。連舉四喻。一喻覺不復迷。二喻滅不復生。三金不重礦。再申覺不復迷之意。四灰不重木。再申滅不復生之意。故其詞略。覺不復迷。即是菩提。滅不復生。即是涅槃。此以既出輪迴而辨圓覺。彼圓覺性。即無輪迴。故曰。諸佛如來菩提涅槃亦復如是。眾生在迷。所貴一覺耳。昔本無迷。無始之迷。似迷也。當其迷時。何曾忘失。故曰似迷。今亦無覺。從迷而覺者。似覺也。當其覺時。更有何得。故曰似覺。覺迷迷滅。乃始覺也。覺至始本不異。唯一妙覺。則不復生迷。但自不迷。覺亦無用。忠國師問紫璘供奉。佛是阿義。璘曰。是覺義。師曰。佛曾迷否。璘曰不曾迷。師曰。用覺作麼。璘無對。又米胡和尚令僧問仰山。今時人還假悟否。山曰。悟即不無。爭奈落在第二頭何。胡深肯之。投子拈云。仰山與麼道即得。還免得自己落麼。若免得。更有一人大不肯在。若免不得。亦落第二頭。米胡雖然肯他。自己還有出身之路也無。諸人試點檢看。若點檢得出。兩人瓦解冰消。若點檢不得。且莫造次。頌曰。碧岫峰頭借問人。指山窮處未安身。雖然免得重陽令。爭似靈苗不犯春。後天童頌曰。第二頭分悟破迷。快須撒手舍筌 罤。功兮未盡成駢拇。智也難知覺噬臍。兔老冰盤秋露泣。鳥寒玉樹曉風淒。持來大仰辨真假 。㾗 玷全無貴白圭。總之。不得春風華不開。及至華開又吹落。設有妙悟。亦須吐卻。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Kinh Viên Giác, Bồ Tát Kim Cang Tạng hỏi Đức Thế Tôn rằng : “Nếu chúng sanh xưa nay thành Phật, thì tại sao có hết thảy Vô Minh ? Nếu chúng sanh vốn có Vô Minh, thì vì nhân duyên gì Như Lai lại nói bổn lai thành Phật ? Các loài dị sanh trong mười phương, vốn thành Phật Đạo, sau lại khởi Vô Minh, thì tất cả Như Lai khi nào lại sanh ra tất cả phiền não ?”

Thế Tôn đáp rằng : “Này trai lành ! Hết thảy thế giới thủy chung sanh diệt, trước sau Có, Không, Tụ, Tán, Khởi, Dừng niệm niệm nối nhau, xoay vòng đi lại, đủ thứ nắm bỏ, đều là luân hồi. Chưa ra khỏi luân hồi mà tìm hiểu Viên Giác thì tánh Viên Giác kia cũng đồng trôi chuyển. Nếu thoát khỏi luân hồi, thì làm gì có chuyện đó !”

Nay chỗ nghi của Ông Phú Lâu Na không khác với Bồ Tát Kim Cang Tạng mà Thế Tôn chỉ tùy theo cái thấy sanh diệt của ông mà phá. Đưa tiếp nhau bốn thí dụ : Thứ nhất là Giác chẳng trở lại Mê; hai là Diệt rồi chẳng sanh trở lại; ba là vàng ròng chẳng trở lại quặng ; bốn là tro chẳng thành lại cây. Hai ý sau diễn lại hai ý chánh trước. Giác chẳng trở lại Mê, tức là Bồ Đề. Diệt chẳng trở lại sanh, tức là Niết Bàn. Đây là đã ra khỏi luân hồi mà biện hiểu Viên Giác. Tánh Viên Giác ấy tức chẳng có luân hồi, nên nói Bồ Đề, Niết Bàn của Chư Phật Như Lai cũng lại như thế.

Chúng sanh ở trong Mê, chỗ cần yếu là phải Giác. Nhưng từ xưa vốn không có sự Mê, cái Mê từ vô thủy, chỉ tương tự như Mê. Bởi vì ngay khi Mê cũng chưa từng bỏ mất, nên nói chỉ tựa hồ như Mê. Nay cũng không phải là không có Giác. Từ Mê mà Giác, thì cũng tựa hồ có Giác, vì ngay khi Giác, thì có đắc gì đâu, nên gọi là tợ hồ như Giác. Giác cái Mê, thì Mê diệt, đó là Thủy Giác. Giác cho đến chỗ Thủy Giác và Bổn Giác không khác, thì chỉ là một Diệu Giác. Thế là chẳng trở lại sanh Mê, chỉ tự chẳng Mê, Giác cũng thành vô dụng.


Quốc Sư Huệ Trung hỏi quan Cung Phụng Tử Lân rằng : “Phật là nghĩa gì ?”

Lân đáp : “Là nghĩa Giác.”

Ngài nói : “Phật có từng mê không ?”

Lân đáp : “Chẳng từng mê.”

Ngài nói : “Thế dùng Giác làm gì ?”

Ông Lân không đáp được.


Lại Hòa Thượng Mễ Hồ, khiến nhà sư đến hỏi Tổ Ngưỡng Sơn : “Người đời nay có mượn sự Ngộ không ?”

Tổ Ngưỡng nói : “Ngộ thì chẳng phải là không, ngặt vì sợ lạc vào đệ nhị đầu !”

Thầy Mễ Hồ rất chịu đó.

Tổ Đầu Tử nêu ra rằng : “Ngưỡng Sơn nói với người thì được, nhưng tự mình có khỏi lạc chăng ? Nếu khỏi được, lại có người nhất định chẳng chịu đấy. Nếu không khỏi được, thì cũng lạc vào đệ nhị đầu. Mễ Hồ tuy là chấp nhận đó, nhưng tự mình lại có đường xuất thân hay không ? Các ông thử xét xem coi ! Nếu xét ra được, thì cả hai người ngói vỡ, băng tan ! Nếu xét không được, hãy chớ gấp gáp !”


Rồi tụng rằng :

“Chót núi cao xanh mượn hỏi người
Chỉ nơi tột núi chửa yên thân
Tuy là khỏi được (tiết) Trùng Dương khiến
Cũng tợ linh miêu chẳng phạm xuân”.


Về sau, Ngài Thiên Đồng tụng rằng :


“Đệ nhị đầu : phân Ngộ phá Mê
Mau hãy buông tay bỏ lưới, nôm
Công chưa xong hết, thành trói buộc
Trăng già mặt tuyết sương thu khóc
Chim hàn cây ngọc, gió thê lương
Đem đến Ngưỡng Sơn phân chân giả
Tỳ vết tuyệt không, ngọc trắng trong”.


Tóm lại, chẳng có được gió Xuân thì hoa không nở, đến khi hoa nở lại thổi rụng ! Dầu có Diệu Ngộ, cũng cần mửa bỏ !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, anhlam, dailuc, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Ba 16, 2011, 08:35:32 PM »

(tiếp theo)

富樓那。又汝問言地水火風。本性圓融。周遍法界。疑水火性不相陵滅。又征虛空。及諸大地。俱遍法界。不合相容。富樓那。譬如虛空。體非群相。而不拒彼諸相發揮。所以者何。富樓那。彼太虛空。日照則明。云屯則暗。風搖則動。霽澄則清。氣凝則濁。土積成霾。水澄成映。於意云何。如是殊方諸有為相。為因彼生。為復空有。若彼所生。富樓那。且曰照時。既是日明。十方世界。同為日色。云何空中更見圓日。若是空明。空應自照。云何中霄雲霧之時。不生光耀。當知是明非日非空。不異空日。觀相元妄。無可指陳。猶邀空華。結為空果。云何詰其相陵滅義。觀性元真。唯妙覺明。妙覺明心。先非水火。云何復問不相容者。真妙覺明。亦復如是。汝以空明。則有空現。地水火風。各各發明。則各各現。若俱發明。則有俱現。云何俱現。富樓那。如一水中。現於日影。兩人同觀水中之日。東西各行。則各有日隨二人去。一東一西。先無准的。不應難言。此日是一。云何各行。各日既雙。云何現一。宛轉虛妄。無可憑據。


V. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG

Kinh : “Phú Lâu Na, lại chỗ ông hỏi : “Địa, Thủy, Hỏa, Phong, bản tánh viên dung, toàn khắp thế giới mà nghi sao tánh Nước, tánh Lửa lại không diệt lại nhau. Ông lại nêu ra Hư Không và Đất Đai đều cùng khắp pháp giới, lẽ ra chẳng tương dung.

“Phú Lâu Na, ví như Hư Không, bản thể chẳng phải là các tướng, nhưng không chống lại các tướng phát huy. Tại sao như thế ? Phú Lâu Na, trong hư không kia, mặt trời soi thì sáng, mây tụ thì tối, gió lay thì động, tạnh ráo thì trong, mù đọng thì đục, bụi nổi thì mịt mù, nước lắng thì óng ánh. Ý ông thế nào ?

Các thứ tướng hữu vi khác nhau như vậy, là nhân các thứ kia mà sanh, hay nhân Hư Không mà có ? Phú Lâu Na, nếu nhân các thứ kia sanh, thì khi mặt trời chiếu soi, đã là mặt trời sáng, mười phương thế giới dều thành sắc của mặt trời, làm sao ở giữa Hư Không, lại còn thấy mặt trời tròn ? Nếu là Hư Không sáng, thì Hư Không phải tự chiếu soi lấy; thế sao giữa đêm hay lúc mây mù, lại chẳng có sáng chiếu ?

Vậy, nên biết rằng cái sáng đó, chẳng phải là mặt trời, chẳng phải là Hư Không mà cũng chẳng khác mặt trời và Hư Không. Xét kỹ các tướng, vốn là hư vọng, không thể chỉ bày, cũng như mong hoa đốm giữa Hư Không kết thành quả của Hư Không ! Sao lại còn hỏi nghĩa lấn diệt lẫn nhau ? Xét kỹ cái tánh, vốn là chân thật, chỉ là Tánh Giác Diệu Minh, Tâm Tánh Diệu Minh đó vốn chẳng phải là lửa hay nước, thế sao lại còn hỏi chẳng có tương dung ?

“Tánh Giác Diệu Minh chân thật thì cũng như vậy. Ông phát minh cái Hư Không, thì có Hư Không hiện; phát minh ra mỗi mỗi Đất, Nước, Lửa, Gió thì mỗi mỗi thứ hiện. Nếu cùng phát minh thì cùng có hiện.

“Thế nào là cùng có hiện ra ? Phú Lâu Na, như trong một chỗ có nước hiện ra bóng mặt trời, hai người cùng xem mặt trời trong nước. Rồi một người đi về phương Đông, một người đi về phương Tây, thì mỗi bên đều có mặt trời đi theo, một cái về phương Đông, một cái về phương Tây, không có mẫu mực nhất định. Chẳng nên hỏi rằng : Mặt trời chỉ có một, tại sao mỗi cái đi theo mỗi người ? Mặt trời đã thành hai, vì sao hiện ra chỉ có một ? Quanh quẩn hư vọng như vậy, không có gì có thể làm bằng cứ.



通曰。前答清淨本然。云何忽生山河大地。以相論。則有生。從妄見生也。以性論。則無生。覺不復迷也。相元是妄。孰為陵滅。性本無生。誰不相容。故七大皆如來藏妙真如性。如來藏本非七大。而不拒彼七大發現。譬如虛空。體非群相。而不拒彼諸相發揮。一虛空耳。土積則地相現。水澄則水相現。日照則火相現。風搖則風相現。霽澄則空相現。明暗故屬見。氣濁故屬識。此七喻喻七大也。七大不自生。故非彼生。不他生。故非空有。非日非空。故非共生。不異空日。非無因生。由此言之。本無生也。既本無生。雖循業發現。猶如空華。空華不能結為空果。豈有陵滅而至不相容者乎。相雖是妄。性元是真。其清淨周遍。先非水火之形。無形則不相為礙。豈有不相容而至陵滅者乎。七大之相既若彼。七大之性復若此。故如來藏妙覺明心。亦猶是也。如以空明。則有空現。以事言之。如鑿井等。以業言之。如靜成虛空。以心言之。妄起空見。唯見一空。地水火風。亦復如是。各各發明。則各各現。若俱發明。則有俱現。無論南山起云。北山下雨。總於虛空無礙。即如水中之日。東西各行。則俱有日隨之。不取信於天上。但致疑於水中。亦如雲駛月運。舟行岸移。從妄見生。豈可於虛妄所見。辨其是一非一。毋乃大惑歟。或曰地水火風。現前實有。何謂虛妄。答曰。無智人謂為實有。慧眼觀之則不然。譬如小兒見鏡中像。歡喜欲取。大人知之。故不為所惑。諸凡夫見微塵和合謂為實地。有天眼者。能散此地。初不可得。故知相元虛妄也。法眼問寶資長老。古人道山河無隔礙。光明處處透。且作麼生是處處透底光明。資曰。東畔打羅聲。歸宗柔別云。和尚擬隔礙。如二尊宿問答。不為滲漏。尚被歸宗檢點。西天大耳三藏到京。云得他心通。肅宗命忠國師試驗。師曰。汝道老僧即今在甚麼處。藏曰。和尚是一國之師。何得卻去西川看競渡。良久再問。汝道老僧即今在甚麼處。藏曰。和尚是一國之師。何得卻在天津橋上看弄猢猻。良久復問。汝道老僧只今在甚麼處。藏罔測。師叱曰。這野狐精。他心通在甚麼處。藏無對。僧問仰山。大耳三藏第三度為甚麼不見國師。山曰。前兩度是涉境心。後入自受用三昧。所以不見。僧舉問玄沙。沙云。汝道前兩度還見麼。又僧問趙州。三藏第三度不見國師。未審國師在甚麼處。州曰。在藏鼻孔上。僧後問玄沙。既在鼻孔上。為甚麼不見。沙曰。只為太近。天童拈云。三藏不見國師。則且置你道國師自知下落處麼。若謂自知。則百鳥銜華諸天供養。未有休日。且道正當恁麼時。落在什麼處可知國師兩度涉境心。不妨各各發明。則各各現。若妙覺明心。自受用三昧。落處且不知。云何詰其陵滅不相容義。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ở trước, đáp câu hỏi “Thanh tịnh bổn nhiên sao bỗng dưng sanh núi sông, đại địa ?” Lấy Tướng mà luận, thì có sanh là từ vọng thấy mà sanh. Trong Tánh mà luận, thì tức là Vô Sanh, Giác chẳng trở lại Mê vậy. Tướng nguyên là Vọng, có gì mà lấn diệt ? Tánh vốn Vô Sanh, cái gì mà chẳng tương dung ? Cho nên bảy Đại là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh. Như Lai Tạng vốn chẳng phải là bảy Đại, nhưng chẳng ngăn bảy Đại kia phát hiện. Ví như Hư Không, bản thể của nó chẳng phải là các tướng mà chẳng ngăn ngại các tướng kia phát huy.

Chỉ một Hư Không mà Đất tích tụ thì Tướng của Đất hiện ra, Nước lắng thì Tướng Nước hiện ra, mặt trời chiếu thì Tướng Lửa hiện ra, Gió thổi thì Tướng Gió hiện ra, trong tạnh thì Tướng Hư Không hiện ra. Sáng, Tối là thuộc về cái Thấy, khí đục nên thuộc về cái Thức. Bảy ví dụ trên để ví dụ cho bảy Đại vậy.

Bảy Đại không tự sanh, cũng chẳng phải do cái khác sanh. Chẳng phải cái khác sanh, nên chẳng phải là không hay là có. Chẳng do mặt trời, chẳng do Hư Không, nên chẳng phải là cọng sanh. Chẳng khác mặt trời và Hư Không, nên chẳng phải là không nguyên nhân mà sanh.

Do đó, nói : vốn Vô Sanh vậy. Đã vốn Vô Sanh, thì tùy theo nghiệp mà có hiện, cũng là hoa đốm. Hoa-không nào kết thành trái-không, thì làm sao có chuyện lấn diệt cho đến sự chẳng tương dung ? Tướng tuy là hư vọng mà Tánh vốn là Chân, thanh tịnh toàn khắp, vốn chẳng phải là hình tướng nước, lửa gì đâu. Không hình thì có gì mà ngăn ngại nhau, há lại có sự chẳng tương dung cho đến sự hại diệt lẫn nhau sao ? Tướng của bảy Đại đã như hoa không, tánh của bảy Đại cũng như Hư Không, thì Như Lai Tạng, Diệu Giác Minh Tâm cũng giống như thế vậy.

