Tháng Hai 24, 2020, 11:03:21 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3] 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG II -- 首楞嚴宗通經 2  (Đọc 15854 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Ba 13, 2011, 08:27:06 PM »

(tiếp theo)
爾時阿難及諸大眾。蒙佛如來微妙開示。身心蕩然。得無罣礙。是諸大眾。各各自知心遍十方。見十方空。如觀手中所持葉物。一切世間諸所有物。皆即菩提妙明元心。心精遍圓。含裹十方。反觀父母所生之身。猶彼十方虛空之中。吹一微塵。若存若亡。如湛巨海流一浮漚。起滅無從。瞭然自知獲本妙心。常住不滅。禮佛合掌。得未曾有。於如來前說偈贊佛。



II. ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN

Kinh : Lúc bấy giờ, Ông Anan và cả đại chúng nhờ Phật Như Lai vi diệu chỉ bày, thân tâm rỗng rang, không gì chướng ngại. Cả đại chúng ấy, mỗi người đều tự biết Tâm đầy khắp mười phương. Thấy mười phương Không như xem chiếc lá trong bàn tay, tất cả thế gian, hết thảy vật gì cũng đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Tâm Tánh tròn khắp, trùm chứa cả mười phương cõi nước. Nhìn trở lại cái thân cha mẹ sanh ra, như một hạt bụi trong hư không mười phương, như còn như mất. Như biển lớn lặng trong, nổi trôi một bọt nước, khởi diệt chẳng màng. Rõ ràng tự biết, vào được cái Tâm nhiệm mầu xưa nay, thường trụ bất diệt.

Được cái chưa từng có, bèn chấp tay lễ Phật, đối trước Như Lai, nói lên bài kệ xưng tán bậc Giác Ngộ.


通曰。心精遍圓。含裹十方。心量廣大。固自如此。乃至見十方空如手中物及正報身與微塵等。此方會妄歸真。猶存二見。較之身心一如。身外無餘者。尚隔數舍。陸大夫問南泉曰。肇法師也甚奇特。解道天地與我同根。萬物與我一體。泉指庭前牡丹云。大夫。時人見此一株華如夢相似。陸罔措。雪竇頌云。聞見覺知非一一。山河不在鏡中觀。霜天月落夜將半。誰共澄潭照影寒。天童頌云。照徹離微造化根。紛紛出沒見其門。游神劫外問何有。著眼身前知妙存。虎嘯蕭蕭岩吹作。龍吟冉冉洞云昏。南泉點破時人夢。要識堂堂補處尊。古德云。是處是慈氏。無門無善財。即此一切世間諸所有物。皆即菩提妙明元心。於此識得。自知常住不滅。而信漚之即為海也。不見有起滅相。故曰起滅無從。唐順宗問佛光滿曰。佛從何方來。滅向何方去。既言常住世。佛今在何處。滿答曰。佛從無為來。滅向無為去。法身等虛空。常住無心處。有念歸無念。有住歸無住。來為眾生來。去為眾生去。清淨真如海。湛然體常住。智者善思惟。更勿生疑慮。帝又問。佛向王宮生。滅向雙林滅。住世四十九。又言無法說。山河與大海。天地及日月。時至皆歸盡。誰言不生滅。疑情猶若此。智者善分別。滿答曰。佛體本無為。迷情妄分別。法身等虛空。未曾有生滅。有緣佛出世。無緣佛入滅。處處化眾生。猶如水中月。非常亦非斷。非生亦非滅。生亦未曾生。滅亦未曾滅。了見無心處。自然無法說。順宗大悅。裴相國一日入開元寺。見壁畫。乃問寺主。這畫是甚麼。寺主曰。畫高僧。裴云。形影在這裡。高僧在甚麼處。寺主無對。裴云。此間莫有禪師麼。寺主云。有一人。遂請黃檗。相見。乃舉前話問檗。檗召云。裴休。休應諾。檗云。在甚麼處。裴於言下有省。此可為常住不滅證據。故綴錄之。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Tâm Tánh tròn khắp, hết thảy mười phương đều bao trùm trong đó, Tâm Lượng rộng lớn vô biên, nên tự nó như thế. Cho đến thấy mười phương Không như vật trong bàn tay, trong đó có cả Thân Chánh Báo và hết thảy vi trần, đó cũng mới là Hội Vọng Về Chân, dường còn cái Nhị Kiến. So với cái Thấy “Thân tâm nhất như, ngoài thân không vật” vẫn còn cách một sự xả bỏ  -(ct) Nghĩa là có chi đâu mà buông bỏ. ) vậy.

Quan đại phu họ Lục hỏi Tổ Nam Tuyền rằng : “Ngài pháp sư Tăng Triệu thật là kỳ đặc, Ngài nói : Trời đất với ta đồng nguồn, vạn vật cùng ta một thể”.

Tổ Nam Tuyền chỉ cây mẫu đơn trước sân mà nói : “Này đại phu ! Vậy mà người đời thấy cây hoa này như mộng ảo !”
Ông Lục hụt hẫng.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Thấy Nghe Hay Biết đều chẳng phải
Núi sông sao lại thấy trong gương
Trời sương trăng xế, đêm gần nửa
Ai soi bóng lạnh với đầm trong”.

(Văn kiến giác tri phi nhất nhất
Sơn hà bất tại cảnh trung quan
Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán
Thùy cọng trừng đàm chiếu ảnh hàn).

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Soi thấu, ngoài vi đấy cội nguồn
Xôn xao khởi diệt, thấy Diệu Môn
Thần chơi ngoài kiếp, gì là Có ?
Để mắt nhìn ra, biết Diệu Tồn
Cọp rống ào ào hang núi vắng
Rồng ngâm muôn vẻ động mù mây
Nam Tuyền điểm phá người đời mộng
Biết đấy đường đường Bổ Xứ Tôn (Bổ Xứ Phật)”.

Cổ đức nói “Xứ xứ đều là Từ Thị  -(ct) Di Lặc. ). Cửa cửa đều có Thiện Tài”. Đây tức là : tất cả thế gian, mỗi mỗi sự vật đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Ở đó mà biết được thì tự biết cái Thường Trụ Bất Diệt, mà tin hiểu mỗi mỗi bọt nước là toàn thể đại dương. Không thấy ở đâu có tướng khởi diệt, nên nói “Khởi diệt chẳng màng”.

Vua Thuận Tông nhà Đường hỏi Tổ Phật Quang Mãn : “Phật từ đâu mà đến, tịch diệt hướng về đâu mà lui ? Đã nói thường trụ thế, thì nay Phật tại chốn nào ?”

Tổ Mãn đáp : “Phật từ cái Vô Vi đi lại, tịch diệt hướng về cái Vô Vi lui về. Pháp Thân đồng hư không, thường trụ nơi Vô Tâm. Có niệm cũng là Vô Niệm, có trụ cũng là Vô Trụ. Đến, vì chúng sanh mà đến; đi vì chúng sanh mà đi. Biển Chân Như thanh tịnh, thể thường trụ vắng lặng như nhiên. Kẻ trí khéo tư duy, chớ sanh lòng lo nghĩ”.

Vua lại hỏi : “Phật hướng về cung vua mà sanh, diệt hướng về Song Lâm mà tịch, trụ thế bốn mươi chín năm, lại nói chẳng có pháp nào để thuyết. Núi, sông cùng biển lớn, trời đất cho đến trời trăng, đến thời đều diệt tận, ai nói được là không sống chết ? Lòng nghi dường ấy, xin trí giả khéo phân biệt cho”.

Ngài đáp : “Thể Phật vốn Vô Vi, mê tình vọng phân biệt. Pháp Thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt. Có duyên, ấy là Phật xuất thế. Không duyên, ấy là Phật nhập diệt. Chốn chốn giáo hóa chúng sanh, cũng như trăng dưới nước. Chẳng phải Thường cũng chẳng phải Đoạn, chẳng phải Sanh cũng chẳng phải Diệt. Sanh cũng chẳng từng sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Rõ thấy chỗ Vô Tâm, tự nhiên không có pháp nào để nói”.

Vua rất đẹp lòng.

Tướng quốc Bùi Hưu ngày nọ vào chùa Khai Nguyên, thấy bức tranh trên vách, hỏi vị chủ chùa : “Cái ấy vẽ cái gì ?”

Chủ chùa nói : “Vẽ cao tăng”.

Tướng Bùi nói : “Hình ảnh ở đó, cao tăng ở tại chỗ nào ?”

Vị chủ chùa không đáp được.

Bùi Hưu nói : “Ở đây không có thiền sư sao ?”

Chủ chùa nói : “Có một người”.

Bèn thỉnh Ngài Hoàng Bá đến gặp, và kể lại chuyện trước mà hỏi Ngài.

Tổ Bá gọi lớn : “Bùi Hưu !”

Ông Bùi ứng tiếng : “Dạ”.

Tổ Bá nói : “Ở tại chỗ nào ?”

Bùi Hưu nghe xong có chỗ tỉnh ngộ.

Chỗ này đây có thể làm chứng cứ cho cái Thường Trụ Bất Diệt, nên chép vào.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Ba 13, 2011, 08:29:35 PM »

(tiếp theo)

妙湛總持不動尊。首楞嚴王世希有。


Kinh :

Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn
Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có.


定林曰。識精為水。水不搖則名之為湛。所謂圓湛者。清淨本然。周遍法界。不分為六。則湛圓矣。所謂妙湛者。以妙力總持不動。則湛妙矣。所謂覺湛明性者。覺合識精。如日合水而有明性也。所謂湛精圓常者。即圓湛識精也。已滅生滅。故名為常。所謂此湛非是不流。如急流水望如恬靜者。經云。識動見澄。則識有動性。名為想元。自非妙湛總持。則唸唸受熏。習氣暴流。成諸行矣。經於諸行喻如流者。以此。然識比諸行。猶名為湛。所謂湛入合湛者。如波瀾滅。化為澄水。名行陰盡。內內湛明。入無所入。名識陰區宇。則所謂湛入者。識陰也。湛入為識陰。則湛為性識明知。明知即智。智之與識。是識邊際。故說五陰而曰湛入合湛。歸識邊際。性識不名湛入者。周遍法界無出入故。所謂內內湛明入無所入者。湛出為行。行如水流。湛入為識。識滅行陰。則內內湛明。入至想元。更無所入矣。所謂識精者。即阿陀那識也。所謂黏湛者。黏此識精也。此識精者。如水清潔。本無黏性。妄起分別。與色合故。水土雜矣。乃能成黏。若識此識者。如水清潔。本無黏性。能不合色。脫黏內伏矣。湛有圓湛。有妙湛。有覺湛。有精湛。有湛入。有黏湛。如前義。錙銖之分較。盡法之喻也。馬鳴曰。以依不覺。心動為業。覺則不動。夫覺則不動。妙湛總持之謂也。動則為業。遷流而為諸行矣。所謂首楞嚴王者。以首楞嚴定。十地菩薩能得之。故佛則為王也。傅大士一日講經次。帝至。大眾皆起。唯士端坐不動。近臣報曰。聖駕在此。何不起。士曰。法地若動。一切不安。若大士者。真得首楞嚴定矣。僧問姜山方禪師。如何是不動尊。方曰。單著布衫穿市過。僧曰。學人未曉。方曰。騎驢踏破洞庭湖。僧曰。透過三級浪。專聽一聲雷。方曰。伸手不見掌。僧曰。還許學人進向也無。方曰。踏地告虛空。僧曰。雷門之下。布鼓誰鳴。方曰。八華毬子上。不用繡紅旗。僧曰。三十年後此話大行。方便打。姜山自是那邊人。不妨隨流得妙。其如這僧錯認定盤針。難與共語。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ngài Định Lâm nói : “Cái Thức Tinh là Nước. Nước chẳng dao động thì gọi là Trạm, lặng trong. Nói là Viên Trạm  -(ct) Vẹn toàn lặng trong. ), ấy là thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới chẳng chia làm sáu (sáu Thức), tức là Toàn Lặng vậy. Gọi là Diệu Trạm, vì đó là cái Diệu Lực Bất Động tổng trì tất cả, tức là cái Lặng Trong Nhiệm Mầu vậy”.

Nói Tánh Giác Trạm Minh, là Giác hợp với Thức Tinh, như mặt trời hợp với Nước mà có tánh trong sáng. Nói “Trạm Tinh Viên Thường” tức là Thức Tinh Toàn Lặng vậy.

Đã dứt hết sanh diệt, nói là Thường. Nhưng cái Trạm này không phải là không còn chảy, chỉ vì chảy nhanh quá mà nhìn thấy dường như đứng yên đấy thôi. Kinh nói “Cái Thức động, cái Thấy lặng yên”, nghĩa là Thức có tánh động, gọi là nguồn gốc các Tưởng. Thức tự nó chẳng phải là Diệu Trạm Tổng Trì nên niệm niệm chịu huân tập, tạo ra dòng tập khí chảy mạnh, thành ra các Hành. Trong kinh nói các Hành ví dụ như dòng nước, là theo như đây vậy. Nhưng Thức mà so với các Hành thì giống như đứng lặng, nên sau có nói “Lặng yên nhập vào lặng yên”, như sóng diệt thì thành nước lặng yên, mà gọi là Hành Ấm hết tận. Ở trong xa, lặng trong mà sáng tỏ, nhập mà không có chỗ nhập, là lãnh vực của Thức Ấm. Vậy thì nói Trạm Nhập, cái Trong Lặng nhập vào ấy, là Thức Ấm. Trạm Nhập là Thức Ấm, thì Trạm là cái Minh Tri của Tánh Thức. Cái Minh Tri là Trí. Thức nằm trong giới hạn của Trí. Nên nói đến năm Ấm thì nói là “Lặng yên nhập vào Lặng yên”, nghĩa là đưa về trong giới hạn của Thức. Tánh Thức thì không gọi là Trạm Nhập, mà toàn khắp pháp giới, không có xuất, không có nhập.

Chỗ gọi là “Nội Nội Trạm Minh, Nhập Vô Sở Nhập” là cái Trạm (lặng trong) xuất ra thì làm Hành Ấm, cái Hành như nước chảy. Trạm Nhập là Thức, cái Thức diệt hết Hành Ấm, thế là “sâu lại càng sâu, lặng yên trong sáng” cho đến nguồn căn của các Tưởng rốt không có chỗ Nhập (Vô Sở Nhập).

Cái gọi là Thức Tinh tức là A Đà Na Thức. Còn chỗ gọi là làm dính che cái Trạm  -(ct) Niêm Trạm. ), tức là làm dính che cái Thức Tinh này. Thức Tinh này như nước trong sạch, vốn không có tính dính, chỉ vì vọng khởi phân biệt, nên cùng với Sắc hiệp, cũng như nước hòa với đất thành ra sự dính. Nếu biết cái Thức Tinh ấy như nước trong sạch, vốn không có tính dính, thì không hợp với Sắc, thoát ra khỏi sự dán dính.

Trạm có Viên Trạm, Diệu Trạm, Giác Trạm và Tinh Trạm; có Trạm Nhập, có Niêm Trạm như các nghĩa nói ở trước, khác biệt rất ít, toàn là những cách ví dụ.

Ngài Mã Minh nói : “Vì y theo cái Bất Giác nên tâm động mà thành nghiệp. Tánh Giác thì bất động”. Phàm Tánh Giác là chẳng động, tức là cái “Diệu Trạm Tổng Trì” vậy. Động là nghiệp, trôi lăn mà thành các hành vậy. Gọi là Thủ Lăng Nghiêm Vương vì cái Định Thủ Lăng Nghiêm thì hàng Thập Địa thường trụ ở trong đó, nên Đức Phật là vua vậy.

