Tháng Hai 28, 2020, 03:57:15 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG II -- 首楞嚴宗通經 2  (Đọc 15861 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 06:38:31 AM »

(tiếp theo)

阿難。如汝所明眼色為緣。生於眼識。此識為復因眼所生。以眼為界。因色所生。以色為界。阿難。若因眼生。既無色空。無可分別。縱有汝識。欲將何用。汝見又非青黃赤白。無所表示。從何立界。若因色生。空無色時。汝識應滅。云何識知是虛空性。若色變時。汝亦識其色相遷變。汝識不遷。界從何立。從變則變。界相自無。不變則恆。既從色生。應不識知虛空所在。若兼二種。眼色共生。合則中離。離則兩合。體性雜亂。云何成界。是故當知眼色為緣。生眼識界。三處都無。則眼與色。及色界三。本非因緣。非自然性。


Kinh : “Anan, như chỗ ông bày tỏ : Nhãn căn và sắc trần làm duyên, sanh ra Nhãn Thức. Cái Thức này là nhân nhãn căn sanh ra, lấy nhãn căn làm Giới; hay nhân sắc trần sanh ra, lấy sắc trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân nhãn căn sanh ra, mà không có Sắc, có Không, thì không thể phân biệt, dầu cho có cái Thức của ông cũng chẳng làm gì. Cái Thấy của ông mà không có xanh, vàng, trắng, đỏ thì không thể biểu hiện ra được, vậy do đâu mà lập ra Giới ?

“Nếu nhân sắc trần sanh ra, thì khi ở hư không, chẳng có sắc, lẽ ra cái Thức của ông phải diệt mất, làm sao mà biết đó là hư không ? Nếu khi sắc trần biến đổi, ông cũng biết sắc tướng biến đổi, mà cái Thức của ông chẳng biến đổi, thế thì do đâu mà lập sắc trần làm Giới ? Nếu theo sắc mà biến đổi thì cái Giới không thành. Nếu không biến đổi, tức là thường hằng, cái Thức đã từ sắc sanh ra, lẽ ra không biết hư không ở chỗ nào.

“Nếu do cả hai thứ nhãn căn và sắc trần chung nhau sanh ra, thì hợp lại ắt ở giữa phải có chỗ lìa; còn như lìa, ắt hai cái có thể hợp lại. Như thế, thể tánh xen lộn, làm sao thành được Giới ?

“Thế nên, phải biết : Nhãn căn, sắc trần làm duyên sanh ra Nhãn Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là cả ba thứ Nhãn Giới, Sắc Giới và Nhãn Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。此十八界。但破六識。故謂此識不從眼生為界。識主分別。使無色空。分別安施。亦不從色生為。界。色有變滅。識無變遷。若俱從色。何為辨空。亦不從眼色合生為界。將謂闔眼與色生乎。以有知合無知。必扞格不相入。故曰中離。將謂離眼與色生乎。離根則合境。離境則合根。識將誰屬。故曰雜亂三處俱非。界於何有。法眼指竹問僧。還見麼。僧曰。見。眼曰。竹來眼裡。眼到竹邊。僧曰。總不恁麼。後法燈別云。當時但擘眼向師。歸宗柔別云。和尚秪是不信某甲。這二轉語。卻者衲僧氣息。又僧問天童啟禪師。如何是應用無虧的眼。童云。恰如瞎一般。丹霞頌云。盲聾瘖啞迥天真。眼似眉毛道始鄰。昨夜東君潛布令。黃鶯啼處綠楊春。於此信得及。一任應用無虧。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái Mười Tám Giới này, chỉ phá sáu Thức. Nói cái Thức này chẳng phải từ mắt sanh ra mà lấy mắt làm Giới, vì Thức thì phân biệt, nhưng nếu không có Sắc, Không thì phân biệt dùng vào đâu?
Cái Thức này chẳng phải từ sắc sanh ra mà lấy sắc làm Giới, vì sắc thì có biến diệt, Thức thì không đổi thay, nếu chỉ từ sắc mà ra thì làm sao biện không ?

Thức ấy cũng không nhân nhãn và sắc hợp lại mà làm ra Giới. Vì một bên có Biết (nhãn căn) hợp với một bên không Biết (sắc trần) ắt chống nhau, làm sao mà tương nhập ? Nên nói “Ở giữa phải có chỗ lìa”.

Bảo rằng lìa ngoài nhãn và sắc mà sanh ư ? Lìa căn tức là hợp với cảnh, lìa cảnh tức phải hợp với căn, vậy Thức thuộc bên nào ? Thế nên mới nói “Xen lộn”.

Ba chỗ đồng chẳng phải, thì Giới ở đâu mà có ?

Tổ Pháp Nhãn chỉ cây tre, hỏi vị tăng : “Thấy không ?”

Vị tăng đáp : “Dạ, thấy”.

Tổ Nhãn nói : “Tre đến trong mắt hay mắt đến bên tre ?”

Vị tăng nói : “Đều chẳng phải như thế”.

Sau này, Tổ Pháp Đăng riêng nói : “Khi ấy, chỉ nên bửa mắt ra mà ngó thầy”.

Tổ Quy Tông Nhu riêng nói rằng : “Hòa Thượng chỉ là chẳng tin hai chuyển ngữ của tôi lại có hơi thở của thiền tăng”.
Lại có vị tăng hỏi Tổ Thiên Đồng Khải : “Như thế nào là con mắt ứng dụng không thiếu hụt ?”

Tổ Đồng nói : “Vẹn giống như mù một thứ !”


Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Mù, ngọng, điếc, câm xa Thiên Chân
Mắt tợ lông mày : Đạo mới gần
Đông Quân đêm trước ngầm ban lệnh
Chốn hoàng oanh hót liễu xanh xuân”.

Ở chỗ này mà tin được thấu đáo thì mặc tình ứng dụng không thiếu hụt.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 06:41:13 AM »

(tiếp theo)

阿難。又汝所明耳聲為緣。生於耳識。此識為復因耳所生。以耳為界。因聲所生。以聲為界。阿難。若因耳生。動靜二相。既不現前。根不成知。必無所知。知尚無成。識何形貌。若取耳聞。無動靜故。聞無所成。云何耳形雜色觸塵。名為識界。則耳識界復從誰立。若生於聲。識因聲有。則不關聞。無聞則亡聲相所在。識從聲生。許聲因聞而有聲相。聞應聞識。不聞非界。聞則同聲。識已被聞。誰知聞識。若無知者。終如草木。不應聲聞雜成中界。界無中位。則內外相復從何成。是故當知耳聲為緣。生耳識界。三處都無。則耳與聲。及聲界三。本非因緣。非自然性。

Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Nhĩ căn và thanh trần làm duyên, sanh ra Nhĩ Thức. Thức ấy nhân nhĩ căn sanh ra, lấy nhĩ căn làm Giới, hay nhân thanh trần mà sanh ra, lấy thanh trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân nhĩ căn sanh ra mà không có mặt hai tướng động, tĩnh thì cái biết của căn chẳng thành. Mà đã không biết gì thì cái Biết còn không thành huống là cái Thức phân biệt còn có hình dạng gì ?

“Nếu nhân lỗ tai nghe, mà không có động, tĩnh cái Nghe cũng không thành, làm sao lấy hình tướng lỗ tai trộn lẫn sắc trần, mà gọi được là Nhĩ Thức Giới. Cái Nhĩ Thức Giới ấy do đâu mà thành lập ?

“Nếu nhân thanh trần mà sanh ra, thì cái Nhĩ Thức nhân thanh trần mà có, bèn chẳng liên quan gì đến cái Nghe, mà đã không nghe, thì cũng không biết các tướng thanh trần ở đâu. Nhĩ Thức mà do thanh trần sanh ra, dầu cho rằng thanh trần do cái Nghe mà có tướng, thì cái Nghe lẽ ra phải nghe được Nhĩ Thức. Nếu không nghe được Nhĩ Thức thì thanh trần chẳng phải là Giới của Nhĩ Thức. Còn nếu nghe được, thì Nhĩ Thức cũng đồng với thanh trần. Nhĩ Thức đã bị nghe, thì cái gì biết sự nghe được cái Nhĩ Thức đó ? Còn nếu không ai biết thì rốt cuộc giống như cỏ cây.

“Chẳng lẽ thanh trần và cái Nghe trộn lẫn thành ra cái Giới ở giữa ? Giới không có ở giữa thì các tướng nội căn, ngoại trần do đâu mà thành ?

“Thế nên, phải biết : Nhĩ căn, thanh trần làm duyên sanh ra Nhĩ Thức Giới, cả ba chỗ ấy đều không. Tức là ba thứ Nhĩ Giới, Thanh Giới và Nhĩ Thức Giới vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。小乘所解因緣生法。以為實有。不了即空。故據彼平日所聞而分破之。若因耳生。耳有勝義根。有浮塵根。勝義根屬分別。若無聲塵相觸。知且無之。況相形貌。浮塵根但雜形色。若無動靜二相。聞且無之。況有識界。故謂識生於耳者妄也。若因聲生。聲自有識。不藉於問。既無能聞。誰辨聲相。如謂相因而生。許聲因聞而有聲相。則亦許聞因聲而聞聞識。識已被聞。與聲塵等。誰為能知。知此聞識。若有知者。則有二識。若無知者。即同草木。故謂識生於聲者妄也。若謂聲聞二者。和合而生。一半有知。一半無知。有知無知之間。何以雜成中界。中位既無。識無所依。則內而根。外而塵。從何成就。故謂聲聞合生者妄也。三處都無。耳識不生。故知耳識無生者。即真如性也。世尊嘗在尼俱律樹下坐次。因二商人問世尊還見車過否。曰不見。又問還聞否。曰不聞。商人曰。莫禪定否。曰不禪定。曰莫睡眠否曰不睡眠。商人乃。嘆曰。善哉善哉。世尊覺而不見。遂獻白 氎 兩段。有僧嘗問荷澤會禪師。見聞照聲色時。唯復抗行耶。唯有先後。會曰。抗行先後即且置。汝畢竟將什麼作聲色。僧曰。如師所論。則無聲色可得也。於是再拜。即日發去。後隱於蒙山。西天有聲明三藏至閩。閩帥請玄沙辨驗。沙以鐵火箸敲銅爐。問是甚麼聲。藏曰。銅鐵聲。沙曰。大王莫受外國人謾。藏無對。天童拈云。理契則神。貧子獲衣中之寶。情封則物。力士失額上之珠。三藏秪解瞻前。玄沙不能顧後。還知麼。誣人之罪。以罪加之。此則公案。諸老宿為出語者甚眾。藏曰銅鐵聲。分明逐聲塵去也。法眼別云。請大師為大王。法燈別云。聽和尚問。雪竇別云。莫謾外國人好。至藏無對處。法眼代云。大師久受大王供養。法燈代云。卻是和尚謾大王。此語最有味。天童所謂誣人之罪以罪加之者也。據玄沙意。喚甚麼作銅鐵聲。代三藏意。喚甚麼不是銅鐵聲。二語極易謾人。須一一覷透。方不受人謾。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Tiểu thừa cho rằng “Nhân Duyên sanh ra pháp”, lấy đó làm thật có, chẳng hiểu được “Tức Không” nên Phật căn cứ vào chỗ Nghe, Thấy thường ngày ấy mà phá bỏ.

Nếu nhân nhĩ căn mà sanh ra, thì nhĩ căn có Thắng Nghĩa Căn và Phù Trần Căn. Thắng Nghĩa Căn biết phân biệt, nhưng nếu không có thanh trần tiếp xúc thì cái Biết còn không có, huống là có hình tượng gì ? Phù trần căn thì dù có xen tạp với sắc trần, mà nếu không có hai tướng động, tĩnh thì cái Nghe còn không có, huống là có Thức Giới ! Cho nên, nếu nói “Nhĩ Thức nhân Nhĩ Căn sanh ra”, là sai lầm.

Nếu nhân thanh trần mà sanh ra, thế thì thanh trần đã tự có Nhĩ Thức, cần gì đến tai nghe ? Đã không có người nghe, thì ai phân biệt được các thanh trần ? Nếu nói nương nhau mà sanh, cho là thanh trần nhân cái Nghe mà có tướng, thì cũng phải cho rằng cái Nghe nhân thanh trần mà nghe được Nhĩ Thức. Nhĩ Thức đã bị nghe, thì cũng chỉ là thanh trần, thì còn cái gì làm năng tri để biết rằng đã nghe Nhĩ Thức ? Nếu cùng cái Biết, thì thành ra có hai cái Thức ! Còn nếu không có cái Biết, thì đồng với cỏ cây. Nên nói “Thức sanh ra nơi Thanh Trần” là sai lầm vậy.

Nếu nói rằng “Thanh Trần và cái Nghe hòa hợp mà sanh ra Nhĩ Thức”, thì một bên là có Biết, một bên là không có Biết, giữa khoảng Biết và Không Biết đó, làm sao mà trộn lẫn để thành ra cái Giới ? Cái Giới ở giữa đã không có, thì Thức không chỗ nương, thế thì nội căn, ngoại trần do đâu mà thành lập ? Nên nói “Thanh Trần và cái Nghe hòa hợp mà sanh” là sai lầm vậy.

Ba chỗ đều không, thì Nhĩ Thức chẳng sanh, nên biết cái Nhĩ Thức vô sanh ấy tức là Tánh Chân Như vậy.

Có lần, Đức Thế Tôn đang ngồi dưới cây Ni Câu Luật, có người đi buôn hỏi : “Ngài có thấy xe đi qua không ?”

Ngài nói : “Chẳng thấy”.

Lại hỏi : “Lại có nghe chăng ?”

Đáp : “Chẳng nghe”.

Hai người đi buôn hỏi : “Không thiền định sao ?”

Đáp : “Không thiền định”.

Hỏi : “Không phải ngủ sao ?”

Đáp : “Không ngủ”.

Người đi buôn tán thán : “Lành thay ! Lành thay ! Thế Tôn thường biết mà chẳng thấy !” Bèn cúng dường lên hai cây vải trắng.


Có vị sư hỏi thiền sư Hà Trạch Thần Hội : “Khi cái thấy, nghe chiếu thanh, sắc thì đồng thời hay có trước sau ?”

Tổ Hội nói : “Đồng thời hay trước sau hãy để đó. Rốt ráo, ông lấy cái gì làm thanh, sắc ?”

Vị sư nói : “Như chỗ chỉ bày của thầy, thì không có thanh, sắc nào khá được”.

Rồi quỳ lạy mà đi ngay hôm đó. Sau sư ở ẩn tại núi Mông.


Có vị Tam Tạng xứ Thiên Trúc tên là Thanh Minh đến xứ Mân. Vua xứ Mân mời Ngài Huyền Sa đến để nghiệm luận.
Tổ Sa lấy chiếc đũa sắt gắp lửa gõ vào cái lư đồng, rồi hỏi : “Đó là tiếng gì ?”

Vị Tam Tạng đáp : “Tiếng đồng-sắt”.

Tổ Sa nói : “Đại Vương chớ để người ngoại quốc lừa dối !”

Vị Tam Tạng không đáp được.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hợp với Lý thì đó là Thần : gã nghèo được viên ngọc trong tay áo. Bị Tình gói kín thì đó là Vật : người lực sĩ mất viên ngọc trên trán ! Vị Tam Tạng chỉ biết nhìn tới trước. Ngài Huyền Sa lại chẳng thể ngó lui. Hiểu được chăng ? Đặt bày điều tội cho người thì tội càng lớn”.

Cái tắc công án này, các vị tôn túc nói rất nhiều.

Vị Tam Tạng nói “Tiếng đồng-sắt” thì rõ ràng đuổi theo thanh trần rồi vậy.

Tổ Pháp Nhãn riêng nói : “Thỉnh Đại Sư làm Đại Vương”.

Tổ Pháp Đăng riêng nói : “Hãy nghe Hòa Thượng hỏi !”

Tổ Tuyết Đậu nói : “Chớ lừa dối người ngoại quốc thì tốt”.

Ở chỗ vị Tam Tạng không trả lời được, Ngài Pháp Nhãn thay thế mà nói rằng : “Đại Sư đã hưởng thọ lâu rồi sự cúng dường của Đại Vương”.

Tổ Pháp Đăng nói thay : “Ấy là Hòa Thượng lừa dối Đại Vương !” Câu nói này rất có ý vị, đó là chỗ Ngài Thiên Đồng nói “Đặt bày điều tội cho người thì tội lại càng lớn” đó vậy.

Cứ theo ý Tổ Huyền Sa thì gọi cái gì là tiếng đồng-sắt ? Còn theo ý vị Tam Tạng thì gọi cái gì chẳng phải là tiếng đồng-sắt ? Hai lời này rất dễ lừa người. Phải mỗi mỗi đều nhìn thấu mới chẳng bị người lừa.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:19:45 PM »

(tiếp theo)

阿難。又汝所明鼻香為緣。生於鼻識。此識為復因鼻所生。以鼻為界。因香所生。以香為界。阿難。若因鼻生。則汝心中以何為鼻。為取肉形雙爪之相。為取嗅知動搖之性。若取肉形。肉質乃身。身知即觸。名身非鼻。名觸即塵。鼻尚無名。云何立界。若取嗅知。又汝心中以何為知。以肉為知。則肉之知。元觸非鼻。以空為知。空則自知。肉應非覺。如是則應虛空是汝。汝身非知。今日阿難應無所在。以香為知。知自屬香。何預於汝。若香臭氣。必生汝鼻。則彼香臭二種流氣。不生伊蘭及旃檀木。二物不來。汝自嗅鼻。為香為臭。臭則非香。香應非臭。若香臭二俱能聞者。則汝一人應有兩鼻。對我問道。有二阿難。誰為汝體。若鼻是一。香臭無二。臭既為香。香復成臭。二性不有。界從誰立。若因香生。識因香有。如眼有見。不能觀眼。因香有故。應不知香。知即非生。不知非識。香非知有。香界不成。識不知香。因界則非從香建立。既無中間。不成內外。彼諸聞性。畢竟虛妄。是故當知鼻香為緣生鼻識界。三處都無。則鼻與香。及香界三。本非因緣。非自然性。


Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ Thức. Thức ấy nhân tỷ căn sanh ra, lấy tỷ căn làm Giới, hay nhân hương trần sanh ra, lấy hương trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân tỷ căn sanh ra, thì trong tâm ông, lấy cái gì làm tỷ căn ? Lấy cái hình tướng mũi thịt như hai móng tay, hay lấy sự ngửi biết lay động làm tỷ căn ?