Như phát minh ra Hư Không, thì có Hư Không hiện. Lấy Sư mà nói, thì như đào giếng. Lấy Nghiệp mà nói, thì đó là vọng khởi lên cái thấy có Hư Không. Do cái Thấy mà có Hư Không, Đất, Nước, Lửa, Gió cũng là như thế. Mỗi mỗi phát minh, thì mỗi mỗi hiện ra. Nếu cùng phát minh, thì cùng có hiện. Chẳng kể núi Nam nổi mây mà núi Bắc mưa xuống, đều là trong Hư Không vô ngại. Bèn như mặt trời trong nước, mỗi người đi về mỗi hướng Đông, Tây, đều có mặt trời cùng theo. Chẳng tin vào mặt trời trên không, mà lại nghi ngờ mặt trời trong nước, cũng như mây bay mà tưởng mặt trăng chạy; thuyền đi mà cứ tưởng là bờ trôi ! Đã từ vọng thấy mà có sanh ra, thì há có thể ở nơi chỗ thấy hư vọng đó mà biện luận là một hay chẳng phải một, thế chẳng phải là cái lầm quá cỡ sao ?

Hoặc hỏi rằng : “Đất, nước, lửa, gió hiện có thật trước mắt, sao gọi là hư vọng ?”

Đáp rằng : “Người vô trí gọi là thật có. Người có con mắt Trí Huệ xem thì chẳng phải thế ! Ví như đứa trẻ con xem thấy bóng trong gương vui mừng muốn chụp lấy. Người lớn hiểu biết, đâu có bị lầm theo. Phàm phu thấy vi trần hòa hợp gọi là đất thực, bậc có thiên nhãn có thể thấy ra sự phân tán của đất này, ở nơi chỗ bắt đầu, vốn bất khả đắc, nên biết hình tướng nguyên là hư vọng”.


Tổ Pháp Nhãn hỏi Trưởng Lão Bảo Tư rằng : “Người xưa nói : Núi sông không cách trở, quang minh chốn chốn thấu suốt. Vậy làm sao là cái quang minh chốn chốn thấu suốt ?”

Ngài Bảo Tư nói : “Bờ Đông tiếng đánh lưới !”

Tổ Quy Tông Nhu riêng nói rằng : “Hòa Thượng định cách trở !”

Như chỗ hỏi đáp của hai vị tôn túc, chẳng có rỉ giọt, mà còn bị Quy Tông xét ra !


Thầy Tam Tạng Đại Nhĩ ở Ấn Độ đến kinh đô, tự nói là có tha tâm thông. Vua Túc Tông mời Quốc Sư Huệ Trung xét thử.

Quốc Sư nói : “Ông hãy nói lão tăng bây giờ ở tại đâu ?”

Vị kia đáp : “Hòa Thượng là thầy của một nước, sao lại đi Tây Xuyên xem đua thuyền !”

Chặp lâu, lại hỏi : “Ông hãy nói lão tăng bây giờ ở tại nơi đâu ?”

Vị Tam Tạng đáp : “Hòa Thượng là thầy của một nước, sao có thể đến cầu Thiên Tân xem hát khỉ !”

Chặp lâu, lại hỏi : “Ông nói lão tăng ngay bây giờ ở tại nơi đâu ?”

Thầy Tam Tạng chịu, không biết được.

Tổ sư quát rằng : “Con cáo đồng, tha tâm thông ở tại chốn nào ?”

Vị kia không đáp được.


Có nhà sư hỏi Tổ Ngưỡng Sơn : “Thầy Đại Nhĩ Tam Tạng vì sao trong lần thứ ba chẳng thấy được Quốc Sư ?”

Tổ Ngưỡng nói : “Hai lần trước là cái tâm giao thiệp với cảnh, còn lần sau thì vào Tam muội Tự thọ dụng, nên chẳng thấy !”
Vị tăng thuật lại, và hỏi Tổ Huyền Sa.

Tổ Huyền Sa nói : “Ông nói hai lần trước thấy cái gì ?”

Lại có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu : “Trong lần thứ ba, vị Tam Tạng chẳng thấy Quốc Sư, chưa rõ Quốc Sư ở tại chỗ nào ?”

Tổ châu nói : “Ở trên lỗ mũi Tam Tạng !”

Vị tăng sau lại hỏi Tổ Huyền Sa : “Đã ở trên lỗ mũi, tại sao mà chẳng thấy ?”

Tổ Huyền Sa nói : “Chỉ vì quá gần !”

Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng : “Tam Tạng không thấy Quốc Sư hãy để đó. Ông hãy nói xem Quốc Sư có tự biết chỗ không ? Nếu nói là tự biết, thì trăm chim ngậm hoa, Chư Thiên cúng dường, chưa có ngày thôi ! Hãy nói chính ngay lúc ấy, ở tại chốn nào ?”

Thế, có thể biết Quốc Sư hai lần tâm giao thiệp với cảnh, chẳng ngăn ngại mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra. Huống như Diệu Giác Minh Tâm là cái Tam Muội Tự thọ dụng thì chỗ ở làm sao mà biết, sao còn gạn hỏi chuyện lấn diệt hay chẳng tương dung ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, anhlam, dailuc, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Ba 16, 2011, 08:40:28 PM »

(tiếp theo)

富樓那。汝以色空相傾相奪於如來藏。而如來藏隨為色空周遍法界。是故於中風動空澄日明云暗。眾生迷悶。背覺合塵。故發塵勞。有世間相。我以妙明不滅不生合如來藏。而如來藏唯妙覺明圓照法界。是故於中一為無量。無量為一。小中現大。大中現小。不動道場。遍十方界。身含十方無盡虛空。於一毛端。現寶王剎。坐微塵裡。轉大法輪。滅塵合覺。故發真如妙覺明性。


VI. CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”


Kinh : “Phú Lâu Na, ông lấy cái Sắc, cái Không mà lấn cướp lẫn nhau ở nơi Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng theo ông làm Sắc làm Không, toàn khắp pháp giới. Vậy nên ở trong đó, Gió thì động, Hư Không thì yên lặng, mặt trời thì sáng, mây thì tối. Chúng sanh mê muội, trái với Giác, hợp với Trần, nên phát ra trần lao mà có các tướng thế gian.

“Ta thì lấy Tánh Diệu Minh, bất sanh bất diệt, hợp với Như Lai Tạng. Như Lai Tạng đó chính là Tánh Giác Diệu Minh, tròn vẹn chiếu soi pháp giới. Thế nên, ở trong ấy, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, đạo tràng bất động, cùng khắp mười phương thế giới. Thân trùm cả mười phương hư không vô tận, nơi đầu một mảy lông, hiện ra cõi Phật, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn. Diệt trần hợp Giác, nên Chân Như Diệu Giác Minh Tánh hiện bày.


通曰。未出輪迴。而辨圓覺。彼圓覺性。即同流轉。若免輪迴。無有是處。即此段以色空傾奪之相辨如來藏。而如來藏性。隨為色空流轉法界。欲免世間塵勞。無有是處。眾生迷悶。不達色空本吾一體。為形所拘。觸處成礙。以背覺故。雖明不妙。故謂之迷。塵屬生滅。原非本有。覺非生滅。不假外來。非本有。故可滅。非外來。故可合。真如妙覺圓照法界。一即一切。一切即一。縱橫自在。事事無礙。是不思議用。非修所成。但謂之曰發而已。達磨大師安心法門曰。迷時人逐法。解時法逐人。解則識攝色。迷則色攝識。但有心分別計較自心現量者。悉皆是夢。若識心寂滅。無一動念處。是名正覺。神秀偈曰。身是菩提樹。心如明鏡台。時時勤拂拭。勿使惹塵埃。只此勤拂拭。便是以生滅心合如來藏。故在門外。六祖偈曰。菩提本無樹。明鏡亦非台。本來無一物。何處著塵埃。只此無一物。便是以不生不滅合如來藏。合繼祖位。趙州上堂。如明珠在掌。胡來胡現。漢來漢現。老僧把一枝草為丈六金身用。把丈六金身為一枝草用。佛是煩惱。煩惱是佛。僧問佛是誰家煩惱。州曰。與一切人為煩惱。曰如何得免。州曰。用免作麼。此趙州不用滅塵。不用合覺。卻能小中現大。大中現小。足與六祖把手共行。圓照上堂。於一毛端。現寶王剎。坐微塵裡。轉大法輪。拈起拄杖曰。這個是塵。作麼生說個轉法輪底道理。山僧今日不惜眉毛。與汝諸人說破。拈起也。海水騰波。須彌岌峇。放下也。四海晏清。乾坤肅靜。敢問諸人。拈起即是。放下即是。當斷不斷。兩重公案。擊禪床。下座。又尼妙總上堂。宗乘一唱。三藏絕詮。祖令當行。十方坐斷。二乘聞之怖走。十地到此猶疑。若是俊流。未言而喻。設使用移星換斗底手段。施攙旗奪鼓底機關。猶是空拳。豈有實義。向上一路。千聖不傳。學者勞形。如猿捉影。靈山付囑。俯徇時機。演唱三乘。各隨根器。始於鹿野苑。轉四諦法輪。度百千萬眾。山僧今日。與此界地方。乃佛乃祖。山河大地。草木叢林。現前四眾。各轉大法輪。交光相羅。如寶絲網。若一草一木。不轉法輪。則不得名為轉大法輪。所以道。於一毛端。現寶王剎。坐微塵裡。轉大法輪。乘時於其中間作無量無邊廣大佛事。周遍法界。一為無量。無量為一。小中現大。大中現小。不動步游彌勒樓閣。不返聞入觀音普門。情與無情。性相平等。不是神通妙用。亦非法爾如然。於此倜儻分明。皇恩佛恩。一時報足。且道如何是報恩一句。天高群像正。海闊百川潮。諸尊宿深契妙明境界。極口宣揚。津津有味。


*Giải nghĩa rộng ra:-  “Chưa ra khỏi luân hồi mà bàn luận Viên Giác, thì Tánh Viên Giác cũng cùng trôi lăn. Nếu hết khỏi luân hồi thì làm gì có chuyện đó.” Tức ở đoạn này nói : “Lấy cái tướng của Sắc, của Không, mà lấn cướp lẫn nhau để luận Như Lai Tạng thì Tánh Như Lai Tạng cũng theo Sắc Không mà thành tam giới lưu chuyển; như vậy mà muốn khỏi thế gian nhọc mệt thì không thể có. Chúng sanh mê muội, không thấu suốt được rằng Sắc Không cùng với ta vốn là một Thể. Vì hình tướng trói buộc nên đụng đâu cũng thành ra trở ngại, chính là vì trái với Tánh Giác, nên vốn là Minh mà chẳng được Diệu, bèn gọi đó là Mê.

Trần tướng thuộc về sanh diệt, nguyên chẳng phải vốn có. Tánh Giác tuyệt không sanh diệt, chẳng nhờ ngoài đến. Chẳng phải vốn có, thì có thể diệt; chẳng ở ngoài đến, nên có thể hợp cùng. Đó là Chân Như Diệu Giác, tròn đủ chiếu soi pháp giới, một tức tất cả, tất cả tức một, ngang dọc tự do, sự sự vô ngại. Đây là diệu dụng không thể nghĩ bàn, chẳng phải do tu mà thành, nên tạm nói là hiện bày ra mà thôi vậy.

Luận An Tâm Pháp Môn của Sơ Tổ Đạt Ma nói : Khi mê thì người đuổi theo pháp, khi ngộ thì pháp đuổi theo người. Ngộ thì thức thu nhiếp sắc, mê thì sắc thu nhiếp thức. Hễ có tâm phân biệt so đo trong hiện lượng của Tự Tâm, bèn đều là mộng. Nếu thức tâm tịch diệt, không có một chỗ nào cho động niệm, đó gọi là Chánh Giác.

Ngài Thần Tú làm bài kệ :

“Thân là cây Bồ Đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng chùi lau
Chớ để bám bụi trần”.

Chỉ một cái “Siêng chùi lau” đó, bèn là lấy Tâm Sanh Diệt mà hợp với Như Lai Tạng, nên mới ở ngoài cửa.


Bài kệ của Đức Lục Tổ là :


“Bồ Đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi đời ?”.

Chỉ cái “Không một vật” này, bèn là lấy Chẳng Sanh Chẳng Diệt hợp cùng Như Lai Tạng, hợp nối địa vị Tổ vậy.

Tổ Triệu Châu thượng đường nói : “Như ngọc sáng trong tay, người Hồ đến thì người Hồ hiện, kẻ Hán đến thì kẻ Hán hiện. Lão tăng cầm một cọng cỏ dùng làm thân vàng trượng sáu  -(ct) Thân Phật. ). Lấy thân vàng trượng sáu dùng làm một cọng cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật”.

Có nhà sư hỏi : “Phật là phiền não của nhà nào?”

Tổ đáp : “Là phiền não đối với tất cả mọi người.”

Hỏi : “Làm sao được khỏi ?”

Tổ Triệu Châu nói : “Dùng cái khỏi để làm gì?”

Ở đây, Tổ Triệu Châu không dùng cái Diệt Trần, không dùng sự Hiệp Giác, lại hay ở trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, đủ để cùng Lục Tổ nắm tay cùng đi !


Tổ Viên Chiếu thượng đường nói : “Nơi đầu một mảy lông, hiện quốc độ Phật, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn”.

Dựng đứng cây gậy lên mà nói : “Cái này đây là Trần, làm sao nói là cái đạo lý chuyển pháp luân ? Hôm nay sơn tăng chẳng tiếc lông mày, mà nói rõ với các ông : Đưa lên thì nước biển nổi sóng, núi Tu Di chập chùng ! Bỏ xuống thì bốn biển lặng trong, đất trời nghiêm tĩnh. Xin hỏi các ông : Đưa lên là phải ? Bỏ xuống là phải ? Nên đoạn hay chẳng đoạn, lưỡng trùng công án !”

Rồi gõ thiền sàng mà xuống toà.

Lại nữa, Ni Sư Diệu Tổng thượng đường nói : “Tông thừa một phen xướng lên, thì Ba Tạng hết đường dẫn giải. Tổ lệnh thi hành ra, mười phương yên dứt. Hàng Nhị Thừa nghe đến hoảng hồn chạy mất, Thập Địa đến chỗ này vẫn còn như nghi. Nếu là bậc tuấn kiệt, thì chưa nói đã rõ. Giả sử có thủ đoạn dời sao, đổi Bắc Đẩu, bày bố trương cờ gióng trống thì cũng bỏ công, nào có thật nghĩa ! Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng truyền, người học nhọc công, như vượn bắt bóng ! Linh Sơn phó chúc, rủ lòng thuận với thời cơ mà diễn nói ba Thừa, mỗi tùy theo căn khí. Bắt đầu ở vườn Lộc Uyển, chuyển pháp luân Tứ Đế, độ trăm ngàn vạn chúng.

“Ngày nay, sơn tăng cùng với địa phương nơi này, cũng Phật cũng Tổ, sông núi, đất đai, cỏ cây rừng bụi, bốn chúng ngay đây, mỗi mỗi đều chuyển đại pháp luân, ánh sáng giao nhau thành lưới báu. Nếu mỗi một cọng cỏ, mỗi một cội cây không chuyển đại pháp luân thì chẳng gọi được là chuyển pháp luân lớn. Bởi thế mà nói nơi đầu một mảy lông hiện ra cõi nước Chư Phật, ngồi nơi một vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn. Ở trong thời gian không gian ấy mà làm ra vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn, khắp cùng pháp giới, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ. Chẳng động bước mà dạo chơi lầu các Di Lặc. Chẳng xoay lại cái Nghe mà nhập vào cửa mở khắp của Quan Âm. Tình với vô tình, Tánh Tướng bình đẳng, chẳng phải là Thần thông diệu dụng, cũng chẳng phải Pháp vốn như thế”.

Ở chỗ này mà tự do rành rẻ thì ơn vua, ơn Phật tức thời trả hết ! Hãy nói như thế nào là một câu trả ơn ?

Trời cao muôn trượng ở,
Biển rộng trăm sông về.