Ngài Phó Đại Sĩ một hôm đang giảng kinh thì nhà vua đến. Đại chúng đều đứng dậy, chỉ có Ngài là ngồi yên chẳng động.
Cận thần báo rằng “Thánh Giá đến đây sao chẳng đứng lên ?”

Ngài nói : “Pháp Địa nếu động, tất cả chẳng an!”

Như Đại Sĩ, quả là thật đắc Định Thủ Lăng Nghiêm vậy.

Có nhà sư hỏi thiền sư Khương Sơn Phương : “Thế nào là Bất Động Tôn ?”

Tổ Phương nói : “Chỉ mặc một áo vải lót đi qua chợ”.

Nhà sư nói : “Kẻ học nhơn chưa hiểu”.

Tổ Phương nói : “Cưỡi lừa đạp phá Động Đình hồ”.

Nhà sư nói : “Thấu qua ba lớp sóng, ròng nghe một tiếng sấm”.

Tổ Phương nói : “Duỗi tay chẳng thấy bàn tay”.

Nhà sư : “Có cho phép kẻ học nhơn này tiến đến hay không ?”

Tổ Phương nói : “Đạp trên đất mà rao bảo hư không”.

Nhà sư nói : “Dưới cửa sấm, đánh trống kêu gì ?”

Tổ Phương nói : “Vào trong trái cầu thêu, chẳng dùng cờ ngũ sắc”.

Nhà sư nói : “Ba mươi năm sau, lời này sẽ thịnh hành”.

Tổ Phương bèn đánh.

Tổ Khương Sơn tự là người ở trong ấy, chẳng ngại theo dòng mà được Diệu. Nhà sư ấy nhận lầm phương hướng nên khó nói cùng nhau.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Ba 13, 2011, 08:33:15 PM »

(tiếp theo)

銷我億劫顛倒想。不歷僧祇獲法身。

Kinh :

Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp,
Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân.


通曰。億劫尚有數可指。阿僧祇。三無數劫也。無始以來。迷真認妄。皆顛倒見。今會妄歸真。獲本妙心。常住不滅。如前如來藏。即法身之謂也。僧問黃檗。教中云銷我億劫顛倒想。不歷僧祇獲法身。如何。檗云。若以三無數劫修行。有所證得者。盡恆沙劫不得。若於一剎那中獲得法身。直了見性者。猶是三乘教之極談也。何以故。以見法身可獲故。皆屬不了義教中收。黃檗出詞吐氣。真是大乘根器。阿難既獲法身矣。何以又曰希更審除微細惑。以見有法身可獲故。太原孚上座。初在揚州光孝寺講涅槃經。有禪者阻雪。因往聽經。至三因佛性三德法身。廣談法身妙理。禪者失笑。孚講罷。請禪者喫茶。白曰。某甲素志狹劣。依文解義。適蒙見笑。且望見教。禪者曰。實笑座主不識法身。孚曰。如此解說。何處不是。曰請座主更說一遍。孚曰。法身之理。猶如太虛。豎窮三際。橫亙十方。彌綸八極。包括二儀。隨緣赴感。靡不周遍。禪者曰。不道座主說不是。祗是說得法身量邊事。實未識法身在。孚曰。既然如是。禪德當為我說。曰座主還信否。孚曰。焉敢不信。禪者曰。若如是。座主輟講旬日。於室內端然靜慮。收心攝念。善惡諸緣。一時放卻。孚一依所教。從初夜至五更。聞鼓角聲。忽然契悟。便去扣門。禪者曰。阿誰。孚曰某甲。禪者咄曰。教汝傳持大教代佛說法。夜來為甚麼醉酒臥街。孚曰。禪德。自來講經。將生身父母鼻孔扭捏。從今以去更不敢如是。禪者曰。且去。來日相見。若孚者真不歷僧祇獲法身矣。僧問利山和尚。不歷僧祇獲法身。請師直指。山曰。子承父業。曰如何領會。山曰貶剝不慈。曰恁麼則大眾有賴去也。山曰。大眾且置。作麼生是法身。僧無對。山曰。汝問我。與汝道。僧問如何是法身。山曰。空華陽焰。且道利山所說法身。與阿難較多少。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ức kiếp thì còn có số để chỉ, còn a tăng kỳ là ba vô số kiếp. Từ vô thủy đến nay mê cái Chân mà nhận lấy Vọng, đều là cái thấy điên đảo. Nay đem Vọng về Chân, được cái Bản Tâm nhiệm mầu, thường trụ, bất diệt. Như ở trước nói Như Lai Tạng, tức là Pháp Thân vậy.

Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá : “Kinh dạy rằng : “Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp. Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, là như thế nào ?”

Tổ Bá nói : “Nếu lấy sự tu hành trong ba vô số kiếp để có chỗ chứng đắc, thì hết hằng hà sa số kiếp cũng chẳng được. Còn nếu trong một sát na mà được Pháp Thân, liền ngay thấy Tánh vậy. Đó cũng là chỗ nói rốt ráo của Tam Thừa. Vì sao thế ? Vì, thấy có Pháp Thân để đắc, tức thuộc về giáo pháp bất liễu nghĩa”.

Tổ Hoàng Bá xuất lời, nhả khí thật là căn khí Đại Thừa.

Ông Anan đã được Pháp Thân sao lại còn nói “Mong được xét trừ lầm vi tế ?” Vì ông còn thấy có Pháp Thân để được vậy.


Thượng Tọa Thái Nguyên Phu ban đầu giảng kinh Niết Bàn ở chùa Quang Hiếu tại Dương Châu. Có một thiền giả vì trời mưa tuyết nhân đó đến nghe kinh. Đến chỗ “Ba cái Nhân của Phật Tánh, ba cái Đức của Pháp Thân”, vị Thượng Tọa đang giảng rộng về diệu lý của Pháp Thân, thiền giả bật cười.

Giảng xong, Thượng Tọa mời thiền giả uống trà, rồi nói : “Chí tôi hẹp cạn, nên y theo văn mà giải nghĩa, bỗng nhờ gặp tiếng cười, xin được nghe chỉ dạy”.

Thiền giả nói : “Quả là tôi cười vì Tòa Chủ không biết Pháp Thân”.

Thầy Phu nói : “Giảng thuyết như thế, chỗ nào chẳng được đúng ?”

Đáp : “Xin Tòa Chủ nói lại một lần nữa !”

Thầy Phu nói : “Cái Lý của Pháp Thân là giống như Thái Hư, dọc suốt ba thời, ngang khắp mười phương, điều hòa Bát Cực, bao gồm Âm Dương, tùy duyên cảm ứng, không đâu chẳng khắp”.

Thiền giả nói : “Tôi không nói Tòa Chủ giảng không đúng. Nhưng ấy là chỉ mới nói được chút ít cái lượng của Pháp Thân, mà quả thật chưa biết Pháp Thân ở đâu”.

Thầy Phu nói : “Đã như thế, xin thiền đức vì tôi mà nói”.

Thiền giả : “Tòa Chủ có tin không ?”

Thầy Phu nói : “Đâu dám chẳng tin”.

Thiền giả nói : “Nếu như thế thì Tòa Chủ tạm ngừng giảng vài ngày, ở trong tịnh thất an nhiên dứt nghỉ, thâu tâm nhiếp niệm, thiện ác các duyên một phen buông bỏ hết”.

Thầy Phu theo đúng lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng mõ, hốt nhiên khế ngộ. Bèn chạy đến gõ cửa.

Thiền giả hỏi : “Ai đó ?”

Thầy Phu đáp : “Dạ, tôi”.

Thiền giả la rằng : “Dạy ông gìn giữ đại giáo, thay Phật thuyết pháp sao nửa đêm lại say rượu nằm đường !”

Thầy Phu nói : “Thiền đức tự đến giảng kinh, đem cái lỗ mũi cha sanh mẹ đẻ của tôi ra mà vặn. Từ nay trở đi, chẳng dám lầm lỗi như vậy nữa”.

Thiền giả nói : “Đi đi, ngày sau gặp nhau”.

Như thầy Phu thật là “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”.


Có nhà sư hỏi Hòa Thượng Lợi Sơn : “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân, xin thầy chỉ thẳng”.

Tổ Sơn nói : “Con nối nghiệp cha”.

Hỏi : “Làm sao lãnh hội ?”

Tổ Sơn nói : “Chê bỏ thì chẳng có lành (từ)”.

Hỏi : “Như thế thì đại chúng đã nhờ được rồi ?”

Tổ Sơn nói : “Đại chúng hãy để đó, thế nào là Pháp Thân ?”

Nhà sư không đáp được.

Tổ Sơn nói : “Ông hỏi, ta nói cho”.

Nhà sư nói : “Thế nào là Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Hoa không, bóng nắng  -(ct) “Không hoa, dương diệm”. )”.

Thử nói xem chỗ nói Pháp Thân của Ngài Lợi Sơn so với Ông Anan xa gần thế nào ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Ba 13, 2011, 08:37:47 PM »

(tiếp theo)

願今得果成寶王。還度如是恆沙眾。


Kinh :
Nguyện nay đắc quả, thành Bảo Vương,
Về độ như thế, hằng sa chúng,


通曰。不歷僧祇獲法身。信位即是。人位未是。故行圓果滿。實證真智。如淨琉璃。內含寶月。乃得成寶王也。至此普觀一切眾生。皆有如來智慧德相。我皆一一而度脫之。眾生無盡。我願無盡。興慈運悲。不容自已。良以佛法僧三寶。為眾生津樑故。洞山初。初參云門。門問近離甚處。曰查渡。門曰。夏在甚處。曰湖南報慈。門曰。幾時離彼。曰八月二十五。門曰。放汝三頓棒。至明日。卻上問訊。昨日蒙和尚放三頓棒。不知過在甚處。門曰。飯袋子。江西湖南便恁麼去。初於言下大悟。遂曰。他後向無人煙處。不畜一粒米。不種一莖菜。接待十方往來。盡興伊抽釘拔楔。拈卻炙脂帽子。脫卻鶻臭布衫。教伊灑灑地作個無事衲僧。豈不快哉。門曰。你身如椰子大。開得如許大口。初便禮拜。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, thì Tín Vị là đúng mà Nhân Vị thì chưa phải. Cho nên, Hạnh tròn Quả mãn, thật chứng Chân Trí, như ngọc lưu ly thanh tịnh, ngậm chứa mặt trăng báu ở trong, mới đắc thành Bảo Vương. Lúc ấy, nhìn khắp tất cả chúng sanh đều có đức tướng Trí Huệ Như Lai, ta đều mỗi mỗi độ hết; chúng sanh vô tận, nguyện này vô tận, từ bi tròn đầy, trong ấy chẳng còn cái ta nữa. Thế mới là Phật, Pháp, Tăng, ba Thể quý báu, là cầu bến của chúng sanh vậy.


Ngài Động Sơn Sơ ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.

Tổ hỏi : “Mới rời chốn nào ?”

Đáp : “Tra Độ”.

Tổ Môn nói : “Nhập hạ ở đâu ?”

Đáp : “Chùa Báo Từ ở Hồ Nam”.

Tổ Môn nói : “Rời chỗ đó khi nào ?”

Đáp : “Ngày Hai Mươi Lăm, tháng Tám”.

Tổ Môn nói : “Tha cho ông ba mươi gậy”.

Sáng hôm sau, Ngài Động Sơn lại đến, hỏi : “Hôm qua nhờ Hòa Thượng tha cho ba mươi gậy, không rõ có lỗi gì ?”

Tổ Môn nói : “Đồ túi cơm ! Giang Tây, Hồ Nam bèn thế ấy !”

Ngài Động Sơn ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói: “Từ nay về sau hướng về chốn bặt không người, không khói, không giữ một hột cơm, không trồng một cọng rau, mà tiếp đãi hết ráo mười phương qua lại. Vì họ mà nhổ đinh tháo chốt, lột bỏ cái mũ thoa dầu, cởi ra cái áo lót hôi thúi, dạy y vĩnh viễn làm ông thầy tu vô sự, há chẳng khoái sao ?

Tổ Môn nói : “Thân ông chỉ lớn bằng trái dừa, sao há miệng lớn thế !”

Ngài Động Sơn bèn lễ bái.


將此深心奉塵剎。是則名為報佛恩。


Kinh :

Nguyện đem toàn thể thâm tâm này,
Phụng sự cõi nước nhiều như bụi,
Thế mới gọi là báo Phật Ân,


通曰。深心二字有味。非淺近可測。塵剎無涯。智悲無量。與佛同慈。足稱報恩矣。臨濟辭黃檗。檗問什麼處去。濟云不是河南。便是河北。檗便打。濟約住。與一掌。檗大笑。乃喚侍者。將百丈先師禪板几案來。濟云。侍者將火來。檗云。雖然如是。汝但將去。已後坐卻天下人舌頭去在。後溈山問仰山。臨濟莫辜負他黃檗也。無仰山曰。不然。溈云。子又作麼生。仰曰。知恩方解報恩。溈云。從上古人。還有相似底也無。仰曰有。秪是年代深遠。不欲舉似。溈曰。雖然如是。吾且不知。子但舉看。仰曰。秪如楞嚴會上。阿難贊佛云。將此深心奉塵剎。是則名為報佛恩。豈不是報恩之事。溈云。如是如是。見與師齊減師半德。見過於師。方堪傳授。又溈山問仰山。臨濟之後如何。仰曰。吳越間有一人。然遇大風則止。溈曰。可奈何。仰曰。將此深心奉塵剎。是則名為報佛恩。後風穴沼得首山念嗣法。人以為仰山再來。若仰山真有深心者。詎可測哉。詎可測哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Hai chữ “thâm tâm” này có cái mùi vị mà hạng thiển cận không thể đo lường nổi. Cõi nước nhiều như bụi, không có bến bờ, Trí Bi vô lượng, cùng với Phật đồng Tâm Từ, mới gọi là báo ơn vậy.

Ngài Lâm Tế từ giã Tổ Hoàng Bá.

Tổ hỏi : “Đi đến chốn nào ?”

Ngài Lâm Tế đáp : “Không phải là Hà Nam, thì là Hà Bắc !”

Tổ Bá liền đánh. Ngài chụp lại rồi thoi một thoi.

Tổ Bá cười lớn, gọi thị giả : “Đem cây thiền bản trên bàn thờ của Tiên Sư Bá Trượng lại đây”.

Ngài Lâm Tế nói : “Thị giả, đem lửa lại đây !”

Tổ Bá nói : “Tuy nhiên như thế, ông hãy đem đi, về sau rồi ngồi trên đầu lưỡi của thiên hạ”.

Sau này, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Lâm Tế há chẳng cô phụ Hoàng Bá đấy ư ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Không đâu”.

Tổ Quy nói : “Con lại còn cho làm sao ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Biết ơn mới biết trả ơn”.

Tổ Quy nói : “Xưa kia cổ nhơn có chuyện tương tự như thế không ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Có chứ, nhưng lâu xa quá nên không muốn nêu ra”.

Tổ nói : “Dầu như thế, ta không biết, con hãy nêu ra đi”.

Ngài nói : “Như ở hội Lăng Nghiêm, Anan tán thán Phật rằng : “Nguyện đem toàn thể thâm tâm này, phụng sự cõi nước nhiều như bụi. Thế mới gọi là báo Phật Ân”. Đó chẳng phải là việc báo ơn sao ?”