“Nếu lấy cái hình tướng mũi thịt, thì chất thịt là thân và cái biết của thân là cái cảm xúc. Đã gọi là thân thì không phải là lỗ mũi, gọi là cảm xúc thì thuộc về trần. Vậy còn không có gì để gọi là tỷ căn, làm sao mà Giới được thành lập ?
“Nếu lấy cái Ngửi Biết làm tỷ căn, thì trong tâm ông lấy cái gì làm cái biết ? Nếu lấy lỗ mũi thịt, thì cái biết của chất thịt là xúc trần, chứ không phải là tỷ căn. Nếu lấy hư không làm cái Biết, thì hư không ắt tự biết, còn xác thịt lẽ ra chẳng biết. Như thế, lẽ ra hư không phải là ông! Thân ông mà chẳng biết, thì Ông Anan hiện giờ chẳng còn ở đâu nữa.

“Nếu lấy cái hương làm cái biết, thì cái biết thuộc về hương trần, nào dính dáng gì đến ông?

“Nếu mùi thơm, mùi thối sanh ra do tỷ căn của ông, thì hai mùi thơm, thối kia không sanh ra do cây y lan và cây chiên đàn, hai vật đó không đến, thì ông tự ngửi lỗ mũi là thơm hay thối ! Thối thì chẳng phải thơm; thơm thì không phải thối. Nếu cả hai mùi thơm, thối đồng ngửi được cả, thì một người ông phải có hai tỷ căn, đứng trước Ta hỏi đạo lại có hai Anan, thế thì ai mới là cái thể của ông ? Nếu tỷ căn là một, thì thơm, thối không hai. Thối đã thành thơm, thơm đã thành thối, hai tánh đó đã không có, thì Giới do đâu mà thành lập ?

“Lại nếu nhân hương trần mà sanh, thì Tỷ Thức đã nhân hương trần mà có, cũng như như nhân con mắt mà có Thấy, thì không thể thấy con mắt : Tỷ Thức nhân hương mà có, lẽ ra không biết được hương trần. Nếu biết được hương trần thì không phải do hương trần sanh ra, còn nếu không biết được hương trần thì không phải là Tỷ Thức. Hương trần mà không biết là có, thì cái Giới của hương không thành. Tỷ Thức mà không biết hương trần, thì cái Giới của nó không phải do hương trần mà lập. Đã không có cái Thức ở khoảng giữa thì nội căn, ngoại trần cũng không thành, thì các thứ Ngửi Biết kia rốt ráo là hư vọng.

“Thế nên, phải biết tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là ba thứ Tỷ Giới, Hương Giới và Tỷ Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。鼻根也。香境也。界乎二者之間。識也。凡言界者。專指識。此識不於根生。不於香生。大意略同。但文義稍為錯綜。借境破根。而識非空出。自在其中。即境破識。而識非合生。亦自可見。始破浮塵根。既非肉知。已破勝義根。又非空知。知在於香。無預於鼻矣。氣生於鼻。無藉於物矣。若香臭二俱能聞者。應有兩鼻。是根不足據也。鼻既是一。氣云何二。是境不足憑也。故謂識從根生者非也。若謂識從香生。應不知香。如見從眼出。不自見眼。若曰能知。則香自有識。何必曰生。若曰不知。即不名識。界云何立。故謂從香生者非也。既香不自知其香。是境與根離。不可合也。識從香生。則不知香。必不從香生。乃能知香。是根與境離。本非因也。故謂識從根境合生者非也。香界不成。則無中位。既無中位。安有內外。鼻識虛妄。元無處所。了知聞性即空。即無因緣自然可得。華嚴法界品。鬻香長者優缽羅華。善別知一切諸香。亦知調和一切香法。及香王所出之處。又善別知治諸病香。斷諸惡香。生歡喜香。增煩惱香。滅煩惱香。令於有為生樂著香。令於有為生厭離香。舍諸憍逸香。發心唸佛香。證解脫法門香。聖所受用香。一切菩薩差別香。一切菩薩地位香。我唯知此調和香法。如諸菩薩遠離一切諸惡習氣。不染世欲。求斷煩惱眾魔罥索。超諸有趣。以智慧香而自莊嚴。於諸世間皆無染著。具足成就無所著戒。淨無著智。行無著境。於一切處悉無所著。其心平等。無著無依。昔一尊者過荷池。荷神呵之曰毋偷我香。尊者乃問。凡夫往來莫不聞香。何我獨偷。神曰。凡夫散亂心。故不名偷。尊者清淨心。著即不可。鼻識之未易降伏也如是。故操無著之心以游於世。即善別知一切諸香。未為不可。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái Mũi là Căn. Hương là Cảnh. Ở giữa hai cái ấy là Thức. Phàm nói Giới là chuyên để chỉ Thức. Cái Thức này không ở nơi Căn mà sanh, không ở nơi Hương mà sanh, đại ý tương tợ, nhưng văn nghĩa có hơi phức tạp.

Mượn cảnh để phá căn, thì Thức chẳng phải do hư không sanh, mà là ở giữa. Ngay nơi cảnh mà phá căn, thì Thức chẳng do hòa hợp mà sanh ra, cũng là dễ thấy. Ban đầu phá phù trần căn, cái mũi thịt chẳng phải là cái Biết. Rồi phá thắng nghĩa căn, lại không phải hư không là cái Biết. Nếu cái Biết ở hương, thì can dự gì đến lỗ mũi ? Mà đã sanh ở lỗ mũi thì cần gì đến vật ? Nếu đồng ngửi được cả thơm thối, thì phải có hai mũi, vậy thì cái căn đâu có đủ để căn cứ. Đã chỉ một cái mũi, sao lại có hai mũi, vậy cái cảnh cũng không đủ làm bằng cớ. Do đó, nói “Tỷ Thức do nơi Căn sanh”, là sai vậy.

Nếu nói “Tỷ Thức do hương trần sanh ra”, thì đáng lẽ không biết được hương, cũng như cái thấy do con mắt mà có ra thì không thể trở lại thấy con mắt. Nếu nói là Biết, thì hương trần tự có Thức, nào cần phải nói là sanh ra ? Nếu nói là không Biết, thì không thể gọi là Thức, thì Giới do đâu mà lập ? Do đó, nói rằng “Thức do Hương Trần sanh”, là sai lầm vậy.

Hương trần đã không thể tự biết mùi của nó, thì căn với trần lìa nhau, chứ không thể hợp được. Mà Thức nếu từ hương trần sanh ra, thì chẳng thể biết hương trần. Còn biết được hương trần, thì hẳn là chẳng phải từ hương sanh ra. Đó là căn, cảnh lìa nhau, vốn chẳng nương nhau vậy. Nên nói rằng “Tỷ Thức do Căn và Cảnh hợp nhau mà sanh”, là sai lầm vậy.

Cái Giới của hương không thành, thì không thể ở giữa. Đã không có cái giữa, lấy đâu có trong, có ngoài ! Rõ là Tỷ Thức hư vọng, vốn không xứ sở, bèn hiểu tánh Ngửi Biết là Không, chẳng có tánh Nhân Duyên hay Tự Nhiên nào khá được.

Phẩm Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm : Trưởng giả Chúc Hương Ưu Bát La Hoa khéo phân biệt mà biết tất cả mùi hương, cũng biết điều hòa tất cả Hương Pháp, cho đến nơi chốn bay ra của Hương Vương. Lại khéo biết trị các bệnh của hương, đoạn trừ các hương xấu, mà sanh ra Hoan Hỷ Hương, tăng Trí Huệ Hương, diệt Phiền Não Hương. Khiến ở Vô Vi mà sanh Ưa Luyến Hương, ở nơi Hữu Vi mà sanh Chán Lìa Hương, xả bỏ các Kiêu Dật Hương, phát tâm Niệm Phật Hương, chứng Giải Thoát Pháp Môn Hương, Thánh Sở Thọ Dụng Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Sai Biệt Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Địa Vị Hương.

Ngài dạy : “Ta chỉ biết môn Điều Hòa Hương Pháp này, cũng như các Bồ Tát lìa xa hết thảy các ác tập khí, chẳng nhiễm thế dục, cầu cắt lìa lưới phiền não của bọn ma, vượt khỏi các nẻo luân hồi. Lấy Trí Huệ Hương mà tự trang nghiêm, nơi mọi thế gian đều không nhiễm trước, thành tựu đầy đủ Giới “Không Chỗ Bám”, làm trong sạch Trí “Không Bám”, Hành cái “Không Bám Cảnh”, nơi hết thảy chốn đều không chỗ bám níu, tâm đều bình đẳng, không bám, không nương”.

Xưa, có một tôn giả đi qua hồ sen. Vị Thần sen trách rằng : “Không được trộm hương thơm của tôi”.

Vị tôn giả bèn hỏi : “Người đời qua lại, ai chẳng ngửi mùi thơm, đâu chỉ một mình ta ngửi trộm sao ?”

Vị Thần nói : “Người đời tán loạn tâm, nên chẳng gọi là trộm. Tôn giả đây tâm trong sạch, nên có chút bám dính thì chẳng được !
Tỷ Thức chưa dễ hàng phục vậy ! Thế nên, hộ trì cái Tâm Vô Trước mà ngao du cõi đời, đó là “Khéo phân biệt mà biết tất cả mùi hương”, thì không gì mà chẳng có thể.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:22:19 PM »

(tiếp theo)

阿難。又汝所明舌味為緣。生於舌識。此識為復因舌所生。以舌為界。因味所生。以味為界。阿難。若因舌生。則諸世間甘蔗烏梅。黃連石鹽。細辛姜桂。都無有味。汝自嘗舌。為甜為苦。若舌性苦。誰來嘗舌。舌不自嘗。孰為知覺。舌性非苦。味自不生。云何立界。若因味生。識自為味。同於舌根。應不自嘗。云何識知是味非味。又一切味。非一物生。味既多生。識應多體。識體若一。體必味生。鹹淡甘辛。和合俱生。諸變異相。同為一味。應無分別。分別既無。則不名識。云何復名舌味識界。不應虛空生汝心識。舌味和合。即於是中。元無自性。云何界生。是故當知舌味為緣。生舌識界。三處都無。則舌與味及舌界三。本非因緣。非自然性。



Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thiệt căn và vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt Thức. Thức ấy nhân thiệt căn sanh ra, lấy thiệt căn làm Giới, hay nhân vị trần sanh ra, lấy vị trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân thiệt căn sanh ra, thì trong thế gian mía ngọt; mơ chua; hoàng liên đắng; muối mặn; tế tân, gừng, quế hết thảy đều không có Vị. Ông tự nếm cái lưỡi, là ngọt hay đắng ? Nếu cái lưỡi là đắng, thì lấy cái gì để nếm cái lưỡi ? Lưỡi chẳng thể tự nếm, thì lấy gì mà có hay biết ? Nếu lưỡi không đắng, vị tự chẳng sanh ra, làm sao lập thành Giới ?

“Nếu nhân vị trần mà sanh ra, thì Thiệt Thức đã là vị rồi, đồng như thiệt căn, không thể tự nếm, làm sao mà biết là vị hay chẳng phải vị ? Lại tất cả các vị chẳng phải do một vật sanh ra. Các vị đã do nhiều vật sanh ra, thì cái Thiệt Thức nếu do vị trần sanh, cũng phải có nhiều tự thể. Nếu Thiệt Thức là một thể và thể đó do vị sanh ra, thì các vị mặn, nhạt, chua, cay, các tướng khác nhau này phải chỉ là một vị, không thể phân biệt. Không có phân biệt, thì không có Thức, làm sao còn gọi là Thiệt Thức Giới ? Chẳng lẽ hư không sanh ra cái Thức Phân Biệt của ông ?

“Thế thì cái Thức ở giữa do thiệt căn và vị trần hòa hợp mà sanh, vốn không tự tánh, làm sao mà cái Giới có được ?
“Vậy nên phải biết : Thiệt căn, vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt Thức, cả ba Xứ đều Không. Tức là Thiệt Giới, Vị Giới và Thiệt Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。初因舌。是破自生。二因味。是破他生。三不應虛空。是破無因生。四舌味和合。是破共生。即於是中元無自性。舌不自味。味不自嘗。而識安從生。正顯無生之旨。知舌識本無生。舌根本自清淨。即妙真如性也。昔 禪師。食啖無擇。其徒多效之。一日命治具。之化人所。取化人余胔而共啖之。其徒悉嘔心散去。師乃曰。我多生清淨。故無擇耳。汝輩能與我共此者。乃可取食。由是一眾稟然。率遵戒律。曹山亦好酒。僧問靈衣不掛時如何。曰曹山孝滿。曰孝滿後如何。曰曹山好顛酒。其徒稅清問曰。某甲孤貧。乞師賑濟。山召稅阇黎。稅應諾。山曰。清原白家酒三盞吃了。猶道未沾唇。玄覺云。甚麼處是與他酒吃。即此三則。味性本空。舌識亦本空。達此者名為知味。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ban đầu, bác bỏ “Nhân thiệt căn sanh”, là phá cái lý Tự Sanh. Thứ hai là bác bỏ “Nhân vị trần sanh”, là phá cái lý Cái khác sanh. Thứ ba là bác bỏ “Hư không sanh”, là phá cái lý Không nguyên nhân mà sanh. Thứ Tư bác bỏ “Lưỡi và vị hòa hợp mà sanh”, là phá cái lý Chung nhau sanh. Tức ở trong đó, vốn không tự tánh, thiệt căn chẳng thể tự nếm mùi, mùi vị cũng chẳng tự nếm biết, thì Thức do đâu mà sanh ? Chính là hiển bày ý chỉ Vô Sanh. Biết Thiệt Thức vốn Vô Sanh, thiệt căn vốn tự trong sạch, tức là Diệu Chân Như Tánh vậy.

Xưa, có vị thiền sư ăn uống hỗn tạp, không chọn lựa, nhiều đệ tử bắt chước theo. Một bữa nọ, bày một bữa cúng ở chỗ thiêu xác người chết, rồi lấy thịt thiêu còn sót, gồm chung vào rồi ăn. Đệ tử đều ói mửa, chạy mất.

Sư bèn nói : “Ta nhiều đời thanh tịnh, nên mới không chọn lựa. Các ông có thể cùng với ta ăn món này, mới nên duy trì việc ăn uống”.

Từ đó, cả chúng sợ hãi mà lo vâng giữ Giới Luật.

Tổ Tào Sơn cũng ưa rượu.

Có vị tăng hỏi : “Áo linh không khoác thì như thế nào ?”

Đáp : “Tào Sơn này trọn hiếu  -(ct) Đây nghĩa là xứng Tánh. ) !”

Hỏi : “Trọn hiếu rồi thì như thế nào ?”

Tổ đáp : “Tào Sơn khoái rượu từ Tôn Đảnh”.

Có đệ tử tên là Thuế Thanh, bạch hỏi : “Đệ tử cô bần, xin thầy cứu giúp”.

Tổ Sơn gọi lớn : “Thuế Xà Lê !”

Sư Thuế ứng tiếng : “Dạ !”

Tổ Sơn nói : “Rượu Thanh Nguyên  -(ct) Phái Tào Động xuất phát từ Ngài Thanh Nguyên Hành Tư. ) trắng trong, uống rồi ba chén sao còn bảo chưa thấm môi !”

Tổ Huyền Giác nói : “Ở chỗ nào mà cho là có uống !”

Ba tắc này là : Tánh của Vị vốn Không, Thiệt Thức cũng vốn Không. Liễu đạt mới gọi rằng “Biết mùi vị”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:25:04 PM »

(tiếp theo)

阿難。又汝所明身觸為緣。生於身識。此識為復因身所生。以身為界。因觸所生。以觸為界。阿難。若因身生。必無合離二覺觀緣。身何所識。若因觸生。必無汝身。誰者非身知合離者。阿難。物不觸知。身知有觸。知身即觸。知觸即身。即觸非身。即身非觸。身觸二相。元無處所。合身即為身自體性。離身即是虛空等相。內外不成。中云何立。中不復立。內外性空。則汝識生。從誰立界。是故當知身觸為緣。生身識界三處都無。則身與觸及身界三。本非因緣。非自然性。


Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thân căn và xúc trần làm duyên sanh ra Thân Thức. Thân Thức này do thân căn sanh ra, lấy thân căn làm Giới, hay nhân xúc trần sanh ra, lấy xúc trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân thân căn sanh ra, mà không có hai cảm xúc hợp và lìa, thì thân căn còn biết gì? Nếu nhân xúc trần sanh ra, mà không có thân căn của ông, thì có ai chẳng có thân mà lại biết chuyện hợp, lìa được ?

“Anan, vật thì không biết cảm xúc, thân căn có biết mới có cảm xúc. Tức nơi cảm xúc, biết có thân. Tức nơi thân căn, mà biết cảm xúc. Nhưng nơi Xúc, thì không phải là thân, nơi thân thì không phải là Xúc. Hai tướng thân và xúc, vốn không xứ sở. Nếu Xúc hợp với thân, thì làm thể tánh của thân. Lìa thân thì chẳng có thể tánh nào, bèn như tướng hư không. Nội căn, ngoại trần đã không thành, cái Thức ở giữa làm sao mà lập ? Giữa chẳng lập được, trong ngoài đều là Tánh Không, thì cái Thân Thức của ông do đâu mà lập thành Giới ?