Các vị tôn túc khế hợp sâu xa với cảnh giới Diệu Minh, cực lực tuyên dương, lời lời đều có đạo vị.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, anhlam, dailuc, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Ba 16, 2011, 09:03:42 PM »

(tiếp theo)

而如來藏本妙圓心。非心非空。非地非水非風非水。非眼非耳鼻舌身意。非色非聲香味觸法。非眼識界。如是乃至非意識界。非明無明。明無明盡。如是乃至非老非死。非老死盡。非苦非集非滅非道。非智非得。非檀那(此云佈施)非屍羅(此戒)非毗梨耶(此云精進)非羼提(此忍)非禪那(此定)非般剌若(此智)非波羅蜜多。(此到彼岸)如是乃至非怛闥阿竭(此云如來)非阿羅訶(此云應供)三耶三菩。(此正遍知)非大涅槃。非常非樂非我非淨。以是俱非世出世故。即如來藏元明心妙。即心即空。即地即水即風即火。即眼即耳鼻舌身意。即色即聲香味觸法。即眼識界。如是乃至即意識界。即明無明。明無明盡。如是乃至即老即死。即老死盡。即若即集即滅即道。即智即得。即檀那。即屍羅。即毗梨耶。即羼提。即禪那。即般剌若。即波羅蜜多。如是乃至即怛闥阿竭。即阿羅訶三耶三菩。即大涅槃。即常即樂即我即淨。以是俱即世出世故。即如來藏妙明心元。離即離非。是即非即。如何世間三有眾生。乃出世間聲聞緣覺。以所知心測度如來無上菩提。用世語言入佛知見。

Kinh : “Nhưng Như Lai Tạng Bản Diệu Viên Tâm không phải là Tâm, không phải là Địa, Thủy, Phong, Hỏa; không phải là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý; không phải Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không phải Nhãn Thức Giới cho đến không phải là Ý Thức Giới; không phải là Minh hay Vô Minh, không phải hết Minh hay hết Vô Minh, như vậy cho đến không phải là Lão, không phải Tử, không phải hết Lão, Tử; không phải là Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không phải Trí, không phải Đắc; không phải là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; không phải là Ba La Mật Đa, như vậy cho đến cũng không phải là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, không phải Đại Niết Bàn, không phải Thường, không phải Lạc, không phải Ngã, không phải Tịnh; tất cả đều chẳng phải, chẳng phải là pháp thế gian hay xuất thế gian.

“Tức Như Lai Tạng Diệu Minh Tâm Nguyên, tức là Tâm, tức là Không, tức là Địa, Thủy, Phong, Hỏa tức là Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý; tức là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; tức là Nhãn Thức Giới cho đến tức là Ý Thức Giới; tức là Minh, tức là Vô Minh, tức là Minh và Vô Minh tận, như thế cho đến tức là Lão, tức là Tử, tức Lão Tử tận; tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo; tức là Trí, tức là Đắc; tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ, tức là Ba La Mật Đa. Như thế cho đến tức là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri; tức là Đại Niết Bàn, tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, tất cả đều tức là, tức la pháp thế gian và xuất thế gian vậy.

Tức cái Như Lai Tạng Diệu Minh Tâm Nguyên, lìa Tức là, lìa Chẳng phải, cũng Tức là cũng Chẳng phải. Làm sao chúng sanh trong ba cõi và các hàng Thanh Văn, Duyên Giác xuất thế gian, lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường Bồ Đề Vô Thượng của Như Lai, hay dùng ngôn ngữ thế gian mà vào Tri Kiến Phật.


通曰。此段經文。唯長水略有次第。其曰。本妙圓心非心非空等。約非相以明真諦也。元明妙心即心即空等。約即相以明俗諦也。妙明心元離即離非是即非即者。約遮照以明中道諦也。雙遮真俗。故曰離即離非。雙照真俗。故曰是即非即。三諦一體。故皆曰即如來藏。初且以非遣相。次乃以即遣非。終帶名言。未極一真之旨。離即離非。無非不非。言語道斷。心行處滅。方顯一真法界如來藏心。故維摩經三十一菩薩說不二法門。皆以言遣相。文殊以言遣言。維摩以無言遣言。方為究竟。大都世間法。不出五陰七大。根塵處界。出世間法。不出聲聞緣覺二乘。而菩薩與佛。於世出世。非專出世者也。心屬識。即攝五陰。眼識界等。即攝十二處。此六凡界也。緣覺觀十二緣。有生起相。有修斷相。此緣覺界也。知苦斷集。證滅修道。此聲聞界也。有智有得。及六度到彼岸。菩薩界也。如來應供正遍知三號。涅槃四德。總為佛界。世出世間。悉不外此。若各有著即不圓。故於非見其圓一向著非即不妙。故於即見其妙。妙而明。明而妙。不即不非。亦即亦非。能所俱離。無影響可得。此真無上菩提也。馬鳴曰真實空者。從本以來。一切染法。不相應故。離一切法差別相故。無有虛妄分別心故。應知真如非有相。非無相。非有無相。非非有無相。非一相。非異相。非一異相。非非一異相。略說以一切眾生虛妄分別所不能觸故。是故三有眾生見其假。聲聞緣覺見其空。彼於菩薩中道諦。尚不能測。況第一義諦。唯佛與佛乃能究盡。雖登地菩薩。有所不窺。豈世間語言可得而彷彿之乎。無上菩提。不可以心知知。不可以語言入。益當想見其妙矣。僧問馬祖。和尚為甚麼說即心即佛。曰為止小兒啼。曰啼止後如何。曰非心非佛。曰除此二種人來。如何指示。曰為伊道不是物。曰忽遇其中人來時如何。曰且教伊體會大道。馬祖已得涅槃妙心。出詞吐氣。暗與此合。又馬祖聞大梅住山。乃令僧問。和尚見馬大師得個甚麼。便住此山。梅曰。大師向我道即心即佛。我便向這裡住。僧曰。大師近日佛法又別。梅曰。作麼生。曰又道非心非佛。梅曰。這老漢惑亂人。未有了日。任地非心非佛。我祗管即心即佛。其僧回舉似馬祖。祖曰。梅子熟也。東寺會禪師。常患門徒以即心即佛之談。誦憶不已。且謂佛於何住。而曰即心。心如畫師。而曰即佛。遂示眾曰。心不是佛。智不是道。劍去遠矣。爾方刻舟。南泉有時曰。江西馬祖說即心即佛。王老師不恁麼道。不是心。不是佛。不是物。恁麼道還有過麼。趙州禮拜而出。時有僧問趙州曰。上座禮拜便出。意作麼生。州曰。汝卻問取和尚。僧乃問泉。適來諗上座意作麼生。泉曰。他卻領得老僧意旨。必於諸老宿用處無疑。方可入佛知見。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đoạn kinh này chỉ có Ngài Trường Thủy là xếp lại có thứ tự.

Nói rằng : Bản Diệu Viên Tâm không phải là Tâm, không phải là Không, hết thảy đó, là tóm về Chẳng phải Tướng để hiển bày Chân Đế.

Nói rằng : Nguyên Minh Diệu Tâm tức là Tâm, tức là Không, hết thảy đó, là tóm về Tức là Tướng để hiển rõ Tục Đế.

Nói rằng : Diệu Minh Tâm Nguyên lìa Tức Là, lìa Chẳng Phải cũng Tức Là cũng Chẳng Phải, là tóm về phủ che và soi chiếu để hiển bày Trung Đạo. Phủ che cả chân lẫn tục, nên nói lìa Tức là, lìa Chẳng phải. Chiếu soi cả chân và tục, nên nói cũng Tức là cũng Chẳng phải.

Ba Đế là một Thể, nên đều nói tức là Như Lai Tạng.

Ban đầu, lấy cái chẳng phải để dẹp tướng, kế đó lấy chỗ Tức là để dẹp cái Chẳng phải, cuối cùng nói rằng còn mang vác danh từ, lời nói thì chưa cùng tột ý chỉ của Nhất Chân. Lìa Tức là lìa Chẳng phải, không cả Chẳng phải và Không chẳng phải, ngôn ngữ hết đường, tâm hành tuyệt dấu, mới hiển lộ Nhất Chân pháp giới Như Lai Tạng Tâm. Cho nên, trong kinh Duy Ma Cật, ba mươi mốt vị Bồ Tát thuyết pháp môn Bất Nhị đều dùng lời nói để dẹp hình tướng, còn Ngài Văn Thù lấy lời nói để dẹp lời nói. Đức Duy Ma Cật lấy không lời nói mà dẹp lời nói, mới là rốt ráo.

Tất cả pháp thế gian không ra ngoài năm Ấm, bảy Đại, Căn, Trần, Xứ, Giới. Pháp xuất thế gian không ra ngoài Thanh Văn, Duyên Giác nhị thừa. Chỉ có Bồ Tát với Phật, ở nơi thế mà xuất thế, chẳng có chuyên về xuất thế vậy. Tâm thuộc về Thức, nên thu nhiếp năm Ấm, Nhãn Thức Giới v.v... thì thu nhiếp mười hai Xứ. Đó là sáu cõi phàm phu vậy.

Hàng Duyên Giác quán mười hai nhân duyên, có tướng sanh khởi, có tướng tu trừ, đó là cảnh giới Duyên Giác. Biết cái Khổ, đoạn cái Tập, chứng Diệt, tu Đạo, là cảnh giới Thanh Văn. Có Trí, có Đắc, cho đến sáu Ba La Mật, là cảnh giới của Bồ Tát. Ba hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và bốn Đức Niết Bàn, Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đều là Phật Giới. Thế gian và xuất thế gian không ngoài những cảnh giới trên. Nếu nơi mỗi Giới mà chấp trước vào cái Tức là thì chẳng có tròn vẹn, nên phải ở nơi Chẳng phải mà thấy tròn vẹn. Một khi chấp trước lấy cái Chẳng phải, thì chẳng diệu, nên phải ở nơi Tức la để thấy cái Diệu. Diệu mà Minh, Minh mà Diệu, chẳng phải Tức, chẳng phải Phi, cũng là Tức, cũng là Phi, Năng Sở đều lìa, không còn chút bóng dáng vang vọng nào khá được, đó là Bồ Đề Vô thượng chân thật vậy.

Ngài Mã Minh nói : “Cái Chân-Thật-Không ấy là từ xưa đến nay không tương ưng với tất cả nhiễm pháp, lìa tất cả pháp và tướng sai biệt, không có một chút tâm phân biệt hư vọng vậy. Nên biết Chân Như chẳng phải là có tướng, chẳng phải là không có tướng, chẳng phải là Hữu-Vô-Tướng, chẳng không phải Hữu-Vô-Tướng, chẳng phải tướng khác, chẳng tướng Một hay Khác, chẳng phải không tướng Một, Khác. Nói tóm lại, vì hết thảy chúng sanh có phân biệt hư vọng, nên không thể tiếp xúc được Chân Như.

Thế nên, chúng sanh ba cõi thì thấy cái Giả của Chân Như; Thanh Văn, Duyên Giác thì thấy cái Không của Chân Như, nên đối với Trung Đạo Đế của Bồ Tát còn không thể đo lường nổi, huống là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Chỉ có Phật cùng với Phật mới có thể thấu suốt rốt ráo. Ngay hàng Đăng Địa Bồ Tát, còn có chỗ chẳng thấy, thì há ngôn ngữ thế gian mà có thể suy đoán tăm hơi ư ? Vô Thượng Bồ Đề không thể lấy tâm trí mà biết, không thể lấy lời lẽ nói năng mà nhập, càng thâm nhập thì càng thấy chỗ nhiệm mầu của nó vậy”.


Có nhà sư hỏi Tổ Mã Tổ  -(ct) Đạo Nhất thiền sư, xứ Giang Tây, đời Đường. Là người kế pháp của Tổ Nam Nhạc Nhượng. Ngài họ Mã thị, đời ấy gọi là Mã Tổ. Trong niên hiệu Ngươn Hòa được phong tặng là Đại Tịch. ) : “Hòa Thượng vì sao nói “Tức Tâm tức Phật” ?”

Đáp : “Để dỗ trẻ con nín khóc”.

Hỏi : “Nín rồi thì như thế nào ?”

Đáp : “Chẳng phải Tâm, chẳng Phật”.

Hỏi : “Người ngoài hai loại ấy đến chỉ dạy làm sao ?”

Đáp : “Vì y mà nói chẳng phải vật”.

Hỏi : “Bỗng gặp người trong ấy đến thì như thế nào ?”

Đáp : “Liền dạy y thể hội đạo lớn”.


Ngài Mã Tổ đã ở trong Niết Bàn Diệu Tâm nên xuất lời, hà hơi đều hợp với Tâm đó.

Lại nữa, Đức Mã Tổ nghe Ngài Đại Mai trụ sơn, mới bảo nhà sư đến hỏi : “Hòa Thượng ra mắt Mã đại sư, được cái gì mà trụ núi này ?”

Ngài Đại Mai nói : “Đại sư nói với tôi “Tức Tâm, tức Phật”. Tôi bèn ở trong ấy mà trụ”.

Nhà sư nói : “Gần đây, Phật Pháp của đại sư lại khác”.

Ngài Mai nói : “Ra sao ?”

Đáp : “Đại sư lại nói “Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật””.

Ngài Đại Mai nói : “Cái ông già ấy làm mê loạn người chưa có ngày thôi ! Mặc kệ ông ta chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật. Tôi vẫn tức Tâm, tức Phật !”

Nhà sư ấy về thưa lại với Đức Mã Tổ, Ngài nói : “Trái mơ (Đại Mai) chín rồi vậy”.

Thiền sư Đông Tự Hội thường sợ đệ tử lấy câu “Tức Tâm, tức Phật” mà đàm luận, ghi nhớ, đọc tụng không ngừng. Ngài bảo : “Phật trụ chỗ nào mà nói tức Tâm ? Tâm như ông thầy vẽ, sao nói tức Phật ?” Bèn khai thị cho chúng rằng : “Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo. Gươm mất đã xa rồi, mới khắc dấu vào ghe !”

Tổ Nam Tuyền có lần nói : “Giang Tây Mã Tổ dạy tức Tâm tức Phật, Vương Lão sư (là Nam Tuyền) chẳng nói thế ! Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, nói như thế thì có lỗi gì chăng ?”

Ngài Triệu Châu lễ bái rồi bỏ đi ra.

Khi ấy có nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Thượng Tọa lễ bái rồi bỏ đi ra, là ý gì thế ?”

Ngài nói : “Ông hãy trở lại hỏi lấy Hòa Thượng”.

Nhà sư bèn hỏi Tổ Nam Tuyền : “Vừa rồi ý của Triệu Thượng Tọa là thế nào ?”

Tổ Truyền nói : “Ông ấy lãnh hội được ý chỉ Lão tăng”.

Ở nơi chỗ dụng xứ của các vị lão túc mà chẳng có nghi, mới có thể nhập Phật Tri Kiến.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, anhlam, dailuc, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:36:21 AM »

(tiếp theo)

譬如琴瑟箜篌琵琶。雖有妙音。若無妙指。終不能發。汝與眾生。亦復如是。寶覺真心。各各圓滿。如我按指。海印發光。汝暫舉心。塵勞先起。由不勤求無上覺道。愛念小乘。得少為足。


Kinh : “Ví như đàn cầm, sắt, không hầu, tỳ bà tuy là có diệu âm, mà không có ngón tay diệu thì rốt cuộc chẳng phát ra được. Ông và chúng sanh cũng như thế đó. Cái Chân Tâm hằng giác quý báu, mỗi mỗi đều tròn đủ. Như ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát ra ánh sáng. Còn các ông vừa tạm khởi tâm, thì trần lao đã nổi dậy. Do chẳng siêng năng cầu đạo Vô Thượng Giác, ưa nhớ Tiểu Thừa được chút ít đã cho là đủ”.

通曰。妙明明妙。即此妙音妙指之妙。總之非思議所及。如我按指。妙音隨發。如海印發光。色色圓滿。何造作之有。大集經云。閻浮所有色像。大海皆有印文。故曰海印。汝暫舉心。如器與手不相習。不得其妙。故塵勞先起。為以生滅心。合如來藏。不能隨順定慧觀照。而隨順煩惱無明。故有塵勞。塵勞覆蔽。雖有寶覺真心。各各圓滿。其何能發。東明遷禪師。一日閱楞嚴次。忠道者問。如我按指海印發光。佛意如何。遷曰。釋迦老子。好與二十棒。曰為甚麼如此。遷曰。用按指作麼。曰汝暫舉心塵勞先起。又作麼生。遷曰。亦是海印發光。妙哉妙哉。須如是見得。乃可謂轉楞嚴也。薦福悟本禪師上堂。乾闥婆王曾奏樂。山河大地皆作舞。爭如跛腳老云門。解道臘月二十五。博山今日。有條攀條。無條攀例。也要應個時節。驀拈拄杖。橫案膝上。作撫琴勢。云還有聞弦賞音者麼。良久云。直饒便作鳳凰鳴。畢竟有誰知指法。卓一卓。下座。嗟乎指法豈真不傳哉。勤求無上覺道。自當得之。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Diệu Minh, Minh Diệu chính là Diệu Âm này, với cái diệu của ngón tay đều chẳng phải là chỗ nghĩ bàn có thể đến được. Tức là như ta ấn ngón tay, tiếng nhiệm mầu theo đó phát ra, như Hải Ấn phát sáng, sắc sắc tròn đầy, có gì tạo tác đâu ?