Tổ Quy nói : “Thế đấy, thế đấy ! Chỗ Thấy ngang Thầy, thì giảm một nửa Đức của Thầy. Chỗ Thấy hơn Thầy mới nên truyền thọ”.

Lại Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Sau này Lâm Tế như thế nào ?”

Ngài Ngưỡng Sơn đáp : “Khoảng giữa đất Ngô, đất Việt có một người, gặp gió lớn thì ngừng lại”.

Tổ Quy nói : “Vậy là thế nào ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Đem thâm tâm này hiến trần sát. Đó mới gọi là báo Phật Ân !”

Về sau, Ngài Phong Huyệt Chiểu đắc pháp với Ngài Thủ Sơn Niệm. Người ta cho đó là Ngưỡng Sơn trở lại.

Như Tổ Ngưỡng Sơn quả là có thâm tâm, thế nào lường được ư ? Thế nào lường được ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Ba 13, 2011, 08:41:36 PM »

(tiếp theo)

伏請世尊為證明。五濁惡世誓先入。


Kinh :
Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho,
Ngũ trược ác thế, thề vào trước,


通曰。五陰未空。則五濁難破。安能度一切苦厄。唯其得果。已證出世間法。故不妨入廛垂手。以覺覺他。所謂將此深心奉塵剎。必先施此五濁惡世也。阿難業有是願。而此土傅大士足以當之。大士名翕。年十六。納劉氏女妙光。生二子。曰普建。普成。年二十四。鬻其妻若子。為水陸會。間與裡人稽亭浦漉魚。獲已。沉籠水中。祝曰。去者適。止者留。人謂之愚。會天竺僧嵩頭陀語曰。我與汝毗婆屍佛所發誓。今兜率宮衣缽現在。何日當還。因命臨水睹影。見圓光寶蓋。大士笑謂之曰。罏韛之所多鈍鐵。良醫之門足病人。度生為急。何思彼樂乎。嵩指松山頂曰。此可棲矣。大士躬耕而居之。有人盜菽麥瓜果。大士即與籠籃盛去。天嘉二年。感七佛相隨。釋迦引前。維摩接後。唯釋尊數顧共語。為我補處也。直指人心。見性成佛。正法眼藏。自迦葉阿難傳至達磨。已二十八代。此土雖有教典。未聞最上宗風。達摩未至。大士已生。毋乃先入之明證乎。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Năm Ấm chưa Không, thì Năm Trược khó phá, làm sao độ hết thảy khổ ách ? Chỉ có bậc đắc quả, đã chứng pháp xuất thế gian nên chẳng ngại “Thõng tay vào chợ”, lấy Giác mà giác ngộ cho người. Chỗ nói “Đem thâm tâm này hiến trần sát”, tất trước dâng cho đời ác Năm Trược vậy. Cái Nghiệp của Ông Anan là cái Nguyện này. Ở quốc độ này, có Ngài Phó Đại Sĩ đủ sức đảm đương việc đó.

Đại Sĩ tên là Hấp, năm mười sáu tuổi cưới cô gái Diệu Quang nhà Lưu Thị, sanh hai con tên là Phổ Kiến và Phổ Thành. Năm hai mươi bốn tuổi bán vợ con mà làm hội cúng thí các loài dưới nước, trên cạn. Rảnh rỗi thì cùng người trong làng ngăn bờ bắt cá. Bắt được, nhận giỏ cá xuống sông, rồi chú nguyện cho: “Đi thì thả, ở thì giữ”. Ai cũng cho là khùng dại.

Gặp vị Đầu Đà người Ấn là Tăng Tung. Vị này nói : “Ta cùng ông đã phát nguyện ở chỗ Phật Tỳ Bà Thi. Nay y bát vẫn còn ở cung trời Đâu Suất, ngày nào ông trở về ?”. Rồi bảo Ngài ra nơi nước nhìn bóng, thì thấy hào quang và lọng báu.

Ngài cười mà nói : “Nơi lò rèn còn nhiều sắt vụn, nơi cửa thầy thuốc có lắm bệnh nhân. Cứu đời là cần gấp, sao mà nghĩ đến cái vui kia ?”

Vị Đầu Đà chỉ lên ngọn Tùng Sơn mà nói : “Chỗ ấy dừng ở được”.

Đại Sĩ tự mình cày ruộng ở đó. Có người trộm đậu, lúa, dưa, trái Ngài cho luôn giỏ để đựng.

Năm thứ hai đời Thiên Gia thị tịch, cảm ứng có bảy vị Phật cùng theo đưa, đức Thích Ca dẫn đầu, cuối là Ngài Duy Ma Cật. Đức Thích Ca nói mấy lời : “Làm Bổ Xứ cho Ta”.

Chỉ thẳng Tâm người, thấy Tánh thành Phật, Chánh Pháp Nhãn Tạng từ Đức Ca Diếp, Đức Anan truyền đến Tổ Đạt Ma là hai mươi tám đời. Cõi này tuy có kinh điển, nhưng chưa được nghe cái Tông Phong tối thượng. Thế mà Tổ Đạt Ma chưa tới, Ngài Đại Sĩ đã sanh, thế không phải là cái minh chứng cho việc Vào trước hay sao ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Ba 14, 2011, 08:14:27 PM »

(tiếp theo)

如一眾生未成佛。終不於此取泥洹。


Kinh :

Còn một chúng sanh chưa thành Phật,
Rốt chẳng nơi kia nhận Niết Bàn,


通曰。過去無量諸佛。度脫無量眾生。豈能一一成佛。何為遽取涅槃而去。金剛經云。我皆令入無餘涅槃而滅度之。實無有眾生得滅度者。到此境界。不見有佛可成。有眾生可度。亦無有涅槃可入。乃為正見。僧問忠國師。那個是佛心。師曰。牆壁瓦礫是。僧曰。與經大相違也。涅槃曰離牆壁無情之物。故名佛性。今云是佛心。未審心之與性。為別不別。師曰。迷即別。悟即不別。僧曰。經云佛性是常。心是無常。今云不別。何也。師曰。汝但依語而不依義。譬如寒月。水結為冰。及至暖時。冰釋為水。眾生迷時。結性成心。眾生悟時。釋心成性。若執無情無佛性者。總不應言三界唯心。宛是汝自違經。吾不違也。僧曰。教中但見有情作佛。不見無情受記。且賢劫千佛。誰是無情佛耶。師曰。如皇太子未受位時。唯一身耳。受位之後。國土盡屬於王。寧有國土別受位乎。今但有情受記作佛之時。十方國土。悉是遮那佛身。那得更有無情受記耶。僧曰。一切眾生。盡居佛身之上。便利穢污佛身。穿鑿踐踏佛身。豈無罪耶。師曰。眾生全體是佛。欲誰為罪。僧曰。經云佛身無罣礙。今以有為窒礙之物而作佛身。豈不乖於聖旨。師曰。大品經云。不可離有為而說無為。汝信色是空否。僧曰。佛之誠言。焉敢不信。師曰。色既是空。寧有罣礙。僧曰。眾生佛性既同。只用一佛修行。眾生應時解脫。今既不爾。同義安在。師曰。汝不見華嚴六相義云。同中有異。異中有同。成壞總別。類例皆然。眾生與佛。雖同一性。不妨各各自修自得。未見他食我飽。竊又以海漚譬之。一漚既滅。全體即是大海。未見一漚滅時。眾漚皆滅。故不妨各各自修自得。既悟全體是海。則眾漚莫非是水。何眾生而不佛乎。若見眾生皆是佛者。即取泥洹可也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Vô lượng Chư Phật đời quá khứ độ thoát vô lượng chúng sanh. Đâu phải ai ai cũng thành Phật rồi, mà đã nhập Niết Bàn ? Kinh Kim Cang nói: “Ta đều khiến nhập Niết Bàn Vô Dư mà diệt độ, kỳ thật không có chúng sanh được diệt độ”. Đến cảnh giới này thì không thấy có Phật để thành, có chúng sanh để độ, cũng không có Niết Bàn để nhập, mới là Chánh Kiến.

Có vị tăng hỏi Ngài Trung quốc sư : “Cái gì là Phật Tâm ?”

Quốc sư nói : “Tường vách gạch ngói chính là đó”.

Tăng hỏi : “Rất trái với kinh vậy. Kinh Niết Bàn nói “Lìa ngoài vật vô tình tường vách, nên gọi là Phật Tánh”. Nay nói đó là Phật Tâm, chưa rõ Tâm và Tánh là khác hay chẳng khác ?”

Ngài đáp : “Mê thì khác, ngộ tức chẳng khác”.

Tăng nói : “Kinh nói : Phật Tánh là thường, tâm là vô thường, nay nói chẳng khác nhau, là sao vậy ?”

Ngài đáp : “Ông chỉ y vào lời nói, mà chẳng y vào nghĩa. Ví như tháng lạnh, nước kết thành băng. Đến khi trời ấm, băng tan thành nước. Khi chúng sanh mê, thì kết Tánh thành cái tâm. Khi chúng sanh ngộ, rã tan cái tâm thành Tánh. Nếu chấp rằng vô tình không có Phật Tánh, thì rốt ráo chẳng nói được Tam Giới Duy Tâm. Rõ ràng ông tự trái với kinh, ta nào có trái”.

Tăng nói : “Trong kinh giáo chỉ thấy nói hữu tình thành Phật, chẳng thấy có vô tình được thọ ký. Vả lại, ngàn Phật đời Hiền Kiếp có ai là Phật vô tình đâu ?”

Ngài nói : “Như Hoàng Thái Tử khi chưa lên ngôi thì chỉ có một thân. Lên ngôi rồi, toàn quốc độ đều thuộc về vua, há có quốc độ riêng nhận ngôi vị ư? Nay khi chỉ có hữu tình được thọ ký làm Phật, thì mười phương quốc độ đều là thân Phật Tỳ Lô Giá Na, há lại có vô tình được thọ ký ư ?”

Tăng nói : “Tất cả chúng sanh đều ở trên thân Phật, ỉa đái dơ lấm thân Phật, xoi đục dày đạp thân Phật, há chẳng có tội sao ?”

Ngài nói : “Toàn thể chúng sanh là Phật thì còn ai làm tội ?”

Tăng hỏi : “Kinh nói : Thân Phật không quái ngại, nay lấy vật hữu vi chướng ngại mà làm thân Phật, thế chẳng trái với Thánh chỉ ư ?”

Ngài nói : “Kinh Đại Phẩm nói : Không thể lìa hữu vi mà nói vô vi. Ông có tin Sắc là Không chăng?”

Tăng nói : “Lời chân thật của Phật sao dám chẳng tin”.

Ngài nói : “Sắc đã là Không, sao còn quái ngại ?”

Tăng nói : “Chúng sanh vốn đồng Phật Tánh, thì chỉ cần một vị Phật tu hành, khi ấy hết thảy chúng sanh đều giải thoát. Nay đã không thế, thì nghĩa đồng ở đâu ?”

Ngài nói : “Ông chẳng thấy Lục Tướng nghĩa Hoa Nghiêm nói rằng : trong cái Đồng có cái Khác, trong cái Khác có cái Đồng. Tướng Thành, Tướng Hoại, tướng Tổng, tướng Biệt mỗi mỗi đều như thế. Chúng sanh cùng Phật, tuy đồng một Tánh mà chẳng trở ngại mỗi mỗi tự tu tự đắc. Chưa từng thấy người ăn mà mình no. Lấy bọt nước và biển làm thí dụ. Một bọt nước đã tan mất thì toàn thể vẫn vốn là biển cả. Chưa hề thấy một bọt nước tan mà tất cả bọt đều tan. Nên trong cái Tánh ấy đâu có ngại gì mỗi người tự tu, mỗi người tự đắc”.

Đã ngộ khắp hết thảy đều là nước, thì có bọt nào mà không là nước ? Chúng sanh chẳng phải là Phật đấy sao ? Nếu thấy tất cả chúng sanh là Phật, thì bèn ở trong Niết Bàn.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Ba 14, 2011, 08:17:20 PM »

(tiếp theo)

大雄大力大慈悲。希更審除微細惑。

Kinh :

Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi,
Mong xét trừ cho lầm vi tế,



通曰。雄雄之尊。視十地而下。皆其雌也。超十力五力而上之。故曰大力。與樂曰慈。救苦曰悲。必使他心通。方名自性現。故希望世尊審除微細惑也。夫既獲法身矣。何得更有惑在。云門云。直得觸目無滯。達得名身句身。一切法空。山河大地是名身。亦不可得。喚作三昧性海俱備。猶是無風匝匝之波。直得亡知於覺。覺即佛性矣。喚作無事人。更須知有向上一竅在。天童拈云。賓主之諧。二俱有過。各與二十棒。秪如向上一竅又作麼生。犀因玩月紋生角。象被雷驚華入牙。他日又云。光不透脫。有兩般病。一切處不明。面前有物。是一。又透得一切法空。隱隱地似有個物相似。亦是光不透脫。又法身亦有兩般病。得到法身。為法執不忘。己見猶存。坐在法身邊。是一。直饒透得法身去。放過即不可。子細檢點將來有甚麼氣息。亦是病。天童頌云。森羅萬象許崢嶸。透脫無方礙眼睛。掃彼門庭誰有力。隱人胸次自成情。舡橫野渡橫秋碧。桌入蘆華照雪明。串錦老漁懷就市。飄飄一葉浪頭行。乾峰說法身有三種病。二種光。云門如何缺一。諸方道。未到走作。已到住著。透脫無依是三。今少前一種。佛眼道。騎驢覓驢。是一。騎驢了不肯下。是二。少後一種。諸老宿商量法身三種病。微細如是。豈涉教意哉。


*Giải nghĩa rộng ra:-  : Đại Hùng  -(ct) Hùng là con trống. ), vì bậc Thập Địa bên dưới là Thư, con mái. Đại Lực vì vượt quá Ngũ Lực. Cho sự vui là Từ. Cứu khỏi khổ gọi là Bi. Muốn khiến cho cái tâm kia thông suốt mới gọi được là Tự Tánh hiện bày, nên Anan hy vọng Thế Tôn xét trừ cho mê lầm vi tế. Đã được Pháp Thân, sao lại còn điều lầm ?

Tổ Vân Môn nói : “Được ngay sự chạm mắt không vướng ngại, thấu được Danh Thân, Cú Thân tất cả các pháp đều Không, núi sông đất đai là Danh Thân, cũng là bất khả đắc. Gọi đó là Biển Tánh Tam Muội sẵn đủ, như biển không sóng gió. Được ngay sự quên thấy biết nơi cái Giác, Giác là Phật Tánh đó vậy. Gọi là người Vô Sự, nhưng cũng cần biết có một khiếu (lỗ) hướng thượng !”

Tổ Thiên Đồng nêu ra : “Khách, chủ không hòa, cả hai đều có lỗi. Mỗi bên đều cho hai mươi gậy. Còn một khiếu hướng thượng thì làm sao ? Tê giác nhân xem trăng mà sừng sanh vằn. Voi bị sấm hoảng kinh mà hoa in vào ngà”.