“Thế nên, phải biết : Thân căn và xúc trần làm duyên, sanh ra Thân Thức, cả ba chỗ đều Không. Tức là cả ba thứ Thân Giới, Xúc Giới và Thân Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。物不觸知。非物不知觸之謂也。物實知虛。實不觸虛。故凡物但能觸物。不能觸知。只此一知字。分明顯出清淨法身。非觸所及。而身知有觸者。乃色身份別之知。以合離二覺為緣。故知有觸。觸不能離乎身。身不能離乎觸。言觸則非身。言身則非觸。二者果安定乎。故合之但一身體而無觸位。離之即等虛空而無觸用。二俱無在。內外不成。身觸俱非。識從何立。既無中識。根境悉空。故知身識界是妄也。南嶽思大禪師。既得宿命通。尋復障起。四肢緩弱。不能行步。自念曰。病從業生。業從心起。心源無起。外境何狀。病業與身。都如雲影。如是觀已。顛倒想滅。輕安如故。若思者可謂深明身識之為妄也。興陽剖禪師臥病。大陽問是身如泡幻。泡幻中成辦。若無個泡幻。大事無由辦。若要大事辦。識取個泡幻。作麼生。剖曰。猶是這邊事。陽曰。那邊事作麼生。剖曰。匝地紅輪秀。海底不栽華。陽笑曰。乃爾惺惺耶。剖喝曰。將謂我忘卻。竟爾趨寂。若剖者可謂深明法身向上事也。僧問大龍。色身敗壞。如何是堅固法身。龍曰。山華開似錦。澗水湛如藍。雪竇頌云。問曾不知。答還不會。月冷風高。古岩寒檜。堪笑路逢達道人。不將語默對。手把白玉鞭。驪珠盡擊碎。不擊碎增瑕颣。國有憲章。三千條罪。據此頌。堅固法身。亦須擊碎。況色身乎哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Câu “Vật thì không biết cảm xúc”, nghĩa là vật có thể chạm biết. Vật thì thật, cái Biết thì hư. Cái thật với cái hư chẳng có tiếp xúc với nhau. Cho nên, vật thì chỉ tiếp xúc với vật, không thể tiếp xúc với cái Biết. Một chữ Biết này bày rõ ràng ra cái Pháp Thân trong sạch, chẳng phải là chỗ mà sự chạm xúc có thể tới được.
Cái Thân biết có cảm xúc là do sắc thân phân biệt mà Biết, lấy hai chỗ hợp, lìa làm duyên. Cảm xúc không lìa thân căn, thân căn cũng không lìa cảm xúc. Nhưng nói cảm xúc thì chẳng phải là thân căn, nói thân căn thì chẳng phải là cảm xúc, hai cái ấy thật là không thể xác định. Do đó, nếu hợp lại thì chỉ có một thân thể, mà cái Cảm Xúc ở tại đâu ? Nếu lìa nhau, thì Xúc không còn, đồng như hư không vậy. Cả hai đều không có ở đâu, trong ngoài đều không thành tựu. Thân và Xúc đều không nơi chốn, thì Thân Thức do đâu mà thành lập ? Đã không có cái Thức ở giữa, thì căn và cảnh rốt ráo là không. Thế nên biết cái Thân Thức Giới chỉ là hư vọng.

Thiền sư Nam Nhạc Huệ Tư đã đắc túc mạng thông, bỗng nhiên lại bị nghiệp chướng khởi lên, tay chân rũ liệt, không thể đi đứng. Ngài tự nghĩ rằng : “Bệnh từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm khởi. Nguồn tâm vốn chẳng khởi, ngoại cảnh đâu có hình trạng gì? Bệnh, nghiệp và thân đều như bóng mây !” Quán như thế, tướng điên đảo diệt, nhẹ nhàng yên ổn như xưa. Như Ngài mới có thể nói là rõ thấu Thân Thức là hư vọng vậy.


Thiền sư Hưng Dương Phẩu nằm bệnh.

Ngài Đại Dương đến thăm, hỏi : “Thân này như bọt huyễn, mà có ở trong bọt huyễn mới thành biện xét. Nếu không có cái bọt huyễn này, thì chuyện đại sự chẳng do đâu mà nghiệm xét. Nếu muốn xét chuyện đại sự, thì Thức lại giữ lấy cái bọt huyễn này, làm sao đây ?”

Tổ Phẩu nói : “Vẫn còn là chuyện bên này”.

Đại Dương hỏi : “Thế chuyện bên kia thì làm sao?”

Tổ Phẩu nói : “Quanh đất vừng hồng đẹp, đáy biển chẳng trồng bông”  -(ct)  “Táp địa hồng luân tú, hải để bất tài hoa”. ).

Đại Dương cười nói : “Ông còn tỉnh táo không ?

Tổ Phẩu quát : “Sắp nói ta quên mất à !”

Rồi liền tịch.

Như Tổ Hưng Dương Phẩu có thể nói là thấu rõ cái Pháp Thân Hướng Thượng Sự vậy.

Có vị sư hỏi Ngài Đại Long : “Sắc thân thì hư hoại, như thế nào là cái Pháp Thân kiên cố ?”

Tổ Long nói : “Hoa núi nở dường gấm. Nước khe trong như lam”.


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Hỏi, từng chẳng biết
Đáp, lại chẳng hiểu
Trăng lạnh gió cao, đỉnh xưa thông lạnh
Cười vui thay
Giữa đường gặp được người đắc đạo
Chẳng lấy nói, im đối đãi cùng
Tay cầm roi bạch ngọc đánh vụn ngọc Ly Châu
Đánh chẳng nát, thêm dấu vết !
Nước có hiến chương, thêm ba ngàn điều tội !”.

Theo bài tụng này thì cái Kiên Cố Pháp Thân còn phải đập cho nát, huống là cái Sắc Thân đó ư ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:29:42 PM »

(tiếp theo)

阿難。又汝所明意法為緣。生於意識。此識為復因意所生。以意為界。因法所生。以法為界。阿難。若因意生。於汝意中。必有所思。發明汝意。若無前法。意無所生。離緣無形。識將何用。又汝識心。與諸思量。兼了別性。為同為異。同意即意。云何所生。異意不同。應無所識。若無所識。云何意生。若有所識。云何識意。唯同與異。二性無成。界云何立。若因法生。世間諸法。不離五塵。汝觀色法。及諸聲法。香法味法。及諸觸法。相狀分明。以對五根。非意所攝。汝識決定依於法生。今汝諦觀。法法何狀。若離色空動靜通塞合離生滅。越此諸相。終無所得。生則色空諸法等生。滅則色空諸法等滅。所因既無。因生有識。作何形相。相狀不有。界云何生。是故當知意法為緣。生意識界。三處都無。則意與法及意界三。本非因緣。非自然性。


Kinh : “Lại như chỗ ông bày tỏ : Ý căn và pháp trần làm duyên, sanh ra Ý Thức. Thức đó là nhân ý căn sanh ra, lấy ý căn làm Giới, hay nhân pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm Giới?

“Anan, nếu nhân ý căn sanh ra, thì trong ý ông chắc phải có chỗ suy nghĩ mà phát rõ ra cái ý của ông; nếu không có các pháp trần thì ý không có chỗ sanh ra. Lìa các duyên trần, ý căn còn không có hình tướng, thì cái Thức đem dùng vào chỗ nào ?

“Lại cái Thức Tâm của ông cùng các sự nghĩ suy, các sự rõ biết là đồng nhau hay khác nhau. Nếu đồng với ý căn, tức là ý căn rồi, làm sao lại do ý căn sanh ra ? Nếu khác mà không đồng với ý căn, thì lẽ ra không có biết gì. Nếu không có chỗ Biết, thì làm sao lại do ý căn sanh ra ? Còn nếu có chỗ Biết, làm sao biết được ý căn ? Khi hai tánh đồng nhau và khác nhau đều không thành, Giới do đâu mà lập ?

“Nếu Ý Thức do pháp trần sanh ra, thì các pháp trong thế gian không ngoài năm Trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc đối với năm căn đều có hình tướng rõ ràng, chẳng phải chỗ thu nhiếp của ý căn. Nếu Ý Thức của ông quyết định nương nơi pháp trần mà sanh ra, thì ông hãy xem xét kỹ, mỗi pháp có hình trạng gì ? Nếu lìa ngoài sắc không, động tĩnh, thông bít, lìa hợp, sanh diệt, vượt ngoài các tướng này, rốt ráo là không chỗ đắc. Sanh thì các pháp Sắc Không đều sanh ra, diệt thì các pháp Sắc Không đều diệt. Các nguyên nhân đã không, thì cái thức có là do chúng sanh ra, nào có hình tướng gì đâu ? Tướng trạng không thể có, Giới do đâu mà sanh ?

“Thế nên, phải biết : Ý căn, pháp trần làm duyên, sanh ra Ý Thức, ba chỗ này đều không. Tức là ba thứ Ý Giới, Pháp Giới và Ý Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.


通曰。此意識界。乃第六識了別性也。既以了別為性。離法無緣。意即不生。離緣無形。識將安用。是識緣法。顯非生於意也。若謂意能分別。為生識根。是七識思量。為染淨依。八識識心。為根本依。與前六識了別性。同乎異乎。楞伽云。心能積集業。意能廣積集。了別性名識。對現境說五。論云。集起名心。思量名意。了境名識。一法異名耳。既惟一法。俱可謂之心。俱可謂之意。俱可謂之識。而微有辨者。就分數多者得名耳。在八識意識俱泯。但可曰心。在七識非心非識。但可曰意。在六識心意俱與境對。故曰分別事識。其實一物也。如海起波浪。非異非不異。六識逐塵生境界風。即鼓動七識思量波浪終不離乎八識湛湛藏海也。是六七八識。非同非異。姑無暇論。且以意生識界言之。若謂識同於意。識即意也。何得謂意為能生。識謂所生。謂之同不可也。若諸識異於意。迥然不同。則一屬有情。一屬無情。應無所識。謂之異不可也。若無所識。必非意生。意能分別所生者必有識也。若有所識。當意生時。無法可緣。但有意耳。云何自識其意。若能識意。則意反為境。不得為根。若不識意。又同無識。非意所生矣。離法求識。最難描摸。故謂之同。則不得名生。謂之異。則不得名識。是同異二性。俱無成就。識無定所。界云何立。故謂從根生者妄也。若謂緣法而顯。即系因法而生。必有可狀之法。然後成生識之因。今世間諸法。不離色空等相。以對五根。是唯五根能攝之。是五識之所因也。意能離此五塵外。別有法法相狀而為所因乎。意所自緣內境。雖不外藉五根。終不出色空生滅影子等法即能緣出世間法。有所謂非色非空。不生不滅者。然非色非空。由色空顯。不生不滅。由生滅顯。卒不能離色空生滅外。別有所謂法塵。為生識因。將即五塵而為法乎。是五根因。非意因也。將離五塵而求法乎。則無法可得。既無可得。是無因也。所因既無。其何能生。若謂無因。能生有識。其識必非分別色空等法。果分別何法。作何相狀乎。相狀不有。識實不生。故謂因法生者妄也。既非意生。又非法生。而意識有何處所。無處斯為真處也已。昔國清淨上座問玄沙。曰。祗如教中道。不得以所知心。測度如來無上知見。又作麼生。沙曰。汝道究得徹底所知心。還測度得及否。從此信入。後有人問。弟子每當夜坐。心念紛乘。未明攝伏之方。願垂示誨。靜曰。如或夜閒安坐。心念紛飛。卻將紛飛之心。以究紛飛之處。究之無處。則紛飛之念何存。反究究心。則能究之心安在。又能照之智本空。所緣之境亦寂。寂而非寂者。蓋無能寂之人也。照而非照者。蓋無所照之境也。境智俱寂。心慮安然。外不尋枝。內不住定。二途俱泯。一性怡然。此乃還源之要道也。藥山坐次。僧問兀兀地思量個甚麼。山曰。思量個不思量底。曰不思量底如何思量。山曰。非思量。僧問蜀州西禪師。如何是非思量處。禪曰。誰見虛空夜點頭。丹霞頌云。一點靈明六不收。昭然何用更凝眸。個中消息人難委。獨有虛空暗點頭。故明得心識不到處。而識元自晢。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái Ý Thức Giới này là Tánh Hiểu Biết, Phân Biệt của Thức Thứ Sáu. Đã lấy sự Biết do Phân Biệt làm tánh, thì lìa ngoài pháp hẳn không có duyên, ý bèn chẳng sanh. Lìa Duyên thì vô hình, vậy Ý Thức dùng vào đâu ? Thế thì cái Thức duyên theo pháp này, rõ ràng không sanh ra nơi ý căn. Nếu nói ý căn hay phân biệt mà sanh ra Ý Thức, vậy thì Thức Thứ Bảy làm chỗ nương cho sự nhiễm, tịnh và Thức Thứ Tám là Thức Tâm làm chỗ nương dựa căn bản của mọi Thức, đối cùng Thức Thứ Sáu có tánh hiểu biết do phân biệt là đồng hay là khác ?

Kinh Lăng Già nói : Tâm (Thức Thứ Tám) hay tích nhóm Nghiệp Ý (Thức Thứ Bảy), hay mở rộng sự tích nhóm, hiểu biết do phân biệt gọi là Thức, đối đãi với hiện cảnh thì có năm Thức.

Luận Duy Thức nói : Tập Khởi gọi là Tâm, suy lường gọi là Ý, hiểu biết cảnh gọi là Thức. Chỉ là một pháp mà khác tên.

Đã duy chỉ một pháp, đều có thể gọi là Tâm, đều có thể gọi là Ý, đều có thể gọi đó là Thức. Nhưng sự tinh vi ấy có thể biện biệt, có nhiều thứ ấy mà đặt tên vậy.

Ở trong Thức Thứ Tám, Ý và Thức đều không còn, nên chỉ có thể gọi là Tâm.

Ở Thức Thứ Bảy, chẳng phải Tâm, chẳng phải Thức, chỉ có thể gọi là Ý.

Ở Thức Thứ Sáu, thì Tâm và Ý đều đối đãi với Cảnh, nên gọi là Thức Phân Biệt sự vật.

Kỳ thật chỉ là một. Như biển khởi sóng : không khác cũng không không khác. Thức Thứ Sáu đuổi theo Trần sanh ra Gió Cảnh Giới, liền khởi động các sóng Suy Lường của Thức Thứ Bảy, mà thật chẳng rời cái biển lặng chứa của Thức Thứ Tám. Ba Thức này chẳng phải đồng, chẳng phải khác, cứ hãy tạm để đó.


Bây giờ, nói về chuyện Ý sanh ra Thức. Nếu nói Thức đồng với Ý thì Thức là Ý, làm sao gọi Ý là cái Năng Sanh và Thức là cái Được Sanh ? Nói là đồng thì không được vậy. Nếu nói Thức khác với Ý, hoàn toàn chẳng đồng thì một cái thuộc hữu tình, một cái thuộc vô tình, lẽ ra không có chỗ Biết, vậy bảo khác nhau thì không thể được. Nếu không có chỗ Biết, thì chắc chẳng phải do Ý sanh. Ý phân biệt được cái chỗ Sở Sanh thì phải có cái Thức ở trong ấy. Nếu có chỗ để biết, thì khi Ý sanh mà không có pháp nào để duyên, thì chỉ có cái Ý làm sao mà tự biết cái Ý ? Nếu cho là Biết cái Ý, thì cái Ý trở lại thành cảnh, không còn là căn được. Nếu không biết cái Ý, lại giống như không có Thức, thì sao nói là Ý sanh Thức?

Rời ngoài pháp mà tìm cái Thức, rất khó hình dung : nếu nói là đồng, thì không còn có thể gọi là Sanh ra; nếu gọi là khác thì không thể gọi được là Thức. Thế là hai tánh đồng nhau, khác nhau đều không thành tựu. Thức không có chỗ định, Giới làm sao lập thành ? Do đó mà nói Thức do căn sanh là hư vọng vậy.

Nếu nói Thức duyên với pháp trần mà hiện, nhân pháp mà có sanh ra, thế thì phải có pháp khá hình dung ra được rồi mới có thể làm Nhân. Nay các pháp của thế gian chẳng thể ngoài năm trần, đối đãi năm căn, và làm cái sở nhân của năm Thức. Ý có thể lìa ngoài năm Trần này mà riêng có tướng trạng của các pháp để làm sở nhân không ? Cái nội cảnh mà Ý tự duyên, tuy không nhờ năm căn bên ngoài nhưng rốt cuộc không thể ra khỏi bóng dáng của Sắc Không, sanh diệt... các pháp. Dầu có duyên các pháp xuất thế gian là Phi Sắc, Phi Không, Bất Sanh Bất Diệt nhưng cái phi sắc phi không cũng do Sắc Không mà hiển, cái bất sanh bất diệt cũng do sanh diệt mà bày.

Rốt là chẳng có thể rời ngoài Sắc Không, sanh diệt mà có riêng được cái pháp trần để làm nhân sanh Thức. Ở nơi năm Trần mà tìm pháp thì Trần là nhân của ngũ căn, chẳng phải là nhân của Ý. Mà rời năm Trần để cầu pháp, thì không có pháp nào để được. Đã không thể đắc, thì không có Nhân vậy. Nhân mà không có, lấy gì sanh ra ? Nếu không có Nhân mà nói là có Thức sanh ra, thì Thức này chẳng thể nào phân biệt các pháp. Còn nếu phân biệt được các pháp thì tạo ra được tướng trạng gì ?

Tướng trạng không có, Thức thật chẳng sanh. Nên nói là nhân pháp mà Thức sanh là sai lầm vậy. Đã chẳng phải Ý sanh, lại chẳng phải Pháp sanh, thì Ý Thức ở tại chốn nào ? Không có nơi chốn, tức là chốn Chân Thật vậy.


Xưa, Thượng Tọa Quốc Thanh Tịnh hỏi Tổ Trường Sa : “Như trong kinh dạy : không thể lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường nổi cái Tri Kiến Vô Thượng của Như Lai, thế thì làm sao ?”

Tổ Sa nói : “Ông hãy nói xem : cứu xét cho cùng cái tâm có chỗ biết này, lại có đo lường nào được nổi chăng ? Theo đó mà tin nhập”.

Sau này, có vị tăng hỏi : “Đệ tử mỗi đêm ngồi thiền, tâm niệm tán loạn, chưa biết cách nào nhiếp phục. Xin thầy chỉ bảo”.

Ngài Quốc Thanh Tịnh trả lời : “Nếu ban đêm ngồi tịnh mà niệm niệm lăng xăng, thì lấy cái tâm lăng xăng đó cứu xét cái chỗ lăng xăng. Thấy là nó không có xứ sở, thì cái tâm niệm lăng xăng đó đâu còn ! Cứ xét ngược lại cái tâm, thì cái tâm cứu xét đó đâu có tại chỗ nào. Trí chiếu soi vốn không, cái cảnh để duyên cũng tĩnh lặng vậy. Chiếu mà chẳng chiếu, tuyệt không có cảnh để chiếu soi vậy. Cảnh, Trí đều tịch diệt, tâm lượng an nhiên. Ngoài chẳng tìm cầu lấy sự tán loạn, trong chẳng trụ nơi định tĩnh. Hai đường dứt bặt, một Tánh suốt nhiên. Đây là yếu đạo về nguồn vậy”.

Tổ Dược Sơn đang ngồi, có vị tăng hỏi : “Ở cái chỗ bằng phẳng, suy nghĩ cái gì ?”

Tổ Sơn nói : “Suy nghĩ cái thật chẳng có suy nghĩ”.

Hỏi : “Cái chẳng suy nghĩ đó, làm thế nào suy nghĩ ?”

Tổ Dược Sơn nói : “Tuyệt chẳng suy nghĩ !”

Có vị tăng hỏi thiền sư Thục Châu Tây : “Thế nào là chỗ Phi Tư Lượng ?”

Ngài đáp : “Ai thấy một chấm trong đêm tối giữa hư không ?”