Kinh Đại Tập nói : “Toàn thể sắc tượng của cõi Diêm Phù Đề đều là ấn văn của đại hải, nên gọi là Hải Ấn”.

Các ông thì vừa mới móng tâm, cũng như đàn với tay chẳng có rập nhau, đã chẳng nghe được nhiệm mầu, mà trần lao nổi lên loạn xạ. Chỉ vì dùng cái tâm sanh diệt tương ưng với Như Lai Tạng, không tùy thuận Định Huệ chiếu soi, mà tùy với vô minh phiền não, nên có trần lao. Trần lao che khuất thì tuy có Chân Tâm Bảo Giác, mỗi mỗi tròn đầy, cũng không thể phát ra được.

Thiền sư Đông Minh Thiên, một hôm đang đọc kinh Lăng Nghiêm, có vị đạo giả tên Trung hỏi : ““Như Ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát quang”, ý Phật như thế nào ?”

Ngài nói : “Cái lão Thích Ca, đáng cho hai mươi gậy !”

Hỏi : “Vì sao như thế ?”

Đáp : “Dùng ấn ngón tay làm gì ?”

Hỏi : “ “Ông vừa móng tâm, trần lao đã nổi”, lại là sao ?”

Đáp : “Đó cũng là Hải Ấn phát quang !”


Kỳ diệu thay, kỳ diệu thay ! Phải thấy được như thế mới gọi là chuyển Lăng Nghiêm.

Thiền sư Tiến Phúc Ngộ Bổn thượng đường nói : “Vua Càn Thát Bà vừa tấu nhạc, thì núi sông, đất đai đều nhảy múa. Có đâu như lão què Vân Môn, thoát đạo Hai Mươi Lăm tháng Chạp ! Bác Sơn này ngày nay, có Điều thì chụp Điều, không có Điều thì chụp lấy Lệ, chỉ cần ứng với thời tiết”.

Bỗng cầm lên cây gậy, gác ngang đầu gối, làm thế gãy đàn, rồi nói : “Có nghe thưởng thức tiếng đàn chăng ?”

Chặp lâu nói rằng : “Dầu cho làm tiếng phụng hoàng kêu. Rốt cuộc có ai hay Chỉ Pháp  -(ct) Pháp của ngón tay. ) !”. Đánh vào bàn một cái, rồi xuống tòa.

Than ôi, Chỉ Pháp há thật chẳng truyền sao ? Siêng năng cầu đạo Vô Thượng Giác, tự mình hiện được đó.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:40:03 AM »

(tiếp theo)

富樓那言。我與如來寶覺圓明真妙淨心無二圓滿。而我昔遭無始妄想。久在輪迴。今得聖乘。猶未究竟。世尊。諸妄一切圓滅。獨妙真常。敢問如來。一切眾生。何因有妄。自蔽妙明。受此淪溺。佛告富樓那。汝雖除疑。余惑未盡。吾以世間現前諸事。今復問汝。汝豈不聞室羅城中演若達多。(此云祠授)忽於晨朝。以鏡照面。愛鏡中頭。眉目可見。瞋責己頭不見面目。以為魑魅。無狀狂走。於意云何。此人何因無故狂走。富樓那言。是人心狂。更無他故。佛言。妙覺明圓。本圓明妙。既稱為妄。云何有因。若有所因。云何名妄。自諸妄想。展轉相因。從迷積迷。以歷塵劫。雖佛發明。猶不能返。如是迷因。因迷自有。識迷無因。妄無所依。尚無有生。欲何為滅。得菩提者。如寤時人。說夢中事。心縱精明。欲何因緣。取夢中物。況復無因。本無所有。如彼城中演若達多。豈有因緣自怖頭走。忽然狂歇。頭非外得。縱未歇狂。亦何遺失。富樓那。妄性如是。因何為在。汝但不隨分別世間業果眾生三種相續。三緣斷故。三因不生。則汝心中演若達多。狂性自歇。歇即菩提。勝淨明心。本週法界。不從人得。何藉劬勞。肯綮修證。


VII.-CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN,

HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ


Kinh : Ông Phú Lâu Na thưa : “Chân Tâm tròn sáng, trong sạch nhiệm mầu của tôi và của Như Lai, đều tròn đầy không hai, thế mà tôi từ xưa mắc lấy Vọng Tưởng, ở lâu trong luân hồi nay được Thánh Thừa, còn chưa rốt ráo. Thế Tôn thì các Vọng đều diệt sạch, độc chỉ một Chân Thường mầu nhiệm. Xin hỏi Như Lai, tất cả chúng sanh nhân gì mà có Vọng, tự mình che lấp tánh Diệu Minh, phải chịu sự trôi chìm này?”

Phật bảo ông Phú Lâu Na : “Ông tuy trừ được nghi ngờ, mà các điều lầm còn sót lại chưa dứt hết. Nay ta lại lấy những việc thế gian trước mắt mà hỏi ông. Ông há chẳng có nghe trong thành Thất La Phiệt, có anh Diễn Nhã Đạt Đa vào buổi sáng lấy cái gương soi mặt, bỗng ưa cái đầu trong gương và mày mắt có thể thấy được, rồi nổi giận trách cái đầu của mình sao không thấy mặt mày, cho là loài yêu quái, rồi không vì cớ gì phát điên lên bỏ chạy. Ý ông thế nào ? Người ấy vì nguyên nhân nào mà khi không phát điên bỏ chạy ?”.

Ông Phú Lâu Na thưa : “Tâm người ấy điên cuồng, chứ không có lý do nào khác”.

Đức Phật nói : “Tánh Diệu Giác tròn đầy vốn sáng suốt, nhiệm mầu tròn khắp. Đã gọi là Vọng thì làm sao có nhân, nếu có nguyên nhân thì sao gọi là Vọng ? Chỉ tự các Vọng Tưởng xoay vần làm nhân cho nhau, từ cái Mê mà tích chứa thêm Mê, trải qua vô số kiếp nhiều như bụi. Tuy Phật chỉ rõ ra, còn chưa thể trở lại. Như thế, nguyên nhân của Mê chỉ là nhân Mê mà tự có. Tỉnh ngộ cái Mê ấy vốn không có nguyên nhân, Vọng nào còn có chỗ nương dựa ? Còn không có chỗ sanh ra, muốn diệt cái gì ?

“Người được Bồ Đề như người tỉnh giấc, kể lại chuyện trong chiêm bao, tâm dù rõ ràng nhưng đâu còn nhân duyên nào nữa để cầm được vật trong mộng ? Huống là cái Mê thấy mọi sự hiện giờ chẳng có nguyên nhân ở đâu cả, vốn không chỗ có ! Như anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa  -(ct) Ở đây, lấy cái bản đầu của mình ví dụ cho Chơn Tánh; cái đầu trong gương ví dụ cho Vọng Tưởng (cái giả hình) ; chỗ vui vẻ thấy cái đầu trong gương có mặt mày ví dụ chỗ nhìn nhận cái giả tưởng là thật, chấp cứng, chẳng chịu bỏ. Chỗ chẳng thấy cái bản đầu của mình là vì Chơn Tánh không có hình tướng chi cả. ) trong thành kia nào có nhân duyên gì, bỗng tự sợ cái đầu mình rồi bỏ chạy. Tự nhiên hết điên, thì cái đầu đâu phải từ ở ngoài mà có được. Dầu chưa hết cuồng, cái đầu kia cũng có khi nào mất.

“Phú Lâu Na, bản tánh của Vọng là như vậy đó, đâu có nguyên nhân gì mà có ?

“Ông chỉ không tùy theo phân biệt các thế gian, nghiệp qua và chúng sanh, ba thứ tương tục đó. Ba Duyên ấy đã đoạn, thì ba nhân cũng chẳng sanh, liền trong tâm ông cái điên cuồng của chàng Diễn Nhã Đạt Đa tự hết. Hết đó tức là Bồ Đề, cái Tâm tuyệt vời trong sạch sáng suốt, vốn khắp cùng pháp giới, không do đâu mà được, nào phải nhọc nhằn khẩn thiết tu chứng gì đâu”.


通曰。富樓那已證漏盡。已得聖果。何猶余惑未盡。只為從前在滅妄上用工。即此滅妄之心。便是覺明分別怖頭狂走。滅妄求真。有真可得。如鏡中之頭。眉目可見。真本不失。難可卜度。如頭本不失。面目難見。一生分別。此世間。此眾生。此業果。與吾真如不相似。縱得真如。由斷妄證得。非本來自性天真佛也。富樓那尚未達此。故以妄既可滅。生必有因。須識其因。乃可斷妄。前因明立所。固是妄生。此等分別。正是妄。世尊直顯頓門。不論滅妄。但息分別。菩提自足。但息狂走。頭元自在。所以妄分別妄狂走者。因積迷而有。迷本無因。不從迷生。不從悟出。迷既無恨。妄將安附。妄既無依。妄本不生。妄元不生。無可滅者。滅無可滅。寂滅現前。所以妙覺明圓。本圓明妙。原無生滅。非有妄也。得菩提者。覓真且不可得。而何從得妄乎。故不隨順分別三種相續之所以生。及緣斷之所以不生。則一心不生。萬法無咎。勝淨菩提。何假人力修證而得哉。三緣斷故。三因不生。即於其中證滅盡定。富樓那等常作如是分別。是以菩提由修證得也。但不如是分別。即無妄可滅。無真可得。清淨本然。周遍法界。若謂如來獨妙真常。必由一切圓滅而證者。未見其妙者也。骨間肉曰肯。於骨可啟處有筋肉結礙曰綮。皰丁解牛。用功力處。借此字面。為不用功力之喻。有僧問黃檗。如今現有種種妄念。何以言無。檗云。妄本無體。即是汝心所起。汝若識心是佛。心本無妄。那得起心。更認於妄。汝若不生心動念。自然無妄。所以云心生則種種法生。心滅則種種法滅。僧云。今正妄念起時。佛在何處。檗云。汝今覺妄起時。覺正是佛。可中若無妄念。佛亦無。何故如此。為汝起心作佛見。便謂有佛可成。作眾生見。便謂有眾生可度。起心動念。總是汝見處。若無一切見。佛有何處所。如文殊才起佛見。便貶向二鐵圍山。僧云。今正悟時。佛在何處。檗云。問從何來。覺從何起。語默動靜。一切聲色。儘是佛事。何處覓佛。不可更頭上安頭。嘴上安嘴。但莫生異見。山是山。水是水。僧是僧。俗是俗。山河大地。日月星辰。總不出汝心。三千世界。都來是汝個自己。何處有多般。心外無法。滿目青山。虛空世界。皎皎地。無絲發許與汝作見解。所以一切聲色是佛之慧目。法不孤起。仗境方生。為物之故。有其多智。終日說。何曾說。終日聞。何曾聞。所以釋迦四十九年說。未曾說著一字。僧云。若如此。何處是菩提。檗云。菩提無是處。佛亦不得菩提。眾生亦不失菩提。不可以身得。不可以心求。一切眾生。即菩提相。僧云。如何發菩提心。檗云。菩提無所得。汝今但發無所得心。決定不得一法。即菩提心。菩提無生處。是故無得者。故云我於然燈佛所。無有少法可得。佛即與我授記。明知一切眾生。本是菩提。不應更得。你今問發菩提心。謂將一個心學取佛去。唯擬作佛道任。汝三祇劫修。亦祗得個報化佛。與汝本源真性佛有何交涉。故云外求有相佛。與汝不相似。又臨濟云。道流。諸方說有道可修。有法可證。你且說證何法。修何道。你今用處。欠少什麼物。修補何處。後生小阿師不會便即信這般野狐精魅。許他說事。繫縛他人。言道理行相。因護惜三業。始得成佛。如此說者。如春細雨。古人云路逢達道人。第一莫向道。所以言。若人修道道不行。萬般邪境競頭知。智劍出來無一物。明頭未顯暗頭明。所以古人云。平常心是道。大德覓什麼物。現今目前聽法無依道人。歷歷地分明。未曾欠少。你若欲與佛祖不別。但如是見。不用疑誤。你心心不異。名之活祖。心若有異。則性相別。心不異故。即心與相不別。又僧問薦福思禪師曰。古殿無佛時如何。思曰。梵音何來。又問不假修證。如何得成。思曰。修證即不成。諸尊宿見地。一一洞契何藉劬勞肯綮修證之旨。此即涅槃妙心。正法眼藏。豈待靈山拈華。迦葉微笑。而後號稱別傳心印哉.

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Phú Lâu Na đã chứng Hết Lậu, đã được Thánh Quả, sao lại còn các điều mê lầm còn sót chưa hết dứt ? Chỉ vì trước kia có dụng công diệt trừ vọng tưởng, nghĩa là cái Tâm diệt trừ vọng tưởng này chính là cái Giác Minh Phân Biệt sợ cái đầu của mình mà phát điên bỏ chạy ! Diệt Vọng cầu Chân, có cái Chân để đắc thì cũng như nhìn cái đầu trong gương, mày mắt thấy được. Chân nào có mất bao giờ, nhưng khó nổi đo lường, cũng như cái đầu vốn chẳng hề mất mà mặt mày khó thấy. Một khi sanh phân biệt đây là chúng sanh, đây là nghiệp quả rồi cho là khác với Chân Như của ta. Thế dầu có được Chân Như, do đoạn trừ Vọng mà chứng đắc, cũng chẳng phải là Tự Tánh Thiên Chân Phật xưa nay vậy. Ông Phú Lâu Na chưa thấu rõ chỗ này, nên cho rằng Vọng đã có thể diệt, thì vọng sanh ắt phải có nguyên nhân, cần biết cái nguyên nhân của nó, mới đoạn trừ được.

Ở đoạn trước đã nói : nhân Minh mà lập Sở, chính bởi vì thế mà Vọng sanh ra. Thế ấy cũng là phân biệt, chính thật là Vọng !

Đức Thế Tôn chỉ thẳng Đốn Môn, chẳng cần diệt Vọng, chỉ ngưng đi phân biệt, thì Bồ Đề tự sẵn đủ. Chỉ thôi chạy điên, thì cái đầu xưa vẫn y nguyên ra đó !

Sở dĩ vọng phân biệt, Vọng chạy điên, là vì tích chứa mê lầm mà có. Cái Mê vốn chẳng nhân đâu mà có, không từ Mê mà sanh ra, không từ Ngộ đến. Mê đã không gốc gác gì, thì Vọng nương đâu mà có ? Vọng thật không chỗ nương, Vọng vốn chẳng sanh vậy. Vọng nguyên là chẳng sanh, không đâu mà có thể diệt. Diệt mà không đâu có thể diệt, đó là Tịch Diệt Hiện Tiền.

Tánh Diệu Giác tròn sáng, vốn sáng suốt nhiệm mầu tròn khắp, nguyên là không có chuyện sanh diệt, tuyệt không có mảy mún vọng nào cả. Trong Bồ Đề, tìm cái Chân còn không thể được, thì từ chỗ nào kiếm được cái vọng ư ?

Cho nên, không tùy thuận theo phân biệt nơi chỗ sanh ra của ba thứ tương tục cùng cái nhân duyên đoạn trừ để cho khỏi sanh ra, tức thì một tâm niệm chẳng sanh, vạn pháp nào có lỗi ? Đó là cái Bồ Đề tuyệt trần trong sạch, nào mượn sức người tu chứng để được ư ? Ba Duyên tịch diệt, ba Nhân chẳng sanh, ở ngay trong đó mà tự thành Diệt Tận Định.
Ông Phú Lâu Na đều thường khởi ra các sự phân biệt, cho là Bồ Đề do tu chứng mà được. Chỉ cần đừng phân biệt rối rắm như vậy, thì không có Vọng nào để khá diệt, không có Chân nào khá đắc, bèn là thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới. Nếu nói Như Lai Độc Diệu Chân Thường, là do cả thảy đều trọn dứt diệt mà chứng được, thì chưa thấy chỗ diệu kỳ của Như Lai vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Như nay hiện có đủ thứ vọng niệm, vì sao lại nói không ?”

Tổ Hoàng Bá nói : “Vọng vốn không có tự thể, chỉ là nơi Tâm của ông khởi lên. Như ông biết Tâm nguyên là Phật, Tâm vốn chẳng có vọng, thì Tâm nào có khởi, luống lại đi nhận vọng ư ? Như ông chẳng sanh tâm động niệm, thì tự nhiên chẳng có vọng nào cả. Do đó mới nói : Tâm sanh thì thảy thảy pháp sanh, tâm diệt thì thảy thảy pháp diệt.”
Nhà sư hỏi : “Nay ngay lúc vọng niệm khởi, thì Phật tại chỗ nào ?”