Ngày khác, Tổ Vân Môn lại nói : “Ánh sáng không thấu thoát do có hai loại bệnh. Một là tất cả chỗ không sáng, trước mặt có vật. Hai là thấu suốt được tất cả pháp là Không, mà còn có cái mơ hồ tương tự như vật, đó cũng là ánh sáng không thấu thoát. Pháp Thân cũng có hai loại bệnh. Một là đến được Pháp Thân, nhưng vì pháp chấp chưa hết, cái Thấy của mình dường như còn, mà ngồi một bên Pháp Thân. Hai là tuy đã thấu được Pháp Thân mà bỏ đi chẳng được, kiểm điểm kỹ càng trở lại, có chút khí tức gì cũng là bệnh”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Um tùm muôn tượng khá chênh vênh
Thấu thoát không đâu ngại mắt mình
Quét sạch môn đình ai đủ sức ?
Núp trong lồng ngực : tự thành Tình
Thuyền ngang bờ lục, màu thu biếc
Vào đám bông lau, tuyết sáng soi
Xâu sợi ông chài ôm đến chợ
Êm êm thuyền lá mặc buông trôi”.

Tổ Càn Phong nói : “Pháp Thân có ba thứ bệnh, hai thứ ánh sáng, sao Vân Môn lại thiếu đi một thứ?” Các nơi đều nói : “Chưa đến thì chạy quàng. Đến rồi thì bám riết. Thấu thoát không chỗ nương. Đó là ba. Thế là trước thiếu một thứ”. Phật Nhãn nói : “Cỡi lừa tìm lừa, là một. Cỡi lừa rồi chẳng chịu xuống, đó là hai”. Thế là sau còn thiếu một thứ”.

Các tôn túc bàn luận ba thứ bệnh của Pháp Thân, vi tế đến như thế. Đâu có liên quan gì đến kinh giáo ư ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Ba 14, 2011, 08:21:25 PM »

(tiếp theo)

令我早登無上覺。於十方界坐道場。

Kinh :

Khiến tôi sớm lên Vô Thượng Giác,
Nơi mười phương cõi ngồi Đạo Tràng,



通曰。無上覺者。即向上一竅也。於前獲法身及得果。有差別乎。無差別乎。所可云者。佛果有七。曰菩提涅槃真如佛性。庵摩羅識。空如來藏。大圓鏡智。悟菩提。見佛性。即可謂獲法身。見性之後。審除細惑。使生滅滅生俱寂。以合乎涅槃真如。白淨純凝。以合乎庵摩羅識。廓然圓照。以合乎空如來藏。大圓鏡智。乃可謂得果。然未可謂登無上覺也。玩一早字。即頓悟法門。一了百當。不藉勛級。不論凡夫十地。人人可登。佛云。吾有正法眼藏。涅槃妙心。密付迦葉。有何蹤跡影響可得。此即所謂無上覺也。一登此覺。即至佛地。便可於十方界。坐蓮華寶座。為眾說法。龍女尚然。況聲聞弟子乎。藥山在馬祖三年。祖問子近日見處作麼生。山曰皮膚脫落盡。唯有一真實。祖曰。子之所得。可謂協於心體。佈於四肢。既然如是。將三條篾束取肚皮。隨處住山去。山曰。某甲又是何人敢言住山。祖曰不然。未有當行而不住。未有常住而不行。欲益無所益。欲為無所為。宜作舟航無久住此。又德山至溈山。挾復子上法堂。從西過東。從東過西。顧視方丈曰。有麼有麼。溈坐次。殊不顧盼。山曰無無。便出。雪竇著語云。勘破了也。至門首。乃曰。雖然如此。也不得草草。遂具威儀。再入相見。才跨門。提起坐具。曰和尚。溈擬取拂子。山便喝。拂袖而出。雪竇著語云勘破了也。山至晚。問首座。今日新到在否。座曰。當時背卻法堂。著草鞋去也。溈曰。此子已後向孤峰頂上盤結草庵。呵佛罵祖去在。雪竇著語云。雪上加霜。頌曰。一勘破。二勘破。雪上加霜曾險墮。飛騎將軍入虜庭。再得完全能幾個。急走過。不放過。孤峰頂上草裡坐。咄。加此一咄。是雪竇手眼。非登無上覺者。難以了此。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Vô Thượng Giác ấy tức là một khiếu hướng thượng vậy. So với ở trước “Được Pháp Thân và đắc quả”, thì có sai khác ư ? Không sai khác ư ? Chỗ có thể nói là Phật Quả thì có bảy; Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai Tạng và Đại Viên Cảnh Trí.

Ngộ Bồ Đề, thấy Phật Tánh có thể nói là được Pháp Thân. Sau khi thấy Tánh, xét trừ mê lầm vi tế khiến sanh diệt, diệt sanh đều vắng lặng, cùng hợp với Niết Bàn, Chân Như. Trong trắng thuần sạch, hợp cùng A Ma La Thức. Rỗng suốt tròn soi, hợp cùng Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí. Như thế mới có thể gọi là đắc quả, nhưng chưa có thể gọi là lên Vô Thượng Giác.

Xem một chữ Sớm (Tảo  -(ct) Linh ngã tảo đăng Vô Thượng Giác. )) là pháp môn Đốn Ngộ, một hiểu được thì trăm thành ra ngay, không nhờ tu hành thứ bậc, chẳng kể phàm phu hay Thập Địa, ai ai cũng có thể lên.

Đức Phật nói rằng : “Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm mật phó cho Ông Ca Diếp”. Nào có dấu vết tăm hơi gì khá được ư ? Đây tức là Vô Thượng Giác vậy. Một lần lên cái Giác này là đến địa vị Phật, bèn ở mười phương cõi ngồi tòa sen báu, vì chúng sanh thuyết pháp. Long Nữ còn như vậy, huống là bực đệ tử Thanh Văn ư ?

Ngài Dược Sơn ở với Đức Mã Tổ ba năm.

Đức Mã Tổ hỏi : “Gần đây chỗ thấy của ông ra sao ?”

Ngài Sơn nói : “Da dẻ rơi rụng sạch, chỉ còn một cái Chơn Thật”.

Đức Mã Tổ nói : “Chỗ được của ông khá gọi là hợp với Tâm Thể, trải khắp tay chân. Đã như thế thì đem ba miếng cật tre bó giữ da bụng, tùy chỗ mà trụ sơn  -(ct) Dạy chúng. ) đi”.

Ngài thưa : “Tôi là người nào mà dám nói chuyện trụ sơn ?”

Đức Mã Tổ nói : “Chẳng phải thế đâu. Chưa hề có đi mãi mà không đứng lại. Chưa hề có dừng mãi mà không đi. Muốn ích mà không có chỗ ích, muốn làm mà không có chỗ làm, nên làm thuyền bè, không nên dừng lâu ở đây”.

Ngài Đức Sơn đến Tổ Quy Sơn, kẹp một cái áo lót lên nhà giảng, từ Tây sang Đông, từ Đông sang Tây quay nhìn Tổ Quy Sơn mà nói : “Có chăng ?”

Tổ Quy Sơn cứ ngồi, không để ý đến.

Ngài Đức Sơn nói : “Không, không !”

Rồi bỏ đi ra.

(Ngài Tuyết Đậu chú rằng : “Khám phá xong rồi !”)

Ngài Đức Sơn ra đến cửa, bèn nói : “Tuy là như thế, cũng chẳng được buông tuồng”.

Rồi đầy đủ oai nghi, trở vào tương kiến. Vừa qua khỏi cửa, đưa lên cái tọa cụ, nói : “Hòa Thượng !”

Tổ Quy Sơn định lấy cây phất tử. Ngài bèn hét, phất tay áo mà đi ra.

(Ngài Tuyết Đậu chú thêm : “Khám phá xong rồi !”)

Tổ Quy Sơn đến tối hỏi Thủ Tọa : “Cái ông mới đến ngày hôm nay có đây không ?”

Thủ Tọa nói : “Ngay khi ra khỏi nhà giảng thì mang dép cỏ đi luôn rồi”.

Tổ Quy Sơn nói : “Ông ấy về sau lên đỉnh núi đơn độc chót vót kết thảo am, la Phật mắng Tổ đó”.

Ngài Tuyết Đậu chú rằng : “Trên tuyết lại thêm sương !”

Rồi tụng rằng :


“Một khám phá, hai khám phá !
Trên tuyết thêm sương, thêm hiểm họa
Tướng quân bay ngựa vào triều giặc
Về được hoàn toàn có mấy ai ?
Mau chạy qua, chẳng bỏ qua !
Trên đỉnh cô phong, ngồi am cỏ
Ối !”.

Thêm một chữ “Ối” này là ngón nghề kỳ đặc của Ngài Tuyết Đậu. Chẳng lên Vô Thượng Giác khó mà hiểu nổi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Ba 14, 2011, 08:26:53 PM »

(tiếp theo)

舜若多性可銷亡。爍迦羅心無動轉。


Kinh :

Tánh hư không còn có thể tiêu,
Tâm Kim Cang không hề động chuyển,



通曰。舜若多。此云虛空天。爍迦羅。此云堅固。舊說空性無體。尚可銷亡。我心堅固。終無動轉。似阿難發願如此。既願得果成寶王矣。何為復有是願。既已登正覺坐道場矣。又何諄諄於無動轉乎。語本不錯。要知指歸。是當前云妙湛總持不動尊。首楞嚴王世希有。何以曰妙湛。雖湛然不動。而非住著虛空。故謂之妙。若住著虛空而以為不動者。終非一切究竟堅固。阿難意曰。使我十方坐道場。虛空法身亦不住著。而正法眼藏究竟堅固。亦如首楞嚴王妙湛不動云爾。首尾相應。理趣自長。古德云。長者長法身。短者短法身。天童拈云。且道舜若多神。喚什麼作法身。良久云。還會麼。不可續鳧截鶴。夷岳盈壑去也。此語政恐人向虛空裡釘橛去在。疏山上堂。病僧咸通年前。會得法身邊事。咸通年後。會得法身向上事。云門出問。如何是法身邊事。山曰。枯樁。曰如何是法身向上事。山曰非枯樁。門曰。還許某甲說道理也無。山曰許。曰枯樁豈不是明法身邊事。山曰是。曰非枯樁豈不是明法身向上事。山曰是。門曰。秪如法身還該一切也無。山曰。法身周遍。豈得不該。門指淨瓶曰。秪如淨瓶還該法身麼。山曰阇黎莫向淨瓶邊覓。門便禮拜。依然指出非枯樁一條活路。只此非枯樁。正合舜若多性可銷亡之旨曹山。初謁洞山。洞問阇黎名甚麼。曹曰。本寂。洞曰。那個聻。曹曰。不名本寂。洞甚器之。自此入室。盤桓數載。乃辭去。洞遂密授寶鏡三昧。復問曰。子向甚麼處去。曹曰。不變異處去。洞曰。不變異處。豈有去耶。曹曰。去亦不變異。丹霞頌云。家家門掩蟾蜍月。處處鶯啼楊柳風。若謂縱橫無變異。猶如擲劍擬揮空。曹山正偏兼帶。可謂得爍迦羅眼。若認定無變異處。猶有劍存。噫微矣。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Thuấn Nhã Đa  -(ct) Dịch nghiã là Không Tánh, cái thật thể của hư không.

   Trường Thủy Sớ : Thuấn Nhã Đa là Không vậy. Cái tánh của hư không chẳng khá tiêu diệt được. ) (Sũnyata) là Hư Không;

Thước Ca Ra  -(ct) Theo Tạp Danh, Cakravãda (Thước Ca Ra) Là tên núi Thiết Vi Sơn. Theo Tạp Ngữ, Cakra (Thước Kiết), dịch là Kim Cang, luân, tinh tấn.

   Trường Thủy Sớ: Thước Ca Ra nói rằng kiên cố chẳng hư nát vậy. ) (Cakravãda) là kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh Hư Không vô thể còn có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi rốt ráo không động chuyển”. Tựa như Ông Anan phát nguyện như vậy. Đã nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”, sao lại có nguyện này ? Đã “Lên Vô Thượng Giác tọa Đạo Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển” ?

Câu này vốn chẳng có lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy về. Đó là “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn. Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có”, nói ở trước.

Sao nói là Diệu Trạm ? Vì, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng bám giữ hư không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư Không mà cho là bất động, thì rốt cuộc chẳng phải “Cả thảy rốt ráo kiên cố”. Ý Ông Anan là : dù mười phương ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư Không, nên Chánh Pháp Nhãn Tạng rốt ráo kiên cố. Cũng như nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất Động” vậy. Đầu đuôi ứng nhau, lý thú còn lâu dài mãi.

Cổ đức nói : “Dài là Pháp Thân dài, ngắn là Pháp Thân ngắn”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Thử nói xem : Thuấn Nhã Đa sao lại gọi đó là Pháp Thân ?”

Ngài im lặng một lúc rồi nói : “Có hiểu không ? Không thể nối dài con le le mà cắt chân con hạc, phá hòn núi để lấp cái lỗ hang !”

Lời nói này chính là vì sợ người ta hướng về trong hư không mà đóng chết ở trong đó.

Tổ Sơ Sơn thượng đường, nói : “Bệnh tăng rõ hết trước năm (niên tiền), thì hiểu được chuyện bên phía Pháp Thân. Rõ hết sau năm (niên hậu) thì hiểu được chuyện hướng thượng của Pháp Thân”.
 
Ngài Vân Môn bước ra, hỏi : “Thế nào là chuyện bên phía Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Cây Xuân  -(ct) Cây Xuân là một loại cây sống đến mấy ngàn năm. ) khô”.

Hỏi : “Thế nào là chuyện hướng thượng của Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô !”

Hỏi : “Có cho phép tôi nói đạo lý không ?”

Tổ Sơn nói : “Cho”.

Ngài Vân Môn nói : “Cây Xuân khô há chẳng phải tỏ rõ cái chuyện bên phía Pháp Thân sao ?”

Tổ Sơn nói : “Đúng vậy”.

Ngài Vân Môn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô” há chẳng phải tỏ rõ chỗ hướng thượng của Pháp Thân sao ?”

Tổ Sơn nói : “Đúng vậy”.

Ngài Vân Môn nói : “Như thế Pháp Thân bao trùm tất cả phải không ?”

Tổ Sơn nói : “Pháp Thân toàn khắp, sao chẳng trùm hết ?”

Ngài Vân Môn chỉ cái tịnh bình, nói : “Như thế cái tịnh bình có bao trùm Pháp Thân không ?”

Tổ Sơn nói : “Xà Lê chớ hướng về một bên tịnh bình tìm kiếm !”

Ngài Vân Môn bèn lễ bái.

Rõ ràng chỉ ra “Chẳng phải cây Xuân khô” là một con đường sống. Chỉ là cái “Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh thật hợp với ý chỉ “Tánh hư không còn có thể tiêu” vậy.

Ngài Tào Sơn ban đầu ra mắt Tổ Động Sơn.

Tổ Động Sơn nói : “Thầy Xà Lê tên gì ?”

Ngài đáp : “Bổn Tịch”.

Tổ Động Sơn nói : “Hình dạng gì ?”

Ngài đáp : “Chẳng gọi là Bổn Tịch”.

Tổ Động Sơn nói : “Rất là pháp khí vậy”.

Từ đó, được nhập thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ Động Sơn mới mật truyền cho “Bảo Cảnh Tam Muội”, lại hỏi : “Ông hướng chỗ nào đi ?”

Ngài Tào Sơn đáp : “Đi vào chỗ chẳng hề thay đổi”.

Tổ nói : “Chỗ chẳng hề thay đổi lại có đi ư ?”

Ngài nói : “Đi cũng chẳng thay đổi !”


Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Nhà nhà cửa đóng, ánh trăng soi
Chốn chốn oanh kêu dương liễu rung
Nếu bảo tung hoành không đổi khác
Cũng như quăng kiếm chém hư không”.