 
Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Một điểm linh minh, sáu chẳng thâu
Rõ thay, nào phải sững mắt vào
Tin tức trong kia, người khó rõ
Chỉ có hư không một điểm mù”.

(Nhất điểm linh minh lục bất thâu
Chiêu nhiên hà dụng cánh ngưng mâu
Cái trung tiên tức nhân nan ủy
Độc hữu hư không ám điểm đầu).

Cho nên, rõ được chỗ Tâm Thức chẳng thể đến được, bèn thấu suốt nguồn cội của Thức vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:34:18 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。如來常說和合因緣。一切世間種種變化。皆因四大和合發明。云何如來因緣自然二俱排擯。我今不知斯義所屬。唯垂哀憫。開示眾生中道了義。無戲論法。爾時世尊告阿難言。汝先厭離聲聞緣覺諸小乘法。發心勤求無上菩提。故我今時為汝開示第一義諦。如何復將世間戲論妄想因緣。而自纏繞。汝雖多聞。如說藥人。真藥現前。不能分別。如來說為真可憐愍。汝今諦聽。吾當為汝分別開示。亦令當來修大乘者。通達實相。阿難默然。承佛聖旨。


I. THU BẢY ĐẠI

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, Như Lai thường nói về Nhân Duyên Hòa Hợp rằng : Tất cả các thứ biến hóa trong thế gian đều do bởi bốn Đại hòa hợp mà phát hiện ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả hai nghĩa Nhân Duyên và Tự Nhiên ? Nay tôi không biết nghĩa ấy thế nào, xin Phật rủ lòng thương xót khai thị cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của Trung Đạo, không còn các pháp hý luận”.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo Ông Anan rằng : “Trước ông đã chán lìa các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác mà phát tâm quyết cầu Bồ Đề Vô Thượng, nên ta nay vì ông mà khai thị cái Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ông lại còn đem những thứ vọng tưởng Nhân Duyên, hý luận của thế gian mà tự trói buộc ? Ông tuy là nghe nhiều mà như người nói tên vị thuốc, đến khi thuốc thật ở trước mắt lại chẳng hề phân biệt được. Như Lai bảo thế thật là đáng thương xót ! Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt khai thị. Cũng để cho những người tu Đại Thừa mai sau thông đạt cái Thật Tướng”.

Ông Anan lặng yên, kính vâng Thánh Chỉ của Phật.


通曰。阿難欲世尊開示中道。明知世間和合因緣。則滯於有。若因緣自然二俱排擯。則溺於空。不有不空。斯為中道。不知無上菩提。中道亦無著處。乃為第一義諦也。此第一義諦。即上陰入處界。非因緣。非自然性。見諸相非相。即是大乘實相。阿難欲捐小乘而求無上菩提。今示以妙真如性。茫然罔措。不知所屬。如說藥人但口說耳。真藥現前。反不能識。此真可憐愍者。嗟乎。藥豈易識哉。文殊菩薩一日令善財採藥。曰是藥者采將來。善財遍觀大地。無不是藥。卻來白雲。無不是藥者。殊曰。是藥者。采將來。善財遂於地上。拈一莖草度與文殊。文殊接得。呈起示眾曰。此藥亦能殺人。亦能活人。云門示眾云。藥病相治。盡大地是藥。那個是自己。雪竇頌曰。盡大地是藥。古今何大錯。閉門不造車。通途自寥廓。錯錯。鼻孔遼天亦穿卻。據頌意。真藥現前。也須吐卻。何況不能分別。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan mong Thế Tôn khai thị Trung Đạo. Nếu cho thật tại là Nhân Duyên Hòa Hợp của thế gian, thì mắc vào Có (Hữu). Nếu bài bác cả hai thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên thì lại chìm đắm vào Không. Cái chẳng phải Có, chẳng phải Không mới là Trung Đạo. Ông không biết cái Bồ Đề Vô Thượng là cái Trung Đạo không chỗ bám nắm, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy. Cái Đệ Nhất Nghĩa Đế này siêu khỏi mọi Ấm, Nhập, Xứ, Giới chẳng phải phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên. Thấy các Tướng chẳng phải Tướng, tức đó là Đại Thừa Thật Tướng.

Ông Anan muốn rời bỏ Tiểu Thừa mà cầu cái Bồ Đề Vô Thượng. Nay chỉ cho đó là Tánh Diệu Chân Như, thì hoang mang ngơ ngác, chẳng hiểu ra sao, như người nói ra tên thuốc, mà cái chơn dược ở ngay trước mắt lại chẳng có hay. Thật đáng thương xót ! Than ôi, thuốc nào có dễ biết !

Bồ Tát Văn Thù một ngày nọ bảo đồng tử Thiện Tài đi hái thuốc.

Ngài nói : “Cái gì là thuốc hãy hái mang về”.

Thiện Tài xem khắp đại địa không có gì chẳng phải là thuốc, trở về bạch rằng : “Không có cái gì mà chẳng phải là thuốc”.

Ngài Văn Thù nói : “Cái gì là thuốc hái mang về đây”.

Thiện Tài bèn ngay trên mặt đất ngắt lên một cọng cỏ, đưa cho Ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù cầm lấy, đưa lên cho đại chúng xem, rồi nói : “Thuốc này cũng hay giết người, cũng hay cứu người”.

Tổ Vân Môn nói : “Thuốc và bệnh hiện hữu vì nhau, khắp cõi đất là thuốc, cái gì là tự kỷ ?”


Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Khắp cõi đất là thuốc
Xưa nay sao quá lầm
Đóng cửa chẳng làm xe (để dùng)
Đường thông tự trống rộng
Lầm, lầm !
Lỗ mũi xa trời cũng xuyên suốt !”.

Theo ý bài tụng ngày thì chân dược hiện tiền ấy cũng cần mửa ra hết, huống là cái chuyện chẳng thể phân biệt của Anan !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:37:04 PM »

(tiếp theo)

阿難。如汝所言。四大和合。發明世間種種變化。阿難。若彼大性。體非和合。則不能與諸大雜合。猶如虛空。不和諸色。若和合者。同於變化。始終相成。生滅相續。生死死生。生生死死如旋火輪。未有休息。阿難。如水成冰。冰還成水。



Kinh : “Anan, như chỗ ông nói : Tứ Đại hòa hợp phát hiện ra các thứ biến hóa trong thế gian. Anan, nếu các Đại ấy tánh chẳng phải hòa hợp thì không thể trộn lẫn với các Đại khác, cũng như hư không không thể hòa hợp được với các sắc. Nếu tánh của các Đại là Hòa Hợp, thì cũng đồng như các thứ biến hoá, trước sau hóa thành lẫn nhau, sanh diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt diệt như vòng lửa quay tròn, chưa hề ngừng nghỉ. Anan, như nước thành băng, băng trở lại thành nước.




通曰。若言四大非和合。則非真如隨緣之義。同於頑空而已。若言四大定和合。則非真如不變之義。同於變化而已。如水成冰。冰還成水。四大元是如來藏性。非水之外有冰也。水何和而成冰。冰何和而成水。本只一物。更無別物參和其間。求和合之相。了不可得。故非和合非不和合也。但迷則真如即四大。如水之成冰。悟則四大即真如。如冰之成水。夫水一而已矣。僧問臨濟。如何是四種無相境。濟云。你一念心疑被地礙。你一念心愛被水溺。你一念心嗔被火燒。你一念心喜被風飄。若能如是辨得。不被境縛。處處用境。東涌西沒。南湧北沒。中湧邊沒。邊湧中沒。履水如地。入地如水。緣何如此。為達四大如夢如幻故。道流。你祗今聽法者。不是你四大。能用你四大。若乃如是見得。便乃去住自由。審如臨濟言。無住非水也者。又何冰之與有。藥山因施主施裈。提起示眾曰。法身還具四大也無。道得。與他一腰裈。道吾曰。性地非空。空非性地。此是地大。三大亦然。山曰。與汝一腰裈。道吾見處。何故與此經迥別。試參看。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Nếu nói tứ Đại chẳng phải hòa hợp, thì chẳng phải nghĩa Chân Như tùy duyên, đồng như ngoan không mà thôi. Nếu nói tứ Đại nhất định phải hòa hợp, thì chẳng phải là nghĩa Chân Như bất biến, giống như biến hóa mà thôi. Như nước thành băng, băng trở lại thành nước, tứ Đại vốn là Như Lai Tạng Tánh, chẳng phải ngoài nước mà có băng. Nước hòa với cái gì mà thành băng ? Băng hòa với cái gì mà thành nước ?

Vốn chỉ là một vật, không có cái gì khác hòa lẫn vào. Tìm cầu tướng hòa hợp rõ là chẳng thể có, do đó, thật chẳng phải hòa hợp mà cũng chẳng phải không hòa hợp. Chỉ vì mê thì Chân Như là bốn Đại: như nuớc thấy thành băng. Ngộ, thì tứ Đại là Chân Như : như băng vốn là nước. Nước vốn là một mà thôi vậy.


Có vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : “Thế nào là bốn cảnh vô tướng ?”

Tổ Lâm Tế nói : “Ông khởi một niệm tâm Nghi, bèn bị Đất ngăn ngại. Ông khởi một niệm tâm Ái, bèn bị Nước nhận chìm. Ông khởi một niệm tâm Sân, liền bị Lửa cháy thiêu. Ông có một niệm tâm Hỷ, liền bị Gió thổi bay. Nếu hay rõ ràng được như thế, Cảnh nào trói buộc nổi ? Chốn chốn đều dùng được Cảnh : Đông mọc Tây lặn, Nam mọc Tây chìm, giữa nổi bên chìm, bên nổi giữa chìm. Đi trên nước như trên đất, vào đất như nước. Do sao mà vậy ? Vì thấu suốt bốn Đại như mộng như huyễn vậy. Này các đạo lưu ! Nay đây cái nghe pháp là ông, chẳng phải là tứ Đại của ông, mà hay dùng tứ Đại của ông. Thấy được như thế, thì bèn đi hay ở đều tự do”.

Xem như lời Tổ Lâm Tế thì đi đâu cũng là nước, làm gì có băng đâu ?

Tổ Dược Sơn nhân có thí chủ cúng dường bộ thường phục. Đưa ra trước chúng, nói rằng : “Pháp Thân có đủ bốn Đại hay không ? Nói được, thì cho một áo lá”.

Ngài Đạo Ngô nói : “Tánh đất chẳng phải là Không. Không chẳng phải là tánh đất. Đó là Đại Địa. Ba Đại kia cũng thế”.

Tổ Sơn nói : “Cho ông một cái áo lá”.

Chỗ thấy của Ngài Đạo Ngô sao lại trái ngược với kinh này ? Thử tham xem !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:42:15 PM »

(tiếp theo)

汝觀地性。粗為大地。細為微塵。至鄰虛塵。析彼極微色邊際相。七分所成。更析鄰虛。即實空性。阿難。若此鄰虛析成虛空。當知虛空出生色相。汝今問言。由和合故。出生世間諸變化相。汝且觀此一鄰虛塵。用幾虛空和合而有。不應鄰虛。又鄰虛塵析入。空者。用幾色相合成虛空。若色合時。合色非空。若空合時。合空非色。色猶可析。空云何合。汝元不知如來藏中性色真空。性空真色。清淨本然。周遍法界。隨眾生心。應所知量。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。



Kinh : “Ông hãy xét cái tánh của Địa Đại : thô lớn thì làm đất liền, nhỏ nhặt thì làm vi trần, cho đến lân hư trần, do chia chẻ cái sắc cực vi nhỏ nhất làm bảy phần mà thành. Nếu chẻ lân hư trần nữa, thì thật là tánh hư không.

“Anan, nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thì thành hư không, vậy thì biết hư không sanh ra sắc tướng. Nay ông hỏi rằng : Do hòa hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì ông hãy xét một cái lân hư trần dùng bao nhiêu hư không hòa hợp lại mà có ? Không lẽ lân hư trần hợp lại thành lân hư trần ? Mà lân hư trần đã chẻ ra được thành hư không, thì dùng bao nhiêu sắc tướng để hợp thành hư không ? Nếu sắc hợp lại thì hợp sắc không thể thành hư không. Nếu hư không hợp lại, thì hợp hư không làm sao ra thành sắc ? Sắc có thể chẻ ra được, chứ hư không làm sao mà hợp lại được?

“Ông vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng : Tánh Sắc là Chân Không, Tánh Không là Chân Sắc, bản nhiên thanh tịnh, tròn khắp pháp giới, tùy tâm chúng sanh ứng ra chỗ hay biết, theo nghiệp mà hiện bày. Thế gian không biết, lầm cho là Nhân Duyên hay Tự Nhiên. Đó đều là thức tâm phân biệt, đo lường : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.


通曰。法界頌云。若人欲識真空理。身內真如還遍外。情與無情共一體。處處皆同真法界。此七大要旨也。真空者。一如之體也。七大者。循業之用也。體用不二。相依互舉。不離妙性。故一一皆曰性也。唯一性爾。空即性空。色即性色。故即空即色。是謂妙有。即色即空。是謂真無。真無妙有。是謂妙真如性也。唯不落有無。故曰清淨。然未嘗不有無。故曰本然。曰清淨。則非因緣所染。曰本然。則非和合所成。凡從因緣和合生者。有形相。有方所。不能周遍法界。唯不從因緣和合起者。無形相。無方所。故能周遍法界。遍法界是性。則莫不是七大。遍法界是七大。即莫不是性。如來之心。唯此清淨。唯此本然。唯此周遍。故不可知。不可量。眾生之心。於清淨者。有時而污染矣。於本然者。有時而不然矣。於周遍者。有時而不遍矣。隨其能知之心。稱其所知之量。知積成業。業積成果。或善或惡。變造十界依正之事。眾生之心無涯。眾生之業亦無涯。向非周遍法界之性以為之體。安能隨業發現。愈出而愈無窮耶。眾生業力。各各不同。然於清淨本然。毫無加損。故曰蠢動含靈。皆有佛性。世間無知。不悟三界唯心。萬法唯識。乃於循業發現之事。見以為有因生者。惑為因緣性。見以為無因生者。惑為自然性。不知清淨本然。有無俱離。因緣自然。無處可著。即謂因緣能生乎。鄰虛何緣而生空。空何緣而生色。唯空與空為緣。唯色與色為緣。縱令鄰虛能析成空。不知用幾虛空合成鄰虛。即鄰虛不因空有。則空非因鄰虛析而有也審矣。即空有不能以相生。而大地之生無自性也亦審矣。故以因緣和合說者謬。即謂自然而生乎。空何無故而有空。色何無故而有色。不因鄰虛之析。無以見空。不因鄰虛之積。無以成大地。然則大地之生。豈無因而忽有者。故以自然說者亦謬。彼其為是說也。從識心計度生也。非因緣而強曰因緣。非自然而強曰自然。但有言說。俱為無根戲論耳。豈知如來藏性不起於見。不著於相。不起於見。故非計度所及。不著於相。故非言說所到。心行處滅。言語道斷。乃可謂實相。乃可謂第一義諦也。秦 䟦 陀禪師問生法師講何經論。生曰。大般若經。陀曰。作麼生說色空義。生曰。眾微聚曰色。眾微無自性曰空。陀曰眾微未聚。喚作甚麼。生罔措。陀又問別講何經論。生曰。大涅槃。陀曰。如何說涅槃義。生曰。涅而不生。槃而不滅。故曰涅槃。陀曰。這個是如來涅槃。那個是法師涅槃。生曰。涅槃之義。豈有二耶。某甲秪如此。未審禪師如何說涅槃。陀拈起如意曰。還見麼。曰見。陀曰。見個甚麼。生曰。見禪師手中如意。陀將如意擲於地。曰見麼。曰見。陀曰。見個甚麼。生曰。見禪師手中如意墮地。陀斥曰。觀公見解。未出常流。何得名喧宇宙。拂衣而去。其徒懷疑不已。乃追陀扣問。我師說色空涅槃不契。未審禪師如何說色空義。陀曰。不道汝師說得不是。汝師秪說得果上色空。不會說得因中色空。其徒曰。如何是因中色空。陀曰。一微空故眾微空。眾微空故一微空。一微空中無眾微。眾微空中無一微。此亦非陀創為此語也。一根清淨故。眾根清淨。眾根清淨故。一根清淨。一根清淨中無眾根。眾根清淨中無一根。以此發明。不為難解。卻與性色真空。性空真色。指個入路。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Bài tụng Pháp Giới rằng :-

“Có ai muốn biết lý Chân Không
Chân Như trong tánh hiện khắp ngoài
Tình với vô tình chung một thể
Chốn chốn đều đồng Pháp Giới Chơn !”.

Đây là yếu chỉ của bảy Đại.

Chân Không là cái Thể Nhất Như vậy. Bảy Đại là cái Dụng duyên theo nghiệp vậy. Thể, Dụng không hai, nương nhau mà hiển, chẳng lìa Diệu Tánh, nên mỗi mỗi đều là Tánh. Duy chỉ một Tánh. Không là Tánh Không, Sắc là Tánh Sắc, bèn Tức Không, Tức Sắc, đó là Diệu Hữu, đó là Diệu Chân Như Tánh vậy. Không sa vào Hữu, Vô nên nói là thanh tịnh, mà chưa từng chẳng Hữu, Vô nên gọi là Bản Nhiên. Là trong sạch, tức nhân duyên chẳng thể ô nhiễm. Là Bản Nhiên, tức chẳng phải hòa hợp mà thành. Cái gì mà từ nhân duyên hay hòa hợp sanh, đó chỉ là hình tướng, có nơi chốn làm sao mà đầy khắp pháp giới ? Duy chỉ chẳng từ nhân duyên hay hòa hợp mà sanh thì không hình tướng, không xứ sở nên toàn khắp pháp giới. Toàn khắp pháp giới là Tánh, thì có gì chẳng phải là Thất Đại ? Toàn khắp pháp giới là Thất Đại thì có gì chẳng phải là Tánh ?

Tâm Như Lai chỉ một vị Thanh Tịnh, chỉ một vị Bản Nhiên, chỉ một vị Toàn Khắp nên không thể biết, không thể lường. Tâm của chúng sanh thì ở nơi cái Thanh Tịnh ấy lại có thời gian mà ô nhiễm. Ở trong cái Bản Nhiên ấy lại có thời gian mà chẳng như nhiên. Ở trong cái Toàn Khắp ấy, lại có thời gian mà hạn hẹp. Tùy cái tâm năng tri, xứng vừa với cái lượng sở tri. Biết cho lắm thì tích tụ thành nghiệp, nghiệp tích tụ thành quả, có thiện, có ác mà biến tạo ra cái Y Báo, Chánh Báo mười cõi. Tâm của chúng sanh tán loạn không bờ nên nghiệp của chúng sanh cũng đầy dẫy không bờ. Tâm ấy nếu không có cái Tánh Toàn Khắp pháp giới làm Thể thì làm sao tùy nghiệp mà phát hiện, để càng phát ra thì càng vô cùng ư ?