Tổ Bá nói : “Nay ngay khi ông tỏ ra biết vọng niệm khởi lên, thì cái tỏ biết đó chính là Phật. Còn trong ấy mà không có vọng niệm, thì Phật cũng không. Vì sao như thế ? Vì ông khởi tâm làm nên cái thấy Phật, bèn là có Phật để thành. Làm nên cái thấy có chúng sanh, bèn là có chúng sanh để độ. Khởi tâm động niệm đều là chỗ thấy của ông. Nếu không có tất cả mọi cái thấy thì Phật có ở chốn nào ? Như Ngài Văn Thù vừa khởi lên cái Phật Kiến, liền bị hai ngọn núi Thiết Vi đè !

Nhà sư hỏi : “Nay chính lúc tỏ ngộ, Phật ở tại chốn nào ?”

Tổ Bá đáp : “Cái hỏi đó từ đâu mà lại ? Cái Giác đó từ đâu mà khởi lên ? Nói, nín, động, tịnh, cả thảy thanh sắc, toàn là Phật sự, chỗ nào tìm Phật ? Chẳng thể trên đầu lại chồng thêm cái đầu, trên miệng để thêm cái miệng ! Chỉ đừng sanh dị kiến, thì núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục. Núi sông đại địa, nhật nguyệt tinh tú đều chẳng ra ngoài Tâm ông. Tam thiên thế giới đều là tự kỷ của ông. Chỗ nào mà có lắm thứ ? Ngoài Tâm không pháp, ngập mắt núi xanh, thế giới, hư không, xứ xứ sáng rỡ, không một mảy tơ để ông chen vào kiến giải. Thế nên, tất cả thanh sắc là con mắt huệ của Phật. Pháp chẳng khởi lên một mình, nương cảnh mới có sanh, vì có vật mà có nên nhiều trí. Suốt ngày nói mà nào từng nói. Suốt ngày nghe mà nào từng nghe. Như thế nên Đức Thích Ca bốn mươi chín năm thuyết pháp mà chưa hề nói ra một chữ”.

Nhà sư hỏi : “Nếu như thế, chỗ nào là Bồ Đề ?”

Tổ Bá nói : “Bồ Đề không là chỗ nào hết. Phật cũng chẳng đắc Bồ Đề, chúng sanh chẳng mất Bồ Đề. Không thể lấy thân mà được đó, không thể lấy Tâm mà cầu đó. Tất cả chúng sanh tức là tướng Bồ Đề”.

Nhà sư hỏi : “Như thế nào phát Bồ Đề Tâm ?”

Tổ Bá nói : “Bồ Đề là không chỗ đắc. Nay ông chỉ phát tâm Vô Sở Đắc, quyết định không có một pháp nào để đắc, tức là Bồ Đề Tâm. Bồ Đề không có chỗ sanh ra, cho nên không có chuyện đắc. Thế nên nói rằng : “Ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng, không có chút pháp nào có thể đắc, Phật bèn thọ ký cho Ta”.

Phải rõ rằng, tất cả chúng sanh vốn là Bồ Đề, không lẽ trở lại đắc ư ? Giờ đây ông hỏi phát Bồ Đề Tâm, muốn đem một cái tâm mà học lấy Phật Đạo. Chỉ nghĩ định làm Phật Đạo thôi, thì mặc cho ông tu ba a tăng tỳ kiếp cũng chỉ định được cái Báo Thân, Hóa Thân Phật. Thế thì đối với cái Chân Tánh Phật bổn nguyên của ông có giao thiệp gì ? Nên nói : Cầu bên ngoài ông Phật có hình tướng, thì có giống gì ông đâu ?”

Lại Tổ Lâm Tế nói rằng : “Chư vị học Đạo ở các nơi nói có Đạo để tu, có Pháp để chứng. Các ông thử nói xem chứng Pháp gì, tu Đạo gì ? Hiện giờ đây chỗ dùng của các ông có thiếu hụt cái gì đâu ? Sửa sang thêm thắt chỗ nào ? Các ông thầy trẻ tuổi hậu sinh không hiểu, liền tin ngay đám cáo chồn tinh mị đó, để cho họ bày chuyện trói buộc người khác.
“Họ nói : Hình tướng đạo lý là do giữ gìn, mến tiếc ba nghiệp mới được thành Phật.

“Nói như vậy thì chỉ như mưa bụi mùa Xuân.

“Cổ nhân nói : “Trên đường gặp người đạt đạo, thứ nhất là chẳng hướng về đạo” !

“Do đó mà nói :

“Nếu người tu đạo, đạo chẳng hành
Muôn ngàn tà cảnh lại đua sanh
Gươm Trí đưa ra không một vật
Cái sáng chưa bày, tối đã minh !”.


“Bởi thế, cổ nhân nói “Bình thường tâm là Đạo”. Đại Đức tìm kiếm cái gì ? Ngay bây giờ đây, cái trước mắt nghe Pháp là đạo nhân không chỗ nương  -(ct) Đạo nhân vô y. ), khắp chốn rõ ràng phân minh, chưa từng thiếu hụt. Các ông như muốn cùng Phật, Tổ chẳng khác, chỉ như thế mà thấy, chẳng khởi nghi lầm. Như các ông tâm tâm chẳng khác, thì gọi là Tổ. Tâm mà có chút sai khác đi: Tánh, Tướng liền khác nhau. Tâm như như chẳng khác, thì Tâm và Tướng không hai”.
Lại có nhà sư hỏi thiền sư Tiến Phúc Tư rằng : “Điện xưa không có Phật thì như thế nào ?”

Tổ Tư nói : “Phạm âm ở đâu tới ?”

Lại hỏi : “Chẳng mượn tu chứng, làm sao đắc thành ?”

Tổ Tư nói : “Tu chứng tức chẳng thành”.

Chỗ Thấy của các vị tôn túc, mỗi mỗi đều suốt hợp với ý chỉ “Nào phải nhọc nhằn, ráo riết tu chứng gì đâu ?” Đây tức là Niết Bàn Diệu Tâm, Chánh Pháp Nhãn Tạng, nào phải chờ đến chuyện Linh Sơn đưa lên cành hoa, Ngài Ca Diếp mỉm cười, rồi sau mới gọi là “Biệt truyền Tâm Ấn” ư ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:43:50 AM »

(tiếp theo)

譬如有人。於自衣中。系如意珠。不自覺知。窮路他方。乞食馳走。雖實貧窮。珠不曾失。忽有智者。指示其珠所願從心。致大饒富。方悟神珠。非從外得。


Kinh : “Ví như có người ở trong áo mình buộc một hạt Châu Như Ý mà không hay biết; nên phải xin ăn lưu lạc phương xa, nghèo nàn gầy ốm. Tuy bần cùng hết sức nhưng hạt châu không hề mất. Bỗng dưng có người Trí chỉ bày cho hạt châu, liền muốn gì có nấy, thành giàu có lớn, mới hay hạt Thần Châu chẳng phải do ở ngoài mà được.


通曰。法華楞嚴直指人心見性成佛。皆以衣珠為喻。如來藏性。為五陰所覆。如珠系衣中。故不易見。向外馳求。日見不足。窮露他方。狂走九界。求人天樂。取偏小益。猶乞食馳走也。既獲本心。充然有餘。珠名如意。所願從心。何期自性本自具足。何期自性能生萬法。故妙用不虧。致大饒富。此一神珠也。迷未曾失。悟未曾得。但得智者指示。便自受用無窮。豈假修證哉。世尊一日示隨色摩尼珠。問五方天王。此珠作何色。時五方天王互說異色。世尊復藏珠入袖。卻抬手曰。此珠作何色。天王曰。佛手中無珠。何處有色。世尊嘆曰。汝何迷倒之甚。吾將世珠示之。便各強說。青黃赤白色。吾將真珠示之。便總不知。時五方天王。悉皆悟道。大珠初參馬祖。祖問曰。從何處來。曰越州大云寺來。祖曰。來此擬須何事。曰來求佛法。祖曰。自家寶藏不顧。拋家散走。作什麼。我這裡一物也無。求甚麼佛法。珠遂禮拜。問曰。那個是慧海自家寶藏。祖曰。即今問我者是。汝寶藏一切現成。更無欠少。使用自在。何假向外來覓。珠於言下自識本心。不由知覺。踴躍禮謝。師事六載。後歸。自撰頓悟入道要門論一卷。祖見之。告眾曰。越州有大珠。圓明光透。自在無遮障處也。仰山參東寺會禪師。會問汝是甚處人。仰曰。廣南人。會曰我聞廣南有鎮海明珠。是否。仰曰是。會曰。此珠如何。仰曰。黑月即隱。白月即現。會曰。還將得來也無。仰曰。將得來。會曰何不呈似老僧。仰叉手近前曰。昨到溈山。亦被索此珠。直得無言可對。無理可伸。會曰。真師子兒。善能哮吼。千百載而下。賴有諸尊宿各獲神珠。非從外得。益信佛言匪謬。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm chỉ thẳng tâm người, thấy Tánh thành Phật đều lấy hạt châu trong áo làm ví dụ. Như Lai Tạng Tánh, bị năm Ấm che đậy, như hạt châu buộc trong áo, nên không dễ thấy được. Hướng ra ngoài chạy kiếm thì mỗi ngày đều thấy chẳng đủ, nghèo ốm ở phương xa, chạy cuồng chín cõi. Cầu cái vui của trời, người, giữ riêng cái lợi ích nhỏ nhen, thì cũng còn là rong ruổi ăn xin. Còn như được Bổn Tâm, thì đầy đủ dư dật. Hạt châu tên Như Ý, muốn gì được nấy. Nào ngờ tự tánh vốn tự sẵn đủ ! Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp (Lục Tổ khi ngộ đạo) ! Nên diệu dụng chẳng hề thiếu hụt, thành giàu có vô biên. Một hạt Thần Châu này, mê cũng chưa từng mất, ngộ cũng chẳng từng được. Chỉ được người Trí chỉ cho, bèn tự thọ dụng không cùng, nào mượn chỗ tu chứng ư ?
Một hôm, Đức Thế Tôn đưa ra một viên ngọc ma ni tùy sắc, rồi hỏi các vị Thiên Vương của năm phương rằng : “Viên ngọc này màu gì ?”

Các vị Thiên Vương mỗi người nói mỗi màu khác nhau. Thế Tôn cất viên ngọc vào tay áo, rồi đưa tay lên hỏi : “Viên ngọc này có màu gì ?”

Các vị Thiên Vương thưa : “Trong tay Phật không có châu, lấy chỗ nào có màu ?”

Đức Thế Tôn than rằng : “Các ông sao mê mờ điên đảo lắm thế ! Ta lấy hạt châu của thế gian đưa ra thì mỗi ông đều tranh nhau nói màu xanh, vàng, trắng, đỏ... Còn ta đưa hạt châu thật ra chỉ cho, lại rốt cuộc chẳng hay biết !”

Khi ấy, các vị Thiên Vương năm phương đều ngộ đạo.


Ngài Đại Châu, ban đầu ra mắt Đức Mã Tổ.

Tổ hỏi: “Từ đâu đến ?”

Đáp rằng : “Ở chùa Đại Vân tại Việt Châu đến”.

Tổ nói : “Đến đây định có chuyện gì ?”

Đáp : “Thưa, đến cầu Phật Pháp”.

Tổ đáp : “Kho báu nhà mình thì chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy rông làm chi ? Ta, trong ấy một vật cũng không, ông cầu Phật Pháp nào ?

Ngài bèn làm lễ rồi hỏi : “Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải (Đại Châu) ?”

Đức Mã Tổ nói : “Tức nay đang hỏi ta là cái đó. Kho báu của ông, hết thảy hiện thành, tuyệt không thiếu hụt, liền dùng tự tại, nào phải hướng ngoài tìm kiếm”.

Ngài Đại Châu ngay dưới lời nói tự rõ Bổn Tâm, chẳng do hiểu biết, vui mừng lễ tạ, hầu Tổ trong sáu năm. Về sau, viết cuốn “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận”. Tổ xem rồi bảo với đại chúng : “Ở Việt Châu có viên ngọc lớn (Đại Châu), tròn sáng trong suốt, tự tại không gì ngăn ngại”.

Ngài Ngưỡng Sơn tham lễ thiền sư Đông Tự Hội.

Thiền sư hỏi : “Ông là người xứ nào ?”

Ngài Ngưỡng đáp : “Người Quảng Nam”.

Thiền sư Hội nói : “Tôi nghe ở Quảng Nam có viên minh châu trấn biển, có đúng không ?”

Ngài Ngưỡng đáp : “Thưa, phải”.

Tổ Hội nói : “Châu ấy như thế nào ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Không trăng thì ẩn, có trăng thì hiện”.

Tổ Hội : “Có đem đến được không ?”

Ngài Ngưỡng : “Đem đến được”.

Tổ Hội : “Sao chẳng trình ra với lão tăng ?”

Ngài Ngưỡng Sơn khoanh tay bước tới, nói : “Hôm qua đến Qui Sơn cũng bị đòi hạt châu ấy ! Ngay ấy không có lời để đối đáp, chẳng có lý lẽ nào để đưa ra !”

Tổ Hội nói : “Thật là sư tử con khéo hay gầm rống !”

Trăm, ngàn năm về sau, nhờ có các vị tôn túc hộ trì được hạt thần châu, chẳng do ngoài mà được, thì càng tin lời Phật chẳng có sai lầm.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:46:11 AM »

(tiếp theo)

即時阿難在大眾中。頂禮佛足。起立白佛。世尊現說殺盜淫業。三緣斷故。三因不生。心中達多。狂性自歇。歇即菩提。不從人得。斯則因緣皎然明白。云何如來頓棄因緣。我從因緣心得開悟。世尊。此義何獨我等年少有學聲聞。今此會中。大目犍連。及舍利弗。須菩提等。從老梵志。聞佛因緣發心開悟。得成無漏。今說菩提不從因緣。則王舍城拘舍梨等。所說自然。成第一義。唯垂大悲。開發迷悶。


VIII. LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN

A. XƯA NAY KHÔNG VỌNG

Kinh : Khi ấy Ông Anan ở trong đại chúng, đảnh lễ chân Phật rồi đứng dậy thưa rằng : “Đức Thế Tôn hiện nói về các nghiệp Sát, Đạo, Dâm. Ba Duyên đã đoạn, nên ba Nhân chẳng sanh. Tánh điên trong tâm chàng Nhã Đa tự hết, hết tức là Bồ Đề, chẳng từ ai mà được. Đây là nhân duyên rồi, thật là rõ ràng, tại sao Như Lai lại bỏ đi nghĩa Nhân Duyên ? Chính tôi từ Nhân Duyên mà tâm được khai ngộ.

“Bạch Thế Tôn ! Nghĩa ấy đâu chỉ đối với hàng Thanh Văn Hữu Học tuổi nhỏ như chúng tôi, mà nay trong hội này, Ông Đại Mục Kiền Liên, cùng Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề đều từ Ông lão Phạm Chí nghe được lý nhân duyên của Phật mà phát tâm khai ngộ, được thành vô lậu. Nay nhờ Phật dạy rằng Bồ Đề chẳng do Nhân Duyên, thì các thuyết Tự Nhiên của nhóm Câu Xá Ly thành Vương Xá lại thành Đệ Nhất Nghĩa! Xin Phật rủ lòng từ bi, khai mở cho sự mê lầm”.


通曰。世尊說三緣斷故。三因不生。正教富樓那等。不隨分別三種相續因緣斷滅等法。則狂性自歇。菩提現前。不欲其以生滅心合如來藏。另開一頓悟法門。即斷因緣而得不生不滅。尚不許也。況復有因緣乎。阿難一向多聞。習知因緣自然。彼此互破。錯會三緣斷故三因不生。是小乘中殺盜淫三業不緣。則貪嗔痴三因不生。有因緣。有對待。皎然明白。何得謂無因緣。即如大目犍連與舍利弗逢馬勝比丘。說諸法從緣生。諸法從緣滅。言下即證初果。是從因緣開悟。長老皆然。今頓棄因緣。毋乃末伽黎拘舍梨子說眾生雖有苦樂。無有因緣。自然而爾。何以異乎。殊不知聞佛因緣。得成無漏。所云從緣生從緣滅。隱然悟見無生之旨。彼生滅者。皆緣耳。故得無漏。豈滯於因緣哉。鳥窠侍者會通。一日欲辭去。窠曰。汝今何往。對曰。會通為法出家。和尚不垂慈誨。今往諸方學佛法去。窠曰。若是佛法。吾此間亦有少許。曰如何是和尚佛法。鳥於身上拈起布毛吹之。通遂領悟。汾陽頌曰。侍者初心慕勝緣。辭師擬去學參禪。鳥窠知是機緣熟。吹毛當下得心安。如此機緣。豈亦因緣之謂乎。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đức Thế Tôn dạy : “Ba Duyên dứt lìa, nên ba Nhân chẳng sanh”, chính là dạy nhóm Ông Phú Lâu Na chẳng tùy theo phân biệt các pháp ba thứ nhân duyên đoạn diệt nối nhau, thì tánh cuồng điên tự hết, Bồ Đề hiện tiền. Đó là Đức Phật chẳng muốn họ lấy cái Tâm Sanh Diệt mà hợp với Như Lai Tạng, riêng mở ra một pháp môn Đốn Ngộ. Nghĩa là lấy sự đoạn trừ Nhân Duyên mà được cái bất sanh bất diệt còn chẳng cho phép thay, huống là lại có Nhân Duyên sao ?