Tổ Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới  -(ct) Sự Lý viên dung. ), có thể nói là được con mắt kim cang. Như định nhìn nhận chỗ không thay đổi, dường vẫn còn cây kiếm.

Ôi, vi tế, nhỉ !

------------------


(xem tiếp Quyển IV)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Ba 14, 2011, 08:37:46 PM »

(tiếp theo)


LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG - QUYỂN IV

卍新纂續藏經第 16 冊 No. 0318 楞嚴經宗通

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經

卷第四

  爾時富樓那彌多羅尼子。在大眾中。即從座起。偏袒右肩。右膝著地。合掌恭敬。而白佛言。大威德世尊。善為眾生敷演如來第一義諦。世尊常推說法人中。我為第一。今聞如來微妙法音。猶如聾人。逾百步外。聆於蚊蚋。本所不見。何況得聞。佛雖宣明。令我除惑。今猶未詳斯義究竟無疑惑地。世尊。如阿難輩。雖則開悟。習漏未除。我等會中登無漏者。雖盡諸漏。今聞如來所說法音。尚紆疑悔。世尊。若復世間一切根塵陰處界等。皆如來藏。清淨本然。云何忽生山河大地諸有為相。次第遷流。終而復始。又如來說地水火風。本性圓融。周遍法界。湛然常住。世尊。若地性遍。云何容水。水性周遍。火則不生。復云何明水火二性。俱遍虛空。不相凌滅。世尊。地性障礙。空性虛通。云何二俱周遍法界。而我不知是義攸往。惟願如來宣流大慈。開我迷云。及諸大眾。作是語已。五體投地。欽渴如來無上慈誨。



MỤC TÁM :

CHỈ RÕ CĂN NGUYÊN HƯ VỌNG VÀ
TÁNH GIÁC TOÀN VẸN

I. ÔNG MÃN TỪ TỬ  TRÌNH BÀY CHỖ NGHI


Kinh : Lúc bấy giờ, Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối phải chấm dất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng : “Thế Tôn oai đức lớn, khéo vì chúng sanh diễn bày Đệ Nhất Nghĩa Đế của Như Lai. Đức Thế Tôn thường cho rằng trong những người thuyết pháp, tôi là thứ nhất. Nay tôi nghe pháp âm vi diệu của Như Lai, cũng như người điếc, cách ngoài trăm thước, nghe tiếng muỗi mòng vốn đã không thấy, huống là được nghe. Phật tuy tuyên bố rõ ràng, muốn khiến tôi trừ mê lầm, nhưng tôi còn chưa rõ nghĩa rốt ráo, vào chỗ không còn nghi hoặc.

“Bạch Thế Tôn, như các Ông Anan, tuy nghe mà ngộ, nhưng tập khí hữu lậu chưa trừ hết, còn bọn chúng tôi, là những người lên bậc Vô Lậu, tuy sạch hết các lậu, nay nghe pháp âm của Như Lai diễn nói, vẫn còn mắc những điều nghi hối.
“Bạch Thế Tôn, nếu như tất cả Căn, Trần, Xứ, Giới... của thế gian, đều là Như Lai Tạng, thanh tịnh bản nhiên sao bỗng dưng sanh ra có núi sông, đất đai, các tướng hữu vi theo nhau dời đổi, hết rồi lại có ?

“Lại Đức Như Lai còn nói rằng đất nước, lửa gió, tánh vốn viên dung, toàn khắp pháp giới, lặng trong thường trụ. Bạch Thế Tôn, như tánh của Địa Đại là khắp cả, làm sao mà dung được Thủy Đại ? Tánh nước là toàn khắp, thì Hỏa Đại chắc chẳng sanh, làm sao lại phát minh hai tánh Thủy Đại và Hỏa Đại đều khắp cả Hư Không, không xâm lấn tiêu diệt lẫn nhau? Bạch Thế Tôn, tánh của Địa Đại là ngăn ngại, tánh của Hư Không là rỗng suốt, làm sao cả hai Đại ấy đều toàn khắp pháp giới ?

“Nay tôi không biết nghĩa ấy do đâu, xin Đức Như Lai ban bố lòng đại từ, vén mây mê lầm cho tôi cùng hết thảy trong đại chúng”.

Ông Mãn Từ nói thế xong, năm vóc gieo xuống đất, kính mong lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai.



通曰。如來藏妙真如性。名第一義諦。微妙圓融。要在心悟。能悟之者。拈來無不是。用處不生疑。一超即入。何假功勛。如阿難輩。習漏未除。已破粗惑。而細惑尚在。會中登無漏者。雖斷煩惱障。而所知障尚在。滯在功勛位中。安能領悟最上第一義諦。彼諸相虛妄。本自不生。而今疑其生矣。四大清淨。如摩尼珠。隨方現色。似有青黃赤白。而本無有。今疑其相凌奪矣。滿慈子非執相以難性。蓋於本性圓融湛然常住處生疑。彼業已登無漏。於無漏中。徒見其湛。未見其妙湛也。徒見其住。未見其無住也。趙州云。諸方難見易識。我這裡易見難識。則所云猶如聾人逾百步外聆於蚊蚋。豈虛語哉。長水璇法師。問琅玡覺和尚。清淨本然。云何忽生山河大地。覺云。清淨本然。云何忽生山河大地。璇於此有省。且道答他語。不答他語。若道答他。作何道理會。若道不答他。何為遽省去。天童頌云。見有不有。翻手覆手。琅玡山裡人。不落瞿曇後。又僧問韶國師。一切山河大地。從何而起。韶云。此問從何而來。可謂劈腹剜心。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh là Đệ Nhất Nghĩa Đế, viên dung vi diệu, cốt yếu ở chỗ Tâm Ngộ. Người ngộ rồi, đưa ra không gì là chẳng phải, chỗ chỗ dùng chẳng có nghi nan, một phen vượt lên liền đứng vào, nào mượn công lao huân tập ? Như nhóm các Ông Anan, tập khí hữu lậu chưa trừ hết, đã phá các điều mê lầm thô, mà mê lầm vi tế hãy còn. Các vị đã lên hàng Vô Lậu ở trong hội chúng, thì tuy đoạn hết Phiền Não Chướng, mà Sở Tri Chướng vẫn còn, mắc ở trong địa vị có tu tập, làm sao lãnh ngộ cái Đệ Nhất Nghĩa Đế Tối Thượng ?

Các tướng kia là hư vọng, vốn tự chẳng sanh mà nay nghi là có sanh. Bốn đại trong sạch như ngọc Ma Ni, tùy phương mà hiện sắc, tựa hồ có xanh vàng đỏ trắng mà vốn là không có. Thế mà nay nghi rằng chúng xâm lấn nhau ! Chẳng phải là Ông Phú Lầu Na chấp lấy tướng để vấn nạn cái Tánh, mà thật ra, ông ở trong Bản Tánh viên dung lặng trong thường trụ mà sanh nghi. Cái “Nghiệp” của ông là đã lên bậc vô lậu, ở trong vô lậu ấy mới chỉ thấy cái Lặng Trong (Trạm) mà chưa thấy cái Lặng Trong Nhiệm Mầu (Diệu Trạm) của nó, mới chỉ thấy cái Trụ, mà chưa thấy được cái Vô Trụ của nó.

Tổ Triệu Châu nói : “Người ta thì khó thấy mà dễ biết, ta ở trong ấy thì dễ thấy mà khó biết”. Đây là chỗ kinh nói “Cũng như người điếc, cách ngoài trăm thước, nghe tiếng muỗi mòng”, đâu phải là lời hư dối ư ?

Pháp Sư Trường Thủy Tuyền hỏi Hòa Thượng Lang Nha Giác : “Thanh tịnh bổn nhiên sao bỗng dưng sanh núi sông đại địa ?”

Tổ Giác nói : “Thanh tịnh bỗn nhiên sao bỗng dưng sanh núi sông đại địa ?

Thầy Tuyền ở nơi đó tỉnh ngộ.

Hãy nói, như thế là có trả lời câu ấy hay không trả lời câu ấy ? Nếu bảo là có trả lời, thì hiểu đạo lý ấy làm sao ? Nếu bảo không trả lời, thì sao lại tỉnh ngộ ?


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Thấy có, chẳng có
Ngửa tay, úp tay
Cái người trong núi Lang Nha ấy
Chẳng có rớt sau Đức Cù Đàm”.


Lại có nhà sư hỏi Tổ Thiều Quốc Sư : “Hết thảy núi sông đại địa từ đâu mà dấy ra ?

Tổ Thiều nói : “Câu hỏi này từ đâu mà tới ?”

Thật là mổ bụng khoét tim !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Ba 15, 2011, 08:27:09 PM »

(tiếp theo)

爾時世尊告富樓那。及諸會中漏盡無學諸阿羅漢。如來今日。普為此會。宣勝義中真勝義性。令汝會中定性聲聞。及諸一切未得二空回向上乘阿羅漢等。皆獲一乘寂滅場地真阿練若(此云無喧雜)正修行處。汝今諦聽。當為汝說。富樓那等。欽佛法音。默然承聽。佛言。富樓那。如汝所言清淨本然。云何忽生山河大地。汝常不聞如來宣說。性覺妙明。本覺明妙。富樓那言。唯然。世尊。我常聞佛宣說斯義。


II. VÔ MINH ĐẦU TIÊN


Kinh : Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Ông Phú Lâu Na và các vị A La Hán Vô Học hết lậu trong hội này rằng : “Ngày nay Như Lai vì khắp hội này, ở trong thắng nghĩa, hiển bày cái Tánh Chân Thắng Nghĩa. Khiến cho ở trong hội, những hàng định tánh Thanh Văn cùng hết thảy các vị A La Hán, chưa đắc hai pháp Ngã Không và Pháp Không, phát tâm hướng về Thượng Thừa đều được chỗ tu hành chân thật là Nhất Thừa Tịch Diệt, một vị thuần chân. Ông nay nghe kỹ, Ta hiện vì ông mà nói”.

Các Ông Phú Lâu Na kính vâng pháp âm Phật, yên lặng lắng nghe.

Phật dạy : “Phú Lầu Na ! Theo như ông nói, thanh tịnh bổn nhiên sao bỗng dưng sanh núi sông, đại địa ? Ông chẳng thường nghe Như Lai tuyên thuyết “Tánh Giác diệu minh, Bản Giác minh diệu” sao ?”

Ông Phú Lầu Na thưa : “Bạch Thế Tôn, thế đấy, tôi thường nghe Phật tuyên thuyết nghĩa ấy.”



通曰。如來藏為勝諦第一義。此云真勝義性。則直指山河生起之源。令人於源頭覷破。當下便自見性。定性聲聞。雖無諠諍。而寂滅非真。以未證諸法本自寂滅故。阿羅漢雖得人空。未得法空。耽於空寂。未能回向上乘。故至此皆獲一乘。更無餘乘。入佛知見。乃為正修行處也。於性覺則曰妙明。其體本自妙而常明。不因他以有明者也。於本覺則曰明妙。由不思議熏修之力。明知我有是性覺之妙者也。即妙而明。非不明矣。即明而妙。又不滯於明矣。正是當陽顯露處。若覺明便落情識。離覺無明。豈得為妙。故曰覺明為咎。趙州上堂。至道無難。唯嫌揀擇。才有言語。是揀擇。是明白。老僧不在明白裡。是汝諸人還護惜也無。時有僧問。既不在明白裡。護惜個甚麼。州曰。我亦不知。僧云。和尚既不知。為甚麼道不在明白裡。州曰。問事即得。禮拜了退。雪竇頌云。至道無難。言端語端。一有多種。二無兩般。天際日上月下。檻前山深水寒。髑髏識盡喜何立。枯木龍吟銷未乾。難難。揀擇明白君自看。趙州道不在明白裡。是他純是妙則境界。卻教人護惜。略通個明妙底消息。這僧窺見趙州脈路。要與重重發明。乃問既不在明白裡。護惜個甚麼。州曰。我亦不知。灼然明妙。又問和尚既不知。為甚麼卻道不在明白裡。灼然妙明。趙州深許這僧有些見處。問事盡得在。卻教禮拜了退。連累這僧都不在明白裡。更說甚揀擇。雪竇欲與趙州翻案。要揀擇。要明白。三祖信心銘云。至道無難。唯嫌揀擇。趙州著語云。才有語言。是揀擇。是明白。恐落言詮。便屬二義。若是見徹底人。即言語也不妨。所以道言端語端。若離言語。歸在一處。正是枯木岩前差路多。故有多種。若見得頭頭是道。雖言語支離。卻無兩般。所以天際日月。檻前山水。總是這一個。刀斧也劈不開。到此分劑。喜識俱盡枯木龍吟。渾然一妙明真際。豈容易致得。故曰難難。若猶帶喜在。猶帶識在。名幹不盡。猶是覺明用事。所謂清光照眼似迷家。明白轉身還墮位是也。是可無揀擇無明白乎哉。曰君自看。正欲審定此揀擇此明白。果與至道相當否也。三祖曰。但莫愛憎。洞然明白。趙州曰。不在明白裡。雪竇曰。揀擇明白君自看。言人人殊。可謂同參。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Như Lai Tạng là Thắng Đế Đệ Nhất Nghĩa, ở đây nói là Tánh Chân Thắng Nghĩa. Tức là chỉ thẳng cái nguồn gốc sanh khởi ra núi sông, đất đai, khiến cho người ở ngay nơi nguyên đầu mà thấu suốt, lập tức liền tự thấy Tánh.

Hàng định tánh Thanh Văn tuy không còn rộn tạp, nhưng đó là cái tịch diệt chưa chân thật, vì chưa chứng các pháp vốn tự tịch diệt. Bậc A La Hán, tuy đắc Ngã Không mà chưa đắc Pháp Không, mê đắm vào Không Tịch, chưa thể hướng về Thượng Thừa. Thế nên, đến đây đều được Nhất Thừa, chẳng còn Thừa nào khác, nhập Phật Tri Kiến, mới là chỗ chánh tu hành vậy.


Nơi Tánh Giác thì nói Diệu Minh, vì cái Thể ấy vốn tự nhiệm mầu (Diệu) mà hằng sáng (Minh), chẳng do cái nào khác mà sáng. Nơi Bản Giác thì nói là Minh Diệu, vì do lực huân tu bất tư nghì mà rõ biết Tánh Giác nhiệm mầu vậy. Tức là Diệu mà Minh, chẳng có chút Vô Minh nào. Tức là Minh mà Diệu, thì chẳng ngừng trụ nơi cái Minh. Chính đó là chỗ Tâm Vương bày lộ rõ ràng. Còn như cái Giác Minh (A Lại Da) bèn rơi vào Tình Thức, lìa Giác liền là Vô Minh, làm sao nói rằng Diệu ? Nên ở sau, kinh nói : “Cái Giác Minh là lầm lỗi”.

Tổ Triệu Châu thượng đường nói : “Đạo lớn không khó. Chỉ lìa chọn lựa. Vừa có lời nói là rơi vào chọn lựa, là minh bạch ! Lão tăng chẳng ở trong minh bạch, vậy các ông có che chở, thương tiếc cho không ?”

Khi ấy có nhà sư hỏi : “Đã chẳng ở trong minh bạch, thì che chở thương tiếc cái gì ?”

Tổ Châu nói : “Ta cũng không biết”.

Nhà sư nói : “Hòa Thượng đã không biết, sao lại nói chẳng ở trong minh bạch ?”

Tổ Châu nói : “Chỗ hỏi được đó, lễ bái mà lui đi !”