Nghiệp lực của chúng sanh mỗi mỗi chẳng đồng. Nhưng đồng ở trong cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên, một mảy lông cũng chẳng hề thêm bớt, nên nói rằng xuẩn động hàm linh đều có Phật Tánh. Thế gian mê lầm chẳng ngộ Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức. Thế nên, ở nơi những sự việc phát hiện ra theo nghiệp, thấy ra là có nhân duyên sanh, mà làm cho là tánh nhân duyên; còn thấy ra là không có nhân duyên sanh thì lầm cho là tánh Tự Nhiên. Chẳng rõ cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên thì sự Có Không đều lìa, cả Nhân Duyên hay Tự Nhiên đều không có ở nơi nào để bám níu.

Nói là Nhân Duyên sanh ư ? Thế thì lân hư duyên với cái gì để sanh ra hư không, hư không duyên với gì mà sanh ra lân hư ? Chỉ có hư không duyên với hư không, chỉ có sắc mới duyên với sắc. Dù cho lân hư chẻ ra thành hư không, thì phải bao nhiêu hư không để hiện thành lân hư. Lân hư chẳng phải do hư không mà có, thì hư không cũng chẳng phải nhân lân hư chẻ thành. Sắc, Không đã chẳng thể sanh lẫn nhau, thì sự sanh ra của Đại Địa là vô tự tánh.

Thế nên, nói Nhân Duyên hòa hợp sanh là sai lầm vậy.

Nói là Tự Nhiên sanh ư ? Hư không nào có vô cớ mà có hư không, sắc nào có vô cớ mà có sắc. Chẳng có nhân chẻ lân hư, thì nào có thấy được hư không ? Chẳng nhân gom tụ lân hư, làm sao thành Đại Địa ? Thế thì sự sanh ra của Đại Địa nào phải không có nguyên nhân mà tự nhiên bỗng có đâu ?

Do đó, nói Tự Nhiên sanh là sai lầm.

Cả hai thuyết đều là do Thức Tâm phân biệt suy lường, không phải Nhân Duyên mà gượng nói Nhân Duyên; không phải Tự Nhiên mà gượng cho là Tự Nhiên, chỉ là lời nói, toàn là hý luận không có căn cứ. Nào có biết rằng Như Lai Tạng Tánh chẳng có khởi lên đối với cái thấy, chẳng bám vào cái tướng. Không khởi nơi cái thấy, cho nên suy tính không thể tới nổi. Không bám nơi cái tướng nên lời nói không thể thấu đến. Đó là cái chỗ mà tâm hành xứ diệt  -(ct) Mất dấu. ), ngôn ngữ hết đường”, ấy mới là Thật Tướng, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy.


Thiền sư Tần Bạt Đà hỏi pháp sư Sanh : “Thầy giảng kinh luận gì ?”

Thầy Sanh đáp : “Kinh Đại Bát Nhã”.

Sư Đà nói : “Làm thế nào nói nghĩa Sắc Không ?”

Thầy Sanh đáp : “Các vi trần tụ lại là Sắc, các vi trần vô tự tánh là Không”.

Sư Đà nói : “Vi trần chưa tụ, gọi là gì ?”

Thầy Sanh không giãi bày được.


Thiền sư Đà lại hỏi : “Còn giảng kinh nào khác nữa ?”

Thầy Sanh đáp : “Kinh Đại Niết Bàn”.

Sư Đà nói : “Nói nghĩa Niết Bàn như thế nào ?”

Thầy Sanh đáp : “Niết mà chẳng sanh, Bàn mà chẳng diệt, nên gọi đó là Niết Bàn”.

Sư Đà nói : “Cái ấy là Niết Bàn của Như Lai, cái gì là Niết Bàn của pháp sư ?”

Thầy Sanh đáp : “Nghĩa của Niết Bàn há có hai sao ? Tôi chỉ như thế này, chưa hiểu thiền sư nói Niết Bàn như thế nào ?”

Sư Đà đưa cây hốt như ý lên, rồi nói : “Thấy chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Sư Đà nói : “Thấy cái gì ?”

Đáp : “Thấy cái hốt như ý trong tay thiền sư”.

Sư Đà ném cái hốt như ý xuống đất, rồi hỏi : “Thấy không ?”

Đáp : “Thấy”.

Sư Đà nói : “Thấy cái gì ?”

Đáp : “Thấy cái hốt trong tay thiền sư rớt xuống đất”.

Thiền sư chê rằng : “Xem qua chỗ thấy hiểu của ông, chưa ra khỏi đám thường tình, sao gọi được là làm ồn náo vũ trụ  -(ct) Giảng kinh. )”.
Rồi phất tay áo bỏ đi.

Các đệ tử của pháp sư nghi ngờ chưa dứt, bèn chạy theo níu thiền sư Đà lại, hỏi : “Thầy tôi nói Sắc Không, Niết Bàn chẳng khế hợp, chưa rõ thiền sư nói nghĩa Sắc Không như thế nào ?”

Thiền sư Đà nói : “Ta chẳng nói thầy các con thuyết không được đúng, nhưng thầy các con chỉ nói Sắc Không trên quả vị, mà chẳng biết nói cái Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân”.

Đệ tử thưa : “Như thế nào là Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân ?”

Thiền sư Đà nói : “Một vi trần Không nên chúng vi trần Không, chúng vi trần Không nên một vi trần Không. Trong chúng vi trần Không, không có một vi trần”.

Đây không phải là lời thiền sư Đà đặt ra, vì kinh nói : Một căn thanh tịnh nên các căn thanh tịnh. Các căn thanh tịnh nên một căn thanh tịnh. Trong một căn thanh tịnh không có các căn. Trong các căn thanh tịnh không có một căn.

Lấy chỗ này phát minh thì chẳng phải khó hiểu. Bèn cùng với “Tánh Sắc Chân Không, Tánh Không Chân Sắc” chỉ ngay đường vào.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Ba 11, 2011, 08:46:20 PM »

(tiếp  theo)

阿難。火性無我。寄於諸緣。汝觀城中未食之家。欲炊爨時手執陽燧。日前求火。阿難。名和合者如我與汝一千二百五十比丘。今為一眾。眾雖為一。詰其根本。各各有身。皆有所生氏族名字。如舍利弗婆羅門種。優樓頻螺(此云木爪癃)迦葉波種。乃至阿難瞿曇(星名亦云日種)種姓。阿難。若此火性。因和合有。彼手執鏡。於日求火。此火為從鏡中而出。為從艾出。為於日來。阿難。若日來者。自能燒汝手中之艾。來處林木。皆應受焚。若鏡中出。自能於鏡出然於艾。鏡何不鎔。紆汝手執。尚無熱相。云何融泮。若生於艾。何藉日鏡光明相接。然後火生。汝又諦觀。鏡因手執。日從天來。艾本地生。火從何方遊歷於此。日鏡相遠。非和非合。不應火光無從自有。汝猶不知如來藏中。性火真空。性空真火。清淨本然。周遍法界。隨眾生心。應所知量。阿難。當知世人一處執鏡。一處火生。遍法界執。滿世間起。起遍世間。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。


Kinh : “Anan, tánh Lửa vô ngã, nhờ ở các duyên mà hiện. Ông hãy xem các nhà chưa nấu ăn ở trong thành, khi muốn nấu bếp thì tay cầm kính dương toại đưa ra ngoài mặt trời mà cầu lửa.

“Anan, phàm gọi là Hòa Hợp thì như Ta, ông và một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo nay hợp thành một chúng. Chúng tuy là một, nhưng gạn xét về căn bản, thì mỗi người đều có tánh, đều có chỗ sanh, tên hiệu, họ hàng của mình. Như Ông Xá Lợi Phất thuộc dòng Bà La Môn, Ông Ưu Lâu Tần Loa thì thuôc dòng Ca Diếp Ba, cho đến Ông Anan thì thuộc dòng Cù Đàm.

“Anan, nếu tánh Lửa nhân Hòa Hợp mà có ra, thì khi người kia cầm kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính mà ra, do từ bùi nhùi mà có hay là từ mặt trời mà đến ?

“Anan, nếu từ mặt trời mà đến, lửa ấy đã đốt được bùi nhùi trong tay ông, thì những rừng cây mà ánh sáng mặt trời đi qua phải bị đốt cháy cả. Nếu từ trong kính mà ra, thì lửa ấy đã có thể từ nơi kính ra mà đốt cháy bùi nhùi, làm sao kính lại không bị chảy. Cho đến cả tay cầm kính cũng không thấy nóng, thì làm sao kính chảy ra được. Nếu do bùi nhùi sanh ra, thì cần gì ánh sáng mặt trời và kính tiếp xúc với nhau, rồi lửa mới sinh. Ông hãy xét cho kỹ : kính thì do tay cầm, ánh sáng mặt trời thì từ trên xuống, còn bùi nhùi thì từ đất sanh, vậy lửa từ phương nào đến đây ? Mặt trời và kính xa nhau, chẳng có hòa, chẳng có hợp không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có ?

“Ông còn không biết rằng : Trong Như Lai Tạng, tánh Hỏa là Chân Không, tánh Không là Chơn Hỏa, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Anan, ông phải biết : Người đời cầm kính ở một chỗ thì một chỗ lửa sanh, khắp pháp giới cầm kính thì khắp pháp giới có lửa. Lửa khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo Nghiệp phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên và tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.


通曰。龍勝云。諸法實有。不應以心識。故知有相。若以心識故知有。是則非有。如地堅相。以身根身識故知有。若無身根身識。則無堅相。問曰。身根身識。若知若不知。而地常有堅相。答曰。若先自知知堅相。若從他聞。則知有堅相。若先不知不聞。則無堅相。複次。地若常是堅相。不應舍其相。如 凝 酥 蜜樹膠。融則舍其堅相。墮濕相中。金銀銅鐵等亦然。如水為濕相。寒則轉為堅相。如是等種種。悉皆舍相。又曰。若火實有熱性。云何有人入火不燒。及人身中火而不燒身。云中火水不能滅。以火無有定熱性故。神通力故。火不能燒身。業因緣故。五藏不熱。神龍力故。水不能滅。若熱性與火異。火則非熱。若熱性與火一。云何言熱。火性如是。其餘亦然。如是總性。別性無故。名為性空。以如是之理。推地水火之性。喻如尋流而得源。一切皆空。世尊所示。自其性而發相。謂之循業發現。應所知量。龍勝所論。自其相而窮性。特顯髮色心不二云爾。陽燧亦名火方諸。論衡云。於五月丙午日午時銷爍五方石。圓如鏡。中央窪。照物則影倒。向日則火出。世間但知艾鏡日三者。因緣和合則火生。不知鏡艾與日相遠。非可和合。故非因緣。若謂忽然自有。應不藉陽燧向日求火故非自然。若謂三者各具火性。艾應自焚。鏡應自融。日光所及。應燒林木。三者俱無火性。足知火性是空。然以三者業力故。火隨業現。足知性空。即火起遍世間。寧有方所。故鑽木則得火。擊石則得火。循業發現。不止陽燧一端。總自清淨性中發起。即性即火。何藉因緣。火即性火。豈曰自然。故知火大非因緣。非自然。而性之也者。乃深於實相者也。雪峰開火次。因指火示眾曰。三世諸佛。在火焰裡轉大法輪。云門曰。 火為三世諸佛說法。三世諸佛立地聽。玄沙曰。近日王令稍嚴。峰曰作麼生。沙曰不許攙奪行市。峰乃吐舌。曹山一日入僧堂向火。有增曰。今日好寒。山曰。須知有不寒者。僧曰誰是不寒者。山筴火示之。僧曰莫道無人。山拋下火。僧曰。某甲到這裡卻不會。山曰。日照寒潭明更明。古人遇境即發明向上一路。為於性火真空。性空真火。有實透脫處。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ngài Long Thắng nói : “Nếu các pháp là thật có, thì chẳng cần dùng tâm thức mới biết là có tướng. Nếu dùng tâm thức mới biết là có, ấy là chẳng phải có. Như tướng cứng của Đất, phải dùng thân căn, thân thức mới biết là có. Còn nếu không có thân căn, thân thức thì không thấy có tướng cứng”.

Hỏi rằng : “Thân căn, thân thức thì có khi cảm biết, có khi không cảm biết, còn đất thì vẫn luôn luôn có tướng cứng chứ ?”
Đáp rằng : “Hoặc trước đã tự nhiễm biết cái tướng cứng, hoặc nghe người nói mới biết là có tướng cứng. Nếu trước chẳng nhiễm biết, chẳng nghe nói thì làm gì có cái tướng cứng ? Lại nữa, nếu đất luôn luôn thật là tướng cứng, thì không thể bỏ tướng cứng ấy. Nhưng như tô lạc, mật ong, nhựa cây khi nấu thì phải bỏ cái tướng cứng mà biến thành thể lỏng. Vàng, bạc, đồng, sắt hết thảy đều như thế. Còn nước đang ở thể lỏng, lạnh thì chuyển thành tướng cứng là băng. Như vậy, tất cả mọi thứ mọi loại đều có thể biến đổi tướng trạng”.

Ngài lại nói : “Nếu lửa thật có tánh nóng, thì sao có người vào lửa chẳng cháy. Trong thân cũng có lửa nóng, sao chẳng thiêu thân ? Lửa ở trong mây mà nước không diệt được. Bởi thế, lửa không có tánh nóng nhất định. Vì thần thông lực, lửa không thể cháy thân. Vì nghiệp nhân duyên, ngũ tạng không nóng. Vì lực điện trong mây, nước không diệt được. Nếu tánh nóng và lửa khác nhau, thì lửa chắc chẳng nóng. Nếu tánh nóng và lửa là một, thì sao còn gọi là nóng ? Tánh lửa như thế, các Đại khác cũng vậy”.

Như thế, tánh chung và tánh riêng đều Không, nên gọi là Tánh Không. Lấy theo Lý ấy mà suy ra tánh của Đất, Nước, Lửa thì cũng như theo dòng mà thấu được nguồn : tất cả đều Không.

Chỗ chỉ bày của Đức Thế Tôn là : Từ cái Tánh mà phát ra Tướng, gọi là theo Nghiệp mà phát hiện, ứng với cái lượng của Sở Tri. Còn chỗ luận của Ngài Long Thắng là : Từ nơi Tướng mà thấu cùng đến cái Tánh, đặc biệt hiển bày cái Sắc Tâm chẳng hai vậy.

Cái kính Dương Toại cũng gọi là Ngũ Phương Chư. Sách Luận Hành chép : “Tháng Năm, ngày Bính Ngọ, giờ Ngọ làm đá Ngũ Phương tròn như cái gương, ở giữa trũng. Soi vật thì ảnh ngược, hướng về mặt trời thì có lửa”.

Thế gian chỉ biết bùi nhùi, kính với mặt trời : ba cái nhân duyên hòa hợp lại thì lửa sanh. Chẳng biết rằng kính, bùi nhùi cùng với mặt trời đều ở xa nhau, chẳng phải Hòa hợp nên chẳng phải là Nhân Duyên. Nếu nói bỗng nhiên tự có ra, thì đáng lẽ chẳng cần kính hướng vào mặt trời, thế nên cũng chẳng phải Tự Nhiên. Nếu nói cả ba cái, mỗi cái đều có tánh lửa, thì lẽ ra bùi nhùi phải tự cháy, kính phải tự chảy và chỗ ánh sáng mặt trời đi đến, như rừng cây phải bị cháy thiêu ! Cả ba cái đều không có tánh lửa, đủ biết là Hỏa Tánh vốn Không. Nhưng vì cái sức nghiệp của ba cái mà lửa tùy theo nghiệp hiện ra. Thế mới biết, lửa có khắp thế gian là Tánh Không, nào có nơi chốn. Nên cọ xát cây thì có lửa, đập đá là có lửa. Tất cả đều theo nghiệp mà phát hiện, chẳng riêng ở một cái kính Dương Toại, đều từ trong cái Tánh Thanh Tịnh phát khởi ra. Ngay Tánh tức là lửa, nào mượn Nhân Duyên ? Ngay lửa là Tánh, sao nói là Tự Nhiên ? Thế nên, Hỏa Đại vốn chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên. Tánh lửa ấy bèn chính là Thật Tướng vậy.

Tổ Tuyết Phong nhóm lửa xong, bèn chỉ ngay ngọn lửa mà khai thị cho đại chúng : “Ba đời Chư Phật đang ở trong ngọn lửa chuyển Đại Pháp Luân”.

Tổ Vân Môn nói rằng : “Ngọn lửa là ba đời Chư Phật thuyết pháp. Ba đời Chư Phật lập tức nghe”.

Tổ Huyền Sa nói : “Gần đây lệnh vua khá nghiêm ngặt !”

Tổ Tuyết Phong nói : “Là làm sao ?”

Tổ Sa nói : “Chẳng để cho trà trộn cướp đồ ngoài chợ !”

Tổ Tuyết Phong bèn le lưỡi.


Ngày nọ, Tổ Tào Sơn vào tăng đường hơ lửa.

Có vị sư nói : “Hôm nay lạnh thật”.

Tổ Sơn nói : “Nên biết có cái chẳng lạnh !”

Vị sư hỏi : “Ai là kẻ chẳng lạnh ?”

Tổ Sơn gắp lửa mà chỉ đó.

Nhà sư nói : “Chớ nói là không có người”.

Tổ Sơn ném bỏ lửa xuống.

Nhà sư nói : “Con ở trong chỗ ấy chẳng hiểu được”.

Tổ Sơn nói : “Mặt trời soi đầm lạnh, sáng ngời lại sáng ngời”.