Ông Anan, một bề đa văn, quen theo cái biết Nhân Duyên và Tự Nhiên phá hoại lẫn nhau, rồi hiểu lầm rằng ba Duyên đoạn dứt, ba Nhân chẳng sanh, nghĩa là theo trong Tiểu Thừa, ba nghiệp Sát, Đạo, Dâm chẳng có duyên theo thì ba nhân Tham, Sân, Si chẳng sanh ra. Nếu có nhân duyên thì có đối đãi, rõ ràng thế kia, sao có thể nói là không có Nhân Duyên?

Ngay như Ông Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất gặp được Tỳ kheo Mã Thắng dạy cho “Các Pháp theo nhân duyên mà sanh, các pháp theo nhân duyên mà diệt”, ngay dưới lời nói chứng Sơ Quả, thế là do Nhân Duyên mà khai ngộ. Các Trưởng Lão cũng đều như thế. Nay Phật bỏ lý Nhân Duyên, thì hóa ra nhóm Mạt Già Lê, Câu Xá Ly nói rằng “Chúng sanh tuy có sướng khổ, nhưng không có Nhân Duyên, chỉ Tự Nhiên như vậy thôi”, thì có gì khác đâu ? Há chẳng biết rằng nghe lý Nhân Duyên của Phật, được thành Vô Lậu, thì chỗ nói “Theo duyên mà sanh, theo duyên mà diệt” là đã ngộ thấy cái yếu chỉ Vô Sanh. Cái sanh diệt kia, đều là Duyên đó vậy, cho nên, đắc Vô Lậu, há lại vướng mắc ở Nhân Duyên ư ?
Thị giả Hội Thông của Tổ Ô Sào một ngày kia muốn từ giã mà đi.

Tổ Sào nói : “Nay ông đi đâu ?”

Đáp : “Hội Thông này vì Pháp mà xuất gia, Hòa Thượng chẳng rủ lòng từ dạy bảo, nên nay đi các nơi để học Phật Pháp”.

Tổ Sào nói : “Nếu là Phật Pháp thì ở đây ta cũng có chút ít”.

Hỏi : “Như thế nào là Phật Pháp của Hòa Thượng ?”

Tổ Ô Sào liền rút ra một sợi lông bố, đưa lên mà thổi.

Thầy Hội Thông bèn lãnh ngộ.


Ngài Phần Dương tụng rằng :

“Sơ tâm thị giả mộ thắng duyên
Biệt thầy định trải học tham thiền
Ô Sào biết đấy, cơ duyên đến
Thổi lông, ngay đó được tâm an”.

Như cái cơ duyên này, há cũng nói là Nhân Duyên ư !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:47:57 AM »

(tiếp theo)

佛告阿難。即如城中演若達多。狂性因緣。若得滅除。則不狂性自然而出。因緣自然。理窮於是。阿難。演若達多。頭本自然。本自其然。無然非自。何因緣故。怖頭狂走。若自然頭。因緣故狂。何不自然。因緣故失。本頭不失。狂怖妄出。曾無變易。何藉因緣。本狂自然。本有狂怖。未狂之際。狂何所潛。不狂自然。頭本無妄。何為狂走。若悟本頭。識知狂走。因緣自然。俱為戲論。


Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Như Anh Diễn Nhã Đạt Đa ở trong thành, cái nhân duyên tánh cuồng mà diệt trừ được, thì cái tánh không cuồng tự nhiên hiện ra. Các lý lẽ Nhân Duyên, Tự Nhiên rốt cuộc chỉ là như vậy.

“Anan, Anh Diễn Nhã Đạt Đa cái đầu vốn là tự nhiên, vốn tự như thế, có khi nào mà không tự nhiên đâu, thì vì nhân duyên gì mà sợ cái đầu để phát điên cuồng bỏ chạy ? Nếu cái đầu là tự nhiên, vì nhân duyên mà điên thì sao không cứ tự nhiên, vì nhân duyên mà mất ? Cái đầu vốn không mất, mà sự điên cuồng sợ hãi vọng có ra, chứ nào có bao giờ thay đổi gì, thì nào phải cần đến nhân duyên. Nếu tính điên vốn là tự nhiên, vốn có sẵn sự điên rồ sợ hãi như vậy, thì khi chưa điên, cái điên ấy núp trốn chỗ nào ? Nếu tính không điên là tự nhiên, thì cái đầu cũng vẫn tự nhiên, sao lại điên cuồng bỏ chạy ? Nếu ngộ cái đầu vốn sẵn như thế, biết sự phát điên bỏ chạy của mình, thì Nhân Duyên và Tự Nhiên đều là hý luận.


通曰。若謂因緣斷滅。而後菩提真性。自然而出。非正論也。即演若達多怖頭一事窮之。非因緣非自然斷可識矣。始以頭論。頭本自然。必不為因緣所奪。何故以照鏡因緣而狂。既以因緣為是。則自然不能作主。何以不因緣故真失其頭。然而頭本不失。彼自狂走。見狂本妄出。非關因緣明矣。既不從因緣生。亦不從因緣滅。而謂狂性因緣。可得滅除者非也。既以狂論。狂本自然。潛於何所。不狂自然。又何狂走。或狂或不狂。皆無自性。非關自然明矣。既非自然潛。亦非自然出。故謂不狂性自然而出者非也。是知說因緣。說自然。何與於頭。說本狂。說本不狂。何濟於狂。俱屬戲論。未為真實。但悟本頭。頭本不失。識知狂走。狂本妄出。只此一悟字。一識字。乃自家真實受用。非言論所及。悟頭。即悟本來面目。元無變易。識狂。即識九界狂走。妄生分別。此悟此識。如電光石火。在剎那際。豈因緣自然所可佇足之地乎。故謂歇即菩提。不從人得。遠離因緣。與彼自然。良以此也。牛頭山智岩禪師。隋大業中。為郎將。頻立戰功。唐武德中年四十遂乞出家。從寶月禪師為弟子。昔同從軍者二人。聞師隱道。乃共入山尋之。既見。因謂曰。郎將狂耶。何為住此。岩曰。我狂欲醒。君狂正發。夫嗜色淫聲。貪榮冒寵。流轉生死。何由自出。二人感悟。嘆息而去。後謁融禪師發明大事。融謂曰。吾受信大師真訣。所得都亡。設有一法勝過涅槃。吾說亦如夢幻。夫一塵飛而翳天。一芥墮而覆地。汝今已過此見。吾復何云。故息狂若智岩者。可語真悟也已。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Nếu nói Nhân Duyên đoạn diệt rồi sau đó Chân Tánh Bồ Đề tự nhiên hiện ra, thì chẳng phải là chánh luận. Chuyện Anh Diễn Nhã Đạt Đa sợ đầu bỏ chạy mà xét cho cùng, thì chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên, dứt khoát rõ ràng vậy. Trước tiên, lấy cái đầu mà luận, thì cái đầu vốn tự nhiên, chắc không thể vì nhân duyên mà bị đoạt mất. Thế sao vì nhân duyên soi gương mà phát cuồng ? Đã cho Nhân Duyên là đúng, thì Tự Nhiên không còn đứng vững, thế thì tại sao không do nhân duyên mà thật mất cái đầu ? Nhưng cái đầu vốn chẳng mất, anh chàng kia tự cuồng mà chạy, thì cái cuồng này vốn hư vọng có ra, thì rõ ràng chẳng có liên quan gì đến chuyện Nhân Duyên vậy. Đã chẳng từ nhân duyên mà sanh, cũng chẳng theo nhân duyên mà diệt, mà nói nhân duyên tánh cuồng có thể diệt trừ được, là hoàn toàn sai lầm vậy.

Lấy tánh cuồng mà luận, nếu tánh cuồng vốn là tự nhiên thì nó núp trốn ở đâu ? Còn tánh không cuồng là tự nhiên thì tại sao điên chạy ? Cuồng hoặc không cuồng đều không có tự tánh, chẳng có liên quan gì đến lý Tự Nhiên, thật là rõ ràng như vậy. Đã chẳng phải là tự nhiên núp ẩn, cũng chẳng phải tự nhiên có ra, nên nói tánh không cuồng tự nhiên hiện ra là sai lầm vậy.

Thế nên biết rằng, nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên nào có dính dáng gì với cái đầu? Nói vốn là cuồng, nói vốn là không cuồng, thì nào có xong hết chuyện tánh cuồng ? Những thứ ấy đều thuộc về hý luận, chẳng có gì chân thật.
Chỉ cần ngộ được cái đầu xưa nay vốn có sẵn, vốn không hề mất. Biết rõ sự phát điên bỏ chạy, thì điên vốn hư vọng mà có ra. Chỉ một chữ Ngộ này, chỉ một chữ Biết này, tức là sự thọ dụng chân thật của nhà mình, chẳng có lời lẽ nói năng nào đến được nổi.

Ngộ cái đầu, tức là ngộ Bản Lai Diện Mục, nào có chút gì đổi khác. Biết cuồng, tức là biết sự vọng sanh ra phân biệt mà chạy điên trong chín cõi. Cái Ngộ ấy, cái Biết ấy, như tia chớp, như lửa xẹt ra từ đá, trong khoảng sát na, há là cái chỗ đứng được của các thứ Nhân Duyên, Tự Nhiên sao ? Thế nên, nói rằng “Hết tức Bồ Đề, không do ai mà được, xa lìa các thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên” là thế.

Thiền sư Trí Nham ở núi Ngưu Đầu, đời Đại Nghiệp nhà Tùy làm chức Lang tướng, lập nhiều chiến công. Đến đời Vũ Đức nhà Đường, bốn mươi tuổi bèn xin xuất gia, theo học thiền sư Bảo Nguyệt. Có hai người bạn trước ở trong quân đội nghe Ngài ẩn tu, mới vào núi tìm Ngài. Gặp gỡ, mới hỏi rằng : “Lang tướng quân điên sao, ở chốn này làm gì ?”

Ngài đáp : “Cái điên của tôi thì sắp tỉnh, cái điên của các ông thì đang phát ! Than ôi ! Ham sắc mê thanh, tham danh muốn lợi, trôi lăn sanh tử, từ đâu mà có !”

Hai người cảm ngộ, than thở mà đi.

Sau, Ngài tham yết thiền sư Lại Dung, phát minh được đại sự. Tổ Lại Dung bảo rằng : “Ta lãnh nhận yếu quyết chân chánh của đại sư Đạo Tín, chỗ sở đắc đều mất sạch. Nếu như có một pháp vượt hơn Niết Bàn, ta cũng nói như là mộng huyễn. Ôi ! Một mảy bụi bay mà che trời ! Một hạt cải rơi mà trùm đất ! Ông nay đã trải qua cái Thấy ấy, ta lại còn gì nói nữa”.

Bởi thế, hết điên thì như Ngài Trí Nham, có thể nói là Chân Ngộ vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 11:29:17 AM »

(tiếp theo)

是故我言三緣斷故。即菩提心。菩提心生。生滅心滅。此但生滅。滅生俱盡。無功用道。若有自然。如是則明自然心生。生滅心滅。此亦生滅。無生滅者。名為自然。猶如世間。諸相雜和。成一體者。名和合性。非和合者。稱本然性。本然非然。和合非合。合然俱離。離合俱非。此句方名無戲論法。菩提涅槃。尚在遙遠。非汝歷劫辛勤修證。雖復憶持十方如來。十二部經清淨妙理。如恆河沙。秪益戲論。


B. ĐƯA VÀO BỒ ĐỀ

Kinh : “Thế, nên Ta nói : “Ba Duyên lìa dứt, tức là Tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề sanh, tâm sanh-diệt diệt, đó cũng chỉ là sanh diệt. Diệt và sanh đều hết ráo, là vô công dụng Đạo. Nếu có Tự Nhiên, như vậy là nói tâm tự nhiên sanh, tâm-sanh-diệt diệt, thế cũng là sanh diệt, và cái không sanh diệt thì gọi là Tự Nhiên. Cũng như thế gian, những tướng hòa lẫn thành một thể gọi là tính hòa hiệp, còn cái chẳng hòa hiệp thì gọi là tính bản nhiên. Bản nhiên chẳng phải bản nhiên, hòa hợp chẳng phải hòa hợp, hòa hợp và bản nhiên đều lìa. Lìa và không lìa đều chẳng phải. Câu nói ấy mới gọi là pháp không hý luận.

“Bồ Đề Niết Bàn còn ở xa lắm, nếu ông không trải qua nhiều kiếp siêng năng tu chứng thì tuy có ghi nhớ thanh tịnh diệu lý mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai như cát sông Hằng cũng chỉ tăng thêm hý luận.


通曰。此段申明何藉劬勞肯綮修證之意。忽然狂歇。非有斷緣劬勞。故非因緣。若謂三緣斷故。三因不生。藉此因緣。得菩提心。是菩提心生。因於生滅心滅。滅妄證真。真亦成妄。此但生滅法爾。非菩提也。是因緣之屬生滅也。固易可知。至於滅生俱盡。不但生滅心盡。而滅生滅者亦盡。既無生可滅。即無功可用。其中若有不生不滅而名為自然者。此自然心。由於滅生俱盡而顯。是自然心生。因於生滅心滅。亦謂之生滅法。非菩提心。亦字有味。彼無生滅者。名為自然。何以亦謂之生滅。彼對生滅而顯不生滅。有對待故。猶對和合而顯不和合。有然有不然。有合有不合。對待宛然。如對牛角有。說兔角無。故屬生滅。彼但能空其生滅。不能空其自然。猶言彼舍無人。但空其人。未空其舍。非真實見。故名戲論。直使合與非合。然與非然。諸對待法。一切遠離。亦無遠離之心。而離合俱泯。既離其所。又離其能。能所俱離。唯一真實。此句方名無戲論法。若依此句取無。上菩提涅槃。尚在遙遠。何以故。坐在有為功勛故。菩提正覺。涅槃妙心。但可剎那悟入。非汝歷劫辛勤所可修證故。不由歷劫辛勤修證得者。是不假因緣自然而得也。必藉歷劫辛勤修證得者。是必由因緣自然而得也。雖復憶持十方如來清淨妙理。皆即無戲論法。亦祗益因緣自然之戲論而已。何有於實得哉。故我謂三緣斷故。三因不生。隨此分別得菩提心者。非真得也。謂其以生滅心合如來藏也。但不隨此分別。狂性自歇。歇即菩提。不徒人得者。乃真得也。為其以不生不滅合如來藏也。此最上機緣。豈拘舍梨自然之說。可同日語乎。六祖曰。外道所說不生不滅者。將滅止生。以生顯滅。滅猶不滅。生說不生。我說不生不滅者。本自無生。今亦無滅。所以不同外道。進山主問修山主曰。明知生不生性。為甚麼為生之所留。修云。筍畢竟成竹去。如今作篾使還得麼。進云。汝向後自悟去在。修云。某甲只如此。上座意旨如何。進云。這個是監院房。那個是典座房。修便禮拜。天童頌云。豁落亡依。高閉不羈。家邦平帖到人稀。些些力量分階級。蕩蕩身心絕是非。是非絕。介立大方無軌轍。於是觀之。證無上菩提者。原不落階級。更何轍跡可見。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đoạn này giãi bày rõ cái ý “Nào nhờ siêng năng cần khổ tu chứng”. Bỗng nhiên cuồng hết chẳng phải khó nhọc đoạn trừ duyên, nên không phải là Nhân Duyên. Nếu nói : “Vì ba Duyên đoạn dứt, thì ba Nhân chẳng có sanh ra, nhờ nhân duyên đó mà được Tâm Bồ Đề”, thế là Tâm Bồ Đề sanh là do tâm sanh-diệt diệt. Diệt Vọng chứng Chân thì Chân cũng thành Vọng, đó cũng chỉ là pháp sanh diệt thôi, chẳng phải là Bồ Đề. Cái nhân duyên như vậy thuộc về sanh diệt, nên cũng dễ hết.