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Tột Đạo không khó, mối đầu ngôn ngữ
Một : có nhiều thứ; hai : không riêng khác
Giữa không, mặt trời lên mặt trăng lặn
Trước vách, nước lạnh, núi sâu.
Sọ khô Thức tận, vui đâu lập ?
Cây khô rồng ngâm, chưa hết khô
Khó, khó !
Chọn lựa minh bạch ông tự xem !””.


Ngài Triệu Châu nói “Chẳng ở trong minh bạch”, đó là cái cảnh giới thuần túy Diệu Minh của Ngài. Lại dạy người che chở thương xót là thông cho biết chút ít tin tức của cái Minh Diệu đó.

Nhà sư trộm thấy lối đường của Ngài Triệu Châu, muốn cùng Ngài trùng trùng mở rõ, bèn hỏi “Đã không ở trong minh bạch, thì che chở thương tiếc cái gì ?” Tổ Châu nói “Ta cũng không biết”, lộ bày cái Minh Diệu rỡ ràng !
 
Lại hỏi, “Hòa thượng đã không biết, sao lại nói chẳng có ở trong minh bạch ?”, thật là cái Diệu Minh rành rành vậy.
Tổ Triệu Châu rất ưng ý vị tăng có ít nhiều thấy biết, chỗ hỏi đều thông suốt, nên dạy “Lễ bái rồi lui”.

Trước sau, vị tăng đều không ở trong minh bạch, thì còn nói chọn lựa gì !

Ngài Tuyết Đậu muốn cùng Ngài Triệu Châu đổi vấn đề, tức là cần chọn lựa, cần minh bạch !

Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán có nói “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”.

Tổ Triệu Châu bèn nói : “Vừa có ngữ ngôn, đã là chọn lựa, đã là minh bạch, chính là sợ người ta rơi vào ngôn thuyết mà thành nghĩa thứ hai”.

Nếu là người thấy rõ suốt thì lời nói cũng không trở ngại, nên Ngài Tuyết Đậu nói “Đầu mối của ngôn, đầu mối của ngữ”. Còn nếu lìa ngôn ngữ, mà về ở một nơi, thì thật là “Cây khô trước hang núi có nhiều lối lạc, nên có nhiều thứ”. Như thấy được mỗi mỗi đều là đạo, thì tuy ngôn ngữ chi ly cũng không có hai thứ. Nên nói “Trên trời mặt trời, mặt trăng, trước hiên nước lạnh”, đều là một Cái Ấy, dao búa chẻ không ra. Đến chỗ này thì phân biệt, trò vui của Ý Thức đều hết sạch, đó là rồng ngâm trong cây khô, hồn nhiên là một cái Diệu Minh Chân Tế. Há dễ đến được ư, nên nói “Khó, khó !”. Nếu còn chút vui mừng, còn chút Ý Thức, thì gọi là “Chưa khô ráo hết”, đó còn là cái dụng sự của Giác Minh.

 Bởi thế mới nói : “Ánh sáng chiếu mắt tợ người mê. Minh bạch chuyển thân địa vị thối đọa”. Như thế thì không có chọn lựa, không minh bạch sao ? Nói “Ông tự xem”, chính là muốn xét định cái chọn lựa này, cái minh bạch này có cùng với cái Chí Đạo tương đương hay không ?

Đức Tam Tổ nói : “Chỉ không thương ghét, suốt nhiên minh bạch !”

Tổ Triệu Châu nói : “Chẳng ở trong minh bạch”.

Ngài Tuyết Đậu nói : “Chọn lựa, minh bạch, ông tự xem !”

Lời nói mỗi người mỗi khác, mà thật là đồng. Tham !




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Ba 15, 2011, 08:31:09 PM »

(tiếp theo)

佛言。汝稱覺明。為復性明。稱名為覺。為覺不明。稱為明覺。富樓那言。若此不明。名為覺者。則無所明。佛言。若無所明。則無明覺。有所非覺。無所非明。無明又非覺湛明性。性覺必明。妄為明覺。


Kinh : Phật bảo : “Ông gọi là Giác Minh, vì Bản Tánh của nó là Minh, nên gọi là Giác. Hay vì cái Giác ấy chẳng Minh, mà gọi là Minh Giác?”

Phú Lâu Na thưa : “Nếu cái ấy mà chẳng có Minh, mà gọi là Giác, thì không Minh chỗ nào cả (Vô Sở Minh)”.

Phật dạy : “Nếu không có chỗ nào để Minh, thì cũng không có cái Minh Giác. Có chỗ thì không phải là cái Giác, không có chỗ thì cũng không có cái Minh. Không có Minh lại chẳng phải là cái Tánh Giác trong lặng sáng suốt. Vậy Tánh Giác vốn là Minh, vọng tưởng mà cho là cái Minh Giác.



通曰。妙之一字。佛所自秘。拈卻妙字。但論覺明。直得十年分疏不下。為性體本明。即昭昭靈靈者。而直名之為覺乎。則墮在明邊。為覺體闇然。有不明處。特加一明字。稱為明覺乎。則墮在不明邊。兩邊俱是荊棘。如何是出身之路。富樓那縱善說法。豈能以無所明而名為覺。故謂若此不明之體。亦名為覺。既無能明。則無所明。斷斷乎性體本明。方名為覺也。明既有所。便是背覺合塵。於性覺離塵之妙相去遠矣。若見其妙。必且曰如來說性覺妙明。即妙而明。非不明也。本覺明妙。即明而妙。則又非明也。非明非不明。離此二途。方名性覺。世尊因其不達此。故告之曰。若汝執言。必有所明。方稱明覺。若無所明。則無明覺。是覺以明不明為存亡也。豈知真覺獨立。遠離能所者乎。若明有所。已離覺位。而不得謂覺矣。若執覺無所。則照燭安施。而不得謂明矣。若一切不明。則是無記性。又非真覺妙湛明性。覺湛明性。無明而無乎不明。非頑空可比。是性覺任運遍知。必然有明。若執定必明。妄生分別。計著不忘。即為明覺。覺必因明。非妙明也。有所無所。總未離所。無明必明。總未離能。性覺之妙。豈若是哉。趙州問南泉。如何是道。泉云。平常心是道。州曰。還可趨向也無。泉曰。擬向即乖。州曰。不擬爭知是道。泉曰。道不屬知。不屬不知。知是妄覺。不知是無記。若直達不疑之道。猶如太虛。廓然蕩豁。豈可強是非耶。州於言下契理。若南泉趙州。卻有如許妙解。惜富樓那猶在理障不免向第二頭分疏。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Một chữ Diệu là chỗ tự bí nhiệm của Phật. Ngắt bỏ ra chữ Diệu, mà chỉ luận cái Giác Minh, thì dù cho có mười năm phân giải cũng chẳng xong ! Vì Tánh Thể vốn là Minh, tức là rỡ rỡ ràng ràng thế, mà gọi là Giác, thì lọt vào giới hạn của Minh, hóa ra Giác Thể có mờ tối, có chỗ chẳng Minh! Còn nếu thêm vào một chữ Minh, gọi đó là Minh Giác, thì lọt vào giới hạn của chẳng Minh ! Hai bên đều là chông gai, vậy thế nào là con đường thoát thân?

Ông Phú Lâu Na dù có giỏi thuyết pháp đi chăng nữa cũng đâu có thể lấy cái không có chỗ để Minh (Vô Sở Minh) mà gọi là Giác được. Thế nên ông mới nói cái thể chẳng Minh ấy mà gọi là Giác, thì đã không có cái Năng Minh, tức cũng không có cái Sở Minh. Rõ ràng là Tánh Thể vốn là Minh mới có thể gọi là Giác. Cái Minh mà đã có chỗ (Sơ), bèn là bỏ Giác mà hiệp trần, thì quá cách xa với cái Diệu của Tánh Giác vốn lìa thoát khỏi trần rồi vậy. Nếu thấy được cái Diệu của nó, thì hiểu rõ Như Lai nói “Tánh Giác Diệu Minh”, tức là Diệu mà Minh, chứ chẳng phải chẳng Minh ! Còn Bổn Giác Minh Diệu, tức là Minh mà Diệu, thì đâu cần phải có Minh nữa ! Chẳng phải Minh chẳng phải bất Minh, lìa hai lối phải và chẳng phải ấy, mới gọi là Tánh Giác.

Đức Thế Tôn vì thấy Ông Phú Lâu Na chưa hiểu thấu chỗ này, nên dạy : “Nếu theo lời ông, thì có chỗ Minh (Sở Minh), mới gọi là Minh Giác, nếu không có chỗ nào để Minh (Vô Sở Minh) thì không có Minh Giác, thì hóa ra Tánh Giác do Minh hay chẳng Minh mà còn hay mất ư ? Ông há không biết Chân Giác là độc lập, lìa xa Năng, Sơ đó sao ?”
Nếu cái Minh mà có chỗ, thì đã lìa ngoài địa vị Giác, không thể gọi là Giác nữa.
Nếu cho cái Giác không có chỗ, rồi bày ra đèn đuốc mà soi, thì không thể gọi là Minh được nữa.
 Nếu tất cả chẳng Minh, thì đó là vô ký, chẳng phải là Tánh Chân Giác Trạm Minh.
Tánh Giác Trạm Minh không cần có Minh mà không đâu chẳng là Minh. Cái ngoan không kia làm sao sánh được !

Cái Tánh Giác nhậm vận biết khắp, tất nhiên là Minh. Nhưng nếu chấp chặt phải là Minh, liền vọng sanh phân biệt, tính toán bám níu không dứt, bèn trở thành cái Minh Giác.

Cái Giác mà còn phải Minh, thì chẳng phải là Diệu Minh vậy. Có sở hay không có sở, rốt vẫn chưa lìa sở.
 Không có Minh hay phải có Minh, toàn chẳng có lìa năng. Cái Diệu của Tánh Giác, há có thể như vậy sao ?

Ngài Triệu Châu hỏi Tổ Nam Tuyền : “Thế nào là đạo ?”

Tổ Nam Tuyền nói : “Bình thường tâm, đó là đạo”

Ngài Triệu Châu hỏi : “Lại có thể noi theo chăng?”

Tổ Tuyền nói : “Định hướng về là đã sai !”

Hỏi : “Không nghĩ suy được thì sao biết đó là đạo?”

Đáp : “Đạo chẳng phải biết, chẳng phải không biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu tỏ suốt cái đạo vốn chẳng có sự nghi ngờ, thì tròn khắp như thái hư, rỗng nhiên trống trải, sao còn có chuyện phải trái ư ?

Ngài Triệu Châu ngay dưới lời nói mà khế ngộ.

Như hai Ngài Nam Tuyền, Triệu Châu mới có diệu giải được như vậy. Tiếc cho Ngài Phú Lâu Na, còn nằm trong lý chướng, chưa khỏi chuyện hướng về đầu thứ hai (nghĩa thứ hai) mà phân giải !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Ba 15, 2011, 08:36:24 PM »

(tiếp theo)

覺非所明。因明立所。所既妄立。生汝妄能。無同異中。熾然成異。異彼所異。因異立同。同異發明。因此復立無同無異。如是擾亂。相待生勞。勢久發塵。自相渾濁。由是引起塵勞煩惱。起為世界。靜成虛空。虛空為同。世界為異。彼無同異。真有為法。



III. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI


Kinh : “Cái Giác không có gì là Sở Minh, thế mà nhân Minh lập nên cái sở. Cái Sở đã vọng lập nên, thì sanh khởi ra cái Vọng Năng  -(ct) Cái Năng dối trá. ) của ông. Trong cái vốn không đồng, không khác bỗng khởi dậy thành có cái khác. Khác với cái khác đã có, nhân cái khác ấy mà lập nên cái đồng. Cái Đồng, cái Khác đã phát minh ra, thì nhân đó mới lập ra lại cái không đồng không khác !

“Như thế mà rối loạn, đối đãi với nhau mà sanh lao nhọc. Lao lự kéo dài sanh ra trần tướng mà làm vẩn đục nhau, do đó mà dẫn khởi ra những trần lao, phiền não. Khởi lên thì có ra thế giới, yên lặng thì thành hư không. Hư không là Đồng, thế giới là Khác. Dầu là không đồng, không khác cũng vẫn là pháp hữu vi.


通曰。覺湛明性。不動周遍。豈有方所。既不落方所。即無同異。此無同異。真無為法也。馬鳴曰。若心有動。非真了知動且不可。況有所乎。一念妄動。認明立所。所立而真覺隱矣。所既妄立。因分別之曰此是所。然能為此者能也。其分別者所。而能分別者又能也。能所既立。同異即形。能必異所。所必異能。本一真覺。本無同異。而熾然成異若此者。則因明立所之故也。豈但成異而已。欲異異相。又立同名。以動則有異。靜唯一同。異者異此無同異之覺也。同者同此無同異之覺也。於中發明。以為異又同。以為同又異。因此復立無同無異。由不生不滅與生滅和合而成阿賴耶識。非一非異。以為同。則五識攬境。六識分別。七識染污。以為異。則五識乃其相分。六識非相分不立。七識非分別無有。此無同無異純是識。興前無同異迥別。前無同異。非有立也。乃不生不滅真性。此無同異。見所立也。乃生滅種子。唯有能所同異影子含藏其中。便為世界眾生業果胚胎。故有同相。有異相。有無同無異相。如是擾亂。能所相待。同異相形。不得清淨。故有勞相。勞相即無明。勞久發塵。自相渾濁。混雜真性曰渾。汩清淨體曰濁。由是引起塵勞煩惱見思二惑。由煩惱故變起依正二報。動成世界。靜成虛空。虛空即上因異立同。雖無能所。卻是頑空。世界即上熾然成異。動為世體。異為界體。有能有所。純是動境。此有同有異指依報也。固是有為粗跡。彼眾生正報。以有心性故。非如世界之異。以有色相故。非如虛空之同。然所有生滅。能無生滅。究竟能有生滅。而離能所者無生滅。至無生滅。無同無異。亦皆有為法也。識有分別故有為。智無分別故無為。有為故有業果諸有為相。無為即無業果諸有為相。山河大地。本自不生。只因明立所。從妄見有爾。僧問雪居膺禪師。山河大地。從何而有。膺曰。從妄想有。僧曰。與某甲想出一錠金得麼。膺便休去。僧不肯。後云門云。已是葛藤。不能折合得。待伊道想出一錠金得麼拈拄杖便打。此是何等作用。故云門以拄杖示眾云。拄杖子化為龍。吞卻乾坤了也。山河大地。甚處得來。雪竇頌云。拄杖子吞乾坤。徒說桃華浪奔。燒尾者不在拏云攫霧。曝腮者何必喪膽驚魂。拈了也。聞不聞。直須灑灑落落。休更紛紛紜紜。七十二棒且輕恕。一百五十難放君。師驀拈拄杖下座。大眾一時走散。於斯徹去。豈但山河依舊。抑且覺明無出頭處。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Tánh Giác Trạm Minh, bất động toàn khắp, nào có chốn nơi. Đã chẳng sa vào nơi, chốn tức là không Đồng-Khác. Cái không Đồng-Khác này, chính là Pháp Vô Vi Chân Thật vậy.

Đức Mã Minh nói : “Nếu nói Tâm có động, thì chẳng phải là hiểu biết rốt ráo”.