Cổ nhân gặp cảnh thì phát minh Một đường hướng thượng. Đó là Tánh lửa Chân Không, Tánh Không thật lửa, nơi ấy là chỗ thấu thoát chân thật.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dieunha, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 08:40:13 PM »

(tiếp theo)

阿難。水性不定。流息無恆。如室羅城迦毗羅(此云黃赤色)仙。研迦羅(此云輪)仙。及缽頭摩(此云赤蓮華)訶薩多等諸大幻師。求太陰精。用和幻藥。是諸師等。於白月晝。手執方諸。承月中水。此水為復從珠中出。空中自有。為從月來。阿難。若從月來。尚能遠方令珠出水。所經林木。皆應吐流。流則何待方諸所出。不流明水非從月降。若從珠出。則此珠中常應流水。何待中宵承白月晝。若從空生。空性無邊。水當無際。從人洎天。皆同滔溺。云何復有水陸空行。汝更諦觀。月從天陟。珠因手持。承珠水盤。本人敷設。水從何方流注於此。月珠相遠非和非合。不應水精無從自有。汝尚不知如來藏中。性水真空。性空真水。清淨本然。周遍法界。隨眾生心。應所知量。一處執珠。一處水出。遍法界執。滿法界生。生滿世間。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。



Kinh : “Anan, tánh Nước chẳng định : khi chảy, khi ngừng không có chừng. Như trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca Tỳ La, Chước Ca La và các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa... muốn cầu tinh Thái Âm để hòa với các thuốc huyễn thuật, thì các ông ấy trong lúc mặt trăng tròn sáng, tay cầm hạt châu Phương Chư, hứng nước trong ánh mặt trăng. Vậy, nước ấy từ trong hạt châu mà ra hay ở trong hư không tự có hay từ mặt trăng đến ?

“Anan, nếu từ mặt trăng đến, thì ở phương xa còn có thể làm hạt châu có ra nước, thì ánh sáng qua những rừng cây lẽ ra đều phải có chảy nước. Có chảy nước thì cần gì phải đợi hạt châu Phương Chư ? Còn nếu không chảy nước thì biết là nước chẳng phải từ mặt trăng xuống. Nếu từ hạt châu mà ra, thì trong hạt châu thường phải chảy nước, sao lại phải đợi nửa đêm có mặt trăng sáng ? Nếu do hư không mà sanh, thì hư không vô bờ bến, thì nước cũng không có giới hạn, vậy thì cõi người đến cõi trời đều phải chìm ngập, làm sao còn các loài ? Ông hãy xét kỹ : mặt trăng từ trời chiếu xuống, hạt châu do tay cầm, còn cái mâm hứng nước thì do người xếp đặt, vậy nước kia từ phương nào mà chảy đến đây ? Mặt trăng và hạt châu thì cách xa nhau, không phải hòa, không phải hợp, chẳng lẽ nước kia không từ đâu mà tự có ?

“Ông còn không biết rằng trong Như Lai Tạng, Tánh Thủy là Chân Không, Tánh Không là Chân Thủy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Một chốn cầm châu thì một chốn có nước chảy ra. Khắp pháp giới cầm hạt châu thì khắp pháp giới nước sanh ra. Nước có khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ là lời nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.


通曰。方諸亦名陰燧。形如蛤。熟拭令熱。以向月。則津然出水。方石也。諸珠也。煉石成之。應於十一月壬子日子時造。月望前曰白。望後曰黑。亭午曰晝。亦月明如晝意也。外道於定中。或睹日月輪。或見紅蓮華。及黃赤色。故各以其術得名。楞伽云。譬如日月形。缽頭摩深險。如虛空火燼。如是種種相。外道道通禪。此之謂也。其幻術。皆以藥為之。今世傳神仙幻術。多用陽起石及磁石等。即此之類。水之出方珠也。非和合。非自然。固與陽燧無以異。至謂空性無邊。水當無際。云何復有水陸空行。不與性空真水相刺謬乎。蓋以相論則有形。故水滿空而同溺。以性論則無形。故空現水而無盡。此性水真空。性空真水。蓋指清淨四大之性而言。性本空故。空空相涵。空空不二。孰見有凌奪之相哉。後富樓那所疑。第於性上疑其凌奪。非疑其相也。相不相容。世尊已於此先言之矣。又何更用疑。藥山問僧甚處來。曰湖南來。山曰。洞庭水滿也未。曰未。山曰許多時雨水。為甚麼未滿。僧無對。道吾代云。滿也。云岩曰。湛湛地。洞山云。甚麼劫中曾增減來。云門曰。祗在這裡。又雪峰云。飯籮邊坐。餓死人無數。海水邊坐。渴殺人無數。玄沙云。飯羅里坐。餓死人無數。海水沒頭。渴殺人無數。云門云。通身是飯。通身是水。天童拈云。我即不然。飯羅里坐。脹殺人無數。海水沒頭。漫殺人無數。以前傷乎不吞。以後傷乎不吐。祗如雲門云。通身是飯。通身是水。到這裡。無你吞吐處。古人舉唱性海波瀾。重重無盡。到云門。通身是水。語方十成。卻才與性水真空。性空真水。清淨本然。周遍法界。若合符契。故知以意想測度性空性水者。蓋不啻幾多般矣。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Châu Phương Chư còn gọi là Âm Toại, hình giống con sò. Chà cho nóng, để dưới ánh trăng sẽ sinh ra nước. Phương là đá, Chư là ngọc. Luyện nấu đá mà thành, làm vào tháng Một (Mười Một), ngày Nhâm Tý, giờ Tý.
Nước sinh ra ở hạt Phương Chư vốn chẳng phải do Hòa Hợp, chẳng phải là Tự Nhiên thì cũng giống như kính Dương Toại. Nhưng chỗ nói “Nếu do hư không mà sanh, thì hư không vô biên, nước cũng không giới hạn... làm sao còn các loài ?” Chẳng phải là mâu thuẫn với chỗ Tánh Không Chân Thủy sao ? Bởi vì, lấy Tướng mà luận thì có hình, nên nước đầy hư không mà làm đắm chìm cả. Nhưng lấy Tánh mà luận thì vô hình, nên hư không vô tận thì nước hiện ra cũng vô tận. Câu “Tánh Thủy Chân Không” này là chỉ về tánh của tứ Đại thanh tịnh mà nói. Tánh vốn là Không, Không Không tương dung, Không Không bất nhị làm gì thấy có lấn đoạt lẫn nhau ?

Đoạn sau, chỗ nghi của Ông Phú Lâu Na là ở nơi Tánh mà nghi có sự lấn đoạt, chứ chẳng phải nghi ở nơi Tướng. Tướng thì chẳng tương dung, Thế Tôn đã nói trước rồi còn nghi gì nữa !

Tổ Dược Sơn hỏi vị sư : “Từ đâu tới ?”

Đáp : “Ở Hồ Nam lại”.

Tổ Sơn hỏi : “Nước hồ Động Đình đầy chưa ?”


Đáp : “Dạ, chưa”.
Tổ Sơn nói : “Mưa đã lâu, sao chưa đầy ?”

Vị sư không đáp được.

Tổ Đạo Ngô nói thay rằng : “Đầy rồi mà !”

Tổ Vân Nham nói : “Chỗ sâu xa !”

Tổ Động Sơn nói : “Trong kiếp nào mà từng có tăng, giảm ?”

Tổ Vân Môn nói : “Chỉ ở trong ấy !”

Tổ Tuyết Phong nói : “Ngồi bên rá cơm mà đói chết vô số người. Ngồi bên biển nước, khát chết vô số người !”

Tổ Huyền Sa rằng : “Ngồi trong rá cơm, đói chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước, khát chết vô số người !”

Tổ Vân Môn : “Suốt thân là cơm, suốt thân là nước”.

Tổ Thiên Đồng nêu ra : “Ta thì chẳng vậy, ngồi trong rá cơm, cái no làm chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước, cái nê làm chết vô số người !”

Trước là cái họa vì chẳng nuốt vào. Sau là cái họa vì chẳng mửa ra. Chỉ như Ngài Vân Môn nói : Suốt thân là cơm, suốt thân là nước. Ở trong ấy thì không còn chỗ nuốt vào, mửa ra. Cổ nhân cử xướng cái tánh biển thật như sóng nước trùng trùng vô tận, đến Tổ Vân Môn : “Suốt thân là nước”, lời nói mới trọn thành.

Cùng với “Tánh nước Chân Không, Tánh Không thật nước, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới”, thật là khế hợp. Do đó mà biết rằng lấy Ý Thức mà đo lường Tánh Không, Tánh Thủy thì biết kêu gào mấy cho vừa.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 08:42:21 PM »

(tiếp theo)

阿難。風性無體。動靜不常。汝常整衣。入於大眾。僧伽梨角(此云大衣)動及傍人。則有微風拂彼人面。此風為復出袈裟角。(此云壞色)發於虛空。生彼人面。阿難。此風若復出袈裟角。汝乃披風。其衣飛搖。應離汝體。我今說法。會中垂衣。汝看我衣。風何所在。不應衣中有藏風地。若生虛空。汝衣不動。何因無拂。空性常住。風應常生。若無風時。虛空當滅。滅風可見。滅空何狀。若有生滅。不名虛名。名為虛空。云何風出。若風自生被拂之面。從彼面生。當應拂汝。自汝整衣。云何倒拂。汝審諦觀。整衣在汝。面屬彼人。虛空寂然。不參流動。風自誰方。鼓動來此。風空性隔。非和非合。不應風性無從自有。汝宛不知如來藏中性風真空。性空真風。清淨本然。周遍法界。隨眾生心。應所知量。阿難。如汝一人。微動服衣。有微風出。遍法界拂。滿國土生。周遍世間。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。

Kinh : “Anan, tánh Gió không có tự thể, khi động khi tĩnh bất thường. Ông thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo Tăng Già Lê động đến người gần bên thì có chút gió phất qua mặt người kia. Gió đó là do gấu áo cà sa mà ra, từ hư không mà phát khởi hay do mặt người kia mà sanh ?

“Anan, nếu gió ấy phát ra do gấu áo cà sa, thì ông đã mặc cả gió, cái áo phải bay tung rời khỏi thân ông. Nay ta thuyết pháp, rủ áo ở trong hội này, ông hãy xem cái áo của Ta, gió ở nơi đâu ? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió?
“Nếu gió đó do hư không sanh ra, thì khi áo ông không động sao gió chẳng bay phất. Tánh của hư không thì thường còn, gió phải thường sanh ra. Còn khi không có gió, hư không phải diệt mất! Gió diệt có thể thấy được, hư không diệt thì có nghĩa gì ? Bởi vì có sanh diệt, thì đâu có gọi là hư không ? Còn đã gọi là hư không, thì gió ở đâu mà ra được ?

“Nếu gió ấy sanh ra do cái mặt người bị phất, thì đã do mặt người ấy sanh ra, lẽ ra phải phất vào ông, sao tự ông sửa áo mà lại phất ngược vào người kia ?

“Ông hãy xét kỹ : sửa áo là do nơi ông, mặt thuộc về người kia, hư không lặng yên chẳng hề lay động, thì gió từ phương nào phát động đến đây ? Tánh của gió và của hư không cách biệt, chẳng có hòa, chẳng có hợp, không lẽ gió kia không do đâu mà tự có ?

“Ông thật không rõ rằng : Trong Như Lai Tạng, Tánh Gió là Chân Không, Tánh Không là Thật Gió, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Anan, như một mình ông hơi động cái áo thì có chút gió bay ra. Khắp pháp giới đều phất, thì khắp các quốc độ đều có gió. Phong Đại có ở cùng khắp thế gian mà không có nơi chốn, chỉ theo Nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ có lời nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.


通曰。整衣在汝。而衣不飄去。面屬彼人。而風不倒拂。虛空寂然。而不隨風生滅。是三者。不興風流動之性相參。誰為和合。不應風性無根而出。誰謂自然。以風即性故。性即風故。特循業發現。如衣動風生云爾。性遍法界。則風遍法界。故均名曰大。儒者言坤為地。坎為水。離為火。巽為風。總不外乎陰陽。陰陽從何而生。自太極動靜中來也。一物各具一太極。萬物統體一太極。未嘗不即理即事。即事即理。然而悟心為太極者鮮矣。既悟心為太極。天下寧有心外之物哉。麻谷使扇次。僧問風性常住。無處不周。和尚為甚麼卻搖扇。谷曰。你秪知風性常住。且不知無處不周。僧曰。作麼生是無處不周。谷卻搖扇。僧作禮谷曰無用處師僧。著得一千個有甚麼益。又南泉問僧曰。夜來好風。僧曰。夜來好風。泉曰。吹折門前一枝松。僧曰。吹折門前一枝松。又問一僧曰。夜來好風。僧曰。是甚麼風。泉曰。吹折門前一枝松。僧曰。是甚麼松。泉曰。一得一失。據二僧答處。俱有衲僧氣息。南泉何謂一得一失。若定當得出。許親見南泉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Ông tự sửa áo mà áo không bay mất. Cái mặt thuộc người kia mà gió chẳng phất ngược lại. Hư không lặng yên, chẳng theo gió mà có sanh có diệt”. Ba cái ấy chẳng can dự gì tánh lưu động của gió, thì cái gì mà cho là hòa hợp ? Chẳng lẽ gió không đâu mà có ra, sao gọi là Tự Nhiên ? Bởi vì Gió tức là Tánh, Tánh tức là Gió vậy. Chỉ theo nghiệp mà phát hiện ra, như áo động thì có gió sinh. Tánh cùng khắp pháp giới, thì gió cũng cùng khắp pháp giới, nên cùng gọi là Đại (lớn).

Nho gia nói Khôn là Đất, Khảm là Nước, Ly là Lửa. Tốn là Gió. Tất cả không ra ngoài Âm Dương. Âm Dương từ đâu sanh ra ? Từ trong Động Tĩnh của Thái Cực sanh ra vậy. Mỗi vật đều đầy đủ một Thái Cực. Vạn vật đều suốt một thể Thái Cực. Chưa từng chẳng phải tức Lý là Sự, tức Sự là Lý. Nhưng mà ngộ Tâm là Thái Cực thì ít có thay ! Đã ngộ Tâm là Thái Cực, dưới trời đâu có cái vật ở ngoài Tâm ư ?

Tổ Ma Cốc đang quạt, có nhà sư hỏi : “Tánh của gió thường trụ, không nơi nào chẳng khắp, Hòa Thượng còn động quạt làm gì ?”

Tổ Cốc nói : “Ông chỉ biết “Tánh gió thường trụ”, mà không biết chuyện không đâu chẳng khắp”.

Nhà sư nói : “Sao là không đâu chẳng khắp ?”

Tổ Cốc lại phẩy quạt.

Nhà sư làm lễ.

Tổ Cốc nói : “Cái ông sư không có chỗ dùng, dẫu có ngàn ông thì có ích gì !”

Lại Tổ Nam Tuyền hỏi nhà sư : “Đêm qua gió mạnh, nhỉ ?”

Nhà sư đáp : “Đêm qua gió mạnh”.


Tổ Tuyền nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa !”

Sư nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa”.

Tổ Nam Tuyền lại hỏi một nhà sư khác : “Đêm qua gió mạnh, nhỉ ?”

Nhà sư nói : “Là ngọn gió nào ?”

Tổ Tuyền nói : “Thổi gãy một cành tùng trước cửa !”

Nhà sư nói : “Là cây tùng nào ?”

Tổ Tuyền nói : “Một được, một mất”.

Căn cứ vào chỗ đáp của hai vị tăng thì đều có hơi thở thiền tăng. Sao Ngài Nam Tuyền lại nói một được, một mất ? Nếu định ngay ra được, mới cho là tự mình thấy Nam Tuyền.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 08:51:21 PM »

(tiếp theo)


阿難。空性無形。因色顯發。如室羅城。去河遙處。諸剎利種(此云王族)及婆羅門。(此云淨志)毗舍(商賈)首陀(農人)兼頗羅墮。(此云智人)旃陀羅等。(魁膾愚人)新立安居。鑿井求水。出土一尺。於中則有一尺虛空。如是乃至出土一丈。中間還得一丈虛空。虛空淺深。隨出多少。此空為當因土所出。因鑿所有。無因自生。阿難。若復此空無因自生。未鑿土前。何不無礙。唯見大地。迥無通達。若因土出。則土出時。應見空入。若土先出。無空入者。云何虛空。因土而出。若無出入。則應空土元無異因。無異則同。則土出時。空何不出。若因鑿出。則鑿出空。應非出土。不因鑿出。鑿自出土。云何見空。汝更審諦諦審諦觀。鑿從人手。隨方運轉。土因地移。如是虛空。因何所出。鑿空虛實。不相為用。非和非合。不應虛空無從自出。若此虛空性圓周遍。本不動搖。當知現前地水火風。均名五大。性真圓融。皆如來藏。本無生滅。阿難。汝心昏迷。不悟四大元如來藏。當觀虛空。為出為入。為非出入。汝全不知如來藏中。性覺真空。性空真覺。清淨本然。周遍法界。隨眾生心。應所知量。阿難。如一井空。空生一井。十方虛空。亦復如是。圓滿十方。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。



Kinh : “Anan, hư không không có hình, nhân sắc mà hiển ra. Như trong thành Thất La Phiệt là chỗ xa sông, những người dòng Sát Lỵ, dòng Bà La Môn, dòng Tỳ Xá, dòng Thủ Đà hay dòng Phả La Đọa, dòng Chiên Đà La... Khi dựng nhà mới thì đào giếng để lấy nước. Đào lên một thước đất, thì trong đó có một thước hư không, như vậy cho đến đào lên được một trượng, thì trong đó lại được một trượng hư không. Hư không sâu hay cạn tùy theo đào lên nhiều hay ít. Hư không đó, do đất mà ra, nhân đào mà có hay không nhân gì mà tự sanh ?
“Anan, hư không đó không do gì mà tự sanh, thì trước khi chưa đào đất, sao chỗ ấy lại không trống rỗng, mà chỉ thấy là đất, chẳng có gì thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, thì khi đất được moi ra phải thấy có hư không vào. Nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, làm sao nói là hư không nhân đất mà ra ? Còn nếu không ra, không vào thì hư không với đất vốn không khác nguyên nhân. Không khác tức là đồng, thì khi đất ra, hư không sao chẳng có ra ? Nếu nhân đào mà ra, thì đào phải có ra hư không chớ chẳng phải ra đất. Nếu chẳng nhân đào mà có ra, khi tự đào thì ra đất, sao lại thấy hư không ?
“Ông hãy xét xem, xét kỹ, xem kỹ : sự đào do từ tay người chuyển vận theo phương hướng, đất thì từ nơi mặt đất mà dời đi, như thế hư không nhân đâu mà có ra ? Sự đào và hư không: một cái thật, một cái hư, không tác dụng gì với nhau, chẳng phải hòa, chẳng phải hợp, chẳng lẽ hư không không do đâu mà tự có ra ?