Đến chỗ diệt và sanh đều hết ráo, thì không những tâm sanh diệt hết mà cái diệt sanh diệt cũng hết tận. Đã không có sự sanh ra để diệt, tức là không có công phu nào để dùng. Ở trong đó nếu có cái bất sanh bất diệt mà gọi là Tự Nhiên, thì cái tâm tự nhiên này do nơi diệt và sanh đều hết mà hiển ra, đó là cái tâm tự nhiên sanh. Nhưng nhờ ở tâm sanh-diệt diệt mất mà có thì cũng là pháp sanh diệt, chẳng phải là Bồ Đề.

 Chữ “cũng” thật có ý vị ! Cái không sanh diệt kia gọi là Tự Nhiên, sao cũng gọi là sanh diệt ? Vì đối với cái sanh diệt mà hiển bày cái không sanh diệt, thế là có đối đãi vậy. Cũng như đối với hòa hợp mà hiển bày cái không hòa hợp. Có cái bản nhiên thì có cái không bản nhiên, có cái hòa hợp thì có cái không hòa hợp, rõ ràng toàn là đối đãi. Cũng như đối với sừng trâu có, rồi nói sừng thỏ không, nên cũng thuộc về sanh diệt.

Cái kia chỉ làm không cái sanh diệt, chẳng có thể làm không cái Tự Nhiên. Cũng như nói “Nhà kia không có người”, thì mới chỉ làm “không” người ở trong đó, chứ chưa “không” được cái nhà. Đó không phải là cái thấy chân thật. Nên nói là hý luận.
Nếu giờ đây mà hợp với không hợp, bản nhiên với không bản nhiên, các pháp đối đãi, hết thảy đều xa lìa mà cũng không có cái tâm xa lìa, nên lìa hay hợp đều mất hết. Đã lìa Sở, lại lìa Năng; Năng Sở đều lìa, chỉ là một Chân Thật, câu này mới gọi là pháp không hý luận.

Nhưng nếu y theo câu này mà giữ Bồ Đề Niết Bàn Vô Thượng, thì cũng còn xa lắm ! Vì sao thế ? Vì còn ở tại hữu vi, có công phu, có huân tập vậy. Bồ Đề Chánh Giác, Niết Bàn Diệu Tâm chỉ có thể ở tại sát na mà ngộ nhập, chẳng phải là chỗ ông trải qua nhiều kiếp cần khổ để tu chứng được.

Cái chẳng do trải qua nhiều kiếp cần khổ tu chứng mà được, cái ấy không nương nhờ Nhân Duyên, Tự Nhiên gì ráo để đắc. Cái mà phải nhờ trải qua nhiều kiếp cần khổ tu chứng, thì tất phải do Nhân Duyên, Tự Nhiên mà được. Cứ thế, thì tuy ghi nhớ diệu lý thanh tịnh của mười phương Chư Phật là Pháp không hý luận, cũng chỉ tăng thêm các thứ hý luận Nhân Duyên, Tự Nhiên mà thôi, nào có thật đắc được gì.

Nên chi, nghe nói “Ba Duyên đoạn dứt, ba Nhân chẳng sanh”, rồi theo đó phân biệt mà được Tâm Bồ Đề, thì chẳng phải là thực đắc, đó là chỗ nói “Lấy Tâm Sanh Diệt hợp với Như Lai Tạng” vậy. Chỉ không theo đó mà phân biệt, thì tánh cuồng tự hết. Hết là Bồ Đề, không do ai mà được, bèn là thật đắc, vì là lấy cái Chẳng Sanh Chẳng Diệt hợp với Như Lai Tạng vậy. Cái cơ duyên tối thượng này, há đồng với lối nói Tự Nhiên của nhóm Câu Xá Lê được ư ?

Đức Lục Tổ dạy : “Cái Bất Sanh Bất Diệt mà ngoại đạo nói, là lấy Diệt dừng Sanh, lấy Sanh mà bày ra cái Diệt, thế là có Diệt mà xem như không Diệt, có Sanh mà nói là chẳng Sanh. Ta nói chẳng Sanh chẳng Diệt là vốn Tự Vô Sanh, nay cũng không có Diệt. Bởi thế, chẳng đồng với ngoại đạo”.

Ngài Tiến Sơn Chủ hỏi Ngài Tu Sơn Chủ rằng : “Biết rõ Tánh sanh mà chẳng sanh, thì vì sao còn lưu lại cái sanh ?”

Tu Sơn nói : “Măng rốt cuộc thành tre chứ, như nay làm cật tre, khiến trở lại đâu được !”

Tiến Sơn nói : “Sau này ông sẽ tự ngộ chỗ ấy”.

Tu Sơn nói : “Tôi chỉ như thế, ý chỉ của Thượng Tọa như thế nào ?”

Ngài Tiến Sơn nói : “Cái này là Giám Viện Phòng, cái kia là Điển Tòa Phòng”.

Ngài Tu Sơn bèn lễ bái.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Hoát nhiên mất chỗ nương
Tự do nào chẳng quản
Nước nhà bình ổn thấy ai đâu
Lực lượng mống sanh phân giai cấp
Thân tâm rỗng rang tuyệt thị phi
Thị phi tuyệt !
Lập cả đại phương : không dấu vết !”.

Thế đó, chứng Bồ Đề Vô Thượng vốn đâu có sa vào thềm bực (giai cấp). Lại có dấu vết gì thấy được !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:54:05 PM »

(tiếp theo)

汝雖談說因緣自然。決定明了。人間稱汝多聞第一。以此積劫多聞熏習。不能免離摩登伽難。何須待我佛頂神咒。摩登伽心。淫火頓歇。得阿那含。於我法中。成精進林。愛河乾枯。令汝解脫。是故阿難。汝雖歷劫憶持如來秘密妙嚴。不如一日修無漏業。遠離世間憎愛二苦。如摩登伽宿為淫女。由神咒力。銷其愛慾。法中今名性比丘尼。與羅睺(此云障日)母耶輸陀羅。(此云華色)同悟宿因。知歷世因。貪愛為苦。一念熏修無漏善故。或得出纏。成蒙受記。如何自欺。尚留觀聽。


Kinh : “Ông tuy nói lý Nhân Duyên, Tự Nhiên, chắc chắn rõ ràng, người đời xưng ông là đa văn bậc nhất. Vậy mà lấy cái đa văn huân tập nhiều đời đó cũng chẳng khỏi nạn Cô Ma Đăng Già, phải đợi thần chú Phật Đảnh của Ta khiến cho lửa dâm trong lòng cô Ma Đăng Già hết tức thời mà đắc A Na Hàm, hiện ở trong Pháp của Ta, tinh tấn như rừng, sông ái cạn khô, khiến ông giải thoát.

“Bởi thế nên, Anan, ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ những bí mật mầu nhiệm trang nghiêm của Như Lai, không bằng chỉ một ngày tu Nghiệp vô lậu, lìa xa thế gian hai thứ khổ ghét-thương. Như Cô Ma Đăng Già, trước là dâm nữ, do sức thần chú, tiêu tan lòng ái dục, nay ở trong Phật Pháp tên là Tánh Tỳ Kheo Ni. Cùng với Da Du Đà La là mẹ của La Hầu La, đồng ngộ được nhân đời trước, biết nhân khiến trải qua nhiều đời, tham ái là khổ, một niệm huân tu pháp thiện vô lậu; một người được ra khỏi trói buộc, còn một người được thọ ký. Sao ông còn tự coi thường mình, ở mãi trong vòng nghe, thấy !”

通曰。阿難積劫多聞。不能免離摩登伽難。是憶持如來清淨妙理不得證果明也。佛頂神咒。能使摩登伽淫心頓歇。是不思議熏修自得出纏明也。憶持秘密妙嚴。即為有漏。舍妄趣真。即名憎愛二苦。苦且不免。而況於得果乎。熏習圓頓法門。即為無漏。悟知夙因。貪愛不生。且蒙授記。何止於得果乎。摩登伽證三果。名出纏。耶輸陀羅。亦是世尊歷世因緣。法華會上。授記成佛。此但女流。一念回心。尚成精進。況汝聲聞。如何自欺。不能頓悟。必藉斷妄因緣。而以外道戲論留於觀聽間乎。楚南禪師上堂。諸子。設使解得三世佛教。如瓶注水。及得百千三昧。不如一念修無漏道。免被人天因果係絆。時有僧問無漏道如何修。南曰。未有阇黎時體取。曰未有某甲時。教誰體。南曰。體者亦無。得此一二轉語。而如來未竟之旨悉露。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Rõ ràng là Ông Anan nhiều kiếp đa văn mà không tránh khỏi nạn Cô Ma Đăng Già, thế thì ghi nhớ diệu lý thanh tịnh của Như Lai không thể chứng quả được. Cũng rõ ràng là thần chú Phật Đảnh có thể khiến cho lòng dâm của Cô Ma Đăng Già tức thời tiêu hết, nghĩa là sự huân tu không thể nghĩ bàn khiến tự ra khỏi ràng buộc vậy. Nhớ giữ pháp bí mật nhiệm mầu trang nghiêm, tức là hữu lậu.

 Bỏ Vọng theo Chân, tức là hai cái khổ thương, ghét. Khổ còn không khỏi, huống là đắc quả ư ? Tu tập pháp môn Viên Đốn tức là vô lậu. Ngộ biết nhân đời trước, tham ái chẳng sanh, bèn được thọ ký, nào chỉ đắc quả thôi sao ? Cô Ma Đăng Già chứng quả thứ Ba, A Na Hàm, gọi là ra khỏi trói buộc.

 Bà Da Du Đà La cũng là nhân duyên nhiều kiếp với Đức Thế Tôn, ở hội Pháp Hoa được thọ ký thành Phật. Đây chỉ là nữ giới mà một niệm xoay lòng còn nên bực tinh tấn. Huống gì hàng Thanh Văn các ông, sao tự khinh thường mình, không liền đốn ngộ ? Đã thế lại nương nhờ nhân duyên trừ Vọng mà bám lấy hý luận của ngoại đạo để ở mãi trong vòng thấy nghe sao ?

Thiền sư Sở Nam thượng đường nói : “Này các ông, dù có hiểu giáo pháp của Chư Phật ba đời như rót nước vào bình, chẳng bằng một niệm tu Vô Lậu Đạo, khỏi bị nhân quả trời người trói buộc !”

Khi ấy có nhà sư hỏi : “Vô Lậu Đạo như thế nào để tu ?”

Tổ Sở Nam nói : “Chưa từng có Xà Lê để nắm bắt !”

Hỏi : “Chưa từng có tôi đây, thì dạy ai nắm bắt?”

Đáp : “Cái nắm cũng không !”

Được một hai lời chuyển ngữ này, thì ý chỉ chưa nói hết của Như Lai đã lộ rồi !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 08:57:02 PM »

(tiếp theo)

阿難及諸大眾。聞佛示誨。疑惑銷除。心悟實相。身意輕安得未曾有。重複悲淚。頂禮佛足。長跪合掌。而白佛言。無上大悲清淨寶王。善開我心。能以如是種種因緣。方便提獎。引諸沉冥。出於苦海。世尊。我今雖承如是法音。知如來藏妙覺明心。遍十方界。含育如來十方國土。清淨寶嚴。妙覺王剎。如來復責多聞無功。不逮修習。我今猶如旅泊之人。忽蒙天王賜與華屋。雖獲大宅。要因門入。唯願如來。不捨大悲。示我在會諸蒙暗者。捐舍小乘。畢獲如來無餘涅槃本發心路。令有學者。從何攝伏疇昔攀緣。得陀羅尼。入佛知見。作是語已。五體投地。在會一心。佇佛慈旨。


MỤC CHÍN :

CHỈ NGHĨA QUYẾT ĐỊNH

I. CÁC PHÉP TU HÀNH SAU KHI ĐỐN NGỘ, PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

Kinh : Ông Anan và cả đại chúng nghe lời Phật dạy, nghi lầm tiêu tan, ngộ được Thật Tướng, thân ý nhẹ nhàng an ổn, được cái chưa từng có. Rồi lại rơi nước mắt, đảnh lễ chân Phật, quỳ thẳng, chấp tay mà bạch Phật rằng : “Đấng Vô Thượng Đại Bi, Thanh Tịnh Bảo Vương, khéo mở tâm chúng tôi, dùng đủ thứ nhân duyên như thế, phương tiện dìu dắt những kẻ chìm đắm trong tối tăm ra khỏi bể khổ.

“Bạch Thế Tôn, nay tôi được vâng nghe Pháp Âm như vậy, biết Như Lai Tạng, Diệu Giác Minh Tâm cùng khắp mười phương thế giới, trùm chứa các cõi nước của Như Lai trong mười phương, các cõi Phật Diệu Giác Vương trong sạch, quý báu trang nghiêm. Như Lai lại trách tôi đa văn mà không có công dụng, không kịp thời tu tập. Nay tôi giống như người long đong phiêu bạt, bỗng nhiên gặp vị Thiên Vương cho cái nhà tốt; mặc dầu được cái nhà lớn, nhưng cần yếu phải do cửa mà vào. Xin nguyện Như Lai, không bỏ lòng đại bi, chỉ bày cho chúng tôi, những kẻ mờ tối trong hội này, rời bỏ Tiểu Thừa, đều được con đường Phát Tâm căn bản đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai, khiến cho hàng Hữu Học biết theo đâu nhiếp phục các sự bám níu (phan duyên) lâu đời, được Tổng Trì Đà La Ni, nhập Phật Tri Kiến”.

Ông Anan nói lời ấy rồi, năm vóc mọp sát đất, trong hội một lòng mong đợi ý chỉ từ bi của Phật.



通曰。自初抉擇真妄發明覺性。乃至宣勝義中真勝義性。決通疑滯。使其信解真性為因地心。因心既真。斯可圓成果地修證。故上文為見道分。此下別起為修道分。阿難既獲法身矣。而尚有微細之惑。今既除惑。悟實相矣。而又有不逮熏修之嘆。總之尚在門外。雖知有天王華屋而未能入也。所以不得其門而入者。一由愛念小乘。不明本發心路。二由攀緣為苦。不能入佛知見。雖則多聞之習使然。亦為會中諸有學者請也。睦州謂眾曰。汝等諸人。還得個入頭處也未。若未得個入頭處。須覓個入頭處。已後不得辜負老僧。堯峰暹禪師上堂。冬去秋來。樓閣門開。若也入得。不用徘徊。諸上座。還向這裡入得也未。若也入得。所以古人道。是處是彌勒。無門無善財。若也入之未得。自是諸上座狂走。更不忉忉。久立珍重。有天使問睦州。三門俱開。從那門入。州喚上書。使應諾。州曰。從信門入。使又見畫壁。問曰。二尊者對談何事。州摑露柱曰。三身中那個不說法。睦州門風高峻。至此都明明說破。若信得及。更不歷於階級。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Từ lúc bắt đầu, phân lựa Chân Vọng để phát minh Tánh Giác, cho đến chỗ nói lên cái Tánh Chân Thắng Nghĩa trong thắng nghĩa, để thông suốt các nghi ngờ, vướng mắc khiến cho tin hiểu Chân Tánh là Tâm Nhân Địa. Cái Tâm Nhân Địa đã chân thật, mới có thể viên thành quả địa tu chứng. Thế nên, đoạn trước là phần Kiến Đạo. Từ đây về sau, riêng nói phần Tu Đạo.

Ông Anan đã được Pháp Thân, nhưng vẫn còn Vô Minh vi tế. Nay đã trừ các điều mê lầm, ngộ Thật Tướng, nhưng lại có lời than là không kịp thời tu tập. Rốt cuộc là vẫn còn là ở ngoài cửa. Tuy biết có cái nhà đẹp đẽ của Thiên Vương nhưng chưa thể vào. Sở dĩ không được cái cửa để vào, thứ nhất là, do còn ưa mến Tiểu Thừa, chẳng rõ con đường Phát Tâm căn bản; thứ hai là, do sự bám níu, đó chính là cái khổ mà không thể nhập Tri Kiến Phật. Tuy là do thói quen đa văn khiến như thế, nhưng cũng là vì hàng Hữu Học trong hội mà hỏi.

Tổ Mục Châu nói với đại chúng rằng : “Tất cả các ông có được chỗ đầu mối để vào chưa ? Nếu chưa được cái chỗ đầu mối để vào, thì cần phải tìm cho ra chỗ đầu mối để vào, để sau này khỏi cô phụ lão tăng”.