Động còn không có, huống là có cái Sở ư ? Vừa một niệm vọng động, liền nhận lấy cái Minh mà lập nên cái Sở. Sở lập thì Chân Giác ẩn mất. Cái Sở vọng lập nên, là do phân biệt mà gọi là Sở. Cái phân biệt đó là Năng. Cái bị phân biệt là Sở, thì cái hay phân biệt là Năng. Năng, Sở đã lập nên, thì cái Đồng, cái Khác bèn hiện hình, vì Năng tức là khác Sở, Sở tức là khác Năng. Vốn là một Chân Giác, vốn không Đồng-Khác, mà hốt nhiên thành Khác.

 Như thế đó, chỉ vì nhân cái Minh mà lập cái Sở vậy. Mà đâu chỉ có thành ra cái Khác mà thôi đâu ! Muốn khác với tướng Khác ấy, lại lập nên cái tên Đồng. Ở trong động, thì có cái Khác, còn tịnh thì chỉ cho là Đồng. Khác ấy, là Khác với cái Giác không đồng, không khác. Đồng ấy, là Đồng với cái Giác không đồng, không khác. Ở trong đó mà phát minh ra, thì cho là Khác mà lại có Đồng, cho là Đồng mà lại có Khác. Bèn nhân đó mà lập thêm cái không Đồng, không Khác. Do cái Chẳng Sanh, Chẳng Diệt hòa hiệp cùng cái Sanh Diệt, mà thành Thức A Lại Da.

Vốn chẳng phải là một, chẳng phải khác. Thế mà cho là Đồng, thì năm Thức liền nắm quyền đối Cảnh, Thức Thứ Sáu hay phân biệt, Thức Thứ Bảy nhiễm ô. Cho là Khác, thì năm Thức bèn là Tướng Phần, Thức Thứ Sáu không có Tướng Phần nên chẳng lập được, Thức Thứ Bảy không có phân biệt nên chẳng có.

Cái không Đồng không Khác này cũng toàn là Thức, so với cái không Đồng-Khác trước kia không do lập mà có, đó là Chân Tánh chẳng sanh chẳng diệt.
Cái không Đồng, không Khác sau này là do lập ra, bèn là chủng tử sanh diệt. Trong ấy độc chỉ có cái bóng dáng của Năng-Sở, Đồng-Khác, mà thành cái phôi thai của nghiệp quả thế giới và chúng sanh. Thế nên có tướng Đồng, có tướng Khác, có tướng không Đồng, không Khác.

Rối loạn lên như vậy, Năng Sở đối nhau, Đồng và Khác cùng thành hình, chẳng được thanh tịnh, mà có ra tướng Lao Nhọc. Tướng lao nhọc là Vô Minh. Lao nhọc kéo dài phát ra Trần Tướng, tự làm vẩn đục nhau.

Trộn lẫn lầm lộn Chân Tánh, gọi là “vẩn”, làm nhiễm cái thể thanh tịnh, gọi là “đục”. Từ đó mà dẫn khởi ra phiền não, trần lao, hai cái Kiến Hoặc và Tư Hoặc.

Do phiền não biến ra hai thứ Y Báo, Chánh Báo. Động là thế giới, tĩnh thành hư không. Hư Không là chỗ ở, trước đã nói “Nhân cái Khác lập nên cái Đồng”, tuy không có Năng và Sở, cũng là ngoan không. Thế giới là chỗ trên nói “Khởi lên mà thành cái Khác”. Động là Thể của “Thế”, Khác là Thể của “Giới”, có Năng có Sở thuần là cảnh động. Cái có Đồng có Khác là chỉ thế giới Y Báo, là dấu vết thô phù hữu vi. Còn chúng sinh Chánh Báo, vì có Tâm Tánh nên chẳng phải như cái “Khác” của thế giới, và vì có Sắc Tướng, nên chẳng phải như cái “Đồng” của hư không. Nhưng cái Sở thì có Sanh Diệt, cái Năng thì không Sanh Diệt. Rốt ráo thì cái Năng cũng là Sanh Diệt. Dù lìa cả Năng và Sở để đến chỗ không Sanh Diệt, không Đồng, không Khác, thì cũng đều là pháp hữu vi.


Cái Thức, vì có phân biệt nên là hữu vi. Cái Trí, không phân biệt nên là vô vi. Hữu vi, nên có các tướng hữu vi là nghiệp quả. Vô vi, tức là không có các tướng hữu vi nên không có nghiệp quả. Núi sông, đất đai vốn chẳng tự sanh, chỉ nhân Minh lập nên Sở, theo Vọng mà thấy có vậy.

Có nhà sư hỏi thiền sư Vân Cư Ứng : “Núi sông đại địa do đâu mà có ?”

Tổ Ứng nói : “Do vọng tưởng có”.

Nhà sư nói : “Thầy tưởng ra cho tôi một nén vàng được không ?”

Tổ Ứng bèn im lặng bỏ đi. Nhà sư không chịu.


Sau này, Tổ Vân Môn nói rằng : “Đã là dây leo chùm gởi, chẳng có thể chặt đứt nối lại được. Hãy đợi y nói “Tưởng ra một nén vàng được không ?”, thì cầm gậy mà đánh !”

Đây là cỡ tác dụng nào ?

Nên Tổ Vân Môn lấy cây trụ trượng dạy chúng rằng : “Cây gậy hóa thành con rồng, nuốt hết càn khôn. Núi sông đất đai còn chỗ nào được nữa ?”


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Cây trụ trượng, nuốt càn khôn
Nói gì chuyện bôn ba ở lãng Đào Hoa  -(ct) Chỗ cá thi làm rồng. )
Thành rồng (đốt đuôi  -(ct) Cá hóa rồng ắt có sấm sét đốt cái đuôi. Ý nói tuyệt hậu sanh. ) đâu phải kéo mây, làm mù !
Thi rớt nào phải vỡ mật kinh hồn
Nêu ra rồi, nghe chẳng nghe !
Ngay đây sừng sững lỗi lạc
Thôi đi trăm mối phân vân
Bảy mươi hai gậy nhẹ tha cho
Trăm năm mươi gậy khó tha ông
Sư vội chụp cây gậy xuống tòa
Đại chúng đồng nhau chạy tứ tán !”.


Ở chỗ này mà thấu triệt thì không chỉ là núi sông vẫn như xưa, mà cái Giác Minh cũng chẳng có chỗ ló đầu ra !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Ba 15, 2011, 08:41:58 PM »

(tiếp theo)

覺明空昧。相待成搖。故有風輪執持世界。因空生搖。堅明立礙。彼金寶者。明覺立堅。故有金輪保持國土。堅覺寶成。搖明風出。風金相摩。故有火光為變化性。寶明生潤。火光上烝。故有水輪含十方界。火騰水降。交發立堅。濕為巨海。干為洲潬。以是義故。彼大海中。火光常起。彼洲潬中。江河常注。水勢劣火。結為高山。是故山石擊則成 。融則成水。土勢劣水。抽為草木。是故林藪遇燒成土。因絞成水。交妄發生。遞相為種。以是因緣。世界相續。



Kinh : “Cái Giác Minh và cái Hư Không vô tri đối đãi nhau thành ra có lay động, cho nên hóa ra phong luân nắm giữ thế giới. Do cái Hư Không mà sanh lay động, phát minh ra tánh cứng thì thành sự ngăn ngại, các thứ Kim quý đều từ Minh Giác lập nên tính cứng, cho nên có Kim luân mang giử cõi nước.

 Giác Minh thành tính cứng, thì thành có Kim quý, rồi lay động mà thành ra Gió. Gió và Kim cọ xát nhau, nên có Hỏa đại làm tánh biến hoá.

Lửa bốc lên, Kim quý sanh ra tánh ướt, mà có Thủy luân trùm khắp mười phương cõi. Lửa bốc lên, Nước sa xuống, giao nhau phát nên tính cứng, chỗ ướt là biển lớn, chỗ khô là gò nổi.

Do nghĩa ấy, trong biển lớn kia, hơi nóng thường bốc lên, trong gò nổi kia, sông ngòi thường chảy xuống.
Thế Nước kém thế Lửa, thì kết thành núi cao, bởi thế đá núi, đập vào thì xẹt Lửa, nung thì chảy ra Nước.
Thế Đất kém thế Nước, nẩy ra làm cỏ cây, cho nên rừng rú đốt thì thành Đất, vắt ra thành Nước.

“Các thứ hư vọng đó giao nhau mà phát sanh, thay đổi làm chủng tử cho nhau. Do nhân duyên ấy, thế giới tiếp tục lẫn nhau.


通曰。清淨本然。云何忽生山河大地。前地水火風空五大皆如來藏。清淨本然。周遍法界。循業發現。寧有方所。其發現者。由眾生業力之故也。眾生業力。由無明始。為無妙湛總持。一念忽動。覺既離空生明。空亦離覺生昧。覺明發識。識精湛不搖處。即水也。空昧結色。即土也。相待成搖。為風為水。即土克水而生木也。因空昧之土生搖為木。而覺明不搖。便成堅礙。即木克土而生金也。金與木合生火。故曰風金相摩。則有火光。火與金合生水。故曰火光上烝。則有水輪。水與火合生土。火騰水降。而洲潬生焉。土與水合復生木。土劣水強。而草木滋焉。巽為風為木。風者其木之性也。前相待成搖。故有風輪。但有木之性爾。至抽為草木。則居然有形之木矣。五行以生剋為夫婦。以相生為父子。子由婦生。必夫劣然後陰陽和而生子。子生而父母之氣存焉。故山石可以成 。可以成水。由水克火之所成也。草木可以成土。可以成水。由土克水之所成也。推之萬物。莫不皆然。余嘗以易配之。若合符節。信乎先聖後聖。其揆一也。覺明發識。為最初湛元。其天一生水義乎。水生東方震巽之木。木生南方離火。火生西南坤土。土生西方兌金。而西北干金復生北方坎水。如環無端。遞相為種。故曰帝出乎震。齊乎巽。震動也。巽為風。非相待成搖之旨乎。震為木。兌為金。東西相對而為夫婦。火於是乎生焉。非即風金相摩之旨乎。離為火。坎為水。南北相對而為夫婦。土於是乎生焉。非即交發立堅之旨乎。坤為地。艮為山。均屬土。萬物之所成始而成終也。故春夏萬物發生。恆於地上而可見。秋冬萬物收斂。恆於地下而不可見。此河圖所以成變化行鬼神。不但妙契流行之用。而亦吻合生起之源。如此世界最下。依風輪住。大地最下。依金輪住。土與金同是堅性。俱屬地大。火不言輪而言變化性者。在外界。則諸大為所遷革。在內界。則諸大隨之生滅。火能鎔散成熟萬物。故曰為變化性。俱舍論謂有情業增上力。先於最下依止虛空。有風輪生。風輪之上。次有水輪。水輪之上。方有金剛。與此稍異。彼約安立。自下升上。以成其次。此約生起。不妨錯綜言之。仰山湧和尚示眾云。一言說盡山河。僧便問如何是一言。山以火箸插向爐邊。卻收舊處。投子頌曰。一句稱提萬象分。摩竭空自掩重門。當初衲子微開眼。插箸爐邊當火焚。若是大徹悟人。視三界起滅於大覺之中。真同漚生漚滅爾。而況本自無生。覓三界相了不可得。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Thanh tịnh bổn nhiên, sao bỗng dưng sanh núi sông đại địa ? Trước kia, năm Đại : Đất, Nước, Lửa, Gió và Không đều là Như Lai Tạng, thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp giới, theo nghiệp mà phát hiện, nào có nơi chốn ? Sự có ra của chúng là do nghiệp lực của chúng sanh. Nghiệp lực của chúng sanh là do Vô Minh từ lúc ban đầu, mất đi cái Tánh Giác Diệu Trạm Tổng Trì, một niệm bỗng khởi động.

Cái Giác đã lìa cái Không mà sanh ra Minh, thì Không cũng lìa Giác mà sanh Muội  -(ct) Mê mờ. ). Cái Giác Minh phát sanh ra Thức. Thức Tinh ở cái chỗ trong lặng chẳng động lay là Nước. Cái Không Muội kết thành Sắc, là Đất vậy. Đối đãi nhau thành ra lay động, thành Gió, thành Nước, do Đất khắc Nước mà sanh ra Mộc. Do Thổ của Không Muội lay động mà sanh ra Mộc, thì cái Giác Minh không lay động bèn thành cứng ngại, tức là Mộc khắc Thổ mà sanh Kim.

Kim cùng Mộc hợp sanh Hỏa, nên nói : “Phong và Kim chà xát nhau mà có ra Hỏa”. Hỏa cùng Kim hợp sanh Thủy, nên nói : “Ngọn lửa bốc lên, nên có ra Thủy luân”. Thủy và Hỏa hợp sanh Thổ, Hỏa bốc lên, Thủy chảy xuống mà sanh ra biển cả, đất liền. Thổ cùng Thủy hợp, lại sanh ra Mộc; Thổ yếu Thủy mạnh, nên thảo mộc tươi tốt.

Tốn là Gió, là Mộc; Phong là tánh của Mộc. Trước đã nói là đối đãi thành ra lay động nên có Phong Luân, thì mới có tánh của Mộc. Đến khi “nảy ra làm cây cỏ” thì Mộc mới rõ ràng có hình tướng.


Ngũ hành lấy sự sinh khắc làm vợ chồng, lấy tương sanh làm cha con. Con do mẹ sanh, ấy là cha yếu; sau đó âm dương hòa, sinh ra con. Con sanh mà khí của cha mẹ vẫn còn, nên đá núi có thể xẹt ra lửa, có thể chảy ra nước. Ấy là do Thủy khắc Hỏa mà thành. Cây cỏ có thể thành Đất, có thể thành Nước, là do Thổ khắc Thủy mà thành vậy. Suy theo đó thì vạn vật đều là như vậy cả. Tôi thường lấy Kinh Dịch so sánh : như hợp với các chi tiết. Mới tin rằng Thánh đời trước với đời sau, cái Đạo là một thôi vậy.

Cái Giác Minh phát sinh ra cái Thức, là nguồn gốc lặng lẽ tối sơ, đó là nghĩa Trời sanh Thủy trước hết vậy. Thủy sanh ra Mộc của Chấn, Tốn ở phương Đông. Mộc sanh ra Ly Hỏa ở phương Nam. Hỏa sanh Khôn Thổ ở Tây Nam. Thổ sanh Đoài Kim ở phương Tây. Mà Càn Kim ở Tây Bắc lại sanh Khảm Thủy ở phương Bắc. Như chiếc vòng không đầu mối, tiếp nối làm chủng tử cho nhau, nên Kinh Dịch nói : Đế xuất ra ở Chấn, tề ở Tốn. Chấn là Động, Tốn là Gió, chẳng phải là cái ý chỉ đối đãi nhau mà sanh động lay ư ? Chấn là Mộc, Đoài là Kim, Đông Tây đối nhau mà làm vợ chồng, Hỏa ở nơi đó mà sanh ra, thế chẳng phải là ý chỉ Phong Kim cọ xát nhau ư ? Ly là Hỏa, Khảm là Thủy, Nam Bắc đối nhau mà làm vợ chồng, Thổ ở nơi đó sanh ra, chẳng phải là ý chỉ “Lửa nước giao nhau mà thành tính cứng” ư ? Khôn là Đất, Cấn là Núi, đều thuộc Thổ, đây là chỗ bắt đầu và chấm dứt của vạn vật vậy. Thế nên, mùa Xuân, mùa Hạ vạn vật phát sanh, ở trên mặt đất, nên dễ thấy. Thu Đông vạn vật thâu góp lại, ở dưới mặt đất, nên không thể thấy.