“Nếu hư không đó bản tánh tròn đầy toàn khắp, vốn chẳng hề lay động thì phải biết rằng hiện giờ ngay trước mặt đây : Hư Không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là năm Đại, bản tánh vốn chân thật, viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

“Anan, tâm ông mê muội, chẳng ngộ bốn Đại vốn là Như Lai Tạng. Phải nhìn ngay hư không là ra, là vào hay chẳng phải ra, vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng : Tánh Giác là Chân Không, Tánh Không là Chân Giác, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

“Anan, như một cái giếng trống không thì hư không có trong một cái giếng, mười phương hư không thì cũng như vậy. Không Đại tròn đầy khắp mười phương, thật không nơi chốn, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho đó là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của tâm thức, chỉ có lời nói, danh từ toàn không có thật nghĩa.


通曰。空性無形。豈有出入。但因色顯發。知有空耳。有色非空。無色即空。色有去來。空無起滅。非但地能障空。即水即火即風皆色也。非但鑿地可以見空。即去水滅火息風。亦可以見空。故當四大之生也。空未嘗無。當四大之滅也。空非始有。四大有去來。而空元無出入。空性周圓容易可解。四大真空亦猶是也。當未隨業之時。清淨本然。周遍法界。本未嘗無。及既發現之後。隨感隨應充滿世間。亦非始有。相有生滅。性無生滅。有生滅者。必不周遍。唯周遍者。自無生滅。謂之如來藏者。來無所從。去無所至。豈容生滅於其間哉。若論頑空。雖無出入。亦有生滅。如後舉空生大覺中。如海一漚發。十方虛空悉皆銷殞。唯真空即真覺。原無生滅。前四大曰真色真火真水真風。皆以真言。即後所云清淨四大也。皆以性言。不取於相。故曰性真圓融。皆如來藏。本無生滅。明明自性真而言。若諸相有形。安能圓融無礙乎。融之云者。即色即空。即空即色。不見有五大之跡。惟是一空。圓之云者。空不礙色。色不礙空。五大迭出無窮。不離一真也。前以四大融會真空。此以真空銷歸真覺。明所謂真空者即真覺。非頑空比也。黃龍祖心禪師上堂心同虛空界。示等虛空法。證得虛空時。無是無非法。便恁麼休去。停橈把 。且向灣裡泊舡。若據衲僧門下。天地懸隔。且道衲僧門下有甚長處。楖 橫擔不顧人。直入千峰萬峰去又胡釘鉸參寶壽。壽問莫是胡釘鉸麼。胡云不敢。壽云還釘得虛空麼。胡云。請和尚打破將來。壽便打。胡不肯。壽云。已後有多口阿師為你點破去在。後參趙州。州云。莫是胡釘鉸麼。胡云不敢。州云。還釘得虛空麼。胡云。請和尚打破將來。州云。且釘這一縫。胡乃舉寶壽行棒因緣。胡云不知過在甚麼處。州云只這一縫尚不奈何。更教他打破虛空來。因代云且釘這一縫。州云。我與麼道。與他寶壽千里萬里。胡乃有省。合二則觀之。證得虛空者非。打破虛空者非。作麼生是出身之路。參。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Hư không chẳng có hình, sao có ra, vào ? Chỉ bởi sắc hiện bày mà biết có hư không : có sắc thì chẳng phải là hư không, không có sắc tức là hư không. Sắc có đến, đi; hư không chẳng hề khởi, diệt. Khi tứ Đại diệt, hư không chẳng phải lúc ấy mới có. Bốn Đại có đến-đi, hư không vốn chẳng hề ra-vào. Tánh hư không tròn khắp cũng dễ hiểu, bốn Đại Chân Không cũng giống như vậy. Khi chưa tùy theo nghiệp thì thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, vốn chưa hề không có. Khi đã theo nghiệp phát hiện rồi, tùy cảm tùy ứng mà đầy khắp thế gian thì cũng không phải lúc ấy mới có. Tướng có sanh diệt, Tánh không sanh diệt. Có sanh diệt, thì chẳng có Toàn Khắp. Còn cái Toàn Khắp thì tự nó không có sanh diệt, gọi đó là Như Lai Tạng, không từ đâu đến, không đi về đâu, há lại có sanh tử ở trong ấy ư ?

Nói về cái ngoan không  -(ct) Cái Không phi lý luận của Tiểu Thừa  và ngoại đạo. ) thì tuy không có ra vào, nhưng cũng là sanh diệt. Như sau này có nói “Hư Không sanh trong cái Đại Giác như một cái bọt sinh ra trong biển cả... Mười phương hư không cũng đều tiêu mất, chỉ duy cái Chân Không là Chân Giác vốn không sanh diệt”.

Ở bốn Đại trước thì nói Chân Sắc, Chân Hỏa, Chân Thủy, Chân Phong đều dùng chữ Chân. Sau thì nói “Bốn Đại thanh tịnh” là đều nói trong Tánh. Không giữ lấy Tướng, bèn là “Tánh Chân Thật, viên dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt”. Thật rành rành tự tánh Chân Thật mà nói. Nếu các tướng hữu tình, làm sao mà viên dung vô ngại ? Nói là Dung, thì “tức Sắc tức Không, tức Không tức Sắc”, chẳng hề thấy có dấu vết của ngũ Đại, duy chỉ thuần nhất một cái Không. Nói là Viên, thì “Không chẳng ngại Sắc, Sắc chẳng ngại Không”, ngũ Đại đắp đổi lẫn nhau, hiển xuất vô cùng mà chẳng rời Nhất Chân vậy.

Trước thì lấy tứ Đại mà dung hội Chân Không. Đây thì lấy Chân Không tan về Chân Giác. Rõ ràng cái gọi là Chân Không tức là Chân Giác, cái ngoan không làm sao so sánh được.

Thiền sư Hoàng Long Tổ Tâm thượng đường rằng : “Tâm đồng Hư Không giới, bình đẳng với Tánh Không. Chứng đắc Tánh Không bèn không có pháp nào phải, trái. Cứ như thế mà ngơi nghỉ. Dừng chèo, thả neo về bến đậu thuyền. Cứ theo như môn đệ của lão tăng thì trời đất cách riêng không dính. Nói thử môn đệ của lão tăng có chỗ nào kỳ đặc :

“Vác ngang ngọn lược chẳng đoái người
Thẳng vào ngàn muôn đỉnh núi đi”.

Lại có Ông Hồ Đinh Giao tham lễ Tổ Bửu Thọ.

Tổ hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao  -(ct) Đinh Giao có nghĩa là đóng đinh. ) ư ?”

Ông Hồ trả lời : “Không dám”.

Tổ Tho nói : “Có đóng được hư không chăng ?”

Ông Hồ nói : “Xin Hòa Thượng đả phá cho !”

Tổ Thọ bèn đánh.

Ông Hồ chẳng kham được ý chỉ ấy.

Tổ Thọ nói : “Về sau sẽ có ông thầy lắm lời vì ông mà chỉ cho chỗ này”.

Sau, Ông Hồ đến tham Ngài Triệu Châu.

Tổ hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao ư ?”

Ông Hồ nói : “Không dám”.

Tổ Châu hỏi : “Có đóng được hư không chăng ?”

Ông Hồ đáp : “Xin Hòa Thượng đả phá cho !”

Tổ Châu nói : “Hãy đóng vào một đường giáp nối ấy !”

Ông Hồ bèn kể chuyện bị gậy của Tổ Bửu Thọ.

Rồi hỏi : “Không rõ lỗi ở chỗ nào ?”

Tổ Châu nói : “Chỉ một đường giáp nối ấy còn chẳng biết làm sao, lại còn bảo người đả phá hư không !”

Nhân đó, Tổ nói thay : “Hãy đóng vào một đường giáp nối ấy !”

Tổ Châu lại nói : “Ta nói như thế thì đối cùng với Ông Bửu Thọ kia thật là ngàn dặm muôn dặm”.

Ông Hồ bèn có chỗ thức tỉnh.

Hợp hai tắc mà xét, thì chứng đắc hư không cũng chẳng đúng, mà đả phá hư không cũng chẳng đúng. Vậy, thế nào mà thoát thân ? Tham đi !

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 08:53:06 PM »

(tiếp theo)

阿難。見覺無知。因色空有。如汝今者。在祇陀林。朝明夕昏。設居中宵。白月則光。黑月便暗。則明暗等。因見分析。此見為復與明暗相併太虛空。為同一體。為非一體。或同非同。或異非異。阿難。此見若復與明與暗及與虛空元一體者。則明與暗二體相亡。暗時無明。明時無暗。若與暗一。明則見亡。必一於明。暗時當滅。滅則云何見明見暗。若明暗殊。見無生滅。一云何成。若此見精與暗與明非一體者。汝離明暗及與虛空。分析見元。作何形相。離明離暗。及離虛空。是見元同龜毛兔角。明暗虛空。三事俱異。從何立見。明暗相背。云何或同。離三元無。云何或異。分空分見。本無邊畔云何非同。見暗見明。性非遷改。云何非異。汝更細審微細審詳審諦審觀。明從太陽。暗從黑月。通屬虛空壅歸大地。如是見精。因何所出。見覺空頑。非和非合。不應見精無從自出。若見聞知。性圓周遍。本不動搖。當知無邊不動虛空並其動搖地水火風。均名六大。性真圓融。皆如來藏。本無生滅。阿難。汝性沉淪。不悟汝之見聞覺知。本如來藏。汝當觀此見聞覺知。為生為滅。為同為異。為非生滅。為非同異。汝曾不知如來藏中。性見覺明。覺精明見。清淨本然。周遍法界隨眾生心。應所知量。如一見根。見周法界。聽嗅嘗觸。覺觸覺知。妙德瑩然。遍周法界。圓滿十虛。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。



Kinh : “Anan, cái biết của Kiến Đại nhân Sắc Không mà có, ngoài ra là chẳng biết. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai thì sáng, chiều thì thấy tối. Đến lúc nửa đêm có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Những tướng sáng, tối ấy do cái Thấy phân tích ra. Cái Thấy ấy với cái tướng sáng, tối và cả hư không là đồng một thể hay chẳng đồng một thể ? Hay vừa đồng vừa chẳng đồng, vừa khác vừa chẳng khác?
“Anan, nếu cái Thấy đó cùng với sáng, tối và hư không vốn là một thể, thì sáng và tối tiêu diệt lẫn nhau. Khi tối thì không sáng, khi sáng thì không tối. Nếu cái Thấy cùng một thể với cái tối, thì khi sáng cái Thấy phải tiêu mất. Nếu cùng một thể với cái sáng, thì đến khi tối cái Thấy phải diệt. Làm sao còn thấy được sáng, thấy được tối. Còn như sáng và tối khác nhau, cái Thấy thì không sanh diệt, thì làm sao đồng một thể được ?
“Nếu cái Thấy đó không đồng một thể với cái sáng và cái tối thì lìa ngoài cái sáng, cái tối và hư không ông hãy phân tích cái Thấy có hình tướng gì ? Lìa ngoài cái sáng, tối và hư không, cái Thấy đó cũng đồng là lông rùa, sừng thỏ. Nếu cả ba cái sáng, tối và hư không hoàn toàn khác nhau, thì đo đâu mà lập thành cái Thấy ?
“Sáng và tối trái ngược lẫn nhau làm sao đồng được ! Lìa ngoài ba cái sáng, tối và hư không, cái Thấy vốn chẳng có gì, thì làm sao khác được ? Cái phần của hư không hay cái phần của cái Thấy vốn không bờ mé, sao lại chẳng đồng ! Thấy cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời đổi làm sao lại chẳng khác !
“Ông hãy xét kỹ, suy xét tinh vi, xem cho kỹ, thấy cho cùng : Sáng do mặt trời, tối từ đêm đen, thông thuộc về hư không, bít thuộc về đại địa, thì cái Thấy như thế nhân đâu mà có ? Cái Thấy thì có biết, hư không thì vô tri, không phải hòa không phải hợp, chẳng lẽ cái Thấy không do đâu mà có ?
“Như sự Thấy, Nghe, Hay, Biết tánh nó đầy đủ toàn khắp, vốn chẳng động lay. Nên phải biết : Kiến Đại cùng với hư không vô biên, bất động cùng vốn bốn Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong có lay động đều gọi là sáu Đại, bản Tánh Chân Thật Viên Dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.
“Anan, tánh ông trôi chìm, không ngộ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của ông vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem cái Thấy, Nghe, Hay, Biết này là sanh là diệt, là đồng là khác, là chẳng sanh diệt, là chẳng đồng, khác ?
“Ông nào có biết, trong Như Lai Tạng cái Thấy là Tánh Minh Giác, Tánh Minh Giác hiển lộ ra thành cái Thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.
“Như một cái Căn Thấy thấy khắp Pháp Giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Cảm Xúc, Biết các pháp đều là cái Diệu Đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tròn đầy cả mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy nghiệp hiện bày, thế gian lại không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều chỉ là sự phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có danh tự, lời nói, toàn không có thật nghĩa.


通曰。前地水火風空五大即具有色聲香味觸法六塵。所謂相分也。今見聞覺知六根。亦由清淨四大合成。夫因色空現前。對境即覺。未入分別。乃前五識。所謂見分也。故以見大總之。如一見根。見周法界。聽嗅嘗觸。覺觸覺知。妙德瑩然。遍周法界。何以均謂之妙。有形即見。有聲即聞。不疾而速。不行而至。非由擬議。不假安排。故謂之妙。此見無體。但因境胃。前境若無。見亦不生。豈有一體多體。與境離合。而可以同異四句論哉。但以四句立論者。皆戲論也。故明暗通塞。相代於目前。猶地水火風。迭現於空中。境有生滅。見無生滅。境有動搖。見無動搖。其周遍法界也。與空無二。然見覺空頑。非可和合。覺即是空。謂之真空。夫頑空有生滅也。真空無生滅也。頑空生滅於真覺之中。猶四大起滅於虛空之內。虛空與四大。不可以生滅同異論。而見覺於色空。又可以生滅同異觀哉。凡云生滅同異者。皆屬妄塵。凡云非生非滅非同非異者。皆屬妄計。但於境上辨。不於性上辨。故為戲論。若於性上辨者。此見緣性境。如第二月。不離真月故。性發而為見。即真覺發而為明也。覺者其見之精。明者其見之用也。如燈有光。燈者其照之精。光者其照之用也。即見即覺。即覺即空。本無染污。故曰清淨。本無造作。故曰本然。本無方所。故曰周遍。約三身而論。清淨即法身。本然即報身。周遍即化身。約三德而論。清淨即理。本然即智。周遍即行。合三者而融攝之。舉一即三。舉三即一。其未感也。清淨本然。周遍法界。此見非淪於無。其既應也。妙德瑩然。遍周法界。此見非著於有。六根清淨。圓滿十虛。故有見百佛界者。有見千佛界者。必見周法界。始滿清淨之量。不然。亦應所知量循業發現而已。後云汝以空明。則有空現。地水火風。各各發明。則各各現。此應所知量事也。背覺合塵。故發塵勞。背塵合覺。故發真如。此循業發現事也。覺明之性。無作無造無受者。善惡之業亦不亡。此其所以為如來藏也。皓月供奉問長沙岑曰。蚯蚓斷為兩頭。兩頭俱動。未審佛性在阿那頭。沙曰。動與不動。是何境界。月曰。言不干典。非智者之所談。秪如和尚言。動與不動。是何境界。出自何經。沙曰。灼然言不干典。非智者之所談。大德豈不見首楞嚴云。當知十方無邊不動虛空。並其動搖地水火風。均名六大。性真圓融。皆如來藏。本無生滅。乃示偈曰。最甚深。最甚深。法界人身便是心。迷者迷心為眾色。悟時剎境是真心。身界二塵無實相。分明達此號知音。長沙善說楞嚴。至謂身界二塵無實相。內無能見之根。外無所見之境。能所俱空。覓見了不可得。何容更說生滅同異乎。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Năm Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không ở trước thì đủ cả sáu trần : Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, gọi là Tướng Phần. Nay là sáu căn Thấy, Nghe, Hay và Biết cũng đều do bốn Đại trong sạch hợp thành. Phàm nhân có Sắc Không trước mắt, đối cảnh tức biết, chưa nhập vào sự phân biệt của năm Thức trước, đó gọi là Kiến Phần. Do đó, lấy Kiến Đại mà gồm chung.

Như một cái Căn Thấy thấy khắp pháp giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Xúc, Biết Pháp cũng toàn khắp pháp giới, Diệu Đức rỡ ràng vậy. Sao đều gọi là Diệu ? Có Hình bèn là Thấy, có Tiếng là Nghe, chẳng gấp mà lẹ, chẳng đi mà đến, không do nghĩ toan, chẳng bởi xếp đặt nên gọi là Diệu.

Cái Kiến Đại này không có tự thể, chỉ nhân cảnh mà có. Cảnh trước mặt nếu không có, cái Thấy cũng chẳng sanh. Há có một thể hay nhiều thể để cùng cảnh mà lìa mà hợp, để có thể luận là đồng, là khác theo tứ cú ư ? Sự lập luận của tứ cú  -(ct) Có, Không, vừa Có vừa Không, không Có không Không. ) đều là hý luận vậy.

Thế nên, sáng, tối, thông, bít thay nhau ở trước mắt cũng như Địa, Thủy, Hỏa, Phong thay nhau giữa hư không. Cảnh có sanh diệt, cái Thấy không sanh diệt. Cảnh có động lay, cái Thấy không hề lay động. Nó toàn khắp pháp giới, cùng hư không chẳng hai. Nhưng cái Thấy thì có hay biết, ngoan không thì vô tri chẳng thể hòa hợp. Cái Giác tức là Không, gọi là Chân Không. Cái ngoan không thì sanh diệt, Chân Không nào có sanh diệt. Cái ngoan không sanh diệt ở trong Tánh Chân Giác cũng như bốn Đại sanh diệt trong hư không. Hư không cùng bốn Đại không thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà luận. Thế thì Kiến Đại đối với Sắc Không sao có thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà xem thấy được ư ?

Phàm nói là sanh diệt, đồng khác đều là thuộc về Vọng Trần. Phàm nói chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đồng, chẳng phải khác đều thuộc về Vọng Kế. Chỉ ở nơi Cảnh mà phân biện, chẳng ở nơi Tánh mà phân minh : đó là hý luận. Nếu ở nơi Tánh mà phân biện, thì cái Thấy này duyên với Tánh Cảnh, như mặt trăng thứ hai, không lìa mặt trăng thật.

Tánh phát ra mà thành cái Thấy, tức là cái Chân Giác phát ra mà làm cái Sáng. Giác là cái Thể hằng sáng của cái Thấy. Cái Sáng là Dụng của cái Thấy. Như đèn có ánh sáng : đèn là cái Thể của sự chiếu sáng, ánh sáng là cái Dụng của sự chiếu sáng. Tức Thấy là Giác, tức Giác là Không. Vốn không nhiễm ô, nên nói là Thanh Tịnh. Vốn không tạo tác, nên nói là Bổn Nhiên. Vốn không nơi chốn, nên nói là Toàn Khắp.