Thiền sư Nghiêu Phong Xiêm thượng đường dạy: “Đông qua Thu lại, cửa lâu đài mở hoác. Nếu vào được, chớ có chần chờ. Các Thượng Tọa ! Hướng vào trong ấy bước vào được chưa ? Như bước vào được thì đúng như cổ nhân nói “Nơi đây là Di Lặc. Cửa nào chẳng Thiện Tài”. Nếu bước vào chưa được, ấy là các Thượng Tọa tự mình chạy điên. Chớ có đau đáu đứng hoài như vậy ! Trân trọng !”

Có vị quan hỏi Tổ Mục Châu : “Ba cửa đều mở, theo cửa nào nhập ?”

Tổ châu gọi lớn : “Thượng Thơ !”

Quan ứng tiếng : “Dạ !”

Tổ Châu nói : “Theo cửa Tín mà vào”.

Vị quan lại thấy bức họa trên vách, hỏi rằng : “Hai vị tôn giả đối mặt nhau bàn luận chuyện gì ?”

Tổ Châu đánh cây lộ trụ, nói : “Trong Ba Thân, Thân nào chẳng nói pháp !”

Ngài Mục Châu môn phong cao ngất, đến chỗ này đều bày trọn hết rõ ràng, như tin đến nơi, bèn chẳng trải qua thứ bực.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 09:00:24 PM »

(tiếp theo)


爾時世尊哀愍會中緣覺聲聞。於菩提心未自在者。及為當來佛滅度後。末法眾生。發菩提心。開無上乘。妙修行路。宣示阿難及諸大眾。汝等決定發菩提心。於佛如來妙三摩提。不生疲倦。應當先明發覺初心二決定義。


Kinh : Khi ấy, Đức Thế Tôn thương xót các hàng Thanh Văn, Duyên Giác trong hội chưa được tự tại nơi Tâm Bồ Đề, cùng những chúng sanh về sau phát Bồ Đề Tâm trong thời mạt pháp, khi Phật diệt độ rồi, khai thị cho con đường tu hành nhiệm mầu Vô Thượng Thừa, mà tuyên giảng cho Anan và các đại chúng rằng : “Các ông quyết định phát Tâm Bồ Đề, đối với Pháp Tam Ma Đề nhiệm mầu của Như Lai chẳng sanh lòng mệt mỏi, thì trước hết nên rõ hai nghĩa quyết định của Sơ Tâm Giác Ngộ”.

通曰。阿難問有二義。一者如來無餘涅槃本發心路。二者攝伏攀緣。入佛知見。故佛以二決定義語之。欲知本發心路。須擇生死根本。得無生滅性。為因地心。然後圓成不生不滅涅槃妙德。此初心第一義也。欲攝伏攀緣。須詳審煩惱根本。知六為賊媒。自作自受。但擇圓根。一門深入。彼六知根。一時清淨。此初心第二義也。欲得無生。須伏煩惱。能斷煩惱。即證無生。二者未始不相成也。此云妙三摩提。又云妙修行路。時時提醒一妙字。要於妙明明妙相應。不至著相求菩提耳。彼緣覺聲聞。未免著相。故於菩提未得自在。唯悟此妙。不藉劬勞。肯綮修證。乃所謂無生乘也。達磨大士至金陵。梁武帝問曰。朕即位以來。造寺寫經。度僧。不可勝絕。有何功德。祖曰。並無功德。帝曰。何以無功德。祖曰。此但人天小果。有漏之因。如影隨形。雖有非實。帝曰。如何是真實功德。祖曰。淨智妙圓。體自空寂。如是功德。不以世求。帝又問如何是聖諦第一義。祖曰。廓然無聖。帝曰對朕者誰。祖曰。不識。帝不領。祖知機不契。遂潛渡江北。雪竇頌云。聖諦廓然。何當辨的。對朕者誰。還云不識。因茲暗渡江。豈免生荊棘。闔國人追不再來。千古萬古空相憶。休相憶。清風匝地有何極。顧視左右云。這裡還有祖師麼。自云有。喚來與老僧洗腳。天童頌云。廓然無聖。來機逕庭。得非犯鼻而揮斤。失不回頭而墮甑。寥寥冷坐少林。默默全提正令。秋清月轉霜輪。河淡斗垂夜柄。繩繩衣缽付兒孫。從此人天成藥病。若論無上乘妙修行路。即聖諦第一義。尚不許也。況落二落三。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ Ông Anan hỏi, có hai nghĩa : Một là, con đường căn bản phát tâm để đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai. Hai là, nhiếp phục tâm bám níu, nhập Phật Tri Kiến. Bởi thế, Đức Thế Tôn nói lên hai nghĩa quyết định.

Muốn biết con đường Phát Tâm căn bản, phải chọn lựa gốc rễ Sanh Tử, để được cái Tánh Không Sanh Diệt, lấy đó làm cái Tâm Nhân Địa, rồi mới viên thành Diệu Đức Niết Bàn chẳng sanh chẳng diệt. Đây là nghĩa thứ nhất của Sơ Tâm.

Muốn nhiếp phục Tâm Phan Duyên bám níu, phải xét rõ gốc rễ phiền não, biết sáu Căn làm môi giới cho giặc, tự làm tự chịu. Chỉ cần chọn lựa một Căn viên thông, một cửa mà thâm nhập, thì sáu Căn hay biết kia, đồng thời trong sạch, đây là nghĩa thứ hai của Sơ Tâm.

Muốn đắc Vô Sanh, phải diệt sạch phiền não. Hết sạch phiền não, thì chứng Vô Sanh. Hai cái này chưa từng rời nhau được. Ở đây nói Diệu Tam Ma Đề, lại nói Diệu Tu Hành Lộ, là luôn luôn tỉnh thức nơi một chữ Diệu, cần yếu tương ưng với Diệu Minh, Minh Diệu, mà chẳng chấp lấy tướng để cầu Bồ Đề vậy.

Các hàng Thanh Văn, Duyên Giác chưa khỏi được sự chấp nắm lấy tướng, nên ở trong Bồ Đề chưa được tự tại. Duy chỉ ngộ một cái Diệu này, chẳng mượn khó nhọc, cần cù tu chứng, mới gọi là Vô Thượng Thừa vậy.

Sơ Tổ Đạt Ma đến Kim Lăng, Lương Võ Đế hỏi : “Trẫm lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều không kể xiết, vậy công đức thế nào ?”

Tổ đáp : “Đều không có công đức”.

Vua hỏi : “Vì sao không ?”

Tổ nói : “Đó chỉ là quả nhỏ của trời, người, là cái nhân hữu lậu, như bóng theo hình, tuy là có mà không thật”.

Vua hỏi : “Thế nào là công đức chân thật ?”

Tổ nói : “Trí trong sạch, tròn đầy, mầu nhiệm, thể tự không tịch, công đức như thế không thể lấy thế gian cầu được”.

Vua lại hỏi : “Như thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa”.

Tổ nói : “Rỗng rang như nhiên, tuyệt không có Thánh”.

Vua nói : “Vậy trước mặt trẫm đây là ai ?”

Tổ nói : “Không phân biệt”.

Vua không lãnh hội được. Tổ biết căn cơ chẳng khế hợp, bèn ẩn qua Giang Bắc.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Thánh Đế rỗng nhiên,
Có đâu nói trúng !
Đối Trẫm là ai ?
Lại nói : Không biết  -(ct) Biết : phân biệt. )
Bởi thế lặng lẽ qua sông
Há đâu khỏi sanh gai góc ?
Cả nước đuổi theo, không trở lại
Nghìn thuở, muôn xưa, chẳng nhớ nhau
Hết nhớ nhau !
Gió mát khắp cùng, đâu chỗ tột ?

Ngài nhìn qua trái, qua phải rồi nói : “Trong ấy lại có Tổ Sư chăng ?”

Tự nói : “Có, thì kêu lại đây rửa chân cho lão tăng !”


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

Rỗng nhiên không Thánh
Căn cơ xa tít
Đắc, chẳng trúng nhằm mũi mà quơ búa
Thất, chẳng quày đầu mà rớt vào ống bễ lò
Lặng lẽ ngồi yên tại Thiếu Lâm
Nín thinh toàn nêu lên chánh lệnh
Thu trong, trăng chuyển, sương vần
Ban đêm sao Bắc Đẩu soi cán
Y bát truyền con cháu không ngừng
Từ đó trời người thành thuốc, bệnh”.

Nếu luận về con đường Vô Thượng Thừa tu hành mầu nhiệm, thì Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa còn chẳng chịu cho, huống là rơi vào nghĩa thứ hai, thứ ba !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #59 vào lúc: Tháng Ba 17, 2011, 09:04:28 PM »

(tiếp theo)

云何初心二義決定。阿難。第一義者。汝等若欲捐舍聲聞。修菩薩乘。入佛知見。應當審觀因地發心。與果地覺為同為異。阿難。若於因地以生滅心為本修因。而求佛乘不生不滅。無有是處。


II. TÂM NHÂN ĐỊA

Kinh : “Thế nào là hai nghĩa quyết định của Sơ Tâm ? Anan, nghĩa thứ nhất là : Nếu các ông muốn rời bỏ Thanh Văn, mà tu Bồ Tát Thừa để vào Tri Kiến của Phật, thì nên xét kỹ cái Nhân Địa Phát Tâm và cái Quả Địa Giác Ngộ là đồng nhau hay khác nhau. Anan ! Nếu ở nơi nhân địa mà lấy cái Tâm Sanh Diệt làm gốc, nhân đó mà tu để cầu quả Bất Sanh Bất Diệt của Phật Thừa, thì không thể có chuyện ấy được.


通曰。此開示見性第一義也。若論見性。不假功勛。但觀因地發心。與果地覺為同為異。故聖人不思而得。不勉而中。赤子亦不慮而知。不學而能。不學不慮。其因也。不思不勉。其果也。故曰大人者不失其赤子之心者也。果因一契。更無增減。非見性者。不足語此。馬祖居南嶽傳法院。獨處一室。唯習坐禪。凡有來訪者都不顧。讓大師往。亦不顧。師視其神宇有異。遂憶六祖讖。乃多方誘導之。一日將磚於庵前磨。祖亦不顧。時既久。乃問曰。作甚麼。師曰。磨作鏡。祖云。磨磚豈得成鏡。師云。磨磚既不成鏡。坐禪豈能成佛。祖乃離坐云。如何即是。師曰。譬如駕車。車若不行。打車即是。打牛即是。祖無對。師又云。汝學坐禪。為學坐佛。若學坐禪。禪非坐臥。若學坐佛。佛非坐相。於無住法。不應取捨。汝若坐佛。即是殺佛。若執坐相。非達其理。祖禮拜。問如何用心。即合無相三昧。師曰。汝學心地法門。如下種子。我說法要。譬彼天澤。汝緣合故當見其道。祖曰。道非色相。云何能見。師云。心地法眼。能見乎道。無相三昧。亦復然矣。祖曰。有成壞否。師曰。若以成壞聚散而見道者。非見道也。聽吾偈曰。心地含諸種。遇澤悉皆萌。三昧華無相。何壞復何成。祖聞示誨。豁然開悟。侍奉十秋。日益玄奧。後闡化於江西。師問眾曰。道一為眾說法否。眾曰。已為眾說法。師曰。總未見人持個消息來。因遣一僧去。囑曰。待伊上堂時。但問作麼生。伊道底言語記將來。僧去。一如師旨。回謂師曰。道一云。自從胡亂後。三十年不曾少鹽醬。師然之。雪峰寄岩頭語云。一自鰲山成道後。直至於今飽不飢。與此相類。皆因地發心。與果地覺了無同異者也。彼學坐禪。有修有證。即屬生滅法。於無上乘。何啻千里。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là chỉ bày Thấy Tánh Đệ Nhất Nghĩa vậy. Nếu luận về Thấy Tánh, thì chẳng mượn ở công phu huân tập, mà chỉ quán xét Chỗ Nhân Địa Phát Tâm cùng với Quả Địa Giác Ngộ là đồng hay khác. Bởi thế, Thánh nhân không nghĩ suy mà đắc, không gắng sức mà vẫn trúng. Hạng Xích Tử  -(ct) Cái Tâm như con nít vô tư. ) cũng chẳng lo nghĩ mà biết, chẳng học hành mà nên. Chẳng học tập, chẳng lo toan, là cái Nhân; chẳng nghĩ suy, chẳng cố gắng, là cái Quả vậy. Nên nói : “Bậc đại nhân chẳng hề mất cái tâm xích tử. Nhân và Quả vốn khế hợp, tuyệt không có tăng, giảm”. Không thấy Tánh, đâu đủ sức nói lời ấy !

Ngài Mã Tổ khi còn tại núi Nam Nhạc, ở riêng một phòng nơi Viện Truyền Pháp, chỉ tập ngồi thiền, ai đến thăm hỏi đều không màng đến. Đại sư Hoài Nhượng đến cũng chẳng để ý. Đại sư thấy Mã Tổ cốt cách khác thường, bèn nhớ lại lời tiên tri của Đức Lục Tổ, mới dùng những phương tiện dẫn dạy cho.

Một hôm, Đại sư lấy một viên gạch ra trước am mà mài. Mã Tổ cũng không để ý đến.

Lâu lắm, Ngài Mã Tổ mới hỏi : “Làm cái gì thế?”

Đại sư đáp : “Mài để làm cái gương soi !”

Mã Tổ hỏi : “Mài gạch mà thành gương được sao?”

Đại sư nói : “Mài gạch đã không thành gương, thì ngồi thiền hóa lại thành Phật ư ?”

Mã Tổ bèn rời chỗ ngồi thiền, nói : “Như thế nào là phải ?”

Đại sư đáp : “Ví như ngồi xe, xe chẳng đi, thì đánh xe là đúng hay đánh bò là đúng ?”

Mã Tổ không đáp được.

Đại sư lại nói : “Ông học tọa thiền, hay học tọa Phật ? Nếu học tọa thiền thì thiền chẳng phải là chuyện ngồi, nằm. Nếu học tọa Phật thì Phật chẳng phải là cái tướng ngồi, nên trong pháp vô trụ, chẳng có nắm bỏ. Nếu ông tọa Phật tức là giết Phật. Nếu chấp vào tướng ngồi thì chẳng tỏ suốt được lý”.

Mã Tổ bèn lễ bái, và hỏi : “Dụng tâm như thế nào, liền hợp với Vô Tướng Tam Muội ?”

Đại sư nói : “Ông học pháp môn Tâm Địa, như gieo giống xuống. Tôi nói pháp yếu, như trời mưa thấm. Duyên ông thích hợp nên sẽ thấy Đạo”.

Mã Tổ nói : “Đạo chẳng phải là sắc tướng, làm sao có thể thấy ?”

Đại sư nói : “Pháp nhãn Tâm Địa thì thấy Đạo. Vô Tướng Tam Muội cũng thế”.

Ngài Mã Tổ hỏi : “Có thành hoại không ?”

Đại sư nói : “Nếu lấy sự thành hoại, tụ tán mà thấy Đạo, thì chẳng phải là thấy Đạo. Nghe kệ ta đây:


“Tâm địa ngậm muôn giống
Gặp mưa mầm đều sanh
Hoa Tam Muội, vô tướng
Nào hoại với nào thành”.

Mã Tổ nghe qua lời dạy, hoát nhiên khai ngộ. Hầu đại sư mười năm, ngày càng mật nhiệm, về sau hoằng hóa ở Giang Tây.

Đại sư Hoài Nhượng hỏi chúng : “Mã Tổ Đạo Nhất có vì chúng nói pháp không ?”

Chúng đáp : “Đã nói pháp cho chúng rồi”.

Đại sư nói : “Chưa thấy có ai mang tin tức của ông ta đến”.

Bèn sai một nhà sư đi, dặn rằng : “Đợi lúc ông ta thượng đường nói pháp, thì chỉ hỏi : “Làm sao ?” Ông ấy nói thế nào hãy nhớ lấy đem về đây”.

Vị sư đến chỗ Mã Tổ, làm y theo lời đại sư dặn.

Khi trở về, nói với đại sư rằng : “Đạo Nhất nói : “Từ sau loạn rợ Hồ, ba mươi năm nay chưa hề thiếu tương muối””.

Đại sư bằng lòng.

Tổ Tuyết Phong gởi lời cho Tổ Nham Đầu rằng : “Từ khi ở Ngao Sơn thành Đạo về sau, cho đến bây giờ no hoài chẳng đói”.

Thế thì, cũng tương tự với câu trên của Ngài Mã Tổ, đều là Nhân Địa Phát Tâm với Quả Địa Giác Ngộ không có đồng, khác vậy.

Kia học ngồi thiền, có tu có chứng, bèn thuộc về Pháp Sanh Diệt, đối trong chỗ Vô Thượng Thừa, xa bao ngàn dặm !




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, byphuong, dieunha, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 2 3 [4] 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.602 seconds với 25 câu truy vấn.