Bức Hà Đồ, sở dĩ thành biến hóa ngũ hành và quỷ thần, không chỉ hợp với cái dụng lưu hành, mà cũng hợp với nguồn gốc sanh khởi. Chỗ tột đáy của thế giới này, y Phong luân mà trụ, tột đáy của đại địa, thì y Kim luân mà trụ. Thổ và Kim đồng là tính cứng, đều thuộc Địa Đại. Hỏa thì không nói chữ luân vì tánh nó là biến hoá, hay chảy tan và làm chín thành muôn vật.

Câu Xá Luận nói “Cái nghiệp lực của chúng sanh, trước hết ở dưới cùng nơi hư không, mà có Phong luân sanh. Trên Phong luân là Thủy luân. Trên Thủy luân mới có Kim luân”. Đối với đây có khác chút ít. Luận Câu Xá nói về sự an lập, từ dưới lên trên theo thứ tự. Ở đây nói về sự sanh khởi. Chẳng sợ lẫn lộn trở ngại nhau.

Tổ Ngưỡng Sơn Dũng dạy chúng rằng : “Một lời nói trọn hết non sông !”

Có vị tăng hỏi : “Như thế nào là một lời ấy ?”

Tổ Sơn lấy đũa gắp lửa cắm vào phía bên lò, rồi để lại chỗ cũ.


Tổ Đầu Tử tụng rằng :

“Một câu nêu ra trùm muôn tượng
Ma Kiệt thành  -(ct) Ma Kiệt : ở thành này, ngoại đạo hỏi Phật về sự sinh thành vũ trụ, Phật im lặng không nói gì. ) không, tự đóng cửa
Đương sơ thiền tăng mở hé mắt
Cắm đũa bếp bên lò lửa đỏ”.


Nếu là người đại triệt ngộ, thì xem ba cõi khởi diệt trong biển Đại Giác cũng đồng như bọt sanh diệt trong biển cả vậy. Huống là vốn tự vô sanh, tìm tướng của ba cõi, có chỗ nào được !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Ba 15, 2011, 08:49:23 PM »

(tiếp theo)

複次富樓那。明妄非他。覺明為咎。所妄既立。明理不逾。以是因緣。聽不出聲。見不超色。色香味觸。六妄成就。由是分開見覺聞知。同業相纏。合離成化。見明色發。明見想成。異見成憎。同想成愛。流愛為種。納想為胎。交遘發生。吸引同業。故有因緣生羯羅藍(此云凝滑)遏蒲曇(此云泡)等。胎卵濕化。隨其所應。卵唯想生。胎因情有。濕以合感。化以離應。情想合離。更相變易。所以受業。逐其飛沉。以是因緣。眾生相續。


Kinh : “Lại nữa, Phú Lâu Na, cái Minh Vọng đó, chẳng phải là cái gì khác, lỗi là cái Giác Minh. Cái Sở Minh hư vọng đã lập, thì phạm vi của cái Năng Minh không vượt qua được. Do nhân duyên đó, mà nghe không ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt ngoài sắc. Sáu cái vọng : Sắc, Hương, Vị, Xúc... thành lập, do đó mà phân ra có Thấy, Nghe, Hay, Biết.

“Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà có hiệp, có lìa, có thành, có hóa. Cái Thấy mà làm năng minh thì Sắc phát ra, rồi cái năng minh cho cái Thấy thì thành ra có Tư Tưởng. Thấy khác thì thành ra ghét, cùng cái Tư Tưởng thì thành thương. Chảy tràn cái thương yêu làm hạt giống, thu vào Tưởng Niệm làm ra thai. Giao cấu phát sanh, hấp dẫn cái cùng một nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra Yết La Lam  -(ct) Cũng gọi là Ca la la. Tiếng Phạn : Kalala. Dịch nghiã là tạp uế (cái nhơ bẩn, trộn lộn). Là một trong năm địa vị (từng giai đoạn của thai theo thai kỳ) của thai, gọi là thai nội ngũ vị), Át Bồ Đàm... Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh hay hóa sinh tùy theo chỗ mà ứng : noãn chỉ do Tưởng Niệm mà sanh, thai thì do Ái Tình mà có, thấp sanh thì do Cảm mà hợp, hóa sanh thì do Phân Lìa mà ứng ra. Tình và Tưởng, Hợp và Lìa thay đổi lẫn nhau, do đó mà chịu lấy Nghiệp, theo đuổi sự nổi chìm. Do nhân duyên ấy, chúng sanh nối tiếp nhau.


通曰。世界以空昧為體。想澄成國土是也。眾生以覺明為性。知覺乃眾生是也。空昧因覺明而顯。故世界由眾生業力而成。二者相續。皆覺明為咎。是因明立所之妄。非他四大等生。只因認覺為明。遂有所明。所屬相分。能屬見分。四大在器界為疏相分。四大在根身為親相分。所妄既立。遂使六根隔礙。而見分中明理不相踰越。本一圓融寶覺。分為見覺聞知。根塵識三。引起妄業。於是同業相纏。因父母己三者業同。而成胎卵有情之物。合離成化。不由父母。但由己業而成合濕離化之物。其所以吸引同業者。皆見明為之崇也。以妄心見妄境。而色由見發。無見則無色矣。以妄見逐妄色。而想由見成。無見則無想矣。見結為想。識已成情。故同業相引之際。異見成憎。父為所憎境也。同想成愛。母為所愛境也。女人托胎者反是。想流為愛。愛則不離。種於是乎生焉。故愛為輪迴之本。母既納想。想結為氣。胎於是乎成焉。故想為傳命之媒。交遘發生。精血和合。一七凝滑。二七疱。三七軟肉。四七堅肉。五七形位。胎卵皆然。濕化則不必有凝滑與疱也。卵生何以居首。想念初動。情愛後起。而卵又兼胎濕化故也。人亦兼四種生。如毗舍佉彌羅母。三十二子皆卵生。掩鵲羅婆利頂生輪轉聖王。名濕生。佛與四眾遊行。比丘尼中。有比丘尼名阿羅婆。地中化生。故知情變為想。合變為離。原無定業。卵易為胎。濕易為化。亦無定質。逐其飛沉。隨其所應。又無定趣。但以想愛為因。父母為緣。而眾生相續。於是乎無窮矣。大同濟訪龐居士。士曰。憶在母胎時。有一則語。舉似阿師。不得作道理主持。濟曰。猶是隔生也。士曰。向道不得作道理。濟曰。驚人之句。爭得不怕。士曰。如師見解。可謂驚人。濟曰。不作道理。卻作道理。士曰。不但隔一生兩生。濟曰。粥飯底僧。一任檢責。士鳴指三下。又歸宗可宣禪師。因郡守恚師不為禮。窘甚。遂作書寄郭功甫曰。某世緣尚有六年。奈州主抑逼。當寄余喘。托生公家。願無見阻。功甫閱書驚喜。且領之。中夜其妻夢間見師入其寢。失聲曰。此不是和尚來處。功甫撼而問之。妻詳以告。呼燈取書示之。相笑不已。遂孕。及生。乃名宣老。期年記問如昔。至三歲。白雲端抵其家。始見之曰。吾侄來也。端曰。與和尚相 年。宣倒指曰四年矣。端曰。甚處相別。曰白蓮莊上。端曰何以為驗。曰爹爹媽媽明日請和尚齋。忽聞推車聲。端問門外是甚麼聲。宣以手作推車勢。端曰。過後如何。曰平地兩條溝。果六週無疾而逝。蓋由宣老平日不作道理主持。故雖隔生。尚自惺惺乃爾。若有絲毫覺明情想掛於胸中。幾被白雲端勘破。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Thế giới lấy cái Hư Không mê muội làm thể, nên có câu “Cái Tưởng lắng xuống thành quốc độ”. Chúng sanh lấy cái Giác Minh làm tánh, nên có câu “Tri giác là chúng sanh”.

Hư Không mê muội nhân Giác Minh mà hiện bày, cho nên thế giới do nghiệp lực của chúng sanh mà thành. Hai cái nối tiếp nhau, đều là lỗi lầm hư vọng nhân Minh mà lập cái Sở vậy. Chẳng phải tứ Đại kia có sanh ra. Chỉ vì nhân nhận cái Giác làm cái Minh, mới có cái Sở Minh. Sở thì thuộc Tướng Phần, Năng thì thuộc Kiến Phần. Tứ đại ở ngoài thế giới là Sơ Tướng Phần, tứ Đại ở thân thể là Thân Tướng Phần. Cái Sở đã vọng lập nên, bèn khiến cho sáu Căn cách ngại, nên trong Kiến Phần, phạm vi của cái Sáng không thể vượt qua khỏi sáu Căn.

Vốn chỉ là cái Giác Vô Thượng, viên dung, nay lại chia thành Thấy, Nghe, Hay, Biết thành ra ba thứ Căn, Trần, Thức dẫn khởi lên cái Nghiệp hư vọng. Từ đó cùng một Nghiệp ràng buộc nhau, có cha, mẹ và mình là ba thứ cùng Nghiệp, mà thành thai, noãn là vật hữu tình. Còn thấp sanh và hóa sanh, không do cha mẹ, chỉ do Nghiệp của mình mà thành vật. Lý do hấp dẫn đồng nghiệp, đều là do Thấy có mình mà ra.

Lấy vọng tâm mà thấy vọng cảnh, thì sắc do cái thấy mà phát sanh, không có cái thấy tức là không có sắc vậy. Lấy cái vọng thấy mà đuổi theo đám vọng sắc, thì cái Tưởng Niệm bèn do cái thấy mà thành, không có cái thấy thì không có Tưởng vậy. Cái thấy kết nhóm thành cái Tưởng, biết có mình thì tự thành Tình. Đó là sự kết hợp của đồng nghiệp, hấp dẫn nhau. Thấy khác thì thành thương, nên mẹ là chỗ mà mình thương. Con gái ở trong thai thì ngược lại. Tưởng chảy tràn thì thành sự thương, thương thì chẳng rời, mầm mống chủng tử sinh ra ở đó vậy. Nên thương yêu là gốc rễ của luân hồi. Mẹ đã thu nạp cái Tưởng, Tưởng kết lại thành khí huyết, thai thành ở đó vậy. Cho nên, cái Tưởng là môi giới của sự nối truyền sinh mạng, từ giao cấu mà phát sanh hình thể. Tinh huyết hòa hợp, một tuần chất lỏng đông lại, hai tuần là cái bọc, ba tuần là thịt mềm, bốn tuần là thịt chắc, năm tuần có hình thể, thai hay trứng đều như thế. Thấp sanh, hóa sanh thì cũng chẳng qua tiến trình đông đặc và bao bọc.

Noãn sanh vì sao để ở trước tiên ? Vì Tưởng Niệm khởi động trước, sau mới có Tình Ái. Hơn nữa, noãn lại gồm cả thai, thấp hóa vậy.

 Loài người cũng có đủ bốn thứ sanh. Như bà Tỳ Xá Khê Nhĩ La có ba mươi hai người con dều là noãn sanh (Luận Câu Xá). Bà Yểm Thước La Bà Lợi Đảnh sanh một vị Chuyển Luân Thánh Vương  -(ct) Tích xưa, có vua tên Bố Sát Đà Vương, trên đầu bỗng sanh một bọc mụt, trong bọc mụt sanh ra một đứa con. Lớn lên làm Kim Luân Vương, xưng là Đảnh Sanh Vương. Đảnh Sanh Kim Luân Vương chinh phục bốn châu thiên hạ, rồi lên cung trời Đao Lợi muốn hại Đế thích để thay ngôi. Việc chẳng thành, trở về đất lại, bị bệnh chết. Đảnh Sanh Vương ấy nay là Thích Ca Phật đó. ), gọi là thấp sanh. Đời Đức Phật, trong tứ chúng có một Tỳ kheo ni tên A La Bà, từ trong đất hóa sanh ra. Do đó mà biết rằng Tình biến ra Tưởng, hợp biến ra lìa, vốn chẳng có Nghiệp nhất định. Noãn đổi thành thai, thấp đổi ra hóa, cũng không có định chất. Chỉ theo nghiệp mà lên xuống, tùy theo chỗ mà ứng hiện ra, không có nẻo đường nhất dịnh. Chỉ do Tưởng Ái làm nhân, cha mẹ làm duyên, mà chúng sanh tiếp nối, như vậy đến vô cùng.

Ngài Đại Đồng Tế đến thăm Bàng cư sĩ.

Bàng Cư sĩ nói : “Nhớ lúc trong thai mẹ, có một tắc ngữ, xin đưa ra với thầy, cốt chẳng được làm đạo lý”.

Ngài Tế nói : “Giống như cách đời vậy”.

Cư sĩ nói : “Đã nói chẳng được làm ra đạo lý.

Ngài Tế nói : “Câu nói kinh người, há chẳng sợ sao ?”

Cư sĩ nói : “Như kiến giải của thầy, có thể nói là kinh người !”

Ngài Tế nói : “Chẳng làm ra đạo lý, lại làm ra đạo lý !”

Cư sĩ nói : “Không chỉ cách một đời, hai đời !”

Ngài Tế nói : “Ông thầy cơm cháo này, cứ việc tra xét lỗi lầm !”

Cư sĩ búng tay ba tiếng.


Lại có thiền sư Quy Tông Khả Tuyên, nhân ông Quận Thú tức giận chẳng đúng theo lễ cửa quan, bức bách Ngài quá lắm. Ngài bèn viết thơ cho Ông Quách Công Phủ rằng : “Duyên đời của tôi còn sáu năm, nay Ông Quận Thú bức bách phải chết, sắp phó thác cái sanh ra sự bực tức còn dư lại ấy, mà thác sanh nhà ông, xin ông đừng lấy làm ngại.”.

Ông Phủ xem thơ vừa sợ vừa mừng. Nửa đêm, bà vợ nằm mộng thấy sư vào chỗ ngủ, la lên rằng : “Đây chẳng phải là chỗ để Hòa Thượng đến !” Ông Phủ lay bà vợ hỏi, bà liền thuật lại rõ ràng. Gọi lấy đèn đọc thơ, cùng nhau vui mừng không dứt. Bèn mang thai, đến khi sanh ra, đặt tên là Tuyên Lão. Đúng năm như đã báo trước.

Năm ba tuổi, có Ông Bạch Vân Đoan đến nhà, Tuyên Lão mới thấy thì bảo : “Cháu tôi đến vậy”.

Ông Đoan hỏi : “Xa Hòa Thượng mấy năm rồi ?”

Tuyên Lão đếm ngón tay nói : “Bốn năm rồi.”

Ông Đoan hỏi : “Xa nhau ở chỗ nào ?”

Đáp : “Ở trại Bạch Liên.”

Ông Đoan nói : “Lấy gì để nghiệm.”

Đáp : “Ba má ngày mai mời Hòa Thượng độ trai.”

Bỗng nghe tiếng xe đẩy tới.

Ông Đoan hỏi : “Ngoài cửa đó là tiếng gì ?”

Tuyên Lão dùng tay làm bộ đẩy xe. Ông Đoan hỏi : “Về sau như thế nào ?”

Đáp : “Bình địa lưỡng đầu câu  -(ct) Chữ Lục )”.

Quả nhiên, sáu năm sau không bệnh mà mất. Đó là do Tuyên Lão thường ngày chẳng có cốt làm đạo lý, nên tuy cách dời, mà vẫn tỉnh thức như vậy. Nếu còn chút tơ hào tình tưởng Giác Minh treo trong ngực, thì đã bị Ông Bạch Vân Đoan khám phá ra rồi !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 2 [3] 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.201 seconds với 25 câu truy vấn.