Theo Tam Thân mà luận, thì Thanh Tịnh là Pháp Thân. Bổn Nhiên là Báo Thân, Toàn Khắp là Hóa Thân. Theo Ba Đức mà luận, Thanh Tịnh là Lý, Bổn Nhiên là Trí, Toàn Khắp là Hạnh. Hợp cả ba mà dung nhiếp thì đưa lên một tức cả ba, đưa lên ba tức là một. Khi chưa cảm ứng thì thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này không thể nói được là không. Khi có cảm ứng, Diệu Đức sáng rỡ, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này chẳng vướng nơi có. Sáu Căn thanh tịnh, tròn đầy mười phương hư không, nên thấy trăm cõi Phật, thấy ngàn cõi Phật, thấy toàn khắp pháp giới, mới là tròn vẹn cái lượng thanh tịnh. Còn chẳng như thế, cũng ứng với cái chỗ thấy tiết hạn hẹp, chỉ theo nghiệp có hiện ra mà thôi.

Sau có nói “Ông phát minh ra theo cái Không, thì có cái hư không hiện. Địa, Thủy, Hỏa, Phong mỗi mỗi đều phát minh ra, thì mỗi mỗi đều hiện. Các cái ấy là các thứ ứng ra theo Sở Tri Lượng vậy”. Bỏ Giác mà hợp với Trần, thì phát sanh trần lao. Ngược Trần hợp Giác, thì thấy rõ Chân Như. Thế cũng là sự theo nghiệp phát hiện vậy. Cái Tánh Giác Minh không có sự làm, không có sự tạo, không có người nhận lãnh, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều dứt bặt. Cái Ấy, đó là Như Lai Tạng.
Ông Quan Cung Phụng là Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa Cấm rằng : “Con trùn đứt làm hai đoạn, hai đầu đều cử động, chưa rõ Phật Tánh ở đầu nào ?”

Tổ Sa nói : “Động và Bất Động, đó là cảnh giới nào ?”

Ông Nguyệt nói : “Lời nói không liên quan đến kinh điển, chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí. Như lời Hòa Thượng nói : Động cùng Bất Động, đó là cảnh giới nào ? Từ kinh nào mà đem ra vậy ?”

Tổ Sa nói : “Hẳn nhiên, nói mà không có kinh điển chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí. Ông không thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng “Phải biết mười phương vô biên bất động hư không, cùng với bốn Đại Đất, Nước, Lửa, Gió động lay kia đều gọi là sáu Đại, Tánh vốn Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt” đó sao ?”

Bèn khai thị một bài kệ :

“Rất sâu xa, rất sâu xa
Pháp giới, thân này ấy tức Tâm
Mê ấy, mê tâm làm các sắc
Ngộ thì cảnh cảnh chính Chân Tâm
Thân, cảnh hai trần không thực tướng
Thấu rõ chỗ này gọi tri âm”.

Tổ Trường Sa khéo thuyết Lăng Nghiêm, đến chỗ nói là căn thân và thế giới hai trần không thực tướng thì trong không thấy có Căn Năng Kiến, ngoài không có Cảnh Sở Kiến. Năng, Sở đều Không, tìm cái Thấy rốt là không thể đắc, còn chỗ nào để nói sanh diệt, đồng dị ư ?

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Ba 12, 2011, 08:55:51 PM »

(tiếp theo)

阿難。識性無源。因於六種根塵妄出。汝今遍觀此會聖眾。用目循歷。其目周視。但如鏡中。無別分析。汝識於中。次第標指。此是文殊。此富樓那。此目犍連。此須菩提。此舍利弗。此識了知。為生於見。為生於相。為生虛空。為無所因突然而出。阿難。若汝識性生於見中。如無明暗及與色空。四種必無。元無汝見。見性尚無。從何發識。若汝識性生於相中。不從見生。既不見明。亦不見暗。明暗不矚。即無色空。彼相尚無。識從何發。若生於空。非相非見。非見無辨。自不能知明暗色空。非相滅緣。見聞覺知。無處安立。處此二非。空則同無。有非同物。縱發汝識。欲何分別。若無所因突然而出。何不日中別識明月。汝更細詳。微細詳審。見托汝睛。相推前境。可狀成有。不相成無。如是識緣。因何所出。識動見澄。非和非合聞聽覺知。亦復如是。不應識緣無從自出。若此識心本無所從。當知了別見聞覺知。圓滿湛然。性非從所。兼彼虛空地水火風。均名七大性真圓融。皆如來藏。本無生滅。阿難。汝心粗浮。不悟見聞發明了知。本如來藏。汝應觀此六虛識心。為同為異。為空為有。為非同異。為非空有。汝元不知如來藏中。性識明知。覺明真識。妙覺湛然。遍周法界。含吐十虛。寧有方所。循業發現。世間無知。惑為因緣。及自然性。皆是識心分別計度。但有言說。都無實義。


Kinh : “Anan, tánh của Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ Căn và Trần mà hư vọng hiện ra. Nay ông hãy xem khắp Thánh chúng trong hội này, lấy con mắt lướt qua. Mắt ông trông khắp, chỉ như cái gương, không phân tích riêng biệt. Cái Thức của ông ở trong đó, lần lượt chỉ ra đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Cái Thức Nhận Biết ấy sanh ra do cái thấy, sanh ra do các tướng, do nơi hư không hay không nhân cái gì, bỗng nhiên mà hiện ?

“Anan, nếu cái Thức của ông sanh ra do cái Thấy, thì như không có các tướng sáng, tối và Sắc Không thì không có cái Thấy của ông. Cái Thấy còn không có, do đâu mà có ra cái Thức ? Nếu cái Thức của ông sanh ra do các tướng, chứ không do cái Thấy, thì không thấy được cái sáng cũng chẳng thấy được cái tối. Sáng tối đã không thấy thì cũng không có Sắc Không. Các tướng kia còn không có thì cái Thức do đâu mà phát sanh ? Nếu cái Thức ấy sanh do nơi hư không, không phải do tướng hay do cái Thấy, ngoài cái Thấy, thì không thể phân biệt, chẳng có thể tự biết được các tướng sáng, tối, sắc, không. Ngoài các tướng thì không còn các duyên, thì cái Thấy, Nghe, Hay, Biết do đâu mà thành lập. Cả hai thứ : cái Thấy và sắc trần đều chẳng phải, nếu là Không thì đồng với không có gì hết, còn nếu là Có thì cũng chẳng phải đồng với vật, dầu cho có phát ra cái Thức của ông, thì phân biệt cái gì ?

“Nếu cái Thức không nhân gì mà bỗng nhiên phát ra, thì tại sao giữa trưa lại không riêng biết để có ra mặt trăng sáng ?
“Ông hãy kỹ càng, suy xét chín chắn : cái Thấy gá vào mắt của ông, các tướng trả về cho trần cảnh, cái gì có thể hình trạng ra được thì mới thành Co, cái gì không hình tướng thì thành ra Không, còn cái Thức như thế do đâu mà ra ? Cái Thức động, cái Thấy lặng yên, chẳng phải Hòa chẳng phải Hợp. Cho đến với các sự Nghe, Ngửi, Hay, Biết cũng đều như vậy. Không lẽ cái Thức không do đâu mà tự có ra ?

“Nếu cái Thức đó vốn không do đâu, thì nên biết rằng : cái Thức Đại và cái Kiến Đại Thấy, Nghe, Hay, Biết tròn đầy, vắng lặng, bản tánh không do đâu mà có, cùng với hư không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là bảy Đại, Tánh Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

“Anan, tâm ông thô phù, không ngộ được cái Thức hay biết các điều thấy, nghe vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem sáu cái Thức là do Đồng hay Khác, là Không hay Có, là không phải Đồng, Khác, hay không phải Không Có. Ông vốn không biết trong Như Lai Tạng, cái Thức là Tánh Giác Minh. Tánh Giác Minh là Chân Thức, là cái Biết nhiệm mầu vắng lặng toàn khắp pháp giới, ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không, nào có nơi chốn. Chỉ tùy theo nghiệp mà hiện bày ra, thế gian không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên, đều là sự phân biệt, so lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.


通曰。言地水火風而依於空。為器界五大性。所謂相分也。言見聞覺知而依於識。為根身五大性。所謂見分也。見相二分。均從第八識生起。故八識湛然。即謂妙覺。即謂如來藏。今以前五識為見大。所謂性境。屬現量。以第六識為識大。所謂分別事識。屬比量非量。二乘人不知有七八二識。以此為主人公。為作善惡業。有殊勝力。故前五識無分別。至六識方能分別。故曰識動見澄。但舉此識。不生於見。不生於相。不生於空。非因緣生。又非無因突然而出。非自然生。且此六識。善惡無記三性皆具。與前六根見大。各有種子現行。非和非合。三者俱非。了無所寄。此識果何所從來乎。夫生於見。生於相。生於空。則有所從來。既有從來。則有方所。便非周遍唯無所從。不從有來。不從無來。則性非從所。本無涯際。本自周圓。故此了明分別事識。興前見相二分。均名七大。識歸湛然。是六識與八識合。故曰如來藏。若六識合於塵者。為同為有。離於塵者。為異為空。非合非離。無蹤可覓。乃得名湛然也。此湛然之識。何以曰性識曰真識哉。從明起知。不於情起。從覺生明。不於境生。此識從真性真覺中流出。識即性也。識即覺也。所謂轉第八識為大圓鏡智者此也。此性識之明知。即是覺明之真識。猶云妙明明妙云爾。故曰妙覺湛然。遍周法界。前六俱云清淨本然。此獨云妙覺湛然。以等妙之覺律之。故當微別。前六云圓滿十方。似稱性義。此獨云含吐十虛。似發起義。識性無源。能為萬法之源。凡前所云如來藏者。皆歸於此也。於空則曰汝心昏迷。謂迷四大與空異也。空性覺故。於見則曰汝性沉淪。謂逐塵流轉而不返也。見覺而不動故。於識則曰汝心粗浮。謂識精內潛。浮則但認浮根。粗則不達識精故。五陰分屬十八界。而此獨詳於識者。以如來藏中。不生不滅。與生滅和合。而成阿賴耶識。能究竟歸不生不滅者。名第九識。即識即性也。不能究竟猶存生滅者。雖湛然不波。是識非性也。見性者不迷於識。故妙存乎心悟。保壽上堂云。三界唯心。萬法惟識。檻外云生。簷前雨滴。澗水湛如藍。野華開似織。此時若不究根源。謾向當來問彌勒。還會麼。不勞久立。丹霞頌云。靈然不涉去來今。三界都盧一點心。檻外桃華春蝶舞。門前楊柳曉鶯吟。又唯心訣云。岩樹庭柯。各挺無邊之妙相。猿吟鳥噪。皆談不二之圓音。悟此方信遍大地無不是藥者。何止七大而已哉。不然。入理深談。翻成毒藥。豈必因緣自然。乃為戲論。僧問藥山。己事未明。乞和尚指示。山良久曰。吾今為汝道一句亦不難。秪宜汝於言下便見去。猶較些子。若更入思量。卻成吾罪過。不如且各合口。免相累及。故知識心卜度。去道轉遠。但有言說。即非實義。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Nói Đất, Nước, Lửa, Gió nương nơi hư không, là tánh năm Đại của thế giới, gọi là Tướng Phần. Nói Thấy, Nghe, Hay, Biết nương vào nơi Thức, là tánh năm Đại của Căn Thân, gọi là Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần đều từ Thức Thứ Tám sanh khởi, cho nên Thức Thứ Tám vắng lặng như nhiên, thì gọi đó là Diệu Giác, là Như Lai Tạng.
Nay lấy năm Thức trước làm Kiến Đại, đó là chỗ gọi Tánh Cảnh thuộc Hiện Lượng. Lấy Thức Thứ Sáu làm Thức Đại, đó là chỗ gọi Phân Biệt Sự Thức, thuộc về Tỷ Lượng hay Phi Lượng.

Hàng Nhị Thừa vì không biết có Thức Thứ Bảy và Thức Thứ Tám, lấy cái này cho là chủ nhân ông, cho là gây ra nghiệp lành nghiệp dữ và nghiệp vô lậu.

Thế nên, năm Thức trước thì không có phân biệt, đến Thức Thứ Sáu mới có thể phân biệt. Vậy nên ở đoạn kinh này có nói “Cái Thức thì động, cái Thấy thì lặng yên”. Đó chỉ là cái Thức này, chẳng sanh do cái Thấy, chẳng sanh từ các tướng, chẳng sanh do nơi hư không, chẳng phải Nhân Duyên sanh, chẳng phải không nguyên nhân mà bỗng nhiên tự có, chẳng phải Tự Nhiên sanh !

Cái Thức Thứ Sáu này đủ cả ba tánh thiện, ác và vô ký với cái Kiến Đại của sáu căn ở trước mỗi cái đều có chủng tử và hiện hành, vốn chẳng phải Hòa, chẳng phải Hợp, cả ba cái ấy đồng là chẳng phải, rốt ráo là không chỗ nương. Thức này do từ đâu mà đến ư ? Nếu sanh từ nơi cái Thấy, sanh từ các Tướng, sanh nơi Hư Không thì đã có chỗ từ đó mà đến. Đã có chỗ từ đó mà đến, bèn có nơi chốn, thì chẳng toàn khắp.

Chỉ là không từ đâu, không từ Không đến, không từ Có đến, tức là Tánh không có chỗ từ đâu : vốn không có bờ cõi, vốn tự tròn đầy, toàn khắp. Cho nên cái Phân Biệt Sự Thức này cùng với hai cái Kiến Phần và Tướng Phần đều gọi là Thất Đại. Thức này rốt là vắng lặng, tức là hợp với Thức Thứ Tám, gọi là Như Lai Tạng.

Nếu Thức Thứ Sáu hợp với Trần, tức là Đồng, là Có. Lìa khỏi Trần, tức là Khác, là Không. Chẳng phải Hợp, chẳng phải Lìa, không còn mảy dấu vết có thể tìm được, mới được gọi là vắng lặng, như nhiên. Cái Thức vắng lặng như nhiên này sao lại gọi là Tánh của Thức, là Thức Chân Thật ? Vì từ cái Minh mà biết, chẳng phải từ Tình khởi ra. Cái Thức này từ trong Chân Tánh, Chân Giác mà lưu xuất, Thức bèn là Tánh vậy, Thức bèn là Giác vậy. Đó gọi là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí.

Cái Minh Tri của Tánh Thức này là Chân Thức của Tánh Giác Minh. Như sau có nói Diệu Minh, Minh Diệu, cũng gọi là Diệu Giác vắng lặng như nhiên, toàn khắp pháp giới. Sáu Đại trước thì gọi là thanh tịnh bản nhiên, chỉ có Đại này gọi là Diệu Giác Trạm Nhiên, xét với Đẳng Giác, Diệu Giác có chỗ phân biệt vi tế. Sáu Đại trước thì nói “Tròn đầy khắp mười phương”, như là nghĩa Xứng Tánh. Còn Thức Đại này thì nói “Ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không”, như là nghĩa Phát Khởi”. Thức Tánh không có nguồn mà hay làm nguồn cho muôn pháp. Phàm ở trước nói là Như Lai Tạng đều quy về đây vậy.

Ở Không Đại thì nói “Tâm ông hôn mê”, vì mê bốn Đại và Hư Không khác nhau, vốn không biết Tánh của Hư Không là Giác.
Ở Kiến Đại thì nói “Tánh ông chìm đắm”, vì theo trần trôi chảy không quay trở lại, không biết Kiến Đại là Giác mà bất động.
Ở Thức Đại thì nói “Tâm ông thô phù”, tức là Thức tiềm tàng ở trong, phù là chỉ nhận phù căn, thô vì không đạt đến nguồn gốc của Thức.

Năm Ấm là thuộc về Mười Tám Giới, ở đây chỉ nói về Thức, vì trong Như Lai Tạng vốn chẳng sanh chẳng diệt, cùng hòa hợp với cái sanh diệt mà thành Thức A Lại Da. Nếu rốt ráo quay về cái Bất Sanh Bất Diệt, thì gọi là Thức Thứ Chín, tức Thức là Tánh vậy. Chẳng thể rốt ráo mà còn chút ít sanh diệt, thì tuy là lặng trong không sóng cũng chỉ là Thức mà chẳng phải Tánh. Người thấy Tánh thì chẳng mê nơi Thức, nên an trụ nhiệm mầu nơi cái Tâm Ngộ vậy.

Tổ Bửu Thọ thượng đường nói : “Tam giới Duy Tâm, vạn pháp Duy Thức. Ngoài hiên mây sanh, trước rèm mưa giọt, khe suối trong như lam, hoa đồng nở như gấm. Giờ đây mà chẳng xét căn nguyên. Trễ nải mai kia hỏi Di Lặc. Hiểu chăng ? Đừng có đứng lâu cho mệt”.


Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Linh nhiên chẳng dính cổ hay kim
Tam giới đều trong một điểm Tâm
Ngoài hiên hoa đào, xuân bướm múa
Trước cửa dương liễu rực, oanh ca”.

Sách Duy Tâm Quyết nói rằng : Cây sườn núi trước sân mỗi mỗi đều trổi bày cái tướng nhiệm mầu của Vô Biên. Vượn hú, chim kêu đều cùng nhau phát lên tiếng vẹn tròn của Bất Nhị”.

Có ngộ được chỗ này mới tin được là khắp đại địa không có chỗ nào chẳng phải là thuốc, đâu chỉ ở trong Thất Đại mà thôi đâu ? Chẳng được như thế, có nhập Lý, luận đàm sâu xa thì cũng đổi ra thành thuốc độc ! Đâu phải chỉ có Nhân Duyên, Tự Nhiên mới là hý luận !

Có nhà sư hỏi Tổ Dược Sơn : “Chuyện mình chưa rõ, xin Hòa Thượng chỉ bày”.

Tổ Sơn nói : “Ta nay vì ông mà nói một câu thì cũng không khó. Chỉ như ông nay dưới lời nói mà thấy được thì còn có đôi chút rõ ràng. Còn nếu rơi vào suy lường, thì thành ra tội lỗi của ta. Chi bằng ai nấy ngậm miệng, khỏi làm lụy đến nhau”.
Thế, mới biết cái thức tâm đo lường mò mẫm thì với đạo ngày càng đi xa. Chỉ dùng lời nói thì chẳng phải là Thật Nghĩa.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, anhlam, dieunha, byphuong, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.254 seconds với 25 câu truy vấn.